|
Ngày 29 tháng 09 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 28-9, huyện Thanh Sơn tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng năm 2016.
Dự và chỉ đạo buổi diễn tập có các đồng chí: Vi Trọng Lễ - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Thanh Hải – TUV, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh; Thiếu tướng Tiêu Xuân Hồng – Phó Tham mưu trưởng Quân khu 2.
Cuộc diễn tập PCCCR huyện Thanh Sơn năm 2016 được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 vận hành cơ chế để điều chỉnh kế hoạch phòng cháy, chữa cháy rừng cho phù hợp với tình hình thực tế và triển khai các biện pháp khẩn cấp để đối phó với nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn.
Giai đoạn 2 tổ chức huy động và hiệp đồng các lực lượng tham gia chữa cháy rừng, với tình huống giả định là đám cháy xuất hiện tại đồi Nhà Lang khu Xuân Thắng, xã Cự Thắng. Người dân phát hiện và báo cáo với Trưởng khu, đánh kẻng huy động tổ bảo vệ rừng của khu dân cư tham gia chữa cháy.
Do thực bì dày, hanh khô lâu ngày gặp gió to lên lửa cháy dữ dội và lan nhanh, UBND xã Cự Thắng, huyện Thanh Sơn đã điều động lực lượng, phương tiện tham gia dập lửa, tuy nhiên, vẫn không khống chế được ngọn lửa. Sau khi báo cáo xin tăng cường lực lượng, phương tiện chữa cháy của tỉnh, công an tỉnh, Bộ CHQS tỉnh, chi cục kiểm lâm đã huy động các trang thiết bị chuyên dụng để chữa cháy và khống chế được đám cháy.
Cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Thanh Sơn với sự tham gia của hơn 400 người sử dụng nhiều phương tiện từ thô sơ đến máy thổi gió, xe cứu hỏa đã thành công tốt đẹp, các nội dung huấn luyện sát với tình hình thực tế, công tác chuẩn bị chu đáo.
Kết thúc buổi diễn tập, Ban chỉ đạo tổng kết, rút kinh nghiệm. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thanh Hải đã biểu dương những nỗ lực, cố gắng của các lực lượng tổ chức, tham gia thực hiện diễn tập và yêu cầu thời gian tới, các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về PCCCR cho cán bộ, nhân dân, nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy rừng cho người dân với phương châm 4 tại chỗ, nâng cao kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo ứng phó tốt nhất khi có tình huống xảy ra và duy trì nghiêm túc công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Nhân dịp này, 5 tập thể và 10 cá nhân có thành tích xuất sắc trong cuộc diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng huyện Thanh Sơn năm 2016 được nhận giấy khen của UBND huyện. (Báo Phú Thọ 28/9) đầu trang(
Ngày 28-9, Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Yên Dũng (Bắc Giang) tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tại xã Nội Hoàng và Tiền Phong.
Theo kịch bản, khoảng 9 giờ 30 phút ngày 28-9, tại khu vực rừng keo, bạch đàn ở thôn Sy (xã Nội Hoàng) - giáp ranh với xã Tiền Phong xuất hiện đám cháy có diện tích 50m2, một số người dân đi làm rừng đã tham gia chữa cháy, đồng thời báo cho trưởng thôn. Tổ bảo vệ rừng thôn Sy và người dân nhanh chóng dập lửa. Tuy nhiên, do thực bì dày, hanh khô lâu ngày lại gặp gió to nên đám cháy lan nhanh.
Trưởng thôn báo cáo Chủ tịch UBND xã Nội Hoàng tăng cường nhân lực tham gia chữa cháy. Trung đội dân quân cơ động và lực lượng xung kích 1, 2 đã phối hợp với người dân phát dọn, làm đường băng cản lửa không để cháy lan. Nhưng do trời hanh khô, gió to nên đám cháy vượt tầm kiểm soát, Chủ tịch UBND xã phải báo cáo và đề nghị Chủ tịch UBND huyện huy động lực lượng, phương tiện phối hợp với Trường Quân sự (Quân đoàn 2) tham gia chữa cháy. Sau hơn 2 giờ, đám cháy dần được khống chế và dập tắt hoàn toàn.
Theo đánh giá của Ban chỉ đạo, đợt diễn tập thành công với tình huống cháy sát thực tế giúp các lực lượng tham gia nâng cao năng lực chỉ huy, xử lý sự cố, góp phần giáo dục ý thức PCCCR cho chủ rừng, người dân địa phương. (Báo Bắc Giang 28/9) đầu trang(
Sáng 28/9, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khai mạc lớp tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng truyền thông cộng đồng cho cán bộ kiểm lâm địa bàn của Khu Bảo tồn thiên nhiên Văn Bàn, Bát Xát, Vườn Quốc gia Hoàng Liên và cán bộ các xã thí điểm triển khai thực hiện SiRAP.
Tham gia lớp tập huấn có đại diện UBND các xã Bản Cầm, Phú Nhuận (Bảo Thắng), Xuân Hòa, Long Khánh (Bảo Yên), Nậm Chảy (Mường Khương), Sa Pả (Sa Pa); các đồng chí là kiểm lâm phụ trách địa bàn các xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên, Vườn Quốc gia Hoàng Liên.
Lớp tập huấn nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ kiểm lâm địa bàn để thực hiện các chương trình truyền thông về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng cho cộng đồng địa phương sống gần rừng.
Trong 3 ngày từ 28 đến 30/9/2016, các đại biểu tham gia sẽ được giới thiệu các khái niệm giáo dục, nâng cao nhận thức, truyền thông và tuyên truyền; phân tích thuận lợi và khó khăn về thực hiện truyền thông với cộng đồng địa phương; thực hành các kỹ năng truyền thông; hướng dẫn sử dụng tài liệu nâng cao nhận thức cho truyền thông cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. (Báo Lào Cai 28/9) đầu trang(
Hệ lụy của chính sách giao đất, giao rừng cho dân kèm theo sự yếu kém trong khâu quản lý, bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng huyện Hương Khê đang khiến hàng trăm héc ta rừng tự nhiên ở khu vực đầu nguồn sông Ngàn Sâu (Hương Khê, Hà Tĩnh) bị chặt phá tan hoang.
Hàng chục loài cây gỗ có đường kính lớn bị đốn hạ, hàng nghìn hộ dân sinh sống cận sông Ngàn Sâu sống trong tình cảnh thấp thỏm lo âu lũ quét…
Thời gian qua, nhiều hộ dân thôn Trường Sơn, xã Lộc Yên, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) bức xúc về sự việc chính quyền xã Lộc Yên triệu tập năm hộ dân tại thôn này lên UBND để nộp phạt với lí do chặt phá rừng ở Tiểu khu 227 (thuộc xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh).Theo phản ánh của những hộ dân này, họ được giao khoán khoảng trên 2ha rừng/hộ từ năm 2013 theo chính sách giao đất, giao rừng cho người dân chăm sóc, bảo vệ của UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Nhưng, khi được giao rừng tại Tiểu khu 227, người dân lại dở khóc dở cười mặc dù đã là rừng sản xuất nhưng đối tượng lại là rừng tự nhiên. Nghĩa là họ chỉ được chăm sóc, trồng xen chứ không được chặt phá để trồng mới, canh tác những loài cây lâm nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hơn nữa, Tiểu khu 227 trải dài và cách khu vực dân sinh xã Lộc Yên hàng chục cây số đường rừng, phải lội bộ cả ngày mới tới nơi nên canh tác cây lâm nghiệp là điều “không tưởng” và thu hoạch lâm sản để đưa ra điểm thu mua là “bất khả thi”.
Bởi theo lí giải của họ, những khu rừng “béo bở” gần trung tâm thì chính quyền đã bán cho những người có tiền, còn dân đen thì phải chấp nhận lấy xa, những nơi mà người có tiền không thèm đoái hoài đến.
Vì thế, cách duy nhất mà 42 hộ dân thôn Trường Sơn và thôn Trung Sơn (xã Lộc Yên) có thể kiếm ra tiền từ rừng là chặt phá cây để lấy gỗ. Gỗ mà các hộ dân này đốn hạ có hàng trăm chủng loại, từ những cây bụi đến những loài có giá trị như vạng, kền kền, bèn bét… Còn những loại gỗ có giá trị cao hơn như vàng tâm, dổi, táu thì đã bị lâm tặc đốn hạ trước đó.
Việc chặt phá rừng diễn ra hằng năm trời, chính quyền mặc dù biết nhưng chẳng hề có động thái can thiệp, chỉ đến khi năm hộ dân tại thôn Trung Sơn chặt phá cây ở những ha đất rừng cuối cùng tại khoảnh 6 Tiểu khu 227 thì lực lượng chức năng mới vào cuộc và lên phương án xử phạt.
Ông Nguyễn Trung Kiên, một hộ dân thôn Trường Sơn bị chính quyền xã Lộc Yên ba lần triệu tập lên UBND xã để phạt tiền bày tỏ bức xúc: “Tiểu khu 227 có tổng diện tích hơn 1.500 ha được giao cho hơn 500 hộ thuộc xã Lộc Yên tác nghiệp, phần lớn người dân đã chặt phá cây rừng tự nhiên để lấy đất trồng keo. Chúng tôi chỉ là những hộ dân cuối cùng phá cây để canh tác, nhưng không hiểu lí do vì sao xã không xử phạt những hộ dân đã phá rừng trước đó mà chỉ triệu tập năm hộ chúng tôi để phạt tiền, trong khi chúng tôi là những người cuối cùng tham gia vào việc chặt phá cây”.
“Gần một năm trời chặt phá cây rừng, chính quyền biết đó nhưng không can thiệp, nhắc nhở, chỉ đến khi sự việc đã rồi thì họ mới kêu lên đòi xử phạt. Việc xử phạt lại không có biên bản, giấy tờ gì nên năm hộ dân chúng tôi nhất quyết không nộp phạt” - ông Đặng Văn Thọ (1 trong năm hộ dân bị chính quyền triệu tập lên đòi xử phạt) tỏ ra bất bình trước việc xử phạt thiếu minh bạch của lãnh đạo xã Lộc Yên.
Về những bức xúc của những hộ dân đang tác nghiệp tại Tiểu khu 227 lên chính quyền xã Lộc Yên, ông Nguyễn Văn Hưng, Chủ tịch UBND xã Lộc Yên (huyện Hương Khê) lí giải: “Phần lớn cây rừng thuộc Tiểu khu 227 theo quy hoạch là rừng sản xuất nhưng đối tượng lại là rừng tự nhiên, có nhiều chủng loại cây, trong đó có những cây gỗ có giá trị. Vì thế, những hộ dân nào phát cây, chặt rừng thuộc tiểu khu này sẽ bị xử phạt theo pháp luật”.
Tuy nhiên, ông Hưng không thể trả lời được câu hỏi của chúng tôi về việc tại sao hàng trăm hộ dân đều chặt rừng hàng năm trời nhưng chính quyền chỉ triệu tập năm hộ cuối cùng để xử phạt. Còn để trả lời cho câu hỏi xã dựa vào căn cứ nào, Nghị định nào để xử phạt năm hộ dân trên thì ông Hưng trả lời: “Việc xử phạt năm hộ dân tại thôn Trường Sơn là dựa trên sự tham mưu của cán bộ Kiểm lâm phụ trách địa bàn là ông Nguyễn Khắc Nam (thuộc Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê), mỗi hộ bị phạt mức hành chính dưới năm triệu đồng”.
Để nắm rõ vấn đề, chúng tôi đã có buổi trao đổi với ông Nguyễn Kim Hùng, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Ngàn Sâu (đơn vị quản lý Tiểu khu 227 đã chuyển giao lại cho người dân theo Nghị định 137 năm 2013). Ông Hùng cho biết, Tiểu khu 227 phần lớn diện tích là rừng tự nhiên, có nhiều loại gỗ có giá trị, phần diện tích đất trống cũng có nhưng không đáng kể. Vì Tiểu khu này trước đây thuộc quản lý của Ban rừng phòng hộ sông Ngàn Sâu nên ông nắm được tính chất của khu vực rừng này.
“Nó là rừng sản xuất, nhưng đối tượng là rừng tự nhiên, phần đất trống hầu như rất ít, phần lớn rừng có nhiều cây gỗ to, nếu bị chặt phá sẽ ảnh hưởng đến nguồn thủy sinh lưu vực sông Ngàn Sâu, và đơn vị chịu trách nhiệm cho việc tàn phá rừng tự nhiên thuộc về chính quyền địa phương và cao hơn là Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê” - ông Hùng bày tỏ quan điểm.
Làm việc với Ban lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê (Hà Tĩnh), ông Nguyễn Cự Duẫn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê xác nhận có tình trạng trên xảy ra ở địa bàn. Ông Duẫn cho biết: “Rừng được giao cho người dân, dân nhận và chăm sóc, nhưng họ lại lợi dụng vào đó để khai thác rừng tự nhiên. Tuy nhiên, việc bảo vệ, quản lý là rất khó, để điều tra và xác minh phải mất cả quá trình, nên việc người dân phá rừng là điều khó tránh khỏi”.
Để hàng trăm hecta rừng bị tuyệt diệt, trách nhiệm thuộc về ai? Và việc xử phạt theo cái cách mà chính quyền UBND xã Lộc Yên có sự tham mưu của cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê có đúng quy trình hay không? (Văn Hóa 28/9) đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều đối tượng ngang nhiên mang cưa, cuốc, máy xúc… vào khu vực rừng phòng hộ thuộc hồ chứa nước Đông Tiễn (xã Bình Trị, Thăng Bình) chặt phá rừng và lấn chiếm đất lâm nghiệp để trồng keo trái phép.
Nhận được phản ánh của người dân, chúng tôi đã đến tận nơi tìm hiểu thông tin. Đầu bìa rừng, các biển quy định về bảo vệ rừng vẫn được cắm sừng sững nhưng bên trong lại hằn rõ những con đường vừa được khai mở để thuận tiện cho việc phá rừng, trồng cây trái phép. Trên đỉnh núi nhiều khoảnh rừng bị đốt cháy đen. Tại hiện trường, nhiều cây gỗ lớn bị chặt hạ nằm ngổn ngang, la liệt khắp nơi.
Có những loại cây cao hàng chục mét, đường kính gần 0,5m bị chặt hạ không thương tiếc chỉ để phục vụ cho việc trồng keo. Không những vậy, cánh rừng còn bị máy móc san ủi tạo những bờ hào sâu 1 - 2m để phân lô. Có khu vực, nhiều cây keo lá tràm vừa được trồng mới.
Anh Nguyễn Đức, một người dân địa phương cho biết, cánh rừng phòng hộ trên bắt đầu bị khai thác trái phép từ năm 2012 với tổng diện tích rừng bị phá hơn 48,5ha, trong đó có nhiều đối tượng đã chặt phá gần 4ha. Sau khi xác minh làm rõ, địa phương đã đưa ra kiểm điểm 12 hộ và 24 đối tượng phá rừng ở các thôn Nam Tiễn, Vinh Đông và Vinh Nam. “Sau đận đó, chúng tôi nghĩ rừng sẽ được bảo vệ nghiêm ngặt. Nào hay, nạn phá rừng vẫn còn tiếp diễn và gần đây càng phức tạp hơn” - anh Đức nói.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Văn Hoa - Trưởng Công an xã Bình Trị cho hay, từ đầu năm đến nay, Công an xã đã phát hiện nhiều vụ phá rừng. Ngày 26.2, tổ kiểm tra của xã đã bắt quả tang Nguyễn Phúc Diễn (SN 1983, ngụ xã Tiên Sơn, Tiên Phước) đang điều khiển xe múc đào bới rừng đầu nguồn. Theo lời khai của Diễn, đối tượng được ông Nguyễn Văn Hải (ngụ xã Bình Lãnh, Thăng Bình) thuê cày xới rừng để chuẩn bị cho việc trồng keo.
Sau khi lập hồ sơ ban đầu, tổ công tác đã bàn giao vụ việc cho Hạt Kiểm lâm huyện Thăng Bình giải quyết theo thẩm quyền. Các đối tượng bị UBND huyện Thăng Bình xử phạt 80 triệu đồng về hành vi phá rừng. Ngày 7.8, tổ công tác của xã đã phát hiện 5 đối tượng sử dụng 3 cưa máy cầm tay và một số vật dụng khảo sát để đốn hạ 2,78ha rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 484, khu vực hố Bà Lộc. Khi thấy lực lượng chức năng, các đối tượng bỏ chạy.
Tổ công tác vây bắt được 3 đối tượng, trong đó có 1 đối tượng mặc sắc phục công an viên và khai nhận công tác tại Công an xã Tiên Sơn. Theo lời khai của các đối tượng, họ phá rừng cho 1 cán bộ xã Tiên Sơn. Tại hiện trường, tổ công tác thu được 3 cưa máy, 2 rựa nghéo và một số canh xăng, lin phục vụ cho việc cưa phá rừng. Ông Hoa cho biết, tại khu vực này, nhiều cây gỗ lớn đã bị đốn hạ.
Gần đây nhất, sáng ngày 25.8, UBND xã Bình Trị phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện kiểm tra khu vực rừng giáp ranh với xã Bình Lãnh thì phát hiện đối tượng Nguyễn Văn Hải (trú xã Bình Lãnh) và một đối tượng khác đang dùng cưa máy để xẻ gỗ. Tổ kiểm tra đã lập biên bản và tạm giữ tang vật là 1 máy cưa, 1 xe máy. Điều đáng nói, đối tượng Hải là người đã bị xử phạt về hành vi phá rừng nhưng vẫn tiếp tục tái phạm.
Không chỉ khu vực giáp ranh với Bình Lãnh, Tiên Sơn, rừng phòng hộ thuộc hồ chứa nước Đông Tiễn ở những khu vực giáp ranh với các xã Bình Định Nam, Bình Phú... cũng bị “bức tử”. Ngày 26.8, UBND xã Bình Trị tiếp tục phát hiện khoảng 500m đường được đào bới tại khu vực tiểu khu 484 để phục vụ cho việc phá rừng... (Báo Quảng Nam 27/9) đầu trang(
Bị người dân lấn chiếm đất rừng làm rẫy, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai (huyện Krông Pa) đã buộc phải chọn biện pháp mạnh tay là phun thuốc cỏ cháy lên cây trồng của người dân để thu hồi các diện tích rừng đã bị phá.
