Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chiều nay 29/12, ngọn lửa bùng phát đã thiêu rụi 0,5ha rừng thuộc tổ 44, khu 4 phường Cao Thắng, TP. Hạ Long, Quảng Ninh.
Nhận được tin báo lúc 13h12, 2 xe chữa cháy đem theo phương tiện máy thổi gió thuộc Phòng Cảnh sát PCCC số 3, Cảnh sát PCCC tỉnh đã được huy động tới hiện trường. Tham gia chữa cháy còn có lực lượng kiểm lâm, công an và cán bộ phường Cao Thắng, tổ dân khu phố và công nhân đang thi công tại dự án sân golf FLC Hạ Long.
Tuy nhiên, do có gió, cây cháy lại chủ yếu là lau le, lá khô, thực bì nên phải đến 16h20, đám cháy mới được dập tắt hoàn toàn. 0,5ha rừng đã bị thiêu rụi hoàn toàn.
Theo thống kê của Cảnh sát PCCC tỉnh Quảng Ninh, tính từ 1/12- 14/12, toàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ cháy rừng, thiệt hại 20ha, chủ yếu là rừng keo, bạch đàn, thông; trong đó địa bàn xảy ra cháy rừng chủ yếu là TP. Hạ Long và TP. Cẩm Phả.
Hiện tại đang là thời điểm thời tiết hanh khô kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, bởi vậy, việc thực hiện các biện pháp PCCC rừng, quản lý chặt chẽ tránh các nguyên nhân chủ quan và khách quan phát sinh các nguồn nhiệt, nguồn lửa gây cháy rừng, gây hậu quả nghiêm trọng là một việc làm hết sức quan trọng để bảo vệ "lá phổi xanh" của thành phố. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 30/12) đầu trang(
Những tác động lớn của biến đổi khí hậu (BĐKH) đã, đang và tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến diễn biến thời tiết trên địa bàn tỉnh; khiến hiện tượng thiên nhiên cực đoan xảy ra với tần suất nhiều hơn.
Qua theo dõi của cơ quan chuyên môn, điều dễ nhận thấy nhất do tác động của BĐKH chính là lượng mưa năm nay ít hơn so với bình quân hàng năm. Tuy chưa bước vào tâm điểm của mùa khô, nhưng tại nhiều địa phương trong tỉnh, người dân đã bắt đầu cảm nhận được sự khốc liệt, cỏ cây đang dần héo úa, nhiều vùng đất khô khốc do thiếu nước...
Diễn biến phức tạp của thời tiết cũng khiến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) thêm khó khăn, phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ đe dọa xóa xổ những cánh rừng. Tỉnh ta được xếp vào nhóm địa phương có diện tích rừng lớn, đứng thứ 5/63 tỉnh, thành cả nước, với trên 437,2 nghìn ha, tương đương độ che phủ 54%. Nếu không có giải pháp PCCCR phù hợp, hiệu quả, thích ứng trong điều kiện BĐKH tác động mạnh mẽ thì rất khó bảo toàn, phát triển diện tích rừng của tỉnh.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác PCCCR, trong giai đoạn 2011-2015, tỉnh ta đã triển khai nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho các lực lượng chức năng, phát huy tốt tinh thần “4 tại chỗ”, ứng phó kịp thời khi có các vụ việc xảy ra. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí có hạn, nên việc mua sắm trang thiết bị, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ PCCCR mới chỉ tập trung được ở những vùng trọng điểm, dễ xảy ra cháy nhưng vẫn còn thiếu; chưa đáp ứng được yêu cầu.
Theo ghi nhận của lực lượng chức năng, mùa khô 2016, trên địa bàn tỉnh xảy ra gần 40 vụ cháy; trong đó, có 31 vụ cháy rừng và 6 vụ cháy trảng cỏ. Các địa bàn xảy ra nhiều như Hoàng Su Phì với 8 vụ cháy rừng và trảng cỏ, gây thiệt hại gần 115 ha, trong đó có gần 12 ha rừng trồng, trên 42 ha rừng tự nhiên, trên 59 ha cây bụi, trảng cỏ; huyện Xín Mần xảy ra 7 vụ, gây thiệt hại 24 ha rừng trồng, trên 9 ha rừng tự nhiên; huyện Yên Minh xảy ra 6 vụ, thiệt hại gần 11 ha rừng...
Theo ông Bùi Văn Đông, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, với những tác động tiêu cục của BĐKH toàn cầu như hiện nay, diễn biến cháy rừng sẽ ngày càng phức tạp, xảy ra trên diện rộng. Vì vậy, công tác PCCCR cần phải được tiếp tục đầu tư nhằm nâng cao năng lực cho lực lượng Kiểm lâm, bổ sung trang thiết bị để kịp thời ứng phó, hạn chế thấp nhất thiệt hại khi xảy ra cháy.
Trước yêu cầu cấp bách đó, vừa qua UBND tỉnh đã phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Nâng cao năng lực PCCCR giai đoạn 2016-2020, tổng mức đầu tư gần 88 tỷ đồng từ nguồn ngân sách T.Ư hỗ trợ và các nguồn vốn hợp pháp khác. Số tiền trên được sử dụng để mua sắm phương tiện, trang thiết bị, dụng cụ, xây dựng cơ bản, thực hiện công tác tuyên truyền, tập huấn, huấn luyện, nâng cao nhận thức.
Mục tiêu đặt ra của dự án: Nâng cao năng lực trong dự báo, cảnh báo và chỉ huy PCCCR; nâng cao năng lực của Kiểm lâm, nhận thức của người dân và các cấp chính quyền trong PCCCR; hình thành và phát triển lực lượng PCCCR tới thôn, bản. Đồng thời, tăng cường đầu tư phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất cho việc PCCCR, nâng cấp trụ sở làm việc của Ban chỉ đạo PCCCR, Hạt Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động - PCCCR, trạm bảo vệ rừng.
Quy mô đặt ra, nâng cấp hệ thống cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh và kết nối đến từng huyện, thành phố nhằm cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng kịp thời, xác định chính xác các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, hòa mạng hệ thống cảnh báo, dự báo tại Cục Kiểm lâm T.Ư; nâng cấp hệ thống phát hiện sớm lửa rừng bao gồm xác định điểm cháy trên diện rộng bằng ảnh viễn thám đặt tại Chi cục Kiểm lâm tỉnh và các khu cực trọng điểm có nguy cơ cháy cao...
Dự án cũng chú trọng củng cố, kiện toàn tổ chức cho lực lượng PCCCR chuyên ngành của Kiểm lâm, thực hiện đào tạo, huấn luyện chuyên sâu về nghiệp vụ và trang bị các phương tiện, thiết bị chữa cháy rừng; tổ chức trực ban theo dõi tình hình PCCCR trong mùa khô; lực lượng chữa cháy rừng chuyên ngành phối hợp với lực lượng Công an, Quân đội để ứng cứu, dập tắt những vụ cháy trong vùng trọng điểm và những vụ cháy rừng có nguy cơ lan rộng trên địa bàn tỉnh...
Với các giải pháp được triển khai đồng bộ, từ nay đến năm 2020 tỉnh ta sẽ thực hiện tốt việc kiểm soát, kịp thời phát hiện, huy động lực lượng ứng cứu, hạn chế thấp nhất thiệt hại có thể xảy ra. (Báo Hà Giang 29/12) đầu trang(
Thời gian qua, huyện Chợ Đồn đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn, đạt được nhiều kết quả khả quan.
Huyện Chợ Đồn có hơn 81 nghìn ha diện tích đất lâm nghiệp (chiếm gần 89,17% tổng diện tích tự nhiên), trong đó có hơn 4.200ha rừng đặc dụng, hơn 20.000ha rừng phòng hộ và gần 57.000ha rừng sản xuất. Các nguồn lợi thu được từ phát triển kinh tế rừng trong những năm qua đã và đang góp phần nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương.
Nhận thức được tầm quan trọng và giá trị của tài nguyên rừng đối với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, thời gian qua, UBND huyện đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo ngành chuyên môn, UBND các xã/thị trấn trên địa bàn tăng cường công tác bảo vệ và phát triển rừng. Các ngành chuyên môn, các địa phương đã chủ động thực hiện công tác theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong đó, công tác tuyên truyền được đặc biệt chú trọng.
Lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền các địa phương tổ chức giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức của người dân, vận động người dân tham gia công tác trồng rừng, bảo vệ và phát triển rừng. Năm 2016, Hạt Kiểm lâm chủ động phối hợp với các phòng ban, đơn vị liên quan và cấp ủy, chính quyền các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền lồng ghép thông qua các cuộc hội nghị và họp thôn, bản được 149 cuộc với hơn 5.300 lượt người tham gia.
Đồng thời thường xuyên duy trì và phối hợp với Báo Bắc Kạn, Đài PT-TH tỉnh, huyện đưa tin, bài về công tác quản lý bảo vệ rừng và phát triển rừng trên địa bàn huyện.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác theo dõi diễn biến tài nguyên rừng trong việc cung cấp thông tin để hoạch định chiến lược phát triển lâm nghiệp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trên địa bàn, Hạt Kiểm lâm huyện đã tập trung chỉ đạo các trạm kiểm lâm, cán bộ kiểm lâm thường xuyên thăm nắm địa bàn được phân công, thực hiện tốt công tác theo dõi, cập nhật đầy đủ, chính xác, kịp thời những diện tích rừng và đất lâm nghiệp khi có sự biến động, thay đổi.
Thông qua việc quản lý rừng tại gốc, theo dõi diễn biến rừng đã góp phần phục vụ hiệu quả, cung cấp cơ sở dữ liệu cho công tác thống kê lâm nghiệp, giúp cho chính quyền địa phương quản lý và chỉ đạo tốt các hoạt động liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp, phục vụ cho các cuộc điều tra, phúc tra chuyên ngành.
Công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản, nuôi nhốt động vật hoang dã được duy trì thường xuyên. Đến nay trên địa bàn huyện có 12 hộ gia đình, cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã thông thường được cấp giấy phép. Các cơ sở đều chấp hành tốt quy định của pháp luật.
Trong năm 2016, toàn huyện không xảy ra vi phạm liên quan đến nuôi nhốt động vật hoang dã. Toàn huyện có 66 cơ sở đăng ký hoạt động chế biến kinh doanh lâm sản (13 doanh nghiệp, HTX và 53 hộ kinh doanh các thể), lực lượng kiểm lâm thường xuyên kiểm tra việc chế biến kinh doanh của các cơ sở, đặc biệt là các cơ sở kinh doanh gỗ bóc.
Công tác thanh, kiểm tra trong lĩnh vực lâm nghiệp được duy trì thường xuyên, góp phần kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Từ đầu năm đến nay, huyện Chợ Đồn đã cấp 677 giấy phép khai thác gỗ các loại, tổng khối lượng cấp là gần 12.000m3, cấp 101 giấy phép khai thác lâm sản khác.
Trong năm 2016, Hạt Kiểm lâm đã kiểm tra phát hiện và lập hồ sơ 99 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng với hành vi vi phạm như khai thác trái phép 2 vụ, cất giữ lâm sản trái phép 55 vụ, vận chuyển lâm sản trái phép 3 vụ, chế biến lâm sản 2 vụ, vi phạm thủ tục hành chính 7 vụ, 1 vụ phá rừng trái phép. Tổng thu nộp theo các Quyết định xử phạt và bán tang vật, phương tiện tịch thu là hơn 695 triệu đồng. Tính đến đầu tháng 12 đã thu nộp ngân sách hơn 526 triệu đồng.
Để góp phần tích cực trong việc duy trì ổn định tình hình công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn, trong năm 2017, huyện Chợ Đồn xác định tiếp tục nâng cao năng lực hoạt động của lực lượng Kiểm lâm giai đoạn 2015-2020, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị; tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 2/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường; tổ chức tuyên truyền phổ biến pháp luật trong công tác bảo vệ rừng, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đến người dân; thực hiên tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ; đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, kiểm soát lâm sản; phổ biến kỹ thuật trong công tác chăm sóc, bảo quản cây giống và rừng trồng cho người dân; triển khai kế hoạch ngoại nghiệp công tác trồng rừng năm 2017 đảm bảo kịp tiến độ, đúng đối tượng, chuẩn bị cây giống đảm bảo để cung ứng cho nhân dân trồng rừng năm 2017; kiểm tra giám sát các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh, không để xảy ra tình trạng mất rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 28/12) đầu trang(
Điện Biên Đông có diện tích đất tự nhiên rộng, việc rừng chủ yếu tập trung ở khu vực núi cao, nơi mà trình độ dân trí của người dân còn thấp, sống chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng nhưng lại thiếu ý thức bảo vệ và giữ gìn nguồn tài nguyên vô giá này.
Bên cạnh đó, việc qua nhiều năm diện tích trồng mới thì ít song lại không thực hiện khoanh nuôi bảo vệ, thậm chí là không đủ nhân lực trong công tác quản lý cũng như phòng cháy chữa cháy rừng đang là rất nhiều yếu tố kết hợp khiến độ che phủ rừng tại địa bàn này chỉ dừng lại ở con số 25,1% và được xem gần như là thấp nhất trong toàn tỉnh.
Nà Ly là một bản vùng cao nằm dọc vùng núi Ten Ư của xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông, mặc dù ở mảnh đất đầu nguồn con sông Mã này người dân vẫn chưa được chi trả dịch vụ môi trường rừng và vẫn tồn tại tập quán làm nương rẫy luân canh nhưng để bảo vệ rừng cùng hệ sinh thái của Ten Ư, cộng đồng dân bản Nà Ly đã biết bảo vệ rừng dựa trên những hương ước được thống nhất của cả cộng đồng dân bản. Vì vậy, có thể thấy, hiện nay rừng ở Nà Ly có độ che phủ tương đối cao so với các khu vực khác cũng thuộc địa bàn xã Chiềng Sơ.
Ông Lò Văn Pháng, Trưởng bản Nà Ly, xã Chiềng Sơ, huyện Điện Biên Đông cho biết: "Tôi và 5 đoàn thể của bản đã thông báo cho nhân dân và người dân ở các bản lân cận không được phát rừng bừa bãi, không cho đốt gần khu rừng cấm. Nếu trường hợp người dân cố ý vi phạm thì 5 khối đoàn thể của bản sẽ xử lý theo quy ước, hương ước." Cùng với cộng đồng ở những thôn bản cá biệt tại xã Chiềng Sơ thì trong những năm gần đây, người dân xã Na Son đã cùng nhau xây dựng và thực hiện các quy ước, hương ước của bản trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc cũng như phát triển rừng. Theo đó, tại các thôn bản trên địa bàn đều thành lập tổ bảo vệ rừng, mỗi tổ sẽ do trưởng bản đứng đầu và giao nhiệm vụ cho từng tổ viên trong việc quản lý, bảo vệ rừng. Vào đầu mùa khô, trưởng bản sẽ tổ chức họp bản và chủ rừng để các hộ dân ký cam kết bảo vệ, giữ rừng, không phát rừng làm nương rẫy. Khi muốn đốt nương chủ nương sẽ báo với trưởng bản để cử người đi kiểm tra, kịp thời dập lửa khi có dấu hiệu lan sang rừng.
Dẫu vậy thì bản Nà Ly, xã Chiềng Sơ hay các thôn bản khác của xã Na Son cũng chỉ là những trường hợp cá biệt ở Điện Biên Đông thực hiện có hiệu quả việc bảo vệ rừng. Bởi theo số liệu thống kê và kiểm kê rừng thì hiện nay trên địa bàn huyện này độ che phủ rừng là khá thấp, chỉ đạt 25,1%. Điều đáng nói là, so với những năm trước độ che phủ rừng tại Điện Biên Đông cũng chỉ quanh quẩn với con số dưới 29% thì nay diện tích rừng lại càng thấp hơn nữa. Điều đó cho thấy công tác bảo vệ rừng ở đây còn tồn tại rất nhiều hạn chế xen lẫn bất cập.
Mặc dù trong năm 2016 vừa qua, huyện Điện Biên Đông đã thực hiện việc kiện toàn, củng cố tổ chức  bảo vệ rừng, phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) từ huyện đến cơ sở, lực lượng PCCCR cũng không ngừng phát triển. Đến nay, toàn huyện đã thành lập được 219 tổ, đội với hơn 3.000 người tham gia, với thành phần nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ. Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật về công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng và PCCCR tại 243 thôn bản, tổ dân cư và đã có hơn 9.600 lượt người tham gia học tập, ký cam kết về lĩnh vực này.
Ngoài ra, 14/14 Ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã được kiện toàn và trong năm qua lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với Ban Chỉ huy Quân sự huyện và UBND các xã trên địa bàn thực hiện diễn tập PCCCR. Qua đó, giúp cho chính quyền xã và các chủ rừng nâng cao nhận thức, kinh nghiệm trong công tác chữa cháy rừng, đồng thời thường xuyên đôn đốc, hướng dẫn các địa phương trong huyện và chủ rừng xây dựng phương án PCCCR thực hiện có hiệu quả. Đặc biệt, trong năm 2016, Hạt Kiểm lâm huyện đã tổ chức triển khai trồng cây phân tán trên địa bàn các xã Phì Nhừ, Phình Giàng, Pú Hồng với 14.500 cây gồm các loài như: Thông, Mỡ, Bạch đàn, Sa mộc...
Ông Lò Văn Hương, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông cho biết: "Kế hoạch từ năm 2016 - 2020, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo và giao cho mỗi một năm huyện Điện Biên Đông trồng 60.000 cây phân tám. Tuy nhiên trong năm 2016, mặc dù kiểm lâm đã tuyên truyền vận động tới bà con nhân dân các bản, các xã nhưng người dân vẫn chưa hiểu được mục đích yêu cầu. Vì thế năm 2016 mới có 3 xã là Phình Nhừ, Phình Giàng và Pú Hồng là tham gia trồng cây phân tán."
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong năm qua, số vụ cháy rừng tại Điện Biên Đông vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, thậm chí là tăng đột biến với con số thống kê lên tới 17 vụ, diện tích cháy là 182ha chủ yếu thuộc rừng 2a, 2b và tăng 12 vụ so với năm trước đó.
Một phần do những tháng đầu năm thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp như nắng nóng khô hanh kéo dài, tiếp theo lại có đợt rét đậm rét hại, tạo thành băng tuyết làm cây bị gẫy đổ và chết tại các khu vực có độ cao trên 1.500m như Xa Dung, Phì Nhừ, Keo Lôm, Pu Nhi, Tìa Dình, thì ngoài ra nguyên nhân chủ yếu được xác định là do người dân đốt nương làm rẫy, đốt ruộng ven rừng do bất cẩn để cháy lan.
Đặc biệt, khi xảy ra cháy rừng, mặc dù đã huy động rất nhiều người tham gia chữa cháy song hiệu quả chữa cháy rừng đạt thấp và còn lúng túng, bị động khi có cháy lớn. Hơn thế, nhiều vụ cháy rừng xảy ra cũng không xác định được đối tượng vi phạm, nên việc răn đe, giáo dục chưa cao.
Mặt khác, trong những năm gần đây, hệ thống đường giao thông được mở rộng, việc chuyển đổi, phá rừng làm đường tại các tuyến Phì Nhừ - Phình Giàng, Chung Sua - Háng Lia, Chung Sua - Phì Sua đã làm mất thêm 11ha rừng - đây cũng được thống kê là diện tích được trồng trong cả một giai đoạn từ năm 2011-2015 của toàn địa bàn huyện này.
Nhìn những cánh rừng trơ trụi, song cuộc sống của người dân vẫn còn bộn bề gian khó cũng chính là dấu hiệu của tình hình an ninh - chính trị bất ổn, nhức nhối và hơn cả là tiềm ẩn rất nhiều yếu tố khó lường, gây phức tạp khác.
Nếu không sớm tìm được giải pháp tháo gỡ, cũng như có những cách làm hiệu quả để bảo vệ diện tích rừng hiện có, đồng thời có các động thái khoanh nuôi tái sinh nhằm làm tăng diện tích, hơn thế là nêu cao tinh thần giữ và bảo vệ rừng của người dân nơi đây thì trong thời gian tiếp theo độ che phủ của những cánh rừng ở Điện Biên Đông sẽ còn có chiều hướng tiếp tục thuyên giảm. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Điện Biên 29/12) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành Chỉ thị về việc tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thành phố chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc phân cấp trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tổ chức thực hiện nghiêm túc quy hoạch 3 loại rừng giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2030 và quy hoạch bảo vệ phát triển rừng của địa phương đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có, đặc biệt bảo vệ nghiêm ngặt đối với các khu rừng tự nhiên đặc dụng, phòng hộ và rừng đầu nguồn xung yếu.
Chỉ đạo cơ quan chức năng, Chủ tịch UBND các xã có rừng tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn. Ngăn chặn, xừ lý kịp thời tình trạng chặt phá rừng trái phép, tự ý chuyển đổi loại rừng, đất rừng, lấn chiếm đất rừng của các công ty lâm nghiệp. Giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp đất rừng ở địa phương không được để kéo dài. Kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
Chỉ đạo rà soát lại tình hình quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp theo thực tế. Có biện pháp quản lý nhằm hạn chế tình trạng mua bán, chuyển nhượng đất rừng trái phép. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao trách nhiệm của chủ rừng; ngăn chặn, xử lý nghiêm các chủ rừng vi phạm trong công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng theo quy định của Nhà nước.
Riêng khu vực Dãy núi Nham Biền (thuộc các huyện Yên Dũng, Việt Yên và thành phố Bắc Giang), ngoài việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trên, cần xây dựng kế hoạch, phương án cụ thể, chi tiết và xác định rõ vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao. Thường xuyên tuần tra, canh gác. Gắn trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền xã, thôn trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Chỉ thị nêu rõ, địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật.
Các sở, ban, ngành, đoàn thể có liên quan căn cứ chức năng, nhiệm vụ chủ động phối hợp thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Giang 29/12) đầu trang(
Người dân địa phương mang cưa máy ngang nhiên chặt phá hàng chục ha rừng phòng hộ ở xã Triệu Nguyên (Quảng Trị), để lấy đất trồng cây tràm.
Nhiều tháng qua, người dân địa phương mang cưa máy, dao rựa vào chặt phá hàng chục ha rừng phòng hộ và rừng đệm ở xã Triệu Nguyên (huyện Đăkrông, tỉnh Quảng Trị). Những mảng rừng xanh nay nham nhở cây gãy đổ, lá vàng úa.
Tại hiện trường, cây bị hạ bằng cưa máy nằm ngổn ngang, một số cây đường kính từ 30-40 cm. Nhiều vết cưa cũ, song có những vết cưa mới.
"Việc phát rừng diễn ra ngang nhiên lâu nay, nhưng không thấy nhà chức trách ngăn chặn”, một người dân địa phương cho biết.
Ông Trần Thiên Trường (Phó chủ tịch UBND xã Triệu Nguyên) cho biết, người dân bắt đầu chặt cây rừng trên địa bàn từ tháng 6 năm nay, mục đích là mở rộng diện tích trồng tràm. Đến tháng 11, chính quyền xã phát hiện sự việc, có biện pháp ngăn chặn thì diện tích rừng bị phá đã lên đến 9 ha.
"Chúng tôi chưa phát hiện được cụ thể những ai là người phá rừng, do rừng ở xa, phải qua sông nên khi triển khai lực lượng đến, người dân biết tin đã bỏ trốn", ông Trường nói và thông tin thêm, xã Triệu Nguyên rộng 5.300 ha, 90% diện tích là rừng. Những năm gần đây, thu nhập từ nông nghiệp bấp bênh do biến đổi khí hậu, trong khi trồng cây tràm mang lại thu nhập đáng kể nên người dân liều lĩnh chặt phá rừng, lấn đất trồng tràm.
Ngoài 9 ha rừng đệm ở xã Triệu Nguyên, 42 ha rừng phòng hộ của Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa – Đăkrông cũng bị chặt phá với lý do "người dân lấn rừng trồng tràm".
Ông Phạm Văn Hùng (Phó chủ tịch UBND huyện Đăkrông) cho hay, huyện đã chỉ đạo công an cùng các ngành chức năng vào cuộc, tìm ra các cá nhân lấn chiếm rừng để xử lý, răn đe. Huyện cũng tăng cường lực lượng về địa phương, tổ chức chốt chặn, tuần tra kết hợp tuyên truyền để người dân không tiếp tục chặt phá, lấn chiếm rừng. (VnExpress 30/12) đầu trang(
Một cây gỗ hương đỏ có tuổi đời trên một ngàn năm với nhiều mắt gỗ tạo thành nu “độc nhất vô nhị”, thuộc sở hữu của một chủ doanh nghiệp tại Thanh Hóa. Gắn với nó là những câu chuyện tưởng chỉ có ở trong truyền thuyết.
Thời gian gần đây, trên các phương tiện truyền thông đã đăng tải khá nhiều thông tin về những loại gỗ phong thủy quý hiếm, có nguồn gốc từ châu Mỹ, châu Phi xa xôi, hay Tây Nguyên đại ngàn và gần đây nhất là cây sưa tại xứ kinh kỳ Bắc Ninh.
Dư luận quan tâm bởi tò mò, hiếu kỳ, hay cũng có thể do những “báu vật” này được ví như một loại “kim cương mộc” cực kỳ quý và hiếm, khó tìm và cũng vô cùng đắt đỏ.
Có đại gia từng nói rằng, Roll Royce Phantom có thể mua được liền lúc vài ba chiếc, nhưng những cây gỗ quý hiếm với tuổi đời hàng trăm, hàng ngàn năm thì không phải cứ có tiền là đã mua được.
Bởi lẽ, trong số hàng ngàn cây gỗ mới có một cây có nhiều mắt để cho những đường vân đẹp lạ kỳ mà mọi người thường gọi là Nu.
Có rất nhiều cây cho Nu nhưng rất hiếm gặp một cây có Nu to toàn phiến với độ dày từ 12-15cm.
Nu không phải là tên một loại gỗ mà thực chất là những mắt gỗ được hình thành từ những cây gỗ có tuổi thọ hàng trăm năm. Có rất nhiều loại gỗ nu như nu nghiến, nu gỗ hương, nu gỗ thích, nu gỗ gõ trắng…
Đắt nhất vẫn là Nu gỗ hương đỏ không bị rạn mặt, đổi màu và có mùi thơm đặc trưng.
Theo Wikipedia, Gỗ hương hay còn gọi là Giáng/dáng hương , có danh pháp hai phần là Pterocarpus macrocarpus.
Đây là một loài cây thuộc họ Đậu, hay còn gọi là họ cánh bướm, là loài bản địa của Đông Nam Á, bao gồm đông bắc Ấn Độ, Myanma, Lào, Thái Lan và Việt Nam.
Tại Việt Nam, Giáng hương phân bố ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ như Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum, Phú Yên, Đồng Nai, Tây Ninh.
Và thường mọc trên đất xám, đất đỏ bazan ở độ cao từ 100-800m so với mực nước biển, cây chịu được nhiêt độ tối đa từ  37,7- 44,4oC và tối thấp 4,4-11,2oC, mọc tốt ở vùng có lượng mưa 1270–1520 mm/năm.
Còn  nhớ khoảng 5 năm về trước, trên báo Tuổi Trẻ Online có đăng bài “Cuộc chiến giữ cây gỗ hương cổ thụ” tại thôn Yuk Kla ( xã Đắk Liêng, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk) đã thu hút được rất nhiều sự quan tâm của độc giả, nhất là đồng bào Tây Nguyên.
Hiện nay cây Nu hương cổ thụ này đã không còn trên đất của thôn Yuk Kla. Người dân tại địa phương cho hay cây nu hương hơn một nghìn năm tuổi này thuộc dòng giáng hương đỏ hay còn gọi là hương huyết có chiều cao 9m, đường kính hơn 2m, điều đặc biệt là bộ rễ dài hơn 4m tạo hình thành 12 con giáp ôm trọn vùng nu dày đặc, phía trên là hình 9 con rồng nhả ngọc.
Từ lâu, cây nu hương này đã trở thành biểu tượng tâm linh và tinh thần của buôn làng Yuk Kla.
Trong một chuyến công tác tại Thanh Hóa, phóng viên chợt nhìn thấy một cây gỗ lạ kỳ, dựng trên một khu đất ven Sông Mã với dáng hình tương tự như cây hương cổ thụ tại thôn Yuk Kla năm nào.
Qua sự giới thiệu của một đồng nghiệp tại xứ Thanh, phóng viên đã tiếp cận được với chủ nhân của cây gỗ này.
Và quả thực đây chính là cây gỗ hương ngàn năm tuổi tại Yuk Kla đã “rời rừng” về Thanh Hóa với biết bao câu chuyện tưởng chỉ có ở trong truyền thuyết.
Ông Văn Tiến  Hùng – Giám đốc Công ty TNHH Ngọc Hà cho biết, qua sự mách bảo của một người quen về một cây gỗ hương khủng tại Đắk Lắk, ông đã lập tức lên đường để mục sở thị.
Mê mẩn trước “báu vật” ngàn năm này, ông đã quyết tâm đưa bằng được cây gỗ này về đồng bằng.
Suốt 4 năm ròng rã, đi hết cơ quan này cơ quan khác, được sự nhất trí của các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương, và người dân bản địa, ông đã được phép khai thác cây gỗ này.
Năm 2015, sau khi đã xây dựng xong một ngôi nhà cộng đồng, cùng với việc cung tiến một bộ bàn thờ để làm nơi thờ cúng anh linh các anh hùng liệt sỹ và vong linh những người đã khuất thay thế cho cây nu hương đỏ, ông đã tiến hành di dời báu vật của núi rừng về với xứ Thanh.
Ông Hùng kể lại, trong lúc ông đang làm lễ tạ rừng thiêng, thì nhóm thợ đã tiến hành khai thác, tuy nhiên máy cẩu bị “lầy” không thể thi công được.
Đến khi lễ tạ hoàn tất thì tự nhiên máy cẩu lại hoạt động được bình thường. Và khi đoàn xe chuyển cây từ thôn Yuk Kla ra đến huyện Đắk Lắk thì mây đen bỗng kéo đến, sấm chớp ầm ầm, và mưa liên tục ba ngày sau đó.
Mặc dù thời điểm đó, thời tiết tại Tây Nguyên rất khô hạn, 6 tháng đầu năm chưa hề có một giọt mưa nào.
Ông Hùng cũng chia sẻ, bản thân ông cũng không hiểu nổi tại sao, “báu vậy” khổng lồ này lại di chuyển an toàn về đến Thanh Hóa, và đã có rất nhiều người hỏi mua lại với giá cao, nhưng ông vẫn không bán.
Phải chăng, còn điều gì “níu kéo” hay tại một chữ “Duyên” mà báu vật của núi rừng Tây Nguyên  vẫn ở lại bên bờ Sông Mã? (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 29/12) đầu trang(
Ngày 29/12, Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cho biết vừa tống đạt quyết định khởi tố bị can, bắt giam 3 tháng đối với kẻ chủ mưu trong vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng tại địa phương này.
Đối tượng Trần Văn Thắng (33 tuổi, trú tại thị trấn Vĩnh Thạnh, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) bị khởi tố, tạm giam về tội “Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng”.
Qua khai thác ban đầu, Trần Văn Thắng khai nhận đã thuê 9 người vào rừng phòng hộ xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh cưa 13 cây gỗ dổi để lấy gỗ.
Trước đó, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Thạnh đã ra quyết định khởi tố 9 bị can tham gia chặt hạ 13 cây dổi lớn ở Tiểu khu 183, xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh cùng tội danh trên. 9 bị can từ 18 đến 32 tuổi.
Được biết, đầu tháng 11/2016, lực lượng chức năng phát hiện tại khoảnh 2, khoảnh 4, tiểu khu 183, xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh có 13 cây dổi lớn, đường kính thân từ 36 - 76 cm bị đốn hạ, tổng lượng gỗ thiệt hại gần 45m3. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 29/12) đầu trang(
Trưa 29/12, tin từ CSGT Quảng Nam cho biết vừa phát hiện xe chở gỗ lậu được ngụy trang bằng xe cứu thương biển xanh.
Theo đó, khoảng 19h30 tối 28/12, tổ TTKS Đội CSGT số 2 (Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Nam) đang làm nhiệm vụ tại Km 1398+300 trên đường Hồ Chí Minh (đoạn qua xã Phước Mỹ, huyện Phước Sơn) phát hiện ô tô biển xanh 31A – 0242 có dấu hiệu khả nghi nên cho dừng, kiểm tra.
Lúc này, nhiều người trên xe tung cửa bỏ chạy, chỉ còn 3 người cùng 3 phách gỗ. Tài xế Hoàng Xuân Tiến (24 tuổi, trú huyện Đắk Glei, Kom Tum) không xuất trình được giấy tờ hợp lệ liên quan đến xe ô tô cùng số gỗ chở trong xe.
Thượng úy Nguyễn Minh Tài, Đội phó Đội CSGT số 2 cho biết, tài xế Tiến khai nhận mua gỗ từ một người dân đưa đi tiêu thụ. Riêng xe biển xanh được thanh lý lại từ một cơ quan.
“Xe ô tô này còn ngụy trang giống xe cứu thương, chạy trong đêm tối nên thường rất khó phát hiện”, Thượng úy Tài nói.
Hiện, toàn bộ tang vật cùng chiếc xe giả mạo đã được bàn giao lại cho Công an huyện Phước Sơn tiếp tục điều tra, làm rõ. (Giao Thông 29/12; Đại Đoàn Kết 30/12) đầu trang(
Hạt kiểm lâm TP.Kon Tum phối hợp với Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 tỉnh Kon Tum vừa tiến hành kiểm tra ô tô BS 82K-0295 chạy từ xã Đăk Rơ Wa qua xã Chư Hreng, phát hiện trên xe chở 16 lóng gỗ tròn (nhóm 4 và 5) với tổng khối lượng trên 5,4 m3 không có dấu búa kiểm lâm. (Thanh Niên 30/12) đầu trang(
Ngày 28/12, trên tuyến Quốc lộ 1A, đoạn qua xã Kỳ Thọ, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông 61-Phòng Cảnh sát giao thông Đường bộ, đường sắt-Công an tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện xe ôtô khách mang biển kiểm soát 73B-004.33, do tài xế Đào Ngọc Vũ, quê xã Trung Trạch, Bố Trạch (Quảng Bình) điều khiển có dấu hiệu vi phạm nên ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra hành chính.
Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên xe có nhiều thùng giấy và valy bên trong có chứa 12 con voọc đã chết, được gói kín trong các tờ báo (có tổng cân nặng trên 70 kg). Tuy nhiên, khi được hỏi về nguồn gốc xuất xứ đối với 12 con voọc nói trên, lái xe Vũ đã không xuất trình được bất kỳ một loại giấy tờ nào.
Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt-Công an tỉnh Hà Tĩnh đã lập biên bản, bàn giao toàn bộ số voọc này cho lực lượng Kiểm lâm Hà Tĩnh, tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, vào chiều 28/12, Công an huyện Hương Sơn phối hợp với Phòng Cảnh sát môi trường-Công an Hà Tĩnh, Hạt Kiểm lâm huyện Hương Sơn, Công an xã Sơn Kim 1 tiến hành kiểm tra tại nhà Nguyễn Xuân Quân (sinh năm 1971, ở thôn Kim Cương, xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn) và phát hiện nhiều loại động vật hoang dã gồm lợn rừng, khỉ, chồn, trăn, nhím và kỳ đà.
Các loại động vật hoang dã này đã bị giết thịt, được chứa trong nhiều tủ đá của gia đình Quân với trọng lượng 195kg.
Qua đấu tranh, Quân khai nhận thu mua số hàng này của một số đối tượng vận chuyển từ Lào về rồi cất trữ để bán trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.
Lực lượng chức năng đã lập biên bản tịch thu số động vật hoang dã trên và bàn giao cho Hạt Kiểm lâm huyện Hương Sơn tiêu hủy theo quy định.
Cùng ngày, thiếu tá Lê Ngọc Sáng, Đội trưởng Đội tuần tra kiểm soát phía Bắc, thuộc Phòng Cảnh sát đường bộ đường sắt-Công an tỉnh Hà Tĩnh cho biết đơn vị vừa bắt giữ một xe tải chở khoảng 10m3 gỗ lậu.
Vào khoảng 22 giờ 40 ngày 28/12, tuần tra trên tuyến Quốc lộ 1A, tại Km 484+200, đoạn qua thị xã Hồng Lĩnh, tổ công tác phát hiện xe tải mang biển kiểm soát 76C-049.33 chạy hướng Nam-Bắc chở một số lượng gỗ lớn. Số gỗ này được che giấu bên trong xe chở cau.
Qua kiểm tra, lái xe là Trần Đình Trung, sinh năm 1984, trú thị trấn La Hà, huyện Tư Nghĩa, Quảng Ngãi không xuất trình được hóa đơn, chứng từ phù hợp với loại hàng hóa đang vận chuyển.
Lái xe Trung khai nhận, số gỗ này được một người có tên Hoàng tại huyện Ba Tơ (Quảng Ngãi) thuê vận chuyển ra Hà Nội để tiêu thụ.
Phòng cảnh sát giao thông-Công an tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành lập biên bản hành chính, đưa xe tải và toàn bộ số gỗ nói trên bàn giao cho lực lượng Kiểm lâm Hà Tĩnh để phục vụ công tác kiểm tra và xử lý. (Vietnam + 29/12) đầu trang(
Vườn quốc gia Cúc Phương, Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã (SVW) phối hợp cùng Trung tâm Cứu hộ Động vật Hoang dã Hà Nội đã tái thả thành công 54 con Tê tê Java (Manis javanica) quý hiếm tại một địa điểm bí mật.
Đây là đợt tái thả Tê tê với số lượng lớn nhất từ trước tới nay, nâng tổng số lên 202 con được Trung tâm này tái thả về tự nhiên trong năm 2016.
Phần lớn những con Tê tê này đã được SVW cứu hộ từ các vụ bắt giữ, vận chuyển trái phép tại các tỉnh phía Bắc như Ninh Bình, Thanh Hóa và Hải Dương. Sau khi đưa về Trung tâm, những con Tê tê đều được theo dõi, chăm sóc và phục hồi cho đến khi hoàn toàn khỏe mạnh.
Trước ngày tái thả, toàn bộ 54 con Tê tê còn được kiểm tra sức khỏe lần cuối để đảm bảo đủ điều kiện trở về với tự nhiên. Số Tê tê trên cũng được gắn chíp nhận dạng để phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này.
Cuối năm thường là thời điểm nóng của các vụ bắt giữ buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép. Nên chỉ trong vòng 3 tháng trở lại đây, SVW đã tiếp nhận hơn 200 con Tê tê được chuyển giao từ trung tâm cứu hộ khác và nhiều cơ quan chức năng thuộc các tỉnh, thành phố.
Ông Lương Tất Hùng, Trưởng nhóm Chăm sóc động vật của SVW cho biết: “Một tháng vừa qua, đội ngũ của SVW đã phải tăng ca rất nhiều để đáp ứng được với số lượng lớn Tê tê cần chăm sóc, theo dõi. Việc số lượng lớn Tê tê được tái thả đợt này cũng giúp giảm bớt tình trạng quá tải tại Trung tâm”.
Theo ông Nguyễn Văn Thái, Giám đốc của SVW: “Nhờ sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng, đặc biệt là Kiểm lâm và Cảnh sát môi trường, chúng tôi đã và đang tiếp nhận, cứu hộ được nhiều Tê tê hơn. Sau khi tái thả, chúng tôi sẽ phối kết hợp cùng với lực lượng Kiểm lâm và các tổ chức bảo tồn khác tăng cường công tác bảo vệ môi trường sống, hạn chế tối đa nguy cơ bị bắt trở lại đối với những con Tê tê này”.
Việt Nam có hai loài Tê tê: Tê tê Java (Manis javanica) và Tê tê vàng (Manis pentadactyla). Cả hai loài đều được xếp vào danh sách những loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ quy định tại Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Mọi hành vi săn bắt, buôn bán đều bị truy tố trách nhiệm hình sự. Trong khi đó cả 8 loài Tê tê trên thế giới đều thuộc Phụ lục I của Công ước quốc tế CITES, cấm buôn bán xuyên quốc gia Tê tê khai thác từ tự nhiên. Vì thế, sử dụng các sản phẩm từ Tê tê là phạm pháp. (Tin Tức 29/12) đầu trang(
Bị lực lượng chức năng thu giữ chim rừng, bán trái phép ở quận Gò Vấp (TP HCM), chủ hàng lao vào giật lại.
Chi cục Kiểm lâm TP HCM kiểm tra việc buôn bán lâm đặc sản trái phép tại khu vực đường Phạm Văn Bạch (phường 15, quận Tân Bình) chiều 29/12.
Khi lực lượng chức năng thu giữ vịt trời, gà nước, trích cồ... đã gặp sự không hợp tác từ người bán. Chủ hàng phản đối, gom những con vật đang bày bán đem cất và xông vào giật lại từ tay cán bộ kiểm lâm, tẩu tán. Vụ việc gây náo loạn khu vực.
Theo Chi cục kiểm lâm, việc buôn bán tại đây có dấu hiệu mua bán động vật rừng trái quy định của Nhà nước nhưng không xác định được chủ sở hữu. Trong lần kiểm tra trước, hôm 24/11, người bán cũng chống đối, giật lại chim.
Đường Phạm Văn Bạch (Tân Bình), Bình Long (Tân Phú), Trần Văn Giàu (Bình Chánh), Thống Nhất (quận Gò Vấp)… hiện có hàng chục điểm bán chim trời, hàng từ miền Tây mang lên. TP HCM đã thực hiện nhiều đợt kiểm tra nhưng tình trạng này vẫn tái diễn. (VnExpress/ Phụ Nữ News 30/12) đầu trang(
Một vụ vận chuyển sừng động vật nghi là sừng tê giác với số lượng lớn vào Hà Nội qua đường hàng không đã bị lực lượng hải quan Hà Nội phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74) Bộ Công an phát hiện, bắt giữ vào ngày 29-12.
Theo thông tin ban đầu, qua thu thập thông tin trước chuyến bay và từ công tác soi chiếu hành lý, hàng hóa nhập khẩu, lực lượng hải quan Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài (Cục Hải quan Hà Nội) và Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm buôn lậu (C74) Bộ Công an phát hiện nghi vấn từ một kiện hành lý là va ly màu đỏ có số thẻ TM 118344, trọng lượng 61,20kg. Kiện hành lý này không có người nhận được vận chuyển trên chuyến bay có số hiệu KQ 870/28 DEC 16 từ Nairobi (Kenya) đến Hà Nội vào 14 giờ ngày 29-12.
Tiến hành mở kiện hành lý này vào 19 giờ cùng ngày, lực lượng chức năng phát hiện bên trong chiếc va ly là số lượng lớn sừng động vật nghi là sừng tê giác. Cụ thể, gồm 6 sừng trước và 3 sừng sau cùng 7 khúc sừng và 3 miếng sừng bé với tổng trọng lượng hơn 50kg (ảnh). Trong đó chiếc sừng nặng nhất có trọng lượng hơn 7kg.
Theo nhận định của một cán bộ hải quan, nếu số sừng động vật trên vận chuyển trót lọt vào nội địa và được đem bán ngoài chợ đen ít nhất 20 tỷ đồng.
Hiện toàn bộ số sừng nghi là tê giác trên đã được niêm phong chờ giám định. (Sài Gòn Giải Phóng 30/12; Đại Đoàn Kết 30/12) đầu trang(
Tại ấp 4, xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai vừa tổ chức “Tuyên truyền bảo vệ động vật hoang dã và bảo tồn voi thuộc dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đồng Nai”. Tham dự có Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN tỉnh Huỳnh Văn Tới.
Tại đây, bà con được giới thiệu về một số động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo vệ, các khuyến nghị cho việc bảo tồn những quần thể voi hoang dã còn sót lại tại Đồng Nai (cụ thể là ở khu vực huyện Định Quán), đặc biệt là giảm thiểu tình trạng xung đột giữa voi với người…
Dịp này, Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh đã trao tặng 100 phần quà, mỗi phần quà trị giá 400 ngàn đồng cho bà con ấp 4. UBMTTQ huyện cũng trao tặng 120 cuốn lịch và 15 phần quà, mỗi phần quà gồm 20 cuốn vở cho các em học sinh trường tiểu học Lam Sơn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Đồng Nai 29/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), đến ngày 10.12.2016, cả nước thu được hơn 1.218 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), đạt 92% kế hoạch, trong đó quỹ Trung ương thu được gần 852,1 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch năm.
So với năm 2015, năm 2016, nguồn thu DVMTRgiảm 109,5 tỷ đồng, nguồn thu của hệ thống quỹ phụ thuộc vào sản lượng điện của các nhà máy thủy điện. Do điều kiện thời tiết bất thường, hiện tượng El Nino kéo dài, lượng mưa ít hơn các năm trước nên một số nhà máy thủy điện không phát hết công suất theo kế hoạch.
Lãnh đạo Tổng cục Lâm nghiệp cũng cho biết, đến nay diện tích đã được nhận tiền DVMTR là 3,07 triệu ha trên tổng số 5,617 triệu ha rừng được hưởng tiền này. (Dân Việt 30/12) đầu trang(
Nên giao sở hữu tư đối với rừng tự nhiên nghèo kiệt để tạo động lực phát triển - là ý kiến của nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, GS.TS. Đặng Hùng Võ tại Chương trình Nhịp cầu báo chí số 15, với chủ đề Rừng Việt Nam sẽ có chủ thực sự? Cải cách cần thiết về sở hữu và quyền hưởng thụ tài nguyên rừng do Trung tâm Con người và thiên nhiên tổ chức sáng 28.12 tại Hà Nội.
Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được thông qua và thi hành từ năm 2004, tuy nhiên đến nay sau 12 năm thi hành, đã và đang bộc lộ nhiều bất cập. Hiến pháp năm 1992 quy định, rừng núi thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhưng đến Hiến pháp năm 2013, quy định này thay đổi theo hướng tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Điểm thay đổi cơ bản này bắt buộc Luật Bảo vệ và phát triển rừng phải sửa cho phù hợp theo hướng ba hình thức sở hữu rừng: Nhà nước sẽ sở hữu rừng tự nhiên và rừng trồng do Nhà nước đầu tư. Tư nhân sở hữu rừng trồng do mình đầu tư và hình thức sở hữu hỗn hợp giữa Nhà nước với những tổ chức phi Nhà nước và các cá nhân khác. Nhà nước sở hữu rừng tự nhiên, tuy nhiên việc chăm sóc và bảo vệ rừng được giao cho các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư nhưng bất cập là khi người bảo vệ và chăm sóc rừng không phải chủ sở hữu thực sự.
Đề cập đến vấn đề này, GS.TS. Đặng Hùng Võ cho biết: “Theo tôi, đối với rừng sản xuất là tự nhiên nghèo kiệt thì nên giao sở hữu tư để có động lực phát triển rừng. Nếu cứ tiếp tục như những năm trước đây thì loại rừng này có thể sẽ tiếp tục bị mất đi. Cũng theo ông Đặng Hùng Võ, đối với loại rừng tự nhiên cần bảo vệ thì nên “gắp” nó về loại rừng cần bảo vệ tức là gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và kể cả rừng tự nhiên cần phải bảo vệ. Ngược lại nên mở khả năng rừng có thể thuộc sở hữu tư nhân. Từ đó mới có thể tạo động lực phát triển được”.
Đồng quan điểm, ông Vũ Long, chuyên gia lâm nghiệp cho rằng, nhiều năm nay Nhà nước có quy định đóng cửa rừng tự nhiên. Vậy người dân được giao rừng tự nhiên sẽ sinh sống bằng gì? Muốn phát triển và phù hợp với nền kinh tế thị trường thì nên thừa nhận quyền sở hữu rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình. Và theo luật đối với rừng tự nhiên không được khai thác trắng mà buộc phải khai thác chậm, phải đảm bảo bền vững, khai thác dưới năng lực tăng trưởng.
Chuyên gia lâm nghiệp Võ Long giải thích, hiện nay rừng trồng phát triển rất tốt và ít vướng mắc. Đối với người khai thác rừng sản xuất sẽ phải chịu thuế đất, nhưng đối với những người sản xuất rừng tự nhiên, khi khai thác gỗ họ phải chịu thuế tài nguyên (từ 20 - 30%), khai thác lâm sản gỗ chịu thuế 5% - chịu cao hơn mọi loại hình khác. Do vậy nên giao rừng tự nhiên nghèo cho từng hộ gia đình, cá nhân sẽ tạo động lực để phát triển rừng.
Bên cạnh ý kiến về vấn đề công nhận sở hữu tư nhân đối với rừng tự nhiên để góp phần tạo động lực phát triển rừng, các chuyên gia cũng cho rằng nên sửa đổi lại tên của Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Theo ông Đặng Hùng Võ, nên chăng đổi tên luật thành Luật Tài nguyên rừng bởi ít có luật nào chỉ điều chỉnh hai hành vi là bảo vệ và phát triển rừng. Hơn nữa, nếu chỉ “chăm chăm” vào việc bảo vệ và phát triển rừng thì vô hình trung quên mất việc “hưởng lợi” làm mất động lực phát triển. Ông Vũ Long thì đề xuất nên đổi tên Luật Bảo vệ và phát triển rừng thành Luật về rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 30/12) đầu trang(
Ngày 29/12, tại thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng UBND tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng năm 2017 các tỉnh phía Nam.
Một trong những vấn đề được các đại biểu dự hội nghị quan tâm là làm sao ngăn chặn phá rừng và quan trọng hơn là khôi phục rừng.
Tại hội nghị, nhiều ý kiến đề xuất, bên cạnh lực lượng chính là kiểm lâm, việc quản lý bảo vệ, phát triển rừng cần có sự quan tâm, phối kết hợp từ chính quyền địa phương. Việc giao khoán quản lý rừng cho người dân cũng cần có những chế độ phù hợp đi kèm với các chế tài để hiệu quả hơn. Một số địa phương đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho điều chỉnh quy hoạch bảo vệ, phát triển rừng phù hợp với hiện trạng để quản lý được sát, đúng hơn.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Công Tuấn nhấn mạnh, phải thực hiện nghiêm Quyết định 17 của Thủ tướng về quy chế quản lý rừng. Đã là rừng phòng hộ thì cần phải quản lý chặt trước sự biến đổi khí hậu thời gian qua. Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) ông Nguyễn Quốc Trị cho rằng, cần phải bảo vệ và phát triển toàn bộ diện tích rừng hiện có theo hướng bền vững.
Để đạt được mục tiêu đó thì cần triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 – 2020. Trong đó, vấn đề trọng tâm là tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, tập trung vào 4 nhiệm vụ trọng tâm là: Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị trồng rừng sản xuất; Nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; Phát triển kinh tế hợp tác và liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm trong lâm nghiệp; Phát triển thị trường gỗ và sản phẩm gỗ.
Ngoài ra, nhiều ý kiến cho rằng, để thực sự nâng cao ý thức bảo vệ rừng cho toàn dân, toàn xã hội cần điều chỉnh nhiều luật, quy định liên quan đến rừng; tăng cường các tiến bộ khoa học vào trong sản xuất lâm nghiệp và quản lý tài nguyên rừng bền vững...
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mặc dù có giảm so với năm trước nhưng số vụ vi phạm các quy định của nhà nước về quản lý bảo vệ, phát triển rừng năm 2016 vẫn ở con số gần 10.500 vụ. Điểm đáng chú ý ở đây là diện tích rừng bị phá tập trung tại các khu vực rừng phòng hộ, gây nhiều hệ lụy và lo lắng cho người dân sống trong khu vực.
Các vùng trọng điểm về phá rừng, khai thác trái phép lâm sản năm 2016 được nhắc đến là Gia Lai, Đắk Nông, Lâm Đồng, Phú Yên và Bình Định.
Ngoài ra, tại các địa phương khác, tình trạng phá rừng, khai thác, sử dụng đất lâm nghiệp trái phép chưa được giải quyết triệt để, dẫn đến nhiều hệ lụy đối với công tác quản lý bảo vệ rừng. Trong khi đó, diện tích trồng rừng tập trung: gồm rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng sản xuất năm 2016 đến thời điểm này mới đạt hơn 72%; một số tỉnh chưa tiến hành trồng rừng...  (Tin Tức 29/12; Đại Đoàn Kết 30/12) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa đề xuất dự thảo sửa đổi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) mới sẽ lấy tên là “Luật Lâm nghiệp”, đồng thời có nhiều điều chỉnh so với Luật hiện hành, nhằm đưa ngành Lâm nghiệp phát triển hiện đại, toàn diện, bền vững.
Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết, sau gần 12 năm, Luật BV&PTR đã tạo được chuyển biến quan trọng trong phát triển lâm nghiệp. Theo đó, Luật đã đưa lâm nghiệp lấy quốc doanh là chủ yếu sang nền lâm nghiệp xã hội với nhiều thành phần kinh tế tham gia; từ chủ yếu dựa vào khai thác, lợi dụng rừng tự nhiên sang bảo vệ, nuôi dưỡng, gây trồng phát triển rừng, phân cấp quản lý nhà nước về lâm nghiệp.
Cũng nhờ đó, đã quy hoạch ổn định lâm phận quốc gia với trên 16,2 triệu ha diện tích đất cho lâm nghiệp (trong đó rừng đặc dụng 2,2 triệu ha, rừng phòng hộ trên 5,55 triệu ha, rừng sản xuất gần 8,5 triệu ha). Thúc đẩy, tạo cơ chế, chính sách phát triển nhanh chóng diện tích rừng từ 12,3 triệu ha năm 2004 lên 14 triệu ha vào năm 2015; tương ứng độ che phủ của rừng toàn quốc từ 37% lên 40,84%.
Quyền và trách nhiệm của chủ rừng được luật hóa, Nhà nước bảo đảm thực hiện, bước đầu tạo cho chủ rừng gắn bó, yên tâm đầu tư bảo vệ rừng, phát triển sản xuất, kinh doanh, sử dụng có hiệu quả rừng và đất lâm nghiệp...
Tuy nhiên, từ khi Luật ra đời đến nay, đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập. Hơn 10 năm qua, nhiều chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đã thay đổi, để thích ứng với điều kiện kinh tế mở của đất nước. Hiến pháp năm 2013 của Quốc hội có nhiều chế định mới, trong đó có nhiều thay đổi chế định quyền sở hữu về rừng, mở cơ chế quản lý, đầu tư vào lâm nghiệp.
Cùng đó, các quy định pháp luật quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Chương trình suy thoái chống  mất rừng toàn cầu, chưa được cập nhật; vấn đề biến đổi khí hậu, gắn với phát triển rừng bền vững; thay đổi của thị trường quản lý nguồn cung gỗ hợp pháp...
Đặc biệt, Luật BV&PTR chỉ chú trọng vào việc quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng gỗ, chưa chú ý tổ chức sản xuất, chế biến, theo chuỗi, thị trường, giá trị dịch vụ môi trường rừng. Trong khi những giá trị dịch vụ này có thể cao hơn nhiều so với giá trị mà gỗ mang lại, như thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng hàng năm tương đương 22% tổng đầu tư xã hội vào ngành lâm nghiệp.
Tại Hội thảo Quốc gia về dự thảo Luật BV&PTR mới đây, ông Trương Minh Hoàng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho rằng, khi Luật hiện hành không còn phù hợp, thì nên mạnh dạn đổi tên, làm sao bao quát được nội hàm nội dung của luật. Do vậy, việc sửa đổi tên luật là Luật Lâm nghiệp, là phù hợp.
Theo ông Hoàng, trong Luật cần quan tâm đến chủ thể rừng. Hiện chủ thể rừng rất khác nhau, quá trình giao đất, giao rừng của các công ty lâm nghiệp trước đây lại giao khoán cho hộ dân nhưng không loại trừ nhiều nơi việc giao khoán không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao, đời sống của người dân được giao đất giao rừng còn khó khăn.
Cần tính toán chủ thể, người được giao đất giao rừng có thể làm giàu trên mảnh đất này. Bên cạnh đó, hệ sinh thái rừng cần tiếp tục quy hoạch và phát triển theo kế hoạch nên sắp tới cần tính toán định giá trong môi trường rừng.
“Nếu trồng rừng, phát triển môi trường rừng và tính được giá rừng cho hộ dân thì nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng cũng sẽ đem lại hiệu quả rất lớn. Như vậy, sẽ thêm cơ hội cho bà con làm giàu từ rừng”- ông Hoàng nói.
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn, dự thảo Luật sửa đổi lần này đẩy nhanh, sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa trong lâm nghiệp. Tạo khung chính sách để thu hút các nguồn lực để đầu tư bảo vệ và phát triển rừng bền vững; đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước, của chủ rừng và người làm nghề rừng để lâm nghiệp đóng góp ngày càng tăng vào nền kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu.
“Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng từ trồng rừng đến khai thác, chế biến, dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái và thị trường lâm sản”- ông Tuấn nói.
Một trong những nội dung được quan tâm trong dự thảo lần này chính là giao rừng cho cộng đồng dân cư và vấn đề sở hữu rừng. Theo ông Tuấn, việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn, đã được đề cập trong Luật BVT&PTR hiện hành, tuy nhiên, quy định đó chưa thực sự hiệu quả, nhất là về quyền năng, chế độ pháp lý với cộng đồng, nên trên thực tiễn, chưa khả thi.
“Trong dự thảo Luật lần này, đặt vấn đề giao đất rừng, cho cộng đồng, nghĩa là cộng đồng ở đây là một chủ thể của Luật. Đây là chế định pháp lý rất quan trọng, họ không còn là đơn vị nhận khoán nữa”- ông Tuấn nói.
Mặt khác, cộng đồng lần này, trên cơ sở phải gắn với phong tục tập quán, qua hương ước, quy ước phù hợp với pháp luật, thì được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Theo ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, nên mở rộng biên cộng đồng dân cư từ thôn bản thành xã phường: “Chúng ta tồn tại đến hôm nay đều nhờ cộng đồng. Việc giao rừng cho cộng đồng thậm chí còn tốt hơn là giao cho chính quyền địa phương. Tất nhiên là cộng đồng ấy phải thuần túy và có quyền chủ rừng”.
Về vấn đề sở hữu rừng, theo lãnh đạo Bộ NN&PTNT, việc sửa đổi lần này sẽ có bổ sung một mục quy định về sở hữu rừng dựa trên Hiến pháp 2013. Từ tư tưởng đó sẽ thể hiện trên toàn bộ hệ thống luật như phải điều chỉnh quyền và trách nhiệm của chủ rừng.
Chẳng hạn, đối với rừng trồng, người sở hữu rừng sẽ có đủ 3 quyền: định đoạt, sử dụng, chiếm hữu. Trước đây, dù rừng của mình nhưng khi khai thác chủ rừng vẫn phải xin phép chính quyền, sắp tới chủ rừng có toàn quyền sử dụng đất rừng và lâm sản miễn là nằm trong quy hoạch của địa phương. (Tiền Phong 29/12) đầu trang(
Ngày 28/12, đồng chí Triệu Tài Vinh, Ủy viên BCH TƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, trưởng Đoàn ĐBQH khóa 14 tỉnh Hà Giang đã đi kiểm tra chương trình trồng cây cao su và dự án trồng rừng thâm canh tại huyện Bắc Quang. Cùng đi có lãnh đạo huyện Bắc Quang, Công ty cổ phần cao su Hà Giang.
Kiểm tra tại dự án trồng rừng thâm canh tại thôn Tân Thành 2 xã Liên Hiệp. Bí thư Tỉnh ủy Triệu Tài Vinh đánh giá cao cách làm của dự án trồng rừng theo hướng thâm canh, đồng thời đề nghị ngành chuyên môn tới đây khi khai thác, tổng kết đánh giá cụ thể về mức đầu tư, hiệu quả kinh tế từ đó xây dựng định mức chung cho công tác trồng rừng của tỉnh trong những năm tới.
Theo đó dự án trồng giống cây keo lai  với tổng diện tích là 20 ha có 5 hộ gia đình tham gia. Thực hiện theo phương thức nhà nước hỗ trợ giống, phân bón, hộ gia đình đầu tư công lao động và thuốc bảo vệ thực vật. Với việc trồng đúng thời vụ và quy trình kỹ thuật chăm sóc diện tích cây keo sinh trưởng và phát triển tốt.
Đánh giá bước đầu cây trồng thâm canh đối chứng với cây trồng quảng canh, cùng một loại giống và cùng trồng trên  điều kiện lập địa, cho thấy sự phân biệt được thể hiện rõ rệt ở mức độ tăng trưởng của cây bón phân theo qui trình kỹ thuật  so với trồng quảng canh không bón phân, chênh lệch là rất lớn, điều này chứng tỏ  để nâng cao chất lượng, sản lượng rừng phải thực hiện  trồng rừng thâm canh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 29/12) đầu trang(
Chiều 29-12, UBND tỉnh tổ chức họp Ban chỉ đạo dự án Phát triển bền vững vì người nghèo tỉnh Quảng Bình (Dự án SRDP) về tình hình thực hiện dự án năm 2016, kế hoạch năm 2017. Đồng chí Trần Tiến Dũng, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo dự án chủ trì cuộc họp. Tham dự có các thành viên Ban chỉ đạo dự án SRDP, lãnh đạo Ban quản lý dự án SRDP, điều phối viên nhóm hỗ trợ dự án SRDP các huyện.
Năm 2016 là năm đánh giá giữa kỳ quá trình thực hiện dự án nên có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét tiến độ thực hiện, các kết quả ban đầu và mức độ đạt được các mục tiêu của dự án. Vì vậy, ngay sau khi kế hoạch công tác và ngân sách năm 2016 được UBND tỉnh phê duyệt, các cấp thực thi dự án đã chủ động triển khai các hợp phần theo kế hoạch đề ra.
Theo báo cáo của đại diện lãnh đạo dự án SRDP, các hoạt động của dự án đã được triển khai đồng bộ trên địa bàn 40 xã dự án và một số xã ngoài vùng mục tiêu. Ban quản lý dự án tỉnh (PPMU) đã tăng cường phân cấp cho các cấp thực thi dự án và phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành liên quan nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân; tập trung nhân rộng các phương pháp tiếp cận của dự án, mô hình làm ăn có hiệu quả cả trong và ngoài vùng mục tiêu.
Các khóa đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ các cấp thực thi dự án và người dân hưởng lợi tập trung vào các lĩnh vực chuyên sâu như nghiên cứu các ngành hàng tiềm năng cấp xã, huyện, lập phương án sản xuất kinh doanh, xây dựng tiểu dự án đầu tư vào nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu; kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt nhằm nâng cao hiệu quả đối với các cây trồng, vật nuôi truyền thống (ngô, lúa, lạc, keo, bò, gà); kỹ thuật nuôi trồng một số cây, con mới (nấm, hành, thỏ).
Tiếp tục chuyển vốn và hỗ trợ nâng cao năng lực cho cán bộ Quỹ hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh để cho vay đến các nhóm tiết kiệm-tín dụng. Ký kết hợp đồng với các đơn vị liên quan triển khai các gói thầu cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt thành rừng sản xuất và giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong năm 2016, dự án đã hoàn thành việc giao 1.870ha đất lâm nghiệp kèm theo 1.493 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân vùng mục tiêu dự án.
Bên cạnh đó, các cấp thực thi dự án cũng tập trung hỗ trợ, giám sát các tổ hợp tác thực hiện các gói tài trợ đầu tư nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu và phân cấp xét duyệt cho các huyện…
Trong năm 2016, Ban quản lý dự án đã hoàn thành công tác kiểm toán báo cáo tài chính năm 2015, được đơn vị kiểm toán độc lập đánh giá bảo đảm công khai, minh bạch, tuân thủ nghiêm túc các quy định của nhà tài trợ IFAD và Chính phủ Việt Nam. Một số tồn tại trong công tác quản lý tài chính liên quan đến thủ tục hành chính và hiểu biết của người hưởng lợi đã được PPMU khắc phục kịp thời. Đến giữa kỳ quá trình thực hiện, dự án SRDP đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ, được nhà tài trợ IFAD đánh giá đạt yêu cầu.
Năm 2017, dự án sẽ tập trung chủ yếu các lĩnh vực như: triển khai quy trình MoSEDP trung hạn, hỗ trợ kỹ thuật thúc đẩy phát triển chuỗi giá trị mới, thúc đẩy phát triển các chuỗi giá trị, tham gia hội chợ thương mại, tập trung ưu tiên phát triển nhóm tiết kiệm vay vốn thôn bản, tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng công phục vụ phát triển các chuỗi giá trị…
Phát biểu kết luận tại cuộc họp, đồng chí Trần Tiến Dũng yêu cầu các ban, ngành liên quan tiếp tục hỗ trợ, phối hợp tích cực với Ban quản lý dự án tỉnh đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân dự án trong năm 2017. Cụ thể, Sở Tài nguyên-Môi trường đôn đốc các đơn vị trực thuộc khẩn trương hoàn thành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Hội LHPN tỉnh khuyến khích người nghèo và phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia vào các nhóm tiết kiệm-tín dụng... (Báo Quảng Bình 29/12) đầu trang(
Chiều ngày 29/11, phát biểu tại Hội nghị tổng kết năm 2016, triển khai nhiệm vụ năm 2017 của Ban Quản lý dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ Jica 2 Thanh Hóa, đồng chí Nguyễn Đức Quyền - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Quản lý dự án đề nghị: Để hoàn thành trồng mới hơn 1.000 ha rừng theo kế hoạch đề ra, trong năm 2017 các đơn vị thành viên và các địa phương phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án theo hướng hiện đại, hiệu quả và chất lượng.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Đức Quyền cũng đã biểu dương và ghi nhận những kết quả Ban Quản lý dự án JICA2 Thanh Hóa đã đạt được trong năm 2016. Đồng thời nhấn mạnh: Mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực, cố gắng của các đơn vị thành viên và các địa phương liên quan, dự án đã hoàn thành nhiều hạng mục cơ bản, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn tiếp theo.
Trong tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay, dự án được triển khai đã góp phần bảo vệ môi trường, tăng tỷ lệ che phủ rừng vì vậy trong năm 2017 để thực hiện được mục tiêu trồng mới hơn 1.000ha rừng, Ban quản lý dự án JICA2 Thanh Hóa phải chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành kế hoạch đề ra.
Các ban quản lý rừng phòng hộ liên quan phải chủ động tổ chức, hướng dẫn nhân dân tiến hành trồng các loại cây phù hợp, đảm bảo chất lượng, tăng cường hơn nữa công tác phục hồi, khoanh nuôi, tái sinh rừng và đẩy mạnh phát triển chế biến theo hướng hiện đại, hiệu quả. Bên cạnh đó, Dự án phải bám sát chủ trương mà UBND tỉnh đã chỉ đạo về trồng rừng gỗ lớn để triển khai nhân rộng các mô hình.
Để tạo việc làm, sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị: Dự án cần tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật về thâm canh đến tận các hộ, các mô hình chăn nuôi, cải tạo vườn tạp thuộc dự án. Giao Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn đấu mối, phối hợp với các đơn vị, địa phương để tiến hành trồng rừng đạt kế hoạch và giải ngân đúng tiến độ đề ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 29/12) đầu trang(
Những năm gần đây, do ảnh hưởng việc di cư tự do cộng với việc nhiều loại nông sản được giá, nên đất rừng tại tỉnh Tây Nguyên luôn đối mặt với tình trạng xâm canh. Nhiều diện tích rừng bị người dân xâm chiếm trái phép để làm rẫy canh tác...
Thực tế cho thấy, mặt dù lực lượng chức năng của các địa phương đã nỗ lực ngăn chặn, phòng ngừa nhưng vẫn không kiểm soát hết tình hình.
Điều đáng nói, tình trạng này diễn ra ngày càng phức tạp, thậm chí một bộ phận người dân rất manh động, chống lại lực lượng chức năng khi bị phát hiện. Việc giữ rừng, giữ đất rừng đã khó nhưng khi phát hiện, chính quyền địa phương vào cuộc tiến hành thu hồi lại càng khó hơn.
Đơn cử tại Đăk Lăk, hiện địa phương này có 50.975ha rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép. Trong đó, diện tích bị phá, lấn chiếm trước năm 2008 hơn 24.503ha, từ năm 2008 đến nay khoảng 26.471ha. Để cưỡng chế, thu hồi và trồng mới rừng trên diện tích đất này đang rơi vào tình trạng rất nan giải đối với các ngành chức năng.
Thực hiện Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 03/CT-UBND ngày 16/3/2012 của UBND tỉnh Đăk Lăk về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, xử lý vi phạm về phá rừng, các chủ rừng phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát, thống kê diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, qua đó lập phương án thu hồi để trồng lại rừng.
Song đến nay, công tác thu hồi đất lấn chiếm để tái sinh rừng vẫn đi vào ngõ cụt, chưa thực hiện được. Việc thu hồi diện tích rừng bị phá, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, diện tích thu được rất hạn chế so với diện tích đã mất.
Một ví dụ điển hình tại huyện Krông Bông, một trong những địa phương có diện tích rừng bị lấn chiếm rất lớn, trên 17.000ha. Nhưng trong suốt từ năm 2008 đến này, địa phương này cùng với các ngành chức năng chỉ thu hồi được 1,8ha tại Tiểu khu 194, xã Hòa Sơn. Tương tự, tại huyện M’Đrăk, có hơn 1.247ha rừng bị phá, lấn chiếm trái phép để làm nương rẫy nhưng đến nay mới thu hồi được hơn 30ha.
Tình trạng lấn chiếm đất rừng trên địa bàn nóng hơn bao giờ hết, tại cuộc tiếp xúc cử tri các huyện Ea Kar và Krông Păk do đồng chí Y Biêr Niê, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh làm Trưởng đoàn, nhiều cử tri huyện Krông Păk kiến nghị cần có chế tài mạnh nhằm ngăn chặn dứt điểm nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thu hồi chậm được ông Nguyễn Hoài Dương, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Lăk lý giải, tiến độ thu hồi đất rừng bị lấn chiếm trái phép chậm là do chủ rừng, UBND cấp huyện và cơ quan chức năng chưa phối hợp chặt chẽ với nhau. Công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm đang gặp rất nhiều khó khăn.
Theo một cán bộ kiểm lâm tỉnh Đăk Lăk, việc thu hồi đất rừng rất khó. Vì chủ yếu là người dân tộc thiểu số, đời sống còn khó khăn nên phải làm từ từ, chứ thu hồi ồ ạt sẽ tạo ra những điểm nóng về tranh chấp. Đơn cử, xí nghiệp giấy Tân Mai ở huyện M’Đrăk bị người dân lấn chiếm khoảng 800ha đất. Song việc thu hồi gặp nhiều khó khăn, DN phải thỏa thuận với các hộ dân liên kết trồng rừng trên diện tích đất bị lấn chiếm sau đó ăn chia theo tỷ lệ thỏa thuận.
Theo ông Dương, hầu hết mới chỉ dừng lại ở thống kê, lập phương án; một số thống kê chưa chính xác, nhất là việc phân loại hiện trạng thực tế và xác định đối tượng đang canh tác trên diện tích lấn chiếm; phương pháp chỉ đạo và tổ chức tuyên truyền, lập căn cứ pháp lý để giải tỏa, cưỡng chế thiếu đồng bộ; chủ rừng, địa phương thiếu kinh phí để trồng, chăm sóc và bảo vệ diện tích đất thu hồi để lại rừng…
Nói về nguyên nhân khó thu hồi đất rừng bị người dân lấn chiếm trái phép, một lãnh đạo UBND huyện Ea Súp phân trần, trong thời gian qua chính quyền địa phương tập trung rà soát, thống kê đất rừng bị lấn chiếm trái phép, tiến hành cưỡng chế, thu hồi. Song kết quả đạt được vẫn còn khiêm tốn. Vì các đối tượng lấn chiếm kích động, tụ tập đông người để chống đối, cản trở lực lượng chức năng.
Điển hình như vụ việc diễn ra vào sáng 6/7/2016, khi lực lượng liên ngành huyện Ea Súp tiến hành kiểm rừng tại Tiểu khu 286, do xã Cư M’lan quản lý, phát hiện một hộ dân lấn chiếm trái phép 1,7ha để trồng điều. Cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản xử lý. Trong lúc cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Ea Súp đang tiến hành lập biên bản xử phạt, thì bất ngờ bị một người đàn ông trong nhóm lấn chiếm đất vung dao chém vào người khiến cán bộ bị thương.
Để lập lại trật tự trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, ngăn chặn xâm chiếm đất rừng trái phép, theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đăk Lăk, thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm quán triệt các đơn vị trực thuộc tiến hành xác định các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản, các tuyến đường vận chuyển lâm sản trái phép để tổ chức truy quét, ngăn chặn, xử lý.
Cùng đó, chỉ đạo các đơn vị chủ rừng tập trung phân loại các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để lập phương án cụ thể xử lý, giải tỏa, trồng phục hồi lại rừng. Đồng thời, đề nghị công an tỉnh chỉ đạo lực lượng ở các địa phương lập chuyên án xử lý các đối tượng lâm tặc, đầu nậu, phần tử dung túng, tiếp tay cho phá rừng, lấn chiếm đất rừng, mua bán sang nhượng đất rừng trái pháp luật… (Thời Báo Ngân Hàng 29/12) đầu trang(
Thực hiện chủ trương, chính sách giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sống gần rừng phát triển kinh tế, vươn lên ổn định đời sống, đến nay toàn tỉnh chỉ giao được trên 40% diện tích đất đã thu hồi.
Do còn gặp một số khó khăn, vướng mắc nên tỷ lệ diện tích đất giao cho người dân sử dụng còn thấp so với diện tích thu hồi, công tác giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sống gần rừng thực sự là bài toán khó đối với một số đơn vị, địa phương liên quan.
Công tác giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và người dân sống gần rừng được tỉnh ta bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2012. Qua quá trình triển khai rà soát, bóc tách, Sở Tài nguyên và Môi trường đã trình UBND tỉnh thu hồi trên 8.467 ha đất của các nông, lâm trường giao cho địa phương quản lý; trong đó huyện Lệ Thủy 2.902 ha, Quảng Ninh 3.882 ha, Bố Trạch gần 1.306 ha, Tuyên Hóa 223 ha, Quảng Trạch 154 ha.
Sau khi thu hồi, các địa phương đã tập trung xây dựng phương án và tiến hành các thủ tục giao đất cho các hộ dân trên tinh thần khu vực dễ giao trước, khó giao sau. Các khu vực khó khăn không có chi phí đo đạc thì giao đất thực địa cho các hộ ổn định sản xuất trước, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau. Kết quả đến nay, toàn tỉnh đã giao được gần 3.466 ha, đạt 40,3% diện tích đất đã thu hồi; trong đó huyện Lệ Thuỷ đã giao được 375 ha, Quảng Ninh 2.093,6 ha, Bố Trạch 822 ha, Tuyên Hóa 223 ha...
Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng số diện tích đất đã giao cho người dân sử dụng đạt thấp so với diện tích thu hồi, chúng tôi được biết, do phần lớn diện tích đất thu hồi từ các lâm trường là đất rừng tự nhiên sản xuất chưa được chuyển đổi sang rừng trồng nên dẫn đến vướng mắc do quy định của Lật Đất đai.
Để bảo đảm liền vùng, liền khoảnh, thuận lợi cho các nông, lâm trường trong công tác bảo vệ rừng, trong quá trình rà soát một số diện tích đất đã thu hồi có vị trí không thuận lợi, xa khu dân cư, một số khu vực rừng có trữ lượng và núi đá nên không giao được cho dân. Ngoài ra, do một số diện tích đất sau thu hồi còn có tài sản của các nông, lâm trường chưa được xử lý nên các địa phương chưa lập phương án để giao đất cho các hộ dân...
Qua khảo sát thực tế tại các đơn vị, chúng tôi được biết, Công ty TNHH MTV Lệ Ninh bàn giao huyện Lệ Thuỷ khoảng 4,5 ha đất có tài sản cây cao su; Công ty TNHH MTV Long Đại bàn giao cho huyện Lệ Thuỷ trên 105 ha đất có tài sản cây keo lai, huỵnh và luồng, bàn giao cho Quảng Ninh gần 72 ha có cây keo lai, thông nhựa và Bố Trạch 31 ha có cây keo lai, thông nhựa; Công ty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình bàn giao huyện Quảng Trạch và thị xã Ba Đồn gần 200 ha có cây thông nhựa và cây keo (trong đó xã Quảng Kim 39,2 ha, Quảng Đông gần 26 ha, Quảng Phú 5 ha, Quảng Châu 49,4 ha, Quảng Sơn 78 ha và Quảng Tiên 2,2 ha).
Nhằm thúc đẩy tiến độ công tác rà soát giao đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ dân sống gần rừng ổn định cuộc sống, UBND các huyện đang tập trung hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những diện tích đất đã giao. Đối với những diện tích đất hiện tại đang được UBND xã quản lý, có thể giao được cho dân sản xuất thì các địa phương đó phải xây dựng phương án cụ thể để tiếp tục giao cho dân, giảm áp lực từ việc thu hồi đất nông, lâm trường.
Theo quy định tại Điều 135, Luật Đất đai 2013 thì đất rừng tự nhiên sản xuất chỉ giao cho tổ chức quản lý rừng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, không giao cho người dân và cộng đồng dân cư. Do vậy, đối với diên tích đất rừng tự nhiên sản xuất được thu hồi từ các công ty, ngành NN và PTNN phải thực hiện việc điều tra, đánh giá hiện trạng đất nhằm đề xuất phương án chuyển đổi sang đất rừng trồng sản xuất, khai thác tận thu để có quỹ đất giao cho dân hoặc cộng đồng theo quy định.
Các ngành chức năng và đơn vị liên quan cũng cần xác định rõ chi phí đã đầu tư trên đất đối với diện tích đất thu hồi có rừng trồng và lập phương án xử lý dứt điểm, nhằm vừa tạo điều kiện cho các công ty thu hồi vốn, vừa thuận lợi trong việc giao đất cho dân. Trước khi thu hồi đất, các ngành, đơn vị liên quan cần rà soát và đánh giá kỹ hiện trạng đối với những diện tích địa phương đề nghị thu hồi để tránh tình trạng thu hồi đất rừng tự nhiên có trữ lượng, địa hình khó khăn không trồng được rừng như vừa qua.
Các ngành, lực lượng chức năng cũng nên tăng cường tổ chức kiểm tra việc sử dụng đất đối với diện tích đất đã giao những chưa sử dụng nhằm có cơ sở đánh giá hiệu quả của việc thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số và các hộ dân sống gần rừng. (Báo Quảng Bình 29/12) đầu trang(
Giá keo, bạch đàn luôn ổn định ở mức cao, nên phong trào trồng rừng sản xuất tại Bình Định phát triển mạnh.
Theo đó, đất được sử dụng cho mục đích lâm nghiệp đã được trồng kín, người dân chuyển sang trồng rừng sản xuất trên đất nông nghiệp.
Huyện miền núi Vân Canh dẫn đầu tỉnh Bình Định trong phong trào trồng rừng sản xuất với khoảng 7.000 ha keo, bạch đàn. Những năm gần đây, người trồng rừng sản xuất ở địa phương này làm ăn khấm khá nhờ giá keo, bạch đàn luôn ổn định từ 1 – 1,35 triệu đồng/tấn.
Chuyện những hộ trồng rừng ở Vân Canh mua ô tô đã có, thậm chí có nhiều hộ mua xe bạc tỷ. Chưa kể những năm trước đây thì riêng năm 2016 thu nhập từ rừng trồng đã “sắm” cho người dân cả chục chiếc ô tô hạng sang.
Trồng rừng mang lại lợi ích cao là vậy, nên ngoài trồng trên đất lâm nghiệp được quy hoạch, rất nhiều người dân còn lấn sang trồng trên đất nông nghiệp vốn được quy hoạch để trồng cây màu hàng năm. Thậm chí, rừng trồng trên cả đất lúa.
Ban đầu, chỉ một số ít người làm, sau không thấy ai nói gì, vậy là người người làm theo. Nhiều cánh đồng, vùng đất trước đây trồng lúa, mì, đậu... nay đã thành rừng keo. Việc làm tự phát  này không những sai mục đích sử dụng đất, vi phạm Luật Đất đai mà còn có nguy cơ phá vỡ quy hoạch sử dụng đất.
Ông Mai Văn Đạt, cán bộ địa chính - nông nghiệp - môi trường xã Canh Hiển, lý giải: Những năm gần đây, cây mì, cây mía bị "thất sủng" do giá cả bấp bênh, đầu ra không ổn định, nhiều khi thu hoạch lên không ai mua.
Trong khi cây nguyên liệu giấy như keo, bạch đàn thì đắt như tôm tươi. Lúc xuống thấp nhất cũng hơn 1 triệu đồng/tấn, khi cao lên đến 1,35 – 1,4 triệu. Do đó, nhiều hộ gia đình đổ xô trồng keo trên đất nông nghiệp. Chính quyền xã nhiều lần vận động, nhắc nhở, nhưng vì lợi ích trước mắt mà người dân bỏ ngoài tai khuyến cáo của địa phương.
“Cây keo trồng 2 - 3 năm sẽ cao lớn, khép tán, che phủ ánh nắng mặt trời, làm những loại cây ở phía dưới không thể quang hợp nên không phát triển được. Lá keo chứa chất dầu, khi rụng xuống phân hủy trong đất sẽ khiến các loại cây, cỏ bị chết sạch. Rễ keo hút kiệt chất dinh dưỡng trong đất, làm đất bạc màu, khô cằn, phá hủy kết cấu đất nên sau này rất khó để trồng lúa và cây màu”, ông Đạt phân tích.
Theo quan sát, việc trồng keo trên đất nông nghiệp hiện đang diễn ra tràn lan trên khắp các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Vân Canh với diện tích lớn. Ông Đoàn Văn Mức, Chủ tịch UBND xã Canh Hòa, cho biết hơn một nửa trong tổng số 540 hộ trong xã đều trồng keo trên đất nông nghiệp.
Còn tại xã Canh Hiển, chính quyền đang kiểm tra, lập danh sách các trường hợp tự ý trồng keo trên đất nông nghiệp, ấy vậy nhưng tiến độ công việc không được thông suốt. Ông Huỳnh Văn Quý, Chủ tịch UBND xã Canh Hiển, bộc bạch: “Thú thật, địa phương đang khá lúng túng, chưa biết giải quyết thế nào”.
Ông Nguyễn Văn Kỳ, Trưởng phòng TN-MT huyện Vân Canh nhận định, người dân trồng keo như vậy là sai mục đích sử dụng đất, nhưng thực hiện chế tài xử phạt sẽ gặp không ít khó khăn.
Còn theo ông Trần Văn Khổ, Phó Trưởng phòng NN-PTNT huyện, trước mắt chỉ biết rà soát, thống kê, báo cáo thực trạng cho UBND huyện, sau đó tổng hợp ý kiến các ngành chức năng để đề ra hướng xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/12) đầu trang(
Ngày 19.11.2016, báo Lao Động Đời Sống đã đăng bài: “Dự án chuyển đổi rừng nghèo kiệt ở tỉnh Bình Phước (BP): Không trồng cao su, vẫn được bồi thường tiền tỷ (?)”. Nội dung bài báo phản ánh tại dự án “bảo vệ - trồng rừng và chăn nuôi” do Cty dịch vụ Sasco làm chủ đầu tư đã xảy ra hiện tượng, một số người không hề trồng cao su trên đất dự án, nhưng vẫn nhận hàng tỷ đồng tiền bồi thường khi chủ đầu tư thu hồi lại đất, khắc phục sai phạm…
Ngay sau phản ánh của báo,  được biết Cục cảnh sát môi trường đã có văn bản chỉ đạo Công an tỉnh BP xác minh vụ việc trên…
Cụ thể, ngày 7.12.2016, đại tá Nguyễn Văn Sáu – Phó Cục trưởng Cục cảnh sát môi trường, thuộc Tổng cục cảnh sát – Bộ Công an, đã ra văn bản số 1990/C49-P1, gửi Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh BP. Theo đó, Cục cảnh sát môi trường đã căn cứ Thông tư số 10/2014/TT-BCA ngày 4.3.2014 của Bộ Công an quy định việc xử lý, giải quyết tố cáo và quản lý công tác giải quyết tố cáo trong Công an nhân dân, Cục cảnh sát PCTP về môi trường đã chuyển đơn tố cáo của ông Trần Đức Lý về dấu hiệu sai phạm trong bồi thường tại dự án Sasco, đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh BP để “xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật”.
Trong khi đó, theo nguồn tin riêng, chúng tôi được biết Công an tỉnh BP đã tiếp xúc lấy lời khai từ người của Cty Sasco, Cty Phát Lộc và cá nhân ông Trần Tấn Minh – nguyên GĐ Ban quản lý rừng kinh tế Suối Nhung. Và, trên thực tế, từ cách đây 4 năm, vụ sai phạm về quản lý và sử dụng đất rừng tại dự án Sasco đã từng được Công an tỉnh BP điều tra xác minh…
Và, sau đó, hàng loạt hành vi có dấu hiệu sai phạm của các cá nhân liên quan đã bị phơi bày. Cty Sasco xin đầu tư dự án trồng rừng trên diện tích đất “khủng” 545 ha. Thế nhưng, vừa được chính quyền tỉnh BP giao đất, đơn vị này đã chuyển luôn dự án cho ông Trần Tấn Minh… Để rồi, cá nhân ông Minh đã “xẻ thịt” hàng trăm héc-ta đất rừng cho hàng chục cá nhân nhằm động cơ trục lợi.
Ngày 1.12.2006, Cty dịch vụ Sasco ký hợp đồng giao khoán số 01/HĐGK-BQL với Ban quản lý rừng kinh tế (QLRKT) Suối Nhung, tỉnh BP, thực hiện dự án “quản lý bảo vệ rừng kết hợp trồng rừng, chăn nuôi gia súc”, trên diện tích 545 ha, tại tiểu khu 363 (trong đó đất rừng chiếm 481,5 ha, đất không rừng là 63,5 ha). Điều kỳ lạ, hợp đồng giao khoán vừa ký kết, Ban QLRKT Suối Nhung đã ra tờ trình xin UBND tỉnh BP cho chủ trương “chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng lại rừng kinh tế”. Ngay thời điểm đó (2007), Hạt Kiểm lâm Đồng Phú đã phản đối và đề nghị “giữ lại rừng”.
Song, UBND tỉnh BP lại chấp thuận cho Ban QLRKT Suối Nhung liên doanh với Sasco chuyển đổi 105 ha đất rừng sang trồng cao su… Năm 2008, UBND tỉnh BP điều chỉnh 200 ha/545 ha đất lâm nghiệp (giao khoán cho Sasco) sang cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh BP để xây dựng căn cứ hậu phương. Vì vậy, tổng diện tích đất rừng còn lại trong dự án của Sasco là 345 ha. Năm 2009, Ban QLRKT Suối Nhung và Sasco tiếp tục xin tỉnh BP cho chuyển đổi tiếp 152 ha đất rừng sang trồng cao su.
Và, UBND tỉnh BP đã chấp thuận cho phép chuyển 143,2 ha đất rừng sang trồng cao su. Tuy nhiên, điều bất thường, ngay trong ngày ký hợp đồng liên doanh với Ban QLRKT Suối Nhung (hợp đồng số 153, ngày 2.4.2009, trồng 105 ha cao su) và hợp đồng số 044, ngày 15.1.2010 (trồng 143,2 ha cao su), Sasco đã ký tiếp hợp đồng liên doanh “ngược” lại với cá nhân ông Trần Tấn Minh – GĐ Ban QLRKT Suối Nhung, chuyển toàn bộ 2 hợp đồng đầu tư dự án trên cho ông Minh trực tiếp đầu tư để hưởng lợi theo thỏa thuận.
Theo đó, với dự án 105 ha, sau khi ông Minh trồng cao su, Sasco được chia 60% diện tích vườn cao su và ông Minh được chia 40% diện tích. Đối với dự án 143,2 ha, thì Sasco hưởng 51,9% và ông Minh hưởng 48,1%.
Thế nhưng, ngay sau đó, coi như đất của mình, ông Minh đã mang toàn bộ diện tích đất rừng trên (105 ha và 143,2 ha), ký hàng loạt “hợp đồng bàn giao đất” cho hàng loạt cá nhân khác, với diện tích bình quân từ 5 ha – 10 ha – 40 ha/cá nhân. Theo đó, ông Minh không trực tiếp bỏ vốn trồng cao su, mà các cá nhân ký hợp đồng với ông Minh phải đứng ra bỏ vốn trồng cao su. Để nhận được đất từ ông Minh, các cá nhân còn phải trả tiền cho ông Minh từ 40 – 80 triệu đồng/ha.v.v...
Hành vi “xẻ thịt” dự án Sasco cho nhiều cá nhân để thu tiền của ông Minh, không khác gì hình thức bán đất rừng trá hình nhằm trục lợi cá nhân. Từ tháng 5.2012, Công an tỉnh BP đã vào cuộc điều tra dấu hiệu vi phạm luật pháp của các tổ chức và cá nhân trong dự án này. Ngày 11.5.2012, phòng an ninh điều tra - Công an tỉnh BP đã ra văn bản số 76/BC-PA81, kết luận: “Cty Sasco là chủ đầu tư của dự án trên, tuy nhiên Sasco đã không đầu tư mà chuyển dự án cho Trần Tấn Minh trực tiếp đầu tư nhằm hưởng lợi theo tỷ lệ ăn chia...
Việc không đầu tư, chuyển nhượng dự án của Cty Sasco là trái với quyết định của UBND tỉnh và vi phạm hợp đồng liên doanh đã ký với Ban QLRKT Suối Nhung. Trần Tấn Minh với tư cách là GĐ Ban QLRKT Suối Nhung ký hợp đồng liên doanh với Sasco, đồng thời ký lại hợp đồng liên doanh cho cá nhân mình trực tiếp đầu tư và giao đất dự án cho các cá nhân khác đầu tư là hành vi vi phạm luật pháp, nhằm động cơ trục lợi (vi phạm trách nhiệm của chủ rừng..., có hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nhằm mục đích trục lợi, việc giao đất trồng cao su cụ thể cho các cá nhân đầu tư để thu tiền có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản...)”.
Từ đó, Công an tỉnh BP kiến nghị: “Báo cáo Tỉnh ủy, UBND tỉnh kiến nghị thu hồi dự án. Điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật của Trần Tấn Minh- GĐ Ban QLRKT Suối Nhung, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Xác minh việc hạch toán đầu tư cho dự án của Cty Sasco, làm rõ sai phạm của các cá nhân để xử lý”.
Dấu hiệu vi phạm luật pháp của tổ chức, cá nhân trong dự án trồng rừng Sasco là rõ. Tuy nhiên, không hiểu tại sao, suốt 4 năm qua, vụ án vẫn… giậm chân tại chỗ, không được xem xét xử lý về mặt hình sự. Hậu quả hiện nay, dự án Sasco chẳng những không tiến triển; trái lại, phát sinh hàng loạt tranh chấp giữa các cá nhân bỏ vốn đầu tư với Trần Tấn Minh và chủ đầu tư dự án là Cty Sasco.  (Lao Động 29/12) đầu trang(
Thời gian vừa qua, tỉnh Quảng Ninh đã triển khai xây dựng hàng loạt siêu dự án, bước đầu mang lại diện mạo mới cho tỉnh, đem lại nhiều tiện ích cho người dân, nhưng mặt trái của nó là nhiều diện tích rừng, đất rừng phải nhượng chỗ cho dự án.
Theo quy định, đơn vị chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng phải trồng rừng thay thế, tuy nhiên đến nay, nhiều doanh nghiệp “quên” hoặc “phớt lờ” nghĩa vụ trồng rừng thay thế.
Theo kết quả kiểm tra diện tích chuyển đổi rừng sang mục đích của 3 dự án lớn trên địa bàn Quảng Ninh sẽ làm mất đi khoảng 450ha rừng tại Hạ Long, Vân Đồn, Cẩm Phả và Hoành Bồ.
Cụ thể, dự án Cao tốc Hạ Long – Vân Đồn của Công ty CP BOT Biên Cương có 245,28ha rừng trên cạn và dự án Cảng hàng không Vân Đồn của Công ty CP Đầu tư Phát triển Vân Đồn (Công ty Vân Đồn) 80,9 ha rừng trên cạn và cả rừng ngập mặn.
Căn cứ vào Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 03/3/2006 về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Ninh đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị các doanh nghiệp phải triển khai những nội dung: Hoàn thiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa nước và nộp tiền bổ sung đất chuyển đổi trồng lúa nước theo quy định hiện hành; lập phương án trồng rừng thay thế; hoàn thiện phương án trình các ngành chức năng để thẩm định và phê duyệt dự án theo quy định. Trường hợp các doanh nghiệp không có điều kiện tổ chức lập và triển khai phương án trồng rừng thay thế thì phải nộp kinh phí trồng rừng thay thế về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
Theo quy định đối với 1ha rừng trên cạn, mức kinh phí trồng rừng gần 56 triệu đồng và rừng ngập mặn là trên 113 triệu đồng. Như vậy, Công ty CP BOT Biên Cương phải nộp khoảng 13 tỷ đồng, Công ty Vân Đồn là khoảng 7 tỷ đồng. Ngày 1/11/2016 Công ty CP BOT Biên Cương đã có Công văn số 1171 nêu lý do theo Quyết định số 1143/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn và cải tạo nâng cấp QL 18 đoạn Hạ Long – Mông Dương theo hình thức hợp đồng BOT, thì tổng mức đầu tư của dự án chưa có kinh phí trồng rừng thay thế. Nguyên nhân là do tại thời điểm lập và phê duyệt, địa phương chưa có chủ trương và chưa đề cập đến phương án trồng rừng thay thế.
Tương tự, với lý do Hợp đồng BOT dự án cảng hàng không Quảng Ninh đã được ký kết giữa UBND tỉnh và Công ty Vân Đồn (doanh nghiệp dự án), UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức GPMB, tái định cư và bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư theo tiến độ triển khai. Dó đó, Công ty Vân Đồn đã đề nghị không phải nộp kinh phí chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng nằm trong quy hoạch dự án của mình.
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, việc từ chối không nộp kinh phí chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và trồng rừng thay thế của 2 doanh nghiệp trên là trái với quy định của nhà nước. Đối chiếu với các quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, việc trồng rừng thay thế thuộc trách nhiệm của chủ dự án có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Việc trồng rừng thay thế là một trong những giải pháp quan trọng trong chủ trương bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái hướng tới phát triển bền vững. Nếu không đáp ứng yêu cầu này, dự án coi như không đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và không khả thi.
Vì vậy, bên cạnh những hiệu quả về mặt phát triển KT-XH do các dự án mang lại, để đảm bảo tính bền vững trong môi trường sống cho cộng đồng, công bằng giữa các doanh nghiệp, UBND tỉnh Quảng Ninh cần kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm trồng rừng theo đúng quy định của Nhà nước. (Pháp Luật Việt Nam 29/12) đầu trang(
Để xây dựng hầm chui tại nút giao thông Điện Biên Phủ - Nguyễn Tri Phương, nhiều ngày nay, Cty Công viên Đà Nẵng đã tiến hành di dời hàng loạt cây xanh nhiều năm tuổi tại công viên 29.3 khiến nhiều người dân tiếc nuối.
Ông Đặng Đức Thứ - Giám đốc Công ty Công viên cây xanh Đà Nẵng-  cho biết, để xây dựng hầm chui tại nút Nguyễn Tri Phương - Điện Biên Phủ, nhiều ngay nay, đơn vị đã huy động nhân viên đến các khu vực sẽ xây dựng hầm chui để di dời cây xanh.
"Sau khi cắt tỉa gọn các cây xanh này, chúng tôi sẽ đem về vườn ươm và sẽ trồng lại tại một khu vực công cộng khác", ông Thứ cho biết.
Mặc dù việc di dời cây xanh đã được thông báo từ trước, nhưng nhiều người dân cho biết, nhiều hàng cây đã sống vài chục năm tuổi và tạo cảnh quan tại công viên.
Ông Tiến, người dân địa phương cho biết, hằng ngày, ông và nhiều bạn bè vẫn thường tập thể dục tại công viên 29.3, sau những giờ hoạt động, ông thường ngồi dưới bóng mát của những hàng xà cừ nhiều năm tuổi.
"Vẫn biết việc di dời cây xanh là chủ trương phù hợp nhưng những hàng cây này đều gắn với chúng tôi trong nhiều năm nay nên chúng tôi vẫn có gì đó tiếc nuối" - ông Tiến tâm sự.
Cùng với hầm chui Điện Biên Phủ - Nguyễn Tri Phương, khu vực này còn xây dựng thêm cầu đi bộ trên tuyến xe buýt nhanh (BRT) dài 32m tại Công viên 29-3 - qua đường Nguyễn Tri Phương, cầu xây dựng vĩnh cửu bằng kết cấu thép và bê-tông cốt thép bề rộng cầu 3,0m, tĩnh không dưới cầu cao 4,75m, các dầm thép chữ I tổ hợp hàn cách khoảng 1.0m, chiều dài dầm 16m+16m. (Lao Động 28/12) đầu trang(
Mặc dù có đầy đủ hồ sơ, giấy phép hoạt động, tuy nhiên người dân địa phương không đồng thuận với sự có mặt của cơ sở chế biến gỗ của Công ty cổ phần Lâm nghiệp Thuận Đức vì lo ngại nguồn nước sinh hoạt, tưới tiêu sẽ bị cơ sở này làm ô nhiễm.
Từ khi biết thông tin cơ sở chế biến gỗ của Công ty CP Lâm nghiệp Thuận Đức sẽ được xây dựng tại phía đầu nguồn hồ Vực Sanh - nơi cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho toàn xã, hàng nghìn người dân và chính quyền xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) luôn sống trong tâm trạng bất an.
Họ lo lắng rằng, nếu cơ sở chế biến gỗ này đi vào hoạt động thì nguồn nước ở hồ Vực Sanh sẽ bị ô nhiễm, đời sống sinh hoạt, sản xuất của người dân bị ảnh hưởng.
Theo nhiều người dân xã Hạ Trạch, hồ Vực Sanh là nguồn sống của nhân dân toàn xã, cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu cho bà con. Trước đây, để có nước sinh hoạt, người dân phải đi bộ gần chục cây số đến hồ Vực Sanh gánh nước về dùng.
Cách đây gần 4 năm trước, một tổ chức về đầu tư, cùng với sự đóng góp của nhân dân trong xã đã làm hồ chứa nước, làm đê Vực Sanh và xây dựng hệ thống bể lọc dẫn nước sạch về từng hộ dân, tưới tiêu cho ruộng đồng. Cuộc sống người dân cũng đi lên từ đó.
Thế nhưng, khoảng giữa năm 2016, người dân phát hiện một vụ việc đang san lấp mặt bằng ở phía đầu nguồn hồ Vực Sanh, nằm tại vị trí xã Sơn Lộc, cách hồ Vực Sanh khoảng 3km. Khi tìm hiểu người dân được biết, công việc trên là để xây dựng cơ sở chế biến gỗ. Vì vậy, nhiều người dân đã lên tiếng phản đối, gửi đơn kiến nghị đi khắp các ban, ngành chức năng đề nghị xem xét dừng dự án vì lo ngại nguồn nước bị ảnh hưởng.
Ông Lê Văn Xán (SN 1946, trú tại thôn 6, xã Hạ Trạch) cho biết: “Khi chúng tôi biết việc họ đang xây dựng cơ sở chế biến gỗ ở phía đầu nguồn hồ Vực Sanh mà như “sét đánh ngang tai”. Người dân toàn xã không trừ một ai đều phản đối, vì lo lắng cơ sở này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước”.
“Nhân dân toàn xã rất biết ơn Đảng và Nhà nước vì đã xây dựng hệ thống đê điều, bể lọc để chúng tôi có nguồn nước sạch sử dụng. Nhưng bây giờ cớ sao lại đưa dự án này về, khác nào đổ công sức kia xuống sông xuống biển. Chúng tôi sẽ phản đối dự án này đến cùng”, ông Nguyễn Khắc Thiện (trú tại thôn 2, xã Hạ Trạch) bức xúc.
Theo một số lãnh đạo xã Hạ Trạch, hồ Vực Sanh là nơi cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho nhân dân toàn xã. Việc xây dựng cơ sở chế biến gỗ ở phía đầu nguồn hồ có thể trước mắt chưa có vấn đề gì, nhưng về lâu dài chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến nguồn nước, ảnh hưởng đến người dân.
Ông Lưu Văn Tác – Chủ tịch UBND xã Hạ Trạch cho biết: “Cơ sở chế biến gỗ này được xây dựng trên đất của xã Sơn Lộc nên trước đó chúng tôi không được thông báo về việc xây dựng. Chỉ khi người dân phát hiện và thông báo thì chúng tôi mới biết và tìm hiểu. Sau đó, UBND xã và các cử tri ở địa phương đã làm đơn kiến nghị gửi các ban, ngành chức năng đề nghị dừng dự án vì lo ngại sau này sẽ gây ô nhiễm nguồn nước”.
Theo báo cáo Sở TN&MT tỉnh Quảng Bình, cơ sở chế biến gỗ của Công ty CP Lâm nghiệp Thuận Đức đã có đầy đủ hồ sơ và thủ tục theo đúng quy định của pháp luật và được UBND huyện Bố Trạch xác nhận chỉ thực hiện cưa xẻ ván gỗ và sản xuất gỗ dăm, không có hoạt động ngâm tẩm nên không phát sinh nước thải và hóa chất ra môi trường xung quanh.
Trong quá trình kiểm tra, phát hiện còn một số hạng mục của cơ sở trên chưa đảm bảo và đã yêu cầu Công ty Thuận Đức bổ sung. Nếu dự án cơ sở chế biến gỗ này thực hiện đúng theo kế hoạch bảo vệ môi trường như đã cam kết thì sẽ không ảnh hưởng đến hồ Vực Sanh như lo ngại của người dân xã Hạ Trạch.
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, bà Nguyễn Thị Cẩm Hoàng – Phó Phòng TN&MT huyện Bố Trạch cho biết: “Dự án trên đã có đầy đủ hồ sơ, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật, đánh giá tác động môi trường cũng không có ảnh hưởng gì đến nguồn nước ở hồ Vực Sanh. Khi chưa xây dựng, chưa vận hành, không có cơ sở (như người dân lo ngại) thì chúng tôi không thể đình chỉ dự án được”.
Theo bà Hoàng, dự án trên đang bổ sung một số hạng mục như: xây dựng hệ thống thoát nước thu gom trước khi thực hiện dự án; đào kênh dẫn dòng chảy nước mưa, tạo rãnh thoát nước mà rãnh này hướng về cuối sông Đào thuộc xã Sơn Lộc nên sẽ không ảnh hưởng đến hồ Vực Sanh. Tuy nhiên, gần điểm xây dựng dự án hiện tại còn có quy hoạch bãi rác, nghĩa địa của xã Sơn Lộc. Đây mới là hai hạng mục cần đặc biệt lưu tâm.
“Các ban, ngành giám sát dự án này rất chặt, giao cho chính quyền xã và cả PC49 theo dõi hết chứ không phải để mặc thế đâu. Nếu kiểm tra phát hiện có vấn đề gì thì sẽ đình chỉ ngay. Còn về việc người dân nhất quyết phản đối đến cùng thì các ban, ngành, rồi chính quyền xã cần phải vào cuộc”, bà Hoàng khẳng định. (Gia Đình Và Xã Hội 30/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Hôm 29/12, tòa án Singapore đã tuyên phạt 6 tháng tù giam cho 2 đối tượng người Việt Nam do buôn lậu chim trái phép từ TP HCM.
Theo tờ Straits Times của Singapore, hai đối tượng To Quoc Viet (38 tuổi) và người anh Thai Anh Quoc (48 tuổi) đã bị kết án với tội danh đối xử tàn nhẫn với động vật.
Trước đó, cảnh sát đã bắt giam hai đối tượng người Việt Nam do hành vi buôn lậu trái phép 12 con chim họa mi từ Việt Nam vào Singapore qua sân bay quốc tế Changi, Singapore hôm 9/12. Đây là loại chim được bảo vệ theo hiệp ước về cấm buôn bán động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.
Trước tòa, cả hai thừa nhận đã giấu những con chim vào 2 vali hành lý chật chội mà không cung cấp thức ăn hay nước uống gì cho chúng trong suốt 12 tiếng đồng hồ. Một số con chim bị nhồi nhét trong điều kiện chật hẹp đã bị thương, trong số đó, 1 con chim đã chết trên đường tới sân bay và 1 con bị phát hiện dương tính với virus H3N8.
Trước đó, cả Viet và Quoc đều khẳng định với lực lượng Hải quan Singapore rằng mình không mang theo bất kỳ động vật hay sản phẩm nào từ động vật hoang dã. Tuy nhiên, qua máy quét an ninh, giới chức phát hiện 12 con chim được giấu trong những chiếc hộp được bọc giấy bạc, và giấu dưới quần áo trong vali hành lý.
Các nhà điều tra cho biết, đầu nậu tại Việt Nam hứa sẽ thưởng cho Viet 200 USD nếu anh ta thực hiện trót lọt phi vụ này. Được biết, giá trị mỗi con chim quý này lên tới 1.800 USD/con.
Theo luật pháp Singapore, mỗi đối tượng này sẽ phải đối mặt với án phạt 2 năm tù giam và 50.000 USD tiền phạt với tội danh buôn lậu động vật quý hiếm.  (Vn Tin Nhanh 29/12) đầu trang(./.