Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 11 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Ngày 29.11, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam bắt đầu chuyến thăm cấp nhà nước tới Cộng hòa Liên bang Myanmar, theo lời mời của Tổng thống Myanmar U Thein Sein.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, trong đó có tổ chức hội chợ, triển lãm tại hai nước nhằm giới thiệu sản phẩm của nhau, phấn đấu đưa kim ngạch thương mại đạt mức 500 triệu USD vào năm 2015.
Hai nhà lãnh đạo cũng cho rằng hai bên cần tăng cường và mở rộng hơn nữa hợp tác trong nhiều lĩnh vực, cụ thể khác như nông - lâm - ngư nghiệp, cây công nghiệp, viễn thông, dầu khí, khai khoáng, giao thông - vận tải, lao động, văn hóa - thể thao - du lịch...; nhất trí giao các bộ, ngành hữu quan xúc tiến đàm phán, sớm ký kết một số thỏa thuận khác nhằm tạo cơ sở pháp lý thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn nữa trên các lĩnh vực. (Thanh Niên 30/11; Nông Thôn Ngày Nay 30/11)đầu trang(
Quảng Trị là tỉnh đầu tiên ở miền Trung triển khai thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) cho những người cung ứng dịch vụ là các chủ rừng và các hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng.
Ông Hoàng Đức Doanh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị kiêm GĐ Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng của tỉnh cùng Cty Thủy điện Quảng Trị vừa ký hợp đồng ủy thác chi trả DVMTR năm 2011 - 2012.
Theo đó, Cty Thủy điện Quảng Trị thống nhất ủy thác cho Quỹ Bảo vệ & phát triển rừng Quảng Trị chi trả tiền cho các đối tượng cung ứng dịch vụ môi trường rừng cho các loại hình dịch vụ cung ứng, gồm bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối để điều tiết và duy trì nguồn nước cho SX thủy điện.
Ông Thái Vĩnh Quốc, PGĐ Cty Thủy điện Quảng Trị cho biết số tiền mà Cty chi trả DVMTR năm 2011 là 5,839 tỷ đồng, năm 2012 dự kiến gần 6 tỷ. Phí chi trả được các cơ sở SX thủy điện tính trả 20 đồng/kWh điện thương phẩm.
Với việc thực hiện nhiệm vụ này, Cty Thủy điện Quảng Trị là doanh nghiệp đầu tiên của Quảng Trị thực hiện việc chi trả phí cho chủ rừng và các hộ nhận khoán rừng. Quỹ BV&PTR có nhiệm phối hợp với các địa phương, các hộ, đơn vị chủ rừng tổ chức nghiệm thu và thực hiện chi trả đầy đủ cho đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Văn Bài, GĐ Sở NN-PTNT Quảng Trị, Phó trưởng BCĐ thực hiện NĐ 99/2010 của tỉnh, tham dự buổi ký kết cho biết, sau khi Chính phủ ban hành NĐ số 99 về chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Quảng Trị đã nhanh chóng triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, trong đó bao gồm việc thành lập BCĐ thực hiện chính sách chi trả DVMTR, thành lập Quỹ BV&PTR, Hội đồng quản lý Quỹ BV&PTR... Tổ kỹ thuật của quỹ đã tiến hành xây dựng quy chế hoạt động, xác định phạm vi ranh giới, diện tích, hiện trạng rừng và đất các khu rừng có cung ứng DVMTR, điều tra xác định sản lượng điện thương phẩm của các đơn vị sử dụng dịch vụ.
Theo ông Hoàng Đức Doanh, Quỹ BV&PTR hình thành chủ yếu từ sự chi trả của các đơn vị hưởng lợi từ tài nguyên rừng, từ việc khai thác du lịch, thủy điện, khai thác nước sinh hoạt. Bên cạnh đó, Quảng Trị đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến rộng rãi chính sách chi trả DVMTR đến các DN, cơ sở sử dụng dịch vụ, tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ kỹ thuật có liên quan đến công tác thực hiện chính sách này.
Thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không những bước đầu chi trả hợp lý công lao động cho các đối tượng nhận quản lý rừng mà còn giảm chi phí đầu tư từ ngân sách nhà nước cho công tác quản lý, bảo vệ rừng cũng như đầu tư cho công tác trồng rừng...
Ông Bài nhấn mạnh: Công trình thủy lợi - thủy điện Rào Quán, nơi SX điện cho Cty Thủy điện Quảng Trị có cùng lúc hai chức năng là thủy lợi và thủy điện. Việc Cty chủ động thực hiện chi trả DVMTR rất có ý nghĩa. Phía Cty đã xác định rõ trách nhiệm của mình, không những SX điện hòa vào lưới điện quốc gia mà còn phục vụ tốt cho SX nông nghiệp. Trong 5 năm qua kể từ khi đi vào hoạt động, Cty chưa để xảy ra tình trạng lũ chồng lũ.
Hiện tại, khu rừng bảo vệ công trình thủy lợi - thủy điện Rào Quán thuộc BQL Rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đăk Rông quản lý. Ông Trần Văn Tý, GĐ ban cho biết: Hiệu ứng của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR không những từng bước nâng cao ý thức trách nhiệm của chủ rừng, nâng số hộ nhận khoán bảo vệ rừng, mà còn huy động được một nguồn nhân lực lớn cho công tác tuần tra bảo vệ rừng một cách thường xuyên. Từ đó đẩy mạnh công tác xã hội hóa nghề rừng, góp phần bảo đảm an sinh- trật tự xã hội được ổn định. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/11) đầu trang(
Theo báo cáo của lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp: Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng, điều kiện thuận lợi về sinh thái, đất đai, lao động và thị trường để phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
Cuối tháng 11-2012, sau khi dẫn chúng tôi đi thăm những cánh rừng sản xuất xanh tốt trên địa bàn các xã Xuân Thắng, Luận Thành, Xuân Lộc (Thường Xuân), đồng chí Lê Bá Thoa, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Đằn, cho biết: Từ năm 2008, ban đã tổ chức cho các hộ công nhân, nông dân nhận khoán đất lâm nghiệp trồng 324 ha rừng sản xuất, chủ yếu là keo tai tượng. Hiện nay, cây cao khoảng 15 m, đường kính từ 14-15 cm. Ban đã tư vấn cho các hộ để 7 năm nữa mới khai thác bán gỗ lớn thì giá trị kinh tế sẽ gấp khoảng 4-5 lần hiện tại.
Ông Lê Văn Tập (thôn Tiến Hưng II, xã Luận Thành), chủ của 20 ha keo được trồng từ năm 2007, phấn khởi cho biết: Gia đình ông đã đầu tư bình quân 15 triệu đồng cho 1 ha keo tai tượng. Vừa qua, tư thương đến “gạ” khai thác bán làm bột giấy với giá hơn 900.000 đồng/1 tấn. Theo tính toán của ông, lợi nhuận chưa trừ chi phí khoảng 70 triệu đồng/1 ha.
Từng có kinh nghiệm nhiều năm làm công nhân lâm nghiệp nên ông Tập nhẩm tính nhanh: 5 năm tới là giai đoạn rừng keo của gia đình tăng sinh khối nhanh (từ 80 m3/ha thời điểm hiện tại lên 200-250 m3/ha) và giá bán gỗ lớn tăng khoảng 3-4 lần, lợi nhuận (chưa trừ chi phí) khoảng 400-500 triệu đồng/ha, nên ông còn băn khoăn chưa muốn bán.
Theo báo cáo của lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp: Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng, điều kiện thuận lợi về sinh thái, đất đai, lao động và thị trường để phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn. Do nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điều kiện khí hậu như lượng mưa, độ ẩm, nhiệt độ trung bình phù hợp với nhiều loại cây trồng lâm nghiệp có khả năng phát triển thành rừng gỗ lớn, nhất là một số cây đã được trồng trên địa bàn như keo Úc, xoan, mỡ, tếch, lát hoa, sao đen.
Với mục tiêu phát triển lâm nghiệp theo hướng lâm nghiệp xã hội trong các năm vừa qua, phong trào phát triển rừng sản xuất đã và đang phát triển rộng khắp, bước đầu giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng vạn lao động nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho các hộ làm nghề rừng. Tuy nhiên, hầu hết diện tích trồng rừng là gỗ nhỏ, trồng theo phương thức quảng canh, năng suất, hiệu quả kinh tế thấp. Sản phẩm gỗ lớn cho hiệu quả kinh tế cao chưa được quan tâm phát triển.
Theo số liệu công bố hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2011 tại Quyết định số 369/QĐ-UBND ngày 4-2-2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh có 69.802 ha rừng gỗ trồng, trong đó kinh doanh gỗ nhỏ 55.609 ha, kinh doanh gỗ lớn chỉ có 3.385 ha (chiếm 0,02% so với diện tích rừng trồng hiện có), còn lại là cao su, cây đặc sản.
Khảo sát thực tế toàn bộ diện tích rừng gỗ trồng phân bố trên địa bàn 25 huyện, trong đó tập trung chủ yếu ở huyện Như Thanh, Thạch Thành, Thường Xuân, Như Xuân, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Lang Chánh... nhìn chung, rừng gỗ trồng trên địa bàn tỉnh không đồng đều, tập trung chủ yếu ở rừng non, rừng mới trồng; cơ cấu diện tích rừng trồng chủ yếu là kinh doanh gỗ nguyên liệu giấy nên hiệu quả kinh tế thấp.
Trên cơ sở tính toán chi phí đầu tư và giá bán gỗ (theo giá thị trường hiện nay) của một số cây trồng phổ biến cho thấy hiệu quả kinh tế rừng kinh doanh gỗ nhỏ chỉ từ 33,6 đến 49 triệu đồng/chu kỳ kinh doanh (7 năm) đối với trồng quảng canh và 57,9 đến 86,2 triệu đồng/chu kỳ kinh doanh đối với trồng thâm canh. Lợi nhuận như vậy mới đáp ứng được nhu cầu đời sống trước mắt mà chưa có khả năng tích lũy, làm giàu từ rừng.
Nguyên nhân chính là do giai đoạn trước năm 2007, tỉnh ta chưa có quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp nên giống cây đưa vào trồng rừng còn xô bồ, chất lượng chưa được kiểm soát, mục đích kinh doanh chủ yếu là gỗ nguyên liệu giấy; trồng theo phương thức quảng canh, chưa đầu tư bón phân nên năng suất, chất lượng, sinh khối rừng thấp.
Từ năm 2007 đến nay, thực hiện quy chế quản lý giống cây trồng lâm nghiệp, cây giống đưa vào trồng rừng được kiểm tra nguồn gốc xuất xứ, được tuyển chọn từ các nguồn giống tốt; một số diện tích đã được đầu tư trồng theo hướng thâm canh, có bón phân nhưng diện tích còn nhỏ lẻ, chưa hình thành vùng kinh doanh gỗ lớn, cho trữ lượng, sản lượng cao phục vụ chế biến, sản xuất hàng hóa cao cấp...
Về vấn đề phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn, theo đồng chí Lê Văn Đốc, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tỉnh ta có diện tích rừng sản xuất khá lớn (355.443 ha), chiếm 56,7% diện tích rừng và đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng 307.896 ha. Theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Thanh Hóa giai đoạn 2011-2020, toàn tỉnh có 55.932 ha đất trống và đất có rừng trồng quy hoạch phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
Sở đang tập trung chỉ đạo thiết lập vùng kinh doanh gỗ lớn tập trung với quy mô 55.932 ha gắn với các nhà máy chế biến lâm sản nhằm nâng cao sản lượng và giá trị rừng trên một đơn vị diện tích, tạo đột phá trong phát triển lâm nghiệp cả về năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả kinh tế, góp phần quan trọng tái cơ cấu đầu tư ngành lâm nghiệp, giải quyết việc làm và tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình; thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và lâm nghiệp nói riêng.
Cụ thể, phát triển vùng kinh doanh gỗ lớn giai đoạn 2012-2015, với diện tích 22.865 ha; trữ lượng gỗ đến chu kỳ khai thác đạt 8,59 triệu m3 phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh. Từ năm 2016-2020, diện tích 33.067 ha; đến năm 2020 tổng diện tích rừng gỗ lớn toàn tỉnh là 55.932 ha; đến chu kỳ khai thác trữ lượng gỗ lớn đạt 20,99 triệu m3, phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Để giải bài toán hiệu quả kinh tế lâu dài và kinh phí trước mắt của người làm nghề rừng, tạo điều kiện cho các đơn vị, cá nhân thực hiện mục tiêu phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh rừng trồng gỗ lớn; đồng thời bổ sung các ý kiến đóng góp của các ngành liên quan, hoàn thiện báo cáo để trình UBND tỉnh xem xét, quyết định trong thời gian tới. (Báo Thanh Hoá 30/11)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Bước vào mùa khô 2012 – 2013, một trong những hoạt động được lực lượng kiểm lâm huyện Mai Châu và nhân dân địa bàn các vùng giáp ranh tập trung thực hiện là xây dựng đường băng trắng cản lửa. Hộ dân các xóm tích cực tham gia phát dọn, duy tu đường băng để bảo vệ, phòng lửa rừng từ tỉnh bạn cháy lan sang.
Phát động từ trung tuần tháng 11 đến nay, đường băng cản lửa dài 5,2 km ở xã Piềng Vế, 4,5km ở xã Xăm Khòe, 5,8km ở xã Mai Hịch và 9 km ở xã Cun Pheo đã được khẩn trương hoàn thành. Công tác bảo vệ, PCCCR đã huy động đông đảo hộ dân 4 xã Xăm Khòe, Mai Hịch, Cun Pheo, Piềng Vế.
Ông Khà Ngọc Lai – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: phương án PCCCR tại các địa bàn đã được chỉnh sửa phù hợp với thực tế. Cùng thời gian này, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR tại các cơ sở cũng đã được kiện toàn. 132 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng với 752 thành viên được củng cố. Tại các xã, thị trấn đều thực hiện phân công lịch trực PCCCR 24/24h trong thời kỳ cao điểm về phòng cháy.
Xác định nguyên nhân gây cháy rừng chủ yếu do việc canh tác làm nương và sử dụng lửa tuỳ tiện trong rừng của nhân dân địa phương. Vì vậy, ngoài tuyên truyền vận động, lực lượng kiểm lâm còn phối hợp với chính quyền các xã tổ chức kiểm tra rừng thường xuyên để phát hiện, ngăn chặn xử lý các hành vi phát lấn rừng, đốt rừng làm nương trái phép. Một số địa phương đã có biện pháp xử lý hành vi vi phạm bảo vệ, PCCCR thuộc thẩm quyền của xã như: Xăm Khoè, Tân Mai, Piềng Vế, Cun Pheo. Nhờ vậy, kết quả đáng mừng là từ mùa khô năm 2011 – 2012 cho tới nay, trên địa bàn huyện Mai Châu không để xảy ra cháy rừng.
Thực hiện Quy chế phối hợp bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa chi cục Kiểm lâm Hòa Bình và Chi cục Kiểm lâm Sơn La (Hạt Kiểm lâm Mộc Châu; Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha); giữa Hạt kiểm lâm Mai Châu với Hạt kiểm lâm Quan Hóa và Hạt kiểm lâm khu BTTN Pù Luông (Thanh Hóa), kiểm lâm huyện đã thường xuyên trao đổi thông tin với các đơn vị bạn để có biện pháp phối hợp quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng tại khu vực giáp ranh đạt kết quả tốt.
Ngoài ra phối hợp với Hạt kiểm lâm khu BTTN Pù Luông (Thanh Hóa) làm việc với UBND xã Pù Bin về công tác quản lý bảo vệ rừng khu vực vùng giáp ranh. Tại buổi làm việc, các bên cùng thống nhất nỗ lực hơn nữa trong công tác quản lý bảo vệ rừng, thường xuyên có thông tin kịp thời cho các bên về các dấu hiệu, hành vi vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng để từ đó có các biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời không để xảy ra điểm nóng, phức tạp.
Chủ động ứng phó với các nguy cơ, tình huống cháy rừng mùa hanh khô, hạn chế tới mức thấp nhất số vụ cháy rừng, lực lượng hợp đồng bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng và các tổ quần chúng bảo vệ rừng tại cơ sở đã được củng cố, duy trì.
Hạt kiểm lâm huyện đang tiếp tục phối hợp với chính quyền địa phương và Trung tâm học tập cộng đồng tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về QLBVR tại các xã, thị trấn và xóm, bản. Kết hợp công tác tuyên truyền với việc kiểm tra hướng dẫn canh tác nương rẫy để ngăn chặn tình trạng phát đốt rừng làm nương trái phép và sử dụng lửa trong rừng tùy tiện. (Báo Hòa Bình 29/11) đầu trang(
Hiện nay, thời tiết đang chuyển sang mùa hanh khô-thời điểm nguy cơ xảy ra cháy rừng cao. Từ đầu năm đến nay, toàn huyện xảy ra 4 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 17,9 ha.
Nguyên nhân dẫn đến cháy là do người dân phát bờ ruộng cháy lan, phát dọn thực bì đốt không đúng quy định. Để bảo vệ 53.854,85 ha rừng hiện có, Hạt kiểm lâm huyện Tràng Định chủ động nhiều biện pháp để hạn chế đến mức thấp nhất nguy cơ cháy rừng có thể xảy ra.
Ông Hoàng Ngọc Dương, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: tính đến hết ngày 31/12/2011, toàn huyện có 53.854,85 ha rừng (trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 44.560,14 ha; diện tích rừng trồng là 9.294,71 ha).
Để quản lý và bảo vệ rừng đạt hiệu quả, công tác PCCR luôn được quan tâm và chú trọng thực hiện thường xuyên, vào các tháng mùa hanh khô, Hạt phân công tổ kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng trực 24/24 giờ; phối hợp với ngành chức năng tuyên truyền giáo dục công tác PCCR trong các trường học và loa đài của xã để nâng cao ý thức người dân; tham mưu cho UBND các xã kiện toàn và củng cố Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy ở cấp xã, có phương án cụ thể đối với các tiểu ban phòng cháy chữa cháy rừng ở cả thôn, bản trên địa bàn xã.
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp tổ chức tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở 13 trường tiểu học, trung học cơ sở cho 2.128 lượt thầy cô giáo và học sinh nghe; 13 hội nghị tuyên truyền ở các xã; tuyên truyền lưu động qua loa đài ở các xã; kiểm tra hiệu quả kí cam kết quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng ở 22 xã, 105 thôn;…
Đến nay, 100% số xã, thôn bản đã kiện toàn Ban chỉ huy, tổ bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng. Thời gian tới, Hạt Kiểm lâm huyện sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác, tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ và PCCCR đến các cán bộ chủ chốt của xã, thôn và hộ gia đình; phối hợp với các xã kiểm tra tuần rừng, kịp thời phát hiện lửa rừng và các hành vi vi phạm về quản lý bảo vệ rừng; tiếp tục kiểm tra đôn đốc các xã, thôn và chủ rừng thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại cơ sở, đặc biệt là các tháng mùa hanh khô;…(Báo Lạng Sơn 29/11) đầu trang(
Tủa Chùa là huyện có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao (chiếm gần 95%), sản xuất lương thực chủ yếu phụ thuộc vào nương; phương thức, tập quán canh tác lạc hậu, dựa vào tự nhiên là chính do đó đất đai ngày càng bạc màu.
Thêm vào đó, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao là nguyên nhân gây áp lực lớn đến diện tích rừng hiện có. Song với những nỗ lực trong công tác thực hiện nhiệm vụ, những năm qua, diện tích rừng trên địa bàn được bảo vệ và tiếp tục phát triển.
Ông Mùa Ngọc Tú, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa cho biết: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng của toàn huyện trên 23.000ha, chiếm 35% tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng chủ yếu là rừng phục hồi sau nương (trạng thái rừng IIB và IIA) và rừng nghèo kiệt. Xác định công tác tuyên truyền có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển rừng, nên thời gian qua, các cấp, các ngành huyện Tủa Chùa đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Các cấp, ngành trong huyện đã tổ chức tập huấn, cấp phát tài liệu, họp thôn bản và lồng ghép tuyên truyền trong các cuộc họp từ cấp thôn, bản đến xã, thị trấn và cấp huyện, đặc biệt chú trọng đến đồng bào vùng giáp ranh với tỉnh bạn, huyện bạn; đồng bào sản xuất trên nương. Trong quá trình tuyên truyền, vận động giáo dục pháp luật liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng, kiểm lâm luôn là lực lượng nòng cốt chủ động phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn để tuyên truyền với các hình thức đa dạng, nội dung phong phú, như: quy chế bảo vệ rừng, vai trò, ý nghĩa của rừng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và nhân rộng các mô hình kinh tế hiệu quả từ phát triển kinh tế vườn rừng...
Do làm tốt công tác tuyên truyền, người dân đã hiểu và có sự chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ, trồng mới rừng. Từ năm 2009 đến nay, huyện đã tổ chức thực hiện trồng, bảo vệ rừng theo các dự án, như: 661, Nghị quyết 30a của Chính phủ. Qua đó, nhân dân trong huyện đã nhận bảo vệ hơn 134ha rừng trồng, hơn 11.000ha rừng tự nhiên; khoanh nuôi tái sinh gần 16.000ha và trồng mới trên 130ha rừng sản xuất. Loại cây được đưa vào trồng mới rừng chủ yếu là sa mộc, thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu khắc nghiệt ở địa phương. Các thôn, bản đã xây dựng được nội quy bảo vệ rừng; tổ chức cho người dân ký cam kết kết bảo vệ rừng; phòng cháy chữa cháy rừng.
Cùng với việc tích cực tuyên truyền, vận động, huyện còn tổ chức thực hiện hỗ trợ gạo, tiền công kịp thời cho các hộ dân tham gia trồng rừng; chi trả hỗ trợ khoán khoanh nuôi tái sinh cho người dân hàng năm 200.000 đồng/ha theo đúng quy định của pháp luật; hướng dẫn bà con sản xuất trên nương đúng quy trình kỹ thuật, làm đường băng cản lửa... Từ đó không chỉ hạn chế thấp nhất tình trạng xảy ra cháy rừng do làm nương mà còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao đời sống của người dân.
Công tác PCCCR được huyện Tủa Chùa rất coi trọng. Hằng năm, Ban chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng các cấp luôn được kiện toàn và củng cố; các tổ, đội PCCCR tại thôn, bản được thành lập thu hút đông đảo bà con tham gia hưởng ứng. Lực lượng kiểm lâm đã bám sát địa bàn, phối hợp với chính quyền các xã, thị trấn thường xuyên kiểm tra, dự báo cấp cháy rừng, cảnh báo tình hình cháy rừng cho cơ sở và chủ rừng; đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về rừng trong mùa hanh khô.
Do làm tốt công tác PCCCR nên trong 5 năm qua, toàn huyện chỉ thiệt hại 2,6ha rừng do cháy. Ngoài ra, lực lượng chức năng đã chủ động phối hợp với chính quyền cơ sở tăng cường kiểm tra, kiểm soát bảo vệ rừng, quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản và nuôi nhốt động vật có nguồn gốc từ rừng; nhất là xử lý nghiêm các vụ vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. (Báo Điện Biên 30/11)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tổng Thư ký Ủy ban quốc gia chương trình con người và sinh quyển Việt Nam (MAB) thuộc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, GS-TS Nguyễn Hoàng Trí, vừa ký văn bản gửi UBND tỉnh Đồng Nai đề nghị có khuyến cáo mạnh mẽ dừng triển khai 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A
Ông Nguyễn Hoàng Trí cho biết: Nguyên nhân đề nghị dừng xây dựng 2 dự án thủy điện này vì mục tiêu cuối cùng là sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Một khi phát triển kinh tế ảnh hưởng, tác động đến môi trường, điều đó có nghĩa phát triển kinh tế không bền vững. Việc xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 và 6A lấy hơn 300 ha rừng vùng lõi của khu sinh quyển, điều đó có nghĩa nó tác động đến giá trị bảo tồn của khu sinh quyển nói chung và sinh quyển Vườn Quốc gia Cát Tiên nói riêng. Như vậy là đi ngược với tiêu chí và quan điểm chương trình “Con người và Sinh quyển” của MAB.
Chúng tôi đã đi thực địa và thấy rằng việc xây dựng 2 thủy điện này sẽ lấy đi hơn 300 ha rừng quý. Theo chủ đầu tư thì khu vực này chỉ có rừng thứ sinh và không có giá trị, những lý giải đó đều ngược với nguyên tắc về mặt sinh thái học, tức là việc chia cắt các nơi ở, nơi sống của các loại sinh vật, tạo ra nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học cho toàn bộ khu vực. Về mặt môi trường là làm mất đi nơi sống của các loại sinh vật; còn về mặt xã hội sẽ tạo ra sự không chắc chắn cho đời sống của người dân trong khu vực đó.
Trong trường hợp như thế, UNESCO sẽ cử đoàn chuyên gia đến để đánh giá xem đa dạng sinh học bị mất đi bao nhiêu, tác động xã hội như thế nào, bao nhiêu người dân lâm vào tình trạng lo lắng, bất ổn định về cuộc sống… Nếu xét thấy khu sinh quyển này không còn bảo đảm các yếu tố, tiêu chí đặt ra thì UNESCO sẽ chính thức rút danh hiệu khu dự trữ sinh quyển thế giới, đồng thời có thể dừng việc xem xét công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là di sản thiên nhiên thế giới.
Nếu vậy thì Việt Nam sẽ chịu những thiệt hại gì? Điều đó có nghĩa Việt Nam không đủ năng lực để gìn giữ di sản, lúc đó hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế bị suy giảm. Tôi muốn đưa anh gia nhập một tổ chức quốc tế, tuy nhiên, anh có tiền lệ xấu như thế thì tôi mời anh làm gì? Đó là chưa nói đến một số nơi của Việt Nam cũng đang được xem xét để UNESCO công nhận các danh hiệu nhưng với việc anh không đủ năng lực để gìn giữ di sản đã được công nhận thì xem xét các trường hợp khác thế nào đây?
MAB có chủ trương gửi văn bản kiến nghị đến cơ quan, cấp nào khác nữa không? Tháng 1-2013, chúng tôi sẽ có một hội thảo đánh giá công tác bảo vệ gìn giữ của các khu sinh quyển và di sản của Việt Nam trong thực hiện các tiêu chí của UNESCO và chắc chắn sẽ nói tới khu sinh quyển Vườn Quốc gia Cát Tiên. Thậm chí ,Cát Tiên sẽ là “điểm nóng” để hội thảo trao đổi đánh giá. Sau cuộc hội thảo này, chúng tôi sẽ có công văn kiến nghị chính thức tới Chính phủ Việt Nam. (Người Lao Động 30/11)đầu trang(
Ông Nguyễn Thành Trí, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, Trưởng Ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai, cho rằng những ý kiến của đại diện UNESCO Việt Nam là cùng quan điểm với chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Việc xây thêm thủy điện trên một dòng sông đã có quá nhiều thủy điện, ngoài việc chiếm đất, phá rừng của Vườn Quốc gia Cát Tiên, xâm phạm vào vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển thế giới khiến vi phạm các cam kết quốc tế, còn đe dọa cuộc sống hàng triệu người dân vùng hạ lưu.
Ông Trần Văn Mùi, Phó Ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai, cũng khẳng định khi công nhận “khu dự trữ sinh quyển thế giới”, UNESCO đã đưa ra các tiêu chí và buộc chúng ta phải có nhiều cam kết, vì vậy bất kỳ vi phạm nào cũng có thể khiến các danh hiệu bị rút lại. “Việc bảo vệ ngôi nhà xanh, bảo vệ môi trường thiên nhiên là trách nhiệm chung, không riêng gì thủy điện, mà bất kỳ hành vi nào xâm phạm, gây ảnh hưởng đến các khu bảo tồn đã được thế giới công nhận, chắc chắn UNESCO sẽ phản đối” - ông Mùi nói.
Phó Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai Lê Hồng Phương cũng khẳng định: “Chúng tôi đã lên tiếng ngay từ đầu, kiên quyết phản đối việc xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A”. (Người Lao Động 30/11) đầu trang(
Hôm 28/11, nhân ngày Lâm nghiệp Việt Nam 28.11, tại trường THCS Lý Thường Kiệt (xã Tam Phú, TP.Tam Kỳ), cán bộ ngành lâm nghiệp, kiểm lâm, địa phương và hàng nghìn giáo viên, học sinh đã tham gia lễ phát động phong trào trồng cây gây rừng. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang dự lễ phát động và tham gia trồng cây.
Thời gian qua, phong trào trồng rừng trên địa bàn Quảng Nam phát triển mạnh. Theo kế hoạch mùa trồng rừng năm nay, toàn tỉnh sẽ trồng mới 4.333ha rừng sản xuất và 835ha rừng phòng hộ. (Báo Quảng Nam 29/11)đầu trang(
Hàng nghìn ha rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đến nay đã được khai thác, nhưng nông dân không muốn thu hoạch vì không có đường ra khiến cho chi phí vận chuyển quá cao. Đây đang là bài toán nan giải cho tỉnh Bắc Kạn trên tiến trình khai thác tiềm năng thế mạnh lâm nghiệp.
Từ năm 2002 đến năm 2004, xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể trồng được 70 ha rừng rừng kinh tế, đến nay đã cho khai thác. Tỉnh Bắc Kạn cho phép khai thác “trắng” toàn bộ diện tích này để nhân dân có thu nhập, đồng thời lấy đất trồng rừng mới. Nhưng nhân dân địa phương không hào hứng, vì tiền bán gỗ không đủ trả tiền công khai thác và vận chuyển.
Tỉnh giao thu mua toàn bộ diện tích gỗ rừng trồng tại xã Hà Hiệu, đầu tháng 11- 2012, Công ty cổ phần SAHABAK đã họp và thống nhất với nhân dân phương án, giá từ 400 nghìn đồng đến 1,3 triệu đồng/ khối gỗ (tuỳ loại), nhưng với điều kiện gỗ phải được vận chuyển đến bãi tập kết, nơi ô tô tải có thể vào để vận chuyển. Nhân dân địa phương không thắc mắc về giá thu mua, vì nó đã sát với giá thị trường. Nhưng để khai thác, vận chuyển được đến bãi tập kết là chuyện không hề đơn giản.
Gia đình ông Mã Đình Lạ, Phó Bí thư Đảng ủy xã Hà Hiệu thuê người chặt hạ 0,7 ha keo, do không có đường vận chuyển nên ông Lạ lại phải thuê người khuân vác, dùng trâu kéo gỗ từ rừng ra bãi tập kết. Bán gỗ, thu tiền, sau khi trừ chi phí khai thác, vận chuyển, ông Lạ…bị lỗ ba trăm nghìn đồng. Đấy là chưa kể tám - chín năm trồng, bảo vệ, tiền vay mua giống, phân bón. Ông Lạ tâm sự: “Những diện tích rừng xa đường từ 1,5 km trở lên, tiền bán gỗ không đủ trả tiền công chặt hạ, vận chuyển. Đúng là công toi”.
Ông Dương Văn Lực, Phó Chủ tịch UBND xã Hà Hiệu có khu rừng keo đến tuổi khai thác, cách xa đường hai km. Ông Lực tính toán: “Cự ly vận chuyển gỗ keo là hai km bằng sức người, chi phí vận chuyển hết khoảng hơn 470 nghìn đồng/khối, thuê chặt hạ khoảng 100 nghìn đồng/khối, gỗ keo có “vòng vanh” 50cm bán với giá thỏa thuận tại bãi tập kết là 570 nghìn đồng/m3 thì gia đình tôi không thu được đồng nào nên cứ để đấy, chặt mà làm gì”.
Đường kính gỗ càng to, bán được giá cao hơn, nhưng chặt hạ và vận chuyển cũng khó hơn nên phải chi phí nhiều hơn. Vì thế, nhân dân địa phương không “mặn mà” với việc khai thác gỗ ở những nơi cách xa đường từ 1,5 km trở lên.
Theo kế hoạch, đợt đầu tiên Công ty cổ phần SAHABAK sẽ thu mua gỗ của 60 hộ ở xã Hà Hiệu, nhưng sau một tháng triển khai kế hoạch thu mua, đến nay mới chỉ có bốn hộ khai thác diện tích rừng ở gần đường giao thông, gần bãi tập kết, các hộ có rừng ở xa đường không nghĩ đến việc khai thác, vận chuyển gỗ rừng trồng mang bán.
Chủ tịch UBND xã Hà Hiệu Lê Ngọc Lợi cho biết: “Toàn xã có khoảng 70 ha keo khai thác trong đợt này, trong đó một nửa diện tích ở những điểm rất khó khăn và cách xa các bãi tập kết, thu mua của công ty. Những diện tích keo này trồng rải rác, phân tán ở các thôn Bản Mới, Cốc Lót, Chợ Dải, Nà Dài, Nà Mèo, Khuổi Mản, Thôm Lạnh... Việc khai thác gỗ keo ở những vùng này rất khó khăn do không có đường lâm nghiệp, hoàn toàn dùng sức người, nên chi phí khai thác và vận chuyển một khối gỗ đã tương đương với giá bán, diện tích càng ở xa càng bị lỗ nhiều nên nhân dân địa phương không muốn khai thác”.
Thực hiện chủ trương trồng rừng nguyên liệu của tỉnh, trong những năm 2002 đến năm 2004 tỉnh Bắc Cạn cho Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn vay hơn bốn tỷ đồng từ ngân sách để đầu tư trồng rừng sản xuất. Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn dùng số tiền này để cho nông dân vay mua giống, phân bón, hỗ trợ tiền công trồng được hơn hai nghìn ha rừng sản xuất.
Đến nay, rừng đã được khai thác, nhân dân trong tỉnh phải khai thác gỗ bán để lấy tiền trả cho Công ty lâm nghiệp Bắc Kạn để công ty dùng số tiền này hoàn trả cho ngân sách tỉnh. Tuy nhiên, việc thu hồi vốn đã đầu tư cho nhân dân trồng rừng đang gặp nhiều khó khăn, vì tiền bán gỗ không đủ để thuê chặt, vận chuyển.
Thời gian vừa qua, nhân dân ở các huyện Bạch Thông, Na Rì đã vận chuyển gỗ đến đường giao thông, bãi tập kết, nhưng Công ty Lâm nghiệp Bắc Kạn lưỡng lự không muốn thu mua, vì không thu mua thì dân kêu, còn thu mua của dân rồi, vận chuyển đến chỗ bán cũng bị lỗ vì chi phí vận chuyển quá lớn.
Tỉnh Bắc Kạn phấn đấu, đến năm 2015, toàn tỉnh trồng mới 60 nghìn ha rừng kinh tế, trong ba năm 2011 đến hết năm 2012 đã trồng được hơn 30 nghìn ha, tỉnh cho nông dân toàn bộ tiền giống, hỗ trợ tiền công trồng, chăm sóc, tính ra mỗi ha được tỉnh đầu tư từ bốn đến năm triệu đồng.
Thế nhưng, thực trạng việc khai thác một số diện tích rừng kinh tế trong thời gian vừa qua đang gặp rất nhiều khó khăn vì không có đường vận chuyển. Khai thác, vận chuyển gỗ rừng kinh tế ở những nơi xa đường vận chuyển từ hai km trở lên bị lỗ làm cho nông dân không muốn khai thác, rừng keo đến tuổi mà không khai thác sẽ bị rỗng ruột, khi đó chỉ có để...làm củi.
Địa hình tỉnh Bắc Kạn hiểm trở, rộng lớn, phần lớn diện tích rừng kinh tế được trồng đều xa đường giao thông. Đầu tư san gạt một con đường là rất lớn, có khi phải mất hàng tỷ đồng mà chỉ để vận chuyển vài trăm khối gỗ đi tiêu thụ thì có nên? Mà nếu Nhà nước không đầu tư thì dân không có khả năng để làm đường.
Ở vùng sâu vùng xa, địa hình hiểm trở, nếu trồng rừng kinh tế mà không có đường vận chuyển sẽ làm cho chi phí khai thác, vận chuyển còn cao hơn cả giá bán thì hiệu quả kinh tế ở đâu? Đây đang là bài toán lớn đặt ra đối với cấp uỷ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bắc Kạn. (Nhân Dân 30/11)đầu trang(
Bình Thuận là một trong ba tỉnh (cùng với Bình Định, Cần Thơ) được Bộ Tài nguyên & Môi trường triển khai thực hiện thí điểm dự án “Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải nhà kính”, gọi tắt là dự án Tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu tại Bình Thuận.
Vừa qua, Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó BĐKH Bình Thuận phối hợp chủ dự án là Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường, hội thảo tham vấn các sở ngành, huyện, thị lựa chọn biện pháp thích ứng…
Theo Trung tâm Động lực học Thủy khí Môi trường, thuộc Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, đơn vị tư vấn dự án Tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH tại Bình Thuận, cho biết diễn biến khí hậu ở Bình Thuận (tỉnh cực Nam Trung bộ) ngày càng phức tạp. Trong vòng nửa thế kỷ qua, cứ 10 năm nhiệt độ trung bình năm tăng 0,1- 0,2 độ C; số ngày nắng nóng trên 35 độ C có xu hướng tăng dần. Bão, áp thấp nhiệt đới tăng cả về cường độ, tần suất; bão trung bình tăng 0,31 cơn/năm; xu thế dao động mực nước biển dâng hàng năm 3,1mm (riêng đảo Phú Quý dâng 3,6mm); độ cao mực nước (biển, hồ, sông, suối…) dâng khi có bão lớn khoảng 80 cm.
Con số thống kê 20 năm trở lại đây, đã có trên 20 cơn bão, áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Bình Thuận, gây thiệt hại nặng nền kinh tế, xã hội của tỉnh. Hơn 10 năm qua (2002- 2012), thiên tai đã gây thiệt hại về tài sản, phương tiện đánh bắt, hoa màu, cơ sở hạ tầng… trong tỉnh lên gần 1.000 tỷ đồng.
Trước tác động của BĐKH, vùng ven biển bị “tổn thương” nhiều nhất, đơn vị tư vấn dự án kiến nghị tỉnh triển khai giải pháp “bảo vệ đầy đủ”, bao gồm tôn cao hoàn toàn tất cả các tuyến đê, tăng cường công tác bảo vệ bờ biển, ngăn chặn xâm nhập mặn; bơm hút nước, nâng nền móng công trình giao thông, công nghiệp, khu dân cư.
Để tránh khỏi những tác động của nước biển dâng, cần di dời dân cư, cơ sở sản xuất, dịch vụ đến những khu vực an toàn... Những năm qua, tỉnh ta cũng đã xúc tiến đầu tư xây dựng một số tuyến kè dọc theo các bãi biển xung yếu, thường bị sạt lở, như kè ở Phước Thể, Phan Rí Cửa (huyện Tuy Phong), kè Hàm Tiến, Đức Long (TP. Phan Thiết), kè Phước Lộc (TX La Gi)…
Trên lĩnh vực thủy sản, ứng dụng giải pháp xây dựng các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá (như đang xây dựng khu neo đậu Phú Hài, Phan Thiết), các khu dịch vụ hậu cần nghề cá, nuôi thả các loài thủy sản chịu được biến đổi môi trường, hình thành Quỹ bảo hiểm thủy sản phòng chống rủi ro bất ngờ…
Ở lĩnh vực quan trọng tài nguyên nước, quy hoạch hợp lý các hồ chứa nước, nâng cấp công trình kênh mương điều tiết nước; phối kết hợp thông tin dự báo, chế độ thủy văn, dòng chảy trên các sông, đảm bảo vận hành an toàn hồ chứa nước.
“Với hệ thống các hồ thủy lợi lớn, nhỏ đã tích trữ nước trải dài trên địa bàn tỉnh, cần được trung ương hỗ trợ đầu tư nối mạng hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh; vừa đảm bảo tưới tiêu nông nghiệp, phục vụ sinh hoạt, vừa điều tiết lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai”, ông Mai Kiều, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT đề nghị thêm giải pháp ứng phó với BĐKH. Cùng với đó, tỉnh đẩy mạnh trồng rừng, tái tạo rừng để giữ nước ngầm; bảo vệ và trồng rừng ngập mặn, rừng phòng hộ, phát triển rừng sản xuất, hạn chế tác hại lũ lụt.
Về phía đơn vị chủ dự án, Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường cho biết: Triển khai dự án thí điểm trên, Viện đề nghị Chính phủ, các bộ ngành liên quan xem xét có chính sách hỗ trợ, để thực hiện, áp dụng dự án thích ứng với BĐKH tại Bình Thuận.
Đồng thời UBND tỉnh điều chỉnh, bổ sung trong quá trình xây dựng, thực hiện và giám sát các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với BĐKH hiện nay.Tỉnh cũng cần huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, tài trợ trong và ngoài nước, hợp tác thực hiện các dự án thích ứng, phòng ngừa tác động của BĐKH cho tỉnh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. (Báo Bình Thuận 30/11)đầu trang(
29-11, Hạt Kiểm lâm huyện Đạ Huoai cho biết đang tạm giữ ông Phạm Văn Đạt (49 tuổi, ngụ ở ấp Phú Lâm, Phú Bình, Tân Phú, Đồng Nai); đồng thời phối hợp với Công an huyện để truy tìm, áp giải ông Huỳnh Đệ về địa phương để điều tra xử lý vụ săn bắt, tàng trữ vượn đen má hung quý hiếm.
Ngày 27-11, Hạt cùng công an và chính quyền địa phương kiểm tra nhà ông Đệ ở thôn Phước An, xã Phước Lộc, Đạ Huoai, Lâm Đồng phát hiện 1,9kg thịt rừng (tay, chân, 2 miếng thịt) nghi là các bộ phận của con vượn đen má hung mẹ vừa bị giết hại.
Trong khi đoàn đang kiểm tra, ông Đạt (người làm thuê của gia đình ông Đệ) mang con vượn con (loài vượn đen má hung) nặng khoảng 1kg bị thương ở tay từ vườn vào nhà. Ông Đạt khai đây là con vượn của nhà chủ, ông mang theo để vừa làm vườn vừa chăm sóc con thú bị thương.
Vượn đen má hung (Hylobates gabriellae) thuộc nhóm 1B là một trong những loài nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại; hiện chỉ còn vài trăm cá thể ở Việt Nam.
Con đực trưởng thành có lông toàn thân màu đen với hai má màu vàng; con cái và con non lông màu vàng.
Hạt đã tịch thu số thịt nói trên để gửi đi giám định phục vụ công tác điều tra. Chú vượn con đang được chăm sóc tại cơ quan kiểm lâm, chuẩn bị chuyển giao cho Vườn quốc gia Cát Tiên. (Tiền Phong 30/11)đầu trang(
Sự việc đang gây xôn xao dư luận tỉnh Quảng Trị mấy ngày gần đây là thông tin Ban quản lý dự án 661 Nam Bến Hải (viết tắt là BQLDA 661 Nam Bến Hải) đang hết lần này đến lần khác cố gắng bán hàng trăm ha rừng trồng cách đây 10 năm tại xã Linh Thượng (H.Gio Linh) với giá “bọt bèo” (hơn 2 triệu đồng/ha), dù liên tục bị cơ quan chức năng địa phương “tuýt còi”…
Câu chuyện bắt đầu từ quý 2 năm 2012, khi BQLDA 661 Nam Bến Hải do ông Nguyễn Văn Thành, Trưởng phòng Nông nghiệp H.Gio Linh làm trưởng ban đã “âm thầm” bán 260 ha rừng trồng từ các năm 1998, 1999 tại xã Linh Thượng (H.Gio Linh), thuộc các dự án trồng rừng 327 và 661 mà không thông qua việc đấu giá công khai (theo quy định hiện hành, đối với rừng trồng từ nguồn vốn Chương trình 327 và dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, sau khi được phê duyệt quy hoạch là rừng sản xuất thì phải thông qua hình thức đấu giá ).
Đến ngày 21.9.2012, thấy có nhiều dấu hiệu đáng ngờ, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Nguyễn Đức Cường đã có công văn yêu cầu dừng việc khai thác và kiểm điểm trách nhiệm các cá nhân liên quan. Thời điểm này, trong 260 ha đã bị “cạo trọc” 140 ha…
Đối với 120 ha rừng còn lại, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị đã có hướng dẫn gửi BQLDA 661 Nam Bến Hải yêu cầu đơn vị này phải triển khai khẩn trương 2 nội dung cốt yếu nếu muốn bán là: xem xét, thẩm định số lượng gỗ cụ thể để áp giá và phải làm thủ tục đấu giá công khai.
Nhưng một lần nữa, BQLDA 661 Nam Bến Hải lại “phớt lờ” tất cả để sáng 9.11, hợp đồng với Công ty CP dịch vụ bán đấu giá tài sản Đất Việt (41 Ngô Quyền, TP.Đông Hà, Quảng Trị) tổ chức bán đấu giá hơn 120 ha rừng một cách đáng ngờ khi chỉ có 3 doanh nghiệp tham gia. Kết quả, sau 2 vòng đấu, 1 doanh nghiệp đã trúng với giá 270 triệu đồng (chỉ hơn giá khởi điểm 10 triệu đồng). Tính ra mỗi ha rừng chỉ được bán ra với giá hơn 2 triệu đồng, cái giá mà nhiều người cảm thán rằng “củi còn đắt hơn thế”.
Đáng nói, theo hồ sơ thẩm định của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị thì 260 ha rừng ban đầu, tổng sản lượng gỗ khai thác lên đến hơn 6.500 m3. Lẽ nào sau khi khai thác 140 ha, thì phần rừng còn lại là “đồi trọc” hay sao mà áp mức giá rẻ chạm đáy đến vậy? “Chúng tôi đã cử cán bộ xuống tận hiện trường để kiểm tra đo đạc cụ thể. Và tính trung bình mỗi ha sẽ thu chừng 30 đến 40 m3 gỗ. Chúng tôi cho rằng mức giá đó là chưa phù hợp, đã lạc hậu do được xây dựng từ thời gian trước…”- ông Hoàng Đức Doanh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị nói.
Liên quan đến việc “cố đấm ăn xôi” của BQLDA 661 Nam Bến Hải, ngay sau khi nhận được toàn bộ hồ sơ xin bán 120 ha rừng của BQL này, phát hiện thấy các bước thủ tục chưa phù hợp với chỉ đạo của UBND tỉnh và yêu cầu của Sở NN&PTNT, ngày 15.11, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị đã bác hồ sơ theo đúng quyền hạn của mình.
Trao đổi với báo chí, ông Nguyễn Quân Chính, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị khẳng định sẽ chỉ đạo UBND H.Gio Linh cho ngừng ngay việc bán rừng sai quy định này đồng thời sẽ xem xét trách nhiệm của các cán bộ liên quan.
Nhưng có một sự thật khác trớ trêu hơn là từ ngày 5.7.2012, UBND H.Gio Linh đã giải thể BQLDA 661 Nam Bến Hải, thành lập ban mới có tên gọi: Ban quản lý dự án đầu tư, bảo vệ và phát triển rừng H.Gio Linh, giao cho ông Nguyễn Văn Thức, Phó trưởng Phòng nông nghiệp H.Gio Linh làm trưởng ban. Nhưng rất nhiều văn bản liên quan đến việc bán rừng sau đó, BQLDA 661 Nam Bến Hải vẫn “đứng tên” và ông Nguyễn Văn Thành, Trưởng BQL dù đã hết quyền hạn được giao vẫn đứng ra ký. Đáng nói hơn nữa, đây không phải là lần đầu tiên BQLDA 661 Nam Bến Hải cố ý làm trái quy định Nhà nước, bán rừng cho nhiều doanh nghiệp với giá rẻ mạt, gây bức xúc dư luận địa phương… (Thanh Niên 29/11)đầu trang(
Chiều 28-11, nhận được tin báo của người dân, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, chức vụ và môi trường, Công an thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông nhanh chóng vào cuộc tiến hành kiểm tra và phát hiện tại khu vực rừng thuộc Xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa) quản lý có hai xe cày chở 25 hộp gỗ với tổng khối lượng 5 m3 từ nhóm IV-VIII.
Lực lượng cảnh sát điều tra phát hiện và tạm giữ hai đối tượng vận chuyển gỗ là Cao Văn Huyn và Hồ Công Thoại đều trú ở thôn 3, xã Đác Ha, huyện Đác Glong. Hai đối tượng khai nhận, được một người tên Hưng ở xã Đác Ha thuê chở nhưng toàn bộ số gỗ trên không có giấy tờ, không rõ nguồn gốc xuất xứ.
Vụ việc đang được Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, chức vụ và môi trường, Công an thị xã Gia Nghĩa tiếp tục điều tra làm rõ. (Nhân Dân 29/11)đầu trang(
28/11, Thiếu tá Lê Mạnh Nam, Phó thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an thị xã Gia Nghĩa (Đắk Nông) cho biết, đơn vị vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Nguyễn Duy Phương (62 tuổi) trú phường Nghĩa Tân, thị xã Gia Nghĩa về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo hồ sơ vụ án, để thực hiện hành vi lừa đảo, Phương đã đứng ra thành lập Công ty TNHH Phương Lâm (đóng tại thị trấn Kiến Đức, huyện Đắk Rlấp) với ngành nghề kinh doanh trồng rừng, khai thác bảo vệ rừng do Phương làm Giám đốc. Phương đã ký hợp đồng bán khống cho bà Nguyễn Thị Nhì (58 tuổi) trú huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) 150ha rừng.
Sau khi bà Nhì đặt cọc 10 triệu đồng, Phương đã dùng tiêu xài cá nhân, bị bà Nhì đòi giao đất Phương đã tìm cách bỏ trốn. Qua quá trình điều tra, cơ quan điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa phát hiện Phương còn lừa hàng chục hộ dân khác trên địa bàn tỉnh Đắk Nông để chiếm đoạt hàng trăm triệu đồng. (Công An Nhân Dân 29/11)đầu trang(
Thời gian qua, nhiều chương trình, dự án được đầu tư vào trồng rừng nói chung và trồng rừng sản xuất nói riêng để các tổ chức, cá nhân tích cực trồng rừng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, rừng ở Điện Biên hàng năm được mở rộng rất hạn chế, đó là chưa kể đến chất lượng rừng trồng mới hàng năm.
Là năm đầu tiên được Bộ Kế hoạch - Đầu tư phân bổ kinh phí trồng rừng và có giao gần 70% kinh phí cho các doanh nghiệp tham gia trồng rừng sản xuất và hỗ trợ doanh nghiệp vận chuyển sản phẩm, tuy nhiên khi mùa trồng rừng năm 2012 đã kết thúc, thì tiền vẫn chưa thể giải ngân và cơ quan chức năng vẫn loay hoay tìm lời giải…
Mở đầu câu chuyện với chúng tôi xoay quanh vấn đề trồng rừng, ông Nguyễn Đình Kỳ, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp cho biết: Theo kế hoạch năm 2012, tỉnh ta được phân bổ 40 tỷ đồng để thực hiện nhiệm vụ trồng mới, khoanh nuôi tái sinh rừng… song thực tế đến cuối tháng 6 mới được phân bổ kế hoạch vốn, nên không tránh khỏi việc bị động trong chuẩn bị vật tư, giống cây trồng.
Đến thời điểm này, có 18 doanh nghiệp được cấp giấy phép trồng rừng, song thực tế số doanh nghiệp khởi động dự án và tiến hành trồng mới chỉ vài ba đơn vị, diện tích thực trồng bao nhiêu thì chưa hề có thông tin cụ thể. Phải căn cứ vào diện tích trồng mới để cơ quan chuyên môn đi kiểm tra, nghiệm thu rồi mới đánh giá tỷ lệ cây sống, chất lượng rừng… mới tiến hành hỗ trợ theo quy định của Nhà nước, tránh tình trạng ứng, hỗ trợ tiền nhưng diện tích rừng trồng không đảm bảo theo quy định.
Nên đến thời điểm này, chưa có một doanh nghiệp nào được hỗ trợ 3 triệu đồng/ha (trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Chính phủ). Còn 6,5 tỷ dự kiến hỗ trợ cho Nhà máy sản xuất ván sàn tre và ghép thanh của Công ty TNHH Hoàng Lâm Điện Biên thực hiện cũng bị dừng giải ngân vì theo hướng dẫn mới chỉ giải ngân, hỗ trợ khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất. Nhưng trên thực tế, đã gần 2 tháng sau ngày khởi công xây dựng Nhà máy thì đơn vị vẫn chưa cho ra sản phẩm và như vậy chưa đủ điều kiện để hỗ trợ nguồn vốn.
Cũng theo nhận định của ông Nguyễn Đình Kỳ: Với 26,5 tỷ đồng được phân bổ vốn cho năm 2012 để hỗ trợ doanh nghiệp trồng rừng sẽ chẳng thể tiêu được. Đó cũng là bất cập trước thực trạng, nhiệm vụ trồng rừng không thể thực hiện mà vốn thì có nhưng không thể giải ngân!
Lý giải cho nguyên nhân doanh nghiệp khó trồng rừng, ông Nguyễn Đình Kỳ thẳng thắn trả lời: Đó là thực trạng trong số doanh nghiệp đăng ký và đã được cấp giấy phép trồng rừng, nhưng thực tế là chưa có doanh nghiệp đủ mạnh cả về tiềm lực kinh tế và khoa học kỹ thuật để trồng rừng; trong khi nhiệm vụ trồng rừng từ trước đến nay vốn đã khó và đối với tỉnh ta do điều kiện khí hậu khắc nghiệt và thổ nhưỡng thì càng khó hơn. Nên dù có đơn vị tâm huyết trồng rừng thì lại không có đủ tiềm lực đầu tư theo đúng quy trình kỹ thuật và ngược lại đơn vị có tiềm lực thì lại chưa có chuyên môn, kỹ thuật để trồng rừng.
Đơn cử cho tình trạng này, đó chính là Công ty Cổ phần Lâm Biên thực hiện nhiệm vụ trồng 3.000ha rừng tại Si Pa Phìn và Phìn Hồ (huyện Mường Chà) trong giai đoạn 2008 – 2015. Năm thứ nhất nghiệm thu thanh toán đã cho tạm ứng 1,8 tỷ đồng, rồi đến năm thứ 2 kiểm tra lại thì diện tích thực đủ điều kiện hỗ trợ cứ giảm dần… từ 500ha xuống còn hơn 300ha.
Rồi đến nay, doanh nghiệp đã chuyển đổi chủ sở hữu nhưng việc trồng rừng cũng chẳng vì thế mà khả quan hơn. Thế nên để hỗ trợ sát thực và đầu tư có hiệu quả, thì không thể chủ quan trong khâu nghiệm thu, thanh toán và chỉ khi có rừng mới thực hiện hỗ trợ và tuyệt đối không thể có việc hỗ trợ trước rồi sau đó mới trồng rừng.
Tuy nhiên, việc khó khăn cho doanh nghiệp trồng rừng không chỉ nằm ở vấn đề vốn, giống, kỹ thuật mà trên thực tế, trong số doanh nghiệp được cấp phép trồng rừng thì số rất ít doanh nghiệp được giao đất trên thực địa. Bởi đụng đâu cũng là đất bà con nhận sản xuất nương và đâu cũng là đất của dân.
Cũng vì là đất của nhân dân nên việc trồng rừng có thành công hay không thì lại phụ thuộc vào bà con, không thể ép buộc bà con giao đất mà chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền, vận động để bà con chuyển biến nhận thức thấy được lợi ích của việc trồng rừng mà giao đất, liên kết với doanh nghiệp trồng rừng. Suy cho cùng, đó cũng chính là tồn tại, bất cập từ chính sách giao đất, giao rừng theo Quyết định 163/CP trước đó.
Thế nên, để doanh nghiệp có đất trồng rừng thì không thể phó mặc cho doanh nghiệp tự thân vận động gặp dân để liên kết trồng rừng mà phải có sự cộng đồng trách nhiệm của chính quyến cơ sở, tháo gỡ khó khăn của cơ quan chức năng và đặc biệt là phải thực hiện giao đất, giao rừng cụ thể cho từng hộ, nhóm hộ để bà con nắm được diện tích đất thực có được giao và phần đất nào là giao cho doanh nghiệp, thì mới có thể trồng rừng hiệu quả. Tránh tình trạng doanh nghiệp bị dân đuổi ra khỏi địa bàn khi đến trồng rừng như tình trạng Công ty Cổ phần Dương Tri Tôn bị người dân xã Huổi Só (huyện Tủa Chùa) đuổi khỏi địa bàn khi thực hiện khâu đào hố trồng rừng như thời gian qua. (Báo Điện Biên 29/11)đầu trang(
29/11, Cơ quan Công an huyện Tánh Linh (Bình Thuận) đã thực hiện lệnh bắt tạm giam 4 tháng Nguyễn Văn Sáng, Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng 309, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (Tánh Linh) để điều tra về hành vi “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Trước đó, Huyện ủy Tánh Linh, ngành chủ quản đã đình chỉ sinh hoạt Đảng, cách chức Trưởng trạm, cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Sáng.
Theo báo cáo của các cơ quan chức năng, những tháng đầu năm 2012, các đối tượng phá rừng đã triệt hạ 84 cây gỗ từ nhóm III đến nhóm VIII, với trữ lượng gần 116 mét khối tại Tiểu khu 358, thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Núi Ông, do Trạm bảo vệ rừng 309 quản lý, nhưng trạm không phát hiện để ngăn chặn kịp thời.
Ngoài vụ việc trên, từ tháng 10-2011 đến tháng 3-2012, Trạm bảo vệ rừng 309 đã nhiều lần phát hiện đối tượng phá rừng tại tiểu khu 358 nhưng không bắt được đối tượng, chỉ lập 11 biên bản kiểm tra với diện tích bị phá hơn tám ngàn mét vuông. Chính quyền địa phương cùng các cơ quan chức năng đã kiểm tra và xác định dấu vết để lại tại hiện trường thể hiện đối tượng phá rừng từ năm 2011. Đến tháng 4-2012, đối tượng tiếp tục chặt hạ những cây còn lại sau đó đốt dọn trồng mỳ thì Trạm mới phát hiện.
Thiệt hại từ phá rừng tại tiểu khu 358 là nghiêm trọng, phải xử lý hình sự. Tuy nhiên Trạm bảo vệ rừng 309 xác lập tới 11 biên bản vi phạm mà mức độ thiệt hại của từng biên bản không vượt khung xử phạt hành chính. (Nhân Dân 30/11; Pháp Luật TPHCM 30/11)đầu trang(
29-11, ông Nguyễn Văn Thời, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hiệp Đức (Quảng Nam), cho biết: Qua tuần tra kiểm soát lâm sản trên tuyến quốc lộ 14E (thuộc thôn 3, xã Sông Trà, Hiệp Đức), đơn vị này vừa phát hiện một người lái xe Uoát gắn biển số giả, có còi báo hiệu ưu tiên đang vận chuyển trái phép gỗ.
Khi tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, người này không chấp hành và quay đầu xe bỏ chạy. Bị truy đuổi, người này bỏ lại xe chạy thoát thân. Tang vật thu giữ gồm chiếc xe, chín hộp gỗ gõ thuộc nhóm IIA có khối lượng 1,049 m3.
Hiện Hạt Kiểm lâm Hiệp Đức đang tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật. (Pháp Luật TPHCM 30/11)đầu trang(
Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Ninh Thuận tối 28-11 đã phối hợp lực lượng kiểm lâm kiểm tra cơ sở chế biến lâm sản tại hộ ông Phan Gia Chương, ở thôn Hạnh Trí 1, xã Quảng Sơn, huyện Ninh Sơn, phát hiện hơn 11m3 gỗ, như: hương, lai, gõ, căm xe, sao... không rõ nguồn gốc đã được chế biến thành phẩm như bàn, ghế, tủ.
Tại hiện trường, chủ hộ không chứng minh được nguồn gốc gỗ, đồng thời cơ sở chế biến lâm sản của ông Chương hoạt động không có giấy phép đăng ký kinh doanh, cho nên cơ quan chức năng đã lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ nêu trên.
Theo người dân địa phương, tuy không có giấy phép đăng ký kinh doanh, nhưng lâu nay cơ sở này hoạt động rất công khai. Tại huyện Ninh Sơn hiện có 134 cơ sở chế biến lâm sản, trong đó có đến 60 cơ sở hoạt động không có giấy phép kinh doanh. Cơ quan chức năng tiếp tục làm rõ và xử lý. (Nhân Dân 30/11)đầu trang(
Cũng trong ngày, Hạt Kiểm lâm huyện Quế Phong (Nghệ An) cho biết đơn vị này vừa thu giữ 70 phiến gỗ pơmu quý hiếm (khoảng 7 m3) trong gia đình ông Hà Văn Tiến (xã Hạnh Dịch, huyện Quế Phong). Số gỗ lậu trên do gia đình ông Tiến mua từ lâm tặc. (Pháp Luật TPHCM 30/11)đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Kon Tum cho biết, từ đầu năm đến 24/11/2012, qua công tác tuần tra, truy quét và thông tin tố giác của quần chúng nhân dân, lực lượng Kiểm lâm cùng các cơ quan chức năng, chính quyền địa phưoơg các cấp đã phát hiện 1.004 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Trong đó, vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng: 23 vụ; vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng: 2 vụ (diện tích rừng bị thiệt hại là 7,7ha); phá rừng trái pháp luật 524 vụ (diện tích hơn 106ha); khai thác rừng trái phép 76 vụ (khối lượng gần 820m3 gỗ các loại); vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng: 3 vụ; vận chuyển lâm sản trái pháp luật 114 vụ (khối lượng hơn 143m3 gỗ các loại)…
Ngành Kiểm lâm cùng với chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng đã xử lý 1.026 vụ (có 261 vụ vi phạm năm 2011 chuyển sang). Trong đó: xử lý hành chính 995 vụ; xử lý hình sự 28 vụ; xử lý khai thác 3 vụ. Thu giữ gần 1.200m3 gỗ các loại; 5 cá thể động vật hoang dã và 91kg sản phẩm; tịch thu 74 phương tiện vi phạm. Phạt tiền gần 11 tỉ đồng; thu tiền bán lâm sản, phương tiện tịch thu hơn 6 tỉ đồng. (Bảo Vệ Pháp Luật 30/11, Tr7) đầu trang(
Cây mai dương là một loài cây bụi, nhiều gai nhọn có nguồn gốc từ Trung Mỹ, hiện được xem là một trong những loài cỏ dại nguy hiểm đối với các vùng đất ngập nước nhiệt đới, tổ chức IUCN xếp vào danh sách 100 loài sinh vật ngoại lai nguy hiểm nhất. Trên 2 tỷ đồng đã được tỉnh Đắk Lắk chi ra trong 3 năm nay để xoá bỏ triệt để loại cây này.
26 mô hình đã triển khai, gần 200 buổi tập huấn được tổ chức cho đồng bào dân tộc về kỹ thuật phòng trừ, tiêu diệt, bởi cây mai dương đã có ở 15 huyện, thị xã, thành phố của Đắk Lắk. Huyện Ea Súp 3 năm trước chỉ có 40ha cây này, nay đã tăng lên trên 93ha. Huyện Lắk 58ha nay 85ha. Huyện Ea Kar ó 79ha nay tăng lên trên 90ha... Cả tỉnh đã có trên 730ha loài cỏ dại nguy hiểm này.
Năm nay, Đắk Lắk mở 15 lớp tập huấn kỹ thuật với 750 người tham gia thực hiện 4 mô hình diệt cây mai dương bằng thuốc diệt cỏ. Trạm Bảo vệ thực vật huyện Buôn Đôn đã triển khai mô hình điểm diệt trừ trên 1ha cây mai dương tại xã Ea Nuôl bằng phương pháp phun thuốc diệt cỏ Roundup 480SC cộng với Anco 720DD, tỷ lệ 4-1.
Sau 3 đợt phun thuốc, cây mai dương chuyển từ héo vàng đến chết dần, thân cây chuyển sang màu đen, nhỏ lại, dễ gãy đốt cháy sạch. Diệt trừ cây mai dương bằng phương pháp hoá học đạt hiệu quả cao hơn nhiều lần so với phương pháp thủ công. Các ngành chức năng ở Đắk Lắk đang khuyến cáo nhân rộng các mô hình này.
Ở nước ta không chỉ có Đắk Lắk mà vùng hồ Hòa Bình, vườn quốc gia Tràm Chim... hay Quảng Trị, Ninh Thuận cũng chung cơ cảnh mai dương phát tán mạnh và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, môi trường. Sau mỗi đợt phát động tiêu diệt, cây lại tái sinh, phát triển càng ồ ạt hơn, nhất là ở hệ thống kênh mương dẫn nước, các công trình thuỷ lợi, vùng đất hoang hoá...
Đó là bởi mai dương sống dai dẳng phát tán nhanh qua hạt, đặc biệt khả năng tái sinh bằng thân và gốc rất lớn. Nếu chặt cây mẹ đốt thì từ gốc cây tái sinh 4,5 chồi non, hạt nếu bị đốt sẽ nẩy mầm với mật độ từ 15-120 cây/m2. Việc dùng lửa như là biện pháp duy nhất để kiểm soát cây mai dương thường không có hiệu quả, vì cây mai dương trưởng thành khó bị đốt cháy. Loài cây này phát triển đến đâu, gần như cây cỏ bản địa phải nhường chỗ đến đó, giảm thiểu nghiêm trọng các loài động vật bản địa như các loài chim, thú.
Hạt của cây mai dương có lớp lông để bám có thể nổi trên mặt nước, dễ lan ra trên diện tích rộng trong mùa mưa lũ, đặc biệt hạt này nếu luộc sôi, hoặc đốt vẫn có thể nảy mầm, trong khoảng 20 năm vẫn mọc cây. Các địa phương bởi vậy không nên khoán trắng cho ngành nông nghiệp mà ngành KHCN và cả cộng đồng phải vào cuộc cùng lúc, hiểu hết mức độ nghiêm trọng của mai dương là đối tượng dịch hại mới, tiềm ẩn hiểm họa chưa thể đánh giá hết, để chống họa sinh vật ngoại lai xâm lấn.
Kết quả của các thực nghiệm tại Tràm Chim, Đồng Tháp cho thấy không có một biện pháp diệt trừ nào khi sử dụng riêng rẽ lại có hiệu quả hoàn toàn đối với loại cây này. Cần phối hợp nhiều biện pháp kỹ thuật như đào rễ cây con, dùng biện pháp cơ giới, hóa học loại trừ cây mai dương trước vụ hè thu khi chưa kịp ra hạt. Vừa diệt trừ, vừa canh tác các loại cây bóng mát ăn quả, nâng cao mật độ che phủ đất. Biện pháp phòng ngừa, giám sát và can thiệp sớm của cộng đồng ít tốn kém nhưng mang lại hiệu quả rất cao. (Đại Đoàn Kết 29/11)đầu trang(
Sao la được coi là một biểu tượng cho bức tranh đa dạng sinh học ở dãy Trường Sơn. Sự đe dọa tuyệt chủng của loài này được nâng lên CR - rất nguy cấp nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời.
Theo ghi nhận của các nhà khoa học Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hiện chỉ còn khoảng 160 con Sao la ở Việt Nam, cư trú tại 50 xã, 20 huyện của 6 tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Nam.
Trong đó, khu vực Thừa Thiên - Huế, Tây Bắc Quảng Nam có số lượng Sao la nhiều nhất, khoảng 40 tới 50 cá thể; Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (Nghệ An) và khu vực Tây Nam Quảng Bình, Bắc Hướng Hòa (Quảng Trị) mỗi khu có từ 20 đến 30 cá thể; Vườn Quốc gia Pù Mát (Nghệ An) và Vườn Quốc gia Vũ Quang (Hà Tĩnh) có từ 5 đến 20 cá thể và rải rác ở các nơi khác khoảng 15 đến 20 cá thể.
Đây chỉ là con số ước tính sơ bộ, tuy nhiên nó cho thấy tình trạng rất đáng lo ngại của quần thể Sao la ở Việt Nam do số lượng cá thể còn ít, phân bố thành các nhóm nhỏ sống rải rác và đang chịu áp lực đáng kể của tình trạng săn bắt và phá hoại sinh cảnh của con người. Bảo tồn Sao la đang là vấn đề được đặt ra cấp thiết ở Việt Nam và được sự quan tâm lớn của các tổ chức bảo tồn trên thế giới.
TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên & môi trường Việt Nam nhận định, nếu những con số ước tính là đúng, thì sau 20 năm kể từ khi được phát hiện, số lượng cá thể Sao la đã từ 500 giảm xuống còn gần 200, nghĩa là trung bình mỗi năm mất 15 cá thể trên tổng số rất khiêm tốn. Sách Đỏ Việt Nam nâng cấp từ nguy cấp lên rất nguy cấp. Đối với các loài động vật loại này, số lượng gần 200 là số lượng bên bờ vực tuyệt chủng.
Nguyên nhân được các nhà nghiên cứu chỉ ra là do việc bẫy bắt động vật rừng hiện vẫn diễn ra phổ biến, nạn buôn bán động vật hoang dã, tình trạng sinh cảnh bị suy thoái, phân mảnh và mất liên kết. Đáng chú ý, nguyên nhân sâu xa của những đe dọa trên là năng lưc quản lý yếu kém, nhận thức bảo tồn thấp và đời sống còn khó khăn của người dân.
Việc điều tra trong cộng đồng gần đây nhất cho thấy rõ hơn tình trạng suy giảm số lượng Sao la. Thống kê sơ bộ có 57 trường hợp Sao la bị mắc bẫy hoặc bị săn bắt, phát hiện được 52 sọ hoặc cặp sừng, chưa kể trường hợp xã A Roòng, huyện A Lưới Thừa Thiên - Huế. Ở xã này, mỗi gia đình thường có 4 - 5 cặp sừng Sao la được giữ lại đề trưng bày, trang trí.
Sao la thường sống ở khu vực rừng đầu nguồn các con sông với những ghềnh đá nhiều hang hốc. Xu hướng giảm về quần thể sao la ngoài tự nhiên đã thôi thúc nỗ lực bảo tồn của Quỹ Động vật hoang dã (WWF), các địa phương Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam có nhiều Chương trình hành động khẩn cấp để cứu lấy Sao la.
Mới đây nhất, tháng 7/2012, UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt dự án thành lập Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la với tổng nguồn vốn đầu tư gần 50 tỷ đồng. Theo đó, Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Sao la nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Quảng Nam bao gồm phạm vi rừng và đất rừng của xã Bhalee, A Vương huyện Tây Giang và xã Sông Kôn, Tàlu huyện Đông Giang. Tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn hơn 15.800 ha gồm 22 tiểu khu, trong đó, phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi) là 15.800 ha.
Ngoài ra, Khu bảo tồn còn có nhiệm vụ khác nữa là duy trì chức năng phòng hộ đầu nguồn của lưu vực các sông suối trong khu vực, góp phần phòng hộ cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy điện trong khu vực, đồng thời nâng cao nhận thức của người dân trong vùng đệm, các vùng lân cận về bảo tồn loài Sao la nói riêng cũng như bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường nói chung.
Khu Bảo tồn sao la Thừa Thiên - Huế được thành lập, với mô hình tuần tra bảo vệ rừng là cách tiếp cận mới trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng do WWF kết hợp chặt chẽ với Khu bảo tồn thực hiện nhằm giảm thiểu các mối đe dọa trực tiếp đến sao la và các loài thú. Từ khi thành lập đến nay, lực lượng BVR KBT Sao la Thừa Thiên - Huế mở chiến dịch truy quét với hơn 40 đợt, đẩy đuổi hàng chục đối tượng lâm dân ra khỏi khu vực rừng, phát hiện và lập biên bản 30 vụ xâm phạm về khai thác rừng trái phép, tháo dỡ và phá huỷ hơn 15 nghìn bẫy các loại, phát hiện và phá hủy 90 lán trại, hủy 23,7m3 gỗ các loại....
Khu Bảo tồn Sao la tại Thừa Thiên - Huế cùng với Khu bảo tồn sao la Quảng Nam và khu vực mở rộng của Vườn Quốc gia Bạch Mã sẽ tạo thành một hành lang đa dạng sinh học nối liền với các cánh rừng Trường Sơn (Việt Nam) tiếp giáp với khu vực phía Tây của Vườn Quốc gia Xê Sáp, tỉnh Salavan (Lào), được xem là nơi nuôi dưỡng hy vọng và là vùng sinh cảnh lớn cho Sao la và các loài thú lớn khác sinh sống. Những nỗ lực cuối cùng để cứu lấy loài Sao la quý hiếm này đang được gấp rút hành động và kết quả mong đợi vẫn đang còn ở phía trước, chính từ những việc làm và hành động của mỗi chúng ta. (Tài Nguyên&Môi Trường 29/11)đầu trang(
Nghề chơi cũng lắm kiểu, nhiều trò, nhưng quả thực chơi tượng gỗ thì cũng không phải nhiều người chơi và biết chơi. Chơi tượng gỗ là một thú chơi cực kỳ nghiêm ngặt và giàu tính triết lý, đang rất "hot" ở khu vực Tây Nguyên.
Ở khu vực Tây Nguyên, chơi đồ gỗ đã trở thành xu hướng thịnh hành nhất trong vài ba năm trở lại đây. Người có tiền chơi theo kiểu của người có tiền, người ít tiền cũng có cách chơi riêng của họ. Các món đồ gỗ hiện nay được người dân các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng ưa chuộng, như : Bàn ghế gỗ (bộ đào, trúc), phản, lục bình, tượng gốc cây, tượng nu... Trong đó, có những bộ bàn ghế, gốc cây tạo dáng trị giá hàng trăm triệu đồng, tùy vào độ "chịu chơi" của những gia đình giàu có.
Để sở hữu một bộ bàn ghế kiểu "đào" hay "trúc", tùy loại gỗ, độ dày mỏng và số lượng các món của bộ bàn ghế để quyết định giá. Nếu như 5 hay 10 năm trước đây, bộ "trúc" được ưa chuộng thì nay, bàn ghế đóng theo kiểu bộ "trúc" đã dần lỗi thời bởi cầu kỳ, quá nhiều chi tiết nên người dùng khó lau chùi, bảo quản; xu hướng chọn các kiểu bàn ghế có họa tiết đơn giản nhưng vẫn tạo được sự sang trọng, uy thế đang được người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn. Mỗi bộ bàn ghế theo kiểu này thường có giá từ vào chục triệu đồng đến vài trăm triệu đồng. Giá trị nhất là các bộ bàn ghế đóng từ nu, tiếp theo đó là các loại gỗ khác như cẩm lai, cà te, pơ mu, hương...
Với những gia đình có thu nhập trung bình khá, các sản phẩm lục bình, tượng Tam đa, Bồ Bát, Phật Di Lặc, Đạt Lai Lạt Ma... được ưa chuộng hơn cả. Chỉ cần bỏ ra vài triệu đồng, người chơi đã có thể sở hữu cho mình một bộ lục bình hay tượng gỗ. Giá cao nhất vẫn là các loại tượng gỗ được làm từ gỗ trắc, tiếp đó là cẩm lai, cà te, hương.
Theo lời của lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Kon Rẫy (tỉnh Kon Tum), lý do để người chơi đồ gỗ không ngại dồn tiền cho thú chơi này chính là không sợ "lỗ", vì theo họ, gỗ chắc chắn sẽ ngày càng có giá. Bởi chẳng bao lâu nữa, sẽ khó lòng mua được gỗ nếu... ít tiền. Đây cũng chính là lý do khiến cho những cánh rừng của đại ngàn Tây Nguyên liên tục bị "chảy máu", những cây gỗ quý hiếm có nguy cơ bị chặt hạ không thương tiếc để phục vụ thú chơi nói trên.
Tính sơ sơ thì riêng tỉnh Gia Lai có đến hơn trăm tốp thợ làm nghề đục đẽo gỗ, mỗi tốp thường có chừng 4-5 người. Trung bình cứ 2 thợ chính cần 1 thợ phụ. Họ đa phần là người thuộc các tỉnh Hải Dương, Nam Định, Thái Bình, Bắc Giang, Bình Định, Quảng Nam... vào Gia Lai lập nghiệp. TP. Pleiku (tỉnh Gia Lai) được coi là một trong những điểm lui tới lý tưởng của dân sành đồ gỗ.
Anh Nguyễn Văn Công, một thợ chuyên làm nghề đục đẽo gỗ ở đây hơn 3 năm, cho biết bản thân nghe nói Gia Lai rất chuộng mặt hàng tượng gỗ. Sẵn có tay nghề, lại rỗi việc nên anh vào phố núi kiếm kế sinh nhai. Để làm được nghề này, anh đã phải bỏ ra 1 năm đi học tại một làng nghề mộc ở quê nhà và phải mất 3-4 năm đi làm thợ phụ mới có thể đảm đương vị trí thợ chính như hiện nay. Giá mỗi ngày công hiện tại của anh khoảng 300 - 400 nghìn đồng, bao ăn; còn nếu nhận làm theo hình thức khoán thì mức thu nhập sẽ khoảng 500 nghìn đồng/ngày.
Để tạo được một bức tượng đẹp, người thợ phải có óc thẩm mỹ và tư duy hình khối tốt. "Từ những khúc gỗ tự nhiên, muốn biến thành một bức tượng là điều không hề dễ. Con mắt quan sát và óc tư duy hình khối quyết định đến sự thành công và giá trị nghệ thuật của bức tượng. Trong đó, thần thái biểu cảm của khuôn mặt tượng luôn là điểm nhấn quan trọng nhất. Ngoài ra, còn phải kể đến những yếu tố riêng của từng nhân vật mà bức tượng muốn thành công phải làm toát lên: Đạt Lai Lạt Ma phải khắc khổ, tượng Phật Di Lặc phải tươi, Bồ Tát phải nhân từ..." - anh Nguyễn Văn Công, cho biết.
Còn anh Đinh Sỹ Toán, một thợ gốc Bình Định, đang làm nghề tại huyện Kbang (Gia Lai) thổ lộ: Một bức tượng Di Lặc cao 1m, rộng 60cm bằng gỗ cẩm lai do khách đem đến, một người đục mất khoảng 50 đến 60 ngày, với giá tiền công khoảng 20 triệu đồng; bộ ba tượng Phúc- Lộc- Thọ bằng gỗ hương (cao 80cm, rộng 40cm) cũng mất với giá tiền công khoảng 16 triệu đồng… Tùy theo độ khó của hoa văn, mức quý hiếm của chất liệu gỗ, công lao động và mức độ "chịu chơi" của khách hàng mà các cơ sở đục tượng gỗ đưa ra giá của tác phẩm.
Theo lời của dân trong nghề, đa số những thợ không "trụ" nổi ở đất Bắc mới "Nam tiến" vào đây hành nghề. Mấy năm gần đây, do nhu cầu chơi đồ gỗ ở khu vực Tây Nguyên phát triển rất mạnh nên đã xuất hiện hiện tượng "chở củi về rừng", tức là một số người nhập đồ gỗ từ phía Bắc vào bán. Đặc điểm của những loại đồ gỗ mỹ nghệ này là thường tinh xảo hơn, màu sắc sẫm hơn, tuy nhiên chất lượng gỗ lại kém hơn. Giá loại hàng này "mềm" hơn đồ gỗ Tây Nguyên chính gốc, bởi chất lượng gỗ và giá nhân công ngoài Bắc rẻ hơn.
Ở Tây Nguyên, thú chơi tượng gỗ thì không phải ai cũng biết chơi và hiểu hết được ý nghĩa triết lý của tượng gỗ. Để có được những bức tượng quý đặt ở những vị trí đắc địa thì không những có khả năng về tài chính mà phải hiểu sâu rộng về thuyết Âm Dương - Ngũ Hành, Bát Quái trong Kinh Dịch và thuật phong thuỷ phương Đông. Nhưng để hiểu hết được những điều này thì phải cần rất nhiều thời gian và khả năng trí tuệ nhất định của mỗi người. (Tài Nguyên&Môi Trường 29/11)đầu trang(
Ngày 28/11, Cty CP gỗ MDF VRG Quảng Trị đã về đích so với kế hoạch sản xuất kinh doanh của năm 2012, trước hơn một tháng.
Ông Cao Thanh Nam - TGĐ Cty cho biết, gần 11 tháng qua, Cty sản xuất được 75.000 m3 sản phẩm ván MDF, được chế biến từ nguyên liệu gỗ rừng trồng như thông, bạch đàn, tràm... đạt doanh thu 396 tỷ đồng. Dự kiến, đến cuối tháng 12/2012, Cty sẽ sản xuất được 80.000 m3 sản phảm, vượt kế hoạch 33%.
Được đầu tư dây chuyền thiết bị công nghệ tiên tiến với công suất chỉ 60.000 m3/năm, song đạt được kết quả như trên là nhờ Cty đã cải tiến kỹ thuật tối ưu hóa dây chuyền nên công suất của nhà máy được nâng lên. Các sản phẩm luôn đạt chất lượng, tạo được uy tín cao đối với đối tác trong và ngoài nước. Hiện tại Cty đảm bảo việc làm ổn định thường xuyên cho 220 CBCNVC với mức thu nhập bình quân 7,8 triệu đồng/người/tháng. (Nông Nghiệp Việt Nam 29/11)đầu trang(
Sau cơn sốt gỗ sưa, thuỷ tùng, trầm hương, gần đây dân sưu tập đồ gỗ lại kháo nhau săn lùng gỗ đổi màu.
Các loại gỗ đã và đang được coi là “đắt như vàng” đều là những loại tốt, nhưng tại sao chúng có giá tới hàng triệu, hàng tỷ đồng thì không ai lý giải nổi. Cho đến này chưa có công trình nghiên cứu nào chứng minh được độ quý hiếm và giá trị thực sự của những loại gỗ này, nhưng những đồn thổi về công năng và độ quý hiếm đã tạo ra một nhu cầu lớn trong giới sưu tập.
Nhiều người tin rằng: cây sưa mang một giá trị tâm linh rất lớn. Ngày xưa khi các vị vua chúa băng hà, người ta thường lấy gỗ sưa để đóng quan tài, mài gỗ cây sưa thành bột để rắc vào bên trong quan tài với niềm tin rằng linh hồn người nằm trong quan tài sẽ sớm được siêu thoát.”.
Tuy nhiên, GS Nguyễn Lân Dũng – Chủ tịch Hội các ngành sinh vật Việt Nam cho biết, xét về giá trị lâm nghiệp thì cây Sưa cũng chỉ giống như nhiều loại cây khác, cây gỗ sưa đơn giản chỉ là một loại cây lâm nghiệp có giá trị về gỗ.
Gỗ Sưa hay còn được gọi là cây Huê, mọc rất thưa thớt trong tự nhiên, chủ yếu trên các vách lèn đá vôi hiểm trở. Cây sưa thường có lõi to, săn chắc, không bị nứt, cong vênh, lại có hoa văn đẹp.
Thế nhưng, gỗ sưa từng được đồn bán với giá 11 tỉ đồng một mét khối, có lẽ vì cái giá trên trời ấy mà nhiều người đã bất chấp tính mạng và cả pháp luật để băng rừng vượt núi để săn lùng.
Những người có kinh nghiệm lâu năm đi rừng chia sẻ rằng thực sự họ không biết gỗ này dùng để làm gì chỉ biết các đầu nậu Trung Quốc gom hàng với giá cao để kiếm lời, giá sưa đẩy lên cao chót vót một phần là do các thương lái tranh giành lẫn nhau từng lạng gỗ, thậm chí họ không bỏ sót cả gỗ rác và mùn cưa.
3 năm trước rộ lên tin đồn gỗ thuỷ tùng hay còn gọi là thông nước có thể chữa được cả bệnh ung thư và hàng trăm bệnh nan y khác. Ngoài ra gỗ thủy tùng rất tốt vì nó không bị mối mọt, có màu nâu đỏ với viền màu vàng rất đẹp nên được ưa chuộng để xây nhà, làm đồ mỹ nghệ, đồ dùng cao cấp.
Do được biết loài cây này rất hiếm, vân gỗ lại đẹp nên dân chơi đồ gỗ bỏ nhiều tiền để sưu tầm tạo nên cơn sốt gỗ thủy tùng.
Theo một tay buôn thủy tùng thì các thân gỗ lớn đều được các đại gia ở nơi khác mua lại, thân càng lớn, vân đẹp thì giá trị càng cao. Nhu cầu thủy tùng rất lớn nên các vựa gỗ luôn nằm trong tình trạng cháy hàng.
Hiện nay, trên thế giới chỉ còn sót lại 2 quần thể cuối cùng ở huyện Ea H’Leo và Krông Năng, tỉnh Đắc Lắc với khoảng 280 cây. Người dân khắp nơi kéo nhau hai khu bảo vệ thủy tùng cuối cùng này ngày đêm đào bới, săn tìm khiến cho loài cây này rơi vào nguy cơ tuyệt chủng.
Thuỷ tùng có tên trong sách đỏ Việt Nam và những hành vi khai thác, vận chuyển và mua bán thủy tùng đều phải xử lý hình sự.
Trầm hương sinh ra từ cây dó bầu, nhưng không phải cây dó bầu nào cũng có thể sinh ra trầm. Trong rừng tự nhiên từ 1.000 đến 1.500 cây dó bầu mới có một cây có trầm. Trầm hương là một vị thuốc hiếm và đắt trong Ðông y, vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh tỳ, vị và thận, có tác dụng giáng khí nạp thận, bình can tráng nguyên dương, chủ yếu chữa các bệnh đau ngực bụng, nôn mửa, bổ dạ dày, hen suyễn, bí tiểu tiện. Ngoài ra còn có tác dụng giảm đau, trấn tĩnh.
Trầm tập trung chủ yếu ở 6 nước: Việt Nam, Campuchia, Lào, Myanmar, Indonesia, Malaysia, trong đó trầm Việt Nam có dược lý tốt nhất, nhà khoa học Nhật Bản và Trung Quốc cũng xác nhận trầm Việt Nam có nhiều hoạt chất mà trầm các nơi khác không có được. Có lẽ cũng vì thế mà các thương lái Trung Quốc luôn ráo riết săn lùng trầm hương Việt Nam, điều này khiến Trầm Hương có mức giá không tưởng.
Năm 2008, dư luận xôn xao bàn tán về chuyện cây trầm hương trong vườn nhà bà Mai Thị Nguyệt, tỉnh Quảng Nam có giá 1 tỷ đồng . Một số người đi rừng tìm trầm lâu năm còn cho rằng cây trầm này thậm chí giá trị còn hơn thế vì đã tích tụ được một khối lượng lớn kỳ nam (từ 10.000 đến 20.000 cây có trầm mới có một cây có kỳ nam).
Cũng giống như thời trang, thay đổi từng năm từng mùa, gu sưu tập đồ gỗ của giới nhà giàu Việt Nam cũng đang đổi mới đa dạng và phong phú hơn. Nếu như trước đây sưu tập gỗ sưa, thuỷ tùng hay trầm hương là sành điệu thì cái tên được giới sưu tập đồ gỗ nhắc đến nhiều nhất hiện nay là gỗ đổi màu.
Gỗ đổi màu là loại gỗ có khả năng đổi màu theo ánh sáng và nhiệt độ và thường dùng để chế tác các đồ vật trang trí trong nhà như lộc bình, tượng hay lọ hoa. Ban đầu gỗ có màu trắng xám nhạt, sau khi cây được bóc vỏ vài ngày thì gỗ chuyển sang màu xanh thẫm hoặc xanh ngọc với vẻ ngoài bóng đẹp như đá, nhưng vẫn nổi rõ đường vân với hoa văn đẹp như thủy tùng. Dân trong nghề còn gọi cây này với những cái tên khác nhau như: trắc xanh, trắc tía, bách xanh, tắc kè, kỳ đà…
Cơn sốt gỗ đổi màu bùng phát mạnh mẽ nhất ở huyện Krông Năng tỉnh Đắk Lắk. Chủ một xưởng mộc ở xã Cư K’lông cho biết một khúc gỗ khoảng nửa mét sau khi chế tác thành phẩm có giá khoảng vài triệu đồng tuỳ theo độ đẹp của vân gỗ và màu sắc biến đổi. Còn cặp lục bình cao khoảng 1,5 mét thì có giá 30 triệu đồng.
Bất chấp mọi quy định và xử phạt của cơ quan chức năng, người dân vẫn đổ xô vào rừng khai thác trái phép với khối lượng lớn sẽ dẫn đến tận diệt loại cây này, gây thiệt hại tài nguyên rừng và làm mất tính đa dạng sinh học của các khu rừng trên địa bàn. (Vietnamnet 30/11) đầu trang(

BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Nếu chưa nêu gương tốt được thì đừng nêu gương xấu. Đó là thông điệp mà Ủy ban Quốc gia Chương trình con người và sinh quyển Việt Nam (MAB) thuộc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam đưa ra khi đề nghị cần có những khuyến cáo mạnh mẽ hơn nữa đối với các cấp có thẩm quyền cho dừng triển khai 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Như vậy, lại thêm một tiếng nói đầy trọng lượng nữa yêu cầu dừng 2 dự án thủy điện “phá sơn lâm, đâm hà bá”. Quan điểm của UNESCO cùng những nhận định, đánh giá trước đó của các chuyên gia, nhà môi trường đã cho thấy rõ tác hại của 2 thủy điện Đồng Nai 6 và 6A với môi trường, đặc biệt ở đây lại là khu dự trữ sinh quyển - vốn chỉ còn đếm trên đầu ngón tay của Việt Nam - vừa được UNESCO thừa nhận và công nhận cuối tháng 6 vừa qua.
Không chỉ là 1 trong 8 khu dự trữ sinh quyển quý giá của Việt Nam được UNESCO công nhận, Vườn Quốc gia Cát Tiên còn đang có cơ hội được tổ chức danh tiếng này công nhận là một di sản thiên nhiên thế giới. Được thế, Vườn Quốc gia Cát Tiên sẽ sánh vai với 2 “báu vật” của Việt Nam được cả thế giới biết tiếng là vịnh Hạ Long và Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng.
Vậy mà báu vật Vườn Quốc gia Cát Tiên được thiên nhiên ưu ái ban tặng ấy lại đang đứng trước nguy cơ bị xâm hại bởi 2 dự án thủy điện nằm trong danh sách dài dằng dặc cả ngàn thủy điện lớn nhỏ khắp đất nước. Không ít quốc gia trên thế giới chỉ ao ước có một khu dự trữ sinh quyển thôi, chưa nói tới di sản thiên nhiên thế giới.Thế mà báu vật đó lại đang bị đem ra “nâng lên đặt xuống”.
Nhân loại đã phải trả giá quá đắt và quá thấm thía với việc đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng, lợi ích kinh tế. Chính vì thế, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững không chỉ là lời kêu gọi khẩn thiết mà còn đã trở thành hành động, thực tế phổ biến khắp thế giới văn minh hiện nay. Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP) cho rằng thế giới cần phải đầu tư 2% GDP toàn cầu để đẩy nhanh tốc độ chuyển sang nền kinh tế xanh.
Thế giới đang cùng đồng lòng, chung sức và bỏ không ít tiền của để gìn giữ, bảo vệ hành tinh xanh. Thế giới đó sẽ nhìn nhận, đánh giá Việt Nam thế nào nếu chúng ta cho xây 2 thủy điện Đồng Nai 6 và 6A? Liệu UNESCO có rút việc công nhận khu dự trự sinh quyển thế giới, không công nhận di sản thiên nhiên thế giới với Vườn Quốc gia Cát Tiên nếu cứ cho xây 2 thủy điện này? Và nếu điều này xảy ra thì ai phải chịu trách nhiệm?
Bởi thế, nếu chưa nêu được gương tốt được thì đừng nêu gương xấu bằng “chuyện buồn” Vườn Quốc gia Cát Tiên. (Người Lao Động 30/11) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa