Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 29 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Thời điểm này đang là mùa khô hanh, với dự báo sẽ có nhiều diễn biễn phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao. Do vậy, tỉnh đã có những chỉ đạo kịp thời đối với các ngành chuyên môn trong việc quan tâm, chủ động phương án ứng phó, nhất là tại các cơ sở, đảm bảo hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn.
Hiện, tỉnh có gần 780.000 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, chiếm 55% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Trong đó, 599.634 ha đất lâm nghiệp có rừng, độ che phủ rừng đạt 42,3%. Với mục tiêu nâng cao khả năng kiểm soát cháy rừng và hiệu lực của công tác PCCCR, giảm thiểu số vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra, tỉnh đã kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ rừng và PCCCR tỉnh giai đoạn 2011-2020.
Đồng thời, kiện toàn 12 Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, 204 Ban Chỉ đạo cấp xã. Trong đó, đã xây dựng và ban hành quy chế hoạt động gắn với phân công cụ thể trách nhiệm của từng thành viên Ban Chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
Chỉ riêng trong quý IV năm nay, qua triển khai một số nhiệm vụ trọng tâm theo Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12/9/2016 của BTV tỉnh ủy về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020, toàn tỉnh đã tổ chức 1.422 cuộc tuyên truyền tại các xã, bản với trên 70.000 lượt người tham dự; vận động trên 3.000 hộ tham gia ký cam kết bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ động vật hoang dã.
Đồng thời, tỉnh cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường phối hợp với chính quyền cơ sở tuyên truyền, ngăn chặn kịp thời tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật; kiên quyết bắt giữ, tịch thu phương tiện, tang vật và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các đối tượng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Các điểm nóng về phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tỉnh từng bước được ngăn chặn hiệu quả.
Ông Nguyễn Huy Tuấn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, cho biết: Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh, đến thời điểm này, Chi cục Kiểm lâm đã tiến hành rà soát, bổ sung xong quy chế phối hợp giữa kiểm lâm với các cơ quan, đơn vị. Đồng thời, hoàn thiện quy chế phối hợp bảo vệ, PCCCR trong vùng giáp ranh giữa Chi cục Kiểm lâm tỉnh với các tỉnh Thanh Hóa, Hòa Bình, Phú Thọ, Điện Biên và Yên Bái nhằm phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ rừng, PCCCR.
Căn cứ vào phương án PCCCR đã được phê duyệt, Ban chỉ đạo các cấp và chủ rừng đã tham mưu cho UBND các cấp xây dựng được kế hoạch PCCCR tại địa phương, đơn vị sát với tình hình thực tế để triển khai hiệu quả. Trong kế hoạch triển khai đã nêu những nội dung cụ thể, cần thiết, như: Xác định được vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, các biện pháp phòng cháy, các biện pháp chữa cháy, tín hiệu báo động, tổ chức huy động lực lượng tham gia khi có cháy xảy ra...
Tỉnh cũng đã chỉ đạo quyết liệt các ngành, huyện, thành phố tăng cường các biện pháp PCCCR. Trong đó, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức về PCCCR cho nhân dân ở các vùng rừng, ven rừng về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng, PCCCR gắn với việc ký cam kết thực hiện; xây dựng, bổ sung và tổ chức thực hiện hiệu quả quy ước quản lý bảo vệ rừng, PCCCR cấp thôn, bản, cụm dân cư.
Ông Đào Duy Giang, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Yên, cho biết: Thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh và ngành, đơn vị đã chủ động xây dựng phương án PCCCR mùa khô 2016-2017. Tại các khu vực rừng bị ảnh hưởng bởi băng giá, từ đầu năm 2016, đơn vị đã đặt thêm các biển cấm, biển báo, biển chỉ dẫn về PCCCR tại các khu vực trọng điểm, dọc đường giao thông và tiếp giáp với nương rẫy để người dân chủ động đề phòng.
Đồng thời, chỉ đạo cho kiểm lâm địa bàn tham mưu, phối hợp với các cơ sở theo dõi, cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng, kiểm tra, đôn đốc công tác PCCCR, hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng do đốt nương...
Trước những diễn biến phức tạp của thời tiết, tỉnh cũng đã dự báo nguy cơ cháy rừng được thực hiện từ đầu tháng 10 năm trước cho đến hết tháng 4 năm sau. Đây là thời kỳ có nguy cơ cháy rừng cao, do đó, cần sự vào cuộc đồng bộ của các cấp, ngành liên quan, nhất là việc chủ động rà soát, kiểm tra nguy cơ gây cháy rừng ngay từ cơ sở.
Trong đó, cần thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin dự báo thời tiết của Đài khí tượng thủy văn Trung ương và địa phương; tổ chức các đợt kiểm tra, tự kiểm tra về công tác PCCCR đối với các vùng trọng điểm và địa bàn có nguy cơ cao về cháy rừng, gắn với kiểm tra việc thực hiện quy chế phối hợp giữa các đơn vị... (Báo Sơn La 29/12) đầu trang(
Mù Cang Chải là địa phương luôn có khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, công tác bảo vệ rừng, PCCCR gặp rất nhiều khó khăn. Đã nhiều năm ở đây luôn là “điểm nóng” về cháy rừng, có năm cao điểm xảy ra hàng chục vụ, diện tích rừng bị cháy cũng hàng trăm ha, gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái.
Trước nguy cơ cháy rừng cao, huyện Mù Cang Chải đã tăng cường công tác tuyên truyền đến mọi người dân thông qua nhiều hình thức như: phát tờ rơi, kẻ pano, áp phích, tổ chức cho nhân dân học tập, ký cam kết trong việc bảo vệ rừng và PCCCR bằng tiếng phổ thông và tiếng Mông. 100% thôn, bản xây dựng quy ước bảo vệ rừng.
Bên cạnh đó, huyện cũng tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác ở những nơi có nguy cơ cháy rừng cao để phát hiện lửa rừng và tổ chức lực lượng tham gia chữa cháy kịp thời khi có đám cháy xảy ra. Hạt Kiểm lâm thường xuyên theo dõi diễn biến cấp dự báo cháy rừng trong suốt vụ khô hanh, trên cơ sở nắm chính xác cấp dự báo cháy rừng để ra thông báo kịp thời cho ban chỉ huy các xã, các chủ rừng, chủ động PCCCR.
Mặc dù công tác PCCCR được chính quyền địa phương và các ngành chức năng thực hiện nghiêm, tuy nhiên mùa khô năm 2015 - 2016, huyện Mù Cang Chải để xảy ra 5 vụ cháy rừng, thiệt hại 135,7 ha rừng.  Qua thống kê các vụ cháy rừng cho thấy, nguyên nhân chủ yếu do bà con sơ ý trong đốt nương làm rẫy để cháy lan vào. Một số người dân vô trách nhiệm trong sản xuất nương rẫy nên không chấp hành quy định phòng chống cháy và có cả người cố ý đốt rừng.
Điển hình vụ cháy rừng xảy ra ngày 9/3/2016 tại tiểu khu 340, bản Háng Cơ Bua, Nả Háng Tâu xã Púng Luông làm thiệt hại 58,9 ha rừng. Đây là vụ cháy rừng thiệt hại lớn nhất trong mùa khô hanh 2015 - 2016.
Thủ phạm đốt rừng là Giàng A Sử, sinh năm 1988, do phát sinh mâu thuẫn với trưởng thôn trong việc sử dụng cây thông nên sáng ngày 9/3/2016, Sử đã đem lửa đến khu vực rừng thông khu vực giáp ranh với đèo Khau Phạ, thuộc địa phận xã Púng Luông, huyện Mù Cang Chải rồi châm lửa đốt, sau đó bỏ về nhà. Vụ cháy đã thiêu trụi khoảng 50 ha rừng thông trên 20 năm tuổi do Ban Quản lý Rừng phòng hộ Mù Cang Chải quản lý. Để dập tắt đám cháy huyện Mù Cang Chải đã huy động cả nghìn người lên rừng chữa cháy.
Để hạn chế tới mức thấp nhất số vụ và diện tích rừng bị cháy, bước vào mùa khô hanh năm 2016 - 2017, Ban Chỉ đạo Bảo vệ và Phát triển rừng huyện Mù Cang Chải đã chỉ đạo kiện toàn các ban chỉ huy PCCCR; bổ sung hoàn thiện phương án, kế hoạch PCCCR từ huyện đến xã, thị trấn.
Tại các thôn, bản đã kiện toàn các tổ đội xung kích bảo vệ rừng. Tổ chức cho người dân ở các thôn, bản học tập, ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR. Với quyết tâm bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm đã tích cực triển khai nhiều biện pháp đồng bộ và quyết liệt để hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Ông Vàng A Lử - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Mù Cang Chải cho biết: “Mùa khô năm nay, nguy cơ cháy rừng trên địa bàn huyện Mù Cang Chải rất cao do đợt rét đậm, rét hại kèm băng tuyết đầu năm làm cho các lớp thực bì chết. Do đó, công tác PCCCR được đặt lên hàng đầu. Để hạn chế việc cháy rừng, chúng tôi đã đưa cán bộ kiểm lâm địa bàn xuống các thôn, bản tổ chức họp dân, tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng, ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR với từng hộ, thống kê số nương rẫy và hướng dẫn cho bà con cách đốt nương để tránh cháy lan vào rừng. Đồng thời, quy định tất cả các hộ khi đốt nương rẫy phải báo cho trưởng thôn và kiểm lâm địa bàn biết ngày giờ đốt để kiểm soát.” (Báo Yên Bái 28/12) đầu trang(
Theo Bộ NN&PTNT, cả năm 2016, diện tích rừng bị thiệt hại là 4.519 ha, tăng 1.689 ha so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, diện tích rừng bị cháy là 3.374 ha (tăng 1.314 ha), diện tích rừng bị phá trái phép là 1.145 ha (tăng 310ha). Trong năm đã phát hiện 19.389 vụ vi phạm, đã xử lý 16.241 vụ; thu nộp ngân sách 189,5 tỷ đồng và 22.603 m3 gỗ.
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tính đến tháng 12 cả nước thu được hơn 1.218,2 tỷ đồng, đạt 92% kế hoạch, trong đó Quỹ Trung ương thu được gần 852,1 tỷ đồng đạt 90% kế hoạch, Quỹ tỉnh thu được hơn 366,1 tỷ đồng đạt 99% kế hoạch năm. (Đại Đoàn Kết 28/12)
Sau khi có thông tin về vụ việc khai thác trái phép và những dấu hiệu sai phạm khi thanh lý cây gỗ sấu cổ thụ trong rừng phòng hộ thuộc xã Vũ Chấn, mới đây, Ban Thường vụ Huyện ủy Võ Nhai đã chỉ đạo UBND huyện tiến hành kiểm tra, xác minh để sớm có kết luận, xử lý.
Theo đó, UBND huyện Võ Nhai đã chỉ đạo tạm dừng việc mua bán, thanh lý, vận chuyển lô gỗ sấu, bảo vệ hiện trạng; thành lập Đoàn kiểm tra do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND làm Trưởng đoàn. Nội dung kiểm tra, xác minh là việc khai thác gỗ trái phép, xác định lại toàn bộ khối lượng cây gỗ; việc tiếp nhận, xử lý thông tin và quá trình thanh lý gỗ của Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai.
Đoàn kiểm tra đã trực tiếp đến hiện trường, làm việc với những người liên quan để xác minh thông tin, làm rõ trách nhiệm; đo đạc và thống nhất toàn bộ khối lượng cây gỗ là trên 20m3 (trước đó, cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện xác định khối lượng cây gỗ là chỉ là 13,436m3). Hiện nay,  Đoàn kiểm tra đang tích cực xác minh để sớm có kết luận, làm căn cứ tham mưu UBND huyện xử lý sai phạm theo quy định.
Như Báo Thái Nguyên đã thông tin, khoảng tháng 4 năm nay, một cây gỗ sấu cổ thụ trong rừng phòng hộ tại xóm Khe Rịa, xã Vũ Chấn (Võ Nhai) đã bị khai thác trộm. Quy trình thanh lý cây gỗ của Hạt Kiểm lâm huyện đã có một số dấu hiệu sai phạm như: Không báo cáo UBND huyện, bán thanh lý không qua đấu giá… Hội đồng định giá tài sản huyện Võ Nhai tại Hạt Kiểm lâm huyện vượt thẩm quyền khi cho phép Hạt Kiểm lâm huyện bán lô gỗ với mức giá gần 8,8 triệu đồng. (Báo Thái Nguyên 28/12) đầu trang(
Ngày 28.12, Hội Nhà báo tỉnh Quảng Trị tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm giải báo chí Quảng Trị (2005 - 2015) và trao Giải Báo chí Quảng Trị lần thứ XI năm 2016. Theo đó, loạt phóng sự điều tra "Công khai đốn hạ cây gỗ trong rừng phòng hộ" của nhóm phóng viên báo Lao Động - Lâm Hưng Thơ – Đăng Khoa đã được trao giải A.
Ông Nguyễn Văn Hùng - Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Trị đánh giá cao hoạt động của Hội Nhà báo tỉnh và chất lượng của các tác phẩm báo chí tham dự giải. Ông Nguyễn Văn Hùng đề nghị, Hội nhà báo tỉnh Quảng Trị và các phóng viên, nhà báo của các cơ quan báo chí địa phương và Trung ương đóng trên địa bàn cần nâng cao trách nhiệm nghề nghiệp, đổi mới mạnh mẽ cách tiếp cận cuộc sống, luôn lòng trong bút sắc để có những tác phẩm báo chí ngang tầm, đóng góp thiết thực và xứng đáng vào sự đi lên của quê hương, đất nước.
Ông Trần Đăng Mậu - Phó Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Quảng Trị cho biết, Giải báo chí Quảng Trị lần thứ XI năm 2016 đã nhận được 117 tác phẩm của 76 tác giả và nhóm tác giả tham gia. Nhiều tác phẩm đã tập trung vào mảng đề tài chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và những vấn đề nổi cộm trong xã hội được dư luận quan tâm.
Có 4 tác phẩm xuất sắc đã được chọn để trao giải A Giải Báo chí Quảng Trị năm 2016, gồm: "Sự cố ô nhiễm môi trường biển và nỗ lực khôi phục sản xuất, phát triển sinh kế cho người dân" của Chi hội Báo Quảng Trị; "Mùa câu" của tác giả Văn Cần – Trần Đăng; "Dân chấm điểm chính quyền" của tác giả Đình Giáo – Minh Dương; "Công khai đốn hạ cây gỗ trong rừng phòng hộ" của tác giả Lâm Hưng Thơ – Đăng Khoa.
Trong đó, tác phẩm "Công khai đốn hạ cây gỗ trong rừng phòng hộ" đăng tải trên báo Lao Động phản ánh tình trạng tàn sát rừng công khai ở những cánh rừng phòng hộ phía tây huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị). Sau khi loạt bài này được đăng tải, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có văn bản yêu cầu tỉnh Quảng Trị tìm hiểu, báo cáo sự việc và xử lý các cá nhân, tổ chức để xảy ra tình trạng phá rừng.
Cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị đã vào cuộc tìm hiểu, xác định thông việc phá rừng là rất nghiêm trọng. Chỉ trong thời gian ngắn, cơ quan chức năng đã phát hiện, thu giữ hơn 100 mét khối gỗ khai thác trái phép; thu giữ một số cưa máy; xác định được một số đối tượng khai thác gỗ. Bên cạnh đó, một số cán bộ kiểm lâm đã bị luân chuyển, đợi có kết luận cuối cùng sẽ xử lý trách nhiệm vì để xảy ra tình trạng phá rừng. Hiện tại, Công an huyện Vĩnh Linh đã ra quyết định khởi tố vụ án phá rừng nói trên. (Lao Động 29/12) đầu trang(
Theo các nghiên cứu, rừng Yên Tử có 830 loài thực vật, trong đó, 38 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Cuối tháng 8/2016, Hội đồng cây di sản Việt Nam đã xét duyệt và công nhận 144 cây thuộc Khu di tích và Rừng quốc gia Yên Tử đạt đầy đủ các tiêu chí là Cây Di sản Việt Nam, bao gồm: 1 cây đa tía, 1 cây thị, 102 cây hồng tùng (xích tùng), 10 cây thông nhựa khổng lồ, 21 cây mai vàng đặc hữu Yên Tử và 9 cây đại cổ. Các Cày Di sản của Yên Tử có tuổi đời từ 300 - 700 năm.
Theo Ban quản lý (BQL) Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử, vườn quốc gia có diện tích lớn và có nhiều loài cây cực kì lâu năm, bởi vậy, việc chăm sóc, bảo tồn gặp nhiều khó khăn do thời gian, sự tác động của thiên nhiên và hoạt động của con người. Nhiều cây bị xâm hại nghiêm trọng, khả năng tái sinh kém và có nguy cơ tuyệt chủng nếu không được chăm sóc đặc biệt.
Điển hình là loài xích tùng cổ từng gắn bó với Phật Hoàng Trần Nhân Tông và Thiền Phái Trúc Lâm. Trong 233 cây xích tùng của rừng Yên Tử, 18 cây đã chết trong thời gian 5 năm trở tại đây; 132 cây thân, gốc bị mục rỗng một phần, cụt ngọn, thân nghiêng, sâu bệnh hại nặng, nhiều rễ nổi... Riêng đường tùng cổ thụ có 69 cây thì 7 cây đã chết đứng, 51 cây bị mục rỗng thân, gốc và sâu bệnh hại. Bên cạnh đó, cây tùng còn gặp nhiều nguy cơ xâm hại rất lớn khác như: Bệnh xỉ mủ làm chết hoại dần phần thân gỗ, bệnh khô cành, thân do nấm...
Để cứu xích tùng, thành phố Uông Bí, BQL Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử đã để xuất triển khai dự án chăm sóc, bảo tồn các loài cây xích tùng cổ tại rừng quốc gia Yên Tử, giai đoạn 2016 - 2020 và đã được UBND tỉnh Quảng Ninh chấp thuận. Bước đầu trồng thay thế 50 cây, bổ sung tái tạo lại đường tùng cổ. Đồng thời, xây dựng vườn ươm và ươm 300 cây giống tại vườn ươm từ việc thu hái hạt. Đây là giải pháp an toàn nhưng thời gian triển khai lâu, cây nuôi trong vườn ươm 5 năm mới trồng được.
Ông Lê Tiến Dũng, Trưởng BQL Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử cho biết: Trong năm 2016, công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được tăng cường. Các lực lượng tuần tra, canh gác tập trung giám sát chặt chẽ các khu vực, ngăn chặn hiện tượng chặt phá rừng, khai thác than trái phép, lấn chiếm đất, đảm bảo không để xảy ra tình trạng xâm phạm các loài cây quý, cảnh quan khu di tích. BQL cũng tổ chức cứu kịp thời 1 cây mai vàng yên tử và 1 cây Tùng bị đổ tại khu di tích, giám sát việc thi công xây dựng chùa và cáp treo tại khu vực giáp ranh rừng quốc gia.
Để bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng Yên Tử, BQL đã phối hợp với các đơn vị, cơ quan chức năng thường xuyên tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, những văn bản pháp quy có liên quan đến từng thôn, giúp cho người dân hiểu rõ trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với tài nguyên rừng, ý nghĩa to lớn của rừng đối với di tích Yên Tử và công tác phòng hộ, giữ gìn cảnh quan môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học...
BQL xác định, việc bảo vệ, phục hồi và bảo tồn được các loài cây quý tại Vườn quốc gia Yên Tử tỉnh Quảng Ninh góp phần bảo vệ cảnh quan, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử của khu di tích và phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học. (Tài Nguyên Và Môi Trường 27/12) đầu trang(
Ngày 28/12, trung tá Trần Đức Tới, Phó trưởng Công an huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) cho biết: Lực lượng chức năng của đơn vị này vừa bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ hương giáng không rõ nguồn gốc.
Theo đó, từ tin tức của quần chúng nhân dân, lực lượng trinh sát của đội Cảnh sát Kinh tế của Công an huyện Quảng Ninh đã phối hợp với đội CSGT số 9, phòng CSGT Quảng Bình bắt giữ xe khách mang BKS 73L– 6726, do Nguyễn Thái Thành (SN 1968), trú tại xã Sơn Thủy, huyện Lệ Thủy điều khiển theo hướng Bắc - Nam, nhánh Đông đường Hồ Chí Minh, trên địa phận xã Xuân Ninh.
Kiểm tra phương tiện, lực lượng chức năng phát hiện hơn 400kg gỗ hương giáng không rõ nguồn gốc. Lái xe Nguyễn Thái Thành không xuất trình được nguồn gốc của lô hàng và khai do một người khách gửi cho một cơ sở mỹ nghệ ở xã Sơn Thuỷ, huyện Lệ Thủy.
Như Tiền Phong đã phản ánh, thời gian qua, do tin đồn gỗ hương giáng có tác dụng trừ ma, trừ tà, tạo nên một cơn sốt gỗ hương giáng trên địa bàn Quảng Bình. Các cánh rừng vùng đệm của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng bị tàn phá nghiêm trọng để tìm gỗ hương giáng. Tuy nhiên, đây là vụ vận chuyển gỗ hương giáng đầu tiên bị bắt giữ. (Tiền Phong 29/12; Thanh Niên 29/12) đầu trang(
5 doanh nghiệp tư nhân ở Đăk Nông phải đền bù thiệt hại cho Nhà nước, với tổng số tiền hơn 13 tỷ đồng.
5 doanh nghiệp để mất rừng gồm: Doanh nghiệp tư nhân Phạm Quốc, Công ty trách nhiệm hữu hạn Nông lâm nghiệp Khải Vy, Công ty trách nhiệm hữu hạn GreenFarm Đắk Nông, Công ty trách nhiệm hữu hạn giống cây trồng Công Long, Công ty trách nhiệm hữu hạn Hoàng Ba.
Trong đó, doanh nghiệp để mất rừng nhiều nhất là doanh nghiệp tư nhân Phạm Quốc với 137,1ha rừng bị mất, phải đền bù hơn 9,5 tỷ đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn Nông lâm nghiệp Khải Vy để mất gần 86ha rừng, phải đền bù 876,7 triệu đồng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 29/12) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Ngữ, Chủ tịch UBND xã Ngư Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa cho biết: Trong quá trình đánh bắt trên biển, ngư dân Nguyễn Văn Liên (thôn Thành Lập, xã Ngư Lộc), chủ tàu TH 91574 TS bắt được một con rùa và đã thả về biển.
Trước đó, ngày 26/12, khi thu lưới đánh bắt trên biển, anh Liên đã phát hiện trong lưới có một con rùa màu nâu vàng rất đẹp và hiếm thấy. Con rùa này dài khoảng 1,5m; bề ngang gần 1m; nặng khoảng 70kg. Nhận thấy đây là loài động vật biển quý hiếm, nhất là con rùa hoàn toàn khỏe mạnh, anh Liên cùng các thuyền viên trên tàu đã quyết định thả rùa về biển.
Đây là một hành động đẹp, rất đáng ghi nhận, thể hiện trách nhiệm bảo vệ nguồn lợi thủy sản của người dân. (Tin Tức 28/12) đầu trang(
Chiều 28/12, cơ quan chức năng tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện và thu giữ gần 200 kg thịt động vật hoang dã được ướp lạnh trong nhà ông Nguyễn Xuân Quân (SN 1971, ngụ thôn Kim Cương, xã Sơn Kim 1, huyện Hương Sơn).
Làm việc với cơ quan chức năng, ông Quân khai nhận đã thu mua số động vật hoang dã gồm: lợn rừng, khỉ, chồn, trăn, nhím và kỳ đà của một số đối tượng vận chuyển từ Lào về, sau đó xẻ thịt cất giữ trong tủ lạnh để bán trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.
Trước đó, vào lúc 15h30 ngày 28/12, sau khi tiếp nhận thông tin của người dân về việc trên địa bàn huyện Hương Sơn có người thu mua động vật hoang dã trái phép, Công an huyện phối hợp cùng Phòng Cảnh sát môi trường Công an tỉnh Hà Tĩnh, Hạt kiểm lâm huyện, Công an xã Sơn Kim 1 đã tiến hành kiểm tra và phát hiện khoảng 200 kg thịt động vật hoang dã được chứa trong nhiều ngăn tủ đá ở nhà ông Quân.
Sau khi lập biên bản vụ việc, cơ quan chức năng đã bàn giao toàn bộ số tang vật trên cho Hạt kiểm lâm huyện Hương Sơn tiến hành tiêu hủy theo quy định của pháp luật. (Người Tiêu Dùng 29/12; Đại Đoàn Kết 28/12) đầu trang(
Thông tin từ Tổng cục Hải quan cho hay, trong năm 2016, các đơn vị hải quan đã chủ động xây dựng kế hoạch, chuyên đề, xác lập, đấu tranh thành công nhiều chuyên án, bắt giữ, xử lý thành công nhiều vụ việc, giải quyết dứt điểm nhiều hiện tượng nóng, nổi cộm.
Từ ngày 16/12/2015 đến ngày15/12/2016, lực lượng kiểm soát Hải quan đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 15.489 vụ, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính khoảng 416 tỷ 498 triệu đồng, thu nộp ngân sách 171 tỷ 249 triệu đồng. Cơ quan Hải quan đã khởi tố 47 vụ; chuyển cơ quan khác khởi tố 95 vụ.
Thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã chức triệt phá thành công nhiều chuyên án lớn liên quan đến buôn bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã quý hiếm, được dư luận trong nước và cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong kỳ, lực lượng kiểm soát Hải quan đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 31 vụ liên quan đến mua bán, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã và các sản phẩm từ động thực vật hoang dã.
Trong đó, đã đấu tranh triệt phá nhiều vụ vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã, sản phẩm động vật hoang dã với số lượng lớn như: vụ vận chuyển trái phép 137,5kg ngà voi và các sản phẩm chế tác từ ngà voi (vòng, hạt) từ Ăngola về Nội Bài, vụ vận chuyển trái phép 9.052kg vỏ mai đồi mồi, 1.345kg tắc kè, 16kg đồi mồi sống từ Indonesia về cảng Hải An, Hải Phòng; vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép 300kg gỗ trắc từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu La Lay, Quảng Trị,... Cơ quan này cũng kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép vũ khí, vàng trên tuyến hàng không.
Để nâng cao năng lực, hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, năm 2017, ngành Hải quan sẽ tiếp tục ưu tiên tạo thuận lợi trong hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh nhưng vẫn đảm bảo công tác kiểm soát hải quan. Tập trung thực hiện tốt các công tác nghiệp vụ cơ bản nhằm xác định các đối tượng, địa bàn trọng điểm, hàng hóa trọng điểm để phát hiện, đấu tranh với các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. (Hải Quan 28/12; Infonet 29/12) đầu trang(
Ngày 28-12, chuyên gia Lê Trọng Trải, Giám đốc Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt (Việt Nature) cho biết, Liên minh bảo tồn quốc tế IUCN đã nâng mức cảnh báo nguy cơ tuyệt chủng đối với loài Mang Lớn của Việt Nam từ mức EN-nguy cấp lên mức CR-rất nguy cấp.
Chuyên gia Lê Trọng Trải chuyên gia động vật học và quy hoạch bảo tồn, Giám đốc Trung tâm bảo tồn thiên nhiên Việt (Việt Nature) nhấn mạnh, loài Mang Lớn khi IUCN nâng lên mức rất nguy cấp là tương đương với cấp bị đe dọa của loài Sao La hiện nay. CR là cấp bị đe dọa cao nhất trước khi loài này rơi vào cấp bị tuyệt chủng trong tự nhiên, giống như loài Tê giác Java ở Việt Nam.
Mang Lớn là một loài thú móng guốc đặc hữu của giải Trường Sơn, chỉ phân bố ở Việt Nam và Lào. Loài này được mô tả là một loài mới cho khoa học vào năm 1994 ở Việt Nam thông qua một mẫu sừng và phần xương trán thu thập được ở Vườn quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh. Kể từ khi phát hiện đến nay không một nhà khoa học nào hoặc một chuyên gia động vật hoang dã nào nhìn thấy chúng ở ngoài tự nhiên. Đây là loài thú cùng có chung số phận với nhiều loài thú khác ở Việt Nam do nạn săn bắn, bẫy bắt quá mức. Trước tình trạng này mà IUCN nâng cấp cảnh báo nguy cơ tuyệt chủng của loài này ở mức cao nhất.
Trong một chương trình bẫy ảnh của Việt Nature đã thu lại 72 ảnh Mang Lớn ở 6 điểm khác nhau và 8 cá thể khác nhau. Trong đó có một đực trưởng thành, 6 con cái và một con non đi kèm theo con mẹ ở rừng Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy.
Ông Lê Trọng Trải đánh giá: “Rừng Động Châu-Khe Nước Trong có thể là nơi lý tưởng, duy nhất của dãi rừng đất thấp miền Trung đang lưu giữ quần thể quan trọng nhất của loài Mang Lớn ở Việt Nam. Nơi đây có tầm quan trọng trong việc bảo tồn mang tầm quốc tế nên cần phải ưu tiên bảo vệ và giữ gìn cho Việt Nam và quốc tế”.
Chương trình bẫy ảnh của Việt Nature vẫn đang được tiếp tục, mở rộng ở miền Trung với hy vọng tìm kiếm được nhiều bằng chứng xác thực về các loài động vật hoang dã quý hiếm để cung cấp thông tin, định hướng cho công tác quy hoạch bảo tồn của Việt Nam. (Sài Gòn Giải Phóng 28/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nghị định số 75/2015/NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020 được kỳ vọng mang lại nhiều thay đổi, giúp người dân, nhất là hộ nghèo có điều kiện cải thiện sinh kế và gắn bó thực sự với rừng.
Theo Nghị định, đối tượng được hỗ trợ gồm: Hộ nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi đã và đang bảo vệ, phát triển rừng; cộng đồng dân cư thôn được giao rừng theo quy định tại Điều 29 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Điều 54 Luật Đất đai. Theo đó, mức hỗ trợ đối với công tác giao khoán quản lý bảo vệ rừng được nâng lên 400.000 đồng/ha/năm với hạn mức diện tích rừng nhận khoán được hỗ trợ  tối đa là 30ha/hộ. Như vậy tăng 200.000 đồng/ha so với mức chi trả trước đây.
Bên cạnh đó, nếu người dân trồng rừng bổ sung, mức hỗ trợ theo thiết kế - dự toán tối đa không quá 1,6 triệu đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 600 nghìn đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo. Mặt khác, đối với diện tích đất lâm nghiệp được quy hoạch phát triển rừng sản xuất đã giao ổn định, lâu dài cho hộ gia đình được hỗ trợ một lần cho chu kỳ đầu tiên để trồng rừng sản xuất bằng loài cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ. Mức hỗ trợ này từ 5 - 10 triệu đồng/ha để mua giống, phân bón và chi phí một phần nhân công, tùy theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng theo thiết kế - dự toán.
Ngoài ra, hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng sản xuất và phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ thì được trợ cấp 15kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc được lương thực. Chủ tịch UBND tỉnh quyết định mức và thời gian trợ cấp, nhưng tối đa không quá 7 năm.
Nhiều địa phương khi triển khai thực hiện Nghị định này, đã tiến hành rà soát lại số hộ nghèo tại các thôn buôn đặc biệt khó khăn. Chẳng hạn như tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Kiểm lâm khi triển khai đã có công văn yêu cầu các huyện rà soát số hộ nghèo. Theo đó, toàn tỉnh có gần 2.000 hộ nghèo (11.988 khẩu) thuộc 84 xã vùng II, vùng III của 13 huyện tham gia trồng rừng sản xuất, phát triển lâm sản ngoài gỗ với tổng diện tích trên 4.900ha; 449 hộ (2.689 khẩu) tham gia trồng, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ với tổng diện tích 544,9ha.
Trên cơ sở đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk lập dự toán tổng hợp hiện trạng rừng các xã khu vực II, III; diện tích khoán quản lý bảo vệ; diện tích rừng khoanh nuôi tái sinh được giao có trồng bổ sung năm 2016. Đồng thời khảo sát, tổng hợp nhu cầu trợ cấp gạo cho các hộ nghèo tham gia trồng rừng và phát triển lâm sản ngoài gỗ, báo cáo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN - PTNT), trên cơ sở đó báo cáo bộ, ngành chức năng ghi vốn cho địa phương triển khai trong giai đoạn 2016 - 2020.
Hiện nay, hầu hết cộng đồng dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng dân tộc và miền núi gặp rất nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; cuộc sống vẫn dựa vào rừng là chủ yếu. Chính vì vậy, một số nơi rừng tiếp tục bị tàn phá để lấy đất sản xuất nông nghiệp và phục vụ cho nhiều mục đích khác. Cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng và xóa đói, giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số dù được Đảng và Nhà nước quan tâm nhưng nguồn lực phân tán và chưa đủ mạnh để tạo nguồn thu nhập ổn định, giúp người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng vì sống được bằng nghề rừng.
Ông Lý Tài An, xóm Ba Nhất, xã Phú Thượng (Võ Nhai, Thái Nguyên) cho biết: Gia đình ông nhận khoán gần 6ha rừng để trồng keo, cây mỡ. Ban đầu, Nhà nước hỗ trợ cây giống, phân bón, nhưng nay không còn hỗ trợ nữa. Ông cho biết thêm, từ khi giao đất giao rừng cho các hộ dân, nhiều hộ đã canh tác tốt, mang lại nguồn thu nhập ổn định. Nhưng cũng có nhiều hộ làm không hiệu quả, loay hoay lựa chọn cây trồng, lúc trồng rừng, lúc trồng ngô, chuyển đổi liên tục dẫn tới nguồn lợi đôi khi không được bảo đảm, ảnh hưởng tới quy hoạch phát triển chung. Nhiều khu rừng phòng hộ cũng vì thế mà bị người dân tự ý chuyển thành rừng sản xuất.
Mặc dù vậy, vẫn có không ít hộ đồng bào dân tộc thiểu số trồng rừng phát triển kinh tế hiệu quả. Như hộ gia đình ông Tằng Tẳng Phục, dân tộc Dao, xã Quảng Lâm (huyện Đầm Hà, Quảng Ninh) trồng 8ha cây quế, cây keo, nay đã đến kỳ thu hoạch, cho thu nhập bình quân trên 30 triệu đồng/năm.
Ông Phục cho biết: Trồng rừng, hay nói cách khác là làm lâm nghiệp, thì phải canh tác theo kiểu lấy ngắn nuôi dài, trồng xen canh các loại cây trồng lấy nguồn nuôi sống gia đình, để có cái ăn hàng ngày.
Bởi trồng rừng là cả quá trình lâu dài, không phải ngày một ngày hai thu hoạch, vì vậy, người dân cần sự hỗ trợ và định hướng cụ thể trong kế hoạch sản xuất. Trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài và rủi ro cao, nên các ngân hàng thường không muốn cho vay; các hộ gia đình, cá nhân càng khó có cơ hội tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Những khó khăn đó hiện nay đã phần nào được tháo gỡ.
Theo Nghị định 75, căn cứ vào thiết kế - dự toán trồng rừng, ngoài số tiền để trồng rừng sản xuất, phát triển lâm sản ngoài gỗ như quy định, hộ gia đình còn được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho vay trồng rừng với hạn mức 15 triệu đồng/ha. Thời hạn vay từ khi trồng đến khi khai thác theo chu kỳ kinh doanh của từng loại cây trồng nhưng không quá 20 năm. Bên cạnh đó, các hộ gia đình còn có thể vay đến 50 triệu đồng mà không cần tài sản bảo đảm để chăn nuôi gia súc với thời hạn vay tối đa 10 năm. Mức lãi suất áp dụng chung là 1,2%/năm.
Có thể thấy, sau 1 năm triển khai, Nghị định 75 với những cơ chế hỗ trợ mới đã và sẽ góp phần khuyến khích hộ gia đình nghèo tham gia nhận giao rừng, khoán bảo vệ và phát triển rừng, cải thiện sinh kế, giảm áp lực lên rừng.  (Đại Biểu Nhân Dân 29/12) đầu trang(
Từ năm 2004 - 2014, thục hiện chú trương sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 20 của Bộ Chính trị Khóa IX và tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, các nông lâm trường đã được sắp xếp lại thành các công ty nông lâm nghiệp, đã rà soát trên số sách, bản đồ về đất đai, tài sản trên đất, lập quy hoạch sử dụng đất gắn vói phương án sản xuất và kinh doanh.
Tính đến đầu tháng 1/2016, tổng số công ty nông lâm nghiệp thuộc đối tượng sắp xếp có 254 công ty, trong đó 120 công ty nông nghiệp, 134 công ty lâm nghiệp.
Tuy nhiên, tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, chuyển nhượng đất bất hợp pháp có dấu hiệu ngày các tăng, đến nay vẫn còn gần 150 nghìn ha đất tranh tranh chấp, lấn chiếm. Đặc biệt, hiệu quả sử dụng đất của các nông lâm trường thấp, thất thu tiền sử dụng đất, thuê đất, nhiều nơi chưa hoàn thành việc này; còn hơn 400 nghìn ha sử dụng vào mục đích khác, để hoang hóa. Hơn 60% công ty với khoảng 88% diện tích không làm thủ tục giao đất có thu tiền hoặc thuê đất theo quy định của Luật Đất đai.
Hiện các công ty nòng lâm nghiệp còn nợ 51% tiền sử dụng đất và 20% tiền thuê đất. Nguyên nhân chính là do nhiều công ty, kể cả các công ty đã cố phần hóa chưa thực hiện rà soát thực địa, chưa hoàn chỉnh được hồ sơ để làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp mới, cấp đổi GCN theo quy định. Ngoài các công ty cao su, cà phê, chăn nuôi gia súc thì nhiều công ty còn lại chưa tổ chức quản lý, sử dụng đất sản xuất kém hiệu quả, để hoang hóa...
Đồng thời, công tác cấp GCN cho các nông lâm trường còn chậm, việc bàn giao đất cho các địa phương quản lý chậm, còn thấp so với nhu cầu hiệu quả chưa cao; việc thu hồi đất của các nông lâm trường sau khi sắp xếp chậm, dẫn tới tình trạng đất “vô chủ” kéo dài, làm tăng tình trạng lấn chiếm trái phép. Để chấn chỉnh những tồn tại trên, năm 2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 112 ngày 27/11/2015 về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng. Sau đó, đầu năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị về thực hiện Nghị quyết này.
Theo thống kê của Tổng cục Quản lý đai, cả nước có 39 địa phương phải thực hiện dự án xác định, cắm mốc ranh giới, đo vẽ lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ ranh giới, xây dựng phương án sử dụng đất, cấp GCN cho các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện sắp xếp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP. Đã có 27 tỉnh đã phê duyệt và đang tổ chức thực hiện Thiết kế kỹ thuật - Dự toán; 9 tỉnh đang hoàn thiện Thiết kế kỹ thuật - Dự toán trình ủy ban phê duyệt; 3 tỉnh chưa lập Thiết kế kỹ thuật - Dự toán là Vĩnh Phúc, Đồng Nai và Hà Nội. Riêng TP. Hà Nội và Vĩnh Phúc đã và đang thực hiện theo các chương trình đo vẽ bản đồ đất nông lâm trường trước đây.
Đến nay, 10 tỉnh đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ xác định ranh giới sử dụng đất của các công ty nông, lâm nghiệp; 7 tỉnh đã cơ bản hoàn thành cắm mốc ranh giới gồm, 3 tỉnh đã cơ bản hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính. Tổng cục đã có văn bản số 608 ngày 9/5/2016 để chỉ đạo, đôn đốc các địa phương báo cáo kết quả triển khai và tập trung tổ chức thực hiện công việc này.
Tổng cục Quản lý đất đai cho biết, trong thời gian tới, Tổng cục sẽ tiếp tục chỉ đạo các địa phương thực hiện hoàn thành nhiệm vụ rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc giới, đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ ranh giới sử dụng đất; thực hiện thủ tục cho thuê đất, xác định giá đất, thu tiền thuê đất, cấp GCN đối với các công ty nông, lâm nghiệp theo Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 4/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời chỉ đạo các địa phương tổ chức thực hiện tốt Đề án tăng cường công tác quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/12) đầu trang(
Dó là ý kiến của ông Phan Mậu Tài, Giám đốc Quỹ Phát triển nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), ông Tài cho rằng, giải pháp cốt lõi để giải “bài toán” nghèo đói là cần bảo đảm đủ đất sản xuất cho người dân.
Để thúc đẩy việc giao đất lâm nghiệp, chính quyền các dịa phương cần chủ động rà soát lại diện tích đất để xuất thu hồi, xậy dựng phương án giao đất đồng thời vận động tích cực, thường xuyên để người dân tổ chúc sản xuất trên diện tích đã có và hạn chế việc mua bán, chuyển nhuợng đất rừng.
Trường Sơn là xã biên giới của huyện Quảng Ninh (Quảng Binh) có 20 thôn, bản với dân số hơn một nghìn hộ, và hơn 4.300 nhân khẩu. Trong tổng số gần 77.500 ha đất tự nhiên, xã Trường Sơn chỉ có hơn 100 ha đất sản xuất, còn lại phần lớn là đất rừng phòng hộ và đất lâm nghiệp do Công ty Lâm công nghiệp Long Đại và các Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý. Theo kế hoạch giao đất, giao rừng của UBND tỉnh Quảng Bình, xã Trường Sơn sẽ được nhận hơn 3.800 ha đất rừng sau khi các đơn vị trên bóc tách, chuyển sang. Tuy nhiên, đến giữa tháng 6/2016, xã Trường Sơn mới nhận được hơn 360 ha đất rừng. Nếu đưa số diện tích đất lâm nghiệp đã nhận được chia cho số hộ trong xã thì chưa đủ.
Còn xã rẻo cao Kim Thủy (huyện Lệ Thủy) có diện tích 48 nghìn ha nhưng gần như toàn bộ là đất của các lâm trường và Ban quản lý rừng phòng hộ. Thực tế, xã chỉ quản lý 4.000 ha, nhưng hơn một nửa diện tích bị người dân các xã lân cận xâm canh.
Chủ tịch UBND xã Kim Thủy Hồ Văn Tuyên cho biết: Thực hiện quyết định của UBND tỉnh Quảng Bình, Công ty Lâm công nghiệp Long Đại đã 3 lần cắt, giao cho xã Kim Thủy gần 200 ha đất rừng để chia cho người dân, song đến nay vẫn chưa giao được mét vuông nào do vướng mắc nhiều chỗ. Cụ thể, lần thứ nhất, Công ty cắt hơn 100 ha đất ngay phía sau trụ sở xã để giao cho dân nhưng do trước đó đất được cán bộ dưới xuôi mượn, thuê, nhận khoán thời hạn đến 45 năm, nên họ không chịu trả lại vì chưa hết thời hạn cho nên việc giao nhận mới chỉ trên giấy.
Lần thứ hai, Công ty bóc tách 7 ha giao cho người dân 3 bản gần biên giới nhưng cũng không giao được. Nguyên nhân trước đây vùng đất này được thiết kế trồng cao-su, nhưng do lùm xùm về thủ tục chuyển đổi nên Hạt Kiểm lâm huyện Kim Thủy chưa ký. Lần gần đây, Công ty Long Đại tiếp tục cắt chuyển cho xã 90 ha nhưng khi giao người dân không nhận do quá xa khu dân cư, địa hình phức tạp.
Cũng theo ông Tuyên, xã Kim Thủy có hơn 1.000 hộ dân, hơn 4.000 nhân khẩu, trong đó có 180 hộ không có đất sản xuất nên đời sống gặp nhiều khó khăn. Cũng do thiếu đất sản xuất, nhiều lao động chính ở Kim Thủy phải vào rừng săn bắn và khai thác lâm sản trái phép. Do vậy, áp lực bảo vệ rừng trước sự mưu sinh của bà son là rất lớn và ngày càng phức tạp...
Theo báo cáo của sở TN&MT tỉnh Quảng Bình, từ năm 2012 dến nay, sở đã trình UBND tỉnh thu hồi hơn 8.300 ha đất của các nông lâm trường giao về địa phương quản lý và xét giao đất sản xuất ổn định lâu dài cho các hộ dân thiếu đất sản xuất. Tuy vậy, việc giao đất trên thực địa khó khăn gấp nhiều lần so với giao trên hồ sơ. Do vậy, đến nay, sác địa phương trong tỉnh Quảng Bình chỉ giao được hơn 2.800 ha dất cho các hộ dân, bằng 1/3 số diện tích đất thu hồi. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/12) đầu trang(
“Tổng diện tích rừng được thiết lập trên 12.000 ha, vượt kế hoạch ban đầu trên 3.500 ha, đạt 141,7% so với kế hoạch, góp phần nâng cao độ che phủ rừng, đảm bảo đa dạng sinh học và nâng cao cuộc sống người dân” đó là những kết quả nội bật được đưa ra tại Hội nghị tổng kết Dự án phát triển lâm nghiệp tỉnh Sơn La giai đọan 2007- 2016 diễn ra tại huyện Mộc Châu. Đồng chí Lò Minh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban Điều hành KfW7 tỉnh Sơn La chủ trì hội nghị.
Với tổng mức đầu tư trên 180 tỷ đồng, dự án phát triển lâm nghiệp KfW7 được triển khai ở các huyện Bắc Yên, Phù Yên, Thuận Châu và Mộc Châu. Sau 9 năm triển khai dự án đã thu được nhiều kết quả tích cực, tổng diện tích rừng được thiết lập là trên 12.000 ha, trong đó trồng mới trên 4.200 ha, khoanh nuôi tái sinh trên 7.800 ha.
Qua đó, góp phần quan trọng vào việc nâng cao độ che phủ rừng, cải hiện môi trường, tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai dự án đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của các cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương.
Phát biểu tại hội nghị đồng chí Lò Minh Hùng đánh giá cao những nỗ lực của các cấp ủy chính quyền, các thành viên KfW7 Sơn La và các hộ dân trong quá trình triển khai dự án. Đồng thời đề nghị Ban quản lý dự án các cấp cần phối hợp chặt chẽ công tác quyết toán và bàn giao dự án theo kế hoạch đã phê duyệt; các hộ gia đình, cộng đồng bản và các chủ rừng tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng tốt những thành quả của dự án.
Thay mặt UBND tỉnh Sơn La, đồng chí Lò Minh Hùng cũng đề nghị Bộ NN&PTNT xem xét quan tâm bố chí cho tỉnh thêm nhiều dự án đầu tư trồng rừng, bảo vệ rừng để Sơn La thực hiện tốt các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu.
Nhân dịp này, UBND tỉnh tặng Bằng khen 8 tập thể và 11 cá nhân; Ban quản lý các dự án phát triển lâm nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT tỉnh đã tặng giấy khen các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong thực hiện dự án KfW7 giai đoạn 2007- 2016. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sơn La 28/12) đầu trang(
Năm 2016, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đã thu được hơn 1.000 tỷ đồng. Đây là nguồn lực rất quan trọng để thực hiện bảo vệ và phát triển rừng trong giai đoạn tới.
Theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), chính sách chi trả DVMTR hiện được các cấp chính quyền và người dân ủng hộ. Thông qua việc triển khai thực hiện DVMTR đã tạo nguồn thu cho các hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng, tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ rừng.
Đến ngày 10/12/2016, cả nước thu được hơn 1.218,2 tỷ đồng, đạt 92% kế hoạch, trong đó quỹ Trung ương thu được gần 852,1 tỷ đồng, đạt 90% kế hoạch; quỹ tỉnh thu được hơn 366,1 tỷ đồng, đạt 99% kế hoạch năm.
So với năm 2015, năm 2016, nguồn thu DVMTR giảm 109,5 tỷ đồng, nguồn thu của hệ thống quỹ phụ thuộc vào sản lượng điện của các nhà máy thủy điện. Do điều kiện thời tiết bất thường, hiện tượng El Nino kéo dài, lượng mưa ít hơn các năm trước nên một số nhà máy thủy điện không phát hết công suất theo kế hoạch.
Theo thống kê, có đến 12/45 nhà máy thủy điện không đủ nước để phát điện, điển hình là các nhà máy thủy điện: Hòa Bình, Buôn Koup, Yaly, đây là những nhà máy có công suất và tiền DVMTR rất lớn.
Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, đến nay, quỹ Trung ương đã giải ngân cho quỹ tỉnh là 623,25 tỷ đồng, đạt 73% số tiến đã thu và 66% kế hoạch năm 2016; quỹ tỉnh đã giải ngân tạm ứng tiền năm 2016 là 425 tỷ đồng cho chủ rừng, đạt 40,86% kế hoạch năm 2016.
Diện tích đã được nhận tiền DVMTR là 3,07 triệu ha rừng trên tổng số 5,617 triệu ha rừng được hưởng tiền DVMTR. Theo quy định, kỳ thanh toán tiền DVMTR năm 2016 kéo dài đến hết 30/4/2017. (Báo Chính Phủ 28/12; Tài Nguyên Và Môi Trường 29/12) đầu trang(
Sau hơn 5 năm triển khai thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực góp phần tăng tỷ lệ che phủ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn nước và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Đặc biệt, chính sách này mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân là chủ rừng, hộ nhận khoán bảo vệ rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Ông Phạm Văn Khiên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Từ khi triển khai thực hiện chích sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân trên địa bàn tỉnh đã có ý thức, trách nhiệm hơn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Nhờ đó, những năm qua, tình trạng cháy rừng, phá rừng làm nương và khai thác trái phép lâm sản giảm đáng kể, tỷ lệ che phủ rừng tăng qua các năm.
Trước đây, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng gặp rất nhiều khó khăn do ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng người dân còn hạn chế, vẫn còn tư tưởng trông chờ ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Tuy nhiên, sau khi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đi vào cuộc sống, ở đâu có rừng thì có chủ rừng, rừng được giao khoán đến từng cộng đồng thôn, bản, hộ gia đình.
Cuộc sống người dân gắn bó với rừng nên người dân đã tự giác, trách nhiệm hơn trong công tác bảo vệ rừng. Hiện nay, 100% thôn, bản trên địa bàn tỉnh đã xây dựng hương ước, quy ước và thành lập tổ bảo vệ rừng, thường xuyên tuần tra, kiểm soát rừng. Điều đó thể hiện trong năm 2016, tại các huyện: Mường Chà, Tuần Giáo và Mường Ảng xảy ra cháy rừng, hàng nghìn người dân các xã có rừng bị cháy và các xã lân cận cùng nhau dập lửa, chữa cháy. Nhờ đó, thiệt hại do cháy rừng giảm đáng kể, phần lớn diện tích rừng bị cháy đều có khả năng tự phục hồi trở lại.
Hiện nay, toàn tỉnh có 1.091 chủ rừng, trong đó: 2 chủ rừng là tổ chức; 613 chủ rừng là cộng đồng thôn, bản; 476 chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân. Tổng số hộ tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là 41.488 hộ với trên 393.000ha rừng được bảo vệ và chi trả dịch vụ môi trường rừng. 5 năm qua, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Mỗi năm, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả từ 2 - 3 triệu đồng/hộ. Một số chủ rừng là cộng đồng thôn, bản như: Tả Ló San (xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé) có mức chi trả 77 triệu đồng/hộ/năm; Thẩm Táng (xã Pú Xi, huyện Tuần Giáo) có mức chi trả 32 triệu đồng/hộ/năm… Nguồn thu nhập ổn định từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã góp phần nâng cao đời sống người dân, từng bước xóa đói giảm nghèo.
Ông Sùng A Dì, Trưởng bản Háng Cu Tâu, xã Trung Thu (huyện Tủa Chùa) cho biết: Những năm gần đây, bản được hưởng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nên ý thức bảo vệ rừng của bà con tốt hơn. Hiện nay, bản Háng Cu Tâu không còn tình trạng khai thác gỗ làm nhà, phá rừng làm nương như trước; nhiều năm liền bản không xảy ra cháy rừng. Tham gia bảo vệ rừng, mỗi hộ gia đình được Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh chi trả 1,5 - 2 triệu đồng/năm (tùy mức giá mỗi năm khác nhau). Số tiền này giúp bà con cải thiện cuộc sống và có thêm động lực giữ rừng.
Nậm Pồ là một trong những huyện điển hình trong công tác bảo vệ và phát triển rừng. Đến nay, huyện Nậm Pồ đã giao khoán cho 128 chủ rừng thuộc 15/15 xã (trong đó: 100 chủ rừng là cộng đồng; 26 hộ gia đình và 2 chủ rừng là tổ chức) với tổng diện tích 52.376ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Hạng Nhè Ly, Phó Chủ tịch UBND huyện Nậm Pồ cho biết: Nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ý thức bảo vệ rừng của người dân được nâng lên rõ rệt; công tác quản lý, bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến tích cực. 5 năm gần đây, nhiều hộ gia đình, chủ rừng không chỉ cam kết bảo vệ tốt diện tích rừng được giao mà còn đăng ký nhận khoanh nuôi thêm nhiều diện tích rừng mới, trồng rừng tại các khu vực đất trồng, diện tích nương kém hiệu quả. Đây là những hiệu quả thiết thực mà chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mang lại. (Báo Điện Biên Phủ 28/12) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh còn 3 đơn vị nợ tiền dịch vụ môi trường rừng, gồm: Công ty TNHH Thanh Bình, Công ty TNHH Hòa Bình, Công ty TNHH Nậm Tục 2.
Sau 5 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), không những rừng và chất lượng rừng đã được nâng lên mà đời sống của người dân vùng cao cũng được cải thiện rõ rệt.
5 năm qua, tổng số tiền DVMTR đã được bên sử dụng DVMTR chi trả ủy thác về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái là trên 168,2 tỷ đồng; diện tích rừng đã được bảo vệ bằng nguồn tiền DVMTR hàng năm 167.000 ha (chiếm gần 40% tổng diện tích rừng toàn tỉnh); có khoảng 17.500 hộ gia đình được nhận tiền DVMTR để cải thiện thu nhập và đời sống, đây là những hộ dân sống trong vùng rừng, phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số nghèo ở các huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải.
Tỉnh Yên Bái đã thực hiện 2/5 loại DVMTR là sản xuất kinh doanh thủy điện và nước sạch. Hầu hết các doanh nghiệp thủy điện, nước sạch đã nhận thức được nghĩa vụ và lợi ích của việc sử dụng và chi trả tiền DVMTR và đã thực hiện việc chi trả theo quy định.
Cùng với đó, các hộ được nhận tiền DVMTR đều nhận thức rõ nguồn kinh phí này được các doanh nghiệp có sử dụng DVMTR và lao động của họ thông qua bảo vệ rừng để duy trì nguồn nước cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Số tiền DVMTR mà hộ dân được chi trả đã góp phần cải thiện thu nhập, đầu tư mở rộng sản xuất, nuôi con cái ăn học, từng bước tạo sinh kế ổn định và nâng cao đời sống.
Tác động lớn nhất mà chính sách chi trả DVMTR mang lại chính là ý thức bảo vệ và phát triển rừng của người dân ngày càng được nâng cao; qua đó, góp phần quan trọng vào việc nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng với mục tiêu giữ vững hệ sinh thái rừng đầu nguồn nói riêng và rừng toàn tỉnh nói chung.
Mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song trong quá trình triển khai cũng bộc lộ một số khó khăn ảnh hưởng đến công tác thực thi chính sách như tình hình nợ đọng tiền DVMTR của một số đơn vị sử dụng DVMTR.
Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh còn 3 đơn vị nợ tiền DVMTR, gồm: Công ty TNHH Thanh Bình, Công ty TNHH Hòa Bình, Công ty TNHH Nậm Tục 2 với tổng số tiền gần 110 triệu đồng (chưa tính tiền quý IV năm 2015, quý III năm 2016 của 3 công ty do các đơn vị không kê khai số tiền phải nộp). Cụ thể, Công ty TNHH Thanh Bình (Nhà máy Thủy điện Hưng Khánh) nợ 59,7 triệu đồng; Công ty TNHH Hòa Bình, Công ty TNHH Nậm Tục 2 (Nhà máy Thủy điện Nậm Tục 2) nợ 50,23 triệu đồng tiền quý I và II năm 2016.
Ông Kiều Tư Giang - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái cho biết: “3 đơn vị này đã vi phạm quy định về thực hiện Chính sách chi trả DVMTR, chiếm dụng tiền trái quy định. Đặc biệt, Công ty TNHH Nậm Tục 2 đã không ký hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR với Quỹ mặc dù đã nhiều lần Quỹ làm việc yêu cầu chuyển nộp tiền theo quy định và hợp đồng đã ký”.
Ngày 16/12/2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Yên Bái đã có Công văn số 38/QBV&PTR-BĐH gửi Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh báo cáo và đề nghị thanh tra việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR của 3 công ty này và xử lý theo Nghị định số 40/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ.
Để bảo đảm quyền lợi cho các chủ rừng có diện tích rừng nằm trong lưu vực cung ứng DVMTR, các đơn vị cần thực hiện nộp phí DVMTR và thanh toán đầy đủ số tiền nợ về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh để Quỹ chi trả cho các chủ rừng mà đơn vị sử dụng DVMTR.
Theo Nghị định số 40/2015/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 20/6/2015, người sử dụng DVMTR không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ bị xử phạt từ 500.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có đơn vị nào bị xử phạt. Thiết nghĩ, nếu các doanh nghiệp cố tình chây ỳ không nộp để nợ đọng kéo dài thì các cơ quan chức năng cần có biện pháp đủ mạnh xử lý theo đúng pháp luật. (Báo Yên Bái 29/12) đầu trang(
Thời gian qua, nhiều nông dân ở Tây Nguyên đã chặt bỏ cây cà phê, cao su để trồng cây sachi. Kết cục, bà con ăn phải trái đắng
Trong những ngày qua, nhiều nông dân ở các huyện Đắk Đoa, Mang Yang, Phú Thiện… của tỉnh Gia Lai rất hoang mang, đứng ngồi không yên vì lỡ chặt bỏ cây cao su, cà phê để trồng sachi nhưng đến lúc thu hoạch không tiêu thụ được.
Vì được giới thiệu cây sachi là “vua của các loại hạt”, dễ dàng làm giàu nhờ giá cao nên gia đình ông Đinh - làng T’leo, xã K’dang, huyện Đắk Đoa - không ngần ngại phá bỏ 5 sào cà phê tươi tốt để chuyển qua trồng sachi. Sau 3 tháng trồng, vườn sachi của ông Đinh cũng cho quả. Cứ thấy quả nào đổi màu, nghĩ là chín nên ông hái về.
Tuy nhiên, càng thu hoạch, ông Đinh càng lo vì chẳng thấy ai tới mua. “Tôi nghe người ta nói cây này cho hạt bán giá cao lắm nên mua về trồng. Trong thôn cũng có 8 hộ trồng sachi, giờ không biết bán ra sao” - ông Đinh lo lắng.
Cũng từ tin đồn sachi là cây trồng siêu lợi nhuận, gia đình chị Amah - xã Đắk Djrăng, huyện Mang Yang - đã bỏ tiền để mua 1 kg hạt về trồng. Chị tự ươm trồng được 300 cây xen lẫn với vườn cà phê. Đã 7 tháng trôi qua, số cây sachi đã cho quả nhưng chị hoàn toàn không biết đến kỳ thu hoạch được chưa.
“Lúc đó, tôi chỉ nghe giá bán 1 kg hạt là 800.000 đồng, cao gấp mấy lần hạt tiêu và cà phê nên mua về trồng thử. Giờ chẳng biết thu hoạch được chưa mà cũng chẳng dám hái vì đâu có ai mua. May là tôi chưa phá vườn cà phê để trồng sachi như nhiều gia đình khác” - chị Amah thất vọng.
Dẫn chúng tôi vào một nhà dân trồng sachi, ông Vốt - trưởng thôn Brếp, xã Đắk Djrăng - cho biết trong thôn có 20 hộ trồng cây này. Nhà ông Vốt cũng trồng 60 cây sachi và đang phát triển tươi tốt. “Nông dân trồng sachi đa phần xen trong rẫy cà phê, tiêu. Có hộ phá cao su, cà phê để trồng nhưng nằm rải rác nên chưa thống kê được đầy đủ” - ông nói.
Ông Vốt cũng thừa nhận ông và người dân trồng sachi theo phong trào chứ hoàn toàn không biết kỹ thuật canh tác, chăm sóc, lúc nào thì thu hoạch, bán buôn ra sao. Hầu hết những người dân khi được hỏi đều trả lời như ông Vốt.
Theo nhiều người dân xã Chư A Thai, huyện Phú Thiện, cách đây mấy tháng, cán bộ xã đến từng gia đình vận động bà con tham dự hội thảo về giống cây sachi. Hội thảo do Công ty TNHH Hoàng Ninh Xứ Nghệ (gọi tắt là Công ty Hoàng Ninh Xứ Nghệ; địa chỉ số 1 ngõ 75, Tân Triều, Kim Giang, Thanh Xuân, Hà Nội) tổ chức nhằm tìm đối tác và phát triển thị trường sachi.
Theo nhiều người dân, tại các hội thảo, một người xưng tên là Nguyễn Hoàng Linh, Giám đốc Công ty Hoàng Ninh Xứ Nghệ, ra rả quảng cáo, nào là sachi - “vua của các loạt hạt”; nào là dễ trồng, thích hợp với mọi điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Khi hợp tác với công ty, bà con sẽ được hỗ trợ 50% chi phí (50% còn lại sẽ thu khi thu hoạch sản phẩm). Phía công ty sẽ tận tình hướng dẫn người dân kỹ thuật chăm sóc tới khi thu hoạch. Tuy nhiên, sau khi người dân trồng thì cây không phát triển hoặc thu hoạch được thì không ai mua.
Ông Trần Văn Nguyên, Chủ tịch Hội Nông dân xã Chư A Thai, thừa nhận sau khi được ông Linh giới thiệu về cây sachi và đề nghị mượn hội trường UBND xã để tổ chức hội thảo, đích thân ông đã đến từng gia đình vận động bà con tham gia. “Trước mặt hàng trăm bà con, ông Linh cam đoan cây sachi thích hợp với mọi điều kiện thổ nhưỡng, nhanh cho thu hoạch và thời gian khai thác kéo dài, công ty sẽ bao tiêu sản phẩm đầu ra… Ông Linh còn đặt một biển hiệu quảng bá hình ảnh dự án sẽ triển khai 1.000 ha sachi trên địa bàn huyện Phú Thiện” - ông Nguyên cho biết.
Vị đại diện Hội Nông dân xã này nhận lỗi chủ quan, không kiểm tra kỹ càng Công ty Hoàng Ninh Xứ Nghệ và “xin rút kinh nghiệm lần sau”.
Ông Mai Ngọc Quý, Phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phú Thiện, cho biết UBND huyện đồng ý cho Công ty Hoàng Ninh Xứ Nghệ trồng khảo nghiệm sachi trên địa bàn, nếu thành công mới được phép tiến hành các thủ tục xin phép đầu tư theo quy trình.
“Thực tế, ông Linh cho trồng khảo nghiệm không đúng như cam kết, sử dụng giống không rõ nguồn gốc. Chúng tôi đã lập biên bản, yêu cầu ông Linh giữ nguyên hiện trạng vườn ươm, không được phân phối ra thị trường nhưng ông ta vẫn ngang nhiên rao bán, cung cấp cây giống cho người dân. Tôi sẽ báo cáo cho UBND huyện để có biện pháp xử lý” - ông Quý khẳng định. Theo một lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Gia Lai, sachi chưa có trong quy hoạch cây trồng của địa phương. Ông cho rằng khi chưa rõ thị trường thì người dân không nên phát triển ồ ạt.
Sachi là loại thực vật thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae), có nguồn gốc từ vùng rừng Amazon, gồm 19 loài, phân bố chủ yếu ở Nam và Trung Mỹ. Hạt sachi chứa các omega 3, 6, 9 - chất có lợi cho sức khỏe con người. Tuy nhiên, cần có một đánh giá khoa học tổng thể về giống cây trồng mới này tại Việt Nam để tránh giẫm phải “vết xe đổ” cây mắc ca mới đây. (Người Lao Động 29/12) đầu trang(
Để thu hút đầu tư tư nhân vào rừng và lâm nghiệp, VCCI cho rằng, điều quan trọng nhất là bảo hộ quyền của các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào các hoạt động lâm nghiệp.
Chỉ khi nào người dân và DN tin tưởng vững chắc rằng mình có đủ các quyền của chủ tài sản đối với rừng thì họ mới yên tâm bỏ vốn và công sức đầu tư. Tại văn bản góp ý Dự thảo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng sửa đổi, do Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn ký đã nhận định, mấu chốt của việc bảo hộ quyền của chủ sở hữu tập trung vào 3 vấn đề. Thứ nhất là điều kiện và thời hạn để bỏ vốn đầu tư vào lâm nghiệp. Tiếp đến là các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản là rừng. Cuối cùng là các trường hợp thu hồi rừng.
Muốn làm được điều này đòi hỏi các quy định cụ thể của đạo luât này phải được xây dựng theo hướng ghi nhận vững chắc quyền của chủ rừng và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào các quyết định của chủ rừng.
Theo Điều 5 của Dự thảo Luật quy định về sở hữu rừng với 3 hình thức là sở hữu nhà nước, sở hữu riêng và sở hữu chung. Theo quan điểm của VCCI, việc quy định rừng tự nhiên (kể cả nguyên sinh và thứ sinh) đều thuộc sở hữu Nhà nước là hợp lý, phù hợp với Hiến pháp. Tuy nhiên, cần thống nhất cách hiểu quy định này, theo đó, đây chỉ là quy định nhằm xác lập quyền sở hữu ban đầu đối với rừng chưa có chủ.
Giả sử rừng tự nhiên đã được Nhà nước xác lập quyền sở hữu, sau đó Nhà nước chuyển giao quyền sở hữu đó cho cá nhân, tổ chức khác thì rừng đó chuyển thành sở hữu tư nhân. Cá nhân, tổ chức này có toàn quyền của chủ sở hữu tương tự như rừng trồng, chứ không có bất kỳ hạn chế nào vì lý do đó là rừng có nguồn gốc tự nhiên.
Cách tiếp cận này cũng tương tự như các tài nguyên khác như khoáng sản, tài nguyên nước. Đối với khoáng sản, khi còn ở trong lòng đất thì thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng khi Nhà nước đã cấp phép và doanh nghiệp khai thác thì chuyển thành sở hữu của doanh nghiệp. Nước thiên nhiên thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng khi Nhà nước đã cấp phép và doanh nghiệp đã đóng chai, bán nước đó thì thuộc sở hữu của doanh nghiệp.
Ngoài ra, Điều 5 của Dự thảo hiện vẫn đang giao Chính phủ quy định chi tiết hơn về các hình thức sở hữu rừng. Theo VCCI, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng của đạo luật này, liên quan đến quyền sở hữu của người dân và doanh nghiệp, nên cần được quy định luôn trong Luật. Nhà đầu tư sẽ yên tâm bỏ vốn hơn khi biết rằng quyền của mình được bảo vệ bởi Luật, văn bản khó bị thay đổi, điều chỉnh hơn so với Nghị định.
Tại Điều 7 của Dự thảo cũng giao Chính phủ quy định chi tiết về quy chế quản lý rừng. Trong khi, quy chế quản lý rừng là một trong những nội dung rất quan trọng mà người dân và doanh nghiệp quan tâm. Bởi vì, nó quy định những gì chủ rừng được làm và không được làm đối với tài sản của mình. Do đó, chủ rừng sẽ rất lo ngại nếu một văn bản quy định về nội dung và trình tự thực hiện quyền tài sản của mình lại được thể hiện trong một văn bản dưới Luật và có nguy cơ bị điều chỉnh thường xuyên.
Hơn nữa, rất nhiều nội dung quy định về việc bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng đã được thể hiện ngay trong luật, nhưng thường đi kèm dòng chữ “theo quy chế quản lý rừng”. VCCI cho rằng, Điều này khiến cho các quyền của chủ sở hữu được ghi nhận trong Luật mới chỉ là “hư quyền” chưa thể thực hiện được ngay. Trong khi, người dân và doanh nghiệp muốn thấy rằng các quyền này phải được ghi nhận với tư cách “thực quyền” ngay trong luật. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 29/12) đầu trang(
Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã đặt ra mục tiêu thời gian tới phải nâng cao giá trị sản xuất và từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Trong bối cảnh khả năng cung cấp gỗ xẻ từ rừng tự nhiên đã cạn kiệt, nguồn nguyên liệu cho sản xuất đồ mộc xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào nguồn gỗ nhập thì trồng rừng gỗ lớn thay thế là một giải pháp quan trọng đang được ngành lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh.
Tuy nhiên, việc chọn loài cây trồng rừng gỗ lớn đang gặp nhiều khó khăn do các loài cây bản địa được đặt nhiều hy vọng, song tỉ lệ thành công thấp, thời gian một chu kỳ quá dài, chưa thực sự phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế đất nước hiện tại.
Vì vậy, đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp đã đặt ra mục tiêu thời gian tới phải nâng cao giá trị sản xuất và từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu.
Ở một chiều hướng khác, những năm gần đây ngành lâm nghiệp gần như là sự thống trị của các loài keo do có ưu điểm sinh trưởng nhanh, dễ gây trồng và đang được khuyến khích chuyển hóa từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn. Tuy nhiên, phần lớn gỗ rừng trồng các loài keo tai tượng, keo lai hiện nay có phẩm chất kém, thường chỉ đáp ứng các yêu cầu sản phẩm đồ gỗ chất lượng thấp.
Trong khi đó, keo lá tràm được đánh giá có tính chất gỗ vượt trội so với các loài keo tai tượng, keo lai lại rất được ưa chuộng để đóng đồ mộc và làm gỗ xây dựng nên triển vọng để trồng rừng gỗ lớn đang vô cùng tiềm năng.
Trước đây, keo lá tràm trồng từ hạt thường được đánh giá là sinh trưởng chậm, hình thân xấu. Nhưng hiện nay, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã tuyển chọn được nhiều dòng keo lá tràm có khả năng sinh trưởng rất nhanh, xấp xỉ với tốc độ sinh trưởng của keo tai tượng và keo lai, có khả năng tỉa cành tự nhiên tốt nên thân rất thẳng, ít mấu mắt, khuyết tật.
Theo Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) Trần Lâm Đồng, thực tế tại rừng keo lá tràm giống mới ở Vân Canh, Bình Định với mật độ 2.000 cây/ha mà keo 5 tuổi đã có đường kính trung bình 11,3cm, chiều cao 15,2m, năng suất bình quân đạt 21,8m3/ha/năm. Rừng trồng keo lá tràm 6 tuổi tại Bình Phước với mật độ 1.660 cây/ha có đường kính bình quân 13,2cm, chiều cao 17,1m và năng suất đạt 28,3m3/ha/năm. Hơn nữa, keo lá tràm có khả năng kháng bệnh tốt hơn nhiều so với keo tai tượng và keo lai nên tỷ lệ chết, hoặc khuyết tật gỗ hầu như không có.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã trồng khảo nghiệm thành công keo lá tràm giống mới ở các vùng Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Phước), Nam Trung Bộ (Bình Định) và Bắc Trung Bộ (Quảng Trị). Mặc dù chưa được khuyến cáo trồng ở các tỉnh phía Bắc, nhưng Viện cũng đã trồng khảo nghiệm ở Thanh Hóa và Quảng Ninh kết quả cho thấy ở tuổi 2 cây sinh trưởng tốt.
Ông Trần Lâm Đồng, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Lâm sinh chia sẻ, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng keo lá tràm cũng tương tự như trồng rừng keo tại tượng và keo lai. Mật độ trồng rừng khoảng 1.660 cây/ha. Khi trồng có thể bón lót 100 - 200kg phân NPK 5:10:3 và 300kg lân. Trên lập địa xấu có thể bón thêm 500kg phân hữu cơ vi sinh.
Hiện tại, giống keo lá tràm chủ yếu được sản xuất là giống nuôi cấy mô hoặc giâm hom. Đối với giống giâm hom, cần chú ý tỉa cành và tỉa thân chỉ để lại một thân chính trong thời gian khoảng 6 - 12 tháng sau khi trồng. Rừng trồng gỗ lớn cần được tỉa thưa để lại khoảng 1000 cây/ha ở khoảng tuổi 4 - 5 và có thể tỉa lần 2 ở tuổi 8 - 10 để lại khoảng 700 cây/ha cho đến khi khai thác chính.
Với những ưu điểm sinh trưởng nhanh, thân thẳng ít khuyết tật, tính chất gỗ tốt, dễ gây trồng, thích hợp biên độ sinh thái rộng, chịu được đất nghèo xấu, khả năng kháng bệnh tốt, có khả năng cố định đạm cải tạo đất, keo lá tràm là loài cây rất có triển vọng cho trồng rừng gỗ lớn tại Việt Nam hiện tại cũng như trong tương lai. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Phòng Kinh tế huyện Diên Khánh (Khánh Hòa), đến nay, huyện đã hoàn thành việc trồng 150.000 cây phân tán trong kế hoạch trồng rừng năm 2016. Bên cạnh đó, người dân cũng đã tiến hành trồng 20ha rừng sau khi khai thác.
Kế hoạch trồng rừng được triển khai từ đầu tháng 9 sau khi có những trận mưa đầu mùa. Các xã triển khai trồng cây phân tán gồm: Suối Tiên, Diên Tân, Diên Lâm, Diên Xuân, Diên Sơn, Diên Điền và Diên Toàn, đây là những xã có diện tích đất vùng đồi núi. Hiện nay, cây phát triển bình thường, tỷ lệ sống hơn 90%. Kinh phí hỗ trợ giống thực hiện trồng cây phân tán là 220 triệu đồng.
Hiện nay, việc trồng rừng tập trung tạm dừng là do người dân không đăng ký trồng rừng, phần lớn diện tích trồng rừng nằm ở khu vực có độ dốc cao, xa đường giao thông, các diện tích rừng trồng được người dân chuyển sang lập vườn với một số cây trồng hiệu quả như: xoài, mít, chuối, keo. Tổng diện tích trồng rừng tập trung giai đoạn 2011 - 2015 chỉ có 87ha. (Báo Khánh Hòa 28/12) đầu trang(
Trong năm 2016  Ban quản lý rừng An Biên – An Minh đã kết hợp với UBND các xã có rừng ven biển trên địa bàn 2 huyện tổ chức khảo sát, lập hồ sơ cho 14 hộ nhận khoán được nạo vét mương cũ để nuôi trồng thủy sản với diện tích 18,69 ha; 04 hộ gia cố bờ bao với diện tích 2,13 ha, 02 hộ khai thác tận thu rừng đước chết diện tích 4,25ha.
Để bảo vệ và phát triển tốt rừng phòng hộ ven biển. Trong những năm qua, khi thực hiện Quyết định số 25 của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang về trồng rừng, bảo vệ rừng và sử dụng rừng phòng hộ ven biển tỉnh Kiên Giang có 07 chương và 20 điều. Trong đó, có chương 3 và chương 4 có nội dung được quy định rõ: Về giao khoán, trồng rừng,chăm sóc rừng, quản lý bảo vệ rừng phòng hộ ven biển. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận khoán.
Được biết, từ khi thực hiện Quyết định này của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang tình hình trồng rừng, phát triển rừng cũng như công tác quản lý bảo vệ diện tích rừng phòng hộ ven biển được đảm bảo có hiệu quả. Đa số hộ dân nhận khoán rừng phòng hộ ven biển có điều kiện nuôi trồng thủy sản phát triển kinh tế gia đình trên diện tích được sử dụng theo quy định  của Quyết định là 30/70 % mạt nước và trồng rừng.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đã nẩy sinh một số bất cập như : tình trạng khai thác, nạo vét và trồng lại rừng, trồng đủ diện tích 70% rừng của 1 số hộ nhận khoán lai không thực hiện đúng theo Quyết định.
Trao đổi với P/v Báo TN&MT, ông Lê Tuấn Kiệt - Hạt Trưởng Hạt Kiểm lâm An Biên – An Minh đã cho biết một số tình hình không thực hiện theo quyết định UBND tinh của 1 số hộ nhận khoán như sau: “ Trong quá trình thực hiện nhận khoán trồng rừng thì có một số hộ san ủi ban bờ ao nuôi tôm, không chú trộn trồng rừng nên chưa đạt số diện tích rừng giao khoán. Việc giao khoán và phân bổ kinh phí,cây giống kế hoạch trồng thì do Ban quản lý rừng, còn lực lượng kiểm lâm chỉ kiểm tra khi đã phát triển thành rừng nên không nắm được số hộ dân và dienj tích phải trồng. Trong thời gian tới lực lượng Kiểm lâm sẽ phối hợp với Ban quản lý rừng và chính quyền các xã có rừng kiểm tra dối các hộ không thực hiện trồng rừng chúng tôi sẽ kiên quyết xử lý theo quy định” ông Kiệt cho biết.
Thực hiện dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ ven biển giai đoạn 2016 – 2020, Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn giao chỉ tiêu cho Ban quản lý rừng An Biên – An Minh rà soát, phối hợp thiết kế trồng rừng, trồng rừng thay thế và chăm sóc rừng, tổng số 306,72ha.
Còn ông Nguyễn Thanh Linh-Phó Giám Đốc Ban quản lý rừng An Biên – An Minh thì cho biết : “ Để thực hiện hiệu quả các dự án trồng rừng phòng hộ ven biển thích ứng Biến đổi Khí hậu hiện đang gặp rát nhiều khó khăn theo 70% như kế hoạch đề ra năm 2016. Mặc dù đã có kinh phí hỗ trợ cho người dân như ban bờ, trái giống và cả nhân công nhưng người dân vẫn không chịu trồng rừng” ông Linh nói.
Theo đó, để thực hiện hoàn thành kế hoạch trồng rừng thích ứng Biến đòi Khí hậu ở Khu vực đang diễn ra sạt lở nghiêm trộng tại An Biên-An Minh thiết nghĩ cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban quản lý, Hạt Kiểm lâm liên huyện An Biên – An Minh và Ủy Ban Nhân Dân các xã có rừng trên địa bàn quản lý để công tác phòng chống chặt phá rừng, đào bới đất rừng trái phép ngày càng giảm; ý thức bảo vệ rừng được nâng lên trong đại bộ phận các hộ nhận khoán và các tổ quản lý bảo vệ rừng được đảm bảo căn bản bền vững hơn. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/12) đầu trang(
Gần đây, gỗ cao su được các doanh nghiệp (DN) Trung Quốc thu mua với số lượng lớn. Trước thực trạng này, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ trong nước lo thiếu nguồn cung cho sản xuất.
Ông Đỗ Xuân Lập - Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định - chia sẻ: Theo phản ánh của các DN sản xuất và chế biến gỗ, thời gian qua, các DN Trung Quốc đã hình thành hệ thống nhà máy và cơ sở thu mua nguyên liệu gỗ ở hầu khắp các vùng nguyên liệu gỗ cao su và gỗ keo tràm, đặc biệt là tại Tây Nguyên. Thực tế này tạo sức ép rất lớn, thậm chí là nguy cơ thiếu nghiêm trọng gỗ nguyên liệu.
“Nhiều DN sản xuất gỗ trong nước cho biết 90% lượng nguyên liệu gỗ cao su tại Tây Nguyên đã bị các DN Trung Quốc mua hết. Họ “chốt” xưởng xẻ tại địa phương, thuê người dân địa phương gom hàng, trả trước tiền mặt. Từ tháng 9 đến 11/2016, gỗ cao su tăng 20- 30% và đang tiếp tục tăng. Điều này khiến các DN trong nước chỉ có cơ hội mua cành, ngọn và gốc cao su”, ông Đỗ Xuân Lập nhấn manh.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, Trung Quốc - cấm khai thác rừng tự nhiên bắt đầu từ tháng 4/2015 ở vùng Đông Bắc và Nội Mông. Dự kiến năm 2017 sẽ đóng cửa rừng tự nhiên của 14 tỉnh phía Bắc của Trung Quốc. Để bù đắp nguồn cung trong nước bị thiếu hụt, Trung Quốc sẽ tăng cường nhập khẩu gỗ ở các nước khác, trong đó có Việt Nam.
Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, DN Trung Quốc mua gỗ cao su nguyên liệu không phải để sản xuất mà gom hàng, chờ bán với giá cao.
Nhiều DN chế biến gỗ phía Nam như đang ngồi trên “đống lửa” vì nguồn cung nguyên liệu gỗ cao su ngày càng thu hẹp. Ông Bùi Như Việt - Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ Bình Dương - cho rằng, cần có chính sách khuyến khích nhằm tăng sản lượng rừng trồng và hạn chế XK gỗ nguyên liệu để bảo đảm nguồn cung cho chế biến gỗ trong nước.
Theo ông Tô Xuân Phúc - Tổ chức Forest Trend - ngành Gỗ Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề cạnh tranh về nguồn cung gỗ nguyên liệu. Để hạn chế các tác động tiêu cực đối với ngành Gỗ, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các cơ quan quản lý, các hiệp hội gỗ và DN.
Trong đó, tập trung vào vấn đề tạo sự ổn định và duy trì bền vững nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là nguồn cung trong nước đối với gỗ rừng trồng, gỗ cao su. Thêm nữa, nhanh chóng tiếp cận với các nguồn thông tin về đầu tư của DN gỗ Trung Quốc tại Việt Nam gần đây. Từ đó, phân tích nguyên nhân, động thái và đưa ra giải pháp phù hợp với luật pháp Việt Nam và cam kết quốc tế. (Công Thương 29/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Các chuyên gia về động vật hoang dã cảnh báo loài báo đốm đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng khi số lượng cá thể trên toàn cầu hiện nay chỉ còn hơn 7.000 con.
Hiệp hội Động vật học London (ZSL) đang kêu gọi đưa báo đốm, động vật trên đất liền nhanh nhất thế giới, vào nhóm nguy cấp cùng với hổ và voi châu Á, sau khi ước tính số lượng loài này chỉ còn tổng cộng hơn 7.000 con, News.com.au hôm nay đưa tin. Kết quả nghiên cứu được công bố trên Kỷ yếu của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ.
Loài báo đốm có thể chạy với tốc độ 145 km/h khi săn mồi, nhanh hơn bất cứ loài nào khác trên mặt đất. Nhưng môi trường sống của chúng chỉ còn khoảng 9% so với trước đây do những hoạt động của con người, trong khi số lượng cá thể suy giảm mạnh vì bị mua bán trái phép để làm thú cảnh và bị săn bắn quá mức.
Nghiên cứu của ZSL, Hiệp hội Bảo tồn Động vật Hoang dã và tổ chức bảo tồn Panthera chỉ ra quần thể báo đốm châu Á đang chịu ảnh hưởng nhiều nhất với chưa đến 50 cá thể còn sót lại ở Iran và vài con phân bố rải rác ở Ấn Độ.
Hơn một nửa số báo đốm trên thế giới sống ở 6 quốc gia tại Nam Phi trên tổng diện tích gần 10.400 km2. Tuy nhiên, nhiều khu bảo tồn và những cơ sở bảo vệ khác được dựng lên để bảo tồn loài báo đốm lại có quy mô quá nhỏ để duy trì số lượng quần thể trong thời gian dài. Chỉ có khoảng 1/3 số báo đốm ngày nay sống trong những khu vực được bảo vệ.
"Phát hiện của chúng tôi cho thấy yêu cầu về không gian sinh sống lớn cùng một loạt mối đe dọa phức tạp mà loài vật này phải đối mặt trong môi trường hoang dã khiến chúng chắc chắn dễ tuyệt chủng hơn so với quan niệm trước đây", tiến sĩ Sarah Durant, tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. (VnExpress 28/12) đầu trang(
Theo Đài RFI, với sự khuyến khích ngang ngược, trái phép của chính quyền, trong một thời gian dài, ngư dân Trung Quốc đã tận diệt loài trai tượng khổng lồ, trong vùng Biển Đông mà nước này đang có tranh chấp chủ quyền với các nước láng giềng Đông Nam Á, khiến hệ sinh thái và đặc biệt là rạn san hô ở Biển Đông bị tàn phá nặng nề.
Trong bài viết có tiêu đề "Đổ xô đánh bắt 'ngà voi' của Biển Đông," nhật báo Le Monde cho biết trai tượng khổng lồ sống dưới đáy biển, có thể dài tới hơn 1m và nặng tới 200kg.
Ở Trung Quốc, trai tượng là một sản vật quý hiếm và được bán với giá rất cao. Thịt trai tượng được coi là đặc sản quý, còn vỏ trai tượng thì cũng được ưa chuộng vì nó vừa giống ngà voi, vừa giống đá cẩm thạch, với nhiều màu sắc. Người Trung Quốc gọi đó là "vàng trắng," hay "ngà voi biển."
Vỏ trai tượng được chạm khảm thành đồ trang sức, tác phẩm nghệ thuật như tượng Phật, tượng cá hay cả một đàn ngựa. Những tác phẩm nghệ thuật này được bán với giá vài nghìn euro cho du khách nước ngoài, hoặc cho khách hàng Trung Quốc giàu có. Hiện nay, tại Trung Quốc có tới vài trăm trang Internet bán đồ trang sức, tác phẩm nghệ thuật hay vật dụng làm từ vỏ trai tượng.
Tuy nhiên, Le Monde cho biết, hậu quả của việc tận diệt loài nhuyễn thể quý hiếm ở các đảo san hô và quần đảo Trường Sa là các rạn san hô bị tàn phá nghiệm trọng.
Trong phán quyết ngày 12/7 về vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc, Tòa Trọng tài ở La Haye (Hà Lan) đã chỉ rõ Trung Quốc đã có nhiều hoạt động gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ sinh thái Biển Đông, đặc biệt là các rạn san hô do các hoạt động đánh bắt trai tượng, san hô trái phép.
Trong một bức thư gửi Tòa Trọng tài, ông John McManus, chuyên gia sinh vật biển thuộc Đại học Miami, cho biết quy mô tàn phá hệ sinh thái Biển Đông đã vượt quá những gì ông đã từng chứng kiến trong suốt hơn 4 thập kỷ nghiên cứu. Hoạt động đánh bắt, tận diệt trai tượng khổng lồ đã diễn ra trên toàn quần đảo Trường Sa.
Giáo sư McManus cho biết ngư dân Trung Quốc đã thả chân vịt cỡ lớn xuống rặng san hô rồi cho thuyền đi vòng xung quanh. Các chân vịt này nghiền nát rặng san hô để ngư dân bắt các con trai tượng đang vùi mình trong cát phía dưới rặng san hô.
69 km2 san hô trên quần đảo Trường Sa đã bị phá hủy bởi phương pháp tận diệt này. Trong khi đây là một trong những rạn san hô có sự đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới, với hơn 400 loài san hô.
Nhưng ẩn sau câu chuyện về sinh thái còn là câu chuyện về địa chính trị. Việc săn bắt trai tượng không phải là một hoạt động mới của ngư dân Trung Quốc mà đã tồn tại từ nhiều thập kỷ. Nhưng nó chỉ chính thức bùng nổ vào năm 2012, khi Bắc Kinh tăng cường hoạt động trên quần đảo Trường Sa đang có tranh chấp chủ quyền. Vào thời điểm đó, ngư dân Trung Quốc đã được cho phép, thậm chí là được chính quyền khuyến khích tăng cường đánh bắt trai tượng với danh nghĩa là để "bảo vệ chủ quyền quốc gia." Nhiều ngư dân cho biết họ đã kiếm được cả một gia tài nhờ đánh bắt trai tượng.
Sau 4 năm ngang ngược cho phép ngư dân tận diệt trai tượng, vào năm 2015, Trung Quốc ra quy định mới. Theo đó, hoạt động đánh bắt và buôn bán trai tượng có giá trị trên 500.000 nhân dân tệ (69.000 euro) bị coi là phạm tội. (Vietnam + 29/12) đầu trang(
Ngày 27/12, phát biểu tại cuộc họp Hội đồng Nhà nước, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho rằng Nga là nhà tài trợ sinh thái nhất lớn thế giới.
Hãng tin Sputnik ngày 27/12 dẫn lời Tổng thống Nga Vladimir Putin phát biểu tại cuộc họp Hội đồng Nhà nước cho rằng Nga là nhà tài trợ sinh thái lớn nhất thế giới.
Ông Putin nói đến "tiềm năng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ của nước Nga".
"Đất nước chúng ta có các trữ lượng nước ngọt, diện tích rừng, tính đa dạng sinh học đồ sộ và đóng vai trò là nhà tài trợ sinh thái cho cả thế giới, cung cấp cho nó gần 10% độ bền vững sinh quyển", nhà lãnh đạo Nga nói. (Doanh Nghiệp Việt Nam 27/12) đầu trang(
Tờ Shanghai Daily ngày 28.12 đưa tin lực lượng chức năng Trung Quốc vừa bắt giữ 3 người và thu giữ 3,1 tấn vảy tê tê trong vụ buôn lậu sản phẩm động vật lớn nhất từ trước đến nay tại nước này.
Theo hải quan Thượng Hải, 101 bao tải chứa đầy vảy tê tê được giấu trong một container với giấy tờ ngụy trang là gỗ nhập từ châu Phi.
Giới chức ước tính có khoảng 5.000 - 7.500 con tê tê bị giết để lấy số vảy khổng lồ trị giá hơn 2 triệu USD. Theo Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), tê tê nằm trong danh sách các loài động vật đang bị đe dọa tuyệt chủng.
Shanghai Daily dẫn lời các chuyên gia thuộc Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) cho biết nhiều người tin rằng vảy tê tê có công dụng giúp phụ nữ tạo nhiều sữa sau khi sinh, dù không có bằng chứng khoa học nào chứng minh.
Tổ chức Bảo tồn WWF cũng cảnh báo tê tê là một trong những động vật bị buôn lậu nhiều nhất ở châu Á và tình trạng này đang gia tăng tại châu Phi. (Thanh Niên 29/12) đầu trang(./.