Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Trong 9 tháng năm 2016, đã có gần 3.260 ha rừng bị cháy, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước.
Do thời tiết nắng hạn kéo dài nên tình trạng cháy rừng vẫn xảy ra ở một số địa phương. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy nhiều là Điện Biên (lên tới gần 970 ha), Sơn La (gần 920 ha).
Các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Bình Định, Hà Tĩnh... mỗi tỉnh cũng bị thiệt hại hàng trăm ha rừng. Trong khi đó, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt gần 152.000 ha, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do mưa bão, lũ lụt xảy ra vào đúng thời vụ trồng rừng. (Đài Truyền Hình Việt Nam 20/9, Nhân Dân 30/9) đầu trang(
Ngày 28/9, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức Hội nghị giao ban công tác bảo vệ và phát triển rừng 9 tháng, triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2016. Dự Hội nghị có đồng chí Lò Minh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
9 tháng qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, diện tích rừng bị xâm hại giảm so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng kiểm lâm trong tỉnh đã kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ 459 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách gần 2,5 tỷ đồng. Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng được quan tâm.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của rét đậm, rét hại và băng tuyết đã gây ra 29 vụ cháy rừng, làm thiệt hại trên 900 ha rừng tự nhiên và rừng trồng. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy vẫn xảy ra ở một số địa phương. Công tác khôi phục và phát triển rừng được triển khai đồng bộ tại các địa phương trên địa bàn tỉnh.
Các đơn vị dự án trên địa bàn tỉnh đã gieo ươm trên 12 triệu cây giống các loại, trồng mới 4.600ha rừng. Bên cạnh đó, các huyện, thành phố, các cơ quan đơn vị đã trồng trên 130 nghìn cây phân tán. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được tăng cường bằng nhiều hình thức, góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tại hội nghị, các đại biểu chỉ ra những tồn tại hại chế, khó khăn gặp phải trong quá trình triển khai tại cơ sở như: Công tác chỉ đạo điều hành tham mưu một số đề án, dự án chưa đảm bảo mục tiêu; công tác phát triển rừng, trồng rừng mới đạt trên 93% kế hoạch giao; tiến độ giải ngân nguồn vốn chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững còn chậm…
Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Lò Minh Hùng đề nghị Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục triển khai Nghị quyết 04 - NQ/TU ngày 12/9/2016 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020. Rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2020.
Tham mưu cho UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê duyệt Đề án trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2016- 2020. Tăng cường các biện pháp bảo vệ và PCCCR; thực hiện có hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng.
Tăng cường công tác phối hợp với các ngành, các cấp trong tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức của nhân dân trong bảo vệ rừng. Triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ rừng. (Báo Sơn La 29/9) đầu trang(
Chiều 27/9, Đoàn công tác Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An đến tham quan, học tập kinh nghiệm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau và Vườn Quốc gia U Minh Hạ.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau đã trao đổi những kinh nghiệm trong công tác quản lý, phòng cháy, chữa cháy rừng, những thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai công tác trồng rừng ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ rừng trên khu vực đê biển. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 28/9) đầu trang(
Với trên 400 loại gỗ khác nhau, trong đó có các loại gỗ quý như pơmu xanh, cẩm lai, thông 2-3 lá nằm trong các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ trải dài từ Nam Cát Tiên tiếp giáp với tỉnh Đồng Nai cho đến các huyện Đơn Dương, Lạc Dương, Lâm Hà tiếp giáp với các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk; trong rừng lại có nhiều loại khóang sản bao gồm vàng, thiếc, bauxite, bentonit, kaolin, diatomite, đá granite, than bùn… nên bọn tội phạm từ khắp nơi trên cả nước thường chọn nơi đây để thực hiện các hoạt động khai thác trái phép...
Để ngăn chặn tình trạng này, trong những năm qua, lãnh đạo Công an tỉnh Lâm Đồng đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (PC49), đấu tranh, triệt phá hàng trăm vụ, bắt nhiều đối tượng đưa ra xử lý trước pháp luật.
Theo lời kể của Thiếu tá Lê Thanh Hải - Đội trưởng Đội 3, thời gian gần đây, khi Công an tỉnh tập trung đánh mạnh các băng nhóm "thiếc tặc", bọn tội phạm đã tìm cách dịch chuyển sang tận diệt các loại động vật hoang dã như rắn hổ, cheo, nhím, đặc biệt trong đó cả những loại động vật quý hiếm đang được các ngành chức năng trong tỉnh triển khai giai đoạn II chiến dịch bảo vệ Động vật hoang dã châu Á (PA WS II) như tê tê, gấu, vọc, mèo rừng… gây đảo lộn nghiêm trọng hệ sinh thái rừng trên toàn khu vực.
Trước thực trạng này, Ban chỉ huy Phòng PC49 Công an tỉnh Lâm Đồng đã cử các trinh sát Đội 3 xây dựng kế hoạch, tập trung đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã, tổ chức nắm tình hình, xác định phương thức, thủ đoạn, quy luật hoạt động của các đối tượng tội phạm để có biện pháp đấu tranh ngăn chặn.
Trên thực tế, ngoài việc phối hợp với lực lượng kiểm lâm tổ chức chặn bắt, xử lý những vụ mua bán, vận chuyển động vật ra khỏi tỉnh, các trinh sát còn phải lặn lội vào tận các cánh rừng sâu thực hiện 3 cùng là: Cùng ăn, cùng ở, cùng đi rừng để hướng dẫn pháp luật, hỗ trợ, vận động những người dân (trong đó có nhiều người dân tộc thiểu số) từ bỏ nghề săn bắt thú rừng chuyển sang làm những công việc khác kiếm sống.
Trải qua nhiều năm liên tục gắn bó với rừng, với bà con dân bản, các trinh sát đã ngăn chặn được hàng trăm vụ mua bán, vận chuyển động vật hoang dã quý hiếm, bắt nhiều đối tượng đưa ra xử lý trước pháp luật, thả hàng ngàn động vật về môi trường sống tự nhiên.
Gần đây nhất là bắt hai đối tượng Lê Hoàng Thạch, SN 1976 tại TP. Đà Lạt và Nguyễn Ngọc Thành, SN 1996 tại huyện K'Rông Nô - Đắk Lắk vận chuyển trái phép hàng chục cá thể mèo rừng và rắn hổ mang chúa ra khỏi khu vực rừng thuộc địa bàn huyện Đức Trọng.
Để truy bắt được các đối tượng này, từ đầu tháng 4-2016, các trinh sát Đội 3, Phòng PC49 phối hợp với Công an và Hạt Kiểm lâm huyện Đức Trọng đã phải nằm trong rừng sâu để theo dõi và đến 10 giờ 45 ngày 8-4 mới bắt được đối tượng.
Tại thời điểm bị bắt, Thạch và Thành khai nhận thường xuyên nhận vận chuyển động vật hoang dã cho một đối tượng giấu mặt, mỗi lần hàng chục cho đến hàng trăm cá thể tùy theo tình hình. Chuyến này do biết trước các lực lượng chức năng đang ráo riết kiểm tra, xử lý nên Thạch và Thành chỉ vận chuyển một ít cá thể, nếu trót lọt thì tiếp tục vận chuyển số lượng lớn về tỉnh Đăk Lắk để đưa lên xe khách đường dài vận chuyển ra cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn bán cho các thương lái người Trung Quốc.
Cũng theo Thiếu tá Lê Thanh Hải, ngoài tình trạng săn bắt, mua bán, vận chuyển trái phép động vật hoang dã, những năm qua, tình trạng khai thác trái phép các loại gỗ quý hiếm diễn ra hết sức phức tạp. Bọn tội phạm (lâm tặc) thường nhắm vào các loại gỗ quý hiếm như cẩm lai, thông 2-3 lá và đặc biệt là gỗ pơmu nằm ở khu vực núi đá có độ cao trên 2.800m so với mực nước biển trong vườn Quốc gia Bi Đoup - Núi Bà thuộc huyện Lạc Dương.
Để giữ rừng, bảo vệ tài nguyên quý hiếm, những ngày cuối năm 2012, Phòng PC49 Công an tỉnh Lâm Đồng đã cử một tổ trinh sát thiện chiến do chính Thiếu tá Lê Thanh Hải chỉ huy với trang bị võng dù, mì tôm, nước uống đóng chai, thuốc chống sốt rét và đặc biệt là những dụng cụ như dao quắm để phát cây mở lối đi, vượt suối đến hiện trường để nắm tình hình.
Sau gần 30 giờ ròng rã vượt qua 20km đường rừng với hàng chục vách đá dựng đứng cao hàng trăm mét cùng nhiều con suối nước chảy xiết, các trinh sát đã tiếp cận được khu vực vùng lõi nơi diễn ra tình trạng khai thác gỗ trái phép. Ghi nhận ban đầu của các trinh sát là những gốc cây pơmu có tuổi thọ hàng trăm năm mọc trên các triền đá vẫn còn đang ứa nhựa, xa xa phía dưới những dốc đá sâu ngút ngàn là những khúc gỗ dài từ 5-10 mét, đường kính trên dưới một mét nằm ngổn ngang mà bọn lâm tặc chưa kịp tẩu tán.
Không thể để cho lâm tặc có điều kiện vận chuyển gỗ ra khỏi rừng, Thiếu tá Lê Thanh Hải đã cử hai trinh sát băng rừng trở về báo cáo lãnh đạo đơn vị, đồng thời triển khai ngay kế hoạch tăng cường thêm lực lượng từ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ, Công an huyện Lạc Dương, kiểm lâm vườn Quốc gia Bi Đúp. Thiếu tá Hải cùng các trinh sát khác nằm lại trong rừng để bảo vệ hiện trường, mở rộng công tác trinh sát đến các khu vực xung quanh.
Ba ngày đêm quần thảo trong rừng sâu mà vẫn không thấy bóng dáng lâm tặc, các trinh sát nhận định có thể băng nhóm này đã di chuyển đến những khu vực khác có cây gỗ pơmu để hoạt động nên đã chia nhỏ đội hình làm nhiều mũi tiến sâu vào rừng.
Đúng như dự đoán, đến ngày 12-11-2012, tại tiểu khu 89 - Vườn Quốc gia Bi Đúp, các trinh sát phát hiện hai đối tượng đang sử dụng cưa máy đốn ngả nhiều cây gỗ. Phát hiện có lực lượng Công an, hai đối tượng này đã vứt bỏ cưa máy chạy vào khu vực có nhiều cây cối rậm rạp lẩn trốn.Phải mất hơn 5 giờ vạch từng lùm cây, bụi cỏ, các trinh sát mới tóm gọn được hai tên lâm tặc.
Qua đấu tranh khai thác nhanh, hai đối tượng này khai nhận băng nhóm của chúng có trên chục người chia thành từng đôi đang hoạt động trên khắp một vùng rừng rộng lớn. Từ lời khai này, các trinh sát tiếp tục tổ chức lực lượng phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ, Công an huyện Lạc Dương và lực lượng Kiểm lâm vườn Quốc gia Bi Đúp chia thành nhiều mũi tỏa đi khắp các cánh rừng tiếp tục truy bắt lâm tặc.
Đến ngày 28-11-2012 đã tóm gọn được một nhóm gồm 7 đối tượng do Nguyễn Phước Chí, ngụ huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa cầm đầu, thu giữ 3 cưa máy, 21 cây gỗ pơmu có đường kính từ 70-90cm cùng nhiều loại tang vật phục vụ cho việc khai thác trái phép lâm sản.
Đại tá Phan Thanh Chương - Trưởng phòng PC49 Công an tỉnh Lâm Đồng chia sẻ: Cuộc chiến chống nạn xâm hại rừng ở Lâm Đồng lúc nào cũng nóng bỏng, đầy cam go. Ngày mới thành lập Phòng, hầu hết cán bộ chiến sỹ là những người chưa có kinh nghiệm trong việc đi rừng, lội suối, định hướng đi, nhất là cách phòng chống muỗi đốt, vắt cắn và cái lạnh thấu xương vào ban đêm trong rừng sâu nên cứ sau mỗi chuyến đi trinh sát về là anh em lại ngã bệnh sốt rét.
Một hai ngày đầu băng rừng, anh em còn có thể xua bớt muỗi, gỡ bớt vắt, nhưng đến ngày thứ ba, thứ tư khi sức lực giảm nhiều thì cảm giác bị muỗi chích, vắt cắn gần như không còn và chỉ đến khi về lán trại cởi quần áo ra giặt, thấy cả thau nước có máu tươi đỏ au mới biết mình đã bị rất nhiều con vắt cắn.
Để phục hồi sức khỏe, đồng thời động viên cán bộ chiến sỹ, những lúc như vậy, Ban giám đốc Công an tỉnh ngoài việc đến tận rừng để thăm hỏi, còn cử bộ phận y tế tiến hành truyền dịch, đạm, máu để anh em mau chóng lấy lại sức khỏe tiếp tục chiến đấu.
Trở lại vụ khai thác trái phép gỗ pơ mu ở Vườn Quốc gia Bi Đúp, để có thể truy bắt băng nhóm tội phạm này, các trinh sát đã phải bỏ ra rất nhiều ngày đêm tiến hành tìm hiểu tất cả các con đường mòn xuyên qua Vườn Quốc gia Bi Đúp, đồng thời nhờ một số bà con là những người có kinh nghiệm đi rừng chỉ bảo thêm cho một số kinh nghiệm.
Chuyện leo dốc đá, lội qua suối nước chảy xiết là chuyện như cơm bữa, có những dốc đá chỉ cao chừng hơn trăm mét nhưng phải leo từ 7 giờ sáng đến tận 12 giờ trưa mới lên đến đỉnh, có con suối chỉ rộng hơn chục mét nhưng không thể lội qua được mà phải dùng dây rừng buộc ngang người rồi thả trôi nhiều giờ mới có thể sang được bờ bên kia.
Mệt nhọc, đói khát nhưng các trinh sát không dám nghỉ mà buộc phải quẳng hết nghững món lương thực mang theo, kể cả màn, chiếu, xoong, nồi cho nhẹ rồi tiếp tục bò theo vách đá để kịp thời truy bắt, với quyết tâm không cho đối tượng trốn thoát.
Cho đến nay, trải qua thực tiễn chiến đấu, hầu hết cán bộ chiến sỹ đã trở thành những người lính thiện chiến, có thể lội suối, nằm rừng trong thời gian dài thì lâm tặc lại trở nên manh động. Chúng sẵn sàng sử dụng các loại hung khí, thậm chí cả vũ khí nóng để chống trả lực lượng chức năng hòng chạy thoát thân mà cụ thể như vụ chém chết cán bộ bảo vệ rừng ở huyện Lâm Hà vừa rồi là một điển hình.
Tuy nhiên đối với lực lượng Cảnh sát môi trường, do đã nắm trước được sự nguy hiểm khi đối mặt với lâm tặc nên ngoài việc được trang bị các loại công cụ hỗ trợ cần thiết, trong thời gian qua, đơn vị còn tăng cường công tác luyện tập kỹ chiến thuật chiến đấu cùng kỹ năng đi rừng cho từng cán bộ chiến sỹ, nên luôn chủ động trong việc trấn áp lâm tặc, không để trường hợp đáng tiếc nào xảy ra. (Công An Nhân Dân 28/9) đầu trang(
9 tháng qua, trên địa bàn tỉnh xảy ra 117 vụ vi phạm lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (giảm 90 vụ so cùng kỳ năm 2015), trong đó 106 vụ vi phạm lĩnh vực quản lý lâm sản, 4 vụ phá rừng làm thiệt hại 0,47 ha rừng sản xuất, 7 vụ cháy rừng với tổng diện tích 14,74 ha.
Kết quả, cơ quan chức năng đã xử lý 108 vụ, trong đó xử lý hành chính 106 vụ, xử lý hình sự 2 vụ. Lâm sản và phương tiện thu hồi gồm: 326,354m3 gỗ các loại; 733,1kg thịt thú rừng, 35 xe máy, 5 ôtô, 12 cưa máy cầm tay, 25 phương tiện khác. Tổng số tiền thu nộp 1 tỷ 513,581 triệu đồng.
Thực hiện đề án trồng cây lâm nghiệp phân tán trên địa bàn tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao nhận cây giống cho các tổ chức, hộ dân, cá nhân đã đăng ký và có đủ điều kiện trồng cây với tổng 39.458 cây, trong đó 2.195 cây các loại giao UBND các cấp tổ chức trồng nhân Ngày sinh nhật Bác.
9 tháng qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã giao khoán bảo vệ 36.977 ha rừng; chăm sóc rừng trồng thay thế 98 ha; hoàn thành việc xây đường tuần tra phía đông nam Vườn quốc gia Bù Gia Mập (công trình chuyển tiếp của năm 2015); đang đầu tư hỗ trợ vốn 3 cộng đồng vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập thực hiện xây dựng, sửa chữa đường điện, cổng chào, phân bón trồng cây.
Từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng đã cấp 21 giấy phép khai thác tận dụng lâm sản với tổng diện tích 1.450,76 ha, tổng sản lượng gỗ 31.354,25m3, củi 2.950,1 ster, 273.148 cây lồ ô tuyển, 499,4 tấn lồ ô nguyên liệu giấy. (Báo Bình Phước 29/9) đầu trang(
Men theo con đường dốc quanh co, dưới những tán rừng xanh mướt, chúng tôi về bản Chiềng Hin, xã Xuân Nha (Vân Hồ).
