Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Hội nghị Bộ trưởng Nông-Lâm nghiệp ASEAN lần thứ 35 (AMAF-35), Hội nghị Bộ trưởng Nông-Lâm nghiệp ASEAN với các nước đối tác Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc (AMAF+3) lần thứ 13 và Hội nghị Bộ trưởng ASEAN-Ấn Độ lần thứ 3 về hợp tác nông lâm, diễn ra từ ngày 26-28/9, tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia.
Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Thị Xuân Thu làm trưởng đoàn gồm đại diện các đơn vị Vụ Hợp tác quốc tế, Tổng Cục Thủy sản, Cục Bảo vệ thực vật, Cục Thú y. Lãnh đạo Văn phòng Ủy ban Quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế cũng tham gia đoàn công tác.
Tại Hội nghị, các bộ trưởng tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của hợp tác nông, lâm và thuỷ sản trong khuôn khổ AMAF và AMAF+3 đồng thời yêu cầu thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong khu vực nhằm hướng tới một cộng đồng ASEAN phát triển năng động và bền vững.
Đặc biệt, các bộ trưởng bàn thảo và đưa ra nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến các lĩnh vực như an ninh lương thực, ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu đến lĩnh vực nông, lâm, thủy sản, xây dựng các tiêu chuẩn khu vực đối với các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nhằm tăng vị thế và khả năng cạnh tranh của nông sản ASEAN trên thị trường khu vực và quốc tế.
Về lâm nghiệp, các Bộ trưởng nhất trí cần rà soát Kế hoạch hành động Chiến lược về Hợp tác ASEAN trong lâm nghiệp, triển khai các hoạt động hướng đến quản lý rừng bền vững, thống nhất quan điểm chung của ASEAN trong quán trình hoạch định chính sách và đàm phán quốc tế về chính sách lâm nghiệp.
Trong khuôn khổ Hội nghị AMAF-35 và các hội nghị liên quan, bộ trưởng các nước ký kết một số văn kiện hợp tác quan trọng với các đối tác, bao gồm Bản ghi nhớ (MOU) giữa ASEAN-Trung Quốc về hợp tác trong lĩnh vực thực phẩm và nông nghiệp giai đoạn 2013-2018; gia hạn một năm MOU giữa ASEAN-Trung Quốc về SPS ký năm 2007 để chuẩn bị xây dựng và ký MOU cho giai đoạn 2014-2019; khởi động MOU về hợp tác ASEAN-FAO trong lĩnh vực nông lâm nghiệp. (VietnamPlus.vn 27/9) đầu trang(
Tính đến thời điểm hiện tại, bà con đồng bào dân tộc huyện Mường Lát (Thanh Hóa) đã được nhận 300 tấn gạo của Chính phủ hỗ trợ cho chương trình trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất.
Theo kế hoạch, tổng số gạo hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số huyện Mường Lát để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng là 3.000 tấn/năm. Đến hết năm 2013, đồng bào sẽ tiếp tục được nhận 2.700 tấn gạo. Đây là chương trình hỗ trợ gạo của Chính phủ cho đồng bào dân tộc huyện Mường Lát để thay thế cho việc sản xuất nương rẫy từ tháng 9/2013 đến năm 2018.
Theo đó, bà con dân tộc khi tự nguyện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng sản xuất thay thế nương rẫy trong thời gian chưa tự túc được lương thực (giai đoạn 2013 - 2018) sẽ được hỗ trợ thêm 10 kg gạo/khẩu/tháng. Ngoài ra, bà con vẫn được nhận tiền công khi trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng theo quy định. Thời gian hỗ trợ gạo bắt đầu từ khi ngừng canh tác nương rẫy để chuyển sang trồng rừng sản xuất đến khi có thu nhập thay thế, nhưng tối đa không quá 6 năm.
Trong năm 2013, nếu hộ dân nào đã tự nguyện trồng rừng sản xuất thay thế nương rẫy thì báo với UBND xã, để nhận gạo hỗ trợ từ nay đến hết năm. Gạo hỗ trợ sẽ được cấp vào ngày 15 hằng tháng tại UBND các xã.
Tính đến tháng 9 năm 2013, toàn huyện Mường Lát đã trồng được 3.900 ha rừng sản xuất đạt 97% kế hoạch, tỷ lệ sống của các loại cây đạt 90%.
Mường Lát là huyện có đông bà con người dân tộc và là huyện nghèo nhất tỉnh Thanh Hóa. Đây cũng là huyện duy nhất của tỉnh còn diện tích đất trống, đồi trọc với 15.000 ha. (Cpv.org.vn 27/9) đầu trang(
Thời gian qua, huyện Ðắk Glong đã tích cực phối hợp với các đơn vị chuyên môn tiến hành khảo sát, điều tra, thống kê hiện trạng rừng để nhanh chóng đưa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đến với các “chủ rừng” trên địa bàn.
Theo đó, ngay từ đầu năm 2012, huyện đã phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh tổ chức tuyên truyền về công tác giao rừng và chính sách chi trả DVMTR đến tận thôn, bon, bản, nhóm hộ gia đình cũng như công khai hiện trạng rừng, diện tích rừng được giao để các tổ chức, cá nhân và người dân biết và thực hiện. Người dân trên địa bàn huyện cũng đã được tham dự các lớp tập huấn, tiếp nhận các thông tin tuyên truyền qua loa đài, tờ rơi, với các nội dung liên quan đến việc khai thác nguồn lợi từ rừng sẽ phải trả phí DVMTR.
Qua công tác điều tra, phân loại, thống kê hiện trạng rừng và các đối tượng tham gia chính sách chi trả DVMTR, cơ quan chức năng cũng đã xác định được chính xác ranh giới, trữ lượng, chất lượng rừng, lưu vực thủy điện để làm cơ sở chi trả DVMTR cho các “chủ rừng”. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã rà soát và xác định được trên địa bàn huyện Ðắk Glong có 117 “chủ rừng” bao gồm: 26 hộ, 61 nhóm hộ, 6 cộng đồng thôn, bon và 24 đơn vị tham gia cung ứng DVMTR.
Với định mức chi trả DVMTR, diện tích nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng bình quân từ 10-15 ha/hộ, mỗi năm được chi trả từ 4-7 triệu đồng/hộ. Mức thu nhập này góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số... (Báo Đăk Nông 27/9) đầu trang(
Ðể giúp các đơn vị, cộng đồng thôn, bon thuận lợi hơn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, trong 2 năm qua, Quỹ Bảo vệ – Phát triển rừng tỉnh Đăk Nông đã chi tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) gần 40 tỷ đồng.
Từ đầu năm 2013, được nhận số tiền hàng trăm triệu đồng, gần 60 hộ dân buôn Ðắk Prí, xã Nâm N’đir (Krông Nô) hết sức phấn khởi khi tham gia quản lý bảo vệ gần 600 ha rừng.
Ông Y Tiêng, một thành viên nhóm 2 vui vẻ cho biết: “Nhóm chúng tôi có 7 hộ thường cùng cán bộ, nhân viên Khu Bảo tồn thiên nhiên Nâm Nung tuần tra, canh giữ rừng. Trong đợt chi trả tiền DVMTR vừa qua, tôi nhận hơn 2,5 triệu đồng, tuy không nhiều, nhưng cũng có thêm điều kiện mua xăng dầu, vật dụng phục vụ công tác giữ rừng”.
Còn bà H’Lơm ở nhóm 3 cũng nói: “Ðược Nhà nước trả tiền như thế này, chúng tôi phải cố gắng bảo vệ rừng, không để xảy ra tình trạng chặt phá rừng, cháy rừng hay người dân từ nơi khác đến đốt rừng làm nương rẫy”.
Theo ông Huỳnh Tấn Lộc, cán bộ Trạm kiểm lâm khu vực Krông Nô, Ðắk Prí là buôn có đông đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, thu nhập bình quân đầu người còn thấp. Vì vậy, với khoản tiền tạm ứng đợt này bước đầu sẽ giúp bà con tin tưởng hơn vào chính sách chi trả DVMTR và yên tâm đảm nhận vai trò “chủ rừng” tại địa phương.
Tương tự, cũng là một trong những doanh nghiệp được cung ứng DVMTR, từ năm 2012, Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Ðùng đã triển khai thực hiện Dự án bảo vệ và phát triển rừng, với tổng diện tích giao khoán quản lý bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng gần 8000 ha. Ðể thực hiện hiệu quả chương trình đề ra, đơn vị đã ký hợp đồng giao khoán cho 18 tổ/167 hộ; trong đó có 3 tổ/17 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ của xã Ðắk Som (Ðắk Glong).
Cũng từ nguồn cung ứng DVMTR, đơn vị có thêm nguồn thu trả lương cho cán bộ, công nhân viên cũng như chi phí cho công tác quản lý, bảo vệ rừng. Theo ông Lê Quang Dần, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Ðùng thì việc chi trả DVMTR là một cơ chế sòng phẳng giữa các đơn vị khai thác thủy điện, nước sinh hoạt, kinh doanh du lịch với các “chủ rừng”, người trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng.
Có được nguồn thu này, các đơn vị quản lý, bảo vệ rừng có thêm điều kiện tăng cường tuần tra, truy quét cũng như đẩy mạnh đầu tư các công trình lâm sinh, làm tốt công tác khoanh nuôi tái sinh rừng. Ðây cũng là phương thức hỗ trợ giúp giảm bớt gánh nặng chi đối với ngân sách Nhà nước.
Theo Quỹ Bảo vệ – Phát triển rừng tỉnh thì trong số 34 tỷ đồng cần chi trả trong năm 2013, đến nay Quỹ đã giải ngân được hơn 25 tỷ đồng cho 37 “chủ rừng”. Như vậy, tính từ năm 2012 đến nay, Quỹ đã chi tạm ứng trên 39 tỷ đồng tiền DVMTR cho các “chủ rừng” tham gia cung ứng DVMTR trong các lưu vực. Việc triển khai chính sách chi trả DVMTR bước đầu đã được các tổ chức, đơn vị, cộng đồng, người dân ủng hộ và hưởng ứng tích cực vì đem lại những hiệu quả thiết thực.
Theo Sở NN&PTNT thì hiện nay, toàn tỉnh có 294.476 ha đất có rừng, độ che phủ là 45%. Chính sách chi trả DVMTR được kỳ vọng sẽ tạo bước ngoặt trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Ðắk Nông, giúp người dân sống bằng nghề rừng có thêm thu nhập, cải thiện đời sống, hạn chế những yếu tố bất lợi, tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng, nâng cao chất lượng rừng. Chính sách chi trả DVMTR còn giúp các địa phương thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như giao đất, giao rừng và khoán quyền sử dụng rừng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư. (Báo Đăk Nông 28/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Viện Tài nguyên môi trường & Phát triển bền vững TP.Huế vừa phối hợp với Sở KH&CN Quảng Nam tổ chức hội thảo “Nghiên cứu đánh giá biến động diện tích và chất lượng rừng; thực trạng và xu hướng biến động tài nguyên rừng tỉnh Quảng Nam; đề xuất giải pháp bảo vệ và sử dụng”.
Nhiều vấn đề trọng tâm được đề cập tại hội thảo như: nghiên cứu xu hướng biến động tài nguyên rừng của tỉnh Quảng Nam đến năm 2015, tầm nhìn 2020 với các xu hướng biến động quỹ đất rừng, diện tích rừng, trữ lượng rừng.
Nguyên nhân gây ra biến động tài nguyên rừng được xác định là do tình trạng xây dựng thủy điện, chính sách tái định cư cho người dân tại các dự án thủy điện chưa có hiệu quả bền vững, tình trạng khai thác khoáng sản, phá rừng diễn ra nghiêm trọng…
Hội thảo cũng đề ra chiến lược, chính sách quản lý và bảo vệ rừng bền vững như: công tác quy hoạch rừng, xác định lâm phận các loại rừng ổn định, nâng cao năng lực của đội ngũ kiểm lâm, gắn trách nhiệm với chủ rừng, ưu tiên giải pháp về chính sách đối với những đối tượng trồng và quản lý rừng. (Báo Quảng Nam 28/9) đầu trang(
Thời gian qua, Hạt kiểm lâm huyện Hàm Thuận Bắc phối hợp chặt chẽ với các địa phương có rừng tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, duy tu hệ thống đường băng cản lửa và thường xuyên tuần tra tại những khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để thông tin, xử lý tình huống khi có cháy rừng xảy ra.
Đồng thời, chủ động nắm chắc diễn biến thời tiết gắn với việc xây dựng, bổ sung đầy đủ kế hoạch, phương án phòng cháy chữa cháy rừng. Nhờ đó, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện chỉ xảy ra 7 trường hợp cháy rừng với diện tích 17,91 ha. Các vụ cháy đều được phát hiện, chữa kịp thời, nên không gây thiệt hại lớn đến cây rừng. (Đài PT - TH Bình Thuận 27/9) đầu trang(
Vừa qua, tại xã Ba Vì, Chi cục kiểm lâm Hà Nội đã tổ chức lớp tập huấn nghiệp vụ Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) cho bộ đội và lực lượng dân quân tự vệ năm 7 xã miền núi của huyện 2013.
Thành phần lớp tập huấn: gồm lực lượng dân quân tự vệ đến từ 7 xã miền núi của huyện Ba Vì, đoàn 285 Bộ tư lệnh bảo vệ lăng, trường trung cấp kỹ thuật thông tin, trung tâm huấn luyện học viện biên phòng.
Tại lớp tập huấn, 70 học viên đã được cán bộ giảng viên của Chi cục kiểm lâm Hà Nội truyền đạt những kiến thức, kỹ năng phòng cháy rừng, chữa cháy rừng khi có hiện tượng cháy rừng xẩy ra trên địa bàn. Ngoài những kiến thức cơ bản về công tác PCCC rừng các học viên đã được xem những hình ảnh cháy rừng xẩy ra ở Việt Nam. Từ đó rút ra kinh nghiệm trong PCCC rừng.
Sau lớp tập huấn các học viên đã nắm được những kinh nghiệm, thao tác trong công tác PCCC và bảo vệ rừng trên nhiều hình thức khác nhau. Lớp tập huấn đã giúp cho lực lượng bộ đội và dân quân tự vệ nâng cao ý thức cảnh giác trong công tác phòng chống cháy rừng, đặc biệt là trong mùa khô sắp tới, đề phòng cháy rừng đã xảy ra trên địa bàn huyện Ba Vì trong 9 tháng đầu năm 2013 là hơn 2ha. (Theo Bavi.hanoi.gov.vn 26/9) đầu trang(
Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng trên địa bàn, tại huyện Di Linh, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Lâm Đồng vừa tổ chức hội nghị tập huấn nâng cao năng lực quản lý trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2013-2014.
Tại lớp tập huấn gần 100 học viên là cán bộ của các Hạt Kiểm Lâm, đơn vị quản lý rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã được truyền đạt một số nội dung như: tình hình thực hiện giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng trong thời gian qua; tập huấn kỹ thuật đốt trước để giảm vật liệu cháy tinh trong phòng cháy ở Lâm Đồng;
Hướng dẫn xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2013-2014; phương pháp khai thác, kiểm tra tọa độ điểm báo cháy từ vệ tinh lên bản đồ. Ngoài ra các học viên còn được trao đổi kinh nghiệm phòng cháy chữa cháy rừng giữa các đơn vị trên địa bàn. (Đai PT - TH Lâm Đồng 28/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Nguyễn Văn Tùng, Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản (ký ngày 23.9) gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), Bộ Công thương, truyền đạt ý kiến của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải về hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A.
Theo đó, Phó thủ tướng đồng ý với kiến nghị của Bộ TN-MT tại văn bản số 142 ngày 30.8.2013 về việc thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) các dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A, giao Bộ Công thương rà soát để đưa các dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A ra khỏi các quy hoạch được duyệt, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Theo báo cáo do ông Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ TN-MT ký ngày 30.8.2013 gửi Thủ tướng Chính phủ, việc thực hiện hai dự án thuỷ điện này sẽ làm mất vĩnh viễn 327,23 ha đất rừng, trong đó có 128,37 ha đất ở khu vực Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên.
Trong ĐTM do chủ đầu tư là Tập đoàn Đức Long Gia Lai thực hiện, có cam kết trồng rừng bồi hoàn diện tích rừng bị tổn thất do thực hiện các dự án, nhưng chưa nêu được vị trí cụ thể và phương án trồng rừng thay thế.
Mặt khác, hai dự án thuỷ điện trên cách khu ngập nước Ramsar Bàu Sấu 55 km theo đường sông nhưng ĐTM chưa đánh giá được đầy đủ sự tổn thất về đa dạng sinh học trong vùng ngập và khu vực xây dựng công trình đầu mối trong mối quan hệ với tính nguyên vẹn, giá trị đa dạng sinh học của VQG Cát Tiên và hệ sinh thái bản địa của khu vực.
ĐTM của hai dự án thủy điện cũng chưa phân tích rõ vai trò của dòng chảy có đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước gia tăng theo quá trình phát triển kinh tế - xã hội phía hạ du, môi trường sống cho hệ sinh thái thuỷ sinh, đặc biệt đoạn sông ngay sau đập thuỷ điện Đồng Nai 6, 6A và khu ngập nước Bàu Sấu.
Đặc biệt, hai dự án thủy điện đã vi phạm luật Đa dạng sinh học và luật Di sản bởi trong hồ sơ ĐTM chưa có văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về văn hoá - thông tin. Ngoài ra, nếu các dự án trên được triển khai sẽ phải xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ, đường dây truyền tải, đường giao thông tiếp cận… sẽ gây ra những tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội khu vực diễn ra các hoạt động thi công, tạo thuận lợi cho các hành vi xâm hại VQG Cát Tiên.
Chưa hết, nếu hai dự án này được triển khai sẽ gây bất lợi đến quá trình xem xét công nhận Di sản thiên nhiên thế giới đối với VQG Cát Tiên. (Pháp Luật TPHCM 28/9; An Ninh Thủ Đô 28/9; Thanh Niên 28/9; An Ninh Thủ Đô 28/9; Nông Thôn Ngày Nay 28/9) đầu trang(
Thủ tướng vừa đồng ý với kiến nghị của Bộ Tài nguyên - môi trường liên quan đến hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, giao Bộ Công thương xem xét để đưa hai dự án thủy điện ra khỏi quy hoạch đã được phê duyệt, và rà soát lại quy hoạch thủy điện trên lưu vực sông Đồng Nai.
