Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 31 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 29/7, Sở NN&PTNT Bình Phước cho hay, năm 2013, Hội đồng quản lý Quỹ bảo vệ và phát triển rừng sẽ thu hơn 41,8 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng, gồm cả truy thu năm 2011 và 2012.
Theo đó, sẽ thu dịch vụ môi trường rừng 6 cơ sở sản xuất thủy điện (trong đó 4 cơ sở do quỹ trung ương thu và điều phối ủy thác cho quỹ tỉnh, 2 cơ sở do quỹ tỉnh trực tiếp thu), 2 cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch, 2 cơ sở kinh doanh, dịch vụ.
Số thu và truy thu qua các năm cụ thể như sau: 2011 truy thu 9,841 tỷ đồng, 2012 truy thu 17, 624 tỷ đồng đồng, dự kiến 2013 thu 14, 434 tỷ đồng. Đến ngày 31-12-2012, quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã thu được 3 tỷ đồng do quỹ trung ương ủy thác tạm ứng. (Công An Nhân Dân 31/7)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Hạt kiểm lâm Triệu Phong đã xác định nhiệm vụ quan trọng là tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng, với cấp ủy và chính quyền địa phương đẩy mạnh phong trào quần chúng tham gia bảo vệ rừng.
Trong công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, Hạt Kiểm lâm Triệu Phong chú trọng công tác tuyên truyền về PCCCR, coi cháy rừng là một thảm họa gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng của quốc gia, trực tiếp đe dọa đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Thời gian qua, Hạt đã kết hợp với các cơ quan thông tin đại chúng xây dựng nhiều phóng sự, tin bài, tổ chức các đợt tuyên truyền, phát trên 1.000 tờ lịch treo tường có nội dung về công tác PCCCR.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm Triệu Phong còn cử cán bộ về cơ sở phối hợp với chính quyền địa phương, vận động nhân dân ký cam kết và xây dựng các quy uớc bảo vệ và phát triển rừng cho 14 thôn với 1.100 người dân tham gia. Kiện toàn và tổ chức lại các ban chỉ đạo cơ sở, xác định việc PCCCR là nhiệm vụ chung của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi một người dân trên địa bàn. Hạt đã xây dựng hai chòi gác kiên cố, các chòi đều có tín hiệu như cờ, kẻng báo động khi có cháy rừng xảy ra.
Với phương châm phòng là chính, chữa cháy phải khẩn trương kịp thời, Hạt Kiểm lâm huyện cùng với các đơn vị liên quan đã triển khai các biện pháp phòng cháy như: Tổ chức vận động nhân dân tích cực phòng ngừa trước mùa khô hanh, tiến hành tu sửa, làm mới các đường ranh cản lửa, phát sạch sẽ dưới tán rừng. Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ sẵn sàng để PCCCR 24/24 giờ trên các thời điểm nắng nóng. Tổ chức nhiều đợt truy quét các cá nhân tổ chức phá hoại rừng.
Song song với việc quản lý và bảo vệ rừng, hàng năm huyện Triệu Phong còn tích cực triển khai nhiều chương trình trồng cây gây rừng một cách hiệu quả. Bình quân mỗi năm cán bộ và nhân dân huyện đã trồng mới trên 50.000 cây phân tán ở hai xã vùng gò đồi và các khu vực đất trống, ven trục lộ liên xã, liên thôn, ven các đường mới trên địa bàn huyện. (Báo Quảng Trị 31/7)đầu trang(
Trước thực trạng nạn phá rừng tiếp diễn tại nhiều địa phương, vừa qua, Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (BV-PTR) tỉnh Khánh Hòa đã có cuộc họp để tìm giải pháp bảo vệ rừng (BVR) trong thời gian tới.
Thời gian qua, tình hình phá rừng trái pháp luật; khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn tiếp diễn tại nhiều địa phương trong tỉnh. Đặc biệt, tại các địa phương Khánh Vĩnh, Khánh Sơn - nơi diện tích rừng còn nhiều, trữ lượng gỗ cao với nhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế lớn như: Pơ mu, bách xanh, gõ, kiền kiền, sơn huyết... đang trở thành điểm nóng về nạn khai thác rừng trái phép.
Ông Nguyễn Tuấn Kiệt - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 418 vụ vi phạm Luật BV-PTR, tăng 63 vụ so với cùng kỳ năm 2012. Lực lượng chức năng đã xử lý tịch thu hơn 94m3 gỗ tròn, gần 465m3 gỗ xẻ hộp các loại (số lượng gỗ quy tròn hơn 838m3, trong đó có 76,6m3 gỗ thuộc nhóm nguy cấp, quý, hiếm...
Điển hình như: Vụ phá trắng 25,3ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại tiểu khu 105 (xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh) thuộc lâm phận của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương; khai thác rừng trái phép tại Suối Hương (huyện Vạn Ninh); tàng trữ gỗ tại Cửa hàng đồ gỗ mỹ nghệ Bến Lội; các vụ vận chuyển gỗ, chống người thi hành công vụ trên tuyến đường Cầu Lùng - Khánh Lê (huyện Khánh Vĩnh)...
Nếu so sánh về độ “nóng” của tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, có thể không địa phương nào bằng Khánh Vĩnh. Ông Nguyễn Tây - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh lý giải: “Khánh Vĩnh là huyện có diện tích rừng lớn (86.000ha) với nhiều loài cây gỗ quý như: Pơ mu, thông nàng, gõ... Rừng lại nằm ngay hai bên đường từ Khánh Lê đi Lâm Đồng với đường đèo dài gần 40km nên thuận lợi cho lâm tặc tiếp cận để khai thác và vận chuyển gỗ trái phép”.
Xác định đây là điểm nóng về nạn khai thác rừng trái phép nên từ đầu năm 2013, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã điều Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh đến đóng chốt tại địa phương này để chốt chặn các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép. Tính đến nay, Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh đã xử lý 97 vụ vi phạm, chủ yếu xảy ra trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh; tịch thu hơn 20,4m3 gỗ tròn, 101,6m3 gỗ xẻ các loại và nhiều phương tiện vận chuyển gỗ trái phép.
Điều đáng lo ngại là các đối tượng vận chuyển gỗ trái phép đang ngày càng manh động hơn, sẵn sàng chống trả lực lượng chốt chặn, truy đuổi để vận chuyển gỗ với số lượng lớn. Trong thời gian ngắn từ tháng 4 đến tháng 7 năm nay, liên tiếp xảy ra 3 vụ lâm tặc chống người thi hành công vụ, khiến cho nhiều chiến sĩ Công an huyện Khánh Vĩnh bị thương trong quá trình truy đuổi.
Điển hình như vụ các đối tượng vận chuyển hơn 5,6m3 gỗ pơ mu đã sử dụng ô tô, bình cứu hỏa để ngăn chặn lực lượng truy đuổi làm 1 chiến sĩ Công an bị thương. Gần đây nhất, ngày 13-7, trên đường trốn chạy, các đối tượng vận chuyển gỗ ở xã Diên Tân (huyện Diên Khánh) đã đổ 63 hộp gỗ xẻ với khối lượng gần 3,2m3 xuống đường khiến 2 chiến sĩ Công an bị thương.
Trước thực trạng nạn phá rừng tiếp diễn tại nhiều địa phương, vừa qua, Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (BV-PTR) tỉnh đã có cuộc họp để tìm giải pháp bảo vệ rừng (BVR) trong thời gian tới.
Tại cuộc họp mới đây của Ban chỉ đạo về Kế hoạch BV-PTR tỉnh, ông Bùi Phước Kiệt - Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Trầm Hương nhận định: “Mặc dù các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ đều thành lập lực lượng QL-BVR, nhưng về cơ sở pháp lý, công cụ hỗ trợ không đầy đủ so với lực lượng Kiểm lâm. Các đối tượng lâm tặc chỉ sợ lực lượng Kiểm lâm chứ không sợ lực lượng BVR của doanh nghiệp.
Trong đề án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có đề cập đến việc thành lập lực lượng Cảnh sát lâm nghiệp. Nếu lực lượng này được thành lập thì chắc chắn việc BVR sẽ tốt hơn. Để tăng cường công tác BVR khi chưa có Cảnh sát lâm nghiệp, ngoài lực lượng của chủ rừng, cần tăng cường thêm lực lượng Kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng để bảo vệ khoảng 186.000ha rừng của tỉnh hiện nay”.
Về công tác BVR của các chủ rừng và chính quyền cơ sở hiện nay, ông Trần Minh Thu - Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho rằng: “Thực tế hiện nay, chưa có nhiều chủ rừng, chính quyền địa phương chủ động trong công tác BVR mà còn trông chờ vào lực lượng liên ngành của tỉnh.
Thời gian qua, thông tin về các vụ phá rừng chủ yếu được người dân thông báo về Đội Kiểm lâm cơ động tỉnh, rất ít báo về chính quyền xã và các Hạt Kiểm lâm. Nguyên nhân của việc này do người dân không tin tưởng hay do người ta báo mà mình không làm? Trước mắt, để giải quyết tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại địa bàn Khánh Vĩnh, Chi cục sẽ tiếp tục duy trì lực lượng Kiểm lâm cơ động tỉnh chốt chặn trên tuyến đường Cầu Lùng - Khánh Lê; đồng thời điều động thêm lực lượng Kiểm lâm đến Khánh Vĩnh để tập trung giải quyết điểm nóng này”.
Theo ông Lê Văn Hoa - Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh, trước tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép “nóng” như hiện nay, việc quản lý rừng từ gốc là quan trọng hơn cả. Trong 3 khâu: Khai thác trái phép, vận chuyển trái phép, tiêu thụ trái phép thì việc chống khai thác trái phép là quan trọng hơn cả, còn việc chốt chặn các đối tượng vận chuyển, kiểm tra các cơ sở chế biến chỉ là phần ngọn.
