|
Ngày 01 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trên tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với công tác bảo tồn voi, HĐND tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Nghị quyết số 78/2012/NQ-HĐND ngày 21/12/2012 quy định về bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk với 6 chính sách quan trọng gồm: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực bảo tồn Voi; Quy hoạch đất đai tạo nơi chăn thả voi nhà; Chăm sóc sức khoẻ, bảo tồn và phát triển đàn voi nhà; Hỗ trợ voi nhà sinh sản; Bảo tồn sinh cảnh nơi cư trú, sinh sống của voi hoang dã; Hạn chế xung đột giữa voi với người.
Trong những năm 1980, đàn voi hoang dã tại Đắk Lắk có trên 550 cá thể, thì nay chỉ còn khoảng 60-80 con. Những năm gần đây, voi hoang dã xung đột với con người với tần xuất năm sau nhiều hơn năm trước. Từ tháng 6/2012 đến nay, đã có hơn 100 đợt voi hoang dã di chuyển đến những khu vực sản xuất nông, lâm nghiệp của nhân dân và các doanh nghiệp kiếm ăn, phá hoại làm thiệt hại hàng trăm ha cây trồng như chuối, mỳ, cao su, bắp, lúa... phá chòi canh rẫy trên địa bàn các huyện Buôn Đôn, EaSúp, Cư Mgar và Ea H’leo. Đã có trường hợp voi tấn công làm chết và bi thương con người như: năm 2011 voi sát hại 1 người thuộc huyện Ea H’leo, năm 2012 voi sát hại 1 người ở huyện EaSúp, và 01 người bị gãy chân vào năm 2016.
Trao đổi với chúng tôi, Ông Huỳnh Trung Luân giám đốc trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk cho biết: Nguyên nhân dẫn đến tình trạng voi hoang dã xung đột với người được xác định là do con người tác động quá mức đến rừng nguyên sinh trong quá trình khai thác lâm sản cùng với việc chuyển đổi rừng sang trồng cây nông nghiệp, cây công nghiệp đã làm cho môi trường sống của voi hoang dã ngày càng thu hẹp, nguồn thức ăn bị khan hiếm dần, nhất là vào mùa khô. Từ đó, voi rừng đã thường xuyên đến nương rẫy nơi có nhiều thức ăn “để giải quyết cái đói” dẫn đến xung đột với người cũng là bất khả kháng.
Ông Huỳnh Trung Luân cho biết thêm: Nguyên nhân đàn voi rừng giảm mạnh là có tình trạng bị săn bắn trộm để lấy ngà, như năm 2012 đã có 3 cá thể voi rừng bị sát hại bằng súng đạn. Một nguyên nhân nữa là do biến đổi khí hậu, mùa khô nguồn nước từ các sông suối khô cạn đã làm nhiều voi con chết trong lúc theo mẹ đi kiếm ăn, tìm nước uống. Trong hơn một năm qua, đã có đến 5 cá thể voi rừng con hoang dã bị chết trong đó có 3 voi con sa xuống hồ nước. Từ năm 2009 đến nay đã thống kê được 22 cá thể voi rừng bị chết.
Vào những năm 1980 toàn tỉnh Đắk Lắk có khoảng 502 cá thể voi nhà, thì nay chỉ còn 44 cá thể. Voi nhà tập trung ở 2 huyện Buôn Đôn và huyện Lắk chủ yếu sử dụng vào mục đích phục vụ khách du lịch và tham gia các lễ hội văn hóa truyền thống của địa phương. Cỡi voi lội sông, thăm rừng là một sản phẩm du lịch đặc sắc của Đắk Lắk mà du khách trong và ngoài tỉnh đến Khu du lịch Bản Đôn, huyện Buôn Đôn và điểm du lịch Hồ Lắk, huyện Lắk đều muốn được cõi voi.
Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk nhận định: Đặc tính của voi là ăn nhiều loại cây trong rừng, nhưng hiện nay diện tích rừng tự nhiên để chăn thả voi nhà ngày càng bị thu hẹp và cách khá xa vùng nuôi voi nhà. Vì vậy chế độ ăn hàng ngày cho voi không được đảm bảo về dinh dưỡng, hơn nữa voi nhà phải thường xuyên phục vụ khách du lịch đã làm giảm tuổi thọ, khả năng sinh sản của voi. Hơn nữa mô hình quản lý voi hiện nay là độc lập theo từng tổ chức, hộ gia đình để phục vụ khai thác du lịch thường xuyên, nên voi nhà không có cơ hội gặp gỡ, giao phối để đi đến sinh sản. Ghi nhận trong 30 năm qua, voi nhà tại Đắk Lắk đã không sinh sản, trong khi số lượng voi đang giảm dần qua các năm.
Triển khai Nghị quyết 78 của Hội đồng Nhân dân tỉnh Đắk Lắk về bảo tồn voi đã hiện thực hóa “Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020. Mục tiêu tiêu là: Bảo tồn, phát triển bền vững quần thể voi hoang dã và voi nhà; khôi phục, bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật nguy cấp quý hếm và đa dạng sinh học trong vùng sinh cảnh voi; ngăn chặn, phong ngừa hiệu quả xung đột voi với người; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật, kiểm soát các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ngà voi và dẫn xuất của voi, góp phần bảo tồn các quần thể voi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”.
Ông Huỳnh Trung Luân chia sẻ: Từ những chính sách đề ra đã giải quyết được nhiều vấn đề cấp bách trong công tác bảo tồn voi, đó là kiểm soát được quần thể voi hoang dã, thực hiện các giải pháp làm giảm thiểu xung đột voi với người, thành lập các tổ chức bảo vệ voi, hỗ trợ thiệt hại cho người dân khi bị voi phá, tấn công.
Hiện nay, trung tâm bảo tồn voi đã được cấp 200ha đất rừng nguyên sinh tại xã Krông Na, huyện Buôn Đôn làm sinh cảnh để bảo tồn voi. Trong năm 2015, 2016 trung tâm đã cứu hộ được hai cá thể voi rừng bị trúng bẩy và voi rừng con bị lạc đàn. Hiện nay, hai cá thể này đang được chăm sóc và phát triển tốt tại trung tâm và sẽ từng bước đưa trở lại thiên nhiên trong khu vực 200ha rừng nguyên sinh. Đây là vùng bán hoang dã để 2 các thể voi hoang dã sinh sống nhưng cũng là vùng để làm nơi chăn thả voi nhà tạo điều kiện cho voi nhà gập gỡ, giao phối để sinh sản.
Đối với voi nhà, hàng năm voi được khám chữa bênh định kỳ, nhà nước hỗ trợ 100% tiền khám chữa bệnh và thuốc chữa bệnh cho voi.
Trong năm 2015, Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk đã thực hiện thành công việc tạo sinh cảnh để voi nhà của hộ ông Y Mứ Bkrông chủ voi cái Bang Nang giao phối mang thai được hơn 20 tháng dự kiến sinh vào cuối tháng 9/2017. Đây là tín hiệu vui đối với Tỉnh Đắk Lắk nói riêng và cả nước nói chung sau 30 năm voi nhà không thấy sinh sản. Voi nhà manh thai chủ hộ Y Mứ Bkrông đã được trao kinh phí 171 triệu đồng bù cho việc voi đi phục vụ du lịch để chủ voi yên tâm chăm sóc voi Bang Nang đến khi sinh voi con nuôi lớn thành công.
Cùng thời điểm này có 5 cặp voi nhà thả trong rừng tự nhiên để giao phối. Trong quá trình theo dõi cho thấy các cặp voi rất thân thiện bên nhau và thực hiện các hành vi giao phối. Công trình nghiên cứu khoa học cấp tỉnh về khả năng sinh sản trên voi thuần dưỡng tại Đắk Lắk đang mở ra triển vọng mới cho việc bảo tồn voi nhà.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong bảo tồn voi hiện nay là quần thể voi hoang dã tuy đã được giám sát nhưng số lượng còn khoảng 60-80 cá thể và sinh cảnh sống tự nhiên suy giảm, chia cắt đang ảnh hưởng rất lớn cho phát triển bền vững.
Trong khi đó, voi nhà có 44 con (25 voi cái và 19 voi đực) chỉ còn là 25 con gồm 16 voi cái và 19 voi đực trong độ tuổi sinh sản. Nhưng để voi gặp gỡ giao phối mang thai có hiệu quả cao thì vẫn cần sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa để sự phối hợp giữa chủ voi và Trung tâm bảo tồn voi Đắk Lắk trong việc chăm sóc sức khỏe cho voi, xác định thời điểm voi cái động dục đưa vào rừng thả để gặp gỡ giao phối là vấn đề mấu chốt để ngày càng có nhiều những voi mẹ sinh sản như voi Bang Nang. (Tài Nguyên & Môi Trường 31/8) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ đạo về việc đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm rừng tự nhiên bị phá.
Theo đó, thời gian gần đây, báo chí phản ánh có rất nhiều lực lượng tham gia nhận khoán, bảo vệ, trông coi tại Vườn quốc gia Ba Bể, nhưng những cây gỗ nghiến quý hiếm vẫn bị chặt hạ; trong đó có nhiều cây gỗ nghiến bị chặt hạ ngay tại nơi Công an huyện và Ban chỉ huy quân sự huyện Ba Bể nhận giao khoán, bảo vệ.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp các địa phương và cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm quy định, phá hoại rừng tự nhiên trên phạm vi toàn quốc, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Nhân Dân 1/9) đầu trang(
Bị CSGT yêu cầu kiểm tra số hàng phía sau xe ô tô tải, lái xe bỗng thay đổi sắc mặt, quanh co, không cho lực lượng chức năng kiểm tra…
Vụ việc xảy ra vào khoảng 10h30 sáng ngày 31-8, khi tổ công tác thuộc Đội CSGT số 11, Phòng CSGT đường bộ - đường sắt, CATP Hà Nội gồm các đồng chí: Thượng úy Nguyễn Duy Linh, Thượng úy Đỗ Như Phong, Trung úy Vũ Anh Quân, Trung úy Phùng Thế Bình do Đại úy Lã Sơn Tùng làm tổ trưởng, đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến Đại lộ Thăng Long, đoạn Km16 hướng Hà Nội – Hòa Lạc, thì phát hiện 1 chiếc xe ô tô tải có nhiều biểu hiện nghi vấn.
Phát hiện có tổ công tác, lái xe điều khiển chiếc xe tải mang BKS: 29C-710.02 này bỗng tăng tốc, có ý định tránh CSGT. Thấy vậy, lực lượng CSGT liền yêu cầu dừng xe, kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra, lái xe cho biết tên là Đỗ Đăng Huy, SN 1992, trú ở xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội.
Tổ công tác tiến hành kiểm tra thùng xe tải phía sau đang được khóa rất kỹ thì lái xe tỏ ra quanh co, không muốn mở để tổ công tác kiểm tra. Trước thái độ trên, tổ công tác đã báo cáo lãnh đạo Đội CSGT số 11. Nhận được báo cáo, Đại úy Phạm Văn Luyến, Đội phó Đội CSGT số 11 đã đến hiện trường và chỉ đạo tổ công tác kiên quyết yêu cầu lái xe chấp hành, mở thùng xe để kiểm tra.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện bên trong thùng xe có 16 tấm gỗ tạp. Tại thời điểm kiểm tra, lái xe không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của số gỗ trên.
Tổ công tác đã mang số hàng cùng người điều khiển phương tiện về bàn giao Hạt Kiểm lâm Hòa Lạc để tiếp tục giải quyết theo thẩm quyền. (An Ninh Thủ Đô 31/8) đầu trang(
Dư luận huyện Minh Hóa, Quảng Bình đang rộn lên thông tin ông Đinh Hữu Niên, Chủ tịch UBND huyện mua nhà gỗ lậu cho con trai trong khi đồng bào ở huyện rẻo cao này còn thiếu nhà ở. Thực hư câu chuyện này như thế nào khi chủ bán nói người mua được căn nhà ưng ý này đã chắp tay vái lạy cám ơn?
Xã biên giới Dân Hóa, huyện Minh Hóa đa số đồng bào thiểu số Khùa Mày, Sách…với nhiều hộ gia đình còn khó khăn về nhà ở thì ông Nguyễn Văn Dân (SN 1964, ngụ xã Châu Hóa, Tuyên Hóa) lên bản Y Leng làm ăn lại dựng được căn nhà gỗ không rõ nguồn gốc. Theo dư luận, ông Dân không được hỗ trợ chính sách khai thác gỗ rừng làm nhà ở như đồng bào bản địa. Ông Cao Văn Chương, Phó Chủ tịch UBND xã Dân Hóa cho biết, vì ông Dân là người tạm trú, không có hộ khẩu ở đây nên không áp dụng chính sách hỗ trợ nhà ở đối với ông Dân.
Tuy nhiên, ông Dân vẫn mua được gỗ và dựng một căn nhà ở bản Y Leng sát với Quốc lộ 12A, người dân trong vùng đánh giá đó là căn nhà gỗ rất đẹp, cả vùng khó có căn nhà thứ hai với toàn bộ 30m3 gỗ chua bản địa vùng Minh Hóa. Khi chúng tôi lên hỏi mua nhà gỗ, ông Dân nói chỉ cần lên ý tưởng kiểu nhà như thế nào là có nhà cho các anh. Hỏi muốn làm giấy tờ nhà cửa như thế nào? Ông Dân nói có cách hết. Khi đề cập căn nhà đã bán vào đầu năm 2017, ông Dân khoe, đã bán cho ông Đinh Hữu Niên, Chủ tịch UBND huyện với giá xấp xỉ 800 triệu đồng.
Con gái ông Dân cho biết, bán cũng rất tiếc vì nó quá đẹp. Những hình ảnh và clip chúng tôi có được cho thấy căn nhà gỗ ông Dân khoe bán cho ông Niên đúng như người dân Y Leng mô tả là cột rất to, bề thế, phải xứng tầm đại gia mới có tiền mua được căn nhà này. Sau khi mua xong, ông Niên “thông đường” và đưa về ở quê nhà xã Quy Hóa, gần trung tâm huyện lỵ Quy Đạt, ông Dân cho biết.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, để mua một căn nhà gỗ từ xã Dân Hóa về Quy Hóa hoặc Quy Đạt, nhà phải có hồ sơ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp, có xác nhận của chính quyền địa phương, kiểm lâm địa bàn, Hạt kiểm lâm huyện. Về chính sách ông Dân không được khai thác gỗ làm nhà vì không thuộc đối tượng hỗ trợ như đồng bào sở tại, trong khi đó xã không xác nhận nhà đó thuộc diện gỗ hợp pháp.
Ông Dân mô tả, ông Đinh Hữu Niên khi mua được căn nhà đã chắp tay vái lạy cảm ơn gia chủ đã bán căn nhà quá ưng ý. Dân bản mô tả nhà được tháo ra, xe tải phải chở mấy chuyến liền rầm rập, người địa phương đến xem rất đông rồi xuýt xoa không biết đời họ khi nào được ở trong căn nhà khủng như thế.
Trao đổi với các nhà báo, ông Đinh Hữu Niên bác bỏ mua nhà xong thì cảm ơn người ta chứ không có vái lạy gì. Ông khẳng định là có hỗ trợ kinh phí mua nhà cho con trai về dựng trong khu vườn cạnh nhà ông. Tại thời điểm hiện tại, căn nhà đã được dựng lại xong, ông Niên thừa nhận số gỗ chua khoảng 30m3, việc mua bán có giấy tờ đàng hoàng. Tuy nhiên khi chúng tôi muốn xem xác nhận của địa phương về số gỗ dựng nhà có hợp pháp hay không thì ông Niên không chứng minh. Ông Đoàn Phúc Hạnh, Chủ tịch UBND xã Dân Hóa cho biết, xã có xác nhận trên địa bàn có căn nhà gỗ của ông Dân nhưng không xác nhận nhà đó có giấy tờ hợp pháp hay không.
Khi hỏi về việc Chủ tịch UBND xã có ký xác nhận nội dung đó hay không thì ông Phúc nói cũng đã mấy tháng nên quên rồi ông Hạnh gọi cán bộ địa chính xã Cao Văn Thái sang phòng làm việc và hỏi thì cán bộ địa chính nói có soạn văn bản với nội dung này trên máy tính cùng với Phó Chủ tịch UBND xã Cao Văn Chương. Ông Phúc kêu tìm lại trên máy thì cán bộ địa chính nói hiện không tìm ra mà nói việc này còn có đại diện kiểm lâm huyện Minh Hóa đóng tại xã Trọng Hóa phụ trách cả Dân Hóa ký xác nhận.
Khi tìm hiểu tại trạm kiểm lâm này, ông trưởng trạm Đinh Tiến Huyền nói: “Kiểm lâm không nắm, chỉ có nghe thông tin người bán thôi xin khất trả lời sau”, tuy nhiên sau ông Huyền không trả lời. Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Minh Hóa, ông Trần Mạnh Luật cho biết, với tư cách lãnh đạo kiểm lâm huyện, ông không nhận được báo cáo vụ vận chuyển căn nhà gỗ nào của ông Dân từ kiểm lâm địa bàn, chỉ nhận thông tin qua dư luận. Trên thực tế, bất cứ căn nhà gỗ nào vừa xuất hiện tại huyện Minh Hóa từ bản làng hẻo lánh đến vùng thị trấn, kiểm lâm huyện đều biết và kiểm tra hẳn hoi. Căn nhà của ông Dân không được hợp pháp hóa của chính quyền địa phương, vậy ai tiếp tay cho căn nhà gỗ hoành tráng này vào nhà của Chủ tịch UBND huyện Minh Hóa? (Một Thế Giới 31/8) đầu trang(
Vườn Quốc gia Côn Đảo, thuộc tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu vừa thực hiện nhiệm vụ trao tặng cho Ban quản lý Khu bảo tồn biển (Cù Lao Chàm, TP. Hội An - Quảng Nam) 450/900 quả trứng rùa biển phục vụ cho công tác nghiên cứu.
Theo chủ trương của Bộ NN&PTNT đã đồng ý để tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu tặng trứng rùa cho tỉnh Quảng Nam, nhằm thực hiện đề tài nghiên cứu, bảo tồn rùa biển quý hiếm, nằm trong danh sách cần được bảo vệ nghiêm ngặt của thế giới, đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Sau khi tiếp nhận 450 trứng rùa 40 ngày tuổi và di dời về đảo, chiều 29/8, Ban quản lý Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm đã đưa vào trung tâm ấp trứng rùa được quy hoạch tại khu vực Bãi Bấc, đảo Cù Lao Chàm. Đây là khu vực của rùa biển về sinh đẻ trước kia.
Được biết, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trao tặng tổng cộng 900 quả trứng rùa biển trong năm 2017. Được chia làm 2 đợt, mỗi đợt 450 trứng. Tất cả kinh phí do UBND tỉnh đầu tư, nhằm phục hồi, bảo tồn lại rùa biển tại Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm. (Tài Nguyên & Môi Trường 31/8) đầu trang(
Sáng 31.8, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum đã tổ chức họp báo liên quan đến việc chuyển đổi rừng thông tại huyện Kon Plông (nơi được mệnh danh là "Đà Lạt thứ hai" sang trồng cây mắc ca.
Tham dự có đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông, Sở Tài nguyên - Môi trường và một số ban ngành khác nhưng không có mặt của đại diện chính quyền địa phương là huyện Kon Plông.
Ông Nguyễn Trung Hải – Giám đốc Sở NNPTNT Kon Tum cho biết: "Đến nay, huyện Kon Plong có 6 dự án phát triển nông nghiệp và đã có chủ trương đầu tư với tổng diện tích 480ha, trong đó chuyển đổi rừng thông trồng là hơn 400ha. Mặt khác, khu vực dự kiến trồng mắc ca là diện tích rừng thông trồng sinh trưởng kém, không có hiệu quả kinh tế. Việc chuyển đổi rừng trồng sang làm dự án nếu có ảnh hưởng đến môi trường thì sẽ ảnh hưởng không nhiều vì đây là rừng trồng, trước sau gì cũng chặt để trồng mới. Việc chuyển đổi này là trồng cây nông nghiệp chứ không phải dự án khác, mà cây mắc ca cũng là cây rừng".
Theo ông Hải, việc chuyển đổi rừng sang trồng trồng mắc ca đều thực hiện đúng theo chủ trương của tỉnh và trung ương. Trong đó, ông Hải nhấn mạnh: Kon Plông có điều kiện lập địa, khí hậu khá tương đồng với huyện Krông Năng – Đắk Lắk nên việc áp dụng trồng cây mắc ca là phù hợp. Theo tính toán của chúng tôi, việc trồng mắc ca cho lãi rất cao, lợi nhuận 300 triệu đồng/ha. Việc trồng có hiệu quả hay không là chuyện của doanh nghiệp, trách nhiệm của Sở chỉ dừng ở mức độ khuyến cáo.
Tại cuộc họp báo, các phóng viên có đặt câu hỏi: Có thông tin, công ty Đăng Vinh mới đây đã có văn bản gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư báo cáo tiến độ thực hiện dự án và xin trồng cây ngắn ngày, cây ăn quả trên đất đã được cấp phép trồng mắc ca. Việc này cụ thể như thế nào, đề nghị của công ty Đăng Vinh có được cơ quan chức năng chấp thuận hay không? Có hay không việc xin dự án rồi chuyển đổi trồng cây khác để chiếm đất?”.
Theo đó, Công ty Đăng Vinh đề nghị 2 nội dung xin: Trồng cây ngắn ngày để cải tạo đất” và trồng xen canh các loại cây ăn quả trên đất dự án như: cam, bơ, bưởi. Bởi theo công ty Đăng Vinh, vì Hiệp hội mắc ca có khuyến cáo nhiều nơi trồng mắc ca có năng suất thấp hoặc không trái, trong khi cây ăn trái phù hợp với thổ nhưỡng Kon Plông.
Trước câu hỏi này, ông Hải – GĐ Sở NNPTNT cho biết: Sở chưa nghe thông tin này. Cụ thể ra sao thì cần kiểm tra lại. Cùng câu hỏi trên, ông Nguyễn Hải Vân – Trưởng Phòng Quy hoạch (Sở Tài Nguyên và Môi trường Kon Tum) nói: Việc chiếm đất thì không xảy ra. Nếu dự án trong 1 năm mà không triển khai đúng quy định thì sẽ bị thu hồi hoặc chuyển doanh nghiệp khác.
Tại buổi họp, phóng viên đã có một số câu hỏi như: “Tại sao cùng thời điểm xin phép dự án, tại sao công ty Đăng Vinh được tỉnh cấp phép trồng mắc ca nhưng một công ty khác là công ty TNHH MTV Đầu tư và Phát triển Măng Đen lại không được cấp phép. Liệu có sự “ưu đãi” gì khác?”; “Đánh giá tác động môi trường khi trồng mắc ca thất bại, trong khi rừng đã mất?”… nhưng chưa có câu trả lời thỏa đáng.
Trả lời các câu hỏi này, ông Hải yêu cầu các phòng trực thuộc Sở NNPTNT phối hợp với Sở TNMT, Sở Kế hoạch đầu tư kiểm tra, trả lời chi tiết bằng văn bản sau.
Ngày 21.4.2015, UBND tỉnh Kon Tum ra văn bản số 754/UBND-KTN về việc phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Kon Tum gửi các sở ngành và các huyện nói rõ: Cây mắc ca là cây trồng mới, đang được trồng khảo nghiệm chưa có quy hoạch. Do đó, đề nghị Sở NNPTNT theo dõi, tránh tình trạng trồng tự phá gây rủi ro. Tuy nhiên, 4 tháng sau UBND tỉnh Kon Tum lại ra Quyết định 607/QĐ-UBND về chấp thuận chủ trương cho nhà đầu tư là Công ty Đăng Vinh thực hiện dự án đầu tư trồng cây mắc ca với quy mô 200ha. Tháng 1-2017, tỉnh ra quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và cho công ty này thuê đất để thực hiện dự án.
Trong khi đó, ngày 30.5.2017, Sở NNPTNT Kon Tum có báo cáo “đánh giá thực trạng và khả năng phát triển cây mắc ca trên địa bàn tỉnh Kon Tum”. Theo đó, qua rà soát trên địa bàn hiện có 146ha mắc ca. Từ thực tế kiểm tra, Đoàn công tác Tổng cục Lâm nghiệp về phát triển cây mắc ca sinh trưởng, phát triển kém đến trung bình. Do đó, đánh giá về hiệu quả của cây mắc ca và so với các loại cây trồng khác chưa đánh giá được. Đồng thời đề nghị Bộ NNPTNT xem xét chưa thực hiện phát triển nhân rộng sản xuất cây mắc ca trong giai đoạn từ nay đến 2020.
Tại buổi họp báo, ông Trần Văn Sơn – Phó Phòng Kế hoạch tài chính (Sở NNPTNT Kon Tum) cho biết: Ở Kon Tum có 3 tiểu vùng có điều kiện để trồng cây mắc ca là huyện Kon Plông, Tu Mơ Rông và Đắk Glei. Vừa qua, cây mắc ca đã được trồng khảo nghiệm tại huyện Đắk Hà, còn ở huyện Kon Plông thì chưa.
Tiếp đó, ông Vũ Văn Bắc - Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Kon Plong thì khẳng định: cách đây 3 năm ông từng đến vườn trồng mắc ca của hộ bà Mỹ (xã Măng Cành, huyện Kon Plông) thì thấy cây phát triển rất tốt, trái ra từng chùm.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Sở NNPTNT cách đây 3 tháng thì diện tích trồng mắc ca của bà Nguyễn Thị Thiện Mỹ trồng 1,6ha, cho quả rất ít dưới 1kg/cây, sinh trưởng kém, lá vàng. Các vườn khác trên địa bàn Kon Tum năng suất 0,5-0,7kg/cây.
Trước đó, Dân Việt đã viết bài “Kon Tum: Chặt 100ha rừng thông đẹp như trong phim trồng mắc ca” phản ánh việc UBND tỉnh Kon Tum có chủ trương cho phép chuyển đổi hàng trăm ha rừng thông tại huyện Kon Plông – nơi có vùng du lịch sinh thái quốc gia được ví là 1 Đà Lạt thứ 2 tại Tây Nguyên với khí hậu lạnh, mát lành với độ che phủ rừng hơn 80%. (Dân Việt 31/8) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Bình vừa phê duyệt Quy hoạch Bảo tồn Đa dạng sinh học tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
Cụ thể, mục tiêu của Quy hoạch là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý các giá trị đa dạng sinh học; duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học, góp phần xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn đa dạng sinh học nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, các cấp, các ngành và địa phương tập trung quy hoạch bảo vệ hành lang đa dạng sinh học Khe Nét – Vũ Quang trên địa bàn các xã thuộc huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) và các xã Thanh Hóa, Hương Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa (tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 30.000 ha; 4 khu bảo tồn thiên nhiên dãy núi Giăng Màn, Khe Nét, Động Châu – Nước Trong và Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng với diện tích khoảng 182.126 ha; 2 khu bảo vệ cảnh quan Núi Thần Đinh (Chùa Non) và Vũng Chùa – Đảo Yến với diện tích khoảng 8.136 ha.
Bên cạnh đó, Quy hoạch cũng tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên trên vùng đất ngập nước tự nhiên, núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụng không thuộc hệ sinh thái rừng; đồng thời quy hoạch các nhà bảo tàng thiên nhiên, vườn sưu tập cây thuốc, ngân hàng gen, các vùng được ưu tiên kiểm soát và phòng, chống các loài ngoại lai xâm hại…
Đồng thời, Quy hoạch đã xác định các giải pháp và giao trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phù hợp với mục tiêu, nội dung của Quy hoạch, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, góp phần vào việc bảo vệ, sử dụng, quản lý an toàn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh. (Môi Trường & Cuộc Sống 31/8) đầu trang(
Đó là quan niệm của người BahNar ở xã Hà Tây (huyện Chư Păh, Gia Lai) - cũng là quan niệm của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Từ quan niệm này mà những cánh rừng ở Hà Tây luôn bình yên và mướt xanh.
Đã từ nhiều năm nay, hơn 3.697 ha rừng trên địa bàn được UBND xã Hà Tây hợp đồng giao khoán cho 3 cộng đồng làng và 2 nhóm hộ tham gia quản lý bảo vệ rừng. Nhờ vậy, nhiều năm nay nhiều hộ gia đình người dân tộc thiểu số nơi đây có thêm nguồn thu nhập đáng kể, diện tích rừng mà người dân nhận khoán cũng luôn được bảo vệ nghiêm ngặt.
Người dân làng Kon Sơ Lăl (xã Hà Tây) còn nhớ như in cái ngày được Nhà nước giao khoán quản lý - bảo vệ rừng. Ngay sau khi nhận khoán bảo vệ rừng với UBND xã, già Sôn - già làng Kon Sơ Lăl đã tổ chức họp làng thông báo: "Từ trước đến nay, rừng này là rừng của làng Kon Sơ Lăl chúng ta, tổ tiên chúng ta đã gìn giữ từ bao đời nay. Nay Nhà nước lại cho chúng ta tiền, cho chúng ta gạo để tiếp tục giữ rừng. Vậy nên từ nay, mọi người trong làng không được phá rừng làm rẫy như trước đây nữa. Ai phá rừng là vi phạm luật pháp nghiêm minh của Nhà nước, là vi phạm vào luật lệ tốt đẹp có từ ngàn đời của làng". Bên đống lửa bập bùng dưới chân nhà sàn giữa làng, lời của già Sôn nói ra, như vì kèo dính vào cây cột, như tấm tranh dính vào mái nhà. Vậy nên, cả làng Kon Sơ Lăl, ai ai cũng nghe theo lời của ông.
Từ đây, 78 hộ với hơn 200 khẩu trong làng Kon Sơ Lăl được chia thành nhiều tổ, thay phiên nhau đi tuần tra kiểm soát, ai cũng có nhiệm vụ tham gia bảo vệ rừng, ai cũng vui vẻ khi được làm nhiệm vụ này.
Còn tại làng Kon Chang (xã Hà Tây), việc giữ rừng cũng không kém phần nghiêm ngặt. "Diện tích rộng, địa hình nhiều đồi dốc nên việc tuần tra, kiểm soát rừng nhận khoán của người dân ở đây là vô cùng khó khăn. Do vậy, cách duy nhất là đi bộ, len lỏi dưới tán rừng rậm rạp nhiều gai nhọn và những dốc núi dựng đứng để kiểm tra từng tiểu khu, từng khoảnh rừng mà gia đình mình nhận khoán. Mỗi chuyến đi của bà con thường kéo dài từ 2 đến 3 ngày, do vậy phải chuẩn bị sẵn đủ thứ, nào là muối, mì tôm, cá khô… để qua đêm trong rừng" - anh Yaoh (dân tộc BahNar, ở làng Kon Chang) cho chúng tôi biết.
Cũng theo anh Yaoh thì, nhóm anh luôn có bảng phân công cụ thể cho từng người, ai đi tuần tra rừng thì mới được chấm công. Mỗi tháng, anh tham gia tuần tra bảo vệ rừng từ ba đến bốn lần, mỗi lần đi như vậy anh được hỗ trợ 200.000 đồng, lại còn được hỗ trợ thêm một khoản tiền xăng xe. Hết tổ của anh rồi lần lượt đến các tổ khác, hết làng này lại qua làng khác, thay phiên vào rừng kiểm tra xem có ai phá rừng làm nương rẫy hay không, có ai xâm hại đến rừng trong diện tích mà làng đã nhận khoán.
“Nhiều khi nghe được thông tin có kẻ xấu rình rập, lén lút xâm hại đến rừng thì tất cả các nhóm tổ đều được huy động tham gia túc trực ngày đêm để làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ" - anh Yaoh nói.
Với anh HVưng - làng Kon Chang thì: "Từ khi làng nhận giao khoán rừng, dân làng được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng nên ai cũng vui mừng, phấn khởi mặc dù biết rằng diện tích đất mà lâu nay bà con hay phát rừng làm rẫy sẽ giảm đi vì từ nay không còn ai dám xâm phạm đến rừng".
Với người BahNar ở Hà Tây thì, việc giữ rừng giống như giữ cái nhà của mình, giữ cái nhà Rông của làng mình nên người dân ở đây ai cũng tự bảo nhau không được phá rừng làm nương rẫy, không để người lạ vào rừng. Nếu ai xâm phạm vào khu vực rừng nhận khoán, người dân sẽ nhanh chóng thông báo chính quyền xã can thiệp, xử lý kịp thời. Chính vì vậy mà trong thời gian qua, diện tích rừng được các cộng đồng làng, nhóm hộ nhận khoán bảo vệ không bị tán phá, những cánh rừng bạt ngàn luôn một màu xanh tốt.
Trao đổi với chúng tôi về việc giao khoán rừng cho người dân quản lý và bảo vệ, ông Thaoh - Chủ tịch UBND xã Hà Tây, cho biết: Gần 3.700 ha rừng trên địa bàn được xã hợp đồng giao khoán cho cộng đồng làng Kon Chang, Kon Hơ Nglẽh, Kon Sơ Lăl và 2 nhóm hộ quản lý bảo vệ rừng. Hàng tuần, hàng tháng xã đều cử lực lượng phối hợp với nhóm tổ của các làng, hỗ trợ tổ chức tuần tra kiểm soát diện tích rừng nói trên.
“Được hỗ trợ tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân ở đây tự nhắc nhở nhau bảo vệ diện tích rừng đã nhận khoán. Đồng thời, tự giác tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát và triển khai nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng; ngăn chặn kịp thời các hành vi chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép…”, ông Thaoh khẳng định.
Ông Nguyễn Xuân Thưởng - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai, cho biết: Đợt này, Quỹ phối hợp với UBND xã Hà Tây tổ chức chi trả hơn 145 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng tháng 5 và tháng 6/2017 cho 251 hộ, thuộc 2 nhóm hộ và 3 cộng đồng dân cư nhận khoán giữ rừng. Theo đó, tùy vào diện tích và số hộ tham gia nhận khoán, trung bình mỗi hộ nhận được từ 466.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng. Năm 2016, thu nhập bình quân 1 hộ gia đình người dân tộc thiểu số được xã thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng khoảng 4,7 triệu đồng/hộ.
“Chúng tôi mong muốn người đồng bào dân tộc thiểu số cùng chính quyền xã tăng cường công tác bảo vệ rừng, không để rừng bị chặt phá. Khoản tiền nhận được từ việc tham gia bảo vệ rừng không nhiều nhưng phần nào cũng giúp họ cải thiện cuộc sống gia đình” - ông Thưởng khẳng định.
Chính vì mong muốn trên nên ngoài nhiệm vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng kịp thời cho xã để phát tận tay người dân, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai còn tổ chức nhiều đợt tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nội dung chính là tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của chính sách này đối với người tham gia bảo vệ rừng; công tác triển khai chính sách của xã; trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia hợp đồng bảo vệ rừng cung ứng; ghi nhận và giải thích một số vướng mắc của người dân, của địa phương trong quá trình thực hiện. “Một khi người dân hiểu được điều này thì rừng sẽ luôn luôn được bảo vệ” - ông Thưởng tin tưởng.
Với người BahNar ở xã Hà Tây, việc giữ rừng không chỉ đơn thuần là nghĩa vụ, là trách nhiệm, mà còn là niềm vui nữa. Chính niềm vui này đã làm cho bà con tự giác hơn, nhiệt tình hơn trong việc quản lý - bảo vệ diện tích rừng mà làng mình đảm nhận. Điều này lý giải vì sao mà trong nhiều năm liền, gần như không có vụ xâm hại rừng nào xảy ra trên địa bàn xã Hà Tây. Điều này cũng lý giải cho sự ngằn ngặt xanh của những cánh rừng ở xã Hà Tây. (Nông Nghiệp VN 31/8) đầu trang(
Chỉ trong thời gian ngắn, một diện tích rừng phi lao rộng lớn ven biển xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức (Quảng Ngãi) đã bị triệt hạ để “biến” thành vùng sản xuất rau an toàn. Đứng nhìn cảnh từng cây phi lao hàng chục năm tuổi bị đốn hạ, chặt khúc… nằm la liệt, ai cũng phải xót xa, tiếc nuối.
Cây phi lao có sức sống quật cường, được mệnh danh là “lá chắn thép” chống bão, chống cát bay. Góp phần cải tạo đất, đem lại màu xanh cho bao vùng đất có nguy cơ bị hoang mạc, sa mạc hóa… Và nhờ những tính năng đó, bao đời nay, người dân ở ven biển xã Đức Chánh, huyện Mộ Đức luôn nâng niu gìn giữ. Thế nhưng, thời gian gần đây, UBND xã đã cho người vào đốn hạ không thương tiếc.
Chiều 31.8, PV có mặt tại địa điểm người dân phản ánh, việc đốn hạ vẫn đang diễn ra rầm rộ, tiếng máy cưa gầm rú vang dội cả một vùng. Trên bãi đất trống, hàng trăm mét khối gỗ nằm la liệt, thân cây còn rỉ mủ.
Gắn bó gần cả đời người với những cánh rừng phi lao ven biển, nay đột nhiên bị đốn hạ, bà L.T.L (trú thôn 4, xã Đức Chánh) khẳng định, việc phá hoại rừng phi lao sẽ ảnh hưởng đến hoa màu, lúa của người dân vào mùa mưa bão. Nếu tổ chức họp thì người dân không bao giờ đồng ý.
Trái ngược với ý kiến của người dân, ông Đoàn Văn Bảy – Bí thư Đảng ủy xã Đức Chánh - lại cho rằng, để thực hiện được dự án trồng rau an toàn, chính quyền địa phương đã tiến hành họp dân, khi người dân đồng tình HĐND xã mới ban hành nghị quyết. Các bước đều theo đúng trình tự. Tuy nhiên, khi PV yêu cầu được xem biên bản họp dân thì ông Đoàn Văn Bảy từ tối, và hẹn ngày hôm sau sẽ cung cấp.
Được biết, hơn 4ha rừng phi lao đang bị tàn phá để quy hoạch làm vùng sản xuất rau sạch thuộc rừng sản xuất (trước là rừng phòng hộ). Tổng diện tích rừng phòng hộ của xã có 64ha, hiện tại bây giờ còn 47,5ha. Trong 47,5ha có 31ha rừng phòng hộ đã chuyển sang rừng sản xuất, nhưng sau đó lại chuyển ngược sang lại rừng phòng hộ 14,7 ha. Năm 2000, việc nuôi tôm đã phá 12ha rừng để nuôi tôm, nay phá thêm 4ha để trồng rau an toàn.
“Việc người dân lo ngại về ảnh hưởng đến sản xuất đó là một vấn đề, nhưng mình thấy cái gì có hiệu quả, đảm bảo được các lợi ích thì chúng ta thực hiện thôi. Nếu diện tích rừng trên có bị phá cũng không ảnh hưởng gì đến ô nhiễm môi trường” – ông Bảy khẳng định. (Lao Động 1/9) đầu trang(
Liên quan đến việc vườn thú Công viên nước Củ Chi (ấp 4, xã Phước Vĩnh An, H.Củ Chi, TP.HCM) nuôi nhốt 3 con báo trái phép vừa bị Bộ Công an bắt quả tang ngày 30.8, ông Lê Văn Nhân, quản lý vườn thú, kể lại cách đây khoảng 9 ngày (ngày lấy lời khai là ngày 30.8 - PV) có 2 người đàn ông đi xe gắn máy đến vườn thú chở theo 2 con báo hoa mai đề nghị tiếp nhận nuôi.
Lúc đó, ông Nhân gọi điện cho ông Đặng Quang Thành, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH Xây dựng, thương mại và dịch vụ Đặng Vinh, hỏi ý kiến thì ông Thành đồng ý tiếp nhận nuôi và không phải thanh toán tiền gì với hai người này.
"Nhiệm vụ của tôi chỉ tiếp nhận nuôi, nguồn gốc hồ sơ lâm sản tôi hoàn toàn không biết", ông Nhân khai với cơ quan điều tra.
Tuy nhiên, ông Thành không thừa nhận việc này. Ông Thành cho rằng vào 9 giờ ngày 30.8, ông Nhân có gọi điện báo "có anh Trung ở Tây Ninh nói có quen tôi" và chở theo 3 cá thể báo (gồm 2 cá thể báo hoa mai và 1 cá thể báo lửa). Do không gặp được ông Thành nên người này ngỏ ý gửi lại vườn thú nuôi dùm và hứa sẽ đến gặp ông Thành sau.
Ông Thành khẳng định: "Anh Nhân có báo cho tôi 3 cá thể báo này không có nguồn gốc, hồ sơ gì hết. Và đến thời điểm hiện tại, không thấy anh Trung gọi điện lại và không hay biết anh Trung là ai".
"Tôi không biết với người tên Trung ở Tây Ninh nên tôi không nắm được nguồn gốc, giá cả của 3 cá thể báo này", ông Thành cho biết thêm.
Theo một trinh sát, báo hoa mai rất quý hiếm ở Việt Nam, thường sinh sống ở Châu Phi và nó là thú ăn thịt.
Báo hoa mai mới sinh có giá lên đến hàng trăm triệu đồng mỗi con. Ở TP.HCM có duy nhất nhất con báo hoa mai đực tại Thảo Cầm Viên.
Hiện Cơ quan CSĐT Công an H.Củ Chi đang điều tra, xử lý khởi tố vụ việc đúng quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Khôi Nguyên, Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng, thương mại và dịch vụ Đặng Vinh, cũng là người chịu trách nhiệm theo pháp luật của Vườn thú Công viên nước Củ Chi, cho biết ông giao cho ông H.V.P. (nhân viên văn phòng) quản lý hồ sơ lâm sản vườn thú.
Hằng ngày, ông P. chăm sóc thú; còn ông Nguyên chỉ ký các báo cáo tình hình quản lý lâm sản của vườn thú cho các cơ quan chức năng. Ông Nguyên cũng thừa nhận việc vườn thú đang nuôi 3 con báo nói trên mà không hề có hồ sơ lâm sản chứng minh nguồn gốc hợp pháp của nó.
Theo lời khai của ông Nguyên, ông P. không báo cáo cho mình về sự tồn tại của 3 con báo này. (Thanh Niên 1/9) đầu trang(
Ông Phạm Hòa Dũng - Giám đốc Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên (huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông) cho biết, đơn vị được giao quản lý và phát triển rừng với diện tích hơn 23,5 ngàn hécta.
Trong 6 tháng đầu năm 2017, lâm phần do Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên (Cty Nam Tây Nguyên) quản lý đã xảy ra 15 vụ phá rừng và lấn chiếm đất rừng với tổng diện tích 16,3ha. Theo ông Dũng, dù quản lý diện tích rừng lớn nhưng hiện đơn vị có lực lượng mỏng với 5 phân trường, 1 trạm bảo tồn quản lý.
“Nhiều đối tượng phá rừng manh động sử dụng súng tự chế, dao rựa chống trả khi lực lượng chức năng cưỡng chế, lập biên bản. Cuộc chiến giữ rừng hiện rất phức tạp nhưng chúng tôi không có công cụ xử lý mà chỉ có có thể… lập biên bản các trường hợp phá rừng để gửi các đơn vị có liên quan đến xử lý. Nhiều trường hợp chúng tôi phát hiện sự vụ và lập biên bản, đến khi kiểm lâm, UBND xã, huyện vào cuộc thì lâm tặc cao chạy xa bay rồi” - ông Dũng nói.
Tại xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong (tỉnh Đắk Nông), tình trạng phá rừng do dân di cư tự do phá chưa có chiều thuyên giảm, các đối tượng phá rừng sẵn sàng hành hung, đốt trạm bảo vệ rừng nếu bị bắt giữ.
Ông Nguyễn Anh Đức - Giám đốc Hợp tác xã Hợp Tiến - cho biết, tại diện tích do đơn vị quản lý khoảng 126 hộ ngang nhiên phá hàng trăm hécta rừng lấy đất sản xuất. Không chỉ phá rừng bởi di dân tự do, nhiều đối tượng người địa phương phá rừng theo kiểu “du kích” để lấy đất sản xuất...
“Đã không ít lần nhân viên bảo vệ bị các đối tượng hành hung, cản trở nhưng chúng tôi không thể xử lý vì không có thẩm quyền(!?). Các vụ phá rừng xảy ra, chúng tôi đều báo cáo lên cấp trên nhưng chưa được xử lý triệt để, chậm vào cuộc khiến diện tích rừng do HTX quản lý bị tàn phá” - ông Đức nói.
Việc chủ rừng than khó vì những bất cập trong công tác QLBVR là chuyện “biết rồi, nói mãi”. Ban Chỉ đạo Tây Nguyên nhận định mô hình các đơn vị quản lý bảo vệ và kinh doanh nghề rừng chưa ổn định; tổ chức hoạt động không thống nhất. Các chủ rừng chịu trách nhiệm rất lớn nhưng các điều kiện cần thiết như, phương tiện, trang thiết bị hạn chế, lực lượng mỏng và thiếu so với quy định, chức năng, quyền hạn chưa rõ ràng… chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ…
Thiết nghĩ, trong khi chờ đợi cấp có thẩm quyền xem xét, tháo gỡ bất cập trong việc quy định chức năng xử lý thì chính quyền địa phương cùng chủ rừng cần tăng cường phối hợp thường xuyên để hạn chế tiến tới chấm dứt nạn phá rừng. (Lao Động 1/9) đầu trang(
Thông tin trên được Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết trong cuộc làm việc với đoàn giám sát của Ban Pháp chế, HĐND tỉnh sáng 31/8.
Từ năm 2015 đến nay, Chi cục Kiểm lâm đã tổ chức 30 đoàn kiểm tra công tác bảo vệ rừng tại gốc trên địa bàn tỉnh; triển khai nhiều biện pháp thanh tra, kiểm tra các đơn vị trực thuộc, kiểm tra cán bộ công chức, viên chức, chống tiêu cực trong nội ngành.
Chi cục cũng đã chỉ đạo các đơn vị tập trung phát hiện, xử lý các hành vi khai thác, phá rừng trái phép; vận chuyển lâm sản, động vật rừng quý hiếm; chống các hành vi nuôi nhốt động vật rừng quý hiếm trái phép.
Từ năm 2015 đến nay, lực lượng Kiểm lâm Nghệ An đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 2.127 vụ vi phạm pháp luật; nhiều nhất là vi phạm mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật với 1.379 vụ. Đây không chỉ là gỗ được khai thác trái phép trên địa bàn tỉnh mà còn là gỗ được vận chuyển từ Lào và các tỉnh về.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm phát hiện 223 vụ phá rừng trái phép; 14 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản khác; 32 vụ vi phạm quy định về quản lý động vật hoang dã... Lâm sản tịch thu là 3.974 m2 gỗ; thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 34 tỷ đồng.
Năm 2015, 2016 và 8 tháng đầu năm 2017, cơ quan chức năng đã khởi tố điều tra vụ án hình sự 9 vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng.
Chia sẻ nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác công tác đấu tranh, phòng chống vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản, ông Nguyễn Văn Bính - Trưởng phòng Pháp chế, Chi cục Kiểm lâm cho biết: Thủ đoạn vận chuyển lâm sản trái phép ngày càng tinh vi, đối tượng sử dụng phương tiện xe khách mang biển kiểm soát Lào được thiết kế hầm ngầm và điều khiển bằng hệ thống điện, gây khó khăn cho lực lượng tuần tra, kiểm soát, phát hiện.
Cũng nêu khó khăn trong việc bảo vệ rừng tận gốc, ông Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng phòng Quản lý, bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho rằng: Hiện tại lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng, gồm: các Ban quản lý rừng phòng hộ các huyện, các Khu bảo tồn thiên nhiên, Vườn quốc gia Pù Mát, các công ty lâm nghiệp, Tổng đội TNXP, kể cả chính quyền địa phương và chủ rừng; trong đó lực lượng Kiểm lâm là nòng cốt. Tuy nhiên việc phân định trách nhiệm khi xảy ra tình trạng khai thác rừng trái phép hay cháy rừng đối với các tổ chức, cá nhân hiện tại chưa rõ ràng. Bởi vậy, ông Tuấn đề nghị UBND tỉnh cần ban hành quy định về trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Trần Ngọc Chính - Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho rằng, việc chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ rừng chưa triệt để. Nguyên nhân chính do đối tượng vi phạm chủ yếu là lái xe, đồng bào các dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản để thực hiện cưỡng chế.
Ngoài các vấn đề nêu trên, theo ông Hoàng Quốc Việt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh, ngoài các lực lượng chức năng cũng cần giao trách nhiệm cho lực lượng Bộ đội Biên phòng trong việc quản lý rừng khu vực biên giới.
Lực lượng Kiểm lâm đề nghị tỉnh nghiên cứu, xem xét bổ sung định biên, bởi hiện tại mới chỉ đáp ứng được hơn 66% theo quy định, với 398 người/600 định biên cần.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cũng đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định thuộc quy phạm pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như phòng chống các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này.
Trên cơ sở tiếp thu các thông tin từ Chi cục Kiểm lâm, thay mặt đoàn công tác, bà Thái Thị An Chung - Phó trưởng ban Pháp chế HĐND tỉnh chia sẻ với những khó khăn, đồng thời đề nghị lực lượng Kiểm lâm tiếp tục phát huy cao tinh thần trách nhiệm để hoàn thành nhiệm vụ của mình. (Báo Nghệ An 31/8) đầu trang(
Khoảng 18 giờ ngày 29-8, tổ công tác liên ngành gồm Hờ A Hồ và Lương Văn Quí là kiểm lâm viên thuộc Hạt Kiểm lâm Trạm Tấu (Yên Bái), cùng Văn Ngọc Phương, cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Trạm Tấu đang tuần tra thì phát hiện Thào A Rùa, trú tại bản Háng Tầu, xã Túc Đán đi xe máy chở hai thanh gỗ trên đường gần cổng UBND xã Túc Đán.
Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe, nhưng Rùa đã rút dao tấn công tổ công tác liên ngành, chiến sĩ kiểm lâm Hờ A Hồ bị dao chém vào tay trái, đùi trái gây thương tích nặng. Rùa tiếp tục dùng dao tấn công chiến sĩ kiểm lâm Lương Văn Quí, nhưng anh Quí chạy thoát được.
Sau khi gây án xong, Rùa đã bỏ gỗ lại, chạy về bản Háng Tầu, xã Túc Đán (Trạm Tấu). Ngay sau khi sự việc xảy ra, anh Hờ A Hồ được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Nghĩa Lộ.
Được người nhà vận động, ngày 30-8, Thào A Rùa (có tên gọi khác là Thào A Dê) đã ra đầu thú, Công an huyện Trạm Tấu tạm giữ đối tượng Rùa, tiến hành điều tra làm rõ việc chống người thi hành công vụ.
Được biết, tháng 6-2017, đối tượng Thào A Rùa đã bị Hạt Kiểm lâm xử phạt hành chính 1,5 triệu đồng về tội vận chuyển lâm sản trái phép. (Nhân Dân 31/8) đầu trang(
Nhiều voi rừng ở Đắk Lắk liên tục kéo về các tiểu khu, trạm kiểm lâm, nương rẫy của người dân tìm kiếm thức ăn và tấn công voi nhà.
Ngày 31/8, ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, cho biết thời gian gần đây voi rừng liên tục kéo về khu vực rừng huyện Buôn Đôn tìm kiếm thức ăn và tấn công đàn voi nhà của người dân.
Theo ông Luân, tối 28/8, tại khu vực thuộc trạm Kiểm lâm số 6 (Vườn Quốc gia Yok Đôn), một đàn voi rừng khoảng 6 đến 7 con đã tấn công làm bị thương 2 con voi nhà của trung tâm đang tìm kiếm thức ăn.
Vị Giám đốc cho biết thêm, từ tháng 3/2017 đến nay, 5 vụ xung đột giữa voi rừng và voi nhà đã xảy ra. Voi rừng liên tục kéo về các tiểu khu, trạm kiểm lâm, nương rẫy của người dân tìm kiếm thức ăn, tấn công làm 7 con voi nhà của trung tâm bị thương. Trong đó, con voi của ông Y Tưng Niê (ngụ xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) bị chết.
“Nguyên nhân xảy ra xung đột giữa voi rừng và voi nhà là diện tích rừng suy giảm. Một nguyên nhân khác là trong thời gian động dục, voi rừng đực tự tách đàn đi riêng lẻ, tìm voi cái nên rất hung dữ, khi gặp voi nhà sẽ tấn công để giành voi cái”, ông Luân nói.
Theo thống kê, đàn voi nhà của tỉnh Đắk Lắk đang suy giảm nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân, từ 502 con vào năm 1980, đến nay chỉ còn 43 con, số voi nhà có khả năng sinh sản rất ít. (Zing 31/8) đầu trang(
Cánh rừng cổ thụ thuộc xã Đắk Long, huyện Đắk Glei, Kon Tum, đã bị lâm tặc đốn hạ hàng trăm cây có đường kính hơn 2 người ôm. Trong khi đó, báo cáo của Hạt kiểm lâm Đắk Glei về Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum, thì việc bảo vệ rừng ở đây có vẻ như đang rất ổn.
Trước khi đến điểm phá rừng, để những lâm tặc có tiếng liều lĩnh ở xã Đắk Long không phát hiện, chúng tôi cải trang thành người đi bẫy gà rừng. Đây là địa bàn giáp với biên giới nước Lào, nơi quy tụ những “ông trùm” lâm tặc tại tỉnh Kon Tum.
Xuất phát từ 6 giờ sáng trên hai xe máy độ chế chuyên dụng của lâm tặc dùng để phá rừng, chúng tôi đi qua cầu treo Đắk Long thuộc khu vực thôn Đắk Tu, xã Đắk Long. Men theo đường mòn dưới chân núi khoảng 4km gặp một dãy núi có độ dốc lớn chắn ngang. Người dẫn đường cho biết, để vượt qua dãy núi này, xe máy độ chế của lâm tặc phải có tời ở phía trước, bánh sau được gắn xích nhằm tạo cho xe khả năng vượt núi hiệu quả nhất. Ở đây, thường mỗi tốp lâm tặc 5 người vào rừng xẻ gỗ. Thành phẩm sẽ có “ông trùm” đến tận chân núi thu mua.
Sau 1 giờ đồng hồ vượt núi, chúng tôi đặt chân đến con suối Đắk Giao, đây chính là điểm rừng bị phá. Con suối này nằm dưới hai dãy núi lớn nên có độ dốc cao, dễ trượt chân lao xuống vách đá, rất nguy hiểm. Ngoài ra, những bẫy lợn rừng đặt khắp nơi, không để ý sẽ bị sập bẫy, cáp cuốn chân treo ngược lên trời. Men theo đường suối, trong diện tích khoảng 1 ha có 40 cây gỗ lớn, đường kính 2 người ôm đã bị cưa. Tiếp tục đi ngược suối Đắk Giao khoảng 3km chúng tôi chứng kiến khoảng 60 cây gỗ lớn đường kính từ 1 đến 2 người ôm bị đốn hạ.
Theo một “thổ địa” nơi đây, để đối phó với địa hình hiểm trở, sau khi cắt hạ cây, lâm tặc sẽ đẩy gỗ xuống lòng suối rồi xẻ thành lóng. Sau đó sử dụng máy tời, cột cáp sắt vào gốc cây lớn trên đỉnh núi rồi kéo gỗ lên. Mỗi máy tời có thể kéo cây gỗ khoảng nửa tấn với khoảng cách 400m. Theo quan sát, những cây gỗ dổi lớn hơn 2 người ôm, lâm tặc chỉ cắt hạ xuống, không lấy về ngay mà đợi khô, khi trọng lượng giảm bớt sẽ cưa ra nhiều lóng để dễ vận chuyển. Những gốc đinh hương có giá trị cao bị cắt hạ và lấy đi luôn, nhiều cây mà chúng tôi chứng kiến còn ứa nhựa đỏ.
Ban đầu, tiếp nhận thông tin và hình ảnh về điểm phá rừng trên, ông Nguyễn Văn Tiến - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kon Tum cho rằng rừng thuộc xã Đắk Long không còn gỗ lớn như vậy, mà là gỗ vùng ngoài biên giới. Sau khi Tiền Phong cung cấp định vị cụ thể bằng hình ảnh, ông Tiến cho biết sẽ cử người tiến hành kiểm tra ngay, và hứa thông tin lại cho báo chí.
Theo ông Tiến, rừng tại xã Đắk Long do Ban quản lý rừng Đắk Long, Cty TNHH MTV lâm nghiệp Ngọc Hồi, một kiểm lâm địa bàn quản lý. Ngoài ra, tại đây cũng có 2 đồn biên phòng đóng chân, phía kiểm lâm cũng đã ký quy chế phối hợp. “Thời gian gần đây, Hạt kiểm lâm huyện Đắk Glei báo cáo về Chi cục không thấy rừng tại xã Đắk Long bị tàn phá. Trên địa bàn xã Đắk Long có 2 lối mở nhập khẩu gỗ từ nước bạn về nhưng đã được đóng từ thời điểm 30/7/2017 nên việc trà trộn giữa gỗ nhập khẩu và gỗ khai thác ở trên địa bàn là không có”- Ông Tiến nói. (Tiền Phong 1/9) đầu trang(
Thần Sa được hiểu như là một loại khoáng vật của thần linh. Địa danh Thần Sa (thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) là di tích khảo cổ học đã được nhà nước xếp hạng bảo tồn Quốc gia.
Ở vùng rừng nguyên sinh này, có những con người lặng lẽ giúp đồng bào bảo vệ rừng để có sinh kế bền vững dưới tán rừng.
Cùng với việc ngăn chặn, đẩy lùi và kiểm soát được tình trạng khai thác khoáng sản trái phép, tỉnh Thái Nguyên đã thành lập Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng. Anh Nguyễn Quang Lịch (Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn) cho biết, những ngày đầu tiếp quản một diện tích rộng hàng chục ngàn ha, dù địa hình phức tạp nhưng sức nóng của việc khẩn trương giải cứu rừng đầu nguồn nên đơn vị liên tục tổ chức các cuộc hành quân vào vùng lõi rừng đặc dụng, qua các hang Rắn, hang Gió, hang Hút và các lũng Mông Xay, Tu Lườn, bãi Miếu để truy đuổi hàng trăm người cư trú trái phép ra khỏi rừng.
Khi mà tiếng mìn phá đá khai thác vàng trái phép, tiếng cưa lốc đốn cây, tiếng súng săn trên rừng đã vắng thì nhiệm vụ của chúng tôi vẫn chưa thể dừng lại, anh Lịch nói. Nếu chỉ làm công tác tuyên truyền, vận động người dân chấp hành lâm luật, không vi phạm vào tài nguyên rừng, như thế sẽ trở nên sáo rỗng, bởi cuộc sống của họ đang hết sức khó khăn. Áp lực đối với rừng chỉ giảm xuống khi sinh kế của đồng bào được tạo ra ổn định, bền vững.
Hoàng Văn Lý có tiếng sát thú ở bản Mông Lũng Luông (xã Thượng Nung). Bao nhiêu con thú rừng bị Lý hạ sát - Lý không nhớ. Lý chỉ thấy thích khi bắt được con thú kêu khóc vì bị mắc cạm. Vậy mà Lý đột nhiên từ bỏ sở thích săn thú của mình. Đầu tháng 4/2012, Lý đã tự nguyện mang nộp cho Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng gần 30 chiếc cạm kiềng. Chuyện Lý từ bỏ sở thích săn bắn khiến bà con người Mông trên bản Lũng Luông, Lũng Hoài và Lũng Cà nhớ lại hồi cuối năm 2011, Hoàng Văn Chi đã tự vác con hươu xạ còn sống đến nộp cho cán bộ kiểm lâm. Ông Lý Văn Múa, người cao tuổi ở bản Lũng Luông bảo: Thế là chúng nó đã nghĩ được lâu dài.
Rừng ở trong dân, dân sống nhờ rừng, từ nhận thức đó, Ban quản lý khu bảo tồn đã vận động hầu hết các xóm bản nằm trong vùng đệm thực hiện đăng ký, nhận khoán bảo vệ rừng đặc dụng. Đồng thời, thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Theo chân những cán bộ kiểm lâm “lội rừng”, lên chốt Bản Mùn (xã Nghinh Tường), ông Triệu Tiến Thắng (tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xóm Thượng Lương, xã Nghinh Tường) cho biết, cả 55 hộ dân toàn xóm đều nhận giao khoán bảo vệ rừng với tổng số 774ha. Việc khoán bảo vệ rừng đã đem lại hiệu quả rõ rệt, tạo công ăn việc làm cho người dân, khuyến khích động viên nhân dân gắn bó với rừng. Những năm trước, Bản Mùn từng là điểm nóng về tình trạng xâm hại rừng. Ít nhiều đồng bào người Dao trong bản còn lên rừng chặt gỗ. Nay, bản đã chia thành 3 nhóm, chủ động thực hiện việc tuần rừng, kiểm tra rừng thường xuyên.
Ông Hà Văn Linh (Chủ tịch UBND xã Nghinh Tường) cho biết, cán bộ Ban quản lý khu bảo tồn đã gắn bó với người dân sinh sống liền kề rừng. Họ hướng dẫn cho bà con cách phát triển kinh tế đồi rừng bền vững; sâu sát với dân, tích cực giúp đỡ người nghèo, bày cho kỹ thuật trồng ngô giống mới, cách giữ nước trong ruộng để cấy lúa. Cán bộ kiểm lâm về bản hướng dẫn cho đồng bào kỹ thuật trồng ngô trên đất dốc, làm kinh tế đồi rừng.
Một trong những mô hình hiệu quả là hỗ trợ đồng bào trồng cây dược liệu ba kích dưới tán rừng. Theo đó, các hộ thực hiện trồng ba kích được hỗ trợ 100% giống, phân bón và tập huấn kỹ thuật. Người dân chỉ phải bỏ công, chuẩn bị tư liệu, hiện trường để sản xuất. Kết thúc quá trình, 100% sản phẩm thu hoạch được đều thuộc về nhân dân. Ba kích tỏ ra thuận với đất rừng Thần Sa - Phượng Hoàng. Cây giống nhanh chóng bén rễ, bám vào thân những cây thân gỗ, leo lên quang hợp để nuôi củ. Cây lớn nhanh, xanh tốt và đặc biệt là số cây sống đạt tỷ lệ tuyệt đối 100%.
Ông Hoàng Văn Mót (xóm Thâm Thạo, xã Nghinh Tường) cho biết, tham gia mô hình, gia đình ông trồng 1ha ba kích. Sau 3 năm thu hoạch, sản lượng đã đạt 3 tấn, tương đương với 600kg củ khô. Nhân với giá thị trường là 400.000đ/kg, ông Mót có 240 triệu đồng. Chia 3 năm, mỗi năm cho thu nhập 80 triệu đồng.
Anh Nguyên Văn Tuyên (Phó Giám đốc BQL KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng) cho biết, dự án trồng ba kích tại KBTTN đã mở ra một hướng đi mới, một cách nhìn nhận mới về phát triển sinh kế cho người dân dưới tán rừng đặc dụng, phòng hộ. Đó cũng là cơ sở để đồng bào vững tin thực hiện một số mô hình khác. Hiện nay, trên địa bàn, các mô hình đang phát huy hiệu quả như mô hình trồng chuối tây ở xã Thượng Nung, mô hình trồng đinh lăng, hà thủ ô ở xã Phú Thượng. Anh Tuyên nhận xét, với vị trí là khu vực phòng thủ chiến lược, cùng với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước trong xây dựng hạ tầng cơ sở, việc tạo sinh kế để đồng bào vùng đệm, vùng lõi yên tâm phát triển kinh tế chính là giải pháp bền vững để hạn chế áp lực đối với rừng.
Anh Nguyễn Quang Lịch (Giám đốc BQL KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng) đánh giá, hệ sinh thái rừng tại KBTTN đang được phục hồi, nhiều loài động, thực vật tưởng biến mất thì nay xuất hiện trở lại. Anh em đi tuần tra thường xuyên gặp khỉ mặt đỏ, còn gọi là khỉ đuôi cộc, là loài đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và danh sách các loài cần được bảo vệ. Thời gian qua, Ban đã triển khai nhiều hoạt động phối hợp với các tổ chức trong nước và quốc tế khảo sát điều tra về các loài linh trưởng như voọc đen má trắng, voọc mũi hếch, vượn..., để có giải pháp bảo tồn hữu hiệu.
Những lần lặn lội sâu vào lõi rừng để điều tra, theo dõi đánh giá hệ động thực vật của khu bảo tồn, cán bộ của Ban đã được tiếp cận với những khu rừng thông tre, kim giao, Thanh Hương, gù hương...; những vạt rừng nguyên sinh với những cây cổ thụ lớn như đinh, nghiến, sến, táu... Chuyên gia của tổ chức khảo sát theo dõi sinh vật rừng quốc tế đã khẳng định, KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng có hệ động thực vật đặc trưng, tiêu biểu và duy nhất còn lại của khu vực Đông Bắc bộ Việt Nam. Giám đốc BQL KBTTN chợt trầm tư rồi nhỏ nhẹ, rừng bạt ngàn nhưng không phải là tài nguyên đơn thuần mà đã thực sự trở thành “báu vật”.
Vị Giám đốc khu rừng thiêng mong muốn sẽ được tăng cường lực lượng để báu vật quê hương được bảo vệ ngày càng tốt hơn. (Nông Nghiệp VN 1/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổng diện tích rừng của tỉnh Yên Bái sau kiểm kê là 523.275,2 ha, chiếm 75,9% diện tích tự nhiên...
Trên hệ thống đầu nguồn của sông Hồng, sông Đà, sông Chảy nơi có nhiều công trình thủy điện lớn của quốc gia đã thực hiện việc chi trả dịch vụ môi trường rừng…
Hiện có 17 Cty TNHH và Cty CP khai thác nguồn nước trên hệ thống sông, suối chảy qua tỉnh Yên Bái để chạy máy thủy điện, cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản. Trong đó có 13 Cty thủy điện khai thác 25 nhà máy thủy điện, 4 Cty cung cấp nước sạch và nuôi trồng thủy sản.
Những nhà máy thủy điện có công suất lớn: Thác Bà, Hòa Bình, Sơn La, Huội Quảng, Văn Chấn… Tổng số tiền mà các DN phải chi trả dịch vụ môi trường rừng là 63,119 tỷ, với giá 20đ/kW/h, nếu theo QĐ số 1225/QĐ-UBND tỉnh Yên Bái ngày 3/7/2017 với giá 36đ/kW/h thì số tiền phải thu là 79,022 tỷ. Tuy nhiên, do Bộ Tài chính chưa điều chỉnh giá điện nên số tiền dịch vụ môi trường rừng các nhà máy thủy điện phải nộp cho tỉnh Yên Bái là 63,119 tỷ.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng tỉnh Yên Bái, tính đến ngày 28/8/2017 số tiền đã thu 24,12 tỷ, trong đó Quỹ môi trường rừng TW đã trả 17 tỷ, các nhà máy thủy điện nội tỉnh là 6,6 tỷ. Một số Cty nợ tiền dịch vụ môi trường rừng: Cty TNHH Thanh Bình, Cty TNHH thủy điện Nậm Tục, Cty CP thủy điện Mường Kim, Cty TNHH Xuân Thiện, Cty CP Đầu tư và Phát triển điện Yên Bái đến giữa quý II/2017 đã trả hết số nợ 1,522 tỷ. (Nông Nghiệp VN 30/8) đầu trang(
Sản xuất gỗ là ngành nghề đã phát triển nhiều năm trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn như hiện nay, ít nhiều đã tác động đến sự phát triển của ngành gỗ. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho nghề sản xuất và chế biến gỗ phát triển hơn nữa, Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Khuyến công) Bình Dương đã tập trung hỗ trợ nguồn vốn đầu tư, máy móc, công nghệ hiện đại cho nhiều cơ sở sản xuất gỗ.
Thời gian qua, sự hỗ trợ của Khuyến công Bình Dương đã giúp cho nhiều doanh nghiệp (DN), hộ gia đình sản xuất gỗ trên địa bàn thực hiện được các dự án đổi mới, đầu tư, mua sắm thiết bị, máy móc nhằm nâng cao hiệu quả, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Đặc biệt, từ đầu năm đến nay, Trung tâm đã phối hợp với Phòng Kinh tế - Hạ tầng của các huyện, thị, thành phố triển khai nhiều đề án hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật; chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc tiên tiến trong sản xuất, mà trọng tâm là các DN chế biến gỗ, với tổng kinh phí trên 2,2 tỷ đồng.
Hiện nay, các doanh nghiệp này đang từng bước mở rộng quy mô sản xuất và sử dụng hiệu quả hệ thống máy móc, thiết bị được đầu tư mới. Trước khi triển khai thực hiện đề án, các DN, cơ sở sản xuất được Trung tâm tư vấn kỹ lưỡng, cung cấp thông tin về trang thiết bị, máy móc để các đơn vị chủ động sử dụng nguồn vốn hợp lý, đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc, công nghệ mới phục vụ sản xuất. Có thể nói, đây là hoạt động rất thiết thực, qua đó, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề mộc truyền thống từng bước thay đổi cách thức sản xuất để mang lại hiệu quả.
Bà Đỗ Thị Bích Sâm - Giám đốc Công ty TNHH Bảo Hưng, thị xã Tân Uyên, Bình Dương (đơn vị được thụ hưởng các ưu đãi từ chính sách khuyến công) cho biết: “Công ty Bảo Hưng được thành lập năm 2004 với ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất các sản phẩm từ gỗ, tre, nứa. Với số vốn hạn chế nên hệ thống máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất chưa được Công ty đầu tư và cải tiến. Trước những đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nội thất đồ gỗ, Bảo Hưng buộc phải tìm cách thay đổi, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. Tháng 7/2017, được Trung tâm Khuyến công Bình Dương hỗ trợ 200 triệu đồng thực hiện Đề án “Ứng dụng máy CNC trong sản xuất chế biến gỗ”, chúng tôi đã mạnh dạn đầu tư hơn 1,6 tỷ đồng để mua mới 01 máy CNC đa chức năng (Model: TECH Z2-31B F26), vận hành hoàn toàn tự động thông qua hệ thống máy vi tính để phục vụ công đoạn chạm khắc, tạo ra các sản phẩm gỗ có độ đồng đều, chính xác cao, nâng cao năng suất lao động lên gấp 1,5 lần so với trước. Đồng thời, tiết kiệm được nhiều thời gian sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.
Có thể nói, với các hoạt động hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm, Khuyến công Bình Dương đã thực hiện hiệu quả các nội dung, chương trình đề ra. Đặc biệt, các đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc cho các đơn vị đã nhận được sự quan tâm từ các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực học hỏi và mạnh dạn đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất. (Tạp Chí Công Nghiệp & Tiêu Dùng 31/8) đầu trang(
29-8, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức Hội thi Kiểm lâm viên giỏi năm 2017. Tham dự Hội thi có 4 đội thi đến từ 3 cụm thi đua của Chi cục Kiểm lâm tỉnh và Ban Quản lý khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng.
Các đội đã trải qua 3 phần thi: Chào hỏi; kiến thức và hùng biện. Hội thi là dịp để cán bộ, công chức, viên chức trong toàn lực lượng Kiểm lâm đua tài, tạo không khí thi đua sôi nổi trong học tập, giao lưu tìm hiểu lẫn nhau góp phần nâng cao trình độ năng lực công tác; đồng thời, là dịp tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về vai trò tác dụng của hệ sinh thái rừng, những tác hại do việc cháy rừng gây ra. Qua đó, mỗi cán bộ kiểm lâm cần phát huy tinh thần trách nhiệm trong công tác bảo vệ rừng, hiểu rõ và đầy đủ những quy định pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đấu tranh ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi khai thác, cất giữ, buôn bán, vận chuyển trái phép lâm sản; chung tay bảo vệ môi trường, góp phần chống thiên tai lũ lụt, chống biến đổi khí hậu...
Kết thúc Hội thi, Cụm thi đua số 1 đã xuất sắc giành giải Nhất; Cụm thi đua số 2 giành giải Nhì và giải Ba thuộc về Cụm thi đua số 3. Ngoài ra, Ban tổ chức còn trao giải cho các đội có phần thi chào hỏi độc đáo nhất và phần thi hùng biện ấn tượng nhất. (Báo Thái Nguyên 29/8) đầu trang(
Mấy năm trở lại đây, đời sống của bà con xã Phúc Lai, huyện Đoan Hùng đã có bước chuyển tích cực nhờ phát huy lợi thế của địa phương trong sản xuất. Tuy nhiên, người dân chưa khai thác hết thế mạnh từ rừng, diện tích trồng rừng và đầu tư vào rừng còn chưa tương xứng.
Xác định được điều đó, Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2015-2020 đã ra Nghị quyết tập trung lãnh đạo, nâng cao năng suất, chất lượng cây lâm nghiệp, cây chè, cây bưởi Đoan Hùng, phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, trở thành sản phẩm mũi nhọn của địa phương. Để thực hiện tốt chỉ tiêu trồng rừng, hàng năm, xã tập trung rà soát, hướng dẫn bà con đăng ký diện tích rừng trồng mới. Trước mỗi vụ trồng rừng, xã phối hợp với các đơn vị chức năng tổ chức tập huấn, chăm sóc, vận động người dân phát dọn thực bì, chuẩn bị tốt cây giống, phân bón để trồng rừng đạt hiệu quả cao.
Hàng năm, diện tích rừng trồng mới ngày càng tăng, năm 2016, xã đã trồng mới 80ha cây lâm nghiệp, trong đó có trên 45ha dự án phát triển cây lâm nghiệp, trồng 1.600 cây phân tán; cải tạo, trồng mới 10ha chè và gần 14ha trồng bưởi. Đến nay toàn xã đã có 50ha cây lâm nghiệp cho khai thác với sản lượng gỗ đạt gần 2.500m3; 140ha chè cho thu hoạch, sản lượng đạt trên 1.800 tấn búp tươi.
Vài năm trở lại đây, cây bưởi đã mang về lợi nhuận cho người dân trồng bưởi ước từ vài chục triệu đến trăm triệu đồng/năm. Hiện nay, toàn xã có 40ha diện tích bưởi thu hoạch, giá trị đạt khoảng 1,5 tỷ đồng. Nguồn thu từ rừng, chè và cây ăn quả đã giúp đời sống người dân cải thiện đáng kể, mức thu nhập bình quân đạt gần 18 triệu đồng/người/năm. Đây là nguồn nội lực tốt để bà con cùng Nhà nước thực hiện các tiêu chí về hạ tầng trong xây dựng nông thôn mới, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Đến thăm mô hình vườn, rừng, chuồng của anh Khương Văn Duy và Trần Quang Thượng khu 5 mới thấy được đồi rừng đã mang đến sự thay đổi cho gia đình các anh. Anh Thượng cho biết: “Gia đình tôi đã kết hợp thành công việc nuôi gà thương phẩm với trồng các loại cây như keo, mỡ… vừa giúp tăng thu nhập cho gia đình vừa góp phần phủ xanh đất trống, đồi trọc. Mỗi năm tôi thu về 80 triệu đồng, sau khi đã trừ hết chi phí”. Hiện gia đình anh có 2ha chè, gần 3ha rừng cây lâm nghiệp.
Cũng như nhiều địa phương khác, Phúc Lai vẫn còn nhiều khó khăn trong việc nâng cao giá trị từ rừng. Do trồng rừng sản xuất có chu kỳ 7 năm, chế biến thô sơ nên giá trị sản phẩm mới chỉ đạt 80 đến 100 triệu đồng/ha. Người dân vẫn chủ yếu chọn cây keo để trồng rừng là chính, sau đó khai thác trắng rừng gây nguy cơ xói mòn, giảm dinh dưỡng trong đất.
Đồng chí Lê Đức Thiện- Chủ tịch UBND xã Phúc Lai cho biết: Để phát triển kinh tế rừng, thời gian tới, xã tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để người dân đa dạng cơ cấu giống cây lâm nghiệp, lựa chọn các loại cây có giá trị kinh tế cao, tạo điều kiện nhân rộng các mô hình sản xuất dưới tán rừng, triển khai thực hiện tốt cơ chế, chính sách của Nhà nước cho vay vốn đầu tư sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững; kết hợp hài hòa cả lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường sinh thái. Trồng rừng, bảo vệ rừng đi đôi với khai thác sản phẩm từ rừng, tạo sản phẩm hàng hóa, tăng thu nhập cho người trồng rừng.
Chủ trương đẩy mạnh trồng và chăm sóc rừng ở Phúc Lai đã mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, để có hướng phát triển bền vững, Đảng bộ, chính quyền xã cần phối hợp với các cấp, ngành rà soát, quy hoạch vùng sản xuất tập trung đối với từng loại cây trồng; vận động nhân dân dồn đổi đất, tiến tới phát triển quy mô lớn, thuận tiện cho khai thác, vận chuyển; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân về vai trò, lợi ích và trách nhiệm trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Tận dụng đất rừng nghèo để triển khai trồng rừng mới; tăng nhanh diện tích rừng sản xuất; tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài cho cá nhân. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật vào cây trồng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, rút ngắn chu kỳ kinh doanh, nâng cao giá trị thu nhập, đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh từ nghề rừng. (Báo Phú Thọ 31/8) đầu trang(
Hiện ở huyện M’Đrắk (Đắk Lắk) nhiều gia đình đồng bào dân tộc thiểu số các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo vươn lên làm giàu từ trồng rừng nguyên liệu; đây là địa phương có phong trào trồng rừng tốt nhất ở tỉnh Đắk Lắk.
Huyện M’Đrắk có nhiều diện tích đồi núi trọc, đất đai cằn cỗi gieo trồng các loại cây ngắn ngày mang lại hiệu quả kinh tế thấp. Địa phương vận động đồng bào các dân tộc chuyển phần lớn diện tích đất gò đồi, đồi núi trọc, đất trồng cây ngắn ngày kém hiệu quả sang trồng rừng; đồng thời, huyện tạo điệu kiện giúp đồng bào vay vốn ngân hàng đầu tư phát triển kinh tế rừng.
Các ngành chức năng trên địa bàn huyện phân công cán bộ kỹ thuật hướng dẫn, giúp đỡ các gia đình chọn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc thâm canh cây rừng để đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao.
Ông Nguyễn Văn Song, Chủ tịch UBND xã vùng sâu Cư K’róa cho biết, địa phương có trên 70% gia đình tham gia phát triển nghề rừng bằng hình thức trồng rừng với giống keo lai (hộ thấp nhất gần 1 ha nhiều nhất trên 10 ha). Nhờ vậy, hàng trăm gia đình thoát nghèo vươn lên làm giàu.
Gia đình anh Nguyễn Văn Điêu, ở thôn 1 xã Cư K’róa chuyển 8 ha đất nương rẫy sỏi đá, cằn cỗi sang trồng keo lai; trong đó, 3,5 ha đã cho khai thác thu về trên 300 triệu đồng. Anh Nguyễn Văn Điêu cho biết thêm, khi vườn cây đến chu kỳ khai thác, thương lái vào tận vườn đặt mua với giá thỏa thuận, người trồng không phải lo khai thác, vận chuyển …
Bà Mạc Thị Pơ, thôn 1 xã vùng sâu Cư K’róa cho biết, gia đình trồng 3 ha keo lai cấy mô, giống này có ưu điểm vượt trội so với keo giâm hom là kháng tốt sâu bệnh, ít phân cành, sớm cho thu hoạch (từ 4 đến 5 năm, giống keo lai giâm hom phải mất từ 6 - 7 năm mới cho thu hoạch), thích hợp với điều kiện khí hậu, đất đai tại địa phương. Vừa rồi, gia đình bà đã khai thác đợt 1 thu về trên 200 triệu đồng…
Ngoài ra, các gia đình đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện M’Đắk liên kết với các doanh nghiệp như Công ty cổ phần tập đoàn Tân Mai, Công ty cổ phần Trồng rừng Trường Thành M’Đắk, Công ty TNHH Tam Phát…trồng rừng nguyên liệu để không những đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp, tăng thêm độ che phủ rừng mà còn tăng thu nhập, ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa trên địa bàn.
Hiện, huyện M’Đắk có tổng diện tích rừng trên 72.897 ha; trong đó, 13.864 ha rừng trồng, diện tích còn lại là rừng tự nhiên. Trong tổng diện tích rừng trồng, rừng trồng của các hộ gia đình có trên 6.000 ha, còn lại là của các doanh nghiệp. Diện tích rừng trồng tập trung chủ yếu ở các xã Ea Trang, Cư K’róa, Cư San, Ea M’doan…(Đảng Cộng Sản VN 31/8) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), những năm qua đã tạo động lực để bà con xã Sùng Phài (huyện Tam Đường) thêm gắn bó với rừng. Nhờ rừng, bà con đã nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế VACR, hạn chế các vụ cháy rừng, khai thác lâm sản trái phép.
Làng Giảng nhiều năm liền được công nhận là bản có thành tích bảo vệ rừng tốt nhất xã. Bản có 25 hộ, 100% đồng bào dân tộc Mông sinh sống. Ông Thảo A Kỷ - Trưởng bản Làng Giảng, người có thâm niên 9 năm làm trưởng bản chia sẻ: So với 10 năm trước nhận thức của người dân đã thay đổi nhiều, đặc biệt trong công tác bảo vệ rừng. Trước đây, do cuộc sống còn khó khăn đa số bà con tự ý vào rừng chặt cây lấy gỗ, lấy củi, phá rừng làm nương nên cánh rừng của bản ngày càng kiệt quệ. Ngày đó, chính quyền tuyên truyền nhiều nhưng không có sự chuyển biến, vì bà con nghĩ rừng là của chung không phải của riêng nên không cần bảo vệ. Giữa lúc khó khăn đó, năm 2011 xã tiến hành chi trả tiền DVMTR đã tạo động lực để Nhân dân gắn bó với rừng, chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn.
Dẫn chúng tôi đi thăm cánh rừng do bản bảo vệ quản lý, nhìn những cánh rừng bạt ngàn màu xanh, ở các đường mòn dẫn lên các khu rừng bà con đều tự làm biển báo, biển cấm xâm hại rừng, thực bì được phát dọn gọn gàng là minh chứng khẳng định bà con trong bản đã biết bảo vệ rừng, gắn bó với rừng. Được biết, bản thành lập tổ chuyên trách bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng thường xuyên tuần tra, canh gác nhất là vào mùa khô. Quản lý chặt chẽ việc phát nương và đốt nương của bà con, khi đốt nương phải thông báo với trưởng bản, canh gác đến khi lửa tắt mới được về, tránh tình trạng lửa cháy lan vào rừng. Nhờ đó, nhiều năm trở lại đây bản không xảy ra tình trạng cháy rừng. Năm 2016, toàn bản có 34,26ha rừng được thanh toán tiền chi trả DVMTR với tổng số tiền 16 triệu đồng.
Tìm hiểu chúng tôi được biết, xã Sùng Phài có 8 bản với 395 hộ. Địa bàn chủ yếu rừng núi cao, độ dốc lớn, giao thông đi lại khó khăn. Một số hộ còn thờ ơ trong việc phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và bảo vệ rừng dẫn đến tình trạng phát nương trái phép, sử dụng lửa và đốt lửa trong, ven rừng không đảm bảo các quy định an toàn về PCCCR. Mùa khô năm 2015 - 2016 trên địa bàn xã xảy ra 1 vụ cháy thảm cỏ tại bản Cư Nhà La.
Để nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương, nhận thức, chấp hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Nhân dân, xã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên lồng ghép các buổi tuyên truyền vào những ngày họp bản để vận động, nhắc nhở bà con thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng. Tổ chức cho 8 bản ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng. Đồng thời, mỗi bản thành lập 1 tổ chuyên trách bảo vệ rừng. Nhiệm vụ của các tổ là tuyên truyền, thường xuyên tuần tra, canh gác lửa rừng, giáo dục Nhân dân chấp hành tốt Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tham gia huy động, chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Nếu hộ nào không tham gia tuần tra rừng, canh gác, chữa cháy rừng hoặc vi phạm hương ước, quy ước bảo vệ rừng của bản lần đầu tiên phạt 100 nghìn đồng đến lần thứ 3 mà vẫn vi phạm sẽ không được tham gia tổ chuyên trách bảo vệ rừng và không được bản chi trả tiền DVMTR.
Trao đổi với chúng tôi, anh Phàng A Sang - Phó Chủ tịch UBND xã Sùng Phài cho biết: “Từ khi triển khai chính sách chi trả DVMTR đã gắn được trách nhiệm của từng người dân đối với công tác bảo vệ, phát triển vốn rừng. Nếu bản nào chăm sóc, giữ rừng tốt thì được nhận tiền chi trả DVMTR, các chính sách hỗ trợ về lương thực, khai thác nguồn lợi từ rừng. Năm 2016 tổng diện tích rừng của xã được nghiệm thu thanh toán tiền DVMTR 503,33ha, trong đó rừng phòng hộ 383,72ha, rừng sản xuất 119,61ha với tổng số tiền 239 triệu đồng. Giờ đây, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép giảm đáng kể”.
Hiểu được lợi ích từ rừng mang lại, năm nay bà con ở các bản: Sùng Phài, Suối Thầu, Căn Câu, Sin Chải trồng mới 8,5ha rừng, chủ yếu trồng loại cây gỗ lớn như: lát hoa, cây thông, sơn tra. Trong quá trình triển khai trồng rừng, bà con luôn tuân thủ kỹ thuật từ khâu đào hố, trồng, chăm sóc mà cán bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện hướng dẫn, đảm bảo tỷ lệ cây sống cao.
Việc triển khai thực hiện chi trả DVMTR đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái và mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân xã Sùng Phài. (Báo Lai Châu 31/8) đầu trang(
Đó là mục tiêu tại Quyết định số 3057/QĐ-UBND ngày 30/8/2017 về việc phê duyệt Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Bình đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2040.
Mục tiêu của Quy hoạch là bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên đa dạng sinh học, sử dụng hợp lý các giá trị đa dạng sinh học; duy trì và phát triển dịch vụ hệ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học, góp phần xóa đói, giảm nghèo; bảo tồn đa dạng sinh học nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu.
Để hoàn thành mục tiêu đề ra, các cấp, các ngành và địa phương tập trung quy hoạch bảo vệ hành lang đa dạng sinh học Khe Nét - Vũ Quang trên địa bàn các xã thuộc huyện Hương Khê (tỉnh Hà Tĩnh) và các xã Thanh Hóa, Hương Hóa thuộc huyện Tuyên Hóa (tỉnh Quảng Bình) với diện tích khoảng 30.000 ha; 04 khu bảo tồn thiên nhiên dãy núi Giăng Màn, Khe Nét, Động Châu - Nước Trong và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với diện tích khoảng 182.126 ha; 02 khu bảo vệ cảnh quan Núi Thần Đinh (Chùa Non) và Vũng Chùa - Đảo Yến với diện tích khoảng 8.136 ha.
Bên cạnh đó, Quy hoạch cũng tập trung thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên trên vùng đất ngập nước tự nhiên, núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụng không thuộc hệ sinh thái rừng; đồng thời quy hoạch các nhà bảo tàng thiên nhiên, vườn sưu tập cây thuốc, ngân hàng gen, các vùng được ưu tiên kiểm soát và phòng, chống các loài ngoại lai xâm hại...
Mặt khác, Quy hoạch đã xác định các giải pháp và giao trách nhiệm cụ thể cho các sở, ngành liên quan trong việc tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phù hợp với mục tiêu, nội dung của Quy hoạch, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, góp phần vào việc bảo vệ, sử dụng, quản lý an toàn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh. (Quangbinh.gov.vn 31/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Một du khách tới từ Ba Lan trong lúc đi lạc trên ngọn đồi ở Montenegro đã vô tình làm cháy rừng khi nhóm lửa phát tín hiệu cầu cứu.
Theo Daily Mail, du khách này đã không thể xác định được phương hướng khi di chuyển tới ngọn đồi ven bờ biển phía nam Montenegro.
Anh ta quyết định nhóm lửa làm tín hiệu để thông báo cho cảnh sát vị trí của mình. Nhưng do nhiệt độ cao và thảm thực vật khô, ngọn lửa đã vượt khỏi kiểm soát, lan nhanh ra cả khu rừng và đe dọa các khu du lịch nổi tiếng ở vùng Susanj và Bar.
Thủ phạm gây ra vụ cháy rừng cũng đã bị cảnh sát bắt giữ không lâu sau đó với cáo buộc gây nguy hiểm cho cộng đồng.
Giới chức địa phương cho biết các nhân viên cứu hỏa đã phải làm việc suốt đêm để dập tắt đám cháy nhưng tình hình vẫn khá nghiêm trọng. (VTC News 31/8) đầu trang(
Ngôi sao phim hành động Thành Long tham gia chiến dịch chống tiêu thụ tê tê tại Malaysia do tổ chức WildAid triển khai.
Trong video chiến dịch "Kung Fu Pangolin" của WildAid, ngôi sao Rush Hour huấn luyện kung fu cho 3 con tê tê để chúng tự bảo vệ, đồng thời kêu gọi người xem chống việc ăn thịt tê tê hoặc sử dụng vảy tê tê làm thuốc theo y học cổ truyền.
Giám đốc WildAid Peter Knights chỉ ra sự thành công của những chiến dịch chống tiêu thụ vây cá mập cùng sừng tê giác trước đó và hy vọng lớn với chiến dịch "Kung Fu Pangolin" khi "Thành Long có một lượng khán giả hâm mộ khổng lồ khắp châu Á và có những dấu hiệu rõ ràng rằng chiến dịch đã tác động và thái độ đang thay đổi".
Trước đó, chính quyền bang Sabah ở Bắc Borneo, Malaysia, đã đưa ra quy định khẩn cấp cấm săn bắt tê tê, nỗ lực đưa tê tê trở thành một loài được bảo vệ hoàn toàn, săn bắt tê tê sẽ lãnh án đến 5 năm tù, The Malay Mail cho biết.
Trang web môi trường Clean Malaysia cho biết, nạn săn trộm tiếp tục là mối đe dọa hiện hữu không chỉ với tê tê, mà còn với đa dạng sinh học của khu vực Sabah.
Rahimatsah Amat thuộc Sabah Environmental Trust cho biết: "Nếu không kiểm soát những hoạt động săn bắn bất hợp pháp thì quần thể các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng ở Sabah sẽ sớm bị thu hẹp".
Tháng trước, cơ quan chức năng đã tịch thu 8 tấn vảy tê tê tại một cảng ở Sabah.
Vảy tê tê có giá trị cao tại một số nước châu Á, dùng trong các loại thuốc cổ truyền. Tại chợ đen ở Malaysia, vảy tê tê có giá đến 1.500 ringgit/kg (346 USD).
WildAid cho biết, tê tê là động vật có vú bị buôn bán nhiều nhất thế giới, với hơn một triệu con đã bị săn trộm trong tự nhiên trong 10 năm qua. Thịt tê tê được xem là món ăn đặc sản, trong khi vảy được dùng làm thuốc theo y học cổ truyền Trung Quốc.
Khi bị tấn công, tê tê cuộn tròn như quả bóng và dùng vảy như áo giáp phòng thủ. Điều này giúp tê tê chống được các động vật ăn thịt trong tự nhiên, nhưng lại cho những kẻ săn trộm dễ dàng bắt động vật nhút nhát sống về đêm này. (Sài Gòn Giải Phóng 30/8)đầu trang(./.
|
|||