|
Ngày 31 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Hai anh em ở huyện Hóc Môn đi thăm bẫy ở khu vực Đầm Mã Trắng và bắt được rất nhiều rắn.
Sau cơn mưa lớn, sáng 25/8, anh Nguyễn Thế Minh cùng với người em đi thăm lú (một dạng bẫy bắt cá) ở khu vực Đầm Mã Trắng (huyện Hóc Môn, TP HCM) phát hiện hàng chục con rắn bông súng dính bẫy. Tổng số rắn nặng khoảng 2 kg
Rắn bông súng là loài động vật hoang dã thuộc giống rắn bồng, có nhiều ở các tỉnh miền Nam, nhất là An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang. Loài rắn này hiền, thường hoạt động vào ban ngày ở khắp các lưu vực sông thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Rắn trưởng thành dài từ 60-80 cm, giá 100.000 đồng/kg.
Trước đó, chiều 28/6, anh Thế Minh cùng với người em đi thăm bẫy ở khu vực này cũng bắt được một con ri voi "khủng". Con rắn dài khoảng một mét và nặng 2,5 kg. (VnExpress 30/8) đầu trang(
Qua tuần tra, lực lượng kiểm lâm huyện Vân Canh (Bình Định) phát hiện một số đối tượng dùng cưa máy triệt hạ rừng phòng hộ với diện tích lớn.
Ngày 30/8, ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh (Bình Định), cho biết qua tuần tra, truy quét, lực lượng Ban quản lý rừng phòng hộ và lực lượng Hạt Kiểm lâm huyện vừa phát hiện một số đối tượng vác máy cưa, rựa vào khoảnh 3, tiểu khu 357B, xã Canh Thuận (huyện Vân Canh) để cưa, chặt hạ cây rừng trong rừng phòng hộ.
Theo ông Lộc, qua kiểm tra đo đạc ban đầu, lực lượng chức năng xác định đã có 5.200 m2 rừng phòng hộ trạng thái TXP (lá rộng thường xanh) với nhiều cây gỗ lớn có đường kính 15-35 cm bị cưa hạ; khoảng hơn 3,5 ha đất lâm nghiệp quy hoạch chức năng phòng hộ trạng thái DT2 (đất trống nhưng có cây bụi, dây leo) cũng bị phát trắng.
Hiện nay, cơ quan chức năng xác định người đứng ra thuê người và trục tiếp giám sát hiện trường là ông Trần Văn Lợi (52 tuổi, trú làng Hiệp Hà, thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, Bình Định).
“Do đây là vụ phá rừng trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, nên Hạt đã phối hợp với ngành chức năng huyện Vân Canh làm văn bản đề nghị Trung tâm quy hoạch Nông nghiệp - Nông thôn tỉnh Bình Định tổ chức giám định thiệt hại về rừng.
Dự kiến, ngày 1/9, công tác này sẽ được thực hiện. Sau đó, Hạt căn cứ vào kết quả giám định sẽ có báo cáo, tham mưu cho cấp có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật”- ông Lộc nói.
Cũng theo ông Lộc thông tin, phần lớn các vụ phá rừng là người đồng bào nên việc xử lý gặp nhiều khó khăn. Sắp tới, cơ quan chức năng sẽ tiến hành củng cố hồ sợ đưa ra khởi tố 2 vụ phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng để răn đe. (Dân Trí 30/8) đầu trang(
Thông tin liên quan đến việc rừng biên giới xã Đắk Long, huyện Đắk Glei, tỉnh Kon Tum bị lâm tặc tàn phá, đã được trình báo cho Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum.
Ông Nguyễn Văn Tiến, Chi cục phó Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum, khá bất ngờ vì lâu nay các tổ công tác địa bàn thường xuyên kiểm tra, truy quét và báo cáo về rất tốt. Trước đây, có phát hiện một số vụ nhưng không đáng kể.
Theo ông Tiến, khu vực phóng viên cung cấp thông tin khá rộng. Ngoài ra, tại đây cũng có 2 đồn biên phòng đóng chân, phía kiểm lâm đã ký quy chế phối hợp. Về thông tin phá rừng này, ông Tiến hứa sẽ cho xác minh.
Ông Nguyễn Tấn Liêm, Chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh cũng trực tiếp gọi điện thông báo đã có mặt tại tại huyện Đắk Glei và đề nghị cung cấp vị trí cụ thể hơn để anh em kiểm tra. Tiếp nhận thông tin, ông Liêm nói: Sẽ cho người kiểm tra và cho biết thêm tại xã Đắk Long có 3 chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ Đắk Long, rừng cộng đồng của xã và Công ty lâm nghiệp Đắk Glei.
Ông Nguyễn Văn Hải, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Glei cho biết, bước đầu đã xác định được vị trí rừng bị phá.
Trước đó, Báo SGGP Online phản ánh vụ phá rừng lớn ở địa bàn xã Đắk Long. Điều đáng nói, rừng bị phá rất nhiều và có dấu hiệu kéo dài nhưng không thấy lực lượng chức năng xử lý, ngăn chặn. (Sài Gòn Giải Phóng 31/8) đầu trang(
Ngày 30.8, Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) cho biết, kết quả giám định các mẫu gỗ thu giữ tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn - Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh chính là thông đỏ quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo đó ngày 29.8, Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện Nghiên cứu khoa học Việt Nam đã có văn bản gửi các cơ quan chức năng huyện Đức Trọng. Trong đó xác định các mẫu gỗ có ký hiệu riêng từ mẫu số 1 đến mẫu số 6 (được lấy tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn) có tên Thông đỏ nam (tên khoa học: Taxus wallichiana Zucc) thuộc nhóm IA nằm trong danh mục động, thực vật rừng nguy cấp quý hiếm theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Ngoài ra, cũng theo kết quả giám định của Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng, các mẫu gỗ lấy tại tiểu khu 277A, 277B thuộc lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh (nơi phát hiện quần thể thông đỏ bị tàn phá) cũng là thông đỏ quý hiếm.
Trước đó như Dân Việt đã đưa tin, ngày 9.8 tại nhà ông Nguyễn Văn Nhẫn (xã Phú Hội, huyện Đức Trọng), đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Lâm Đồng và huyện Đức Trọng đã lập biên bản tạm giữ 6 lóng gỗ rừng tự nhiên (đường kính từ 25 - 29 cm, dài từ 81 - 91 cm) nghi là thông đỏ quý hiếm. Đây là loại gỗ quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, đang được bảo vệ nghiêm ngặt tại lâm phần Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh.
Ông Nhẫn giải thích với đoàn kiểm tra: “Số gỗ này do người bạn làm ở một công ty trong khu công nghiệp Phú Hội, huyện Đức Trọng tặng, có nguồn gốc rõ ràng là mua từ gỗ tịch thu của cơ quan nhà nước ở TP.Đà Lạt nên mang về để ở nhà, tính đưa đi đục làm tượng trưng bày chơi nhưng bận quá chưa kịp làm”.
Ngoài số gỗ tại nhà ông Nhẫn, Hạt Kiểm lâm Đức Trọng cũng đã lập biên bản ghi nhận một cây thông đỏ tại tiểu khu 277A do Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh bị chặt. Cây thông này có khối lượng 6,4 m3, tại hiện trường còn lại 3,1 m3.
Liên quan đến việc phát hiện 6 lóng gỗ thông đỏ quý hiếm tại nhà ông Nhẫn, cũng như quần thể thông đỏ tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Đại Ninh bị xâm hại, UBND tỉnh Lâm Đồng đã giao Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp các cơ quan chức năng xử lý, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30.8. Lý giải việc chậm trễ này, ông Phạm Văn Huy - Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng cho biết nguyên nhân do phải chờ kết quả giám định chủng loại, nhóm gỗ... để làm căn cứ xử lý. (Dân Việt 30/8) đầu trang(
Một diện tích lớn rừng nguyên sinh ở tiểu khu 251b (huyện Hương Khê - Hà Tĩnh) đã bị phát trắng và đốt sạch. Chủ rừng cho biết đốt là để trồng cao su, còn phía Hạt kiểm lâm huyện thì nói có biết nhưng tạo điều kiện cho chủ rừng.
Trong những ngày qua, người dân địa phương xã Hương Đô (huyện Hương Khê) phản ánh đến báo Infonet về việc trên địa bàn xã có tình trạng sẻ phát trắng rừng nguyên sinh và đốt sạch để trồng rừng kinh tế.
Theo tuyến đường liên xã Phúc Trạch - Hương Liên, rẽ vào lối mòn nhỏ cạnh cầu Lò Rèn, chúng tôi vào khu vực rừng bị đốt cháy. Vị trí rừng bị đốt cách khu dân cư ở chừng 2km.
Tại hiện trường, khu vực rừng bị đốt là ba sườn đồi sát nhau, chụm vào một con suối nhỏ. Trên nền đất ngổn ngang những thân cây bị cháy xém, các gốc cây chi chít vẫn còn trơ lên quanh những đống tro.
Người dẫn đường cho chúng tôi ước tính diện tích rừng bị phá lên tới chục héc-ta. “Khi nhìn thực tế vì ta đứng trên cao nó thu vào tầm mắt nên thấy ít, nhưng để đi hết diện tích bị sẻ đốt này thì phải mất mấy tiếng đồng hồ đấy”, ông N cho biết.
Đây là những ngọn đồi có độ dốc rất lớn, đất pha cát và trơ lên những hòn đá mồ côi.
“Rừng trồng phải được quy hoạch ở những nơi độ dốc thấp, chứ độ dốc thế lớn thế này không thể trồng rừng nguyên liệu được chứ nói gì đến trồng cao su. Nền đất vùng này xốp, mịn nên khi mưa dễ bị xói lở, nên rừng trồng không thể che phủ giữ đất chống xói mòn tốt được. Giờ họ phá rừng rồi lấy gì mà giữ đất, chống lũ quét đây?’’ ông N phân trần.
Phản ánh sự việc, ông Đinh Văn Lâm - Chủ tịch UBND xã Hương Đô cho biết “nơi phóng viên phản ánh là thuộc Tiểu khu 521b, đó là khu vực đất quản lý hành chính của xã Hương Đô, nhưng đã được UBND tỉnh thu hồi và giao cho Tổng đội Thanh niên xung phong Xây dựng kinh tế (TNXP-XDKT) Phúc Trạch thuộc Tỉnh đoàn Hà Tĩnh quản lý. Nên rừng đó không thuộc xã quản lý nên cũng không rõ”.
Trao đổi với PV, ông Hồ Xuân Hiếu - Tổng đội trưởng Tổng đội TNXP-XDKT Phúc Trạch thừa nhận việc chặt phát rừng nguyên sinh ở tiểu khu 251b do Tổng đội quản lý là có.
“Rừng đó tỉnh giao cho đơn vị xây dựng kinh tế mới quản lý, và đã đưa vào quy hoạch trồng cây cao su nhiều năm trước. Vì trước đây giá mủ cao su thấp nên chưa chuyển đổi để trồng được. Giờ giá mủ cao su lên chúng tôi mới tiến hành làm để trồng. Đất rừng của tổng đội bị người dân lấn chiếm nhiều, nên còn một số diện tích chúng tôi không làm thì sẽ bị lấn chiếm hết”. Ông Hiếu nói.
Trên thực tế, khu vực phía dưới sườn núi vừa bị sẻ phát và đốt trắng, những đám rừng keo nguyên liệu đã được trồng, trong đó có rừng quản lý của Tổng đội TNXP. Đề án chuyển đổi từ rừng nghèo sang trồng cây cao su không được thực hiện ở những nơi có độ dốc thấp, mà lại bố trí ở vị trí có độ dốc cao hiểm trở. Khía cạnh này ông Vũ - Phó tổng đội TNXP-XDKT Phúc Trạch nói rằng ông cũng không nắm rõ, vì mới đi học về làm được mấy tháng nay.
Ông Nguyễn Quang Hào - Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Hương Khê cho biết: “Đơn vị đã nắm được tình hình và đã lên lập biên bản xử phạt chủ rừng. Chúng tôi chỉ phạt về việc đốt xử lý thực bì không đúng quy định trong thời gian nắng nóng thôi. Còn rừng đó họ phá để chuyển đổi trồng cao su thì đã có quy hoạch từ trước rồi”.
Khi chúng tôi yêu cầu xem biên bản xử phạt thì Hạt trưởng kiểm lâm lý giải “khi lập biên bản phạt, nhưng họ nói anh em lên làm kinh tế cũng vất vả, với lại họ trực thuộc Tỉnh đoàn quản lý, nên khi họ xin thì chúng tôi cũng tạo điều kiện”.
Trao đổi với PV Infonet về vấn đề này ông Hoàng Quốc Huấn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh cho biết: "Những dự án chuyển đổi rừng nguyên sinh nghèo kiệt sang rừng sản xuất phải phù hợp với quy hoạch phát triển, phải có đánh giá tác động kinh tế - xã hội, phải có báo cáo tác động môi trường. Còn cụ thể rừng ở Tiểu khu 251b giao cho Tổng đội TNXP phá trắng thì anh em báo cáo lên là đã kiểm tra và chỉ có đất trống và thực bì, không phải rừng".
"Theo chỉ thị 13 của Ban Bí thư thì rừng tự nhiên là không được nhưng đây lại là đất và thực bì. Tôi sẽ cho anh em kiểm tra lại". Ông Huấn nói. (Infonet 30/8) đầu trang(
Số lượng voi trong thiên nhiên hoang dã của Việt Nam ngày càng giảm, từ hơn 1.000 con trong thập niên 1980-1990 nay chỉ còn chưa đến 100 con vào đầu năm nay. Riêng số voi nhà hay voi thuần dưỡng cũng giảm, chỉ còn khoảng 30-40 con. Đó là thông tin được công bố tại chương trình "Nói không với ngà voi" do hai tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Change Vietnam và WildAid thực hiện.
Phát biểu tại lễ phát động “Nói không với ngà voi” tổ chức ngày 30/8/2017 tại TP.HCM, ông Đỗ Quang Tùng – Phó chánh Văn phòng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – nhận định nạn phá rừng và con người xâm phạm sinh cảnh của loài voi đã làm số lượng voi trong tự nhiên của Việt Nam giảm mạnh.
Theo ước đoán của ông Đỗ Quang Tùng, vườn quốc gia Yok Đôn ở Đắk Lắk có khoảng 60-80 con và số voi này “không có quốc tịch rõ ràng” khi voi di chuyển theo mùa để kiếm ăn giữa Việt Nam và Campuchia. Số lượng voi ở vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) và Vĩnh Cữu (Đồng Nai) không đáng kể.
“Nói không với ngà voi” là chương trình tuyên truyền nhằm tạo ý thức cộng đồng do hai tổ chức bảo vệ động vật hoang dã Change Vietnam và WildAid thực hiện nhằm kêu gọi Việt Nam tham gia nỗ lực toàn cầu cứu lấy loài voi.
Nhu cầu về ngà voi cao đã dẫn đến nạn thảm sát hay tận diệt voi châu Phi để lấy ngà. Ước tính có đến 33.000 con voi châu Phi bị giết hại mỗi năm. Thị trường buôn lậu ngà voi và động vật hoang dã có giá trị ước tính 20 tỷ USD mỗi năm, lớn thứ ba sau buôn lậu ma túy và vũ khí.
Theo số liệu của Change Vietnam và WildAid, chỉ có khoảng 2-4% người Việt Nam có nhu cầu sử dụng ngà voi vào các sản phẩm điêu khắc và nữ trang từ ngà voi. Nhưng Việt Nam đang trở thành điểm trung chuyển của các đường dây buôn lậu ngà voi quốc tế.
Một lượng lớn ngà voi được vận chuyển bất hợp pháp vào Việt Nam để xuất sang thị trường các nước thứ ba, như Trung Quốc hoặc Campuchia. Một số làng nghề truyền thống ở phía Bắc - như làng nghề Nhị Khê ở Thường Tìn, Hà Nội - trở thành nơi tiêu thụ lượng lớn ngà voi khi chế tác thành đồ trang sức bán cho du khách Trung Quốc.
Trong khi đó, Chi cục Hải quan cửa khẩu Sài Gòn khu vực 1 cho biết cơ quan này tịch thu 6 tấn ngà voi chỉ trong ba tháng cuối năm 2016. Cho đến nay, lượng ngà voi bị tich thu đã lên 40 tấn.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Đỗ Quang Tùng nhấn mạnh: “Ngoài những nỗ lực để bảo tồn voi hoang dã trong nước, Chính phủ Việt Nam luôn thực hiện có trách nhiệm những cam kết quốc tế trong việc đấu tranh, ngăn chặn nạn buôn bán và vận chuyển ngà voi trái pháp luật… Chúng tôi coi trong sự hỗ trợ, hợp tác và phối hợp của các tổ chức quốc tế như Change và WildAid trong việc ngăn chặn có hiệu quả tình trạng săn bắn, mua bán động vật hoang dã trái phép xuyên biên giới trên toàn cầu”.
Tại buổi lễ phát động chiến dịch “Nói không với ngà voi”, bà Hoàng Thị Minh Hồng – Giám đốc Change Vietnam – trình bày kế hoạch hành động gồm ba hoạt động chính. Bà nói: “Ngoài việc, kêu gọi người dân không mua bán và sử dụng các sản phẩm từ ngà voi, hợp tác với chính phủ Việt Nam trong các hoạt động liên quan, Change Vietnam chú trọng sản xuất các sản phẩm truyền thông sáng tạo nhắm đến cộng đồng như triển lãm Festivoi sẽ tổ chức ở TP.HCM”. (Người Tiêu Dùng 30/8) đầu trang(
Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường đã phát hiện nhiều báo hoa mai thuộc loài nguy cấp quý hiếm đang nhốt trong một KDL ở TP HCM.
Sáng 31/8, đại diện Thảo Cầm Viên Sài Gòn cho biết, đơn vị này vừa tiếp nhận 3 con báo hoa mai từ cơ quan chức năng để nuôi tạm.
Trước đó, từ tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại Khu du lịch Tây Thành, công viên nước Củ Chi (xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP HCM) có dấu hiệu nuôi nhốt trái phép động vật quý hiếm, lực lượng thuộc Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm môi trường trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học thuộc Cục Cảnh sát môi trường (C49, Bộ Công an) phối hợp với cơ quan chức năng huyện Củ Chi tiến hành kiểm tra và phát hiện tại Khu du lịch nói trên đang nuôi nhốt trái phép 3 con báo hoa mai (2 con nặng hơn 5kg, khoảng 3 tháng tuổi và 1 con 9kg, gần 2 năm tuổi) tại vườn thú.
Đại diện Khu du lịch đã không chứng minh được hồ sơ nguồn gốc của 3 con báo này. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản, xử lý đối với vi phạm nói trên. Theo cán bộ đoàn công tác, 3 con báo thuộc danh mục loài nguy cấp quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. (Kiến Thức 31/8) đầu trang(
Phản biện việc chính quyền Quảng Ngãi quyết tâm phá 50ha rừng dừa nước trăm tuổi phục vụ nhà máy giấy VNT19; PGS.TS Võ Văn Minh, Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng cho rằng quyết phá rừng dừa này là sai luật, chứ chưa nói đến việc làm hủy hoại 1 hệ sinh thái có giá trị lớn.
Sau khi Một Thế Giới đăng bài “Quảng Ngãi: Phá rừng làm dự án, phản biện thì hoan nghênh, nhưng đã quyết thì phải làm” truyền tải thông điệp của lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi liên quan các dự án nhà máy bột giấy VNT19 và thép Hòa Phát Dung Quất; PGS.TS Võ Văn Minh, Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng, Trưởng nhóm DN-EBR đã có những phản biện tiếp tục liên quan phát ngôn này.
Theo TS Võ Văn Minh, nhiều người gọi điện, email cho ông bày tỏ bức xúc vì sự cố chấp “phá rừng” dù lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi tự nhận rằng hiểu biết “có hạn” và “không đủ nhân lực”… Một Thế Giới xin giới thiệu bài viết của TS Minh.
Chúng tôi hết sức chia sẻ với mọi người và kể cả chia sẻ với chính quyền tỉnh Quảng Ngãi. Chúng tôi rất mong mọi người vì trách nhiệm công dân, hãy giữ được sự bình tĩnh, suy nghĩ tích cực, trên tinh thần xây dựng để phân tích, tư vấn, tham mưu cho các bên liên quan lựa chọn những phương án tối ưu nhất theo đúng tinh thần “không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế”.
Trước hết, có thể nói Quảng Ngãi vốn là 1 tỉnh thuần nông, tuy nhiên hơn một thập niên trở lại đây chính quyền tỉnh đã có chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa dẫn đến áp lực thu hút đầu tư cũng như những bất cập trong quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường nảy sinh là điều không thể tránh khỏi.
Có người còn chia sẻ với vẻ rất bức xúc rằng, có những dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh nhưng tỉnh cũng không quyết được. Công tác quy hoạch và triển khai thực hiện quy hoạch ở nước ta nhiều lúc chẳng ăn khớp gì với nhau dẫn đến chính quyền địa phương bị động, lúng túng cũng là “bình thường”.
Năng lực quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường của một số địa phương còn rất hạn chế, trong khi yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày càng cao.
Chính những lý do khách quan trên dẫn đến công tác lãnh đạo điều hành của địa phương luôn bị lúng túng và thậm chí nhiều nơi lãnh đạo dành phần lớn thời gian đi giải quyết “điểm nóng”, tranh chấp môi trường.
Tất nhiên, Quảng Ngãi cũng không nằm ngoài thực trạng trên. Như vậy, khi nhìn nhận bức tranh chung thì cũng dễ cảm thông, nhưng không phải vì cảm thông mà chấp nhận những hệ lụy đáng lẽ có thể lường trước và tránh được.
Nhóm nghiên cứu – giảng dạy “Môi trường và Tài nguyên sinh vật” thuộc Đại học Đà Nẵng (DN-EBR) luôn kiên trì 3 mục tiêu: sáng tạo tri thức (tức nghiên cứu khoa học), truyền bá tri thức (tức giảng dạy, bồi dưỡng) và tư vấn phục vụ cộng đồng.
Với những hiểu biết, kinh nghiệm của nhóm trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên sinh vật, chúng tôi muốn phản biện, tư vấn các dự án phát triển giúp cho địa phương, doanh nghiệp thực hiện đúng mục tiêu phát triển bền vững. Tất nhiên, chúng tôi cũng rất mong nhận được sự phản biện, tranh luận trên tinh thần khoa học, xây dựng để cùng phát triển.
Liên quan đến bài viết “Quảng Ngãi: Phá rừng làm dự án, phản biện thì hoan nghênh, nhưng đã quyết thì phải làm” và những phản hồi của độc giả, DN-EBR xin có một số ý kiến trao đổi lại như sau:
Đối với việc quyết định phá 50ha rừng dừa nước làm hồ chứa nước cho nhà máy giấy VNT19, chúng tôi xin khẳng định rằng nếu việc này đã quyết rồi thì vẫn còn có cơ hội điều chỉnh, vì hiện nay rừng dừa vẫn chưa bị phá.
Chúng tôi nhất trí với ý kiến đề nghị giám sát chặt chẽ môi trường các dự án, nhưng việc phá rừng để làm hồ chứa nước thì không nên làm, chứ không phải cứ phá đi và giám sát. Trong thực tế vẫn còn có phương án tìm vị trí khác thay thế cho khu vực rừng dừa. Quyết phá 50ha rừng dừa này là sai luật, chứ chưa nói đến việc làm hủy hoại 1 hệ sinh thái có giá trị lớn.
Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Quy chế quản lý rừng sản xuất được ban hành kèm theo Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 1.11.2016 của Thủ tướng Chính phủ quy định "Không thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai, trừ các dự án phục vụ quốc phòng, an ninh phải được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đối với các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên".
Trong trường hợp này, không thể xem rừng dừa nước tại xã Bình Phước là rừng trồng được, đây đích thị là rừng tự nhiên. Đã là rừng tự nhiên thì theo quy định không được chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm hồ chứa nước.
Chính lý do này, mặc dù UBND tỉnh Quảng Ngãi đã quyết nhưng theo chúng tôi vẫn phải đề nghị xem xét điều chỉnh phương án khác, giữ rừng lại vừa đúng luật vừa đúng tinh thần không đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế bằng mọi giá.
Đối với việc tích nước ở khu vực rừng dừa mới trồng làm hồ chứa nước thô cho nhà máy thép Hòa Phát Dung Quất, chúng tôi cho rằng cũng không nên làm.
Hiện nay, 38ha rừng dừa nước mới trồng chỉ được 1 năm tuổi với số tiền đầu tư lên đến hàng chục tỉ đồng. Mặc dù dừa mới trồng vẫn sống, nhưng chưa thể khẳng định có sinh trưởng, phát triển tốt lâu dài hay không.
Có thể trong xu thế xâm nhiễm mặn, môi trường khu vực này sẽ thay đổi và dừa nước sẽ phát triển tốt, tạo ra 1 hệ sinh thái vành đai khu công nghiệp. Tuy nhiên, nếu nhà máy thép Hòa Phát muốn sử dụng khu vực này làm hồ chứa nước và sẽ tích nước ngọt trong năm sau thì cũng đồng nghĩa với việc “khai tử” rừng dừa này.
Không thể suy diễn rằng, năm nay cây cao trung bình từ 0,85 đến 1,0m, sang năm 2019 cây sẽ cao khoảng từ 1,2m đến 1,5m, trong khi đó mực nước trữ thường xuyên trong hồ cho giai đoạn 1 là +0,50m, cây dừa nước vẫn sinh trưởng và phát triển bình thường.
Như vậy, nếu đã quyết giao hồ Cà Ninh (đang trồng mới dừa nước) cho Hòa Phát Dung Quất để tích nước thì chắc chắn sẽ gây lãng phí đầu tư hàng chục tỉ đồng. Tương tự nếu đã quyết phá 50ha rừng dừa nước để làm hồ chứa nước cho nhà máy giấy VNT19 chắc chắn là 1 sự mất mát rất lớn về môi trường tự nhiên và đương nhiên cũng vi phạm pháp luật.
Chúng tôi vẫn phải khẩn thiết đề nghị lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi xem xét, cân nhắc cẩn thận. Chúng tôi cũng xin khẳng định lại, chúng tôi không kêu gọi loại bỏ nhà máy giấy hay nhà máy thép, chỉ kêu gọi giữ rừng dừa nước cũ lẫn mới và tìm vị trí khác thay thế.
Xin nói thêm rằng, dự án đầu tư với quy mô hàng nghìn tỉ đồng, báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) do Bộ TN&MT thẩm định, nếu chủ đầu tư có thiện chí bảo vệ môi trường thì vẫn có thể tìm đơn vị tư vấn có đủ năng lực, kinh nghiệm tốt hỗ trợ thực hiện, không thể nói là thiếu hiểu biết được.
Chính quyền phải thể hiện sự kiên quyết đề nghị đối với chủ đầu tư như vậy, chứ không nên “chiều” nhà đầu tư, để nhà đầu tư xem tư vấn lập báo cáo ĐTM chỉ là thủ tục xin giấy phép để đầu tư.
Ngay từ khâu lập báo cáo ĐTM mà nhà đầu tư và chính quyền đều xem nhẹ thì thảm họa trong tương lai chắc chắn không tránh khỏi. Bài học Formosa còn đó cho cả chính quyền trung ương lẫn địa phương.
Chúng tôi hoàn toàn chia sẻ với những khó khăn của chính quyền hiện tại, nhưng không thể yên tâm với những lời hứa của các nhà đầu tư. Bởi lẽ khi để xảy ra sự cố môi trường hoặc mất rừng thì không phải chỉ mất đi mấy chục ha rừng để ngắm nhìn hay mất đi 1 nguồn nước trong xanh mà còn mất đi nguồn sinh kế bền vững lâu đời của những ngư dân bám sông, bám biển kể cả kiên trì bám giữ quê hương ngay cả trong những năm tháng chiến tranh ác liệt. (Một Thế Giới 30/8) đầu trang(
Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam kết luận 2 container gỗ tại cảng Hải Phòng là gỗ giáng hương Tây Phi.
28/8/2017, Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có kết quả giám định số 180/CNR-KHTC và số 181/CNR-KHTC, kết luận hàng hóa là gỗ giáng hương Tây Phi (Tên khoa học là Pterocarpus erinaceus Poir).
Khối lượng gỗ quy tròn là 35,745 m3. Loài gỗ này có tên thuộc phụ lục II tại thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 26/2/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trước đó, trong 2 ngày (17 và 18/8/2017), tại cảng Nam Hải Đình Vũ, Hải Phòng, Đội 1 (Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan) chủ trì, phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải phòng KVIII (Cục Hải quan Hải Phòng) thực hiện khám toàn bộ hàng hóa đóng trong 2 container gỗ.
Đồng thời, trưng cầu Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giám định, xác định tên khoa học, số lượng, khối lượng, chủng loại gỗ phát hiện Công ty TNHH xuất nhập khẩu N.B.C (theo thông tin ghi trên vận đơn). Tuy nhiên, Doanh nghiệp N.B.C có công văn từ chối nhận lô hàng trên.
Doanh nghiệp khai báo trên vận đơn là roos wood (nghi vấn là gỗ giáng hương Tây Phi) gồm 147 khúc/lóng gỗ tròn, xẻ các loại.
Hiện 2 container nêu trên được giao cho Chi nhánh Công ty TNHH Maersk Việt Nam tại Hải Phòng và Công ty CP cảng Nam Hải Đình Vũ bảo quản nguyên trạng dưới sự giám sát của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực III chờ quyết định xử lý của cơ quan Hải quan.
Vụ việc đang được Đội 1 phối hợp với các đơn vị có liên quan tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định. (Hải Quan 30/8) đầu trang(
Cái tên gọi "Rừng ông già" luôn được các thế hệ người dân tộc Mông, bản Lao Khô, xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu (Sơn La) nhắc đến như muốn nhắn nhủ thế hệ con cháu phải giữ lấy cánh rừng, giữ cho màu xanh cho quê hương.
Con đường vào bản Lao Khô dài hơn 40 km, và phải mất hơn một giờ đồng hồ đi xe. Lao Khô nơi ghi những dấu ấn lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc, có đài tưởng niệm bất diện dáng hình cánh hoa sen, hoa Chăm Pa đứng giữa núi rừng Lao Khô, tượng trưng mối tình đoàn kết anh em hai nước Việt Nam – Lào.
Phát huy truyền thống cha ông, 113 hộ dân tộc Mông ở bản Lao Khô luôn chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy ước hương ước bản làng. Những cánh xanh của bản vẫn còn nguyên sơ, ở đó những cây gỗ trăm tuổi vẫn hiên ngang trước nắng gió cùng người dân bản Lao Khô.
Nói đến giữ rừng, phải nói đến những già làng của bản, những con người gương mẫu giữ rừng. Năm 2003 người cao tuổi của bản nhận bảo vệ rừng, từ đó đến nay ngày nào họ cũng phân lịch cho nhau để trông rừng, khi phát hiện phá rừng, kịp thời báo về ban quản lý bản để ngăn chặn. Tên gọi “Rừng ông già” có từ đó. Các già làng đã góp phần không nhỏ làm cho những khu rừng của bản không bị chặt phá
Ông Tráng Lao Chính, năm nay đã gần 70 tuổi, ông luôn khuyên bảo con cháu phải biết giữ lấy rừng cho bản làng. Ông Chính nói rằng, rừng là tài sản quý giá của bà con dân tộc Mông ở bản Lao Khô, rừng làm cho bầu không khí trong lành. Có rừng mới giữ được nguồn nước, giảm được xói mòn đất và hạn chế lũ quét. Người già, người lớn hiểu biết hơn thì phải bảo ban lớp trẻ không được phá rừng.
Trò chuyện cùng anh Tráng Lao Khai, trưởng bản Lao khô, được biết, cả bản hiện có 7.770 ha rừng. Rừng được giao cho từng hộ bảo vệ. Bản lập ra quy ước, hương ước bảo vệ rừng, tuyên truyền cho bà con không phá rừng làm nương rẫy. Ngoài ra, bản còn vận động bà con chuyển những diện tích đất sản xuất kém hiệu quả sang trồng rừng, không để đất trống đồi trọc.
Những hộ có nhu cầu làm nhà phải báo cáo với ban quản lý bản cho phép mới được chặt cây, lấy số lượng bao nhiêu là đủ, không được chặt cây tùy tiện, tránh việc người dân lợi dụng việc làm nhà khai thác gỗ về bán. Nhà nào con cháu lớn, lập gia đình muốn làm nhà ở riêng, bản tạo điều kiện cho lấy gỗ. Theo anh Khai, "bảo vệ rừng là bảo vệ cho mình nên bà con dân bản Lao Khô ai cũng chấp hành, nên rừng của bản giờ xanh và đẹp lắm".
Bà con bản Lao Khô hôm nay cuộc sống tuy con nhiều khó khăn, nhưng ý thức bảo rừng luôn được bà con chấp hành, không phá rừng làm nương, không tiếp tay cho lâm tặc…Để ổn định cuộc sống cho bà con, hàng năm Nhà nước cũng chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân, vì vậy người dân có thêm động lực bảo vệ rừng. Liên tục nhiều năm bản Lao Khô chưa có vụ phá rừng nào xảy ra.
Rời bản Lao Khô, chúng tôi tin rằng với ý thức cao trong quản lý bảo vệ rừng của người dân trong bản, những cánh rừng nơi đây sẽ luôn xanh mãi với thời gian. (Dân Việt 30/8) đầu trang(
Tại lễ công bố chiến dịch “Nói không với ngà voi”, do Tổ chức bảo vệ động vật hoang đã (WildAid) phối hợp cùng CHANGE tổ chức tại TP.HCM mới đây, ông John Baker, Giám đốc chương trình của WildAid đánh giá cao nỗ lực của Hải quan Việt Nam đã rất tích cực và ngăn chặn hiệu quả ngà voi nhập khẩu trái phép tại cửa khẩu.
Tại Việt Nam, voi là loài vật vốn luôn được đề cao trong đời sống văn hóa, và hiện nay, loài voi đang được Chính phủ Việt Nam bảo vệ, qua việc cấm buôn bán ngà voi. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua, vẫn có một số lượng lớn ngà voi được vận chuyển bất hợp pháp vào Việt Nam. Với mong muốn giảm tình trạng buôn bán trái phép ngà voi tại Việt Nam, đóng góp chung vào nỗ lực toàn cầu để cứu loài voi khỏi nguy cơ tuyệt chủng, WildAid và CHANGE, cùng với một số người nổi tiếng với vai trò là các Đại sứ thiện chí, và với sự hỗ trợ của nhiều đối tác, đã xây dựng chiến dịch “Nói không với ngà voi”. Chiến dịch này nhằm nêu bật tình trạng quần thể voi châu Phi đang sụt giảm nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng săn trộm gây ra; khuyến khích người dân không mua bán ngà voi và hỗ trợ chính phủ tăng cường hơn nữa việc thực thi pháp luật để ngăn chặn những vụ vận chuyển ngà voi trái phép qua Việt Nam sang những thị trường khác.Tại buổi lễ, ông John Baker chi sẻ: “Chúng tôi mong muốn giúp Việt Nam trở thành quốc gia dẫn đầu trong việc cứu loài voi bằng cách chấm dứt nạn mua bán ngà voi tại đây, bao gồm cả việc trung chuyển ngà voi qua các quốc gia khác. Khảo sát của chúng tôi cho thấy người dân Việt Nam không mua nhiều ngà voi và dường như người dân Việt Nam rất yêu quý loài voi cũng như không muốn trở thành một phần của vấn nạn này.
"Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của Hải quan Việt Nam vì đã rất tích cực và hiệu quả trong việc thu giữ ngà voi trái phép tại các cửa khẩu. Tôi muốn sớm nhìn thấy hồi kết của việc ngà voi nhập lậu vào Việt Nam. Chúng tôi mong được hợp tác với các cơ quan chính phủ để giúp quá trình này được diễn ra một cách nhanh chóng.”
Trong bài phát biểu về tình trạng thu giữ ngà voi bị vận chuyển trái phép qua cửa khẩu trong thời gian gần đây, ông Lê Nguyên Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 cho rằng, chỉ riêng trong 3 tháng cuối năm 2016, đã có tới 6 tấn ngà voi được lực lượng Hải quan thu giữ tại cửa khẩu cảng Cát Lái, TP.HCM. (Hải Quan 31/8) đầu trang(
“Hương sẽ dùng sức ảnh hưởng của mình để lan tỏa những thông điệp đúng đắn nhằm chấm dứt nạn buôn bán ngà voi trái phép, góp phần cứu loài voi khỏi nguy cơ tuyệt chủng” -hoa hậu Phạm Hương nói.
Sáng 30-8, tại khách sạn Le Méridien Saigon (3C Tôn Đức Thắng, quận 1, TP.HCM) đã diễn ra lễ công bố chiến dịch “Nói không với ngà voi”.
Chương trình do WildAid phối hợp cùng CHANGE tổ chức với sự tham dự của các vị tổng lãnh sự và nhân viên cấp cao của các lãnh sự quán Anh, Pháp, Canada, Mỹ, đại diện Bộ NN&PTNT; dại sứ thiện chí bao gồm Hoa hậu Hoàn vũ Việt Nam 2015 Phạm Hương, á hậu Hoa hậu Hoàn Vũ Việt Nam 2015 Lệ Hằng và MC - nhà báo Trác Thúy Miêu.
Chiến dịch này nhằm nêu bật tình trạng quần thể voi châu Phi đang sụt giảm nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng săn trộm gây ra, khuyến khích người dân không mua bán ngà voi và hỗ trợ chính phủ tăng cường hơn nữa việc thực thi pháp luật để ngăn chặn những vụ vận chuyển ngà voi trái phép qua Việt Nam sang những thị trường khác.
Tại buổi lễ, ông Lê Nguyên Linh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1, cho biết tình trạng mua bán ngà voi đang ở mức báo động, chỉ riêng trong ba tháng cuối năm 2016 đã có tới 6 tấn ngà voi được thu giữ tại cửa khẩu.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Đỗ Quang Tùng, Phó Chánh Văn phòng Bộ NN&PTNT, nói: “Ngoài những nỗ lực để bảo tồn voi hoang dã trong nước, Chính phủ Việt Nam cũng luôn thực hiện có trách nhiệm những cam kết quốc tế trong việc đấu tranh, ngăn chặn nạn buôn bán và vận chuyển ngà voi trái pháp luật. Luật Hình sự sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua lần đầu tiên đã quy định cụ thể tội phạm liên quan tới ngà voi, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng săn bắn, buôn bán động vật hoang dã trái phép xuyên biên giới trên toàn cầu...”.
Trong vai trò đại sứ thiện chí, hoa hậu Phạm Hương chia sẻ: “Phạm Hương rất may mắn có những trải nghiệm kỳ thú trong chuyến đi Kenya tháng 5 vừa qua với vai trò đại sứ thiện chí của CHANGE và WildAid, được tận mắt chứng kiến voi hiền lành và đáng yêu trong hoang dã. Sau chuyến đi, Phạm Hương cảm nhận được rõ hơn trách nhiệm đồng hành cùng CHANGE và WildAid trong chiến dịch này. Hương sẽ dùng sức ảnh hưởng của mình để lan tỏa những thông điệp đúng đắn nhằm chấm dứt nạn buôn bán ngà voi trái phép, từ đó cứu loài voi khỏi nguy cơ tuyệt chủng”. (Pháp Luật TPHCM 30/8) đầu trang(
Sáng 29/8, tại huyện Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk phối hợp với Trung tâm bảo tồn voi Đăk Lăk tổ chức trao 171 triệu đồng từ kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ voi nhà sinh sản cho chủ hộ có voi nhà mang thai.
Người được nhận hỗ trợ là ông Y Mứ Bkrông chủ voi cái tên Bang Nang, đang mang thai hơn 20 tháng dự kiến sinh vào cuối tháng 9 nay. Đây là tín hiệu vui đối với tỉnh Đăk Lăk nói riêng và cả nước nói chung sau 30 năm cố gắng giúp voi nhà sinh sản.
Chính sách hỗ trợ voi nhà sinh sản được Hội đồng nhân dân tỉnh Đăk Lăk thông qua, với mục tiêu giải quyết những vấn đề cấp bách trong công tác bảo tồn voi, như kiểm soát được quần thể voi hoang dã, thực hiện các giải pháp làm giảm thiểu xung đột voi – người, thành lập các tổ chức bảo vệ voi, hỗ trợ thiệt hại cho người dân khi bị voi phá, tấn công. Đối với voi nhà, hàng năm voi được khám chữa bênh định kỳ, nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh và thuốc chữa bệnh cho voi. Đặc biệt, khi voi nhà mang thai, chủ voi sẽ được hỗ trợ kinh phí hàng ngày, tổng mức hỗ trợ đến khi voi sinh sản thành công, lên tới 600 triệu đồng.
Tuy nhiên, công tác bảo tồn voi tại Đăk Lăk hiện nay còn đang gặp nhiều khó khăn, số voi nhà còn quá ít, chỉ còn khoảng 44 con, trong đó phần lớn đã già yếu, số lượng voi cái trong độ tuổi sinh sản chỉ còn 7 con.
Việc hỗ trợ kinh phí để voi nhà sinh sản đã phần nào giúp người dân yên tâm hơn trong bảo tồn chăm sóc voi sinh sản. Ông Y Mứ Bkrông chủ voi cái tên Bang Nang cho biết: Tôi nuôi voi Bang Nang bây giờ đang hết sức khó khăn và tốn kém. Hôm nay nhà nước hỗ trợ như thế gia đình thôi rất phấn khởi. Tôi mong những gia đình có voi nhưng chúng tôi, có voi cái tham gia dự án thời gian tới đẻ càng nhiều càng tốt. (VOV 30/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Với sự chỉ đạo quyết liệt của cấp ủy, chính quyền địa phương cùng sự đồng thuận từ phía nhân dân, công tác trồng rừng năm 2017 trên địa bàn huyện Kông Chro đã “về đích” sớm hơn thời vụ và vượt chỉ tiêu tỉnh giao.
Ông Huỳnh Ngọc Ẩn-Phó Chủ tịch UBND huyện Kông Chro cho biết: Trên cơ sở văn bản chỉ đạo của các cấp, ngành từ Trung ương đến địa phương, UBND huyện đã giao nhiệm vụ cho Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND các xã, thị trấn và các đơn vị chủ rừng đứng chân trên địa bàn tham mưu xây dựng kế hoạch và tổ chức, thực hiện thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để chuyển cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp và trồng rừng năm 2017 cũng như những năm tiếp theo.
UBND huyện đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch thu hồi diện tích đất rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và triển khai kế hoạch trồng rừng trên địa bàn huyện giai đoạn 2017-2020 (gọi tắt là Ban Chỉ đạo). Ngoài ra, UBND các xã, thị trấn cũng thành lập 13 Ban Chỉ đạo cấp xã; đồng thời xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện việc thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm trên lâm phần quản lý.
Trên cơ sở kết quả rà soát điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, UBND huyện đã xây dựng kế hoạch tổ chức thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để chuyển cây trồng phù hợp với mục đích lâm nghiệp và trồng rừng. Cụ thể: giai đoạn 2017-2018, UBND các xã, thị trấn phải thu hồi 1.965 ha; năm 2019 thu hồi 2.330 ha và các năm tiếp theo sẽ thu hồi 6.805 ha. Cùng với đó, công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tự nguyện kê khai diện tích nương rẫy đang sản xuất nông nghiệp trên đất lâm nghiệp, giao trả đất và trồng lại rừng trên đất bị lấn chiếm được tích cực triển khai với 91 đợt/13 xã, gồm 4.796 lượt người tham gia.
Theo kế hoạch, khối lượng trồng rừng mà UBND tỉnh giao cho huyện trong năm 2017 là 1.570 ha, bao gồm: trồng rừng tập trung 1.506 ha (huyện Kông Chro mà cụ thể là UBND các xã thực hiện 400 ha, Công ty lâm nghiệp Kông Chro 556 ha, Công ty Kông H’Dé 250 ha, Công ty Ia Pa 300 ha); trồng cây phân tán 64 ha (quy đổi 1.000 cây=1 ha) do UBND huyện thực hiện. Trên cơ sở này, huyện đã tổ chức cho người dân đăng ký trồng rừng và tuyển chọn giống cây rừng từ các doanh nghiệp cung ứng giống có thương hiệu ở tỉnh Bình Định (chủ yếu là keo và một ít bạch đàn).
“Căn cứ quy định, mỗi hộ đăng ký trồng rừng sản xuất tối đa không quá 30 ha. Trước mắt, huyện tuyên truyền, vận động người dân tự bỏ kinh phí ra làm; đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số khó khăn, huyện đã lập danh sách khoảng 55 hộ để đề nghị tỉnh hỗ trợ 2 triệu đồng/hộ để mua cây giống”-ông Ẩn thông tin.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, huyện Kông Chro cũng đối mặt với không ít vướng mắc. Địa bàn rộng, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp nhiều; diện tích đất nương rẫy của người dân hiện đang xâm canh trên đất lâm nghiệp khá lớn với 31.000 ha, đa số là của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số Bahnar, phân bố rộng gây khó khăn trong việc điều tra, rà soát quy hoạch rừng cũng như việc tổ chức, triển khai thực hiện, đòi hỏi phải có thời gian để tuyên truyền, vận động. Diện tích đất lâm nghiệp hiện chưa có rừng phân bổ chủ yếu ở những địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, xa khu dân cư, nếu muốn trồng rừng phải mở đường để vận chuyển giống cây trồng cũng như sản phẩm rừng trồng sau khai thác. Sự phối hợp, hỗ trợ giữa các đơn vị chủ rừng và UBND các xã để thực hiện việc thu hồi đất rừng bị lấn chiếm chưa đồng bộ, kịp thời; nhiều hộ dân vẫn chưa tự nguyện kê khai vị trí, diện tích đang sản xuất trên đất rừng bị lấn chiếm của các công ty lâm nghiệp…
Khắc phục khó khăn bằng nhiều giải pháp tích cực, đến nay, công tác thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để chuyển cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp và trồng rừng năm 2017 của huyện Kông Chro đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; được tỉnh đánh giá cao về tiến độ thực hiện.
Theo đó, tổng số diện tích đất rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đã thu hồi là 252,9 ha. Trong đó, UBND các xã thu hồi 242,5 ha/100 hộ, đạt 60,6% kế hoạch; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông Chro thu hồi được 10,4 ha. Huyện cũng đã tổ chức cho 174 hộ dân đăng ký trồng rừng với tổng cộng 621,5 ha (vượt 221,5 ha so với kế hoạch tỉnh giao).
Chị Đinh Thị Lên (làng Siêu, xã An Trung) phấn khởi chia sẻ: “Cách đây 2 năm, gia đình tôi có tự trồng 1 ha cây keo, sau muốn trồng thêm nhưng không có tiền mua giống. Nay làm theo vận động của huyện, được Nhà nước hỗ trợ giống, chúng tôi đăng ký trồng thêm 3 ha. Trước toàn trồng đậu đen, đậu xanh, bắp, thu nhập bấp bênh, giờ nghe cán bộ nói về lợi ích được hưởng sau khi thu hoạch cây rừng, gia đình vui lắm, sẽ cố gắng trồng và chăm sóc để cây cho sản lượng gỗ cao”.
Tương tự, hộ ông Đinh Văn Bóp (làng Blà, xã Đak Sông) cũng đăng ký trồng 2 ha rừng trên diện tích đất trồng lúa rẫy, mì trước đây. “Qua tuyên truyền, tôi cũng hiểu được tầm quan trọng của việc trồng rừng để tạo độ che phủ cũng như việc hưởng lợi sau này nên tự nguyện đăng ký tham gia. Ngoài 4.000 cây giống được hỗ trợ, tôi còn mua thêm 9.000 cây keo với giá 900 đồng/cây để trồng thêm 3 ha nữa”-ông Bóp nói.
Công tác trồng rừng tập trung của huyện Kông Chro tính đến thời điểm hiện tại đã được 838,9 ha, đạt 53,4%. Cụ thể: UBND các xã thực hiện được 514,9 ha/125 hộ, vượt 114,9 ha so với kế hoạch tỉnh giao; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông Chro trồng được 219 ha. Bên cạnh đó, UBND các xã đã chuẩn bị đất và phát dọn thực bì 106,6 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông Chro 346 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ia Pa xử lý thực bì được 105 ha; Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông H’Dé đang xin ý kiến để liên doanh, liên kết trồng 250 ha. Riêng công tác trồng cây phân tán với tổng số lượng 64.000 cây tương đương 64 ha trên địa bàn 14 xã, thị trấn đã hoàn thành.
Ông Ẩn cho hay, thời gian tới, huyện sẽ tiếp tục triển khai thực hiện việc thu hồi diện tích đất rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, đồng thời vận đồng người dân tham gia trồng rừng trên diện tích đất thu hồi, tuyệt đối không để họ tái lấn chiếm. (Báo Gia Lai 30/8) đầu trang(
Với diện tích đất lâm nghiệp 77.250 ha, chiếm 57,8% diện tích tự nhiên của toàn huyện, những năm qua, kinh tế lâm nghiệp ở M’Đrắk đã góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, xóa đói giảm nghèo...
Theo Phòng NN&PTNT huyện M’Đrắk, những năm qua, do tình trạng phá rừng lấy đất canh tác của dân di cư không có trong kế hoạch từ các tỉnh miền núi phía Bắc xảy ra thường xuyên trên địa bàn dẫn đến rừng tự nhiên mỗi năm một suy giảm. Để nhanh chóng phục hồi, nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái..., Huyện ủy M’Đrắk đã ban hành Chương trình số 12-CTr/HU, ngày 8-8-2011 về phát triển kinh tế Lâm nghiệp giai đoạn 2011-2015 và phương hướng nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020.
Theo đó, sản xuất lâm nghiệp trong 5 năm qua đã có sự chuyển biến tích cực và theo hướng bền vững, từ chủ yếu dựa vào khai thác gỗ chuyển sang trồng, quản lý và bảo vệ rừng. Trong 5 năm, toàn huyện đã trồng được 5.473 ha, bình quân 1095 ha/năm, đã góp phần phủ xanh đồi trọc, duy trì độ che phủ của rừng đạt 49,1%. Hiện diện tích rừng toàn huyện là 72.897 ha, trong đó, rừng tự nhiên 59.033 ha, rừng trồng 13.864 ha.
Từ nguồn hỗ trợ kinh phí dịch vụ môi trường, đến nay huyện đã thực hiện giao khoán quản lý, bảo vệ rừng được 36.815 ha, tăng 30.000 ha so với năm 2011, thu hút 1.152 hộ nhận khoán. Riêng diện tích rừng tự nhiên giao theo Quyết định 304/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho người dân tộc thiểu số tại các xã Cư Prao và Ea Mlây không đạt hiệu quả, tỉnh thu hồi và giao lại theo chương trình chi trả dịch vụ phí môi trường, hiện nay rừng được quản lý bảo vệ tốt, góp phần tăng thu nhập, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống cho nhiều hộ dân địa phương, ổn định an ninh nông thôn.
Việc đổi mới hình thức giao đất giao rừng cho hộ gia đình đã giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 2.000 lao động, từng bước xã hội hóa nghề rừng, thúc đẩy phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn. Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của UBND tỉnh, từ năm 2012 các đơn vị đã chuyển sang khai thác gỗ rừng trồng, sản lượng đạt từ 75.000-130.000 m3. Để đảm bảo khai thác bền vững, các chủ rừng đã xây dựng phương án điều chế rừng trong từng giai đoạn, sau khi thu hoạch các chủ rừng triển khai ngay trồng mới và thâm canh rừng chu kỳ sau, tăng trưởng diện tích rừng trồng và khối lượng thu hoạch trong các chu kỳ tiếp theo nên luôn giữ ổn định độ che phủ của rừng.
Ông Nguyễn Thế Thập, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện cho biết, Chương trình số 12 của Huyện ủy về phát triển kinh tế lâm nghiệp được sự hưởng ứng tích cực của người dân nên đã tạo bước chuyển biến mới từ sản xuất phân tán, nhỏ lẻ chuyển sang đầu tư có chiều sâu, kết hợp đầu tư thâm canh rút ngắn chu kỳ trồng, năng suất cao góp phần tăng giá trị sản xuất, thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển, tạo việc làm thường xuyên, cải thiện thu nhập cho người lao động; giảm nghèo... Đồng thời, tạo tiền đề cho phát triển nghề rừng trong những năm tới phát triển tốt hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn huyện trong những năm qua vẫn còn thiếu tính bền vững; công tác quản lý nhà nước về lâm nghiệp thiếu đồng bộ nên nạn phá rừng làm rẫy và lấn chiếm đất rừng vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi, chưa được xử lý và ngăn chặn kịp thời, hiệu quả...
Với mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp gắn tăng trưởng nhanh về kinh tế, phát triển xã hội bền vững với bảo vệ môi trường sinh thái, huyện M’Đrắk đang tiếp tục phát huy tối đa các nguồn lực, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế lâm nghiệp. Trong đó, đẩy mạnh trồng rừng sản xuất với quy mô trang trại lâm nghiệp; chú trọng công nghiệp chế biến gắn với tạo vùng nguyên liệu tập trung; quy hoạch ổn định và phát triển 2 loại rừng (rừng phòng hộ và rừng sản xuất) theo phương thức xã hội hóa có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; tạo ra khối lượng hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu sử dụng nội địa và hướng đến xuất khẩu...
Phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ che phủ rừng của huyện đạt 50-51%; hoàn thành giao đất giao rừng; giao khoán và bảo vệ rừng cho 1.200-1.500 hộ nhận quản lý và bảo vệ, giải quyết việc làm cho 3.500-4.000 lao động... (Báo Đắk Lắk 29/8) đầu trang(
Đau đáu đợi chờ công lý và thót tim khi gió bão tràn về vặn gãy những thân keo quá tuổi không được khai thác. Gây thiệt hại tài sản nặng nề.
Đó là trường hợp hết sức hy hữu tại thôn Nặm Bún xã Hà Lang (Chiêm Hóa, Tuyên Quang) khi rừng keo trồng từ đầu năm 2007 tới nay đã quá 10 năm nhưng lại không thể làm thủ tục khai thác với lý do đất đang tranh chấp với Lâm trường (!?).
Hàng loạt lá đơn của hộ gia đình ông Nông Văn Nhạc gửi các cơ quan chức năng tỉnh Tuyên Quang với mục đích xin được khai thác và cấp quyền sử dụng đất, Pháp luật Plus xin trích đăng nội dung đơn:
Thời điểm cuối 2006 đầu năm 2007 khu vực dãy núi Khau Piết còn đang là rừng phòng hộ. Khi ấy nhiều gia đình trong đó có tôi cùng phát hoang khoảng hơn 10 ha và bị cán bộ Kiểm lâm tới lập biên bản nhưng không xử phạt vì lý do rừng tái sinh chỉ có nứa dại chết khuy và đang có kế hoạch chuyển đổi sang rừng sản xuất.
Năm 2008 tất cả những hộ liền kề đều được cấp quyền sử dụng đất. Sau đó họ được khai thác gỗ và trồng mới trên diện tích đất ấy. Riêng gia đình tôi thì không được vì cho rằng có khoảng hơn 4 ha lấn chiếm vào đất của Công ty lâm nghiệp.
Tuy nhiên trong các buổi làm việc Công ty lâm nghiệp không đưa ra được bằng chứng (Quyết định số 168/QĐ - CT ngày 3/5/1993) với lý do bị thất lạc. Chỉ có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định số 155/QĐ - UBND ngày 11/6/2012 của UBND tỉnh Tuyên Quang; GCNQSD đất số BN 787568 trên địa bàn xã Hà Lang.
Như vậy là khi cây keo của tôi đã trồng được 5 năm, gần tới ngày thu hoạch thì Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Chiêm Hóa mới được giao quyền quản lý. Hơn nữa họ không hề đầu tư cây giống hay bất cứ thứ gì cho gia đình tôi nên không thể ép tôi liên doanh liên kết được".
Theo chân ông Nông Văn Nhạc, nhóm phóng viên Pháp luật Plus tiếp cận khu rừng trồng keo được cho là đang có tranh chấp. Để được mục sở thị những cây gỗ lớn (đường vanh gốc 130 cm) đang có hiện tượng sầu lõi mục gốc. Do quá tuổi khai thác nên nhiều cây đã gãy ngang thân đổ gục. Ông Nhạc ứa nước mắt nhìn đống tài sản khổng lồ hàng chục năm vun đắp có cả máu mồ hôi và nước mắt đổ xuống nay đang có nguy cơ tàn lụi...
Trả lời câu hỏi của phóng viên Pháp luật Plus về vấn đề cấp quyền sử dụng đất cho một số hộ có có cùng hành vi lấn chiếm đất rừng tại khu vực núi Khau Piết (thôn Nặm Bún) ông Hoàng Mạnh Hiển - cán Bộ địa chính xã Hà Lang cho biết: "Những hộ không liên quan tới rừng của Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp đều đã được cơ quan chức năng cấp QSD đất. Riêng gia đình ông Nông Văn Nhạc có hơn 4 ha đất nằm trong hồ sơ của lâm trường do đó khi xin chữ ký giáp ranh, bên Công ty lâm nghiệp đã không đồng ý, nên chưa thể làm được".
Khi PV đặt câu hỏi về trường hợp hộ ông Tuấn và bà Lý Thị Xuân đều là giáo viên nhưng mỗi gia đình lại có tới mấy chục ha đất rừng và được cấp QSD đất, hiện đang trồng cam là do họ phát hoang hay mua bán mà có.
Ông Hoàng Mạnh Hiển cho hay: "Những hộ đó họ liên doanh với Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp nên được sở hữu số lượng lớn diện tích đó, nhưng do sử dụng sai mục đích nên đang bị yêu cầu nhổ cam để trồng lại cây lâm nghiệp".
Mặc dù ông Hoàng Mạnh Hiểu đã khẳng định như vậy. Nhưng trao đổi với phóng viên Pháp luật Plus qua điện thoại, ông Phạm Anh Tuấn - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp lại nêu quan điểm ngược lại: "Thực ra cho tới thời điểm này tôi chưa thấy có hộ gia đình nào ở trong đó tới liên hệ cả. Đến như bác Nhạc tôi còn chưa gặp lần nào và đã biết mặt bác ấy đâu? Vụ việc kéo dài hàng chục năm nay rồi. Chúng tôi quá mệt mỏi, hơn nữa cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì ở vị trí này cả. Người ta lấn chiếm đất rừng thì phía Kiểm lâm họ không cấp quyền khai thác thôi chứ còn bên chúng tôi khẳng định là không có một cái gì đòi hỏi đâu...".
Qua xác minh, được biết hộ gia đình ông Nông Văn Nhạc đã gửi đơn đi khắp nơi "kêu cứu" và được các cấp có thẩm quyền hướng dẫn trả lời.
Mới đây, UBND tỉnh Tuyên Quang đã giao Sở TN&MT chủ trì và phối hợp với UBND huyện Chiêm Hóa giải quyết dứt điểm vụ việc trên. Nhưng cho tới nay vụ việc vẫn giậm chân tại chỗ, người dân đau đáu chờ đợi và thót tim nghe tiếng cây đổ gây thiệt hại tài sản khi mỗi trận gió bão tràn về. (Pháp Luật+ 30/8) đầu trang(
Chủ yếu chỉ mới kinh doanh giống keo lai; không đăng ký kinh doanh; không có giấy chứng nhận nguồn giống và giấy chứng nhận lô cây con... là những bất cập cho thấy thị trường giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đang thiếu và yếu.
Quảng Nam có mùa vụ trồng rừng từ tháng 9 đến tháng 1 năm sau, tuy nhiên hiện thị trường giống cây lâm nghiệp chưa mấy sôi động. Nhiều đơn vị, cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp đang gặp khó về đầu ra. Anh Nguyễn Hữu Đạo - chủ vườn ươm cây giống Hữu Đạo (Phái Tây, thị trấn Tiên Kỳ, Tiên Phước) cho biết, mặt hàng chủ đạo là keo tai tượng. Hạt giống được mua về từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định sẽ được gieo, ươm thành cây và bán ra thị trường.
“Tính bình quân, 1kg giống cây lâm nghiệp đủ loại có giá chừng 500 nghìn đồng. Với 1kg giống, chúng tôi tốn 4 tháng để gieo hạt, ươm thành 40 nghìn cây giống và bán ra thị trường với giá 500 đồng/cây. Mọi năm lời nhiều nhưng năm nay khó khăn đầu ra nên chắc khó có dư” - anh Đạo nói.
Với các ưu thế là thời gian canh tác ngắn, dễ bán, giá phải chăng nên keo lai, keo tai tượng được trồng rộng rãi trên địa bàn tỉnh. Hầu hết cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp của Quảng Nam đều tập trung vào 2 loại cây này. Ông Nguyễn Văn Quý - Chủ tịch UBND xã Tiên Thọ (Tiên Phước) cho biết, toàn bộ 650ha trồng rừng của xã đều được người dân tập trung trồng keo tai tượng.
“Để cung cấp giống cây phục vụ trồng rừng, trước đây trên địa bàn có hàng chục cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp ăn nên làm ra. Do sản xuất, kinh doanh ngày càng khó khăn nên tại địa phương chỉ còn 1 cơ sở nhưng hoạt động nhỏ lẻ” - ông Quý nói.
Tại xã Duy Hải (Duy Xuyên) có hàng chục hộ sản xuất, kinh doanh giống keo lai. Ông Nguyễn Văn Thống - Chủ tịch UBND xã Duy Hải cho biết, người dân thu lợi cao từ sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp thì chính quyền địa phương tạo điều kiện tối đa. Chúng tôi đặt câu hỏi, các hộ đã đăng ký kinh doanh chưa thì ông Thống cho rằng, việc đó không thuộc trách nhiệm nên địa phương chưa xác thực.
“Có người mua thì người bán mới tồn tại được. Các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn hoạt động đã nhiều năm nay. Họ mua hạt từ các cơ sở lớn trong và ngoài tỉnh về gieo, ươm thành cây rồi bán” - ông Thống nói.
Theo bà Nguyễn Thị Sáu - Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Tiên Phước, trên địa bàn có 8 cơ sở và 1 doanh nghiệp đã được cấp giấy phép kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Còn lại, nhiều hộ sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp chưa thực hiện các thủ tục cần thiết. Tất cả cơ sở đều mới chỉ sản xuất và kinh doanh giống cây keo lai, keo tai tượng, còn các loại giống chất lượng như sến, lim, kiền kiền thì chưa thể.
“Hầu hết các hộ sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp đều nhỏ lẻ, tự phát. Xác minh nguồn gốc để đánh giá chất lượng giống cây lâm nghiệp thuộc trách nhiệm của cơ quan cấp tỉnh. Chúng tôi chỉ thực hiện chức trách giám sát, kiểm tra các điều kiện về sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp mà thôi” - bà Sáu nói.
Chúng tôi đặt câu hỏi, huyện đã triển khai chương trình, dự án, đề án hay siết chặt việc sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp để nâng cao chất lượng giống chưa thì bà Sáu trả lời chưa. “Theo phân cấp quản lý giống cây lâm nghiệp thì ngành chức năng của tỉnh phụ trách về giống nên cấp huyện chưa thể có chương trình, dự án thí điểm nâng cao chất lượng giống cây lâm nghiệp được. Còn về thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống lâm nghiệp nói chung thì chúng tôi đang phối hợp với cơ quan cấp tỉnh và cấp xã để triển khai chặt chẽ hơn” - bà Sáu nói.
Ông Trần Thanh Bình - Trưởng phòng Sử dụng & phát triển rừng (Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam) cho rằng, việc kiểm tra, xử lý các hộ kinh doanh sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp gặp khó trong thời gian qua. Trước đây, công việc này giao cho cấp huyện quản lý, tuy nhiên do không kiểm soát được nên từ năm 2014 đến nay, ngành kiểm lâm tỉnh phối hợp với các cơ quan chức năng của huyện đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra. Tuy nhiên rất khó xử lý, bởi các hộ sản xuất và kinh doanh giống cây lâm nghiệp cho rằng, họ tự sử dụng giống chứ không bán ra bên ngoài.
“Phải mật phục, bắt tại chỗ các cơ sở sản xuất và kinh doanh giống lâm nghiệp bán sản phẩm ra bên ngoài thì mới xử lý được. Mà việc này rất tế nhị nên bỏ ngỏ suốt thời gian dài” - ông Bình nói.
Theo ông Bình, cơ quan cấp tỉnh cấp phép quản lý về giống cây lâm nghiệp, nhưng cấp huyện phải giám sát việc cấp phép đó. Cụ thể, phòng NN&PTNT cấp huyện phải đến cơ sở sản xuất, kinh doanh giống lâm nghiệp kiểm tra xem cơ sở đó đã được cấp phép chưa, nếu không có thì xử lý.
“Chúng tôi cấp giấy chứng nhận nguồn giống cho cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp để xác minh nguồn gốc nguyên liệu gieo, ươm tạo ra sản phẩm giống cây lâm nghiệp chất lượng. Phải có giấy chứng nhận nguồn giống thì mới được cấp giấy chứng nhận lô cây con - điều kiện quyết định lô hàng của cơ sở sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp có được phép lưu thông trên thị trường. Với chức năng quản lý địa bàn, ngành nông nghiệp cấp huyện phải đến giám sát, kiểm tra nếu cơ sở không có thì hướng dẫn họ đến cơ quan chức năng để làm thủ tục và được cấp phép. Nếu cơ sở không thực hiện thì lần sau có thể áp dụng chế tài xử phạt” - ông Bình nói. (Báo Quảng Nam 30/8) đầu trang(
Chỉ cần bán vài cây sưa trong vườn là người dân làng Chanh đã đủ tiền mua nhà, tậu xe. Tuy nhiên, trước sự biến động lên xuống của giá cả thị trường không khỏi khiến cho nhiều người trồng sưa trong làng lo lắng.
Trong hơn chục năm trở lại đây, nhận thấy giá trị cao của cây sưa đỏ người dân làng Chanh (Tam Quan, Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã đồng loạt chuyển qua gieo trồng loại gỗ quý này. Mọi diện tích trống từ vườn đồi đến đường làng ngõ xóm, khắp làng đều rợp bóng sưa đỏ. Từ đó mà làng Chanh còn được gọi là “làng gỗ sưa”.
Theo ông Bùi Văn Thắng, Bí thư chi bộ thôn làng Chanh, cây sưa xuất hiện ở làng vào khoảng những năm 90 của thế kỷ trước. Gia đình đầu tiên đưa giống sưa đỏ về trồng là nhà ông Lăng Văn Bắc, ban đầu cũng chỉ có hơn chục cây trồng trong vườn nhà. Sau hơn chục năm khi cơn sốt gỗ sưa bắt đầu bùng nổ, số cây trong vườn nhà ông Bắc đã cho thu hoạch với giá trị cao. Từ một hộ đang gặp nhiều khó khăn khi chăn nuôi vịt thất bại, nhưng khi bán những cây sưa đầu tiên gia đình ông Bắc đã có tiền trang trải nợ nần, sửa chữa nhà cửa và kinh tế ngày càng khấm khá. Người trong làng thấy vậy, học theo ông trồng cây sưa với mong muốn có thể làm giàu từ cây gỗ quý này.
Người dân trong làng truyền tai nhau về giá trị kinh tế rất cao của cây sưa đỏ, mọi diện tích đất trống đều được người dân tận dụng trồng cây. Do nhu cầu cây giống ngày càng cao, nên nhiều hộ đã đầu tư mở vườn ươm. Ban đầu bán cho dân làng và khu vực lân cận, sau việc làm ăn mở rộng cây giống của làng đã cung cấp cho nhiều tỉnh thành khắp trong Nam ngoài Bắc. Ngoài ra, trong làng còn có hàng chục người làm nghề thu mua gỗ sưa.
Theo ông Thắng hiện nay, 100% các hộ dân trong làng Chanh đều có cây sưa trong vườn nhà. Hộ ít thì vài chục cây, nhiều hàng trăm cây, trong đó có những hộ gia đình mua thêm đất để mở rộng quy mô trồng hàng ha sưa. Với lứa sưa đầu trồng 12 năm trước, đến nay có khoảng 20 hộ đã cho thu nhập cao từ gỗ sưa. Thời kỳ đỉnh điểm nhiều gia đình chỉ cần bán 3 cây là đủ tiền xây được nhà.
Ông Lăng Văn Chương một trong những chủ hộ giàu nhất làng về ươm, trồng và thu mua gỗ sưa phấn khởi: “Nhờ có cây sưa đỏ mà nhiều người làng Chanh đã đổi đời, chuyện người làng xây nhà 1 - 2 tỷ là điều bình thường, chưa kể mấy chục chiếc xe hơi sang trọng có trong làng”.
Việc cây sưa đỏ đem lại lợi ích kinh tế cao cho nhiều người dân làng Chanh, có thể nói là điều không thể bàn cãi. Tuy nhiên, trước sự phát triển ồ ạt nếu không có tính toán cẩn thận, sẽ không khỏi dẫn đến tình trạng cung vượt quá cầu. Khi đó người dân trồng sưa sẽ rơi vào thế khó.
Mặt khác, sản lượng sưa đỏ của nước ta hiện nay vẫn chủ yếu là cung cấp cho thị trường Trung Quốc, điều này dẫn đến tình trạng độc quyền. Giá cả gỗ sưa đỏ lên xuống phụ thuộc rất nhiều và các thương lái Trung Quốc. Trường hợp thương lái dừng mua, người dân sẽ khó tìm được đầu ra tiêu thụ.
Nhiều chủ buôn ở làng Chanh cho biết, trong 2 năm trở lại đây giá gỗ sưa có hạ nhiệt so với trước, tùy vào từ chủng loại sưa già hay non mà giá thu mua sẽ khác nhau. Loại đường kính 10 cm trở lên được thu mua với giá 1,2 - 1,3 triệu/kg, loại có đường kính dưới 10 cm có giá 700 - 800 nghìn/ kg, loại đường kính 15cm có giá 2 triệu/kg… Sưa càng lâu năm, đường kính càng lớn thì giá trị càng cao.
Theo ông Bùi Văn Thắng, Bí thư chi bộ thôn làng Chanh, tuy giá sưa có giảm, song với nhiều người dân trong làng thì trồng cây sưa vẫn đem lại giá trị cao hơn so với những loại cây dân làng trồng trước đây như vải, na hay các cây lâm nghiệp khác. Vả lại trồng sưa khá đơn giản không nhiều mất công chăm sóc, nó tự phát triển, nên chưa có loại cây nào thay thế được. Tuy nhiên bản thân ông và nhiều người dân trong làng cũng không thể lường trước được thị trường sau này sẽ biến động ra sao.
Chính vì vậy, mà mặc dù có nhiều hộ dân đã đổi đời nhờ cây gỗ sưa nhưng với sự phát triển ồ ạt, tự phát theo phong trào khiến nhiều người dân trồng cây “tỉ phú” vẫn canh cánh nối lo khi thị trường có biến động. Thiết nghĩ để nghề trồng sưa ở làng Chanh, xã Tam Quan phát triển bền vững và đem lại hiệu quả kinh tế cao, các cấp chính quyền địa phương vẫn cần một chiến lược cụ thể để hỗ trợ người nông dân. (Dân Sinh 31/8) đầu trang(
Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2017, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tăng 12,4% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt trên 4,25 tỷ USD; trong đó, riêng sản phẩm gỗ xuất khẩu đạt 3,14 tỷ USD, chiếm gần 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này, đạt mức tăng 14,8% so với cùng kỳ.
Trong số 38 thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam thì Hoa Kỳ là thị trường duy nhất đạt trên tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2017, chiếm 41,8% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 1,78 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ.
Đứng sau thị trường chủ đạo Hoa Kỳ là 4 thị trường đạt kim ngạch trên 100 triệu USD gồm: Trung Quốc 627,64 triệu USD (chiếm 14,8%, tăng 17,2%); Nhật Bản 584,26 triệu USD (chiếm 13,7%, tăng 5,6%); Hàn Quốc 354,15 triệu USD (chiếm 8,3%, tăng 8,3%.)
Trong 7 tháng qua, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang đa số các thị trường chủ đạo đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như: Đan Mạch (+56,4%); Tây Ban Nha (+37,5%), U.A.E (+32%), Thụy Điển (+32%), NaUy (+34%).
Tuy nhiên, xuất khẩu sang Hồng Kông, Mexico và Nam Phi giảm mạnh so với cùng kỳ, với mức giảm tương ứng 56,8%, 37,5% và 40% về kim ngạch.
Năm nay, triển vọng phát triển ngành gỗ và thủ công mỹ nghệ được dự báo sẽ tăng trưởng khả quan hơn, nhờ tác động của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực vào đầu năm 2018 và Hiệp định đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng, thương mại gỗ và sản phẩm gỗ (VPA/FLEGT) vừa được Việt Nam và EU ký tắt vào tháng 5-2017.
Đây là những điều kiện thuận lợi, giúp các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ. Triển vọng phát triển ngành này tại châu Âu trong năm 2017 được dự báo tăng trưởng khả quan hơn nhờ hoạt động xây dựng thị trường tại EU được đẩy mạnh.
Tới đây, hầu hết các sản phẩm thủ công mỹ nghệ và nội thất xuất khẩu từ Việt Nam sang EU sẽ được hưởng mức thuế 0% khi EVFTA có hiệu lực. Mức thuế này được áp dụng cho các sản phẩm gỗ chế biến và sản phẩm gỗ (mức thuế trước EVFTA là 3%); đồ nội thất bằng tre hoặc mây (mức thuế trước là 5,6%); ván ép gỗ (trước là 4%), đồ trang trí bằng gỗ (trước là 3%). Cam kết này sẽ cải thiện hoạt động thương mại giữa Việt Nam và EU một cách đáng kể.
Việc khó khăn và thách thức nhất đối với ngành gỗ là về các giấy chứng nhận tiêu chuẩn rừng, nguồn gốc gỗ là một thách thức với doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể là, trong những năm tới, các nước nhập khẩu gỗ sẽ yêu cầu phải có 100% gỗ có chứng chỉ tiêu chuẩn rừng và gỗ hợp pháp. Tuy nhiên, ở Việt Nam mới chỉ có khoảng 200 nghìn ha gỗ rừng trồng đã được cấp chứng chỉ FSC, chỉ chiếm 8% diện tích rừng trồng sản xuất của cả nước.
Vietfores dự báo, để kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 10 tỷ USD vào năm 2020 thì nguồn cung gỗ nguyên liệu sẽ cần thêm 4 – 5 triệu m3/năm. Như vậy, đây là một thách thức không nhỏ trên con đường thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ và tiêu dùng trong nước.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, cho rằng: Trong tương lai, đầu tư của các doanh nghiệp gỗ của Trung Quốc vào Việt Nam có thể sẽ gia tăng nhanh chóng. Nếu điều này xảy ra, các doanh nghiệp gỗ Việt Nam sẽ phải cạnh tranh khốc liệt với doanh nghiệp Trung Quốc để đảm bảo nguồn nguyên liệu gỗ cho sản xuất. (Vinanet 30/8) đầu trang(
Từ cuối năm 2012 - 4/2017, Hà Nội đã phê duyệt và đang triển khai thực hiện 14 dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp, tuy nhiên, kết quả rà soát cho thấy các dự án trên chưa có phương án trồng rừng thay thế.
Trong nội dung Công văn số 4177/UBND-KT, ban hành ngày 28/8, UBND TP. Hà Nội đã báo cáo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tình hình thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố.
Theo đó, từ tháng 1/2012 đến tháng 4/2017: đã phê duyệt và đang triển khai thực hiện 14 dự án trên địa bàn huyện Ba Vì, Thạch Thất, Sóc Sơn và thị xã Sơn Tây. Về tình hình thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố: Kết quả rà soát cho thấy các dự án nêu trên chưa có phương án trồng rừng thay thế được Sở NN&PTNT thẩm định và UBND thành phố phê duyệt.
Để thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong thời gian tới, UBND thành phố tập trung chỉ đạo tiếp tục rà soát, đánh giá tình hình thực hiện quy định bảo vệ và phát triển rừng trong quá trình thực hiện và triển khai các dự án; yêu cầu các chủ đầu tư thực hiện xây dựng và triển khai phương án trồng rừng thay thế đúng quy định.
Trong công văn này, UBND thành phố đề nghị Bộ NN&PTNT điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 6/5/2013 và Thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2015 với các nội dung: Việc tiếp nhận tiền và thực hiện trồng rừng thay thế đối với trường hợp các dự án nộp tiền để trồng rừng thay thế tại các địa phương chưa thành lập Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng.
Hướng dẫn thực hiện trồng rừng thay thế đối với các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải lâm nghiệp được thực hiện trên diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng, hoặc đã trồng rừng nhưng chưa thành rừng. Nguồn kinh phí và mức đầu tư để trồng rừng thay thế đối với các dự án có một phần vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác trước ngày 1/7/2013.
Bên cạnh đó, hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng định mức kinh tế kỹ thuật và mức đầu tư, giống cây trồng rừng đối với công tác lập và phê duyệt phương án trồng rừng thay thế.
Quy định cụ thể về việc ưu tiên trồng rừng thay thế theo phương án trồng rừng gỗ lớn. Việc bố trí diện tích trồng rừng thay thế đối với các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sang mục đích khác theo từng loại rừng (rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất). (Đấu Thầu 31/8) đầu trang(
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) đang lấy ý kiến rộng rãi của các bộ, ngành và địa phương về Dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 38/2016/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách bảo vệ, phát triển rừng và đầu tư hỗ trợ kết cấu hạ tầng, giao nhiệm vụ công ích đối với các công ty nông, lâm nghiệp.
Dự thảo Thông tư nêu rõ, trên địa bàn một huyện chỉ được lập tối đa một dự án bảo vệ và phát triển rừng do địa phương quản lý. Trường hợp trên địa bàn đã có ban quản lý rừng phòng hộ hoặc ban quản lý rừng đặc dụng, giao ban này làm chủ đầu tư. Trường hợp trên địa bàn huyện chưa có ban quản lý rừng, giao cho hạt kiểm lâm làm chủ đầu tư. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao chủ trì thẩm định đối với dự án bảo vệ và phát triển rừng và dự án trồng rừng; Sở KH&ĐT được giao chủ trì thẩm định đối với các dự án còn lại. (Đấu Thầu 31/8) đầu trang(
Người làm nghề rừng phải giàu được nhờ rừng, đó là tinh thần mà Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020 đã đặt ra. Thực tế ở nhiều nơi, trồng rừng đang là con đường làm giàu thực sự.
Thực tiễn mà NNVN ghi nhận ở huyện Sơn Động (tỉnh Bắc Giang) là một ví dụ điển hình.
Khoảng mười năm về trước, Sơn Động từng là một điểm nóng về nạn phá rừng. Sở dĩ tình trạng phá rừng ở Sơn Động lúc ấy rất phức tạp, bởi rừng nghèo kiệt thì bát ngát, nhưng dân lại không có đất để trồng rừng. Rừng lúc đó đại đa số trên danh nghĩa vẫn là rừng tự nhiên, rừng phòng hộ thuộc quản lí của các Ban quản lí rừng. Tiếng là rừng tự nhiên, trông xa có vẻ xanh um, nhưng tới gần chỉ toàn cây bụi, cây gỗ nhỏ còng queo.
Những năm 2007 – 2008, phong trào trồng rừng đã bắt đầu nhen nhóm ở Sơn Động. Một số hộ dân chuyển từ trồng ngô, trồng sắn sang trồng rừng kinh tế (lúc ấy đa số vẫn là bạch đàn) đã bắt đầu cho thu hoạch những vụ đầu tiên có giá trị. Điều đó càng khiến cho cơn khát đất trồng rừng của người dân bùng lên. Người ta ngày đêm ngấm ngầm, lén lút chặt, lấn dần sang các diện tích rừng tự nhiên để lấy đất trồng rừng kinh tế, thậm chí cả ở những diện tích rừng mà nhà nước đã giao cho chính họ để khoanh nuôi bảo vệ.
Trước những nhức nhối này, cuối năm 2009, UBND tỉnh Bắc Giang đã phải có quyết định về việc cho phép chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang rừng sản xuất. Theo đó, đã có khoảng hơn 40 nghìn ha rừng trên toàn tỉnh (bao gồm gần 1.450ha rừng đặc dụng và trên 38 nghìn ha rừng phòng hộ) được phép chuyển từ các Ban quản lí rừng về cho UBND các huyện để giao lại cho người dân sản xuất. Tại huyện Sơn Động, trong giai đoạn từ năm 2008 – 2012, gần 12 nghìn ha rừng phòng hộ do các Ban quản lí rừng và các Cty lâm nghiệp đã được bàn giao về cho UBND huyện quản lí và giao lại cho người dân trồng rừng kinh tế.
Xin chưa phân tích và so sánh sự khác nhau về giá trị bảo hộ và bảo vệ môi trường giữa rừng phòng hộ và rừng kinh tế, tuy nhiên thực tế ở huyện Sơn Động, sau giai đoạn tỉnh Bắc Giang có chủ trương cho phép chuyển đổi một số diện tích rừng phòng hộ sang cho người dân trồng rừng kinh tế, đến nay, bộ mặt về môi trường, đời sống của người dân ở đây đã hoàn toàn thay da đổi thịt.
Không còn cảnh những quả đồi trọc nham nhở như trước đây, dọc quốc lộ 31 ngược lên trung tâm huyện Sơn Động bây giờ, một màu xanh ngút ngàn đã được bao phủ. Chỉ sau 7 – 8 năm gần đây, Sơn Động đã trồng được trên 10 nghìn ha rừng, đưa tổng diện tích rừng trồng toàn huyện lên tới gần 30 nghìn ha (trong tổng số khoảng 65 nghìn ha rừng toàn huyện). Không chỉ đưa màu xanh trở lại cho rừng núi, một ngành kinh tế lâm nghiệp giúp làm giàu cho đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ở đây đã hình thành thực thụ.
Hữu Sản có gần 90% là người đồng bào dân tộc Tày, trước đây là xã đặc biệt khó khăn điển hình của huyện Sơn Động. Ông Bế Văn Kính, Chủ tịch UBND xã bảo rằng, ông chỉ nhớ khi lớn lên thì đã thấy những ngọn núi ở Hữu Sản chẳng còn rừng nữa. Chẳng đâu xa, khoảng trước năm 2010, đại đa số đồi núi ở Hữu Sản là đồi trọc, mỗi năm dân chỉ trồng theo kiểu được chăng hay chớ một vụ ngô, sắn, lúa nương…, còn lại thì chỉ có cỏ tranh mới mọc nổi.
Thế nhưng kể từ khi phong trào giao đất để người dân trồng rừng kinh tế mở ra ở nhiều xã lân cận, Hữu Sản theo đó đã có bước đổi thay ngoạn mục. Chỉ trong vòng 5 – 7 năm trở lại đây, hơn 95% diện tích đất lâm nghiệp toàn xã đã phủ một màu xanh bạt ngàn, trong đó chủ yếu là rừng trồng kinh tế với cây keo lai là đối tượng cây lâm nghiệp chủ lực. Với chu kỳ trồng cây keo lai chỉ khoảng 5 năm, từ năm 2016 đến nay, một số diện tích rừng trồng của các hộ dân đã cho thu hoạch lần đầu.
Anh Lê Văn Bộ ở thôn Dần 1 (xã Hữu Sản) bảo rằng, nếu không có trồng rừng, ngôi nhà khang trang với tổng chi phí gần 200 triệu đồng như bây giờ có lẽ chỉ mãi là ước mơ. Gia đình anh trước đây là hộ nghèo có tiếng trong xã, trước năm 2012 còn ở nhà tranh, vách đất. Nhà có 5 miệng ăn chỉ trông chờ vào 2 sào lúa nên chẳng cần kể lể cũng biết cơ cực thế nào.
Sau ngày Lâm trường Sơn Động giải thể, gia đình anh được xã bàn giao gần 3ha đất rừng (trước đây là rừng nghèo, chỉ có nứa và thông) để chuyển mục đích sử dụng sang trồng rừng SX. Chu kỳ đầu tiên được anh trồng từ năm 2007 nhờ có nguồn giống keo lai hỗ trợ của chương trình trồng rừng dành cho các xã nghèo thuộc chương trình 30a của Chính phủ. Sau 5 năm chăm sóc, rừng đã không phụ công người.
Cuối năm 2012, mặc dù giá gỗ lúc ấy còn rất rẻ, tuy nhiên với hơn 3ha ban đầu, đã giúp gia đình anh có trong tay hơn 100 triệu đồng để xây nhà. Ngày cầm trên tay khoản tiền bán rừng, vợ chồng anh mừng phát khóc. Khóc vì chưa bao giờ có tiền nhiều đến thế. Thấy trồng rừng có tiền, anh tiếp tục mượn thêm đất để mở rộng trồng keo lai. Cuối năm 2016, lứa keo lai thứ hai gần 5ha đã cho thu hoạch, trừ tất cả chi phí lãi gần 200 triệu đồng. Số tiền này không chỉ giúp anh trả hết cho món nợ xây nhà, mà còn dư giả để mua sắm tivi, tủ lạnh, xe máy xịn…
Hộ anh Bộ chỉ là một ví dụ cho sự đổi thay của trên 500 hộ đồng bào dân tộc thiểu nhờ trồng rừng ở Hữu Sản. Với diện tích trung bình từ 2 ha/hộ trở lên (có hộ sở hữu 30 – 40ha), mỗi chu kỳ cây keo lai kéo dài từ 4 – 5 năm đã có thể đem lại thu nhập cho bà con nơi đây từ 60 – 70 triệu đồng/ha.
Có cung ắt có cầu, mới đây, đã có 2 doanh nghiệp chế biến dăm gỗ đầu tư dây chuyền chế biến trên địa bàn xã, cùng nhiều cơ sở thu mua, cung ứng giống cây lâm nghiệp. Những quả đồi chỉ 5 – 7 năm trước đây cho không ai nhận, bây giờ có giá trị chuyển nhượng lên tới hàng trăm triệu đồng/ha. Dù chỉ mới ở những giai đoạn đầu tiên, nhưng rừng ở Hữu Sản nói riêng cũng như hàng loạt xã khác ở Sơn Động đã thực sự đẻ ra vàng. Bóng dáng của một ngành kinh tế lâm nghiệp hàng hóa đang hừng hực chuyển mình từng ngày ở đây. (Nông Nghiệp VN 31/8) đầu trang(
Gia đình bà Nguyễn Thị Lan gửi đơn tới cơ quan chức năng tố cáo cán bộ địa chính xã "tiếp tay" việc lấn chiếm đất trồng rừng của dân.
Sự việc trên xảy ra giữa gia đình bà Nguyễn Thị Lan (SN 1969, trú thôn Đồng Lực, xã Nam Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình) và ông Nguyễn Văn Cường – nguyên cán bộ địa chính UBND xã Thạch Hóa (Tuyên Hóa, Quảng Bình)
Trao đổi với phóng viên bà Lan cho biết, sự việc xẩy ra hơn 10 năm nay và gia đình bà đã nhiều lần trình báo và gửi đơn thư đến chính quyền địa phương. Vậy nhưng, đến nay sự việc vẫn chưa được giải quyết hiện đang rơi vào thế im lặng khó hiểu.
Đơn của bà Lan nêu: năm 2002, gia đình bà Lan được Hội đồng tư vấn xã Thạch Hóa (sau đó chia tách ra 2 xã Nam Hóa và Thạch Hóa) giao cho 2 lô đất lâm nghiệp ở khu vực Trại Cưa (thôn Đồng Lực) để trồng rừng có tổng diện tích 107.000 mét vuông. Trong đó, một thửa trên tờ bản đồ số 111 được cấp 87.000 mét vuông giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, thửa còn lại ở tờ bản đồ số 112 có diện tích 20.000 mét vuông giao chức năng trồng rừng và đã được UBND huyện Tuyên Hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) trong năm 2002.
Tháng 10/2006, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc phát triển trồng rừng do dự án ADB hỗ trợ, gia đình bà Lan đã tiến hành phát cây dại ở phía Nam phần đất và chưa kịp phát quang ở khu vực phía Tây phần đất thì lúc đó ông Nguyễn Văn Cường (cán bộ địa chính xã Nam Hóa) đã tự ý phát cây dại rồi lấn chiếm gần 6.000 mét vuông trên phần đất của bà Lan. Ông Cường khẳng định đây là phần đất của mình rồi ngang nhiên trồng cây.
Nhận thấy phần đất của gia đình mình bị lấn chiếm, bà Lan đã làm đơn khiếu nại với UBND xã Nam Hóa.
Sự việc đến năm 2012, HĐND xã Nam Hóa mới tiến hành giải quyết tranh chấp và công nhận phần đất trên là của gia đình bà Nguyễn Thị Lan. Nhưng trớ trêu thay, sau đó ông Cường vẫn “dây dưa” không chịu trả lại phần đất lấn chiếm và ngang nhiên sử dụng để trồng cây rồi nhiều lần thách thức hộ gia đình bà Lan tố cáo, khiếu nại.
Bức xúc trức sự hống hách của ông Cường, bà Lan tiếp tục gõ cửa kêu cứu tới các ban ngành chức năng nhưng mọi việc vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Điều đáng nói, trong thời gian bà Lan thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo thì gia đình bà bỗng nhận được tin UBND huyện Tuyên Hóa lúc bấy giờ đã cấp thêm một GCNQSDĐ đứng tên ông Nguyễn Đình Chiến (bố của ông Cường) chồng lấn lên phần đất của bà Lan.
Trao đổi về sự việc, ông Trần Kim Tuyến - Chủ tịch UBND xã Nam Hóa – xác nhận việc bà Nguyễn Thị Lan bị “lấn một ít” đất trồng rừng.
“Đúng là có sự tranh chấp đất giữa hai hộ dân là bà Nguyễn Thị Lan và ông Nguyễn Đình Chiến (bố ông Nguyễn Văn Cường -PV). Vụ tranh chấp đất đai giữa 2 hộ xảy ra từ năm 2012, xã cũng đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Sau đó theo luật khiếu nại tố cáo thì xã đã thành lập một Tổ xác minh để làm rõ tất cả các nội dung và đã có kết luận.
Kết luận là ông Chiến đã có hành vi lấn chiếm đất bà Lan nhưng không phải một nửa diện tích như bà Lan tố cáo mà chỉ là 52 mét vuông có lấn vào sổ đỏ. Còn lại có gần 1700 mét vuông chưa có sổ đỏ nhưng đã trồng cây vào phần đất của bà Lan thì UBND xã đã hướng dẫn làm các thủ tục khiếu nại”, ông Tuyến cho biết.
Trả lời câu hỏi có hay không việc ông Cường là cán bộ địa chính xã tham mưu cấp GCNQSDĐ của gia đình mình chồng lấn đất của bà Lan, ông Tuyến cho hay thời thời điểm đó vị này chưa đảm nhận chức vụ chủ tịch xã.
Nói về hướng xử lý vụ việc tranh chấp đất gây kéo dài, ông Tuyến cho biết trong thời gian tới sẽ mời các ban nghành liên quan của huyện Tuyên Hóa cùng xác minh làm rõ để giải quyết dứt điểm vụ việc. (Gia Đình VN 31/8)đầu trang(./.
|
|||