“Để tăng cường BVR trong thời gian tới, UBND huyện đã chỉ đạo các xã tăng cường công tác tuyên truyền đến từng hộ dân, lập danh sách những đối tượng tham gia hoặc tiếp tay cho các đối tượng phá rừng để có biện pháp xử lý; đồng thời chỉ đạo các đơn vị chức năng của huyện thường xuyên phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, chủ rừng thường xuyên tuần tra, kiểm soát, nhất là các điểm nóng về phá rừng hiện nay” - ông Hoa cho biết.
Phát biểu tại cuộc họp của Ban chỉ đạo về Kế hoạch BV-PTR tỉnh, ông Lê Đức Vinh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần bổ sung, kiện toàn nhân lực của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tiến hành luân chuyển cán bộ kiểm lâm để làm trong sạch bộ máy. Chi cục Kiểm lâm tỉnh cần bố trí lại các Trạm QL-BVR cho phù hợp với tình hình hiện nay; linh động trong việc điều động lực lượng để xử lý kịp thời các điểm nóng về khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép; tăng cường phối hợp với các đơn vị chủ rừng để tuần tra kiểm soát nhằm QL-BVR từ gốc.
Các đơn vị chủ rừng cần xác định rõ trách nhiệm chính của mình trong việc quản lý, BV-PTR; cần tập trung lực lượng xử lý những điểm nóng phá rừng trái phép trong lâm phận của mình. UBND cấp huyện phải chỉ đạo UBND cấp xã có kế hoạch, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ QL-BVR theo quy định. Lực lượng chức năng, đơn vị chủ rừng, chính quyền các cấp phải có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác QL-BVR. (Báo Khánh Hòa 30/7)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Đây là khoản kinh phí dành cho giai đoạn 2 của Chương trình giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc (REDD+).
Theo văn kiện được ký kết chiều 29/7 giữa Bộ trưởng Bộ NNPTNT Cao Đức Phát, đại diện Đại sứ quán Na Uy và Điều phối viên Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, giai đoạn 2 của REDD+ sẽ được triển khai trong vòng 3 năm, tại 6 tỉnh: Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng, Cà Mau.
Tại lễ ký, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho biết Việt Nam luôn chủ động và tích cực tham gia các nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu.
Vì vậy, sự kiện này đánh dấu bước tiến mới trong mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Chương trình giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp Quốc.
Bà Pratibha Mehta, Điều phối viên Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, đề nghị Việt Nam cần thực hiện đúng tiến độ để tận dụng được các cơ hội mà Chương trình đem lại. (Chinhphu.vn 30/7)đầu trang(
Chính phủ đã có nhiều Chương trình, mục tiêu trong việc bảo vệ và phát triển rừng, như Chương trình trồng 5 triệu ha rừng trong cả nước; trồng rừng theo Quyết định 661, 147, song việc triển khai còn nhiều bất cập, không đồng bộ giữa chính sách và thực tế.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Tỉnh ủy Bắc Kạn, từ năm 2010-2015, Bắc Kạn sẽ trồng mới 60.000 ha rừng. Như vậy trung bình mỗi năm địa phương phải trồng được 12.000 ha. Đây là một trong những mục tiêu rất khó, bởi trước đó, mỗi năm Bắc Kạn chỉ trồng được từ 5.000-7.000 ha. Nhưng đây là nhiệm vụ chính trị nên trong 2 năm 2011-2012, mỗi năm toàn tỉnh đã trồng được trên 13.000 ha. Năm 2013 tỉnh cũng đặt mục tiêu trồng mới 12.500 ha. Cho đến thời điểm 30/6, đã trồng được gần 11.000 ha, số diện tích còn lại trồng thông, xoan, thời vụ trồng đến 15/8 mới kết thúc.
Theo ông Đàm Văn Chiến, Chi Cục trường Chi Cục Lâm nghiệp Bắc Kạn thì vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng, mà khó nhất là thiếu vốn. Tổng nhu cầu vốn bảo vệ và phát triển rừng năm 2013 của Bắc Kạn là gần 112.520 triệu đồng, trong khi vốn được giao mới có 33.131 triệu đồng, còn thiếu đến trên 69.142 triệu đồng. Kế hoạch tỉnh giao là rất lớn, nhưng với số vốn được cấp như hiện nay chỉ ưu tiên cho trồng rừng mới, bảo vệ rừng tại các khu vực có nguy có xâm hại cao, còn việc chăm sóc rừng trồng sản xuất từ 2010-2012, chăm sóc rừng trồng phòng hộ, giao khoán bảo vệ rừng, khoán khoanh nuôi rừng tái sinh chưa bố trí được vốn.
Việc trồng rừng đã khó, bảo vệ và phát triển để thành rừng cho hiệu quả cao lại càng khó, không có vốn sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến công tác trồng rừng, nếu không có quyết tâm cao, không có chỉ đạo sát sao của các cấp chính quyền thì khó có thể hoàn thành được mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng. Bởi người dân khi đăng ký trồng rừng thường nhìn vào kinh phí hỗ trợ để thuê nhân công, nhưng khi không có tiền, sẽ không thuê được người làm. Đặc biệt với những vùng khó khăn, dân nghèo, nếu không có kinh phí hỗ trợ, bản thân người dân cũng không thể đi trồng rừng được, do còn phải đi kiếm ăn hàng ngày.
Theo Hướng dẫn số 03/2012/TTLT, Thông tư liên tịch giữa Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính về việc thực hiện QĐ/66/TTg thì mức hỗ trợ cũng rất khác nhau, có tính đến đặc thù vùng các xã đặc biệt khó khăn và vùng các xã không phải đặc biệt khó khăn. Theo đó kinh phí Trung ương hỗ trợ cho các xã ngoài vùng đặc biệt khó khăn được là 2,25 triệu đồng/ha, nghĩa là chỉ được hỗ trợ giống và phân bón. Còn các xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ cho việc trồng gỗ lớn (thời gian khai thác trên 10 năm) là 4,5 triệu đồng/ha; trồng gỗ nhỏ (thời gian khai thác dưới 10 năm) là 3 triệu đồng/ha.
Như vậy ngoài việc được hỗ trợ giống, phân, người dân những xã thuộc vùng đặc biệt khó khăn còn được hỗ trợ tiền công trồng. Nghĩa là người dân đi trồng rừng cho mình nhưng vẫn có tiền công để chi tiêu hằng ngày. Ngoài ra, để thực hiện tốt mục tiêu trồng và bảo vệ rừng, HĐND tỉnh Bắc Kạn đã có NQ01/2011 hỗ trợ thêm cho tất cả các vùng 500.000 đồng/ha để bảo vệ chăm sóc rừng trong 2 năm đầu.
Ngày 22/7, trong buổi làm việc với Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ông Hà Văn Khoát, Bí thư Tỉnh ủy Bắc Kạn đã chỉ ra nhiều bất cập giữa chính sách và thực tiễn, trong đó có việc ban hành chính sách rất cụ thể, thiết thực với việc xây dựng nông thôn, nông nghiệp và có lợi cho dân.
Tuy vậy, việc thực thi chính sách rất khó do nguồn kinh phí cấp từ Trung ương không kịp thời, không đảm bảo và địa phương thường bị động trong việc lập dự án, giải ngân... do vẫn phải đảm bảo các quy định bắt buộc về quy trình thời gian. Ở Bắc Kạn được Chính phủ Ai-len tài trợ một vài dự án, việc khảo sát, lập quy hoạch của họ lâu, nhưng giải ngân lại rất nhanh, còn của ta lập dự án nhanh, nhưng giải ngân lâu ?
Chẳng hạn như gia đình ông Hoàng Sùn Chiêu, nguyên Trưởng thôn Khuổi Luông, xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm. Năm ngoái gia đình ông đăng ký trồng 8 ha rừng, theo chính sách được Nhà nước hỗ trợ 40 triệu đồng, nhưng thực tế ông mới được hỗ trợ giống và phân, còn lại chưa có tiền. Để trồng được 8 ha rừng, ông phải thuê người làm và phải làm đơn vay của Ngân hàng chính sách xã hội 25 triệu đồng, nên chỉ thanh toán một phần công lao động cho người làm, còn lại phải nợ.
Khi chính sách của Nhà nước đưa ra đều đã có nghiên cứu, phân tích tính cấp thiết, tính khả thi, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, môi trường của người dân miền núi nói riêng và môi trường khí hậu nói chung, giúp người dân làm kinh tế rừng, xóa nghèo bền vững. Nhưng nếu tình trạng bất cập giữa chính sách và việc cấp kinh phí chậm như hiện nay, sẽ làm mất lòng tin của người dân. (Tài Nguyên&Môi Trường 30/7)đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam ngày 30.7 đã đồng ý cấp thêm đất sản xuất cho 358 hộ dân vùng thủy điện Sông Tranh 2 (huyện Bắc Trà My), nhằm tháo gỡ khó khăn lâu nay của người dân do thiếu đất sản xuất sau khi di dời đến nơi ở mới.
Trong số 358 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có 131 hộ tái định cư tại xã Trà Bui được cấp hơn 290 ha, còn lại 227 hộ dân sở tại được cấp 638ha.
Tuy nhiên, vẫn còn 190 hộ dân tái định cư thủy điện Sông Tranh 2 hiện chưa đủ diện tích hoặc chưa có đất sản xuất để bố trí, UBND tỉnh chỉ đạo tiếp tục rà soát, xác định khả năng sản xuất tại 390ha đất để tiếp tục giao. Đây là diện tích còn lại trong tổng số 1.319 ha đất rừng nghèo tự nhiên thuộc BQL rừng phòng hộ Sông Tranh... mà UBND huyện Bắc Trà My được phép chuyển đổi mục đích sử dụng để cấp đất sản xuất 321 hộ dân tái định cư. (Thanh Niên 31/7)đầu trang(
Tháng 7, những sinh viên tình nguyện Thanh Hóa lại băng rừng, lội suối, tới những bản làng nằm cheo leo nơi cực tây của xứ Thanh để giúp đồng bào vùng cao.
Anh Trương Quý Anh, Trưởng ban Thanh niên nông thôn Tỉnh đoàn Thanh Hóa, cho biết: “Những hoạt động của sinh viên tình nguyện không chỉ mang lại giá trị kinh tế, xã hội cho địa phương, mà qua đó còn góp phần từng bước giúp đồng bào vùng cao làm quen dần với phương thức canh tác mới. Quan trọng hơn, từ những hành động của họ đã khơi dậy lòng hăng say lao động trong các tầng lớp thanh niên ở địa phương, giúp họ thay đổi nhận thức, biết từ bỏ những thói quen không tốt để vươn lên tự thay đổi cuộc sống…”.
Đây là năm thứ 2 Tỉnh đoàn Thanh Hóa tổ chức các đội sinh viên tình nguyện chuyên sâu giúp đỡ đồng bào huyện vùng cao Mường Lát trồng rừng. Năm nay, Tỉnh đoàn đã huy động 200 sinh viên. Do có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các cấp bộ Đoàn cơ sở, chiến dịch đã thu hút thêm gần 1.000 thanh niên và người dân địa phương tham gia các hoạt động tình nguyện.
Chỉ trong thời gian 10 ngày, 4 đội sinh viên tình nguyện đã trồng mới được 51 ha rừng; làm được 1,5 km hàng rào; tu sửa 6,5 km đường giao thông liên thôn bản; tổ chức 8 buổi tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và tuyên truyền phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội cho hơn 750 lượt đoàn viên, thanh niên, bà con dân bản. (Thanh Niên 31/7)đầu trang(
Thừa Thiên - Huế là một trong những tỉnh, thành phố khu vực duyên hải miền trung bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BÐKH) và nước biển dâng (NBD). Nhiều năm qua, địa phương này đã chịu tác động của BÐKH với nhiều loại hình thiên tai: bão, lũ với cường độ mạnh; hạn hán kéo theo xâm nhập mặn vào sâu hơn trong mùa khô. Thừa Thiên - Huế đã và đang triển khai nhiều mô hình, giải pháp thích ứng BÐKH, nhằm đối phó thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là khu vực đầm phá, ven biển.
Tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhất là người dân sống ở các vùng thấp, trũng khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có nhiều kinh nghiệm trong chuyển đổi lối sống, sản xuất để dần thích ứng với BÐKH. Ở các vùng thấp, trũng của các huyện Quảng Ðiền, Hương Trà, Phong Ðiền, Phú Vang... hầu như nhà nào cũng có một chiếc ghe hay thuyền máy làm phương tiện đi lại trong mùa mưa lũ. Nhiều gia đình cố gắng đầu tư xây nền nhà cao hơn so với cốt nền đường chính. Không chỉ tìm cách thích ứng với BÐKH trong đời sống, sinh hoạt mà ngay cả trong sản xuất, nhiều hộ dân đã thay đổi phương thức trồng rau xanh trên giàn cao, nuôi trồng thủy hải sản xen ghép theo phương thức quảng canh...
Vùng cát ven biển, đầm phá ở Thừa Thiên - Huế có đến 42 xã, thị trấn thuộc năm huyện, thị xã: Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc, rộng hàng chục nghìn ha. Tuy nhiên, hiện tượng sạt lở bờ biển và cát bay, cát nhảy, hoang mạc hóa là những mối đe dọa thường xuyên, làm cho vùng đất nơi đây vốn đã khốn khó, lại càng khó hơn.
Năm 2010, thông qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh "Nghiên cứu, đánh giá và thử nghiệm trồng phục hồi cây ngập mặn tại Tân Mỹ, huyện Phú Vang và phía tây đầm Lập An, huyện Phú Lộc", Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế tiến hành nghiên cứu, đánh giá chi tiết và lập bản đồ số hiện trạng rừng ngập mặn tại đầm Lập An (huyện Phú Lộc) và khu vực Tân Mỹ (huyện Phú Vang). Hội đã thành công trong việc sản xuất giống và trồng hơn 4.000 cây ngập mặn, như: đước, sú, mắm, vẹt... Từ đó đến nay, các mô hình thí nghiệm được nhân rộng, phát triển thành các khu rừng ngập mặn trong tỉnh.
Xã Hương Phong (thị xã Hương Trà), phần lớn được bao quanh bởi đầm phá, sông ngòi vì vậy chịu tác động mạnh mẽ và nhạy cảm với BÐKH, nhất là khi có bão lụt, NBD và hạn hán. Nơi đây có một hệ sinh thái độc đáo, vừa có giá trị văn hóa lịch sử, vừa có tác dụng bảo vệ môi trường cho cả khu vực, làm "tấm bình phong" che chắn gió bão cho khu vực dân cư bên trong, cũng là nơi ươm ấu trùng thủy sản, nơi làm "bãi đậu" cho các loài chim vùng cửa sông Hương - Thuận An.
Theo Chủ tịch UBND xã Hương Phong Nguyễn Văn Chức, rừng rú Chá trước đây có khoảng 25 ha nhưng bị người dân chặt phá để lấy củi và nuôi trồng thủy sản. Thiên tai xảy ra đã làm thức tỉnh ý thức bảo vệ diện tích rừng rú Chá quý hiếm còn lại. Người dân trong xã ngày càng quý trọng, mong muốn bảo vệ và phát triển thêm rừng rú Chá.
Từ đầu năm 2010 đến nay, Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp dự án IMOLA và UBND xã Hương Phong lập quy hoạch phát triển rừng ngập mặn của xã với tổng diện tích đất quy hoạch để trồng rừng hơn 30,8 ha. Nhân dân thôn Thuận Hòa (xã Hương Phong) đã xây dựng hương ước, quy định nghiêm cấm mọi hành vi phá rừng, ai cũng có trách nhiệm bảo vệ rừng và chung tay trồng rừng, bầu chọn người có kinh nghiệm để quản lý, bảo vệ rừng; đồng thời, thành lập các đội tự quản để thường xuyên theo dõi rừng rú Chá. Từ đó, người dân xã Hương Phong phối hợp Chi cục Bảo vệ môi trường Thừa Thiên - Huế trồng được hơn 3.000 cây đước, sú, vẹt... bổ sung làm giàu hệ thực vật cho rừng rú Chá.
Bảo vệ rừng từ chương trình bảo tồn, khai thác, sử dụng bền vững và tổng hợp đối với rừng rú Chá với "mô hình cộng đồng ứng phó với BÐKH", người dân xã Hương Phong không chỉ nhận được sự "an toàn do rừng rú Chá bảo vệ", mà còn được hưởng lợi từ việc khai thác thủy sản, du lịch... Từ mô hình ứng phó BÐKH bằng việc bảo vệ rừng rú Chá ở xã Hương Phong, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã nhân rộng ra các địa phương có điều kiện tương tự như xã Hải Dương (Hương Trà), khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản Cồn Chim (Phú Vang). Hiện, rừng rú Chá ở Hương Phong cũng đã quy hoạch, đưa vào tuyến du lịch "Khám phá hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai".
Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Thừa Thiên - Huế Lê Văn Anh đánh giá: Vùng đầm phá rộng lớn và vùng bờ biển kéo dài 120 km là một nguồn lực và tiềm năng lớn về nông - ngư nghiệp và du lịch. Nhưng đồng thời là tiềm ẩn nguy cơ lớn về BÐKH đối với hàng vạn người sống trong đất liền hay canh tác ngoài biển khơi. Thừa Thiên - Huế cũng đang chịu trách nhiệm trước nhân loại về gìn giữ di tích văn hóa, mà những di tích đó đang ở trong những khu vực rất thấp, trũng, luôn bị lũ lụt đe dọa hoặc công trình ở những vùng đồi núi dễ bị sạt lở, lún sụt...
Tuy nhiên, theo Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Thừa Thiên - Huế Lê Bá Phúc, một số địa phương, ngành, đoàn thể và người dân vẫn chưa nhận thức rõ được tác động tiêu cực của BÐKH ảnh hưởng phát triển kinh tế - xã hội, ngành mình, địa phương mình.
Trong phòng, tránh, giảm nhẹ thiên tai còn tư tưởng ỷ lại, thiếu chủ động, tình trạng chủ quan, thiếu kinh nghiệm. Việc tuyên truyền giáo dục cộng đồng cho người dân và tổ chức quản lý phòng, tránh thiên tai hạn chế, nhất là ngư dân đánh bắt thủy sản và đi biển. Các cấp, các ngành và người dân chưa nhận thức được tăng trưởng xanh, phát triển các-bon thấp là cơ hội để thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững và do vậy các hành vi, lối sống, mẫu hình tiêu thụ chưa được thay đổi.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế Phan Ngọc Thọ cho biết: Tỉnh luôn coi trọng phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và phát triển theo hướng bền vững; lồng ghép phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường, bảo vệ dân sinh, thích ứng với BÐKH.
Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó BÐKH, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch hành động ứng phó BÐKH tại Thừa Thiên - Huế; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ cuộc sống của nhân dân, phòng, tránh và giảm thiểu những hiểm họa do BÐKH gây ra.
Ðây là cơ sở để xây dựng, quy hoạch hoặc bổ sung quy hoạch của các ngành, các địa phương lồng ghép với ứng phó BÐKH trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và định hướng những năm tiếp theo. Khung hành động ứng phó BÐKH đến năm 2020 gồm 65 dự án, chương trình; trong đó ưu tiên giai đoạn từ năm 2012 đến 2015 là 12 nhóm dự án, đề án, chương trình với tổng nguồn vốn dự kiến huy động để thực hiện các chương trình, đề án, dự án hơn 4.500 tỷ đồng. (Nhân Dân 31/7)đầu trang(
Ninh Thuận trồng mới hơn 4.300 ha rừng
Thực hiện Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ, từ năm 2009 đến 2013, trên địa bàn tỉnh đã trồng mới được 4.393 ha rừng các loại, trong đó có 2.964,7 ha rừng phòng hộ, 86,2 ha rừng đặc dụng và 1.342ha rừng sản xuất.
Ngoài ra, các Ban quản lý Rừng phòng hộ đã thực hiện dự án trồng rừng thay thế nương rẫy có hỗ trợ gạo cho đồng bào dân tộc thiểu số được 1.259,5 ha, với 1.566 hộ tham gia. Qua kết quả kiểm tra, diện tích rừng trồng thay thế nương rẫy phát triển tốt, rừng trồng gần như khép tán và bắt đầu mang lại lợi ích cho người dân. (Đại Biểu Nhân Dân 31/7)đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh phê duyệt đơn giá khai thác tận dụng cây gỗ chết và bị vùi lấp dọc tuyến đường Nam Quảng Nam thuộc khoảnh 2, 5, 6, 8, 9 và 10, tiểu khu 891, xã Trà Nam, huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, với mức giá trần là 1,3 triệu đồng/m3.
Mức giá này tính cho 1m3 gỗ khai thác tập kết về bãi II tại Tắc Pỏ, Trung tâm hành chính huyện Nam Trà My, đã bao gồm thuế VAT. Chi phí thiết kế khai thác và thẩm định hồ sơ thiết kế không có trong cơ cấu mức giá trần đấu thầu khai thác gỗ nêu trên.
UBND tỉnh đề nghị UBND huyện Nam Trà My (chủ rừng) thực hiện quy trình chỉ định thầu và lựa chọn nhà thầu khai thác gỗ, nghiệm thu khối lượng gỗ khai thác theo đúng quy định; Lập thủ tục định giá, phê duyệt giá, bán đấu giá toàn bộ số gỗ khai thác, nộp tiền bán gỗ, thuế tài nguyên và các loại phí theo quy định vào ngân sách nhà nước theo đúng quy định.
Chậm nhất 30 ngày kết thúc việc lựa chọn nhà thầu khai thác và đấu giá bán gỗ, UBND huyện Nam Trà My có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo kết quả về UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh để theo dõi.
Đồng thời giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Lâm nghiệp phối hợp với UBND huyện Nam Trà My giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ theo đúng thiết kế, phạm vi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, lập thủ tục đóng búa gỗ khai thác theo quy định. (Quangnam.gov.vn 29/7)đầu trang(
Ngày 30/7, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh đã ký quyết định thành lập Đoàn kiểm kê số lượng cây sâm Ngọc Linh và đánh giá hiện trạng Trạm Dược liệu Trà Linh tại xã Trà Linh, huyện Nam Trà My.
Theo đó, Đoàn kiểm kê số lượng cây sâm Ngọc Linh và đánh giá hiện trạng Trạm Dược liệu Trà Linh gồm 22 thành viên, do ông Nguyễn Văn Hai, Giám đốc Sở Y tế làm Trưởng đoàn; Phó Trưởng đoàn là ông Nguyễn Đức, Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh.
Đoàn có nhiệm vụ tổ chức kiểm kê đánh giá hiện trạng cơ sở vật chất của Trạm Dược liệu Trà Linh, kiểm kê diện tích đất trồng, số lượng và độ tuổi của cây sâm Ngọc Linh do Trạm Dược liệu Trà Linh trồng và quản lý, đề xuất phương án tiếp nhận bàn giao và mô hình quản lý Trạm Dược liệu Trà Linh hiệu quả. (Quangnam.gov.vn 31/7)đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng mới 13.500 ha rừng năm 2013, đến giữa tháng 7, toàn tỉnh đã trồng được gần 11.300 ha, đạt 86,9% kế hoạch.
Có 2 địa phương hoàn thành vượt kế hoạch, gồm: huyện Sơn Dương trồng được 2.024 ha, đạt 104% kế hoạch; thành phố Tuyên Quang trồng được trên 118 ha, đạt 126% kế hoạch. Các địa phương khác như: huyện Yên Sơn đã trồng được hơn 7.300 ha, đạt gần 95% kế hoạch; Nà Hang trồng được hơn 1.111 ha, đạt gần 82% kế hoạch... (Đại Biểu Nhân Dân 31/7; Báo Tuyên Quang 29/7)đầu trang(
Huyện Sơn Dương là một trong những điểm sáng nổi bật trong công tác trồng rừng năm 2013 của tỉnh. Đến nay huyện đã thực hiện trồng được hơn 2.024 ha rừng, đạt 104% kế hoạch năm.
Trong đó, có 21 xã hoàn thành hơn 100% kế hoạch trồng rừng trong năm, tiêu biểu như các xã Kháng Nhật trồng được 68,6 ha/50 ha kế hoạch, Minh Thanh 61,7/47 ha kế hoạch, Hợp Thành 36,8/31 ha kế hoạch...
Ông Nguyễn Văn Dụng, Trưởng Phòng NN và PTNT huyện Sơn Dương cho biết, thành công của công tác trồng rừng năm nay là ngay từ đầu vụ huyện chủ động rà soát quỹ đất lên kế hoạch cụ thể đến từng địa phương; chủ động về số lượng, chất lượng cây giống; chủ động thực hiện phổ biến, tuyên truyền các cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất kinh tế lâm nghiệp...
Tiếp tục phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn, hiện tại huyện đang triển khai cho các địa phương thực hiện rà soát diện tích đất, xây dựng kế hoạch trồng rừng và kế hoạch sản xuất cây giống phục vụ trồng rừng vụ xuân 2014. (Báo Tuyên Quang 29/7)đầu trang(
Giữa năm 2010, ông Lê Văn Thắng ở thôn An Sơn, xã Vĩnh Thạch (Vĩnh Linh, Quảng Trị) bắt đầu ra Rú Đưng, một khu rừng tự nhiên rộng 16 ha nằm trên địa bàn xã Vĩnh Thạch để phát triển kinh tế. Đem tiền tỷ đầu tư vào một khu rừng nguyên sinh là chuyện lạ đối với nhiều người quen biết ông Thắng lúc bấy giờ.
Khởi nghiệp từ nghề mộc, những sản phẩm từ gỗ như bàn ghế, sập gụ... do tay nghề điêu luyện của ông Thắng làm trong 17 năm qua được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Không chỉ thành công với nghề mộc, ông Thắng còn rất năng động trong lĩnh vực kinh doanh khi mở dịch vụ thu mua mủ cao su tiểu điền. Khác với nhiều hộ kinh doanh mủ nhỏ lẻ trong xã, ông Thắng sắm xe ô tô, thuê nhân công và lập 12 điểm thu mua mủ lẻ ở các cụm điểm trồng cao su để gom mủ trước khi đưa xe đi vận chuyển mủ về nhập cho nhà máy.
Với cách làm này, ông Thắng gần như bao trọn việc tiêu thụ sản phẩm mủ cao su trên địa bàn xã và một số vùng lân cận. Đang làm ăn khấm khá với nghề mộc và dịch vụ thu mua mủ cao su, ông Thắng xoay sang dồn hết vốn liếng, đầu tư vào Rú Đưng để phát triển trang trại và kinh doanh dịch vụ nhà hàng.
Để chinh phục Rú Đưng trước mắt cần có điện, nhưng khu rừng nguyên sinh này nằm cách xa khu dân cư trên 1 km, địa hình đồi dốc, nhiều cây cối rậm rạp vì vậy việc kéo điện đảm bảo an toàn không hề dễ dàng. Để giải quyết vấn đề này, ông Thắng đã thuê nhân công đào đường ống từ trung tâm dân cư đến Rú Đưng để chôn dây dẫn điện ngầm dưới đất. Ngoài việc chi phí khá tốn kém cho việc dẫn điện ra rú, ông Thắng còn làm đường đi lại, cải tạo mặt bằng, đầu tư cơ sở hạ tầng… cộng các khoản chi phí đã tiêu tốn trên 1,5 tỷ đồng.
Đang ở nhà cao cửa rộng, cuộc sống sung túc ông Thắng lại đem một khoản tiền lớn đổ vào rừng rồi tháng ngày sống giữa màn trời, chiếu đất, hàng xóm cho rằng ông không biết tính toán, người thân trong gia đình cũng hết sức ngăn cản. Tuy nhiên, ông Thắng vẫn quyết làm vì ông cho rằng rừng sẽ không phụ người. Vốn từ nhỏ đã gắn bó với Rú Đưng, sau này làm nghề mộc ông Thắng tiếp xúc nhiều với gỗ nên rất hiểu về cây cối, ông tin rằng nếu biết cách bảo vệ và khai thác Rú Đưng quê ông sẽ là tài sản vô giá.
Nắm rõ đặc trưng của Rú Đưng là giữa rừng nguyên sinh cây cối rậm rạp có diện tích mặt nước rộng khoảng 4 – 5 ha, ngày trước người dân trong làng thường tận dụng diện tích này làm ruộng một vụ. Sau khi trúng thầu Rú Đưng, ông Thắng liền tiến hành san ủi, cải tạo khu ruộng một vụ này thành 3,5 ha mặt nước ao hồ để nuôi cá; trên 1 ha ở mé rừng gần biển ông cho người phát quang, dọn dẹp làm trang trại chăn nuôi tổng hợp gồm: nuôi lợn rừng, nhím, gà thả, ong, bồ câu… đồng thời ở những khu đất trống không có cây ông cho dựng lều, mắc võng làm thành một nhà hàng sinh thái.
Với phương châm “vừa khai thác vừa bảo vệ”, sau 3 năm ra sinh sống ở Rú Đưng, ông Thắng không chỉ tạo được nguồn lợi kinh tế cho bản thân (thu nhập khoảng 100 triệu đồng/năm) mà cây cối, động vật trong khu rừng nguyên sinh cũng ngày một xanh tươi, phát triển nhờ bàn tay chăm sóc, bảo vệ của ông.
Nói về ý tưởng kinh doanh nhà hàng sinh thái của mình, ông Thắng cho biết thêm: “Hiện nay, khách đến nhà hàng sinh thái Rú Đưng chủ yếu vẫn là khách quen vì một phần quán mới mở, thực phẩm là sản phẩm cây nhà, lá vườn, tự cung tự cấp nên cần có thời gian để đa dạng hóa sản phẩm. Tuy nhiên, với lợi thế của Rú Đưng vừa gần biển Cửa Tùng lại nằm sát tuyến đường du lịch địa đạo Vịnh Mốc, nên tôi đang định hướng để kết nối khu du lịch sinh thái Rú Đưng vào tour du lịch này, lúc đó nhà hàng sinh thái sẽ phát triển theo hướng chuyên nghiệp để phục vụ khách du lịch.”
Từ ngày ra Rú Đưng sinh sống, ông Thắng trở thành người bảo vệ của khu rừng này. Ngoài công việc của trang trại, ông Thắng luôn dành thời gian vào rừng để ngăn chặn người dân khi họ vào rừng đốn cây lấy củi, lấy gỗ, hoặc đặt bẫy bắt thú rừng, chim muông. Không dừng lại ở việc bảo vệ rừng, thời gian qua ông Thắng còn trồng 1.000 cây sưa, hàng trăm cây mưng, xoan… vào những khoảng đất trống trong khu rừng nguyên sinh với mong muốn Rú Đưng sẽ ngày càng xanh tươi, phát triển để không chỉ là lá phổi che chắn cho dân làng mà còn là một điểm đến hấp dẫn thu hút khách du lịch gần xa. (Báo Quảng Trị 31/7)đầu trang(
Gần đây, do lợi nhuận từ việc trồng keo giấy khá cao, nông dân Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) mở rộng diện tích trồng keo giấy vụ mới.
Hiện nay, các vườn ươm tại Khánh Vĩnh bán cây con (chủ yếu giống keo giâm hom) dao động từ 600 đồng đến 700 đồng/1 cây keo giấy, tuy nhiên nguồn cung cũng chỉ đủ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu trồng rừng của người dân. Trung tâm Dịch vụ thương mại Khánh Vĩnh đã mua 165.000 cây keo lai giâm hom từ các tỉnh khác để đáp ứng nhu cầu trồng rừng của bà con.
Được biết, keo giấy thương phẩm 4 năm tuổi cây to, đều, thuận tiện giao thông, có giá khoảng 60 đến 70 triệu đồng/1ha. Do keo giấy phù hợp với đất đồi núi ở Khánh Vĩnh, chăm sóc đơn giản, chi phí đầu tư thấp khoảng 15 đến 18 triệu đồng/1ha, nông dân có thể thu lãi 40 triệu đồng/1ha. Vì thế, keo giấy đã trở thành cây trồng có giá trị kinh tế cao tại Khánh Vĩnh. (Báo Khánh Hòa 31/7)đầu trang(
Thời điểm hiện tại cùng với việc tích cực hoàn thành trồng mới những diện tích rừng của năm 2013, việc kết hợp trồng dặm cây con trên những diện tích rừng đã trồng cũng đang được người dân trên địa bàn tỉnh tích cực thực hiện.
Với 3ha keo mới trồng được tài trợ bởi hãng Honda của gia đình anh Vũ Mạnh Tuân, ở tổ 12, phường Phùng Chí Kiên, Thị xã Bắc Kạn, mặc dù sau khi trồng, thời tiết có nắng và khá nhiều cây bị nghiêng do trồng chưa đúng kỹ thuật nhưng đến nay toàn bộ diện tích rừng này đều đã lên tốt.
Theo anh Tuân, để có được như vậy, ngay sau khi trồng, anh phải thuê thêm nhân công, đi kiểm tra từng cây, dựng lại những cây bị nghiêng và thực hiện dặm lại đối với những cây bị chết do nắng hoặc sâu bọ cắn. Anh cũng đã chủ động lấy thêm cây giống từ sớm để tiện trồng dặm, thêm vào đó, anh cũng được các cán bộ kiểm lâm thị xã thường xuyên quan tâm hướng dẫn từ khâu trồng, tra dặm đến chăm sóc làm cỏ.
Việc trồng dặm cây con chỉ đơn giản là việc sau khi trồng từ khoảng 20 ngày bà con đi kiểm tra số cây bị chết rồi dùng cây giống dự phòng tra dặm lại. Tuy đơn giản, nhưng công việc này lại vô cùng có ý nghĩa, vì quá trình kiểm tra sẽ đánh giá được tình hình sinh trưởng của cây con, chủ động phát hiện các loại sâu, kiến mối hay chuột bọ phá hại, qua đó bổ sung kịp thời, làm tăng tỉ lệ cây sống được nghiệm thu trên mỗi diện tích. Năm nay trời mưa thuận lợi nên với nhiều diện tích trồng rừng sớm, việc trồng dặm cây con đã được bà con nông dân chủ động thực hiện xong.
Với lượng cây giống dự trữ thông thường lên đến 10% cho việc tra dặm, bà con hoàn toàn có thể yên tâm về nguồn cây giống bổ sung này. Bên cạnh đó, nhiều hộ dân còn tranh thủ thời gian này để làm cỏ hoặc trồng thêm các loại cây trồng theo hướng xen canh như ngô, sắn, các loại đậu đỗ nhằm tăng thêm thu nhập trên một đơn vị diện tích.
Cũng theo khuyến cáo của các cán bộ kỹ thuật, thời điểm sau khi trồng rừng, cây rất dễ chịu ảnh hưởng xấu từ thời tiết và các loại sâu bệnh gây hại, do vậy, bà con nên thường xuyên kiểm tra những diện tích rừng đã trồng, nếu phát hiện các loại sâu bệnh hại hoặc cây có các dấu hiệu bất thường, cần báo ngay cho cán bộ lâm nghiệp để có được sự hướng dẫn xử lý một cách hiệu quả nhất. (Đài PT - TH Bắc Kạn 30/7)đầu trang(
Thời gian qua, tình trạng sâu ong hại mỡ đã gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người trồng rừng trên địa bàn tỉnh, do đo, khi các ngành chức năng vẫn chưa tìm ra phương pháp diệt trừ triệt để, việc chủ động phòng trừ loại sâu hại này rất cần được bà con tích cực thực hiện.
Theo thống kê mới nhất, diện tích sâu ong gây hại cây mỡ hiện đã hơn 1.200ha với 3 đợt bùng phát từ đầu năm đến nay tại các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông và Pác Nặm. Trong đó, Chợ Đồn là địa phương chịu thiệt hại nặng nhất với 535,45ha bị nhiễm.
Theo dự báo, có thể từ giờ đến cuối năm, có thể sẽ có thêm 3 đợt bùng phát nữa mà sớm nhất sẽ rơi vào khoảng cuối tháng 8 sắp tới. Cũng theo các đơn vị, địa phương, hiện nhiều nơi, bà con vẫn còn chủ quan với tình hình phát triển của loại sâu hại này, do đó, việc có thêm các biện pháp tích cực, chủ động trong việc phòng trừ sẽ là việc cần làm ngay. (Đài PT - TH Bắc Kạn 30/7)đầu trang(
Qua kiểm tra, tỉnh Đắk Lắk đã đình chỉ, thu hồi 21 dự án chuyển đổi 16.036ha rừng tự nhiên sang trồng cao su.
Huyện Ea Súp là địa phương có số dự án chuyển đổi đất rừng sang trồng cao su bị thu hồi nhiều nhất với 10 dự án. Kế đến là huyện Ea H’Leo có sáu dự án với trên 8.000ha rừng có kế hoạch chuyển đổi sang trồng cao su bị thu hồi.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk, các dự án trên bị thu hồi do các doanh nghiệp triển khai dự án quá chậm, công tác quản lý bảo vệ rừng trong vùng dự án chưa tốt dẫn đến tình trạng để người dân chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép.
Nhiều dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cao su nằm trên địa bàn các xã Ea Bung, Ia R’vê, Cư M’Lan (huyện Ea Súp) sau khi được tỉnh giao đất, giao rừng, các doanh nghiệp vẫn để người dân tự ý vào khai thác rừng, lấn chiếm đất rừng xâm canh trái phép, đòi đền bù gây khiếu kiện phức tạp; thậm chí có doanh nghiệp lợi dụng chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su để sang nhượng, mua bán dự án trái pháp luật.
Tỉnh Đắk Lắk đang tiếp tục chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành rà soát, đánh giá tình hình triển khai thực hiện của các dự án chuyển đổi rừng sang trồng cao su, trồng rừng. Khi phát hiện doanh nghiệp nào có sai phạm, thực hiện dự án không hiệu quả, có biểu hiện vi phạm pháp luật về bảo vệ phát triển rừng, tùy theo mức độ vi phạm, tỉnh kiên quyết đình chỉ, thu hồi đất dự án theo đúng quy định.
Thực hiện chủ trương chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su, trồng rừng, đến nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã trồng mới trên 7.235ha cao su, 7.695ha rừng tập trung và 560ha cây ăn quả chất lượng cao, bông vải. Các doanh nghiệp cũng đã tuyển dụng được trên 3.000 lao động là đồng bào các dân tộc tại địa phương vào làm công nhân cho các đơn vị. (VietnamPlus.vn 30/7)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông cho biết, sau khi rà soát, kiểm tra các cá nhân, tập thể, hộ gia đình có nuôi trang trại động vật hoang dã trên địa bàn toàn tỉnh, Chi cục đã cấp giấy phép chứng nhận đăng ký nuôi cho 50 trang trại lớn, nhỏ.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Nông, trong 50 trang trại nuôi động vật hoang dã được cấp giấp phép đăng ký nuôi lần này có tất cả 4.843 cá thể, trong đó hơn 2.000 cá thể thuộc 11 loài động vật hoang dã cấp quý, hiếm như trăn đất, rắn hổ chúa, cầy hương; tám loài động vật hoang dã thông thường với 2.600 cá thể như heo rừng, nhím, nai, hươu; tám loài động vật hoang dã khác gồm 111 cá thể.
Tất cả các trang trại nuôi động vật hoang dã được cấp giấy phép phải tuân thủ đầy đủ các quy định về nuôi động vật hoang dã như đã cam kết, đồng thời phải báo cáo để tránh tình trạng mua bán, vận chuyển trái phép.
Thời gian qua, trước tình hình săn bắt, mua bán, vận chuyển, kinh doanh nhiều cá thể động vật quý, hiếm trên địa bàn tỉnh diễn ra phức tạp, Chi cục Kiểm lâm đã lập nhiều chốt tại các điểm vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, rừng đặc dụng, rừng bảo tồn, các trục đường quốc lộ địa tại các xã, huyện… để kiểm soát, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại đối với nhiều loại thú rừng quý hiếm. Bên cạnh đó, công tác này cũng giúp phát hiện, ngăn chặn kịp thời các loại dịch bệnh bệnh từ động vật lây lan. (VietnamPlus.vn 30/7)đầu trang(
Dư luận ở H. Hiệp Đức (Quảng Nam) cho rằng, trách nhiệm xác định vị trí, diện tích, quyền sử dụng đất trong vụ "kỳ án" này trước hết là chính quyền và ngành chức năng có liên quan đến lĩnh vực đất đai của huyện. Nếu làm rõ được nội dung vấn đề ngay từ đầu, thì vụ án không phải kéo dài như hiện nay. Điều đó nói lên sự quản lý lỏng lẻo trong lĩnh vực đất đai ở H. Hiệp Đức.
Ngày 24-7-2013, Phóng viên Báo Công an TP Đà Nẵng về thôn Phú Cốc Đông (xã Quế Thọ, H. Hiệp Đức) để gặp vợ chồng ông Tô Văn Giác, bà Huỳnh Thị Hoa tìm hiểu sự việc. Tại đây, ông Giác đưa ra một loạt hồ sơ, giấy tờ trình bày với chúng tôi: Giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng và đất rừng mang tên ông Giác (do UBND H. Hiệp Đức cấp ngày 29-12-1994, diện tích 0,8ha, để sản xuất lâm nghiệp); thiết kế giao đất giao rừng năm 1994, có chứng thực của UBND huyện và Hạt Kiểm lâm Hiệp Đức;
Quyết định giao đất lâm nghiệp của UBND H. Hiệp Đức ngày 29-12-1994 cho hộ gia đình (ông Giác) sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Đơn xin giao nhận đất rừng của ông Giác (ngày 2-11-1994); Biên bản giao nhận đất hoặc rừng của Hạt Kiểm lâm Hiệp Đức (ngày 2-11-1994)... Tất cả hồ sơ thủ tục đều đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật và ông Giác cho biết, ngay sau khi nhận đất rừng cuối năm 1994, gia đình ông đã trồng các loại cây như bạch đàn, keo lá tràm và đã thu hoạch trước khi xảy ra tranh chấp.
Sau 4 lần đưa ra xét xử, từ sơ thẩm của cấp huyện đến Giám đốc thẩm của TANDTC, rồi xét xử lại theo trình tự sơ thẩm tại TAND H. Hiệp Đức, tòa án đều phán quyết, chấp nhận đơn khiếu nại của ông Giác. Vậy mà ngày 25-9-2012, VKSND H. Hiệp Đức lại có quyết định kháng nghị đối với Bản án DSST số 26/2012/DSST (ngày 11-9-2012) của TAND H. Hiệp Đức theo thủ tục phúc thẩm.
Lý do kháng nghị lần này là: “Đơn khởi kiện yêu cầu tòa án công nhận quyền sử dụng đất của ông Tô Văn Giác và bà Huỳnh Thị Hoa đối với diện tích đất tranh chấp 4.125,64m2 nằm trong thửa đất được Nhà nước giao đất lâm nghiệp theo Quyết định số 21/94/QĐ-UB (viết tắt: QĐ 21) ngày 29-12-1994 của UBND H. Hiệp Đức là 8.000m2.
Thực tế từ năm 1994 đến năm 2006, ông Giác không sử dụng đất được giao. Theo quy định tại khoản 5 điều 14 Luật Đất đai năm 1998 thì Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong trường hợp người sử dụng đất không sử dụng đất được giao 6 tháng liền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép.
Vì vậy, ông Tô Văn Giác không còn có quyền khởi kiện yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất tại QĐ 21. Việc điều tra thu thập chứng cứ của TAND H. Hiệp Đức không có căn cứ, hoạt động giao đất, giao rừng theo QĐ 21 của UBND huyện do hạt Kiểm lâm thực hiện nên công văn của phòng TN-MT huyện cho rằng: "Việc cấp đất cho ông Giác là đúng pháp luật, đúng vị trí từ khi giao đất thực địa nhưng vẽ thiết kế sai" là thiếu căn cứ, nhưng tòa án căn cứ công văn này để giải quyết là không thuyết phục".
Ngày 24-7-2013, chúng tôi đã liên hệ làm việc với các cơ quan pháp luật có chức năng, trách nhiệm giải quyết vụ kiện này của H. Hiệp Đức nhưng đều bị từ chối vì "lãnh đạo đi vắng...”. Rõ ràng, trong vụ án dân sự này các cơ quan tố tụng ở H. Hiệp Đức đã không đồng thuận về đường lối xét xử, không đưa ra được những ý kiến, kết luận để cùng nhau giải quyết dứt điểm vụ việc dù qua nhiều lần giải quyết.
Kết cục lại một lần nữa vụ án lại phải đưa ra giải quyết theo trình tự ở cấp cao hơn, dư luận ở Hiệp Đức thật sự khó hiểu trong việc giải quyết vụ kiện dân sự này của các cơ quan pháp luật ở địa phương. Dư luận cũng "hoài nghi" rằng, mặc dù VKSND huyện đã có các quyết định kháng nghị, nhưng "xem ra" tính thuyết phục của kháng nghị cũng chưa đủ để tòa án cấp phúc thẩm tỉnh Quảng Nam lấy đó làm căn cứ giải quyết dứt điểm vụ án.
Dư luận cũng cho rằng, nếu ngay từ thời điểm năm 2006, khi cơ quan Tòa án, VKSND H. Hiệp Đức thụ lý vụ kiện, nếu xem xét thấu đáo nội dung khiếu kiện, nên chăng chuyển vụ việc cho chính quyền và ngành chức năng liên quan đến lĩnh vực đất đai, quản lý rừng xem xét, giải quyết. Có như vậy mới xác định rõ việc khiếu kiện của ông Tô Văn Giác là đúng hay sai, việc tranh chấp hơn 4.000m2 đất rừng ai đúng ai sai, qua việc xác định ranh giới, vị trí, quá trình sử dụng đất của các bên liên quan đến vụ khiếu kiện.
Trong vụ án này, VKSND H. Hiệp Đức đưa ra yêu cầu kháng nghị "thu hồi đất rừng đã giao cho ông Giác sử dụng, nhưng ông không sử dụng" là sai với chức năng, thẩm quyền vì chức năng, thẩm quyền này thuộc về UBND H. Hiệp Đức, hoàn toàn không liên quan đến nội dung khiếu kiện trong vụ án dân sự này. (Công An Đà Nẵng 30/7)đầu trang(
Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên cho biết cơ quan này đang tiến hành làm rõ sai phạm của một số cán bộ đang công tác tại các cơ quan của tỉnh vì có liên quan đến những sai phạm tại Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ H.Sơn Hòa.
Trước đó, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Sơn Hòa đã có kết luận sai phạm tại BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa. Kết luận đã xác định, trong quá trình khai thác 824 ha rừng trồng trong hai năm 2008-2009, BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa đã thông đồng với một số cán bộ khác lập khống hồ sơ, chứng từ người dân nhận khoán rừng tham gia giám sát thiết kế, khai thác với tổng số tiền hơn 200 triệu đồng rồi chia nhau.
Ngoài ra, BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa và Trung tâm Quy hoạch thiết kế nông nghiệp - phát triển nông thôn (Sở NN-PTNT Phú Yên), đơn vị tư vấn thiết kế khai thác, đã tự ý quy đổi đơn vị đo lường gỗ trái quy định, khiến chi phí thiết kế, khai thác vượt quy định 920 triệu đồng. BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa không trích nộp 1/3 giá trị rừng khai thác, gây thất thoát 210 triệu đồng.
Cũng theo kết luận, từ năm 2009-2011, BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa đã buông lỏng quản lý để người dân chiếm dụng trái phép hơn 109 ha rừng. Trong khi đó, cá nhân ông Ngô Thành Thái, nguyên Giám đốc BQL, đã thu hồi trái phép 10 ha rừng đã giao khoán cho người dân rồi giao lại cho người thân. Khi BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa được Sở NN-PTNT Phú Yên giao thực hiện mô hình nông - lâm kết hợp trên diện tích 30 ha tại xã Suối Bạc, ông Thái và ông Nguyễn Tơ (hiện là Bí thư chi bộ, Giám đốc BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa) lập danh sách khống 11 hộ dân tham gia.
Sau khi mô hình kết thúc, BQL không trả lại đất rừng cho UBND xã Suối Bạc mà các ông Thái và Tơ cùng hai cán bộ khác chiếm luôn sử dụng, khai thác đến nay. BQL rừng phòng hộ H.Sơn Hòa cũng không thanh lý, quyết toán, đánh giá hiệu quả của mô hình.
Vì những sai phạm đó, Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa đã ra các quyết định kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Ngô Thành Thái và kỷ luật khiển trách đối với ông Nguyễn Tơ bởi đã buông lỏng quản lý rừng, dẫn đến nhiều diện tích rừng bị mất và có nhiều sai phạm trong quá trình khai thác rừng trồng.
Do những sai phạm tại BQL cũng có liên quan đến một số cán bộ tỉnh nên Ban Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa đã có công văn đề nghị Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy làm rõ, xử lý theo thẩm quyền. (Thanh Niên 30/7)đầu trang(
Báo Nông Nghiệp VN ngày 23/7/2013 có bài viết phản ánh tình trạng những cây nghiến và gỗ quý hiếm tại rừng tự nhiên thuộc xã Năng Khả, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang bị lâm tặc chặt hạ không thương tiếc. Gần đây nhất là vệt rừng gỗ quý men theo QL 279, đoạn nối liền xã Năng Khả với xã Phúc Sơn (Chiêm Hóa - Tuyên Quang), bắt đầu bị tàn phá.
Sau khi báo đăng, Hạt Kiểm lâm Na Hang (Chi cục Kiểm lâm Tuyên Quang) đã có công văn số 130/HKL-PC gửi Báo Nông Nghiệp VN khẳng định nội dung Báo phản ánh là đúng tình hình thực tế và xin cảm ơn, tiếp thu nội dung tác giả bài báo đã nêu. Trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện Na Hang tiếp tục phối hợp với chủ rừng, chính quyền cơ sở các xã và cơ quan liên quan tăng cường thực hiện các biện pháp để bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp VN 30/7)đầu trang(
Chiều 29/7, ông Võ Văn Bình - Đồn trưởng đồn biên phòng 711 (Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Kon Tum) cho hay, gần 65 khối gỗ lậu tại tiểu khu 725 (xã Mo Rai, khu vực Nam Sa Thầy, tỉnh Kon Tum) đang được cơ quan chức năng tiến hành xác minh.
Trước đó, ngày 21/7, lực lượng liên ngành của tỉnh Kon Tum trong quá trình tuần tra biên giới đã phát hiện một khối lượng gỗ lớn tại vị trí mốc số 14.
Qua kiểm tra, có 92 hộp gỗ và 2 lóng gỗ tròn với tổng cộng khoảng gần 65 khối gỗ. Hiện, số gỗ trên đã được đưa về trụ sở đồn biên phòng 711.
Được biết, trước đó, vào ngày 27/6, tại tiểu khu 747, thuộc khu vực đồn biên phòng 711, lực lượng liên ngành cũng đã phát hiện khoảng 40 hộp gỗ dầu, bằng lăng với tổng cộng gần 27 khối.
Số gỗ này cũng đã bị tịch thu và đang tiến hành xác minh. (VTC 31/7)đầu trang(
Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), từ ngày 16/6/2013 đến 15/7/2013, Hải quan đã phát hiện, bắt giữ, xử lý tổng số 1.858 vụ việc vi phạm, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 15 tỷ 33 triệu đồng, kết quả thu nộp ngân sách nhà nước đạt 8 tỷ 635 triệu đồng.
Các hành vi chủ yếu là vận chuyển trái phép sản phẩm từ động vật hoang dã, vũ khí, công cụ hỗ trợ. Đặc biệt, đã phát hiện và bắt giữ nhiều vụ vận chuyển trái phép chất ma túy... (Công An Nhân Dân 30/7)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
"Đa dạng sinh học” có nội hàm rộng, bao hàm nhiều đối tượng từ các hệ sinh thái, các loại sinh vật đến các nguồn gen. Dự án Luật Đa dạng sinh học 2008 đang lấy ý kiến góp ý sửa đổi là để điều chỉnh nhiều vấn đề mới, phức tạp. Từ tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích, an toàn sinh học tới sinh vật ngoại lai xâm hại môi trường…
Một số điểm chưa thỏa đáng của Luật Đa dạng sinh học là 3 lĩnh vực còn khá mới mẻ trong thực tiễn quản lý ở ta hiện nay. Đó là tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích, Quy hoạch đa dạng sinh học và An toàn sinh học. Do đó cần hoàn thiện Luật nhằm tránh được những bất cập cả trong việc thực hiện cũng như trong quá trình xử lý vi phạm pháp luật.
Tại hội thảo góp ý kiến vào Luật Đa dạng sinh học do Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, tổ chức ngày 29-7 tại Hà Nội, các nhà khoa học và đại biểu tham dự đều kiến nghị quản lý nhà nước về lĩnh vực này cần quy về một mối.
Năm 2008, Luật Đa dạng sinh học được ban hành. Sau 4 năm thực hiện, Luật đã bộc lộ nhiều bất cập. Quản lý đa dạng sinh học phân tán ở nhiều bộ, ngành và còn nhiều nội dung bỏ trống. Việc phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ, ngành vẫn bị bỏ ngỏ.
Cái khó hiện nay còn là đa dạng sinh học liên quan đến nhiều lĩnh vực như môi trường, đất, nước, rừng, thủy sản, nông nghiệp, y tế, khoa học. Luật Bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Khoáng sản… đều có đề cập đến đa dạng sinh học nhưng với các cách tiếp cận khác nhau, không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn, chồng chéo. Vì vậy, khó khăn lớn nhất của quá trình sửa đổi, bổ sung dự án Luật Đa dạng sinh học là tạo được sự đồng thuận.
Bộ NN&PTNT đang xây dựng "Chiến lược Quản lý hệ thống Khu Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, trong khi Bộ TN&MT đang xây dựng "Quy hoạch Bảo tồn đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.
"Thực tế Bộ TN&MT quản lý bảo tồn đa dạng sinh học chủ yếu "chỉ là trên giấy tờ”- PGS.TS Nguyễn Đình Hòe, Tổng Thư ký VACNE thẳng thắn. Vì chồng chéo trách nhiệm quản lý đa dạng sinh học giữa 2 Bộ nói trên mà việc quản lý sinh vật ngoại lai xâm lấn nguy hại khá lúng túng và thiếu một cơ chế đủ mạnh. Nhiều nhiệm vụ về quản lý đa dạng sinh học, trong đó có quản lý về sinh vật ngoại lai được quy định rải rác ở nhiều văn bản pháp luật của nhiều ngành khác nhau.
Đó cũng là lý do chưa thống nhất quản lý đa dạng sinh học và các trung tâm bảo tồn thiên nhiên hiện nay trên toàn quốc. Sự chồng chéo nói trên không chỉ khiến việc quản lý kém hiệu quả, mà còn gây nên những lãng phí và những lỗ hổng lớn trong xử lý giám sát.
Nội dung bảo tồn đa dạng sinh học ở các bộ luật khác cần phải tích hợp vào Luật Đa dạng sinh học mới, thay vì chia sẻ phân tán "tứ tung” cả quyền lợi và trách nhiệm như hiện nay. Bài học "lắm mối…” tuy không mới, vẫn là điểm yếu trong quản lý Nhà nước ở một số lĩnh vực KT-XH ở ta hiện nay. (Đại Đoàn Kết 30/7)đầu trang(

THẾ GIỚI
Theo các chuyên gia, cách tốt nhất để ngăn chặn các đám cháy thảm khốc là không cho chúng lan rộng. Thế nhưng, việc này dường như khó khăn hơn khi tình trạng nóng lên toàn cầu đang góp phần gây ra nhiều vụ cháy, đặc biệt tại các khu rừng ở phương Tây. Dự báo đến năm 2050, tình trạng cháy rừng sẽ tăng hơn 50%. Chính vì vậy, các nhà chức trách cũng như giới chuyên gia đang đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ cao để chống tình trạng cháy rừng lan rộng.
Tại Mỹ, Cục Kiểm lâm nước này đã thiết lập hàng chục nghìn vụ cháy ảo với nhiều yếu tố khác nhau, từ thời tiết, địa hình đến thảm thực vật trong các mô hình trên máy tính. “Với những đám cháy ảo này, bạn có thể hình dung phần nào một đám cháy thật (để biết cách ứng phó)” – ông Elizabeth Reinhardt phụ trách giám sát hỏa hoạn ở Cục Kiểm lâm, cho biết.
Song song đó, các chuyên gia còn triển khai các vệ tinh thời tiết, có khả năng chụp lại những cơn giông bão từ trên cao khi chúng bắt đầu hình thành, đưa ra dự đoán hướng đi của gió. Ngoài ra, các loại máy bay không người lái (UAV), có khả năng bay qua một đám cháy trong nhiều giờ, cũng được vận dụng để chụp ảnh hồng ngoại về đám cháy. Những hình ảnh này được chuyển đến các thiết bị cầm tay chạy hệ điều hành Android của các nhân viên cứu hỏa, giúp họ tìm phương án dập lửa hiệu quả.
Hiện Cục Kiểm lâm Mỹ đang kết hợp sử dụng các phần mềm và ứng dụng thiết kế theo yêu cầu để phục vụ công tác phòng cháy và chữa cháy. Theo bà Laura L.Hill, chuyên viên công nghệ thông tin của Cục Kiểm lâm, đơn vị này hy vọng có thể tận dụng mô hình dịch vụ điện toán đám mây nhằm tối ưu hóa các mô hình trên máy tính và cơ sở dữ liệu.
Tuy nhiên, tại các khu rừng bị cháy thường không có các tháp phát sóng điện thoại để có thể kết nối Internet mỗi khi xảy ra cháy. Do đó, Cục Kiểm lâm Mỹ đang lắp đặt nhiều tháp phát sóng điện thoại hoặc liên kết với công ty điện thoại địa phương cho phép nhân viên cứu hỏa sử dụng các ăng-ten nhỏ để liên lạc với nhau. Bà Hill cho biết một công nghệ khác có ích trong ngăn chặn cháy rừng là “mạng mắc lưới” – một mạng máy tính không dây cho phép nhân viên cứu hỏa chia sẻ thông tin nội bộ. Công nghệ này đã được quân đội, Bộ An ninh nội địa và Cơ quan Quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang Mỹ sử dụng. (Báo Khoa Học Phổ Thông 30/7)đầu trang(
Các nhà khoa học người Anh nhận thấy rằng loài voi châu Phi tránh đi kiếm ăn khi trăng sáng vì chúng sợ những người nông dân phát hiện lúc chúng ăn cây trồng của họ. Các nghiên cứu trong và xung quanh Vườn quốc gia Mikumi của Tanzania cho thấy thiệt hại cây trồng do voi giảm mạnh trong giai đoạn trăng tròn.
Đồng tác giả nghiên cứu là tiến sĩ Rachel Grant, giảng viên về hành vi động vật tại Đại học Anglia Ruskin cho biết: "Kết quả của chúng tôi tạo niềm tin rằng có thể tác động, làm thay đổi hành vi của loài voi để giảm nguy cơ chúng gặp phải con người”.
Báo Daily Mail dẫn lời Rachel Grant cho biết voi nhận thức được nguy cơ bị phát hiện vào những đêm trăng sáng. Những hình ảnh tự động ghi lại giúp giải thích hành vi của voi theo chu kỳ âm lịch, cho thấy chúng không dám mạo hiểm đến gần ngôi làng trong lúc trăng tròn. Một số loài động vật khác cũng có hoạt động theo chu kỳ mặt trăng do thay đổi nhịp sinh học. (Thanh Niên 31/7)đầu trang(
Indonesia và Ấn Độ là hai quốc gia đánh bắt cá mập lớn nhất thế giới, theo báo cáo từ một cuộc điều tra của một tổ chức kiểm soát nạn buôn bán động vật hoang dã cho biết.
Số lượng cá mập bị đánh bắt ở Indonesia và Ấn Độ chiếm đến 1/5 tổng số bị đánh bắt của toàn thế giới, AFP ngày 30.7 dẫn báo cáo của TRAFFIC, tổ chức quốc tế chuyên theo dõi các mạng lưới buôn bán động vật hoang dã có trụ sở đặt tại Anh, cho hay.
Hai quốc gia này đứng đầu danh sách 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng cá mập đánh bắt được chiếm đến gần 80% tổng số cá mập đánh bắt được trên toàn thế giới từ năm 2002 đến năm 2011.
Xếp theo sau Indonesia và Ấn Độ lần lượt là Tây Ban Nha, Đài Loan, Argentina, Mexico, Mỹ, Malaysia, Pakistan, Brazil, Nhật Bản, Pháp, New Zealand, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Nigeria, Iran, Sri Lanka, Hàn Quốc và Yemen.
Được biết, Hội đồng châu Âu đã yêu cầu TRAFFIC lập ra báo cáo này sau khi 7 loài cá mập và cá đuối được liệt kê vào Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) tại thủ đô Bangkok (Thái Lan) hồi tháng 3.
Số lượng cá mập trên thế giới đã sụt giảm vì nạn săn bắt tràn lan, vốn xuất phát từ nhu cầu ăn vây (vi) cá mập từ Trung Quốc, theo AFP.
Sự tuyệt chủng của loại cá ăn thịt cấp cao này sẽ gây ra một tác hại rất lớn đến chuỗi đa dạng sinh học.
Một số nhà khoa học tin rằng một trong những hậu quả của việc giảm sút số cá mập là sự bùng nổ số lượng sứa trong đại dương. (Thanh Niên 31/7)đầu trang(
Các nhà khoa học vừa phát hiện một loài chuột chù “anh hùng” mới ở châu Phi được cho là một trong những động vật có vú khỏe nhất và cứng cáp nhất trong thế giới động vật.
Loài chuột chù có tên gọi Scutisorex thori này dài chưa đến 30 cm và chỉ nặng khoảng 50 gram, tuy nhiên nó có thể nhấc bổng những khúc gỗ nặng. Được đặt biệt danh là “chuột chù anh hùng”, loài vật sinh sống ở Congo này có thể chịu được những cú đập rất mạnh vào lưng.
Nhà khoa học William Stanley thuộc Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Anh cho biết người dân địa phương đã mô tả đặc tính dẻo dai của loài vật bé nhỏ này với họ. Khi các nhà nghiên cứu cho họ xem tài liệu về loài này được ghi lại từ đầu thập niên 1900, người dân địa phương ngay lập tức nhận ra loài chuột chù này.
Ông Stanley cho biết người dân địa phương thường dùng loại chuột chù này làm bùa để trở nên bất tử trong chiến trận trước hòn tên mũi đạn. Để minh họa, một người dân đứng giẫm lên con chuột chù bé nhỏ này trong 5 phút, sau đó nó bỏ đi mà không hề hấn gì.
Stanley và các đồng sự đã bắt vài con chuột chù gần làng Baleko về nghiên cứu để khám phá bí ẩn trong sức mạnh của loài vật này. Kết quả phân tích cho thấy loài vật này vừa giống lại vừa khác so với một loài chuột chù anh hùng khác là Scutisorex somereni.
Điểm chung lớn nhất giữa hai loài chuột chù này là cấu trúc xương sống độc đáo của chúng. Stanley cho biết: “Xương sống của chúng được gia cố đáng kể, nhờ đó mà chúng có một sức mạnh kinh hồn.”
Các nhà nghiên cứu tin rằng cấu trúc xương sống này cùng với các cơ đi kèm cho phép loài chuột chù này “nhấc bổng những vật nặng để tiếp cận nguồn thức ăn mà các loài động vật khác không với tới được.”
Ông Stanley cho biết những con chuột chù này có thể chui xuống dưới một khúc gỗ và nâng nó lên để thưởng thức những ấu trùng và các thức ăn khác bên dưới.
Cấu trúc xương sống khác thường của loài chuột chù này là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài và dần dần. Cấu trúc xương sống với các đốt sống liên kết chặt chẽ với nhau này rất có lợi cho loài chuột chù. Tuy nhiên nó cũng có vài điểm yếu. Vì cấu trúc xương sống này nên loài chuột chù “anh hùng” ít linh hoạt hơn các loài động vật khác có cấu trúc xương sống điển hình hơn.
Tuy nhiên đó chỉ là khiếm khuyết nhỏ, bù lại chúng sẽ có khả năng lớn hơn tìm được các con mồi ẩn nấp dưới gốc cây hay khúc gỗ.
Nhà nghiên cứu Kristofer Helgen ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Anh nhận định: “Phát hiện về loài chuột chù anh hùng mới là một khám phá nổi bật cho chúng ta thấy sự đa dạng của sự sống trên hành tinh này vẫn là một đề tài đòi hỏi các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu.”
Trong khi đó, ông Stanley dự đoán rằng họ sẽ tiếp tục phát hiện thêm nhiều loài động vật mới nữa ở Congo và “kỷ nguyên khám phá vẫn chưa kết thúc.” (Khám Phá 31/7)đầu trang(
Với cái miệng khổng lồ, những cái răng sắc nhọn và bắp thịt cực khỏe có thể nghiền nát con mồi, cá sấu là nỗi sợ của hầu hết mọi người. Tuy nhiên, có một cô gái không hề sợ hãi con vật đáng sợ đó và tận tụy với chúng, không ngần ngại vật nhau với chúng dưới nước.
Với Ashley Lawrence, công việc mà nhiều người coi là ác mộng thực ra lại là việc làm mơ ước của cô: đánh vật với cá sấu để di chuyển chúng tới nơi an toàn ở đầm lầy Florida.
Cô gái 25 tuổi này chịu trách nhiệm xử lý các động vật hoang dã bị bắt từ nhiều năm qua, kể từ khi mới tốt nghiệp trung học ở Florida và sau khi theo học tại một ngôi trường ở Fort Wayne, nơi có cha làm trong không quân Mỹ đóng quân.
Ashley nói: "Tôi có khả năng đọc được hành vi của động vật. Bởi vì tôi có thể hiểu động vật ở một mức độ nhất định nên tôi nghĩ rằng nó khiến tôi không phải tiến hành những cuộc vật lộn không cần thiết.
Khi nói tới động vật cần giúp đỡ hoặc đời sống động vật, tôi như được tiếp thêm sức lực. Đó là thứ mà tôi say mê".
Ashley thường xuyên đương đầu với những con cá sấu đã trưởng thành, loại cá sấu đực đôi khi dài tới 4m hoặc hơn trong khi cá sấu cái dài nhất chỉ vào khoảng 3m. (Vietnamnet 31/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa