Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 31 tháng 10 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 29/10, Hạt kiểm lâm Khu bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai đã tổ chức ký kết quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản vùng giáp ranh với các Hạt kiểm lâm VQG Cát Tiên; huyện Bù Đăng, huyện Đồng Phú (Bình Phước); Hạt kiểm lâm Tân Uyên (Bình Dương).
Các nội dung chủ yếu của quy chế gồm: phối hợp lực lượng giữa các đơn vị cùng chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cộng đồng dân cư về công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng; chủ động thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm tra truy quét, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm đối với rừng. (Đài PT - TH Đồng Nai 30/10) đầu trang(
Nghệ An có diện tích rừng rộng lớn, trong đó nhiều diện tích rừng giáp ranh biên giới Việt -Lào. Những năm qua, ngoài trách nhiệm giữ rừng của kiểm lâm thì lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh cũng góp sức không nhỏ trong việc bảo vệ rừng nơi biên giới.
Đại tá Hoàng Ngọc Năm- Phó Chỉ huy trưởng - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh cho hay: Từ đầu năm 2013 đến nay, Bộ đội Biên phòng tỉnh đã phát hiện và tịch thu giao cho kiểm lâm trên 170m3 gỗ các loại và hàng trăm đối tượng vi phạm, nhờ công tác tuyên truyền, vận động của bộ đội biên phòng, tình trạng vào rừng chặt phá của đồng bào dân tộc thiểu số tại các địa bàn đã giảm hẳn. Công tác quản lý bảo vệ rừng ở các huyện vùng biên đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Để tăng cường sự phối hợp giữa Kiểm lâm và Bộ đội Biên phòng tỉnh trong công tác bảo vệ rừng mang lại hiệu quả cao, Liên Sở NN&PTNT - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh đã có quy chế phối hợp về "Công tác quản lý bảo vệ rừng" số 2295 ngày 30/9/2013.
Quy chế quy định về nguyên tắc, nội dung và các quan hệ phối hợp giữa Sở NN&PTNT với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và phòng cháy, chữa cháy rừng ở khu vực biên giới và các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác thuộc trách nhiệm của mỗi bên. Theo đó, hai bên sẽ thường xuyên trao đổi thông tin tình hình liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng để thống nhất biện pháp xử lý... (Báo Nghệ An 31/10) đầu trang(
Lang thang miền rừng Tuyên Quang PV đã gặp vô vàn số phận, những con người cống hiến cả cuộc đời cho màu xanh của mảnh đất này.
Những năm gần đây Tuyên Quang luôn nằm trong tốp đầu cả nước về diện tích và tiến độ trồng rừng. Năm này cũng vậy, hết quý ba đã hoàn thành kế hoạch cả năm rồi.
Thành tích thì ai cũng muốn nhận, nhưng những người trong ngành lâm nghiệp tỉnh miền núi này đều muốn dành cho một thế hệ công nhân của các lâm trường. Người Tuyên Quang xác định, nếu không có những hi sinh của một thế hệ đã cống hiến tuổi xuân, cống hiến cuộc đời mình cho núi rừng thì chắc gì đã có được màu xanh của ngày hôm nay.
Lâm trường Chiêm Hóa (huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang) bây giờ đã chuyển đổi thành Cty một thành viên, nhưng phần lớn người dân ở huyện vùng cao này vẫn quen gọi bằng tên cũ. Đó là cái cách họ tri ân những người đã cống hiến cuộc đời mình cho núi rừng Chiêm Hóa.
Một thời, đất Chiêm Hóa là điểm đến của 1.200 công nhân từ miền xuôi lên vừa khai thác vừa trồng rừng. Khai thác gỗ để phục vụ quân sự trong chiến tranh, trồng rừng để phủ xanh. Khí thế hừng hực như một đại công trường.
Chiến tranh kết thúc cũng là lúc thế hệ thanh niên lâm trường hết tuổi xuân mất rồi. Người tốt số thì thành chồng thành vợ. Kẻ xấu duyên vò võ một mình. Hai bàn tay trắng, có quê mà chẳng dám về, thôi thì ở lại đất này cho qua một kiếp người đi vậy. Đã 55 năm trôi qua, gần trọn một đời người. Tàn dư, hệ lụy, hi sinh, mất mát… Tất cả dường như vẫn vẹn nguyên.
PV từng lên Chiêm Hóa vào thời điểm lâm trường này thực hiện Nghị định 110 của Chính phủ về việc sắp xếp lại đội ngũ cán bộ công nhân viên chức. Đợt ấy, có 82 người phải nghỉ chế độ. Đó có thể xem là một cuộc chia ly cuối cùng của thế hệ công nhân khai thác, trồng rừng đã cống hiến cả cuộc đời mình cho đất rừng Chiêm Hóa.
Không biết từ bao giờ, quanh lâm trường Chiêm Hóa xuất hiện những khái niệm xóm cô đơn, xóm không chồng? Chỉ biết đó là nơi tập hợp những nữ công nhân lâm trường không chồng mà chửa, nữ công nhân lâm trường muốn chửa hoang cũng không có ai hợp tác cùng.
Ông Vũ Đình Tuyên, cán bộ công đoàn của lâm trường Chiêm Hóa tính sơ sơ có khoảng 20 phụ nữ ở lâm trường này rơi vào cảnh ấy đang còn sống, chưa kể những người ôm mối hận cô độc xuống tận suối vàng.
“Gái lâm trường giường bệnh viện. Làm lâm nghiệp gian khổ lắm, già lúc nào cũng chẳng hay. Thời chiến tranh, đàn ông con trai ra chiến trường hết, thành thử ở các lâm trường gái mười thì may ra trai mới được một. Mất cân bằng nên chuyện gái ế, gái chửa hoang cũng là điều dễ hiểu. Nhiều ông có vợ con ở quê rồi nhưng cũng tranh thủ tạt té gửi ở đây vài ba đứa là chuyện thường”, ông Tuyên giải thích.
Thôi thì lịch sử, người ta an ủi nhau thế, nghe thật xót xa. Không xót xa sao được khi có người phụ nữ không chồng đẻ ba đứa con mà mỗi đứa một ông bố. Không xót xa sao được khi có nhiều bà đến tuổi nghỉ hưu, đi kiểm tra sức khỏe lấm lét chẳng dám vào phòng khám vì xấu hổ, vì sợ cô y tá phát hiện rằng mình vẫn còn chưa được nếm trải mùi ân ái, vẫn còn là gái trinh?
Đoàn Kết là một trong 13 thôn của 13 đội sản xuất thuộc lâm trường Chiêm Hóa, đều là những nơi công nhân lâm trường lập làng sinh sống cả. Mỗi thôn bình quân có chừng 40-50 hộ. Không ruộng, không vườn, đất lâm nghiệp giờ cũng hiếm.
Đa số họ đều sống bằng nghề rừng. Có đất thì trồng, không có đất thì đi thuê hoặc liên doanh với lâm trường chia phần trăm sản phẩm. Cũng có gia đình sống được, nhưng đa số vẫn còn khó khăn.
Thôn Đoàn Kết có 49 hộ nhưng chưa có nhà nào được cấp sổ đỏ. Trưởng thôn Nguyễn Xuân Sinh nói giọng kiểu phàn nàn rằng, đáng ra, những công nhân lâm trường đã cống hiến một đời cho núi rừng Chiêm Hóa rồi thì cũng nên tạo điều kiện cho họ có mảnh đất, có được sổ đỏ để còn vay vốn ngân hàng mà làm ăn.
Người ta nói, xanh rừng thì xanh ruột. Đại ý trồng rừng, giữ rừng thì những người công nhân đói lắm. Nhưng nói như thế không có nghĩa là than vãn hay kêu ca mà nói ra kinh nghiệm đã thành chân lý: Trồng rừng là trồng tương lai.
Những năm 1990, để ngăn chặn phá rừng, Tuyên Quang từng chấp nhận "trảm" một ông Phó Chủ tịch UNBD tỉnh, một Phó Giám đốc Sở NN-PTNT, một giám đốc lâm trường, một số Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch xã… Thậm chí có ông cán bộ xã vợ đốt nương chồng cũng bị kỷ luật. Nhưng chính nhờ những biện pháp mạnh tay, nhờ công sức của bao thế hệ mà Tuyên Quang mới giữ được rừng.
Cái thời “xanh rừng xanh ruột” cũng đã hết. Ví như Lâm trường Chiêm Hóa, từ khi xây dựng mô hình trồng rừng liên doanh theo hình thức lâm trường và các hộ dân liên doanh cùng đầu tư trồng rừng chia sản phẩm đã xuất hiện những người giàu.
Ông Lưu Vĩnh Phúc hạch toán rằng, một chu kỳ liên doanh sản xuất 10 năm, năng suất tính ở thời điểm thu hoạch là 100 m3 gỗ/ ha. Khi kết thúc chu kỳ, người dân được hưởng 76% giá trị sản phẩm, lâm trường được 24%.
Trường hợp năng suất vượt chỉ tiêu thì các hộ liên doanh hưởng hết. Ngoài ra quyền lợi tận thu sản phẩm phụ phía Lâm trường Chiêm Hóa cũng giao hết cho các hộ trồng rừng liên doanh.
Một đại gia rừng điển hình ở Chiêm Hóa là gia đình ông Ma Quốc Cường ở xã Tân An. Theo giá thị trường hiện nay mỗi ha liên doanh khi thu hoạch người dân được tầm 60 triệu đồng. Gia đình ông Cường có 15 ha, tính ra xấp xỉ tiền tỷ.
Từ chỗ lo cái ăn cái mặc không đủ, bây giờ gia đình ông Cường thuộc diện giàu nhất xã. Nhà cửa khang trang, xe cộ, con cái học hành đầy đủ. Như năm vừa rồi, chỉ riêng tiền thu từ việc tỉa cành bán củi gia đình ông đã đút túi cả trăm triệu đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/10) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Sáng 30.10, Quốc hội nghe báo cáo kết quả rà soát quy hoạch, đầu tư xây dựng các dự án thủy điện. Theo đó, diện tích đất rừng trồng mới sau khi bị phá đi làm thủy điện thấp khó tin: Chưa đạt 4%.
Sau khi nghe Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đọc báo cáo, ông Phan Xuân Dũng – Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội cho rằng: Tại một số dự án, công trình thủy điện (CTTĐ), chất lượng khâu khảo sát, thiết kế, thi công, giám sát có nhiều hạn chế, gây không ít hệ lụy tiêu cực. Trong khi đó, trách nhiệm, xử lý sai phạm của chủ đầu tư, các chủ thể khác có liên quan khi công trình có chất lượng kém hoặc để xảy ra sự cố chưa được quy định cụ thể.
“Công tác quản lý an toàn tại các CTTĐ nhỏ chưa thực sự tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật, tiềm ẩn nhiều rủi ro khó lường. Đối với các CTTĐ nhỏ, gần 30% số đập chưa được kiểm định; khoảng 6% số chủ đầu tư hoàn thành cắm mốc chỉ giới; khoảng 66% đập chưa có phương án bảo vệ được phê duyệt; gần 55% số chủ đập chưa có phương án phòng chống lụt bão” – ông Dũng cho biết.
Trả lời báo chí bên hành lang Quốc hội, ĐB Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) cho rằng việc có hơn 400 dự án thủy điện bị loại bỏ là hậu quả một thời kỳ rộ lên phong trào làm thủy điện, công tác quy hoạch khi đó làm chưa được đầy đủ.
“Số doanh nghiệp tham gia làm thủy điện nhiều, có những công trình đạt chất lượng nhưng cũng có nhiều công trình không đạt chất lượng. Bây giờ, yếu tố đầu tiên là phải an toàn, đảm bảo chất lượng và đảm bảo môi trường, cũng như các quy định. Vì thế, việc rà soát thủy điện để đảm bảo các yếu tố theo quy định, như môi trường, xã hội, năng lượng, không phù hợp tình hình thực tế thì để lại” – ĐB Vẻ cho biết.
Theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội, số liệu về diện tích đất rừng chuyển mục đích cho CTTĐ chưa thống kê rõ ràng.
Theo số liệu của Bộ NNPTNT trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012, cả nước có 160 dự án thuộc 29 tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư thực hiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang xây dựng TĐ với diện tích 19.792ha. Thế nhưng, cho đến nay, diện tích rừng trồng thay thế được 735ha, đạt 3,7% tổng diện tích theo yêu cầu.
Kết quả giám sát cho thấy, nhiều địa phương không có quỹ đất quy hoạch hoặc có đất nhưng lại không phù hợp để trồng rừng thay thế. Trong khi trách nhiệm và nghĩa vụ của địa phương và chủ đầu tư dự án TĐ trong việc bố trí quỹ đất, phương thức thực hiện, bố trí chi phí trồng rừng thay thế trong tổng mức đầu tư… chưa xác định rõ. Tại một số dự án TĐ, có đối tượng đã lợi dụng việc thi công mở công trường cho khai quang rừng với quy mô lớn hơn so với yêu cầu, lợi dụng hạ tầng CTTĐ để khai thác khoáng sản trái phép.
Hiện có nhiều nhà máy TĐ hiện chưa nộp phí dịch vụ môi trường rừng, tổng số nợ đọng từ năm 2010 -2013 khoảng 300 tỷ đồng. Các doanh nghiệp chậm nộp đã viện lý do khó khăn về tài chính để “chây ỳ”, trong khi đó các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chưa quy định cụ thể chế tài xử lý vấn đề này.
Về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, sau khi có báo cáo số 142 ngày 30/8/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã loại hai dự án thủy điện này khỏi quy hoạch.
Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT cho rằng “Hai dự án này đã được loại khỏi quy hoạch mặc dù trước đó đã nhiều lần đưa vào quy hoạch. Vì thế, cần làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc để hạn chế thất thoát và lãng phí cho người dân, doanh nghiệp và xã hội”. (Nông Thôn Ngày Nay 31/10; Tuổi Trẻ 31/10; Tiền Phong 31/10; Hà Nội Mới 30/10; An Ninh Thủ Đô 31/10; VOV 30/10; Tin Tức 31/10) đầu trang(
“Chính phủ đề nghị loại ra trên 400 dự án thủy điện, vậy diện tích rừng nhường cho các dự án bị loại khỏi quy hoạch là bao nhiêu? Có mất rừng hay không? Giải pháp thay thế rừng mất đi như thế nào?... Tôi đề nghị Chính phủ cần phải làm rõ”.
ĐBQH Trương Văn Vở - Phó trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Nai nhấn mạnh khi trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội sáng 30/10.
Nhận định về việc, tới đây sẽ có hơn 400 dự án thủy điện bị loại bỏ, ông Vở cho hay: Vấn đề thủy điện đã đeo đuổi trong 3 năm nay, từ đầu nhiệm kỳ đến giờ. Quốc hội đã kịp thời ban hành nghị quyết, nhưng sau đó Chính phủ lại điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, trong đó có các dự án thủy điện bậc thang, và có 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A – chiếm diện tích rừng rất lớn nhưng chưa thực hiện quy trình thủ tục xin chủ trương đầu tư mà đã có lập dự án đầu tư.
Từ đó tôi cho rằng, hiện đang có 3 vi phạm: Thứ nhất vi phạm về quy trình lập quy hoạch; thứ hai vi phạm về luật, cụ thể là Nghị quyết 49 của Quốc hội; và cuối cùng là vi phạm về luật bảo vệ môi trường- chỉ tính đến lợi ích kinh tế mà không tính đến lợi ích môi trường, xã hội.
Tại kỳ họp này Chính phủ báo cáo Quốc hội để ban hành Nghị quyết. Trên cơ sở đó tôi đề nghị phải làm rõ trách nhiệm trong quy trình quy hoạch. Trách nhiệm có cả ở chính quyền địa phương, và cả bộ ngành liên quan. Bên cạnh đó cũng cần làm rõ trách nhiệm của bộ phận tham mưu cho Chính phủ ở hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A, kể cả 6 dự án thủy điện bậc thang.
Trong nghị quyết Quốc hội lần này tôi cũng đề nghị quan tâm đến diện tích đất rừng bị mất do thủy điện là bao nhiêu, trách nhiệm thuộc về ai, để tránh vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng theo quy định của luật.
Ông Vở nói: Quan điểm của tôi, rừng tự nhiên phải bảo vệ nghiêm ngặt theo quy hoạch quản lý, phát triển và bảo vệ. Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng quốc gia nhất thiết phải bảo vệ nghiêm ngặt.
Đụng tới diện tích đất rừng đó thì phải xem xét thận trọng trong quá trình lập quy hoạch. Chính phủ đề nghị loại ra trên 400 dự án thủy điện, vậy diện tích rừng nhường cho các dự án bị loại khỏi quy hoạch là bao nhiêu? Có mất rừng hay không? Giải pháp thay thế rừng mất đi như thế nào?... Tôi đề nghị Chính phủ cần phải làm rõ, đồng thời Quốc hội cũng nên đưa rõ trong nghị quyết để quy định trách nhiệm. (Infonet 30/10; (Nông Thôn Ngày Nay 31/10; An Ninh Thủ Đô 31/10) đầu trang(
Trong báo cáo trình Quốc hội mới đây, Bộ Công Thương khẳng định đã phê duyệt loại bỏ dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A ra khỏi qui hoạch. Đây rõ ràng là tin vui, nhưng đằng sau nó cũng là bài học về quản lí để không gây thiệt hại cho nhà đầu tư, gây lãng phí cho xã hội...
Để theo đuổi dự án, trong suốt 11 năm, chủ đầu tư là Tập đoàn Đức Long Gia Lai đã phải chi nhiều tỉ đồng cho giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM).
TS Mai Thanh Dung, Cục trưởng Cục Thẩm định và đánh giá tác động môi trường (Bộ Tài nguyên - Môi trường) khẳng định, bất cứ dự án thủy điện nào muốn triển khai, chủ đầu tư cũng phải tiến hành lập báo cáo ĐTM và phải chấp nhận rủi ro nếu ĐTM không được phê duyệt. Trường hợp thủy điện Đồng Nai 6, 6A, mặc dù chủ đầu tư đã đầu tư khá lớn cho công tác lập báo cáo ĐTM nhưng vì ĐTM còn nhiều điểm chưa rõ, trong khi tác động tiêu cực của dự án tới Vườn quốc gia Cát Tiên là quá rõ ràng nên việc dừng dự án là cần thiết.
"Đã làm thuỷ điện là sẽ gây tổn hại tới môi trường. Do đó phải thận trọng, cân nhắc giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học. Trong trường hợp nào thì đánh đổi? Trước đây, vì thiếu điện nên có nhiều dự án dù gây tác động xấu tới môi trường, thậm chí phải phá rừng phòng hộ, vẫn cứ được triển khai. Đó là vì bối cảnh kinh tế - xã hội lúc đó buộc phải đánh đổi. Nhưng hiện giờ, Việt Nam không thiếu điện, lại có khả năng phát triển các nguồn điện thay thế, thậm chí mua điện từ nước ngoài. Nhiều nước trên thế giới đã dừng phát triển thủy điện", TS Dung cho biết.
Để hạn chế rủi ro cho chủ đầu tư, theo ông Dung, cần phải có những đổi mới trong công tác lập báo cáo ĐTM. Trong Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi), Bộ Tài nguyên - Môi trường kiến nghị qui trình lập ĐTM 2 bước: ĐTM sơ bộ và ĐTM chi tiết.
Theo đó, chỉ những dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư mới phải lập ĐTM chi tiết. Quy trình này áp dụng cho các dự án phải xin chủ trương đầu tư, phải nghiên cứu tiền khả thi và có nhiều rủi ro.
ĐTM 2 bước sẽ giúp sàng lọc các dự án thiếu khả thi, hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp, bởi lẽ trên thực tế, có nhiều chủ đầu tư phải chi rất nhiều tiền cho giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi nhưng cuối cùng dự án vẫn không được thông qua, gây lãng phí. "Việc loại bỏ thủy điện 6, 6A sau khi chủ đầu tư đã đầu tư khá nhiều đang khiến nhiều chủ đầu tư khác lo ngại.
Từ đầu năm tới nay, Cục chưa nhận được hồ sơ xin thẩm định báo cáo ĐTM nào gửi về", TS Dung khẳng định. Đồng quan điểm, TS Nguyễn Khắc Kinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Thẩm định và đánh giá tác động môi trường cũng ủng hộ qui trình ĐTM 2 bước: "Phải chia các giai đoạn khác nhau để làm ĐTM cho phù hợp. Ví dụ, ngay sơ bộ phải đánh giá xem địa điểm có phù hợp hay không, nếu không phù hợp thì dừng ngay cho đỡ tốn kém. Nếu thấy có thể tiếp tục đầu tư thì mới đi vào nghiên cứu chi tiết, thấy ổn mới cho làm. Chia 2 bước không phải vì dự án lớn.
Trước đây, ĐTM cũng có nhiều giai đoạn, là vì không có đủ thông tin, thành ra cứ có thông tin đến đâu làm đến đấy. Nay ĐTM phải đổi mới theo cả hướng nâng cao chất lượng, tránh làm sơ sài, hình thức. Đối với dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A, khi ĐTM chưa đủ thông tin thì không nên quyết định bừa, việc dừng lại là sáng suốt".
TS Đào Trọng Tứ, Ủy viên Mạng lưới sông ngòi Việt Nam, thành viên Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A cũng cho rằng, câu chuyện thủy điện Đồng Nai 6, 6A sẽ là bài học để cơ quan quản lí Nhà nước nhìn lại cách thức quản lí của mình.
"Mặc dù trong bất cứ lĩnh vực nào, nhà đầu tư cũng phải chấp nhận rủi ro, thế nhưng, trong bối cảnh kinh tế khó khăn, buộc doanh nghiệp phải chi nhiều tỉ đồng để đầu tư trong suốt 11 năm, cuối cùng dự án bị loại bỏ sẽ gây bức xúc và tạo tiền lệ xấu. Tuy nhiên, không vì chủ đầu tư đã chi nhiều tiền mà cố gắng làm dự án, sau khi biết rõ ràng các tác động tiêu cực. Lợi ích của chủ đầu tư và lợi ích xã hội cần phải hài hòa", TS Tứ bày tỏ.
Trái với ý kiến của Cục trưởng Mai Thanh Dung và TS Long, TS Tứ cho rằng qui trình ĐTM 2 bước sẽ nảy sinh nhiều vấn đề, trở thành gánh nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. "Cơ chế làm báo cáo ĐTM phải thay đổi. Hiện nay, báo cáo ĐTM do doanh nghiệp làm. Doanh nghiệp thuê đơn vị khảo sát, lập báo cáo. Khi đó, báo cáo ĐTM sẽ mất tính khách quan vì đơn vị tư vấn được doanh nghiệp trả tiền nên sẽ chủ yếu tập trung làm lợi cho chủ đầu tư.
Công tác lập ĐTM cần phải thay đổi bằng cách: khi dự án đã được phê duyệt chủ trương đầu tư, Nhà nước sẽ đứng ra thuê đơn vị tư vấn, lập báo cáo ĐTM dựa trên kinh phí do chủ đầu tư cấp. Như vậy sẽ đảm bảo được tính khách quan, tin cậy", TS Tứ khẳng định. (Công An Nhân Dân 30/10; Sài Gòn Tiếp Thị 30/10) đầu trang(
Đó là ý kiến của đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, Trương Văn Vở trao đổi với phóng viên báo Tin Tức bên lề Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII.
Tính đến hết năm 2012, diện tích cao su của cả nước đạt 915.000 ha, vượt xa con số 800.000 ha, là mốc trong Chiến lược phát triển cao su đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt. Ông Trương Văn Vở cho rằng, những dự án chuyển đổi đất rừng trồng cao su đã vượt quá quy hoạch. Việc chuyển đổi đất rừng trồng cao su đã bị lợi dụng và làm tràn lan.
“Thực hiện Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có nội dung “tạm dừng cho phép khảo sát, phê duyệt các dự án mới đầu tư phát triển sản xuất nông lâm nghiệp trên đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên”. Tuy nhiên, hiện nay do công tác quản lý nhà nước còn lỏng lẻo, tình trạng phá rừng tự nhiên để trồng cao su trái pháp luật vẫn tiếp tục xảy ra và diễn biến phức tạp tại các tỉnh Tây Nguyên.
Vậy trách nhiệm này thuộc về ai? Lộ trình, giải pháp cụ thể và trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đến đâu nhằm xử lý kiên quyết theo quy định pháp luật và khắc phục thực trạng tình hình nêu trên?” - Ông Trương Văn Vở gửi phiếu chất vấn tới Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT).
Trả lời ý kiến chất vấn của đại biểu Trương Văn Vở, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Bộ NN&PTNT đã hướng dẫn các địa phương tổ chức, kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các dự án phát triển sản xuất lâm nghiệp trên đất lâm nghiệp (trong đó có dự án trồng cao su).
Trong quá trình kiểm tra và rà soát các địa phương đã thu hồi 94 dự án (chiếm 11% dự án đã phê duyệt) do chậm tiến độ hoặc có sai phạm trong quản lý sử dụng đất đai và tạm dừng 38 dự án theo Chỉ thị 1685/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ do chưa được phê duyệt hoặc đang trong quá trình khảo sát.
Không đồng tình với cách trả lời của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT, ông Trương Văn Vở khẳng định: Việc phát triển cây cao su quá nóng phá vỡ quy hoạch tại một số địa phương, có trách nhiệm của Bộ NN&PTNT. Trong số 38 dự án trồng cao su như Bộ NN&PTNT nêu là “tạm dừng”, theo tôi phải dừng hẳn. Đúng ra hàng năm Chính phủ phải có báo cáo Quốc hội về tình hình sử dụng đất nói chung, trong đó có việc giữ diện tích đất lúa, đất rừng tự nhiên theo Nghị quyết của Quốc hội. Nhưng tôi không hiểu sao, tại kỳ họp này không thấy Chính phủ báo cáo trước Quốc hội..
“Tại kỳ họp này, chắc chắn tôi sẽ đưa vấn đề phát triển “nóng” diện tích trồng cao su trên địa bàn một số tỉnh Tây Nguyên để đặt vấn đề với Chính phủ. Cần có giải pháp về vấn đề cây cao su gắn với vấn đề quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch quản lý sử dụng đất đai. Nếu diện tích trồng cây cao su vượt quy hoạch, Bộ NN&PTNT phải có trách nhiệm trong việc kiểm tra, kiểm soát để xử lý vi phạm cho rõ ràng”, ông Trương Văn Vở kiến nghị.
Đồng quan điểm với đại biểu Trương Văn Vở, nhiều chuyên gia kinh tế cũng hoài nghi về lợi ích kinh tế mà cao su có thể mang lại, đặc biệt đối với những diện tích ở nơi có điều kiện thời tiết và thổ nhưỡng không phải tối ưu đối với việc phát triển cao su.
Ông Trần Hữu Nghị, chuyên gia của tổ chức Forest Trends (tổ chức phi chính phủ chuyên nghiên cứu về rừng) cho rằng, tại một số địa bàn vùng Tây Bắc, việc mở rộng diện tích cao su trên nền đất canh tác của các hộ gia đình nông dân đã làm mất đi nguồn sinh kế của họ và điều này ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh lương thực của địa phương.
Phát triển cao su ồ ạt cũng tiềm ẩn rủi ro về thị trường. Giá xuất khẩu mủ cao su năm 2013 tụt giảm 50% so với mức giá năm 2012 làm những hộ dân sản xuất cao su đang rơi vào tình trạng thua lỗ. Đến nay, thị trường cao su thế giới lượng cung đã vượt cầu.
Ông Vũ Long - nguyên Phó viện trưởng Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam nghi ngại, việc mở rộng diện tích cao su như hiện nay liệu có lặp lại kịch bản của sản xuất lúa gạo và cà phê. “Việc phá vỡ quy hoạch của Chính phủ như vậy ai chịu trách nhiệm, bây giờ thị trường cao su đã bão hòa”, ông Long băn khoăn. (Tin Tức 31/10) đầu trang(
Sau hơn 7 năm thực hiện chương trình phát triển cây cao su tại 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên Lai Châu, nhiều diện tích đồi trọc đã được cây cao su che phủ. Chương trình này không chỉ khai thác lợi thế đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo và làm giàu, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, mà còn góp phần quan trọng cải thiện môi trường rừng vùng Tây Bắc.
Tính đến hết tháng 9 năm 2013, toàn vùng Tây Bắc có trên 50.100 ha cao su. Trong đó, ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu 21.552 ha; Thanh Hóa 16.549 ha; Nghệ An 8.704 ha; Hà Giang 1.100 ha; bình quân mỗi năm trồng trên 3 nghìn ha cao su. Hầu hết các tỉnh đều thành lập Công ty cao su, trong đó 3 tỉnh Sơn Sa, Điện Biên, Lai Châu đã thành lập 5 công ty cao su và các đội sản xuất để thuận lợi trong công tác chỉ đạo sản xuất.
Diện tích cao su chủ yếu được trồng theo hình thức đại điền và một phần tiểu điền, với hình thức tổ chức sản xuất lấy các Công ty cao su là lực lượng nòng cốt trong việc đầu tư toàn bộ vốn, giống, vật tư, quản lý kỹ thuật... Hiện nay tình hình sinh trưởng, phát triển cây cao su trên địa bàn 3 tỉnh đạt mức độ đồng đều, các chỉ tiêu về chiều cao, vanh thân, tán lá... đều đạt hoặc vượt so với tiêu chuẩn cao su Tây Bắc.
Tiêu biểu ở đội cao su Chiềng Pằn, Viêng Lán (huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) diện tích trồng năm 2008 có vanh thân trung bình đạt trên 40 cm, đội cao su Mường Pồn tỉnh Điện Biên trồng 2008 có vanh thân trung bình đạt khoảng 31 cm.
Sơn La, Điện Biên, Lai Châu đã thu hút được trên 18.000 hộ đồng bào tự nguyện tham gia góp vốn bằng quyền sử dụng đất với diện tích trên 23.000 ha và hơn 6.600 người tham gia làm công nhân ở các công ty cao su, với mức lương bình quân 2.700.000 đồng/người/tháng.
Các công ty đã tạo điều kiện và cho phép nhân dân trong vùng trồng cao su được trồng xen các loại cây nông nghiệp ngắn ngày như: Ngô, đậu, bông, cỏ chăn nuôi... trong thời kỳ kiến thiết cơ bản của chu kỳ cây cao su, bước đầu tạo việc làm cho đồng bào các dân tộc, góp phần tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống, bà con phấn khởi và tin tưởng vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Phương thức hợp tác đầu tư và phân chia lợi nhuận giữa Công ty cao su và hộ nông dân đang được tìm tòi, vận dụng sáng tạo để đảm bảo hiệu quả bền vững. Tỉnh Sơn La đang áp dụng phương thức hộ nông dân góp vốn cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất, mỗi ha trị giá 10 triệu đồng, tương đương 1.000 cổ phiếu để được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh.
Các tỉnh Lai Châu và Điện Biên, các hộ dân góp đất được hưởng 10% sản phẩm mủ cao su sau khi khai thác (trước vận chuyển và chế biến), 10% củi, gỗ khi vườn cây hết chu kỳ khai thác mủ. Số sản phẩm trên được doanh nghiệp mua theo giá thoả thuận.
Để thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển cây su trên địa bàn, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của địa phương, các tỉnh đã có những chính sách hỗ trợ ưu đãi như: hỗ trợ kinh phí tổ chức thực hiện quy trình chuyển đổi đất sang trồng cao su; hỗ trợ các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia góp đất chuyển sang trồng cao su cho từng loại đất, di chuyển nhà tạm trong vùng quy hoạch trồng cao su, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ 100% giống, phân bón cho cây trồng xen, hỗ trợ chênh lệch giá giống cây cao su chịu lạnh... với các mức hỗ trợ phù hợp với điều kiện thực tế.
Bên cạnh đó, các tỉnh đều có chính sách ưu tiên tuyển dụng lao động đối với người dân có đất góp vào công ty cao su, con em đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương... Riêng tỉnh Lai Châu đã thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường cho 2.500 ha cao su khép tán, với mức chi trả khoảng 287 nghìn đồng/ha trên.
Bên cạnh kết quả bước đầu đạt được, trong quá trình triển khai cây cao su tại 3 tỉnh Sơn La, Lai Châu, Điện Biên vẫn còn một số vấn đề nổi lên cần sớm được giải quyết. Trong đó, có những điều mà các địa phương trong vùng cần tiếp tục nghiên cứu, rút kinh nghiệm khi xác định phát triển cao su ở địa phương.
Cây cao su được công nhận là cây đa mục đích theo Quyết định số 2855 QĐ/BNN-KHCN ngày 17 tháng 9 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Cây cao su trồng từ năm thứ 4 trở đi đã khép tán. Vì vậy mà có độ che phủ rất tốt, thậm chí còn hơn cả một số trạng thái của rừng trồng và rừng tự nhiên, nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận hưởng chế độ chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Cây cao su là cây trồng mới đối với vùng, nên kinh nghiệm thực tiễn trong trồng và chăm sóc chưa nhiều, hình thức tổ chức sản xuất mới mẻ nên vừa làm vừa rút kinh nghiệm để phù hợp với thực tiễn đặt ra.
Các hình thức phân chia lợi nhuận mới chỉ dự kiến trên lý thuyết nên một bộ phận người dân vẫn chưa hiểu rõ hiệu quả kinh doanh từ cây cao su, đang rất cần có văn bản hướng dẫn cơ chế tài chính cụ thể của các cơ quan Trung ương để người dân và địa phương yên tâm tổ chức thực hiện.
Nguồn lực và cơ chế chính sách hỗ trợ đầu tư cho phát triển cây cao su của Trung ương chưa có, trong khi đó ngân sách của tỉnh hỗ trợ hạn hẹp, mới chỉ hỗ trợ cho một phần chuyển đổi đất và làm đường đến khâu sản xuất.
Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn, quy mô diện tích đất không tập trung, hệ thống giao thông phục vụ cho sản xuất chưa phát triển nên việc canh tác cơ giới hạn chế, chi phí cho quá trình vận chuyển các nguyên vật liệu phục vụ cho việc trồng và chăm sóc lớn, dẫn đến suất đầu tư cho 1ha cao su vùng Tây Bắc cao hơn rất nhiều so với các vùng trồng cao su ở miền trung và miền nam.
Sản xuất cây giống tại chỗ chưa đáp ứng nhu cầu trồng mới, cây giống chủ yếu phải nhập từ miền nam hoặc nhập khẩu từ Trung Quốc, Lào nên quá trình vận chuyển ảnh hưởng đến chất lượng, chi phí giá thành cao.
Diễn biến thời tiết thất thường, vào mùa mưa thường xảy ra sạt lở đất nên đi lại rất khó khăn đã ảnh hưởng đến vận chuyển vật liệu và tiến độ trồng mới. Mặt khác các đợt rét đậm, rét hại những năm trước cũng đã gây thiệt hại một số tiểu vùng, đã tác động đến tâm lý của người dân.
Trình độ dân trí không đồng đều, lực lượng lao động phần lớn chưa qua đào tạo; tập quán canh tác phát nương làm rẫy của đồng bào dân tộc miền núi cũng ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích trồng cao su.
Để phát huy những kết quả đạt được, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy mạnh mẽ, vững chắc chương trình phát triển cao su vùng Tây Bắc; trên cơ sở quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các địa phương và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ, bố trí kế hoạch trồng hàng năm phù hợp với khả năng giải phóng đất, công tác chuẩn bị giống và các điều kiện đầu tư khác để đảm bảo chất lượng vườn cây.
Tổ chức tổng kết, đánh giá thực tiễn, rút kinh nghiệm về cơ cấu giống, kỹ thuật canh tác; chủ động cung ứng nguồn giống tại chỗ. Đồng thời tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các giống chịu lạnh có chất lượng cao để áp dụng trên diện rộng; xây dựng nhà máy chế biến mủ ở những khu vực trồng cao su tập trung.
Đề nghị Chính phủ cho những diện tích trồng cây cao su đã khép tán được hưởng chính sách chi trả phí dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ.
Bộ Tài chính sớm có văn bản hướng dẫn cơ chế góp đất và phân chia lợi nhuận trồng cao su giữa doanh nghiệp và hộ nông dân.
UBND các tỉnh trồng cao su cần có chính sách hỗ trợ công ty cao su về hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu đến các trung tâm trồng, chế biến cao su như giao thông điện, công trình nước sinh hoạt... Xây dựng và bổ sung quy ước, hương ước ở các thôn bản trong việc bảo vệ cây cao su cũng như bảo đảm an ninh trật tự.
Riêng đối với các tỉnh chưa nằm trong vùng quy hoạch theo Quyết định 750 của Thủ tướng Chính phủ, đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, đánh giá, xác định diện tích trồng khảo nghiệm cho phù hợp; đồng thời bổ sung, điều chỉnh quy hoạch chung cho các địa phương có điều kiện phát triển cây cao su. (Tin Tức 31/10) đầu trang(
TS. Nguyễn Văn Chinh - Viện trưởng Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp cho biết: Điều kiện đất đai, địa hình hẹp ngang, với nhiều dãy núi ăn sát ra tới biển đã khiến bức tranh tổng thể về nông nghiệp miền Trung bị phân chia hết sức manh mún. Từ những năm 1990, Chính phủ cũng đã có chủ trương phát động phong trào khai phá tiềm năng ở hai khu vực khắc nghiệt nhất của miền Trung là vùng đất cát ven biển và vùng trung du, miền núi phía tây.
Công tác điều tra, quy hoạch cho các vùng chuyên canh cây nông nghiệp cho miền Trung đã được tiến hành liên tục trong hơn 20 năm qua. Trong quá trình đó, chúng ta đã đưa vào thử nghiệm ở miền Trung hàng loạt cây trồng, trong đó nhiều loại cây trồng đã nếm trải thất bại.
Gần đây nhất như cà phê chè ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Thừa Thiên- Huế, cây dứa gắn với một số NM chế biến ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa đến nay cũng thất sủng. Duy có lẽ chỉ có trồng rừng là còn trụ lại được, nhưng với thu nhập mỗi ha trên dưới 10 triệu đồng/năm, dân không thể làm giàu nhờ rừng...
Đến nay, đứng về phía cơ quan quy hoạch nông nghiệp, tôi thấy ở miền Trung chỗ nào trồng được cây gì cũng đã trồng, và bức tranh quy hoạch nhìn chung đã cân đối và ổn định.
Cụ thể, một số loại cây trồng còn trụ lại ở miền Trung hiện nay như: diện tích hồ tiêu hiện khoảng 3,4 nghìn ha tập trung ở Quảng Trị và Quảng Bình; diện tích cà phê khoảng 6,4 nghìn ha tập trung ở Quảng Trị; diện tích cam khoảng 6,1 nghìn ha tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh; diện tích bưởi khoảng 4,6 nghìn ha tập trung ở Hà Tĩnh; diện tích chè khoảng 8,3 nghìn ha tập trung chủ yếu ở vùng Thanh Chương, Anh Sơn (Nghệ An) và các vùng mía nguyên liệu còn giữ được tập trung tại Nông Cống, Thạch Thành, Thọ Xuân (Thanh Hóa)...
Tất cả những loại cây trồng trên, cũng đều phân bố rất manh mún, chưa thể nói là thành vùng sản xuất (SX) hàng hóa thực sự, chưa giúp dân làm giàu, và hiện cũng đã cơ bản “hết đất trồng”, không còn nơi nào có thể cựa quậy để quy hoạch thêm được nữa.
Nhìn vào bản đồ nông nghiệp miền Trung, chỉ có mỗi cây cao su với diện tích hơn 80 nghìn ha là hình thành được vùng SX tập trung. Đi dọc miền Trung, khu vực nào thấy nhà cao tầng đẹp nhất, đó chỉ có là vùng trồng cao su. Điều này cho thấy vì sao dân lại mặn mà với cây cao su như thế.
Tôi đồ rằng, dù bão gây thiệt hại nặng thế nào đi nữa, dân họ lại vẫn sẽ trồng cao su. Vấn đề hiện nay, đó là cần điều chỉnh phát triển cây cao su ở vùng này ra sao mà thôi.
Về quy hoạch, tôi cho rằng quy hoạch diện tích 80 nghìn ha cao su ở miền Trung là đã ổn định và “kịch kim” rồi, không thể, và không nên mở rộng thêm diện tích nữa. Việc phát triển cao su miền Trung, chỉ có thể bám vào các vùng ven trục đường Hồ Chí Minh ở phía tây.
Đối với các vùng ven biển như Kỳ Anh (Hà Tĩnh), Vĩnh Linh (Quảng Trị), nên kiên quyết nói không với cây cao su. Thay vào đó, phương án trồng cỏ, nuôi bò thịt cũng là một giải pháp mà tôi cho là khả thi hơn cả. Các vùng gò đồi bán sơn địa ven phía tây miền Trung trồng cao su nhiều rủi ro, đất đai ở đó hoàn toàn có thể trồng được cỏ để phát triển đàn bò, chứ không phải hoàn toàn cằn cỗi.
Về giải pháp kỹ thuật trồng cao su, tôi không hiểu sâu nhưng qua tham quan tại Malaysia – nơi có điều kiện thời tiết nhiều bão như miền Trung, tôi thấy họ trồng cao su rất dày, lên tới 800 cây/ha để hạn chế tác động gió bão thay vì 450 – 500 cây/ha như ở ta.
Đồng thời, họ rút ngắn chu kỳ khai thác, thay vì 25 – 30 năm xuống chỉ còn 20 năm để đẩy nhanh thời gian quay vòng nhằm né bão lớn và bán gỗ thanh lý. Đó cũng có thể là một giải pháp mà chúng ta nên tham khảo. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/10) đầu trang(
Cao su được Hà Tĩnh công nhận là cây mũi nhọn kinh tế bởi nguồn lợi đưa lại rất lớn. Thế nhưng bão số 10 vừa qua đã làm cho gần 800/1.600ha cao su ở Kỳ Anh bị gãy đổ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đồng. Đây là bài học xương máu cho việc quy hoạch thiếu cân nhắc bởi Kỳ Anh thường xuyên "hứng bão" thế nhưng nơi đây vẫn cứ trồng cao su bằng mọi giá.
Nhiều tỉnh Bắc Trung bộ tôn vinh cao su là cây mũi nhọn, cây xóa đói giảm nghèo. Cty TNHH MTV cao su Hà Tĩnh hiện có tổng diện tích cao su đạt 6.100 ha được trồng từ năm 1997, năm 2004 bắt đầu đưa vào khai thác, đến nay cho năng suất mủ đạt từ 1,5 – 1,7 tấn/ha.
Nhờ thu nhập từ nguồn lợi mủ cao su nên Cty đã tạo công ăn việc làm cho gần 1.740 công nhân (đóng nộp bảo hiểm), tạo việc làm cho trên 3.000 nông dân trong vùng dự án.
Tại Hà Tĩnh còn có Cty TNHH MTV cao su Hương Khê, thành lập từ 2007, tuy thành lập sau nhưng đến nay Cty Cao su Hương Khê đã phát triển được 4.100ha chuẩn bị đưa vào khai thác, chủ yếu ở các huyện miền núi xa biển nên rất ít bị gãy đổ vì bão. Cty này cũng đã tạo công ăn việc làm ổn định cho 3.000 lao động.
Sau bão, Nông Nghiệp Việt Nam có cuộc khảo sát một số diện tích cao su được trồng cách biển từ 50 km trở lên như các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Đức Thọ, Vũ Quang, thấy tuy có thiệt hại phần nào nhưng ảnh hưởng không lớn.
Ông Đặng Bá Thức, Hội Khọc kỹ thuật lâm nghiệp Hà Tĩnh cho rằng: Kể từ 2007 lại nay Hà Tĩnh đã không quy hoạch phát triển cây cao su ở các vùng ven biển nữa mà chỉ tập trung ở các huyện phía tây. Số diện tích cao su bị thiệt hại từ cơn bão số 10 chủ yếu được trồng từ những năm 1997-2000 ở Kỳ Anh mà thôi.
Ông Nguyễn Khánh Toàn – Phó TGĐ Cty TNHH MTV cao su Hà Tĩnh cho biết: Diện tích cao su bị thiệt hại ở huyện Kỳ Anh, đến nay Cty cơ bản khắc phục theo hướng, số bị gãy từ 2m thì cắt và bôi hóa chất kích thích để tận dụng khai thác hết mủ, số bị gãy từ 3m trở lên cố chăm sóc cho cây nẩy mầm trở lại.
Từ bài học thất bại thảm hại này, Cty kiên quyết không phát triển thêm bất kỳ diện tích cao su nào ven biển nữa, số còn lại sẽ thực hiện trồng vành đai chắn gió bằng các cây nguyên liệu có giá trị kinh tế.
Ông Trần Ngọc Thuận – Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp cao su VN khẳng định: Về chủ trương, Tập đoàn cho các đơn vị vẫn tiếp tục tái canh cao su những nơi an toàn nhất. Đồng thời giao cho các Cty tìm kiếm quỹ đất để mở rộng diện tích trồng cao su lên các vùng phía tây đúng với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu đất đai và phải cách xa biển tối thiểu 50 km.
Tái canh, trồng mới cao su bằng các loại giống có khả năng chịu gió, rét theo hướng gỗ, mủ, kết hợp trồng cây chắn gió và phải tạo tán thấp; các diện tích bị thiệt hại do bão vừa qua, những nơi cách biển dưới 50 km không tiến hành tái canh cao su mà chuyển đổi sang trồng cây nguyên liệu phục vụ cho sản xuất ván MDF. Có như thế mới an toàn cho việc phát triển cao su ở các tỉnh có khí hậu khắc nghiệt vùng duyên hải miền Trung. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/10) đầu trang(
Ngày 25/10, Chủ tịch UBND tỉnh đã ký Quyết định số 257 về việc thành lập Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường trực thuộc Vườn Quốc gia Núi Chúa và thành lập Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường rừng trực thuộc Vườn Quốc gia Phước Bình.
Đây là 2 đơn vị sự nghiệp có thu, thực hiện nhiệm vụ phát triển loại hình dịch vụ du lịch sinh thái gắn với hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, bảo tồn văn hóa bản địa; nâng cao nhận thức cho du khách và nhân dân trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc sống trong khu vực quản lý, góp phần vào công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững. (Báo Ninh Thuận 30/10) đầu trang(
Người dân các huyện miền núi của tỉnh Nghệ An hiện thiếu đất lâm nghiệp để sản xuất, trồng, chăm sóc rừng... Vì thiếu đất nên người dân không ít nơi đã bất chấp pháp luật, chặt phá rừng, kéo nhau vào địa hạt lâm trường quản lý chặt cây “giành” đất sản xuất. Trong khi đó, hàng trăm hécta đất cấp sai đối tượng theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP vẫn chưa thể thu hồi dứt điểm.
Ngày 29-6-2007, UBND huyện Quỳ Châu có Quyết định số 597 và 598 thu hồi đất cấp sai đối tượng theo Nghị định 163/CP tại khu vực rừng Khe Bấn (giáp ranh 2 xã Châu Hạnh và Châu Hội) của 18 hộ gia đình, cá nhân. Đặc biệt, những người đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) lâm nghiệp phần lớn là cán bộ của huyện, trong đó có nguyên Bí thư Huyện ủy, Chánh Văn phòng UBND huyện, cán bộ tòa án, cán bộ phòng giáo dục. Cụ thể, số diện tích thu hồi của 10 hộ tại địa bàn xã Châu Hạnh là 473.207m2, của 8 hộ tại xã Châu Hội là 995.661m2.
Ông Nguyễn Sỹ Luận, Phó Chủ tịch UBND xã Châu Hội, cho biết: “Trong số 8 hộ dân có đất thu hồi chỉ có 2 hộ tại địa phương. Với 2 hộ này thì việc phối hợp giải quyết thuận lợi. Còn với 6 hộ dân sống tại thị trấn, chúng tôi gửi giấy mời đến giải quyết nhưng họ không đến. Vì họ ở địa phương khác nên chúng tôi không thể điều động được”.
Theo quy định, các hộ này sau khi thu hoạch cây không được trồng lại mà phải trả lại đất. Tuy nhiên, hiện có 2 hộ đã trồng lại ngay khi thu hoạch được một phần. Còn tại xã Châu Hạnh, ông Vi Văn Hạnh, Phó Chủ tịch UBND xã, cho biết: “Việc cấp đất sai đối tượng xã cũng không biết làm thế nào. Việc xử lý là ở cấp trên và cũng vì người được cấp đất là cấp trên nên là chuyện “nhạy cảm”.
Ông Trần Bảo Linh, Phó phòng TN-MT huyện Quỳ Châu, cho hay, việc thu hồi, bàn giao đất cấp sai đối tượng hiện vẫn còn vướng mắc vì còn vướng tài sản trên đất, cụ thể là cây trồng. Khi nào thu hoạch cây xong, các hộ phải bàn giao đất lại cho huyện. Tuy nhiên, khi chúng tôi cho biết có hộ đã trồng lại cây, ông Linh nói: “Tôi không nắm được, việc này trưởng phòng nắm”.
Một trong những người được cấp đất còn công tác là ông Nguyễn Đình Cẩn. Khi được cấp đất, ông là Chánh Văn phòng UBND huyện, hiện là Trưởng phòng LĐTB-XH. “Bây giờ bán cây non thì tôi không bán. Tôi không sai. Nếu xử lý là xử lý anh cấp bìa ấy” - ông Cẩn nói.
Tại huyện Quế Phong, có 5 cán bộ được cấp đất không đúng đối tượng, trong đó hiện 3 người còn đương chức. Đó là 3 ông: Kim Văn Mão, Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện; Lương Sỹ Cường, Trưởng phòng Dân tộc huyện; Mạc Đăng Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy.
Ngày 10-9-2007, UBND huyện Quế Phong đã ra Quyết định số 1505/QĐ-UBND thu hồi đất của 5 hộ dân này, với tổng diện tích là 32,15 ha tại các xã Châu Kim, Mường Nọc và Hạnh Dịch. Nhưng sau khi thu hồi thì các đơn vị chức năng của huyện lại “quên” các trình tự, thủ tục tiếp theo để giải quyết dứt điểm vụ việc.
Ông Vi Văn Thắng, Phó phòng TN-MT huyện, cho biết, những trường hợp trên vẫn chưa làm Giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp mới. Cho đến nay, chưa thấy xã nào có công văn, hồ sơ trình lên về việc xin cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ cho số diện tích đất cấp sai này.
Bà Vi Thị Thúy, Chủ tịch UBND xã Châu Kim, cho biết, đất cấp cho ông Cường, Trưởng phòng Dân tộc huyện, đã được chuyển lại cho bà Phương - mẹ ông; còn đất của ông Khuê, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy, đã chuyển cho bố là ông Việt. Chúng tôi tìm gặp trực tiếp một trong những người có đất thuộc diện phải thu hồi là ông Lương Sỹ Cường. Ông cho biết, mình được cấp 2ha khi còn làm Phó Trưởng ban Dân vận Huyện ủy. Trước, ông chỉ làm sắn, sau trồng quế, rồi chuyển sang trồng xoan. Ông
Cường băn khoăn: “Các anh hỏi tôi mới nhớ. Cách đây mấy năm huyện thu hồi giấy chứng nhận của tôi rồi, nói tôi không đúng đối tượng. Tôi nói mẹ tôi làm nông nghiệp, các anh làm thủ tục giao lại cho mẹ tôi. Nhưng từ đó đến giờ tôi cũng không biết “nó” đi đâu”. (Sài Gòn Giải Phóng 31/10) đầu trang(
Để chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tỉnh Nam Định dự kiến đầu tư hơn 764 tỷ đồng thực hiện 22 đề án, chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu.
Là tỉnh ven biển, hàng năm, Nam Định chịu nhiều thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra. UBND tỉnh Nam Định đã ban hành kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2020.
Theo đó, tỉnh sẽ thực hiện đồng bộ các giải pháp thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, khai thác sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Đồng thời tỉnh cũngchú tr ọng khai thác, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn tài nguyên nước; tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm nguồn nước; đảm bảo tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch là 100% ở thành thị và 95% ở nông thôn.
Bên cạnh đó đẩy mạnh phục hồi và trồng rừng mới, phấn đấu đến năm 2020 quỹ đất rừng của Nam Định đạt 5.713 ha. Tỉnh phấn đấu 100% các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, 70% lượng nước thải ra môi trường lưu vực các sông được xử lý, tiêu hủy trên 85% chất thải nguy hại...
Trong số 22 đề án, chương trình mà tỉnh Nam Định sẽ triển khai, đáng chú ý là đề án tu bổ, nâng cấp hệ thống kè chống sạt lở đê trên toàn tuyến đê của tỉnh trong năm 2014 với tổng kinh phí 200 tỷ đồng; công trình thu gom, xử lý rác thải tại các đô thị loại IV trở lên, có kinh phí 150 tỷ đồng; đề án xây dựng các nhà máy nước sạch cho nhân dân các huyện Nghĩa Hưng, Hải Hậu và Giao Thủy với mức đầu tư 90 tỷ đồng...
Những năm qua, để thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ và phát triển sản xuất nông nghiệp, tỉnh Nam Định đã nâng cấp, kiên cố hóa 56,8/76,6 km đê biển, có khả năng chống bão cấp 10, tần suất 5%; xây mới 8 cống qua đê và 53 mỏ kè giữ bãi bảo vệ đê.
Tỉnh Nam Định đang xây dựng 21 mỏ kè mới; tiếp tục thi công tu bổ, nâng cấp 18,1 km đê biển xung yếu ở 3 huyện ven biển là Nghĩa Hưng, Hải Hậu và Giao Thủy.
Tỉnh Nam Định cũng đã xây mới 30 cống qua đê bảo đảm an toàn trong mùa mưa bão, nâng cấp hơn 30km đê sông, hơn 20km chiều dài kè bảo vệ đê và bê tông hóa mặt đê; đẩy mạnh công tác trồng rừng chắn sóng, giữ bãi. Đến nay, diện tích rừng ngập mặn của tỉnh đạt 3.600 ha. (Chinhphu.vn 31/10) đầu trang(
Xác định tầm quan trọng, hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng mang lại, những năm qua, huyện Tân Kỳ đã chú trọng trồng mới, khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Vụ thu năm nay, huyện tiếp tục trồng mới 400 ha rừng.
Để hoàn thành kế hoạch trong rừng vụ thu, thời gian qua, UBND huyện Tân Kỳ đã chỉ đạo chính quyền các xã tăng cường công tác tuyên truyền nhằm giúp người dân nắm vững những chính sách hỗ trợ của các chương trình dự án trồng rừng của nhà nước. Đồng thời hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng cho bà con. Đặc biệt, Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Kỳ đã chủ động ươm và chăm sóc được 1,4 triệu cây giống các loại để cung ứng cho bà con.
Song song với công tác trồng mới thì hiện nay các ngành chức năng cũng đã chỉ đạo bà con tiến hành chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ trên 27.000ha rừng trồng. (Đài PT - TH Nghệ An 31/10) đầu trang(
Cuối năm 2012, Thanh tra tỉnh đã chủ trì, tổ chức thanh tra chuyên đề về tình hình thực hiện Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn II (2005-2010) tại 19 đơn vị, địa phương trên địa bàn toàn tỉnh. Qua thanh tra cho thấy, ngoài những lợi ích thiết thực từ chương trình mang lại, quá trình triển khai còn bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần khắc phục.
Theo kết quả thanh tra thì tổng kế hoạch giao trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong giai đoạn 2005-2010 trên toàn tỉnh là hơn 7.900 ha; trong đó trồng và chăm sóc rừng phòng hộ giao cho các đơn vị, hộ gia đình theo Quyết định 661 là 655,43 ha; hỗ trợ trồng rừng sản xuất, trồng cây phân tán hơn 6.700 ha; hỗ trợ vốn trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 cho doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 563,6 ha.
Kết thúc giai đoạn của các dự án nằm trong chương trình, tổng diện tích rừng đã trồng, được nghiệm thu quyết toán là 4.768 ha, đạt 60,2% kế hoạch, với tổng số vốn đầu tư hơn 14 tỷ đồng.
Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là không những không đạt kế hoạch mà trong quá trình thực hiện, vì nhiều nguyên nhân, các đơn vị trồng rừng đã để xảy ra tình trạng mất rừng trồng mới với diện tích tương đối lớn, gây lãng phí kinh phí đầu tư của Nhà nước. Cụ thể như trong Dự án trồng và chăm sóc rừng phòng hộ theo Quyết định 661, toàn tỉnh đã để mất 62,26 ha, thiệt hại số vốn đầu tư trên 321 triệu đồng.
Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất và trồng cây phân tán, các đơn vị chủ rừng đã để mất 1.223 ha (chiếm trên 56% diện tích đã nghiệm thu) với giá trị vốn đầu tư thiệt hại ước tính 2,4 tỷ đồng. Ðối với Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 do các hạt kiểm lâm làm chủ đầu tư thì có 127 ha diện tích rừng trồng không đạt yêu cầu vì tỷ lệ cây chết vượt quá quy định; 27,2 ha rừng trồng đã mất với giá trị vốn đầu tư ước tính 524 triệu đồng. Ðối với Dự án hỗ trợ trồng rừng sản xuất do các doanh nghiệp làm chủ đầu tư cũng đã để mất hơn 25 ha, với số tiền thiệt hại trên 283 triệu đồng.
Nguyên nhân được xác định một phần là do quá trình lập dự án, các chủ đầu tư chưa có sự đầu tư đúng mức về nhu cầu của đối tượng nhận khoán và quỹ đất thực tế của địa phương; hạn mức kinh phí hỗ trợ giao khoán tại thời điểm triển khai thấp nên thiếu tính khả thi.
Bên cạnh đó, do các đơn vị, cá nhân là chủ đầu tư thiếu sự quan tâm trong việc đôn đốc, theo dõi, dẫn đến tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất rừng, phá rừng trái phép. Một số hộ dân sau khi nhận kinh phí hỗ trợ trồng, chăm sóc rừng, nhưng không thực hiện đúng mục đích, lại phá rừng để trồng các cây trồng khác…
Mặt khác, bản thân đơn vị chủ trì thực hiện các dự án khi triển khai đã xác định số lượng cây theo nhu cầu đăng ký trồng rừng trong dự án cao hơn thực tế, nên số hộ tham gia không đạt theo kế hoạch, làm lãng phí kinh phí. Việc lựa chọn cây trồng chưa phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng cũng đã dẫn đến tình trạng rừng trồng bị chết hoàn toàn như cây gió bầu. Công tác rà soát, đánh giá kết quả thực hiện dự án cũng chưa thường xuyên.
Một số cán bộ kiểm lâm địa bàn chưa làm hết trách nhiệm trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các hộ dân chăm sóc, bảo vệ rừng trồng. Ðặc biệt, quá trình thực hiện, một số danh mục dự án đã bị đơn vị chức năng quyết toán vượt khối lượng thực tế với mục đích chiếm dụng nguồn vốn đầu tư.
Theo Sở NN&PTNT, trên cơ sở Kết luận số 95/KL-TTr của Chánh Thanh tra tỉnh, từ đầu năm 2013 đến nay, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở đang từng bước tham mưu, đôn đốc bộ phận chức năng từng bước khắc phục từng nội dung kiến nghị sau thanh tra.
Ðơn cử như Sở đã tham mưu UBND tỉnh ra quyết định thu hồi một số diện tích rừng đã giao cho các cá nhân, tổ chức trồng, chăm sóc và bảo vệ, nhưng không hiệu quả. Ðồng thời, Sở cũng phối hợp với các địa phương xác định đối tượng, diện tích rừng bị mất để tiến hành thu hồi số kinh phí đầu tư đối với những diện tích rừng trồng theo Quyết định 147.
Bên cạnh đó, Sở cũng đã chỉ đạo các đơn vị kiểm lâm nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân nào không hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao, để xảy ra tình trạng lấn chiếm, phá rừng trái phép thuộc lâm phần mình quản lý…
Việc điều tra hiện trạng rừng để đưa một số diện tích rừng đang có trên hồ sơ, nhưng thực tế đã bị người dân lấn chiếm sản xuất để có hướng xử lý cũng được chú trọng. Trên cơ sở tham mưu của Sở NN&PTNT, UBND tỉnh cũng đã ban hành Quyết định số 1578/QÐ-UBND quy định chi tiết giá rừng trên địa bàn tỉnh, tạo hành lang pháp lý trong việc xử lý những trường hợp để mất rừng cũng như nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của những đơn vị, cá nhân nhận trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. (Báo Đăk Nông 30/10) đầu trang(
ã Bản Ngoại, huyện Đại Từ, Thái Nguyên là một xã nghèo, dân cư phân bố không đều với cơ cấu kinh tế là nông, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thế mạnh là cây chè.
Với địa hình núi non còn nhiều khó khăn như vậy, nên người dân nơi đây muốn làm giàu từ mảnh đất quê hương không phải điều đơn giản, nhất là với chàng trai trượt đại học, sinh ra trong gia đình khó khăn như Trần Ngọc Anh.
Không may mắn trong con đường học hành, Ngọc Anh quyết định trở về quê hương Bản Ngoại tìm hướng lập nghiệp. Sau khi lập gia đình, như bao hộ gia đình khác, hai vợ chồng anh Ngọc Anh chọn hướng đầu tư nuôi vịt, lợn nhưng không thành công.
Từ bỏ mô hình VAC, anh Ngọc Anh đi lái xe thuê cho một cơ sở xuất khẩu lâm sản. Thời gian này cũng là lúc anh vừa làm, vừa học hỏi, tích lũy kinh nghiệm để phát triển sự nghiệp bản thân.
Tháng 11/2009, với số vốn ít ỏi tích lũy được, cộng thêm vay mượn bạn bè, người thân, anh Ngọc Anh đầu tư 300 triệu để mở cơ sở sản xuất của riêng mình. Một hướng đi đúng đắn cùng kinh nghiệm tích lũy được đã giúp anh mở rộng cơ sở kinh doanh của mình lên diện tích hơn 1000m² với đầy đủ máy móc hiện đại. Mỗi năm, cơ sở thu mua và chế biến lâm sản của anh cho sản lượng 2000m³, đạt doanh thu đạt trên 3 tỷ đồng/ năm và tạo công ăn việc làm thường xuyên cho 20 lao động địa phương.
Từ hai bàn tay trắng, Trần Ngọc Anh đã trở thành tỷ phú với hướng phát triển kinh tế khoa học của mình. Mô hình xưởng sản xuất của anh Ngọc Anh hứa hẹn sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm cho những bạn trẻ muốn lập nghiệp trên mảnh đất quê hương. (VTV6 30/10) đầu trang(
Khóa tập huấn được Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Ngãi tổ chức từ ngày 01-12/ 10 với sự hỗ trợ kinh phí của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia.
Khóa tập huấn được chia thành 02 lớp, mỗi lớp 5 ngày. Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quảng Ngãi hướng dẫn, trao đổi, thảo luận, chia sẻ kinh nghiệm về 4 loại cây lâm sản ngoài gỗ đặc trưng của vùng núi Quảng Ngãi, đó là: mây, sa nhân, tre và quế.
Lớp học có sự tham dự của 46 học viên đến từ Trung tâm khuyến nông khuyến ngư, Trạm Khuyến nông, Khuyến nông viên và cộng tác viên của 5 huyện: Sơn Tây, Sơn Hà, Trà Bồng, Minh Long và Nghĩa Hành. Báo cáo viên cùng học viên vừa trao đổi lý thuyết vừa thực hành theo hình thức lấy học viên làm trung tâm. Chính vì thế đã khuyến khích học viên mạnh dạn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm của từng vùng, bổ sung kiến thức cho nhau và nâng cao kỹ năng thực hành cho học viên.
Thông qua khóa tập huấn, học viên đã nắm vững lý thuyết, tự tin truyền đạt kiến thức cũng như hướng dẫn nông dân sản xuất tốt hơn. Qua đó, học viên cũng liên kết với các cơ sở sản xuất, chế biến thu mua sản phẩm giới thiệu với nông dân biết để trao đổi thuận lợi hơn. Cuối khóa học có 100% học viên đạt kết quả khá, giỏi. (Kinh Tế&Đô Thị 30/10) đầu trang(
Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 11.720 ha rừng tập trung, vượt 17,2% kế hoạch, bằng 86,2% so cùng kỳ.
Đồng thời, tỉnh cũng thực hiện chăm sóc 40.000 ha rừng trồng, trong đó, có 5.000 ha rừng phòng hộ, 35.000 ha rừng sản xuất. Bên cạnh đó, toàn tỉnh đã khai thác gỗ rừng trồng 268.090 m3, dăm gỗ xuất khẩu 218.000 tấn, dịch vụ gỗ mỏ cho ngành than 105.706 m3.
Hiện nay, các địa phương, các chủ rừng đang tiếp tục tổ chức tốt công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng đã trồng, rà soát mặt bằng trồng rừng chuẩn bị các điều kiện để thực hiện trồng rừng; tăng cường công tác kiểm tra thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng chống cháy rừng, tổ chức duy trì thường trực phòng chống cháy rừng 24/24 giờ. (Chinhphu.vn 30/10) đầu trang(
Nhận thức sâu sắc vấn đề tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường có ý nghĩa, vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, khu vực, quốc gia và toàn cầu nên thời gian qua, Lâm Đồng thực hiện nhiều chủ trương, chính sách trong công tác ứng phó biến đổi khí hậu, phòng tránh thiên tai, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đặc biệt công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều cố gắng; duy trì độ che phủ rừng đạt 60,4%.
Tiếp tục nâng cao trách nhiệm trong việc bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng gắn với đa dạng sinh học, thời gian tới, Tỉnh ủy tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy, chính quyền các cấp, các đơn vị chủ rừng thực hiện có hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Tăng cường phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, kịp thời các đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng.
Chú trọng bảo vệ, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên, đẩy mạnh trồng rừng nhất là rừng đầu nguồn. Bảo đảm việc quản lý diện tích đất lâm nghiệp cho phát triển rừng bền vững, chống xói mòn, rửa trôi đất lâm nghiệp, duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 61%.
Đồng thời kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp thực hiện đúng tiến độ các dự án cải tạo rừng nghèo kiệt để trồng rừng, trồng cao su. Làm tốt công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng. Tiếp tục phát huy hiệu quả việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng gắn với nâng cao đời sống đồng bào dân thiểu số tại chỗ. Huy động mọi nguồn lực để trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung.
Thực hiện hiệu quả trồng cây che bóng ở các vùng cây công nghiệp, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nhà kính từ nay đến năm 2020. Rà soát và thực hiện trồng cây phân tán, che bóng ở tất cả khu vực đất trống ở thành thị, nông thôn. Tiếp tục thực hiện chủ trương Tháng trồng cây, trồng rừng hằng năm.
Một trong các giải pháp nhằm nâng cao giá trị tài nguyên rừng gắn với đa dạng sinh học trong thời gian tới được tỉnh xác định là phải: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế, chính sách để sớm đưa nguồn lực tài nguyên thật sự trở thành động lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Xác định đúng giá trị tài nguyên được khai thác, sử dụng để thu phí, lệ phí, thuế, tiền sử dụng tài nguyên nhằm tăng nguồn thu cho ngân sách và quỹ bảo vệ, hoàn nguyên môi trường.
Duy trì và giữ vững tỷ trọng chi sự nghiệp môi trường. Phát huy có hiệu quả việc sử dụng các nguồn vốn từ Quỹ bảo vệ môi trường, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh. Hằng năm, ưu tiên bố trí ngân sách phù hợp cho công tác điều tra cơ bản về tài nguyên, xử lý ô nhiễm môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học… (Báo Lâm Đồng 31/10) đầu trang(
Hiện nay, huyện Chợ Đồn đã xây dựng xong phương án trồng rừng cho năm 2014. Mọi công tác chuẩn bị đã và đang được huyện triển khai tích cực.
Từ tháng 7/2013, công tác chuẩn bị trồng rừng năm 2014 đã được huyện Chợ Đồn triển khai đến từng xã trong huyện. Bao gồm công tác đăng kí trồng rừng của từng hộ, xây dựng kế hoạch hỗ trợ kinh phí cũng như chuẩn bị giống cho trồng rừng. Tính đến nay, toàn huyện đã đăng kí trồng rừng năm 2014 được trên 800ha, đạt gần 50% kế hoạch của UBND tỉnh giao.
Ông Trương Quốc Tuân, Hạt phó hạt kiểm lâm huyện Chợ Đồn cho biết: Rút kinh nghiệm từ năm 2013, Ngay từ giữa tháng 7, Ban quản lý dự án đã có văn bản gửi đến các xã, chỉ đạo cán bộ trên địa bàn kiêm nhiệm công tác khuyến lâm của dự án đến vận động bà con đăng kí trồng rừng năm 2014.
Ban quản lý dự án trồng rừng 147 huyện Chợ Đồn đã đăng kí gieo ươm cây giống với Xí nghiệp cung ứng giống lâm nghiệp huyện Chợ Đồn là 150 kg hạt giống cây mỡ và Công ty TNHH Trường Thành là 9 kg hạt giống cây keo.
Do diễn biến phức tạp của sâu ong, dự kiến năm 2014, diện tích trồng cây mỡ sẽ giảm, huyện sẽ khuyến khích người dân trồng thêm cây quế để phát triển kinh tế, tránh thiệt hại khi vẫn chưa dập tắt được triệt để nạn sâu ong ăn lá mỡ. Với điều kiện thời tiết thuận lợi, theo kế hoạch, đến tháng 11 tới, huyện Chợ Đồn sẽ tiến hành tra hạt giống keo và mỡ để đến tháng 6 sang năm có thể có cây giống trồng rừng.
Ngoài trồng rừng tập trung, huyện Chợ Đồn đang tích cực tuyên truyền, hướng dẫn người dân tham gia trồng rừng phân tán. Hiện nay cùng với việc vận động người dân đăng kí trồng rừng năm 2014, công tác lập hồ sơ thiết kế, chuẩn bị hiện trường trồng rừng cũng đã và đang được huyện chủ động triển khai thực hiện, phấn đấu vụ trồng rừng năm tới đạt kết quả cao nhất. (Đài PT - TH Bắc Kạn 31/10) đầu trang(
Theo thông tin từ chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Hà Tĩnh thì trong đợt lũ vừa qua tại huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) hai cán bộ hạt kiểm lâm Hương Sơn đã cứu thoát 8 người trong lũ trên địa bàn này.
Trước đó, 16/10, 4 người dân xã Sơn Bằng trong lúc dùng thuyền đi mua lương thực thì bị lũ cuốn trôi, cả 4 người bám được vào ngọn cây bên đường và kêu cứu. Cùng ngày cũng tại xã Sơn Bằng 4 người dân khác (trong đó có 1 cụ già, 1 em nhỏ) nhà bị ngập nước đã leo lên nóc nhà, kêu cứu.
Nhận được thông tin, ông Nguyễn Huy Lợi – phó giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tĩnh – chi cục trưởng cục Kiểm Lâm đã chỉ đạo cho các cán bộ tại hạt kiểm lâm Hương Sơn dùng phương tiện cứu người khẩn cấp.
Lúc đó trên địa bàn huyện này bị chia cắt phức tạp, nước chảy xiết và khó khăn nhưng với tinh thần dũng cảm và kinh nghiệm nhiều năm trong phòng chống bão lũ. Hai cán bộ là Lê Thanh Hải – phó hạt trưởng hạt kiểm lâm Hương Khê và Lê Văn Sâm – kiểm lâm viên đã dũng cảm, tiếp cận, tìm phương án cứu người, và họ đã đưa được cả 8 người dân nói trên về khu vực an toàn. Tuy nhiên trong quá trình giúp đỡ người dân thoát khỏi “lưỡi hái tử thần” thì Nguyễn Văn Sâm bị thương ở chân, phải khâu 5 mũi.
Ông Nguyễn Huy Lợi cho biết, với chức trách là lãnh đạo hàng đầu của Kiểm Lâm Hà Tĩnh, ông đã đề nghị lên cấp trên khen thưởng cho 2 cán bộ dũng cảm quên mình vì nhân dân nêu trên.
Trước đó, do ảnh hưởng của hoàn lưu sau bão số 11 đã làm nhiều xã, thị trấn thuộc các huyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang của tỉnh Hà Tĩnh chịu ảnh hưởng nặng nề của lũ quét và sạt lở đất đá. Hàng nghìn hộ dân ở các huyện miền núi Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang của tỉnh Hà Tĩnh vẫn chìm trong nước lũ.
Trong đợt lũ quét tràn về nhanh đã làm các huyện Hương Sơn, Hương Khê và Vũ Quang thiệt hại nặng nề về nhà cửa, đồ đạc, cây trồng và vật nuôi. Cũng do ảnh hưởng của mưa lũ, hàng vạn các em học sinh không thể đến trường, nhiều hoàn cảnh mất nhà, mất người thân. (Người Đưa Tin 20/10) đầu trang(
Gần 3.000 sổ đỏ giao đất lâm nghiệp do một cá nhân cất giữ vừa được Công an TP Hà Tĩnh phát hiện, khi tiến hành kiểm tra phòng nghỉ tại khách sạn Phú Quý, xã Thạch Trung, TP Hà Tĩnh.
Đối tướng bị phát hiện là Nguyễn Thị Minh, xã Thạch Môn, TP Hà Tĩnh, hiện đang cư trú tại xã Đức Tân, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
Đối tượng này cho biết, số bìa đỏ là do mua lại của những đối tượng chuyên đi lừa đảo gom sổ đỏ của người dân khắp các tỉnh thành trong cả nước để lừa chạy dự án trồng rừng của Chính phủ.
Từ ngày 18/10 đến nay, Nguyễn Thị Minh và một số người đã đi thuê phòng của khách sạn Phú Quý phân loại bìa đỏ và giấy tờ liên quan trước khi bàn giao cho các địa phương.
Vụ việc đang tiếp tục được cơ quan chức năng điều tra mở rộng. (VTV 30/10; Sài Gòn Giải Phóng 30/10) đầu trang(
Không chỉ rừng nguyên sinh ở xã Năng Khả bị … "xẻ thịt” tàn bạo, rừng đặc dụng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung nằm trên địa bàn xã Khâu Tình, huyện Na Hang cũng bị lâm tặc phá tan nát.
Đến khu vực Lũng Thi, thôn Nà Tảng, xã Khâu Tình, vùng lõi rừng đặc dụng, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung (huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) mới thấy lâm tặc vừa lén lút, vừa ngang nhiên tuyệt diệt rừng. Bởi, quy mô chặt phá rừng khá hoành tráng. Gỗ nghiến được đặt lên hàng đầu trong "thực đơn” của bọn giặc rừng. Những khu rừng hầu như bị tàn diệt, vết cưa cắt mới chồng lên vết cưa cắt cũ. Thân gỗ nghiến đổ ngổn ngang, đè nát, làm nhiều loài gỗ khác "chết oan”. Nhiều hộp gỗ đẹp được xẻ, màu đỏ sẫm như màu máu khô, chưa kịp chuyển đi xếp thành đống nơi đại ngàn…
Điều đáng nói là những "tay chơi” lắm của nhiều tiền không chỉ mê giường, sập bằng gỗ nghiến cổ thụ mà còn đua nhau chơi bìu gốc nghiến (chỉ những cây gỗ nghiến "bị thương” mới tiết ra nhựa để "tự vệ”, qua hàng trăm năm "vết thương” lành và chỗ "tật” đó phình to ra đến mức xẻ làm mặt bàn, mặt sập với những hoa văn đuôi công; cánh phượng; vảy rồng… cực kỳ bắt mắt.
Do giá mua được đặt cao ngất ngưởng nên giặc rừng lao vào săn lùng bìu gỗ nghiến và tìm mọi cách để cắt bằng được rồi vận chuyển đi bán. Xót xa nhất, khi nhiều lần chúng tôi "mục sở thị” những cây gỗ nghiến đại thụ ở các khu rừng Lũng Thì, Me Lình, Thôm Phường (xã Khâu Tình) vẫn đứng nguyên, những cành lá khô úa đến già nửa. Bởi các bìu trên thân cây gỗ đã bị giặc rừng… "xẻo” mất tự bao giờ…
Trao đổi với lãnh đạo Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang, mới hay như lời ông Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm đang cùng 26 đồng nghiệp bảo vệ một khu rừng đặc dụng rộng cả nghìn ha; địa hình phức tạp, bị chia cắt bởi nhiều đồi núi, trải dài qua nhiều thôn, bản… "Đã làm rất quyết liệt, hết sức mình nhưng chỉ riêng lực lượng kiểm lâm thôi; khó mà dẹp nổi nạn phá rừng ở đây”… (Đại Đoàn Kết 30/10) đầu trang(
Lợi dụng việc tìm gỗ bị trôi dạt sau lũ lụt, thời gian gần đây, lâm tặc ở các xã vùng đệm Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), tăng cường khai thác và ngang nhiên vận chuyển gỗ qua các trạm kiểm soát lâm sản, nhưng không hề gặp sự ngăn chặn nào.
Theo ghi nhận của PV, tại trạm kiểm soát lâm sản Khe Sến, trên đường Hồ Chí Minh, thuộc xã Xuân Trạch, huyện Bố Trạch, mỗi ngày có hàng trăm chuyến xe máy và xe lôi chở gỗ lậu chui qua barie, đặc biệt nhộn nhịp vào ban đêm. Điều lạ là, trạm này vẫn có người gác 24/24 giờ, nhưng không hiểu sao họ không ngăn chặn.
Theo một người dân trong vùng tiết lộ, trong đợt lũ vừa rồi, gỗ từ rừng trôi ra rất nhiều, có gia đình vớt được cả một nếp nhà. Vì là gỗ trôi lụt, người dân nhặt được nên hình như cơ quan chức năng không quan tâm, chẳng thấy ai kiểm soát.
Lợi dụng sự nhập nhèm này, lâm tặc trong vùng tăng cường lên rừng khai thác ở khu vực Chà Nòi, chủ yếu là gỗ lim và sến, sau đó tập kết dưới chân đèo Đá Đẽo rồi chở về xuôi. Có người cẩn thận, lấy bùn non bôi vào gỗ cho giống gỗ trôi lụt, nhưng hầu hết vẫn để nguyên chở bằng xe máy, xe lôi qua trạm kiểm soát lâm sản.
Được biết, trạm kiểm soát lâm sản Khe Sến thuộc quản lí của lâm trường Bố Trạch. Trong đợt lâm tặc đốn hạ 3 cây gỗ sưa trong rừng Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi đây là điểm nóng giữa lâm tặc và các băng nhóm giang hồ. Kiểm lâm Quảng Bình đã tăng cường lực lượng kiểm lâm phối hợp chốt giữ ở đây được một thời gian rồi rút.
Mới đây lâm tặc tiếp tục lộng hành, báo chí ví von là “chợ gỗ lậu”. Kiểm lâm Quảng Bình tiếp tục tăng cường lực lượng để ổn định tình hình nhưng không biết đã rút hay chưa? PV liên lạc với lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Bố Trạch nhưng không thấy bắt máy. (Tiền Phong 30/10) đầu trang(
Những năm gần đây, trên địa bàn Đắk Lắk phong trào chăn nuôi động vật có nguồn gốc hoang dã như heo rừng, nai, nhím, chồn, cá sấu, rắn... đang phát triển khá mạnh và trở thành hướng đi mới cho ngành Chăn nuôi tỉnh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công bước đầu, mô hình này cũng đang gặp không ít khó khăn trở ngại, nhất là về thị trường tiêu thụ.
Giá trị kinh tế cao từ sản phẩm của động vật hoang dã được nuôi nhốt thì ai cũng nhìn thấy, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một hộ chăn nuôi nào bảo đảm được đầu ra ổn định cho sản phẩm của mình và bài toán từ con nhím là một minh chứng.
Năm từ 2007-2009 được xem là thời đại hoàng kim của nhím bởi giá nhím giống có lúc được đẩy lên 30 triệu đồng/cặp, nhím thịt từ 600-700 nghìn đồng/kg cũng không có sản phẩm để bán. Thế là nông dân đổ xô đi nuôi nhím; địa phương nào cũng thấy xuất hiện các mô hình nuôi nhím.
Đến năm 2010, giá nhím đột ngột rớt thê thảm, từ 30 triệu đồng xuống còn dưới 3 triệu đồng/cặp nhím giống, nhím thịt còn dưới 200 nghìn đồng/kg nhưng cũng không có đầu ra, rất nhiều nông dân đã đổ nợ vì con nhím. Đến thời điểm này, giá nhím đang ở giá trị thực của sản phẩm, mặc dù không cao nhưng cũng bảo đảm được nguồn thu khá cho nông dân, tuy đầu ra vẫn chưa thật sự ổn định.
Trước vấn đề này, bà Tống Thị Điệp, Chủ tịch Hội nông dân thành phố đánh giá: nông dân đang hướng vào chăn nuôi động vật hoang dã là hướng đi mới, có sự năng động trong việc đánh giá nhu cầu thị trường. Thế nhưng để hướng đi này được bền vững, nông dân cần tạo được mối liên kết để tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tiến tới xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Có như vậy, việc chăn nuôi của họ mới có điều kiện phát triển về cả quy mô lẫn chất lượng.
Trong khi chưa tạo được sự liên kết giữa các hộ chăn nuôi, thì nhiều nông dân đã năng động, tạo được chỗ đứng ổn định cho sản phẩm của mình trên thị trường, như hộ anh Hoàng Văn Tá, Buôn Ky, phường Thành Nhất, đã chọn heo rừng lai để nuôi, tuy nhu cầu thị trường nhiều nhưng đầu ra sản phẩm vẫn còn khá bấp bênh.
Trước thực tế trên, anh mạnh dạn xây dựng mô hình khép kín từ chăn nuôi đến chế biến, kinh doanh sản phẩm heo rừng. Bên cạnh các đầu mối là nhà hàng, quán ăn, nếu người mua trực tiếp đặt hàng và có nhu cầu chế biến thì đều được anh đáp ứng. Anh cũng xây dựng một quán thực phẩm chuyên về heo rừng vừa để tiêu thụ sản phẩm vừa giới thiệu cho nhiều người biết đến. Bởi vậy, trang trại của anh hiện có 150 con heo, trong đó có 20 heo nái, 1 heo đực thuần, còn lại heo con và heo thương phẩm nhưng cũng không đủ cung cấp cho thị trường.
Hay hộ chị Vi Thị Thanh Liêu cũng vậy, trước “sóng gió” của giá nhím bấp bênh làm nhiều hộ điêu đứng thì gia đình chị vẫn duy trì được đàn nhím bằng cách chỉ bán nhím trên một năm tuổi (thịt nhím lúc này mới dai và ngon), vừa bán nhím thịt vừa khuyến mại luôn việc chế biến và nấu sẵn.
Theo chị Liễu, nhiều người thích ăn nhím nhưng không biết cách làm và chế biến các món ăn, nắm được tâm lý này vợ chồng chị đã đi học nghề nấu nướng. Ai có nhu cầu, chỉ cần gọi điện thoại đặt hàng là vợ chồng chị bắt nhím, làm thịt chế biến sẵn và đem đến tận nhà. Nhờ vậy, việc làm ăn của gia đình chị ngày càng phát triển và được nhiều người biết đến.
Tuy nhiên, đây chỉ là một trong số ít nông dân thành công trong việc tìm kiếm và giữ vững thị trường tiêu thụ, vẫn còn nhiều nông dân chăn nuôi quy mô nhỏ lẻ cần sự liên kết, chung tay của 4 nhà để phát triển và xa hơn là để những nghề mới của ngành chăn nuôi Đắk Lắk có thêm điều kiện phát triển không bị chết yểu. (Báo Đắk Lắk 30/10) đầu trang(
Lực lượng Công an xã Krông Na (huyện Buôn Đôn) vừa phát hiện khu rừng do Công ty Cổ phần Thương mại Du lịch Bản Đôn quản lý bị khai thác một khối lượng gỗ lớn.
Tại tiểu khu 460, lực lượng chức năng phát hiện hơn 100 cây đã bị cưa đổ và lấy gỗ đi, ước chừng khoảng trên 20m3 gồm các loại gỗ bằng lăng và căm xe (nhóm 2), gỗ gáo (nhóm 6), đường kính của các cây gỗ bị khai thác nhỏ nhất là 15 cm, lớn nhất là 50 cm.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng còn phát hiện có dấu hiệu xe cơ giới vào khai thác; có khá nhiều gốc, cành ngọn những cây gỗ lâm tặc mới đốn hạ, một số cây vừa bị cưa đổ chưa kịp cắt khúc để để vận chuyển. Đặc biệt, khi kiểm tra khu rừng sát cổng ra vào của Khu Du lịch sinh thái Bản Đôn, lực lượng chức năng còn phát hiện thêm 5 cây gỗ căm xe có đường kính 30 cm trở lên bị đốn hạ lấy gỗ.
Trước đó, vào tháng 6/2013, lực lượng Công an xã Krông Na cũng phát hiện một khối lượng lớn gỗ bị khai thác trái phép tại khu rừng nói trên. Sau một thời gian ngắn, Công an huyện Buôn Đôn đã bắt được nhóm đối tượng khai thác gỗ trái phép do Phạm Văn Vượng, trú tại buôn Ea Mar, xã Krông Na và Nguyễn Thành Lam, trú tại buôn Ea Rông B, xã Krông Na cầm đầu.
Được lãnh đạo Công ty Cổ phần Thương mại Du lịch Bản Đôn gọi vào các khu rừng để cắt dọn củi và các cây già bị ngã đổ, Vượng đã kêu nhóm của Lam vào khai thác. Lợi dụng sự buông lỏng quản lý giám sát của công ty này, nhóm đối tượng trên đã ngang nhiên đưa phương tiện và người vào khai thác trái phép hơn 70m3 gỗ các loại.
Tại cơ quan công an, Vượng khai nhận bán gỗ cho Lam được 80 tiệu đồng, sau đó lấy 20,5 triệu đồng, còn lại nộp tiền cho Công ty Cổ phần Thương mại Du lịch Bản Đôn. Bước đầu Công an huyện Buôn Đôn làm rõ các đối tượng này đã khai thác và vận chuyển trót lọt và bán ra ngoài 37 m3 gỗ chiêu liêu và gáo vàng. (Báo Đắk Lắk 30/10) đầu trang(
Mừng vì mua được hàng tận gốc, chị mua 1 kg. Sau khi mang về nhà ngâm rượu, mấy tháng sau lấy ra uống thì rượu có vị chát đắng, cay sè, nóng rát. Kiểm chứng lại thì đây là củ ráy rừng!
Chị Đinh Thị Nguyệt, ở Pleiku (Gia Lai) nhờ người mua hộ gần 1kg sâm Ngọc Linh với giá 18 triệu đồng. Nhưng khi gửi biếu cho người thân ở Hà Nội, thì nhận được lời trách móc: “Không tặng thì thôi, chứ đừng tặng sâm giả!?”. Mối quan hệ của chị Nguyệt với người thân vì thế cũng rạn vỡ.
Năm 2012, chị Hoàng Thị Thanh Xuân ở phường An Phú, quận 2, TP.HCM có chuyến công tác lên Kon Tum. Tại một bản làng thuộc huyện Đăk Glei, chị gặp một người đàn ông người Xê Đăng, có một gùi nhỏ mà ông bảo là củ sâm Ngọc Linh.
Ông này cho biết, tại TP.Kon Tum loại sâm này có giá 40 triệu đồng/kg, nhưng do ông đi đào được nên chỉ bán 25 triệu đồng. Mừng vì mua được hàng tận gốc, chị mua 1 kg. Sau khi mang về nhà ngâm rượu, mấy tháng sau lấy ra uống thì rượu có vị chát đắng, cay sè, nóng rát. Kiểm chứng lại thì đây là củ ráy rừng!
Đem các câu chuyện trên kể với một người chuyên bán sâm Ngọc Linh ở Đăk Tô (xin giấu tên) được biết: Trên thị trường hiện nay 99,9% không phải sâm Ngọc Linh mà là tam thất Vũ Điệp! Đây là loại cây mọc rất nhiều ở các tỉnh phía Bắc và Vân Nam (Trung Quốc) và chỉ có giá khoảng 800.000 đồng/kg.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay tại Kon Tum có 2 cơ sở trồng sâm là Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum trồng khoảng 150ha và Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Đăk Tô trồng 8ha đều đang trong giai đoạn nhân giống, chưa đến kỳ thu hoạch.
Bà Trần Thị Tuyết - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Kon Tum cho biết: “Hiện nay sâm Ngọc Linh thật không có bán trên thị trường. Do chính quyền không giao trách nhiệm quản lý loại cây này nên Sở không có chức năng kiểm tra, kiểm định chất lượng những thứ được cho là sâm Ngọc Linh đang bày bán khắp nơi!?”. (Nông Thôn Ngày Nay 31/10) đầu trang(
Ngày 30.10, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm H.Đăk Glei (Kon Tum) Nguyễn Văn Hải cho biết đơn vị đang hoàn tất hồ sơ để chuyển cơ quan CSĐT khởi tố vụ phá rừng thông tại tiểu khu 96, thuộc xã Đăk Pét (H.Đăk Glei).
Lợi dụng cơn bão số 11 vừa qua, nhiều người đã cưa hạ rừng thông được trồng từ năm 1978 đến 1980 tại tiểu khu nói trên (do Lâm trường Po Kô quản lý) với khối lượng trên 21 m3. (Thanh Niên 31/10) đầu trang(
Tỉnh Hà Giang được đánh giá là vùng cung cấp nguyên liệu dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu của các nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản với sản lượng hàng trăm nghìn m3 mỗi năm. Tuy nhiên, do chưa làm tốt công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch nên đã xảy ra tình trạng tranh mua, tranh bán, chồng lấn vùng nguyên liệu.
Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 3 cơ sở chế biến giấy và bột giấy, vàng mã, giấy vệ sinh; 17 cơ sở chế biến gỗ, lâm sản; 234 cơ sở sản xuất, buôn bán giường tủ, bàn ghế, đồ gia dụng... với sức tiêu thụ hàngtrăm nghìn m3 gỗ nguyên liệu, hàng triệu cây tre, nứa mỗi năm.
Nhu cầu nguyên liệu rất lớn, nhưng hiện chỉ có 3 doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam đóng trên địa bàn là Công ty Lâm nghiệp Cầu Ham, Ngòi Sảo, Vĩnh Hảo xây dựng được vùng nguyên liệu với diện tích trên 8,8 nghìn ha. Các nhà máy, cơ sở chế biến lâm sản còn lại, chưa tạo được vùng nguyên liệu ổn định, nên đã dẫn đến tình trạng tranh mua sản phẩm, gây mất ổn định thị trường.
Còn nhớ, những năm đầu của thế kỷ XXI, khi Nhà máy giấy Hải Hà được xây dựng tại Cụm công nghiệp Nam Quang (Bắc Quang) với diện tích 33 nghìn m2, công suất giai đoạn I là 12 nghìn tấn/năm. Đi cùng với quá trình đầu tư, xây dựng nhà máy, vùng nguyên liệu rộng lớn với quy mô trên 30 nghìn ha cũng được xác lập tại 3 huyện Bắc Quang, Quang Bình và Vị Xuyên.
Theo dự tính ban đầu, nhà máy làm ra bột giấy, nhưng khi đi vào hoạt động lại chủ yếu sản xuất giấy đế xuất khẩu ra nước ngoài. Còn vùng nguyên liệu theo quy hoạch, chưa được lãnh đạo nhà máy chú trọng thực hiện, nên ngay thời gian đầu đi vào hoạt động đã xảy ra tranh chấp. Có thời điểm nhà máy không thu mua được nguyên liệu, do các cơ sở khác cũng nhảy vào thị trường, đẩy giá sản phẩm đầu vào tăng cao. Vùng nguyên liệu của nhà máy không được củng cố, nó còn bị teo tóp do có thêm các quy hoạch khác xâm lấn.
Phát triển kinh tế lâm nghiệp được xác định là một trong những thế mạnh của tỉnh, nhưng để nó thực sự phát triển, đòi hỏi phải có quy hoạch và quản lý tốt quy hoạch. Từ đó, các nhà máy, cơ sở chế biến mới yên tâm đầu tư, tiến hành liên doanh, liên kết nhằm xây dựng ổn định vùng nguyên liệu, vừa phục vụ tốt quá trình hoạt động, vừa nâng cao thu nhập cho người dân từ nghề rừng.
Giải quyết tình trạng khan hiếm, tranh giành trong thu mua nguyên liệu, ngành Nông nghiệp đã xây dựng quy hoạch phát triển lâm nghiệp đến năm 2020. Vùng quy hoạch nguyên liệu tập trung ở các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên và các xã phía Nam huyện Xín Mần.
Mục tiêu đặt ra, xây dựng và phát triển lâm nghiệp hàng hoá, đa dạng với nhiều thành phần kinh tế, đáp ứng lâu dài, ổn định nhu cầu gỗ, các loại lâm sản khác cho phát triển kinh tế. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý, cây đa mục đích và phòng hộ, áp dụng các giải pháp lâm sinh hữu hiệu, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị rừng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh.
Quy hoạch cũng nhấn mạnh đến nhu cầu tái cơ cấu lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị rừng kinh tế, phát triển sản xuất lâm nghiệp thành một ngành quan trọng, đem lại thu nhập cho người trồng rừng; nâng dần tỷ trọng giá trị dịch vụ môi trường rừng; nâng cao năng lực cạnh tranh các sản phẩm lâm sản. Phấn đấu đến năm 2020, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt trên 1.500 tỷ đồng/năm, chiếm 40% cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp.
Theo đó, vùng cung cấp nguyên liệu gỗ lớn được xác định với diện tích 872 ha, tập trung ở các huyện Bắc Quang, Bắc Mê và Vị Xuyên; vùng cung cấp gỗ xây dựng và gia dụng, diện tích trên 1.042 ha tại các huyện Bắc Quang, Bắc Mê, Vị Xuyên; vùng cung cấp nguyên liệu chế biến giấy, diện tích trên 65.672 ha tại các huyện Bắc Quang, Quang Bình và Bắc Mê; vùng cung cấp nguyên liệu chế biến ván thanh, gỗ bóc và nguyên liệu cho nhà máy MDF, diện tích trên 182.089 ha, thuộc các huyện Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì, Bắc Mê.
Theo dự báo, nhu cầu nguyên liệu chế biến lâm sản trong nước và thế giới rất lớn, tỉnh ta lại nằm trong vùng cung cấp nguyên liệu có tính liên kết cao với các nhà máy giấy An Hòa (Tuyên Quang), Bãi Bằng (Phú Thọ)... nên thời gian trước mắt, cần tập trung đầu tư, xây dựng vùng nguyên liệu, đảm bảo cung cấp ổn định mỗi năm khoảng 120 nghìn tấn nguyên liệu sợi dài, 80 nghìn tấn sợi ngắn cho các nhà máy bột giấy, bột giấy tẩy trắng.
Bên cạnh đó, cần đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị các xưởng chế biến nhằm phát huy tối đa công suất, sản xuất ra các sản phẩm như gỗ xây dựng cơ bản, đồ mộc dân dụng, gỗ bao bì, ván sàn và các sản phẩm nội thất từ ván nhân tạo đạt chất lượng, được thị trường chấp nhận.
Ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở NN-PTNT cho biết: Trên cơ sở quy hoạch, các tổ chức doanh nghiệp, cá nhân, các địa phương phải thực hiện nghiêm, ổn định đến năm 2020. Đồng thời tiến hành trồng rừng kinh tế trên diện tích đất chưa có rừng, trồng lại rừng sau khai thác với các loài cây đa tác dụng, cây nguyên liệu, cây công nghiệp trên diện tích được quy hoạch.
Ứng dụng khoa học công nghệ, trồng rừng thâm canh, tạo thành rừng trồng có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng chế biến và xuất khẩu, từ đó nâng cao thu nhập cho người dân; từng bước thực hiện các giải pháp lâm sinh nâng cao chất lượng rừng sản xuất, tạo thành rừng nguyên liệu gỗ lớn, hình thành các vùng nguyên liệu tập trung theo hướng thâm canh năng suất cao.
Như vậy, tỉnh Hà Giang hoàn toàn chủ động nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định, phục vụ tốt nhu cầu phát triển ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ lâm sản. (Báo Hà Giang 30/10) đầu trang(
Ngày 30/10, lãnh đạo Công an huyện Kbang (Gia Lai) cho biết, đang điều tra, làm rõ vụ khai thác gỗ hương trái phép do Kiểm lâm Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh phát hiện tại khoảnh 1, tiểu khu 109, thuộc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh.
Theo hồ sơ, trong lúc lâm tặc đang cưa hạ một cây gỗ hương có đường kính gần 2m thì lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh đã phát hiện, truy đuổi và bắt giữ được một đối tượng liên quan là Trình Văn Bông (còn tên khác là Bảy) ở xã Đông, Kbang, Gia Lai.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng phát hiện 1 cây gỗ hương cổ thụ bị cưa hạ khoảng 51m3 và một cây gỗ hương khác có đường kính gần 2m đang cưa giữa chừng nhưng chưa ngã đổ.
Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh là Di sản Thiên nhiên ASEAN, nơi còn tồn tại nhiều cây gỗ hương cổ thụ nên lâm tặc luôn rình rập, gây nhiều khó khăn cho lực lượng bảo vệ rừng ở đây. (Công An Nhân Dân 31/10; Báo Gia Lai 30/10) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hôm 30 -10, trình bày trước Quốc hội về kết quả rà soát quy hoạch xây dựng thủy điện, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết, tính đến tháng 9 năm nay đã loại bỏ 424 dự án thủy điện trong đó có 6 dự án thủy điện bậc thang và 418 dự án thủy điện nhỏ; tạm dừng 136 dự án khác có thời hạn và tiếp tục xem xét rà soát với 158 dự án.
Vấn đề là, một dự án nào liên quan đến thủy điện và hồ chứa nước, khi đánh giá về tác động môi trường, tác động về kinh tế xã hội đều có những luận giải để lựa chọn làm sao cái được lớn hơn cái mất. Quan trọng nhất không phải là tốn bao nhiêu tiền, mà làm sao tạo ra cuộc sống hoàn toàn mới cho ngừoi dân khi họ mất đất mất rừng.
Về điểm này, Đai biểu Trần Du Lịch cho rằng: Chúng ta đã quan tâm nhưng làm chưa đến nơi đến chốn, đặc biệt dường như chúng ta nặng về phương án kiếm tiền chứ không nặng về phương án tạo việc làm thay đổi cuộc sống cho người dân.
Trở lại vấn đề của quy hoạch thủy điện, nhiều Đại biểu Quốc hội và cử tri chắc sẽ mừng với quyết định của Chính phủ nhưng không khỏi thắc mắc: Vậy thì chất lượng quy hoạch thấp đến mức nào, những phí tổn đầu tư khảo sát để xây thủy điện ai sẽ chịu nếu không phải là doanh nghiệp.
Liên quan đến vấn đề quy hoạch thủy điện, khi phải điều chỉnh lại sự lạm dụng thái quá về thủy điện, Chính phủ đã mạnh dạn. Nhưng, cho phép doanh nghiệp lập dự án (mà họ lại làm đúng quy hoạch), khi họ tốn rất nhiều hàng chục thậm chí hàng trăm tỷ rồi lại bị gạt đi. Trường hợp này, chúng ta không thể đẩy toàn bộ rủi ro cho doanh nghiệp. Đó là vấn đề nhà nước phải tính. (Đại Đoàn Kết 31/10) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Mới đây, tiền vệ của Manchester City – Yaya Toure đã được bổ nhiệm làm đại sứ thiện chí cho chiến dịch của LHQ nhằm chống lại nạn săn trộm voi ở châu Phi.
Trong chiến dịch này, cầu thủ đến từ Bờ Biển Ngà đã tham gia chương trình vì Môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP), anh đứng lên kêu gọi mọi người hãy dừng ngay việc giết hại voi.
Tại cuộc họp báo diễn ra ở Nairobi, Yaya Toure cho rằng: “Săn bắn là một trong những mối đe dọa ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, sự ổn định chính trị, kinh tế, di sản văn hóa và việc quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại một số quốc gia. Nếu chúng ta không hành động ngay, chúng ta có thể nhìn thấy loài vật mang tính biểu tượng này sẽ bị xóa sổ trong tương lai bởi nạn săn bắn của con người”.
Sau khi được bổ nhiệm làm đại sứ, cầu thủ của Bờ Biển Ngà đã dành thời gian đến thăm khu bảo tồn quốc gia núi Peko, đây là một trong những công viên quốc gia lớn nhất Cote d’Ivoire.
Theo Liên hợp quốc chỉ tính riêng trong năm 2011, hơn 17.000 con voi đã bị giết hại trong các khu bảo vệ. Tại Cote d'Ivoire, số lượng voi đã giảm đáng kể, chỉ còn lại 800 con trên cả nước.
Chủ tịch của Chương trình Bảo vệ môi trường LHQ (UNEP), Achim Steiner, cho biết, ông hoan nghênh sự tham gia của Toure trong chiến dịch bảo vệ loài voi. “Hy vọng rằng Yaya sẽ góp một tiếng nói mạnh mẽ, truyền cảm hứng để ngăn chặn hành động và nỗ lực để giải quyết những thách thức về môi trường”. (Thể Thao VN 31/10) đầu trang(
Một loài cá heo lưng gù chưa từng được khoa học biết đến được phát hiện trong vùng nước phía Bắc Australia, theo một nhóm các nhà khoa học đang làm việc cho tổ chức bảo tồn Wildlife Conservation Society, bảo tàng Lịch sử tự nhiên của Mỹ (American Museum of Natural History) và nhiều nhóm các cơ quan khác tham gia vào nghiên cứu cho hay.
Để xác định số lượng cá heo đã tuyệt chủng thuộc họ cá heo lưng gù (loài cá được đặt tên là cá heo lưng gù do nó có một bướu rất đặc trưng nằm ngay dưới vây lưng), nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu lịch sử tiến hóa của họ sinh vật có vú sống ở đại dương này, sử dụng cả các đặc điểm hình thái và dữ liệu về di truyền.
Trong khi cá heo biển Đại Tây Dương là một loài đã được nhận dạng, nghiên cứu này là bằng chứng tuyệt vời nhất để xác định thời điểm đã chia tách cá heo lưng gù Ấn Độ - Thái Bình Dương thành 3 loài, một trong số đó là hoàn toàn mới đối với khoa học.
“Dựa trên các kết quả nghiên cứu và các phân tích di truyền kết hợp với phân tích hình thái học, chúng tôi có thể cho rằng cá heo lưng gù gồm ít nhất 4 loài”. Tiến sĩ Martin Mendez, trợ lý giám đốc thuộc WCS's Latin America và Caribbean Program và là tác giả đứng đầu nghiên cứu cho biết.
“Khám phá này giúp làm rõ những hiểu biết về lịch sử tiến hóa của nhóm sinh vật này và thông báo cho những người làm chính sách bảo tồn nhằm hỗ trợ bảo vệ an toàn mỗi loài sinh vật này”.
Cá heo lưng gù trưởng thành dài khoảng 8 feets và có mầu từ xám đen tới hồng hoặc trắng. Loài này thường sống ở vùng nước ven bờ biển, các vùng châu thổ, các cửa sông và xuất hiện từ vùng biển Ấn Độ và Thái Bình Dương cho tới vùng biển Australia. Các heo lưng gù Đại Tây Dương được cho là loài “Sắp nguy cấp (Vulnerable)” theo sách đỏ của Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN, nhưng trái lại cá heo Ấn Độ - Thái Bình Dương Sousa chinensis được liệt là loài “Sắp bị đe dọa - Near Threatened”. (Khoa Học 31/10) đầu trang(
Theo một nghiên cứu mới đây của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế Interpol cho thấy, có một thị trường rộng lớn chuyên buôn bán gỗ trái phép.
Có tới 30% lượng gỗ được bán trên thị trường toàn cầu không có giấy phép hoặc sử dụng giấy phép giả, mất giấy phép hoặc hối lộ. Ở những vùng khai thác gỗ rừng nhiệt đới tại châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, con số này lên tới 90%.
Tổng thu nhập từ bán gỗ lậu có thể lên tới hàng trăm tỉ USD một năm với số lợi nhuận cao mà chỉ có buôn ma túy mới kiếm được. Điển hình như ở Liberia, những nhà xuất khẩu gỗ chỉ phải chi trả từ 2-3 USD cho 1m3 gỗ, đối với giấy phép thiếu minh bạch, có khi chỉ phải trả có 50 cents. Sau đó họ sẽ bán số gỗ này với giá 200 USD/m3.
Ngay cả khi những người khai thác gỗ hứa hẹn xây trường học hoặc đường sá gần khu khai thác gỗ thì những công ty này vẫn thu được lợi nhuận rất lớn vì xét cho cùng, xây dựng đường sá để phục vụ cho chính việc vận chuyển gỗ. Theo tổ chức Interpol, số gỗ lậu trên có thể bán với giá cao gấp 10 lần nếu như gỗ được khai thác một cách hợp pháp mà không phải bán chui.
Cả những người khai thác gỗ và khách hàng đều rất lo lắng sẽ bị bắt. Vì thế, họ đã kết hợp giữa khai thác gỗ hợp pháp và bất hợp pháp khiến cho các nhà chức trách khó có thể điều tra cụ thể.
Mới đây, Interpol đã thành công trong việc đấu tranh chống lại tổ chức mafia lớn chuyên buôn bán gỗ lậu. Sau nhiều tháng điều tra, cảnh sát tại 12 quốc gia thuộc khu vực Mỹ Latinh đã tịch thu 5.000m3 gỗ và bắt giữ 200 kẻ bị tình nghi. Mặc dù vậy, so sánh với lợi nhuận thu được từ việc khai thác gỗ bất hợp pháp mang lại, số lượng này chỉ là một phần rất nhỏ đối với những tên khai thác gỗ lậu.
Tại Liberia, những nhà nhập khẩu gỗ phải có giấy phép hoạt động do chính phủ cấp. Họ đã lợi dụng lỗ hổng của luật pháp cho phép các chủ sở hữu rừng cam kết cung cấp một lượng gỗ nhỏ theo những quy định ít hà khắc về môi trường. Tổ chức Global Witness ước tính, do được các nhà chức trách lâm nghiệp bảo kê, những công ty kinh doanh này có thể yên tâm có quyền đốn 40% lượng gỗ tại rừng mưa nhiệt đới ở Liberia, chiếm 1/4 lãnh thổ đất nước.
Cho đến hiện tại, nhiều công ty ở châu Âu vẫn có thể nhập số lượng lớn gỗ trái phép mà không sợ bị truy tố. Những quy định mới của EU đứng trên lập trường chặt chẽ hơn, tuy nhiên từng nước thành viên lại có những luật lệ riêng, qua đó tạo kẽ hở cho những kẻ nhập lậu. Các nhà phê bình cho rằng, bộ luật của Đức còn nhiều thiếu sót nhất.
Trước tình trạng đó, mới đây, Đức đã đi đầu trong các cuộc chiến về môi trường này. Một đạo luật đã được đề xuất, sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự những người nhập khẩu, hoặc thậm chí có tham gia vào hoạt động nhập khẩu gỗ trái phép.
Hiện tại, chỉ những người được hưởng lợi nhuận cao từ hoạt động nhập khẩu gỗ bất hợp pháp hoặc những tên tội phạm mới lo lắng bị truy cứu trách nhiệm hình sự và có khả năng lĩnh 1 năm tù giam. Những trường hợp buôn gỗ trái phép khác bị coi là tội phạm và có thể bị phạt tiền.
Với những quy định mới về nhập khẩu gỗ, Liên minh châu Âu đang tìm kiếm giải pháp tranh đua với những chính sách không khoan nhượng của Mỹ. Từ năm 2008, chính sách của Mỹ yêu cầu cung cấp tài liệu đầy đủ về nguồn cung gỗ nhập khẩu. Tuy nhiên, dù mang tính quyết định hơn so với những quy định của EU song không phải trường hợp nào cũng hoàn thiện.
Buôn bán gỗ rừng nhiệt đới sinh lợi rất cao do nhu cầu của người châu Âu dùng gỗ để làm bàn ăn và sàn gỗ cứng hay được làm nội thất cao cấp. Nếu như nghề buôn bán gỗ được cấp phép, buôn bán một cách hợp pháp thì điều gì sẽ xảy ra?
Đầu năm 2012, các nhà chức trách quản lý rừng ở Liberia đã đình chỉ việc cấp phép khai thác gỗ theo quy mô lớn. Nhiều người cho rằng, những công ty gỗ quốc tế đã làm giấy phép giả để khai thác gỗ bừa bãi. Hàng hóa trên con tàu chở gỗ lậu nổi tiếng Safmarine Akwaba cũng sử dụng giấy phép giả.
Nhiều công ty quốc tế đã phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực kinh doanh màu xám này. Ở Đức hay châu Âu không hề có luật quy định cấm nhập khẩu gỗ trái phép. Và nếu như có luật cấm nhập khẩu, các công ty này chỉ cần khẳng định rằng, họ tin tưởng nhà cung cấp gỗ và không có bất cứ điều gì giấu giếm.
Tuy nhiên, đưa ra hình phạt tài chính, dù rất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng xấu đến hình ảnh của công ty mua gỗ lậu. Điển hình như ở Mỹ, Hãng sản xuất guitar Gibson đã nhập khẩu gỗ rừng nhiệt đới một cách bất hợp pháp để làm đàn và đã phải nộp phạt 30.000 USD. Nhưng điều tồi tệ hơn so với khoản tiền phạt là sự hổ thẹn của công ty này khi mà có rất nhiều ngôi sao đã sử dụng sản phẩm của công ty này sản xuất như Woody Guthrie, Bob Dylan U2… (Công An Nhân Dân 30/10) đầu trang(
Theo hãng tư vấn kiểm soát rủi ro Maplecroft, đến năm 2025, khoảng 1/3 GDP thế giới sẽ phải dựa vào các quốc gia có nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn hoặc cực lớn từ biến đổi khí hậu.
31% sản lượng kinh tế thế giới (ở mức 41.000 tỷ USD) sẽ được tạo ra ở các quốc gia được xếp hạng là phải chịu rủi ro lớn nhất từ biến đổi khí hậu. Mức độ rủi ro được xác định theo chỉ số Climate Change Vulnerability Index của Maplecroft. Đây là chỉ số đo lường mức độ ảnh hưởng của thiên tai đối với nền kinh tế cũng như khả năng đương đầu với ảnh hưởng của các quốc gia trong 30 năm tới.
“Các sự kiện như cháy rừng, hạn hán và lũ lụt sẽ ảnh hưởng lớn đến dân số, nền kinh tế và cơ sở hạ tầng của các quốc gia. Nhiệt độ tăng lên, lượng mưa thay đổi và mực nước biển dâng lên là những hiện tượng có thể cảm nhận được trên khắp thế giới, ảnh hưởng đến các đường bờ biển, thực vật và động vật, nông nghiệp và sức khỏe của con người”, Maplecroft nhận định.
Theo đó, các nền kinh tế mới nổi sẽ là bộ phận phải chịu nhiều rủi ro nhất. Maplecroft nhận định Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia và Trung Quốc sẽ cảm nhận được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nền kinh tế. Bên cạnh đó, một số thành phố ở các nền kinh tế phát triển cũng được đánh giá là dễ bị tổn thương, như Osaka của Nhật Bản và Sydney của Australia.
Báo cáo cũng cảnh báo nguồn nước, năng lượng và thực phẩm đang đước trước áp lực và sẽ ảnh hưởng đến con người cũng như hệ sinh thái. Do đó, các doanh nghiệp và chính phủ sẽ phải tìm kiếm giải pháp sử dụng nguồn nước và nguồn năng lượng một cách bền vững hơn. (Theo Trí Thức Trẻ/CNBC) đầu trang(
Nhóm các nhà khoa học do Tiến sĩ Conrad Hoskin (ĐH James Cook) và Tiến sĩ Tim Laman (ĐH Harvard) dẫn đầu đã “trúng độc đắc” khi phát hiện “thế giới đã mất” của một số sinh vật chưa từng được biết tới
Sự thể được khám phá trong khu rừng mưa ở vùng hẻo lánh thuộc bang Queensland, Australia.
Họ đã phát hiện một con tắc kè có cái đuôi hình chiếc lá trông rất kỳ quái, một con thằn lằn bóng chân ngắn ánh vàng và một con ếch có da lấm tấm đốm vàng sống trên đá. Ba loài bò sát này đã được phân lập từ những họ hàng gần nhất của chúng trong hàng triệu năm. (Phụ Nữ TPHCM 32/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa