|
Ngày 30 tháng 07 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
29-7, tại Hà Nội, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF) đã ký Biên bản ghi nhớ tài trợ cho dự án "Tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam".
Ðây là dự án hỗ trợ kỹ thuật nhằm thúc đẩy triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Dự kiến thời gian thực hiện dự án bắt đầu từ năm 2014 đến 2016, với tổng vốn đầu tư là 1.650.000 USD, trong đó cam kết tài trợ không hoàn lại từ Quỹ giảm nghèo Nhật Bản (JFPR) ủy thác qua ADB là 1.500.000 USD, vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam là 150.000 USD. (Nhân Dân 30/7; VietnamPlus.vn 30/7) đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT) vừa tổ chức công bố các Quyết định luân chuyển, điều động và bổ nhiệm cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo các đơn vị thuộc Tổng cục, cụ thể:
Quyết định số 338/QĐ-TCLN-VP ngày 11/7/2013, bổ nhiệm ông Nguyễn Phú Hùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế giữ chức Vụ trưởng Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế;
Quyết định số 339/QĐ-TCLN-VP ngày 11/7/2013, luân chuyển bổ nhiệm ông Đỗ Thanh Hải, Trưởng phòng Quản lý Bảo vệ rừng thuộc Cục Kiểm lâm giữ chức Giám đốc Vườn Quốc gia Tam Đảo;
Quyết định số 298/QĐ-TCLN-VP ngày 27/6/2013, điều động, bổ nhiệm ông Nguyễn Đức Hậu, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Vì giữ chức Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Tam Đảo.
Trong đó, Quyết định số 338 và 339 nêu trên có hiệu lực từ ngày 15/7/2013, còn Quyết định số 298 có hiệu lực từ ngày 1/7/2013. (Nông Nghiệp VN 29/7)đầu trang(
“Sau hơn bốn năm triển khai, Luật Đa dạng sinh học (ĐDSH) đã dần bộc lộ nhiều bất cập”, kết luận này được khẳng định tại báo cáo đề dẫn Hội thảo góp ý Luật ĐDSH do Hội Bảo vệ Thiên Nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) chủ trì tổ chức sáng 29/07/2013 tại Hà Nội.
Theo phân tích của nhóm chuyên gia VACNE, sự chồng chéo và thiếu phân định rõ ràng về chức năng quản lý nhà nước giữa hai bộ chủ quản là trở ngại lớn đối với việc thực thi Luật hiện nay.
Luật ĐDSH quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý nhà nước về đa dạng sinh học, tuy nhiên, trên thực tế việc quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên lâu nay vẫn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đảm trách.
Lý do được nêu ra là Luật ĐDSH “sinh sau đẻ muộn”, trong bối cảnh các luật khác đã trao trách nhiệm bảo tồn thiên nhiên cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ nhiều năm trước đây.
Sự chồng chéo trách nhiệm này thể hiện rõ trong quản lý các hệ sinh thái, sự thiếu thống nhất trong giải thích và quản lý sinh vật ngoại lai xâm lấn nguy hại.
Bên cạnh đó, một số thuật ngữ trong Luật Đa dạng sinh học được đánh giá chưa đủ rõ ràng, một số quy định thiếu tính khả thi, không tương thích so với các luật khác có liên quan như Luật Đất Đai, Luật Bảo vệ phát triển rừng, Luật Thủy sản.
Việc xây dựng quy hoạch bảo tồn ĐDSH dựa trên những căn cứ được xác định trong Luật ĐDSH hiện nay sẽ dẫn đến tình trạng quy hoạch chỉ mang tính đáp ứng, chủ quan hơn là phù hợp với nhu cầu và đòi hỏi khách quan của công tác bảo tồn.
Những nghiên cứu bước đầu của Ths. Lê Thanh Bình, Nguyên Cục trưởng Cục Bảo tồn ĐDSH cũng đã cho thấy những điểm bất hợp lý trong lĩnh vực tiếp cận nguồn gen, quy hoạch ĐDSH và an toàn sinh học.
Hội thảo được đánh giá là điểm mở màn cho những rà soát và góp ý sâu hơn cho việc sửa đổi Luật ĐDSH. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cảnh báo việc góp ý xây dựng Luật ĐDSH sửa đổi cần tiến hành thận trọng và chắc chắn, tập trung vào hoàn thiện các vấn đề khung hơn là đi vào các nội dung chi tiết, đảm bảo Luật có giá trị lâu dài mà không dừng ở việc tháo gỡ những khó khăn trước mắt. (Thiên Nhiên 30/7)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Cuối tuần qua, huyện Lục Yên phối hợp Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái vừa tổ chức Lớp tập huấn nâng cao năng lực nghiệp vụ công tác quản lý bảo vệ rừng năm 2013 cho đội ngũ cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện; cán bộ phụ trách nông, lâm nghiệp xã, thị trấn và các chủ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
Nội dung tập huấn tập trung vào nghiệp vụ công tác quản lý bảo vệ rừng, bao gồm: Nâng cao năng lực thực thi pháp luật về bảo vệ rừng; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Quyết định 07/2012 về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng; Nghiệp vụ về công tác khuyến lâm; nghiệp vụ công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; kỹ chiến thuật chữa cháy rừng hiệu quả; Hướng dẫn thực hiện Thông tư 70/2007 của Bộ NN&PTNT về xây dựng qui ước bảo vệ rừng ở cộng đồng dân cư thôn, bản. Nghiệp vụ công tác thanh tra, pháp chế, công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản…
Thông qua lớp tập huấn, nhằm nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương về công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng; góp phần nâng cao năng lực nghiệp vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng cho đội ngũ cán bộ, công chức kiểm lâm địa bàn và cán bộ làm công tác lâm nghiệp; trưởng thôn, bản và các chủ quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện. (Yenbai.gov.vn 30/7) đầu trang(
Tênh Phông là một trong nhiều địa phương của huyện Tuần Giáo đã có những cách làm hay, độc đáo về công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng nhằm khai thác hiệu quả kinh tế từ rừng mang lại.
Được sự đồng thuận của người dân trong công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, đến nay trên địa bàn xã Tênh Phông đã có 2.507 ha rừng được khoanh nuôi bảo vệ trên tổng diện tích 5.687 ha diện tích tự nhiên của toàn xã, trong đó có 55ha được trồng cây thảo quả.
Để bảo vệ an toàn số diện tích rừng nguyên sinh hiện còn trên địa bàn xã, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đã phối hợp chặt chẽ với cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn, tổ chức kiện toàn lại 5 tổ quản lý bảo vệ rừng ở 5 thôn, bản với tổng số 40 người tham gia.
Hàng tháng, hàng quý, cán bộ kiểm lâm quản lý địa bàn phối hợp với các tổ chức Hội: Nông dân, phụ nữ, đoàn thanh niên, trung đội dân quân tự vệ tuyên truyền pháp lệnh bảo vệ rừng, tuyên truyền về vai trò của rừng trong việc giữ gìn cân bằng môi trường sinh thái, phòng chống bão lũ giảm nhẹ thiên tai, phòng chống đất đai bị thoái hóa bạc màu, rửa trôi; vai trò của rừng trong đời sống kinh tế - xã hội đối với người dân địa phương.
Đồng thời tổ chức cho các hộ dân ký cam kết thực hiện nghiêm chỉnh nội quy, quy chế công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, tham gia phòng chống cháy rừng. Ngoài ra tiến hành tổ chức tuần tra, kiểm soát tại các địa bàn giáp ranh và xử lý nghiêm đối với các đối tượng có hành vi vi phạm chặt phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép. (Đài PT - TH Điện Biên 30/7)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên trong 47 nước đối tác UN-REDD chuyển sang giai đoạn II với khoản tài trợ không hoàn lại khoảng 30 triệu USD để giảm phát thải khí nhà kính thông qua cải thiện quản lý rừng và sử dụng đất.
Chiều 29/7, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cùng đại diện các cơ quan của Liên hợp quốc gồm: bà Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú Liên Hợp quốc tại Việt Nam; ông JongHa Bae, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam; bà Louise Chamberlain, Giám đốc UNDP Việt Nam; ông Young-Woo Park, Giám đốc UNEP và Trưởng đại diện khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã ký văn kiện khởi đầu Chương trình UN-REDD Việt Nam, giai đoạn II.
UN-REDD là chương trình hợp tác Liên hợp quốc về Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng (REDD+) ở các nước đang phát triển.
Được Chính phủ Na Uy tài trợ, Chương trình UN-REDD sẽ trở thành trụ cột chính trong kế hoạch giảm 20% lượng phát thải khí nhà kính từ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của Việt Nam vào năm 2020.
Mục tiêu của chương trình là tăng diện tích bao phủ rừng ở Việt Nam lên 45% vào năm 2020 thông qua xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm giải quyết các nguyên nhân của việc chặt phá rừng và suy thoái rừng.
Trong bốn năm qua, Việt Nam đã thí điểm thành công một số lĩnh vực trong công tác sẵn sàng thực hiện REDD+, bao gồm hỗ trợ điều phối giữa các bên liên quan; xây dựng khuôn khổ cho công tác đo lường, báo cáo và kiểm chứng (MRV); thử nghiệm các cách tiếp cận nhằm cung cấp đầy đủ thông tin và đạt được sự đồng thuận của các nhóm dân tộc thiểu số và các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng.
Giai đoạn 2 sẽ phát huy kết quả từ giai đoạn 1 trong công tác sẵn sàng thực hiện REDD+ và bắt đầu thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia REDD+ ở sáu tỉnh, bao gồm Bắc Kạn, Lào Cai, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng và Cà Mau.
Trong ba năm tới, Chương trình sẽ hỗ trợ việc xác định, đàm phán, lập kế hoạch và triển khai thực hiện những phương thức sử dụng đất bền vững, phù hợp với khí hậu và nhu cầu địa phương.
Chính phủ Na Uy và các đối tác quốc tế khác sẽ có những khuyến khích tài chính đối với việc giảm phát thải khí nhà kính được đo lường và xác minh rõ ràng. (VietnamPlus.vn 30/7)đầu trang(
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Dương vừa chỉ đạo Ban Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim cần có kế hoạch tập trung nghiên cứu chuyên sâu về động thực vật để bảo tồn lâu dài và phát triển thêm các loài động thực vật quý hiếm.
Đồng thời, cần đưa ra những số liệu cụ thể về những thay đổi đa dạng sinh học; tiếp tục tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; khuyến khích kêu gọi đầu tư, xây dựng phần mềm quản lý các loài động thực vật; cần có định hướng nghiên cứu kết hợp giữa bảo tồn và phát triển nhân lực phục vụ du lịch sinh thái.
Mặt khác, phải có những chính sách, đề án phát triển dân cư vùng đệm nhằm cải thiện cuộc sống cho người dân, giảm tình trạng xâm nhập khai thác trái phép tài nguyên, săn bắt các loài động vật hoang dã...
Hiện nay, Vườn Quốc gia Tràm Chim có 130 loài thực vật bậc cao, với 6 kiểu quần xã thực vật, hơn 370 loài thủy sinh vật. Hệ động vật có 231 loài chim nước thuộc 25 chi, 49 họ. Trong đó có 32 loài thuộc dạng quý hiếm cần được bảo tồn.
Theo kế hoạch từ năm 2014 - 2020, Vườn Quốc gia Tràm Chim sẽ xây dựng bảng danh mục các loài động thực vật quý hiếm; quy hoạch đầu tư vườn sưu tập thực vật; nghiên cứu sự biến đổi của hệ sinh thái để có những biện pháp ứng phó; xây dựng đề án bảo tồn và phát triển sinh vật... (Chinhphu.vn 29/7)đầu trang(
Theo tin từ thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, đơn vị vừa có báo cáo tổng hợp sơ bộ về kết quả công tác thanh tra việc quản lý sử dụng đất của các nông - lâm trường (N-LT) và các công ty chuyển đổi từ N-LT trên phạm vi cả nước tính tới ngày 31/12/2012. Tuy nhiên, trong tổ số 50 tỉnh, thành được tiến hành thanh tra đợt này mới chỉ có 37 địa phương gửi báo cáo, 13 địa phương chưa có báo cáo gửi về Bộ; tổng số đơn vị được thanh tra là 73/99.
Đánh giá chung về công tác quản lý, sử dụng đất tại các N-LT, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường nhận định: Tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất đai, cho thuê, cho mượn đất trái pháp luật diễn ra khá phổ biến, chưa được giải quyết; Tình trạng cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật vẫn diễn ra ở nhiều đơn vị; Có một số đơn vị được thanh tra xảy ra tình trạng thế chấp và góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất không đống quy định của pháp luật...
Kết quả thanh tra trên được đưa ra đúng thời điểm dư luận đang “nóng” với tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng diễn ra phổ biến, làm mất mát tài nguyên quốc gia, ảnh hưởng tới môi trường…
Đặc biệt nghiêm trọng là vụ việc hàng ngàn người dân xã Châu Bình, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An kéo vào lâm trường Cô Ba chặt cây, chia đất hồi giữa tháng 6 vừa qua.
Theo báo cáo Thanh tra, về việc quản lý sử dụng đất của các N-LT và công ty được chuyển đổi từ các N-LT trên phạm vi cả nước, hiện có tới 41/73 đơn vị để xảy ra lấn chiếm đất N-LT; 23/73 nông, lâm trường đã tự ý chuyển đổi trái phép từ đất nông nghiệp, đất rừng sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh…
Cụ thể, liên quan tới việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trái pháp luật, có 23/73 đơn vị đã tự ý chuyển đổi hơn 1.000 ha đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp; trong đó chuyển sang đất ở là hơn 156 ha, đất xây dựng trụ sở và đất sản xuất kinh doanh là hơn 911 ha.
Qua thanh tra phát hiện có 41/73 (hơn 56%) đơn vị đã bị hơn 4.500 hộ gia đình, cá nhân, 4 tổ chức lấn chiếm đất đai với tổng diện tích hơn 8.400 ha. Ngoài ra có 12 đơn vị chưa xác định rõ số trường hợp lấn chiếm.
Trong đó, 10 đơn vị bị lấn chiếm gần 2.000 ha kết luận thanh tra đã kiến nghị thu hồi trả về địa phương; 22 đơn vị bị lấn chiếm hơn 3.200 ha mới ban hành quyết định cưỡng chế ở 1 đơn vị với diện tích hơn 36ha, số còn lại chưa được địa phương giải quyết, hoặc giải quyết chưa dứt điểm; 1 đơn vị bị lấn chiếm hơn 6ha đã cưỡng chế nhưng tái phạm; 8 đơn vị bị lấn chiếm hơn 3.200 ha không nêu rõ sử dụng vào mục đích gì và không nêu rõ kiến nghị xử lý.
Ngoài ra, báo cáo của thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng khẳng định đã phát hiện nhiều N-LT trường tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; liên doanh, liên kết trong việc chuyển nhượng sử dụng đất trái pháp luật...
Phát hiện có 6/73 đơn vị đem thế chấp giá trị quyền sử dụng đất tại các ngân hàng, với diện tích gần 52.000 ha; có 15/73 đơn vị liên doanh, liên kết trong việc sử dụng đất (trong đó 9 đơn vị liên kết với hơn 2.000 hộ gia đình, cá nhân sử dụng hơn 9.000 ha đất vào mục đích nông nghiệp; 6 đơn vị liên doanh với 6 doanh nghiệp, tổ chức sử dụng gần 3.000 đất vào sản xuất nông nghiệp và trồng rừng).
Về việc cho thuê lại, mượn quyền sử dụng đất, thanh tra cũng phát hiện 20/73 N-LT đã cho thuê lại quyền sử dụng đất trái pháp luật với tổng diện tích gần 17.000 ha (trong đó có 9 đơn vị cho 9 tổ chức thuê gần 100 ha đất để sử dụng vào mục đích kinh doanh; 10 đơn vị cho 548 hộ gia đình, cá nhân thuê, mượn đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp).
Về tranh chấp quyển sử dụng đất, có 13/73 đơn vị có tranh chấp đất với 32 hộ gia đình, cá nhân và 4 UBND huyện giao trùng diện tích cho các hộ và 1 tổ chức với diện tích hơn 1.100 ha.
Đánh giá về việc sử dụng đất tại các N-LT và công ty chuyển đổi, Thanh tra bộ Tài nguyên và Môi trường cho hay, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, cho thuê, cho mượn đất trái pháp luật diễn ra khá phổ biến, chưa được giải quyết; Tình trạng cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái pháp luật vẫn diễn ra ở nhiều đơn vị...
Nguyên nhân cơ bản, theo Thanh tra, do một số cơ quan quản lý nhà nước có chức năng liên quan chưa quyết liệt trong việc chỉ đạo, kiểm tra, giám sát. Thậm chí, nhiều địa phương còn có biểu hiện buông lỏng việc quản lý đất đai tại khu vực N-LT.
“Công tác giao khoán đất trước đây tại các địa phương còn thiếu cụ thể, chủ yếu trên giấy tờ. Cùng với đó, sự thiếu liên kết giữa chính quyền địa phương và các cơ quan chủ quản trong công tác quản lý, kiểm tra đã làm gia tăng các trường hợp lấn chiếm, tranh chấp, sử dụng không đúng mục đích, cho thuê, mượn, chuyển nhượng, xây dựng nhà ở sai luật”, báo cáo thanh tra nhìn nhận.
Về công tác thanh tra, Thanh tra Bộ đánh giá, công tác chỉ đạo, triển khai, đôn đốc thực hiện chỉ tập trung vào nội dung hiện trạng quản lý, sử dụng đất của các N-LT, công ty mà chưa phản ánh được những nội dung liên quan đến quản lý, sử dụng đất của những khu vực đất trước kia thuộc N-LT, công ty tại thời điểm thanh tra đã chuyển về địa phương quản lý, nên kết quả thanh tra còn hạn chế, chưa phản ánh được công tác quản lý của các cấp quản lý nhà nước ở địa phương với các N-LT; chất lượng báo cáo, kết luận thanh tra phần lớn chưa cao.
Ngày 24/6, Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) đã có văn bản trả lời chúng tôi về hiện trạng rừng và công tác bảo vệ rừng ở VN.
Cụ thể, về các vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi rừng vì mục đích kinh tế ở địa bàn Tây Nguyên, Tây Bắc, Tổng cục Lâm Nghiệp khẳng định phải theo quy định của pháp luật.
Về nguồn thu từ tận thu rừng trên diện tích chuyển đổi: Nếu rừng trồng do chủ rừng tự đầu tư thì chủ rừng được hưởng toàn bộ; nếu là rừng tự nhiên, rừng trồng bằng vốn ngân sách thì toàn bộ nguồn thu nộp vào ngân sách.
Tổng cục Lâm nghiệp cũng khẳng định, chỉ những dự án có đánh giá tác động môi trường mới được chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Về kết quả triển khai dự án 5 triệu ha rừng, theo Tổng cục Lâm nghiệp, Nghị quyết số 18 của Quốc hội khóa 13 đã nêu: Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã cơ bản hoàn thành các mục tiêu đề ra. (Đất Việt 29/7)đầu trang(
Với chiều dài hơn 3.260 km, diện tích hơn một triệu km2, vùng biển nước ta được đánh giá là một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới. Trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc bảo đảm chủ quyền lãnh hải, công tác điều tra, nghiên cứu môi trường và tài nguyên sinh vật biển là vấn đề cần được quan tâm nhiều hơn.
Từ cuối tháng 4 đến tháng 6 vừa qua, trong khuôn khổ nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ (KH&CN), Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam (HLKH và CNVN) thực hiện chuyến điều tra, khảo sát chung tại các vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên Biển Ðông giữa các nhà khoa học Nga và Việt Nam trên tàu "Viện sĩ Oparin".
Tham gia đợt điều tra, khảo sát hỗn hợp lần thứ tư này có 21 nhà khoa học Nga đến từ các viện Hóa sinh hữu cơ Thái Bình Dương, Sinh học biển, Ðịa lý Thái Bình Dương (thuộc phân viện Viễn Ðông) và 12 nhà khoa học Việt Nam thuộc năm viện nghiên cứu (thuộc Viện HLKH và CNVN).
Hàng chục năm qua, cùng với các nghiên cứu tổng thể về hệ sinh thái biển, đội ngũ cán bộ khoa học các viện Hải dương học Nha Trang, Tài nguyên và Môi trường biển, Ðịa chất và địa vật lý biển... (thuộc Viện HLKH và CNVN) đã có những nghiên cứu cơ bản và triển khai ứng dụng về tiềm năng tài nguyên sinh vật biển. Các công trình điều tra, nghiên cứu đã xác định được danh mục gần 12 nghìn loài sinh vật biển Việt Nam. Nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nguồn lợi hải sản ở nước ta khá phong phú, đa dạng, bao gồm khoảng 2.000 loài cá, gần 600 loài động vật dưới đáy biển, hơn 650 loài tảo, năm loài rùa biển...
Một số nhóm sinh vật biển có giá trị kinh tế như cá, tôm, mực đã được xác định khu vực phân bố, cũng như trữ lượng và khả năng khai thác, sử dụng. Ðồng thời, các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, ứng dụng sự đa dạng về sản phẩm của sinh vật biển và các loại thân mềm như ngao, nghêu, tu hài, hàu, vẹm..., được coi là nguồn lợi khai thác và nuôi trồng đứng sau tôm, cá. Hàng chục đề tài cấp Nhà nước, cấp bộ tập trung nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học biển được thực hiện và bước đầu đạt được kết quả đáng khích lệ.
Ðáng chú ý trong đó là các giải pháp nuôi cấy các chủng vi sinh vật phân hủy dầu, làm sạch dầu trên các bãi triều; nuôi ghép các loài vẹm xanh với nuôi tôm làm giảm bớt ô nhiễm môi trường do thức ăn dư thừa của tôm; Sản xuất các chế phẩm sinh học làm sạch môi trường trong các ao, hồ, đầm, phá nuôi trồng thủy sản. Hiện tượng biến đổi khí hậu, tình trạng sử dụng các phương tiện khai thác mang tính hủy diệt dẫn đến nguy cơ đe dọa cạn kiệt nguồn tài nguyên sinh vật và hủy hoại các hệ sinh thái biển ở nước ta... cũng đã được các nhà khoa học lên tiếng cảnh báo.
Bên cạnh các chương trình, dự án lớn nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên sinh vật biển thuộc các khu vực đảo Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, vịnh Nha Trang, Phú Quốc... mấy năm gần đây, các đơn vị nghiên cứu thuộc Viện HLKH và CNVN hướng ra quần đảo Trường Sa nhằm điều tra, phát hiện các nguồn lợi sinh vật biển ở khu vực này.
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy tại mười đảo thuộc quần đảo Trường Sa có hơn 250 loài rong biển được phân chia thành bốn nhóm ngành: rong đỏ, rong nâu, rong lục và khuẩn lam. Trong đó rong đỏ chiếm phần lớn với 136 loại (53,3%), tiếp đến là rong lục 69 loại, và rong nâu, khuẩn lam, mỗi loài có 25 loại. Theo các nhà khoa học, sự phân bố địa lý (tức phân bố rộng) của rong biển tại các đảo của quần đảo Trường Sa không giống nhau.
Nguyên nhân chính của sự phân bố khác nhau này, trước hết do vị trí địa lý giữa các đảo, sau đó là có yếu tố tác động của thiên nhiên và con người. Sự phân bố thẳng đứng (phân bố sâu) của rong biển tại quần đảo Trường Sa được xác định có tới hơn 70% số loài phân bố ở vùng triều thấp, số còn lại tập trung ở vùng dưới triều (độ sâu 20 m trở xuống). Rong biển lâu nay được coi như một nguồn lợi thực phẩm có nhiều giá trị dinh dưỡng, ngoài ra nó còn là nguyên liệu phục vụ cho các ngành công nghiệp dệt may, dược phẩm, mỹ phẩm...
Trên cơ sở phân tích, đánh giá một cách đầy đủ giá trị sử dụng (với 62 loài rong biển có giá trị kinh tế cao), các nhà khoa học thuộc Viện HLKH và CNVN đã phân loại rong biển ở quần đảo Trường Sa thành sáu nhóm làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Ðó là các nhóm nguyên liệu phục vụ chế biến dược phẩm, sản xuất phân bón, thực phẩm, rau xanh, chế biến keo Carrageenan, chế biến Agar với trữ lượng tự nhiên hàng nghìn tấn.
Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng tài nguyên sinh vật biển những năm qua đã góp phần phục vụ việc hoạch định khai thác, nuôi trồng hải sản, phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn nguồn lợi và bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Tuy nhiên đánh giá một cách tổng thể thì công tác điều tra, nghiên cứu tài nguyên sinh vật biển thời gian qua còn không ít hạn chế, bất cập. Ðiều dễ thấy là các tổ chức khoa học và công nghệ mới chỉ tập trung vào các vùng biển ven bờ mà chưa có các nghiên cứu xa bờ.
Nhiều năm qua, nguồn lợi ven bờ bị khai thác "cày xới" quá mức và trong đó cá là đối tượng được nghiên cứu nhiều hơn các sinh vật biển khác. Công tác điều tra về nghiên cứu tài nguyên sinh vật biển những năm qua còn dừng lại ở tính đơn lẻ, cục bộ mà thiếu sự liên kết, hợp tác giữa các tổ chức khoa học và công nghệ với cấp quản lý ở địa phương có biển. Cho nên thiếu một quy hoạch tổng thể cho vùng nuôi trồng, xác định nguyên nhân và mức độ suy giảm hệ sinh thái và nguồn lợi sinh vật biển cũng như việc đề ra các biện pháp khắc phục còn lúng túng, hạn chế...
Theo PGS, TS Ðỗ Công Thung (Viện Tài nguyên và Môi trường biển), để năm, mười năm tới hoạt động nghiên cứu lĩnh vực sinh học biển ở nước ta có thể vươn ra đại dương ngang tầm các quốc gia khu vực và thế giới, Nhà nước cần có sự quan tâm đầu tư thỏa đáng không chỉ ở khâu đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải có trang thiết bị (tàu hiện đại) mới có thể tiến ra khơi xa nghiên cứu toàn diện các vùng biển lớn.
Các nhà khoa học, thông qua các điều tra nghiên cứu có các kết luận đánh giá một cách đầy đủ, chính xác tổng trữ lượng nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam. Ðồng thời không ngừng đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường biển; triển khai xây dựng các mô hình phục hồi hệ sinh thái và khu bảo tồn biển, đảo. (Nhân Dân 30/7)đầu trang(
Công ty liên doanh thuốc lá BAT- Vinataba vừa phối hợp với Viện kinh tế Kỹ thuật thuốc lá bàn giao hơn 200.000 cây giống cho bà con nông dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với trị giá hơn 167 triệu đồng.
Đây là địa phương đầu tiên nhận cây giống trong chương trình trồng rừng năm 2013 của công ty với hơn một triệu cây giống, trị giá hơn 1,2 tỷ đồng. Sau Cao Bằng, các địa phương khác sẽ nhận cây giống là Tây Ninh (100.000 cây), Gia Lai (11.000 cây), Đồng Nai (507.000 cây) và Lạng Sơn (260.000 cây).
Hơn 10 năm qua, công ty đã cung cấp cho các địa phương Tây Ninh, Gia Lai, Lạng Sơn, Cao Bằng và Đồng Nai… gần 26 triệu cây giống gồm cây keo, dầu, sao, bạch đàn và một số cây trồng đường phố khác với trị giá gần 9 tỷ đồng, góp phần phủ xanh hơn 9.343 hécta đất trống đồi trọc tại các tỉnh.
Riêng năm 2012, công ty đã hỗ trợ gần 1 triệu cây giống cho các tỉnh trên với trị giá trên 1,1 tỷ đồng. Dự kiến, năm 2013 chương trình trồng rừng của công ty sẽ tiếp tục hỗ trợ các tỉnh hơn 1 triệu cây giống, trị giá khoảng 1,2 tỷ đồng và phủ xanh hơn 1.000 ha. (Công Thưowng 29/7)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện đã kết hợp cùng Đoàn Kiểm tra quy hoạch rừng thiết kế trồng rừng tại 4 xã, với diện tích 100ha, trong đó, 50ha trồng rừng phòng hộ, 50ha trồng rừng sản xuất; thiết kế diện tích khoanh nuôi rừng trên toàn huyện 3.000ha.
Được biết, hiện toàn huyện đã xây dựng, kiện toàn 11 Ban Chỉ huy Phòng cháy, chữa cháy rừng cấp xã, 153 tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng và quản lý bảo vệ rừng thôn, xóm. Đến thời điểm này, trên địa bàn huyện đã phát hiện, lập biên bản 7 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu 8m3 gỗ nghiến xẻ và 0,863m3 gỗ tròn; xử phạt 4 vụ, số tiền phạt hơn 7,6 triệu đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 30/7)đầu trang(
Để cung ứng cho nhu cầu trồng rừng cho nông dân huyện Khánh Vĩnh, thời gian qua, một số vườn ươm tại xã Khánh Nam, Khánh Trung, vườn ươm của Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp Trầm Hương đã tích cực triển khai gieo ươm cây con, chủ yếu là keo giâm hom. Giá bán dao động từ 650 đồng đến 700 đồng/cây.
Do nhu cầu trồng rừng tăng mạnh nên các nhà vườn chỉ đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu của người dân. Vì thế, Trung tâm Dịch vụ thương mại Khánh Vĩnh đã kí hợp đồng với Công ty giống miền Nam và Công ty giống Bình Định vận chuyển 165.000 cây keo lai giâm hom với giá dao động từ 600 đến 650 đồng/cây để cung cấp cho bà con nông dân. Hiện nay keo giấy thương phẩm 4 năm tuổi có giá từ 60 đến 70 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí, bà con nông dân thu lãi 40 triệu đồng/ha. (Đài PT - TH Khánh Hòa 30/7)đầu trang(
Ban quản lý Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm vừa kết thúc khóa tập huấn về giám sát rạn san hô cho 20 tập huấn viên (TOT – Training of Trainer). Đây là các hạt nhân nòng cốt của các khu bảo tồn biển, các khu bảo vệ biển do cộng đồng quản lý, gồm: Rạn Trào (tỉnh Khánh Hòa), Nhơn Hải (tỉnh Bình Định) và Bãi Hương (Cù Lao Chàm, Hội An).
Trong 4 ngày tập huấn, các TOT đã được nghe báo cáo viên, cán bộ kỹ thuật Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm giới thiệu kiến thức và huấn luyện thực hành kỹ năng, phương pháp giám sát đa dạng sinh học, rạn san hô cho cộng đồng tại các khu bảo tồn biển, các khu bảo vệ biển do địa phương quản lý; từng bước đưa hoạt động này trở thành một hoạt động thường xuyên được thực hiện bởi chính cộng đồng địa phương. (Báo Quảng Nam 30/7)đầu trang(
Tháng 7, khi thời vụ trồng rừng vụ xuân vừa khép lại, nhiều địa phương, ban quản lý rừng, công ty, doanh nghiệp còn đang chạy đua với kế hoạch trồng rừng năm 2013 thì huyện Trấn Yên (Yên Bái) đã hoàn thành vượt mức kế hoạch trồng rừng cả năm.
Đây không phải là lần đầu tiên mà liên tục vài ba năm nay, Trấn Yên đều hoàn thành kế hoạch trước 6 tháng.
Đến nay, Trấn Yên đã trồng được trên 2.400ha, vượt 215ha và đạt 109% kế hoạch năm; trong đó có trên 1 triệu cây phân tán, 599ha quế, 301ha luồng và măng tre Bát Độ, 311ha bồ đề, mỡ và 480ha keo hạt, còn lại là các loại cây khác. Không chỉ trồng rừng đạt kế hoạch cao mà nhân dân trồng cũng rất bài bản, đúng kỹ thuật, qua kiểm tra đánh giá của các ngành chuyên môn thì tỷ lệ cây sống tốt đạt trên 90%.
Không chỉ hoàn thành kế hoạch trồng rừng trước 6 tháng mà công tác quản lý bảo vệ rừng cũng được chú trọng, quan tâm. Gần 14.000ha rừng tự nhiên đã được các hộ, nhóm hộ, cộng đồng dân cư nhận khoán và bảo vệ nghiêm ngặt. Trong 6 tháng đầu năm chỉ phát hiện và xử lý 15 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 3 vụ khai thác trái phép, 9 vụ lấn chiếm đất rừng. Huyện cũng đã cơ bản hoàn thành thực hiện Đề án giao đất, giao rừng, đã và đang tiến hành giao rừng, cho thuê rừng tại xã điểm Y Can. (Báo Yên Bái 29/7)đầu trang(
Cho đến thời điểm này, hiệu quả kinh tế trong sản xuất lâm nghiệp đã được khẳng định rõ, không chỉ đóng góp lớn cho phát triển kinh tế - xã hội địa phương mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Tuy nhiên, sản xuất lâm nghiệp cũng vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại cần được tháo gỡ, từ phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến mới hy vọng phát triển bền vững.
Phát huy thế mạnh của một tỉnh miền núi, nhiều năm qua, Yên Bái đã có nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển lâm nghiệp. Bình quân mỗi năm, nhân dân, các nông - lâm trường, công ty lâm nghiệp trồng mới trên 13.000ha rừng, nâng diện tích rừng kinh tế lên trên 200.000ha. Kinh tế đồi rừng giờ đây đã thực sự trở thành một nghề không thể thiếu với không ít bà con nông dân, đã và đang góp phần lớn vào công cuộc xóa đói giảm nghèo trong nông nghiệp, nông thôn.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, sản xuất lâm nghiệp, nhất là trong phát triển rừng kinh tế, giá trị mang lại chưa cao, chưa tương xứng với tiềm năng, giá trị thực. Trồng rừng kinh tế không chỉ dừng lại ở các huyện vùng thấp mà đã phát triển lên cả huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải.
Song song, mỗi năm, bà con khai thác luân kỳ từ 9.000 - 10.000ha. Năm 2012, toàn tỉnh khai thác trên 7.000ha rừng kinh tế, thu trên 370.000m3 gỗ, năng suất bình quân đạt trên 52m3/ha. Qua đó cho thấy, sản lượng gỗ cho thu hoạch là rất thấp, sản lượng thấp đồng nghĩa với giá trị kinh tế không cao. Với 50m3 gỗ thu được bán với giá thị trường được chưa đầy 50 triệu đồng/ha.
Đây là số tiền không hề nhỏ đối với các hộ gia đình ở nông thôn nhưng nếu đem chia cho một chu kỳ trồng rừng 6 - 7 năm thì mỗi năm, người dân chỉ thu được chục triệu đồng, chưa kể chi phí tiền giống, phân bón, công lao động, các chi phí khác. Năng suất, chất lượng rừng rất thấp, nguyên nhân chính do thiếu đầu tư từ khâu tuyển chọn giống đến đầu tư chăm sóc. Diện tích rừng trồng lớn nhưng diện tích được trồng bằng các giống cây lâm nghiệp chuẩn, tiến bộ rất thấp.
Thực tế những năm trước đây, bà con trồng rừng chủ yếu bằng các giống cho năng suất kém như: keo lá tràm, keo tai tượng, bồ đề, bạch đàn thường. Không chỉ vậy, những diện tích rừng cho năng suất thấp là trồng trên đất chu kỳ 2, 3 cùng mức đầu tư thấp nên hiệu quả không cao cũng dễ hiểu.
Một hai năm trở lại đây, tỉnh đã cung ứng các giống cây lâm nghiệp tiến bộ như: bạch đàn mô, keo lai, keo giống nhập nội... có chu kỳ phát triển ngắn lại cho năng suất cao, có thể đạt 130 - 140 m3 gỗ/ha. “Biết là thế nhưng giá giống cao, hơn nữa có tiền cũng khó mà mua được” - ông Hoàng Văn Công, xã Việt Cường (Trấn Yên) nói.
Hiện nay, trên địa bàn toàn tỉnh, có rất nhiều vườn ươm, cơ sở sản xuất giống nhưng những vườn ươm giống chuẩn, giống tiến bộ rất hạn chế, còn lại đều tự phát, tự ươm gieo không rõ nguồn gốc, thậm chí giống lai tạp và không sạch bệnh. Trước đây, có Trung tâm Giống cây trồng Yên Bái sản xuất giống cây lâm nghiệp theo công nghệ nuôi cấy mô với công suất 1,6 triệu cây giống/năm, đáp ứng khoảng 15% nhu cầu giống trồng rừng toàn tỉnh nhưng cũng đã đóng cửa 2 năm nay.
Ngành nông nghiệp, chi cục lâm nghiệp và các huyện, thị, nông lâm trường, người dân đều biết là giống tốt, giống chuẩn, giống sạch bệnh sẽ cho năng suất cao nhưng khó khăn vì không chủ động được nguồn giống Bên cạnh yếu tố giống, việc trồng rừng, nhất là đối với không ít hộ dân vùng cao, vùng xa trồng không đúng kỹ thuật, không đầu tư chăm sóc nên cây lớn chậm, chất lượng gỗ không cao.
Cũng như trồng rừng, công nghiệp chế biến phát triển khá rầm rộ, nhất là từ năm 2007 trở lại đây. Tính đến hết năm 2012, toàn tỉnh có gần 400 cơ sở chế biến gỗ rừng trồng, trong đó có 2 doanh nghiệp Nhà nước, 26 công ty trách nhiệm hữu hạn, 15 công ty cổ phần, 21 doanh nghiệp tư nhân, 32 hợp tác xã, còn lại 295 hộ cá thể. Các cơ sở doanh nghiệp đã sản xuất 43.700m3 ván ghép thanh, 16.500m3 ván ép, 123.000m3 ván bóc, 461 triệu đôi đũa... tạo việc làm cho trên 4.000 lao động, đóng góp vào ngân sách trên 15 tỷ đồng. Hiệu quả kinh tế mang lại khá lớn và với một khối lượng gỗ rừng trồng lớn như vậy, nếu chúng ta làm tốt khâu chế biến, tiêu thụ sản phẩm thì chắc chắn hiệu quả còn cao hơn rất nhiều.
Việc phát triển tràn lan các cơ sở ván bóc không theo quy hoạch đã và đang là một thiệt hại tới ngành chế biến lâm nghiệp và môi trường. Do bung ra quá nhiều cơ sở chế biến dẫn tới tình trạng tranh mua nguyên liệu và khai thác nguyên liệu một cách tận diệt. Người dân thấy gỗ được giá nên dù rừng chưa đến kỳ khai thác cũng cố chặt để bán (khai thác non), năng suất kém, chất lượng cũng kém.
Một vấn đề nữa, tuy số cơ sở chế biến nhiều nhưng chủ yếu là sơ chế dẫn đến giá trị thấp, vô cùng lãng phí tài nguyên. Có xã chỉ có vài trăm héc-ta rừng nhưng có tới 60 cơ sở ván bóc, chế biến gỗ rừng trồng làm mất cảnh quan, gây ô nhiễm môi trường. Do các cơ sở chế biến chỉ làm duy nhất công đoạn bóc gỗ lại rất nhỏ lẻ nên thường bị các doanh nghiệp, tập đoàn và thương lái ép giá. Toàn bộ sản phẩm ván bóc tập trung tiêu thụ ở thị trường Trung Quốc. Khi thị trường này “đóng băng” kéo theo giá giảm trầm trọng khiến doanh nghiệp, cơ sở sản xuất điêu đứng. Giá giảm, đương nhiên người thiệt thòi nhất vẫn là nông dân bởi phải bán nguyên liệu giá thấp.
Để ngành lâm nghiệp, nhất là sản xuất rừng kinh tế phát triển, trước tiên, tỉnh phải làm tốt công tác quy hoạch, từ vùng nguyên liệu đến chế biến một cách cụ thể. Đối với phát triển vùng nguyên liệu, Yên Bái phải đưa những cây có giá trị kinh tế cao vào sản xuất, trong sản xuất đòi hỏi phải đầu tư thâm canh để rút ngắn chu kỳ phát triển, tạo năng suất, sản lượng cao.
Bên cạnh đó cần đổi mới công nghệ, thiết bị phù hợp gắn với khả năng cung ứng vùng nguyên liệu, khai thác rừng bền vững; phát triển chế biến theo hướng chiều sâu để tăng giá trị của sản phẩm gỗ, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên liệu; tập trung ưu tiên đầu tư các sản phẩm có giá trị cao, có lợi thế cạnh tranh. Cơ cấu sản phẩm gỗ phải được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển công nghiệp của tỉnh, bảo đảm nâng cao khả năng cạnh tranh, lấy đổi mới công nghệ làm nền tảng căn bản cho phát triển.
Vấn đề quan trọng nữa là tỉnh, ngành nông nghiệp, kế hoạch, công thương cần cơ cấu lại sản xuất gỗ rừng trồng, hạn chế và thậm chí không cấp phép đầu tư mới đối với các cơ sở nhỏ lẻ, thiết bị lạc hậu, sản xuất sản phẩm sơ chế; vận động, khuyến khích các hình thức hợp tác kinh doanh theo mô hình các cơ sở nhỏ làm vệ tinh cho doanh nghiệp lớn, cung cấp sản phẩm bán thành phẩm, sơ chế để doanh nghiệp lớn đầu tư chế biến đến sản phẩm cuối cùng, tiến tới không bán sản phẩm thô ra ngoại tỉnh. (Báo Yên Bái 30/7)đầu trang(
25-7, Ban Quản lý dự án phát triển ngành lâm nghiệp WB3 tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức sơ kết hoạt động 6 tháng đầu năm, bàn giải pháp thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2013.
Ngay từ đầu năm, Ban Quản lý dự án phát triển ngành lâm nghiệp WB3 cấp tỉnh và các huyện đã tập trung chỉ đạo thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh; chuẩn bị tốt hiện trường trồng rừng; tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các hộ triển khai kế hoạch trồng mới 2.300 ha rừng sản xuất. Các đơn vị đã sản xuất được 5 triệu cây giống lâm nghiệp như keo tai tượng Úc, lát hoa, xoan, luồng cung ứng cho các địa phương trồng rừng.
Kết quả, 6 tháng đầu năm 2013 có 1.016 hộ dân trên địa bàn 6 huyện: Thạch Thành, Hà Trung, Ngọc Lặc, Như Thanh, Triệu Sơn, Tĩnh Gia tham gia Dự án WB3 đã trồng mới được 1.238,2 ha rừng, đạt 53,8% kế hoạch cả năm.
Mục tiêu dự án trồng rừng sản xuất WB3 tại Thanh Hóa chủ yếu là rừng nguyên liệu công nghiệp đạt năng suất cao trên diện tích đất lâm nghiệp có điều kiện lập địa thích hợp, gần thị trường tiêu thụ nguyên liệu, thuận lợi về giao thông nhằm tăng khả năng sản xuất gỗ bền vững. Đồng thời, xây dựng cơ chế hấp dẫn để các gia đình nghèo tham gia trồng rừng qua đó tạo nguồn thu nhập và việc làm bền vững; nghiên cứu phát triển thể chế và thị trường, tăng cường năng lực cho các cơ quan thực hiện dự án…
Để phấn đấu vụ thu trồng mới 1.470 ha rừng sản xuất (vượt 410 ha so với kế hoạch giao), Ban Quản lý dự án phát triển ngành lâm nghiệp WB3 tỉnh Thanh Hóa đã tập trung chỉ đạo các đơn vị, địa phương tham gia dự án khẩn trương phê duyệt và thực hiện công tác đo đạc, giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia dự án; hoàn thiện hồ sơ thiết kế trồng rừng; hồ sơ tách hộ cho diện tích trồng rừng năm 2013 để các hộ làm thủ tục vay vốn; tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy mạnh trồng mới rừng trong vụ thu. (Báo Thanh Hóa 29/7)đầu trang(
Một lão nông nay đã ngoài 70 tuổi, suốt một đời lam lũ ở vùng đất bán sơn địa tại thôn Phú Cốc Đông (xã Quế Thọ, H. Hiệp Đức, Quảng Nam) và cuộc sống chỉ trông chờ vào mảnh đất rừng cằn cỗi. Vậy mà, 8 năm qua lão nông này phải "đáo tụng đình" đến 5 lần để khiếu nại việc người khác lấn chiếm hơn 4.000m2 đất lâm nghiệp được Nhà nước giao cho mình nhưng vụ việc vẫn chưa được giải quyết xong.
Ngày 29-12-1994, vợ chồng ông Tô Văn Giác (1941) và bà Huỳnh Thị Hoa (trú thôn Phú Cốc Đông) được giao 0,8ha đất lâm nghiệp tại thôn Phú Cốc Đông theo Quyết định số 21/94/QĐ-UB (viết tắt: QĐ 21) của UBND H. Hiệp Đức. Diện tích đất này được ông Giác trồng bạch đàn, sao đen, keo lá tràm...
Cuối năm 2005, thu hoạch xong lứa cây đầu tiên, ông Giác trồng lại rừng, thì vợ chồng bà Nguyễn Thị Sáu và ông Tô Tấn Tuyển (trú cùng thôn) đến ngăn cản, chặt phá vườn cây của ông và lấn chiếm 4.125,64m2 vì cho rằng đó là đất của mình. Vụ việc được ông Giác khởi kiện ra tòa để đòi lại đất và bồi thường cây trồng bị chặt phá.
Tại phiên tòa xét xử dân sự sơ thẩm (DSST) ngày 13-11-2006 của TAND H. Hiệp Đức, vợ chồng bà Sáu cho rằng: diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Huỳnh Thị Yên, năm 1988, bà Yên chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Sơn (anh ruột bà Sáu). Năm 1990, ông Sơn sang nhượng lại cho vợ chồng bà Sáu và sử dụng cho đến tháng 10-2005 thì bị ông Giác chiếm giữ, chặt phá...
Bà Sáu đề nghị Nhà nước công nhận 4.125,64m2 đất tranh chấp trên là thuộc sở hữu của gia đình mình. Tuy nhiên, qua quá trình xét xử tại phiên tòa, tại Bản án DSST số 21/2006/DS-ST (ngày 13-11-2006), TAND H. Hiệp Đức đã quyết định: Công nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Giác đối với diện tích tranh chấp nằm trong thửa đất mà ông Giác đã được UBND H. Hiệp Đức giao theo QĐ 21. Buộc vợ chồng bà Sáu phải bồi thường cho ông Giác 270 nghìn đồng về tài sản thiệt hại do bị xâm phạm.
Không đồng ý với quyết định bản án, bà Sáu làm đơn kháng cáo. Phiên tòa xét xử dân sự phúc thẩm (DSPT) ngày 22-12-2006, tại Bản án DSPT số 133/2006/DSPT, TAND tỉnh Quảng Nam bác kháng cáo của bà Sáu và ra quyết định tuyên xử giống như nội dung bản án DSST mà TAND H. Hiệp Đức đã xử...
Ngày 23-7-2008, Chi cục THADS H. Hiệp Đức có công văn kiến nghị TAND Tối cao xem xét lại Bản án DSPT số 133 vì cho rằng, sơ đồ, biên bản bàn giao, tọa độ, trích đo địa chính khu đất không trùng với diện tích đất tranh chấp nên bà Sáu không chấp nhận thi hành án. TAND Tối cao đã kháng nghị Bản án DSPT số 133 và đề nghị Tòa DS TAND Tối cao xét xử theo trình tự Giám đốc thẩm. Ngày 17-9-2010, phiên tòa DS Giám đốc thẩm của Tòa DS TAND Tối cao đã quyết định hủy Bản án DSPT số 133 và hủy Bản án DSST số 21, giao hồ sơ vụ án cho TAND H. Hiệp Đức xét xử sơ thẩm lại từ đầu.
Để có cơ sở giải quyết đúng đắn khi tiến hành xét xử lại vụ án, ngày 6-4-2011, TAND H. Hiệp Đức có công văn gửi Phòng TN-MT và UBND H. Hiệp Đức đề nghị xác định lại rõ một số vấn đề liên quan: tính pháp lý về hồ sơ giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Giác 0,8 ha theo QĐ 21; xác định thửa đất mà ông Giác được giao theo biên bản ngày 2-11-1994; diện tích đất giao cho ông Giác theo quyết định UBND huyện có trùng khớp với diện tích đất đang tranh chấp hay không? thực tế gia đình bà Sáu sử dụng diện tích đất đang tranh chấp trước khi xảy ra khiếu kiện như thế nào? căn cứ pháp lý để Phòng TN-MT xác nhận đơn xin nhận đất của bà Sáu (ngày 17-4-2010)...
Ngày 27-10-2011, ông Đào Bội Thuyên- Chủ tịch UBND H. Hiệp Đức đã có công văn trả lời TAND H. Hiệp Đức: "Hiện nay thửa đất ông Giác đang sử dụng tiếp giáp có tứ cận đúng như biên bản giao nhận đất rừng lập ngày 2-11-1994, nhưng do trước đây vẽ vị trí thửa đất bằng phương pháp thủ công nên có sơ xuất, vẽ thửa đất đã bàn giao lên bản đồ thiết kế giao đất rừng cho hộ ông Giác không chính xác dẫn đến có sự sai lệch ở hai vị trí khác biệt nhau...
Hồ sơ giao đất cho ông Giác là đảm bảo đúng trình tự pháp luật tại thời điểm lúc bấy giờ. Diện tích đất đã giao cho ông Giác chưa bị thu hồi. Việc Phòng TN-MT xác nhận vào đơn xin xác nhận của bà Sáu (chứng cứ nguồn gốc đất) là không đúng quy định pháp luật, bởi thẩm quyền này thuộc về UBND xã Quế Thọ...".
Ngày 29-12-2011, TAND H. Hiệp Đức mở phiên tòa xét xử lại vụ án theo trình tự sơ thẩm và quyết định công nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Giác và bà Hoa đối với diện tích đất tranh chấp 4.303m2 (diện tích đất đo đạc từ thực địa chênh lệch 177,76m2 so với diện tích đất trên hồ sơ giấy tờ hai bên tranh chấp), nằm trong diện tích đất Nhà nước cấp cho ông Giác, bà Hoa (tại thôn Phú Cốc Đông).
Tuy nhiên, ngày 12-1 và ngày 20-1-2012, Viện trưởng VKSND H. Hiệp Đức đã có quyết định kháng nghị Bản án DSST số 25/2011/DSST (ngày 29-12-2011) của TAND H. Hiệp Đức. Như vậy, vụ án đã bước sang năm thứ 8, nhưng vẫn không thể giải quyết dứt điểm mà xem chừng ngày càng rắc rối hơn... (Công an Đà Nẵng 29/7)đầu trang(
Tuyên Quang không chỉ nổi tiếng là một trong những vùng ATK huyền thoại của cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1946-1954) mà miền quê này còn được "trời cho” không ít tài nguyên tiềm năng, trong đó có rừng. Với những cánh rừng nguyên sinh ngút ngát, có nhiều loại gỗ quý hiếm, trong đó có gỗ nghiến tứ thiết - 2a, luôn được lâm tặc săn lùng...
Điển hình là gỗ nghiến ở rừng nguyên sinh xã Năng Khả, huyện Na Hang, suốt thời gian dài, bị lâm tặc "chém giết” tàn bạo. Gần đây lâm tặc đã "xâm lăng” sang dải rừng dọc Quốc lộ 279, nơi có nhiều loại gỗ quý hiếm nằm giữa xã Năng Khả và xã Phú Sơn, huyện Chiêm Hóa.
"Kỹ xảo” chặt hạ gỗ của lâm tặc khá bài bản. Chúng chọn thời điểm thích hợp, lén lút, nhỏ lẻ chặt hạ gỗ nghiến theo cách "mượn gió, bẻ măng”. Chẳng hạn, chỉ chặt một phần ba hay một nửa dưới gốc cây gỗ rồi để đó, sau thời gian trời nổi mưa gió, "vặn” cây đổ; kẻ chặt hạ chỉ việc đến ... "thu sạch”. Vì vậy, khi tiếp cận những khu rừng nghe nói bị lâm tặc hoành hành; đứng ở đường nhựa nhìn lên vách núi không thể thấy được cảnh gỗ nghiến bị "thảm sát” nghiêm trọng và càng không nghe thấy tiếng của rìu, cắt chặt náo loạn.
Theo lời những cư dân bản địa, tình trạng gỗ quý bị "cướp” diễn ra đã nhiều năm. Căng thẳng nhất là mấy năm gần đây, khi cưa lốc thay thế cưa tay. Riêng gỗ nghiến, những năm trước lâm tặc chỉ cắt làm thớt, gùi bán cho đầu nậu gỗ. Hiện nay, trừ khi không thể xẻ thành sản phẩm theo "đơn đặt hàng” của đầu nậu, mới xẻ làm thớt bán.
Phong trào "chơi” giường, sập gỗ nghiến đang là mốt của những đại gia. Để sở hữu chiếc giường; sập gỗ nghiến ưng ý, những người lắm của nhiều tiền sẵn sàng móc hầu bao trả từ hàng chục đến cả trăm triệu đồng. (Đại Đoàn Kết 29/7)đầu trang(
Sau khi báo Nhân Dân phản ánh vè hoạt động vận chuyển gỗ lậu diễn ra phức tạp trên Quốc lộ 19, đoạn qua huyện Đăk Pơ, Gia Lai, Hạt kiểm lâm huyện Đắk Pơ đã phối hợp với lực lượng công an huyện phát hiện, bắt giữ và xử lý nhiều xe ô tô chở gỗ lậu trên địa bàn.
Trong đó có vụ xe tải chở hơn 14m3 gỗ , xe ô tô chở hơn 3m3 gỗ. (Nhân Dân 28/7) đầu trang(
Chiều 29-7, ông Nguyễn Quốc Hoàn, Bí thư huyện Sơn Hòa, Phú Yên cho biết, Huyện ủy vừa chỉ đạo, giao Ban Tổ chức Huyện ủy kiểm tra dấu hiệu buông lỏng công tác quản lý rừng và "làm lơ" cho người khác phá rừng đối với ông Nguyễn Thanh Tân, Chủ tịch UBND xã Sơn Định.
Liên quan đến vụ việc này, Hạt Kiểm lâm huyện cũng sẽ điều tra, xác định những khu rừng đang bị khai thác trái phép ở khu vực hòn Đót và suối Đục (xã Sơn Định). Sau khi có báo cáo chính thức, lãnh đạo huyện sẽ xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm theo quy định của pháp luật.
Theo phản ánh của người dân địa phương, từ năm 2003 đến nay, khu rừng già tại hòn Đót và suối Đục đã bị “cạo trọc”. Nhiều người trong số này phá rừng để làm nương rẫy thì bị chính quyền lập biên bản phạt hành chính; tuy nhiên, một số khác vô tư dùng cưa máy triệt hạ nhiều cây gỗ quý rồi đem đi nơi khác tiêu thụ nhưng không bị chính quyền không “sờ gáy” và UBND xã cũng không có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
Điển hình, vào tháng 5-2003, gia đình ông Lê Văn Xuân (ngụ thôn Hòa Nghĩa, xã Sơn Định) được huyện Sơn Hòa giao 25ha rừng thuộc lâm phần hòn Đót để khoanh nuôi, bảo vệ. Dù rừng đã được giao cho gia đình ông Xuân nhưng nhiều người vẫn đến chặt phá. Trong đó, hộ ông Nguyễn Xuân Kiều (SN 1982, ngụ thôn Hòa Nghĩa, xã Sơn Định) phá rừng hòn Đót để lấy gỗ và trồng mía. “Tôi đã nhiều lần báo cáo UBND xã về việc ông Kiều phá rừng hòn Đót để lấy gỗ và trồng mía, nhưng không hiểu sao chính quyền địa phương không những không xử lý mà còn vận động tôi trả lại rừng” - ông Lê Văn Xuân bức xúc cho biết.
Để chứng thực tình trạng phá rừng tại hòn Đót và suối Đục, sau hơn 20 phút “cắt” rừng, lội suối, chúng tôi đã tiếp cận được những khu vực mà lâm tặc “cắm chốt” để ngày đêm “gặm nhấm” rừng già. Tại hiện trường, lều, bạt, bếp dã chiến của những người phá rừng còn để lại tan tác như một bãi chiến trường. Điều này chứng tỏ họ đã ở rất lâu trong rừng để cưa gỗ nhưng lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương ở đây không hay biết (!?).
Tại đây, PV chứng kiến hàng loạt cây gỗ quý hiếm đường kính gốc 50 - 80cm bị lâm tặc triệt hạ không thương tiếc. Điều đáng nói, khu rừng già hòn Đót, suối Đục chỉ cách UBND xã khoảng 3km theo đường chim bay. Vì vậy, việc lâm tặc đốn hạ gỗ rồi tuồn ra khỏi khu rừng có thể ví như chuyện “con voi chui lọt lỗ kim”.
Khi PV đến trụ sở UBND xã Sơn Định để làm việc, mới hay Chủ tịch UBND xã Nguyễn Thanh Tân đã tự ý nghỉ việc hai ngày 18 và 19-7 nhưng không báo cáo Thường trực Đảng ủy; sau buổi chào cờ sáng 22-7 ông Tân mới đến công sở. Một số cán bộ chủ chốt xã Sơn Định nói rằng, trong mấy ngày tự ý nghỉ việc, ông Tân đã “đi du lịch với ông Nguyễn Xuân Kiều” - nghi can phá rừng ở hòn Đót.
Theo phản ánh của nhiều người dân ở Sơn Định, chính ông Kiều đã làm đường và triệt hạ khu rừng gần 4ha như đã nói ở trên. Với tốc độ “trảm” rừng như hiện nay thì không lâu nữa, rừng hòn Đót, suối Đục sẽ bị xóa sổ. (Công an TPHCM 29/7; Kinh tế Nông thôn 30/7)
Ông Võ Văn Bình, Đồn trưởng Đồn biên phòng 711 (Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Kon Tum) vừa cho hay, gần 65 mét khối gỗ bị bắt giữ tại tiểu khu 725 (xã Mo Rai, khu vực Nam Sa Thầy, Kon Tum) đã được cơ quan chức năng tịch thu và tiến hành xác minh.
Trước đó, như nguồn tin của Lao Động cho hay, ngày 21.7, lực lượng liên ngành của tỉnh Kon Tum đã bắt giữ một khối lượng gỗ lớn trên đường tuần tra biên giới, vị trí mốc số 14 (thuộc xã Mo Rai).
Qua kiểm tra, có 92 hộp gỗ và 2 lóng gỗ tròn với tổng cộng khoảng gần 65 mét khối gỗ. Hiện số gỗ trên được đưa về tại trụ sở mới của Đồn biên phòng 711.
Trước đó- vào ngày 27.6, tại tiểu khu 747, thuộc khu vực Đồn biên phòng 711, lực lượng liên ngành cũng đã phát hiện khoảng 40 hộp gỗ dầu, bằng lăng với tổng cộng gần 27 mét khối. Số gỗ này cũng đã bị tịch thu và đang tiến hành xác minh. (Lao Động 30/7)đầu trang(
29/7, nguồn tin riêng từ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khánh Hòa cho biết, đơn vị này vừa ra các quyết định thi hành kỷ luật đối với 6 cán bộ lãnh đạo huyện Khánh Sơn (Khánh Hòa) vì để xảy ra tình trạng phá rừng và buôn bán trái phép lâm sản trên địa bàn huyện trong nhiều năm liền.
Theo đó, ông Ngô Hữu Giác - nguyên Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về mặt Đảng do thiếu chỉ đạo, kiểm tra để xảy ra việc phá rừng kéo dài trong nhiều năm. Ông Nguyễn Bá Chiến - Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Khánh Sơn bị khiển trách về Đảng do chưa nắm bắt kịp thời tình hình phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra trên địa bàn để có biện pháp tham mưu chỉ đạo xử lý; thiếu đấu tranh trong tập thể Thường trực, Ban Thường vụ Huyện ủy để lãnh đạo, chỉ đạo việc chống phá rừng, mua bán lâm sản trái phép, gây dư luận không tốt đến uy tín của bản thân.
Ông Tô Quốc Hùng - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn bị cảnh cáo về mặt Đảng; đồng thời Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khánh Hòa đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh này cách chức Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm của ông Hùng do thiếu trách nhiệm trong công tác kiểm tra, chỉ đạo tổ chức công tác bảo vệ rừng và phá rừng; thiếu gương mẫu, chấp hành không nghiêm sự chỉ đạo của Huyện ủy.Ông Huỳnh Long Vấn - Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Khánh Sơn bị cách chức Bí thư Chi bộ đối với, đề nghị Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cách chức Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Khánh Sơn.
Ngoài ra, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khánh Hòa cũng thống nhất hình thức kỷ luật khiển trách về mặt Đảng đối với ông Cao Hồng Vân - Bí thư Huyện ủy Khánh Sơn do chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng chưa tốt; do ông Vân là Tỉnh ủy viên nên phải chờ Tỉnh ủy họp để có quyết định cuối cùng. Còn Trung tá Nguyễn Thành Trung - Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Công an huyện thì bị cách hết các chức vụ trong Đảng.
Trước đó, vào tháng 6/2012, ông Trung bị kỷ luật cách chức ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy Khánh Sơn, cách chức Bí thư Đảng ủy Công an huyện Khánh Sơn do có nhiều vi phạm trong công tác quản lý và bảo vệ rừng ở Khánh Sơn trong thời gian dài. Đến tháng 9-2012, ông Trung bị giáng cấp bậc từ Thượng tá xuống Trung tá, giáng chức từ Trưởng xuống Phó Trưởng Công an huyện Khánh Sơn và sau đó bị điều chuyển làm Phó Giám thị Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa.
Sau khi, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa vào cuộc điều ra, phát hiện sai phạm của ông Trung nên đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam ông này. Liên quan đến ông Trung, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Sơn cho biết, trong vụ một số đối tượng tham gia phá rừng phòng hộ Tà Gụ tại xã Sơn Hiệp thời điểm tháng 9-2011, ông Trung có thuê người phát dọn 3,4ha rừng, trong đó có 0,9ha rừng phòng hộ. Ngoài ra, Ban quản lý rừng phòng hộ Khánh Sơn đã giao khoán 20,25ha trái phép, trong đó có hơn 12ha rừng phòng hộ Tà Gụ cho ông Trung.
Được biết, thời gian qua, các cán bộ chủ chốt của huyện Khánh Sơn đã buông lỏng quản lý, không thường xuyên kiểm tra nên để xảy ra tình trạng phá rừng phòng hộ trên địa bàn. Nhiều đối tượng đã dùng xe cơ giới mở đường vận chuyển lâm sản trái phép trong thời gian dài nhưng không bị ai ngăn chặn. Tình trạng kéo dài, tạo dư luận không tốt trong xã hội, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn, khiến người dân địa phương vô cùng bức xúc. (Kinh tế Nông thôn 29/7)đầu trang(
Vừa qua, TAND huyện Nam Trà My đưa ra xét xử vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo điều 175 Bộ luật Hình sự.
Theo cáo trạng, ngày 12.12.2012 trong lúc tuần tra rừng, cán bộ kiểm lâm Nam Trà My phát hiện 4 đối tượng khai thác gỗ trái phép tại tiểu khu 790 thuộc thôn 3 (xã Trà Leng, Nam Trà My) gồm Đinh Văn In (SN 1981), Huỳnh Hào Hùng (SN 1988, cùng trú tại huyện Bắc Trà My), Nguyễn Thanh Sỹ (SN 1991) và một người tên Nhựt chưa rõ lai lịch cùng trú tại tỉnh Quảng Ngãi, trong đó Hùng là chủ mưu.
Kiểm lâm huyện đã bắt quả tang đối tượng In, 3 đối tượng còn lại tẩu thoát và sau đó Hùng, Sỹ đã đến cơ quan điều tra đầu thú. Tại hiện trường đã thu giữ 46,6m3 gỗ tròn và 5,46m3 gỗ xẻ chủ yếu là gõ, sơn huyết và xoan đào cùng một số tang vật phạm tội. Tại cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi phá rừng trái phép và được gia đình bảo lãnh.
Đến ngày 6.2.2013, Đinh Văn In chết do bệnh tim. Do vậy tại phiên tòa lần này chỉ có đối tượng Huỳnh Hào Hùng và Nguyễn Thanh Sỹ bị đưa ra xét xử. Hội đồng xét xử đã tuyên Huỳnh Hào Hùng 48 tháng tù giam, Nguyễn Thanh Sỹ 30 tháng tù giam, đồng thời thực hiện trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền gần 2 tỷ đồng. (Báo Quảng Nam 30/7)đầu trang(
Tuy nhiên, những năm gần đây, những cánh rừng xanh tốt ở Langbiang đang từng ngày bị đe dọa, lâm tặc sử dụng rất nhiều hình thức, nhiều thủ đoạn để tàn phá rừng, khiến những người làm công tác kiểm lâm ở Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương phải nỗ lực hơn gấp bội để bảo vệ rừng.
Những người giữ rừng ở Langbiang cho biết, công tác bảo vệ rừng và bảo vệ nguồn nước của dòng Đa Nhim (suối Khóc) đã được Huyện ủy, UBND huyện Lạc Dương đặc biệt quan tâm bằng hàng loạt văn bản chỉ đạo. Hạt Kiểm lâm huyện Lạc Dương cũng tích cực phối hợp với các chủ rừng và cơ quan chức năng như Huyện đội, Công an huyện thường xuyên kiểm tra, tuần tra mỗi tháng 4 đợt theo tinh thần Chỉ thị 12/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nhờ đó, tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để lấy đất sản xuất nông nghiệp ở các xã có đông người dân tộc thiểu số sinh sống đã giảm dần.
Mong sao, với sự quyết tâm, nỗ lực giữ rừng của những cán bộ, nhân viên Hạt Kiểm lâm Lạc Dương, vẻ đẹp hoang sơ, hùng vĩ của núi rừng Langbiang sẽ mãi mãi tươi xanh, quyến rũ mọi du khách… (Kinh tế Nông thôn 29/7)đầu trang(
THẾ GIỚI
Hoạch định chiến lược bảo vệ và khôi phục loài hổ trên Trái Đất cũng như tìm kiếm giải pháp bảo vệ loài thú dữ quý hiếm này trong môi trường tự nhiên của chúng là mục tiêu được đề ra nhân Ngày quốc tế của hổ, 29/7.
Theo số liệu thống kê, trong 100 năm trở lại đây, số lượng loài hổ đã giảm 25 lần và đang ngày càng ít đi. Do vậy, những nước có loài hổ sinh sống cần phải quan tâm tới vấn đề hồi phục loài động vật ăn thịt này.
Theo sáng kiến của Nga, năm 2010, tại thành phố St. Petersburg đã diễn ra Diễn đàn quốc tế đầu tiên về bảo vệ và khôi phục loài hổ với sự tham gia của bộ trưởng sinh thái 13 quốc gia trên thế giới có hổ sinh sống.
Qua đó, các quốc gia tham gia Diễn đàn đã thông qua Chương trình toàn cầu giai đoạn 2010-2022 tăng gấp đôi số lượng hổ lên đến 7.000 con, với kinh phí dự kiến trong 5 năm tới là gần 350 triệu USD, đồng thời quyết định lấy ngày 29/7 hàng năm để kỷ niệm Ngày quốc tế Hổ.
Hiện Nga là quốc gia tập trung 95% loài hổ Amua. Với số lượng hổ Amua nhiều nhất thế giới, trong những năm gần đây, Nga đã đưa ra một loạt biện pháp nhằm bảo vệ loài động vật quý hiếm này.
Hồi tháng 3, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ký hai sắc lệnh quan trọng gồm cấm săn bắt hay buôn bán động vật quý và nâng cao mức hình phạt đối với tội săn bắn loài động vật quý hiếm này. (VietnamPlus.vn 30/7)đầu trang(
Bắt đầu từ tháng 8 tới, người dùng Internet trên thế giới có thể theo dõi chương trình phát sóng 24/24 giờ về đời sống loài gấu trúc - loài động vật biểu tượng của Trung Quốc và đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Theo CNN ngày 29-7, 28 camera độ nét cao đã được lắp đặt tại cơ sở nghiên cứu và gây giống gấu trúc Thành Đô, thuộc tỉnh Tứ Xuyên (tây nam Trung Quốc) để ghi lại các hoạt động hằng ngày của hơn 80 con gấu trúc sống tại đây.
Những người mở trang www.ipanda.com có thể chọn sáu chuyên mục, từ "vườn gấu trúc lớn", "vườn trẻ" đến "vườn gấu trúc mẹ và con…" để xem và có thể theo dõi gấu trúc 24/24 giờ tùy sở thích.
Theo Tân Hoa xã, trang www.ipanda.com đã bắt đầu đăng tải thử nghiệm các video từ 24-6 và thu hút khoảng 15.000 người dùng truy cập và bình luận, trong đó nhiều người bày tỏ mong muốn được tận mất nhìn thấy gấu trúc sau khi xem các clip trên trang.
Có nguồn gốc từ Trung Quốc, gấu trúc được xem là “động vật quý quốc gia” và được Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới xếp vào nhóm có nguy cơ tuyệt chủng do chỉ còn khoảng 1.600 con sống trong tự nhiên (số liệu năm 2004).
Năm 1987, cơ sở nghiên cứu và gây giống gấu trúc Thành Đô (phi lợi nhuận) được thành lập và hiện đang nuôi khoảng 83 con gấu trúc. (Sài Gòn Giải Phóng 30/7; Tuổi Trẻ 29/7)đầu trang(
Một con cá voi lưng gù được giải cứu khỏi vòng vây của tấm lưới lớn, sau khi bị mắc kẹt ở ngoài khơi Australia.
Telegraph dẫn lời giới chức ở Noosa Heads, bang Queensland, cho biết con cá khổng lồ có thể đã bị mắc lưới trong đêm. Nó vẫn thở khi những người giải cứu đến gần. Họ đã cố gắng cắt lưới để con cá voi lưng gù đực thoát ra và bơi đi.
Từ tháng 6 tới tháng 10, những con cá voi lưng gù từ châu Nam Cực di cư lên phía bắc để tới những vùng nước ấm hơn ở ngoài khơi của Australia. (Đất Việt 30/7)đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||