Là bản có diện tích rừng lớn, thuộc vùng lõi của rừng đặc dụng Xuân Nha, những năm qua, nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, sự phối hợp chặt chẽ giữa người dân, chính quyền và các cơ quan chức năng, những cánh rừng nơi đây vẫn giữ được màu xanh ngút ngàn, Chiềng Hin trở thành điểm sáng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng của huyện Vân Hồ.
Bên ấm trà xanh thơm đượm, trò chuyện với anh Hà Công Ứm, Trưởng bản Chiềng Hin, chúng tôi được biết: Diện tích rừng nhận khoán của bản Chiềng Hin là 201,33 ha, thuộc trên 18.000 ha của rừng đặc dụng Xuân Nha, bản nằm giữa 2 huyện Vân Hồ và Mộc Châu, chạy xuyên qua bản là đường tỉnh lộ 102 khá thuận lợi cho việc đi lại, nên việc bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn. Dù vậy, trong nhiều năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được quan tâm và có cách làm chặt chẽ nên bản vẫn giữ vững được diện tích rừng.
Chiềng Hin có 85 hộ và 357 nhân khẩu, với 2 dân tộc Thái, Mường cùng sinh sống, bà con trong bản chủ yếu làm nông nghiệp. Hơn 10 năm trở lại đây, rừng do bản quản lý không để xảy ra cháy rừng và không vi phạm chặt phá, khai thác trái phép. Để có kết quả như ngày hôm nay, ban quản lý bản đã đưa việc bảo vệ rừng vào hương ước, quy ước của bản; phối hợp với Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Nha và Đồn Biên phòng Tân Xuân tổ chức tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân và định kỳ tổ chức phối hợp tuần rừng chung. 100% số hộ trong bản ký cam kết bảo vệ và không xâm hại rừng; bản đã thành lập tổ quản lý và bảo vệ rừng với 13 thành viên, định kỳ tổ chức tuần tra rừng.
Có thể nói, công tác quản lý và bảo vệ rừng của Chiềng Hin là sự đồng lòng của toàn thể người dân trong bản. Từ ý thức đó, nên trước đây, dù không được hỗ trợ kinh phí, nhưng Chiềng Hin vẫn duy trì được một đội quản lý bảo vệ rừng, với 3 - 4 thành viên. Những năm gần đây, nhờ sự quan tâm của Nhà nước, bản được thanh toán tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, cùng với tiền bảo vệ rừng thuộc dự án KFW 7 kịp thời, Chiềng Hin đã mở rộng được số lượng thành viên và công việc của tổ quản lý bảo vệ rừng của bản.
Gặp và trao đổi với anh Ngần Văn Thứ, Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng của bản  khi anh và các thành viên vừa đi tuần rừng về, anh Thứ chia sẻ: Tổ công tác của bản định kỳ hằng tháng đều tổ chức họp, lên kế hoạch cụ thể cho từng lần tuần tra và sau mỗi lần tuần tra sẽ báo cáo lên bản, lên xã tình hình địa bàn.
Thuận lợi nhất của tổ là các thành viên dân quân xã, anh em còn trẻ, rất nhiệt tình với công việc, không quản ngại nắng mưa. Nhớ nhất là năm 2010, khi nhận được tin có cháy trên đỉnh Pha Luông, địa phận giáp với diện tích rừng của bản, tôi cùng anh em trong tổ đã tham gia chữa cháy 4 ngày liền, ngăn chặn, không để cháy lan vào rừng của bản, của xã.
Tìm hiểu được biết thêm, bản Chiềng Hin có 95 ha đất nương và 14 ha ruộng lúa, những năm gần đây, bản đã chủ động định hướng người dân tập trung làm ruộng và phát triển nghề dịch vụ. Vào mỗi mùa khô, bên cạnh việc tuyên truyền cho bà con, bản còn có hương ước nêu rõ trách nhiệm bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng. Bản Chiềng Hin đã thực hiện tốt việc tổ chức nhân dân tham gia phát dọn các tuyến đường băng cản lửa, bảo đảm khoảng cách an toàn giữa rừng và nương. Mùa làm nương, ngoài sự giám sát kiểm tra của cán bộ kiểm lâm địa bàn, bản Chiềng Hin còn tổ chức cho từng hộ ký cam kết về việc đốt nương rẫy an toàn, đúng giờ quy định.
Câu chuyện giữ rừng ở bản Chiềng Hin không chỉ là chuyện riêng của bản và người dân nơi đây, mà còn là kinh nghiệm cần được chia sẻ để các địa phương khác học tập, làm theo. (Báo Sơn La 29/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, nhờ sự vào cuộc tích cực của các lực lượng chức năng, tình hình tích cực, số vụ vi phạm giảm, an ninh tại các điểm nóng về phá rừng từng bước được thắt chặt.
Thời gian qua, tại các địa phương có diện tích rừng lớn và “nóng” về tình trạng phá rừng làm rẫy, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức kiểm tra thực tế, họp bàn với các Hạt Kiểm lâm: Buôn Đôn, Ea Súp, Ea H’leo, Krông Búk, Krông Năng, Cư M’gar, Krông Bông; các đội Kiểm lâm Cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng (KLCĐ & PCCCR) số 1 và số 3 tham mưu cho UBND các huyện thành lập nhiều đoàn liên ngành, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức truy quét đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép lâm sản.
Sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý kịp thời nhiều hành vi vi phạm, chỉ riêng tháng 5-2016, qua kiểm tra truy quét, các đơn vị đã lập biên bản tạm giữ hơn 94,7 m3 gỗ và 19 phương tiện các loại. Trong đó, tại địa bàn xã Cư Amung (huyện Ea H’leo), chốt liên ngành gồm Kiểm lâm huyện, UBND xã, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Wy và Đội KLCĐ &PCCCR thu giữ được 22,7 m3  gỗ; tại địa bàn huyện Ea Súp, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Đội KLCĐ &PCCCR số 1 thu giữ 66,5 m3 gỗ; Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn đã thu giữ 5,5 m3 gỗ. Cùng với đó, các chủ rừng cũng huy động tối đa lực lượng để tuần tra bảo vệ, truy quét lâm tặc trên diện tích rừng do mình quản lý…
Một số địa phương cũng triển khai thêm nhiều biện pháp để thắt chặt an ninh rừng. Điển hình như huyện Ea Súp, ngay từ đầu năm UBND huyện đã thành lập đoàn liên ngành tiến hành phá bỏ các lò than hoạt động trái phép (chuyên mua củi than khai thác từ rừng về để đốt than) trên địa bàn.
Những lò than này chuyên mua củi khai thác từ rừng về để đốt than, do đó việc phá bỏ chúng là một trong những biện pháp ngăn chặn các hành vi phá rừng. Đến nay, toàn huyện đã phá bỏ được 81 lò than, hiện chỉ còn khoảng 10 lò than đang hoạt động và trong thời gian tới sẽ tiếp tục phá bỏ. Ngoài ra, huyện cũng đã cưỡng chế, thu hồi được gần 300 ha đất rừng giao cho doanh nghiệp bị người dân lấn chiếm trái phép.
Còn tại huyện Cư M’gar, từ tháng 5-2016, UBND huyện đã đầu tư lắp đặt hệ thống camera giám sát trên một số tuyến đường để kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi gây mất  an ninh trật tự , đặc biệt là tình trạng vận chuyển trái phép gỗ lậu ở một số tuyến liên huyện Ea Súp - Cư M’gar, Buôn Đôn - Cư M’gar. Từ khi đưa vào sử dụng đến nay, những hình ảnh từ camera giám sát đã giúp lực lượng chức năng bắt 3 vụ vận chuyển lâm sản trái phép…
“Để công tác quản lý bảo vệ rừng trong thời gian tới tiếp tục phát huy hiệu quả,  chính quyền các cấp, chủ rừng, lực lượng bảo vệ rừng, các ngành chức năng cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa để vào cuộc đấu tranh, xử lý nghiêm những hành vi phá hoại tài nguyên rừng, đặc biệt là xử lý các đầu nậu, băng nhóm chuyên khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản, đất rừng trái phép, lôi kéo kích động người dân phá rừng, chiếm đất rừng chống người thi hành công vụ…”, ông Y Sy H’Dơr cho hay.  (Báo Đắk Lắk 29/9) đầu trang(
Âm thầm, nhẫn nại với mong muốn đem lại sự bình yên trọn vẹn cho rừng, song cuộc chiến giữ rừng, bảo vệ tài nguyên rừng, đa dạng sinh học vẫn là thách thức đối với những chiến sỹ giữ rừng của Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn (thôn Phú Son, xã Ba, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) trong những ngày đông chớm.
Năm nào cũng vậy, những ngày mùa mưa tiết trời ảm đạm, cán bộ, công nhân viên Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn (thôn Phú Son, xã Ba, huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam) lại bận rộn, vất vả khi phải túc trực 24/24 giờ trong rừng sâu để quản lý, bảo vệ rừng. Rừng già vẫn lạnh buốt, những người làm nhiệm vụ giữ rừng ở Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn vẫn miệt mài canh giữ từng tấc rừng, để rừng được bình yên thực sự là một câu chuyện dài không có hồi kết.
Một ngày cuối tháng 9, nắng ửng chưa che hết cái lạnh miền biên ải nơi rừng núi Đông Giang heo hút. Có mặt tại Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn khi mặt trời được vài sào nứa, cái lạnh và khí ẩm của miền biên ải vẫn u ám bám vào thân. “Ở đây tiết trời mùa mưa lạnh lắm, không như dưới xuôi đâu, ban ngày còn có chút nắng sưởi, về đêm cái lạnh càng thấm vào da” - anh Hồ Văn Minh - Giám đốc Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn nói với tôi.
Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn được giao quản lý và bảo vệ  25580.04 ha rừng trên địa bàn 9 xã: Tà Lu, Sông Kôn, Jơ Ngây, A Tin, xã Ba, xã Tư, Za Hung, Cà Dăng (Đông Giang) và xã Đại Hưng (Đại Lộc). “Tình trạng dân di cư tự do lấn chiếm rừng làm nương rẫy trong hàng chục năm qua đã gây áp lực lớn cho công tác giữ rừng của chúng tôi. Rừng ở đây lại giáp ranh với các địa bàn sâu với nhiều đường đi xuyên rừng, nhất là về mùa mưa, vì thế lâm tặc dễ dàng xâm nhập vào rừng để lấn chiếm đất, khai thác lâm sản” - anh Hồ Văn Minh kể.
Hiện nay, để quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao, Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn đã bố trí bốn trạm bảo vệ rừng, thành lập thêm các đội tuần tra bảo vệ cơ động với số lượng hàng chục người để bảo vệ rừng. “Với địa thế trạm đóng biệt lập, xa trung tâm, nên ngoài nhiệm vụ giữ rừng, cánh đàn ông chúng tôi còn kiêm luôn nội trợ, đi chợ, giặt giũ. Để chủ động thực phẩm, ngoài mua dự trữ, các anh em trong trạm còn trồng thêm rau xanh, nuôi gà, câu cá dưới hồ để cải thiện bữa ăn” - một cán bộ phụ trách đi cùng đoàn kể chuyện.
Trong bữa cơm trưa đạm bạc, các anh em trong trạm vui vẻ ôn lại chuyện nghề. Anh Nguyễn Văn Minh, Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng số 3 (Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn), có thâm niên mấy chục năm giữ rừng chia sẻ về công tác tuần rừng những ngày mùa mưa. “Do người dân thường xuyên lợi dụng dịp mưa gió để phá rừng, nên năm nào cứ đến mùa mưa tôi và anh em rất vất vả trong việc canh rừng về đêm giữa mùa mưa. Vẫn biết là khó khăn và vất vả lắm khi cái lạnh thấu xương, vợ con cũng buồn nhưng đã chọn nghề này rồi thì phải tận tâm làm việc”.
“Mọi người vẫn thường gọi đùa chúng tôi là “anh quần đùi”, giống như loài vạc “ăn đêm”, vì thường phải lội sông, lội suối làm nhiệm vụ. Những ngày giá rét, anh em phải nằm mình trong rừng sâu, suốt đêm để canh gác, bởi đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển gỗ về xuôi. Có những chuyến đi tuần tra dài ngày lên tận miền biên ải, giáp ranh giữa Đông Giang và Nam Giang, cách Trạm đóng chân hàng chục cây số. Đoạn nào có sông, có suối thì chèo ghe; gặp những đoạn khô, dốc thì vác ghe cuốc bộ” - anh Minh hồn hậu nói.
Anh Minh còn cho biết thêm nghề này cũng rất nguy hiểm, bởi các đối tượng phá rừng rất manh động. Giữa năm 2012, trong một lần đi tuần trong hoẻn sâu phát hiện nhóm lâm tặc đang phá rừng lấy gỗ, anh Minh cùng các anh em trong đội đã tổ chức bắt giữ. Song, do lực lượng mỏng nên các anh bị lâm tặc tẩu tán.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hồ Văn Minh - Giám đốc Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn cho hay: Hiện Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn có nhiệm vụ chủ động phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ rừng; triển khai nhiều đợt truy quét, phá dỡ và đốt cháy hàng chục láng trại, thu, phá hủy nhiều dụng cụ khai thác gỗ, khoáng sản trái phép, đẩy đuổi lâm tặc ra khỏi rừng.
“Mới đây Ban quản lý Rừng Phòng hộ cũng đã tịch thu 25m3 các loại gỗ chuyển cho cơ quan chức năng xử lý; thực hiện tốt công tác dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, với tổng diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng là 18.070,24 ha, trong đó có 166 hộ nhận khoán15.144,39 ha, tự quản lý bảo vệ 1.928,28 ha, dự án CarBi 997,62 ha/09 nhóm hộ; vận động nhân dân trồng và chăm sóc rừng đúng thời vụ, kịp tiến độ, đảm bảo số lượng và chất lượng kế hoạch hàng năm; thực hiện tốt công tác dân quân tự vệ, an ninh chính trị, vệ sinh môi trường tại địa phương”, anh Minh cho hay.
Những ngày mùa mưa, Ban quản lý Phòng hộ Sông Kôn thường tổ chức lực lượng trực 24/24 giờ, chốt chặn ở những điểm nóng thường xảy ra hiện tượng phá rừng, có kế hoạch bồi dưỡng, động viên và hỗ trợ xăng xe tuần rừng cho anh em.
Mùa mưa thì chống chặt phá, vận chuyển gỗ rừng, mùa hè phải đặc biệt kiêm thêm phòng chống cháy rừng. Trong quá trình làm nhiệm vụ, không ít người gặp nạn dưới đôi ba lần, không vì người hại thì cũng do rủi ro khách quan như bị rắn độc cắn, vắt đeo, côn trùng có nọc độc chích hút... Hay không ít trường hợp bị thương trong lúc tham gia chữa cháy rừng.
Dù âm thầm, nhẫn nại với mong muốn đem lại sự bình yên trọn vẹn, song cuộc chiến giữ rừng, bảo vệ tài nguyên rừng, đa dạng sinh học vẫn còn là thách thức đối với những chiến sỹ giữ rừng của Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Kôn này… (Tài Nguyên Và Môi Trường 28/9)
Gần l.000ha rừng do UBND tỉnh Đắk Nông thu hồi từ cty lâm nghiệp Đức Hòa giao cho huyện Đắk Song; huyện giao cho 3 xã trực tiếp bảo vệ. Nhưng mới đây, cơ quan chức năng phát hiện cả 3 xã đều không còn mảnh rừng nào.
Ngày 6.9, UBND huyện có báo cáo kiểm điểm vụ việc theo chỉ đạo của tỉnh, nhưng cuối cùng... không kỷ luật được ai cả
Không chỉ đẽ hàng nghìn hécta rừng bị chặt phá rồi giấu nhẹm để trốn trách nhiệm, cán bộ bảo vệ rừng mua bán đất rừng trái phép (Lao Động ra ngày 22.8 và 8.9 đã phản ánh), 935ha rừng khác bàn giao từ Cty lâm nghiệp Đức Hòa về huyện Đắk Song quản lý cũng bị chặt, chiếm chẳng khác rừng vô chủ. Sau khi nhận bàn giao, UBND huyện giao cho các xã Đắk Mol, Đắk Hòa và Nam Bình quản lý, nhưng trong đợt kiểm tra mới đây, đoàn thanh tra của UBND tỉnh phát hiện tất cả đều không còn rừng.
Trong đó xã Đức Hòa được giao 268ha, chỉ còn lại... 6,5ha phân bố rải rác tại 10 điểm khác nhau, diện tích mất trắng là 262ha. Còn xã Đắk Mol được giao 395ha, xã báo cáo “có 330ha bị xâm chiếm trái phép, còn lại 65ha vẫn đang tiếp tục bị chặt phá, xâm chiếm đất”. Tương tự, tại xã Nam Bình, diện tích rừng được giao quản lý là 424ha, thì cả 424ha đều... không còn rừng. Toàn bộ diện tích này đã biến thành nương rẫy, nhà ở, rừng chỉ còn lại trên bản đồ lâm nghiệp.
Làm việc với PV Báo Lao Động, ông Ngô Anh Nhượng - Chủ tịch UBND xã Đắk Mol - cho biết: “Lúc giao rừng cho xã quản lý thì ông Lê Xuân Tương làm chủ tịch, mãi đến năm 2012 tôi mới về. Khi nhận bàn giao rừng thì chỗ này một mảnh, chỗ kia một mảnh nên chẳng biết chính xác là còn lại bao nhiêu. Sau đó không lâu thì mất hết do xã không có kinh phí, không có lực lượng để quản lý, bảo vệ”.
Còn Chu tịch UBND Đắk Hòa thì cho rằng mình may mắn, vì khi về làm chủ tịch thì toàn bộ diện tích rừng nói trên đã bị phá xong. Chủ tịch cũ chịu trách nhiệm, nhưng ông ấy mất rồi nên không phải kiểm điểm, kỷ luật nữa.
Tại kết luận thanh tra vụ việc trên, ông Cao Huy - Phó Chủ tịch UBND tỉnh - yêu cầu Chủ tịch huyện Đắk Song tổ chức kiểm điểm, có biện pháp xử lý về mặt hành chính đối với chủ tịch các xã nói trên do thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để mất rừng.
Ngày 6.9.2016, UBND huyện Đắk Song có báo cáo kết quả xử lý, nhưng không kỷ luật được ai cả. Theo đó, huyện cho kiểm điểm rút kinh nghiệm đối với ông Lê Xuân Tương - Phó Chủ tịch HĐND huyện, nguyên Chủ tịch UBND xã Đắk Mol, ông Ngô Anh Nhượng - Chủ tịch UBND xã Đắk Mol, ông Phan Tiến Dũng - Giám đốc HTX TMDV tổng hợp Đắk Song, nguyên Chủ tịch UBND Nam Bình - và ông Bùi Văn Tiến - Chủ tịch UBND xã Nam Bình.
Giải thích việc mất gầ l.000ha rừng nhưng không ai bị kỷ luật, ông Ngô Ngọc Sinh - Phó Chủ tịch UBND huyện Đắk Song - nói với PV Lao Động: “Ngoài các nguyên nhân khách quan, chủ quan thì khi giao rừng cho các địa phương quản lý, chủ yếu giao trên giấy tờ chứ không kiểm tra thực địa. Vì vậy rất khó xác định rừng bị mất trước hay sau thời điểm nhận bàn giao để quy trách nhiệm các cá nhân vi phạm...”.
Ông Sinh cũng cho biết, sắp tới UBND tỉnh tiếp tục thu hồi 2.000ha rừng của Cty lâm nghiệp Đức Hòa giao cho huyện. Nếu vẫn tình trạng này, việc giao rừng từ Cty lâm nghiệp về địa phương quản lý chỉ là cách để “xóa sổ” rừng nhanh hơn. (Lao Động 30/9) đầu trang(
Báo cáo của Ban chỉ đạo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Đakrông (Quảng Trị) cho biết, trong những năm qua công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn đã có những chuyển biến tích cực; các vụ mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản đã giảm nhiều. Tuy nhiên, tình hình phá rừng, lấn chiếm rừng vẫn diễn biến phức tạp ở nhiều xã, thị trấn nhưng chậm được phát hiện và xử lý.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện đã xảy ra 103 vụ phá rừng, lấn chiếm rừng và đất rừng để sản xuất nông, lâm nghiệp. Tổng diện tích rừng và đất rừng bị xâm hại là 63,16 ha, trong đó rừng tự nhiên là 52,45 ha, rừng trồng là 8,3 ha, đất rừng là 2,41ha.
Phần lớn diện tích rừng bị phá, lấn chiếm là rừng tự nhiên của các chủ rừng lớn như Ban quản lý rừng phòng hộ Hướng Hóa - Đakrông (29,01 ha); Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông (13,74 ha); rừng tự nhiên do các xã quản lý là 9,7 ha… Tình trạng phá rừng, lấn chiếm rừng xảy ra nhiều ở các xã, thị trấn như: Mò Ó, Triệu Nguyên, Ba Lòng, Hướng Hiệp, Đakrông, Ba Nang, Tà Long, Húc Nghì và thị trấn Krông Klang.
Đối tượng xác định xâm hại rừng chủ yếu là người địa phương. Nguyên nhân chủ yếu của việc xâm hại rừng được cho là người dân lấy đất để sản xuất nông nghiệp như trồng sắn, cây lâm nghiệp. Ngoài ra một số ít hộ dân cố tình chặt phá rừng, lấn chiếm đất kề các tuyến quy hoạch công trình giao thông, thủy điện nhằm được nhận đền bù giải tỏa.
Qua 8 tháng đầu năm 2016 các đơn vị chức năng đã phát hiện 56 đối tượng có hành vi phá rừng, lấn chiếm rừng và đất rừng, đã đình chỉ hành vi phá rừng và trả lại đất cho chủ rừng 49 trường hợp, xử phạt hành chính 4 đối tượng với tổng tiền phạt 11 triệu đồng. (Báo Quảng Trị 29/9) đầu trang(
Hơn 28ha rừng, trong đó có 16,7ha rừng đặc dụng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha (Xuân Nha, Vân Hồ, Sơn La) sẽ biến mất, để “nhường chỗ” cho một thủy điện mi ni 4MW. Vì sao lại có sự đánh đổi khập khiễng này?
Dự án thủy điện Xuân Nha dự kiến sẽ được xây dựng trên suối Nậm Quanh, thuộc địa phận xã Xuân Nha (Vân Hồ, Sơn La) với công suất 4MW, sản lượng điện trung bình năm đạt 14,4 triệu KWh vào cuối năm nay. Công trình do Công ty CP xây dựng và dịch vụ kỹ thuật Thăng Long (Công ty Thăng Long) làm chủ đầu tư, với số vốn hơn 142 tỷ đồng.
Theo đó, tại văn bản số 2339/HĐND, ngày 29.3.2016 của HĐND tỉnh Sơn La về chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án thủy điện Xuân Nha, dự án có diện tích đất sử dụng là 28,36ha, với 26,86ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng đặc dụng 16,9ha, đất rừng phòng hộ 2,95ha, đất nông nghiệp, rừng sản xuất 7ha.
Để triển khai, ngày 9.8.2016, Công ty Thăng Long đã có văn bản chấp thuận thực hiện trồng rừng thay thế bằng phương pháp nộp tiền gửi UBND tỉnh và Sở NNPTNT Sơn La, diện tích chỉ 8,61ha, dựa trên biên bản kiểm tra diện tích, hiện trạng rừng ngày 23.7.2016. Và ngày 18.8.2016, Sở NNPTNT tỉnh Sơn La đã có tờ trình chấp thuận phương án nộp tiền của chủ đầu tư thủy điện với số tiền là hơn 551 triệu đồng, hạn cuối nộp vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng ngày 30.12.2016.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Ngọc Tân – Giám đốc KBT thiên nhiên Xuân Nha khẳng định, Dự án chưa có gì cả, mới chỉ có nghị quyết của HĐND tỉnh về chấp thuận chủ trương đầu tư.
“Theo luật khi thu hồi trên 20ha rừng đặc dụng, phải xin ý kiến của Quốc hội. Nhưng ở đây chủ đầu tư bảo chỉ thu hồi khoảng 16,9ha rừng đặc dụng, nên tỉnh phê duyệt. Tuy nhiên, còn diện tích làm nhà máy, đường ống, đường giao thông, không lấy đất rừng là đất gì. Họ nói xây dựng thủy điện để phát triển kinh tế xã hội, nhưng họ chặn dòng ngập hết ruộng, nương rẫy, lấy nước đâu cày cấy, chỉ người dân là khổ thôi. Quyết định 24 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ, cần phải đầu tư sinh kế cho người dân vùng đệm để giữ rừng, trong khi đó Công ty Thăng Long lại làm thủy điện để phá rừng” – ông Tân nói.
Điều đáng lo ngại nữa là trong quá trình thi công san ủi chuẩn bị mặt bằng, khu phụ trợ, lán trại công nhân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các thảm thực vật, hệ sinh thái, thủy sinh bị đảo lộn. Bên cạnh đó, mgười dân nơi đây còn lo lắng rằng, khi thi công, rất có thể sẽ xảy ra việc công ty lợi dụng, sâm lấn vào các khu vực rừng lân cận của người dân địa phương…
Ông Vũ Đức Thuận – Chi Cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La cho biết: “Quan điểm của chúng tôi là không đồng ý xây dựng thủy điện trong khu bảo tồn. Trước đây việc xây dựng thủy điện Trung Sơn trên sông Mã ở (Quan Hóa, Thanh Hoa), song KBT Xuân Nha đã mất trắng hàng trăm ha rừng. Đối với rừng tự nhiên nên giữ lại, rừng đang phục hồi tốt nên bảo vệ, không nên chuyển đổi”.
Ông Thuận cho biết thêm, việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng cần thành lập Hội đồng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, Hội đồng đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên hiện chưa có hội đồng nào được thành lập. Trong thời gian tới Chi cục sẽ có ý kiến để tham mưu cho Sở. Theo đó, sẽ bám sát việc thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng rừng. Đồng thời kiểm soát chặt việc trồng rừng thay thế, nếu chuyển đổi mục đích sử dụng rừng làm thủy điện.
Trong khi KBT Xuân Nha đang triển khai một dự án trồng rừng khu phục hồi sinh thái lên đến 10 tỷ đồng, thì một thủy điện chỉ 4MW lại cướp đi hơn 28ha rừng, trong đó có gần 17ha là rừng đặc dụng, khu phục hồi sinh thái. Không chỉ vậy, khi thi công ống dẫn nước, các công trình phụ trợ, cây cối sẽ bị chặt bỏ, chất thải xây dựng, đất đá, dầu mỡ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thảm thực vật, hệ sinh thái, môi trường của KBT và vùng hạ du, song không được của đầu tư đề cập đến phương án triển khai, khắc phục.
Trái ngược với tỉnh Sơn La, vừa qua UBND tỉnh Gia Lai đã gửi công văn đề nghị Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành xem xét không cho phép đầu tư xây dựng dự án Thủy điện Vĩnh Sơn 2, tại KBT Kon Chư Răng, huyện K’Bang. Bởi lãnh đạo tỉnh này cho rằng, việc xây dựng thủy điện sẽ gây ra nhiều hệ lụy, tác động xấu đến môi trường, hệ sinh thái và đời sống của người dân vùng hạ du.
Trong khi đó 100% người dân xã Xuân Nha và các vùng lân cận đã có điện lưới, việc xây dựng nhà máy thủy điện mi ni này khiến dư luận đặt ra rất nhiều câu hỏi, phải chăng đây chỉ là “vỏ bọc” để chủ đầu tư thực hiện các mục đích khác?. (Dân Việt 29/9) đầu trang(
Hàng trăm hộ dân xã Xuân Nha (Vân Hồ, Sơn La) lo lắng đến mất ăn, mất ngủ vì sợ mất đất, mất nguồn sinh kế thủy sản và hệ lụy của thủy điện để lại là một quả “bom” nước sẽ “treo” lơ lửng trên đầu họ có thể bục bất cứ nào.
Cách trung tâm xã Xuân Nha khoảng chục km đường ô tô, leo gần 3km đường bộ, chúng tôi mới đến được nơi dự kiến sẽ xây dựng thủy điện Xuân Nha. Trên đường vào chúng tôi gặp vài người dân đang đi lấy củi. Hầu hết những người chúng tôi gặp đều tỏ ra rất lo ngại và không đồng tình việc xây dựng thủy điện ở nơi đây.
Ven con đường mòn chúng tôi đi có rất nhiều cây cối, đặc biệt là sến, chò chỉ… to cả người ôm không xuể. Được biết, để có thể triển khai dự án, các ban ngành của huyện, cùng chủ đầu tư đã nhiều lần đến gặp người dân, song vẫn không tìm được sự đồng thuận, ngược lại đã gặp phải sự phản đối quyết luyệt của bà con và chính quyền địa phương. Chính quyền và người dân sợ thủy điện sẽ “nuốt” hết diện tích canh tác, phá vỡ hệ sinh thái, nguồn lợi thủy sinh trên sông, ảnh hưởng đến môi trường và đời sống của người dân.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hà Văn Quang – Chủ tịch UBND xã Xuân Nha cho biết: “Xã đã nhận được văn bản của UBND tỉnh về chủ trương đầu tư xây dựng thủy điện Xuân Nha, nhiều lần chủ đầu từ, cán bộ huyện, tỉnh xuống khảo sát, gặp gỡ người dân nhưng người dân đều phản đối. Quan điểm của xã là nếu xây thủy điện không mang lại lợi ích cho bà con, mà còn làm ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của địa phương, đặc biệt là ruộng lúa thì chúng tôi không nhất trí”.
Cũng theo ông Quang, ảnh hưởng nhiều nhất là 2 bản Chiềng Hin và Chiềng Nưa với khoảng 50ha ruộng lúa nước hai vụ, bà con rất lo lắng khi thủy điện tích nước sẽ hết nước để canh tác. Hiện nay cả 8 bản của xã có hơn 900 hộ, hơn 4.000 nhân khẩu, chủ yếu là bà con người Thái, Mường với hơn 60% hộ nghèo. Trong đó hơn 80% làm nông nghiệp. Nên nếu dự án làm thủy điện được triển khai sẽ ảnh hưởng đến khoảng 80% dân số của xã.
Ông Bùi Văn Suồi, người dân bản Chiềng Nưa bức xúc nói: “Tôi là người phản đối kịch liệt nhất việc làm thủy điện, bởi không riêng gì tôi mà rất nhiều bà con ở bản này đều rất lo lắng, thủy điện sẽ gây sạt lở đất, đá xuống ruộng lúa, nương ngô, sắn, gây mất nguồn lợi thủy sản…”.
Tìm đến bản Chiềng Hin và Chiềng Nưa, khi được hỏi về dự án thủy điện Xuân Nha, ai nấy đều lắc đầu ngán ngẩm, chen lẫn sự lo âu. Họ lo thiếu nước sản xuất, lo sạt lở đất, lo tai họa có thể ập xuống, nếu thủy điện có sự cố vỡ đập…
Đang chăm sóc ngô, anh Đinh Văn Chấn, ở bản Chiềng Hin phàn nàn: “Cả bản chúng tôi không ai đồng ý cho họ làm thủy điện nhưng họ vẫn làm. Để có ruộng nương cấy, chúng tôi phải mất hàng chục năm để khai phá, nhưng khi làm thủy điện tất cả sẽ bị nhấn chìm, chúng tôi biết làm gì để sinh sống”.
Ngoài nguồn cá tự nhiên quý hiếm như cá chày, cá dầm xanh, việc nuôi trồng thủy sản của người dân cũng sẽ biến mất. Không những vậy, các chất thải, dầu thải từ công trình sẽ tràn xuống suối gây ô nhiễm môi trường. Người dân bản Thín, bản Chiềng Hin, Chiềng Nưa không tránh khỏi bệnh tật nếu tiếp tục sử dụng nước suối để sinh hoạt. Trước nguy cơ nay, ông Hà Văn Hùng cùng đại diện một số hộ dân bản Thín đã có những kiến nghị bằng văn bản đến UBND huyện Vân Hồ, song vẫn chưa được hồi đáp.
Còn ông Bùi Văn Huyên, cán bộ Địa chính xây dựng xã Xuân Nha cho biết: “Những lần công ty và chính quyền xã, huyện về bản lấy ý kiến của người dân, thì 90% hộ có ruộng bên dưới khu vực xây dựng thủy điện đều không đồng ý, vì sợ đất đá sạt lở xuống ruộng và thiếu nước sản xuất khi mùa khô thủy tiện tích nước”.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Văn Bắc – Trưởng phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện Vân Hồ cho hay: “Một số công trình thủy điện trên địa bàn, chủ đầu tư chỉ thông qua Bộ Công thương, UBND tỉnh chứ không qua huyện. Chủ đầu tư làm việc thẳng với hai đơn vị trên, chỉ khi người dân khiếu nại họ mới cần đến chúng tôi vào kiểm tra, giải quyết, chúng tôi cũng đang rất đâu đầu về vấn đề này”. (Dân Việt 30/9) đầu trang(
Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Phong (Nghệ An) đã điều tra, làm rõ 4 đối tượng tham gia khai thác gỗ trái phép trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
Theo báo Công an Nghệ An, UBND tỉnh Nghệ An và CSĐT tỉnh đã làm rõ thông tin liên quan đến vụ việc báo VietNamNet phản ánh về tình trạng chặt phá rừng pơ mu.
Ngày 9/8, sau loạt bài “Tan hoang rừng pơ mu ngay trong khu bảo tồn thiên nhiên” của VietNamNet, phản ánh tình trạng chặt phá rừng, khai thác gỗ trái phép trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt thuộc xã Hạnh Dịch,huyện Quế Phong. Sau hơn 1 tháng tập trung điều tra, xác minh, những thông tin liên quan đến vụ việc đã được làm rõ.
Ông Nguyễn Danh Hùng, Giám đốc kiêm Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm khu BTTN Pù Hoạt cho biết: Sau khi báo phản ánh, với chức năng là cơ quan bảo vệ rừng, chúng tôi đã cung cấp, tạo mọi điều kiện và phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng để điều tra, làm rõ nội dung bài báo.
Ngày 9/8, dưới sự chủ trì của Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng, Phó giám đốc, Thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an tỉnh đã tổ chức cuộc họp với sự tham gia của lãnh đạo và cán bộ các phòng liên quan gồm: Văn phòng cơ quan CSĐT, Phòng Cảnh sát kinh tế, Phòng Cảnh sát môi trường và Phòng Kỹ thuật hình sự.
Tại cuộc họp, Đại tá Nguyễn Mạnh Hùng đã chỉ đạo tổ công tác do Thượng tá Hoàng Trọng Đống, điều tra viên cao cấp Văn phòng cơ quan CSĐT Công an tỉnh làm tổ trưởng, cùng các thành viên là cán bộ các phòng liên quan chủ trì, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh, các đơn vị liên quan tiến hành khám nghiệm hiện trường, điều tra, xử lý vụ khai thác rừng trái phép xảy ra tại khu BTTN Pù Hoạt.
Đến ngày 16/8, Công an tỉnh Nghệ An đã gửi Thường trực Tỉnh ủy báo cáo kết quả điều tra, xử lý ban đầu vụ việc trên; đồng thời báo cáo Giám đốc và Phó giám đốc, Thủ trưởng cơ quan CSĐT Công an tỉnh đề xuất biện pháp điều tra tiếp theo tại khu BTTN Pù Hoạt.
Trung tá Vi Văn Giang, Trưởng Công an huyện Quế Phong cho biết: Công an huyện đã xác lập chuyên án để điều tra, truy xét các đối tượng, thực hiện theo đúng trình tự, quy định của pháp luật về xác minh tin báo tội phạm.
Qua đó, đã điều tra, làm rõ 4 đối tượng tham gia khai thác gỗ trái phép, thu giữ các vật chứng gồm cưa xăng, các khúc gỗ đã được cắt, xẻ; đồng thời, phối hợp với các phòng nghiệp vụ Công an tỉnh, các đơn vị liên quan tiến hành thực nghiệm điều tra.
“Trong quá trình xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để điều tra vụ việc, cơ quan CSĐT Công an huyện Quế Phong gặp rất nhiều khó khăn: Đường sá đi lại hiểm trở, sự việc xảy ra đã lâu (từ tháng 7) nên dấu vết hiện trường bị xáo trộn, dân cư thưa thớt, không có nhân chứng...
Tuy nhiên, Công an huyện đã chỉ đạo quyết liệt, tập trung lực lượng điều tra, làm rõ các đối tượng khai thác gỗ trái phép. Hiện, đơn vị đang củng cố hồ sơ để xử lý các đối tượng theo quy định của pháp luật”, Trung tá Vi Văn Giang cho biết thêm. (Công An Nghệ An/ Công An Nhân Dân 29/9) đầu trang(
Dân di cư tự do vào địa bàn huyện diễn ra hết sức phức tạp, chủ yếu là dân tộc Mông thuộc các tỉnh miền núi Tây Bắc.
Theo UBND huyện Đam Rông (Lâm Đồng), từ khi huyện được thành lập đến nay, dân di cư tự do vào địa bàn huyện diễn ra hết sức phức tạp, chủ yếu là dân tộc Mông thuộc các tỉnh miền núi Tây Bắc.
Khi vào địa bàn huyện, các hộ thường chọn các khu vực rừng phòng hộ xa xôi, hẻo lánh giáp với địa phận tỉnh Đắk Nông để sinh sống, phá gần 2.500 ha rừng làm rẫy trái phép, gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhân hộ khẩu, bảo đảm an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội của địa phương.
Đến nay, Đam Rông đã hoàn thành 2 dự án ổn định đời sống cho đồng bào di dân tự do gồm: Dự án tại thôn 5, xã Rô Men, bố trí ổn định cho 111 hộ; dự án tại tiểu khu Phi Liêng cho 75 hộ và dự án tại khu vực Đạ M’Pô đang triển khai, sau khi hoàn thành sẽ xắp xếp chỗ cư trú ổn định đời sống cho khoảng 300 hộ.
Tuy nhiên, số hộ dân di cư tự do đang sinh sống rải rác tại các khu vực rừng phòng hộ vẫn còn rất lớn, ước khoảng 414 hộ với trên dưới 3.800 nhân khẩu.
Do đó, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Xuân Tiến chỉ đạo, trước mắt, UBND huyện và xã cần tìm mọi biện pháp sớm ổn định đời sống cho người dân, nhanh chóng hoàn thiện cơ sở hạ tầng nhưng không được xâm phạm thêm đến rừng, bởi Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo nghiêm cấm phá rừng lấy đất sản xuất. (Pháp Luật + 29/9) đầu trang(
Thời gian qua, Báo Thanh tra đã chuyển đơn của ông Vì A Thanh, trú tại bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu phản ánh dấu hiệu trù dập, tạo dựng hồ sơ, chứng cứ giả của ông Vừ A Lử, cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Co Mạ về hành vi "phá rừng phòng hộ trái pháp luật" đối với gia đình ông Thanh.
Đơn đã được chuyển đến công an huyện Thuận Châu (Sơn La) theo Phiếu chuyển số 180/PC-BTT ngày 12/5/2016 nhưng đến nay vẫn chưa nhận được hồi âm. (Thanh Tra 30/9) đầu trang(
Ngày 29-9, ông Võ Ngộ, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (huyện Kbang, Gia Lai) cho biết, đơn vị đã yêu cầu 2 cán bộ là Nguyễn Xuân Hinh, đội trưởng đội bảo vệ rừng và Đỗ Khắc Đạt, cán bộ phụ trách tiểu khu 90, nơi 2 cây gỗ hương bị đốn hạ làm kiểm điểm để có phương án chấn chỉnh, rút kinh nghiệm.
“Vụ việc mất 2 cây gỗ hương là do khách quan. Toàn bộ gỗ tang vật đã thu giữ được, không để lâm tặc mang đi... Nếu lâm tặc mang đi hết gỗ đốn hạ thì có thể kỷ luật, sa thải được. Chứ đằng này lâm tặc “xẻ thịt” một hai cây rồi để đó thì cũng khó”, ông Võ Ngộ nói.
Ông Võ Văn Phán, Chủ tịch UBND huyện Kbang, xác nhận, tính đến này 28-9, có thêm 3 đối tượng tham gia vụ chặt 2 cây gỗ hương đã đầu thú. Ba đối tượng này cùng trú lại xã Sơn Lang (huyện Kbang).  Trước đó, có 5 đối tượng trong vụ việc này đã “sa lưới”. Trong đó, Công an huyện Kbang đã triệu tập, bắt 4 đối tượng gồm Đinh Văn Quynh (25 tuổi), Đinh Văn Quý (32 tuổi), Đinh Văn Noài (34 tuổi) và Đinh Ngâm (27 tuổi) đều cư trú tại làng Srắt, xã Sơn Lang, huyện Kbang.
Các đối tượng khai nhận, vào tối ngày 8-9, chúng cùng với 17 đối tượng khác (trú tại xã Sơn Lang và thị trấn Kbang, huyện Kbang) đến vị trí nói trên để dùng cưa xăng “xẻ thịt” 2 cây gỗ hương. Riêng 4 đối tượng trên chỉ làm thuê cho đối tượng tên Phúc (thị trấn Kbang). Tiếp đó, đối tượng cầm đầu trong vụ chặt phá gỗ hương là Nguyễn Anh Huyện (còn gọi là Phúc, 29 tuổi, trú tổ dân phố 2, thị trấn Kbang, huyện Kbang) đã ra đầu thú.
“Bây giờ công an đang lấy lời khai điều tra, truy bắt các đối tượng đang chạy trốn... Nói chung rồi cũng bắt được hết, không chạy đi đâu được. Điều tra xem khai thác xong thì chở đi đâu, chở đi đường nào, bán cho ai... để tìm ra đường dây. Phải điều tra, xử lý mạnh tay thì những đối tượng khác cũng nhợn (sợ -PV) một chút’, ông Phán nói.
Trước đó, vào khoảng 3 giờ sáng ngày 9-9, một băng nhóm lâm tặc được khai báo ban đầu là 21 người lén vào khoảnh 6, tiểu khu 90, thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa cưa hạ 2 cây gỗ hương với khối lượng gỗ bị thiệt hại hơn 30m³. Công an đã khởi tố vụ án cưa hạ gỗ hương. Đến nay đã có 8/21 đối tượng “sa lưới”. (Sài Gòn Giải Phóng 29/9) đầu trang(
Sáng 29/9, Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam đã bắt giữ 14 phách gỗ hương (tương đương 3,4 m3) của một đường dây khai thác vận chuyển gỗ lậu chuyên nghiệp.
Theo thông tin ban đầu, số lượng gỗ này do các đối tượng khai thác trái phép trong Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, rồi thuê người dân bản địa, dùng trâu kéo ra tập kết ngay bên đường Hồ Chí Minh, để chờ vận chuyển về xuôi. Do được tổ chức rất tinh vi nên đường dây phá rừng này tồn tại đã nhiều tháng qua mà vẫn không bị phát hiện, ngăn chặn.
Phải mất gần một tuần mật phục, Công an huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam mới phá được đường dây này. Hiện 14 phách gỗ này đang được Công an huyện Phước Sơn chuyển về trụ sở để mở rộng công tác điều tra. (Đài Truyền Hình Việt Nam 29/9) đầu trang(
Sáng 29-9, tại Km - 1332+450, đường Hồ Chí Minh qua xã Cà Dy, huyện Nam Giang, (Quảng Nam), công an dựng lại hiện trường vụ tai nạn giao thông giữa 2 xe máy khiến 2 người tử vong rạng sáng 28-9.
Thượng úy Hoàng Cao Thắng, công an huyện Nam Giang, cho biết hai xe máy này bị tai nạn khi đang chở gỗ.
Danh tính hai nạn nhân được xác định là Nguyễn Công Viên, (28 tuổi, trú Hòa Hữu Đông, Đại Hồng, Đại Lộc) và Đinh Xuân Nam, (21 tuổi, tổ 3, thôn Thành Mỹ 2, TT Thành Mỹ, Nam Giang).
Theo thượng úy Thắng, vụ việc xảy ra lúc đêm khuya nên khi công an tiếp cận hiện trường thì người dân tham gia cứu nạn đã dọn dẹp số gỗ chở trên những xe máy này. Ông Thắng cũng cho biết công an đang xác minh việc kiểm lâm có truy đuổi và xịt hơi cay vào những xe chở gỗ này.
“Vì vụ việc mới xảy ra nên công an phải điều tra nên mới xác định được” - Thượng úy Thắng nói. (Tuổi Trẻ 29/9) đầu trang(
Trong buổi công bố Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2011 - 2015 (gọi tắt báo cáo) tại Bộ Tài nguyên - Môi trường ngày 29.9, trong số 5 chuyên gia góp ý thì có đến 4 người chỉ ra nhiều thiếu sót của bản báo cáo này.
Ông Hoàng Dương Tùng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường cho biết, báo cáo dày hơn 200 trang do lãnh đạo Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT), Tổng cục Môi trường cùng với nhiều chuyên gia thực hiện với chi phí khoảng 1 tỉ đồng lấy từ ngân sách. Đây là lần thứ 3, Bộ TN-MT làm Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia và là lần đầu tiên kể từ khi có luật Môi trường 2014. Tới đây, báo cáo sẽ được trình Chính phủ đưa ra Quốc hội, tuyên truyền phổ biến rộng rãi tới toàn thể xã hội.
Báo cáo chia thành 10 chương nói về các vấn đề phát triển kinh tế xã hội và sức ép lên môi trường; biến đổi khí hậu, thiên tai; phát sinh và xử lý chất thải rắn; môi trường nước; môi trường không khí; môi trường đất; đa dạng sinh học; tác động của ô nhiễm môi trường; quản lý môi trường; những thách thức môi trường và định hướng bảo vệ môi trường trong 5 năm tới.
Theo Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà, xây dựng báo cáo để cung cấp cách nhìn tổng quan về hiện trạng môi trường quốc gia từ năm 2011 - 2015, đánh giá tình hình phát triển, nguồn lực tác động lên môi trường. Nhìn nhận đánh giá về việc chưa làm được, đề ra khuyến nghị, giải pháp...
Góp ý tại buổi công bố, PGS-TS Phạm Quang Hà, Phó viện trưởng Viện Khoa học nông nghiệp VN cho rằng, báo cáo được trình bày rất đẹp, nhưng còn nhiều điểm thiếu sót khi chỉ đề cập sơ qua nhiều sự cố ở mức chấn động về môi trường như Formosa xả thải hủy hoại biển miền Trung; hiện tượng TP.HCM liên tục ngập úng vì triều cường, mưa lũ; ĐBSCL không có lũ gây khó khăn cho vựa lúa quốc gia, ảnh hưởng hệ sinh thái...
Phần môi trường rừng trong báo cáo không rõ chất lượng giảm hay tăng mà chỉ nói là diện tích rừng nói chung tăng lên. Trong khi đó, thời gian qua, không ít vụ án liên quan đến phá rừng ở miền Trung, Tây nguyên, Tây Bắc... bị phanh phui.
Bên cạnh đó, báo cáo cũng gộp đất rừng vào đất nông nghiệp là chưa đúng do tiêu chí phân loại chỉ đưa ra 3 loại đất: đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Nếu gộp đất rừng vào đất nông nghiệp như vậy, thành ra đất nông nghiệp ở nước ta sẽ lên đến hơn 80% do đa phần diện tích đất nước ta là đồi núi.
Còn về phần báo cáo môi trường nước có nói, ở lưu vực những con sông lớn, chất lượng nước tốt lên nhưng không đề cập đến vấn đề suy giảm đa dạng sinh học ở hai bờ do mực nước xuống thấp vì thủy điện ngăn dòng là phiến diện. Vấn đề ô nhiễm không khí ở những thành phố lớn Hà Nội, TP.HCM... thì không đề cập hết nguyên nhân.
Thừa nhận thiếu sót nhưng lãnh đạo Tổng cục Môi trường cho rằng, đây là bản báo cáo giai đoạn 2011 - 2015 chứ không phải báo cáo thường niên nên không thể đề cập sâu quãng thời gian đầu năm 2016. Nhiều trường hợp, trong khuôn khổ phạm vi không thể làm sâu hơn, chỉ có thể nhắc sơ qua.
Ông Nguyễn Văn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường đánh giá, đúng là tình trạng ô nhiễm đất, nước, không khí vẫn đang gia tăng nhưng tốc độ chậm lại, chưa thể giảm được. “Bộ TN-MT đã khoanh vùng ô nhiễm môi trường tập trung vào một số đối tượng. Có khoảng 20% đối tượng gây ra trên 70% ô nhiễm môi trường nên tập trung xử lý số này thì môi trường sẽ được cải thiện”, ông Tài nói.
GS-TS Hoàng Xuân Cơ, đến từ Khoa Môi trường, ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội cho rằng, phần số liệu của báo cáo có “vấn đề” khi số mẫu cơ sở không đa dạng. Ví dụ báo cáo về môi trường không khí ở Hà Nội thể hiện là không đạt nhưng chỉ dựa trên cơ sở mẫu lấy ở một điểm gần đường giao thông là quá ít, không phản ánh đầy đủ. Phải có kết quả quan trắc ở nhiều điểm khác nhau, thời gian khác nhau mới có kết quả chuẩn xác.
“Chúng ta có không ít trạm quan trắc nhưng tại sao không huy động được hệ thống số liệu đa dạng phục vụ báo cáo. Tôi cho rằng, trong 5 năm tới, cần phải kiện toàn vấn đề số liệu để có được một báo cáo đầy đủ, chuẩn xác, thực sự hữu ích hơn. Cách nói ở nhiều điểm trong báo cáo có phần “nguy hiểm” vì chưa có đầy đủ số liệu nên chưa có đủ cơ sở khoa học. Ngay từ đầu, nếu số liệu không đầy đủ thì rất khó đưa ra được những kết quả báo cáo sát thực tế”, GS-TS Hoàng Xuân Cơ nói.
Ông Hoàng Dương Tùng thừa nhận, nhiều điểm trong báo cáo có số liệu không đầy đủ nhưng đều có kiểm chứng. “Chúng tôi nhất trí rằng, cần phải tăng cường đầu tư hơn cho hệ thống quan trắc. Sắp tới, Chính phủ cũng sẽ đầu tư nhiều hơn cho quan trắc nước, không khí... Số liệu sẽ được lấy thường xuyên, đầy đủ và đa dạng hơn”, ông Tùng nói. Còn ông Nguyễn Văn Tài cho rằng, do nguồn lực yếu nên không thể làm đầy đủ được mẫu, chỉ chọn những điểm mang tính tiêu biểu để có kết quả tương đối.
GS Đặng Kim Chi (Trường ĐH Bách khoa Hà Nội), cũng tham gia biên tập, biên soạn báo cáo nhưng đã thẳng thắn chỉ ra báo cáo thiếu nhiều phần kiến nghị giải pháp. “Có thể kiến nghị nêu rõ lộ trình giải quyết dứt điểm từng vấn đề, nhóm vấn đề một. Từ từ làm theo lộ trình rõ như 5 năm tới tập trung khắc phục vấn đề ô nhiễm làng nghề, khu công nghiệp... chắc chắn môi trường sẽ được cải thiện”.
Ông Tô Xuân Nghĩa là cán bộ sức khỏe của Tổ chức Y tế thế giới đặt vấn đề, báo cáo không nói về tác động của môi trường đến sức khỏe con người là thiếu sót đáng bàn. Điều này cũng thể hiện sự phối hợp giữa Bộ TN-MT và Bộ Y tế còn hạn chế. Đây là khía cạnh không thể bỏ qua trong lần tới làm Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia. (Thanh Niên 30/9) đầu trang(
Đề tài “Nghiên cứu thiết lập rạn nhân tạo kết hợp phục hồi san hô ở khu vực mũi Bàng Thang (Tây Bắc Hòn Tre, vịnh Nha Trang) do Thạc sĩ Nguyễn Đình Đàn (Viện Hải Dương học) thực hiện từ năm 2013 vừa được Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh nghiệm thu.
Kết quả đề tài sẽ góp phần phục hồi rạn san hô, bảo vệ đa dạng sinh học biển, phục vụ phát triển du lịch lặn biển.
Qua khảo sát, mũi Bàng Thang từng là khu vực có nhiều loài san hô phát triển, đã xác định được 53 loài san hô có phân bố trong khu vực, trong đó có 22 loài phân bố ở Bắc Hòn Đen và 39 loài ở Nam Hòn Đen. Trong những năm qua, việc khai thác thủy sản có tính hủy diệt và khai thác san hô làm mỹ nghệ đã làm suy thoái rạn san hô ở khu vực trên. Vì thế, nhóm nghiên cứu chọn địa điểm này để triển khai các hoạt động nghiên cứu.
Đề tài được thực hiện với mục tiêu thiết kế và thử nghiệm rạn nhân tạo kết hợp phục hồi san hô nhằm mục đích tạo cảnh quan cho du lịch lặn biển và giảm thiểu sóng đối với bãi tắm vịnh Nha Trang. Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu đã xây dựng được khu rạn nhân tạo đa chức năng với 100 giá thể bằng bê tông, hình nón với chiều dài khoảng 150m, thả xuống khu vực phía Nam Hòn Đen thuộc mũi Bàng Thang theo từng cụm để trồng phục hồi và mở rộng sự phát triển của san hô ở nền đáy, với tổng diện tích san hô 4.000m2.
Quá trình theo dõi cho thấy, tổng số lượng san hô phục hồi là 3.974 tập đoàn, trên 2 loại giá thể bồn bê tông và nền đáy tự nhiên. Trong đó có 3 loài có tỷ lệ sống cao đạt 69,9%, có khả năng tồn tại trong khu vực mũi Bàng Thang. Theo ghi nhận, san hô bám và phục hồi trên bồn giá thể bê tông có tỷ lệ sống cao hơn trên nền đáy tự nhiên. Bên cạnh đó có sự tham gia phục hồi tại chỗ của các giống san hô cứng và san hô mềm, tăng thêm cảnh quan cho khu vực du lịch và lặn biển, có ý nghĩa về bảo tồn đa dạng sinh học.
Ngoài nghiên cứu phục hồi san hô, nhóm tác giả còn nghiên cứu, đánh giá tác động ảnh hưởng của công trình rạn nhân tạo đối với việc giảm sóng ở bãi tắm Nha Trang vào các mùa gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Kết quả cho thấy, các tác động của động lực sóng và dòng chảy trước và sau khi xây dựng rạn nhân tạo không có tác động đáng kể (dưới 1%) đến sự giảm sóng ở các bãi tắm Nha Trang.
Hội đồng Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh đánh giá đề tài cơ bản đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Việc ứng dụng kết quả đề tài trong thực tế sẽ giúp thực hiện nhiều mục tiêu về phục hồi và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và đa dạng sinh học biển, đặc biệt là kết hợp để phát triển ngành du lịch lặn biển trên các vùng biển ở Khánh Hòa.
Theo chủ nhiệm đề tài Nguyễn Đình Đàn, thời gian đánh giá hiệu quả của mô hình xây dựng rạn nhân tạo kết hợp phục hồi san hô chưa đủ dài để san hô phát triển. Do vậy cần tiếp tục có những nghiên cứu, kiểm tra và phục hồi những loài san hô thích ứng với điều kiện của khu vực. Với thành công ban đầu của nghiên cứu, cần tiếp tục triển khai ở những khu vực biển có tiềm năng phát triển du lịch và giải trí biển, các khu nghỉ dưỡng.
Nhóm nghiên cứu đề nghị nên giao kết quả nghiên cứu cho cơ quan có thẩm quyền và doanh nghiệp có khả năng phát triển kết quả ở khu vực mới, phục vụ du lịch biển trong tương lai. Chính quyền các cấp cần có chủ trương, chính sách quy hoạch không gian ven biển để công tác quản lý được chặt chẽ nhằm triển khai mô hình có hiệu quả, tránh những xung đột đáng tiếc xảy ra. (Báo Khánh Hòa 29/9) đầu trang(
18 giờ ngày 27/9, Phòng Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh Đồng Tháp) phối hợp với Công an huyện Thanh Bình chốt chặn và bắt giữ đối tượng Nguyễn Văn Thanh (34 tuổi, ngụ khóm 3, thị trấn Mỹ An, huyện Tháp Mười) đang điều khiển xe môtô chở 3 giỏ xách có biểu hiện nghi vấn.
Qua kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trong các giỏ xách chứa gần 140kg rắn các loại và 6 con rùa có trọng lượng 2,4kg. Toàn bộ tang vật không có giấy tờ chứng minh ngồn gốc.
Vụ việc đã chuyển cho lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đồng Tháp xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Đồng Tháp 28/9, Công An Nhân Dân 29/9) đầu trang(
Bên cạnh các dụng cụ bắt chim trời thường gặp là ná, chài, câu… thì nhiều người săn chim trên địa bàn huyện Hồng Ngự đang tận diệt chim trời bằng một dụng cụ có bôi keo dính chuột.
Hình thức bẫy của những người này là dùng một số ống nhựa, sắt bôi keo dính chuột cùng chim mồi. Chim bắt được sẽ được các thợ săn bán ngay cho người dân trong khu vực hoặc các nhà hàng, quán nhậu… (Báo Đồng Tháp 28/9) đầu trang(
Bộ NN&PTNT vừa đề nghị Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho UBND các tỉnh chỉ đạo các cơ quan thực thi pháp luật, các cơ quan truy tố, xét xử của tỉnh thực hiện rà soát, kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn bán, xuất nhập khẩu, chế tác, quảng cáo, sử dụng trái pháp luật các mẫu vật động vật hoang dã, đặc biệt là ngà voi, sừng tê giác và các sản phẩm của hổ.
Đồng thời, tập trung kiểm tra trên toàn tỉnh các làng nghề, cơ sở chế biến, cửa hàng bán đồ lưu niệm tại các điểm du lịch, sân bay, bến tàu và các cơ sở buôn bán, bào chế thuốc y học cổ truyền.
Bên cạnh đó, chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong kiểm tra, điều tra, khởi tố các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến buôn bán, chế biến các mẫu vật động vật, thực vật hoang dã, trong đó xử lý nghiêm các cơ sở, cửa hàng bày bán mẫu vật ngà voi, sừng tê giác và cá sản phẩm của hổ trên địa bàn.
Bộ NN&PTNT cũng đề nghị các Sở NN&PTNT các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho UBND các tỉnh chỉ đạo các cơ quan liên quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an, Hải quan, Biên phòng, Quản lý thị trường trên địa bàn tỉnh xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm theo tinh thần Chỉ thị 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp cấp bách phòng ngừa, đấu tranh với hành vi xâm hại các loài động vật hoang dã trái pháp luật, báo cáo kịp thời kết quả xử lý các vụ việc vể Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. (Hải Quan 30/9) đầu trang(
Sáng 29/9, một hộ dân ở phường Mỹ Thạnh, TP Long Xuyên (An Giang) đã tự nguyện giao nộp 2 cá thể gấu nuôi nhốt của gia đình cho tổ chức bảo vệ động vật hoang dã.
Hai cá thể gấu này thuộc loài gấu ngựa (1 cá thể đực và 1 cá thể cái), được hộ gia đình này chuyển từ TP HCM về TP Long Xuyên nuôi từ năm 2006 đến nay.
Sau 10 năm nuôi nhốt, hiện tại, hai cá thể gấu này nặng trên 160kg, vẫn khỏe mạnh bình thường. Dù gấu có nguồn gốc rõ ràng, nhưng gia đình không còn nhu cầu nuôi nhốt, muốn cho gấu trở về với thiên nhiên hoang dã của chúng nên đã tự nguyện liên hệ với Chi cục kiểm lâm An Giang giao nộp.
Chiều cùng ngày, tại khu du lịch Tức Dụp, thuộc xã An Tức, huyện Tri Tôn (An Giang), một cá thể khỉ đuôi dài, trọng lượng khoảng 5kg cũng được Khu du lịch Tức Dụp bàn giao chi Chi cục kiểm lâm An Giang.
Sau khi nhận 2 cá thể gấu và 1 cá thể khỉ, Chi cục kiểm lâm An Giang bàn giao cho Trạm cứu hộ động vật hoang dã Hòn Me (thuộc huyện Hòn Đất, Kiên Giang) chăm sóc. (Giáo Dục Và Thời Đại 30/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, có nhiều người dân bị những chú khỉ trong nội ô Tòa Thánh cắn, gây thương tích nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh phối hợp với các nhân viên Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (thuộc Chi cục Kiểm lâm TP.Hồ Chí Minh) đến nội ô Tòa Thánh để bắt những con khỉ hung dữ này.
Hiện nay, trong khu rừng thiên nhiên của nội ô Tòa Thánh, ước tính có khoảng 30- 40 cá thể khỉ sinh sống, trong đó có những chú khỉ đầu đàn, khỉ đuôi lợn, khỉ ba chân rất hung dữ.
Trong hai ngày 25 và 26.9.2016, các nhân viên Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi đã bắt được 6 cá thể khỉ. Hầu hết các cá thể này đều to lớn, giữ vị trí đầu đàn. Trong đó có một cá thể trên cổ còn đeo dây xích.
Hiện nay, còn một chú khỉ cụt tay trái đang lẩn quẩn quanh nhà ông Huỳnh Công Văn (sinh năm 1956, ngụ ấp Long Mỹ, xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành).
Ông Văn cho biết, mấy hôm trước ông nhận ra chú khỉ quen thuộc đang ở nhà mình, là do ông vào làm công quả thường xuyên trong nội ô. Lần đầu tiên gặp mặt, ông đưa tay lên vuốt đầu chú khỉ và lấy chuối chín cho ăn, chú khỉ tỏ ra ngoan, hiền. Hôm sau ông cũng đem thức ăn ra và định vuốt đầu chú khỉ nữa, nhưng mới đưa tay lên đã bị khỉ cắn phập vào cổ tay, máu ra đầm đìa.
Ngày 26.9, hai nhân viên của Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TP.HCM) và một số thành viên của Đội Cứu nạn giao thông Tây Ninh đã mai phục để thổi thuốc gây mê và quyết liệt truy đuổi, nhưng chú khỉ ranh ma này đã lẩn trốn trong ruộng hoa màu của người dân nên chưa bắt được.
Theo kế hoạch, các cá thể khỉ sau khi bị bắt sẽ được Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi giao lại cho Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh và sau đó đem thả vào những cánh rừng nguyên sinh để chúng không còn đe dọa sự an nguy của con người. (Báo Tây Ninh 29/9) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 29-9, Đoàn công tác của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã có buổi làm việc với UBND huyện Định hóa nhằm đánh giá kết quả thực hiện Đề án “Bảo vệ và phát triển rừng khu ATK Định Hóa tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2020” theo Quyết định số 1134/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21-8-2008.
Qua 8 năm thực hiện Đề án (từ năm 2008 đến nay), Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa (đơn vị được giao làm chủ đầu tư) đã thực hiện tốt công tác tham mưu cho chính quyền địa phương trong việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật.
Nhờ đó, diện tích rừng và đất lâm nghiệp đã được quản lý chặt chẽ, kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm ngay khi mới phát sinh. Tỷ lệ che phủ rừng được tăng lên từ 45% năm 2008 lên 56% năm 2015. Trước khi thực hiện Đề án, trên địa bàn huyện chỉ có 90 doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, hoạt động nhỏ lẻ, khối lượng lâm sản khai thác, sơ chế khoảng 5.000m3/năm.
Đến nay, trên địa bàn huyện đã có 24 doanh nghiệp và 282 cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản với tổng khối lượng lâm sản khai thác, sơ chế đạt trên 30.000m3/năm, tạo việc làm thường xuyên cho hàng nghìn lao động địa phương.
Từ năm 2008 đến nay, Ban quản lý rừng ATK Định Hóa đã giải ngân tổng nguồn vốn thực hiện Đề án là 111,2 tỷ đồng. Trong đó, vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 76 tỷ đồng; vốn đầu tư lâm sinh 35,2 tỷ đồng.
Từ nguồn vốn hỗ trợ của Đề án, mỗi năm, người dân trên địa bàn huyện trồng được khoảng 2.000ha rừng, trong đó, có khoảng 500-600ha cây quế. Bên cạnh đó, trong 8 năm qua, lực lượng Kiểm lâm đã tổ chức hàng nghìn đợt kiểm tra, tuần tra  bảo vệ rừng. Kết quả đã lập biên bản xử lý 551 vụ vi phạm Luật Bảo vệ rừng, tịch thu trên 1.000m3 gỗ các loại, 5 xe máy, 1 xe công nông, 76,4kg động vật hoang dã, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 2,3 tỷ đồng…
Tại buổi làm việc, Đoàn công tác đã đánh giá cao những kết quả sau 8 năm triển khai triển khai thực hiện Đề án trên địa bàn huyện. Đoàn đề nghị, thời gian tới, huyện Định Hóa và Ban quản lý rừng ATK Định Hóa cần tiếp tục thực hiện hiệu quả Đề án nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ các điểm di tích lịch sử, phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. (Báo Thái Nguyên 29/9) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên về việc giải quyết tranh chấp đất rừng trên địa bàn huyện Mường Chà, Sở Nội vụ đã chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh thành lập đoàn công tác liên ngành làm việc với huyện, xã, nhân dân 2 bản có tranh chấp.
UBND tỉnh Điện Biên thông tin về kết quả buổi làm việc của đoàn công tác như sau:
Về đặc điểm chung, khu vực tranh chấp đất đai giữa 67 hộ dân, 378 nhân khẩu bản Huổi Lóng, xã Na Sang với 25 hộ dân, 175 nhân khẩu bản Huổi Nhả, xã Mường Mươn, diện tích tranh chấp khoảng 1.043,16ha. Nhân dân bản Huổi Lóng đã sinh sống tại khu vực này từ lâu đời.
Ngày 14/11/2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2006/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, huyện. Trong đó, thành lập xã Na Sang trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của xã Mường Mươn. Sau khi xã Na Sang được thành lập thì bản Huổi Lóng thuộc địa giới hành chính xã Na Sang nhưng một phần diện tích đất canh tác và đất rừng mà nhân dân bản Huổi Lóng quản lý thuộc địa giới hành chính xã Mường Mươn (tại khu vực Tiểu khu 677) với diện tích đất tự nhiên khoảng 1.043,16ha.
Nguyên nhân tranh chấp: Từ khi thành lập xã Na Sang (năm 2006) đến năm 2014 (trước khi nhân dân bản Huổi Nhả, xã Mường Mươn được chi trả tiền phí dịch vụ môi trường rừng), nhân dân bản Huổi Lóng, xã Na Sang và nhân dân bản Huổi Nhả vẫn canh tác và sản xuất ổn định, không xảy ra tranh chấp đất đai.
Năm 2015, UBND huyện Mường Chà quyết định giao đất giao rừng tại khu vực Tiểu khu 677 cho nhân dân bản Huổi Nhả quản lý với diện tích 637,91ha đất rừng và được nhận phí dịch vụ môi trường rừng (nhân dân được truy lĩnh tiền phí dịch vụ môi trường rừng từ năm 2011 đến năm 2014).
Khi nhân dân bản Huổi Nhả được nhận phí dịch vụ môi trường rừng thì nhân dân bản Huổi Lóng có đơn đề nghị UBND huyện Mường Chà với các nội dung: Giao lại toàn bộ diện tích đất rừng nêu trên về cho nhân dân bản Huổi Lóng quản lý; đề nghị chi trả phí dịch vụ môi trường rừng thuộc khu vực đất rừng trên từ năm 2011 đến nay cho bản Huổi Lóng (phí dịch vụ môi trường rừng đã được huyện Mường Chà chi trả cho bản Huổi Nhả từ năm 2011 đến năm 2015); đề nghị điều chỉnh đường địa giới hành chính theo ranh giới Tiểu khu 677 về xã Na Sang quản lý.
Các điểm tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính giữa bản Huổi Nhả, xã Mường Mươn và bản Huổi Lóng, xã Na Sang, phát sinh sau khi có quyết định giao đất giao rừng. Vì vậy, thực chất vấn đề tranh chấp đất đai của nhân dân các bản nêu trên là tranh chấp về quyền sử dụng đất gắn với quyền được hưởng tiền phí dịch vụ môi trường rừng.
Xây dựng phương án giải quyết dứt điểm tranh chấp: Qua quá trình họp, thảo luận, đoàn công tác của tỉnh, UBND huyện Mường Chà và các xã Mường Mươn, Na Sang, cùng nhân dân bản Huổi Nhả nhất trí với phương án giao lại cho nhân dân bản Huổi Lóng 6/13 khoảnh (từ khoảnh 2 đến khoảnh 7) thuộc Tiểu khu 677 với diện tích khoảng 223,01ha.
Tuy nhiên, nhân dân bản Huổi Lóng không đồng thuận mà đề nghị giao lại toàn bộ diện tích 637,91ha đất rừng thuộc Tiểu khu 677 cho nhân dân bản Huổi Lóng quản lý; đề nghị chi trả phí dịch vụ môi trường rừng từ năm 2011 đến nay; đề nghị điều chỉnh đường địa giới hành chính theo ranh giới Tiểu khu 677 về xã Na Sang quản lý.
Để có cơ sở giải quyết dứt điểm việc tranh chấp đất đai giữa nhân dân 2 bản Huổi Lóng và Huổi Nhả, trong thời gian tới UBND tỉnh Điện Biên tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND huyện Mường Chà tập trung thực hiện tốt một số trọng tâm sau:
Tiếp tục chỉ đạo cơ quan chuyên môn phối hợp với UBND các xã có liên quan bàn bạc thống nhất, tạo sự đồng thuận giữa cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể các xã có liên quan, từ đó tuyên truyền vận động tạo sự đồng thuận trong nhân dân.
UBND huyện cần tập trung chỉ đạo xây dựng triển khai kế hoạch giải quyết tranh chấp đất đai đối với các điểm tranh chấp, bảo đảm sự thống nhất, đồng thuận trong cấp ủy, chính quyền từ huyện xuống đến địa bàn dân cư bảo đảm nguyên tắc pháp lý và hài hòa lợi ích của nhân dân 2 bên tranh chấp.
Chỉ đạo các xã có liên quan xuống tổ chức họp dân tuyên truyền vận động tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, giữ gìn đoàn kết nội bộ. Bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn.
Xây dựng phương án giải quyết dứt điểm các điểm tranh chấp nêu trên. (Chính Phủ 29/9) đầu trang(
Việc giao đất rừng cho các cộng đồng dân cư tại các thôn/làng quản lý, bảo vệ đã và đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực.
Diện tích rừng được bảo vệ ngày càng tăng lên với chất lượng được nâng cao. Cùng với đó, tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) được chi trả hàng năm là một nguồn thu giúp kết nối cộng đồng dân cư thôn và phát triển sinh kế cho người làm nghề rừng.
Thực tế cho thấy, những năm trở lại đây, khi chính sách chi trả DVMTR được triển khai đưa vào thực hiện đã mang lại nhiều lợi ích như: tăng diện tích rừng được bảo vệ, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng, đặc biệt là các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn ở vùng sâu, vùng xa.
Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn tiền DVMTR tại các thôn/làng do chưa có sự hướng dẫn từ cơ quan quản lý và trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế nên chưa thực sự phát huy hết hiệu quả của nó. Việc người dân chỉ chú trọng dùng tiền DVMTR cho các hoạt động cộng đồng và chia cho các hộ được giao đất, bảo vệ rừng mà chưa chú ý đến việc sử dụng tiền này để phát triển sinh kế khiến đời sống của nhiều hộ dân vẫn còn khó khăn. Từ đó, ý thức và trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng của những hộ này cũng bị ảnh hưởng.
Toàn tỉnh Kon Tum có 22 cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất, giao rừng từ năm 2011-2015, trong đó chủ yếu thuộc huyện Đăk Glei. Người dân được giao rừng chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức còn thấp, điều kiện phát triển sản xuất chưa cao. Sau khi hoạt động chi trả DVMTR đưa vào thực hiện, thu nhập từ nguồn chi trả đạt bình quân mỗi cộng đồng dân cư thôn khoảng 18 triệu đồng/cộng đồng/năm. Đây là một nguồn thu tương đối lớn so với thu nhập của các hộ gia đình sống trong rừng và gần rừng.
Trong tháng 9/2016, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam và Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã phối hợp tổ chức chương trình “Tập huấn quản lý và sử dụng tiền DVMTR trong phát triển sinh kế có lồng ghép giới tại thôn/làng” tại huyện Đăk Glei - địa bàn có nhiều cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao đất, giao rừng của tỉnh Kon Tum.
Chương trình không những giúp người dân được giao đất trên địa bàn biết cách sử dụng tiền DVMTR một cách hiệu quả vào việc quản lý, bảo vệ rừng mà còn giúp họ lập kế hoạch sử dụng nguồn tiền này vào công tác cộng đồng và phát triển sinh kế.
Tại chương trình tập huấn, bà con được cán bộ tư vấn dự án Tăng cường thực thi chính sách chi trả DVMTR (IPFES) hướng dẫn quản lý và sử dụng hiệu quả tiền DVMTR thu được. Bắt đầu từ việc bầu chọn ra một Ban quản lý (BQL) tiền DVMTR của thôn/làng, BQL này có trách nhiệm tổ chức họp cộng đồng để lập kế hoạch sử dụng tiền DVMTR sau khi nhận được thông báo về số tiền dự kiến nhận được trong năm.
Kế hoạch đưa ra trước cả cộng đồng để lấy ý kiến, sao cho việc chi tiêu, sử dụng nguồn tiền này đảm bảo công khai, minh bạch; nâng cao năng lực và trách nhiệm của cộng đồng dân cư về quản lý và bảo vệ rừng; tăng cường sự tham gia quản lý, kiểm tra và giám sát việc bảo vệ và phát triển rừng của cộng đồng và các bên liên quan; đặc biệt thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế của các hộ gia đình trong thôn/làng.
Chương trình nhận đã được sự quan tâm tham gia của đại diện các thôn/làng được Nhà nước giao đất rừng. Anh A Riết – thành viên của BQL tiền DVMTR thôn Xốp Dùi (huyện Đăk Glei) phấn khởi: “Nhờ nguồn tiền DVMTR mà các hoạt động cộng đồng ở thôn Xốp Dùi được tổ chức đầy đủ hơn, kết nối được bà con với nhau. Bà con cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng ở nơi mình đang sinh sống. Thông qua buổi tập huấn, BQL của tôi đã biết thêm về việc sử dụng tiền DVMTR vào phát sinh kế cho các hộ dân, thay vì chỉ chi trả cho các hoạt động cộng đồng và bảo vệ rừng như trước kia”.
Anh Nguyễn Anh Dũng – đại diện đơn vị tư vấn dự án IPFES chia sẻ: “Hi vọng, đợt tập huấn này sẽ tăng cường sự tham gia của người dân trong quản lý, bảo vệ rừng (tuần tra, trồng cây…); giúp bà con sử dụng tiền này để phát triển sinh kế, thành lập quỹ vay để phát triển sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi…); nâng cao năng lực cho bà con trong công tác quản lý tiền, tham gia các hoạt động thôn/làng”. (Tài Nguyên Và Môi Trường 29/9) đầu trang(
Ngày 29-9 tại Sở Nông nghiệp và PTNT, ông Nguyễn Đình Phương-Trưởng ban Kinh tế-Ngân sách HĐND tỉnh làm Trưởng đoàn cùng các thành viên của Ban đã tiến hành giám sát về tình hình thu nộp, quản lý và sử dụng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT trong 5 năm (2011-2015) các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh đã nhận được 250.481 triệu đồng từ nguồn thu dịch vụ môi trường rừng. Nhờ đó, mang lại nguồn thu đáng kể để đầu tư cho công tác quản lý bảo vệ rừng, khai thác bền vững tài nguyên đất đai lâm nghiệp…
Đến nay, tổng diện tích rừng được bảo vệ từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng là 495.186,76 ha, trên tổng diện tích 625.432,94 ha đất có rừng toàn tỉnh, chiếm tỷ lệ 79,4%. Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng giảm từ 1.601 vụ  năm 2012 xuống còn 893 vụ trong năm 2015, các vụ cháy rừng đã giảm rõ rệt về quy mô và mức độ thiệt hại. Thực hiện chương trình trồng rừng thay thế của Bộ Nông nghiệp và PTNT trong năm 2015 các đơn vị chủ rừng và huyện Kbang đã trồng được 686,3 ha, chưa kể diện tích 359 ha của các đơn vị tự trồng.
Dù vậy vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập như còn có sự chênh lệch  đối với 2 lưu vực sông Ba và sông Sêpêpôk. Các văn bản hướng dẫn của Trung ương còn chung chung; sự điều phối và gắn việc thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng chưa đồng bộ, chặt chẽ.
Tại buổi giám sát các thành viên Ban Kinh tế-Ngân sách HĐND tỉnh cũng đã đặt ra nhiều câu hỏi về việc chi trả tiền dịch vụ môi trường, công tác quản lý bảo vệ rừng... (Báo Gia Lai 29/9) đầu trang(
Theo thống kê, toàn tỉnh Đắk Nông có 63.057 ha đất có nguồn gốc đất lâm nghiệp đã được thu hồi từ các nông, lâm trường giao về cho địa phương quản lý và bố trí sử dụng.
Sau 2 năm triển khai kế hoạch của UBND tỉnh về chuyển đổi, cấp "sổ đỏ" cho diện tích này, một số địa phương đã tích cực vào cuộc, đạt được những kết quả bước đầu. Tuy nhiên, trong thực tế để đẩy mạnh tiến độ công tác này, cần có sự chung tay của các ngành, địa phương để tập trung xử lý những bất cập.
Theo báo cáo của Sở Tài nguyên-Môi trường, khi rà soát lại 63.057 ha thì chỉ có hơn 39.529 ha đủ điều kiện xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho các hộ gia đình, cá nhân. Diện tích còn lại hơn 23.527 ha đã được quy hoạch 3 loại rừng, đất giao thông, sông suối, sử dụng vào mục đích công cộng và bố trí các dự án, công trình thủy điện....
Tính đến hết tháng 8/2016, toàn tỉnh đã đo đạc, lập bản đồ địa chính được hơn 25.150 ha, chiếm 65,46% diện tích cần thực hiện. Trong đó, diện tích đã kê khai, đăng ký là 7.069 ha, cấp GCNQSDĐ được hơn 4.577 ha. Tổng số tiền đã thu được là trên 8 tỷ đồng.
Ông Đàm Quang Trung, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Thực tế, việc cấp GCNQSDĐ đối với 63.057 ha đất có nguồn gốc đất lâm nghiệp đã giúp ngành tăng cường hiệu quả quản lý, nhất là việc hoàn thiện việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, từng bước hạn chế được tình trạng tranh chấp đất đai. Về mặt quản lý chung của tỉnh thì công tác này tạo thuận lợi cho các địa phương trong việc tạo quỹ đất sạch để thu hút đầu tư, sắp xếp lại khu dân cư nhất là các huyện có đông dân di cư tự do”.
Bên cạnh những kết quả bước đầu thì qua đánh giá của tỉnh, việc thực hiện cấp GCNQSDĐ còn chậm. Nhiều địa phương không nắm rõ tiến độ, khối lượng công việc. Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do cán bộ địa chính các xã còn yếu về chuyên môn, chưa thật sự nhập cuộc.
Xã Nhân Đạo (Đắk R’lấp) là địa phương được chọn làm điểm. Vậy nhưng, đến nay địa phương này vẫn chưa nắm rõ được khối lượng công việc như thế nào. Phóng viên Báo Đắk Nông đã đăng ký làm việc với UBND xã Nhân Đạo về nội dung này từ nhiều ngày trước, nhưng khi đến, lãnh đạo UBND xã vẫn không nắm được số liệu cụ thể.
Lý do được lãnh đạo xã đưa ra là do cán bộ địa chính cũ đã chuyển công tác đi nơi khác, còn cán bộ địa chính của xã hiện nay mới được điều chuyển từ xã Nghĩa Thắng về từ tháng 3/2016 nên việc nắm bắt thông tin chưa cụ thể.
Trong buổi làm việc, ông Nguyễn Tạo, Chủ tịch UBND xã phải gọi rất nhiều cuộc điện thoại cho cán bộ địa chính cũ để hỏi thông tin liên quan khi phóng viên đề cập.
Ông Nguyễn Tạo cho biết: “Hằng năm, xã không đưa ra kế hoạch cụ thể, mà chỉ thông báo cho bà con ai có đất đủ điều kiện thì lên xã làm hồ sơ theo chủ trương chung, nếu đủ điều kiện thì cấp cho dân càng nhiều càng tốt”.
Với thực tế này, không biết xã lấy gì để kiểm tra, theo dõi và báo cáo lên cấp trên nhằm đẩy nhanh tiến độ theo chỉ đạo chung của tỉnh? Cũng theo ông Tạo thì cái vướng chủ yếu của xã bây giờ là ở diện tích đất thuộc khu vực thôn 2, với khoảng 20 ha đất rừng có thông. Trong đó, diện tích thông thực tế chỉ khoảng 1,5 ha dọc hai bên đường, diện tích còn lại đều là đất dân đã trồng các loại cây công nghiệp từ lâu. Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri người dân đã đề nghị được cấp GCNQSDĐ nhưng xã chỉ trả lời là đang đề nghị lên huyện.
Tương tự, tại xã điểm Đắk Hòa (Đắk Song), một trong 2 cán bộ địa chính của xã cũng không nắm được thực tế hiện nay hộ nào đã gửi hồ sơ lên huyện, hồ sơ có thiếu sót gì, hộ nào đã nhận GCNQSDĐ.
Theo ông Ninh Đức Thượng, Phó trưởng Phòng Đo đạc, Đăng kí (Sở Tài nguyên-Môi trường) thì lực lượng cán bộ địa chính xã chưa nắm rõ việc. Các xã còn thụ động nên công tác tổ chức xét duyệt hồ sơ cấp GCNQSDĐ rất chậm, thậm chí một số xã rất trì trệ. Ở không ít xã, cán bộ địa chính còn chưa nghiên cứu kỹ nội dung theo kế hoạch chỉ đạo của UBND tỉnh nên dẫn đến việc rà soát còn nhầm lẫn về diện tích, đối tượng sử dụng đất. Điều này dẫn đến số liệu báo cáo liên tục thay đổi, tính chính xác không cao gây khó khăn cho công tác lập kế hoạch chung, chi tiết...
Nhận thức của người dân về việc chuyển đổi, cấp GCNQSDĐ chưa cao cũng là một trong những nguyên nhân chính làm tiến độ triển khai chậm.
Ở xã Đắk Hòa, ông Trần Công Nhất, Chủ tịch UBND xã cho biết, địa phương đang vướng nhiều nhất ở diện tích đất của thôn Rừng Lạnh. Thôn có trên 100 hộ nhưng lại có diện tích đất bằng 3/4 của xã. Đáng nói là, phần lớn "chủ" đất ở đây lại là người có hộ khẩu thường trú ở các địa phương khác như xã Đắk Môl (Đắk Song), Đức Minh (Đắk Mil). Phần lớn họ đã sản xuất các loại cây công nghiệp từ lâu nhưng chưa có nhu cầu thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn hoặc chưa hiểu hết ý nghĩa của việc được cấp GCNQSDĐ nên chưa "mặn mà" hợp tác với chính quyền để làm các thủ tục liên quan.
Mới đây, Chi cục Thuế huyện Đắk Mil đã phối hợp với xã Đắk Hòa tuyên truyền nhân dân đóng thuế để nhận GCNQSDĐ. Toàn xã có gần 150 hộ dân nợ tiền thuế, phí cho việc cấp sổ đỏ, với tổng số tiền hơn 780 triệu đồng. Theo ông Hà Huy Triều, một người dân ở thôn Rừng Lạnh thì vừa rồi cơ quan thuế của huyện đã mời gia đình ông lên để nhắc nhở, tuyên truyền nộp các khoản phí, thuế. Nhưng mức nộp tổng cộng là 20 triệu đồng trong khi kinh tế còn khó khăn nên gia đình chưa đủ điều kiện nộp.
Theo ông Nguyễn Văn Minh, Chủ tịch UBND xã Đắk R’tíh (Tuy Đức) thì đa số hộ dân có đất đủ điều kiện được cấp GCNQSDĐ trên địa bàn xã đều thuộc diện hộ nghèo. Nhiều người khi được tuyên truyền đều cho rằng, đất đã là của họ lâu nay, cũng không có tranh chấp nào nên bà con cứ sản xuất.
Số tiền phí 5 triệu đồng/ha để làm GCNQSDĐ là khá khó khăn với những hộ nghèo. Bà con mong muốn được giảm một phần tiền thuế, phí để được nhận GCNQSDĐ. Xã đã xem xét và  đề nghị lên cấp trên về  việc miễn, giảm phí, lệ phí cho hộ nghèo, cận nghèo để sớm hoàn thành công việc. (Báo Đắk Nông 29/9) đầu trang(
Giữa tháng 7/2016, Báo NNVN đăng bài viết “6 năm “bất lực” với một bản án”, phản ánh về việc các cơ quan thi hành án huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) có biểu hiện trốn tránh nhiệm vụ.
Vụ án tranh chấp quyền sử dụng 7ha đất lâm nghiệp, thuộc lô 17, khoảng 6, TK 200, xã Hương Giang, huyện Hương Khê giữa Cty cao su Hương Khê và hộ ông Lê Hữu Chí, xóm 6, xã Hương Giang bắt đầu từ năm 2009. Đến nay đã hơn 6 năm trôi qua, mặc dù TAND các cấp sơ thẩm, phúc thẩm tuyên “diện tích đất trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Cty cao su Hương Khê” nhưng vì không đồng tình với các bản án, hộ ông Chí không giao trả đất cho Cty này.
Cuối năm 2014, UBND huyện, Chi cục Thi hành án (THA) dân sự huyện Hương Khê ra quyết định “cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất” đối với hộ ông Chí. Ngay sau đó, Hội đồng THA được thành lập với kế hoạch cưỡng chế cụ thể, thế nhưng không hiểu sao đã qua 2 năm trời, UBND tỉnh, Cục THA dân sự tỉnh Hà Tĩnh năm lần bảy lượt chỉ đạo các cơ quan THA Hương Khê thực hiện cưỡng chế nhưng điệp khúc “trên bảo dưới không nghe” vẫn kéo dài đến tận hôm nay.
Để làm rõ nguyên nhân vì sao hơn 2 năm qua, kể từ ngày có quyết định cưỡng chế THA nhưng bản án vẫn treo trên giấy, PV NNVN đã làm việc với các cơ quan chức năng.
Theo đó, ông Lê Ngọc Huấn, Chủ tịch UBND huyện Hương Khê và ông Võ Thuần Nho, Chi cục trưởng Chi cục THA dân sự huyện lý giải: “Sở dĩ chưa THA là vì bản án sơ thẩm và phúc thẩm có sự vênh nhau trong việc áp dụng Luật Đất đai năm 2003 và 1993 để xét xử; bản án sơ thẩm ghi yêu cầu ông Chí phải di dời cây và nói vị trí ranh giới rõ ràng nhưng phúc thẩm lại không ghi và không nói rõ vị trí ranh giới”.
Theo ông Huấn, lỗi này ông mới phát hiện ra đầu năm 2016 và đã báo cáo lên tỉnh. Hiện đang tiếp tục làm báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan chức năng Trung ương. Tuy nhiên, khi PV ngỏ ý muốn tiếp cận các văn bản, ông Huấn nói: “Báo cáo là văn bản mật, muốn cung cấp tôi phải xin ý kiến (?!)”.
PV hỏi tiếp: Đầu năm 2016 ông mới phát hiện ra lỗi, vậy lý do gì trước đó các cơ quan THA không thực hiện cưỡng chế?, ông Huấn phân trần: “Vì khi đó kinh phí cưỡng chế lớn, ngoài ra còn các yếu tố lực lượng, địa hình rừng núi, việc đảm bảo an toàn con người...”.
Phản bác lại lý giải của các cơ quan THA huyện Hương Khê, luật sư Phan Văn Chiều, Văn phòng luật sư An Phát nhấn mạnh: “Một số cá nhân có thẩm quyền của huyện cho rằng bản án sơ thẩm và phúc thẩm có sự vênh nhau nên không thể THA chỉ là lý do nguỵ biện, vòng vo trốn tránh việc thực thi nhiệm vụ của mình”. Bởi, nếu cho rằng có sự vênh nhau giữa hai bản án thì tại sao trong một thời gian gần 5 năm (kể từ ngày xét xử sơ thẩm), Chi cục THA dân sự huyện Hương Khê không có bất cứ văn bản nào đề nghị TAND tỉnh giải thích bản án theo quy định pháp luật để thi hành cưỡng chế?
Thứ hai, sai sót ở bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Hà Tĩnh chỉ là sai sót về lỗi chính tả, nội dung giải quyết của vụ án qua 2 bản án đều có sự thống nhất. Cụ thể bản án phúc thẩm, TAND tỉnh Hà Tĩnh đánh máy sai căn cứ áp dụng pháp luật từ năm 2003 thành năm 1993, trích dẫn các điều 5, 9, 10, 15, 105, 107 đều thống nhất với bản án sơ thẩm. Lỗi này chỉ cần có văn bản đề nghị thì TAND tỉnh Hà Tĩnh sẽ giải thích, đính chính; sai sót này không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án.
Thứ ba, với lý do cho rằng trong bản án phúc thẩm không tuyên yêu cầu di dời cây nên không thể thi hành cưỡng chế được, tôi cho rằng lý do này đưa ra là không có cơ sở, không xem xét toàn diện bản án, bởi lẽ tại bản án phúc thẩm đã nêu rằng buộc ông Lê Hữu Chí trả lại mặt bằng, đồng nghĩa ông Chí cần phải di dời các tài sản liên quan để trả lại mặt bằng kể cả việc buộc di dời cây, không thể hiểu một cách thiển cận cho rằng chỉ yêu cầu trả mặt bằng, không yêu cầu di dời cây nên không thể thi hành cưỡng chế như một số cá nhân có thẩm quyền trình bày.
Hơn nữa, bản án phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm thì về mặt nguyên tắc khi THA, Chi cục THA dân sự huyện Hương Khê phải căn cứ cả 2 bản án để THA chứ không thể căn cứ một mình bản án phúc thẩm như lý do nêu trên được. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/9) đầu trang(
Để phục vụ làm tuyến đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội, Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội sẽ phải di chuyển hàng xà cừ có tuổi đời hàng chục năm trên đường Kim Mã.
Theo đơn vị được cấp phép đánh chuyển, toàn bộ số cây xà cừ này sẽ không bị chặt hạ mà được đánh chuyển, di dời về vườn ươm ở Văn Giang, Hưng Yên. Không ít người dân băn khoăn, liệu số cây xà cừ được đánh chuyển đi này có sống nổi?
Ông Lê Huy Hoàng, Phó Giám đốc Ban Quản lý Đường sắt Hà Nội cho biết, để phục vụ thi công tuyến đường sắt metro Nhổn - Ga Hà Nội sẽ phải thực hiện di dời, đánh chuyển hơn 100 cây trên đường Kim Mã, trong đó có nhiều cây xà cừ lớn. Đơn vị được giao nhiệm vụ đánh chuyển, di dời lần này là Công ty CP Beepro.
Theo ông Vương Long, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Beepro, 24 cây xà cừ cổ thụ, có đường kính từ 40cm đến trên 1m sẽ được đánh chuyển để tái sử dụng. Toàn bộ cây được di chuyển về vườn ươm Văn Giang, Hưng Yên để có thời gian phục hồi. Sau khoảng 1 năm, số cây này sẽ trồng trên các tuyến đường mới ở Thủ đô. Đặc biệt, lãnh đạo Công ty Beepro cho biết sẽ dùng phương pháp thủ công để đánh chuyển, bảo đảm an toàn cho cây.
Khi cây đưa về vườn ươm sẽ mất từ 3 – 6 tháng để cây đâm chồi trở lại. Khoảng 1 năm sau, có thể di chuyển cây trồng ở địa điểm mới. Ông Lê Huy Hoàng bổ sung, để đảm bảo cây vẫn sống, đơn vị thực hiện sẽ áp dụng phương án đào gốc cây thủ công. Việc này sẽ rất tốn kém, để hoàn thành di chuyển 1 cây có đường kính trên 1 mét cần phải dùng đến 30 công nhân. Thời gian đánh chuyển cây chủ yếu vào ban đêm, đơn vị thi công sẽ ngăn 1 bên đường Kim Mã.
TS Nguyễn Tiến Hiệp, Giám đốc Trung tâm bảo tồn thực vật Việt Nam đánh giá sự đổi mới tích cực của Hà Nội trong việc bảo vệ cây xanh, cảnh quan thành phố. “Vẫn biết muốn có công trình giao thông phải chấp nhận đánh đổi. Nhưng nhìn những cây cổ thụ vài chục, thậm chí cả trăm năm bị đốn hạ ai cũng xót xa. Đây là lần đầu tiên Hà Nội thay vì chặt bỏ, quyết định di chuyển nhiều cây xanh kích thước lớn như thế”, ông Hiệp bày tỏ.
Về công nghệ, kỹ thuật di chuyển cây cổ thụ, TS Hiệp cho rằng vẫn còn khá lạ lẫm ở Việt Nam. Ông cũng chỉ ra một số hạn chế khi di chuyển và trồng lại cây xà cừ kích thước lớn.
“Xà cừ trên đường phố Hà Nội có bộ rễ khá nông, bứng bầu không mấy khó khăn. Khi bứng sẽ phải chặt bớt một số rễ, trồng lại dễ phục hồi nhưng phải rất lâu sau bộ rễ mới có thể đỡ được thân cây đồ sộ. Có lẽ công nghệ cho ra rễ nhanh sẽ khắc phục được điều này. Dù sao thì đây cũng là thử nghiệm rất tích cực, thậm chí có thể trở thành để tài nghiên cứu của các nhà khoa học”, TS Hiệp phân tích.
Ông Nguyễn Lân Hùng, chuyên gia trong lĩnh vực cây xanh đô thị cho rằng, khả năng sống sót của những cây xà cừ này sau đánh chuyển khá lớn, xác suất lên tới 60-70%. Cũng theo vị chuyên gia này, xà cừ là loại cây lấy gỗ, có tuổi đời rất lâu nên vấn đề cây lâu năm không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sống sau đánh chuyển. Hơn nữa, cây xà cừ không phù hợp trồng ở vùng trung tâm đô thị bởi rất dễ gãy, đổ gây thiệt hại lớn. (Công An Nhân Dân 30/9) đầu trang(
Nằm về phía Tây huyện Hải Lăng (Quảng Trị), đất đai cằn cỗi, chân ruộng bậc thang và nhiễm chua phèn, nhưng những năm gần đây Hợp tác xã dịch vụ sản xuất nông nghiệp Phú Hưng (gọi tắt là HTX Phú Hưng), xã Hải Phú lại là đơn vị dẫn đầ ucác phong trào thi đua của mô hình kinh tế tập thể ở tỉnh Quảng Trị nhờ biết khai thác lợi thế của địa phương.
Với một địa bàn vùng gò đồi, rừng là tài sản đáng kể nhất của HTX Phú Hưng. Nhận quản lý 160 ha đất trồng rừng của xã viên từ thời trị giá 1 héc ta rừng chỉ vài trăm ngàn đồng, đến nay Ban Quản trị HTX Phú Hưng đã nâng mức trị giá rừng ở đây lên 270 triệu đồng/ha. Những năm gần đây, chuyện trồng rừng của HTX Phú Hưng trở thành tiêu điểm khi nhắc đến chương trình phát triển rừng bền vững ở Quảng Trị.
Bây giờ, xã viên HTX Phú Hưng đã quen thuộc với cụm từ FSC (Hiệp hội quản lý rừng quốc tế) bởi hơn 4 năm qua họ là những người trực tiếp thực hiện các quy trình, nguyên tắc của bộ tiêu chí trồng rừng theo chứng chỉ quốc tế này. Cũng nhờ thế gỗ rừng trồng của HTX Phú Hưng đã xuất bán ra nước ngoài và mở hướng đột phá trên con đường phát triển của HTX.
Có dịp chuyện trò với ông Nguyễn Thể, Giám đốc HTX Phú Hưng chúng tôi được biết, với vai trò là chủ nhiệm HTX, ông Thể và bộ máy quản lý HTX đã tiếp cận các thông tin về hiệu quả trồng rừng theo chứng chỉ FSC từ năm 2011. Tuy nhiên, phải đến năm 2013, HTX mới hoàn thành hồ sơ để đánh giá rừng theo chứng chỉ quốc tế này, mặc dù lúc bấy giờ đơn vị được cán bộ Chi cục Lâm nghiệp và tổ chức WWF Việt Nam tích cực hỗ trợ, giúp đỡ về mặt thủ tục, hướng dẫn cách thức quản lý...
Nguyên nhân kéo dài hồ sơ đánh giá rừng theo chứng chỉ FSC là vì rừng ở đây là tài sản của tập thể và xã viên thì chưa quen cách sản xuất chặt chẽ, khoa học của cách trồng rừng quốc tế.
Dẫn chúng tôi ngược lên vùng thượng nguồn Khe Khế thăm cánh rừng xanh bạt ngàn của HTX, ông Thể muốn minh chứng sự đổi thay của một vùng đất vốn nghèo khó, cằn cỗi. Ông Thể cho biết, để có được cánh rừng tốt như hiện nay là một quá trình thay đổi nhận thức của xã viên. Cuộc vận động thay đổi sang quy trình và phương thức trồng rừng thâm canh được thử nghiệm bằng 11 ha rừng chuyển hóa gỗ dăm sang gỗ lớn để đánh giá theo chứng chỉ FSC.
Năm 2014, trữ lượng rừng khai thác đạt chứng chỉ của diện tích này được trên 800 tấn, và giá bán tại thời điểm đó là 1,45 triệu đồng/tấn so với giá bán gỗ dăm 1 triệu đồng/tấn. Giá trị chênh lệch giữa trồng rừng gỗ dăm và trồng rừng theo chứng chỉ FSC trên là cơ sở đầu tiên để Ban Quản trị HTX thuyết phục các thành viên HTX đồng thuận chuyển đổi sang mô hình trồng rừng FSC. Từ đây việc trồng rừng của HTX đã thay đổi từ khi đào hố, đặt cây, chăm bón, bảo vệ, theo dõi quá trình phát triển của cây cho đến ngày khai thác.
Tận dụng diện tích rừng trồng có từ trước, HTX Phú Hưng phối hợp Chi cục Lâm nghiệp thí điểm việc chuyển hóa rừng trồng gỗ dăm sang trồng gỗ lớn. Với mật độ trồng rừng truyền thống 1.600 cây/ha, HTX đã tiến hành 2 lần tỉa thưa vào năm thứ tư và thứ năm. Trong đó lần tỉa thưa đầu tiên HTX tốn chi phí tiền công khoảng 1 triệu đồng/ha để loại bỏ cây kém phát triển và phát dọn thực bì.
Tuy nhiên, đến kỳ tỉa thưa lần 2 vào năm thứ 5 thì có thể tận thu được từ 16 - 17 tấn gỗ dăm/ha, đủ bù chi phí cho việc trồng 1 ha rừng trong 5 năm; lúc này mật độ rừng còn 800 - 900 cây/ha và tiếp tục được khoanh nuôi, bảo vệ đến năm thứ 10 thì đánh giá trữ lượng để khai thác theo tiêu chuẩn rừng FSC.
Quá trình “nuôi rừng” này các thành viên đều được HTX chia lãi cổ tức theo mức đóng góp và trả công chăm sóc, bảo vệ rừng hàng năm đầy đủ nên bà con yên tâm sản xuất, không còn lo lắng về khoản tài chính do kéo dài thời gian khai thác làm tăng chi phí đầu tư. Đến năm 2016, diện tích rừng được đánh giá cấp chứng chỉ FSC của HTX Phú Hưng đạt 116 ha.
Nhờ được bảo vệ, chăm sóc tốt nên trữ lượng rừng ở đây cũng đạt mức kỷ lục 180 tấn/ha, tăng gấp đôi so với trữ lượng trồng rừng FSC hiện nay ở các địa phương khác. Nhờ vậy, sản lượng khai thác gỗ FSC ở HTX Phú Hưng trong năm 2016 dự kiến đạt 3.500 tấn mang về nguồn thu trên 6,2 tỉ đồng cho HTX.
Năm 2015 HTX Phú Hưng bắt đầu chuyển đổi hoạt động theo Luật HTX mới 2012 và nhanh chóng thay đổi cách quản lý để thích ứng với mô hình mới, nhưng nếu không có những lợi ích thiết thực từ rừng mang lại thì HTX này sẽ khó có được sự “lột xác” như hiện nay.
HTX điều hành 10 khâu dịch vụ, trong đó 4 khâu dịch vụ bắt buộc không lãi, còn lại 6 khâu dịch vụ có lãi để trang trải chi phí hoạt động của HTX trong năm. Doanh thu năm 2015 sau khi HTX chuyển sang hoạt động theo mô hình HTX kiểu mới đạt trên 8 tỉ đồng thì nguồn thu từ rừng đã trên 5,5 tỉ đồng và dự kiến doanh thu từ rừng của HTX này từ năm 2016 trở đi sẽ tiếp tục tăng trưởng vì diện tích trồng rừng FSC của đơn vị tiếp tục được mở rộng.
Nguồn thu tăng nên việc trích lập các loại quỹ hoạt động của HTX cũng tăng theo bởi các khoản này có trong quy định chi tiêu theo điều lệ HTX như: 15,8 % bổ sung vốn kinh doanh; 51,8% quỹ đầu tư phát triển; 1,6% quỹ dự phòng; 3,2% quỹ phúc lợi; 0,6% quỹ khen thưởng; 27% chia lãi cho thành viên. Tăng doanh thu, tăng lợi nhuận là điểm tựa để HTX hỗ trợ địa phương đầu tư các công trình phúc lợi phục vụ sản xuất và xây dựng nông thôn mới như: giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng, điện thắp sáng đường quê, hội trường thôn…
Đặc biệt, nhờ nguồn vốn tự có lớn nên HTX Phú Hưng đã có nguồn tiền mặt cung ứng kịp thời cho các thành viên HTX vay để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong đời sống cũng như đầu tư sản xuất. Đến nay, có đến 80% thành viên tham gia dịch vụ tín dụng nội bộ của HTX, trong đó có 25 hộ vay mua xe ô tô vận chuyển hàng hóa, phần lớn các hộ vay để xây dựng gia trại chăn nuôi, trồng rừng và một số ngành nghề khác với mức cho vay tối đa lên đến 200 triệu đồng/hộ thành viên.
HTX ăn nên làm ra nên đời sống của cán bộ HTX cũng đảm bảo, 100% cán bộ thường xuyên của HTX đều được tham gia đóng bảo hiểm xã hội. Ngoài các chức danh chủ chốt là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, kho quỹ, kế toán HTX Phú Hưng còn có kinh phí bố trí thêm chức danh cán bộ phát triển, tốt nghiệp đại học chính quy chuyên ngành nông lâm để quản lý mảng dự án và hướng dẫn các kỹ thuật mới về nông, lâm nghiệp cho thành viên HTX.
Rừng không chỉ mang lại cuộc sống no ấm cho các thành viên HTX Phú Hưng mà còn góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu ở địa bàn xã Hải Phú. Với 270 ha rừng HTX quản lý (ngoài rừng trồng còn có 110 ha rừng thông) thì từ ngày chuyển sang trồng rừng kinh doanh gỗ lớn, HTX đã giảm bớt số lần khai thác, trồng lại rừng nên giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác, trồng lại rừng gây ra.
Theo lời kể của người dân ở đây, chỉ vài năm trước đây thôi 40 ha đất lúa của HTX nằm trong vùng tưới của hồ Khe Khế luôn trong tình trạng thiếu nước sản xuất ở vụ hè thu do mực nước của hồ thường khô cạn vào giữa tháng 7 hàng năm. Vậy mà những năm gần đây, mà điển hình là 2 vụ hè thu 2015 và 2016, nhiều nơi thiếu nước tưới do hạn hán thì nguồn nước ở hồ Khe Khế luôn dồi dào để cung ứng cho đồng ruộng. Nguồn nước ở hồ Khe Khế được giữ lại là nhờ những cánh rừng xanh bao bọc lấy hồ quanh năm.
Len lỏi dưới những tán cây lớn có nhiều tầng cây dây leo chằng chịt, thỉnh thoảng tiếng gà rừng, tiếng chim cu gáy… xa xa vọng lại, một âm thanh quen thuộc từ rừng mà lâu lắm rồi chúng tôi mới có dịp nghe lại. Giá mà có thêm nhiều khu rừng xanh như ở Phú Hưng thì đồi núi, làng quê sẽ thanh bình biết bao. (Báo Quảng Trị 28/9) đầu trang(
Thị trường rộng mở, DN có tiềm lực nhưng vấn đề đặt ra hiện nay đó là cần phát triển diện tích rừng trồng có chứng chỉ FSC, đồng thời thúc đẩy các cơ sở chuyển sang chế biến tinh, sâu nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu và mở cánh cửa vào thị trường các nước lớn trên thế giới.
Hiện, các đơn hàng xuất khẩu đồ gỗ sang các thị trường châu Âu, Nam Mỹ, Mỹ đòi hỏi phải được sản xuất từ nguyên liệu gỗ rừng trồng có chứng chỉ FSC. Trong khi đó, toàn tỉnh hiện có trên 95 ngàn ha diện tích rừng trồng, song mới có 10 ngàn ha được cấp chứng chỉ FSC, chiếm chưa tới 10%. Đây là con số khá khiêm tốn và gây khó khăn cho nhiều DN chế biến gỗ khi yêu cầu về truy suất nguồn gốc đối với nguồn nguyên liệu sản xuất ngày càng cao.
Thực tế các DN chế biến gỗ trên địa bàn lâu nay chủ yếu chỉ thu gom nguyên liệu từ các địa phương chứ không có diện tích rừng trồng, chưa liên kết với các chủ rừng để cấp chứng chỉ FSC. “Hiện, DN chỉ thu mua gỗ rừng trồng từ các lâm trường, chủ rừng trong và ngoài tỉnh nên nguồn nguyên liệu còn bấp bênh, không ổn định. Song, do thiếu nhân lực, không có diện tích đất nên DN chưa đứng ra trồng rừng để đảm bảo nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhà máy”, Giám đốc Công ty CP Chế biến lâm sản Hương Giang- Cao Đình Hiệp chia sẻ.
Trước thực trạng đó, UBND tỉnh đã kêu gọi được nhà đầu tư lớn có nhiều dự án chế biến gỗ tại Việt Nam là Công ty TNHH Scansia Pacific. Doanh nghiệp này đang có nhà máy chế biến gỗ tại khu công nghiệp Phú Bài, sắp tới tiếp tục đầu tư dự án chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu với quy mô 10 ngàn khối gỗ/năm trên dây chuyền hiện đại, công nghệ tự động hóa. Với quy trình sản xuất đồ gỗ nội thất kết hợp dăm gỗ xuất khẩu, DN gặp khá nhiều lợi thế khi tận dụng nguyên liệu gỗ lớn để sản xuất sản phẩm nội, ngoại thất, đồng thời thu gom các loại gỗ nhỏ, phế thải để chế biến dăm gỗ.
Để đồng hành với nông dân cũng như chuẩn bị nguồn nguyên liệu phục vụ nhà máy mới, Công ty TNHH Scansia Pacific đang hỗ trợ 500 triệu đồng chi phí đánh giá cho các hộ nông dân để được cấp chứng chỉ FSC, quy trình đánh giá kéo dài 4 năm.
Doanh nghiệp đầu tư vốn cho 1 hộ nông dân vay 12 triệu đồng để trang trải việc chăm sóc, bảo vệ rừng với mức lãi suất thấp hơn 2% so với ngân hàng thương mại, đồng thời cam kết thu mua nguyên liệu với mức giá cao hơn thị trường từ 15-20%. Đây là hướng đi mới, có tính khả thi khi gắn trách nhiệm, quyền lợi giữa DN và người trồng rừng để đạt mục đích chung đó là nâng diện tích rừng trồng có chứng chỉ FSC.
Toàn tỉnh có khoảng 95.500ha rừng trồng các loại, trong đó rừng trồng khu vực hộ gia đình chiếm 58.800ha. Để xây dựng vùng nguyên liệu tập trung phục vụ hoạt động chế biến gỗ xuất khẩu tinh, sâu, Sở Nông nghiệp & PTNT đang trình UBND tỉnh kế hoạch phát triển rừng trồng gỗ lớn giai đoạn 2016- 2020.
Trong đó, tập trung nguồn lực cải thiện các dòng cây lâm nghiệp như keo lai, keo tai tượng, đưa thêm dòng keo lá tràm có thân gỗ thẳng, tròn cung cấp nguyên liệu sản xuất sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu. Thúc đẩy hình thành các cơ sở chế biến tinh, sâu bằng cách kêu gọi đầu tư các DN ở các tỉnh, TP trong cả nước để hình thành chuỗi khép kín trồng- sơ chế- tinh chế - xuất khẩu.
Một trong những vấn đề quan trọng nhằm phát triển diện tích rừng trồng gỗ lớn hiện nay đó là chuyển dần từ ươm giống cây bằng túi chất dẻo sang chất hữu cơ thân thiện môi trường. Qua đó, thúc đẩy các DN tư nhân phát triển việc nuôi cấy mô nhằm nâng cao chất lượng giống cây trồng, cải thiện gỗ rừng trồng đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của các cơ sở chế biến.
UBND tỉnh đã ban hành chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp, hình thành vùng nguyên liệu gỗ lớn, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ công nghệ cao. Dự kiến cuối năm 2016, sẽ thành lập hội chủ rừng phát triển bền vững, đại diện cho hàng ngàn hộ nông dân để tiếp cận với việc cấp chứng chỉ FSC.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT- Võ Văn Dự cho rằng: “Lâu nay, trồng rừng gỗ nhỏ phục vụ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dăm gỗ đã thúc đẩy việc thâm canh rừng, nâng cao năng suất rừng trồng đạt từ 25-30m3/ha đất. Song, hiện nay việc trồng rừng gỗ nhỏ cản trở sự phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp. Bởi, giá trị gia tăng ngành lâm nghiệp trong sản phẩm gỗ nhỏ chiếm rất thấp. Chủ trương của tỉnh sắp tới là tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, trong đó dừng hẳn việc phát triển các cơ sở chế biến dăm gỗ, đẩy mạnh phát triển các cơ sở chế biến sản phẩm tinh, sâu gồm các sản phẩm như bàn ghế, nội thất, giấy… nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu và phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn theo hướng bền vững”. (Báo Thừa Thiên – Huế 29/9) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Việc nhiều trường hợp cá thể cá voi bị chết và dạt vào bờ ở các bãi biển miền Bắc Chile trong những tháng gần đây đang đặt dấu hỏi lớn cho các nhà khoa học nước này.
Giới khoa học nghi ngờ chính hiện tượng biến đổi khí hậu là nguyên nhân khiến nhiều đàn cá voi di chuyển từ phía Nam đến phía Bắc, từ đó làm "dân số" cá voi tăng mạnh tại các vùng biển ở miền Bắc.
Sau vụ hàng trăm con các voi chết và dạt vào bờ ở các bãi biển miền Nam hồi năm ngoái, giờ đây hiện tượng này lại xuất hiện ở các bãi biển miền Bắc, một điều rất hiếm gặp trước đây.
Theo đó, các chuyên gia đến từ Cơ quan Dịch vụ nông nghiệp và ngư nghiệp quốc gia (Sernapesca) cho biết đã phát hiện sự gia tăng các trường hợp các voi mắc cạn tại các bãi biển ở miền Bắc và "đây là một điều rất kỳ lạ."
Thông thường, loài cá voi thường di chuyển đến phía Bắc từ tháng 11/2015 đến 3/2016 để tránh mùa Đông ở miền Nam.
Trao đổi với báo giới ngày 28/9, giáo sư Frederick Toro đến từ Đại học Andres Bello cho rằng sở dĩ số lượng cá voi "nở rộ" trong những năm gần đây ở các vùng biển phía Bắc có thể là do sự gia tăng số lượng các loài nhuyễn thể - một loài giáp xác là thức ăn chính của cá voi.
Theo giáo sư Toro, chính hiện tượng biến đổi khí hậu có thể đã khiến các loài nhuyễn thể này tăng trưởng mạnh, từ đó làm gia tăng số lượng cá voi tại đây.
Trong khi đó, nhà sinh vật học Gerardo Cerda đến từ Sernapesca cho rằng việc ngày càng có nhiều cá voi mắc cạn có thể là hậu quả tự nhiên của việc "dân số" cá voi tăng vọt trong khu vực.
Cũng theo chuyên gia Cerda, đối với trường hợp một cá thể cá voi lưng xám dài 14m bị chết và dạt vào bờ biển tại thành phố Coquimbo hồi cuối tuần qua, các nhà khoa học đã loại trừ khả năng vụ việc này có liên quan đến các thuyền đánh cá hay các yếu tố con người. Họ cho rằng con cá voi này chết do bị bệnh lý hoặc tuổi tác.
Theo thống kê, kể từ đầu năm đến nay, giới chức Chile đã ghi nhận ba trường hợp các voi mắc cạn tại các bãi biển ở miền Bắc. Năm ngoái, số lượng cá voi chết và trôi dạt vào các bãi biển ở miền Nam Chile lên tới con số 330 và mới đây nhất, hồi tháng Bảy vừa qua, 70 xác cá voi đã được tìm thấy ở khu vực này.
Các chuyên gia cho rằng nguyên nhân gây ra hiện tượng cá chết hàng loạt tại các khu vực nuôi thả và ngoài khơi bờ biển Chile là tác động từ hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino làm tăng nhiệt độ nước biển.
Nước biển ấm lên thúc đẩy hiện tượng "thủy triều đỏ" còn được biết đến như là những đợt bùng phát tảo biển nở hoa gây hại, làm tăng sản xuất các độc tố tự nhiên cũng như giảm oxy hòa tan trong nước biển.
Các hậu quả dễ thấy nhất của "thủy triều đỏ" là làm chết động vật hoang dã ở biển và các loài sống ven biển. (Vietnam + 29/9) đầu trang(
Ngày 28-9, Hội nghị các nước thành viên CITES (CoP17) đã thống nhất thông qua lệnh cấm buôn bán quốc tế đối với các loài tê tê.
Theo thống kê, hơn 1 triệu cá thể tê tê hoang dã đã bị giết hại trong 10 năm qua nhằm đáp ứng nhu cầu về thịt và vảy từ các nước châu Á để sản xuất thuốc cổ truyền. Tê tê gần như bị tuyệt chủng ở châu Á và đang đe dọa bị tuyệt chủng ở châu Phi.
Toàn bộ 182 quốc gia thành viên CITES đã thống nhất thông qua lệnh cấm buôn bán quốc tế đối với tất cả các loài tê tê. Bốn loài tê tê châu Á, bao gồm tê tê Ấn Độ, tê tê Philippines, tê tê vàng và tê tê Java bị suy giảm nghiêm trọng do nạn săn bắn bất hợp pháp. Loài thú này chậm sinh trưởng và rất dễ bị bắt do chúng nằm cuộn tròn khi bị đe dọa. Trưởng đoàn đại biểu Nigeria cho biết giá vảy tê tê đã tăng gấp mười lần trong 5 năm qua.
Hiện nay, buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã đạt 20 tỷ USD/năm. Tỷ lệ đáng sợ trên các thị trường bất hợp pháp được biểu hiện thông qua các vụ bắt giữ khổng lồ. Các cơ quan chức năng Indonesia đã tịch thu và tiêu hủy hàng nghìn cá thể tê tê đông lạnh trong năm 2015.
Trong khi đó, một số chuyến hàng bị bắt giữ tại Phillippines năm 2013 có tổng khối lượng là 10 tấn tê tê. Các đối tượng buôn lậu còn nhằm đến bốn loài tê tê châu Phi gồm tê tê lớn, tê tê nam châu Phi, tê tê đuôi dài và tê tê bụng trắng. Vào tháng 6-2016, hơn 11 tấn vảy tê tê bị các cơ quan chức năng Hồng Công tịch thu trên hai chuyến hàng đến từ châu Phi.
Đoàn đại biểu Việt Nam đề xuất đưa các loài tê tê vào Phụ lục I CITES – mức bảo vệ cao nhất có thể, để bảo vệ sự tồn tại của tê tê vàng và tê tê Ja va (02 loài tê tê có phân bố ở Việt Nam và đang bị xếp hạng cực kỳ nguy cấp). Đây sẽ là tiền đề để các quốc gia tăng cường thực thi luật và các mức xử phạt nghiêm khắc đối với tội phạm.
Indonesia là quốc gia duy nhất phản đối mức bảo vệ mới đối với tê tê vàng và tê tê Java trong khi Trung Quốc cho rằng tê tê bị bắt để lấy thịt ở nhiều quốc gia và mất sinh cảnh cũng là nguyên nhân suy giảm số lượng. Lào ủng hộ đề xuất đưa các loài tê tê châu Á vào Phụ lục I CITES.
Ginette Hemley, trưởng đoàn WWF cho biết: “Đây là chiến thắng vĩ đại trong cuộc chiến chống buôn bán loài động vật nguy cấp nhất thế giới. Điều này cũng loại bỏ câu hỏi về tính hợp pháp của buôn bán và tuyên chiến với tội phạm buôn lậu”. Chuyên gia này cũng cho rằng các nỗ lực giảm cầu ở Trung Quốc và Việt Nam đóng vai trò quan trọng.
TS. Susan Lieberman của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã khẳng định: “Quyết định này đã tạo cơ hội tồn tại cho tê tê. Toàn thế giới đang trông chờ quyết định then chốt này. Các loài tê tê cần được bảo vệ nghiêm ngặt hơn và giờ đã có tất cả”.
Tương tự như tê tê, khỉ Barbary, loài linh trưởng duy nhất có phân bố ở châu Âu cũng được nâng lên Phụ lục I.
Trong ngày 28-9, một số loài cũng được hạ mức độ bảo vệ ở những nơi đạt được thành công trong công tác bảo tồn. Nam Phi đã đề xuất thành công việc chuyển quần thể loài ngựa vằn núi Cape từ Phụ lục I xuống Phụ lục II. Quần thể của loài động vật này đang tăng 9%/năm với 4.800 cá thể đang sống ở Nam Phi.
Bò rừng bison, một trong hai phụ loài bò bison châu Mỹ, đã được đưa ra khỏi Phụ lục CITES do quần thể đã tăng lên 9.000 cá thể và không bị đe dọa bởi nạn săn bắt bất hợp pháp. Hiện có khoảng 500.000 cá thể bò bison châu Mỹ so với hơn 20 triệu cá thể bò bison đã từng xuất hiện ở châu Mỹ.
Georgia và cộng đồng châu Âu đạt được thành công khi đề xuất bảo tồn loài dê núi, đặc biệt là sừng có phân bố ở các dãy núi Caucasus. Quần thể của dê núi (bị săn bắn làm chiến lợi phẩm) đã giảm từ 12.000 xuống còn 4.000 cá thể ở Georgia trong 30 năm qua.
Nga, nước có phân bố 20.000 cá thể dê núi, đã bỏ phiếu phản đối đề xuất do cho rằng dê đã được bảo vệ tốt và săn bắn chiến lợi phẩm tạo điều kiện cho bảo tồn và chống săn bắn bất hợp pháp. (Nhân Dân 29/9) đầu trang(./.