Nhận được thông tin trên, TS Vũ Ngọc Long - viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam, người đã có hơn 20 năm nghiên cứu và triển khai nhiều dự án ở vùng rừng Cát Lộc (vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên - nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất nếu hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A được xây dựng tại đây) - cho biết ông rất hạnh phúc. Từ năm 2009, TS Long là một trong những người đầu tiên và kiên trì lên tiếng phản đối việc xây dựng hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Suốt quá trình phản đối triển khai hai dự án thủy điện này ông có nhận áp lực từ nhiều phía? Có bao giờ ông thấy chán nản và có ý buông xuôi? Trả lời câu hỏi này, ông Long cho hay: Tôi bị áp lực rất nhiều trong việc này. Ngay trong thời điểm những gian lận trong báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) lần 1 bị phanh phui, tôi muốn tổ chức nhiều hội thảo với các bên có liên quan để lên tiếng cho công chúng biết về tác động ảnh hưởng của hai dự án này đến môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học như thế nào nhưng đã không được phép triển khai, lúc đó tôi là phó viện trưởng Viện Sinh học nhiệt đới (ITB).
Nhất là sau khi chủ đầu tư thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là Công ty cổ phần tập đoàn Đức Long Gia Lai bỏ tiền ra thuê một nhóm chuyên gia khác về đa dạng sinh học chính trong viện của tôi (ITB) nhằm đi khảo sát và viết lại ĐTM lần 2 thì tôi càng e ngại hơn. Phải nói rằng cái chiêu của chủ đầu tư bỏ tiền thuê mướn ngay chính một nhóm chuyên gia khác về đa dạng sinh học của ITB để phản bác những lập luận trước đó của tôi và một số cộng sự đã làm tôi rất lúng túng. Vì nếu không cẩn thận chúng tôi sẽ rơi vào tình trạng đấu đá nội bộ.
Sau khi nhóm chuyên gia của ITB đi khảo sát và làm báo cáo ĐTM lần 2, tôi đã buộc phải im lặng một thời gian dài, cũng muốn buông xuôi. Nhưng sau đó tôi đã thoát ra khỏi “bóng ma” đầy uy lực này và tiếp tục cùng với các nhà khoa học khác lên tiếng đấu tranh bằng cả nhiệt huyết và tâm lực của mình.
Theo ông Long: Nếu những nhà khoa học và báo chí không lên tiếng thì có lẽ họ đã “làm thịt” xong hơn 300ha rừng nguyên sinh của Cát Tiên và sông Đồng Nai rồi. Nhưng tôi cũng lưu ý rằng trong cuộc đấu tranh này cũng có cả “cuộc chiến” giữa chính các nhà khoa học với nhau nữa. Không phải nhà khoa học nào cũng công tâm bảo vệ môi trường thiên nhiên đâu.
Còn nhớ ngay sau khi tôi đứng ra tổ chức hội thảo đầu tiên vào tháng 7-2011 tại Vườn quốc gia Cát Tiên để công bố những tác động nặng nề về môi trường tự nhiên và xã hội của hai dự án này, sau đó vài tháng chủ đầu tư đã liên hệ với một hội bảo vệ môi trường tổ chức hội thảo tại Hà Nội. Và không loại trừ từ sự “chi phối” của chủ đầu tư mà trong hội thảo này, một số “cây đa cây đề” trong giới khoa học Việt Nam đã lên tiếng hết sức ủng hộ hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Một kịch bản được hội thảo soạn sẵn và đã ra thông báo kết luận hai dự án này gây ảnh hưởng rất ít đến môi trường, có lợi cho đất nước... Rất nhiều vị có học hàm học vị giáo sư, tiến sĩ đã cùng nhau hợp sức lại trong “bản trường ca” hoan hô hai dự án này.
Nhưng rất may, cuối cùng giá trị khoa học chân chính và chân lý đã được công nhận. Phải nói rằng báo chí đã góp phần rất quan trọng cho kết quả của ngày hôm nay.
Việc phê duyệt ĐTM của một số dự án thủy điện có trường hợp diễn ra rất dễ dàng, sơ sài. Và chỉ từ khi vấn đề này được phản ánh như vụ “lật tẩy báo cáo ĐTM” trong vụ Đồng Nai 6 và 6A thì mới gây được sự quan tâm, chú ý. Việc phê duyệt ĐTM cần phải thực hiện chặt như thế nào?
Liên quan đến vấn đề này, ông Long cho hay: Sau vụ thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, việc thẩm định và phê duyệt các báo cáo ĐTM cần phải thay đổi theo chiều hướng như: trước tiên, đơn vị làm ĐTM nên có tính độc lập và thoát hoàn toàn ra khỏi sự ràng buộc về tài chính của chủ đầu tư. Sau đó cần phải công khai để công chúng biết.
Việc tham vấn cộng đồng cần được thực hiện một cách khoa học và cẩn thận ngay tại nơi bị ảnh hưởng và các vùng lân cận. Không chỉ gửi thư tham vấn lấy ý kiến như cũ mà nên tổ chức các cuộc họp công khai, mời tất cả các bên có liên quan để lắng nghe ý kiến của cộng đồng. Xác định đúng và đủ phạm vi ảnh hưởng của một dự án thủy điện từ thượng nguồn, trung và hạ nguồn. Các cơ quan phê duyệt ĐTM phải làm việc thật công tâm.
Ông Long cho rằng: Trong vụ thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, chúng ta đã huy động được sức mạnh của quần chúng, tiếng nói của nhân dân, sự đồng lòng của cộng đồng. Cần phải công khai thông tin dự án và thông qua báo chí để chuyển tải thông tin đến công chúng theo cách nào đó nhanh, đầy đủ và chính xác nhất. Tiếng nói và sự đồng thuận của các nhà khoa học là rất quan trọng. Ngoài ra cũng cần tranh thủ được sự ủng hộ của chính quyền địa phương.
Cũng theo ông Long, Chính phủ và các bộ liên quan cần rà soát và dứt khoát loại bỏ những dự án xâm phạm vào vườn quốc gia cùng những khu rừng nhạy cảm. Cần phải ra quyết định phá bỏ một vài công trình thủy điện gây nguy hiểm đến an sinh xã hội và môi trường thiên nhiên hoặc có ảnh hưởng lớn đến các lưu vực sông. Trong vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên cần phải nghiêm cấm không cho xây dựng công trình thủy điện dù là nhỏ. Vì những dự án này tuy nhỏ nhưng tác động môi trường rất lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả con em chúng ta sau này. (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải giao Bộ Công Thương rà soát để đưa các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A ra khỏi các quy hoạch được duyệt, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Văn bản của Văn phòng Chính phủ nêu rõ xét đề nghị của Bộ TN-MT (công văn số 142 ngày 30/8/2013) về việc thẩm định Báo cáo đánh giá tác động môi trường các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có ý kiến: Đồng ý với kiến nghị của Bộ TN-MT tại công văn số 142, giao Bộ Công Thương rà soát để đưa các dự án thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A ra khỏi các quy hoạch được duyệt, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Trước thông tin này, Ths Nguyễn Huỳnh Thuật, một nhân viên của Vườn Quốc gia Cát Tiên, người từng viết tâm thư gửi Chủ tịch nước kiến nghị bảo vệ Vườn Quốc gia Cát Tiên khỏi các dự án thủy điện nghẹn ngào với báo Đất Việt: “Vậy là Vườn Quốc gia Cát Tiên được cứu thật rồi”.
Ths Thuật cho rằng, Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải thực sự đã lắng nghe tâm nguyện của các nhà khoa học, cộng đồng và đưa ra quyết định sáng suốt trong thời điểm này đối với 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Là thành viên hội đồng khoa học thẩm định Báo cáo ĐTM của 2 dự án này, GS Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện quản lý rừng bền vững và chứng chỉ, chia sẻ: "Quyết định của Phó Thủ tướng phù hợp với quan điểm của nhiều thành viên trong hội đồng".
Bản thân Giáo sư Lung cũng từng chia sẻ với Đất Việt rằng, khi lòng dân chưa thông thì Chính phủ không nên quyết định làm 2 dự án này.
“Tôi nghĩ rằng Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo như vậy là phù hợp”, GS Lung nói.
Còn TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam cho rằng, đây là một tin vui với những người đang làm công tác bảo vệ môi trường, suốt thời gian qua đã tranh luận xem dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có thể đưa vào triển khai được hay không.
TS Long cho rằng, với quyết định của Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải như vậy nghĩa là không còn cơ hội nào cho thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có thể đi vào thực hiện nữa.
Cũng bày tỏ sự vui mừng với thông tin này, ông Trương Văn Vở, ĐBQH tỉnh Đồng Nai cho biết, cử tri Đồng Nai chờ đợi và hy vọng nhiều ở quyết định này của Phó Thủ tướng.
Theo Bộ TN-MT, việc thực hiện hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A sẽ làm mất vĩnh viễn 327,23 ha đất rừng; trong đó đặc biệt có 128,37 ha đất ở khu vực Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn Quốc gia Cát Tiên. Trong báo cáo tác động môi trường có cam kết trồng rừng bồi hoàn diện tích rừng bị tổn thất do thực hiện các dự án, nhưng lại chưa nêu được vị trí cụ thể và phương án trồng rừng thay thế.
Bên cạnh đó, hai dự án thủy điện trên cách khu ngập nước Ramsar Bàu Sấu 55 km theo đường sông. Tuy nhiên báo cáo tác động môi trường lại chưa đánh giá được đầy đủ sự tổn thất về đa dạng sinh học trong vùng ngập và khu vực xây dựng công trình đầu mối trong mối quan hệ với tính nguyên vẹn, giá trị đa dạng sinh học của Vườn Quốc gia Cát Tiên và hệ sinh thái bản địa của khu vực.
Một số biện pháp giảm thiểu tác động đến đa dạng sinh học của báo cáo tác động môi trường còn thiếu tính khả thi, không đề ra biện pháp bảo vệ, bảo tồn loài cá chình hoa quý hiếm.
Ngoài ra, do không chuyển dòng chảy, nên tổng lượng nước chảy về hồ Trị An hầu như không thay đổi. Trong khi hồ chứa của thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là điều tiết ngày nên các hồ chứa này sẽ tác động đến nhu cầu sử dụng nước phía hạ du đập thủy điện Đồng Nai 6 và 6A.
Mặt khác, báo cáo tác động môi trường cũng chưa phân tích rõ vai trò của dòng chảy có đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước gia tăng theo quá trình phát triển kinh tế - xã hội phía hạ du, môi trường sống cho hệ sinh thái thủy sinh, đặc biệt đoạn sông ngay sau đập thủy điện Đồng Nai 6 và 6A và khu ngập nước Bàu Sấu.
Thêm nữa, trong hồ sơ báo cáo tác động môi trường của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A chưa có văn bản thẩm định của cơ quan có thẩm quyền về văn hóa-thông tin.
Trong khi đó theo Khoản 1 Điều 36 Luật Di sản văn hoá quy định “Khi phê duyệt dự án cải tạo, xây dựng các công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ di tích quy định tại Điều 32 của Luật này mà xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến cảnh quan thiên nhiên và môi trường, sinh thái của di tích thì phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa-thông tin."
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Luật đa dạng sinh học thì “xây dựng công trình, nhà ở trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn, trừ công trình phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh; xây dựng công trình, nhà ở trái phép trong phân khu phục hồi sinh thái của khu bảo tồn” là hành vi bị nghiêm cấm.
Căn cứ hồ sơ thì hai dự án nêu trên đều có một phần diện tích nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Cát Tiên. Do vậy, việc xây dựng các công trình thủy điện Đồng Nai 6 và 6A là vi phạm quy định trên.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá, trường hợp nếu các dự án trên được triển khai sẽ phải xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ, đường dây truyền tải, đường giao thông tiếp cận….
Việc thực hiện các hạng mục này sẽ gây ra những tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên và các điều kiện kinh tế-xã hội khu vực diễn ra các hoạt động thi công tạo cơ hội thuận lợi cho các hành vi xâm hại Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Một tác động khác mà Bộ lo ngại đó là tác động đến sinh kế của người dân sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt cá vùng hạ du, đặc biệt là các dân tộc ít người như: Châu Ro, Châu Mạ, STiêng , M'Nông… Hơn nữa, nếu triển khai hai dự án trên sẽ gây bất lợi đến quá trình xem xét công nhận di sản thiên nhiên thế giới đối với Vườn Quốc gia Cát Tiên. (Đất Việt 28/9) đầu trang(
Việc chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su đã bị lạm dụng, không chỉ khai thác gỗ mà còn những mục đích khác.
Hàng chục ngàn hecta rừng tự nhiên ở nhiều tỉnh, đặc biệt tại khu vực Tây nguyên, đã và đang bị chuyển đổi sang đất trồng cao su. Điều đáng nói, mục đích trên giấy là chuyển đổi trồng cao su nhưng thực tế đang bị lợi dụng để khai thác gỗ và những mục đích khác...
Thông tin trên đã được các chuyên gia công bố tại hội thảo của Viện Khoa học lâm nghiệp ngày 27-9. Theo PGS.TS Triệu Văn Hùng - giám đốc Viện Khoa học lâm nghiệp VN, năm 2009 Thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch phát triển cao su, theo đó đến năm 2020 VN sẽ có diện tích trồng cao su ổn định là 800.000ha. Thế nhưng chỉ sau ba năm, đến năm 2012 diện tích trồng cao su lên đến 915.000ha - vượt xa quy hoạch cho năm 2020.
Ông Hùng cho biết ngay Bộ NN&PTNT cũng có báo cáo công nhận 79% diện tích trồng mới cao su từ đất rừng tự nhiên. Đặc biệt, bộ này thừa nhận không phải toàn bộ diện tích này đều là rừng nghèo kiệt. “Việc phát triển ồ ạt cao su ở các địa phương đang dẫn đến mất rừng, suy thoái môi trường” - ông Hùng chua xót.
Tương tự, GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung (Viện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng) nêu thực trạng mất gỗ của các dự án trồng cao su là không nhỏ.
Dẫn chứng từ báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án đầu tư phát triển cao su tại tiểu khu 935, 936 (xã Ia Púch, huyện Chư Prông, Gia Lai) của chính Công ty Bình Dương (Binh đoàn 15) GS Lung cho biết riêng dự án này đã lấy 924,6ha, trong đó có 0,6ha rừng giàu, 38,9ha rừng trung bình.
Và tổng lượng gỗ phát sinh khi phát quang, khai hoang dự án, theo GS Lung, doanh nghiệp đã thu hơn 52.000m3 gỗ. Trong đó, ngay chính rừng nghèo, số lượng gỗ lớn nhất lên tới 47.000m3.
Trình bày báo cáo “Phát triển cao su và bảo vệ rừng ở VN” của hai tổ chức quốc tế là Forest Trends và Tropenbos, ông Trần Hữu Nghị - giám đốc Tropenbos VN - khẳng định kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình chuyển đổi rừng sang trồng cao su tại một số địa phương đã bị lạm dụng, không phải chỉ bởi các công ty cao su mà còn cả do “sự ưu ái” của chính quyền địa phương.
Ông Nghị nêu, với 200 dự án trồng cao su ở Tây nguyên được cho là chuyển từ rừng nghèo kiệt, kết quả khảo sát cho thấy “người ta” đã thu được tới hơn 397.000m3 gỗ rừng tự nhiên. Tuy nhiên, ông Nghị cho rằng đây chưa chắc đã là con số phản ánh hết tình hình thực tế...
Theo GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, một trong những lý do dẫn đến việc trồng ồ ạt cao su là từ năm 2006, sau hội nghị phát triển kinh tế - xã hội Tây nguyên ở TP.HCM, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản thông báo ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong đó giao Tổng công ty Cao su chủ trì, phối hợp với Bộ NN&PTNT làm việc cụ thể với từng tỉnh để trong năm năm tới phát triển được 90.000-100.000ha cao su tại Tây nguyên. Ngay sau đó, khi Bộ NN&PTNT chưa hướng dẫn, hàng loạt tỉnh đã “tranh thủ” làm ngay.
Điều đáng nói là Nhà nước cho cả Tây nguyên 90.000-100.000ha, nhưng chỉ riêng Gia Lai đã ra thông báo quy hoạch 60.000ha làm cao su mới. Các tỉnh khác cũng tranh thủ mà không đợi quy hoạch phân bổ tỉnh này bao nhiêu, tỉnh kia bao nhiêu. Sự vội vàng đó, theo ông Lung, “vì quyền lợi cục bộ địa phương hoặc nhóm lợi ích”.
“Nhiều “đại gia” chọn đất làm cao su lại không hẳn vì trồng cây cao su. Vì khu đất đó có bốn tháng hạn, ba tháng úng, không thể phù hợp trồng cao su” - ông Lung nói. Nhưng khi trồng không thành công, họ sẽ xin chuyển đổi mục đích sử dụng khác...
Hệ quả, ông Nguyễn Ngọc Lung đưa số liệu cho thấy nhiều xã ở Tây nguyên bỗng có gần chục dự án trồng cao su. Như xã La Put (Gia Lai) có tới chín dự án, xã La Blư (Gia Lai) sáu dự án, Ea T’Mốt (Đắk Lắk) bảy dự án...
Trước chất vấn của các nhà khoa học, ông Nguyễn Hồng Phú - phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN (VNR) - khẳng định việc phát triển vượt quy hoạch không phải lỗi của tập đoàn bởi phần vượt là khu vực tư nhân, chứ bản thân tập đoàn còn chưa phát triển hết diện tích cao su Chính phủ giao!
Đặc biệt, theo ông Nguyễn Hồng Phú, ngay VNR cũng bức xúc tình trạng trồng cao su vượt quy hoạch. Cụ thể, trong 1 triệu tấn cao su xuất khẩu mỗi năm, VNR chỉ cung ứng khoảng 300.000 tấn, còn 700.000 tấn ở các thành phần kinh tế khác do không ai quản lý chất lượng, nên nước ngoài vào mua cứ thế giảm 3-5% giá cao su VN so với cao su Malaysia hay một số nước khác...
Trước trả lời của ông Phú, ông Vũ Long - chuyên gia lâm nghiệp - cảnh báo bài học giá lúa chất lượng thấp, giá thấp, khó bán có lặp lại với cao su? GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung cho rằng thị trường không tốt đẹp như ta nghĩ, giá đang xuống. VN có thị trường Trung Quốc rất bấp bênh, mà đây là thị trường lớn nhất. VN cũng không còn trong giai đoạn nghèo đói nữa, vì vậy không nên làm cao su với bất cứ giá nào...
Ông Trần Hữu Nghị khuyến cáo, cần tăng cường giám sát với quá trình thẩm định dự án và thực hiện chuyển đổi rừng. Chính phủ nên cân nhắc áp dụng cơ chế đồng thuận, doanh nghiệp phải tham vấn người dân, áp dụng nguyên tắc tự nguyện trên tất cả dự án chuyển đổi đất lâm nghiệp sang đất trồng cao su. Bởi theo ông Nghị, nếu để rừng cộng đồng nhường chỗ cho cao su không chỉ làm mất không gian văn hóa mà còn tước đoạt quyền tiếp cận của các hộ gia đình với nguồn tài nguyên rừng. (Tuổi Trẻ 28/9; VietnamPlus.vn 27/9; Nhân Dân 28/9; Quân Đội Nhân Dân 28/9) đầu trang(
28-9, tại TP Đà Lạt đã diễn ra hội thảo khoa học với chủ đề “Đà Lạt TP trong rừng, rừng trong TP - mô hình phát triển đô thị hiện đại và bản sắc” do UBND tỉnh Lâm Đồng phối hợp với ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức.
Tại hội thảo, rất nhiều vấn đề xoay quanh sự phát triển đô thị Đà Lạt 2030-2050 và tầm nhìn chiến lược đã được các chuyên gia bàn luận. Theo các chuyên gia, với ý tưởng “TP trong rừng, rừng trong TP”, Đà Lạt sẽ vướng phải một số cơ chế hiện thời, ví dụ như khái niệm về “nhà ở dưới tán rừng”, mô hình quản lý “rừng trong TP” sẽ phải như thế nào? Du lịch dưới tán rừng và sống dưới tán rừng sẽ ra sao?...
KTS Nguyễn Trường Lưu, phó chủ tịch thường trực Hội KTS TP.HCM, phát biểu một ý tâm huyết: “Nhiều người cứ nhìn Đà Lạt bằng cái nhìn du khách và muốn Đà Lạt phát triển cho nhu cầu du lịch của mình nhưng chưa để ý đến việc người dân Đà Lạt muốn gì”.
Các đại biểu cho rằng đồ án điều chỉnh quy hoạch chung của TP Đà Lạt đến năm 2030 và tầm nhìn đến 2050 cần tranh thủ một loạt chế độ chính sách sắp ra đời về đất đai, thị trường bất động sản, nhà ở... để tận dụng làm nền tảng cho sự phát triển cũng như đề nghị một cơ chế đặc thù để TP này bứt phá. (Tuổi Trẻ 29/9) đầu trang(
Ngày 29/9, Vườn Quốc gia Cát Tiên cho biết, vừa tiếp nhận 2 con thú quý hiếm thuộc loài cu li nhỏ (nhóm IB) có tên trong sách Đỏ Việt Nam.
Đó là một cặp mẹ con: Cá thể mẹ có trọng lượng là 0,5kg và cá thể con nặng 0,3kg. Cặp mẹ con cu li nhỏ đang trong tình trạng sức khỏe bình thường, do đó sẽ được chăm sóc tại Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp vài ngày rồi thả vào Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Là loài có giá trị khoa học và thẩm mỹ cao, chậm chạp, dễ nuôi làm thú cảnh, bộ da có thể làm thú nhồi để trang trí nên cu li nhỏ bị săn lùng ráo riết. (Tiền Phong 30/9) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Định đã quyết định vừa giao Sở NN-PTNT Bình Định làm chủ đầu tư xây dựng hệ thống đường giao thông các khu vực rừng sản xuất tập trung tại 3 huyện Hoài Nhơn, Vân Canh và Tây Sơn, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại, thúc đẩy công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc phục vụ công tác chế biến lâm sản trên cơ sở phù hợp với quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
Tại khu vực rừng các các địa phương nói trên sẽ được xây dựng 16 tuyến đường giao thông lâm nghiệp cấp 4, tổng chiều dài 55,549 km, trong đó khu vực xã Hoài Sơn, Hoài Phú Hoài Đức (Hoài Nhơn) xây dựng 6 tuyến đường dài 20,74 km; khu vực rừng xã Canh Vinh, Canh Hiển, Canh Hiệp (Vân Canh) xây dựng 6 tuyến dài 21,514 km và khu vực rừng xã Bình Tân, Tây Giang (Tây Sơn) xây dựng 4 tuyến dài 13,295 km. Tổng mức đầu tư xây dựng gần 25 tỉ đồng, nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ. Thời gian thực hiện, từ năm 2014 - 2016. (Công An Nhân Dân 30/9) đầu trang(
Tính đến ngày 26/9, toàn tỉnh Thanh Hóa đã trồng mới 10.206,6 ha, vượt 2,6% so với kế hoạch. Trong đó, rừng trồng theo Dự án WB3 là 2.249,6 ha, rừng sản xuất là 7.866 ha, rừng do dân tự trồng là 967,6 ha.
Năm 2013 tỉnh ta đặt ra mục tiêu trồng mới 10.000 ha rừng. Do thời tiết rét đậm, khô hạn kéo dài nên công tác trồng rừng trong vụ xuân bị chậm.
Để đạt và vượt mục tiêu, kế hoạch đề ra, bước sang vụ thu, NN&PTNT đôn đốc các địa phương huy động mọi nguồn lực chuẩn bị để trồng rừng, cung ứng cây giống; đồng thời, hướng dẫn kỹ thuật trồng mới, cải tạo rừng sản xuất theo hướng thâm canh tăng năng suất, chất lượng rừng. Ngoài ra, tập trung, chỉ đạo các hộ dân tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trong vụ hè – thu. (Báo Thanh Hóa 29/9) đầu trang(
Cả thảy có 6 người Việt: Một Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội; một thượng tá công an; một danh hài và hai cán bộ của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) và nhà báo Đỗ Doãn Hoàng.
Trong bài viết trên Lao Động, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng cho biết: Họ đã tuyển chọn, tài trợ để chúng tôi có thể chứng kiến một cách chân thực, khách quan nhất về thảm trạng sát hại tê giác phục vụ nhu cầu ngớ ngẩn của những kẻ trọc phú và không thể mù quáng hơn.
Sau gần 2 tiếng bay sang Hồng Kông, chúng tôi đã bay thêm 14 tiếng trên trời, đã dùng hai cái trực thăng của Vườn quốc gia rộng 2 triệu hécta Kruger của Nam Phi, đã đi trên xe đặc chủng rồi đi bộ luồn rừng đến mức đổ cả máu trong đại ngàn hoang dã phi Châu.
Thế rồi vẻ đẹp cổ tích, tuyệt sắc của thiên nhiên nguyên sơ của Lục địa đen hiện ra. Thế rồi máu của hoang thú vô tội đổ ra, trong tiếng súng chát chúa của những kẻ săn trộm được huấn luyện như chiến binh tinh nhuệ nhất.
Ngài đại tá phụ trách 700 cán bộ kiểm lâm an ninh của Kruger thở dài: sau tiếng súng giết chết con vật thời tiền sử của chúng tôi, chỉ 48 tiếng sau, sừng của nó có thể sang đến Trung Quốc, Thái Lan hoặc Việt Nam, giá của nó ở chỗ chúng tôi đã là khoảng 65.000USD một “sừng”.
“Sao có những kẻ độc ác và mù quáng như vậy nhỉ? Mài sừng tê giác uống thì có khác gì gặm móng tay móng chân chính mình”. “Uống để hạ sốt thì dùng Efferagant 2.000 đồng/gói cho xong. Uống để giải độc thì thượng thặng là nấu nước râu ngô cho xong” - diễn viên, nghệ sĩ hài tài danh Xuân Bắc - thành viên chính thức của đoàn chúng tôi - thở dài. Ông nghị Võ Tuấn Nhân thì buồn bã: “Sử dụng sừng tê giác để khẳng định “đẳng cấp” của mình - có cái ngớ ngẩn nào hơn thế không?”.
Nhìn xác con tê giác thứ 397 bị giết trong năm 2013, nhìn những cái sừng bị cưa ròng ròng màu đổ, bỗng dưng, nỗi hổ thẹn nghẹn lên trong lòng tôi. Bỗng dưng, rừng núi châu Phi cổ tích với đủ sư tử, hươu cao cổ, linh dương, trâu rừng, báo gấm, voi, đại bàng, ngựa vằn, linh cẩu và cá sấu… tất cả chúng nó như đang ngơ ngác, oán thán nhìn tôi. Chúng ta đã tàn độc với thiên nhiên quá, khi mà Việt Nam trở thành một trong vài quốc gia tiêu thụ sừng tê giác hàng đầu thế giới!
Douglas Hendrie - một chuyên gia bảo tồn người Mỹ có hơn 10 năm gắn bó với Việt Nam - là thành viên người ngoại quốc duy nhất của đoàn 7 “đại sứ tê giác” chúng tôi. Anh ta lấy vợ người Việt, lái xe máy ào ào trên phố Hà Nội như ai.
Cao 1,92m, cái dáng lênh khênh ấy ngồi trên máy bay Việt Nam quá cảnh sang Hồng Kông đã khó chịu, chứ bay liền tù tì gần 14 tiếng từ Hồng Kông sang thủ đô Johannesburg của Nam Phi thì thật muôn vàn khổ sở. Ghế ngồi bé, hẹp, chân anh ta dài miên man, hễ đứng dậy là đầu cộc vào khoang để hành lý trên nóc tàu bay.
Vậy mà, khi nghe tin chỉ còn 500km lái xe tay lái nghịch vượt sa mạc, vượt các hẻm vực cô liêu nữa là đến được Kruger, Douglas khoa chân múa tay quên hết cả mọi mệt mỏi: “Thế giới mơ ước của ta đã hiện ra!”.
Chúng tôi đều nhảy cẫng lên trước thiên nhiên bát ngát, khoáng đạt, có lúc cằn cháy mênh mang, có lúc sặc sỡ sắc màu hoa cỏ của Nam Phi. Đi vào rừng với mãnh thú, với các vệ sĩ súng lớn nghiêm cẩn thế mà hét lên sung sướng thì ăn mắng là dĩ nhiên. Danh hài Xuân Bắc bị mắng, mặt ỉu xìu: “Im lặng suốt 3 tiếng đồng hồ đi bộ trong rừng, có lẽ là khoảng thời gian im lặng dài nhất và khổ nhất của đời cái thằng mồm mép tép nhảy như tôi”.
Với giá hơn 850 USD cho một ngày đêm trú ngụ trong các khu nghỉ dưỡng, ngắm hoang thú sa hoa, phải nói là nhắm mắt cũng thấy nghệ thuật kinh doanh thiên nhiên trù phú của nước bạn đang hái ra tiền. Các khu Safari, đại ý như những khu bảo tồn thiên nhiên rộng lớn do tư nhân quản lý kinh doanh được bài trí tuyệt đẹp, sự đón tiếp du khách trọng thị đến mức không thấy bất cứ dấu hiệu nào của lối khai thác du lịch “ăn xổi ở thì” mà tôi vẫn hằng gặp ở nhiều quốc gia châu Á.
Đêm, đi chụp và ngắm báo gấm, voi rừng hoang dã trở về, xe vừa dừng lại, đã có mấy người da đen, da trắng cầm đèn lồng đi giật lùi soi cho từng bước chân lấm lem bùn đất của chúng tôi tiến vào khu bày bữa tiệc núi.
Nhờ sự hỗ trợ nhiệt tình và đầy… uy lực của tổ chức bảo vệ tê giác Rhinose Foundation, chúng tôi đã hầu như tiếp xúc được với tất cả những đối tượng cần phỏng vấn, được sử dụng tất cả những phương tiện, con người cần phải có để “tận mục sở thị” thiên nhiên không thể hoang dã hơn của Vườn quốc gia rộng lớn nhất Nam Phi, nơi sở hữu đàn tê giác lớn nhất thế giới đó.
Tiếp xúc với vị đại tá, phụ trách lực lượng an ninh, quân đội, công an bảo vệ rừng và hoang thú; đi xe ôtô đặc chủng mui trần, có rào sắt bảo vệ để vào rừng già; đi trực thăng tiếp cận hiện trường săn bắn tê giác trái phép kinh hoàng; đi bộ tuần tra nhiều tiếng đồng hồ với sự hỗ trợ của các kiểm lâm viên lão luyện khoác súng lớn, đeo những băng đạn vàng óng ở thắt lưng…
Nơi chúng tôi ngủ lại, hoa rừng phủ đầy các lối đi, hoa được “gái bản” da đen kịt ngắt về tết rực rỡ các bàn ăn, bàn ngồi nghỉ dọc các hành lang tre gỗ. Dưới sàn nhà, dưới các cây cầu gỗ bắc qua suối, vượt các tán rừng… ; ở đó, hươu nai, ngựa vằn và nhiều loại hoang thú tung tăng trong tiếng lá vàng rơi xào xạc. Cỏ rất xanh và lá cây thì cực vàng, rụng như liên tục, mãi mãi mà không dứt hết.
Trên hành lang, có biển báo bằng tiếng Anh rằng bạn hãy giữ im lặng, vì hoang thú đang ngủ. Bạn hãy thận trọng đóng cửa sổ và cửa chính phòng ngủ, bởi khỉ và một số loài khác rất tinh nghịch, có thể trèo vào khênh đồ đạc mang lên ngọn cây. Các vị đầu bếp, các cô lễ tân, các anh bảo vệ người da đen tận tụy gật đầu chào và sẵn sàng hỏi “tôi giúp được gì cho bạn” ở mọi ngóc ngách.
Tôi nhờ Xuân Bắc giữ hộ thức ăn và dao dĩa để đi xin thêm đùi cừu nướng, lần nào cũng bị… hầu bàn tịch thu mất. Bắc thở dài: Tôi giữ được 3 lần, 3 cô đi qua, tôi bảo “no no” rồi “not yet” (chưa xong), nhưng đến cô thứ 4, tôi lơ đãng một tí, họ dọn mất rồi. Chu đáo đến thế là cùng.
Giữa bối cảnh ấy, đi thêm vài chục cây số vào trụ sở của Vườn Quốc gia Kruger, giáp biên giới Mozambique, chúng tôi đã vướng ngay phải một nỗi buồn.
Hươu cao cổ đi ngang đường, voi châu Phi tai to như cái mâm, ngà nhọn như kiếm Nhật dắt đàn dắt lũ sang đường mà không cần tín hiệu cảnh báo trước, chúng khiến các xe thời thượng như Audi, rồi BMW phải lù lù dừng lại, nhẫn nại chờ đợi. Tránh voi chả xấu mặt nào.
Đang vui thì ngài Johan Jooste - đại tá phụ trách bảo vệ rừng và hoang thú của Kruger - thân thiện dội cho chúng tôi một “gáo nước lạnh”. Một cái tin buồn bã: Thi thể con tê giác thứ 397 bị săn trộm trong năm 2013 của vườn vừa mới được phát hiện. Nó chết đã vài hôm. Sừng bị chặt bằng những nhát rìu khó nhọc. Xác tê giác đang thối um trong rừng già rất rất xa, linh cẩu, kền kền rồi dã thú các loại đang ăn thịt con vật khổng lồ đó.
Cuộc gặp nào, người ta cũng nhắc tới các đối tượng là người Việt Nam “kích cầu”, xúi giục săn bắn, giết hại và buôn bán sừng tê giác. Hôm nay, ngài đại tá cũng không là ngoại lệ. Ông vỗ vai người viết bài này: “Tôi rất xúc động khi thấy nghị sĩ quốc hội, công an, rồi cả nhà báo và nghệ sĩ Việt Nam sang đây để cùng bàn thảo kế hoạch bảo vệ tê giác cho chúng tôi, cho địa cầu này. Nhà báo về nói với những người đang sở hữu, sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam, là dùng thứ đắt hơn vàng đó là độc ác và mù quáng, độc ác với nỗ lực bảo tồn của nhân loại tiến bộ, mù quáng vì sừng tê giác chẳng có tác dụng gì cho sức khỏe đâu”.
Sau khi đi trực thăng, ô tô và nhiều giờ đi bộ, chúng tôi đã đối mặt với tê giác và những con vật khổng lồ ở trạng thái hoàn toàn hoang dã.
Trước đó, thông tin từ Andew Paterson - Giám đốc Quỹ Rhinose Foudation (Quỹ Bảo tồn tê giác) của Nam Phi - cho biết, muốn đến hiện trường bọn săn trộm tê giác hoành hoành, phải đi máy bay trực thăng, vì xa lắm, ôtô không đi nổi. Ông đại tá Johan Jooste giải thích: Các vị cần hiểu, bảo vệ tê giác, chiến đấu với bọn săn trộm có vũ khí tối tân, được huấn luyện bài bản bởi “những kẻ đứng sau” rất cam go. Có nhiều người đã đổ máu, đã nằm xuống vĩnh viễn với rừng Kruger.
Đây là một Cuộc Chiến Tranh Tê Giác, chứ không phải là hoạt động bảo vệ rừng như kiểm lâm ở các quốc gia khác vẫn làm nữa. Cuộc chiến tranh này không cho phép chúng tôi chậm trễ. Bởi khi tôi đang ngồi bàn thảo với các vị đây, thì mỗi ngày vẫn có ít nhất 2,4 con tê giác ở Nam Phi bị giết hại. Vườn chúng tôi cũng có ít nhất gần 2 con tê giác bị vĩnh viễn lìa rừng vì đạn, rìu, cưa máy cắt sừng của thợ săn trộm.
Nên nhớ, Nam Phi sở hữu tới hơn 90% số lượng tê giác của toàn bộ trái đất này. Nên nhớ, vườn chúng tôi trải dài trên hai tỉnh Mpumalanga và Limpop, rộng tới 200.000km2, rộng tới 2 triệu hécta. Rộng nhất Nam Phi, với hệ thống “tường rào” bảo vệ lớn nhất thế giới! Thế là rộng gấp 100 lần Vườn quốc gia Cúc Phương - Vườn quốc gia đầu tiên của nước Việt Nam - tôi nhẩm tính.
Ngài đại tá nói tiếp: Vì thế nên chúng tôi phải đi tuần bằng máy bay trực thăng. Độ này vườn chỉ còn 2 cái máy bay, một màu vàng, một màu xanh. Nếu hôm nay cần đi bắt bọn săn trộm, thì có nghĩa là các vị phải ở nhà, đi ôtô đặc chủng tuần tra rừng thôi.
Đêm bịt bùng, đường vào rừng già bụi bặm đến mức nhiều người trong đoàn chúng tôi vốn đang bị cái gió hanh hao khô khốc của thảo nguyên rồi sa mạc hành hạ… nay, đồng loạt chảy máu cam. Vạt áo tôi ướt máu. Gai rừng Nam Phi sắc nhọn và to như một mũi chông. Thượng tá Nguyễn Việt Tiến - Công an Hà Nội - lẩm bẩm: Phải gai to thế này thì mới sống sót được trước nhiều nghìn con tê giác, voi, hươu, nai, ngựa vằn… với những cái dạ dày ăn cỏ lá rất tạp và rất khổng lồ kia chứ.
Đoàn xe dừng lại, những người da đen nhoáy nở nụ cười trắng lốp trước đèn máy ảnh của tôi. Chao ôi, một bữa tiệc babecue (thịt nướng) giữa rừng châu Phi mịt mùng đêm bủa. Trăng lên trong vắt, tròn vành vạnh. Không ai bảo ai, tất cả đều lịm đi trong cảm giác êm đềm, trong mùi thơm hoa cỏ quyện lẫn mùi tinh khôi và phàm trần của những đùi gà, đùi cừu, đùi lợn quay tròn nguyên chiếc trên than hồng được chăm bẵm kỹ càng bởi những người da đen mẫn cán nhất.
Thế rồi lại một “gáo nước lạnh” nữa nhờ “bàn tay” thân thiện nhất của ông James Stevenson Hamilton - một lão tướng dũng mãnh khét tiếng trong cuộc chiến bảo vệ rừng Kruger - dội vào đầu, làm buốt vào tận óc mỗi chúng tôi: “Các bạn từ Việt Nam đến, thì tê giác Nam Phi có thêm những người bạn mới bảo vệ mình. Bạn đến từ thị trường tiêu thụ tê giác rất rất nóng, từ “thị trường cuối cùng” của các sản phẩm, sừng tê giác.
Đêm nay trăng sáng quá. 45 năm tôi làm kiểm lâm ở vườn này rồi, mọi năm trăng sáng chúng tôi đều rất vui mừng ra ngắm cảnh rừng và muông thú sum vầy. Còn bây giờ, trăng sáng chúng tôi sợ lắm. Bởi trăng sáng thì thợ săn hoạt động nhiều. 56% số người châu Á bị bắt giữ vì liên quan đến hoạt động trái phép săn bắn, vận chuyển, buôn bán sừng tê giác gần đây là… người Việt Nam”.
Ánh trăng Châu Phi tròn hơn hay méo hơn trăng Việt Nam? Chịu. Chỉ biết là ánh trăng nơi này cũng làm vị kiểm lâm khả kính râu bạc tai nghễnh ngãng vì 45 năm dốc cạn mình cho nghề rừng kia đau đớn. Đau đớn, ông lại nhắc đến quê hương của không ít những kẻ mờ mắt vì tiền rồi trực tiếp hay gián tiếp giết hại tê giác của Nam Phi và của thế giới... (Lao Động 28/9) đầu trang(
Trong khi các công ty lâm nghiệp (CTLN) phải ôm hàng ngàn hécta đất rừng, sử dụng không hiệu quả thì người dân tại địa phương, nơi các CTLN “đóng đô”, chủ yếu người dân tộc thiểu số lại thiếu hoặc không có đất để sản xuất.
Một trong những mục tiêu quan trọng Nghị quyết (NQ) 28 đặt ra trong việc đổi mới lâm trường quốc doanh (LTQD) là nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương, tạo việc làm, tăng thêm thu nhập cho người lao động và xóa đói giảm nghèo. Để thực hiện mục tiêu này, NQ 28 đặc biệt nhấn mạnh việc phải đảm bảo đất ở và đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, khắc phục nhanh tình trạng thiếu đất ở và đất sản xuất cho người dân.
Trên địa bàn xã Tân Thành tỉnh Lạng Sơn, gần 70% diện tích đất lâm nghiệp đều do CTLN Đông Bắc quản lý nên nhu cầu về đất của người dân tại đây hết sức bức thiết.
Ông Đoàn Quốc Anh, Bí thư Chi bộ thôn Cốt Cối cho biết, phần lớn người dân là công nhân lâm nghiệp đã nghỉ hưu hoặc nghỉ việc nên chủ yếu dựa vào đất rừng để sống. Đời sống khó khăn, nhưng mỗi hộ trung bình chỉ nhận được 0,5 - 0,7ha, thậm chí có hộ không được giao khoán nên người dân buộc phải canh tác trên đất của các CTLN để sinh kế. Đó cũng là lý do Cốt Cối trở thành “điểm nóng” tranh chấp và lấn chiếm đất rừng nhiều năm qua.
Ông K’Lý, Phó Chủ tịch UBND xã Lộc Bảo, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng cho biết, diện tích đất lâm nghiệp của xã rất lớn nhưng đến 80% thuộc sự quản lý của CTLN Lộc Bắc. Hiện xã có hơn 200 hộ nghèo (chiếm khoảng 1/4 tổng số hộ trong xã) thiếu đất canh tác.
Ông K’ Ba, Trưởng thôn 3 xã Lộc Bảo cho biết, từ những năm 2000 đến nay, nhiều lần người dân trong thôn kiến nghị UBND tỉnh giao đất để ổn định cuộc sống nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Do cần đất để canh tác nên nhiều hộ dân đã quay lại trồng các loại cây hoa màu, công nghiệp trên diện tích đất cũ của mình trước đây để kiếm sống (hiện thuộc CTLN Lộc Bắc và các công ty cao su quản lý). “Do thiếu đất sản xuất mới làm liều chứ chẳng ai muốn vi phạm pháp luật” - ông K’Ba tâm tư.
Thiếu đất canh tác là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến mâu thuẫn đất đai giữa các CTLN, nơi có các diện tích đất tiếp giáp với khu dân cư và các hộ dân. Sự xung đột này xảy ra ở hầu hết các địa phương, nơi có mặt của các CTLN. Ông Lăng Văn Chiến, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành, cho biết, việc giải quyết tranh chấp chiếm đến 2/3 thời gian công việc nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc hòa giải, vận động vì không có quy định chế tài để giải quyết.
“Nút thắt” cơ bản, quyết định hiệu quả và thành công của quá trình đổi mới, phát triển LTQD hiện nay chính là vấn đề quản lý và sử dụng đất rừng. Ông Tô Xuân Phúc, Trưởng đại diện Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam, cho rằng, sự bất hợp lý trong quản lý và sử dụng đất rừng của các CTLN hiện nay thể hiện ở hình thức khoán mà các CTLN đang thực hiện. Thực tế hầu hết các CTLN vẫn chưa tuân thủ “4 quản” theo quy định khi khoán đất rừng, đó là: quản lý đất, quản lý kỹ thuật, quản lý kế hoạch, quản lý sản phẩm.
CTLN Yên Bình đang giao khoán đất theo 2 hình thức: thứ nhất là công ty đầu tư giống, phân bón, kỹ thuật đến kỳ khai thác thu sản phẩm theo tỷ lệ người trồng rừng 50 và CTLN 50; thứ 2 là giao đất cho người dân tự đầu tư trồng rừng, đến khi thu hoạch công ty sẽ thu khoảng 20% - 25% sản phẩm. Nhưng nhiều người lo ngại hình thức thứ 2 phải chăng là phát canh thu tô?
Ông Phạm Đăng Hân, Giám đốc CTLN Yên Bình giải thích: “Một số khu vực xa, gần các khu dân cư thì công ty không quản nổi, cũng không thể trồng rừng vì trồng đến đâu dân nhổ cây đến đó nên phải giao cho người dân theo hình thức này chứ không có cách nào khác và hình thức này đã giảm hẳn việc lấn chiếm”.
Cũng với hình thức giao khoán nhưng CTLN Đông Bắc (tỉnh Lạng Sơn) không được người dân xã Tân Thành huyện Hữu Lũng đồng thuận, dẫn đến tranh chấp kéo dài.
Chị Bùi Thị Quý, người thôn Cốt Cối xã Tân Thành, bức xúc: “Chi phí công ty bỏ ra cho cây giống và phân bón chưa tới 4 triệu đồng/ha mà bắt chúng tôi nộp 26m3 gỗ đứng/ha (tương đương theo hợp đồng dân hưởng 30% còn CTLN 70%, giá khoảng 600.000 đồng/m3, khoảng 15,6 triệu đồng - PV) là quá cao. Không chỉ người dân, mà chính quyền địa phương cũng cho rằng, mức khoán này không hợp lý”.
“Chúng tôi cũng đã kiến nghị giảm định mức khoán xuống còn khoảng 20m3/ha nhưng CTLN Đông Bắc không đồng ý”, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành Lăng Văn Chiến cho hay. Theo ông Chiến, việc giao khoán trên không mang tính hỗ trợ, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương vì định mức khoán cao, thu nhập của người dân chưa thể cải thiện.
Về việc này, GS Đặng Hùng Võ cho rằng, cơ chế khoán mà các lâm trường đang thực hiện có sai lệch, do chỉ mới khoán một chiều, đó là giao đất cho dân để trồng rừng rồi cuối kỳ thu sản phẩm thay vì phải đầu tư quy trình sản xuất hiện đại về cây giống, phân bón, tư vấn kỹ thuật.
“Cơ chế khoán này không tạo ra sự bình đẳng giữa các bên và không mang lại hiệu quả trong việc sử dụng hiệu quả đất rừng” - ông Võ nhận định. Theo ông Võ, cần có sự thay đổi về quản lý về đất rừng, tương tự như đất nông nghiệp thay vì giao cho hợp tác xã thì giao cho người dân, hộ gia đình. Nhà nước nên giao thẳng cho người dân chứ không nên thông qua các lâm trường.
Trong khi người dân đang thiếu đất thì việc thu hồi đất tại các LTQD nhằm tạo quỹ đất cho cộng đồng dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa vẫn chưa thực hiện bài bản và còn nhiều bất cập. Trong đó, phần lớn diện tích đất rừng mà các CTLN trả hoặc chỉ giao “phần xương” như diện tích đất bị lấn chiếm khó giải quyết, đất ở những vùng sâu, vùng xa và đất núi, đất đá không thể canh tác hoặc không có đường giao thông kết nối… nên chưa thể giải quyết nhu cầu bức bách về đất cho người dân.
Theo Bộ NN&PTNT, diện tích đất tranh chấp giữa các CTLN và người dân địa phương tính đến hết năm 2011 là 75.650ha. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, con số trên chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi” so với thực tế.
Vấn đề đổi mới LTQD đã được các cơ quan chức năng đặt lên bàn “mổ xẻ” rất nhiều lần nhưng đến nay kết quả đạt được không đáng kể. “Điểm” qua những mục tiêu của NQ 28 cho thấy, sau 10 năm triển khai, NQ 28 vẫn chưa thực sự đi vào cuộc sống. Các chuyên gia cho rằng, để NQ 28 đạt được hiệu quả cần phải đổi “chất” trong việc sắp xếp, đổi mới LTQD. (Sài Gòn Giải Phóng 28/9) đầu trang(
Thực hiện chủ trương phủ xanh đất trống, đồi trọc, 2 năm qua, huyện Hàm Thuận Nam đã triển khai trồng rừng tập trung được gần 4.500ha, đạt 60% kế hoạch.
Bên cạnh việc trồng mới rừng, huyện còn tổ chức giao khoán hơn 7.900 ha rừng cho các hộ nhận bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh hơn 900 ha. Phần lớn diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên trên địa bàn huyện phát triển tốt, từng bước khắc phục được tình trạng chặt phá bừa bãi và đốt rừng làm rẫy… (Đài PT - TH Bình Thuận 26/9) đầu trang(
Sáng 27.9, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức lễ công bố quy hoạch vùng nguyên liệu cho dự án chế biến gỗ và quy hoạch vùng nguyên liệu cho dự án bảo tồn, phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao gắn với phát triển rừng bền vững.
Dự án vùng nguyên liệu giấy do Cty CP Lâm nghiệp Tháng Năm làm chủ đầu tư được quy hoạch trên tổng diện tích đất 45,011,5ha tại 13 huyện gồm: Anh Sơn, Quỳ Châu, Đô Lương...; trong đó dự kiến đất thuê có 11.589ha, 33.422ha đất còn lại dự kiến sẽ liên danh - liên kết.
Đối với dự án bảo tồn, phát triển nguồn dược liệu chất lượng cao do Cty CP dược liệu TH làm chủ đầu tư được quy hoạch 15.450,81ha tại 11 huyện, gồm: Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu...; trong đó đất thuê dự kiến 4.091,81ha, đất liên danh - liên kết là 11.359ha.
Phát biểu tại buổi lễ công bố quy hoạch, ông Đinh Viết Hồng - Phó Chủ tịch UBND tỉnh - cho biết: Khi triển khai dự án, chắc chắn có thể xảy ra những vướng mắc, do vậy các địa phương và chủ đầu tư cần tập trung phối hợp tháo gỡ; các nông - lâm trường, đơn vị chủ rừng nếu còn băn khoăn cứ phản ánh để tỉnh xem xét điều chỉnh.
Về phía hai doanh nghiệp (chủ đầu tư), ông Đinh Viết Hồng yêu cầu: Doanh nghiệp cần tập trung nguồn lực đầy đủ để triển khai dự án. Trước mắt phải thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với diện tích đất thuê. Trong thời gian 6 tháng kể từ ngày công bố quyết định quy hoạch, nếu chủ đầu tư không hoàn thành các thủ tục liên quan, tỉnh sẽ hủy dự án. (Lao Động 28/9; Kinh Tế Việt Nam&Thế Giới 28/9; VietnamPlus.vn 27/9) đầu trang(
Từ năm 2006 đến nay có hơn 50.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện nhưng chủ đầu tư trồng bù lại chỉ ngót nghét 1.000 ha
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng và yêu cầu của Ủy ban Khoa học Công nghệ - Môi trường của Quốc hội, Bộ Công Thương đang rà soát tình hình triển khai các dự án thủy điện trong cả nước.
Cuối năm 2012, Bộ NN-PTNT từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012. Theo đó, trong 6 năm, có hơn 20.000 rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Tuy nhiên, theo rà soát mới đây của Bộ Công Thương, thực tế tỉ lệ diện tích rừng trồng bù còn thấp hơn rất nhiều. Từ khi thực hiện Nghị định 23/2006/NĐ-CP về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, đến nay có đến 50.930 ha rừng các loại đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện. Trong khi đó, rất ít chủ đầu tư thủy điện có phương án trồng rừng thay thế. Hậu quả, diện tích rừng trồng thay thế chỉ được hơn 1.000 ha, bằng 2% diện tích rừng đã chuyển đổi.
Nguyên nhân là do hầu hết chủ đầu tư chưa bố trí chi phí trồng rừng thay thế trong tổng vốn đầu tư của dự án nên không thể thực hiện. Quá trình trồng bù rừng cũng còn nhiều bất cập. Tại Lào Cai, việc trồng thay thế toàn bộ 215,9 ha rừng đã chuyển đổi mục đích để xây dựng thủy điện được thực hiện bằng nguồn tiền bồi thường rừng của chủ đầu tư kết hợp với ngân sách bảo vệ và trồng rừng hằng năm của tỉnh, việc trồng rừng thay thế lại do các đơn vị lâm nghiệp địa phương thực hiện. Trong khi theo Nghị định 23, việc trồng rừng thay thế là trách nhiệm và thực hiện bằng kinh phí của chủ đầu tư dự án.
Theo Bộ Công Thương, những quy định về đơn giá, chi phí, cách thức tổ chức thực hiện… việc trồng rừng thay thế có sự khác nhau ở mỗi địa phương khiến các chủ đầu tư gặp khó khăn trong việc thực hiện, dẫn đến thiếu tính công bằng giữa các dự án. Để tháo gỡ những bất cập này, Bộ Công Thương kiến nghị cần sớm có các thông tư hướng dẫn việc trồng rừng thay thế và cụ thể hóa các quy định của Nghị định 23.
Theo thống kê của Bộ Công Thương, cả nước có 1.239 dự án thủy điện nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng, Bộ Công Thương và UBND các tỉnh phê duyệt theo thẩm quyền.
Năm 2012, Bộ Công Thương đánh giá sự phù hợp về quy hoạch các dự án thủy điện. Trên cơ sở đó, tháng 1-2013, Thủ tướng đã đồng ý loại khỏi các quy hoạch đã được duyệt 117 dự án và không xem xét bổ sung vào quy hoạch 156 vị trí tiềm năng xây dựng thủy điện được sơ bộ xác định qua nghiên cứu quy hoạch.
Tiếp đến, tháng 5- 2013, Thủ tướng đồng ý loại khỏi quy hoạch 288 dự án và không xem xét bổ sung 16 vị trí tiềm năng. Như vậy, tính đến nay có tất cả 405 dự án thủy điện bị loại khỏi quy hoạch và không xem xét đưa vào quy hoạch 172 vị trí tiềm năng xây dựng thủy điện nhỏ.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, tất cả các dự án, vị trí tiềm năng vừa bị loại bỏ đều thuộc đối tượng có hiệu quả kinh tế thấp, tiềm ẩn khả năng tác động tiêu cực đến môi trường - xã hội hoặc do nhà đầu tư trả lại dự án.
Cả nước hiện còn 834 dự án thủy điện. Trong đó, 268 dự án đã phát điện, 205 dự án đang thi công, 254 dự án đang nghiên cứu đầu tư để xem xét cho phép xây dựng trong thời gian tới, còn lại 107 dự án chưa có chủ trương đầu tư hoặc còn vướng mắc liên quan đến tác động môi trường- xã hội cần tiếp tục xem xét hoặc chưa có nhà đầu tư đăng ký thực hiện.
Mới đây, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chỉ đạo cơ quan liên quan rà soát, đưa 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi quy hoạch.(Người Lao Động 29/9) đầu trang(
Tin tưởng vì tận mắt nhìn thấy bản hợp đồng ký được với Hội cựu chiến binh tỉnh Khăm Muộn và bản được dịch ra tiếng Việt, từ năm 2011 đến 2012, bà Hồ Thị Thanh Thủy (1965, trú xã Điện Tiến, H. Điện Bàn, Quảng Nam) đã cho ông Nguyễn Văn Tô mượn tổng số tiền lên đến gần 7,2 tỷ đồng. Tuy nói là "mượn", nhưng khoản tiền này có tính lãi suất 10% một tháng. Bà Thủy còn đi vay mượn lại của người khác với lãi suất 6% một tháng để đưa cho ông Tô.
Hơn 7 tỷ đồng bà Thủy đưa mượn, đến nay ông Tô chỉ trả cho bà Thủy 110 triệu đồng (năm 2012). Điều đặc biệt, trong giấy mượn tiền, thời hạn bà Thủy cho ông Tô mượn từ 1 đến 3 tháng, nhưng mỗi khi đến hạn trả nợ cũ cho bà Thủy, ông Tô không thực hiện mà tiếp tục sang nhà bà Thủy yêu cầu cho mượn thêm. Lý do vợ chồng ông Tô đưa ra là hứa hẹn trong thời gian đến bán được gỗ bên Lào sẽ trả cả gốc lẫn lãi. Nhưng cuối cùng ông Tô không trả.
Ngoài bà Thủy, một số người cũng dễ dàng rơi vào bẫy của vợ chồng ông Tô. Bà Tr.T.S. (1962, cùng trú xã Điện Tiến, H. Điện Bàn) từ năm 2011 đến 2012 "góp vốn" cùng với vợ chồng Tô- Hòa bằng tiền mặt và vàng, tổng số tiền góp vốn theo chứng từ biên nhận tiền là 3,36 tỷ đồng.
Nhưng theo tìm hiểu, thực tế số tiền thực mà bà S. tham gia góp vốn chỉ 1, 56 tỷ đồng (trong đó có chứng từ góp tiền 400 triệu đồng, nhưng vợ chồng ông Tô tính lãi suất gấp ba lần, nên ghi gộp thành 1,2 tỷ đồng, một chứng từ thực góp 500 triệu đồng, nhưng vợ chồng ông Tô tính lãi suất cũng gấp ba lần, nên ghi gộp thành 1,5 tỷ đồng). Như vậy, với thủ đoạn "chơi đẹp", mượn 1 nhưng trả 3 đã dụ được nhiều người như bà S. dễ dàng sập bẫy.
Ngoài tiền mặt, bà S. còn "góp vốn" cho vợ chồng ông Tô 94 chỉ vàng, thời hạn góp vốn 10 tháng. Với bà S., vợ chồng ông Tô không tính lãi suất 10% một tháng mà tính lãi suất gấp ba lần trên 10 tháng. Theo đó, ngoài "khoe" bản hợp đồng khai thác, trồng rừng, để tạo dựng lòng tin, mỗi lần nhận tiền và vàng, vợ chồng ông Tô đều viết giấy biên nhận có chữ ký của hai vợ chồng.
Trong đó nhiều giấy biên nhận có đóng dấu của Cty. Khi thời gian góp vốn đã hết, vợ chồng ông Tô không thanh toán số tiền vàng gốc và lãi cho bà S. Bà S. tìm gặp trực tiếp hoặc qua điện thoại nhưng vợ chồng ông Tô hứa hẹn, khuất nợ dần, cuối cùng không thực hiện, đến nay bà S. cũng không tìm gặp được vợ chồng ông Tô. Điều đáng nói là số tiền và vàng trên bà S. phải đi vay từ nhiều nguồn.
Trước sự việc trên, nhiều người đã làm đơn tố cáo gửi đến CA tỉnh Quảng Nam. Qua xác minh, CA tỉnh Quảng Nam cho biết số tiền mà vợ chồng ông Tô chiếm đoạt của các bị hại khoảng gần 10 tỷ đồng; 94 chỉ vàng, 5.800 USD và 2.280 kíp Lào. Đây là số tiền và vàng có chứng từ thể hiện. Còn lại hàng tỷ đồng khác bị hại khai cho mượn nhưng không có chứng từ chứng minh.
Đến nay theo nhiều nguồn tin, vợ chồng ông Tô đã trốn ra nước ngoài. Công an tỉnh Quảng Nam đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với bà Phạm Thị Hòa -ông Nguyễn Văn Tô và đang xác định vợ chồng ông Tô nhập cảnh vào nước nào để đề xuất lập thủ tục ra lệnh truy nã trong nước và quốc tế. (Công an TP Đà Nẵng 27/9) đầu trang(
Báo Thanh tra ngày 24/9 có bài “TP Hòa Bình: Khuất tất trong giao đất, giao rừng”, phản ánh 7 hộ dân xã Sủ Ngòi đã cải tạo, sử dụng đất (SDĐ) Thung Cả, Tạng Bưởi hơn 20 năm, không có tranh chấp, nay bỗng trắng tay vì đất này đã được cấp cho 4 hộ khác từ 15 năm nay. Đáng nói là, 4 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền (GCNQ) SDĐ khu đất trên cũng không biết đất của mình ở đâu. Việc cấp GCNQSDĐ có gì khuất tất?
Thực hiện Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ, tỉnh Hòa Bình đã ban hành nhiều văn bản, quy định, kế hoạch hướng dẫn về trình tự, thủ tục khi triển khai giao đất, giao rừng, khoán rừng (GĐ,GR,KR) ở các địa phương trong tỉnh.
Theo Công văn số 249 ngày 28/5/1994 của tỉnh Hòa Bình ban hành về “Kế hoạch triển khai GĐ,GR,KR theo Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ”, “Quy định số 315 “Hướng dẫn về GĐ,GR,KR theo Nghị định số 02/CP của Chính phủ” do tỉnh Hòa Bình ban hành ngày 28/9/1994 nêu rõ:
“Điều 10: Phương pháp giao, khoán rừng: Thực hiện phương châm: Tôn trọng hiện tại, hợp tình, hợp lý, làm xong một lần và chia làm 2 bước. Bước 1: Giao xong ở hiện trường. Bước 2: Hoàn chỉnh hồ sơ theo luật. Đồng thời phải qua 2 giai đoạn: 1- Tiến hành giao trên thực địa, gồm: c - Hướng dẫn các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đăng ký, thống kê lập hồ sơ ban đầu; d - Họp các chủ hộ theo đơn vị xóm, bản để thông qua phương án giao đất lâm nghiệp do Hội đồng GĐ,GR,KR xã tổ chức.
Tiếp đó, ngày 8/8/1994, tỉnh Hòa Bình đã ban hành “Kế hoạch mở rộng diện GĐ,GR,KR trong toàn tỉnh”. Kế hoạch này đã làm rõ, chi tiết, cụ thể hơn từng bước (10 bước) trong quá trình tổ chức GĐ,GR,KR, trong đó: Bước 4: Mở hội nghị chủ hộ (xóm, bản) để phổ biến chủ trương chính sách, hướng dẫn các hộ kê khai phần đất và rừng có và được giao theo Quyết định 315 (viết đơn xin GĐ,GR,KR);
Bước 6: Mở hội nghị chủ hộ lần 2. Công bố mức GĐ,GR,KR cho từng hộ và giải quyết những vướng mắc nội bộ trong từng xóm, từng bản; bước 7: Tiến hành giao ngoài thực địa và khoanh vẽ tính diện tích trên bản đồ. Gồm: Các hộ cùng với đại diện Hội đồng GĐ,GR,KR của xã ra thực địa xác định ranh giới.
Từ nội dung các văn bản trên cho thấy, công tác GĐ,GR,KR ở tỉnh Hòa Bình được quy định khá chặt chẽ, bảo đảm đúng Luật Đất đai và các quy định, hướng dẫn cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP của Chính phủ.
Nhưng trong quá trình triển khai thực hiện, một số địa phương, đặc biệt là chính quyền cấp xã lại không thực hiện đúng trình tự, nguyên tắc như văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của tỉnh, Sở TN&MT nên đã dẫn đến tình trạng cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp không đúng đối tượng, không bảo đảm tính dân chủ, công khai, từ đó nảy sinh khiếu kiện. Vụ việc xã Sủ Ngòi, thị xã Hòa Bình (nay là TP Hòa Bình) cấp GCNQSDĐ cho 3 cán bộ xã và 1 cán bộ Phòng Nông lâm thị xã Hòa Bình là một ví dụ.
Ông Đoàn Xuân Hợi, Chủ tịch xã Sủ Ngòi cho biết: “Khu đất đồi Thung Cả, Tạng Bưởi ở xa khu dân cư, địa hình khó khăn nên khi GĐ,GR,KR theo Nghị định 02/CP của Chính phủ, chính quyền xã chỉ giao theo phương pháp “ước tính” khoảnh và “áng chừng” diện tích và giao cho một số cán bộ xã, cán bộ thị xã. Đến năm 2001, xã mới tiến hành đo lại". Như vậy, khi triển khai GĐ,GR,KR đến chủ hộ, UBND xã Sủ Ngòi đã bỏ qua các quy định, các bước thực hiện theo kế hoạch, hướng dẫn của UBND tỉnh Hòa Bình.
Phương pháp GĐ,GR,KR trên khu đất Thung Cả, Tạng Bưởi của UBND xã Sủ Ngòi là "đi tắt" cho "đúng tiến độ". Cách làm này ai được lợi? cán bộ xã hay người nông dân?
Ông Nguyễn Văn Tiện, người đã tham gia trong chính quyền xóm 2 từ năm 1985 - 2008, trong đó có 13 năm làm Trưởng xóm 2; cuối năm 2008, ông Tiện mới chuyển sang làm cán bộ Mặt trận xóm.
Ông Tiện cho biết: “Trong suốt thời gian tham gia chính quyền xóm, tôi thường xuyên được dự các cuộc họp giao ban do UBND xã tổ chức để phản ánh tình hình an ninh trật tự, sản xuất của xóm và nghe chính quyền xã phổ biến chương trình công tác, chủ trương chính sách của cấp trên nhưng không được nghe nói đến chủ trương GĐ,GR ở khu đất Tạng Bưởi, Thung Cả.
Các hộ dân trong xóm không được tham dự cuộc họp nào để nghe Hội đồng GĐ,GR,KR của xã phổ biến, triển khai kế hoạch, phương án GĐ,GR ở 2 khu đất trên. Đặc biệt là 7 hộ dân chúng tôi đang canh tác trên khu đất Tạng Bưởi, Thung Cả không được chính quyền xã thông báo kê khai diện tích đất đang sản xuất và viết đơn xin nhận GĐ,GR. 7 hộ dân không chê đất khu Tạng Bưởi, Thung Cả xa khu dân cư mà không nhận đất.
Thực tế từ trước khi chưa có Nghị định 02/CP của Chính phủ, 7 hộ chúng tôi đã canh tác ổn định trên khu đất đó. Đến nay, 7 hộ vẫn trồng cây, trồng màu, trồng mía bình thường. Bản thân ông Hồi là “chủ đất” trên thửa đất của gia đình tôi, suốt 13 năm qua, gia đình tôi trồng cây, nuôi trâu bò ở đấy mà không ý kiến gì. Ông Hồi cũng chưa một lần đặt chân lên thửa đất gia đình tôi canh tác”.
Ông Nguyễn Văn Phong, xóm 2, bức xúc: “Tôi lên làm nương ở khu đất Tạng Bưởi từ đầu năm 1991. Đất vườn của tôi khai phá được rộng khoảng 3ha. Tôi đã đào hào bao quanh để chống lũ núi, chống trâu bò phá hoại và làm nhà để ở trông coi vườn, đầu tư canh tác. Suốt gần 10 năm (1991 - 2000), không thấy ai đến đo đất, cắm mốc phân chia ranh giới, không tranh chấp với ai. Ngày 3/8/2000, ông Việt, cán bộ lâm nghiệp; ông Sắng, Công an xã Sủ Ngòi và ông Tý, xưng danh là cán bộ Lâm trường Sông Đà lên lập biên bản, đình chỉ sản xuất, yêu cầu gia đình tôi đi nơi khác để giao đất cho Dự án 661 Lâm trường Sông Đà quản lý. Nay thì chúng tôi mới biết, họ đã lừa dân chúng tôi để chiếm đất”.
Ông Đinh Văn Hợp cho biết: “Các ông ấy (Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Văn Hồi, Đinh Văn Thỉnh, Nguyễn Xuân Việt - PV) được cấp GCNQSDĐ từ tháng 1/1998 mà không biết đất của mình ở đâu, ranh giới đến đâu? Rõ nhất là việc ông Đinh Văn Thỉnh, lúc đó là Chủ tịch xã và ông Nguyễn Xuân Việt, lúc đó là cán bộ lâm nghiệp xã đã đại diện cho chính quyền xã Sủ Ngòi làm hợp đồng cho ông Nguyễn Tiến Tý thuê đất lâm nghiệp của xã, trong khi chính ông Thỉnh và ông Việt đã được cấp GCNQSDĐ trên thửa đất của tôi và các gia đình khác từ tháng 1/1998.
Ông Thỉnh, ông Việt đã là chủ đất, tại sao bên A (bên giao đất) lại là UBND xã Sủ Ngòi? Mới đây nhất, ngày 29/5/2013, một số người lạ đã ngang nhiên đem máy ủi, máy xúc vào phá rừng cây của gia đình tôi, lúc đó ông Thỉnh có mặt ở đấy, tôi hỏi ông Thỉnh “ông có được bảo người đem máy vào phá vườn nhà tôi không” thì ông Thỉnh trả lời: “Không”. Đáng nói, ông Thỉnh cũng không can ngăn hay tỏ thái độ phản đối số người trên. Nếu ông Thỉnh là chủ khu đất đang bị phá, liệu ông có để yên cho họ phá cây, ủi đất”?
Đi chưa hết khu Tạng Bưởi, Thung Cả nhưng nhìn vườn mía xanh tốt, rừng cây keo, lát, xưa, xoan… xòe tán xum xuê, chúng tôi thấy khu đất này đã được các hộ dân bị “mất” đất đầu tư chăm bón chu đáo.
Ông Nguyễn Văn Phong, xóm 2, nói: “Cơm ăn, áo mặc của tôi nhìn vào khu đất này đấy. Hơn chục năm nay rồi, mùa nào thức ấy, không lúc nào đất được nghỉ. Vậy mà chính quyền xã lại nói, đất đầy cỏ lau lách không ai muốn nhận”?
Qua xác minh trên thực địa, đất hộ ông Hợp và hồ sơ GCNQSDĐ của ông là Đinh Văn Thỉnh và ông Bùi Đức Bảo thì diện tích đất ghi trong GCNQSDĐ và diện tích thực tế (đất vườn hộ ông Hợp) chênh lệch nhau rất lớn (diện tích trong GCNQSDĐ nhiều hơn diện tích đất thực tế). Đúng là giao đất trên giấy, tính diện tích trên trời.
Các ông: Đinh Văn Hợp, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Sỹ; các bà: Nguyễn Thị Thập, Nguyễn Thị Bản, Nguyễn Văn Chiến là chủ hộ của khu đất Tạng Bưởi, Thung Cả đều cho rằng, chính quyền xã Sủ Ngòi trong khi triển khai thực hiện chủ trương GĐ,GR,KR ở 2 khu đất trên không minh bạch, không dân chủ, không đúng với chủ trương, mục đích của Nghị định 02/CP của Chính phủ và của tỉnh Hòa Bình.
Các hộ đã kiến nghị TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình và các cơ quan chức năng của tỉnh cần xem xét lại việc cấp GCNQSDĐ của 3 cán bộ, nguyên là cán bộ xã Sủ Ngòi và 1 cán bộ nông lâm TP Hòa Bình để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho 7 hộ dân đã bị "mất" đất một cách vô lý.
Dư luận đang đặt câu hỏi: Việc chính quyền xã Sủ Ngòi, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình cấp GCNQSDĐ cho các 3 ông cán bộ xã, 1 cán bộ TP Hòa Bình có đúng luật? (Thanh Tra 28/9, tr4) đầu trang(
Tin từ Phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Gia Lai ngày 27.9 cho biết, đơn vị này vừa cùng lực lượng chức năng của huyện Ia Pa (Gia Lai) phát hiện hai bãi gỗ lớn và bắt giữ một xe chở gỗ khai thác lậu.
Cụ thể, ô tô 14L-8361 do tài xế Trần Duy Tuấn điều khiển đã chở 3,8 m3 gỗ cà chít, căm xe nhưng không xuất trình được giấy tờ. Theo lời khai của Tuấn, cơ quan chức năng tiếp tục phát hiện hai bãi gỗ lớn ước tính trên 20 m3 thuộc vùng rừng của H.Ia Pa. Vụ việc đang được điều tra, làm rõ. (Thanh Niên 28/9; Báo Gia Lai 28/9) đầu trang(s
9 tháng đầu năm 2013 Hạt Kiểm lâm huyện Cư Mgar đã tiếp nhận và xử lí 58 vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lí, bảo vệ rừng (giảm 7 vụ so với cùng kì năm 2012). Lực lượng kiểm lâm đã tịch thu được 264,929m3 gỗ các loại cùng nhiều tang vật.
Nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức bảo vệ rừng của người dân, trong 9 tháng qua Hạt Kiểm lâm huyện Cưmgar cũng đã phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức được 16 đợt tuyên truyền lưu động tại các xã EaKuêh, EaMDroh và những vùng trọng điểm.
Nội dung tuyên truyền chủ yếu tập trung vào một số Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lí, bảo vệ rừng, nâng cao hiểu biết của người dân trong công tác bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. (Daklak.gov.vn 27/9) đầu trang(
Chiều 25-9, qua kiểm tra hành chính nhà ông bà Khêu Ngọc Thành Trí và Lường Thị Hoa, trú thôn Tân Đức Tây, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tổ tuần tra Đồn Biên phòng Vạn Hưng Bộ đội Biên phòng tỉnh phát hiện 40 lồng nhựa bên trong có nhiều loại rắn.
Qua lời khai ban đầu của ông Trí, số tang vật trên là của một người quen tên Phương, không rõ địa chỉ, gửi ông hơn 10 ngày nay, chưa kịp mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện.
Đồn đã phối hợp với lực lượng chức năng tiến hành tạm giữ số tang vật trên; đồng thời hoàn chỉnh hồ sơ chuyển giao Hạt Kiểm lâm huyện Vạn Ninh xử lý. (Báo Khánh Hòa 27/9) đầu trang(
Ông Nguyễn Đình Toản - Phó Chủ tịch UBND huyện Ea Súp cho biết, khoảng 2 giờ sáng 27.9, đàn voi rừng khoảng 30 con đã rời khỏi khu vực thôn 5, thị trấn Ea Súp và di chuyển sang bên kia hồ Ea Súp Thượng - thuộc rừng phòng hộ do Cty TNHH MTV lâm nghiệp Chư M’lanh quản lý.
Trước đó, từ chiều tối 25.9, đàn voi này tiến vào khu vực sản xuất của người dân thị trấn Ea Súp. UBND huyện đã sơ tán 10 hộ dân thôn 5 ra khỏi khu khu vực nguy hiểm, đồng thời huy động lực lượng công an, quân đội, dân quân tự vệ đánh trống, gõ kẻng, đốt lửa… để xua đuổi voi.
Theo ông Toản, hiện đàn voi này không còn đe dọa thị trấn, song các hộ dân xâm canh trái phép trên đất rừng phòng hộ của Cty TNHH MTV lâm nghiệp Chư M’lanh vẫn có thể gặp nguy hiểm. (Tuổi Trẻ 27/9; Người Lao Động 27/9; Lao Động 27/9) đầu trang(
Không xử lý kỷ luật đối với ông Nguyễn Như Thuận, Phó bí thư thường trực huyện ủy Khánh Vĩnh mà yêu cầu ông Thuận nghiêm khắc rút kinh nghiệm.
Đó là nội dung được đưa ra tại hội nghị lần thứ 31 của Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Tỉnh ủy Khánh Hòa tổ chức ngày 26/9.
Tại hội nghị, UBKT Tỉnh ủy Khánh Hòa đã nêu khuyết điểm của ông Thuận là thiếu thận trọng để ông Phạm Thế Đoán lợi dụng cất giấu 18,9m3 gỗ bất hợp pháp tại cơ sở kinh doanh của gia đình. Sau khi bị Đội cơ động Kiểm lâm tỉnh kiểm tra, phát hiện đã gây dư luận không tốt trong cán bộ và nhân dân trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh.
Sau khi xem xét, quá trình công tác và thành tích của ông Thuận, UBKT Tỉnh ủy đã thống nhất không xử lý kỷ luật đối với ông Thuận.
Trước đó, ngày 7/4, Đội cơ động Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa phát hiện và bắt giữ hơn 130 hộp gỗ (được xẻ thành hộp hình chữ nhật) tại thôn Bố Lang, xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, trong số đó có rất nhiều hộp gỗ thuộc loại nguy cấp, quý hiếm như: pơ mu, hương, huỳnh đàn, gõ…
Tiếp tục kiểm tra cửa hàng đồ mỹ nghệ Bến Lội (thôn Bố Lang, xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh) lực lượng chức năng phát hiện cửa hàng đang chứa 3m3 gỗ thuộc nhóm 2A (nhóm nguy cấp quý hiếm); gần 10m3 gỗ thuộc nhóm thông thường. Mở rộng kiểm tra, phát hiện thêm cách xưởng mỹ nghệ trên khoảng 50m, đang cất giấu một lượng gỗ rất lớn ở mép suối, với khối lượng gần 13m3, trong đó có khoảng 6m3 gỗ thuộc nhóm 2A...
Đây là lần đầu tiên một lượng lớn gỗ quý hiếm không rõ nguồn gốc bị xẻ hộp vuông vức chuyển ra khỏi rừng bị phát hiện tại Khánh Vĩnh.
Ông Phạm Thế Đoán, đại diện cửa hàng đồ mỹ nghệ Bến Lội tại thời điểm đó đã nhận là chủ số gỗ trên, tuy nhiên ông này lại không xuất trình được giấy tờ hợp lệ. Qua điều tra, cơ quan chức năng phát hiện cửa hàng Bến Lội này do vợ ông Nguyễn Như Thuận đứng tên.
Từ ngày 10/5 đến tháng 8/2013, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khánh Hòa kiểm tra dấu hiệu vi phạm về công tác quy hoạch bố trí cán bộ và tàng trữ gỗ quý không được phép khai thác đối với ông Nguyễn Như Thuận.
Liên quan đến vụ việc này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa cũng đã kiểm điểm một số cán bộ kiểm lâm địa phương vì đã để một khối lượng gỗ lớn gỗ quý “ngang nhiên” lọt rừng đưa về cửa hàng mỹ nghệ của vợ Phó bí thư thường trực huyện ủy mà không bị phát hiện. (Khám Phá 27/9) đầu trang(
Không chỉ gom trắc khô bán cho thương lái Trung Quốc, một số người ở Tánh Linh còn lùng mua cây trắc tươi để làm cảnh vì cho rằng trắc mang lại phát đạt, hạnh phúc.
Một tháng nay, Hạt Kiểm lâm Tánh Linh liên tục bắt nhiều vụ vận chuyển trắc. Nổi lên là vụ bắt 1,7 tấn trắc tại xã Gia An nhưng không tìm được chủ. Toàn là những khúc, đoạn, rễ của những cây trắc khô tại các vùng rừng, rẫy nhà dân. Hạt Kiểm lâm Tánh Linh nhìn nhận, khoảng 10 ngày nay việc mua bán chựng lại và có thông tin thương lái Trung Quốc không mua nữa. Vì vậy, những nậu vựa nào đang gom hàng sẽ phá sản, tình trạng này không mới, vì trước đây đã diễn ra với một số mặt hàng như cua đá…
Trong khi đó, chuyện mua cây trắc để làm cảnh lại đang nổi lên. Theo Hạt Kiểm lâm Tánh Linh, những ngày qua, Hạt đã bắt 3 vụ vận chuyển cây trắc làm cảnh, vì không đủ giấy tờ chứng minh trắc mua từ vườn nhà, trang trại của dân. Hạt cũng cho hay, nhiều người đang có xu hướng mua cây trắc làm cảnh vì cho rằng cây trắc mang lại phát đạt, hạnh phúc cho gia chủ. (Báo Bình Thuận 27/9) đầu trang(
Vừa qua, tại cánh rừng thuộc địa phận thôn Nà Sát, xã Thanh Thủy, Huyện Vị Xuyên, tổ công tác liên ngành của tỉnh, gồm các lực lượng: Kiểm lâm, công an, Hải Quan, biên phòng đã phát hiện và bắt giữ vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Nhận được tin báo của nhân dân, tại cánh rừng thôn Nà Sát, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên, có một số đối tượng đang vận chuyển lâm sản. Tổ công tác liên ngành của tỉnh đã tiến hành xác minh và phát hiện các đối tượng đang vận chuyển gỗ nghiến đi theo hướng từ xã Phong Quang đến xã Thanh Thủy.
Qua tiếp cận, tổ công tác đã bắt giữ đối tượng nữ Mùng Thị Din, sinh năm 1969, trú tại thôn Nà Sát, xã Thanh Thủy, cùng 12 khúc gỗ nghiến tròn cắt khúc (dạng thớt).
Qua đấu tranh khai thác, đối tượng khai nhận số gỗ trên được khai thác tại xã Phong Quang, huyện Vị Xuyên. Lực lượng chức năng đã lập biên bản đối với đối tượng Mùng Thị Din, thu giữ toàn bộ số gỗ tang vật nói trên để điều tra, làm rõ. Trước đó, vào ngày 25/9, Tổ công tác liên ngành của tỉnh, cũng đã tiến hành lập biên bản, thu giữ 10 khúc gỗ nghiến tròn cắt khúc (dạng thớt), vô chủ, tại thôn Giang Nam, xã Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên.
Qua vụ việc trên cho thấy công tác quản lý rừng ở Vị Xuyên, Hà Giang còn nhiều lỏng lẻo, đặc biệt là Ban quản lý rừng đặc dụng Phong Quang. Bởi, đây là một trong rất nhiều vụ Lực lượng chức năng đã phát hiện và thu giữ số lượng gỗ có nguồn gốc từ rừng đặc dụng Phong Quang. (VOV 28/9) đầu trang(
Báo Pháp Luật&Xã Hội từng có bài phản ánh về thực trạng dân lấn chiếm rừng của lâm trường trái phép và lâm tặc hoành hành tàn phá rừng nguyên sinh Bồng Lai ở huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình khiến hàng trăm hec-ta rừng bị tàn phá không thương tiếc. Thay bằng việc vào cuộc kiểm tra, xử lý, ngăn chặn việc khai thác rừng trái phép bừa bãi thì chính quyền cũng như các tổ chức làm công tác bảo vệ rừng lại “đùn đẩy” trách nhiệm cho nhau.
Ngày 9-8-2011, UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 1894/QĐ-UBND về việc chuyển rừng nghèo sang trồng cao su, cho phép chuyển 701,7 hec-ta rừng tự nhiên nghèo thuộc quy hoạch rừng sản xuất chuyển sang trồng cao su do Cty TNHH MTV LCN Bắc Quảng Bình làm chủ đầu tư, lâm trường Bồng Lai là đơn vị thi công. Lâm trường này đã tiến hành phát dọn, khai thác gỗ trong diện tích rừng chuyển đổi theo QĐ của UBND tỉnh.
Thế nhưng, khi Lâm trường là chủ rừng cũng là đơn vị bỏ vốn đầu tư để chuyển đổi khu rừng đầu nguồn này thành rừng sản xuất chưa kịp làm gì thì hàng trăm hec-ta rừng đã bị chặt phá và trồng cây keo lai. Vậy, ai là kẻ phá rừng? Nhưng điều đáng quan tâm là rừng Bồng Lai có phải là rừng nghèo hay không? Sau khi thu dọn “chiến trường” để chuyển đổi từ rừng nghèo sang trồng cao su thì “chiến lợi phẩm” bỏ ở đâu? Sao lâm tặc vẫn có vị trí trong đó?
Theo điều tra của PV thì tại các khu rừng nói trên tình trạng chặt phá rừng tràn lan bừa bãi ngay trước mặt trạm Kiểm lâm, ban bảo vệ rừng. Gỗ được khai thác trái phép không cần phải cất dấu mà người dân và lâm tặc bỏ khắp nơi trong thôn, bản ai cũng có thể nhìn thấy và mua bán.
Xin được nói tất cả các loại gỗ mà PV ghi hình lại được đều không có đóng dấu của cơ quan chuyên môn thì đồng nghĩa với gỗ lậu. Vậy tại sao lại có tình trạng này? Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi đã có buổi làm việc với lãnh đạo Lâm trường Bồng Lai.
Ông Nguyễn Viết Mười – Giám đốc Lâm trường cho biết: “Hiện đơn vị có 18 người bảo vệ trên 1000 ha, lực lượng mỏng nên việc phát hiện người dân chặt phá rừng là rất khó. Vấn đề này trách nhiệm thuộc về chủ rừng, nhưng chúng tôi lực bất tòng tâm, anh em cán bộ đã cố gắng hết sức nhưng thường xuyên bị các đối tượng tấn công. Nhưng khó khăn nhất là phòng chống lấn chiếm vì vấn đề này dàn trải qua nhiều năm, nên khó xử lý.
Hàng năm, đơn vị cũng đã tuần tra kiểm soát các vụ chặt phá rừng kể cả có chủ và không có chủ có khoảng 25 – 30 vụ, nhưng vẫn không thể xử lý được. Chúng tôi kiến nghị với UBND huyện, xử lý nghiêm, triệt để các vụ việc mà đơn vị đã báo cáo hỗ trợ thêm về lực lượng để kết hợp với Lâm trường, tìm phương án giải quyết việc làm cho người dân sinh sống xung quanh rừng …”.
Với cách trả lời này, phải chăng Lâm trường được Nhà nước và nhân dân giao phó trong công tác bảo vệ rừng đành “bó tay” trước tình trạng lâm tặc và người dân phá rừng trái pháp luật sao? Con số bị phát hiện và xử lý như thế là quá nhỏ so với thực tế.
Trước tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng, lâm tặc hoành hành, UBND tỉnh Quảng Bình và các đơn vị có liên quan đã có rất nhiều hình thức xử phạt. Cụ thể, tính riêng năm 2012, Lâm trường Bồng Lai đã lập hồ sơ 21 vụ chặt phá rừng, lấn chiếm đất trên diện tích chuyển đổi cao su. Trong số đó, có 5 vụ UBND tỉnh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền lên đến 185 triệu đồng. Thế nhưng, cho tới nay vẫn chưa giải quyết và xử lý dứt điểm được một trường hợp nào.
Tại sao pháp luật không được thực thi, trong khi mọi việc đã hai năm rõ mười. Phải chăng “có vấn đề” gì uẩn khúc ở trong này? Đã ra QĐ xử lý mà không thi hành liệu tính nghiêm minh của pháp luật có bị “xâm phạm” không? Trong vấn đề này hơn ai hết các cơ quan thực thi pháp luật ở tỉnh Quảng Bình phải thấy rõ vai trò của mình trong việc xử lý các cá nhân, tập thể thậm chí cả tổ chức để làm gương cho những kẻ dám xem thường pháp luật.
Ông Trần Quang Vũ – Phó Chủ tịch UBND huyện Bố Trạch cho biết: “UBND huyện đã lập các đội liên ngành kiểm tra, giúp chính quyền địa phương xem xét xử lý vi phạm hành chính hay khởi tố tùy theo mức độ vụ việc.
Trên thực tế, sau khi Kiểm lâm xử lý thì đã chuyển qua công an 10 vụ để điều tra khởi tố còn lại thì xử lý hành chính. Nhưng quá trình điều tra khởi tố đang gặp rất khó khăn vì nhiều lý do, người vi phạm không hợp tác, đi làm ăn xa. Để xảy ra vấn đề trên, trách nhiệm trước tiên thuộc về chủ rừng, đơn vị chủ rừng chưa tuân thủ theo đúng quy trình, đối tượng giao rừng…”. (Pháp Luật&Xã Hội 27/9) đầu trang(
Sáng 28/9, Công an huyện Diễn Châu, Nghệ An cho biết, vừa bắt giữ vụ vận chuyển hơn 1,3 tấn gỗ trắc từ Lào về Nghệ An.
Trước đó, ngày 25/9, đội CSGT, Công an huyện Diễn Châu khi làm nhiệm vụ tại địa bàn thị trấn Diễn Châu phát hiện xe khách mang BKS Lào đang lưu thông trên Quốc lộ 1A qua thị trấn Diễn Châu với nhiều dấu hiệu nghi vấn.
Ngay lập tức, chiếc xe được ra hiệu lệnh dừng để kiểm tra. Qua kiểm tra, tài xế Lê Hồng Bắc (trú xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu) điều khiển ô tô không có giấy phép lái xe. Ngay lập tức, chiếc xe khách cùng tài xế được đưa về trụ sở Công an huyện Diễn Châu làm rõ.
Tại đây, kiểm tra trên xe, công an phát hiện những thanh gỗ trắc được dấu kín trên nóc xe có trọng lượng 400kg (gỗ trắc) không có giấy tờ hợp pháp. Tài xế khai, số gỗ được vận chuyển từ Lào về Nghệ An để tiêu thụ thì bị bắt.
Tài xế cũng khai nhận, chủ xe là ông Lê Hồng Lau (trú xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu), còn mình là người làm thuê cho nên không biết số gỗ trên.
Chưa dừng lại ở đó, ngày 27/9, Công an huyện Diễn Châu tiếp tục kiểm tra kỹ chiếc xe và phát hiện hơn 900kg gỗ trắc.
Điều đáng nói, khi kiểm tra lần hai, các cảnh sát khá bất ngờ khi ngay trên trần của xe chủ xe đóng thêm những chiếc hộp để dấu hàng nhằm qua mắt cơ quan chức năng.
Hiện Công an huyện Diễn Châu đã kiến nghị xử phạt hành chính 15 triệu đồng đối với chủ xe, đồng thời số gỗ trắc trên giữ lại để sau này bán đấu giá. (VOV 28/9; Lao Động 28/9) đầu trang(
UBND tỉnh Tây Ninh vừa có văn bản từ chối chủ trương xin thuê đất rừng sản xuất tại tiểu khu 70, 71 xã Hòa Hội, huyện Châu thành của Công ty TNHH Lâm Nghiệp Phát và Công ty TNHH Hải Đăng do không phù hợp với chủ trương giao đất, giao rừng của tỉnh đối với các tổ chức kinh tế trong và ngoài tỉnh.
Trước đó, hai công ty là Lâm Nghiệp Phát và Hải Đăng có văn bản xin thuê trên 1.000 ha rừng sản xuất tại tiểu khu 70,71 thuộc xã biên giới Hòa Hội, huyện Châu Thành sử dụng vào mục đích khoanh nuôi, bảo vệ, phát triển rừng kinh tế, trồng cây dược liệu; trang trại nuôi động vật hoang dã kết hợp trồng rừng và vườn thú du lịch với thời hạn xin thuê là 50 năm.
Lý do từ chối hai công ty trên của Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh đề xuất với UBND tỉnh nêu rõ, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh hiện nay là rừng phòng hộ và đặc dụng, rừng sản xuất chỉ chiếm phần diện tích nhỏ và phân bổ không tập trung.
Hơn nữa, tại tiểu khu 70, 71 xã Hòa Hội, huyện Châu Thành đang được UBND huyện triển khai thực hiện dự án hỗ trợ cho người dân địa phương trồng rừng sản xuất, tiến tới sẽ giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng, ổn định cuộc sống lâu dài, kết hợp giữ vững an ninh khu vực biên giới.
UBND tỉnh Tây Ninh cho biết: Tỉnh ưu tiên thực hiện dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất theo Quyết định số 174/2007 của Thủ tướng, tiến tới giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích phát triển lâm nghiệp. (Tamnhin.net 28/9) đầu trang(
Đến trưa 27-9, lực lượng chức năng huyện Đông Hoà, tỉnh Phú Yên mới đưa được xe tải 61L-7643 cùng tang vật là hơn 30 khúc gỗ sơn huyết (hơn 1m3) về công an huyện này để điều tra về nguồn gốc số gỗ trên.
Theo UBND xã Hoà Hiệp Trung (huyện Đông Hoà), khoảng 1 giờ sáng cùng ngày, lực lượng tuần tra của xã phát hiện xe tải 61L-7643 trong tình trạng trật 2 bánh, nằm nghiêng bên bờ ruộng, hơn 10 khúc gỗ vương vãi ra đường, gây nguy hiểm cho người và phương tiện lưu thông khác.
Nghi có dấu hiệu vi phạm, lực lượng chức năng kiểm tra khu dân cư gần đó thì phát hiện thêm hơn 20 khúc gỗ khác được tẩu tán, cất giấu trong nhà dân.
Theo nhận định của UBND xã Hoà Hiệp Trung, vào thời điểm trên, xe tải này chở gỗ lậu lưu hành trên Quốc lộ 29, khi đến chân cầu Bi thuộc xã Hoà Hiệp Trung thì rẽ sang đường nội đồng để vào khu dân cư trút gỗ.
Tuy nhiên, do không làm chủ tốc độ, tài xế đã để xe trật bánh xuống ruộng nên tẩu tán gỗ để thoát thân. Hiện chưa có cá nhân nào nhận là chủ số gỗ nói trên. (Người Lao Động 28/9; Quân Đội Nhân Dân 27/9; An Ninh Thủ Đô 27/9) đầu trang(
Trước đây, cây nhội tía chẳng hề được lâm tặc ngó ngàng, bởi gỗ của loại cây này thuộc nhóm 6, chẳng có “số má” gì trong hàng lâm sản. Thế nhưng từ khi cây nhội tía được Trung Quốc thu mua giá cao, lập tức chúng lọt vào tầm ngắm của lâm tặc.
Ông Nguyễn Đình Thanh, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Bình Định cho biết: Trong tháng 7 vừa qua, lâm tặc tổ chức khai thác trái phép 4 cây nhội tía tại khu vực 72 Đồi Tranh nằm trên địa bàn xã Đăk Mang thuộc huyện Hoài Ân (vùng rừng giáp ranh với huyện Kbang, Gia Lai). Được tin, lực lượng Cảnh sát kinh tế (Công an tỉnh Bình Định) liền phối hợp với ngành Kiểm lâm tổ chức chốt chặn trên đường ĐT 631, tuyến từ Hoài Ân đi Phù Mỹ qua đèo Mằng Lăng để mai phục lâm tặc vận chuyển những cây nhội tía về xuôi.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân, sau khi thu giữ, số cây nhội tía nói trên được đưa ra bán đấu giá, một doanh nghiệp trên địa bàn đã đấu trúng với giá hơn 160 triệu đồng. Tuy nhiên, theo giới chuyên buôn bán cây nhội tía sang thị trường Trung Quốc thì đó là một cái giá quá “bèo”, bởi chi phí cho một cây từ lúc khai thác đến khi đưa được ra khỏi rừng phải tốn đến hơn 50 triệu đồng.
Nếu như ở huyện Hoài Ân lâm tặc đang săn lùng cây nhội tía trong những khu rừng sâu thì ở huyện An Lão, loại cây này đang được cho phép khai thác. Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Bình Định, ông Nguyễn Đình Thanh cho hay: “Trong thời gian gần đây, UBND huyện An Lão xin ngành chức năng cho phép khai thác tận thu một số cây nằm trên nương rẫy của người dân đang canh tác, trong đó có cây nhội tía”.
Theo ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão thì hiện nay, trên địa bàn huyện này có đến 3 công ty là Long Quân (An Lão), Đức Hằng (Hoài Nhơn) và Thiên Phú (Đăk Lăk) đang được phép khai thác những loại cây tận thu như ké, nhội tía.
Tuy nhiên, theo tìm hiểu của PV, trong số 3 công ty nói trên, Cty Thiên Phú chỉ chuyên “săn” cây nhội tía. Anh Th, một người dân địa phương được Cty Thiên Phú thuê thực hiện khai thác, vận chuyển cây nhội tía trong thời gian qua, cho biết: Sau khi khai thác, những cây nhội tía được vận chuyển ra Móng Cái (Quảng Ninh), sau đó được đưa sang Trung Quốc bán với cái giá vài trăm triệu đồng 1 cây.
Theo nhiều chuyên gia trong ngành lâm nghiệp, nhội tía là loại cây chuyên giữ nước, cánh rừng nào có loại cây nhội tía sẽ tạo được môi trường rất tốt. Không chỉ vậy, cây nhội tía còn là nguồn dược liệu quí. Hiện nay tại Trung Quốc, vỏ thân và rễ cây nhội tía đã được sử dụng làm thuốc trị phong thấp, đau nhức xương khớp. Lá nhội tía đang được nghiên cứu để trị ung thư đường tiêu hóa và chữa viêm gan, viêm phổi, viêm hầu họng và dùng ngoài trị mụn nhọt, lở ngứa. Ngành y ở Ấn Độ cũng đã dùng dịch ép của lá nhội tía làm thuốc trị loét.
Ông Trần Trung Miên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn, cho biết: “Trong những lần đi kiểm tra rừng, mỗi khi mệt mà gặp được cây nhội tía kể như là gặp “thuốc khỏe”. Bởi đứng nghỉ dưới những tán cây nhội tía sẽ cảm nhận được không khí mát dịu hơn so đứng dưới những loại cây cây cổ thụ khác”.
“Ngày 25/9, UBND tỉnh Bình Định có văn bản chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh này chuyển giao toàn bộ hồ sơ vụ tịch thu số cây nhội tía tại huyện Hoài Ân cho Thanh tra tỉnh. Đồng thời chỉ đạo cho Thanh tra tỉnh Bình Định chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra và đề xuất việc xử lý tịch thu số cây nhội tía khai thác trái phép nêu trên”. (Nông Nghiệp Việt Nam 27/9) đầu trang(
Liên quan đến vụ dân nằm vạ tại tòa án vì không xử kiểm lâm ở Bình Thuận, ngày 27/9, TAND huyện Hàm Thuận Bắc đã đưa 2 kiểm lâm viên ra xét xử và tuyên phạt Lê Hữu Khang (kiểm lâm viên địa bàn xã La Dạ) mức án 2 năm tù; Phạm Thanh Trung (kiểm lâm viên địa bàn xã Đông Giang) mức án 1 năm tù về hành vi “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ”.
Như đã phản ánh, năm 2010, Bùi Văn Phượng (ngụ xã Tân Lập, Hàm Thuận Nam) đã tổ chức cho hàng chục đối tượng dựng lều trại ở khu vực thôn 1, xã La Dạ khai thác trái phép hơn 146m3 gỗ và vận chuyển về Đồng Nai tiêu thụ. Việc vận chuyển gỗ về Đồng Nai qua con đường độc đạo ĐT 714 có 2 chốt kiểm lâm địa bàn. Vụ việc sau đó bị phát hiện và Phượng cùng 12 người khác bị khởi tố về hành vi “vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”.
Quá trình điều tra, các đối tượng tố cáo hai kiểm lâm địa bàn nói trên đã nhận tiền “bôi trơn” để gỗ được khai thác, vận chuyển đi tiêu thụ trót lọt.
Cuối năm 2012, tòa án huyện Hàm Thuận Bắc đưa các bị can phá rừng ra xét xử và tuyên mức án từ 9 tháng tù ''treo'' đến 5 năm tù giam. Cho rằng tòa bỏ lọt tội kiểm lâm, hàng trăm người - trong đó có người thân các bị can - đã nằm vạ tại tòa đến 22h trong ngày xét xử. (Lao Động 28/9) đầu trang(
Dư luận Phố núi gần đây râm ran chuyện Công ty TNHH 30-4 Gia Lai đã “bán” hết vườn cao su cho một doanh nghiệp tư nhân khác.
Có người cho rằng, doanh nghiệp tư nhân họ muốn bán vườn cao su cho người khác là chuyện bình thường. Nhưng có người bức xúc, vì dự án chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên được Chính phủ chủ trương phải giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo ưu tiên cho người dân tộc thiểu số tại chỗ chứ không phải mua đi bán lại trục lợi.
Trước khi lập dự án, giao đất chuyển rừng, các doanh nghiệp cũng đã cam kết phải thực hiện đầy đủ các quy định về triển khai dự án, ưu tiên tuyển người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân để xóa đói giảm nghèo…
Ông Nguyễn Sinh- Chủ tịch Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Công ty TNHH 30-4 Gia Lai cho biết, doanh nghiệp không bán vườn cao su mà chỉ chuyển giao theo kiểu “góp vốn liên doanh”.
Cụ thể là toàn bộ diện tích vườn cao su, nhà đất được UBND tỉnh Gia Lai quyết định giao đất cho Công ty TNHH 30-4, chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su tại các dự án trồng cao su xã Ia Pnôn (huyện Đức Cơ) 849 ha; dự án trồng cao su tại xã Ia Ga (huyện Chư Prông) 1.234,4 ha, với tổng giá trị 92,4 tỷ đồng được doanh nghiệp góp vốn liên kết với Công ty Kinh doanh Xuất nhập khẩu Quang Đức.
Theo hợp đồng góp vốn giữa 2 công ty, từ tháng 9-2012, Công ty Kinh doanh Xuất nhập khẩu Quang Đức là chủ đầu tư mới của các dự án cao su do Công ty TNHH 30-4 giao và toàn quyền quản lý, sử dụng, đăng ký, điều chỉnh, thay đổi chủ đầu tư dự án… Cũng theo ông Nguyễn Sinh, việc chuyển giao toàn bộ các dự án cao su này là do doanh nghiệp khó khăn về vốn để tiếp tục đầu tư…
Bên cạnh việc chuyển dự án theo kiểu liên kết góp vốn đầu tư, nhiều doanh nghiệp tư nhân triển khai dự án chuyển rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên không thực hiện đúng cam kết như ban đầu. Cụ thể, việc tuyển công nhân người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm ở các doanh nghiệp rất ít.
Theo thống kê của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Gia Lai, 12 doanh nghiệp tư nhân có dự án cao su chỉ tuyển 85 người dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân, trong khi đó số lao động cần tuyển theo định mức 5 ha/công nhân là trên 2.900 người…
Tại nhiều cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Thế Dũng chỉ đạo ngành Lao động-Thương binh và Xã hội, UBND các huyện, thị xã và các đơn vị có dự án trồng cao su phải nghiêm túc thực hiện việc tiếp nhận đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su để xóa đói giảm nghèo, ổn định cuộc sống.
Chính quyền địa phương và ngành chức năng cần phối hợp rà soát danh sách người dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn có nhu cầu làm công nhân cao su và đề nghị đăng ký giới thiệu cho các doanh nghiệp sử dụng. Trường hợp ngay tại địa bàn không có người dân tộc thiểu số tại chỗ mới được tiếp nhận đồng bào ở địa bàn khác.
Trong trường hợp các doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết về đầu tư phát triển dự án cao su, xóa đói giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số tại chỗ thì cần thiết phải thu hồi dự án… nhưng thực tế đến nay, bài toán giải quyết người lao động dân tộc thiểu số tại chỗ vào làm công nhân cao su ở các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa có lời giải. Vì theo một số doanh nghiệp thì người dân tộc thiểu số không muốn vào làm công nhân.
Bên cạnh đó, mặc dù gỗ rừng tự nhiên trong các dự án chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su ở Gia Lai đã diễn ra từ năm 2008 đến nay nhưng hiện vẫn còn nhiều doanh nghiệp chây ỳ không chịu trả tiền mua gỗ cho tỉnh. Theo thống kê của Sở Tài chính, tổng số tiền nợ của các doanh nghiệp mua gỗ còn nợ ngân sách nhà nước trên 9,1 tỷ đồng. Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng, chủ rừng tiến hành các biện pháp đòi nợ, kiện ra tòa để buộc các doanh nghiệp trả nợ. (Báo Gia Lai 28/9) đầu trang(
Tòa án nhân huyện Lạc Dương vừa tuyên án bị cáo Rơ Ông Ha Lock, trú tại thôn Lán tranh xã Đưng Knơh 9 tháng tù giam, do vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng.
Bị cáo Rơ ông Klock trước đây đã từng bị Hạt kiểm lâm huyện xử phạt hành chính về tội phá rừng. Tuy nhiên, bị cáo đã không nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mà còn tiếp tục tham gia phá rừng với diện tích lớn.
Cụ thể, vào tháng 3/2013, bị cáo Rơ Ông Ha Lock đã chặt phá hơn 7.000m2 rừng phòng hộ tại tiểu khu 75 xã Lát, gây thiệt hại về lâm sản và môi trường là hơn 540 triệu đồng.   Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương đã tuyên án bị cáo Rơ Ông Ha Lock  9 tháng tù giam, do vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng. (Đài PT - TH Lâm Đồng 28/9) đầu trang(
Ông Lê Thế Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa thừa nhận: “Chúng tôi vừa mới “duyệt” cho Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 bán hơn 3 mét khối gỗ bằng hình thức “bán chỉ định”, không qua đấu giá như pháp luật đã quy định.
Vụ việc trên được phát hiện vào ngày 26/9, khi lực lượng Quản lý thị trường và CA Thanh Hóa tiến hành kiểm tra chiếc xe ô tô mang BKS: 36L-6746 tại khu vực khuôn viên Hồ Thành, phường Tân Sơn (TP. Thanh Hóa), phát hiện một số lượng gỗ lớn trên xe ôtô này.
Sau bị lực lượng chức năng phát hiện, chủ phương tiện cho biết, số gỗ trên vừa được phía Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa) mở kho “xuất hàng”. Qua kiểm tra chứng từ cho thấy: Số gỗ trên xe này là lâm sản sau xử lý tịch thu sung quỹ Nhà nước, mà Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 bắt giữ trước đó.
Được biết, ông Nguyễn Văn Hùng, Đội trưởng Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 là người ký tên, đóng dấu vào chứng từ bán hơn 3 mét khối gỗ (gồm các loại gỗ Giáng Hương, Sao Đen) nói trên, với tổng số tiền 31.008.000 đồng.
Trước vụ việc này, trao đổi với PV vào chiều ngày 27/9, ông Lê Thế Long, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa thừa nhận: “Chúng tôi vừa mới “duyệt” cho Đội Kiểm lâm Cơ động và PCCCR số 1 bán hơn 3 mét khối gỗ bằng hình thức “bán chỉ định”. Người mua số gỗ trên là ông Lê Đình Lan, Phó trưởng Công an phường Tân Sơn (TP. Thanh Hóa), mà không qua đấu giá.
Thực ra, Nhà nước cũng không cấm việc bán lâm sản sau xử lý tịch thu bằng hình thức “bán chỉ định” đâu. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ bán bằng hình thức “chỉ định” cho những người nào vì mối quan hệ, hay vì tình cảm nể nang nhau thôi. Còn đại đa số lâm sản sau xử lý tịch thu để sung quỹ Nhà nước đều được bán bằng hình thức đấu giá. Việc bán bằng hình thức chỉ định như thế không phải bây giờ mới có, mà thực tế nó đã có tiền lệ từ các đời lãnh đạo trước rồi”.
Tuy ngay từ lúc mới trao đổi với PV, ông Long khẳng định Nhà nước không cấm việc bán lâm sản sau xử lý tịch thu bằng hình thức “bán chỉ định”. Song, vào giữa buổi trao đổi, ông Long lại nhìn nhận: “Đúng ra là phải bán đấu giá, chứ bán như thế là sai, là chưa đúng quy định, nhưng xuất phát từ việc nể nang trong các mối quan hệ, nên chúng tôi mới làm như vậy”. (Pháp Luật&Xã Hội 27/9; Người Đưa Tin 30/9) đầu trang(
Bạn đọc Nguyễn Ngọc Minh ở huyện Ba Tơ phản ánh tới Thông tin từ đường dây nóng báo Quân Đội Nhân Dân: Hiện nay, rừng thông thuộc huyện Ba Tơ đang bị một số người dân chặt phá để lấy đất trồng keo nguyên liệu. (Quân Đội Nhân Dân 28/9) đầu trang(
Từ khi thương lái Trung Quốc đẩy cao giá thu mua, nhiều người dân ở tỉnh Quảng Nam phá rừng, cải tạo ao hồ để nuôi tôm, bất chấp cảnh báo của chính quyền địa phương
Những ngày này, đi dọc con đường ven biển của tỉnh Quảng Nam, nhất là đoạn từ xã Tam Thanh (TP Tam Kỳ) đến xã Tam Tiến (huyện Núi Thành), đâu đâu cũng bắt gặp cảnh xe múc, xe ủi đào ao nuôi tôm.
Gần đây, nhiều diện tích rừng dương phòng hộ ven biển ở xã Tam Tiến đã bị người dân đốn hạ. Sau khi hạ sát rừng dương, mặc cho trời mưa, nhiều người gấp rút đào ao thả tôm nuôi.
Ông Nguyễn Hữu Thọ (ngụ thôn 2, xã Tam Tiến) lý giải: Thấy nhiều người trong thôn lãi cao, ông đầu tư 150 triệu đồng nuôi tôm thẻ chân trắng. “Nếu thuận lợi, chỉ cần trúng một vụ là có thể lãi khoảng 100 triệu đồng” - ông Thọ hy vọng. Cùng xã, ông Huỳnh Văn Tính (ngụ thôn 3) cho biết thấy nhiều người phá rừng nuôi tôm, ông vay gần 100 triệu đồng cải tạo hơn 1 sào đất trồng khoai trước đây thành ao nuôi tôm. “Vợ chồng tôi cũng lo lắm. Mình chưa có kinh nghiệm, cũng không biết sau này có bán tôm được không nhưng thấy nhiều người làm, mình cũng làm” - ông Tính nói.
Anh Nguyễn Ngọc Phú (ngụ thôn 2, xã Tam Tiến) cho biết: “Nuôi thì nuôi nhưng vẫn lo, thương lái Trung Quốc “chơi” mình nhiều lần rồi. Vả lại, vốn đầu tư phải vay nên lo lắm”.
Ông Nguyễn Giúp, Chủ tịch UBND xã Tam Tiến, cho biết vài tháng qua, giá tôm trên địa bàn bị thương lái Trung Quốc đẩy lên rất cao nên nhiều người dân bất chấp cảnh báo của chính quyền địa phương, chặt phá rừng dương phòng hộ ven biển để đào ao nuôi tôm. Để xử lý, chính quyền xã đã lập biên bản, tịch thu tang vật nhiều vụ nhưng vẫn chưa cải thiện được tình hình. Lực lượng chức năng kiểm tra ban ngày thì họ chuyển sang phá rừng, đào ao vào ban đêm. Vì vậy, ngoài tuyên truyền, xã chỉ còn cách báo cáo lên cấp trên để chờ phương án xử lý hiệu quả hơn.
Ông Đặng Hồng Võ, chủ hộ nuôi tôm thẻ chân trắng ở thôn 5, xã Tam Hòa, huyện Núi Thành, cho biết một kg tôm thẻ chân trắng khoảng 70 con hiện bán được gần 160.000 đồng, trong khi vào thời điểm này năm trước, chỉ bán được 110.000 đồng. “Lâu nay, mỗi khi được mùa, người nuôi thường bị tư thương ép giá. Nay giá tôm liên tục tăng từ đầu năm. Lần đầu tiên, chúng tôi thấy vừa được mùa vừa được giá” - ông Võ bộc bạch.
Ông Nguyễn Văn Sanh (ngụ xã Tam Hòa) cho biết trước đây thương lái trong nước rất “kén” hàng. Ngược lại, thương lái Trung Quốc thu mua giá cao lại không quan tâm đến việc kiểm soát kháng sinh trong quá trình nuôi tôm.
Ông Nguyễn Giúp nhận định: Giá tôm tăng vọt có thể dẫn đến nhiều hệ lụy như ngành chế biến thủy sản trong nước thiếu nguyên liệu, mất thị trường xuất khẩu, ngưng trệ sản xuất. Ngư dân bỏ ngư trường, vào bờ nuôi tôm. Khi đầu ra lệ thuộc nhiều vào thương lái Trung Quốc, họ sẽ giảm giá thu mua... (Người Lao Động 29/9) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
“Giao Bộ Công Thương rà soát để đưa các thủy điện Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A ra khỏi quy hoạch được duyệt, báo cáo Thủ tướng”. sChỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có thể xem là một phán quyết kết thúc câu chuyện dài về 2 dự án thuỷ điện “kỳ lạ”.
“Kỳ lạ” bởi từ trước đến nay, chưa có dự án thủy điện nào bị dư luận, giới khoa học trong và ngoài nước phản đối nhiều như 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A. “Kỳ lạ” bởi trong suốt 3 năm, các bộ, ngành trung ương, cơ quan của Quốc hội phải tốn rất nhiều công sức khảo sát thực địa, tổ chức hội thảo để đánh giá “được và mất” nếu triển khai 2 dự án thủy điện này. Sự “kỳ lạ” còn nằm ở chỗ vì sao chủ đầu tư cứ quyết liệt đeo bám đến cùng dù biết rằng 2 dự án này sẽ như nhát dao chọc vào Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên - báu vật của Việt Nam và của thế giới.
Tìm nguồn năng lượng để phục vụ phát triển đất nước là cần thiết nhưng không phải bằng mọi giá. Việc phát triển “nóng” thủy điện trên cả nước thời gian qua đang dần bộc lộ nhiều bất cập, thậm chí phải trả giá về môi trường và cả sự an toàn của cộng đồng dân cư.
Với 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, nếu cho triển khai sẽ vi phạm Luật Di sản văn hóa, làm mất vĩnh viễn 372 ha rừng trong vùng lõi và tính đa dạng sinh học của VQG Cát Tiên, ảnh hưởng đến khu Ramsar Bàu Sấu... Đó là chưa kể việc xây dựng 2 dự án sẽ tác động bất lợi đến quá trình xem xét công nhận vùng đất này là Di sản Thiên nhiên thế giới mà Việt Nam đang nỗ lực hoàn thiện hồ sơ để trình UNESCO.
Hơn 320 tỉ đồng tiền nộp cho ngân sách mỗi năm nếu cho làm 2 dự án thủy điện này, theo như chủ đầu tư trình bày, cũng không thể bù đắp được những gì chúng gây ra cho VQG Cát Tiên. Việc Chính phủ chỉ đạo loại 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A ra khỏi quy hoạch là một thông điệp mạnh mẽ, cần thiết.
Quyết định của Chính phủ không chỉ cứu VQG Cát Tiên khỏi rơi vào thảm họa mà còn tạo được niềm tin cho người dân - những người không ngừng quan tâm, lo lắng, hồi hộp theo dõi diễn biến vụ việc suốt 3 năm qua.
TS Vũ Ngọc Long, Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam từng nhận định: “Chúng tôi rất lo ngại việc xem xét thông qua 2 dự án này sẽ tạo tiền đề cho việc vi phạm luật tiếp theo của hàng trăm dự án thủy điện nhỏ và vừa khác đang lăm le nhảy vào khai thác nguồn tài nguyên nước, rừng trong các khu rừng đặc dụng của Tây Nguyên và Trường Sơn”. Nay, những lo lắng của các nhà khoa học đã được xua tan.
VQG Cát Tiên đã được cứu! Niềm vui vỡ òa cho những ai yêu quý thiên nhiên, yêu quý “báu vật” Cát Tiên. Sự thật, lẽ phải, trách nhiệm cho thế hệ mai sau đã được chứng minh. (Người Lao Động 28/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Trung Quốc đã thụ tinh nhân tạo thành công loài gấu trúc và mới đây đã giới thiệu 14 chú gấu trúc sơ sinh trước công chúng.
14 chú gấu trúc được thụ tinh nhân tạo tại Trung tâm nghiên cứu gây giống Gấu trúc Thành Đô ở Tứ Xuyên, ra đời từ giữa tháng 7 đến tháng 9 năm nay, hiện đang được chăm sóc tại các phòng đặc biệt của trung tâm.
Trong số những chú gấu trúc sơ sinh này, con nặng nhất là Meng Meng, nặng gấp bốn lần so với con nhỏ nhất có tên là Ya Yi. Trong năm nay, đã có 20 con được sinh ra ở trung tâm nghiên cứu gấu trúc này. Đến nay, 17 con vẫn còn sống sót, cho thấy chỉ số tăng trưởng loài khá lành mạnh đối với gấu trúc.
Gấu trúc là loài vật cực kỳ khó khăn trong sinh sản. Những chú gấu sơ sinh thường dễ thay đổi, và nhiều con đã chết trong tuần đầu tiên khi mới sinh ra. Trong khi đó, những con gấu trúc mẹ có một cơ chế mang thai không giống với các loài vật khác và cũng rất khó khăn khi kiểm tra quá trình mang thai.
Thậm chí, loài này còn có cả một cơ chế mang thai giả, khiến các nhà khoa học không thể sử dụng các phương pháp kiểm tra thai thông thường. Ngay cả siêu âm cũng không bảo đảm giúp đỡ theo dõi thai kỳ cho gấu mẹ khi mà bào thai gấu trúc rất nhỏ, khó phát hiện và phát triển muộn.
Loài gấu trúc cũng đã được xếp vào sách đỏ của Liên minh Bảo tồn thiên nhiên thế giới IUCN từ năm 1990. Hiện tại, chỉ còn khoảng 1.600 con gấu trúc còn sống trong môi trường hoang dã.
Năm 2013 là năm may mắn cho loài gấu trúc vì số lượng gấu trúc được sinh ra trên toàn thế giới đã đánh dấu sự tăng trưởng tốt, dần cứu loài vật dễ thương và đầy tính biểu tượng này ra khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng. (Nhân Dân 27/9; Người Lao Động 27/9) đầu trang(
Điều gì làm nên sức quyến rũ đặc biệt và kỳ lạ của loài gấu trúc? Phải chăng là tập quán sinh sản mong manh khi chúng chỉ có thể giao phối 3 lần mỗi năm, hay đôi mắt to u buồn khiến mọi người không thể cưỡng lại? Dù là gì đi nữa, loài động vật quý hiếm chỉ còn gần 1.600 con trong tự nhiên này đang là công cụ đắc lực trong chính sách ngoại giao gấu trúc của Trung Quốc.
Kể từ cuối những năm 1950, chính phủ Trung Quốc đã tặng và cho mượn những chú gấu trúc lớn quý hiếm như một phần của chính sách ngoại giao.
Một nghiên cứu được công bố gần đây của tạp chí Mỹ Environmental Practice, tựa đề "Các nhà ngoại giao và người tị nạn: Ngoại giao gấu trúc, sức mạnh "âu yếm" và quỹ đạo mới trong bảo tồn gấu trúc", đã xem xét những ảnh hưởng của chính sách ngoại giao gấu trúc suốt 6 thập kỷ qua.
Theo các tác giả của nghiên cứu, chúng ta đang ở "giai đoạn 3" của ngoại giao gấu trúc, trong đó Trung Quốc "cho những nước cung cấp tài nguyên và công nghệ quý giá mượn gấu trúc".
Dù Trung Quốc có thiết lập đồng minh chiến lược hay quan hệ thương mại thì những chú gấu trúc vẫn có khả năng quyến rũ bất kỳ ai, bất kể sự khác biệt ý thức hệ ở quy mô toàn cầu. Đã có hàng loạt bức ảnh chụp những khoảnh khắc thú vị của gấu trúc từ Anh tới Malaysia, từ thời Chiến tranh Lạnh đến thời của chính quyền Barack Obama.
Trong tuần này, Trung Quốc giới thiệu chùm ảnh 14 gấu trúc được nuôi trong cơ sở nghiên cứu và nuôi gấu trúc Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Số gấu trúc này nằm trong đàn 17 con được nuôi dưỡng trong các cơ sở từ đầu năm đến nay, và 3 con trong số đó sẽ được tặng cho Tây Ban Nha và Mỹ.
Từ thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã tặng gấu trúc cho những nước mà họ muốn xây dựng quan hệ chiến lược hoặc để xoa dịu quan hệ căng thẳng với đối thủ. Từ năm 1957 đến 1983, tức giai đoạn đầu của ngoại giao gấu trúc, Trung Quốc tặng tổng cộng 24 gấu trúc cho 9 nước.
Quà tặng gấu trúc đầu tiên được Chủ tịch Mao tặng Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushchev và Chủ tịch CHDCND Triều Tiên Kim Nhật Thành năm 1965. Đầu những năm 1970, Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Thủ tướng Anh Edward Heath cũng nhận được quà tặng gấu trúc. Trong chuyến thăm năm 1972 tới Trung Quốc để chấm dứt 25 năm đóng băng ngoại giao, Nixon là tổng thống Mỹ đầu tiên được Trung Quốc tặng gấu trúc.
Anh có lẽ là nước kém may mắn nhất trong việc giúp gấu trúc sinh sản. Sau khi cặp gấu trúc đầu tiên được Trung Quốc tặng không thể giao phối để sinh con, Anh được tặng thêm cặp khác vào năm 1991. Nhưng cặp gấu trúc này cũng phải về nước sau 3 năm giao phối không thành công. 17 năm sau, cặp gấu trúc khác được gửi tới Anh rồi sang Scotland vào tháng 11/2011, khi một phó thủ tướng Trung Quốc đang đàm phán các hợp đồng cung cấp cá hồi, công nghệ năng lượng và xe hơi Land Rovers trị giá 4 tỷ USD.
Bộ trưởng thứ nhất của Scotland Alex Salmond nói rằng, thỏa thuận "bảo đảm khoản vay gấu trúc là biểu tượng của tình bạn ngày càng tốt đẹp giữa Scotland và Trung Quốc".Pháp được tặng 2 gấu trúc vào năm ngoái, mà theo nghiên cứu của Environmental Practice, là trùng hợp thời điểm hai nước ký thỏa thuận trị giá 20 tỷ USD liên quan cung cấp uranium oxide và dự án xây dựng nhà máy xử lý uranium mà công ty Pháp thực hiện ở Trung Quốc. (Tiền Phong 28/9) đầu trang(
Các nhà địa chất tại Đại học Nakhon Ratchasima Rajabhat của Thái Lan đã xác nhận rằng, phần hóa thạch do người dân địa phương phát hiện trước đây thuộc loài tê giác cổ đại chưa từng được biết đến.
Nhóm nghiên cứu kết luận rằng, các hóa thạch thuộc loài tê giác không sừng, đầu dẹt được đặt là Aceratherium porpani theo tên người đã hiến tặng các hóa thạch cho trường đại học.
"Các hóa thạch bao gồm một hộp sọ hoàn chỉnh và hai xương hàm dưới, đã được tìm thấy tại một mỏ đá cát gần sông Moon ở huyện Chalerm Phrakiat, tỉnh Nakhon, Thái Lan năm 2003.
Sau đó, các hóa thạch được chuyển đến cho Porpan Vatchajitpan, cựu giảng viên Đại học Chulalongkorn (Thái Lan). Các giảng viên tặng các hóa thạch cho Viện Nghiên cứu của Đại học Nakhon Ratchasima Rajabhat vào năm 2009."
Mẫu vật được xác định là đã sống trong thời kỳ Miocen muộn nên tuổi của nó khoảng 6 đến 7,5 triệu năm. (Nông Thôn Ngày Nay 27/9) đầu trang(
Hiệp hội động vật học London (ZSL) và Hội đồng điều tra dân số chim châu Âu (EBCC) cho biết, những loài động vật quý hiếm đang thực hiện “cuộc trở về” ngoạn ngục ở châu Âu trong 50 năm qua.
Trong vòng 50 năm, nhờ sự can thiệp của chính quyền trong những nổ lực không ngừng về việc bảo tồn các loài thú quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng, tổng cộng 27 động vật có vú và các loài chim đã phục hồi về số lượng.
Báo cáo cho biết, loài gấu, chó sói, mèo rừng, đại bàng, kền kền đã gia tăng số lượng một cách đáng kể. Trong đó loài bò rừng bison châu Âu, hải ly Âu Á, vịt đầu trắng, một số quần thể ngỗng chân hồng và động vật chân tơ tăng 3.000% trong năm thập kỷ qua.
Riêng đối với loài động vật ăn thịt như gấu nâu, số lượng tăng gấp đôi. Số lượng của chó sói xám vốn bị đe dọa nghiêm trọng, đứng trước ngưỡng cửa tuyệt chủng cũng tăng khoảng 30%.
Các nhà nghiên cứu cho rằng, nguyên nhân dẫn đến sự trở lại ngoạn ngục của các loài thú quý hiếm ở châu Âu do pháp luật một số nước châu Âu đã lên tiếng, ngăn cấm những hành vi giết hại động vật quý hiếm. Trong những năm qua, người dân nông thôn có xu hướng di cư lên thành phố, tạo nhiều không gian và môi trường sống cho các loài động vật.
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương đã đưa ra những chính sách đền bù thiệt hại cho người sống ở nông thôn, áp dụng những chính sách du lịch sinh thái giúp người dân hưởng lợi từ động vật.
Tuy nhiên, nếu con người thờ ơ và tàn phá môi trường sống của chúng, có thể chúng ta cũng sẽ mất chúng một lần nữa. (Tuổi Trẻ 28/9) đầu trang(
Dưới chân dãy Himalaya hùng vĩ, một “cuộc chiến” đã bắt đầu. Binh lính với súng trường M16 tuần tra dọc các đồng cỏ, khu rừng trong khi máy bay giám sát không người lái bay lượn trên bầu trời. Mục tiêu của “cuộc chiến” nhằm cứu loài hổ Nepal khỏi mối đe dọa bị tuyệt chủng và “quân địch” là những kẻ săn trộm.
Dọc con sông Karnali thuộc Vườn quốc gia Bardia, đàn cá sấu “thơ thẩn” dạo chơi trong khi lũ khỉ thi nhau chuyền cành và đàn chim bay xao xác trên trời. Và rồi dấu chân một con hổ trưởng thành lộ ra trên bờ sông. Đối với những kẻ săn trộm, đây là tín hiệu “trúng quả” bởi chỉ cần vài ngày rình rập tại địa điểm này là có thể tóm gọn được con mồi. Tất cả đều bắt nguồn từ thói quen quay trở lại chốn cũ để uống nước của loài hổ và thợ săn trộm nắm rõ điều này bởi họ đều là dân bản địa.
Lý do khiến người dân địa phương trở thành kẻ săn trộm là vì các nhóm tội phạm quốc tế đã trả một khoản tiền lớn để họ giết hổ và tê giác. Thu nhập bình quân của nhiều người Nepal chỉ là 150 rupee Nepal/ ngày (khoảng 32.000 đồng), trong khi đó, với mỗi tấm da hổ họ sẽ nhận được 7.500 USD (khoảng 158 triệu đồng) và mỗi cân xương hổ có giá 2.550 USD (khoảng 25 triệu đồng). Số tiền lớn đến nỗi họ sẵn sàng trở thành những kẻ săn bắn bất hợp pháp, bất chấp nguy cơ có thể bị bắt và bỏ tù đến 15 năm.
Sau khi sập bẫy những kẻ săn trộm, hổ bị xẻ thịt, da và xương sẽ được đưa qua biên giới tới Ấn Độ (thị trường tiêu thụ chính) rồi biến thành đông dược tại Trung Quốc.
Trước vấn nạn săn bắn bất hợp pháp, năm 2011, Cục cảnh sát điều tra tội phạm Nepal đã thành lập đội đặc nhiệm về thiên nhiên hoang dã. Sĩ quan cảnh sát Pravin Polharel - người từng đứng đầu 11 đội đặc nhiệm chịu trách nhiệm chống săn trộm tại 9 công viên quốc gia - cho biết 15 - 20% những kẻ săn bắn trộm ở Nepal đã bị phát hiện trong “cuộc chiến” này.
Ông Polharel tiết lộ phương thức hoạt động của các đội đặc nhiệm: “Chúng tôi nhận thông tin từ những nguồn đặc biệt, rồi cải trang thành những người mua và lấy chứng cứ bằng cách sử dụng máy thu âm, ghi hình bí mật”.
Bên cạnh những hiệu quả đạt được, “cuộc chiến” chống nạn săn trộm cũng đặt cuộc sống của những thành viên đội đặc nhiệm vào vòng nguy hiểm, như trường hợp của Ramesh Thapa - trợ lý tại Vườn quốc gia Bardia. Thapa chia sẻ anh từng nhận nhiều cuộc gọi đe dọa đến tính mạng, buộc ảnh phải đưa vợ con rời khỏi làng đến thủ đô Kathmandu.
Ông Bhadai Tharu cũng là một trường hợp đặc biệt. Cách đây 9 năm, ông Tharu bị một con hổ bất ngờ tấn công khiến ông mất một mắt. Người đàn ông 48 tuổi này tâm sự: “Hai năm sau vụ tai nạn, tôi đã không tham gia nhiều vào công việc bảo vệ loài hổ. Giờ thì nếu không nhìn thấy dấu chân hổ hàng ngày, tôi cảm thấy thiếu đi cái gì đó”. Những trường hợp trên là minh chứng cho thấy sự tâm huyết với nghề và tấm lòng yêu mến loài hổ của những người nỗ lực bảo vệ sự tồn tại của “chúa sơn lâm”.
Theo số liệu được chính phủ Nepal công bố cuối tháng 7 vừa qua, số lượng hổ Bengal trong tự nhiên tại nước này đã tăng từ 121 con năm 2009 lên 198 con năm 2013, chứng tỏ sự thành công của “cuộc chiến” chống nạn săn trộm. Chính phủ Nepal đặt mục tiêu đến năm 2022 sẽ tăng gấp đôi số lượng hổ trong tự nhiên tại nước này. (Tin Tức 27/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa