|
Ngày 01 tháng 11 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
“Tăng lực lượng kiểm lâm là rất cần thiết, nhưng không phải là con đường duy nhất để giữ rừng. Điều cốt yếu vẫn là nhận thức của người dân, phải kéo được người dân tham gia bảo vệ rừng. Mà muốn như thế thì dân phải đủ ăn”, ông Lê Tiến Thắng, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tuyên Quang chia sẻ với Nông Nghiệp Việt Nam.
Ông Thắng cho hay: Tuyên Quang là tỉnh miền núi có 445.848 ha đất lâm nghiệp, chiếm 76% diện tích tự nhiên. Từ lâu chúng tôi đã xác định, với một tỉnh miền núi thì tài sản vô giá nhất chính là rừng. Thời điểm độ che phủ rừng của Tuyên Quang xuống thấp là do quá trình khai thác gỗ phục vụ quân sự, kinh tế trong chiến tranh.
Có thời điểm, bình quân mỗi năm Tuyên Quang khai thác rừng tự nhiên từ 50.000 m3 đến 80.000 m3 gỗ tròn chuyển về xuôi. Nhiều lâm trường không chỉ có xe ô tô 3 cầu chuyên chở gỗ, còn có cả voi kéo gỗ như lâm trường Chiêm Hóa, Tuyên Bình... Theo số liệu thống kê, năm 1991, độ che phủ của rừng trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn 26,7%; rừng còn lại là rừng nghèo kiệt, cảnh quan môi trường suy giảm, thiên tai liên tục xảy ra, ảnh hưởng đời sống nhân dân trong tỉnh.
Kể từ khi có Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (năm 1991) và Chỉ thị 90/CP năm 1992 của Thủ tướng Chính phủ về “Những biện pháp cấp bách ngăn chặn nạn phá rừng”, Quyết định số 327/CT ngày 15-9-1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Tuyên Quang đã đóng cửa rừng tự nhiên, quản lý chặt chẽ việc khai thác rừng trồng và vườn rừng hộ gia đình.
Bằng các giải pháp trồng rừng, nâng độ che phủ của rừng, tỉnh ta đã cải thiện đáng kể về môi trường sinh thái, nguồn sinh thủy. Chính là nhờ có nguồn sinh thủy, các công trình thủy lợi, ao, hồ, suối đáp ứng đủ nguồn nước cho làm đất và gieo cấy.
Đối với rừng tự nhiên, việc bảo vệ được triển khai nghiêm ngặt. Chủ trương của tỉnh là cương quyết xử lý những người lơ là tinh thần trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng. Giữ rừng không phải để giải quyết những mục tiêu ngay trước mắt. Càng về sau thì rừng càng có giá trị.
Ông Thắng thừa nhận: Đúng là lực lượng kiểm lâm hiện nay còn quá mỏng và thiếu chế tài, chính sách. Chính phủ quy định, cứ 500 ha rừng đặc dụng thì biên chế một kiểm lâm, nhưng có mấy nơi đáp ứng được điều đó? Riêng Tuyên Quang, diện tích rừng đặc dụng mà kiểm lâm phải bảo vệ ở nhiều nơi còn gấp hai, gấp ba lần con số qui định. Thành thử, nếu chỉ riêng lực lượng kiểm lâm bảo vệ rừng thì gần như là điều không thể.
Giữ rừng là trách nhiệm của toàn dân. Có một thực tế, những nơi nào càng có nhiều rừng, đặc biệt là rừng giàu, rừng tự nhiên thì việc giữ rừng càng khó khăn, vất vả. Nó giống như một cánh đồng lúa chín hay một kho báu mà xung quanh trơ trụi hết rồi thì tất cả đều tập trung vào đấy. Các đối tượng trục lợi từ rừng chỉ nhăm nhăm khai thác. Chính vì vậy, điều quan trọng nhất vẫn là công tác tuyên truyền để khuyến khích, hỗ trợ người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng.
Theo ông Thắng: Xưa nay, đối với người dân miền núi, đặc biệt là những nơi có diện tích rừng tự nhiên thì phần lớn người dân vẫn phải sống dựa vào rừng. Để giải quyết vấn đề này thì không có con đường nào khác ngoài việc tìm cách nâng cao đời sống cho người dân. Kinh nghiệm thành công ban đầu trong công tác quản lý bảo vệ rừng ở Tuyên Quang là “đóng cửa rừng thì mở cửa ruộng”.
Mở ruộng ở đây không hẳn là tăng diện tích đất mà cần phải thực hiện các cuộc cách mạng trong sản xuất nông nghiệp. Đi đôi với việc quản lý chặt rừng tự nhiên, quản lý chặt chẽ diện tích đất lâm nghiệp thì phải đưa khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào nhằm tăng năng suất, sản lượng. Tức là bằng mọi cách phải làm thế nào để người dân không phá rừng vẫn đủ ăn. Bình quân mỗi hộ dân Tuyên Quang có từ 1-3 ha đất lâm nghiệp, quản lý 3-5 ha.
Yêu cầu bức thiết là cần tìm ra các loại cây giống chu kỳ ngắn hơn, năng suất cao hơn trên một diện tích. Ngoài những chính sách của Trung ương, tỉnh Tuyên Quang cũng ban hành nhiều chính sách riêng hỗ trợ cho người dân. Tập trung phát triển một số cây hàng hóa như cây keo, cây cam, cây mía, cây chè…và đẩy mạnh phát triển chăn nuôi.
Nhưng thực tế là hiện nay nhiều người dân ở gần rừng vẫn chưa thực sự sống được hoàn toàn bằng nghề rừng. Chu kỳ một ha trồng keo kéo dài từ 6-7 năm. Thu hoạch bình quân 80 khối gỗ nguyên liệu. Nếu trừ đi chi phí cũng chỉ lãi ra có 25-30 triệu đồng. Quá thấp. Đa số người dân đều rất tốt, rất quyết tâm tham gia công tác bảo vệ rừng, chỉ có điều nếu đời sống của họ thấp thì rất khó để vận động họ tham gia giữ rừng.
Cũng theo ông Thắng: Cần phải tiếp tục nghiên cứu thêm chính sách. Đối với việc trồng rừng và giữ rừng, về lâu dài nhà nước cần có chính sách hỗ trợ thêm cho người dân. Ngành lâm nghiệp đã tính toán, trồng rừng chỉ chiếm 30-40% lợi ích về kinh tế, còn lại là lợi ích về môi trường.
Hiện nay hầu như mới chỉ có chính sách hỗ trợ dịch vụ chi trả môi trường rừng nhưng cũng chỉ thực hiện được ở những nơi xây dựng các công trình thủy điện mà thôi. Cần phải có một quỹ bảo vệ rừng. Người miền núi bảo vệ rừng thì người miền xuôi được hưởng lợi. Giảm thiên tai, giảm ô nhiễm môi trường. Nói cách khác cần phải có sự chung tay của toàn xã hội.
Một chu kỳ trồng rừng khá dài, vốn đầu tư lớn nên Chính phủ cần có chính sách cho vay không lãi đối với người dân tham gia trồng rừng. Đặc biệt, với chính sách trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đặc dụng, Nhà nước phải thay đổi, nâng mức hỗ trợ lên. Nhận thức về vấn đề bảo vệ rừng hiện nay của người dân đã được nâng lên rõ rệt, nhưng không ai có thể bảo vệ không mãi được. Phải đủ gạo ăn cho người quản lý, bảo vệ, phải có chính sách, sức đầu tư cho trồng rừng.
Còn như hiện tại, không khuyến khích được người dân. Mức đầu tư quá thấp, chưa qui định được chế độ hưởng lợi,chế độ hưởng lợi với trồng rừng phòng hộ đặc dụng. Mỗi một ha hiện nay người dân tham gia trồng chỉ được có 30 triệu đồng. Sau 3 năm, khi rừng khép tán bàn giao cho nhà nước hết.
Trồng lấy công nhưng công còn thấp nên người dân không mặn mà. Chế độ hỗ trợ cho công tác bảo vệ cũng vậy. Ở những xã đặc biệt khó khăn cũng chỉ có 200 ngàn/ha, còn bình thường 100 ngàn đồng/ha thì thấp quá. Dân chưa yên tâm.
Được biết, ngoài những chính sách Nhà nước ban hành, tỉnh Tuyên Quang cũng đã xây dựng nhiều chính sách riêng biệt nhằm hỗ trợ người dân tham gia công tác trồng, bảo vệ rừng. Ông Thắng cho biết cụ thể: Từ những năm 2007, tỉnh Tuyên Quang đã chi ngân sách để thành lập những đội tuần rừng, thành lập các chốt nằm sâu ở trong rừng, trực tiếp bảo vệ rừng tận gốc. Đa phần lực lượng trong đội tuần rừng đều là người dân bản địa. Họ gắn bó, am hiểu rừng hơn ai hết. Hoạt động này đối với rừng tự nhiên rất hiệu quả.
Hay chỉ mới đây thôi, để nâng cao trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, ngành nông nghiệp tham mưu tỉnh ban hành quy định bảo vệ rừng đến tận thôn bản. Quy chế này quy định rõ trách nhiệm của chính quyền và người dân, đề cao vai trò của người đứng đầu. Thôn phát hiện vấn đề gì thì phải báo cáo với xã, xã phải báo cáo huyện, huyện báo cáo tỉnh. Khâu nào lơ là thì xử lý khâu đó.
Hằng tháng, hằng quý có sự phân cấp, đánh giá trách nhiệm. Không thể có chuyện ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong khi rừng bị xâm phạm được. Quy chế cũng xây dựng các bản cam kết, các quy trình để người dân tham gia bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 1/11) đầu trang(
Nhờ làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn nên trong 10 năm qua, diện tích rừng trên địa bàn khu phố Khe Lấp, phường 3, Đông Hà, Quảng Trị được bảo vệ tốt.
Trên địa bàn khu phố Khe Lấp có khoảng 1.227 ha rừng và đất rừng, trong đó có 37 ha rừng tự nhiên còn lại là rừng trồng. Diện tích rừng lớn trên địa bàn khu phố chủ yếu là của Công ty TNHHMTV lâm nghiệp Đường 9 và chủ rừng Hợp tác xã Đông Hiếu. Diện tích rừng còn lại chủ yếu là của người dân khai hoang lập nghiệp từ những năm của thập niên 80.
Trong 10 năm qua, từ khi có chủ trương của nhà nước về giao đất, giao rừng, khoán đất, khoán rừng trên địa bàn khu phố Khe Lấp, hầu hết diện tích đất trống, rừng quy hoạch cho lâm nghiệp đã có chủ thực sự nên người dân mạnh dạn đầu tư, kinh doanh, thâm canh trồng rừng. Bình quân 1 ha rừng trồng keo lai chu kỳ khoảng 7 năm khai thác có giá tại thời điểm hiện tại từ 40-60 triệu đồng, đây là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình, ngoài ra, đã giải quyết công ăn việc làm như tham gia trồng rừng; chăm sóc rừng, khai thác rừng... cho người dân được giao đất để trồng rừng trên địa bàn khu phố.
Hàng năm cứ vào đầu mùa khô, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, kiểm lâm địa bàn chủ động làm việc với khu phố để thành lập, củng cố tổ, đội bảo vệ rừng, PCCCR, lực lượng này thường huy động thường xuyên từ 10 đến 15 người tham gia và được UBND phường hợp đồng 1 suất khoán BVR 6 tháng mùa khô.
Ngoài ra, trên địa bàn khu phố có lực lượng BVR chuyên trách của Công ty TNHHMTV lâm nghiệp Đường 9 từ 8-10 người và lực lượng công nhân hợp đồng theo thời vụ của công ty từ 20-25 người, đây là lực lượng khi cần sẽ được huy động để tham gia chữa cháy rừng khi có cháy rừng lớn xảy ra trên địa bàn.
Trong 10 năm qua trên địa bàn không xảy ra vụ cháy rừng lớn. Người dân trong khu phố tham gia tích cực khi có cháy rừng xảy ra tại chỗ cũng như tham gia chữa cháy trên địa bàn khác khi có lệnh điều động của UBND phường. Hiện ở khu phố có 3 bảng quy ước bảo vệ rừng, 1 chòi canh, 1 hồ dự trữ nước và hệ thống đường giao thông nội phường, hệ thống đường lâm nghiệp, đường lô thuận lợi cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng cũng như vận xuất, vận chuyển khi khai thác, trồng rừng.
Hiện trên địa bàn hầu hết đất rừng đã có chủ; các diện tích đất được giao hay UBND phường đang quản lý có ranh giới rõ ràng; các chủ rừng thực hiện đúng mục đích sử dụng đất, quyền hạn và trách nhiệm của mình, không lấn chiếm đất rừng lẫn nhau. Công tác tuyên truyền được khu phố chú trọng với nhiều hình thức phong phú...
Tổ chức họp dân khu phố, tuyên truyền trên hệ thống loa phát thanh của khu phố mỗi khi có những văn bản mới về chính sách, chủ trương liên quan đến công tác QLBVR. Tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR đối với những hộ gia đình, cá nhân cũng như những người có hoạt động sản xuất- kinh doanh trên địa bàn như nuôi ong lấy mật dưới tán, khai thác nhựa thông, khai thác và vệ sinh rừng sau khai thác...
Nhờ vậy nhận thức của người dân trong khu phố ngày càng được nâng lên. Hàng năm có nhiều tin báo của quần chúng nhân dân tố giác những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, PCCCR và vi phạm quy ước BVR với lực lượng chức năng, ban cán sự khu phố.
Năm 2012 có một số người dân ngoài địa bàn đến khai thác trái phép ở khu rừng tự nhiên của khu phố, nhân dân đã kịp thời phát hiện và báo cáo kiểm lâm địa bàn, UBND phường tổ chức lực lượng ngăn chặn kịp thời, bắt quả tang, xử phạt vi phạm hành chính 1,5 triệu đồng và tịch thu gần 1 m3 gỗ. (Báo Quảng Trị 31/10) đầu trang(
Rừng đặc dụng trong Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh, xã Xuân Lam (Thọ Xuân), có tổng diện tích 102,9 ha.
Theo số liệu điều tra, quần thể thực vật trong Khu Di tích có trên 40 loài, trong đó có một số loài cây cổ thụ gắn liền với giá trị di tích lịch sử, như: đinh hương, dổi, lim xanh, vù hương, chò chỉ, sến, táu, gội nếp...
Năm 2011, Khu Di tích đã được tỉnh đầu tư gần 2 tỷ đồng mua sắm phương tiện phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), trồng rừng bổ sung, xây dựng các công trình PCCC, hệ thống hàng rào dây thép gai bao quanh khu rừng trong Khu Di tích.
Để bảo vệ diện tích rừng đặc dụng trên, vào mùa khô hanh hằng năm và các dịp tổ chức lễ hội, Hạt Kiểm lâm huyện Thọ Xuân phối hợp với ban quản lý Khu Di tích thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát bảo vệ an toàn diện tích rừng. Nên đến nay, hệ thống cây rừng trong Khu Di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh được bảo tồn, bảo vệ tốt. (Báo Thanh Hóa 23/10) đầu trang(
Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Thanh Kỳ (trên địa bàn xã Thanh Tân, huyện Như Thanh) được UBND tỉnh giao quản lý, sử dụng 5.572 ha rừng và đất lâm nghiệp.
Để bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có, ban đã phối hợp với 5 xã của huyện Như Thanh và huyện Nông Cống tập trung tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng tự giác thực hiện các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đồng thời, đã giao khoán 5.482 ha rừng cho 651 hộ dân chăm sóc, bảo vệ và sản xuất nông - lâm kết hợp; hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức cho các hộ trồng mới rừng sản xuất theo hướng thâm canh, bảo vệ diện tích rừng được giao và khai thác rừng trồng đã cho sản phẩm theo quy định.
Kết quả nổi bật là 100% diện tích rừng trên địa bàn do BQL được bảo vệ, phát triển xanh tốt, không xảy ra cháy. An ninh rừng được giữ vững, độ che phủ của rừng do BQL rừng phòng hộ Thanh Kỳ quản lý hiện tại đạt 96,1%.
Trong 6 năm (từ năm 2007 đến 2012), BQL rừng phòng hộ Thanh Kỳ đã hướng dẫn kỹ thuật; cung ứng cây giống; tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn trồng mới được 1.350 ha rừng sản xuất. 10 tháng năm 2013, ban đã tổ chức trồng mới 50 ha rừng sản xuất (100% kế hoạch); bảo vệ an toàn 5.482 ha rừng trên địa bàn.
Nhờ tích cực chăm sóc, bảo vệ rừng và sản xuất nông - lâm kết hợp người dân trong vùng có thêm việc làm tại chỗ, thu nhập từ tiền nhân công và sản phẩm của rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, thúc đẩy chương trình xây dựng nông thôn mới trong vùng. (Báo Thanh Hóa 1/11) đầu trang(
Nhìn trên bản đồ, rừng núi Cham Chu là một màu xanh thẫm chạy dài trên vùng giáp ranh hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang. Rừng giàu có và nhiều gỗ quý nên một thời Cham Chu là thủ phủ tập trung những lâm tặc vô cùng khét tiếng. Bây giờ, nếu có dịp lên Cham Chu, ai ai cũng phải bất ngờ.
Rừng Cham Chu vốn dĩ được ví von như một kho báu cực kỳ quý hiếm chưa khai quật. Quả thật, hiếm có nơi nào trên đất nước này tập hợp đủ loài gỗ quý vào hạng bậc nhất như ở đây. Từ những rừng nghiến vòng thân to ba bốn mét, những rừng chò chỉ đen thẫm một góc trời, những rừng trai nghìn năm tuổi cho đến loài cây hoàng đàn chỉ cần cắt được một khúc bằng chiếc phích nước thôi thì giá trị cũng bằng cả năm trời làm nương, làm ruộng.
Tất thảy những thứ quý giá nhất rừng Cham Chu đều tập trung ở xã Yên Thuận. Và chẳng có gì lạ, Yên Thuận trở thành điểm hút lâm tặc hơn bất kể khu rừng nào khác. Có chăng, lạ ở chỗ, Yên Thuận là xã nghèo nhất huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, vậy mà rừng Cham Chu vẫn yên bình.
Từ đời này qua đời khác, trong cộng đồng người Dao, người Mông ở Yên Thuận tồn tại một lời nguyền: Nếu ai đó đụng đến rừng thiêng thì sớm muộn gì cũng gặp tai họa.
Ông Vi Thành Ích, Chủ tịch UBND xã Yên Thuận, cũng giải thích với tôi rằng: Dân bản quan niệm, mỗi cây cối trên rừng đều có sinh linh. Cây càng già thì sinh linh càng lớn. Rừng già mọc đến tận vách nhà, nhưng nếu cầm dao chặt thì tội trạng vô cùng. Suốt một thời gian dài, Yên Thuận chẳng cần đến kiểm lâm và rừng vẫn được giữ đâu ra đấy.
Nhưng độ mười năm trước, nhiều người Dao, người Mông ở Yên Thuận chuyển từ làm nương rẫy sang sống bằng nghề phá rừng. Đó là lúc trên đỉnh núi Đá Trắng của dãy Cham Chu người ta phát hiện loài cây hoàng đàn vô cùng quý hiếm. Hiếm đến nỗi, Nhà nước phải ban hành những quy định ngặt nghèo nhất để bảo vệ. Với ngôn ngữ văn bản hành chính thì “chỉ định tính không cần định lượng”, còn người dân chỉ hiểu nôm na là chỉ cần phát hiện vận chuyển khối lượng bằng chiếc ấm pha trà thôi cũng phải chịu tội khởi tố rồi.
Một cây hoàng đàn hàng nghìn năm tuổi, nếu to lắm cũng chỉ bằng phích nước là cùng. Loài cây này thường mọc trên đỉnh những ngọn núi đá cao nhất, lạnh nhất, khắc nghiệt nhất. Những nơi mà chỉ có người Mông giỏi leo, người Dao giỏi tìm đường mới có thể tiếp cận được chúng mà thôi.
Bản làng đang yên bình bỗng chốc lên cơn sốt. Lâm tặc tứ phương kéo về cung cấp cho người dân bản địa đủ thứ dụng cụ đi rừng: Cưa xăng, quần áo, võng dù để leo núi… Và tất nhiên là cả tiền đặt cọc lớn hơn bất cứ thứ gì có giá trị trong nhà. Ba thôn Cao Đường, Hao Bó và Khau Làng trở thành điểm nóng.
Chứng kiến cảnh ấy, Chủ tịch xã Vi Thành Ích phải vượt đường rừng bốn năm chục cây số ra tận trung tâm huyện Hàm Yên kêu hạt kiểm lâm bố trí thêm lực lượng chứ tình hình nguy ngập lẳm rồi. Trên rẻo cao Yên Thuận, dân các bản chia thành hai phe. Một phe kiên quyết bảo vệ rừng theo qui ước rừng thiêng bao đời, còn một phe theo hướng thỏa hiệp với các đầu nậu hòng kiếm chút tiền.
Trước tình cảnh ấy, 4 kiểm lâm viên được điều vào Yên Thuận khi tình thế đã thay đổi. Rừng tự nhiên rộng cả chục ha, 4 kiểm lâm tiếng là lập chốt, lập trạm nhưng chẳng khác nào đem châu chấu đi đấu với voi. Cũng may, những người theo hướng thỏa hiệp chỉ tìm đúng cây hoàng đàn khai thác, còn lại những rừng nghiến, rừng trai, rừng chò chỉ vẫn được bảo vệ nghiêm ngặt theo qui ước của bản làng.
Cái lý của những người thỏa hiệp cũng vô cùng đơn giản: Hoàng đàn sống trên đỉnh núi đá, có lấy về bán cũng chẳng ảnh hưởng đến ai. Để trên ấy làm gì cho nó phí đi. Với lại, đám người lạ mà người ta vẫn thường gọi là lâm tặc ấy nó chỉ nhờ mình lên lấy xuống rồi nó trả tiền chứ mình có buôn bán gì đâu.
Mất một thời gian khá dài, số người thỏa hiệp lần lượt đi tù vì tội khai thác hoàng đàn đem bán thì người Mông, người Dao ở các bản mới ớ ra là vi phạm pháp luật rồi. Số còn lại cho rằng đấy là cái giá mà phải trả, bị rừng thiêng trách phạt.
“Chung qui cũng tại đói nghèo. Xã Yên Thuận có 1.170 hộ, 5.14 nhân khẩu, hộ nghèo còn gần 50%. Nhưng nếu đổ hết cho nghèo thì không phải. Vì thực tế người dân chốn này đã nghèo từ bao đời nay rồi còn gì. Chẳng qua là bị xúi giục thôi”, Chủ tịch Ích nói thế.
Cơn sốt hoàng đàn lắng xuống vì ở Yên Thuận không ai chịu thỏa hiệp với lâm tặc nữa. Những người ngày xưa từng lên núi lấy hoàng đàn hối hận, day dứt lắm. Làm thể nào để “gỡ tội” với rừng thiêng đây? Giữa lúc ấy thì có dự án trồng rừng đặc dụng phòng hộ theo chỉ thị của Bộ NN-PTNT. Cơ hội đây rồi, những kẻ phá rừng ngày trước ào ào đi đăng ký. Họ xem trồng rừng là cái cách để mà trả nợ cho rừng vậy.
Ba bản trồng rừng quyết liệt nhất trên Yên Thuận hiện nay lại chính là Hao Bó và Cao Đường và Khau Làng, những “điểm nóng phá rừng” ngày xưa. Một bản toàn người Dao còn một bản toàn người Mông. Chỉ trong vòng 3 năm, 70 ha rừng đặc dụng phòng hộ, 40 ha rừng sản xuất được người dân các bản “điểm nóng” đăng ký trồng. Lạ ở chỗ, dân bản tích cực trồng rừng đặc dụng phòng hộ, loại rừng hầu như không có giá trị nhiều về kinh tế.
Bản Hao Bó có 112 hộ, 507 khẩu, độc người Dao áo dài sinh sống. Nghèo thì vẫn vậy, chiếm tới 70%. Nhưng hôm tôi lên đây, trưởng bản Bàn Văn Cường khoe rối rít: Ngày xưa phá rừng khỏe một thì bây giờ trồng rừng khỏe gấp mười. Rừng gì cũng trồng cả, năm nay nữa là dân bản hết đất để trồng rồi.
Người trồng rừng hăng hái nhất ở Hao Bó là Bàn Văn Tuấn (33 tuổi). Nhà Tuấn nghèo, hai vợ chồng, 2 đứa con và ba sào ruộng. Một năm thiếu ăn vài ba tháng. Cũng vì cái nghèo ấy mà có một dạo Tuấn “tay cưa tay búa” theo người ta lên Đá Trắng kiếm hoàng đàn. May mắn không phải vào vòng tù tội nhưng mà Tuấn ân hận vô cùng.
“Xưa nay dân bản cũng đói nghèo nhưng rừng thiêng không ai đụng đến cả. Qui ước của bản nói rừng là của nhà nước, thế mà mình lại vì tiền tiếp tay cho kẻ xấu phá rừng”, suốt một thời gian dài Tuấn vẫn thường day dứt như thế.
Khi có chương trình trồng rừng về bản, Tuấn tình nguyện đăng ký vào danh mục trồng cây lát. Khá lạ. Lát là loài cây có chu kỳ sinh trưởng cả trăm năm, còn nếu tính giá trị kinh tế thì cũng phải 50 năm nữa mới hạch toán nổi. Ở những nơi còn đói nghèo thì chẳng ai đi trồng lát cả. Bao giờ mới được thu đây? Với lại, trồng rừng đặc dụng là trồng cho Nhà nước, tham gia dự án này chỉ được mỗi tiền công thôi chứ chờ thu hoạch thì có mà đến đời... mục thất.
Một lựa chọn không nhiều người nghĩ tới, nhưng Tuấn có lý của riêng mình: “Ngày xưa đói quá nên mới theo lâm tặc phá rừng. Bây giờ, cũng đang đói, nhưng đi trồng rừng thôi. Rừng thiêng, rừng quý, trồng được thêm chỗ nào thì trồng, mình không hưởng thì con cháu mình sẽ hưởng”.
Sau ba năm, bây giờ rừng lát của Tuấn nhìn xanh lắm rồi. Anh lại còn tham gia tổ trồng rừng của bản. Ngày ngày Tuấn cùng với tổ trưởng Bàn Văn Sinh, tổ phó Lý Văn Luận cũng là những cựu lâm tặc đi thúc giục dân bản trồng rừng.
Ngược qua Hao Bó, đến bản Cao Đường, bản người Mông sống cao nhất trên Yên Thuận. Trưởng bản Giàng Seo Sàng cười ha hả: Thế là hòa nhé. Ngày xưa có phá nhưng bây giờ trồng lại hết rồi. Chỉ cần có đất thì dân Cao Đường tình nguyện trồng rừng hết.
Trạm kiểm lâm Yên Thuận chỉ có 4 người, đang phải thuê nhà của dân để ở nhưng quản lý hơn 7.000 ha rừng đặc dụng. Trạm trưởng Phạm Liên Tú thừa nhận rằng, từ ngày dân bản chung tay giữ rừng thì lực lượng kiểm lâm đỡ vất vả đi nhiều.
Cái chính vẫn là nhờ nhận thức về bảo vệ rừng của người dân đã thay đổi. Nhưng nếu không có giải pháp để người dân vùng cao này phát triển kinh tế thì rừng Cham Chu luôn luôn báo động. (Nông Nghiệp Việt Nam 31/10) đầu trang(
Năm 2012, độ che phủ rừng ở Hoành Bồ đạt 68%, đưa Hoành Bồ trở thành huyện có diện tích rừng lớn và độ che phủ lớn nhất tỉnh. Tổng diện tích rừng của Hoành Bồ là 56.000ha thì có 37.000ha là rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng.
Trong những năm gần đây, người dân Hoành Bồ tập trung trồng rừng, đưa nghề rừng là một trong những nghề mang lại thu nhập, góp phần giảm nghèo, làm giàu cho các hộ gia đình. Đã có nhiều hộ đầu tư mạnh vào trồng rừng, thu về hàng trăm triệu đồng sau mỗi vụ trồng keo.
Năm 2011 và 2012, diện tích rừng trồng mới ở Hoành Bồ là 3.832ha. Từ đầu năm 2013 đến nay, toàn huyện trồng mới thêm trên 1.500ha rừng; trong đó 1.380ha do các hộ dân trồng, còn lại do Lâm trường huyện trồng. Diện tích rừng trồng ngày càng nhiều, nên sản lượng khai thác gỗ rừng trồng của huyện ngày càng tăng, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều lao động và tăng thu nhập cho người dân trên địa bàn.
Nếu như rừng trồng mang lại thu nhập cho người dân Hoành Bồ, thì rừng tự nhiên lại được ví như “lá phổi xanh”, như “người bảo vệ” môi trường, nguồn nước, đa dạng sinh học của huyện và các vùng lân cận. 37.000ha rừng tự nhiên tập trung ở hầu hết các xã của huyện như Tân Dân, Bằng Cả, Quảng La, Dân Chủ, Hoà Bình, Đồng Lâm, Đồng Sơn, Vũ Oai, Kỳ Thượng. Rừng tự nhiên của Hoành Bồ còn chứa đựng tiềm năng du lịch khám phá về với thiên nhiên với nhiều khe, suối, hồ, thác đẹp như Khe Rìa, lòng hồ Cao Vân, đỉnh núi Thiên Sơnv..
Đặc biệt là giá trị đa dạng sinh học với hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm tập trung ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng. Đây là những giá trị, tài sản quý không gì so sánh được mà rừng của Hoành Bồ đang sở hữu.
Chính vì những giá trị quý giá mà rừng Hoành Bồ vẫn đang phải đối mặt với tình trạng vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng, như chặt phá rừng, khai thác than trái phép, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép v.v.. Chỉ tính riêng trong 10 tháng năm 2013, toàn huyện đã có 23 vụ vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ rừng.
Trước sự phức tạp trong công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, huyện Hoành Bồ đã huy động sự vào cuộc của các đơn vị chức năng, các ngành, đoàn thể và toàn thể nhân dân tham gia bảo vệ rừng. Hiện, trên địa bàn huyện Hoành Bồ có 3 cơ quan kiểm lâm là hạt kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập, Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng.
Ông Nguyễn Văn Nam, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện cho biết: “Với lực lượng kiểm lâm mỏng, trang thiết bị còn hạn chế, diện tích rừng lại rất lớn, để quản lý và bảo vệ tốt là việc không đơn giản. Do đó, chúng tôi đã đề nghị các đơn vị, ban, ngành của huyện phối hợp, đồng thời giáo dục, tuyên truyền, vận động nhân dân cùng tham gia vào công tác bảo vệ rừng”.
Từ năm 2007 đến nay, huyện đã có nhiều chương trình phối hợp trong bảo vệ, phát triển rừng như: Chương trình phối hợp giữa Phòng NN&PTNT với Hội Cựu chiến binh và Hạt Kiểm lâm; chương trình phối hợp bảo vệ rừng phòng hộ hồ Yên Lập; phối hợp giữa các cơ quan kiểm lâm huyện với Công an, Ban chỉ huy Quân sự huyện trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống, chữa cháy rừng và bảo tồn thiên nhiên; phối hợp trong công tác tiếp nhận, giải quyết và quản lý tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố..
Nhờ có những chương trình phối hợp này mà các đơn vị kiểm lâm không đơn độc, ngược lại đã nhận được sự phối hợp, trợ giúp đắc lực của các cơ quan, người dân trong quản lý, bảo vệ rừng… (Báo Quảng Ninh 1/11) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
"Phát triển cây cao su các tỉnh Bắc Trung Bộ" là chủ đề cuộc hội thảo vừa được Cục Trồng trọt (Bộ NNPTNT), Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và Sở NNPTNT Quảng Trị phối hợp tổ chức, ngày 30/10.
Theo quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, vùng Bắc Trung Bộ tiếp tục trồng mới khoảng 20.000 ha cao su, theo đó ổn định diện tích 80.000 ha. Tuy nhiên tính đến nay, các tỉnh Bắc Trung Bộ đã trồng vượt quy hoạch, với 80.470 ha cao su theo mô hình đại điền và tiểu điền.
Thực tế cho thấy, cây cao su có nhiều ưu thế nhờ khả năng thích ứng rộng với nhiều loại đất; chịu được khô hạn, hiệu quả kinh tế cao, sớm hòa vốn…
Tuy nhiên, tại vùng Bắc Trung Bộ, cây cao su gặp thách thức do khí hậu, thời tiết rét đậm, rét hại và đặc biệt là bão xảy ra với tần suất, cường độ cao hơn so với các vùng trồng cao su truyền thống khác. Sau cơn bão số 10 và 11 gần đây, 21.450 ha diện tích cao su đã bị thiệt hại, trong đó hơn 13.000 ha thiệt hại nghiêm trọng.
Ông Nguyễn Văn Bài, Giám đốc Sở NNPTNT Quảng Trị, cho biết đối với tỉnh Quảng Trị, tại huyện Vĩnh Linh hiện do thu nhập từ cao su rất cao, bình quân 700.000-1 triệu đồng/ha/ngày nên đa số người dân vẫn quyết tâm trồng lại cao su sau bão.
Chủ trương chung của tỉnh là tiến hành rà soát quy hoạch phát triển cao su cho từng vùng, hình thành các vùng chuyên canh cao su gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm và phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Tỉnh tiếp tục đề xuất phát triển cao su trên địa bàn với các giải pháp bổ sung như trồng đai rừng chắn gió, sử dụng giống chống chịu gió, áp dụng quy trình kỹ thuật phù hợp để phát triển cao su bền vững.
Theo Sở NNPTNT Quảng Bình, tỉnh sẽ tiếp tục xây dựng phương án khôi phục sản xuất cao su trên địa bàn, loại bỏ những diện tích cao su không phù hợp, chỉ trồng cao su trên những vùng đất đảm bảo điều kiện theo quy trình kỹ thuật, những vùng thường xuyên ảnh hưởng của gió, vùng thấp trũng vận động người sản xuất chuyển sang cây trồng khác.
Sở NNPTNT Hà Tĩnh chủ trương không phát triển thêm vùng cao su tại huyện Kỳ Anh, chuyển trọng tâm phát triển lên các huyện giáp biên giới như Hương Khê, Hương Sơn và áp dụng quy trình kỹ thuật trồng cao su đặc thù phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng.
Tại Hội thảo, đại biểu các địa phương đã có một số đề xuất, kiến nghị với Cục Trồng trọt về việc phục hồi, bảo vệ diện tích cao su sau bão; rà soát điểu chỉnh quy hoạch chi tiết, xây dựng quy trình kỹ thuật đặc thù cho vùng, thực hiện các chính sách hỗ trợ theo đúng quy định.
Để khắc phục thiệt hại cây cao su do mưa bão, Cục Trồng trọt, các Sở NNPTNT, Tập đoàn Cao su Việt Nam đã có văn bản hướng dẫn các biện pháp khắc phục, như: Thu dọn nhanh diện tích có cây cao su đổ gãy, tận dụng tối đa gỗ cao su để bán, liên hệ các công ty chế biến gỗ trên địa bàn tiêu thụ gỗ cao su cho người dân.
Với hơn 70.000 ha cao su còn lại, nhiều địa phương đã có các phương án chăm sóc, bảo vệ như vun lại gốc những cây bật rễ, cưa cành gãy, bôi thuốc để ra mầm mới. Đồng thời, nhiều tỉnh đã chủ động hỗ trợ bà con tiền mua máy cưa, mua thuốc, hỗ trợ nhân công và tiêu thụ gỗ cao su...
Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Đồng Quảng, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt, khuyến cáo bà con trước mắt tận thu mủ và chặt lấy gỗ để bán trước khi hủy hoàn toàn. Sau đó, có thể xem xét trồng một vụ cây ngắn ngày như ngô, khoai lang, rau... để cứu vãn tình thế.
Đối với diện tích hơn 13.000 ha đã bị thiệt hại do cơn bão số 10 vừa qua tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, hiện đa số người dân có nguyện vọng muốn khôi phục lại sản xuất. Chính quyền các nơi cần phải có chỉ đạo, khuyến cáo, định hướng cụ thể cho nhân dân để có phương án bố trí khôi phục hợp lý theo đúng quy trình, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại do mưa bão trong thời gian tới.
Các phương án và đề xuất của các địa phương sẽ được Cục Trồng trọt tiếp thu để trình Thủ tướng, Bộ NNPTNT xem xét, thực hiện theo đúng quy định trên cơ sở đảm bảo quyền lợi, ổn định sản xuất cho nhân dân, góp phần tích cực trong công tác xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu của người dân các địa phương. (Chinhphu.vn 31/10; Nông Nghiệp Việt Nam 31/10; Tuổi Trẻ 31/10; Lao Động 31/10; Lao Động 31/10) đầu trang(
Nhiều chuyên gia cho rằng việc chủ đầu tư lấy đi 20.000 ha rừng nhưng chỉ trồng lại được 735ha (theo báo cáo thẩm tra của Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Quốc hội) là quá thấp. Do vậy, cần xem xét trách nhiệm của các cơ quan kiểm tra, giám sát việc trồng bồi hoàn rừng.
TS Nguyễn Khắc Kinh, Phó Chủ tịch Hội đồng Đánh giá Tác động Môi trường cho hay, về nguyên tắc, đơn vị nào phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (gọi tắt là ĐTM) thì đơn vị ấy phải có trách nhiệm đôn đốc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường đã phê duyệt trong ĐTM. Nếu trong ĐTM quy định phải trồng bồi hoàn diện tích rừng đã mất vì xây dựng thủy điện thì đơn vị phê duyệt có trách nhiệm giám sát việc thực hiện bồi hoàn diện tích ấy.
Theo quy định của Nghị định 29/2011/NĐ-CP, việc phê duyệt ĐTM hiện nay thuộc về Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cũng có quyền tổ chức thẩm định, phê duyệt ĐTM đối với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch thuộc thẩm quyền phê duyệt của mình.
“Các đơn vị trên có thể không trực tiếp làm công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực thi hậu ĐTM mà có thể giao cho một đơn vị cụ thể nhưng đầu mối trách nhiệm vẫn thuộc về đơn vị phê duyệt”, ông Kinh nói.
Theo vị chuyên gia này, tỷ lệ 3,7% diện tích bồi hoàn là quá thấp, cho thấy sự lỏng lẻo và yếu kém trong công tác giám sát, kiểm tra hiện nay trong việc thực hiện bồi hoàn diện tích đất rừng đã mất do thủy điện. Cần phải làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của những bên liên quan.
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ cho hay, theo quy định, chủ đầu tư chuyển đổi bao nhiêu diện tích rừng sang làm thủy điện thì phải trồng bồi hoàn từng đó diện tích.
Tỷ lệ rừng trồng bồi hoàn chỉ đạt 3,7% có thể lý giải bằng hai nguyên nhân: Thứ nhất là do địa phương không còn diện tích để trồng rừng thay thế, nên thay vì trồng rừng, nhiều doanh nghiệp chọn biện pháp nộp tiền vào quỹ bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương. Địa phương sẽ điều hành việc trồng rừng thay thế bằng việc chỗ nào trồng rừng hỏng thì trồng bù, chỗ nào thiếu rừng sẽ trồng bổ sung hoặc dùng để tái tạo, phát triển rừng.
Nguyên nhân thứ hai, theo GS Lung là do doanh nghiệp trốn nhiều. Từ trước đến nay, nếu tính theo công suất của nhà máy thủy điện thì tỷ lệ phá rừng do thủy điện là rất nhiều. Chuyện doanh nghiệp lách luật là bình thường, quan trọng nhất là việc Nhà nước giám sát, quản lý và có chế tài như thế nào. GS Lung cho rằng hệ thống giám sát nói chung ở Việt Nam, cụ thể là việc giám sát trồng rừng bồi hoàn hiện nay yếu.
TS Nguyễn Khắc Kinh bổ sung thêm, về mặt nguyên lý không phải cứ diện tích nào mất đi là có thể trồng bù được diện tích ấy vì có những loại cây chỉ sinh trưởng và phát triển trong điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nhất định. Vì thế, ngay cả tỷ lệ trồng rừng phục hồi là 3,7% cũng chưa nói lên được việc bảo vệ môi trường vì đó chỉ là tỷ lệ che phủ. Diện tích rừng ấy liệu có duy trì được chức năng sinh thái hay không còn phải bàn.
Theo ông Mai Thanh Dung, Cục trưởng Cục Thẩm định và Phê duyệt Báo cáo Đánh giá Tác động Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), trong ĐTM, nếu phải trồng rừng bồi hoàn thì bao giờ cũng yêu cầu chủ đầu tư phối hợp với UBND địa phương tìm địa điểm và lên kế hoạch thực hiện.
Cơ quan đã phê duyệt ĐTM có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực thi những yêu cầu đã phê duyệt trong ĐTM trên thực tế. Tuy nhiên theo ông Dung, việc thực hiện giám sát, kiểm tra chỉ được tiến hành khi doanh nghiệp có hồ sơ báo cáo lên cơ quan phê duyệt về việc thực hiện các cam kết. Trên cơ sở đó, cơ quan phê duyệt mới có cơ sở để tiến hành kiểm tra, giám sát.
Việc thực thi trồng rừng bồi hoàn, vì thế vẫn dựa chủ yếu vào ý thức của doanh nghiệp. Tỷ lệ trồng rừng bồi hoàn quá thấp, theo ông Dung: “Trách nhiệm trước hết thuộc về chủ đầu tư. Tất nhiên trách nhiệm của cơ quan quản lý cũng có”. (Tiền Phong 1/11) đầu trang(
Liên quan đến việc Chính phủ vừa loại bỏ thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi quy hoạch, ĐB Trương Văn Vở (Đoàn Đồng Nai) cho biết, ông rất mừng trước sự nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ trong điều hành phát triển mạng lưới điện quốc gia, trong đó có vấn đề thủy điện.
“Tôi cho rằng, chỉ đạo của Chính phủ vừa qua là một quyết tâm, nỗ lực lớn. Từ lâu tôi đã rất quan tâm tới chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành thực hiện việc rà soát quy hoạch thủy điện, trong đó có 6 dự án thủy điện bậc thang và hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A”, ông Vở cho hay.
Theo ông Vở, từ đầu nhiệm kỳ cho đến bây giờ, từ khi Quốc hội có Nghị quyết điều chỉnh các dự án quan trọng, công trình Quốc gia liên quan đến sử dụng đất rừng khi có điều chỉnh về quy mô phải xin ý kiến của Quốc hội, rõ ràng Quốc hội đã kịp thời ban hành Nghị quyết đó nhưng rất tiếc là sau Nghị quyết Chính phủ lại điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, trong đó có các dự án thủy điện bậc thang, đặc biệt có 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6 A chiếm diện tích rừng rất lớn nhưng chưa thực hiện quy trình thủ tục xin chủ trương đầu tư mà cho lập dự án đầu tư.
Từ đó rút ra, xung quanh quy hoạch thủy điện có ba vi phạm lớn. Vi phạm thứ nhất, là về quy trình quy hoạch, lập quy hoạch. Vi phạm thứ hai là về luật, đấy là Nghị quyết 49 của Quốc hội năm 2010. Thứ ba là, vi phạm Luật Bảo vệ môi trường, chỉ tính đơn thuần đến lợi ích kinh tế mà không tính đến lợi ích về môi trường, xã hội.
“Rất mừng là kỳ họp này, Chính phủ đã báo cáo Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã chuẩn bị cho Quốc hội ban hành Nghị quyết xung quanh điều chỉnh quy hoạch thủy điện. Nghị quyết này phải làm rõ trách nhiệm trong thực hiện quy trình, quy hoạch.
Ở đây trách nhiệm có cả chính quyền địa phương và Bộ, ngành liên quan. Phải chỉ rõ chủ thể trách nhiệm cụ thể trong thực hiện quy trình, quy hoạch; chỉ rõ trách nhiệm cụ thể trong quá trình tham mưu cho Chính phủ bổ sung quy hoạch 2 thủy điện là Đồng Nai 6 và 6A cùng với 6 dự án thủy điện bậc thang. Bởi dự án thủy điện bậc thang rất quan trọng, ảnh hưởng đến lưu vực sông ở vùng hạ lưu”, ông Vở đề nghị.
Cũng theo ông Vở, trong Nghị quyết của Quốc hội lần này cũng cần xác định diện tích đất rừng bị mất do thủy điện là bao nhiêu, trách nhiệm thuộc về ai. Phải làm rõ để tránh hệ lụy sau này.
Ông vở nhấn mạnh: "Rừng tự nhiên phải được bảo vệ nghiêm ngặt theo quy hoạch quản lý phát triển và bảo vệ rừng. Nói chung là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, vườn Quốc gia phải bảo vệ nghiêm ngặt. Đụng tới diện tích đất rừng đó thì phải xem xét thận trọng trong quá trình lập quy hoạch.
Lần này, Chính phủ đề nghị loại ra trên 400 dự án thủy điện, trong đó, có 6 dự án thủy điện bậc thang, nhưng diện tích rừng để nhường cho các dự án thủy điện loại ra khỏi quy hoạch này là bao nhiêu, loại ra có mất rừng hay không, các giải pháp thay thế để cho số diện tích rừng mất đi là như thế nào... Tôi đề nghị Chính phủ phải làm rõ. Đồng thời, Quốc hội cũng nên quy định rõ trong Nghị quyết để xác định trách nhiệm".
Bên cạnh đó, ông Vở cũng quan tâm đến việc xả lũ tại các hồ thủy điện. Điều đáng mừng là Chính phủ cũng sớm có Quyết định 1879 tháng 10-2010, giao trách nhiệm cho Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy trình vận hành đơn hồ, liên hồ chứa thủy lợi và hồ thủy điện. Nhưng tới giờ việc triển khai của các Bộ, ngành vẫn còn chậm. Tới nay chỉ ban hành vận hành hồ chứa 5/11 lưu vực sông và theo báo cáo của Chính phủ đến cuối năm nay thêm 4 lưu vực sông nữa. Như vậy là 9 lưu vực.
“Tôi không hiểu như thế nào đối với lưu vực sông Đồng Nai là lưu vực sông bậc thang nhưng lại chưa được xác định làm sớm quy trình vận hành hồ chứa thủy lợi, cũng như là hồ chứa thủy điện ở trên thượng nguồn”, ông Vở băn khoăn.
Liên quan đến việc an toàn của hồ đập, ông Vở cho rằng đây là khâu đầu tiên cần phải rà soát lại về quy định vận hành hồ đập, hồ chứa. Đồng thời phải gắn với từng chủ thể cho rõ trong quá trình thực hiện quy trình vận hành cùng với đó có chế định xử lý, xử phạt nghiêm minh, rõ ràng và cụ thể. (Theo Infonet 1/11) đầu trang(
PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, chuyên gia năng lượng cho biết: Tôi rất mừng vì Quốc hội đã quan tâm đến thủy điện, đã cân nhắc đến mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và môi trường. Theo tôi, việc quy hoạch thủy điện tràn lan có ba nguyên nhân chính.
Thứ nhất, do sự ấu trĩ của một số người làm khoa học cho đến các nhà quản lý, thể hiện ở chỗ xem thủy điện là hơn hết tất cả. Thủy điện không dùng than, không dùng khí, chỉ dùng sức nước - mà nước là trời cho nên giá thành rẻ. Những năm 1970, học tập Liên Xô, ta rất khuyến khích phát triển thủy điện. Thời gian đó đã có những cảnh báo, nhưng chỉ dừng lại ở việc sợ thủy điện tích nước nhiều gây vỡ đập chứ chưa hình dung đến chuyện phá rừng rồi ảnh hưởng đến môi trường.
Thứ hai, nhiều nơi, nhiều người lợi dụng làm thủy điện để phá rừng lấy gỗ. Cái này phải thật tinh và rất công tâm mới thấy được. Tại sao có rất nhiều doanh nghiệp lao vào làm thủy điện, bất chấp đó là vùng rừng núi heo hút? Bởi vì khi được làm thủy điện, họ sẽ được quyền giải phóng mấy trăm hecta rừng, họ tận thu gỗ. Ở đây có sự nhập nhằng về lợi ích. Chuyện này xảy ra có thể do mình kém cỏi về quản lý, có thể do doanh nghiệp không công tâm hoặc có sự xuất hiện của nhóm lợi ích.
Thứ ba, làm thủy điện là sự đánh đổi giữa môi trường và kinh tế. Sự đánh đổi đấy mình không tính toán cẩn thận nên cứ tưởng không có đánh đổi nhưng thật ra đánh đổi rất nhiều. Không chỉ mất gỗ mà còn gây ngập lụt, gây nguy hại cho hạ lưu, nguy hiểm cho cộng đồng dân cư.
Khắc phục được ba nguyên nhân nói trên thì từ nay về sau mới mong yên ổn. Ở các nước, đầu tiên họ loại ngay những dự án mang hơi hướm lợi ích nhóm, chỉ cân nhắc sự đánh đổi. Ngoài ra, trong quản lý của mình phải thật công tâm minh bạch, công khai. Nguyên nhân thứ ba có lẽ dễ sửa - chỉ cần tính toán cẩn thận, có hội đồng thẩm định để cân đong đo đếm giữa hiệu quả và tác hại của từng dự án xem có đáng để đánh đổi không.
Tất cả khó khăn nằm ở nguyên nhân thứ hai: phải nhìn ra ở đâu có màu sắc lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, thậm chí tham nhũng trong việc lợi dụng làm thủy điện. Tôi thật sự kỳ vọng Quốc hội sẽ tập trung trí lực giải quyết triệt để, tận gốc nguyên nhân thứ hai.. (Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang(
Trong 2 ngày 31/10-1/11, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và chương trình toàn cầu về gỗ Trafic tổ chức hội thảo “Nâng cao nhận thức về tính hợp pháp của gỗ cho các thành viên hiệp hội và các công ty xuất khẩu lâm sản sang Liên minh châu Âu, Mỹ và Úc”.
Các chuyên gia cung cấp các thông tin quy định về gỗ của EU, đạo luật Lacey của Mỹ, đạo luật cấm khai thác gỗ trái phép của Úc và các luật có liên quan ở cấp quốc gia cũng như việc làm thế nào để tuân thủ các luật, quy chế.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, năm 2012 xuất khẩu các sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 4,57 tỉ USD (tăng 20% so với năm trước), dự kiến năm 2013 xuất khẩu đạt 5,3 tỉ USD (tăng 12%). (Người Lao Động 1/11; Tuổi Trẻ 1/11) đầu trang(
Ngày 30/10, UBND tỉnh cho biết vừa phê duyệt dự án “Tăng cường quản lý rừng có trách nhiệm và phục hồi rừng tại Việt Nam” do Tập đoàn chế biến và kinh doanh đồ gỗ Thụy Điển (IKEA ) tài trợ thông qua tổ chức WWF Thụy Điển.
Dự án nhằm duy trì bền vững và mở rộng quy mô rừng keo được cấp chứng chỉ; tăng cường giá trị về đa dạng sinh học trong cảnh quan Trung Trường Sơn thông qua chứng chỉ rừng; phục hồi rừng bị suy thoái trong hành lang đa dạng sinh học trong cảnh quan Trung Trường Sơn; nâng cao nhận thức tuân thủ đạo luật lâm nghiệp và quản trị rừng (FLEGT/VPA) của Ủy ban Châu Âu (EC) cho các nhà cung cấp lâm sản của Tập đoàn IKEA và Mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu (GFTN) tại Việt Nam.
Dự án triển khai thực hiện từ tháng 7.2013 đến tháng 12.2014, với tổng giá trị khoản viện trợ gần 147.000 USD.
UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT tiếp nhận khoản viện trợ và thực hiện dự án; có trách nhiệm phối hợp với nhà tài trợ lập kế hoạch triển khai chi tiết dự án; đảm bảo thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước về tiếp nhận, quản lý và sử dụng nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài và các quy định hiện hành khác; ghi thu, ghi chi qua ngân sách nhà nước; đồng thời thực hiện việc báo cáo kết quả viện trợ cho UBND tỉnh và các ngành chức năng liên quan của tỉnh theo quy định. (Quangnam.gov.vn 31/10) đầu trang(
Trong 2 ngày (31/10 - 1/11), Ban Quản lý dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” tỉnh Điện Biên tổ chức hội thảo về nâng cao nhận thức, năng lực quản lý rừng và các vấn đề liên quan đến cộng đồng cho các bên liên quan.
Theo đó, đại biểu được giới thiệu tổng quan về lâm nghiệp cộng đồng; tổng quát về biến đổi khí hậu, như: biểu hiện của biến đổi khí hậu, biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng; giới thiệu tổng quát về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, kinh nghiệm triển khai thực hiện tại một số địa phương; trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch; nguồn gốc gỗ, giới và bình đẳng giới…
Các đại biểu cũng tham gia thảo luận và phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 năm 2010 trên địa bàn tỉnh; quản lý và bảo vệ rừng; cơ hội, thách thức trong triển khai trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch…
Qua đó, nhằm nâng cao nhận thức và năng lực về quản lý rừng cộng đồng; nhận thức và năng lực về các vấn đề liên quan đến cộng đồng để dự án triển khai thực hiện đạt mục tiêu, hiệu quả đã đề ra. (Báo Điện Biên 1/11) đầu trang(
Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng Nai đã lên kế hoach lập ra dự án để bảo tồn và phát triển voi, đồng thời ngăn chặn xung đột xảy ra giữa voi và người.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai trong nhiều năm trở lại đây xảy ra rất nhiều vụ xung đột giữa voi và người, hậu quả khiến 1 người chết, 2 người bị thương, thiệt hại nhà cửa, mùa màng hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra, voi còn đe dọa trực tiếp đến tính mạng hàng chục ngàn người dân sống các khu vực thường xảy ra xung đột: xã Tà Lài (H.Tân Phú), xã Phú Lý, Mã Đà (H.Vĩnh Cửu), xã Thanh Sơn, Gia Canh (H.Định Quán).
Mới nhất là trong hai ngày 21 và 22.5, đàn voi rừng gồm 7 cá thể ra khu dân cư tại ấp 5 (xã Thanh Sơn) gây ra 4 vụ phá hoại làm cho người dân khu vực này hoang mang, sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn. UBND H.Vĩnh Cửu và Định Quán phải bỏ ra hơn 12 tỉ đồng hỗ trợ thiệt hại cho người dân trong vùng do voi gây ra trong khoảng thời gian từ năm 2008-2013.
Trong khi đó, từ tháng 6.2009 đến tháng 12.2011 xảy ra chết 9 con voi chưa rõ nguyên nhân. Từ năm 2011 đến đầu năm 2013, qua theo dõi thì số lượng đàn voi chỉ còn trên 11 cá thể (Trước đó cuộc điều tra quần thể voi vào tháng 10.2009 của Đoàn chuyên gia Cục Kiểm lâm đếm được số lượng voi thấp nhất là 17 con).
Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Phòng bảo tồn thiên nhiên (Chi cục kiểm lâm Đồng Nai) cho biết: “Voi rừng ở Đồng Nai đang đứng trước nhiều nguy cơ đe dọa đến sự tồn tại như sinh cảnh sống của voi bị thu hẹp và tác động nên thiếu nguồn thức ăn, vùng hoạt động sống.
Do đó voi thường di chuyển đến các vùng dân cư ven rừng để tìm nguồn thức ăn gây nên sự xung đột giữa người và voi ngày càng nhiều và nghiêm trọng, nếu không có biện pháp xử lý hiệu quả thì dễ dẫn đến tình trạng người dân tìm cách giết voi để bảo vệ tài sản lúc đó sẽ nguy hiểm đến tính mạng của voi. Chính vì vậy việc xây dựng và thực hiện dự án bảo tồn quần thể voi là rất cấp bách”.
Theo ông Dũng, dự án bảo tồn voi tập trung vào những mục tiêu sau: Xác định khả năng cung cấp nguồn thức ăn trong các sinh cảnh tự nhiên hiện voi đang sinh sống để có hướng khôi phục hoặc làm giàu rừng; khôi phục, cải tạo và mở rộng sinh cảnh tự nhiên có quần thể voi; xác định diện tích trồng cây thức ăn, cây thuốc trị bệnh bổ sung cho voi; trồng bổ sung cây thức ăn, cây thuốc trị bệnh cho voi trong phạm vi khu vực dự án bảo tồn voi; bổ sung điểm cung cấp khoáng chất cho voi; cải thiện nguồn cung cấp nước mà không phá vỡ quy luật tự nhiên; xây dựng hàng rào cố định và hàng rào di động.
Phạm vi bao gồm: Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà. (Thanh Niên 31/10) đầu trang(
Trồng rừng kinh tế hiện đang trở thành phong trào rộng khắp trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Rất nhiều hộ nông dân sau một thời gian “theo” cây sắn giờ chuyển sang trồng rừng, vì thế các vùng gò đồi đất cằn bỏ hoang hóa đã được phủ xanh bằng cây lâm nghiệp. Thế nhưng nhiều hộ nông dân chưa chú trọng đến giống cây lâm nghiệp nên hiệu quả kinh tế mang lại thấp.
Theo Sở NN-PTNT Phú Yên, năm 2013, toàn tỉnh đã ươm khoảng 7,2 triệu cây giống gồm keo lá tràm, bạch đàn, điều ghép... Cách đây 1 tháng, các ngành chức năng tiến hành thẩm định hồ sơ thiết kế trồng rừng, công tác phát dọn thực bì, chuẩn bị đất phục vụ trồng mới rừng tập trung năm 2013.
Trước khi bước vào mùa trồng cây phân tán năm nay, tại 4 cơ sở gieo ươm giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Sông Hinh đã gieo ươm 240.000 cây giống, trong đó keo lai 220.000 cây, bạch đàn 20.000 cây. Phòng NN-PTNT huyện Sông Hinh kiểm tra vườn ươm giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện, các chỉ tiêu về giống, sau đó triển khai chương trình trồng cây phân tán năm 2013.
Tại huyện Đồng Xuân, nhiều nông dân đến các vườn ươm mua giống cây lâm nghiệp về trồng rừng. Trong những ngày mưa dầm vừa qua, tấp nập các loại xe cơ giới ra vào vận chuyển cây giống. Người đầu tư trồng nhiều thì chở cây giống bằng xe tải, người trồng ít thì chở bằng xe gắn máy. So với năm ngoái, giá cây giống lâm nghiệp năm nay không tăng, bạch đàn 1.000 đồng/cây, keo lá tràm 800 đồng/cây.
Còn tại các xã An Phú, Bình Kiến (TP Tuy Hòa), những ngày mưa dầm vừa qua, nhiều người dân đến các vườn ươm nhỏ lẻ cạnh đường quốc lộ 1, thuộc thôn Phước Lương, xã An Chấn (Tuy An) mua cây giống về trồng. Ông Trần Quang Tùng ở xã An Phú cho hay, mấy năm nay khu vực đất gò đồi trồng sắn nhưng đất bạc màu phải đầu tư nhiều nên ông chuyển sang trồng cây lâm nghiệp.
Phong trào trồng rừng kinh tế trong nhân dân phát triển mạnh, vì khai thác gỗ vườn mang lại lợi nhuận cao. Lâu nay, nhiều hộ nông dân khai hoang các khu vực gò đồi để trồng sắn, mía. Do trồng lâu ngày nên đất rửa trôi, bạc màu, phải đầu tư nhiều, lợi nhuận mang lại không cao. Vì vậy, nông dân chuyển sang trồng rừng kinh tế. Theo thống kê của Sở NN-PTNT, toàn tỉnh hiện có 1.957ha rừng kinh tế do hộ gia đình chăm sóc.
Theo các cán bộ ngành nông nghiệp, trồng rừng kinh tế bạch đàn, keo lá tràm 7 đến 8 năm sau thu hoạch, năng suất đạt 90 đến 100 tấn/ha. Với giá hiện nay là 1,1 triệu đồng/tấn, có thể cho thu nhập 100 triệu đồng/ha. Trong khi đó, chi phí đầu tư cho trồng cây bạch đàn, keo lá tràm không lớn, công chăm sóc không nhiều. So với trồng mía, chi phí chưa tới 1/10. Thế nhưng trên thực tế có nhiều hộ gia đình trồng 10 năm vẫn chưa thu hoạch.
Bà Vũ Thị Hải, cán bộ lâm nghiệp Phòng NN-PTNT huyện Sơn Hòa cho hay: Qua kiểm tra các xã trồng rừng kinh tế thì năng suất rất chênh lệch, có hộ trồng chỉ đạt 60 đến 70 tấn/ha, thậm chí dưới 30 tấn/ha. Nguyên nhân khi trồng không chọn giống tốt, ít đầu tư chăm sóc.
Còn ông Phạm Văn Sang, Phó giám đốc Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng (Sở NN-PTNT) cho biết: “Giống là yếu tố quan trọng quyết định năng suất cây trồng, vì vậy cần phải chọn giống sạch, đạt tiêu chuẩn. Tâm lý của nông dân là giảm chi phí được đồng nào mừng đồng nấy nhưng đối với trồng rừng kinh tế, tiết kiệm như vậy sẽ không mang lại hiệu quả”. (Báo Phú Yên 31/10) đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh Kon Tum ban hành văn bản số 2348 về việc thực hiện kế hoạch quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương, chủ rừng tăng cường các biện pháp kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn triệt để tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên địa bàn các huyện Đăk Tô, Tu Mơ Rông và Ngọc Hồi, đặc biệt ở các xã trọng điểm tiếp giáp với khu vực Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô.
Phối hợp chặt chẽ với các cán bộ và chuyên gia Chương trình Lâm nghiệp Việt - Đức hướng dẫn Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành và triển khai Đề án đồng quản lý rừng; Hướng dẫn công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về khai thác gỗ cho cộng đồng địa phương làm nhà rông và các công trình phúc lợi khác… (Kontum.gov.vn 31/10) đầu trang(
Công tác giao rừng, cho thuê rừng được huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) đặc biệt quan tâm, chỉ đạo kịp thời cả về chủ trương, biện pháp, chính sách và kinh phí thực hiện.
Với mục tiêu đến năm 2015 huyện Mù Cang Chải cơ bản hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp (Đề án giao đất, giao rừng) với diện tích trên 6.000ha cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức cộng đồng dân cư thôn bản để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững, đến nay, Đề án đã được thông qua HĐND huyện và trình tỉnh phê duyệt để tiến hành triển khai.
Mù Cang Chải có diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn nên đại bộ phận nhân dân trong huyện đã gắn bó với rừng, đất rừng và nghề rừng từ lâu đời. Vì vậy, công tác giao rừng, cho thuê rừng cho các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư là cần thiết nhằm giúp người dân có đất sản xuất và được hưởng lợi từ chính những cánh rừng mà mình được giao làm chủ.
Để việc thực hiện Đề án có hiệu quả, đúng kế hoạch, thời gian, huyện đã thành lập ban chỉ đạo các cấp thực hiện công tác tuyên truyền đến người dân, triển khai xây dựng Đề án giao rừng, cho thuê rừng giai đoạn 2012 - 2015.
Công tác giao rừng, cho thuê rừng được huyện đặc biệt quan tâm, chỉ đạo kịp thời cả về chủ trương, biện pháp, chính sách và kinh phí thực hiện. Hạt Kiểm lâm huyện đã chủ động chỉ đạo sát sao, kiểm tra, đôn đốc thực hiện ngay từ cấp cơ sở. Ban chỉ đạo thực hiện Đề án hướng dẫn các xã, thị trấn kiểm tra, rà soát trên thực địa toàn bộ diện tích đất rừng hiện có.
Bên cạnh đó, trong quá trình giao đất, thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thực hiện theo đúng nguyên tắc, trình tự thủ tục do pháp luật quy định và gắn với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, đảm bảo dân chủ, công khai.
Huyện chỉ đạo các xã thành lập Hội đồng giao rừng của xã; khi giao rừng phải ưu tiên cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư là người địa phương không có hoặc thiếu đất sản xuất, có năng lực, nhu cầu thực sự để đầu tư sản xuất lâu dài. Diện tích đất lâm nghiệp dự kiến giao, cho thuê của huyện Mù Cang Chải giai đoạn 2012 - 2015 là trên 6.000ha, trong đó, đất có rừng tự nhiên sản xuất giao trên 1.448ha, thuê là 6,20ha; đất có rừng trồng sản xuất giao là 986,64ha, thuê là 115,70ha; đất trống cho thuê trên 3.472ha.
Ông Dương Anh Tuấn - Phó hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Mù Cang Chải cho biết: “Đây là Đề án phù hợp với xu thế phát triển, sẽ giúp người dân nâng cao thu nhập, từng bước xóa đói, giảm nghèo. Tuy nhiên, hiện nay công tác giao rừng, cho thuê rừng trên địa bàn huyện cũng còn gặp khó khăn do diện tích rừng được giao đa số là rừng nghèo kiệt, xa khu dân cư; một số hộ dân chưa thấy rõ những lợi ích từ giao nhận rừng; diện tích dự kiến giao đã có phương án nhưng chưa có số liệu thẩm định, rà soát của tỉnh...”.
Để triển khai Đề án ra diện rộng đạt hiệu quả cao trong những năm tiếp theo, năm 2013 huyện chọn xã Nậm Có làm điểm. Xã Nậm Có có diện tích rừng trên 1.305ha, trong năm 2013 xã giao 163,6ha cho 300 hộ dân.
Ông Sùng A Lử - Chủ tịch UBND xã Nậm Có cho biết: “Thực hiện Đề án giao đất, giao rừng, xã đã xây dựng kế hoạch chi tiết giao rừng cho các thôn, bản, sau đó họp thôn bản tuyên truyền, phổ biến về giao rừng, cho thuê rừng, quyền lợi và nghĩa vụ của chủ rừng… đến toàn thể người dân. Đến nay mọi thủ tục đã xong và đang chờ triển khai”.
Theo kế hoạch, trong những năm tiếp theo, huyện Mù Cang Chải sẽ tiếp tục tiến hành giao trên địa bàn 12 xã, thị trấn. Để đạt được kết quả cao và theo đúng kế hoạch giao đất, giao rừng giai đoạn 2012-2015, UBND huyện Mù Cang Chải đã đề ra các giải pháp về cơ chế chính sách; giải pháp về khoa học - công nghệ; giải pháp về vốn; giải pháp về quản lý rừng sau khi giao và cho thuê...
Cùng đó, huyện tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền mục đích, ý nghĩa, nội dung của Đề án giao đất, giao rừng nhằm tạo sự đồng thuận của nhân dân, giữ vững ổn định an ninh chính trị, góp phần giúp người dân nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo. (Báo Yên 1/11) đầu trang(
Theo quy hoạch đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của huyện Ba Tri là 1.826,5 ha, tập trung ở các xã An Thủy, Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Mỹ, Tân Thủy, tăng 243,1 ha so với hiện trạng. Trong đó đất rừng phòng hộ là 1.809,6 ha, số còn lại là đất rừng sản xuất. Diện tích đất lâm nghiệp tăng là đất rừng phòng hộ.
Trên cơ sở quy hoạch, huyện Ba Tri phải thực hiện một số chỉ tiêu, nhiệm vụ như: bảo vệ diện tích rừng hiện có với hơn 800 ha, trồng mới và chăm sóc 372,4 ha, trồng lại rừng sau khi khai thác 215 ha, trồng hơn 117.000 cây phân tán, chặt nuôi dưỡng và tỉa thưa hơn 28 ha, khai thác trên 251 ha rừng đến tuổi khai thác, trồng 100 ha rừng kết hợp sản xuất lâm – ngư, trồng 150 ha rừng phục vụ phát triển du lịch sinh thái.
Ngoài ra, huyện còn thực hiện các hoạt động hỗ trợ bảo vệ phát triển rừng như: xây dựng vườn ươm cây giống, xây dựng trạm bảo vệ rừng, mua sắm trang thiết bị… (Đài PT - TH Bến Tre 31/10) đầu trang(
Thực hiện phương án giao và cho thuê rừng giai đoạn 2010 – 2014, huyện Nam Đông tổ chức Lễ trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với rừng tự nhiên năm 2013.
Huyện Nam Đông hiện có gần 52.500 ha đất có rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 86%. Trong nhưng năm qua nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, tổ chức tuần tra, truy quét tại rừng đầu nguồn sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch, góp phần ngăn chặn có hiệu quả nạn vận chuyển, mua bán lâm sản, khai thác rừng trái phép.Tuy nhiên do sự thiếu hiểu biết và vì cái lợi trước mắt của một bộ phận người dân cho nên vẫn còn xảy ra tình trạng, chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy.
Đứng trước thực tế đó 2 năm trở lại đây huyện Nam Đông đã tiến hành giao hơn 6.500 ha đất, rừng tự nhiên cho hàng trăm cộng đồng, nhóm hộ và hộ gia đình quản lý của 10 xã trên địa bàn huyện. Đợt này huyện tổ chức trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với rừng tự nhiên cho 1 cộng đồng, 8 nhóm hộ và 23 hộ gia đình ở xã Hương Phú với tổng diện tích hơn 600ha, thời gian sử dụng 50 năm. (Báo TT- Huế 1/11) đầu trang(
Tháng 10 là thời điểm các vùng trung du, miền núi trên địa bàn tỉnh Quảng Nam bắt đầu mùa trồng rừng mới. Các vườn ươm cây giống của các doanh nghiệp, nhân dân đầu tư đủ đáp ứng nhu cầu phủ xanh 12.000ha rừng trồng mới của năm 2013.
Trên địa bàn tỉnh, những cơ sở ươm cây giống có thương hiệu tập trung ở Tiên Phước, Hiệp Đức, Bắc Trà My vì các nơi này có khí hậu mát mẻ, đất đai dồi dào. Tuy nhiên, gần đây do nhu cầu trồng rừng của người dân rất lớn nên nhiều địa phương miền núi đã chủ động ươm cây, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thuê đất sản xuất cây giống.
Tại huyện Bắc Trà My, mùa trồng rừng đang giai đoạn cao điểm, vì thế người dân ồ ạt đi mua giống cây keo, cao su. Trước mùa mưa, ngành chức năng của huyện hướng dẫn các xã, thị trấn xây dựng phương án mua giống đảm bảo chất lượng và số lượng. Hai đơn vị sản xuất cây giống đóng trên địa bàn ở trong tình trạng cung không đủ cầu. Do đó, đây là cơ hội các vườn ươm ở Tiên Phước tung ra thị trường nhiều giống cây bản địa như keo lai hom, keo lá tràm, keo tai tượng, keo chịu hạn, dó bầu…
Trong khi đó, tại huyện Phú Ninh, năm nay sẽ trồng mới 265ha rừng (rừng phòng hộ 105ha, sản xuất 160ha). Theo ông Trần Ngọc Bằng – Phó phòng NN&PTNT huyện Phú Ninh, trên địa bàn có 2 đơn vị sản xuất cây giống, cộng với liên kết các cơ sở ở Tiên Phước, người dân không phải lo nhiều đến giống cây con. Trong bão số 11 vừa qua, nhiều cây keo đổ ngã, nên chắc chắn các xã vùng tây của huyện sẽ mở rộng diện tích vùng trồng, dân sẽ mua giống từ các vùng lân cận.
Theo Phòng NN&PTNT huyện Hiệp Đức, ngoài các vườn ươm quy mô lớn, còn có mô hình tự ươm theo kiểu hộ gia đình xuất hiện phổ biến tại nhiều xã Sông Trà, Hiệp Hòa, Quế Bình, thị trấn Tân An. Các cơ sở ươm giống đã nuôi cấy mô thành công các giống dó bầu, keo và khảo nghiệm nhiều giống cây trồng mới hứa hẹn đem lại giá trị kinh tế cao. Không ít nơi sản xuất đại trà thành công các loại giống bằng giâm hom là phi lao Trung Quốc 601, keo lai…
Theo đánh giá của ngành lâm nghiệp, mùa trồng rừng mới không sợ thiếu hụt về nguồn cây giống, bởi nhiều địa phương chủ động cho doanh nghiệp liên kết với người dân, các vùng trung du liên kết với miền núi mở rộng thị trường cung ứng cây giống. Đặc biệt, nguồn giống bản địa thừa sức đáp ứng lộ trình trồng rừng theo dự án.
Theo Chi cục Lâm nghiệp, để phục vụ cây con giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2013 và trồng dặm, các ban quản lý dự án trồng rừng và các đơn vị sản xuất, kinh doanh giống trên địa bàn tỉnh đã gieo ươm hơn 12 triệu cây con.
Trong đó, keo tai tượng và keo lai hom chiếm hơn 11 triệu cây giống, sao đen và keo lưỡi liềm 1 triệu cây. Các cơ sở sản xuất cây giống đều được kiểm tra, xác nhận nguồn gốc, đánh giá chất lượng định kỳ, trong khi vườn ươm của người dân thì xuất hiện tràn lan, vượt ngoài kiểm soát của cơ quan chức năng.
Năm 2013, ngành chức năng đã cấp chứng chỉ công nhận nguồn gốc lô giống cây trồng lâm nghiệp cho 4 đơn vị gồm Trại phát triển công nghệ giống cây trồng Tam An, Xí nghiệp giống nông lâm nghiệp Chiên Đàn, Xí nghiệp lâm nghiệp Quảng Nam, Công ty TNHH MTV Lâm Quốc Thịnh. Tuy nhiên, mối lo ngại của không ít địa phương là giống cây trồng xâm nhập trôi nổi trên thị trường.
Hiện nay, tại huyện Hiệp Đức, Phước Sơn, Bắc Trà My... nhiều vườn ươm giống cây cao su đua nhau mọc lên, nhưng khâu kiểm định chất lượng chưa được chú trọng đúng mức. Mới đây, khi người dân Phước Sơn mua hàng chục nghìn giống cây cao su kém chất lượng, lập tức cơ quan chức năng đến can thiệp và yêu cầu không được đưa vào sản xuất vì khả năng rủi ro rất cao.
Thực tế, công tác quản lý nhà nước về giống cây lâm nghiệp bộc lộ nhiều lỗ hổng. Lực lượng chức năng mới chỉ tập trung kiểm soát các vườn ươm của các tổ chức, còn các hộ dân thì chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định quản lý giống cây trồng lâm nghiệp. (Báo Quảng Nam 1/11) đầu trang(
Với ưu điểm lên thẳng, ít phân cành, cành nhỏ, không chẻ thân, có rễ cọc chắc chắn, thân dẻo, dai, chịu được gió mạnh, ít gãy đổ nên keo luôn là loại cây được nhiều địa phương lựa chọn để trồng trên diện tích đất đồi núi, nâng cao giá trị kinh tế.
Xuất phát từ những ưu điểm trên của cây keo, năm 2012, Dự án Phát triển ngành lâm nghiệp WB3 của tỉnh đã chọn giống cây keo lai mô dòng BV10, BV16 để thực hiện dự án mô hình trình diễn trồng thâm canh tại 5 huyện, gồm: Thạch Thành, Ngọc Lặc, Triệu Sơn, Như Thanh và Tĩnh Gia.
Mô hình được thực hiện không những xây dựng và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh bao gồm từ khâu chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc và quản lý rừng trồng đến hết chu kỳ kinh doanh, mà còn giúp chuyển giao kỹ thuật trồng rừng và quản lý rừng một cách bền vững cho hộ gia đình trong vùng dự án.
Sau một năm triển khai, từ thực tế các huyện cho thấy, mô hình trồng thâm canh keo lai mô đang có triển vọng tốt, cây có tỷ lệ sống cao, có khả năng sinh trưởng tốt trên các điều kiện lập địa; sau 1 năm, chiều cao trung bình của cây đạt 2,5m, đường kính gốc bình quân đạt 3,5cm.
Là huyện miền núi nên Ngọc Lặc có nhiều tiềm năng để phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên, nhiều năm nay, người dân trong huyện vẫn đang lúng túng trong việc tìm loại cây lâm nghiệp phù hợp, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Mô hình cây keo lai mô dòng BV10, BV16 được huyện đưa vào vùng đất xã Phùng Giáo trồng thử nghiệm với quy mô 1 ha.
Bà Lê Thị Nhi, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Ngọc Lặc, cho biết: Tuy mô hình mới triển khai được 1 năm, song bước đầu đã cho những tín hiệu đáng mừng. Cây keo lai mô không những cho tỷ lệ sống cao mà tốc độ sinh trưởng, phát triển còn vượt trội hơn các giống keo khác. Hiện, 1 ha cây keo lai mô trồng năm 2012 tại xã Phùng Giáo đã có chiều cao gần 3m và đường kính gốc đạt khoảng 4cm. Với tốc độ phát triển như hiện tại, hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với các giống keo khác.
Không chỉ phù hợp với vùng có chân đất đồi núi ở các huyện miền núi, mô hình trồng keo lai mô còn thích hợp với vùng đất bán sơn địa tại huyện Triệu Sơn và vùng đồng bằng của huyện Tĩnh Gia. Theo một số hộ dân tham gia mô hình cho biết: Cây keo lai mô không cần chăm sóc nhiều, nhưng tốc độ phát triển khá nhanh, thân mập. Tuy nhiên, do nhánh nhỏ nhiều hơn các giống keo lai Úc, tai tượng, nên phải mất nhiều công lao động cho việc chặt bỏ nhánh.
Từ kết quả ban đầu của mô hình trồng keo lai mô không những đem đến một loại cây lâm nghiệp chống xói mòn đất, tạo cảnh quan môi trường sinh thái, phù hợp với nhiều chân đất có nhiều địa hình khác nhau, mà còn hứa hẹn sẽ đem lại cho bà con nông dân một loại cây lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, góp phần tăng thu nhập cho nhiều hộ dân.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay trong việc nhân rộng mô hình đó là cây giống có giá bán khá cao so với các loại keo gieo ươm từ hạt thực sinh đang có mặt trên thị trường, trong khi kết quả đem lại mới chỉ là bước đầu, chưa có hiệu quả kinh tế cụ thể. Vì vậy, để mô hình được nhân rộng, Nhà nước cần có chính sách trợ giá để người trồng rừng có thể tiếp cận với những loại cây lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao. (Báo Thanh Hóa 1/11) đầu trang(
Chỉ về phía đồi sơn đang độ thu hoạch và đồi chè xanh mát mắt, Bí thư đoàn xã Long Cốc (Tân Sơn) Hà Văn Nhạt cho tôi biết: “Cơ ngơi này đều nằm trong tay chàng trai sinh năm 1990, Phùng Sức Vượt. Hiện Vượt đang làm Phó Bí thư Chi đoàn khu Bông 3, đây là gương điển hình trong phát triển kinh tế được đoàn viên thanh niên trong xã học tập”.
Tốt nghiệp THPT, xét lực học và điều kiện của gia đình, Vượt quyết định không thi đại học. Quyết định này của Vượt lúc đầu không được bố mẹ ủng hộ. Cả gia đình vận động Vượt thi cao đẳng, đại học nhưng anh đã thuyết phục được bố mẹ để cùng tham gia phát triển kinh tế với gia đình.
Vượt cho biết: “Thời gian học THPT em cũng đã suy nghĩ rất nhiều trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Việc học tiếp cũng là điều tốt, nhưng thực sự em cảm thấy gắn bó với núi rừng và muốn mang sức trẻ của mình lập nghiệp tại địa phương. Khi thấy xã Long Cốc có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng cây lâm nghiệp và chăn nuôi”. Thời điểm này gia đình Vượt đã nhận thầu diện tích đồi rừng để trồng sơn và chè.
Từ những kinh nghiệm tích lũy được, Vượt đã mày mò tìm hiểu về kỹ thuật trồng cũng như chăm sóc, ươm giống cây sơn. Kết hợp giữa kinh nghiệm và ứng dụng kỹ thuật với hơn 1.000 gốc sơn 7 năm tuổi do Vượt chăm sóc đã cho năng suất cao.
Hiện Vượt đang nghiên cứu để mở rộng diện tích và trồng mới khoảng 1.300 gốc sơn. Bên cạnh phát triển diện tích cây sơn, gia đình cũng duy trì gần 1 ha chè với khoảng 2 vạn cây. Vượt chia sẻ: “Để lấy ngắn nuôi dài, gia đình em phát triển thêm chăn nuôi với 15-20 con lợn thịt, và khoảng trên 100 con gà nhiều cựa”.
Lập gia đình năm 2010, hiện vợ chồng Vượt đã có một con gái 2 tuổi. Mới ngoài hai mươi, Vượt đã có trong tay một gia tài lớn với hàng nghìn gốc sơn và chè, đàn lợn và gà luôn duy trì ở mức vài trăm con và gần 5 sào ao nuôi cá thịt. Tổng thu nhập của gia đình Vượt hiện nay đạt từ 180-200 triệu đồng/năm.
Không chỉ là điển hình phát triển kinh tế của địa phương, trong vai trò là Phó Bí thư Chi đoàn Bông 3, Vượt đã cùng Ban chấp hành chi đoàn quan tâm tạo việc làm, hướng nghiệp cho gần 20 đoàn viên thanh niên thông qua việc chia sẻ kinh nghiệm trong lựa chọn mô hình, cây, con giống phù hợp và hướng dẫn về kỹ thuật. (Báo Phú Thọ 1/11) đầu trang(
Ông Huỳnh Ngọc Thiệu – Trưởng phòng NN&PTNT huyện Bắc Trà My cho biết, năm nay, riêng dự án WB3, nhân dân các xã Trà Đông, Trà Dương, Trà Nú, Trà Kót, Trà Giang, Trà Sơn và thị trấn Trà My có nhu cầu phủ xanh hơn 1.000ha, trong khi tỉnh chỉ giao trồng 720ha.
Để phục vụ mùa trồng rừng mới, chính quyền đã chỉ đạo quyết liệt công tác đo đạc, giải thửa, thiết kế từng lô trồng rừng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Ông Thiệu cho hay: Để bảo tồn nguồn gen giống cây quế, địa phương hỗ trợ 200 nghìn cây. Riêng giống cây cao su, các doanh nghiệp thừa sức đáp ứng trồng hơn 700ha. Các vườn ươm cây giống tại chỗ không thể cung ứng đủ nên địa phương đã liên kết với các địa điểm cung ứng giống cây trồng lâm nghiệp ở Tiên Phước để cho bà con chủ động nguồn giống. (Báo Quảng Nam 1/11) đầu trang(
Vườn quốc gia (VQG) Mũi Cà Mau ở huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) là một trong những khu rừng ngập mặn nguyên sinh lớn ở Việt Nam và là khu ramsar của thế giới. Thế nhưng, hiện nay khu rừng này đang bị tàn phá nặng nề.
Ông Đặng Minh Lâm - trưởng Phòng lâm sinh thủy sản VQG Mũi Cà Mau - thừa nhận: “Thời gian gần đây tình hình chặt phá cây rừng diễn ra phức tạp”. Nguyên nhân theo ông Lâm, do năm nay nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, nghêu giống không xuất hiện nên người dân không ra biển mưu sinh mà vào rừng chặt cây trái phép đem về hầm than để bán.
Theo ông Lâm, xung quanh VQG Mũi Cà Mau có trên 2.000 hộ dân sinh sống, đa số đời sống rất khó khăn, nhiều người trong số đó không có ruộng đất, cuộc sống chỉ bám vào biển hoặc vào rừng.
“Nếu dân cư sống ven rừng có công ăn việc làm, có đất sản xuất thì khi đó mới ngăn chặn được nạn khai thác rừng trái phép. Tại VQG Mũi Cà Mau, cán bộ kiểm lâm mỏng, hệ thống sông ngòi chằng chịt nên rất khó quản lý, ngăn chặn người dân vào rừng chặt phá cây trái phép” - ông Lâm nói.
Khi PV đề cập việc lâm tặc móc nối với cán bộ kiểm lâm VQG Mũi Cà Mau vào rừng khai thác trái phép, ông Lâm từ chối trả lời và nói hiện vụ việc công an đang điều tra.
Ông Lâm chỉ thừa nhận liên quan đến việc mất rừng với số lượng lớn, giám đốc VQG Mũi Cà Mau đã xử lý kỷ luật cảnh cáo hàng loạt cán bộ kiểm lâm như các ông: Đỗ Thành Nhiệm - trạm trưởng trạm kiểm lâm Cái Mòi, Quách Tấn Kháng - trạm trưởng trạm kiểm lâm kênh 5. Và mới đây nhất là cách chức trạm trưởng trạm kiểm lâm Trại Xẻo là ông Trương Thanh Tâm và trạm phó Trần Thái Sanh...
Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, đoàn kiểm tra quản lý và bảo vệ rừng tại VQG Mũi Cà Mau phát hiện một số cán bộ kiểm lâm vào rừng thu gom cây đã bị lâm tặc chặt đem đi bán (bán không hóa đơn). Đoàn kiến nghị UBND tỉnh yêu cầu VQG Mũi Cà Mau thu hồi số tiền này và có hình thức kỷ luật nghiêm. Hiện Công an tỉnh Cà Mau đang xác minh thông tin lâm tặc móc nối với cán bộ kiểm lâm VQG Mũi Cà Mau vào rừng chặt 1.500 cây đước bán lấy tiền chia nhau.
Ngày 28-10, PV liên hệ với văn phòng UBND tỉnh Cà Mau đăng ký làm việc với lãnh đạo UBND tỉnh về việc quản lý và bảo vệ rừng tại VQG Mũi Cà Mau. Một lãnh đạo văn phòng UBND tỉnh Cà Mau cho biết: “UBND tỉnh còn đợi công an tỉnh báo cáo quá trình xác minh thông tin có hay không việc lâm tặc móc nối với cán bộ kiểm lâm VQG Mũi Cà Mau vào rừng khai thác trái phép. Do phía công an tỉnh chưa có báo cáo chính thức nên chưa thể cung cấp thông tin được. Quan điểm của UBND tỉnh là cương quyết xử lý nghiêm nếu phát hiện sai phạm”.
Vị lãnh đạo văn phòng UBND tỉnh Cà Mau cũng xác nhận với chúng tôi có chuyện cán bộ kiểm lâm vào rừng thu gom cây đã bị lâm tặc chặt bỏ lại đem đi bán. Các cán bộ kiểm lâm liên quan đến vụ việc trên đã bị kỷ luật. (Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang(
Khi vận động đồng bào di dời tái định cư để lấy chỗ làm thuỷ điện, chính quyền và chủ đầu tư bao giờ cũng vẽ ra viễn cảnh sung túc hơn tại nơi ở mới. Tuy nhiên, thực tế thì ngược lại…
Để xây Thủy điện Sông Ba Hạ, riêng tại huyện miền núi Sơn Hòa (Phú Yên) đã có 98 hộ dân buộc phải nhường hơn 890ha đất để di dời tái định cư. Cùng với cấp một phần tiền đền bù, Công ty CP Thủy điện Sông Ba Hạ và chính quyền sở tại đã tổ chức san ủi 410ha đất cấp cho dân làm lúa nước.
Thế nhưng 2 công trình thủy lợi là cống tưới tự chảy xã Suối Trai và trạm bơm tự chảy Buôn Lé (xã Krông Pa) đến nay vẫn chưa hoàn thành, trong lúc thủy điện đã hoàn công 4 năm (2009). Vậy là dân tái định cư không thể làm lúa…
Ông Nay Hiếp – Bí thư Đảng ủy xã Krông Pa cho hay, đời sống của 43 hộ đồng bào dân tộc thiểu số của xã (bị thu hồi đất xây Thủy điện Sông Ba Hạ) hiện đang hết sức khó khăn do thiếu đất sản xuất.
Vì túng đói, nhiều đồng bào đã liều mình phá rừng làm rẫy, và kết cục là bị tù tội. Bà Kso Hờ Chai (51 tuổi, ở buôn Xây Dựng, Suối Trai) vừa ở tù gần 3 năm do phá rừng làm rẫy. Gia đình bà vốn thuộc diện thóc lúa đầy nhà trước khi nhường đất cho lòng hồ Thủy điện Sông Ba Hạ. Đến khi về khu tái định cư (TĐC), gia đình không còn mảnh đất nào để làm rẫy, trong lúc đất ruộng lúa nước quá xấu và trạm thủy lợi “treo” nước. Không chịu cảnh 7 đứa con thiếu đói, bà Hờ Chai vác rựa phá rừng làm rẫy, thế là tòa xử tù.
Còn theo Sở Y tế Phú Yên, trước khi có Thủy điện Sông Ba Hạ, tỉnh này thuộc loại “trắng” ma túy, bỗng bất ngờ phát hiện hàng chục công nhân tại đây sử dụng ma túy; nhiều người trong số họ bị nhiễm HIV/AIDS và hiện đã có người tử vong… Trạm Y tế Suối Trai cho hay, hầu hết mấy chục cháu “con thủy điện” đều bị suy dinh dưỡng…
Theo báo cáo của UBND tỉnh Quảng Nam, đời sống và sản xuất của người dân ở 11 điểm TĐC tập trung tại các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo tại đây chiếm đến 72%, đa số là đồng bào dân tộc.
Nguyên nhân chính là do thiếu đất sản xuất. Ông Huỳnh Ngọc Thiệu - Trưởng phòng NNPTNT huyện Bắc Trà My cho biết: “Để nhường đất xây dựng Thuỷ điện Sông Tranh 2, từ năm 2007 tỉnh Quảng Nam thực hiện thu hồi, giải toả, TĐC cho hơn 1.196 hộ ở Bắc Trà My và?Nam Trà My. Có gần 2.500ha đất sản xuất nông nghiệp của số hộ dân nói trên bị thu hồi để làm thủy điện.
Đến các khu TĐC Thuỷ điện Sông Tranh 2 (Quảng Nam) không chỉ thấy dân kêu cứu mà ngay cả cán bộ cũng âu sầu. Ông Hồ Văn Lợi - Chủ tịch xã Trà Đốc than phiền: “Về nơi ở mới, sống kham khổ quá, đã có 24 hộ dân ở các khu TĐC Thủy điện Sông Tranh 2 quay về làng cũ, dựng nhà sàn, làm ăn sinh sống. Xã không thể ngăn cản, thuyết phục được, vì đồng bào ra đi đã nhiều năm rồi mà vẫn không có đất sản xuất, sống lay lắt bằng tiền hỗ trợ, được ngày nào hay ngày ấy...”.
Có 1.454 hộ dân thuộc 7 xã của huyện A Lưới (Thừa Thiên- Huế) bị ảnh hưởng bởi công trình Thủy điện A Lưới (do Công ty CP Thủy điện Miền Trung làm chủ đầu tư). Trong đó, 192 hộ nằm trong diện phải di dời TĐC.
Người dân bị ảnh hưởng bởi dự án thủy điện này đang nghèo dần bởi mất đất sản xuất, những hộ được cấp đất ở khu TĐC thì đất toàn là... sỏi đá. Ông A Viết Cầm- Chủ tịch UBND xã Hồng Thái cho biết: 750ha đất ở khu TĐC Kăn Tôm toàn là “đất chết”. “Dân đến đó không sản xuất được vì đất cằn cỗi, ăn hết tiền đền bù rồi thì không biết lấy chi mà sống”- ông Cầm nói.
Cũng như ông Cầm, lãnh đạo nhiều xã khác có dân bị ảnh hưởng bởi công trình Thủy điện A Lưới cũng bất bình trước kiểu tổ chức định canh, định cư cho dân theo cách “đem con bỏ chợ” của chủ đầu tư.
Ông Nguyễn Quốc Cường- Phó Chủ tịch UBND huyện A Lưới cho biết: Đất sản xuất ở khu TĐC Kăn Tôm cằn cỗi nên người dân gặp rất nhiều khó khăn khi đến sinh sống và canh tác. Có khoảng 40ha đất đá sỏi ở đây không khai hoang được, số khai hoang được rồi thì hiệu quả sản xuất rất thấp.
“Khó nhất hiện nay là công trình thủy lợi và nước sinh hoạt phục vụ cho người dân. Một tháng nay dân khát nước sinh hoạt, huyện điện nhắc chủ đầu tư mà họ hứa mãi”- ông Cường bức xúc. (Nông Thôn Ngày Nay 31/10) đầu trang(
Thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa đã triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng buôn bán, kinh doanh, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh.
Từ đầu năm đến tháng 10-2013, lực lượng kiểm lâm Thanh Hóa đã kiểm tra, phát hiện, xử lý hành chính 832 vụ buôn lậu lâm sản, giảm 8 vụ so với cùng kỳ năm 2012. Tịch thu 165,586 m3 gỗ tròn các loại; 489,866 m3 gỗ xẻ các loại; 15.490 kg cành nhánh, gốc rễ loại quý hiếm; 1.311 kg động vật hoang dã; 259 kg sản phẩm động vật hoang dã; 493 con chim các loại; 38 xe máy; 16 cưa xăng. Thu nộp tài khoản tạm gửi chờ xử lý 21,17 tỷ đồng. Đáng chú y, các vụ vi phạm trên có tới 269 vụ là người tỉnh ngoài, tăng 62 vụ so với cùng kỳ năm 2012...
Những tháng còn lại của năm 2013, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tiếp tục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc triển khai kế hoạch phối hợp với các lực lượng công an, quân sự, biên phòng, Chi cục Quản lý thị trường tỉnh nắm bắt kịp thời diễn biến hoạt động buôn lậu, nhằm đấu tranh ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm giữ ổn định về trật tự quản lý lâm sản. (Báo Thanh Hóa 31/10) đầu trang(
Ngày 30/10, Công an Tây Ninh cho biết vừa triệt phá thành công đường dây vận chuyển động vật hoang dã từ Campuchia về, bắt quả tang và thu giữ hơn 45kg rùa, rắn.
Qua công tác điều tra nắm tình hình, lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an Tây Ninh xác định có một nhóm đối tượng chuẩn bị vận chuyển động vật hoang dã vào địa bàn Tây Ninh.
Đến ngày 29/10, Công an Tây Ninh cử lực lượng chia làm 2 tồ đột kích vào các điểm của đường dây này. Tổ một đón lõng bắt giữ Lê Tuấn Hoàng (ở xã Tân Lập, huyện Tân Biên) đang vận chuyển 9 kg cá thể rùa (7 con) và 11kg rắn ráo trâu. Tổ thứ 2 đột ngột kiểm tra nhà số 1324, ấp Tân Đông 2, xã Tân Lập, huyện Tân Biên phát hiện Nguyễn Văn Hòa (ngụ xã Tân Hội, huyện Tân Châu) đang chuẩn bị vận chuyển 11 cá thể rắn hổ mang chúa nặng khoảng 25,6 kg.
Theo Công an Tây Ninh, đây là động vật rừng nguy cấp quý, hiếm nhóm IB được Viện Sinh thái học Miền Nam giám định. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận số động vật trên được nhận từ biên giới Campuchia đem về nhà số 1324. Từ đây, Hòa và Hoàng tiếp tục vận chuyển đi tiêu thụ. Tuy nhiên, Hòa và Hoàng khai chỉ vận chuyển thuê cho ông Huỳnh Văn Na và Huỳnh Văn Cảnh.
Hiện cơ quan công an đang tiếp tục điều tra làm rõ vụ việc. (Dân Trí 31/10) đầu trang(
Ngày 31-10, ông Trần Minh Thu, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa, cho biết UBND tỉnh Khánh Hòa về cơ bản đã đồng ý mức xử phạt hành chính đối với 2 đối tượng chứa gỗ quý không rõ nguồn gốc.
Theo đó, sẽ xử phạt ông Phạm Thế Đoán (trú thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh) 75 triệu đồng, bà Trương Thị Diệu Hương (vợ ông Nguyễn Như Thuận, phó bí thư Huyện ủy Khánh Vĩnh) 50 triệu đồng.
Trước đó ngày 7-4, đội cơ động của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa phát hiện và bắt giữ tại cửa hàng đồ mỹ nghệ Bến Lội do bà Hương làm chủ (xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh) gần 3m3 gỗ thuộc nhóm 2A (nhóm nguy cấp quý hiếm) và gần 10m3 gỗ nhóm thông thường. Ông Đoán là người đứng ra nhận toàn bộ số gỗ này.
Cách xưởng mỹ nghệ khoảng 50m, tổ công tác phát hiện gần 13m3 gỗ đang cất giấu ở mép suối, trong đó có gần 6m3 gỗ thuộc nhóm 2A. Số gỗ này đến nay vẫn không có ai đứng ra nhận. (Người Lao Động 1/11) đầu trang(
Từ nguồn tin báo của quần chúng, ngày 30.10, tại khu vực thôn 5 (xã Phước Mỹ, huyện Phước Sơn). Lực lượng Công an huyện Phước Sơn bắt quả tang đối tượng Lê Văn Minh (trú TP.Đà Nẵng) đang điều khiển xe tải chở 28 phách gỗ được ngụy trang bằng các loại bao vải rách nát.
Qua kiểm tra, khối lượng gỗ bị thu giữ là 4,7m3 xoan đào. Tại cơ quan Công an huyện Phước Sơn, Lê Văn Minh thừa nhận hành vi mua bán, vận chuyển gỗ trái phép và cho biết đã mua số gỗ trên tại khu vực suối Đăk Gà (xã Phước Mỹ), khi đang trên đường vận chuyển về Đà Nẵng để tiêu thụ thì bị bắt giữ. Vụ việc đang được cơ quan công an tiếp tục điều tra làm rõ. (Báo Quảng Nam 31/10) đầu trang(
Ngày 30/10, ông Nguyễn Văn Minh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Vũ Quang cho biết, vào khoảng 23h30 ngày 29/10, lực lượng nhận được tin báo của quần chúng nhân dân sẽ có xe vận chuyển gỗ lậu đi qua địa bàn. Ngay lập tức, Hạt kiểm lâm Vũ Quang đã huy động 10 cán bộ lực lượng kiểm lâm tiến hành chốt chặn.
Sau khi phát hiện 2 đối tượng đang sử dụng xe kéo vận chuyển gỗ, lực lượng kiểm lâm đã ra tín hiệu để kiểm tra. Tuy nhiên, sau khi bị chặn thì 2 đối tượng này liền gọi điện cho đồng bọn đến để ứng cứu.
Chỉ 1 lát sau, xuất hiện 4 đối tượng tay cầm theo dao đến khống chế, thị uy lực lượng kiểm lâm nhằm giúp đồng bọn tẩu thoát. Giữa 2 bên đã xảy ra giằng co, lâm tặc vẫn hết sức hung hãn và 1 đồng chí kiểm lâm bị đánh vào đầu.
Trước tình hình trên, ông Nguyễn Văn Minh liền gọi điện xin giúp đỡ từ công an huyện Vũ Quang. Sau khi có sự xuất hiện của 8 chiến sỹ công an cùng lực lượng kiểm lâm thì nhóm lâm tặc đã nhanh chóng bỏ lại xe gỗ rồi tẩu thoát.
Ông Nguyễn Văn Minh cho biết, hiện toàn bộ tang vật gồm là 1 chiếc xe kéo, gần 1,5m3 gỗ chủ yếu là gỗ thuộc nhóm 5 và 3 con dao đã bị thu giữ. (Dân Trí 31/10) đầu trang(
Gần đây một số phương tiện thông tin phản ánh người dân xã An Toàn, huyện An Lão (đổ xô đi khai thác "sâm rừng". Phóng viên TTXVN đã đến các thôn 1, 2 và 3 của xã An Toàn, gặp người dân và cán bộ huyện An Lão, xã An Toàn để tìm hiểu sự thật về vụ việc này. Tuy nhiên, chính quyền và nhiều người dân địa phương khẳng định không có chuyện người dân xã An Toàn đổ xô đi khai thác "sâm rừng".
Ông Đinh Công Niên, Chủ tịch xã An Toàn cho biết: Gần đây có thông tin một số người dân trong xã đi tìm một loại cây được gọi cây "sâm rừng" nhưng thực chất họ cũng không biết là loại sâm gì. Dựa trên đặc tính phát triển của cây nên người dân gọi là cây sâm "bảy lá một bông”. Loại cây này thường sống dưới đất sình lầy hoặc ven khe đá lớn dưới suối. Hàng năm cứ vào tháng 9-10, cây bắt đầu nảy mầm và mọc thân mềm (dạng giống như thân cây bông súng), có chiều cao khoảng từ 30-35 cm và có bảy lá, một bông.
Tuy nhiên, sau thời gian ngắn ra lá và bông, cây sẽ rụng hết cả lá và bông rồi "nằm lì" dưới đất và đợi vào đúng thời điểm năm sau mới lại nẩy mầm, ra lá và bông. Chính do đặc điểm sinh trưởng này của cây, nên rất khó tìm. Chỉ có ít người trong làng chuyên đi gài bẫy săn bắt thú rừng mới để ý phát hiện sau khi được một số người từ tỉnh ngoài đưa mẫu để tìm kiếm và thu mua với giá từ 150.000 - 350.000 đồng/kg.
Ông Bùi Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện An Lão cho biết: Thông tin người dân xã An Toàn đổ xô đi khai thác sâm rừng (sâm bảy lá, một bông) là không chính xác. Bởi thực chất, hiện nay cũng chưa có nhà khoa học nào kết luận đây là một trong các loài sâm quí.
Tại rừng An Toàn nói riêng và huyện An Lão nói chung, dưới tán lá rừng có nhiều loại thảm thực vật, trong đó không ít loài thuốc quí nhưng loài sâm rừng (bảy lá, một bông) rất ít và khó tìm. Vì vậy, không phải người dân địa phương nào cũng biết và đi tìm. Cũng theo ông Dũng, vì ít và khó tìm nên ít người bỏ công tìm kiếm. (Tin Tức 1/11) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Sáng chủ nhật, bên bàn cà phê, mấy người luống tuổi chuyện trò tri kỷ cùng nhau; vãn chuyện quan trường, con cái, cả nhóm chuyển sang chuyện… chơi đồ gỗ. Người khoe mới sắm được đôi độc bình lớn bằng chiêu liêu, người kể tậu được bộ bàn ghế kiểu bằng gốc cây, người nói sưu tầm được con cóc bằng gỗ bằng lăng nu…
Ông bạn là Giám đốc một doanh nghiệp ghé vào tai tôi: “Mấy thứ đó thường lắm, bây giờ kiểu chơi khác rồi. Lát nữa tôi chở ông đi, nếu ưng thì “thửa” luôn”. (ý nói là ưng thì mua luôn).
Lòng vòng mấy đoạn đường hẻm mới tới nơi cần tới. Ðó là một khuôn viên có tường rào bao quanh, cổng lớn đóng kín, cổng nhỏ mở hờ; phía sau khoảnh sân để dăm bảy chậu mai là những căn nhà ở thông thường… Thế nhưng, đi sâu lại phía sau thì lại là một cơ sở chế biến đồ gỗ đích thực với xưởng, kho và rất nhiều gỗ được phủ bạt kín.
Người quản lý cơ sở này dường như đã quen với bạn tôi nên vui vẻ dẫn đi xem và giới thiệu hàng. Trong căn phòng rộng, có cơ man là đồ bằng gỗ quí nhưng lại không chế tác cầu kỳ theo kiểu “tinh chế”.
Ðó là những phiến gỗ cà te vuông thành, sắc cạnh dài ngót chục mét, kê ở cạnh tường như chiếc ghế Kpan trong nhà dài của người Ê đê; một bộ sập bằng 2 phiến gỗ pơ mu, mỗi miếng dài hơn 3 m; rộng gần 1 m, dày cỡ 20 cm; một bộ “bàn trà” với cái “bàn” là một phiến gỗ hương dài khoảng 3 m, rộng ngót 1 m, dày ước khoảng 25 cm được kê trên mấy khúc gỗ đã được tiện; xung quanh là những cái “ghế” là khúc gỗ tiện, đường kính tới 40 cm; một cái “kệ” để tivi nhưng chỉ là một phiến gỗ cẩm thị dài hơn 2 m, rộng chừng 0,5 m, dày khoảng 30 cm, đặt trên một cái giá bằng gỗ…
Rồi bàn đọc sách, bàn trang điểm… tất cả đều là những phiến bằng gỗ quí, mỗi thứ có muốn di chuyển cũng phải vài người chung tay.
Tôi hỏi thăm dò: “Chỉ có từng đây thôi sao?”. Người quản lý không giấu giếm: “Ðây là hàng mẫu và cũng là hàng bán, bác mua thì bọn cháu bán, nếu ưng kiểu dáng, loại gỗ, kích cỡ thế nào thì đặt… Mấy thứ này là loại thông thường, chỉ dăm bảy chục triệu một món; chứ có những bộ sập, bộ bàn trà làm bằng thủy tùng, hoàng đàn… thì có trị giá dăm trăm triệu một món ấy chứ. Tiền nào của đó, bác ạ”.
Ông bạn của tôi nói: “Bây giờ mốt chơi mới là thế đấy. Có tiền phải “tậu” những thứ này, chứ nay mai làm gì còn nữa.”. Thế rồi, bạn tôi cao hứng kể về những người bạn quen của chúng tôi, rằng ông A đã sắm được cái gì, ông B đã mua được những thứ gì… Tất cả đều là gỗ quí nguyên khối cả; có người chỉ riêng đồ gỗ thôi cũng giá trị tiền tỷ.
Trên đường về, tôi thắc mắc: “Gỗ lạt thế này thì rừng làm gì còn? Mà sao họ vận chuyển về được?”. Bạn tôi cười: "Khi người ta có tiền thì thường là có nhu cầu tiêu dùng. Trong xã hội thì đã có cầu, ắt là có cung thôi. Chỗ mình xem vừa rồi, toàn gỗ lậu cả đấy; nhưng gỗ lậu khi đã thành giường, thành bàn ghế rồi, kê ở trong nhà rồi thì ai kiểm tra, ai bắt.”.
Quả là như thế, lâu nay, dù các cấp, các ngành đã có nhiều giải pháp, chế tài để hạn chế nạn chặt phá rừng, nhất là nạn săn tìm gỗ quí; thế nhưng gỗ quí từ rừng tự nhiên vẫn âm thầm “chạy” về phố, làm đẹp, làm sang cho những căn nhà mà chủ nhân của nó là người có thú chơi và lắm tiền. Mà theo nhận định chủ quan thì số người như thế này dường như đang ngày một nhiều. Thế thì, rừng ơi, liệu gỗ quí mọc trong rừng còn xanh được bao lâu nữa? (Báo Đăk Nông 31/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Nhóm các nhà khoa học vừa tìm thấy ba loài bò sát nguyên thủy mới trong khu rừng nhiệt đới hẻo lánh, xa xôi ở tiểu bang Queensland, Úc.
Nhóm nghiên cứu do tiến sĩ Conrad Hoskin thuộc Đại học James Cook và tiến sĩ Tim Laman thuộc Đại học Harvard dẫn đầu. Họ đã thực hiện chuyến thám hiểm tại khu rừng nhiệt đới Cape Melville, Úc trong vòng bốn ngày.
Trong chuyến thám hiểm, các nhà khoa học đã tìm thấy nhiều sinh vật mới, nhưng đặc biệt nhất là phát hiện ba loài bò sát nguyên thủy mới, đó là tắc kè đuôi lá, ếch thích “quan hệ” trong mưa và thằn lằn da vàng.
Tính đến thời điểm hiện tại, tắc kè đuôi lá mới vừa phát hiện được cho là hình thức nguyên thủy nhất của loài này. Chúng có đời sống săn mồi về đêm và thường ẩn mình vào ban ngày trong những tảng đá. Loài tắc kè mới này có đôi chân dài - đặc điểm tiến hóa nhằm thích nghi với môi trường sống, giúp chúng dễ dàng di chuyển, chạy nhảy trong địa hình đá. Đây cũng là loài bò sát được các nhà khoa học lưu ý nhất trong chuyến thám hiểm lần này.
Loài thứ hai là thằn lằn da vàng thuộc loài thằn lằn bóng chân ngắn, nhưng nó khá đặc biệt và chưa từng thấy trước đây. Chúng thường săn mồi vào ban ngày, trên những tảng đá phủ đầy rêu. Hình thức săn mồi rất độc đáo, tiếp cận con mồi bằng cách nhảy quanh nó.
Loài thứ ba là ếch Blotched Boulder, được nhìn thấy trên những tảng đá trong khu rừng. Theo các nhà khoa học, loài ếch này thường sống dưới những tảng đá ẩm ướt trong mùa khô. Còn mùa hè ẩm ướt, chúng thường xuất hiện trên những tảng đá này, kiếm ăn và giao phối trong mưa. Đặc biệt, chúng không cần ao và có thể đẻ trứng trong các vết nứt ẩm của đá.
Hiện nay, các nhà khoa học chỉ khám phá 1/10 khu rừng Cape Melville. Vì vậy, các nhà khoa học hi vọng sẽ phát hiện nhiều loài động vật mới hơn nữa trong những chuyến trở lại đây vào thời gian tới. (Tuổi Trẻ 31/10) đầu trang(
Bé gái 14 tuổi tên là Nirmala Toppo bỗng dưng trở nên nổi tiếng ở bang Orissa thuộc miền đông Ấn Độ sau khi em dồn thành công một đàn voi dữ khỏi thành phố về rừng.
Vào một ngày tháng 6 vừa qua, hoảng sợ bao trùm thành phố công nghiệp Rourkela khi một đàn voi hoang từ rừng rậm tiến vào các khu dân cư cạnh đó. Nirmala tuy nhỏ nhưng đã hành động như một người hùng, giúp người dân địa phương dồn được đàn voi dữ trở về rừng giúp.
Nirmala đã đi bộ nhiều cây số cùng đàn voi để hướng dẫn chúng ra khỏi thành phố. Đôi chân em phồng giộp và bị nhiễm trùng "Giờ thì đã hết viêm nhiễm và vết thương của cháu gần như đã khô rồi", Nirmala cho biết khi vẫn còn đang nằm trên giường bệnh viện, nơi em được điều trị dưới sự bảo trợ của Hội Chữ thập Đỏ.
Các quan chức Sở Lâm nghiệp Orissa đã phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ Nirmala, người ở bang Jharkhand cạnh đó, khi họ không thể nào xua được đàn voi ra khỏi thành phố.
Một quan chức lâm nghiệp tên là PK Dhola kể: "Khi đàn voi tiến vào thành phố, chúng tôi đã cố hết sức để hạn chế chúng di chuyển. Có tới 11 con, trong đó có 2 con cái. Chúng tôi đã lùa được chúng vào một sân bóng ở địa phương nhưng không biết làm thế nào để dồn chúng về rừng. Thật là một việc rất khó".
Dhola cho biết cuối cùng các nhà chức trách đành phải nhờ đến Nirmala. "Chúng tôi nghe tin một bé gái dân tộc sống ở Jharkhand biết nói chuyện với voi và có thể đưa chúng về rừng. Chúng tôi đã gọi cho bố của em và em cùng một số người nữa trong cùng bộ tộc đã đến". Dhola kể lại và cho biết chính quyền bang Orissa đã trả tiền cho Nirmala vì những gì em đã làm được.
Nirmala cho biết em nói chuyện với đàn voi bằng tiếng Mundaari - ngôn ngữ bộ lạc địa phương - và thuyết phục đàn thú trở lại nơi chúng sinh sống. "Trước tiên cháu cầu nguyện và sau đó cháu trò chuyện với đàn voi. Chúng hiểu những gì cháu nói. Cháu bảo rằng 'đây không phải nhà của chúng mày. Chúng mày nên trở về nơi chúng mày thuộc về", Nirmala kể.
Nirmala cho biết thêm, mẹ của em đã bị voi hoang giết chết và chính khi đó em đã quyết định học cách đuổi chúng đi.
Khi hành động, Nirmala được sự trợ giúp từ bố và một nhóm các bạn nam cùng làng. "Mọi người vây quanh đàn voi. Sau đó cháu tới gần chúng và cầu nguyện rồi nói với chúng".
Nhưng một số người không tin lắm vào hành động của Nirmala. Nhà hoạt động Rabi Pradhan cho rằng không có bằng chứng khoa học nào cho thấy voi hoang có thể hiểu được những gì con người nói. Theo ông, bé gái tự nhận nói chuyện với voi bằng ngôn ngữ bộ tộc nhưng không có cơ sở nào chứng tỏ đàn voi làm đúng theo lời em nói.
Một số người khác giải thích theo hướng những người dân tộc và voi từ lâu thường sống chung với nhau ở trong rừng nên người dân tộc biết cách xử lý đàn voi.
Có tới hơn 3.000 con voi sống trong các khu rừng ở ba bang Jharkhand, Orissa và Chhattisgarh, trải dài khắp miền trung và miền đông Ấn Độ. Tuy nhiên trong thập niên qua, khu vực này đã trở thành tâm xung đột giữa người và động vật. Theo Bộ Môi trường và Lâm nghiệp Ấn Độ, hơn 200 con voi và khoảng 800 người đã thiệt mạng trong vòng 10 năm qua. (Vietnamnet.vn 1/11) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||