Tình trạng người dân vào lâm phần của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai để phá rừng làm rẫy đã diễn ra trong một thời gian dài. Đây là vấn đề mà các cơ quan chức năng rất trăn trở. Theo ông Ngô Tiến Hùng-Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Ia Rsai (huyện Krông Pa), các cấp chính quyền đã nhiều lần tổ chức tuyên truyền, vận động người dân không được phá rừng làm nương rẫy, đồng thời yêu cầu những hộ đã vi phạm ký vào bản cam kết không tái diễn. Tuy vậy, mỗi mùa mưa về, người dân địa phương lại chặt phá rừng lấy đất trồng bắp, mì.
Khi tuyên truyền, vận động không hiệu quả, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai đã tiến hành lập biên bản với các hộ vi phạm, đồng thời chuyển hồ sơ qua Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa hoặc UBND xã Ia Rsai để xử lý theo thẩm quyền. Tại các biên bản lời khai, các hộ dân đều khai rằng dù biết hành vi phá rừng là vi phạm pháp luật nhưng do thiếu đất sản xuất nên vẫn thực hiện để lấy đất trồng hoa màu. Biên bản đã lập, cam kết cũng đã ký nhưng người dân vẫn tiếp tục phá rừng làm rẫy. Hơn 18.000 ha rừng của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai vẫn từng ngày bị xà xẻo không thương tiếc.
Trước tình hình này, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai đã phải dùng đến biện pháp khá cứng rắn, đó là phối hợp với UBND xã dùng thuốc cỏ cháy để phun vào diện tích cây trồng của các hộ dân. Ở một số diện tích khác, lực lượng này dùng giải pháp nhổ bỏ cây trồng của người dân tại khu vực lấn chiếm vào đất rừng.
Theo ông Vũ Đức Dân-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai, không riêng gì Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai mà nhiều đơn vị chủ rừng khác trên địa bàn tỉnh cũng buộc phải dùng đến cách này để lấy lại đất rừng bị người dân lấn chiếm. “Không còn cách nào khác chúng tôi mới phải dùng biện pháp này và cũng chỉ thực hiện ở diện tích hơn 10 ha thôi”-ông Dân nói.
Theo ông Vũ Đức Dân, để xảy ra tình trạng phá rừng làm rẫy một phần vì sự bất cập trong phân bổ dân cư. Hiện trên địa bàn xã Ia Rsai có buôn H’Lang trước đây thuộc xã Chư Rcăm nhưng vì sạt lở trên sông Ba khiến người dân mất đất sản xuất, buộc phải chuyển vào sinh sống trên địa bàn xã Ia Rsai. Đất ở thì đã có nhưng đất sản xuất cho hơn 85 hộ dân tại buôn này vẫn còn hạn chế.
Bên cạnh đó, buôn Sai và buôn E Kia của xã Ia Rsai cũng nằm trong lâm phần của Ban Quản lý nên rất khó kiểm soát. Trước câu hỏi tại sao không sớm ngăn chặn từ khi người dân bắt đầu chặt cây rừng, ông Dân cho hay, diện tích rừng lớn mà người dân thường thực hiện lén lút nên cán bộ của Ban không thể nắm hết được.
Ông Rơ Ô Líu (buôn Chư Jú, xã Ia Rsai)-một trong những hộ có diện tích bị phun thuốc cỏ cháy gây chết cây trồng cho biết: “Nhà mình nghèo lắm, có 4 đứa con nhỏ mà mới ra ở riêng, cha mẹ nghèo không có đất rẫy cho nên mới chặt cây lấy 3 sào đất làm lúa rẫy. Lúa trồng được gần 3 tháng thì bị cán bộ phun thuốc làm chết hết, sắp tới cũng không biết lấy gì ăn nữa”.
Trong khi đó, ông Ngô Tiến Hùng khẳng định: “Người dân cứ nói vậy chứ thực tế xã không để dân thiếu đất sản xuất, có chăng chỉ là một số hộ vừa tách hộ ra ở riêng thì đất đai không được nhiều, cùng với thói quen phá rừng làm rẫy nên mới xảy ra tình trạng này”.
Về phần Ban Quản lý Rừng phòng hộ Ia Rsai, ông Vũ Đức Dân cho rằng: “Người dân trong xã đa phần đều là người Jrai có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên để phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi hủy hoại rừng cũng khó. Cần phải có chế tài, chính sách để hỗ trợ dân trồng rừng, hưởng lợi từ rừng thì mới chấm dứt được thói quen phá rừng làm nương rẫy của người dân chứ thực tế chúng tôi cũng không hề muốn phải phá hủy nương rẫy của dân”. (Báo Gia Lai 28/9) đầu trang(
Liên tục nhiều năm qua, diện tích đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng trên địa bàn huyện Nông Sơn bị lấn chiếm và xâm hại nghiêm trọng. Điều đáng nói, khi các cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang thì phần lớn đều là người dân địa phương, vì nghèo túng mà phá rừng kiếm sống.
Tại rừng đặc dụng ở hố Trững Những (thuộc tiểu khu 460, xã Quế Lâm), Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện các đợt tuần tra, cắm biển cấm. Tuy nhiên, trong thời gian qua, nhiều diện tích tại đây đã bị xâm lấn, chặt phá. Lúc chúng tôi cùng cán bộ lâm nghiệp xã Quế Lâm có mặt tại hiện trường, phát hiện một người phụ nữ đang thực hiện hành vi chặt phá rừng. Đó là bà Nguyễn Thị Liên (tổ 1, thôn Phước Hội, xã Quế Lâm).
Được biết, đến hiện tại, diện tích rừng đặc dụng bị bà Liên chặt phá đã lên 1,2ha. Nhiều lần, chính quyền địa phương mời bà Liên lên làm việc và thực hiện cảnh cáo nhắc nhở, nhưng trường hợp này liên tục tái phạm. “Tôi thấy nhiều người vào đây làm nên cũng làm theo từ năm 2014 đến nay. Ở nhà có hai mẹ con, mà con tôi còn nhỏ, tôi cũng đau ốm mãi, không có nghề nghiệp gì nên vào lấy đất rẫy trồng keo kiếm tiền nuôi con ăn học, với lỡ có đau thì có tiền uống thuốc” - bà Liên nói. Điều đáng nói, em ruột của bà Liên là ông Nguyễn Văn Quang cũng khai rằng, đã phá gần 1ha rừng đặc dụng liền kề.
Còn tại khe Đá Cục (thôn Lộc Đông, xã Quế Lộc), nhiều diện tích rừng phòng hộ bị người dân khai thác, chặt phá để lấy đất trồng keo. Hàng trăm thân cây có đường kính 100 - 150cm đã bị chặt phá. Mảnh đất rộng chỉ còn các gốc cây nằm trơ trọi. Đáng lưu ý, nhiều thân cây to bị chặt hạ vẫn còn tươi, trong khi đó, một số cây keo con đã được người dân trồng sát bên cạnh.
Tình trạng này còn xảy ra ở các cánh rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thuộc xã Quế Lâm, Quế Phước, Phước Ninh và Quế Trung. Đặc biệt, tại tiểu khu 435 thuộc lâm phận xã Phước Ninh nhưng nhiều hộ dân thuộc xã Quế Trung vào chặt phá, khai thác lấy đất trồng keo dẫn đến tình trạng tranh chấp với người dân địa phương. Theo UBND xã Phước Ninh, hầu hết, các diện tích nói trên đều thuộc 3 loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất, tuy chưa giao đất cho dân nhưng đã có người tổ chức sản xuất.
Thông tin từ Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn, trong năm 2015, lực lượng này đã kiểm tra và phát hiện 58 vụ vi phạm trên lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng. Trong đó, có 4 vụ phá rừng trái phép gây thiệt hại 2,14ha (thuộc rừng đặc dụng và rừng phòng hộ) bị khởi tố. Ngoài ra, hơn 50 vụ còn lại thuộc thẩm quyền xử lý của chính quyền cấp xã và ngành tài nguyên - môi trường. Tuy nhiên, những trường hợp này rất khó xử lý triệt để vì hầu hết các hộ đều có hoàn cảnh khó khăn, thiếu đất sản xuất nên sống phụ thuộc vào rừng.
Huyện Nông Sơn được UBND tỉnh chọn để thực hiện dự án khôi phục và quản lý rừng bền vững (dự án KFW6) nhằm khôi phục và quản lý bền vững các diện tích rừng ở nơi có nguy cơ bị đe doạ sinh thái; quản lý rừng bền vững góp phần bảo vệ tài nguyên rừng, tạo việc làm cho người dân trong vùng dự án. Tuy nhiên, thời gian qua, trên địa bàn xã Phước Ninh đã có 48 trường hợp các hộ dân được hỗ trợ kinh phí để nhận rừng quản lý, khoanh nuôi và phát triển bền vững (thuộc dự án KFW6) đã tự ý chuyển nhượng đất rừng trái phép hoặc chuyển đất rừng sang trồng các loại cây kinh tế.
Theo ông Nguyễn Hồng Danh - Phó Chủ tịch UBND xã Phước Ninh, thời gian qua, trên địa bàn đã có nhiều trường hợp người dân tranh chấp đất rừng với nhau và tự ý vào rừng chặt phá, khai thác. Người dân khai thác rừng trái phép chủ yếu tập trung ở dự án KFW6. UBND xã Phước Ninh đã có báo cáo lên UBND huyện Nông Sơn về tình trạng này. Sau đó, Phòng NN&PTNT, Phòng Tài nguyên - môi trường, Hạt Kiểm lâm huyện đã phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức rà soát và phát hiện 48 trường hợp phá rừng trái phép.
Theo số liệu thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn, trên địa bàn có hơn 9.130ha đất rừng trống nằm trong quy hoạch 3 loại là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất theo quyết định của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020.
Tuy nhiên, trong số đó, rừng đặc dụng chiếm 4.139ha, gần 5.000ha thuộc rừng phòng hộ, rừng sản xuất còn lại được dành để giao đất cho người dân. Nhưng trong thời gian qua, dù hầu hết các diện tích chưa được giao hoặc đã tiến hành giao cho người dân quản lý, bảo vệ kèm theo kinh phí hỗ trợ, vẫn bị họ chặt phá và trồng thay thế bằng cây keo hoặc các cây lâm nghiệp khác.
Theo ông Nguyễn Thành Vinh - cán bộ nông lâm nghiệp xã Quế Lâm, do địa bàn rộng lớn, giáp ranh với nhiều huyện như Nam Giang, Hiệp Đức, Phước Sơn, trong khi đó lực lượng kiểm lâm hỗ trợ cho địa phương còn rất mỏng. Điều này dẫn đến khó khăn trong công tác tuần tra, kiểm soát cũng như các nghiệp vụ chuyên môn. Mặt khác, đời sống của người dân nơi đây còn rất khó khăn, không có đất sản xuất nên phải vào rừng giải quyết lao động và kiếm thu nhập kinh tế.
Ông Nguyễn Ngọc Nguyên - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Nông Sơn cho biết, tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng, vào rừng chặt phá cây để trồng keo “nóng” nhất ở 2 xã Quế Lâm và Phước Ninh. Hạt Kiểm lâm huyện đã phối với với chính quyền các địa phương này thành lập 2 tổ chốt chặn từ cuối năm 2015 đến nay. “Thời gian tới, chúng tôi sẽ áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và thực hiện thu hồi đất của các hộ dân đã tự trồng keo và các loại cây khác trái phép” - ông Nguyên nói.
Hiện nay nhiều địa phương trên địa bàn huyện Nông Sơn đã triển khai phương án thu hồi đất. Tuy nhiên vấn đề này gặp nhiều khó khăn do phần lớn diện tích đất rừng bị người dân lấn chiếm đã quá thời hạn xử lý và hầu hết đã trồng keo từ hai năm tuổi trở lên. (Báo Quảng Nam 28/9) đầu trang(
Rừng Sơn Trà - được xem là “lá phổi xanh” vô giá của TP Đà Nẵng đang ngày càng bị thu hẹp bởi các dự án du lịch. Các vụ phá rừng mới đây ở Sơn Trà càng khiến người dân thêm lo lắng khi diện tích lớn đất rừng bị chặt phá không nương tay.
Con đường dẫn lên rừng đặc dụng Sơn Trà hiện mỗi ngày có hàng ngàn người lên xuống tham quan, nghỉ dưỡng ở các khu du lịch.
Đất rừng Sơn Trà giờ rất có giá vì chỉ cách trung tâm Đà Nẵng vài phút chạy xe. Với các gia đình khá giả thì có được miếng đất rừng Sơn Trà coi như sở hữu được không gian nghỉ ngơi lý tưởng: trên rừng,
dưới biển.
Để bảo vệ rừng Sơn Trà, trước đây Nhà nước giao đất cho các tổ chức, người dân bảo vệ, trồng rừng. Nhưng khi đô thị Đà Nẵng mở rộng, rừng Sơn Trà gần trung tâm TP, lại dễ làm du lịch nên giá tăng lên rất nhanh.
Nhằm phân cấp quản lý, từ tháng 10-2014, TP giao diện tích đất rừng (đã giao khoán cho dân) ngoài rừng đặc dụng cho P.Thọ Quang (Q.Sơn Trà). Nhưng việc chuyển giao cho chính quyền địa phương chưa có kinh nghiệm quản lý rừng với diện tích lên đến 1.072ha khiến tình hình phức tạp.
Vụ xâm hại rừng hơn 4,5ha tại tiểu khu 62 đầu năm 2016 như gióng lên hồi chuông cảnh báo về thực trạng quản lý rừng ở đây. Sự việc nghiêm trọng buộc chính quyền Đà Nẵng phải cách chức cả hạt trưởng, hạt phó Hạt kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn và kỷ luật ba kiểm lâm viên.
Khảo sát một vòng ở Sơn Trà, nhiều khu đất rừng chỉ chú trọng làm dịch vụ, diện tích trồng rừng còn rất ít. Không ít chủ rừng sau khi được Nhà nước giao đất đã không trồng rừng mà tự ý chuyển sang làm trang trại, điểm du lịch sinh thái.
Theo khảo sát của TTCT, vệt đất rừng trên tuyến đường ven biển Hoàng Sa đã được chủ rừng cải tạo, xây dựng hàng chục nhà hàng, điểm du lịch sinh thái. Riêng khu đất rừng sát dưới chân cảng Tiên Sa chạy dọc lên đài phát sóng, các chủ rừng đã xây nhiều trang trại, nhà hàng, quán nhậu bán đặc sản rừng.
Tại khu vực triền núi trên đường Lê Đức Thọ, các khu đất được giao cho dân quản lý nhưng lại làm quán cà phê với diện tích rộng, sử dụng địa hình đồi cao để thu hút khách. Hầu hết các quán xây nhà dạng kiên cố để thuận tiện kinh doanh.
Còn dọc theo đường Yết Kiêu và nhánh rẽ lên hạt kiểm lâm, nhiều hộ dân được giao đất rừng nhưng không mặn mà với việc trồng rừng mà biến thành... quán nhậu. Các quán ở đây cũng xây nhà kiên cố và các chòi phục vụ khách.
Cách hạt kiểm lâm chừng 1km về phía khu biệt thự Hố Xanh, người dân chặt bạch đàn thuộc khu đất rừng, thậm chí còn mở con đường dài hơn 200m, rộng hơn 3m để xe ben ra vào lấy củi.
Bà Nguyễn Thị Hoa, một người dân P.Thọ Quang nhiều năm làm thuê cho chủ rừng, cho biết: “Ngày xưa bà con tôi hay đi bứt lá nón ở đây, gọi khu vực này là đền Bà vì không ai dám vào đốn cây. Chục năm nay khu vực rộng chừng 10ha này giao qua, giao lại các đời chủ nên giờ không biết ai quản lý”. Được biết, giá bình quân 1ha rừng Sơn Trà được rao bán khoảng 300 triệu đồng, các khu vực ở vị trí thuận lợi có thể mở điểm du lịch sinh thái thì giá cao hơn nhiều.
Ghi nhận tại rừng đặc dụng Sơn Trà, một số dự án du lịch “bất động” nhiều năm qua đã cắt nhỏ, băm nát những cánh rừng. Dải bờ biển phía đông Sơn Trà trước đây là những hàng cây phi lao, dừa, cây rừng xanh mướt phủ khắp nay được khoanh lại từng khu dự án, những rừng cây xanh đã bị đốn hạ, lộ thiên đất đá như mảng đầu bị cạo trọc.
Ở chân núi Sơn Trà là “siêu” dự án Bai But Bay Resort chiếm đến 30ha đất rừng. Dự án khu du lịch phức hợp này khởi công năm 2005 kỳ vọng sẽ là “thiên đường” cho du khách nghỉ dưỡng, nhưng hơn chục năm qua vẫn không xây dựng.
Cạnh đó là dự án Sontra Travel rộng vài hecta thuộc Bãi Con cũng trơ trọi, hàng rào bằng tôn sát mép đường đến nhói mắt, rừng không còn nguyên khi dự án du lịch đụng đến. Dự án Sơn Trà Resort rộng thênh thang cũng nằm im với những căn nhà xây dở dang, cả khu đất rừng rộng lớn trước đây nhường chỗ cho những bãi đất dưới cái nắng chói chang...
Nhìn những cánh rừng ở Sơn Trà từ phía nam lên phía bắc bị cày ủi để nhường đất cho các dự án du lịch không khỏi xót lòng. Những cánh rừng bị bạt, những dự án ì ạch không triển khai, để người dân chiếm dụng làm những nhà hàng, nhà nghỉ, nơi picnic... khiến khu rừng nham nhở hơn.
Cây cối bị chặt phá nhường chỗ cho những sạp gỗ, những dãy bàn ximăng làm nơi ăn uống cho du khách, những dãy nhà vệ sinh tạm.
Trước đây du khách tham quan bán đảo Sơn Trà thường gặp những đàn khỉ băng qua đường hoặc voọc chà vá chân nâu tung tăng trên các cây như trêu chọc du khách. Giờ thì những hình ảnh này càng trở nên hiếm thấy, dù có đi sâu vào
trong rừng.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng, rừng Sơn Trà có diện tích 3.600ha, trong đó rừng đặc dụng là 2.500ha được bảo vệ nghiêm ngặt, còn hơn 1.072ha rừng lâm nghiệp có độ cao dưới 200m giao khoán cho khoảng 200 hộ dân.
Ông Lê Văn Nhì, phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng, cho biết quy định khi giao khoán là chủ rừng phải sản xuất, trồng rừng chứ không được sử dụng đất rừng vào mục đích khác.
Nếu có tình trạng chuyển nhượng đất rừng thì họ tự viết giấy tay bán cho nhau chứ cơ quan chức năng không xác nhận vì việc này là trái phép. Ông Nhì khuyến cáo: “Người dân không nên mua bán đất rừng trái phép. Thực tế khi Nhà nước thu hồi thì 1ha rừng chỉ được đền bù, hỗ trợ số cây trồng và khoảng 20 triệu đồng”.
Trong khi đó, ông Võ Đình Công, chủ tịch UBND P.Thọ Quang, cho biết từ tháng 10-2014 TP Đà Nẵng đã giao phường quản lý diện tích 1.072ha đất rừng Sơn Trà nhưng mới nhận bàn giao trên giấy tờ, còn thực địa rừng chưa được giao.
Hiện trạng khu vực được giao quản lý phường cũng không biết trên đất có những gì nên khó nói. Trong 115 bộ hồ sơ đất rừng thì chỉ có 63 bộ hồ sơ gốc, có 51 người có tên nhưng khi phường thông báo tới làm việc thì không xuất hiện.
Ông Công cho biết nếu hộ dân được giao khoán đất rừng tự chuyển nhượng cho nhau thì phường không nắm được nhưng nếu có rục rịch việc bán đất rừng cho người bên ngoài thì phường sẽ nắm tình hình để ngăn chặn(?!).
Theo ông Nhì, hiện đất rừng Sơn Trà có đến 17 dự án du lịch và hầu hết diện tích đất rừng người dân đều nằm trong quy hoạch các dự án. Trong tương lai khi các dự án này triển khai sẽ thu hồi hết diện tích đất rừng đã giao cho người dân.
Theo ông Nhì, với diện tích đất rừng mở các quán nhậu, điểm du lịch sinh thái, năm 2010 TP Đà Nẵng đã có cuộc khảo sát và yêu cầu giữ nguyên hiện trạng, không được xây dựng, cơi nới thêm, sau năm 2010 trường hợp nào xây dựng mới sẽ bị xử lý tháo dỡ. Nhưng trên thực tế theo ghi nhận, người dân vẫn lén lút tiếp tục xây dựng, mở rộng quán xá để kinh doanh
Sau hai vụ phá rừng liên tiếp xảy ra ở rừng Sơn Trà vào tháng 5-2016, ông Nguyễn Xuân Anh, bí thư Thành ủy Đà Nẵng, đã làm việc với bí thư Quận ủy, chủ tịch UBND Q.Sơn Trà, giám đốc Sở NN&PTNT cùng các cơ quan liên quan để xử lý vụ phá rừng.
Ông Xuân Anh chỉ đạo sẽ thu hồi việc giao khoán 1.072ha đất rừng đã giao cho các hộ dân sau khi có kết luận của thanh tra TP về vụ việc. Hiện Thanh tra TP Đà Nẵng tiến hành công tác thanh tra sử dụng đất rừng Sơn Trà. Còn sắp tới giao 1.072ha đất rừng thu hồi đó cho đơn vị nào quản lý thì Sở NN&PTNT tham mưu, có cơ chế giao đất rừng cụ thể để ràng buộc trách nhiệm, không để tình trạng quản lý lỏng lẻo như vừa qua.
Trong khi đó, ông Lê Văn Nhì cho rằng nếu trường hợp thu hồi để giao cho doanh nghiệp thực hiện các dự án du lịch thì cần phải quy định tỉ lệ xây dựng thật thấp, phải giữ nguyên trạng phần lớn diện tích đất rừng, cây cối trong dự án để giảm thiểu sự tác động đối với các loài động vật đang sinh sống ở đây, nhất là loài voọc chà vá chân nâu.
Ông Nguyễn Phú Ban, giám đốc Sở NN&PTNT, cho biết sau giải phóng rừng Sơn Trà còn đến 6.000ha thuộc diện bảo vệ nghiêm ngặt bởi nó là lá phổi đô thị Đà Nẵng, là lá chắn trước gió bão, du lịch sinh thái, quốc phòng an ninh.
Quá trình phát triển, Sơn Trà giờ chỉ còn 2.500ha rừng bảo vệ nghiêm ngặt. Để giữ rừng, cần phân công cụ thể trách nhiệm của các ngành, địa phương, thực hiện nghiêm việc trồng rừng thay thế, hạn chế cấp phép kinh doanh dịch vụ trong rừng. (Tuổi Trẻ 28/9) đầu trang(
Ngày 26/9, tỉnh Điện Biên có văn bản số 2930 gửi tới TTXVN, xác nhận có sai phạm trong việc cấp hộ khẩu cho những người dân di cư ngoài kế hoạch tại huyện Mường Nhé; đồng thời đã triển khai các biện pháp khắc phục sai phạm này.
Trong tháng 8/2016, phóng viên TTXVN đã phản ánh tình trạng cấp sổ hộ khẩu "khống" cho nhiều hộ dân di cư tự do tới huyện Mường Nhé (tỉnh Điện Biên).
Sai phạm này đã góp phần làm gia tăng tình trạng mất ổn định về an ninh trật tự, đồng thời tiếp tay cho việc phá rừng ồ ạt tại huyện biên giới Mường Nhé.
Sau khi thông tin trên được đăng tải, UBND tỉnh Điện Biên đã kiểm tra, xác minh làm rõ tập thể, cá nhân có sai phạm, có hay không việc bao che khi cấp sổ hộ khẩu sai quy định tại Mường Nhé.
Qua kiểm tra xác minh, tỉnh Điện Biên xác định: Công an xã Mường Nhé đã cấp sai quy định 2 sổ hộ khẩu đăng ký thường trú và 3 sổ đăng ký tạm trú.
Từ năm 2009 đến 2013, ông Tao Văn Pín - Trưởng Công an xã (nay đã nghỉ hưu) đã nhận tiền trái quy định của khoảng 40 người ở bản Nậm Pồ để làm sổ hộ khẩu với tổng số tiền khoảng 15 triệu đồng, mỗi hộ từ 50.000- 200.000 đồng.
Sau khi xác định rõ sai phạm, cơ quan chức năng tỉnh Điện Biên đã yêu cầu ông Tao Văn Pín nộp lại toàn bộ số tiền trên.
Công an huyện Mường Nhé đã ban hành các quyết định về việc hủy bỏ đăng ký thường trú và tạm trú, thu hồi các sổ hộ khẩu cấp sai quy định.
Đối với các nội dung khác mà TTXVN đã đưa tin, kết quả xác minh cho thấy không đủ cơ sở để xác định.
Trước đó, như tin TTXVN đã đưa, từ năm 2009 đến năm 2013, Công an xã Mường Nhé đã cấp sổ hộ khẩu không đúng quy định cho 22 hộ dân di cư ngoài kế hoạch tới bản Nà Pán (xã Mường Nhé).
Các hộ dân này còn tố cáo ông Tao Văn Pín - Trưởng Công an xã nhận của mỗi hộ từ 7 - 10 triệu đồng, đồng thời bảo họ vào phá rừng phòng hộ, dựng nhà, làm nương để hợp thức hóa chỗ ở. (Bnews 29/9) đầu trang(
Là rừng tự nhiên không giàu tài nguyên lâm sản, cây gỗ chủ yếu loại đường kính nhỏ, song rừng Nam Hải Vân, quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) giáp ranh lâm phận huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế liên tục bị tàn phá nghiêm trọng.
Vừa qua, lực lượng liên ngành của huyện Hòa Vang, gồm kiểm lâm, công an, quân đội, dân quân tự vệ phát hiện tại tiểu khu 15 khá nhiều cây gỗ đường kính cỡ 12 - 15cm bị chặt hạ, gỗ đã chuyển đi hết. Trên phạm vi không lớn, lực lượng này còn phát hiện và phá hủy 6 đường bẫy động vật hoang dã, tháo gỡ 350 bẫy các loại.
Trước đó, vào cuối tháng 8, cũng tại khu vực này, lực lượng kiểm lâm Hòa Vang, dân quân xã Hòa Bắc đã phát hiện 150 khúc gỗ tròn, đường kính từ 12 - 18cm; 20 cây đà chống loại đường kính trên dưới 10cm, lâm tặc vừa khai thác chưa kịp chuyển đi.
Điều tra sơ bộ, xác định 30 khúc gỗ bị chặt hạ ở tiểu khu 15; số còn lại lâm tặc khai thác tại tiểu khu 10 rừng Hòa Vang và tiểu khu 11 rừng Nam Hải Vân. Lực lượng kiểm lâm đã tiến hành tịch thu số gỗ trên song bất thành do lái xe được thuê chở số gỗ trên bị lâm tặc đe dọa, ngăn cản.
Ông Lê Đình Thám, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Hòa Vang cho biết, tình trạng khai thác gỗ và săn bắt động vật trái phép tại khu vực rừng giáp ranh giữa Hòa Vang và Liên Chiểu diễn ra hết sức phức tạp, kéo dài. Đối tượng xâm hại tài nguyên rừng phần lớn là người dân tại khu vực Kim Liên, phường Hòa Hiệp Bắc (Liên Chiểu). Các đối tượng này rất manh động, sẵn sàng chống trả lực lượng thực thi nhiệm vụ.
Không chỉ năm 2016 mà liên tục các năm 2014, 2015, lực lượng kiểm lâm cũng đã nhiều lần vấp phải sự chống đối quyết liệt từ các đối tượng phá rừng khi gỗ khai thác trái phép bị phát hiện, tịch thu. Để hạn chế thấp nhất tình trạnh xâm hại ở rừng giáp ranh, ngoài lực lượng của huyện Hòa Vang rất cần sự phối hợp của lực lượng liên ngành quận Liên Chiểu.
Tìm hiểu về nguyên nhân rừng khu vực giáp ranh bị tàn phá kéo dài, ngày càng nghiêm trọng, chúng tôi được một số cựu chiến binh ở phường Hòa Hiệp Bắc cho biết, ý thức trách nhiệm bảo vệ rừng của một bộ phận cư dân địa phương rất hạn chế. Không ít người đã lấy rừng làm kế mưu sinh. Họ thường vào rừng từ sáng sớm và trở về ban đêm, mỗi ngày đưa về một vài khúc gỗ, bán ngay trong ngày.
Hai là, việc bảo vệ rừng của kiểm lâm và chính quyền địa phương không thật quyết liệt và hiệu quả. Khi phát hiện được gỗ lậu cất giấu trong rừng không tịch thu được, chứng tỏ, sức mạnh pháp luật chưa được đề cao. Trong khi lực lượng liên ngành có cả kiểm lâm, công an, quân đội, đành chịu thua một số đối tượng phá rừng. Nói là tiêu hủy gỗ tại chỗ, nhưng rốt cuộc lâm tặc vẫn đưa về tiêu thụ cho dù khúc gỗ đó có bị cưa cắt.
Ba là, đời sống người dân Hòa Hiệp Bắc vô cùng khó khăn, lấy rừng mưu sinh là giải pháp gần như duy nhất của họ. Sau khi giải tỏa hết đất canh tác, nghề làm pháo bị cấm, hầu hết lao động không có việc làm. Từ trước đến nay trên địa bàn chưa hề có dự án phát triển kinh tế.
Nói là có khu công nghiệp Liên Chiểu song người địa phương vào làm tại đây chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cuộc sống biết bao thứ phải chi tiêu, trong khi không có việc làm, thu nhập, họ ngược núi chặt ít cây gỗ bán kiếm tiền đong gạo là điều tất yếu xảy ra. Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho tình trạng phá rừng vùng giáp ranh diễn ra dai dẳng nhiều năm, không thể chấm dứt.
Đó là chưa nói, kiểm lâm thực thi nhiệm vụ trong giờ hành chính, ý chí, tinh thần tấn công lâm tặc còn nhiều hạn chế, trong khi vì mưu sinh, những kẻ phá rừng ngược núi bất kể giờ nào, lắm thủ đoạn và thực hiện hành vi khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã trái phép bằng bất cứ giá nào.
Vốn đã nghèo tài nguyên, liên tục bị tàn phá, rừng khu vực giáp ranh giữa Hòa Vang, Liên Chiểu và Thừa Thiên - Huế đang dần cạn kiệt những cây gỗ nhỏ còn lại. Không còn giải pháp nào tốt hơn để bảo vệ rừng khu vực này, đó là lực lượng kiểm lâm, bảo vệ rừng địa phương phải tăng cường tuần tra, chốt chặn, ngăn chặn hiệu quả tình trạng xâm nhập rừng trái phép. Những vụ phá rừng phải được điều tra, tìm ra thủ phạm, xử lý nghiêm minh, triệt để.
UBND TP Đà Nẵng cần có chủ trương phát triển kinh tế cho các khu dân cư cận rừng của phường Hòa Hiệp Bắc bằng các dự án khả thi, để họ có việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, từng bước từ bỏ kiểu mưu sinh bằng khai thác gỗ trái phép… (Nông Nghiệp Việt Nam 28/9) đầu trang(
O2 là làng xa nhất xã Vĩnh Kim (huyện Vĩnh Thạnh, Bình Định) nằm giáp ranh với xã An Toàn (huyện An Lão) và huyện Kbang (Gia Lai). Chưa có điện lưới quốc gia, đường giao thông… nên muốn đến làng O2 chỉ có cách duy nhất là lội bộ hơn 6 tiếng đồng hồ và vượt qua những con dốc “đầu gối chạm ngực”.
Như một chốt tiền đồn, làng O2 nằm trên đỉnh Konhlon cao vời vợi giữa núi rừng trùng điệp. Già làng O2 - Bok Hun, năm nay đã 107 tuổi nhớ lại: “Lúc trước, chính quyền địa phương có chủ trương di dời làng đi nơi khác, địa hình thuận lợi hơn để phát triển kinh tế. Nhưng làng chúng tôi đã có từ lâu đời, hồn thiêng của tổ tiên vẫn trong những cánh rừng thẳm, mình bỏ đi sao được”.
Nghĩ vậy, Bok Hun cùng nhiều người dân trong làng quyết định ở lại, gắn chặt cuộc đời với O2. Từ 19 hộ dân, nay O2 đã có tổng cộng 47 hộ dân, 183 khẩu với 5 cụm dân cư, lấy nhà rông của làng làm điểm trung tâm. Nhưng cái khó của người dân nơi đây là đường giao thông. Không có đường nên câu chuyện 5 hộ dân ở làng O2 mua xe máy được xem là kỳ tích của làng. Để có xe máy, họ lặn lội xuống tận dưới xuôi bỏ tiền mua xe rồi thuê người “cõng” xe lội suối, băng rừng lên làng.
Anh Đinh Văn Sơn, người đầu tiên mua xe máy ở O2 kể: “Mình xuống dưới xã, thấy nhiều xe máy quá, còn làng mình chẳng có cái nào. Vậy là mình mua một chiếc, nhờ mười mấy thanh niên trong làng “cõng” xe lên, mất một ngày trời xe mới lên được đây. Mua xe cũng để chạy trong làng cho vui thôi, chứ đến huyện thì xe chẳng đi được vì đường đâu có”. Sau anh Sơn, hiện nay đã có thêm 4 hộ ở O2 mua xe máy.
Năm 2012, huyện Vĩnh Thạnh đầu tư xây dựng cầu treo bắc qua sông Kôn, đoạn lên làng O2, mở ra hy vọng cho người dân trên làng vùng cao này, có cầu rồi sẽ có đường. Nhưng, trận lũ lịch sử năm 2013 đã giật phăng chiếc cầu xuống sông Kôn và cuốn trôi hy vọng làm đường của người dân O2. Vì vậy, qua sông chỉ còn cách lội bộ, men theo những triền đá ghập ghềnh.
Hiện nay, nguồn nước sinh hoạt ở O2 chủ yếu lấy từ nguồn nước suối. Ở giữa làng, bà con đào chung 2 hố nước cạnh khe suối, một để lấy nước uống và một để tắm rửa, giặt giũ. Nhà nào có điều kiện, mua ống nhựa dẫn nước về chứa trong bể làm bằng ván ghép, bên trong lót bạt. Con suối cạnh làng có nước trong mùa khô nhưng lại nằm tít dưới sâu. Muốn lấy nước về, chẳng có phương tiện nào khác là phải bỏ sức gùi cõng từng can.
“Những tấm panel điện mặt trời được lắp đặt đã hư hỏng từ lâu. Chiếc tuabin thủy điện nhỏ tận dụng sức nước từ con suối cạnh làng do bà con tự bỏ tiền mua về lắp đặt sau vài năm đã hư hỏng hết, chẳng ai biết sửa chữa nên đành bỏ luôn. Nhà mình có cái tivi nhưng phủ bụi cả năm không nói gì cả vì thủy điện nhà mình hư rồi, còn máy nổ của làng cũng trục trặc mãi”- ông Bá Khít ở làng O2 than vãn.
Khó khăn nhiều như vậy, nhưng người dân O2 vẫn bám đất dựng làng, đầu tư chăn nuôi, trồng trọt… để phát triển kinh tế. Hiện đàn trâu, bò trong làng lên đến hơn 500 con, những rẫy đất mênh mông ở O2 được bà con đưa vào trồng nhiều loại cây nông sản, tự cung cấp cho cuộc sống hằng ngày.
Bảo vệ rừng theo hợp đồng giao khoán, người dân tự xóa bỏ việc phá rừng làm rẫy mà chỉ canh tác trên diện tích rẫy cũ. Không chỉ có thêm thu nhập chính từ việc bảo vệ rừng, giờ đây, những cánh rừng nguyên sinh rộng hàng ngàn hecta bao quanh O2 được những người dân bảo vệ rất nghiêm ngặt nên lâm tặc chẳng dám nhòm ngó.
“Chúng tôi tâm niệm rằng yêu làng là phải giữ rừng, vì rừng cho rất nhiều thứ để có cái ăn, cái mặc. Các lâm sản phụ dưới tán rừng được phép khai thác như: Mật ong, trái ươi, trái xoay… đã mang lại nhiều nguồn lợi. Hàng năm, từ tháng 3 đến tháng 6 là mùa hoa rừng nở, cũng là mùa ong đi tìm mật. Ở làng O2, mỗi năm những thanh niên trai tráng đi rừng lấy về cả ngàn lít mật. Giá mật ong rừng luôn ổn định ở mức từ 250.000- 300.000 đồng/lít mang lại nguồn thu nhập không nhỏ. Mỗi mùa ong, cả làng vào rừng lấy mật, nhà nào nhiều thì cũng được vài ba trăm lít, gia đình mình cũng lấy được không dưới một trăm lít mật mỗi mùa. Tiền bán mật được bà con xem là một trong những nguồn thu nhập chính trong năm”- ông Bá Khít (làng O2) chia sẻ. (Dân Việt 29/9) đầu trang(
Là kinh đô của Huế một thuở, quần thể di tích cố đô Huế hiện rất hấp dẫn du khách không những bởi các kiến trúc cung điện, đền đài, lăng tẩm mà còn ở hệ thống cây cổ thụ, cây xanh được trồng trong di tích. Đây là một cấu phần cực kỳ quan trọng hình thành nên các “di sản cảnh quan” trong chốn cung đình Huế.
Được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa Thế giới vào năm 1993, Quẩn thể Di tích cố đô Huế ngoài mang trong mình những công trình kiến trúc đồ sộ được xây dựng vào đầu thế kỷ 19 đến thế kỷ 20 thì một mảng cấu thành rất quan trọng, đó là cảnh quan - yếu tố làm nên màu xanh mát và những mảng cổ kính bên cạnh các di tích lâu nay ít được nhắc tới. Chùm bài viết này nhằm miêu tả, làm rõ một cấu phần hết sức đặc biệt, đa dạng và không thể thiếu của di tích Huế: Di sản cảnh quan.
Theo TS. Phan Thanh Hải, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, các vị vua triều Nguyễn phần lớn đều giỏi thi ca, nhạc họa nên rất yêu thích cảnh đẹp thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá. Chính vì vậy mà khi xây dựng Kinh đô ở Huế các vua Nguyễn đã cố gắng tận dụng địa hình, địa thế, phong cảnh lý tưởng của vùng đất Cố đô để biến Kinh đô Huế thành một “mô hình Phong thuỷ lý tưởng” - một “Kiểu kiến trúc cảnh quan riêng có của Huế”, cùng với đó hàng loạt khu vườn Thượng uyển với quy mô lớn, tính nghệ thuật và thẩm mỹ cao được lập nên và các loài hoa thơm, cỏ lạ, cây cảnh đẹp, độc đáo từ khắp nơi trong cả nước được huy động về để phục vụ cho nhu cầu trang trí cảnh quan chốn Cung đình.
Trong lối thiết kế kiến trúc cảnh quan các khu vực di tích Huế thì các thành tố mặt nước, cây xanh, sân vườn, cây kiểng luôn là những thành phần không thể thiếu để tạo nên bố cục cảnh quan chung của công trình. Chúng góp phần tạo ra những nét rất riêng cho lối kiến trúc cung đình của mảnh đất thần kinh.
Đặc biệt, hệ thống cây xanh là một trong những nhân tố chính của cảnh quan khu di tích, những hàng cây xanh đồ sộ, hùng vĩ lớn dần theo thời gian tồn tại của nó góp phần tạo màu xanh, bóng mát, tăng tính thâm nghiêm, cổ kính cho các công trình kiến trúc của di tích, đồng thời chúng còn mang những ý nghĩa văn hóa lịch sử, thông qua những nét đặc thù riêng về chủng loại và phân bố ở từng khu vực.
Hệ thống cây xanh được thể hiện khá rõ qua sự quy hoạch, bố trí, lựa chọn chủng loại cây trồng đặc thù riêng cho từng khu vực. Đến nay, ở nhiều khu di tích vẫn còn tồn tại, lưu giữ được nhiều cây trồng cổ thụ mang những đặc điểm đặc trưng cho mỗi khu vực, thể hiện cho tính cách của từng vị vua qua từng triều đại, hay đánh dấu một điểm mốc lịch sử, mối quan hệ bang giao... Những nhà bảo tồn học gọi những cây đó là "Cây di tích", nó trở thành một bộ phận không thể thiếu của di sản văn hóa Huế.
Du khách khi đi thăm Đại Nội sẽ nhìn thấy hai cây Tếch (hay còn gọi là cây Giá tị, Báng súng) cổ thụ nằm ở sân phía Tây Điện Thái Hòa. Cây tếch cổ này có hoa màu hồng nhạt, nở hoa 2 lần trong năm vào đầu hè và đầu đông. Do là loại cây có khả năng chịu đựng thời tiết khắc nghiệt của Huế nên qua nhiều năm với hàng trăm trận mưa bão lớn nhưng 2 “ông” tếch này vẫn không hề bị ảnh hưởng mà ngày càng trở nên to lớn như thể hai chú lính gác khổng lồ tại Đại Nội.
Đi ra phía sau điện Thái Hoà, du khách sẽ không thể nào không để ý tới vẻ đẹp cổ của 2 cây Ngô đồng. Theo sử sách, vua Minh Mạng là người đầu tiên đưa ngô đồng từ Quảng Đông về trồng sau điện Thái Hòa và trước điện Cần Chánh. Ra hoa màu hồng phớt vào tháng 2 âm lịch đầu năm, đây được xem là những cây ngô đồng cổ nhất Việt Nam. Cây hoa này đã được vua Minh Mạng cho chạm hình ảnh vào chiếc đỉnh mang thụy hiệu của ông là Nhân đỉnh (1 trong 9 đỉnh ở Cửu đỉnh, Thế Miếu, Đại Nội Huế).
Ở cung Diên Thọ, Cây La Hán Tùng (Vạn Niên Tùng) cổ thụ được xếp vào hàng bậc nhất Việt Nam với tuổi thọ trên 100 năm. Khác với loại tùng ở miền Bắc, cây tùng này có lá nhỏ hơn và rất khó trồng. La Hán Tùng mặc dù sống lâu năm nhưng bộ lá của cây thì mãi mãi xanh tượng trưng cho sự trường thọ. Đây cũng là lý do mà cây này được trồng ở nơi sống, sinh hoạt của Thái Hoàng Thái Hậu - cung Diên Thọ. Cây còn có một tên “cung đình” nữa là cây Phật Bà.
Hấp dẫn với nhiều người và có trong câu chuyện của các hướng dẫn viên du lịch là cây Thông cổ ở Thế Miếu. Bộ gốc và thân to, uốn luộn thế rất đẹp, đây là cây được cho là trồng từ thời vua Minh Mạng gần 200 năm nay, hiện phải nhờ giàn đỡ kim loại chống vì độ oằn của cây quá nhiều và tuổi đời quá lâu, thân cây bị mối ăn bộng ruột gần hết.
Tại Đại Nội còn có nhiều cây cổ thụ khác như 2 cây Bàng cổ ở hai bên cổng Hiển Lâm Các (Thế Miếu); hai cây Vải cổ thụ được trồng ngay ngắn trong bồn trước sân điện chính Cung Diên Thọ…
Riêng tại các lăng vua, đáng chú ý Hai cây Sakê ở lăng Gia Long - theo Châu Bản triều Nguyễn còn lưu lại thì hai cây này được trồng vào thời vua Gia Long. Ở lăng vua Minh Mạng có nhiều cây Hàm tiếu có tuổi đời rất cổ được trồng ngay ngắn trong bồn còn lại từ lúc xưa. Tại lăng vua Tự Đức có những hàng Thông cổ tuổi đời hàng trăm năm. Lăng vua Thiệu Trị có 1 cây Vạn tuế có dáng độc lạ cùng với 1 cây Săng Mã cổ kính đẹp tuyệt vời trước khu bia mộ lăng vua. Ở lăng vua Đồng Khánh có 1 cây Ngọc Lan cổ nở hoa thơm ngát… đều có tuổi đời rất lâu, được xem là “nhân chứng sống” đi cùng thời gian cùng di tích Huế.
Tại di tích Huế, các cây xanh, cây cổ thụ được chia làm 2 nhóm chính có số lượng lớn là cây xanh tạo bóng và cây xanh cho quả ăn được. Cây xanh tạo bóng là nhóm loài cây chủ yếu được trồng ở các điểm di tích, trong số đó, một số loài có ý nghĩa lịch sử, gắn liền với tiến trình xây dựng và phát triển hệ thống công trình của triều Nguyễn như Bồ hòn, Lộc vừng, Mù u, Ngô đồng, Thông nhựa…
Tuy nhiên, do được trồng rất sớm cho nên hầu hết đã đổ ngã do già cỗi và gió bão, đến nay một số đã được thay thế bằng những cây non tuổi, không thấy nhiều cây cổ thụ từ thời Nguyễn, như cây thông ở Thế Miếu, 2 cây Tếch ở Tây Điện Thái Hòa, được ghi nhận là cây được trồng từ thời Minh Mạng; các cây Sa kê khu vực lăng Gia Long được xác định trồng thời Gia Long. Nhiều cây Thông ở các lăng tẩm (Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức…) cũng được trồng rất lâu, nhưng hiện chưa có tư liệu xác định niên đại một cách chính xác.
Một số loài được trồng thay thế hoặc trồng mới ở các công trình di tích nhiều khi có số lượng cá thể lấn át cả số lượng cá thể những loài di tích như Lim xẹt, Phượng vĩ, Bằng lăng, Bồ kết tây…
Ở một vài điểm di tích như lăng Minh Mạng vài loài cây nhập nội cũng được trồng thành quần thể như Bạch đàn, Keo lá tràm, Phi lao… Hoàng Yến cũng là một cây vừa có bóng vừa cho hoa quả đẹp vừa mới được đưa trồng ở lăng Minh Mạng trước năm 2000. Đây là những loài cây được nghiên cứu thay đổi cơ cấu hoặc chọn lựa loại trừ, đặc biệt là Bạch đàn và Keo lá tràm.
Về cây xanh cho quả ăn được có 31 loài cây được ghi nhận có mặt ở các điểm di tích. Trong số đó, Nhãn, Vải và Mít là các loài có số lượng cá thể lớn và được phân bố rộng rãi ở nhiều điểm di tích. Cùng với các loài này, Thị là loài được gây trồng rất sớm, hiện nay đang chết dần hoặc cằn cõi kém phát triển. Xoài cũng là loài được trồng sớm và hiện nay nó là một trong những loài có số cá thể cao tuổi lớn. Nhiều cây Xoài ở Đại Nội, lăng vua Tự Đức… có kích thước rất lớn.
Các vua Nguyễn lựa chọn các chủng loại cây trồng cũng hết sức nhân văn, phần lớn là các nhóm cây đa dụng. Vua Minh Mạng rất thích cây Thị và cho trồng ở vườn Thiệu Phương bởi khen cây Thị có “thất tuyệt”: một là cây sống lâu; hai là nhiều bóng mát; ba là không có tổ chim; bốn là không có sâu mọt; năm là lá thấm sương rất đẹp; sáu là quả đẹp ăn được; bảy là lá rụng xuống to dày có thể viết chữ (Ngự chế thi tập – Vĩnh Cao dịch). Vua Thiệu Trị thì rất thích cây Mít vì cây này vừa cho bóng mát, trái ăn được dù non hay già, gỗ cây rất tốt…
Hệ thống cây ăn quả ở các điểm di tích Huế có một điều rất thú vị là đại diện được cho cả 3 miền: ở miền Bắc có cây Hồng, cây Lê, cây Vải; miền Trung có Bứa, Chay, Dâu da, Khế, Me, Mít, Mùng quân,Nhãn và ở miền Nam có Măng cụt, Mãng cầu, Vú sữa, Sa kê, Xoài. Đây là một trong những nét độc đáo của hệ thống cây xanh xứ Huế nói chung và ở các điểm di tích nói riêng.
Theo kết quả điều tra bước đầu năm 2002 cho một số điểm di tích chính như Đại Nội, lăng Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, điện Huệ Nam, số lượng cây xanh thống kê được là 3.344 cây (đây chỉ là số lượng điều tra ban đầu chưa đầy đủ về cây xanh tạo bóng và cây xanh cho quả ăn được, chưa bao gồm cây xanh trồng làm cảnh vì chỉ mới điều tra một số điểm di tích), trong đó số cây có đường kính trên 50cm (được xem là cây cổ thụ) chỉ chiếm khoảng 1/3 số lượng.
Tuy nhiên số lượng những cây cổ thụ có giá trị, ý nghĩa gắn liền với các di tích thì còn rất ít. Hiện nay số lượng cây xanh di tích đã tăng lên rất nhiều do đã được bổ sung trồng mới thêm như Đại Nội, vành đai xanh lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Gia Long, lăng Đồng Khánh, Nam Giao, Văn Thánh với số lượng trên 20.000 cây xanh các loại.
Nhưng do hàng năm thiên tai bão lụt, sâu bệnh, dịch hại đã làm ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống cây xanh của di tích, từ năm 1999 đến nay đã gây thiệt hại đến hơn 300 cây cổ thụ.
Theo TS. Lê Công Sơn, Trưởng Phòng Cảnh quan Môi trường, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, nhiều năm trở lại đây, hệ thống cây xanh, nhất là cây cổ thụ được đầu tư chăm sóc nhiều. Trung tâm luôn xác định, công tác bảo tồn trùng tu di tích phải bao hàm cả công tác bảo tồn các giá trị phong thủy cảnh quan đặc sắc và độc đáo gắn liền với di tích thì lúc đó công tác bảo tồn di tích mới thực sự toàn diện và phát huy hiệu quả.
Với một khu hệ thực vật phong phú và đa dạng ở các khu vực di tích, hệ thống cây xanh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tôn tạo cảnh quan, cải thiện môi sinh môi trường, điều tiết tiểu khí hậu vùng và bảo vệ cho các khu di tích Huế, hạn chế các tác động từ môi trường bên ngoài như tiếng động, độ rung, xói mòn, khói bụi… đến các khu di tích. (Dân Trí 29/9) đầu trang(
Sáng 29/9, Công an huyện Nam Giang (Quảng Nam) xác nhận, trên địa bàn vừa xảy ra một vụ tai nạn xe máy khiến 2 người thương vong.
Theo thông tin ban đầu, rạng sáng 28/9, Nguyễn Công Viên (1987, trú xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) và Đinh Văn Nam (1996, trú TT Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang) điều khiển xe máy chở gỗ trái phép chạy trên đường mòn Hồ Chí Minh theo hướng về huyện Đại Lộc.
Khi cách khu vực cầu Bến Giằng (thuộc địa phận xã Cà Dy, huyện Nam Giang) khoảng 200 mét thì bất ngờ va chạm vào nhau. Vụ tai nạn khiến Viên chết tại chỗ, Nam bị thương nặng được đưa xuống Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng trong tình trạng nguy kịch
Được biết, vào thời điểm trên, mỗi xe máy chở 6 khúc gỗ. Sau khi vụ việc xảy ra, nhóm “lâm tặc” đi cùng đã dọn hiện trường và tẩu tán số gỗ trái phép. Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra, làm rõ. (Báo Quảng Nam 29/9) đầu trang(
Ngày 29/9, Phòng cảnh sát đường thủy cho biết, đơn vị vừa bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ lậu bằng đường thủy trên địa bàn.
Trước đó, vào ngày 27/9, tổ công tác Đội phòng chống tội phạm, Phòng Cảnh sát đường thủy phát hiện 1 bè chở gỗ đang xuôi dòng từ thượng nguồn về hạ lưu tuyến sông Hiếu thuộc địa phận xóm Bãi Kè, xã Đồng Hợp (Qùy Hợp).
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trên bè có 35 khúc gỗ tròn (thuộc gỗ nhóm VI đến nhóm VIII) có khối lượng 3,5 m3. Số gỗ nói trên là của ông Lê Đình Thành (SN 1968 trú tại xã Quỳnh Tam, Quỳnh Lưu, Nghệ An).
Tại thời điểm kiểm tra, ông Thành không xuất trình được các giấy tờ liên quan về nguồn gốc xuất xứ số gỗ trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản và ban giao cho Đội kiểm lâm cơ động số 3 xử lý theo đúng quy định của pháp luật. (Báo Nghệ An 29/9) đầu trang(
Tổ chức Hiệp định về buôn bán động vật có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) đang nhóm họp tại Nam Phi cho biết Việt Nam là điểm nóng nhất trong việc buôn bán sừng và các vật phẩm từ tê giác.
CITES cho biết trong vài năm qua, trung bình hằng năm có khoảng 1.300 tê giác châu Phi bị giết để lấy sừng, tăng đáng kể so với con số 100 con bị giết năm 2008.
Hãng tin AP cho biết tổ chức phi chính phủ đặt tại Hà Lan có tên Ủy ban công lý của đời sống hoang dã (WJC) xác định làng Nhị Khê, Hà Tây là điểm trung chuyển lớn nhất buôn bán các sản phẩm thú hoang dã bất hợp pháp.
Năm ngoái, có 1.175 tê giác bị giết bất hợp pháp tại châu Phi trong khi các nhà điều tra phát hiện tại làng Nhị Khê có đến 573 sừng tê giác châu Phi, tức chiếm hơn phân nửa lượng sừng bất hợp pháp. Ngoài ra, WJC còn phát hiện 907 ngà voi và nhiều sản phẩm khác có trị giá tổng cộng 53 triệu USD.
Ông Colman O’Criodain, nhà phân tích thương mại của Quỹ đời sống hoang dã (WWF), nói: "Trong sáu năm qua, Việt Nam luôn là thị trường sừng tê giác lớn nhất thế giới. Dù vậy, vẫn chưa có biện pháp mạnh nào để ngăn chặn việc buôn bán sản phẩm này".
Theo báo cáo của chính phủ Nam Phi, trung bình tại mọi thời điểm trong ngày, luôn có 12 băng đảng săn lậu hoạt động tại vườn quốc gia Kruger. (Tuổi Trẻ 27/9) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Không ai có thể phủ nhận tác động tích cực từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Tuy nhiên, để chính sách này phát huy hiệu quả, các chủ rừng cần hướng mạnh đến việc giao khoán rừng cho dân...
Để bảo đảm những yếu tố khách quan, không hẹn trước, lần này tôi đã đến làng Long Zôn, xã Đăk Ang (huyện Ngọc Hồi) gặp các hộ nhận khoán bảo vệ rừng của Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ (QLRPH) Đăk Ang.
A Vưr - hộ nhận khoán bảo vệ rừng cho biết, nhóm ông gồm 5 hộ do ông làm nhóm trưởng và được Ban QLRPH Đăk Ang giao khoán bảo vệ 22ha rừng. Nhận quản lý bảo vệ rừng, nhóm của ông thường xuyên phân công nhau từ 2-3 người/lần tuần tra bảo vệ rừng.
Năm ngoái, nhóm ông không để xảy ra mất rừng, Ban QLRPH Đăk Ang trả tiền công nhận khoán cho nhóm 2 đợt. Nhận tiền, nhóm chia đều cho mỗi hộ được khoảng hơn 1 triệu đồng/năm.
Cũng theo lời A Vưr, số tiền nhận được không nhiều, nhưng nó góp phần cho gia đình trang trải một số khoản chi tiêu cần thiết trong cuộc sống.
Năm nay, Ban QLRPH Đăk Ang chưa giao khoán; tuy nhiên, Ban đã lấy ý kiến dân lập hồ sơ giao khoán 100ha rừng/nhóm hộ, mỗi nhóm hộ khoảng 20 người.
Theo kế hoạch, Ban QLRPH Đăk Ang giao khoán 600ha rừng cho người dân thôn Long Zôn. Rừng sẽ được Ban QLRPH Đăk Ang giao khoán ổn định cho dân trong giai đoạn 2016-2020.
Ở làng Za Tun, xã Đăk Ang, tôi gặp nhóm A Phôi, nhóm này năm 2015 nhận khoán bảo vệ 28ha rừng của Ban QLRPH Đăk Ang. Tham gia bảo vệ rừng, không để xảy ra mất rừng, năm ngoái, nhóm A Phôi cũng nhận được hơn 1 triệu đồng/hộ. Cũng như nhóm A Vưr, năm nay nhóm A Phôi cũng chưa được giao khoán bảo vệ rừng.
Cùng là nhóm trưởng, cả A Phôi và A Vưr đều cho biết, rừng phòng hộ nhận khoán ở xa làng, bà con đi tuần tra chủ yếu đi bộ. Nhóm có diện tích rừng ở gần, đi tuần tra mất ít nhất cả buổi mới đến được rừng nhận khoán. Nhóm có rừng ở xa như nhóm A Dương phải đi bộ cả ngày đường mới đến rừng.
Gắn bó với rừng, A Vưr cho rằng, số tiền thu được so với công sức và trách nhiệm người dân bỏ ra không lớn. Tuy nhiên, khi Ban giao khoán rừng theo chính sách DVMTR, bà con ai cũng mong được tham gia giữ rừng để có thêm thu nhập. Người dân cũng ý thức được rằng, bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn nước, phòng chống bão lũ, bảo vệ môi trường…
Trước yêu cầu cuộc sống đặt ra, A Vưr cũng như nhiều người dân đề nghị Ban QLRPH Đăk Ang tăng diện tích rừng giao khoán để nâng cao thêm mức thu nhập cho dân.
Theo ông Nguyễn Thành Trung- Trưởng phòng Kỹ thuật lâm nghiệp- quản lý bảo vệ rừng (Ban QLRPH Đăk Ang), theo kết quả kiểm kê rừng và Quyết định 433/QĐ-UBND ngày 3/7/2015 của UBND tỉnh về việc điều chỉnh giảm diện tích lâm phần, đơn vị hiện đang quản lý bảo vệ 6.553,39ha rừng, trong đó có 6.342,94 ha đất có rừng, 210,45 ha đất chưa có rừng. Diện tích đất có rừng của Ban đều được hưởng chính sách chi trả DVMTR. Theo đó, năm 2015 Ban QLRPH Đăk Ang giao khoán 6.008,8ha rừng cho dân bảo vệ, còn lại 334,14ha rừng đơn vị tự quản lý bảo vệ.
Theo con số kế hoạch, năm 2016, Ban QLRPH Đăk Ang không mở rộng diện tích rừng giao khoán cho dân. Diện tích rừng giao khoán cho dân từ hơn 6.000ha năm trước, năm nay kế hoạch chỉ giao khoán 4.000ha rừng cho 45 nhóm hộ. Diện tích rừng (2.342,94ha) còn lại, Ban QLRPH Đăk Ang tự quản lý bảo vệ.
Việc Ban QLRPH Đăk Ang giảm diện tích rừng giao khoán, chắc chắn sẽ làm cho nguyện vọng của người dân mong có thêm rừng nhận khoán để kiếm thêm thu nhập, cải thiện đời sống khó trở thành hiện thực.
Việc giảm diện tích rừng giao khoán cho dân cũng dễ dẫn đến những biến động trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Trên thực tế, điều này đã xảy ra. Năm 2015, trên lâm phần Ban QLRPH Đăk Ang chỉ xảy ra 2 vụ vi phạm lâm luật (1 vụ cất giấu 0,97m3 và 1 vụ đưa cưa xăng vào rừng), nhưng 8 tháng đầu năm 2016 xảy ra 4 vụ vi phạm lâm luật (2 vụ vận chuyển 1,64m3 trái phép và 2 vụ đưa xe máy độ chế trái phép vào rừng).
Trở lại việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Ban QLRPH Đăk Ang cho biết, không tính những năm trước, năm 2015, Ban QLRPH Đăk Ang nhận 2,84 tỷ đồng DVMTR. Theo đó, Ban đã chi 2,56 tỷ đồng (2,42 tỷ đồng cho hộ nhận khoán và 134 triệu đồng cho 10 lao động hợp đồng bảo vệ rừng), còn lại trên 280 triệu đồng (thuộc 10% trên số tổng số tiền DVMTR) chi cho công tác quản lý theo quy định.
Năm 2016, Ban QLRPH Đăk Ang chưa nhận được tiền DVMTR. Khi nào giao khoán rừng và nhận được tiền DVMTR, Ban QLRPH Đăk Ang sẽ trả đủ cho các hộ nhận khoán theo quy định. Tuy nhiên, với tình hình hạn hán như năm nay, các nhà máy phát điện thấp, nguồn thu từ DVMTR khó có thể tăng.
Có thể thấy rõ những tác động tích cực từ chính sách chi trả DVMTR; đồng thời, để góp phần nâng cao đời sống người dân sống gần rừng, các chủ rừng cần hướng mạnh đến việc giao khoán rừng cho dân bảo vệ. (Báo Kon Tum 29/9) đầu trang(
Ngày 28-9, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm hoạt động của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) và thực hiện Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tỉnh Thanh Hóa.
Tham dự hội nghị có đồng chí Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cùng đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT); Quỹ BV&PTR Việt Nam; Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp…
Qua 5 năm thực hiện, Quỹ BV&PTR và thực hiện Chính sách chi trả DVMTR tỉnh đã huy động được nguồn lực xã hội hóa góp phần BV&PTR, cải thiện sinh kế cho người dân các dân tộc ở vùng sâu vùng xa.
Đến nay, quỹ đã thu được tổng số tiền từ các hợp đồng ủy thác của các đơn vị hoạt động trên địa bàn có rừng và các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác theo hình thức nộp tiền đạt 84,1 tỷ đồng, trong đó, tiền thu từ DVMTR là 38,3 tỷ đồng, tiền thu từ trồng rừng thay thế là 45,8 tỷ đồng. Sau khi tiếp nhận nguồn thu về quỹ, BQL quỹ đã tham mưu thực hiện kịp thời công tác giải ngân thanh toán tiền DVMTR và tổ chức trồng rừng thay thế.
Giai đoạn 2012-2016, quỹ đã chi trả tiền DVMTR kịp thời cho 311.102 ha rừng tại lưu vực của 3 nhà máy thủy điện: Cửa Đạt, sông Mực, Bá Thước 2 trên địa bàn 7 huyện: Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát cho 23 chủ rừng là tổ chức, 24 tổ chức không phải là chủ rừng (diện tích do UBND xã tạm quản lý), 461 cộng đồng thôn, bản và 1.587 hộ gia đình, cá nhân, góp phần giúp các chủ rừng thực hiện tốt hơn công tác bảo vệ rừng, tạo việc làm, cải thiện sinh kế cho người dân miền núi.
Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập cần giải quyết, điển hình như thủy điện là nguồn thu chính của tiền DVMTR hiện nay (chiếm tới trên 90% số thu). Nhưng mức chi trả bình quân đối với phần diện tích thuộc lưu vực các nhà máy thủy điện còn thấp, như: Nhà máy Thủy điện Cửa Đạt đạt từ 50.000 đến 70.000 đồng/ha/năm; lưu vực của Nhà máy Thủy điện sông Mực, Nhà máy Thủy điện Bá Thước 2, mức chi trả được xác định rất thấp, khoảng 2.000- 5.000 đồng/ha/năm…
Tại hội nghị đại diện các địa phương, doanh nghiệp, chủ rừng, cộng đồng dân cư đã trình bày tham luận nhằm phát huy hiệu quả của hoạt động của Quỹ BV&PTR và thực hiện Chính sách chi trả DVMTR tỉnh.
Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh biểu dương những kết quả hoạt động của Quỹ BV&PTR và thực hiện Chính sách chi trả DVMTR tỉnh đã đạt được trong những năm qua. Đồng thời yêu cầu, cần nâng cao nhận thức chính sách chi trả DVMTR cho người dân, tránh sự chênh lệch giữa các địa phương với nhau.
Các đơn vị chi trả chính sách DVMTR rà soát lại những người có rừng mà chưa được hưởng lợi từ rừng. Các đơn vị tham mưu xác định lưu vực của các sông, hộ dân có diện tích rừng để thực hiện chi trả DVMTR cho hiệu quả.
Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đề nghị, tỉnh Thanh Hóa có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn vì vậy các đơn vị phải thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng nghiêm ngặt, bảo đảm độ che phủ của rừng và phát triển lâm nghiệp bền vững. Sở NN&PTNT phối hợp với các đơn vị có sử dụng đất rừng để thống nhất mức nộp và tiến độ nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR và trồng rừng thay thế. Sở Công Thương xác định các thủy điện, doanh nghiệp thuộc đối tượng sử dụng môi trường rừng để tăng nguồn thu cho quỹ.
Đồng thời, kêu gọi các tổ chức quốc tế ủng hộ Thanh Hóa thực hiện BV&PTR. Các địa phương tổ chức thực hiện, đôn đốc các đơn vị tham gia đóng góp và thực hiện chi trả cho các đối tượng được hưởng, cùng với đó lồng ghép các nguồn vốn để bảo vệ rừng.
Nhân dịp này, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 2 tập thể và 1 cá nhân; đại diện lãnh đạo Sở NN&PTNT trao Giấy khen cho 5 tập thể và 7 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện Chính sách chi trả DVMTR giai đoạn 2011-2016. (Báo Thanh Hóa 28/9) đầu trang(
Ngày 28/9, ông Huỳnh Anh Minh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước chủ trì Hội nghị thông qua kết quả kiểm kê rừng tỉnh.
Báo cáo tại hội nghị cho biết, tính đến nay, việc thực hiện phương án kiểm kê rừng đã cơ bản hoàn tất; chất lượng, khối lượng sản phẩm kiểm kê rừng của Bình Phước giai đoạn 2015-2016 do đơn vị tư vấn đã tổ chức thực hiện phương án kiểm kê rừng theo đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn định. Hiện toàn tỉnh có 24.599 lô rừng và đất lâm nghiệp phân bố trên địa bàn 51 xã, phường, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính cấp huyện với diện tích rừng và đất lâm nghiệp hơn 175.000 ha.
Trong đó, diện tích rừng tự nhiên 56.604 ha, bao gồm các trạng thái rừng hỗn giao gỗ - tre nứa có 37.305 ha (chiếm 21,23% diện tích rừng và đất lâm nghiệp) - loại rừng này tập trung nhiều nhất ở huyện Bù Gia Mập (24.266ha) và tại Bù Đốp, Bù Đăng. Diện tích đã trồng rừng của tỉnh hơn 105.000 ha, trong đó diện tích đã trồng nhưng chưa thành rừng 12.836 ha và diện tích rừng trồng đã thành rừng 95.200 ha.
Tổng trữ lượng rừng gỗ của Bình Phước hiện có hơn 11,122 triệu m3, trữ lượng tre nứa hơn 208 triệu cây, trong đó trữ lượng gỗ rừng tự nhiên của tỉnh gần 8 triệu m3, bao gồm các trạng thái rừng hỗn giao gỗ - tre nứa có trữ lượng gỗ hơn 5 triệu m3. Trữ lượng rừng trồng hơn 3,1 triệu m3, trong đó các trạng thái rừng trồng gỗ núi đất có trữ lượng hơn 2,4 triệu m3, trạng thái rừng trồng khác 706.953 m3.
Tuy nhiên, do đặc thù của Bình Phước hiện nay tồn tại rừng phòng hộ biên giới, do vậy để thống nhất chung toàn quốc, kết quả thống kê, kiểm kê rừng tạm thống kê vào rừng phòng hộ đầu nguồn. Một số đơn vị được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi kiểm kê rừng thì không thực hiện được, do vị trí và sơ đồ thửa đất không phù hợp với thực địa. Vì vậy, chưa thể lập hồ sơ quản lý rừng cho các chủ rừng này.
Ông Huỳnh Anh Minh yêu cầu các đơn vị liên quan cần rà soát lại số liệu báo cáo, sau đó Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm tham mưu trình phê duyệt để kịp với tiến độ của Trung ương đề ra. Đối với rừng phòng hộ biên giới, trước mắt xác định rừng phòng hộ đầu nguồn, tuy nhiên khi tổ chức đo vẽ loại rừng này phải trùng với đường phân giới cắm mốc của tỉnh. (Khoa Học Thời Đại 28/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, huyện Pác Nặm đã giải ngân vốn trồng và chăm sóc rừng trồng, giao khoán bảo vệ rừng đạt trên 41% kế hoạch cả năm.
Năm 2016, huyện Pác Nặm được cấp trên 6,5 tỷ đồng để thực hiện công tác trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng. Đến thời điểm này, toàn huyện đã giải ngân được trên 2,7 tỷ đồng thanh toán tiền nhân công trồng rừng năm 2013. Sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua chính sách phát triển rừng trong thời gian qua khiến người dân rất phấn khởi, tích cực tham gia trồng rừng.
Vì vậy, hiện huyện Pác Nặm đang tập trung giải ngân nguồn vốn hỗ trợ đến với người dân để khuyến khích bà con thực hiện chỉ tiêu trồng rừng của những năm tiếp theo đạt kế hoạch đã đề ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 27/9) đầu trang(
Khuyến khích người dân chuyển đổi từ phương thức trồng rừng gỗ dăm sang trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC (do Hội đồng Quản trị Rừng thế giới cấp) là chiến lược trong tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của tỉnh.
Toàn tỉnh hiện có 95.475 ha rừng trồng các loại, trong đó rừng trồng của các hộ gia đình hơn 58.812 ha, riêng rừng trồng keo chiếm gần 48.500 ha. Lâu nay, các hộ gia đình cũng như các đơn vị lâm nghiệp chủ yếu trồng rừng theo phương thức lấy dăm với chu kỳ 4-5 năm cho thu hoạch. Tuy nhiên, một số nơi trồng theo phương thức này không mang lại hiệu quả kinh tế, thậm chí làm cho chất đất ngày một xấu đi, hiệu quả môi trường hạn chế.
Hiện nay, nhu cầu gỗ nguyên liệu có chứng chỉ FSC sản xuất trong nước của các doanh nghiệp sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu rất lớn. Phần lớn các xưởng mộc trên địa bàn tỉnh đang có xu hướng thay thế nguồn nguyên liệu gỗ rừng tự nhiên sang dùng gỗ cây keo, gỗ xoan, mít… để làm đồ gỗ gia dụng. Do vậy, cây keo được trồng lấy gỗ là nguồn nguyên liệu có tiềm năng dồi dào và ngày càng có giá. Không riêng thị trường nội địa, kể cả thị trường châu Âu cũng đang rất chuộng các sản phẩm sử dụng nguồn gỗ có truy xuất nguồn gốc chứng chỉ.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiến hành chọn các vùng thích hợp và vận động người dân trồng rừng theo chứng chỉ FSC. Đến nay, đã có 259 hộ chủ rừng tại 11 xã của 4 huyện, thị xã: Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy và Phú Lộc đăng ký tham gia chứng chỉ rừng FSC với diện tích hơn 986 ha.
Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam Đông có 6.000ha và Công ty TNHHNNMTV Lâm nghiệp Tiền Phong có 3.096ha rừng trồng tham gia cấp chứng chỉ FSC. Đại diện và hỗ trợ cho các chủ rừng năng lực đầy đủ để đáp ứng tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững FSC, Hội Chủ rừng phát triển bền vững Thừa Thiên Huế được thành lập. Hội cũng đã hỗ trợ thành lập 14 nhóm chứng chỉ rừng đại diện cho 259 hộ tham gia.
Theo ông Thân Trọng Anh Hùng, cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh, kiêm thành viên tổ tư vấn kỹ thuật quản lý rừng bền vững Thừa Thiên Huế, để đạt tiêu chuẩn rừng quốc tế do Hội đồng Quản trị Rừng thế giới (FSC) cấp, người trồng phải tuân thủ nhiều nguyên tắc rất nghiêm ngặt, đảm bảo về môi trường, xã hội, kinh tế và do các chuyên gia rừng thế giới kiểm tra, đánh giá công nhận mới được cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, mục đích của tổ chức này nhằm đem lại lợi ích cho xã hội, nên những tiêu chí cũng như nguyên tắc được đặt ra rất dễ được người trồng rừng tuân theo chứ không khó khăn như ban đầu nhiều người còn e ngại.
Ông Đinh Công Bình, cán bộ phụ trách quản lý bảo vệ rừng - Hạt kiểm lâm Phong Điền cho biết, ban đầu, gần 90 hộ trồng rừng theo chứng chỉ FSC ở xã Phong Mỹ và Phong Sơn còn rất mơ hồ. Tuy nhiên, sau thời gian được tập huấn, phân tích về FSC, tổ chức cho đại diện nhóm trưởng đi tham quan để nhận biết keo giống thân thiện môi trường là như thế nào, cách khai thác ra sao, việc lập kế hoạch, ghi chép…, các hộ trồng rừng đã nhận thức rõ hơn mục đích của FSC không chỉ vì lợi ích kinh tế, mà còn tác động tích cực đến xã hội và môi trường, giúp họ yên tâm kinh doanh sản xuất rừng ổn định, bền vững hơn.
Theo những chủ rừng tham gia FSC, khi chưa tham gia chương trình này, đến kỳ khai thác, họ đều khoán trọn gói cho thương lái từ a đến z. Nhưng với rừng có chứng chỉ FSC, họ được hướng dẫn phải mang áo quần bảo hộ khi chặt, kỹ thuật chặt cũng phải tuân thủ tiêu chí FSC, không được khai thác trắng, tránh đốt thực bì...
Mọi hoạt động phải đúng theo tinh thần của FSC. Khâu giám sát tuy rất “mở”, nhưng rất chặt chẽ và hiệu quả. Nếu đoàn đánh giá kiểm tra phát hiện chỉ cần có 1 hộ vi phạm thì coi như xóa sạch các nhóm hộ còn lại. Do đó, khâu giám sát không chỉ do tổ trưởng, người thu mua, cán bộ kỹ thuật mà còn có sự tự giám sát lẫn nhau giữa các hộ trồng rừng.
Nhóm chứng chỉ rừng ở Bến Ván, xã Lộc Bổn (Phú Lộc) là một trong những nhóm hộ đi đầu thực hiện trồng rừng theo chứng chỉ FSC trên địa bàn tỉnh và đã khai thác gỗ có gắn mác FSC. Ông Hồ Đa Thê, Nhóm trưởng nhóm Chứng chỉ rừng Bến Ván cho hay, giá gỗ FSC bán cao hơn gỗ không có chứng chỉ khoảng từ 20- 25%. Với việc bán trực tiếp tới các nhà máy với tư cách là một hiệp hội mà không cần thông qua thương lái trung gian, các hộ dân có thêm cơ hội ổn định đầu ra, tăng cao thu nhập.
Hiện nay, Công ty Scansia Pacific tiếp cận với các nhóm hộ và cam kết hỗ trợ về chi phí đánh giá chứng chỉ hàng năm, vốn vay lãi suất ưu đãi cũng như bao tiêu sản phẩm đầu ra dài hạn với mức giá cao hơn 20% so với giá bán gỗ dăm thông thường.
Đại diện Hội Chủ rừng phát triển bền vững Thừa Thiên Huế cung cấp thêm thông tin, ngoài FSC gỗ, sắp tới còn có FSC dăm gỗ. Thay vì trồng 7-8 năm khai thác, nhưng nếu người dân mới trồng khoảng 5 năm và thực hiện tốt mọi cam kết trồng rừng theo chứng chỉ thì sản phẩm vẫn được gắn mác FSC dăm và giá bán chắc chắn cao hơn gỗ dăm không có chứng chỉ. (Báo Thừa Thiên – Huế 28/9) đầu trang(
Ngày 27.9, ông Phạm Ngọc Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm kiêm Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên-Huế, cho biết đến thời điểm hiện tại, 3 dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh đang nợ đến 650 ha rừng phải trồng thay thế theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, Công ty CP thủy điện Bình Điền ở thượng nguồn hữu trạch sông Hương còn nợ 320 ha; dự án Thủy điện Hương Điền ở thượng nguồn sông Bồ còn 260 ha; Thủy điện A Lưới còn nợ 70 ha.
Cũng theo ông Dũng, để triển khai các dự án thủy điện Bình Điền, Hương Điền và A Lưới, tại Thừa Thiên-Huế đã có 910 ha rừng bị chặt phá và ngập chìm trong lòng hồ. Theo quy định, chủ đầu tư các dự án thủy điện này phải đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác.
Tuy nhiên, đã nhiều năm kể từ khi dự án đi vào vận hành, đến nay chủ đầu tư các thủy điện trên vẫn chưa thực hiện trồng rừng theo đúng quy định. (Thanh Niên 28/9) đầu trang(
Hiện nay, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ đang tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, phấn đấu hoàn thành kế hoạch năm 2016 là trồng trên 3.700 ha rừng, chủ yếu là trồng rừng sau khai thác.
Đến thời điểm này, đơn vị đã trồng được trên 1.800 ha rừng, đạt gần 50% kế hoạch năm. Trong đó, giống tràm cừ bản địa được trồng nhiều nhất, với diện tích hơn 1.400 ha; diện tích còn lại là trồng cây keo lai và tràm út.
Theo nhận định của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, công tác trồng rừng năm nay rất thuận lợi, khâu xử lý mặt bằng, nhân công và cây giống đều được đảm bảo. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Cà Mau 28/9) đầu trang(
Năm 2016, huyện Vị Xuyên được tỉnh giao kế hoạch trồng 360 ha rừng sản xuất. Tính đến hết tháng 8, toàn huyện đã hoàn thành công tác trồng rừng mới đạt 100% diện tích kế hoạch giao; nhiều xã đã trồng xong từ tháng 5, tháng 6. Không chỉ “về đích” sớm mà một số giống mới tiến bộ đã được đưa vào sử dụng, chất lượng, hiệu quả rừng nâng lên, tỷ lệ cây sống đạt cao.
Để thực hiện hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch tỉnh giao, ngay sau khi có văn bản chỉ đạo của cấp trên; huyện Vị Xuyên đã căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương xây dựng chương trình thực hiện và tập trung chỉ đạo các cơ quan chuyên môn, các xã, thị trấn tiến hành rà soát quỹ đất để đăng ký trồng rừng; dựa vào đó, giao chỉ tiêu cho từng xã.
Công tác tuyên truyền về chính sách bảo vệ, phát triển rừng cũng đã được cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai thực hiện đến tận thôn, bản, gia đình nên nhận thức và tư duy của người dân đã có sự thay đổi rõ nét; hầu hết người dân đều nhận thức được lợi ích cũng như tầm quan trọng của việc trồng rừng nên tích cực hưởng ứng, tham gia trồng rừng.
Tuy nhiên, bước vào triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2016, huyện Vị Xuyên cũng gặp không ít khó khăn; vào thời vụ trồng rừng, thời tiết nắng nóng kéo dài khiến cho tiến độ bị chậm lại. Việc gieo ươm cây giống trước Tết Nguyên đán gặp thời tiết rét đậm nên cây con sinh trưởng chậm; một số diện tích trồng xong gặp nắng nóng kéo dài nên ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Nhưng với sự chỉ đạo và vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, các cơ quan chuyên môn và sự nỗ lực của bà con nhân dân; kế hoạch trồng rừng năm 2016 của huyện Vị Xuyên vẫn “về đích” sớm hơn dự kiến. Không chỉ hoàn thành kế hoạch mà chất lượng rừng trồng năm nay cũng tốt hơn, được trồng bằng các giống cây tiến bộ, chất lượng tốt, năng suất cao, trồng liền ô, liền thửa tạo vùng rộng lớn, đáp ứng cho chế biến.
Trên cơ sở căn cứ vào tình hình điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, năm 2016; huyện Vị Xuyên tập trung trồng 2 loại cây là: Keo và mỡ. Bạch Ngọc là xã được giao chỉ tiêu trồng rừng mới nhiều nhất với tổng diện tích 158,5 ha, đến nay, xã đã hoàn thành 100% diện tích kế hoạch giao.
Anh Hoàng Văn Huấn, trú tại thôn Phai, xã Bạch Ngọc cho biết: “Năm nay gia đình tôi đăng ký với xã trồng mới 6,1 ha rừng sản xuất. Ngay từ đầu năm, gia đình tôi đã tiến hành phát dọn thực bì trên diện tích đất đồi của gia đình. Đến hết tháng 7 vừa qua, tôi đã trồng xong 6,1 ha diện tích rừng đăng ký; ngoài việc được hỗ trợ cây giống, gia đình còn được các cán bộ chuyên môn của Phòng Nông nghiệp&PTNT huyện, cán bộ khuyến nông xã tư vấn, hướng dẫn về kỹ thuật để đảm bảo cho cây con sau khi trồng sẽ đạt tỷ lệ sống cao nhất. Chính vì vậy, chỉ sau hơn 1 tháng trồng cây con đã bén rễ và phát triển tốt”.
Một điểm nhấn trong công tác trồng rừng năm nay của huyện Vị Xuyên là: Huyện đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển lâm nghiệp – Trường Đại học Nông - lâm Thái Nguyên tiến hành khảo nghiệm mô hình trồng rừng chất lượng cao tại xã Đạo Đức và thị trấn Vị Xuyên với tổng diện tích 5 ha, sử dụng giống keo nhập khẩu từ Úc. Hiện, các địa phương đã trồng xong từ đầu tháng 9, cây bén rễ và phát triển tốt.
Ông Hoàng Đức Sơn, Phó Trưởng phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Vị Xuyên cho biết, những năm trước đây, người dân trên địa bàn huyện chủ yếu trồng keo hom; mặc dù cây phát triển nhanh nhưng thân cây giòn, dễ gẫy, đổ khi mưa bão; ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng gỗ. Vì vậy, Phòng đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và Phát triển lâm nghiệp – Trường Đại học Nông - lâm Thái Nguyên tiến hành trồng khảo nghiệm giống keo Úc.
Đây là giống nuôi cấy mô công nghệ cao được nhập khẩu từ Úc, sinh trưởng và phát triển nhanh hơn so với giống keo bản địa, tỷ lệ cây sống rất cao đạt trên 98%. Vì đây là giống cây lâm nghiệp cho năng suất cao, chất lượng gỗ tốt, ngày công của người trồng rừng giảm, có khả năng rút ngắn được chu kỳ rừng, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho người dân, vì vậy đây sẽ là giống cây lâm nghiệp rất có triển vọng.
Theo đánh giá vụ trồng rừng năm nay của huyện Vị Xuyên đã đạt kế hoạch đề ra, kết thúc thời vụ trồng chuyển sang giai đoạn chăm sóc. UBND huyện tiếp tục chỉ đạo các ngành chuyên môn cử cán bộ theo dõi, phối hợp với các địa phương hướng dẫn người dân tra dặm, chăm sóc cây con mới trồng bảo đảm tỷ lệ cây sống đạt cao. (Báo Hà Giang 29/9) đầu trang(
Văn phòng UBND TP Hà Nội vừa ban hành thông báo kết luận của Phó Chủ tịch UBND Thành phố Nguyễn Thế Hùng trong đó yêu cầu Sở Xây dựng sớm hoàn thành việc đặt hàng, đấu thầu công tác chăm sóc, duy tu cây xanh, thảm cỏ.
Theo thông báo, để hoàn thành các chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch kinh tế - xã hội và dự toán thu chi ngân sách năm 2016 được giao, Phó Chủ tịch UBND TP yêu cầu Sở Xây dựng cần khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị đầu tư các dự án đầu tư xây dựng để tổ chức khởi công nhân dịp ngày Giải phóng Thủ đô.
Phối hợp Sở Kế hoạch và Đầu tư đẩy nhanh tiến độ lựa chọn nhà đầu tư dự án xây dựng Nhà máy xử lý rác thải Nam Sơn, huyện Sóc Sơn (công suất 4.000 tấn/ngày theo hình thức BT, BLT); Đôn đốc, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị để nâng công suất các nhà máy nước: Hà Đông, Bắc Thăng Long - Vân Trì; Khẩn trương thực hiện đầu tư xây dựng Nhà máy nước mặt Sông Hồng, Sông Đà, Sông Đuống và nguồn nước khác; Đôn đốc nhà đầu tư để khởi công Dự án Tuyến dẫn nước mặt sông Đà vào tháng 10/2016…
TP cũng giao Sở Xây dựng chủ trì phối hợp với Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Kế hoạch và Đầu tư lựa chọn địa điểm xây dựng một số nhà máy xử lý rác thải công nghệ cao tại các khu vực Sóc Sơn, Đồng Ké, Tả Thanh Oai, Gia Lâm và phía Đông Bắc Thành phố; Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét lập Quy hoạch Khu xử lý rác thải tại Xuân Sơn; Hướng dẫn, phối hợp với Công ty Vinasing thực hiện quy hoạch hệ thống, lắp đặt 1.000 nhà vệ sinh công cộngtrên địa bàn Thành phố.
Phó Chủ tịch Thành phố cũng yêu cầu Sở Xây dựng cần tập trung nâng cao chất lượng, rút ngắn thời gian thẩm định, khắc phục các hạn chế trong việc phối hợp với các quận, huyện và sở, ngành. Đề xuất, tham mưu cho UBND Thành phố và đôn đốc, hướng dẫn các quận, huyện, thị xã trong công tác quản lý trật tự xây dựng. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, xử lý vi phạm trật tự xây dựng của các quận, huyện và các dự án.
Liên quan đến công tác chăm sóc, duy tu cây xanh, thảm cỏ, Phó Chủ tịch Nguyễn Thế Hùng yêu cầu sớm hoàn thành việc đặt hàng, đấu thầu.
Về vấn đề này, ngày 26/9 vừa qua, tại buổi làm việc với tổ công tác của Thủ tướng do Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP Mai Tiến Dũng làm trưởng đoàn, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết ông đã trực tiếp đối thoại nhiều lần để giảm kinh phí duy tu, duy trì, cắt tỉa cây hoa, thảm cỏ từ 886 tỷ chỉ còn 178 tỷ, tiết kiệm được 708 tỷ.
Theo ông Chung, việc tạm dừng cắt cỏ 1 tháng qua là để xây dựng lại quy trình hiệu quả hơn. TP sẽ triển khai cắt tỉa cây hoa thảm cỏ hiệu quả hơn, đẹp hơn trong thời gian tới. Lãnh đạo TP yêu cầu các đơn vị tính lại đơn giá, định mức theo 3 phương pháp. Từ đó kinh phí duy tu, duy trì, cắt tỉa cây hoa, thảm cỏ đã giảm từ 886 tỷ đồng chỉ còn 178 tỷ, tiết kiệm được 708 tỷ.
"Hà Nội sẽ trồng cây xanh nhiều hơn. TP cũng đang đặt hàng chuyên gia và Học viện Nông nghiệp thiết kế dải phân cách giữa với cây xanh, cây hoa, thảm cỏ để giữ ẩm tốt, tạo điều kiện sinh trưởng, cây có hoa 4 mùa" – Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung khẳng định. (Vietnamnet 28/9) đầu trang(
Bản án do Tòa án Nhân dân Hà Tĩnh xử phúc thẩm tuyên buộc ông Lê Hữu Chí ở xóm 3, xã Hương Giang, huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) phải di dời toàn bộ số cây keo trồng trái phép, trả lại đất cho Công ty Cao su Hương Khê, đã qua hơn 5 năm nhưng vẫn chưa được thực thi.
Dư luận cho rằng, UBND huyện và Chi cục Thi hành án của huyện Hương Khê chưa làm hết trách nhiệm của mình trước pháp luật.
Tháng 3/2009, ông Lê Hữu Chí ngụ tại xóm 3 xã Hương Giang (Hà Tĩnh) tự tiện xâm chiếm 7 ha đất rừng và trồng keo trái phép tại lô 17, khoảnh 6, Tiểu khu 200 của Công ty Cao su Hương Khê. Công ty đã nhiều lần gặp làm việc, hòa giải nhưng ông Chí không chấp nhận, buộc phải kiện ông ra tòa án. Từ cuối năm 2011 đến năm 2014, Tòa án nhân dân các cấp đã liên tiếp xử sơ thẩm và phúc thẩm, tuyên cáo buộc ông Chí phải di dời toàn bộ số cây cối đã trồng trái phép, trả lại đất cho công ty, song đến nay bản án vẫn không được thi hành.
Cũng là ông Chí, ngày 22/2/2010, ông đã để đàn gia súc của mình vào lô 16, khoảnh 6, tiểu khu 200 của Công ty, phá hại đến 1.130 cây cao su. Lực lượng bảo vệ của Công ty phối hợp với chính quyền xã Hương Giang vây bắt, lập hồ sơ tạm giữ số bò, bê nói trên. Tổng giá trị thiệt hại do đàn gia súc của ông Chí gây ra đối với vườn cây cao su của Công ty là 136.890 ngàn đồng, cộng với công công nhân phải bỏ ra chăn nuôi, chăm sóc, bảo vệ 5 tháng số bò, bê của ông lên tới số tiền 135 triệu đồng.
Công ty và UBND xã Hương Giang 5 lần mời ông đến trụ sở để giải quyết sự việc nhưng ông Chí không hợp tác. Ông còn viết đơn kiện Công ty lên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Viện chuyển đơn cho Công an huyện Hương Khê giải quyết.
Sau khi xác minh sự việc một cách cẩn trọng, khách quan, Công an Hương Khê đã có văn bản trả lời, khẳng định việc ông Chí, bà Thu (vợ ông Chí) khiếu nại, đề nghị xử lý vụ việc theo tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Điều 137 – Bộ Luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam là không có cơ sở.
Khi được hỏi về việc trong thời gian gần đây, các cơ quan chức năng lập biên bản đình chỉ nhưng ngày 01/8/2016 gia đình ông Chí vẫn tiếp tục ngang nhiên trồng mới các loại cây lên vùng đất đang tranh chấp, gây phức tạp thêm cho quá trình điều tra và bất bình trong dư luận. Chính quyền địa phương đã có biện pháp gì để ngăn chặn? “Vì địa hình đồi núi rất rộng nên không thể kiểm soát hết hành vi của gia đình ông Chí được. Tôi sẽ chỉ đạo anh em lưu ý vấn đề nêu trên” – vị Chủ tịch UBND huyện Hương Khê Lê Ngọc Huấn trả lời PV khá “nhẹ nhàng”, đơn giản như vậy.
Trong 3 vụ việc có liên quan tới ông Chí thì vụ tranh chấp quyền sử dụng đất lâm nghiệp giữa ông Chí với Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê là ví dụ điển hình nhất.
Tại bản án sơ thẩm được tuyên ngày 27/5/2011, Tòa án Nhân dân huyện Hương Khê nêu rõ: buộc bị đơn ông Lê Hữu Chí và bà Phan Thị Thu phải di dời toàn bộ số cây keo đang trồng trên diện tích 7 ha tại lô 17, khoảnh 6, Tiểu khu 200 để trả lại mặt bằng cho Công ty.
Tòa án Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã xử phúc thẩm ngày 26/8/2011, bác bỏ nội dung kháng cáo của ông bà Chí và tuyên y án nội dung bản sơ thẩm của Tòa án Nhân dân huyện Hương Khê.
Ngày 02/6/2014, Tòa án Nhân dân Tối cao ra thông báo số 435/TB- DS giải quyết đơn đề nghị của ông bà Chí, đồng thời kết luận nhất trí với nội dung quyết định của hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm. Sau đó, Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Hương Khê ra văn bản yêu cầu Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thi hành án với ông bà Chí. Ban Pháp chế HĐND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã có văn bản số 508/ HĐND-PC gửi Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự tỉnh để chỉ đạo giải quyết dứt điểm vụ việc theo kết luận của Tòa án.
Ngày 17/12/2014, Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự huyện họp để giải quyết vụ việc, đồng thời bàn kế hoạch tổ chức cưỡng chế theo bản án dân sự phúc thẩm số 13-DSPT ngày 26/8/2011 của Tòa án Nhân dân tỉnh. Thời gian thi hành án quy định sau tết âm lịch (tức ngày 26/3/2015), thế mà đến nay sau hơn 5 năm khi bản án đã có hiệu lực, mọi việc vẫn đâu hoàn đấy.
Để xác minh rõ hơn về vụ việc và nguyên nhân tại sao bản án đã có hiệu lực pháp luật mà hơn 5 năm qua vẫn chưa được thi hành? PV báo Điện tử Congluan.vn đã trực tiếp đến làm việc với các cơ quan chức năng của huyện Hương Khê.
Vị đại diện lãnh đạo cơ quan thi hành án ở đây cho biết, vụ việc xâm lấn, tranh chấp đất rừng giữa hộ gia đình ông Lê Hữu Chí và Công ty TNHH MTV Cao su Hương Khê đã diễn ra lâu rồi. Các cơ quan chức năng huyện Hương Khê cũng đã vào cuộc giải quyết, bản án đã có hiệu lực hơn 5 năm nhưng hiện tại chúng tôi mới phát hiện ra một số tình tiết có sự “vênh” trong 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm nên chưa thực hiện thi hành bản án này được.
Báo điện tử Congluan.vn có cuộc trao đổi với Văn phòng Luật sư An Phát – Hà Tĩnh về việc không thi hành được bản án do có một số tình tiết bị “vênh” trong 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm?
Luật sư Phan Văn Chiều: “Tôi cho rằng lý do này đưa ra mang tính chất nguỵ biện để trốn trách việc thực thi nhiệm vụ”.
Thứ nhất, nếu cho rằng có sự vênh nhau giữa bản án sơ thẩm và phúc thẩm không thi hành được thì tại sao trong một thời gian dài từ năm 2011 cho đến nay, Chi cục THADS huyện Hương Khê không có bất cứ Văn bản nào đề nghị TAND tỉnh giải thích bản án theo quy định pháp luật để thi hành cưỡng chế mà hiện nay đưa ra để chống chế cho lý do không thi hành cưỡng chế của mình?
Thứ hai, việc sai sót ở bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Hà Tĩnh chỉ là sai sót về lỗi chính tả, không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết của vụ án (nội dung giải quyết của vụ án qua 02 bản án đều có sự thống nhất), cụ thể tại Bản án phúc thẩm, TAND tỉnh Hà Tĩnh đánh máy sai căn cứ áp dụng pháp luật từ năm 2003 thành năm 1993, trích dẫn các điều 5, 9, 10, 15, 105, 107 đều thống nhất với Bản án sơ thẩm. Lỗi này chỉ cần có Văn bản đề nghị thì TAND tỉnh Hà Tĩnh sẽ giải thích, đính chính; sai sót này không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án.
Thứ ba, Bản án phúc thẩm không tuyên yêu cầu di dời cây nên không thể thi hành cưỡng chế được, lý do này đưa ra là không có cơ sở, không xem xét toàn diện bản án, bởi lẽ tại Bản án phúc thẩm đã nêu rõ buộc ông Lê Hữu Chí trả lại mặt bằng, đồng nghĩa với này là cần phải di dời các tài sản liên quan để trả lại mặt bằng kể cả việc buộc di dời cây, không thể hiểu một cách thiện cận cho rằng chỉ yêu cầu trả mặt bằng, không yêu cầu di dời cây nên không thể thi hành cưỡng chế di dời cây.
Hơn nữa, Bản án phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm thì về mặt nguyên tắc khi thi hành án, Chi cục THADS huyện Hương Khê phải căn cứ cả 02 bản án để thi hành án chứ không thể căn cứ một mình bản án phúc thẩm như lý do nêu trên được.
Thứ tư, cũng tiếp tục với lý do cho rằng trong Bản án không nêu vị trí tứ cận nên không xác định được, điều này là vô lý, bởi lẽ vị trí lô đất 17, khoảnh 6, tiểu khu 200, diện tích 07 ha tại xã Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh được xác định rõ ràng trên bản đồ địa chính qua các thời kỳ, ranh giới không có sự thay đổi, tứ cận đều tiếp giáp với diện tích đất rừng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Công ty cao su Hương Khê, không có tranh chấp thì việc tổ chức cưỡng chế hoàn toàn thực hiện được trên thực tế.
Trên thực tế, khi xét xử thông thường Toà án ghi rõ vị trí ranh giới trong bản trong trường hợp khi có sự tách thửa hoặc tứ cận có sự thay đổi theo Bản án/ Quyết định của Toà án khi giải quyết vụ án.
Với vị trí lô đất đã rõ ràng trên hồ sơ địa chính, không có sự tách thửa, vị trí tứ cận không thay đổi từ trước đến nay thì không nhất thiết buộc phải ghi vào Bản án. Khi thi hành án, Cơ quan thi hành căn cứ trên hồ sơ địa chính, ranh giới thực tế và Bản án để thi hành án.
Như vậy, với một bản án đã được Toà án hai cấp xét xử, TAND tối cao xét lại vụ án, từ trước đến nay ông Lê Hữu Chí cũng không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có giá trị pháp lý chứng minh cho quyền sử dụng đất là của mình.
Mọi việc đã khá rõ như ban ngày. Dư luận cho rằng, vụ việc ông Chí lùm nhùm như lâu nay không phải văn bản của Tòa “vênh” mà vấn đề là do “lòng người” không thẳng! (Nhà Báo Và Công Luận 28/9) đầu trang(
Trong cơn mưa chiều 28-9, nhiều cây xanh trên địa bàn TP.HCM tiếp tục gãy đổ trúng nhiều xe, may mắn không ai bị thương.
Theo đó, khoảng 16 giờ 30 ngày 28-9, trong cơn mưa to, gió lớn ô tô bốn chỗ mang biển số 51F… do nam tài xế khoảng 30 tuổi điều khiển lưu thông trên đường Lê Quý Đôn, hướng từ đường Nguyễn Thị Minh Khai ra đường Điện Biên Phủ. Khi đến trước số nhà 29 Lê Quý Đôn (phường 7, quận 3) thì bất ngờ bị một cây xanh bật gốc, đổ ngang ra đường, đè trúng phần phía trước xe; may mắn tài xế không bị thương. “Tài xế hốt hoảng đạp cửa chạy ra ngoài, tinh thần bấn loạn. Nhiều người khác thấy vậy cũng hốt hoảng tháo chạy” - một người dân nói.
Tại hiện trường, cây xanh có chiều cao khoảng 20 m, thân cây có đường kính khoảng 50 cm, tán rộng đổ nằm chắn ngang đường, phần rễ cây có dấu hiệu bị mục nát. Chiếc ô tô bị hư hỏng, móp méo phần nắp capô và phần đuôi bên trái do bị nhánh cây đè lên.
Đường Lê Quý Đôn bị phong tỏa từ đường Ngô Thời Nhiệm đến đường Điện Biên Phủ để nhân viên cây xanh khắc phục sự cố.
Gần như cùng thời điểm, nhiều nhánh cây có đường kính lớn cũng bất ngờ gãy đổ rơi trúng hai ô tô tại đường Trần Quốc Thảo (thuộc địa bàn quận 3), gây hư hỏng cho các xe trên, rất may không có ai bị thương.
Theo quan sát, hai ô tô có biển số là 60A… và 51F… bị méo mó. Nhánh cây đổ xuống cũng khiến một cột điện bị gãy. Khoảng 17 giờ, một cây xanh trước số nhà 98B Lê Lai, phường Bến Thành, quận 1 bỗng nhiên bật gốc chắn ngang đường.
Theo quan sát, cây xanh nói trên cao khoảng 10 m, đường kính gốc khoảng 20 cm, ngã chắn gần hết đường Lê Lai khiến giao thông qua khu vực gặp không ít khó khăn. “Lúc đó cây từ từ ngã xuống trong mưa gió, tôi thấy vậy nên hô hoán để người đi đường biết. May mắn cây ngã từ từ, trời mưa và xe cộ chạy chậm” - một người dân nói.
Nhân viên Công ty Cây xanh đã nhanh chóng có mặt tiến hành dọn dẹp hiện trường sau khoảng 45 phút, cây bật gốc đã được thu dọn.
Trước đó, trong cơn mưa lớn vào chiều 28-9, một cây lim xẹt khá lớn cũng đổ chắn ngang đường Lê Lai ngay trước khách sạn New World đè trúng ba ô tô đậu bên đường và một ô tô đang lưu thông. Cây ngã cũng kéo gãy hai trụ điện cùng một cột đèn chiếu sáng. (Pháp Luật TP.HCM 28/9) đầu trang(
Xuất khẩu đồ gỗ là một trong những ngành công nghiệp chế biến có nhiều lợi thế, phát triển mạnh hiện nay. Nhưng với yêu cầu khắt khe về truy suất nguồn gốc nguyên liệu gỗ rừng trồng, mối lo về thiếu hụt nguyên liệu sản xuất đang là bài toán đặt ra.
Chất lượng tốt, mẫu mã đẹp và giá cả hợp lý chính là những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn của đồ gỗ nội, ngoại thất Việt Nam, giúp kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này đạt cao và thị trường luôn rộng mở.
Thành lập và bắt tay vào chế biến đồ gỗ xuất khẩu gần 15 năm, Công ty CP Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế ở Khu công nghiệp Phú Bài chưa bao giờ lo lắng về thị trường xuất khẩu. Với sản phẩm chủ lực là bàn ghế gỗ sân vườn và đồ gỗ nội thất sản xuất từ nguyên liệu gỗ rừng trồng đạt tiêu chuẩn quốc tế do Hội đồng Quản trị Rừng thế giới (FSC), cấp, DN luôn đáp ứng yêu cầu của các đơn hàng đến từ châu Âu, Nam Mỹ và Mỹ. Trung bình mỗi năm, DN đạt kim ngạch xuất khẩu trên 2,2 triệu USD và cần 6 ngàn m3 gỗ rừng trồng.
Giám đốc Công ty CP Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế- Lê Dương Huy cho biết: “Tiềm năng xuất khẩu của ngành chế biến gỗ không chỉ tăng trưởng tốt mà chắc hẳn sẽ tạo đột phá trong năm 2017 và các năm tới, khi nhiều nước trên thế giới đang chủ động tìm kiếm đơn hàng từ các DN Việt Nam. Tháng 8/2016, DN vừa ký hợp đồng với đơn hàng đồ gỗ nội thất sang Mỹ trị giá 20 ngàn USD, đang tiếp tục đàm phán với một số thị trường mới để mở rộng quy mô sản xuất. Mỗi năm, DN đầu tư trên 5 tỷ đồng trang bị thiết bị hiện đại nhằm hướng đến tự động hóa quy trình sản xuất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành.”
Tại Công ty CP Chế biến lâm sản Hương Giang ở phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy, những ngày này, trên 100 công nhân đang tất bật đóng gói sản phẩm xuất lô hàng sang thị trường châu Âu, châu Úc.
Đi vào hoạt động trong lĩnh vực chế biến đồ gỗ xuất khẩu từ năm 2000, DN gặp nhiều thuận lợi khi đơn hàng xuất khẩu luôn ký trước một năm với nguồn hàng ổn định. Sang năm 2017, DN dự kiến mở rộng thêm một số thị trường mới như Mỹ, Nhật và bổ sung thêm các sản phẩm nội thất, phấn đấu đưa kim ngạch xuất khẩu lên 1,5 triệu USD/năm.
Ông Cao Đình Hiệp, Giám đốc Công ty CP Chế biến lâm sản Hương Giang khẳng định: “Với lợi thế đa số sản phẩm đồ gỗ do các DN trên địa bàn sản xuất có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng và giá thành rẻ so với các nước như Trung Quốc, Đài Loan nhờ giá nhân công thấp, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ là chuyện khá đơn giản. Hiện, DN không thiếu thiết bị, không lo lao động mà chỉ đau đầu vì thiếu nguyên liệu sản xuất.”
Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh xuất hiện khá nhiều cơ sở chế biến dăm gỗ xuất khẩu khiến các DN sản xuất đồ gỗ xuất khẩu đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nguyên liệu. Do nhu cầu chế biến dăm gỗ cần một số lượng lớn nguyên liệu, các nhà máy tăng cường khâu thu mua, huy động nhân lực đến tận các hộ dân để thu mua nguyên liệu nên xuất hiện tình trạng gỗ chưa đến kỳ thu hoạch cũng được đem “bán non”.
“Đáng lẽ 3 năm nữa đến đến kỳ khai thác 0,5ha keo lai, nhưng khu vực miền Trung cứ đến mùa bão là lại lo cây gãy, rớt giá, mà mình chẳng nhận tiền tạm ứng trồng rừng của ai nên quyết định bán sớm”, chủ rừng Nguyễn Văn Hưng ở xã Phong Mỹ (Phong Điền) nói.
Trong khi các nhà máy chế biến dăm gỗ đang “chạy đua” thu mua nguyên liệu và tìm mọi cách để có đủ số lượng gỗ rừng trồng vận hành dây chuyền sản xuất, các cơ sở chế biến đồ gỗ xuất khẩu gặp không ít khó khăn do thiếu nguyên liệu, đặc biệt là các loại cây gỗ lớn để sản xuất bàn, ghế, nội thất.
“Theo quy luật, các loại gỗ rừng trồng phải 6-7 năm mới thu hoạch, khi đó chất lượng gỗ tốt hơn và giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời sản xuất các sản phẩm đồ gỗ nội ngoại thất mới hoàn hảo. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, các cơ sở chế biến dăm gỗ đổ xô đi mua nguyên liệu, khiến nhiều diện tích rừng trồng mới 3-4 năm đã bị khai thác gây ảnh hưởng đến chất lượng gỗ, đồng thời thiếu trầm trọng nguồn gỗ lớn để sản xuất, trong khi diện tích rừng trồng không mở rộng”, Giám đốc Công ty CP Chế biến gỗ Thừa Thiên Huế- Lê Dương Huy chia sẻ.
Theo các DN chế biến gỗ, ngoài việc thiếu nguồn gỗ lớn để sản xuất, một mối lo khác đang cản trở việc mở rộng quy mô khi diện tích rừng trồng trên địa bàn được cấp chứng chỉ FSC còn quá khiêm tốn, chỉ chiếm trên dưới 15%. Trong khi đó, các đối tác xuất khẩu kiểm tra nghiêm ngặt nguồn nguyên liệu đầu vào gây khó khăn cho nhiều nhà máy. (Báo Thừa Thiên – Huế 28/9) đầu trang(
Ngày 28.9, nguồn tin của Lao Động cho biết, Bộ Công an đã vào kiểm tra các xưởng gỗ của tỉnh Gia Lai.
Các xưởng gỗ tại hai huyện Ayun Pa và Krông Pa (Gia Lai) hiện đang bị Bộ Công an kiểm đếm. Việc kiểm tra được cho là bắt đầu từ sáng hôm nay (ngày 28.9).
Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa nói, Bộ Công an vào kiểm tra có thông báo trước, đề nghị đơn vị phối hợp. Tất cả các xưởng gỗ lớn buộc phải mở cửa để kiểm đếm. Hiện trường các nơi này được bảo vệ nghiêm ngặt.
Trao đổi với Lao Động, đại diện Chi cục Kiểm lâm Gia Lai cho biết, đơn vị đã cử lực lượng đi cùng, phối hợp Bộ Công an kiểm tra các xưởng gỗ liên quan. "Việc kiểm tra này là do có tin báo. Chủ yếu là kiểm tra, đối chiếu hồ sơ nguồn gốc số gỗ", đại diện Chi cục Kiểm lâm Gia Lai nói. Tên các công ty, xưởng gỗ hiện vẫn chưa được tiết lộ.
Ngoài hai huyện trên, vẫn chưa rõ, trong tổng số 17 huyện thị của Gia Lai, có huyện nào bị kiểm tra nữa hay không. Huyện Krông Pa được xem là một trong những nơi có rừng nhiều nhất tại Gia Lai. Rất nhiều doanh nghiệp gỗ vì thế cũng đổ xô về đây mở xưởng, thu mua gỗ xuất bán đi khắp cả nước.
Trong khi đó, huyện K'Bang của tỉnh Gia Lai cũng đang diễn ra nạn phá rừng, khi mới đây (ngày 21.9), UBND tỉnh Gia Lai phải chỉ đạo Công an tỉnh điều tra vụ phá rừng hương tại đây. Báo Lao Động ngày 26.8, cũng đã có bài viết: "Vụ 30m3 gỗ hương bị khai thác trái phép: Chủ tịch huyện không thể vô can!" phản ánh vụ việc. Tương tự Krông Pa, rất nhiều doanh nghiệp cũng chen nhau về huyện K'Bang lập xưởng, mở chi nhánh thu gom gỗ bất hợp pháp. (Lao Động 28/9) đầu trang(
Từ năm 2016, các thị trường nhập khẩu đồ gỗ đều đòi hỏi các chứng chỉ gỗ hợp pháp, khiến doanh nghiệp kinh doanh gỗ cần nguồn vốn để đầu tư đổi mới, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngày 28/9, tại Hội thảo "Các công cụ tài chính và kỹ thuật khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu xuất khẩu gỗ", ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ Tp. Hồ Chí Minh (HAWA) cho biết: Khoảng 93% doanh nghiệp gỗ tại Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa, với điểm yếu chung là thiếu vốn và yếu về tiếp cận thị trường.
Theo các doanh nghiệp ngành gỗ và sản phẩm gỗ, vấn đề cấp thiết hiện nay là cần cơ chế chính sách phù hợp để ngành gỗ và sản phẩm gỗ phát triển và nâng cao tính cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt các chính sách liên quan đến bảo vệ, phát triển rừng, tín dụng, đầu tư, pháp luật kinh doanh… để tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong ngành tham gia sản xuất, kinh doanh.
Điển hình, những tháng cuối năm là cơ hội kinh doanh của nhiều ngành hàng; trong đó có gỗ và các sản phẩm gỗ. Tuy nhiên, ngành gỗ đang gặp nhiều thách thức về nội lực xuất khẩu và thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam năm 2016 có thể thấp hơn mục tiêu đã đề ra, nếu các thị trường trọng điểm nhập khẩu gỗ của Việt Nam và những chính sách về tài chính, ngân hàng, hải quan không ổn định.
Ông Phạm Anh Quốc- Giám đốc Tài chính Công ty cổ phần Hà Ân cho biết: Hiện nay, cơ chế tín dụng chưa thông thoáng cũng như đảm bảo hỗ trợ hoạt động sản xuất và xuất khẩu như kỳ vọng của doanh nghiệp. Nhìn chung, muốn vay vốn thì doanh nghiệp phải có tài sản thế mà điều này không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được.
Trong khi đó, các chính sách hỗ trợ vay vốn của Nhà nước thì thủ tục phức tạp, nên doanh nghiệp cũng khó tiếp cận. Đặc biệt, trong những tháng cuối năm, nguồn vốn càng khan hiếm đối với doanh nghiệp hơn khi đơn vị nào cũng có nhu cầu cao.
Từ năm 2016, các thị trường nhập khẩu đồ gỗ đều đòi hỏi các chứng chỉ gỗ hợp pháp, do đó doanh nghiệp cần nguồn vốn để đầu tư đổi mới, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhấn mạnh: Cơ quan quản lý Nhà nước đang nỗ lực ban hành các chính sách hỗ trợ và hướng dẫn cụ thể cho doanh nghiệp; trong đó tập trung vào lĩnh vực tài chính, lãi suất, tỷ giá; đẩy mạnh thông tin về các Hiệp định thương mại tự do. Riêng các chương trình hỗ trợ vốn đang hướng vào những hoạt động đổi mới sáng tạo, công nghệ, nâng cao nâng suất, phát triển chuỗi cung ứng...
Tính đến tháng 8 năm 2016, Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt hơn 3,9 tỷ USD, tăng 1,4% so cùng kỳ năm 2015, đứng thứ bảy về kim ngạch trong tổng số các mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu của cả nước. (Bnews 28/9) đầu trang(
Xuất khẩu đồ gỗ được ví như “người đẹp ngủ trong rừng” khi dư địa thị trường ngành này còn rất lớn nhưng các doanh nghiệp (DN) Việt Nam vẫn chưa tận dụng được nhiều, chưa chú ý đến các quy định khắt khe từ những thị trường lớn nhưng khó tính. Việc nắm bắt các quy định toàn cầu với đồ gỗ xuất khẩu để phát triển kinh doanh là vấn đề sống còn với các DN hiện nay.
Nhu cầu của thị trường đồ gỗ trên thế giới hiện khoảng 467,7 tỷ USD/năm. Thế nhưng, nguồn cung các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam chỉ mới đáp ứng có 1,65% cho nhu cầu rất lớn này.
Trong buổi nhóm họp các DN xuất khẩu hôm 28/9 tại Tp.HCM để bàn về việc tham gia chuỗi giá trị ngành gỗ toàn cầu, nhận định về những con số trên, Ts Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Tp.HCM (HAWA) đã bày tỏ sự tiếc rẻ khi dư địa cho ngành này rất lớn nhưng các DN trong nước vẫn chưa biết tận dụng, chẳng khác nào “người đẹp” ngủ mãi trong rừng.
Theo ông Hạnh, xuất khẩu đồ gỗ, sản phẩm nội thất của Việt Nam đứng thứ 5 trong tốp các quốc gia dẫn đầu trên thế giới hiện nay và đứng thứ 2 ở châu Á (sau Trung Quốc) và đứng đầu ở khu vực Đông Nam Á. Tuy vậy, giá trị kim ngạch xuất khẩu vẫn còn khá khiêm tốn so với vị thế hàng đầu, năm 2015 đạt kim ngạch 6,9 tỷ USD, trong khi năm 2016 dự kiến đạt 7,6 tỷ USD.
Ngay như thị trường ASEAN, như lời ông Huỳnh Văn Hạnh, các DN xuất khẩu gỗ Việt vẫn đang bỏ ngỏ thị trường này, trong khi một số quốc gia của khu vực lại đang nhắm vào thị trường Việt Nam để tận dụng các lợi thế từ việc tham gia vào AEC.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan mới đây cho thấy, trong 8 tháng đầu 2016, xuất khẩu nhóm hàng đồ gỗ của Việt Nam đạt gần 4,41 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ 1,4% so với cùng kỳ năm trước.
Trong các thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chủ yếu của Việt Nam, lớn nhất vẫn là Mỹ (đạt kim ngạch hơn 1,75 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước). Xếp sau là Nhật Bản (đạt kim ngạch 644 triệu USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước) và Trung Quốc (đạt kim ngạch 637 triệu USD, tăng 11,3%)…
Một cuộc khảo sát gần đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) với 39 DN xuất khẩu đồ gỗ sang thị trường Mỹ cho thấy chỉ có 1/3 DN là có tiêu chuẩn về kiểm soát xuất xứ nguyên liệu. Ngoài ra, có đến 11 DN xuất khẩu hoàn toàn không biết đến những quy định bắt buộc khi bước vào thị trường này.
Ts Phạm Thị Thu Hằng, Tổng thư ký VCCI, than phiền rằng năng lực nắm bắt các quy định, tiêu chuẩn của DN xuất khẩu gỗ Việt Nam tại các thị trường nhập khẩu lớn nhưng khó tính như Mỹ, EU, Úc là rất hạn chế, thậm chí có thể nói là quá lơ là.
Những phân tích của Ts Huỳnh Văn Hạnh cho thấy thông qua việc tham gia một loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), bên cạnh sự kỳ vọng mở rộng được thị phần xuất khẩu gỗ, những rào cản kỹ thuật vẫn là nỗi lo lớn cho các DN Việt nếu không nắm bắt các quy định toàn cầu để phát triển kinh doanh.
Riêng với thị trường EU, vốn dĩ là một thị trường lớn nhưng khó tính, trong FTA Việt Nam – EU cũng có một chương về xuất xứ, quy định tất cả các loại gỗ phải có đầy đủ hồ sơ để chứng minh nguồn gốc, xuất xứ… Vậy nhưng, có bao nhiêu DN Việt xuất khẩu đồ gỗ nắm bắt và đáp ứng được các quy định này thì vẫn là câu hỏi lớn.
Các quy định trong TPP cũng là thách thức cho DN gỗ Việt khi quy định nguồn nguyên liệu phải được nhập khẩu từ 12 nước thành viên. Trong khi đó, với ngành gỗ, các thị trường nhập khẩu phần lớn không nằm trong nhóm 12 nước TPP.
Giới chuyên gia cũng cảnh báo, trước tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu tự nhiên như hiện nay, nếu không có lộ trình chuẩn bị thì trong tương lai DN Việt sẽ không đủ sức cạnh tranh tại thị trường thế giới.
Để đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ 20 tỷ USD vào năm 2025, vị lãnh đạo HAWA lưu ý vấn đề cần làm bây giờ là các DN Việt phải sớm đổi mới công nghệ thì mới có hy vọng mở rộng thị trường.
Nhưng trước hết, các DN cần sớm đáp ứng tiêu chuẩn “sản xuất xanh”, loại bỏ những rủi ro trong sản phẩm gỗ xuất khẩu, bởi vì đầu vào (nguyên liệu gỗ, nguồn gốc gỗ hợp pháp) đòi hỏi các DN phải thể hiện được trách nhiệm xã hội và đảm bảo chất lượng sinh thái.
Trong khi đó, để cải tiến công nghệ, nguồn vốn vẫn là vấn đề nan giải với các DN xuất khẩu đồ gỗ. Ngoài ra, điều mong mỏi của DN vẫn là nguồn nguyên vật liệu đầu vào ổn định, chi phí cạnh tranh, đáp ứng sản xuất.
Như khuyến nghị của Ts Phạm Thị Thu Hằng, cần sớm có những chương trình hỗ trợ DN xuất khẩu đồ gỗ nắm bắt được những quy định toàn cầu, làm việc thường xuyên với những khách hàng toàn cầu và nâng cao năng lực, chất lượng sản xuất theo chuẩn quốc tế, cũng như có các dòng sản phẩm gỗ cao cấp cho những thị trường lớn khó tính.
Theo Tổng thư ký VCCI, để đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị, dĩ nhiên các DN gỗ phải tìm kiếm được những nguồn vốn nhằm tiếp cận các công nghệ mới đó. Trong các chương trình hỗ trợ cho DN nhỏ và vừa của Nhà nước cũng cần dành sự quan tâm lớn đến vấn đề này. (Thời Báo Kinh Doanh 29/9) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Trong một cuộc điều tra độc lập của tờ The Guardian, đã chỉ ra hai anh em sinh đôi người Việt, hiện đang sống tại Thái Lan là trùm của một đường dây buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp toàn cầu.
Theo The Guardian, một nhóm tội phạm quốc tế, cho biết có hai ông trùm anh em sinh đôi người Việt đã giết hại hàng ngàn thú hoang dã mỗi năm, đe dọa làm tuyệt chủng các loài động vật đang nguy cấp như hổ, voi và tê giác.
Tờ báo Anh cũng tìm ra đường dây này có liên kết thương mại bất hợp pháp với các quan chức tham nhũng của một số quốc gia châu Á.
Bọn buôn lậu sẽ đưa ngà voi, thịt hổ, sừng tê giác di chuyển từ châu Phi, bằng nhiều con đường lắt léo để đến điểm cuối cùng là Trung Quốc, nơi những món hàng phi pháp này sẽ được bào chế thành thuốc đông y.
Theo Freeland, một nhóm điều tra độc lập về tình hình buôn bán động vật hoang dã toàn cầu thì do không có một nỗ lực hành động ở cấp độ quốc tế mà nạn buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp vẫn diễn ra nghiêm trọng.
Nhóm điều tra đã cung cấp thông tin họ thu thập được suốt 14 năm qua cho The Guardian. Cụ thể, tất cả các thông tin đều chỉ ra hai anh em sinh đôi người Việt tên Bach là nghi can chính kiểm soát toàn bộ tuyến đường buôn lậu động vật hoang dã.
Hiện 182 nước thành viên tham gia ký Công ước quốc tế về buôn bán các loài động, thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITES) đang nhóm họp tại Johannesburg (Nam Phi) và tranh luận về tương lai của các loài động vật đang trên đà tuyệt chủng và xóa sổ ngành buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.
Cứ khoảng 2-3 năm một lần các thành viên đã ký CITES sẽ nhóm họp để xem xét lại hiệp ước đã tồn tại 41 năm nay, chứa các điều khoản về hơn 5.600 loài động vật và 30.000 loài thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trên toàn cầu.
Năm nay, chủ đề chính của cuộc họp là về tê giác và voi, khi hai loài động vật này đang bị săn bắn quá mức. Tuy nhiên, ngay khi cuộc họp bắt đầu hôm 24.9, hàng trăm người biểu tình đã tập trung ở Johannesburg để phản đối một đề xuất của Zimbabwe và Namibia về việc hợp pháp hóa việc mua bán ngà voi. Swaziland còn đi xa hơn khi đề xuất cho phép mua bán hợp pháp sừng tê giác.
Nước chủ nhà của Hội nghị là Nam Phi ủng hộ cả hai đề xuất và lập luận rằng mua bán hợp pháp các mặt hàng đó có thể mang lại lợi ích cho những nỗ lực bảo tồn và giúp nền kinh tế. Đa số các nước ký kết SITES phản đối đề xuất mới của các nước châu phi.
Buôn lậu động vật hoang dã mang lại lợi nhuận lên tới 23 tỉ USD mỗi năm. Đây là ngành "công nghiệp đen" lớn thứ 4, sau buôn ma túy, buôn người và buôn lậu vũ khí. Nhưng trái ngược với mức độ nguy hiểm của loại hình kinh doanh đen này, các chế tài với nó gần như không hiệu quả.
Nhiều loài động vật mang tính biểu tượng đã gần như bị tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Hiện chỉ còn khoảng 30.000 con tê giác, bằng 5% số cá thể cách đây 40 năm. Mỗi năm lại có khoảng 1.000 con tê giác bị những kẻ săn trộm giết hại. Số lượng hổ hoang dã còn bi thảm hơn, khi chỉ còn khoảng 3.500 cá thể.
Trong khi đó, loài voi là loài bị săn bắt nhiều nhất với khoảng 20.000 cá thể bị giết để lấy ngà mỗi năm. Những loài động vật nhỏ khác như tê tê, rùa, trăn, linh dương và chim cũng đang suy giảm số lượng nhanh chóng do bị con người săn bắt.
Theo Freeland, cùng với các tài liệu của cảnh sát, anh em Bach đã giảm hoạt động kinh doanh bắt động vật hoang dã bất hợp pháp trong suốt 3 năm qua. Vai trò của anh em Bach trong đường dây buôn bán động vật hoang dã toàn cầu hiện chưa được đưa ra ánh sáng.
Hai anh em này được biết là điều hành công việc kinh doanh của mình ở một thị trấn vùng biên giữa Thái Lan và Lào. Hai anh em nổi tiếng ở địa phương trên với hàng loạt hoạt động buôn bán bất hợp pháp, như buôn lậu xe. Tuy nhiên, hai ông trùm gốc Việt còn có những hoạt động kinh doanh hoàn toàn hợp pháp như buôn bán nông sản, lâm sản, vật liệu xây dựng, thiết bị điện, kinh doanh nhà hàng, khách sạn.
"Đại bản doanh" của hai anh em Bach là ở Nakhon Phanom, vùng nông thôn Thái Lan có đường biên giới chung với Lào. Tại đây, anh em Bach sở hữu rất nhiều tài sản, như kho bãi, bất động sản, nhiều chiếc xe sang. Nơi được coi là trụ sở của hai ông trùm gốc Việt được bảo vệ như là một pháo đài.
Trước đây, trùm buôn bán động vật hoang dã quốc tế được người ta biết đến nhiều nhất là Vixay Keosavang, một người Lào. Ông này đã dừng công việc phi pháp của mình từ năm 2014, khi chính phủ Mỹ trao thưởng cho ông 1 triệu USD để ông dừng việc kinh doanh của mình lại. (Một Thế Giới 28/9) đầu trang(
Ngày 28/9, tổ chức Hòa bình xanh (Greenpeace) thông báo có gần 2 triệu hécta rừng tại khu vực Siberia của Nga đã bị cháy do tình trạng "hạn hán bất thường" xảy ra ngay đầu mùa Thu năm nay. Hiện tượng bất thường này có nguyên nhân chính là tình trạng nóng lên của khí hậu Trái Đất.
Người phát ngôn của Greenpeace, Alexey Yaroshenko (A-lếc-xây Ya-rô-xen-cô) cho biết đây là thảm họa chưa từng có ở khu vực Siberia mà nguyên nhân chính là sự nóng lên của khí hậu Trái Đất, cùng với sự quản lý thiếu hiệu quả của nhà chức trách địa phương.
Cao điểm cháy rừng được ghi nhận xảy ra vào ngày 22/9 ở xung quanh khu vực Krasnoyarsk (Kra-xnôi-ắc-xcơ) và Irkutsk (I-rơ-cu-xcơ) - nằm gần hồ Baikal, nơi có gần 5 triệu người sinh sống. Tại đây, một số trường học phải đóng cửa do khói bụi dày đặc.
Theo ông Alexey Yaroshenko, mặc dù những trận mưa đã làm giảm mức độ cháy rừng nhưng vẫn còn gần 900.000 hécta đang bị cháy.
Cơ quan quản lý rừng của Liên bang Nga cũng xác nhận thông tin cháy rừng tại Siberia nhưng cho biết chỉ có khoảng 125.000 hécta rừng bị ảnh hưởng.
Trước đó, ngày 25/9, Bộ trưởng Tình trạng khẩn cấp Liên bang Nga Vladimir Putchkov (Vla-đi-mia Pu-chơ-cốp) đã yêu cầu tăng cường thêm những biện pháp bảo vệ người dân ở các khu vực bị ảnh hưởng và cho biết không thể nào đánh giá được diện tích rừng bị cháy trên thực tế vì các vệ tinh quan sát không xác định chính xác được do bị khói bụi che phủ.
Hàng năm, vào mùa hè, cháy rừng lại xảy ra tại khu vực rộng lớn tại Nga, chủ yếu tại Siberia nhưng chính quyền Nga chưa có biện pháp giải quyết hiệu quả do thiếu nguồn lực tài chính. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 28/9) đầu trang(./.
|
|||