|
Ngày 01 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Nhằm đối phó với hiệu ứng nhà kính đang gây ảnh hưởng lớn đến môi trường nước ta, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 99/2010 nhằm điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội, hấp thụ và lưu giữ cacbon của rừng, ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững.
Đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Chính phủ. Tuy nhiên, khi đi vào áp dụng thực tế, một số điểm chưa phù hợp, sát với thực tiễn về cách tính và thu phí dịch vụ môi trường rừng đã khiến các doanh nghiệp thủy điện nhỏ điêu đứng, đồng thời khiến cho việc thu phí gặp nhiều khó khăn.
Vừa qua, các công ty sản xuất thủy điện nhỏ (công suất dưới 30MW) trên cả nước đang rất bức xúc bởi những bất cập trong việc tính phí và truy thu phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Cuối tháng 4/2013, Hiệp hội Các doanh nghiệp tỉnh Lào Cai, Chi hội Các doanh nghiệp kinh doanh thủy điện đã gửi kiến nghị lên Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, UBND tỉnh Lào Cai đề nghị Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng không thu tiền DVMTR năm 2011 và 2012 của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy điện có công suất dưới 30MW.
Trong công văn nêu rõ những điểm bất hợp lý, đó là trong nội dung Nghị định số 99/2010 và nội dung trong Quyết định số 18/2008 ngày 18/7/2008 của Bộ Công Thương ban hành quy định về biểu giá chi phí tránh được và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các nhà máy điện nhỏ sử dụng năng lượng tái tạo. Cụ thể theo Nghị định 99, quy định: “Tiền chi trả DVMTR là một yếu tố trong giá thành sản phẩm có sử dụng DVMTR và không thay thuế tài nguyên hoặc các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật”.
Nhưng theo Quyết định số 18/2008 biểu giá chi phí tránh được ban hành hằng năm thì giá thành sản phẩm chưa bao gồm tiền chi trả DVMTR. Quyết định này có hiệu lực đến hết năm 2012, đến năm 2013 biểu giá chi phí tránh được đã tính tiền chi trả DVMTR.
Thật ra, sự bất cập này đã được Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT phát hiện ra và xác nhận bằng văn bản. Mặt khác, hiệu lực thi hành của Nghị định 99 của Chính phủ về chính sách chi trả DVMTR có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2011 nhưng đến cuối năm 2012 Quỹ Bảo vệ & Phát triển rừng mới triển khai thực hiện. Trong khi đó, chi phí của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thủy điện đã được hạch toán và quyết toán theo chế độ kế toán của Nhà nước nên việc thực hiện “truy thu” như vậy là trái quy định về tài chính.
Một bất cập nữa là việc Bộ Tài chính thông qua quyết định về việc công bố giá bán điện thương phẩm bình quân áp dụng làm giá tính thuế tài nguyên nước thiên nhiên sản xuất thủy điện áp dụng từ ngày 1/8/2013 là 1.508,85 đồng/kWh. Như vậy doanh nghiệp sẽ phải chịu mức thuế gấp đôi so với thực tế sản lượng điện sản xuất bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Bà Lương Thị Lợi, Chủ tịch Công ty CP Đầu tư xây dựng điện Linh Linh cho biết: “Việc áp dụng giá bán điện thương phẩm bình quân để tính thuế tài nguyên như vậy là hoàn toàn xa rời thực tế, bởi EVN mua điện của chúng tôi theo kế hoạch từ đầu năm và chỉ vào khoảng 900-1.000 đồng/kWh. Nếu tính như vậy, một doanh nghiệp có doanh thu 10 tỉ đồng với mức phí DVMTR là 2% thì thực tế, chúng tôi sẽ phải đóng thêm gần 100 triệu đồng mà chẳng có căn cứ gì”.
Trong khi đó, việc tính giá điện theo mùa cũng còn những chênh lệch, cần điều chỉnh để doanh nghiệp kinh doanh thủy điện nhỏ không bị thiệt hại bởi chênh lệch 1 tháng tiền điện mùa mưa. Cụ thể theo Quyết định số 2014 quy định giá mua bán điện các dự án nguồn điện trong đó, mùa khô (từ 1/10 đến 30/6 năm sau) và mùa mưa (từ 1/7 đến 30/9) nhưng hiện nay doanh nghiệp thủy điện Lào Cai bán điện cho Tổng Công ty Điện lực miền Bắc theo mùa mưa là 4 tháng (từ 1/7 đến 31/10).
Chính vì những bất cập nêu trên, các doanh nghiệp thủy điện được ký kết hợp đồng mua bán điện theo quy định tại Quyết định số 18/2008 không có nguồn vốn để thanh toán tiền DVMTR các năm 2011-2012. Bên cạnh đó, các năm 2011-2012 là những năm thời tiết thất thường, mưa bão xảy ra liên miên, khó lường gây sạt lở, ngập các công trình thủy điện nhỏ, dẫn đến phải khắc phục các sự cố, mất rất nhiều thời gian mới có thể phục hồi sản xuất. Các dự án thủy điện hầu hết bị đình trệ, chậm tiến độ hoàn thành phải gánh lãi suất tín dụng cao.
Ngày 17/7/2013, Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã có ý kiến chỉ đạo giao Bộ Công Thương xem xét xử lý các bất cập nêu trên, nhưng đến nay, vẫn chưa có một quyết định hoàn thiện. (Petrotimes 30/9) đầu trang(
Nhằm đảm bảo thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, huyện Tuần Giáo đã thường xuyên chỉ đạo sát sao các đơn vị liên quan thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc triển khai dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn huyện còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
Để thực hiện chi trả DVMTR, huyện Tuần Giáo đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chính sách về dịch vụ hữu ích này đến các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân có liên quan. Thành lập hội đồng giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cấp xã, thị trấn và tổ chức họp triển khai kế hoạch dịch vụ môi trường rừng tại thôn bản. Hệ thống văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện chính sách chi trả DVMTR đã cơ bản hoàn chỉnh, dựa vào các văn bản đó, các địa phương hoàn toàn có thể chủ động triển khai chi trả DVMTR cho các chủ rừng.
Tuy nhiên, công tác triển khai chi trả DVMTR trên địa bàn huyện Tuần Giáo còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Đây là loại hình dịch vụ mới được áp dụng nên việc kiểm tra, rà soát, phân loại các đối tượng được chi trả gặp không ít khó khăn; nguồn thu ngân sách còn hạn chế do việc chi trả DVMTR từ các cơ sở sản xuất cung ứng nước sạch, kinh doanh dịch vụ, du lịch trên địa bàn không nhiều.
Đến nay, các đơn vị vẫn chưa hoàn thiện việc rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng đến từng chủ rừng có cung ứng DVMTR thuộc lưu vực sông Đà trên địa bàn huyện Tuần Giáo. Do chưa công bố được kinh phí nên các đơn vị tổ chức thực hiện còn dè chừng.
Ở các bản vùng cao trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế nên khi tuyên truyền, phổ biến chính sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Khi kiểm tra, rà soát các loại đất đã cấp giấy đa số là cấp theo hình thức kê khai nên số diện tích so với thực tế chưa chính xác, diện tích đất nằm rải rác không tập trung.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện trên từng địa bàn cũng có nhiều khó khăn riêng, như: đội ngũ cán bộ làm công tác đăng ký quyền sử dụng đất còn hạn chế trong khi diện tích đất đo đạc lớn, đơn vị tư vấn chưa có kinh nghiệm… đặc biệt là ở 5 xã mới thành lập.
Thêm vào đó, ở một số địa phương, chính sách chi trả DVMTR chưa nhận được sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của các cấp chính quyền và chưa có sự hưởng ứng, đồng thuận của người dân. Nhiều địa phương còn thiếu chủ động trong việc huy động các nguồn lực để thực hiện chính sách. Nếu không có sự vào cuộc của toàn hệ thống chính trị thì không thể đạt được tiến độ đề ra. Vì vậy, các đơn vị phải ban hành kế hoạch cụ thể, sát với tình hình thực tế ở các địa phương.
Nhằm tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện dịch vụ này, trong thời gian tới, huyện Tuần Giáo chọn xã Mùn Chung làm nơi thí điểm để thực hiện chi trả DVMTR để rút kinh nghiệm rồi mới triển khai đại trà trên toàn huyện, đồng thời tiếp tục phối hợp với các đơn vị liên quan xác định rõ diện tích rừng có cung ứng dịch vụ; tăng cường nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ quản lý, Ban chi trả Dịch vụ môi trường rừng cấp xã... (Đài PT - TH Điện Biên 30/9) đầu trang(
Theo hợp đồng được ký kết giữa hai đơn vị ngày 26/9, Công ty Cổ phần thủy điện Nà Lơi ủy thác cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đối với loại DVMTR bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất thủy điện.
Diện tích rừng cung ứng dịch vụ sẽ được bên nhận ủy thác thông báo sau khi có kết quả xác định diện tích rừng trong lưu vực thuộc địa bàn tỉnh do UBND tỉnh công bố. Thời gian chi trả bắt đầu từ 1/1/2012. Mức chi trả và xác định số tiền phải chi trả được thực hiện theo quy định tại Nghị định 99/2010 của Chính phủ… (Báo Điện Biên 1/10) đầu trang(
Thực hiện Chỉ thị số 2362/2013 của Bộ NN&PTNT về việc tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ngày 24/9, UBND tỉnh Kon Tum đã ban hành văn bản số 2123 về việc tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Theo đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phối hợp với các Sở, ngành liên quan, UBND các huyện, thành phố, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Kon Tum: Tăng cường công tác tuyên truyền đến người dân, cộng đồng dân cư, toàn xã hội về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của rừng đối với đời sống xã hội, giá trị lợi ích to lớn từ dịch vụ sinh thái rừng.
UBND tỉnh thống nhất chủ trương cho phép Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh cân đối từ nguồn chi phí quản lý và hoạt động của bộ máy Quỹ để bố trí rà soát đối với diện tích rừng cung ứng dịch vụ thuộc UBND các xã trực tiếp quản lý, nhằm hoàn thành cơ sở dữ liệu đối với diện tích rừng cung ứng dịch vụ; đồng thời làm căn cứ để hướng dẫn UBND các xã xây dựng phương án bảo vệ rừng, phương án hỗ trợ kinh phí.
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh bổ sung kế hoạch chi phí hoạt động năm 2013 của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh theo quy định để thực hiện nhiệm vụ trên. (Kontum.gov.vn 1/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu bảo tồn loài sến Tam Quy đến năm 2020 vừa được Sở NN&PTNT Thanh Hóa công bố ngày 29/9.
Rừng sến Tam Quy (xã Hà Ninh, huyện Hà Trung) có diện tích quy hoạch 518,5 ha, với trên 70% tổ thành là loài sến mật quý hiếm, là khu rừng tự nhiên thuần loài duy nhất ở Việt Nam hiện nay, được xếp vào hệ thống rừng đặc dụng quốc gia.
Việc quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Khu bảo tồn loài sến Tam Quy đến năm 2020 là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững loài thực vật quý hiếm này. (Chinhphu.vn 1/10; Báo Thanh Hóa 1/10) đầu trang(
Vừa qua, huyện Hàm Yên đã tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng năm 2013 tại xã Minh Hương.
Cuộc diễn tập được tiến hành theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 - tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng; Giai đoạn 2 - thực hành chữa cháy rừng với các tình huống huy động lực lượng tại chỗ chữa cháy rừng và ngăn chặn đám cháy lây lan, cấp cứu người bị nạn do cháy rừng gây ra và lực lượng tăng cường của huyện phối hợp với lực lượng tại chỗ của xã thực hành chữa cháy rừng.
Cuộc diễn tập được thực hiện theo kế hoạch giả định, một đám cháy xảy ra tại khu rừng thôn Kim Dao của xã Minh Hương. Khi nhân dân phát hiện và báo cho chính quyền sở tại. Chỉ ít phút sau, lực lượng chữa cháy rừng của thôn, xã được triển khai đến hiện trường để dập tắt đám cháy. Nhưng do thời tiết khô hanh, gió mạnh, ngọn lửa lan ra quá nhanh, nên chính quyền xã phải thông báo với huyện triển khai lực lượng để phối hợp dập tắt đám cháy rừng.
Cuộc diễn tập nhằm nâng cao khả năng chỉ huy của Ban Chỉ huy các vấn đề cấp bách về phòng cháy chữa cháy rừng từ huyện đến cơ sở; việc phối hợp và huy động lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ, đây cũng là dịp để nâng cao ý thức, trách nhiệm về phòng cháy, chữa cháy rừng của mỗi công dân. Thông qua buổi diễn tập, đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm trong công tác chỉ huy, huy động lực lượng, phương tiện khi có cháy rừng xảy ra của huyện Hàm Yên nói chung, xã Minh Hương và các xã lân cận có nhiêu diện tích rừng trong việc nêu cao ý thức bảo vệ phong CCCR.
Kết thúc cuộc diễn tập, Ban chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ diễn tập năm 2013 huyện Hàm Yên đánh giá cuộc diễn tập PCCCR xã tại xã Minh Hương đạt loại giỏi. (Hamyen.org.vn 30/9) đầu trang(
Bà Đinh Thị Lan Hương, Phó giám đốc Trung tâm sinh thái, văn hóa - lịch sử Chiến khu Đ (Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai) cho biết, để quảng bá và giáo dục về ý thức bảo vệ sự đa dạng sinh học trong nhân dân, trung tâm đã in ấn nhiều tài liệu như túi ny-lông sạch, tờ rơi; tổ chức các buổi thông tin lưu động.
Ngoài ra, trung tâm còn in 12 ngàn cuốn vở học trò, 5 ngàn tờ bao vở, 1 ngàn cây bút viết, 2 ngàn sổ tay... với nhiều hình ảnh, logo tuyên truyền cấp phát miễn phí cho học sinh và nhân dân trong vùng đệm, vùng lõi của khu bảo tồn. Kinh phí cho hoạt động tuyên truyền này từ 250-300 triệu đồng/năm. (Báo Đồng Nai 30/9) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Công Thương đang tiếp tục rà soát, cập nhật, điều chỉnh tất cả các dự án thủy điện hiện có trong quy hoạch trên cả nước và cơ bản đã hoàn thành xong để trình Chính phủ xem xét và báo cáo Quốc hội.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang ngày 30/9 cho biết, sau khi Chính phủ có quyết định đưa hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A ra khỏi quy hoạch đã được duyệt, Bộ Công Thương đang tiến hành thực hiện và sẽ có báo cáo sớm nhất lên Chính phủ.
Tuy nhiên, không chỉ có hai dự án này, Bộ Công Thương đang tiếp tục rà soát, cập nhật, điều chỉnh tất cả các dự án thủy điện hiện có trong quy hoạch trên cả nước và cơ bản đã hoàn thành xong để trình Chính phủ xem xét và báo cáo Quốc hội.
Ông Quang khẳng định: Tới đây, tất cả các dự án thủy điện không hội đủ 5 tiêu chí bao gồm: an toàn hồ đập, chiếm diện tích rừng thấp nhất, hạn chế tối đa di dân, bảo đảm môi trường và có hiệu quả kinh tế, thì đều sẽ bị đưa ra khỏi quy hoạch và sẽ không được đầu tư xây dựng. Đây cũng là 5 tiêu chí để Bộ căn cứ rà soát, tiếp tục loại bỏ các dự án thủy điện tới đây.
"Việc Chính phủ yêu cầu loại bỏ dự án Thủy điện Đồng Nai 6, 6A ra khỏi quy hoạch chính là bài học cảnh tỉnh cho những chủ đầu tư các dự án thủy điện đang âm mưu "ngốn" rừng...". Ông Trần Viết Ngãi - Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng VN đã nhận định như trên khi trả lời phỏng vấn Nông Thôn Ngày Nay về tình trạng nhiều dự án thủy điện xâm hại rừng...
Ông Ngãi khẳng định: Tôi đã phản đối các dự án thủy điện này ngay từ khi nó mới bắt đầu được đề xuất xây dựng. Bởi 2 dự án thủy điện này sẽ làm mất vĩnh viễn 372,23ha đất rừng, trong đó có 128,37ha đất ở khu Cát Lộc thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên; đồng thời sẽ tác động đến nhu cầu sử dụng nước phía hạ du đập Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A và tiềm ẩn nhiều bất lợi khác.
Mặt khác nói thẳng, nếu Chính phủ có đề nghị tiếp tục đầu tư hai dự án này thì khi trình lên Quốc hội, cơ quan này cũng sẽ không thông qua. Giờ Chính phủ đã quyết bỏ thì chẳng còn bộ ngành nào dám ủng hộ, dám cho triển khai nữa. Hai dự án này từ khi khởi động đến nay đã rất tốn kém tiền của nhưng chính các nhà đầu tư sẽ phải gánh chịu các tốn kém này.
Không chỉ Đồng Nai 6, 6A mà hiện nay, vẫn còn rất nhiều dự án thủy điện cũng đang ở tình trạng tương tự như dự án Thủy điện Ea KTuor ở tỉnh Đăk Lăk đe dọa Vườn quốc gia Chư Ang Sin hay Vườn quốc gia Yok Đôn bị đe dọa bởi Thủy điện Đrăng Phốk? Về việc này, ông Ngãi chia sẻ: Tôi đã lên tiếng nhiều lần về việc nhiều dự án thủy điện hiện nay được “dựng lên”?thực chất là để phá rừng. Nhiều chủ đầu tư dự án thủy điện có kiến thức gì về thủy điện đâu. Họ làm dự án thủy điện là để bắt tay cùng lâm tặc phá rừng, lấy gỗ, rồi bỏ không làm thủy điện nữa.
Các dự án thủy điện lớn hàng chục MW còn chả lộc lãi gì huống chi mấy dự án thủy điện chỉ có vài MW. Đầu tư thủy điện hiện nay đã không còn là miếng bánh béo bở, với thủy điện nhỏ thì càng cầm chắc thua lỗ. Một dự án thủy điện vài MW vốn cũng khoảng 1.000 tỷ đồng, đòi hỏi vốn tự có của doanh nghiệp ít nhất là 30%, còn lại vay đến 70%.
Bình quân một dự án thủy điện ít nhất phải 10 -14 năm mới hoàn vốn, trong khi hiệu suất lợi nhuận mang lại không đủ bù lãi vay ngân hàng, chưa kể tính rủi ro của dự án thủy điện rất cao. Chính vì vậy hiện nay mới có tình trạng các chủ đầu tư thủy điện "bỏ của chạy lấy người", "khóc dở mếu dở".
Chúng ta vẫn phải lên tiếng phản đối để các cấp, các ngành và Chính phủ biết mà xử lý. Tôi nói thẳng, đừng đùa với các dự án thủy điện xâm hại rừng. Chỉ cần các dự án xâm hại rừng từ 100ha đã buộc phải báo cáo lên Quốc hội, chứ các chủ đầu tư không thể cứ âm thầm "đi đêm" mà triển khai đầu tư. Các dự án thủy điện xâm hại rừng không hiệu quả dù cố mấy cũng sẽ không đầu tư được nữa.
Theo ông Ngãi: Các dự án thủy điện lớn, có hiệu quả chúng ta đã đầu tư hết rồi, giờ nói hiệu quả lớn với các dự án thủy điện nhỏ, xâm hại rừng thì đúng chỉ còn là tưởng tượng mà thôi. Trên thực tế việc xây dựng các nhà máy thủy điện nhỏ lại đang làm hư hại đường giao thông, tăng gánh nặng chi phí vận chuyển, sửa chữa; làm mất nguồn lợi thủy sản, rừng và giảm sản lượng nông nghiệp.
Dù thủy điện vừa và nhỏ được xem là một phần của các nguồn năng lượng tái tạo, song với những hậu quả thực tế do loại hình này mang lại, cần dẹp bỏ bớt các dự án thủy điện vừa và nhỏ. Chỉ các dự án hiệu quả thực sự mới được triển khai xây dựng.
Chính phủ cũng đã chỉ đạo rõ quan điểm, các dự án thủy điện không hiệu quả là dẹp luôn từ bây giờ. Giờ chúng ta phải tính đến hiệu quả khi đầu tư các dự án thủy điện chứ không phải đầu tư để... cho vui. Nếu không loại bỏ thì các địa phương cũng chẳng thu hút được ai đầu tư các dự án thủy điện kém hiệu quả như thế. Các chủ đầu tư cũng không kiếm đâu ra tiền một cách dễ dãi để mà đầu tư thủy điện nữa.
Ông Ngãi cho rằng, phong trào "người người làm thủy điện" đã đến hồi kết bởi chính thực tiễn khách quan của nó. (Nông Thôn Ngày Nay 30/9 - 1/10; VOV 1/10; Quân Đội Nhân Dân 1/10) đầu trang(
Đây là kế hoạch được đề ra trong dự án bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh của tỉnh Kon Tum từ nay đến năm 2022. Dự án được chia thành 3 giai đoạn, với tổng vốn đầu tư trên 567 tỉ đồng.
Cụ thể, từ nay đến năm 2022, dự án sẽ đầu tư khoa học công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống tạo ra số lượng cây giống lớn, dự kiến từ 4-5 triệu cây giống/năm; hoàn thiện quy trình công nghệ canh tác và mở rộng diện tích trồng sâm, đến năm 2022 sẽ đạt từ 800 - 1.000 ha sâm.
Bên cạnh đó, dự án còn hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến, xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm cây sâm Ngọc Linh; áp dụng các công nghệ mới trong thu hoạch, bảo quản, chiết xuất nhằm tạo được các sản phẩm có giá trị cao; xây dựng nhà máy chế biến với quy trình công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu... (Thanh Niên 30/9) đầu trang(
Nằm trên địa bàn xã Quảng Trực (Tuy Đức - Đắk Nông), một trong những địa phương luôn là điểm nóng về nạn phá rừng, lấn chiếm đất rừng trong nhiều năm nay, thế nhưng HTX Tấn Phát luôn ý thức gìn giữ tài nguyên rừng, qua đó góp phần không nhỏ trong công tác phát triển và bảo vệ rừng.
Có thể nói, trong năm qua, HTX Tấn Phát được biết đến là điển hình tiêu biểu trong công tác phát triển rừng bền vững. Với xã viên đa số là người dân tộc thiểu số, việc bám rừng, khai thác tài nguyên rừng và tái sinh rừng là công việc muôn đời của bà con. Nhờ vậy mà những cánh rừng nơi đây quanh năm xanh tốt, tạo sinh kế bền vững cho người dân. (Kinh tế Nông thôn 30/9) đầu trang(
Để đảm bảo nguồn cây giống, đặc biệt là cây keo, bên cạnh các vườn ươm cây giống lớn đã hoạt động trong nhiều năm, gần đây Khánh Vĩnh đã có thêm nhiều điểm bán keo lai nhỏ lẻ để đáp ứng nhu cầu của người dân. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng keo giống hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ.
Bên cạnh vườn ươm của các lâm trường trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh, trong những năm gần đây, hoạt động của vườn ươm cây giống - Trung tâm dịch vụ thương mại Khánh Vĩnh đang phát triển tốt. Khi nhu cầu trồng keo trên địa bàn huyện phát triển mạnh thì định hướng phát triển cây keo của trung tâm cũng gặp nhiều thuận lợi. Những năm trước, lượng keo dâm hom bán ra ở Trung tâm chỉ dao động khoảng 300 nghìn cây giống. Nhưng do nhu cầu trồng rừng của nhà vườn tăng mạnh trong thời gian qua nên khả năng đáp ứng hết nhu cầu của trung tâm cũng có hạn.
Cùng với gần 800 nghìn cây giống đã cấy, vườn ươm cũng đã tham mưu huyện hỗ trợ kinh phí, nhập thêm trên 360 nghìn cây keo lai dâm hom đạt chất lượng từ Bình Định nhưng vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu của người dân. Chất lượng keo giống đảm bảo trong khi giá thành cũng chỉ 600 đồng/cây, rẻ hơn 50 đồng/cây so với thị trường nên lượng keo giống bán ra của trung tâm cũng tăng đột biến.
Ông Nguyễn Văn Chính – Giám đốc Trung tâm dịch vụ thương mại huyện Khánh Vĩnh cho biết: "Bước đầu chúng tôi đã đầu tư cây đầu dòng. Hiện nay cây đầu dòng rất nhiều loại, chúng tôi đã làm 3 loại cây đầu dòng để làm sao cung cấp cây giống có chất lượng tốt nhất".
Do nắm bắt được nhu cầu lớn trong mùa trồng rừng năm nay nên nhiều hộ ở Khánh Vĩnh đã tiến hành dâm hom hoặc mua keo trôi nổi về bán cho người dân. Trên thực tế quan sát, do kỹ thuật yếu cộng thêm kinh nghiệm chăm sóc chưa có nên chất lượng keo giống nhiều nhà vườn ở Khánh Vĩnh còn chưa đảm bảo. Keo giống bị sâu bệnh, khô lá là những biểu hiện thường thấy của nhiều nhà vườn ở Khánh Vĩnh hiện nay. Đây cũng là vấn đề huyện cần quan tâm, để quản lý chặt hơn nguồn keo giống trên địa bàn để người trồng không phải chịu thiệt thòi khi mua keo giống trồng rừng.
Ông Nguyễn Văn Chính – Giám đốc Trung tâm dịch vụ thương mại huyện Khánh Vĩnh cho biết thêm: "Thị trường cây giống hiện nay rất đa dạng. Các đại lý tư nhân mua keo các nơi mua về đáp ứng cho người dân. Tuy nhiên, thị trường cây giống trôi nổi chất lượng không đảm bảo. Cây đầu dòng hết hạn sẽ cho cây con ra không đạt chất lượng. Cụ thể người ta lấy về cây con sẽ bị nấm và sẽ chết".
Hiện nay keo giấy thương phẩm 4 năm tuổi có giá từ 60 đến 70 triệu đồng/ha, sau khi trừ chi phí, bà con nông dân thu lãi 40 triệu đồng/ha. So sánh với nhiều loại cây trồng ở Khánh Vĩnh trong nhiều năm qua thì keo là một trong những loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì thế, định hướng, chủ trương phát triển cây keo ở Khánh Vĩnh hứa hẹn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. (Đài PT - TH Khánh Hòa 28/9) đầu trang(
Tranh thủ trời mưa, tiết trời dịu mát, nông dân khắp các địa phương trong tỉnh Quảng Ngãi đang bắt tay vào việc “mở cửa” rừng để tiến hành trồng mới, trồng lại gần 6.700 ha diện tích đất rừng sản xuất.
Vụ trồng rừng 2013 cần 28 triệu cây giống các loại keo lai, lim xanh, dầu rái, xà cừ… để cung ứng cho người dân. Đây là một thách thức không nhỏ đối với công tác ươm trồng, sản xuất. Thế nên, ngoài số cây từ những đơn vị chuyên sản xuất và kinh doanh giống, được Chi cục Lâm nghiệp tỉnh kiểm tra, cấp giấy chứng nhận về nguồn gốc và chất lượng thì không ít loại-mà chủ yếu là keo lai giâm hom xuất phát từ vườn ươm của các hộ gia đình.
Tuy nhiên, theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Trần Kim Ngọc: “Chất lượng cây giống do người dân tự ươm trồng không đảm bảo”. Lý do, bà con rất khó, thậm chí không thể có được giống đầu dòng tốt; việc kiểm soát đặc tính di truyền giống cũng như nguồn gốc lô cây con vì thế cũng bị bỏ quên. Do đó, khi những cây con này bén đất, rất dễ xảy ra tình trạng còi cọc, chậm lớn, gỗ xốp kém chất lượng… Mà để thấy được hiện tượng này, chủ rừng phải mất 2-3 năm sau khi trồng. (Báo Quảng Ngãi 30/9) đầu trang(
Ðược sự nhất trí của UBND tỉnh Bình Định và sự hỗ trợ của Viện Nghiên cứu chuyển đổi môi trường và xã hội (ISET), thời gian qua, các hợp phần (HP) thuộc Dự án “Dịch vụ hệ sinh thái (HST) rừng ngập mặn đầm Thị Nại” đã được triển khai ở tỉnh Bình Định.
Ông Đinh Văn Tiên - Phó Giám đốc Sở TN-MT, Giám đốc Văn phòng Điều phối về BĐKH (CCCO) tỉnh Bình Định, cho biết: Dự án thuộc khuôn khổ Chương trình “Mạng lưới các thành phố ở châu Á có khả năng chống chịu với BĐKH”. Đây là dự án mang đậm tính nhân văn và có ý nghĩa an sinh xã hội cao. Bởi lẽ, mục tiêu chính của dự án là nhằm góp phần giảm tính dễ bị tổn thương về BĐKH đối với người nghèo sinh sống ở khu vực ven TP Quy Nhơn đang mở rộng, thông qua việc phục hồi HST rừng ngập mặn đầm Thị Nại.
Dự án có 5 hợp phần (HP), thời gian thực hiện 4 năm, từ 2012 đến 2015, gồm: Đánh giá HST, lựa chọn địa điểm và tiêu chí HST (HP 1); nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng (HP 2); quy hoạch quản lý tài nguyên và xây dựng một thỏa thuận đồng quản lý (HP 3); hỗ trợ các sinh kế thay thế (HP 4); phục hồi rừng ngập mặn (HP 5)… (Báo Bình Định 30/9) đầu trang(
Từ năm 2011 đến nay, Doanh nghiệp tư nhân Thắng Lợi đã trồng được 220 ha rừng sản xuất và hợp đồng với nông dân các xã: Trương Lương, Quang Trung (Hòa An) và Kim Đồng (Thạch An) trồng được hơn 1.000 ha rừng sản xuất.
Doanh nghiệp cũng đã đầu tư 5 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền sản xuất ván ghép thanh công suất 1.200 m3/năm, qua đó góp phần tạo việc làm ổn định cho 30 lao động với mức lương bình quân 4,2 triệu đồng/người/tháng.
Tuy nhiên, do nguồn cung nguyên liệu hạn chế nên hiện đơn vị đang duy trì sản xuất 1/3 công suất, bình quân mỗi tháng sản xuất được 30 m3 sản phẩm. Sản phẩm của doanh nghiệp làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó.
Hiện đơn vị đang dự kiến đầu tư khoảng 1 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền sản xuất ván dăm, công suất 30m3/tháng. Khi đi vào hoạt động sẽ góp phần tạo việc làm cho 12 lao động. (Báo Cao Bằng 30/9) đầu trang(
Tại Lào Cai, minh chứng rõ nét nhất của việc làm theo lời Bác dạy rằng “Vì lợi ích 10 năm trồng cây…” là ở các địa phương trong tỉnh ngày càng có nhiều tấm gương về phát triển kinh tế rừng.
Tại huyện Bảo Thắng, lợi ích của rừng được khẳng định, nên diện tích rừng kinh tế ngày càng mở rộng. Trò chuyện với những triệu phú nhờ rừng như bà Nguyễn Thị Vinh, thôn Phú Hợp 2, xã Phú Nhuận mới thấy rõ điều đó. Bà Vinh thuần thục kỹ thuật chăm sóc rừng keo, mỡ, quế như một kỹ sư lâm nghiệp. Hiện, mỗi năm gia đình bà Vinh thu 40 - 50 triệu đồng từ khai thác quế và chặt tỉa rừng mỡ, keo, quế rộng hơn 4 ha.
Không chỉ phát triển kinh tế gia đình mình, bà Vinh còn giúp nhiều hộ trong thôn cùng phát triển kinh tế rừng. Tại thôn Phú Hợp, xã Phú Nhuận, mọi diện tích đều được người dân tận dụng để trồng rừng, cả 47 hộ dân đều xứng đáng là những tấm gương trồng rừng.
Tại xã Phong Niên, anh Trương Văn An, thôn Làng Cung cũng là một trong người hăng hái trồng rừng. Tổng diện tích 3 ha rừng hiện nay là kết quả của sự quyết định táo bạo: “Bỏ sắn, gắn cây mỡ, quế”. Nguồn thu từ trồng rừng giúp anh có điều kiện đầu tư nuôi lợn, bán hàng tạp hóa, đào ao, thả cá.
Hiện, tổng diện tích rừng toàn huyện Bảo Thắng là hơn 32.000 ha, tỷ lệ che phủ của rừng đạt gần 50%. Vụ hè thu năm 2013, huyện Bảo Thắng phấn đấu hoàn thành trồng mới gần 2.000 ha rừng, đến nay đã trồng 1.000 ha. Đi đôi với trồng rừng, huyện Bảo Thắng còn làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và công tác giao khoán bảo vệ rừng.
Đối với tỉnh Lào Cai, việc thực hiện thành công các dự án có liên quan trong những năm vừa qua đã góp phần quan trọng trong phát triển nhanh diện tích rừng trồng. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (giai đoạn 1998 – 2010) đã tạo ra giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích đất lâm nghiệp đạt 12 triệu đồng/ha/năm, nâng tỷ lệ che phủ rừng từ 31% (năm 1999) lên 50,1% (năm 2010).
Việc thực hiện Đề án phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp (giai đoạn 2006 - 2010) cũng có kết quả rất tích cực như diện tích trồng rừng tập trung đạt 168% kế hoạch, tổng diện tích đã trồng rừng phòng hộ, rừng cảnh quan môi trường, rừng phòng hộ biên giới đạt 142% so với yêu cầu đề ra.
Cùng với việc thực hiện trồng rừng, đã có sự gắn kết giữa quy hoạch phát triển rừng với xây dựng các nhà máy chế biến lâm sản tại chỗ để nâng cao hiệu quả kinh tế rừng. Có thể kể đến các cây lâm nghiệp, cây lâm nghiệp đa mục đích như: Vối thuốc, suấn sủ, tống quá sủ, trẩu, thông Mã Vĩ, sa mộc là những loài cây gỗ lớn, sống lâu năm, khả năng tái sinh mạnh. Đó còn là các cây lâm nghiệp bản địa cho sản phẩm phụ để tăng thu nhập đang phát triển mạnh ở huyện Si Ma Cai, Mường Khương, Sa Pa, Bắc Hà.
Năm 2013, toàn tỉnh phấn đấu trồng 5.900 ha rừng, trong đó chủ yếu là rừng sản xuất với 5.560 ha, đi đầu là huyện Bảo Yên với gần 2.000 ha, Bảo Thắng trên 1.200 ha, Văn Bàn 514 ha. Hiện, các địa phương đã tích cực trồng rừng mới đạt 77,5% kế hoạch được giao.
Ông Nguyễn Đức Lâm, Chi cục phó Chi cục Lâm nghiệp cho biết, công tác tuyên truyền, vận động của cơ quan chuyên môn với người dân nâng cao ý thức phát triển rừng đang ngày càng được đẩy mạnh. Việc tăng cường phổ biến kỹ thuật, hướng dẫn cụ thể cho người dân cách trồng và chăm sóc cây lâm nghiệp đang là yếu tố quan trọng để chương trình phát triển rừng bền vững có thêm những kết quá đáng phấn khởi. (Báo Lào Cai 28/9) đầu trang(
Phân viện Quản lý rừng bền vững và Cấp chứng nhận rừng đã hoàn thành xác lập và phiên bản chiếc ngà voi hóa thạch 19.450 năm.
Trong hơn một tháng, ông Nguyễn Trường Sơn ở thành phố Pleiku (tỉnh Gia Lai) cùng với hai cộng sự là Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Nam Hải là cộng tác viên Phân viện Quản lý rừng bền vững và Cấp chứng nhận rừng thuộc Hội Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam hoàn thành việc xác lập và phiên bản chiếc ngà voi hóa thạch có niên đại 19.450 năm.
Chiếc ngà voi này được làm bằng chất liệu thạch cao (phần ngọn), sắt thép và ximăng (phần gốc) có chiều dài 2,94m, trọng lượng 57,2kg và đường kính gốc 29cm.
Trên cơ sở thực hiện theo phương pháp hình trụ và căn cứ vào hiện vật hiện có, xuất phát từ độ rỗng của phần ngọn chiếc ngà voi để tính toán một cách chính xác về các chi tiết. Cũng theo ông Sơn, trong thời gian tới sẽ cùng với các cộng sự tiếp tục nghiên cứu xác lập và phiên bản chiếc họp sọ của loài voi này tương ứng với chiếc ngà voi đã được phiên bản mới đây.
Ông Nguyễn Trường Sơn là chuyên viên động vật rừng - thành viên của Phân viện Quản lý rừng bền vững và Cấp chứng nhận rừng trực thuộc Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam hiện đang sở hữu một phần của chiếc ngà voi hóa thạch và được Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận.
Một phần chiếc ngà voi này tổng chiều dài 1,26m, chu vi gốc 47cm và khối lượng 24kg được khai thác trong lòng đất ở địa danh vùng Chư A Thai thuộc huyện Phú Thiện, cách miệng núi lửa Hàm Rồng - thành phố Pleiku khoảng 30km (theo đường chim bay).
Lớp ngoài của chiếc ngà voi vẫn còn dính những hạt li ti nhiều màu sắc. Theo ông Trường Sơn, đó có thể là chất thủy tinh nham thạch bám vào trong quá trình miệng núi lửa Hàm Rồng lúc còn đang hoạt động.
Tổng hội địa chất Việt Nam, Viện đá quý - trang sức đã cấp Giấy chứng thực kiểm định đá quý về chiếc ngà voi này, trên cơ sở đó Viện Khảo cổ học Việt Nam cũng đã giám định niên đại của chiếc ngà voi hóa thạch này có từ 19.450 năm với độ tin cậy 95,4%, theo phiếu trả kết quả phân tích C-14 của Viện Khảo cổ học ngày 12/1/2011. (VietnamPlus.vn 1/10) đầu trang(
Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Tẻh cho biết, trên diện tích rừng keo của đơn vị đang phổ biến 5 loại bệnh tấn công, là bệnh thối đen thân, nấm hồng, bệnh lá vàng úa, phấn trắng và thối cổ rễ.
Theo đó, bệnh thối đen thân gây hại trên hơn 89 ha với tỷ lệ cây bị hại từ 60 - 70%; bệnh nấm hồng hơn 30 ha, tỷ lệ cây bị hại từ 25 - 80%; bệnh lá vàng úa 28 ha, tỷ lệ cây bị hại 34%; bệnh thối cổ rễ 15,8 ha, tỷ lệ cây bị hại 40% và bệnh phấn trắng gần 31 ha, tỷ lệ cây bị hại 20 - 30%.
Ngoài ra, cũng đang xuất hiện một số bệnh gây hại khác như bệnh bồ hóng, sâu kèn nhỏ, sâu xám nhỏ, xén tóc đục thân, rệp các loại… nhưng ở mức độ nhẹ. (Nông Nghiệp Việt Nam 30/9) đầu trang(
Tối 30/9, tại hồ thủy lợi Tả Trạch (xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế) hàng tấn củi, phách gỗ từ thượng nguồn đổ về phủ kín các cổng xả tràn.
Theo đại diện hồ Tả Trạch, số gỗ và củi nổi phía trên mặt nước trong khi cống xả rộng 4m nằm thấp ở dưới nên không gây tắc nghẽn cống. Tuy nhiên vị đại diện này nói rằng số gỗ củi trôi về nhiều đã làm ảnh hưởng đến dòng chảy xả tràn, do đó công ty phải thuê người trục vớt trong những ngày tới. (Tuổi Trẻ 1/10) đầu trang(
Chỉ trong một thời gian ngắn diện tích đất cao su được chuyển đổi từ đất rừng tại nhiều địa phương khu vực Tây nguyên đã tăng lên vùn vụt.
Theo Ban chỉ đạo Tây nguyên, bình quân mỗi năm Tây nguyên mất gần 26.000ha rừng, trong đó mất rừng do chuyển đổi trồng cao su chiếm tới 46,7%.
Năm 2009 toàn tỉnh Gia Lai có khoảng 70.000ha cao su. Ngoài diện tích này, cuối năm 2009 tỉnh Gia Lai tiếp tục có quy hoạch chuyển thêm 61.000ha đất rừng qua trồng cao su, tính đến nay diện tích cao su toàn tỉnh đã lên tới gần 100.000ha.
Việc trồng cao su ở tỉnh Gia Lai đang diễn ra với tốc độ nhanh và phủ hầu hết ở các huyện. Tại các huyện Chư Prông, Chư Sê, Ia Grai giờ đây đi dọc những tuyến đường vào trung tâm huyện hoặc dẫn ra tận khu vực biên giới đâu đâu cũng bạt ngàn cao su. Cao su được trồng nhanh và mở rộng diện tích nhiều hơn tất cả loại cây công nghiệp mà người dân trồng từ lâu nay.
Tại xã Ia O (huyện Ia Grai), những khu rừng nguyên sinh ít ỏi đang bị người dân chặt đốn loang lổ dần, cạnh đó những khoảng rừng mới bị chặt phá được người dân trồng tạm bằng cây ngắn ngày, giữa những khoảnh cây ngắn ngày này là các hố đất đã được căng dây để chuẩn bị trồng cao su. Men theo những khoảng rừng nhỏ dẫn ra bờ sông Sê San, đoạn giáp ranh với biên giới Campuchia, những khoảng đất trống mênh mông cũng đã được phát dọn và thay vào đó là những hàng cao su cao lút đầu người.
Tại xã Ia Blứ (huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai), từ trung tâm xã, tất cả con đường đất đều dẫn ra các khu cao su của các công ty như: Hoàng Anh Gia Lai, Đức Long Gia Lai, Công ty 194, Quang Đức Gia Lai, Phúc Cường...
Ông Phan Kiến - phó chủ tịch UBND xã Ia Blứ cho biết, cây cao su tại xã chỉ mới được đưa vào quy hoạch từ mấy năm trở lại đây. Theo ông Kiến, đất sản xuất tại Ia Blứ trước đây chủ yếu để trồng hoa màu, trồng tiêu, cà phê nhưng ba bốn năm trở lại đây khi cây cao su được quy hoạch thì đến đầu năm 2013 tại xã đã có đến sáu công ty cao su, các công ty này đang sử dụng đất rừng với tổng diện tích lên đến trên 5.000ha, trong đó Đức Long Gia Lai được phân bổ nhiều nhất với gần 2.000ha.
Theo ông Kiến, hầu hết diện tích đất mà các công ty sử dụng để trồng cao su đều là đất được chuyển đổi từ rừng nghèo. Đến nay việc trồng cao su vẫn đang được triển khai, chưa có dấu hiệu sử dụng đất sai mục đích được cấp nhưng ông Kiến cho rằng đã có tình trạng các đơn vị trồng cao su bất chấp quy định của tỉnh về việc trồng cao su không phá vỡ kết cấu tự nhiên.
“UBND tỉnh quy định các lô cao su không được trồng quá sát các bờ suối, tối thiểu phải cách dòng suối 50-100m nhưng họ cuốc sạch, trồng sạch, không chừa một khoảng rừng nào” - ông Kiến cho biết.
Hiện nay vào mùa khô các dòng suối tại xã đều bị khô cạn nước do rừng thu hẹp, cao su trồng quá sát mép suối. Ngoài ra, các doanh nghiệp cam kết đầu tư hạ tầng khi thực hiện dự án nhưng đến nay đường sá, cầu cống qua xã vẫn ngổn ngang, chưa có sự đầu tư nào.
Ông Phạm Đình Thu, phó bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, nói các doanh nghiệp chủ yếu là lo trồng mới vườn cao su và tập trung vào việc lấy được dự án, việc đầu tư hạ tầng điện, đường, trường, trạm theo quy định chưa được các doanh nghiệp quan tâm.
Tại Đắk Lắk, sau hơn năm năm trồng thí điểm cao su, hàng ngàn hecta đất rừng của các dự án bị tàn phá, lấn chiếm, xâm canh. Theo thống kê của UBND tỉnh Đắk Lắk thì hiện nay trên địa bàn tỉnh có 73 dự án chuyển đổi rừng, đất lâm nghiệp sang trồng cao su và cải tạo, quản lý bảo vệ, trồng rừng với tổng diện tích trên 70.027ha, trong đó có 37 dự án trồng cao su với diện tích 26.328ha.
Sau gần năm năm triển khai thực hiện, đến nay các doanh nghiệp chỉ mới trồng được hơn 7.235ha cao su. Trong khi đó, việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi thì các doanh nghiệp đã triển khai nhanh chóng, với trên 44.000m3 gỗ các loại (trên diện tích 7.343ha rừng chuyển đổi).
Theo quy hoạch trồng cây cao su toàn quốc được Chính phủ phê duyệt, ngoài các diện tích đã có từ trước thì từ năm 2009-2020 Tây nguyên sẽ được trồng thêm 100.000ha nhưng hết năm 2012 các địa phương đã ồ ạt quy hoạch chuyển đổi rừng trồng cao su lên tới hơn 164.000ha (vượt hơn 64.000ha). Theo Ban chỉ đạo Tây nguyên, bình quân mỗi năm Tây nguyên mất gần 26.000ha rừng, trong đó mất rừng do chuyển đổi trồng cao su chiếm tới 46,7%.
Ông Nguyễn Nhĩ - chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết, trước khi chuyển đổi đất qua trồng cao su thì phải có cơ quan đánh giá thẩm định giá trị rừng. Trong đó, có hai loại rừng nghèo: nghèo “bẩm sinh” do điều kiện tự nhiên khiến rừng ít gỗ và rừng nghèo do quá trình khai thác gỗ quá mức hoặc người dân chặt phá. Mặc dù có cơ quan thẩm định về giá trị rừng nhưng việc các dự án rừng cao su được triển khai cũng đã nảy sinh rất nhiều phức tạp trong việc quản lý bảo vệ rừng, công tác tận thu gỗ còn sót lại.
“Đến bây giờ vẫn còn nhiều ý kiến về việc cao su có phải là rừng hay không nhưng chắc chắn rừng tự nhiên thì giàu có, đa dạng hơn cao su rất nhiều” - ông Nhĩ nói.
Trong khi đó ở tỉnh Đắk Lắk, nhiều doanh nghiệp được cho chủ trương trồng cao su nhưng tiến độ thực hiện rất ì ạch. Công ty TNHH Hữu Bích (có trụ sở tại TP.HCM) được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp phép đầu tư trồng cao su trên diện tích 362,4ha tại hai xã Ea Huar, Krông Na (huyện Buôn Đôn). Tuy đã được giao đất hơn năm năm nhưng đến nay cảnh tượng tại khu dự án này rất hoang tàn và nhếch nhác.
Ông Nguyễn Văn Đúng, một hộ dân trồng khoai mì ở khu vực này, cho biết từ tháng 5-2012, công nhân tại đây bỏ đi đâu hết nên khu nhà này bỏ hoang, cao su cũng không ai chăm sóc. Theo báo cáo của Công ty Hữu Bích gửi Sở NN&PTNT tỉnh vào tháng 12-2012, công ty này chỉ mới trồng được 40/362ha cao su, diện tích đất còn lại đều bị người dân lấn chiếm.
Tương tự, ngày 7-7-2009 UBND tỉnh Đắk Lắk giao 698ha đất tại tiểu khu 248 và 264 tại xã Ea Lê (huyện Ea Súp) cho Công ty TNHH xây dựng Gia Huy để trồng cao su, trồng rừng. Tuy nhiên theo báo cáo của Phòng nông nghiệp huyện Buôn Đôn, cuối năm 2012 đã có hơn 200ha đất rừng bị người dân địa phương xâm chiếm hoàn toàn.
Thậm chí, người dân còn chặt phá, lấn chiếm thêm hàng chục hecta đất rừng trong vùng dự án của công ty này. Ngoài dự án “tiêu biểu” trên đây thì tại huyện Ea Súp có gần 25 dự án cải tạo rừng nghèo trồng rừng, cao su, chăn nuôi cũng nằm trong tình trạng bị lấn chiếm, xâm canh ở mức độ trầm trọng. (Tuổi Trẻ 30/9) đầu trang(
Viết tiếp chuyến đi của nhóm gười Việt điều tra về thảm sát tê giác ở Nam Phi, nhà báo Đỗ Doãn Hoàng cho biết, tất cả các tổ chức liên quan đến tê giác, đều thống thiết đưa ra dự đoán: Năm 2013, ít nhất 800 con tê giác sẽ bị kết liễu theo cái cách kể trên.
... Kiểm lâm viên lão luyện, với lúc lỉu dụng cụ, súng ống, vừa bước ra khỏi trực thăng là xăm xăm băng qua các trảng cỏ, các rừng gai nhọn để đến hiện trường càng nhanh càng tốt. Một nam và một nữ kiểm lâm trực tiếp khám nghiệm hiện trường, số còn lại bồng súng đứng canh gác bốn phía. Máy dò kim loại chạy bim bíp, tiếng rít khe khẽ mà chợn rợn, các đầu đạn, vỏ đạn được thu nhặt lại.
Vẻ đẹp của tê giác trong tự nhiên, đàn chim hoang dã thường xuyên bám trên lớp da dày “nhiều thức ăn” của con vật khổng lồ, chúng khiến cho các tay máy yêu thiên nhiên chợt cảm thấy... nao lòng
Đầu con tê giác, sau khi bị đám linh cẩu và kền kền ăn hết thịt da, trơ lớp xương trắng và các cụm gân đỏ trắng cho thấy con vật mới chỉ bị sát hại cách đây chưa lâu. Đám kền kền đán nhau để tranh ăn, còn để lại rất nhiều lông rụng quanh khu vực. Đầu con tê giác bị các nhát rừu bổ nham nhở, xương sọ vỡ nứt, các vết rừu chém còn rõ rành rành.
Da con vật đến từ thời tiền sử, sau khi bị con người và hoang thú “tận thu”, cứ nằm cứng quèo trong nắng gió. Da tê giác sắp khô, rất dày và cứng, trông nó như một con thuyền cũ nằm úp. Cán bộ kiểm lâm lật chổng kềnh nó ra, bụi bốc lên mù mịt, mùi hôi thối như ủ kín cả dải rừng.
Các nhà khoa học cho biết: Tê giác cùng những loài động vật khổng lồ như chúng, đến từ vài chục triệu năm trước, “thế hệ” chúng đã gắn bó với mặt đất này từ cái hồi chúng có trọng lượng lên tới... 30 tấn. Da của chúng làm từ một chất keo đặc biệt, được xắp xếp theo cấu trúc mắt lưới, có thể dày tới... 7cm.
Con tê giác trắng mà chúng tôi đã gặp, đang “khám nghiệm tử thi” đây, là loài vật tối cổ, là báu vật thiên nhiên của nhân loại. Nó cũng là một biểu tượng thiêng của Châu Phi.
Vì sao mỗi năm có 6 - 7 - 8 trăm con tê giác bị giết một cách tàn độc như vậy? Vì tiền. Tất cả các câu hỏi kiểu đó của tôi, dành cho cán bộ kiểm lâm, an ninh và bảo tồn ở nước bạn mà tôi đã gặp, thì đều nhận được câu trả lời là: Vì sừng tê giác được bán quá đắt, đắt sánh với vàng và kim cương.
Nhìn từ trực thăng, rừng Châu Phi nơi này không có núi, không có cây cao, nó cứ mênh mông, đường chân trời cong vòm xa vút như mặt biển. Bọn săn trộm có trực thăng và súng hiện đại, chúng chia 15 toán quân lùng sục trong 2 triệu hécta rừng Kruger - và mấy chục toán trong mấy chục cái rừng, safari khác - làm sao ngăn chặn được?
Dẫu Kruger có hai máy bay trực thăng, có 800 người tham gia bảo vệ rừng, nhưng chia tỉ lệ quá rộng của kho báu thiên nhiên 200.000km2 này ra, thì 1 kiểm lâm phải phụ trách 60km2 diện tích để bảo vệ. Xin thưa, nếu chỉ tuần tra một cung đường dài 60km mà rải nhựa đi nữa, thì cũng không xuể, chứ đừng nói 60km2 rừng với các loài mãnh thú khổng lồ, hung dữ, rừng thì chỗ nào cũng là... cửa vào, cửa ra.
Dĩ nhiên, cái khó nhất, vẫn là giá bán “chợ đen” của sừng tê giác quá đắt đỏ: Khoảng 65.000USD một cái! Thực tế là suốt bao nhiêu năm ròng, kể cả những thời gian hàng nghìn con tê giác bị Chính phủ Nam Phi cho phép những kẻ rửng mỡ hạ sát, nhồi làm mẫu vật khênh đi như những chiến lợi phẩm - thì tê giác Nam Phi không hề bị săn trộm khủng khiếp như bây giờ.
Con số tăng từng ngày, mỗi ngày trôi qua có hơn 2,5 con tê giác bị bắn chết, 9 tháng đầu năm 2013, số tê giác bị sát hại đã lên tới hơn 660 con, bằng con số này của cả năm 2012. Lý do cho bi kịch này thì có nhiều, trong đó có cả chính sách bảo vệ tê giác, động vật và thiên nhiên nói chung ở Nam Phi còn không ít bất cập, thiếu chặt chẽ dễ dẫn đến việc “các tổ chức tội phạm” lợi dụng làm càn. Trong đó có cả lý do không ít cán bộ liên quan tha hóa, gián tiếp hoặc trực tiếp sát hại tê giác.
Nam Phi được thế giới ghi nhận là quốc gia đi đầu thế giới, với nhiều thành công thứ thiệt trong việc bảo tồn tê giác nói riêng và động - thực vật nói chung từ cả trăm năm trước. Nhưng, cũng vì không thể từ chối các “quả trứng vàng” khổng lồ từ du lịch, nên họ đã cho phép người ta săn bắn tê giác làm chiến lợi phẩm suốt một thời gian dài. Lợi dụng điều này, các “tổ chức tội phạm” từ Á Châu đã xâm nhập vào, thậm chí chúng cài cả... gái điếm vào “đánh trống ghi tên” để săn tê giác, mục đích là lấy cái sừng về bán, thu bộn tiền.
Từ năm 2009 đến năm 2012, có đến 185 người Việt Nam sang Nam Phi bắn tê giác khênh về “làm chiến lợi phẩm” (chiếm 48% tổng số người nước ngoài đến Nam Phi làm việc này). Từ năm 2003 đến giữa năm 2012, các thợ săn Việt Nam đã tiêu tốn số tiền khổng lồ cho việc này: 22 triệu USD Mỹ. Trong số 43 vụ bắt giữ đối tượng liên quan đến sừng tê giác đến từ Châu Á gần đây, có tới 56% số thủ phạm là người Việt Nam.
Chúng tôi có đến thăm mô hình Safari do tư nhân quản lý. Đại ý là một khu bảo tồn khá rộng, có đủ loài thú lớn quý hiếm, do một đại gia làm chủ, họ đón khách như đón những ông bà hoàng.
Các chủ đất tư nhân với trại nuôi phục vụ du lịch và săn bắn kiểu này phủ trên một diện tích rộng hơn cả vườn quốc gia của nhà nước và địa phương quản lý. Họ từng có công lớn trong việc bảo tồn tê giác, giúp sinh sản thêm nhiều nghìn cá thể trong thời gian trước đây. Đến năm 2010, 25% số tê giác của Nam Phi thuộc sở hữu tư nhân.
Tuy nhiên, các nguồn tin tức được các đơn vị điều tra công bố cho thấy: Sản phẩm sừng tê giác bị “móc ngoặc” để săn trộm, để bán ra khỏi kho (ví dụ tê giác chết, sừng giữ lại trong kho của Safari) đã xảy ra. Năm 2010, Chính phủ Nam Phi đã ra thông báo về hơn 15 tấn sừng tê giác, trong đó có tới 12% số này đang thuộc sở hữu tư nhân.
Nhiều cáo buộc liên quan đến sự tiếp tay của các cán bộ trong “ngành công nghiệp trại nuôi Nam Phi”, kể cả các phi công, thợ săn chuyên nghiệp, bác sĩ thú y... cho các đường dây săn, buôn sừng tê giác. Đấy là chưa kể, có ít nhất 65 sừng tê giác bị đánh cắp khỏi bảo tàng và các khu trưng bày khác ở Nam Phi, ít nhất 46 sừng tê giác khác được thông báo đã “không cánh mà bay” khỏi các học viện, bảo tàng ở Châu Âu.
Trước tình trạng nóng bỏng đó, người Nam Phi kêu gọi người của nhân loại tiến bộ cùng chung tay “giảm cầu” ở các quốc gia có niềm tin kỳ quái vào giá trị “thần dược” của việc sử dụng sừng tê giác. Thậm chí, một số Safari bị khốc hại vì săn trộm, họ buộc phải thực hiện một phương án “cùn”: Bắn thuốc mê, cắt sừng con tê giác ngoài hoang dã kia đem vào... nhà kho lưu giữ.
Chỉ có đem “cất sừng vào kho”, thì tê giác mới có cơ hội sống sót trước các toán thợ săn. Thậm chí, người ta còn tiêm thuốc độc vào sừng tê giác họ đang quản lý, để kẻ săn trộm “chừa” con vật tội nghiệp ra.
Trong một hội thảo ở thủ đô Johannesburg, chúng tôi đã đặt vấn đề rất... “chợ đen Việt Nam” như sau: Tiêm thuốc độc vào sừng tê giác sẽ không thể đạt được mục đích mong muốn, mà quá tốn kém. Bởi mấy lý do: Bọn săn trộm nó có được “tập huấn” thế nào là sừng tê giác đã tiêm thuốc độc đâu. Nó cứ bắt, bắn, giết, cứ cắt sừng và sau 48 tiếng máu đổ trong rừng Nam Phi, cái sừng ấy về đến Việt Nam chẳng hạn.
Người mua để mài uống chữa “bách bệnh”, để biếu tặng bằng tiền tấn nhằm “đổi lấy cơ hội tốt”..., họ đâu có được tập huấn để tránh cái sừng tiêm thuốc độc?
Qua điều tra của chúng tôi, người tiêu dùng nước ta cứ truyền tai nhau, sừng tê giác có ánh tím, ánh đỏ, ánh hồng mới là sừng xịn, mài uống đi, biếu tặng đi. Đấy là chưa kể, hầu hết sừng tê giác ở Việt Nam là sừng giả. Các làng làm xương, làm sừng động vật giả ở Bắc miền Trung nước ta, họ làm được các sợi “tóc” kết lại thành sừng, mài ra hoặc đốt lên thì mùi càng “như thật”. Nó giống sừng tê giác hơn cả sừng tê giác, nhưng thật ra nó là nilon và sừng trâu được phù phép.
Đáng sợ hơn, như GS Nguyễn Lân Dũng - một con người khả kính, có uy tín đặc biệt trong giới nghiên cứu về sinh học, động vật - đã tâm huyết nói nhiều lần trên báo Việt Nam, trong các hội thảo lớn: Sừng tê giác như sừng trâu, đàn ông uống vào thì có nguy cơ tán khí, liệt dương. (Lao Động 30/9) đầu trang(
Việc tỉnh Đắk Lắk giao hàng chục ngàn hécta rừng ở các huyện Ea Súp, Buôn Đôn và Ea H’leo cho các công ty tư nhân trồng cao su và tình trạng người dân phá rừng lấy đất sản xuất đã phá nát "ngôi nhà" của voi rừng
Môi trường sống bị thu hẹp, thức ăn ngày càng khan hiếm là nguyên nhân làm cho voi rừng thường xuyên về khu dân cư phá hoại cây trồng. Điều đáng lo ngại là tần suất xuất hiện của voi tại khu vực người dân canh tác ngày càng nhiều, thậm chí chúng không ngại va chạm với con người.
Hiện trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 5 đàn voi rừng với số lượng 60-70 con. Khu vực huyện Ea Súp có một đàn khoảng 22-24 con, nơi sinh sống chính là diện tích rừng thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ia Lốp, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea H’mơ và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Rừng Xanh. Vào mùa khô, đàn voi này di chuyển sang Campuchia để tìm thức ăn.
Tại huyện Buôn Đôn, do có Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn nên số lượng voi rừng tập trung khá nhiều, từ 40-46 con, chia làm 4 đàn. Dù là VQG nhưng những năm gần đây, tình trạng khai thác gỗ, săn bắn thú rừng xảy ra thường xuyên nên môi trường sống của voi bị tác động mạnh.
Vì vậy, có 1 đàn khoảng 25-27 con, cư trú chính ở khu vực phía Bắc VQG Yok Đôn thường xuyên di chuyển tới những khu rừng đã được giao cho Công ty Lâm nghiệp Anh Quốc và Công ty Lâm nghiệp Cư M’lanh. Trong quá trình tìm kiếm thức ăn, đàn voi này thường xuyên di chuyển về khu vực canh tác, phá hoại cây trồng của người dân xã Ia R’vê, xã Ea Bung…
Ông Nguyễn Ngọc Phú, Trưởng Phòng NN-PTNT huyện Ea Súp, cho biết phần lớn diện tích rừng trên địa bàn huyện đều giao cho 11 doanh nghiệp tư nhân trồng cao su và bảo vệ. Tuy nhiên, công tác bảo vệ rừng không được doanh nghiệp chú trọng và tình trạng người dân vào rừng xâm canh xảy ra phổ biến nên rừng mất dần. "Con người đang phá nát ngôi nhà của voi nên chúng thường xuyên về nương rẫy để tìm thức ăn" - ông Phú nhận định.
Việc phá rừng, săn bắn voi trái phép cũng tạo tâm lý hung tợn trong đàn voi rừng. Chúng không ngại giáp mặt với con người. Nhiều trường hợp voi rừng tấn công người dân đã xảy ra. Điển hình là tối 27-10-2012, anh Cao Xuân Cảnh (Công an xã Ea Lê, huyện Ea Súp) bị 1 đàn voi quật chết tại Tiểu khu 276 thuộc lâm phần của Công ty TNHH Hải Hà. Trước đó, ngày 13-3-2011, trên đường đi làm rẫy về, anh Trần Văn Tư (ngụ xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo) đã bị 1 con voi đực quật chết tại chỗ...
Ông Huỳnh Trung Luân, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, khẳng định: "Đàn voi quật chết anh Cảnh là đàn có 2 con bị thợ săn dùng súng quân dụng sát hại vào tháng 8-2012. Sau khi 2 con voi chết, cả đàn hoảng loạn, hung dữ, sẵn sàng tấn công người nếu chúng bắt gặp".
Theo đề án bảo tồn voi Đắk Lắk, vài năm trước, tỉnh này có 90-110 con voi rừng. Tuy nhiên, theo công bố mới đây của Trung tâm Bảo tồn voi Đắk Lắk, hiện tỉnh chỉ còn 5 đàn voi với số lượng khoảng 60-70 con, phân bố chủ yếu ở VQG Yok Đôn và huyện Ea Súp.
Theo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, khu vực sống đang bị tác động mạnh làm cho voi rừng ngày càng hung dữ và có nguy cơ di chuyển sang Campuchia. Tại xã Ea H’leo, huyện Ea H’leo, trước năm 2012, voi rừng thường xuyên về phá hoại hoa màu của người dân.
Tuy nhiên, thời gian gần đây không còn thấy voi xuất hiện. Nguyên nhân là do khu vực này đã được nhà nước giao cho các công ty lâm nghiệp. Các công ty này đã tiến hành khai hoang rừng làm nhiễu loạn sinh cảnh. Rừng nguyên sinh bị tàn phá, thay thế vào đó là các diện tích cây cao su làm cho voi bỏ đi nơi khác.
PGS-TS Bảo Huy - Khoa Lâm nghiệp Trường ĐH Tây Nguyên, Trưởng nhóm nghiên cứu đề án Bảo tồn voi Đắk Lắk - nhận định: Trong các khu vực có voi rừng sinh sống hiện nay, chỉ vùng lõi của VQG Yok Đôn là ít bị con người tác động. Trong khi đó, hàng chục ngàn hécta rừng ở khu vực phía Tây Bắc huyện Ea Súp, vốn là môi trường sống lý tưởng của voi rừng, lại bị tỉnh giao cho các doanh nghiệp để trồng cao su. Điều này lý giải vì sao voi rừng thường xuyên về khu dân cư và ngày càng lì lợm.
"Nếu muốn bảo tồn voi, cần phải rà soát để quy hoạch một phần diện tích rừng đã giao các công ty lâm nghiệp thành rừng đặc dụng cho chúng sinh sống" - PGS-TS Bảo Huy đề xuất. (Người Lao Động 1/10) đầu trang(
Theo tin từ Sở NN&PTNT, 9 tháng của năm 2013, ngành kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương có rừng kiểm tra phát hiện 200 vụ vi phạm về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, giảm 62 vụ so với cùng kỳ năm 2012.
Trong số đó, có 167 vụ xử lý hành chính, 7 vụ vi phạm nghiêm trọng phải chuyển qua xử lý hình sự.
Tang vật thu được từ các vụ vi phạm về rừng là gần 90m3 gỗ, 254 cá thể động vật hoang dã và hơn 100kg động vật hoang dã các loại. Riêng các vụ vi phạm về phá rừng trái phép đều có mức độ thiệt hại không lớn, chủ yếu theo hình thức các hộ dân lấn vào rừng nhằm mở rộng diện tích để sản xuất nông nghiệp. (Báo Đồng Nai 1/10) đầu trang(
Năm 2013, kế hoạch trồng mới rừng phòng hộ của tỉnh là 340 ha, trong đó, huyện Bắc Hà thực hiện 100 ha, Mường Khương 130 ha và Si Ma Cai 110 ha, hiện các địa phương đã triển khai và hoàn thành đạt 55% kế hoạch.
Tuy nhiên, rừng phòng hộ của Lào Cai hầu hết nằm ở độ cao trên 600m. Điều kiện trồng rừng phòng hộ hết sức khó khăn do địa hình cao, độ dốc lớn, người dân sống không tập trung, thiếu đường giao thông, để đưa cây giống, phân bón từ khu dân cư, có điểm trồng rừng có khi mất tới cả ngày mang vác.
Việc trồng mới và khoanh nuôi bảo vệ rừng phòng hộ đang là “bài toán” khó đối với ngành lâm nghiệp của tỉnh. Do điều kiện khí hậu, thời tiết chỉ cho phép thực hiện trồng rừng 1 vụ vào mùa mưa, thời điểm chuẩn bị trồng rừng thường trùng với thời gian sản xuất mùa vụ của người dân, nên khó khăn trong việc vận động các hộ nhận khoán thực hiện.
Trong khi đó, vấn đề quản lý đất đai còn nhiều bất cập, vì lợi ích trước mắt, nên người dân vẫn còn canh tác cây lương thực trên đất rừng phòng hộ. Mặt khác, suất đầu tư trồng rừng phòng hộ hiện là 15 triệu đồng/ha, bao gồm cả việc trồng mới và chăm sóc rừng 4 năm sau đó. Nguồn kinh phí này chưa thể đảm bảo thu nhập cho người lao động.
Bên cạnh đó, phần lớn diện tích rừng phòng hộ hiện chưa cho sản phẩm phụ, nên người dân thiếu mặn mà với việc trồng và bảo vệ rừng phòng hộ. Một số đồng bào vùng cao nhận thức chưa cao, nên luôn coi trồng rừng phòng hộ là việc “của Nhà nước” và còn tập quán thả rông gia súc, gây ảnh hưởng đến chất lượng bảo vệ rừng trồng và hoạt động chăm sóc, bảo vệ rừng.
Trước những khó khăn đó, Sở NN&PTNT đã chỉ đạo các huyện, Ban quản lý rừng phòng hộ địa phương rà soát diện tích đất để xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể hằng năm. Cùng với đó, Chi cục Lâm nghiệp đã tập trung tuyên truyền, vận động các hộ dân tham gia bảo vệ và khoanh nuôi tái sinh rừng, tích cực phối hợp thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng để động viên người dân tham gia.
Ông Vũ Hồng Điệp, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Một số người dân chưa hiểu hết lợi ích của trồng rừng phòng hộ, nên đơn vị đã tích cực phối hợp với các địa phương, các ngành trong khâu tuyên truyền. Qua đó, thu hút sự tham gia, vào cuộc tích cực của chính quyền nhiều địa phương và hầu hết người dân vùng dự án. (Báo Lào Cai 29/9) đầu trang(
Khu vực rừng phòng hộ núi Ngang, thuộc xã Ba Liên (Ba Tơ, Quảng Ngãi) đang bị lâm tặc ngang nhiên tàn phá.
Ông Phạm Văn Thanh, ở xã Ba Liên cho biết: “Hiện nay khu vực rừng phòng hộ thuộc thôn Núi Ngang gần đập hồ Núi Ngang đang bị mất dần. Một phần do bão những năm trước quật ngã. Còn lại do lâm tặc khai thác trộm. Tình trạng lâm tặc chặt gỗ keo thuộc rừng phòng hộ Núi Ngang diễn ra nhiều năm qua, nhưng không được ngăn chặn dứt điểm”.
Ông Phạm Văn Nhiết – Chủ tịch xã Ba Liên cho biết: “Tình trạng phá rừng phòng hộ đã diễn ra thời gian dài. UBND xã Ba Liên đã nhiều lần đề nghị Ban Quản lý rừng phòng hộ khu Đông huyện Ba Tơ ngăn chặn tình trạng trên”.
Còn theo báo cáo sơ bộ của Ban Quản lý rừng phòng hộ khu Đông, hiện có trên 8 địa điểm rừng bị phá trong thời gian qua. Như khu vực khoảnh 13, tiểu khu 366, suối Nước Ro bị người dân ở xã Ba Liên phát gần 1,5 ha. Hay tại khoảnh 12, tiểu khu 370, lực lượng chức năng phát hiện nhiều vị trí người dân phá rừng với diện tích gần 2 ha...(Báo Quảng Ngãi 30/9) đầu trang(
UBND H.Đầm Dơi (Cà Mau) đã "thống nhất phân công công tác" cho các đối tượng nguyên là cán bộ sau khi bị tòa án kết tội trở về. Việc này được cho là "không trái quy định của nhà nước", nhưng tạo dư luận xấu tại địa phương.
Theo cáo trạng, năm 2007, Trần Trung Vũ, Trưởng ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Đầm Dơi, bàn với một số cán bộ khác giao khoán đất rừng phòng hộ xung yếu tại tiểu khu 222 và 224 cho cán bộ cơ quan, ngành trong huyện và tỉnh để nuôi tôm cải thiện đời sống.
Đến giữa năm 2008, ông Mai Thanh Trúc, người kế nhiệm ông Vũ, làm tờ trình gửi ông Nguyễn Văn Tuồng, Trưởng phòng NN-PTNT huyện, thẩm định. Hồ sơ sau đó được chuyển tới ông Trần Xuân Khuya, Phó chủ tịch UBND huyện, và được ông Khuya ra quyết định giao khoán đất rừng phòng hộ cho 14 hộ, thực chất đều là người nhà của các vị lãnh đạo huyện này.
Đây là vụ án vi phạm các quy định về quản lý rừng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Các bị can trong vụ án là những cán bộ lãnh đạo đã lạm dụng chức vụ quyền hạn được giao để giao khoán đất rừng, chuyển mục đích sử dụng và khai thác lâm sản, giao khoán hơn 65 ha rừng phòng hộ xung yếu trái quy định.
Tháng 4.2009, Cơ quan điều tra - Công an tỉnh Cà Mau ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố các bị can Trần Xuân Khuya, Nguyễn Văn Tuồng, Nguyễn Bình Nguyên (Chánh văn phòng UBND huyện), Trần Trung Vũ (Trưởng phòng TN-MT) và Mai Thanh Trúc với tội danh “vi phạm các quy định về quản lý rừng”.
Vụ án đã được TAND tỉnh Cà Mau đưa ra xét xử sơ thẩm vào đầu năm 2012. Đến ngày 13.9.2012, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM sửa án sơ thẩm, tăng hình phạt các bị cáo Trần Trung Vũ, Mai Thanh Trúc từ 2 năm tù lên 3 năm tù (thời gian thử thách là 5 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm); Nguyễn Văn Tuồng từ 18 tháng tù lên 30 tháng tù (thời gian thử thách 4 năm); Trần Xuân Khuya và Nguyễn Bình Nguyên mỗi người 2 năm tù (thời gian thử thách 3 năm). Tất cả đều được hưởng án treo.
Ông Võ Thanh Tòng, Chủ tịch UBND H.Đầm Dơi, cho biết hiện ông Khuya đang đi giám định sức khỏe để nghỉ hưu theo chế độ; ông Tuồng thì chưa có quyết định cuối cùng là nghỉ chờ đến tuổi để giám định sức khỏe nghỉ hưu hay đi làm lại. Đối với các trường hợp khác, UBND huyện đã bàn và thống nhất phân công ông Mai Xuân Trúc “trở về” đơn vị cũ là BQL rừng phòng hộ Đầm Dơi; ông Trần Trung Vũ, Nguyễn Bình Nguyên về Văn phòng đăng ký đất đai (thuộc Phòng TN-MT) và các ông này sẽ làm việc kể từ đầu tháng 10.
“Bản án có hiệu lực từ tháng 9.2012 nhưng đến nay chúng tôi mới bố trí đơn vị công tác theo quy định được vì vướng phải phản ứng gay gắt từ người dân và cán bộ, phải chờ xin ý kiến từ Sở Nội vụ đến Bộ Nội vụ.
Theo quy định, không buộc thôi việc những công chức vi phạm pháp luật khi bị tòa án xử phạt tù cho hưởng án treo. Nhưng một người bị tòa án xử phạt về hình sự đang thụ án, uy tín của họ bị giảm sút nghiêm trọng nên đảm đương công việc mang tính chất thanh liêm, mẫu mực rất khó. Họ đã có đơn yêu cầu đề nghị bố trí lại việc làm cho họ theo quy định, thì phải giải quyết”, ông Tòng băn khoăn.
Ông Tòng cũng cho biết, là hiện cán bộ hưu trí, công nhân viên chức và cả cử tri địa phương vẫn đang phản ứng quyết liệt quyết định bố trí lại việc làm cho những người này. (Thanh Niên 30/9) đầu trang(
Sau chuyển đổi cơ chế hoạt động, các công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk được kỳ vọng là sẽ tăng hiệu quả sản xuất - kinh doanh, công tác quản lý - bảo vệ và phát triển vốn rừng tốt hơn, nhưng sau gần 10 năm chuyển đổi, các công ty lâm nghiệp lại rơi vào tình cảnh hết sức khó khăn.
Từ đơn vị sự nghiệp là các lâm trường quốc doanh, sau khi chuyển đổi sang công ty lâm nghiệp, và hiện nay là công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp, 15 doanh nghiệp lâm nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, hạch toán độc lập. Nhưng trên thực tế, chỉ là thay đổi tên gọi, còn hoạt động không có gì mới, một số cơ chế chính sách quản lý bảo vệ rừng chưa sát với thực tế hiện nay, nhất là về tài chính, dẫn đến hoạt động của các công ty lâm nghiệp vẫn gần như “dẫm chân tại chỗ”.
Xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng căn cơ nhất vẫn là tiềm lực không có, cùng với sự thiếu năng động, khả năng tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh… của các công ty lâm nghiệp còn yếu và hạn chế, khiến khối kinh tế đầy tiềm năng và thế mạnh này không đạt được những kết quả như mong muốn.
Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 28 của Bộ Chính trị về sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh tỉnh Đắk Lắk chỉ rõ, việc sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh trên địa bàn chủ yếu mới thay đổi về tên gọi, chứ chưa thực chất đổi mới về phương thức hoạt động, cơ chế quản lý, sản xuất kinh doanh, cơ chế tài chính, quản lý sử dụng đất.
Chính vì vậy, việc chuyển đổi này chưa tạo động lực kích thích phát triển, doanh nghiệp chưa được tự chủ trong hoạt động, quy mô, hiệu quả sản xuất hạn chế. Rừng do các đơn vị này quản lý vì vậy vẫn tiếp tục bị phá, đất đai bị lấn chiếm, xâm canh ngày càng nhiều, tình trạng tranh chấp diễn ra ngày một phức tạp, kéo dài.
Mặt khác, dù được thành lập với mục tiêu chủ yếu là quản lý bảo vệ và kinh doanh rừng sản xuất, nhưng các công ty lâm nghiệp không được tự chủ khai thác gỗ theo phương án kinh doanh; diện tích rừng chưa được xác định giá trị để giao vốn cho doanh nghiệp, việc vay vốn ngân hàng thương mại để trồng rừng sản xuất gặp quá nhiều trở ngại. Tình trạng này đã kéo dài nhiều năm, đặt doanh nghiệp vào hoàn cảnh hết sức khó khăn vì có đất, có lao động nhưng không phát triển được sản xuất, hoặc sử dụng đất đai kém hiệu quả và không đúng quy định.
Ông Nguyễn Quốc Hưng, Giám đốc Chi cục Phát triển Lâm nghiệp cho biết, các doanh nghiệp lâm nghiệp rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan” cũng bởi đang phải gồng mình để quản lý, bảo vệ diện tích rừng và đất rừng rất lớn (hơn 198 nghìn ha), nhưng chỉ có 596 lao động với mức lương bình quân chưa đến 4 triệu đồng/người/tháng, chưa kể một số đơn vị đang trong tình trạng nợ lương , nợ bảo hiểm xã hội, phải cắt giảm lao động, ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng, khiến nhiều đơn vị bất lực trước tình trạng khai thác, chặt phá lấn chiếm rừng và đất rừng.
Theo quy định, đơn vị lâm nghiệp nào được giao diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng, còn diện tích rừng tự nhiên có thể chuyển thành rừng sản xuất, hoặc đất sản xuất nông nghiệp phải chuyển sang hình thức thuê, trả tiền thuê đất hàng năm, thì mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do không đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, nên các công ty lâm nghiệp không đến cơ quan thẩm quyền để nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Bùi Quốc Tuấn, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông, bày tỏ: Việc thuê diện tích rừng tự nhiên để chuyển sang rừng sản xuất, nhưng hiện trạng rừng là rừng trung bình, hoặc rừng nghèo thì việc lấy rừng nuôi rừng là không khả thi.
Hơn nữa, nếu thiếu vốn sản xuất – kinh doanh và trồng rừng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cũng không giúp doanh nghiệp lâm nghiệp có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng, còn nếu có tài sản thế chấp thì công ty vẫn phải vay theo lãi suất thương mại bởi ngân hàng không có chương trình cho vay dài hạn và vốn ưu đãi trồng rừng. Còn vốn cho đầu tư sản xuất – kinh doanh, chế biến lâm sản hoặc ngành nghề khác lại càng xa vời!
Để nuôi người giữ rừng và giữ được rừng, hiện một số công ty lâm nghiệp chỉ biết trông chờ kinh phí hỗ trợ từ phí dịch vụ môi trường rừng, số khác thì trông chờ một phần vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ, cộng với khó khăn trong sản xuất – kinh doanh, gặp suy thoái kinh tế, hầu hết các doanh nghiệp lâm nghiệp đều giảm doanh thu. Năm 2012, ngoài công ty TNHH MTV lâm nghiệp Krông Bông có lợi nhuận 2,5 tỷ đồng, hầu hết các đơn vị khác đều thua lỗ.
Hai năm 2011 và 2012, các doanh nghiệp lâm nghiệp lỗ hơn 11 tỷ đồng, chiếm 12% số lỗ của các doanh nghiệp nhà nước nói chung. Tình trạng thua lỗ, nợ nần kéo dài, nguy cơ không tiếp tục đứng vững đang hiện hữu. Thậm chí có đơn vị không những người lao động xin nghỉ , ngay cả lãnh đạo cũng xin nghỉ việc, hoặc đề xuất chuyển doanh nghiệp cho đơn vị khác có năng lực quản lý bảo vệ rừng.
Sau khi tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết 28 của Bộ chính trị, tỉnh Đắk Lắk đã đề xuất Trung ương về những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn và mở ra hướng đi mới cho các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp.
Trước mắt, UBND tỉnh tiến hành rà soát, đánh giá lại năng lực của các công ty để đưa ra chương trình, giải pháp khôi phục và phát triển hợp lý. Tiến hành cổ phần hóa đối với một số doanh nghiệp lâm nghiệp, còn đối với những đơn vị nào còn nhiều diện tích rừng tự nhiên làm kinh tế và tự trang trải kinh phí thì giữ nguyên hình thức công ty TNHH MTV.
Những đơn vị đang quản lý diện tích rừng tự nhiên thuộc rừng nghèo, không có khả năng lấy rừng nuôi rừng và không có ngành nghề kinh doanh nào khác nên chuyển thành ban quản lý bảo vệ rừng để Nhà nước cấp ngân sách làm nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng.
Nhà nước cũng cần xây dựng cơ chế , chính sách đặc thù đối với công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp về khai thác gỗ rừng tự nhiên, miễn tiền sử dụng đất, thuê đất là rừng tự nhiên, rừng trồng được vay vốn ưu đãi, được dùng giá trị quyền sử dụng đất trong góp vốn liên kết sản xuất thực hiện các dự án lâm nghiệp.
Tại cuộc họp thông qua phương án sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2013-2015 trên địa bàn tỉnh được tổ chức vào tháng 7-2013, UBND tỉnh đã thống nhất việc chuyển 7/15 công ty TNHH MTV lâm nghiệp thành ban quản lý rừng do các đơn vị này không đủ năng lực xây dựng phương án sản xuất, kinh doanh; buông lỏng quản lý công tác bảo vệ rừng.
UBND tỉnh cũng chỉ đạo Sở NN-PTNT triển khai thực hiện rà soát thực trạng diện tích rừng thực tế của các Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp: Chư M’Lanh, Rừng Xanh, Ya Lốp, Chư Phả để trên cơ sở đó nếu doanh nghiệp nào còn rừng thì tiếp tục thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, doanh nghiệp nào không còn rừng thì đề xuất phương án sắp xếp cụ thể trình UBND tỉnh xem xét quyết định. (Báo Đắk Lắk 28/9) đầu trang(
Ngày 26/9, lực lượng kiểm lâm huyện Khánh Sơn đã phục kích, bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ trái phép tại thôn 4, xã Thành Sơn.
Tại hiện trường, lực lượng đã tịch thu được 9 khúc gỗ muồng, với khoảng 1,5m3. Số gỗ này đã được vận chuyển về Hạt kiểm lâm để tiếp tục hoàn thiện hồ sơ xử lý.
Theo đại diện của Hạt, tình hình khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trong thời gian qua trên địa bàn huyện đã giảm, tình trạng khai thác mang tính nhỏ lẻ. Từ đầu năm đến nay, lực lượng đã tổ chức và phối hợp kiểm tra phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính 47 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm 2012. Trong đó, đã xử lý hành chính 43 vụ, tịch thu trên 67 m3 gỗ các loại, thu phạt hành chính 80 triệu 500 ngàn đồng. (Đài PT - TH Khánh Hòa 29/9) đầu trang(
Chiều 29/9, Công an huyện Ba Tơ, Quảng Ngãi cho biết, đã phối hợp lực lượng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi khám nghiệm hiện trường, tiến hành điều tra truy tìm thủ phạm vụ trộm cắp xảy ra tại nhà ông Ngô Quang Vĩnh (trú ở làng Trui, xã Ba Tiêu, Ba Tơ). Theo khai báo của ông Vĩnh, gia đình ông thường mua bán gỗ sưa.
Vào tối 21/9, trong lúc gia đình ông đang ngủ thì kẻ trộm đột nhập nhà lấy đi 3 lượng vàng cùng một số khúc gỗ và tượng gỗ sưa. Riêng, số gỗ và tượng gỗ sưa được gia đình ông mua lại của nhiều người để trưng bày trong nhà, trị giá hơn 200 triệu đồng. Trước khi đột nhập, bọn trộm đã dùng bả độc đánh chết 2 con chó giữ nhà nên người trong nhà không hay biết gì…
Trước đó, một số gia đình buôn gỗ sưa ở xã Ba Tiêu cũng bị kẻ gian đột nhập "cuỗm" tài sản. Điển hình, một quán cơm dưới chân đèo Violắc, sau khi chủ quán mua một số gốc, gỗ sưa của những người đào thấy ở đèo thì có một số đối tượng gọi điện đến hỏi mua lại. Ngay đêm đó, bọn trộm đột nhập vào quán cơm dùng dây khóa chặt các cửa phòng ngủ rồi hành sự dễ dàng. Mới đây, người dân ở các xã Ba Tiêu và Ba Vì, huyện Ba Tơ đã bắt giữ một đối tượng ở xã Ba Ngạc (Ba Tơ) lừa bán gỗ sưa giả…
Đáng chú ý là vụ cướp gỗ sưa vừa được Công an tỉnh Quảng Ngãi phối hợp Công an huyện Mộ Đức triệt phá. Nhóm cướp gồm các đối tượng: Trần Tuấn Khanh, Lê Văn Chung, Nguyễn Ngọc Hải, Đặng Ngân và Trần Hữu Toản, đều ở các huyện Mộ Đức và Đức Phổ. Khi được biết, ban đêm thường có nhiều xe ôtô và môtô lén lút chở gỗ sưa trên quốc lộ 24 đi tiêu thụ, nhóm đối tượng này đã lên kế hoạch chặn cướp. Chúng sử dụng hung khí chặn nhiều xe cướp gỗ sưa, tống tiền chủ hàng…
Được biết, thời điểm hiện nay, mỗi ký gỗ sưa có giá khoảng 2 triệu đồng. Tuỳ theo gỗ kích thước, hình dáng có giá cao hơn. Do đó, sau một thời gian tạm lắng, cơn sốt gỗ sưa ở tỉnh Quảng Ngãi lại bùng phát, làm phát sinh nạn trộm cắp, lừa đảo, cướp gỗ sưa… (Công An Nhân Dân 30/9) đầu trang(
Tại trụ sở Trạm Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) Đarahoa, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng), Mai Văn Nghĩa, một đối tượng phá rừng và lấn chiếm đất rừng, chống người thi hành công vụ, ngang nhiên đánh người gây thương tích trước sự chứng kiến của các cơ quan chức năng. Nạn nhân là bà Võ Thị Nhạn - Giám đốc Cty Thành Phong, là đơn vị được giao QLBVR.
Nguyên nhân do thời gian qua, Nghĩa đã tổ chức băng nhóm chặt cây, phá rừng, đào đãi thiếc tại tiểu khu 114, xã Đạ Sar, huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) thuộc khu vực rừng Cty Thành Phong được giao QLBV. Cty đã làm văn bản báo cáo với chính quyền địa phương.
Tuy nhiên, UBND huyện Lạc Dương không xử lý kiên quyết, từ đó Mai Văn Nghĩa coi thường pháp luật. 9 giờ sáng ngày 24/9, Đoàn công tác liên ngành gồm Trạm QLBVR Đarahoa, Phòng TN&MT, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Giám đốc Cty Thành Phong mời Nghĩa về trụ sở Ban QLBVR để xác định phần đất rừng do Nghĩa lấn chiếm trái phép thì Nghĩa đã lấy ly sành loại lớn đánh thẳng vào đầu bà Nhạn làm bà gục ngã tại chỗ, phải đưa vào Bệnh viện Lâm Đồng cấp cứu.
Từ năm 2009, Nghĩa đã tụ tập được một băng nhóm từ 50-60 người sử dụng máy ủi, máy đào phá rừng và khai thác thiếc trái phép tại khu vực nói trên. Năm 2011, Đoàn công tác liên ngành của tỉnh đã bắt quả tang, lập biên bản giao cho UBND huyện Lạc Dương xử lý. Tuy nhiên, được một số cán bộ huyện “bảo kê” nên Nghĩa ngày càng lộng hành.
Ngày 25/9/2013, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có Văn bản số 5708 giao Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương trực tiếp chỉ đạo Công an huyện Lạc Dương chủ trì, phối hợp với Hạt Kiểm lâm và các đơn vị có liên quan khẩn trương điều tra, xác minh, làm rõ để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật và báo cáo UBND tỉnh trước ngày 30/10/2013. (Pháp Luật Việt Nam 1/10) đầu trang(
Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Lắk, 9 tháng năm 2013, toàn tỉnh xảy ra 1.768 vụ vi phạm lâm luật phải xử lý, với diện tích rừng bị phá hơn 43ha và bị cháy 39ha.
Lực lượng chức năng đã phát hiện, tịch thu 3.748m3 gỗ, 323kg động vật rừng, 870 phương tiện và công cụ các loại. Các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Ea H’leo, Cư M’gar, Krông Bông và Krông Năng để xảy ra nhiều "điểm nóng" về khai thác lâm sản và lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép. (Quân Đội Nhân Dân 30/9) đầu trang(
30/9, trên tỉnh lộ 15A đoạn đi qua các xã Gia Hanh, Thường Nga của huyện Can Lộc (Hà Tĩnh), lợi dụng lúc trời mưa bão, lâm tặc đã sử dụng xe máy ồ ạt tuồn gỗ về xuôi.
Một số người dân địa phương cho biết, ngày thường cũng có một số xe máy chở gỗ đi qua nhưng thường vào tầm 1 - 2 giờ sáng. Còn mấy hôm nay do mưa bão nên hiện tượng này diễn ra ồ ạt, mới hơn 7h sáng đã có trên dưới 10 xe chở gỗ chạy qua.
Ông Nguyễn Xuân Mẫn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Can Lộc thừa nhận có tình trạng trên. “Số gỗ này chủ yếu được vận chuyển từ Hương Khê đi qua Khe Giao rồi về Can Lộc. Những ngày này, lâm tặc lợi dụng tình hình mưa bão, các lực lượng chức năng lo tập trung cho việc phòng chống bão lụt nên ồ ạt để vận chuyển gỗ”.
“Lâm tặc vận chuyển gỗ bằng xe máy rất phức tạp, nếu đuổi thì rất nguy hiểm, còn để chặn thì không biết lúc nào, giờ nào lâm tặc vận chuyển gỗ, trong khi lực lượng quá mỏng. Cái này phải có kế hoạch và có sự phối hợp giữa các cơ quan mới có thể hạn chế được” – ông Mẫn cho biết thêm. (Dân Trí 30/9) đầu trang(
Ngày 30/9, tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, TAND huyện Khánh Vĩnh tuyên phạt Đặng Ngọc Hiền (28 tuổi, trú xã Diên Tân, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) 2 năm 6 tháng tù về tội chống người thi hành công vụ.
Tòa cũng tuyên tịch thu toàn bộ số gỗ mà Hiền đã trút xuống đường để cản lực lượng công an, sung công quỹ.
Khoảng 23h ngày 12.7, Hiền điều khiển xe tải chở gỗ trái phép từ tuyến đường liên xã Khánh Thành (huyện Khánh Vĩnh) đến đoạn giao nhau với đường Nha Trang đi Đà Lạt, thuộc thị trấn Khánh Vĩnh, huyện Khánh Vĩnh thì bị tổ tuần tra thuộc Công an huyện Khánh Vĩnh phát hiện và yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên, Hiền không chấp hành mà tiếp tục lái xe bỏ chạy về phía huyện Diên Khánh với tốc độ cao.
Khi thấy lực lượng Công an huyện Khánh Vĩnh đuổi theo, Hiền cho xe lạng lách, chèn ép xe máy của tổ tuần tra làm 2 cán bộ, chiến sĩ Công an huyện Khánh Vĩnh lao xuống mương nước, bị thương phải đi cấp cứu. Sau đó, Hiền vừa điều khiển xe chạy vừa nâng ben trút 63 hộp gỗ (gần 3,2m3) xuống đường để truy cản lực lượng chức năng, rồi bỏ trốn.
Ngày 18.7, Hiền đến Công an huyện Khánh Vĩnh đầu thú. Tại cơ quan điều tra, Hiền khai nhận, ngoài vụ chống người thi hành công vụ nêu trên, thì rạng sáng ngày 12.7, Hiền cũng lái xe tải BKS 79C-020.10 vận chuyển gỗ trái phép từ Khánh Vĩnh về Diên Khánh. Khi đi đến khu vực tổ 5, thị trấn Khánh Vĩnh thì gặp lực lượng công an yêu cầu dừng xe, Hiền vẫn cho xe chạy rồi nâng ben, đổ gỗ xuống đường và chạy thoát. (Lao Động 30/9) đầu trang(
29/9, tại tổ dân phố Chợ 1, thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Công an tỉnh Thái Nguyên kiểm tra xe ô tô mang BKS 29C- 090.58 có biểu hiện nghi vấn.
Lái xe là Trần Thống Nhất (38 tuổi), trú tại phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang. Tại thời điểm kiểm tra trên xe vận chuyển 632 thớt gỗ nghiến tròn với khối lượng 6,88 m3. Chủ hàng là Trần Văn Hoạt (47 tuổi), trú tại huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang không xuất trình được giấy tờ, hoá đơn chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số gỗ trên.
Công an tỉnh Thái Nguyên đang tạm giữ phương tiện, hàng hoá để xác minh, làm rõ vụ việc. (Công An Nhân Dân 30/9) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Cách đây gần 5 năm, Báo Sài Gòn Giải Phóng đã lên tiếng về nạn chặt phá rừng để trồng cây cao su tại một số địa phương thuộc khu vực miền Trung. Trong tất cả hồ sơ, tờ trình cũng như thông tin cung cấp cho cơ quan truyền thông, những địa phương có tình trạng này đều khẳng định rừng bị chặt phá là “rừng nghèo, rừng kiệt”. Nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy!
Lợi dụng chủ trương chuyển đổi một số diện tích rừng nghèo, rừng kiệt không còn giá trị sử dụng sang trồng cây cao su nhằm góp phần phát triển kinh tế, một số cán bộ địa phương đã thông đồng với các đầu nậu tàn phá nhiều cánh rừng bạt ngàn với những cây cổ thụ hàng trăm tuổi.
Một trong những thủ đoạn của những đối tượng này là bắt đầu khai thác từ lõi các cánh rừng, sau đó khai thác dần ra xung quanh. Do đó, nếu từ bên ngoài nhìn vào, rất khó phát hiện sự tàn phá có tính toán này. Đến khi người dân địa phương hoặc các cơ quan truyền thông phát hiện ra sự việc thì “rừng đã bị phá xong”!
Trong một thời gian ngắn, hàng trăm ngàn mét khối gỗ, trong đó có không ít loại gỗ quý hiếm đã bị đưa ra khỏi rừng một cách khá dễ dàng, dù các trạm kiểm soát vẫn “hoạt động ngày đêm”.
Mới đây, các chuyên gia lâm nghiệp lại lên tiếng báo động về tình trạng chặt phá rừng tràn lan để trồng cao su ở nhiều địa phương, đặc biệt là tại các tỉnh Tây Nguyên. Trong những năm qua, có đến hàng trăm ngàn hécta rừng đã được chuyển đổi sang trồng cây cao su, trong đó có một diện tích rừng khổng lồ không thuộc diện rừng nghèo, rừng kiệt cũng bị chặt phá không thương tiếc. Sự lạm dụng đã vượt quá mức báo động và gây bức xúc lớn trong dư luận.
Trên thực tế, chủ trương chuyển đổi rừng kiệt, rừng nghèo sang trồng cây cao su ngay sau khi được đưa vào áp dụng đã bị một số địa phương, đơn vị lạm dụng. Trong không ít trường hợp, các tiêu chí xác định rừng nghèo, rừng kiệt thường xuyên bị “đánh đu” với nhiều kỹ xảo khó tin. Nhiều cánh rừng với hàng vạn cây cổ thụ có tuổi đời cả trăm năm cũng có thể bị hô biến thành rừng nghèo, rừng kiệt một cách dễ dàng.
Sau khi hồ sơ được thông qua, hàng chục chiếc xe với đầy đủ trang thiết bị nối đuôi nhau lao vào hủy diệt các cánh rừng bạt ngàn cây cổ thụ. Những tài sản vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người đã biến mất - nói đúng hơn là chui vào túi một số cá nhân. Sự vô lý đến khó tin này đã tồn tại suốt nhiều năm qua và vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi.
Theo đánh giá của các chuyên gia về lâm nghiệp, trong nhiều năm qua, một diện tích rất lớn rừng giàu trên cả nước - trong đó có không ít cánh rừng nguyên sinh quý giá đã bị tàn phá nặng nề. Với những cánh rừng còn lại, nếu cơ quan chức năng và các địa phương có rừng thiếu trách nhiệm hoặc buông lỏng quản lý, trong tương lai không xa, những khu rừng bạt ngàn đó có lẽ chỉ còn trong… ký ức. Còn đâu hình ảnh “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Để khắc phục triệt để tình trạng này, trong thời gian tới cần tăng cường sự giám sát trực tiếp của người dân tại địa phương. Sự giám sát đó nhằm đảm bảo rừng được chuyển đổi là rừng nghèo, rừng kiệt thật sự chứ không phải là rừng giàu. Hơn ai hết, người dân sinh sống tại địa phương gắn bó chặt chẽ và hiểu rõ rừng nơi họ sinh sống. Họ cũng chính là những người chịu ảnh hưởng tiêu cực đầu tiên nếu rừng bị tàn phá. Do đó, sự tham gia giám sát của người dân địa phương là hết sức cần thiết, góp phần quan trọng trong việc hạn chế các tiêu cực.
Ngoài ra, các tiêu chí để xác định rừng nghèo, rừng kiệt cũng cần được tính toán lại, tránh tình trạng bị các đối tượng xấu lợi dụng. Việc xác định những khu vực nào có thể chuyển đổi cũng cần được công bố công khai, rộng rãi trong cộng đồng và trên các phương tiện truyền thông để người dân địa phương cùng công luận tham gia giám sát, và cũng cần có ý kiến phản biện của các chuyên gia lâm nghiệp, các nhà bảo vệ môi trường.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đến nay, diện tích trồng cao su đã vượt quy hoạch. Do đó, nên chăng ngưng việc chuyển đổi rừng sang trồng cao su. Các cơ quan chức năng cần xem xét để tạm dừng thực hiện chủ trương này. Bảo vệ rừng là lợi ích mang tính sống còn trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng tác động gay gắt... Những ý kiến đó đều xuất phát từ trách nhiệm công dân và có cơ sở khoa học lẫn thực tiễn.
Thực tế cho thấy, tình trạng rừng bị tàn phá suốt nhiều năm qua ở nhiều địa phương trên cả nước đã để lại nhiều hậu quả tàn khốc. Các trận lũ kinh hoàng đã cướp đi biết bao sinh mạng và của cải của người dân; để lại những hậu quả khủng khiếp về môi trường, sinh thái… Những thiệt hại to lớn do nạn phá rừng gây ra không dễ khắc phục và sẽ còn tác động đến nhiều thế hệ mai sau. Phá rừng, dù dưới bất cứ hình thức nào, cũng đều là trọng tội! (Sài Gòn Giải Phóng 30/9) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Đức đang chi hàng triệu euro để làm cầu vượt cho động vật qua đường và hàng trăm cây cầu như vậy sẽ được tiếp tục xây dựng trong thập kỷ tới.
Gerhard Klesen, cán bộ kiểm lâm thuộc Hiệp hội vùng Ruhr, đã mất suốt 10 năm qua để đấu tranh cho việc xây dựng các cây cầu dành cho động vật bắc qua các đường cao tốc ở thị trấn Schermbeck thuộc bang Nordrhein-Westfalen.
Theo ông, những hàng rào chắn do con người lập ra dọc các hành lang đường sá và kênh ngạch đã hạn chế việc di chuyển tự nhiên của động vật, tác động tiêu cực tới sự đa dạng về di truyền, làm tăng nguy cơ mắc bệnh và làm giảm tuổi thọ của động vật.
Việc xây dựng một cây cầu rộng 50m tốn trung bình khoảng 3 triệu euro.
Hiện ở Đức, người ta đã xây dựng 36 cây cầu kiểu này bắc qua các đoạn đường cao tốc hay quốc lộ. Hàng trăm cây cầu cũng đang được xây dựng hoặc trong kế hoạch xây dựng. (VietnamPlus.vn 28/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||