Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 30 tháng 05 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Sáng ngày 23/5/2017, tại thôn Bắc phù xã Bắc Thủy, Hạt Kiểm lâm huyện Chi Lăng phối hợp với UBND xã tổ chức buổi tuyên truyền, tập huấn công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2017 cho đại diện 82 hộ gia đình trong thôn.
Tại buổi tuyên truyền, các đại biểu đã được nghe các đồng chí cán bộ Hạt kiểm lâm huyện tuyên truyền, hướng dẫn  và trao đổi với bà con về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, các văn bản quy định của nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Hình sự năm 2015 và một số vấn đề cơ bản về luật xử lý vi phạm hành chính. Quyết định số 07/2012 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng. Thông tư 21/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lân sản; thông tư 01/2012 của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản. Nghị định số 157/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Thông qua nội dung tuyên truyền giúp người dân nắm vững các quy định, nghị định, các văn bản hướng dẫn của chính phủ về công tác quản lý, bảo vệ rừng, PCCCR, vai trò, chức năng và giá trị của rừng. Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân và các chủ rừng đối với công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, góp phần ổn định và phát triển tài nguyên rừng trên địa bàn huyện. (Langson.gov.vn 25/5) đầu trang(
Sau hàng loạt các sai phạm để “vượt rào” xây dựng khi chưa hoàn thành các thủ tục về đánh giá tác động môi trường, chưa được giao đất, thuê đất…, khi vụ việc đang được Thanh tra Chính phủ kiểm tra, thì Cty Newcity lại xin tiếp tục thực hiện một số hạng mục…
Theo đó, Dự án Khu du lịch cao cấp New City Việt Nam được tỉnh Phú Yên chấp thuận triển khai xây dựng tại địa bàn xã An Phú, TP Tuy Hòa; cho phép công ty chặt phá 122,5 hecta rừng ven biển, trong đó đất rừng phòng hộ khoảng 115 hecta. Mặc dù đã được tỉnh Phú Yên cho phép nhưng công ty này vẫn chưa được phê duyệt đánh giá tác động môi trường và vẫn chưa có quyết định giao đất, thuê đất. Nhưng công ty lại tự động phá rừng làm dự án.
Liên quan đến việc này, sáng 16/5, Thanh tra Chính phủ công bố quyết định Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng đối với một số dự án có liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ sang mục đích khác tại tỉnh Phú Yên. Trong đó có dự án của Cty New City, thời gian thanh tra là 20 ngày từ ngày thông báo quyết định thanh tra. Tính ra thời gian thanh tra đến nay chỉ có 11 ngày, nhưng vừa qua doanh nghiệp lại xin UBND tỉnh Phú Yên tiếp tục thực hiện một số hạng mục mà trước đây công ty đã làm.
Đại diện lãnh đạo Cty New City, bà Phan Thị Mỵ, Phó Giám đốc điều hành dự án New City nói: “Dự án của Cty New City là dự án lớn với tổng vốn đầu tư gần 1 tỷ đô la nên có một số hồ sơ chưa được hoàn tất và một số hồ sơ thủ tục đang hoàn tất. Nhưng lãnh đạo UBND tỉnh Phú Yên đã cho phép triển khai song song với việc hoàn tất các thủ tục đúng theo quy định, đây là một vấn đề rất mở của lãnh đạo tỉnh. Tuy nhiên, khi dự án đang thi công các hạng mục như sân golf và đường chính trong nội bộ thì báo chí phản ánh “phá rừng thi hoa hậu, sân golf…”. Việc này đã ảnh hướng đến công ty cũng như thu hút đầu tư của UBND tỉnh sau này…”.
Bà Mỵ cũng khẳng định rằng mọi hoạt động của công ty đã được dừng lại sau khi có các văn bản của UBND tỉnh và Bộ Tài Nguyên và Môi trường về việc dừng dự án trên. Nhưng đến nay, do lực lượng lao động của công ty còn đông và chỉ để phục vụ tưới cỏ đã trồng, nên bà thay mặt công ty xin phép lãnh đạo tỉnh tiếp tục trồng cỏ, trồng cây xanh…
Theo bà My, trong thời gian làm việc với đoàn Thanh tra Chính phủ, công ty cũng đã đề nghị vấn đề này.
Giải thích về vấn đề tiếp tục thực hiện các hạng mục, bà My cho biết thêm: “Nếu nói dừng các dự án phá rừng, thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, chống xóa lỡ thì đến nay công ty xin tiếp tục trồng cây bảo vệ môi trường và trồng cây xanh bảo vệ bóng mát cũng là một biện pháp bảo vệ môi trường. Ngoài ra, trồng cỏ sân golf cũng là chống cát bay cát nhảy”.
Ý kiến về việc vực rào của doanh nghiệp trong thời gian qua, ông Ngô Đa Thọ, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tỉnh Phú Yên khẳng định: “Ở Phú Yên UBND tỉnh đã được tạo nhiều điều kiện để giúp đỡ doanh nghiệp, như cấp giấy chứng nhận đầu tư, giảm giá thuê đất… Nhưng phải nói một điều là doanh nghiệp hay ỉ lại, cứ cầm giấy chứng nhận đầu tư xong là cứ thế mà làm. Hàng loạt hướng dẫn trong chứng nhận đầu tư chúng ta bỏ qua, dẫn đến việc làm sai quy trình, rồi công luận báo chí vào cuộc, nhà đầu tư thì phải dừng dự án…; mặt khác những vụ việc như thế này đã tạo một môi trường rất xấu cho nhà đầu tư…”.
Quay trở lại vấn đề Cty Newcity xin tiếp tục thực hiện một số hạng mục của dự án, ông Trần Hữu Thế, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên cho biết: “Trong vấn đề của Cty Newcity hiện nay theo ý kiến lãnh đạo chung thì đoàn thanh tra sẽ làm việc trong 20 ngày và thời gian đó sắp sửa đến nên công ty phải chờ thêm. Vừa qua lãnh đạo tỉnh Phú Yên cũng đã đăng ký làm việc với Thủ tướng và được Thủ tướng chấp thuận. Vấn đề của công ty sẽ được UBND tỉnh trình lên để Thủ tướng xem xét và cùng nhau tháo gỡ những vấn đề vướng mắc trong thời gian vừa qua”. (Dân Trí 27/5) đầu trang(
Như Thanh, Thanh Hóa: Tăng cường công tác bảo vệ rừng
Nhờ sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng, công tác quản lý bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng và phát triển rừng (QLBVR, PCCCR&PTR) trên địa bàn huyện Như Thanh đã đạt được những kết quả rất đáng ghi nhận.
Để công tác QLBVR, PCCCR&PTR đạt được kết quả ngay từ đầu năm 2017, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã tham mưu cho Huyện ủy ra Chỉ thị số 06 về “Tăng cường  sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện”. Cùng với đó, đơn vị cũng tích cực tham mưu cho UBND huyện ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện hiệu quả công tác QLBVR, PCCCR, PTR và quản lý lâm sản như: Kiện toàn Ban chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và PTR; ban hành kế hoạch công tác BVR, PCCCR và huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy rừng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia BVR&PCCCP, chỉ đạo các đơn vị thành lập các tổ tuyên truyền thôn, bản để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia BVR, PCCCR. Các tổ dân vận đã phối hợp tổ chức hội nghị tuyên truyền tại thôn, bản. Hiện nay, trên địa bàn huyện đã thành lập được 153 tổ tuyên truyền cấp thôn, bản với 530 thành viên là trưởng thôn, trưởng mặt trận thôn, tổ trưởng dân vận.
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã tổ chức được 42 hội nghị tuyên truyền với gần 2.300 người tham gia. Thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật bảo vệ và PTR đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư, đặc biệt là nâng cao vai trò trách nhiệm của cấp uỷ chính quyền cơ sở, các chủ rừng trong công tác bảo vệ và PTR, hạn chế việc xâm lấn rừng, đốt rừng, khai thác trái phép lâm sản và cháy rừng.
Cùng với nhiệm vụ tuyên truyền, công tác PCCCR cũng được huyện Như Thanh đặc biệt quan tâm. Hiện nay Hạt Kiểm lâm Như Thanh đã và đang tích cực bám sát địa bàn có kế hoạch PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ. Tổ chức thường trực PCCCR 24 giờ/ngày trong thời gian cao điểm để nắm bắt thông tin và có các biện pháp chữa cháy rừng kịp thời khi có cháy rừng xảy ra. Tổ chức kiểm tra các xã có nguy cơ cháy cao và có phương án chuẩn bị dụng cụ tại chỗ phục vụ cho công tác PCCCR, hướng dẫn nhân dân có các biện pháp PCCCR. Kiểm tra việc triển khai nhiệm vụ BVR, PCCCR của cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn xã trong việc tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xã thực hiện các biện pháp PCCCR, BVR. Bên cạnh công tác PCCCR, Hạt Kiểm lâm huyện Tĩnh Gia thường xuyên nắm bắt diễn biến rừng và đất lâm nghiệp kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi xâm hại rừng và đất lâm nghiệp. Tiến hành kiểm tra, rà soát những diện tích rừng có nguy cơ cháy cao, các biển báo bảo vệ rừng, bảng tin và các bể chứa nước để bổ sung và sửa chữa kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng cháy chữa cháy rừng.
Để an ninh rừng được đảm bảo Hạt Kiểm lâm Như Thanh cũng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kiểm lâm tăng cường bám sát địa bàn để nắm chắc tình hình, qua đó đã xử lý các vụ vi phạm. Tính đến hết tháng 4 đơn vị đã phát hiện và xử lý 10 vụ vi phạm với số tiền hơn 30 triệu đồng, tịch thu 2 cưa xăng.
Trao đổi với chúng tôi ông Lê Thanh Ngợi - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Thanh cho biết: “Nhằm thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn trong thời gian tới, Hạt Kiểm lâm Như Thanh sẽ tiếp tục tăng cường phối hợp với cấp ủy, chính quyền xã, cấp trên, các ngành liên quan tiếp tục tổ chức tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản của Đảng, Nhà nước quy định về quản lý bảo vệ rừng. Phối hợp với Hạt Kiểm lâm liên quan, Đội Kiểm lâm cơ động, lực lượng Công an ngăn chặn xử lý việc vận chuyển lâm sản trái pháp luật”. (Văn Hóa Đời Sống 28/5) đầu trang(
Bước vào mùa khô 2016 - 2017, thời tiết diễn biến bất thường, không khí khô hanh là điều kiện dễ gây ra cháy rừng. Vì vậy, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) được cấp ủy, chính quyền và các ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện Tuần Giáo tập trung cao độ.
Huyện Tuần Giáo có gần 39.000ha rừng, trong đó hơn 37.000ha rừng tự nhiên, tập trung chủ yếu ở địa bàn các xã: Ta Ma, Phình Sáng, Pú Xi, Mường Khong... Diện tích rừng lớn, địa bàn rộng và chịu ảnh hưởng mạnh của gió Lào khô hanh nên công tác PCCCR gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt đầu năm 2016 do ảnh hưởng của đợt rét đậm rét hại gây băng tuyết làm cây rừng gãy đổ dẫn đến tình trạng cháy rừng diễn ra ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện, gây thiệt hại gần 600ha rừng.
Theo đánh giá của UBND huyện Tuần Giáo, mùa khô năm nay, do diễn biến phức tạp của thời tiết, diện tích rừng trên địa bàn huyện luôn ở cấp dự báo có nguy cơ cháy cao. Nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra, Huyện ủy, UBND huyện Tuần Giáo đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo về công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR. Đồng thời, giao Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các ngành chức năng, cơ quan thông tin của huyện và UBND các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng, PCCCR đến toàn thể cán bộ, công chức, chiến sỹ các lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn huyện. Chỉ đạo 19/19 xã, thị trấn tổ chức ký cam kết bảo vệ rừng, PCCCR giữa chủ tịch UBND các xã, thị trấn với UBND huyện. UBND huyện đã kiện toàn Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng huyện Tuần Giáo giai đoạn 2016 - 2020, đồng thời củng cố, kiện toàn ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR ở 19/19 xã, thị trấn; xây dựng lịch trực 24/24 giờ cho các thành viên Ban Chỉ đạo trong thời điểm mùa khô hanh. Các lực lượng chức năng của địa phương tổ chức tuần tra và xử lý nghiêm các vụ phá rừng làm nương, vận chuyển lâm sản trái phép.
Ông Đinh Văn Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo, cho biết: Bước vào mùa khô năm nay, Hạt Kiểm lâm chủ động kiểm tra, khoanh vùng các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao để chỉ đạo và hướng dẫn người dân trong khu vực thực hiện nghiêm túc công tác PCCCR; đồng thời xác định các tình huống xung yếu và khó khăn riêng biệt để có hướng chỉ đạo kịp thời. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và kết hợp với các cuộc họp dân, Hạt Kiểm lâm huyện đã triển khai lồng ghép các thông báo nguy cơ cháy rừng, quy chế bảo vệ rừng, PCCCR đến người dân. Từ đầu mùa khô đến nay, lực lượng kiểm lâm phụ trách địa bàn đã tuyên truyền tại 200/236 bản của 19 xã, thị trấn, với hơn 10.000 lượt người tham gia. Tổ chức tập huấn, phổ biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các văn bản có liên quan đến công tác bảo vệ rừng và PCCCR cho các trưởng thôn, bản, cán bộ chủ chốt của xã, thành viên các ban, đoàn thể của các xã. Củng cố, thành lập 200 tổ, đội xung kích PCCCR ở các thôn, bản với trên 200 thành viên tham gia.
Hạt Kiểm lâm huyện tích cực phối hợp với UBND huyện Tuần Giáo quan tâm kết hợp giữa bảo vệ rừng với giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho các tổ chức, hộ dân và cá nhân quản lý, sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp để rừng có chủ thực sự. Tính đến nay, huyện Tuần Giáo đã hoàn thiện thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hơn 800 hộ dân với diện tích hơn 2.000ha; 176 cộng đồng dân cư với gần 34.000ha; hoàn thành việc kiểm kê rừng, rà soát hiện trạng, xác định diện tích, ranh giới, trữ lượng, chủ rừng với tổng diện tích gần 39.000ha.
Khó khăn hiện nay trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR trên địa bàn huyện Tuần Giáo là do lực lượng kiểm lâm mỏng. Hiện nay một kiểm lâm địa bàn phải quản lý, theo dõi gần 3.000ha rừng, trong khi theo quy định thì 1 kiểm lâm chỉ quản lý, theo dõi 1.000ha rừng. Bên cạnh đó, do điều kiện kinh tế - xã hội của huyện còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao (55,6%); nhận thức của đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa tuy có sự chuyển biến hơn trước, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, còn duy trì tập quán canh tác, sản xuất trên nương... cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR. (Báo Điện Biên Phủ 26/5) đầu trang(
Công cuộc gìn giữ sự đa dạng sinh học hệ sinh thái rừng ở Quảng Nam không chỉ có đóng góp của người dân mà còn có sự chung tay của cộng đồng quốc tế..
Thời gian qua, nhờ sự điều chỉnh cơ chế chính sách, hành lang pháp lý đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân bảo vệ rừng (BVR). Theo báo cáo của Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Kôn, cuộc sống người dân miền núi dần cải thiện từ khi được hưởng lợi từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR). Rõ nhất là tại 2 thôn An Điềm và Yều (xã Đại Hưng, Đại Lộc) có 11 nhóm hộ (107 hộ) nhận khoán BVR hơn 2.300ha. Bình quân mỗi hộ nhận gần 4 triệu đồng/năm. Còn tại 8 xã của huyện Đông Giang có tổng cộng 161 nhóm hộ (2.222 hộ) nhận 12.212ha rừng.
Các nhóm hộ có quy chế hoạt động, tuần tra truy quét chung. Chính sách chi trả DVMTR góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng, giúp người dân hưởng lợi từ rừng mà không xâm hại đến rừng. Từ điểm nóng phá rừng dai dẳng, gần đây số vụ vi phạm lâm luật ở rừng phòng hộ Sông Kôn giảm mạnh. Tại huyện Nam Trà My, nhiều năm nay lực lượng kiểm lâm đã xây dựng hơn 40 đội quần chúng giữ rừng.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Nam Trà My, thời gian qua đã giao cho 647 hộ nhận khoán bảo vệ khoảng 12.184ha rừng tự nhiên; giao khoán 6.184ha rừng phòng hộ cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ; giao khoán 14.573ha rừng đặc dụng cho 37 nhóm hộ quản lý bảo vệ.  Rừng phòng hộ sông Tranh đã trở nên bình yên hơn trước đây rất nhiều nhờ người dân giữ rừng có trách nhiệm.
Trong khi đó, tại vùng cao xã Tr’Hy (Tây Giang), chính quyền sở tại đã đưa ra sáng kiến vận động đồng bào Cơ Tu tự nguyện nộp lại cưa lốc - một loại công cụ được mệnh danh là “sát thủ” của rừng xanh. Đến nay hàng trăm cưa lốc của dân giao nộp cho già làng, trưởng thôn theo tinh thần tự nguyện. Theo xác nhận của chính quyền địa phương, chỉ lúc nào hộ gia đình cần gỗ để làm nhà ở, hay gươl truyền thống, gia đình có đơn gửi lên làng, làng gửi lên xã, xã chuyển lên cơ quan kiểm lâm và UBND huyện mới xem xét chấp thuận.
Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Giang Lê Hoàng Linh cho biết, từ năm 2009, để siết chặt tình trạng khai thác rừng trái phép, UBND huyện đã quy định rõ về việc khai thác gỗ. Theo đó, địa phương vận động, tuyên truyền người dân giao nộp cưa lốc nhằm ngăn ngừa nạn chặt phá rừng tự phát. Cũng theo ông Linh, từ ngày công nhận rừng pơ mu là Cây di sản Việt Nam, thông qua các kênh tuyên truyền, đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương đã thay đổi nhận thức, biết tập hợp thành sức mạnh cộng đồng đấu tranh với các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Sau vụ phá rừng pơ mu tại huyện Nam Giang (khu vực biên giới giáp tỉnh Sê Kông - Lào), tháng 3.2017, lực lượng kiểm lâm Quảng Nam và tỉnh Sê Kông đã ký biên bản ghi nhớ về phối hợp trong quản lý, BVR và quản lý lâm sản vùng giáp ranh giữa hai tỉnh giai đoạn 2017 - 2020. Cụ thể, hai bên thống nhất nâng cao vai trò, trách nhiệm của các chủ rừng, chính quyền địa phương và người dân vùng biên giới trong công tác quản lý, BVR, phòng cháy chữa cháy rừng. Chi cục Thanh tra lâm nghiệp tỉnh Sê Kông và Chi cục Kiểm lâm Quảng Nam chỉ đạo các đơn vị trực thuộc duy trì hoạt động tuần tra chung tại vùng giáp ranh 2 địa phương, đồng thời phối hợp tổ chức các hội thảo, tập huấn cho lực lượng quản lý, BVR.
Nhiều năm qua, Quỹ Bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF) đã tích cực giúp các địa phương nằm trên tuyến biên giới Việt - Lào nâng cao năng lực giữ rừng thông qua dự án dự trữ các bon và bảo tồn đa dạng sinh học (CarBi). Đây là dự án bảo vệ rừng xuyên biên giới quy mô nhất của WWF tại tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng. Với sự hỗ trợ của Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW), CarBi được điều phối và triển khai bởi Chính phủ hai nước Lào và Việt Nam, các tổ chức phát triển và nhà tài trợ, chính quyền và cộng đồng địa phương. Dự án nhằm ngăn chặn nạn phá rừng thông qua hoạt động bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững, đồng thời bảo tồn tính đa dạng loài độc đáo của vùng Trung Trường Sơn.
Dự án CarBi triển khai hoạt động giám sát đa dạng sinh học sâu rộng bằng máy bẫy ảnh cảm biến nhiệt với sự hợp tác của Viện Nghiên cứu vườn thú và động thực vật hoang dã Leibniz (Đức). Sau một thời gian đầu tư, dự án đã tái phát hiện sao la - một trong những loài động vật quý hiếm nhất thế giới tại Việt Nam. Các cuộc điều tra đa dạng sinh học cũng phát hiện một loài rắn mới, gấu đen và thỏ vằn Trường Sơn.
Theo báo cáo của WWF tại Quảng Nam, đến nay dự án đã phá hủy hơn 100 nghìn bẫy thú, 1.800 lán khai thác gỗ trái phép trong rừng. Điều quan trọng, thông qua nguồn tài trợ của dự án đã giải quyết việc làm cho người dân bản địa, giảm áp lực phụ thuộc vào rừng; giải quyết hài hòa mối quan hệ phát triển và bảo tồn đa dạng sinh học rừng.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phan Tuấn nhận xét: “Thông qua phương pháp làm việc khoa học, dự án đã điều tra đa dạng sinh học, phục hồi rừng và thu hút người dân tham gia bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần nâng cao và đa dạng hóa nguồn sinh kế. Thêm vào đó, dự án góp phần kiểm soát buôn bán gỗ và động vật hoang dã bất hợp pháp ở vanh đai biên giới 2 nước”. (Báo Quảng Nam 26/5) đầu trang(
Trong lúc ẩu đả, Đinh Văn Thuận đã đâm trúng hàm trái của anh Thịnh, khiến nạn nhân tử vong tại chỗ do vết đâm làm đứt động mạch mặt trái.
Từ ngày 26 - 29/5, TAND tỉnh Gia Lai đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm nhóm bị cáo sát hại Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng huyện K’Bang (Gia Lai).
Theo cáo trạng, trong lúc nhậu với anh Nguyễn Nam Thịnh ( 42 tuổi, Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH Một thành viên Kon Hà Nừng, xã Sơn Lang, huyện K'Bang), Đinh Văn Hợp đã ngỏ lời xin xẻ ít gỗ về cho bố mình làm nhà nhưng anh Thịnh không đồng ý. Lúc này, giữa Hợp và anh Thịnh nảy sinh mâu thuẫn nên anh Thịnh đã đuổi Hợp ra khỏi trạm.
Đến khoảng 23h ngày 20/10/2016, Hợp (25 tuổi) rủ Đinh Văn Thuận (29 tuổi), Đinh Văn Nội (26 tuổi), Đinh Văn Thợ (23 tuổi), Đinh Văn Túc (29 tuổi), Đinh Văn Nớt (26 tuổi), Đinh Sơn (17 tuổi) và Đinh Văn Lịch (18 tuổi, cùng trú xã Sơn Lang) chuẩn bị dao, gậy làm hung khí tìm đánh anh Thịnh.
Khi thấy cán bộ kiểm lâm, Sơn, Thuận, Lịch và Thợ lao vào tấn công anh Thịnh, khiến nạn nhân thiệt mạng; còn Hợp, Nội, Nớt và Túc cầm hung khí đuổi đánh anh Võ Đức Huy (cán bộ kiểm lâm của Trạm bảo vệ rừng) nhưng may mắn anh Huy đã bỏ chạy.
Đến sáng 21/10/2016, tất cả các bị cáo đến Công an huyện K'Bang đầu thú. Quá trình điều tra, nhóm thanh niên đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được trước đó.
Kết thúc phiên xét xử, TAND tỉnh Gia Lai đã tuyên phạt bị cáo Hợp và Thuận cùng 19 năm tù giam, bị cáo Sơn 12 năm tù giam, bị cáo Thợ 15 năm tù giam, bị cáo Nớt, Nội, Túc mỗi người lĩnh 14 năm tù giam, bị cáo Lịch 9 năm tù giam. Ngoài ra, các bị cáo còn bị buộc phải bồi thường cho gia đình nạn nhân 275 triệu đồng. (Zing 29/5) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Gia Lai thuê BQL rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ xây dựng hiện trường diễn tập chữa cháy rừng với số tiền hơn 123 triệu đồng, nhưng sau khi thanh toán cho bên B, bà trưởng phòng của Chi cục đã lấy lại… hơn 113 triệu đồng.
Ngày 29.5, ông Ngô Ngọc Sinh - Chánh Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai - cho biết đã chỉ đạo cơ quan chức năng chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh để điều tra, làm rõ việc bà Nguyễn Thị Kim Hương - Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh – có dấu hiệu tham ô.
Theo kết luận ngày 15.5.2017 của Thanh tra tỉnh Gia Lai, năm 2016 Chi cục Kiểm lâm Gia Lai có hợp đồng thuê Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Bắc Biển Hồ xây dựng hiện trường diễn tập chữa cháy rừng và cung cấp hàng hóa, dịch vụ liên quan đến công tác phòng chống cháy rừng với số tiền hơn 123 triệu đồng.
Ngày 3.1.2017, được Chi cục Kiểm lâm Gia Lai thanh toán, BQLRPH Bắc Biển Hồ đã rút tiền mặt về nhập quỹ. Nhưng cùng thời điểm, có ông Nguyễn Công Duyên là cán bộ Phòng Quản lý bảo vệ rừng và Bảo tồn thiên nhiên đến BQLRPH Bắc Biển Hồ nhận lại toàn bộ số tiền trên. Sau khi đưa 10 triệu đồng cho 2 nhân viên BQLRPH Bắc Biển Hồ, ông Duyên mang hơn 113 triệu đồng về đưa cho bà Nguyễn Thị Kim Hương. Theo giải thích của 2 nhân viên BQLRPH Bắc Biển Hồ, họ nhận 10 triệu đồng để thuê người chặt cành và thu gom vật liệu cháy, còn các nội dung khác của hợp đồng nói trên không được thực hiện.
Làm việc với cơ quan chức năng, bà Hương giải thích số tiền trên là do cá nhân bà cho ông Nguyễn Đức – Trưởng BQLRPH Bắc Biển Hồ - mượn để thực hiện hợp đồng, khi BQLRPH Bắc Biển Hồ được thanh toán thì bà lấy lại. Tuy nhiên ông Đức không thừa nhận, đồng thời khẳng định chỉ có 2 viên chức của BQL trực tiếp thực hiện hợp đồng, được thanh toán 10 triệu đồng. Do vậy Thanh tra tỉnh Gia Lai nhận định “có dấu hiệu bà Nguyễn Thị Kim Hương đã lợi dụng việc thực hiện hợp đồng công việc với BQL để chiếm đoạt số tiền hơn 113 triệu đồng”. (Dân Việt 29/5) đầu trang(
Phòng Cảnh sát môi trường, Công an Hải Phòng phối hợp cùng các đơn vị chức năng vừa bắt quả tang 2 đối tượng Lê Quang Anh và Lê Văn Long về hành vi nuôi nhốt, mua bán trái phép động vật hoang dã thuộc danh mục nguy cấp, quý hiếm.
Qua công tác nắm tình hình, lực lượng công an phát hiện: tại chợ Hàng thuộc địa bàn quận Lê Chân 2 đối tượng trên đang rao bán 4 cá thể khỉ (thuộc danh mục loài động vật nguy cấp, quý hiếm nhóm cần được ưu tiên bảo vệ). Phòng Cảnh sát môi trường Công an Hải Phòng đã tiến hành lập biên bản thu giữ toàn bộ tang vật. (ANTV 29/5) đầu trang(
Sáng 29/5, Công an huyện Bảo Lâm cho biết, đơn vị vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam 2 đối tượng K’Trí và Lý Văn Tiệu (cùng ngụ tại huyện Bảo Lâm) để điều tra làm rõ về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Trước đó, vào ngày 22/4, Công an huyện Bảo Lâm đã bắt quả tang 2 đối tượng Đàm Văn Mạnh và Trương Văn Chích (cùng ngụ tại huyện Bảo Lâm) đang vận chuyển gỗ trái phép, tang vật thu giữ gồm 2 hộp gỗ kiền kiền, 1 máy cưa xăng.
Đấu tranh mở rộng, từ lời khai của 2 đối tượng Mạnh và Chích, Công an huyện Bảo Lâm đã truy xét nhanh các đối tượng cầm đầu nhóm phá rừng là K’Trí, Lý Văn Tiệu. Qua làm việc, các đối tượng khai nhận, từ đầu năm 2015 đến tháng 4/2017, dưới sự chỉ đạo của K’ Trí và Lý Văn Tiệu, các đối tượng đã vào khu vực rừng tại đèo B40 (thuộc địa phận xã B’Lá, huyện Bảo Lâm) để khai thác gỗ trái phép.
Số gỗ sau khi khai thác, các đối tượng đem bán cho các thợ mộc tại địa phương. Sau gần 1 tháng khám nghiệm tại hiện trường, cơ quan chức năng xác định số lâm sản thiệt hại là 40 cây gỗ, tổng khối lượng gần 70 m3.
Hiện, vụ việc đang được Công an huyện Bảo Lâm tiếp tục điều tra, làm rõ. (Báo Lâm Đồng 29/5) đầu trang(
Trên địa bàn huyện Đam Rông có 3 doanh nghiệp đó là: Công ty Việt Thổ, Ngân Lâm và Công ty Đại Nguyên, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra phá rừng với diện tích thiệt hại gần 30 ha. Đoàn đã lập biên bản, đề nghị các doanh nghiệp này phải thực hiện việc bồi thường giá trị những diện tích rừng bị phá
Mới đây, qua kiểm tra của đoàn liên ngành tỉnh Lâm Đồng, trên địa bàn huyện Đam Rông có 3 doanh nghiệp đó là: Công ty Việt Thổ, Ngân Lâm và Công ty Đại Nguyên, thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra phá rừng với diện tích thiệt hại gần 30 ha.Trên cơ sở đó đoàn đã lập biên bản, đề nghị các doanh nghiệp này phải thực hiện việc bồi thường giá trị những diện tích rừng bị phá, đồng thời xây dựng các giải pháp quản lý bảo vệ rừng hiệu quả hơn.
Ngoài ra, đoàn cũng kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh tiến hành thu hồi 3 dự án và thu hồi một phần của 1 dự án thuê rừng, đây là những đơn vị để mất rừng, đất lâm nghiệp bị lấn chiếm và không thực hiện đúng cam kết với giấy phép đầu tư đã quy định. Toàn huyện Đam Rông hiện có 17 dự án thuê rừng với hơn 3.170 ha, trong đó có 13 dự án quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng kinh tế, sản xuất nông – lâm kết hợp chăn nuôi, thủy điện, du lịch sinh thái… Việc tăng cường kiểm tra, xử lý kịp thời những sai phạm của các doanh nghiệp nhận dự rừng ở Đam Rông nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung, không chỉ đảm bảo các quy định của pháp luật, mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của doanh nghiệp khi được nhà nước tạo điều kiện, chấp thuận đầu tư trong lĩnh vực này. (Đài PTTH Lâm Đồng 29/5) đầu trang(
Hàng nghìn m3 gỗ trắc, cẩm lai, hương được doanh nghiệp nhập khẩu về hợp pháp, nguồn gốc rõ ràng sẽ không được xuất nếu không ra Hà Nội xin cấp chứng chỉ Cites, theo như quy định mới của thông tư 04/2017 của Bộ NN&PTNT.
Hội doanh nghiệp huyện Hương Khê (Hà Tĩnh) vừa có đơn gửi Chính phủ và các Bộ ngành nêu thực trạng, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn đã nhập khẩu hợp pháp với số lượng gỗ trắc, cẩm lai, gỗ hương... phải xin chứng chỉ Cites mới được phép xuất khẩu.
Quy định trên mới đây được Thông tư 04/2017, ngày 24/02/2017 của Bộ NN&PTNT về Ban hành danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã đã quy định trong các Phụ lục công ước Cites (thay thế Thông tư 40/2013 của Bộ NN&PTNT).
“Thông tư 04 quy định các lô gỗ trắc, cẩm lai… muốn xuất khẩu thì phải xin giấy chứng nhận Cites (nằm trong danh mục các loài động/thực vật bị quản lý bởi Công ước Cites).
Tuy nhiên, hiện những lô gỗ này đã được nhập khẩu về từ lâu, hồ sơ hợp pháp, đã thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước, thời điểm nhập không bị hạn chế bởi Cites. Thế nên việc bắt buộc phải xin thêm chứng chỉ Cites của cơ quan quản lý tại Việt Nam là vô lý”, ông Trần Phát Đạt, Chủ tịch Hội DN Hương Khê nói.
Theo ông Đạt, với quy định này thì cứ xuất bán các mặt hàng gỗ trên, nhiều hay ít cũng phải chạy ra Bộ NN&PTNT xin chứng chỉ thì hải quan mới cho thông quan.
“Công ước Cites có các quy định để quản lý, bảo vệ động/thực vật có nguy cơ tuyệt chủng tại gốc, ngay nước sở tại. Còn những lô gỗ đã được nhập về hợp pháp từ lâu đã là hàng hoá lưu thông trên trên thị trường thì cơ quan quản lý Việt Nam lại đi quản lý bằng giấy phép con Cites đối với loại hàng hoá từ bên nước Lào”, ông Đạt nói.
Được biết, trên địa bàn Hương Khê nói riêng và cả tỉnh Hà Tĩnh, hiện đang còn hàng chục nghìn m3 các loại gỗ trắc, cẩm lai… với số vốn tồn đọng lên tới hàng trăm tỷ đồng. Nay nếu không xin chứng chỉ Cites thì không thể xuất bán.
Ông Đặng Tất Đạt, Trưởng bộ phận pháp chế, Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê cho biết, qua kiểm tra, theo dõi các doanh nghiệp trên địa bàn nhập khẩu từ gỗ trắc, cẩm lai, hương… từ Lào về có đầy đủ thủ tục, hồ sơ hợp pháp.
“Gỗ các doanh nghiệp nhập về cách đây mấy năm có hồ sơ đầy đủ theo quy định, thời điểm đó không bị hạn chế bởi Cites. Nay lại phải có thêm giấy phép mới được xuất bán ra sẽ tạo thêm khó khăn cho doanh nghiệp”, ông Đặng Tất Đạt cho biết.
Một lãnh đạo Cục Hải Quan Hà Tĩnh cho hay, vừa nhận được được văn bản phản ánh của doanh nghiệp và đơn vị sẽ có đề xuất với các cơ quan chức năng liên quan.
“Thực tế trong thời gian vừa qua doanh nghiệp kinh doanh gỗ gặp nhiều khó khăn do nhập hàng về không tiêu thụ được. Quy định là vậy nhưng nhiều khi trong quá trình thực hiện lại xảy ra nhiều bất cập vì không bao quát hết thực tiễn”, vị lãnh đạo Cục Hải quan Hà Tĩnh nói.
Chủ tịch Hội doanh nghiệp huyện Hương Khê phân vân: “Hàng nhập về có nguồn gốc từ Lào, nước Lào không cấp giấy phép Cites nhưng khi doanh nghiệp Việt Nam xuất hàng lại buộc phải có Cites thì có đúng không.Nếu cứ bắt buộc có các loại giấy phép này thì đề nghị các cơ quan hữu quan phải có văn bản hướng dẫn cụ thể và phải cấp tại cửa khẩu hoặc tại địa bàn có doanh nghiệp chứ không thể cấp ở Hà Nội”, ông Trần Phát Đạt nói. (Vietnamnet 29/5) đầu trang(
Vừa qua Báo Gia Đình Việt Nam nhận được phản ánh của người dân xã Cẩm Qúy (huyện Cẩm Thủy – Thanh Hóa) và xã Thạch Tượng (Thạch Thành – Thanh Hóa) về việc một số hộ dân khai thác rừng tự nhiên, lấy gỗ đem bán.
PV Báo Gia Đình Việt Nam đã vào cuộc tìm hiểu thông tin, đem những ý kiến phản ánh của người dân đến các cấp, ngành trực thuộc . Lãnh đạo Sở NNPTNN và Chi Cục Kiểm Lâm tỉnh Thanh Hóa đã cung cấp thông tin, văn bản, quyết định cho phép một số hộ dân tại 2 địa phương nói trên có rừng được giao được phép cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất để trồng rừng mới có năng suất và chất lượng, giá trị kinh tế cao hơn là đúng với kế hoạch và chủ trương các văn bản UBND tỉnh đã ban hành.
Theo quyết định 115/QĐ-SNN&PTNN ngày 15/3/2016 cho phép gia đình hộ ông Lê Chiến Thắng (xã Thạch Tượng) được phép khai thác 33,36 ha diện tích rừng. Địa điểm tại khoảnh 3, tiểu khu 320.
Tương tự, tại quyết định 1079/QĐ-SNN&PTNN ngày 28/12/2016 cho phép một số hộ dân được giao rừng tại xã Cẩm Qúy (huyện Cẩm Thủy) được khai thác hơn 60ha diện tích rừng nghèo kiệt để trồng rừng mới có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao hơn.
Hộ gia đình có diện tích được khai thác và trồng rừng mới có nhiệm vụ báo cáo số lâm sản tận thu được trình UBND huyện phê duyệt để thực hiện theo kế hoạch và hưởng lợi theo chế độ hiện hành.
Lãnh đạo các UBND địa phương nơi có diện tích rừng được khai thác, chuyển đổi trồng rừng chịu trách nhiệm cùng với lực lượng kiểm lâm địa phương giám sát các hộ dân và chịu trách nhiệm thi hành quyết định trên. (Gia Đình VN 29/5) đầu trang(
Tại cuộc họp do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chủ trì chiều qua (28-5), Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Ngọc Tuấn đã giải đáp bốn kiến nghị của Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng liên quan đến quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà.
Theo Phó chủ tịch UBND TP. Đà nẵng Nguyễn Ngọc Tuấn, ngày 21-3-2017, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng ký văn bản gửi Thủ tướng đề nghị xem xét lại quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà với bốn nội dung.
Thứ nhất, giữ nguyên hiện trạng, không xây mới các cơ sở lưu trú ở Sơn Trà vì hiện có 600 khách sạn với gần 22.000 phòng, hoàn toàn có thể đón 15 triệu khách mỗi năm. Năm 2016 mới chỉ đón 5,5 triệu khách.
Thứ hai, chỉ quy hoạch Sơn Trà thành nơi tham quan giải trí để bảo tồn cảnh quan tự nhiên với đòi hỏi nghiêm ngặt về quy chế ứng xử du khách, hạn chế tối đa việc sử dụng phương tiện cơ giới lưu thông gây tiếng ồn và ô nhiễm.
Thứ ba, hạn chế triển khai các dự án ở thềm bờ biển tiếp giáp với Sơn Trà nhằm giảm trừ nguy cơ phá huỷ rặng san hô ven bờ, thay đổi dòng hải lưu, phá huỷ bờ biển, ảnh hưởng KT-XH của dân cư.
Thứ tư, hợp nhất khu dự trữ thiên nhiên Sơn Trà được thành lập theo quyết định số 45 (của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học cả nước đến năm  2020, tầm nhìn 2030) và vùng xung quanh đến Nam Hải Vân để hình thành khu dự trữ sinh quyển quốc tế như mô hình dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm của Hội An nhằm mục đích bảo tồn khu sinh thái trên cạn lẫn dưới nước.
Trả lời về những kiến nghị này, ông Tuấn cho hay, để đón được 15 triệu lượt khách lưu trú/năm (gấp ba lần hiện nay), Đà Nẵng phải có 58.000 phòng. Như vậy trong những năm tới, Đà Nẵng cần phát triển thêm các cơ sở lưu trú.
“Việc quy hoạch các cơ sở lưu trú theo quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch quốc gia Sơn Trà là phù hợp với tinh thần Nghị quyết 33 Bộ Chính trị và phù hợp với nhu cầu thực tế phát triển du lịch Đà Nẵng, kết hợp hài hoà giữa bảo tồn và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh vật, chú trọng duy trì, phát triển các dịch vụ hệ sinh thái, môi trường, cảnh quan đa dạng sinh học”- ông Tuấn nói.
Phó chủ tịch Đà Nẵng cũng thông tin thêm, theo thống kê đến thời điểm hiện nay, trên khu vực các dự án đã triển khai, chỉ có 253 phòng đã đăng ký sử dụng phù hợp.
Liên quan đến kiến nghị thứ hai, ông Tuấn cho rằng, quy hoạch khu du lịch Sơn Trà với nhiều chức năng vui chơi, giải trí, ngắm cảnh, nghiên cứu khoa học, bảo tồn thiên nhiên. Nếu có các giải pháp tốt về kiến trúc quy hoạch xây dựng và quy chế quản lý chặt chẽ sẽ tạo nên sự đa dạng, hấp dẫn mà vẫn đảm bảo yếu tố bảo tồn thiên nhiên.
“Việc hạn chế phương tiện cơ giới lưu thông gây tiếng ồn và ô nhiễm là một trong nhiều biện pháp tổ chức, quản lý”- ông Tuấn cho biết.
Về kiến nghị thứ ba, ông Tuấn cho biết, theo quy hoạch, các dự án hiện nay không nối liền theo toàn bộ viền chân bán đảo mà vẫn giữ khoảng giãn cách giữa các dự án. Bản thân các dự án có mật độ xây dựng thấp dưới 10%. Ngoài ra khi quy hoạch chi tiết các dự án phải nghiên cứu các giải pháp bảo vệ vùng bờ, vùng đệm.
Thứ trưởng Bộ VHTT-DL Huỳnh Vĩnh Ái cho biết thêm, bán đảo Sơn Trà với chiều dài bờ biển khoảng 35,5km, không tính khu vực cảng Tiên Sa, có các khu chức năng du lịch nằm rải rác ven biển. Tuy nhiên phần mặt tiền giáp biển, kể cả diện tích đất rừng vẫn còn trong các khu chức năng, chỉ khoảng 12,3km,  do vậy vẫn bảo đảm cho động vật hoang dã tiếp cận bờ biển.
Về kiến nghị thứ tư, Phó chủ tịch Đà Nẵng cho rằng đây là đề xuất cần nghiên cứu chuyên sâu đảm bảo tính khoa học. Trong quá trình triển khai cụ thể hoá quy hoạch tổng thể bằng các quy hoạch chung, chi tiết và xây dựng quy chế quản lý, Thành phố sẽ phối hợp với các bộ ngành có liên quan tổ chức nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học cũng như cảnh quan tự nhiên của Sơn Trà và vùng phụ cận. (Pháp Luật TPHCM 29/5) đầu trang(
Mất hàng trăm năm, hàng nghìn năm thì Đà Nẵng mới có được Sơn Trà. Mất vài năm với “lá bùa” viết vẻn vẹn hai từ “phát triển”, người ta lăm le “trấn yểm” để gỡ luôn cái bàn thiêng của Đà Nẵng.
Sẽ thật khó khăn để thu hút sự qua tâm của dư luận về lo ngại các công trình xây dựng ảnh hưởng thế nào đến cảnh quan tự nhiên, an ninh quốc phòng ở bán đảo Sơn Trà.
Trước khi Sơn Trà trở thành điểm nóng, đã có quá nhiều cảnh quan tự nhiên của nước ta bị “hiến tế” cho du lịch, từ Nha Trang, Hạ Long rồi đến Sapa, Phú Quốc, rồi Cù Lam Chàm, Cát Bà….
Cơn cuồng tín về sự phát triển thông qua du lịch khiến lãnh đạo các địa phương như chìm đắm trong giấc mộng mơ hồ, chăm chăm ngồi vào bàn tiệc với thực đơn là những cánh rừng, hang động, ngọn núi hay bán đảo. Đang cơn say cơn vui, họ an ủi nhau, phát triển bền vững là được, phải có xây dựng mới phát triển chứ để không vậy thì lấy gì địa phương phát triển.
Trên thực tế, đến lúc người ta đặt lên bàn làm việc một quy hoạch nghìn phòng cho bán đảo Sơn Trà, tính cáp treo cho một hang động nghìn năm, tin rằng một vườn quốc gia sẽ tốt hơn với khu du lịch thì không còn quá nhiều hy vọng vào tư duy giữ gìn miếng bánh cho con cháu nữa.
Và thật độc đáo đến hoang đường, khi người ta nghĩ ra cụm từ “di dời rừng”, như cái cách mà lãnh đạo tỉnh Thái Bình đang sử dụng.
Với Sơn Trà, tầm quan trọng của bán đảo tự nhiên liên kết với Hải Vân quan để chắn cái lạnh cho một vùng Quảng Nam - Đà Nẵng, chống luôn cơn gió lào cho một vùng Đà Nẵng - Quảng Nam là điều hẳn nhiên ai cũng đã am tường.
Tầm quan trọng của lá phổi cho người dân Đà Nẵng, tầm quan trọng của vùng đất với hàng nghìn loại thực vật, linh trưởng lẫn con voọc chà vá chân nấu cũng là điều hẳn nhiên ai cũng rõ ràng. Thậm chí, là tầm quan trọng của một vùng ký ức lẫn tự hào hơn cả hiện kim của nơi từng được mệnh danh là thành phố đáng sống nhất Việt Nam.
Trong nỗi hăng hái nhìn thấy túi tiền của du khách, rất nhiều lãnh đạo địa phương (bao gồm cả lãnh đạo thành phố Đà Nẵng) đã không giữ cho mình đủ sự bình tĩnh để nhớ rằng, tác động vào một cảnh quan thiên nhiên tức là tác động một chiều.
Đó là tác động vĩnh viễn không thể hồi phục lại được nguyên bản, kiểu như ngày hôm nay không thể là ngày hôm qua. Dẫu có cỗ máy thời gian thì cũng không khiến ngày hôm qua trở lại được nữa.
Quan trọng hơn hết, cảnh quan thiên nhiên ở bất cứ quốc gia nào cũng chính là phần dành cho hậu sinh, phần để dành cho thế hệ tiếp theo.
Sẽ thật sự sai lầm lẫn vô cùng tham lam nếu như lấy tư duy chủ quan lẫn ý chí quyền lực của giai đoạn hiện tại để xà xẻo hết phần để dành này của con cháu như cách thức hiện tại.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam sau khi thị sát bán đảo Sơn Trà vào cuối tuần rồi trong cuộc họp vào hôm Chủ nhật có chỉ đạo: “Đề nghị chưa triển khai quy hoạch Sơn Trà trong 3 tháng tới để việc tiếp thu ý kiến được khách quan, toàn diện”.
Phó Thủ tướng chỉ đạo điều này rất khác với ông Hà Văn Siêu - Tổng Cục Phó Tổng cục Du lịch khi làm việc với Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng đã được ông Huỳnh Tấn Vinh - Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng thuật lại như sau, “Chúng tôi đã mời các thành viên của Tổng cục Du lịch cùng đi xem Voọc chà vá chân nâu nhưng các anh từ chối, trả lời là chưa anh nào thấy Voọc và không cần nhìn thấy Voọc thì vẫn làm được quy hoạch.
Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng đã kiến nghị tiếp tục điều chỉnh quy hoạch Sơn Trà theo hướng bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ an ninh - quốc phòng và bảo vệ được báu vật Sơn Trà của người dân Đà Nẵng. Tuy nhiên, Tổng cục du lịch vẫn giữ quan điểm không điều chỉnh quy hoạch và tiếp tục triển khai.
“Chúng tôi kiến nghị Tổng cục Du lịch tổ chức hội thảo gồm các nhà khoa học, đại diện các hiệp hội, doanh nghiệp tại Đà Nẵng để thu thập toàn bộ ý kiến của công luận nhưng họ từ chối” - ông Vinh cho hay.
Dĩ nhiên muốn phát triển phải có đánh đổi, nhưng đánh đổi đến đâu cần phải nghiên cứu cẩn thận, kỹ càng. Nếu chưa thấy hợp lý thì phải dừng lại, thậm chí nếu cần thiết thì để phần đó cho thế hệ kế tiếp luận bàn.
Cuối cùng, sẽ thật dị dạng nếu chúng ta hết lần này đến lần khác xâm phạm vào các cảnh quan thiên nhiên để rồi vung tiền nhằm tận hưởng một vùng du lịch với cảnh quan rất gần với thiên nhiên.
Và khi còn nhìn cảnh quan thiên nhiên với con mắt của nhà buôn, thì hãy biết xấu hổ với cụm từ đầu môi chót lưỡi, “phát triển bền vững”. (Dân Việt 30/5) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Liên quan đến đến việc xin di dời 150 ha rừng, Thái Bình cho biết đã có phương án trồng rừng thay thế từ năm 2014. Nguồn vốn để thực hiện dự án trồng mới là gần 45 tỷ đồng từ ngân sách.
Trưởng ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình phát triển NN&PTNT (Sở NN&PTNT tỉnh Thái Bình) Đặng Văn Thái cho biết, dự án lấn biển để tạo quỹ đất 320ha nhằm kêu gọi, thu hút đầu tư....
Trong phương án này, gần 150ha rừng ngập mặn sẽ bị di dời, chủ yếu là rừng bần trên dưới 30 năm tuổi. Phương án trồng rừng thay thế đã được BQL các dự án về nông nghiệp xây dựng và được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt.
Tuy nhiên, ông Thái khẳng định, không phải đến khi bắt đầu xây dựng đề án này, việc trồng rừng thay thế mới được tính đến. Từ 3 năm trước (năm 2014), Thái Bình đã trồng mở rộng tại khu vực này theo hướng mở rộng ra phía biển.
Ông Thái cũng giải thích, ngay cả các chuyên gia được mời lấy ý kiến tham vấn về dự án, nhiều người cũng rất lo lắng về việc, nếu chặt bỏ toàn bộ 150ha rừng cũ rồi mới trồng lại (tính từ chân đê mới) sẽ ảnh hưởng lớn tới hệ sinh thái trong khu vực biển Thái Thụy.
Về phương án thay thế 150ha rừng, Trưởng BQL các DA Nông nghiệp cho biết, sẽ trồng loài cây bần chua, chiều cao từ 1,2-1,5m, đường kính cổ rễ từ 2-3cm; tuổi cây từ 20-30 tháng, cây sống khỏe, không bị sâu bệnh, có đủ cành nhánh cấp độ 3…
Mật độ rừng trồng mới là 2.500 cây/ha, sẽ tiến hành trong thời điểm từ tháng 5 đến tháng 7 là thời điểm thích hợp để trồng rừng.
Dự kiến đến năm 2020 sẽ hoàn thành trồng rừng theo quy hoạch, bao gồm cả 150 ha rừng phòng hộ bị lấy mất.
Nếu được chấp thuận chủ trương, 354 hộ gia đình sẽ phải bàn giao toàn bộ diện tích đất bãi mà họ đang canh tác, nuôi trồng thủy sản từ nhiều năm nay.
Chủ tịch UBND xã Thụy Hải Nguyễn Dương Luân cho biết, người dân hoang mang khi nghe tin về dự án này.
“Thụy Hải là xã không có đất nông nghiệp. 100% người dân sống bằng nghề gắn với biển, trong đó có 297/1.520 hộ dân của toàn xã mưu sinh bằng nghề nuôi trồng thủy hải sản; các hộ khác thì làm muối hoặc các nghề dịch vụ liên quan đến chế biến thủy hải sản.
Nếu như bị thu hồi toàn bộ diện tích này, điều người dân lo lắng là tới đây họ không biết mưu sinh bằng cách gì”, Chủ tịch xã Thụy Hải thẳng thắn.
Theo ông Luân, trước đây, các hộ dân thuộc xã Thụy Hải có hợp đồng thuê đất đầm bãi ven biển do huyện là đơn vị cho thuê, thời hạn từ 13 – 17 hoặc 20 năm. Tuy nhiên, khi có chủ trương về dự án nâng cấp tuyến đê biển số 8 và di dời toàn bộ 150ha đất rừng ngập mặn, chủ yếu nằm trên địa bàn xã Thụy Hải, việc cho thuê đất đầm bãi được tiến hành cho thuê theo thời vụ.
“Phương án thu hồi 109ha đất đầm bãi ven biển của Thụy Hải và khoảng 50ha đất ven biển của xã Thụy Xuân là không đền bù, chỉ hỗ trợ di dời, hỗ trợ công sức cải tạo đầm bãi của người dân và tài sản trên đất thu hồi. Điều đó cũng khiến bà con lo ngại” – ông Luân nói.
Chủ tịch xã Thụy Hải cho biết, hiện tại UBND huyện Thái Thụy – đơn vị được tỉnh Thái Bình giao nhiệm vụ lên phương án an sinh đang trong giai đoạn lập phương án, sau đó sẽ lấy ý kiến đông đảo người dân.
Chủ tịch xã Thụy Hải cho hay, nhiều năm qua, việc nuôi trồng thủy hải sản của người dân địa phương chủ yếu theo hình thức quảng canh. Nghề muối của xã nhiều năm qua không mang lại hiệu quả kinh tế do giá muối thất thường và chịu sự cạnh tranh của muối từ các tỉnh miền Trung đưa ra.
Chủ trương xin di dời, chuyển đổi gần 150ha đất rừng phòng hộ của Thái Bình đã được Bộ TNMT, Bộ NN&PTNT đồng tình chấp thuận.
Tại buổi làm việc tại trụ sở Bộ TNMT ngày 6/12/2016 giữa Bộ trưởng Trần Hồng Hà và lãnh đạo UBND tỉnh Thái Bình, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đã đồng ý với chủ trương chuyển dịch diện tích rừng phòng hộ nêu trên của Thái Bình trên cơ sở phải bảo tồn nguyên vẹn diện tích, chất lượng, giá trị của rừng ven biển để đảm bảo hệ sinh thái của khu vực.
Cùng ngày, Bộ TNMT ra thông báo số 115 nêu kết luận của Bộ trưởng.
Bộ trưởng yêu cầu, tỉnh phải đưa phần diện tích rừng di dời này vào Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2016 – 2020) của tỉnh; xây dựng kế hoạch dịch chuyển; xây dựng kế hoạch dịch chuyển rừng phòng hộ để bảo đảm đủ diện tích và chất lượng của rừng phòng hộ hiện nay; đảm bảo phù hợp với quy hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học của cả nước đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng phê duyệt.
Ngày 7/12/2016, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn ký văn bản số 10349 về việc thống nhất chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng 149,1ha rừng phòng hộ sang mục đích khác không phải lâm nghiệp để phát triển kinh tế xã hội như đề nghị của tỉnh.
Tuy nhiên, Bộ NN&PTNT cũng yêu cầu Thái Bình hoàn tất những yêu cầu về thủ tục hồ sơ để trình xin các cấp có thẩm quyền theo trình tự. (Vietnamnet 29/5) đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường rừng đóng vai trò quan trọng để tái cơ cấu, phát triển bền vững ngành lâm nghiệp, đóng góp nguồn tài chính quan trọng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động của dịch vụ này đang có không ít những khó khăn cần tiếp tục được quan tâm, tháo gỡ…
Hòa Bình là một trong số những tỉnh có diện tích rừng lớn của miền núi phía bắc. Hiện nay, tỉnh đang thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) làm cơ sở tổ chức thực hiện chính sách chi trả cho các chủ rừng, kết hợp lồng ghép công tác tuyên truyền phổ biến chính sách nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền, chủ rừng và người dân địa phương về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hòa Bình Bùi Xuân Nhẫn cho biết, Hòa Bình có hai lưu vực sông Đà (Nhà máy thủy điện Hòa Bình) và lưu vực sông Mã (Nhà máy thủy điện Bá Thước II) với tổng nguồn thu DVMTR năm 2016 đạt hơn bốn tỷ đồng và gần 226 triệu đồng từ trồng rừng thay thế. 5 năm qua, tỉnh đã chi trả hơn 12,2 tỷ đồng cho gần 18 nghìn chủ rừng là các tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư, với tổng diện tích khoán quản lý là 107 nghìn ha rừng. Tác động từ việc chi trả DVMTR tại địa phương là rất lớn, thúc đẩy quản lý, phát triển rừng bền vững, bảo vệ hiệu quả môi trường sinh thái, chống lũ ống, lũ quét, đồng thời góp phần tạo thêm thu nhập cho người dân.
Cũng như Hòa Bình, hai tỉnh miền núi phía bắc là Lào Cai và Sơn La đã thực hiện khá hiệu quả công tác DVMTR. Lào Cai là địa phương đầu tiên của cả nước thí điểm DVMTR đối với cơ sở sản xuất công nghiệp và nuôi trồng thủy sản có sử dụng nguồn nước từ rừng. Đây là mô hình tiền đề cho việc mở rộng thí điểm các DVMTR mới trong cả nước trong thời gian tới. Tỉnh đã xác định kế hoạch thu tiền DVMTR giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn là 416 tỷ đồng, trong đó nguồn thu từ thủy điện chiếm tỷ trọng lớn nhất (82%). Tại tỉnh Sơn La, sau 5 năm, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã giải ngân 388 tỷ đồng đến các chủ rừng, đạt 97% kế hoạch. Đối với công tác thu tiền trồng rừng thay thế, đến nay toàn tỉnh đã thu được hơn 38 tỷ đồng với tổng diện tích trồng bù khoảng 126 ha, đạt 61,9 % kế hoạch.
Hiện, cả nước có hơn 500 nghìn hộ gia đình, cộng đồng được nhận tiền hỗ trợ từ DVMTR. Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam, đến nay, các địa phương đã cơ bản hoàn thành rà soát, xác định ranh giới, diện tích rừng, làm cơ sở DVMTR đến các chủ rừng. Cả nước hiện có 42 Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng từ trung ương đến địa phương, huy động ủy thác nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2011-2016 đạt hơn 6.510 tỷ đồng, bình quân trên 1.200 tỷ đồng/năm. Tiền DVMTR đã góp phần quản lý, bảo vệ 5,8 triệu ha rừng, chiếm 42% tổng diện tích rừng toàn quốc; góp phần hỗ trợ cho chủ rừng có kinh phí quản lý bảo vệ rừng; hỗ trợ các doanh nghiệp lâm nghiệp khi dừng khai thác gỗ rừng tự nhiên và hỗ trợ kịp thời cho người dân miền núi bảo vệ rừng có điều kiện nâng cao đời sống. Đây là nguồn tài chính ổn định, bền vững và có khả năng sẽ tiếp tục tăng cao do khai thác thêm các DVMTR mới, góp phần làm giảm đầu tư ngân sách nhà nước cho ngành lâm nghiệp…
Theo Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi, bên cạnh những thành tựu đạt được nêu trên, trong quá trình tổ chức hoạt động Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chi trả DVMTR vẫn gặp một số khó khăn, vướng mắc, trong đó có việc thu tiền DVMTR vẫn còn thấp so với tiềm năng hiện có. Nguyên nhân là do trong các loại DVMTR được quy định tại Nghị định 99 hiện mới chỉ có ba loại DVMTR đã thực hiện với các đối tượng là thủy điện, nước sạch và du lịch; các đối tượng khác như cơ sở công nghiệp có sử dụng nước mặt, nuôi trồng thủy sản có sử dụng nước từ rừng và dịch vụ hấp thu các-bon chưa được thực hiện. Tiền DVMTR thu từ các nhà máy thủy hiện nay là 36 đồng/kwh, thu từ các nhà máy sản xuất nước sạch là 52 đồng/m3 thấp hơn nhiều so với giá trị dịch vụ môi trường do rừng tạo ra. Bình quân hằng năm thu tiền DVMTR đạt khoảng 1.200 tỷ đồng. Sau khi trừ chi phí quản lý, vận hành thì tiền DVMTR bình quân còn khoảng 200.000 đồng/ha/năm. Nếu tính chung, thu nhập của các hộ gia đình từ DVMTR bình quân cả nước chỉ khoảng hai triệu đồng/hộ/năm.
Đây là con số rất thấp, khó bảo đảm cuộc sống của người làm rừng. Bên cạnh đó, việc chi trả tiền DVMTR theo từng lưu vực của mỗi cơ sở sử dụng DVMTR đã tạo sự chênh lệch rất lớn. Thực tế hiện nay, một số đơn vị sử dụng DVMTR (nhà máy thủy điện, nước sạch và cơ sở kinh doanh du lịch) chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trả tiền DVMTR hoặc trả chậm dẫn đến nợ đọng nhiều gây ảnh hưởng đến kế hoạch thu, chi và kế hoạch quản lý bảo vệ rừng của các tỉnh.
Vừa qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội nghị nhằm đánh giá những kết quả đã đạt được, xác định những tồn tại, khó khăn và thảo luận tìm ra các nguyên nhân, đề xuất các giải pháp hữu hiệu, thúc đẩy thực thi chính sách, nghiên cứu, đề xuất khai thác hết các tiềm năng của DVMTR, đề xuất mức chi trả DVMTR tiệm cận với giá trị thực. Đồng thời, đề xuất với Quốc hội về sáng kiến tạo cơ chế tài chính mới nhằm luật hóa trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) làm căn cứ pháp lý tổ chức thực hiện.
Trong đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định số 05/2008/NĐ-CP, quy định địa vị pháp lý của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; tổ chức hoạt động theo loại hình đơn vị sự nghiệp công lập, do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập; tăng cường vai trò, quyền của Hội đồng quản lý quỹ. Đề nghị các cơ quan có trách nhiệm chỉ đạo các cơ sở cung cấp nước sạch, các đơn vị liên quan xây dựng, phê duyệt mức chi trả tiền DVMTR trong đơn giá nước thương phẩm từ 40 đồng/m3 lên 52 đồng/m3 theo quy định hiện hành để thực hiện, tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành bảo đảm thu đúng, thu đủ các loại dịch vụ đã quy định đối tượng thu, mức thu.
Đề nghị nhà nước kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không có khả năng trồng rừng thay thế mà không nộp tiền trồng rừng thay thế, các nhà máy thủy điện không chi trả tiền DVMTR. Bên cạnh đó, lồng ghép thực hiện chính sách chi trả DVMTR gắn với thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và các chính sách khuyến khích phát triển lâm nghiệp khác…(Nhân Dân 30/5) đầu trang(
Triển khai kế hoạch Bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2016, huyện Mù Cang Chải đã đạt được kết quả nhất định: Giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng trưởng nhanh, đạt bình quân 7%/năm; Tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 65% năm 2011 lên 67% năm 2016. Trồng rừng bình quân hằng năm đạt từ 500 đến 1.000 ha. Sản lượng khai thác tỉa thưa gỗ rừng trồng hằng năm từ 1.000 đến 1.500 m3.
Sau nhiều năm tuyên truyền, vận động, ý thức của người dân từng bước được nâng cao trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng. Các chủ rừng đã tiến hành giao khoán rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình nên đã có sự gắn kết, phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị chủ rừng với hộ gia đình và chính quyền địa phương trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Tình trạng phá rừng làm nương rẫy, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép, chặt phá rừng đã từng bước được hạn chế.
Giai đoạn 2011 - 2016, trồng rừng tập trung trên địa bàn huyện đạt 4.160 ha, trong đó trồng rừng đặc dụng, phòng hộ 3.140 ha, trồng rừng sản xuất 1.020 ha, số tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng toàn huyện đạt 118,652 tỷ đồng. Mức thu nhập bình quân hằng năm của các hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng bình quân 3,75 triệu đồng đến 25,2 triệu đồng/năm. Đến năm 2016, trên địa bàn huyện có khoảng 8.702 hộ gia đình với trên 50 nghìn lao động tham gia các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp. Trong đó tỷ lệ các hộ nghèo, đồng bào dân tộc miền núi, vùng cao tham gia là 70%. Thu nhập đời sống của người dân từng bước cải thiện.
Thực hiện Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016- 2020, huyện Mù Cang Chải phấn đấu đến năm 2020 tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân năm từ 8 - 10%/năm; Quản lý tốt vốn rừng hiện có, duy trì ổn định độ che phủ 67%, cải tạo nâng cao chất lượng rừng; Nâng cao năng suất rừng trồng lên 5,9m3/ha/năm. Phát triển mạnh rừng sản xuất, trồng mới 3.800 ha Sơn Tra.
Để thực hiện mục tiêu trên, trước mắt, huyện Mù Cang Chải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và mọi người dân đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng; Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; khắc phục sự chồng chéo, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, khả thi; thực hiện các chính sách về chi trả dịch vụ môi trường rừng; Khẩn trương rà soát, đánh giá, kiểm soát chặt chẽ các quy hoạch, dự án phát triển kinh tế, xã hội có tác động tiêu cực đến diện tích, chất lượng rừng, đặc biệt là đối với rừng tự nhiên, rừng phòng hộ; Tăng cường sự phối hợp hiệu quả giữa các Bộ, ngành Trung ương và địa phương để thực hiện quyết liệt, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật, thiết lập trật tự, kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chủ động, nâng cao năng lực, xử lý kịp thời, hiệu quả công tác phòng cháy, chữa cháy và sạt lở đất rừng để hạn chế thấp nhất số vụ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do trên địa bàn; Kiên quyết đình chỉ, thu hồi đất đối với dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng có sai phạm, hoặc có nguy cơ gây thiệt hại lớn về rừng, môi trường sinh thái, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống người dân vùng dự án; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng. Kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của các ngành, các cấp từ Trung ương tới địa phương về lâm nghiệp; xây dựng lực lượng Kiểm lâm đủ mạnh để thực thi hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng...(Yenbai.gov.vn 25/5) đầu trang(
Từ khi các dự án thủy điện được triển khai tại các tỉnh miền Trung, người dân nơi đây đứng ngồi không yên bởi mùa nắng thì lo thiếu nước, mùa mưa thì lo ngập lụt do xả lũ. Nhiều hồ chứa lớn như những quả bom nước treo lủng lẳng trên đầu người dân vùng hạ du…
Nhóm tư vấn đánh giá tác động môi trường và xã hội thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thừa Thiên - Huế đã đưa ra dẫn chứng cụ thể về 22 tác động tiêu cực từ dự án thủy điện A Lưới (Thừa Thiên - Huế). Trong đó nổi bật là tình trạng mất đất, mất rừng, thiếu nước sinh hoạt, nhà tái định cư xuống cấp, người dân đi tái định cư nhường đất cho thủy điện ngày một nghèo đi.
Các chuyên gia thủy lợi, kể cả các nhà quản lý ở Quảng Nam và Đà Nẵng đã từng đưa ra nhiều cảnh báo về khô hạn khắc nghiệt và lũ lớn trên hệ thống sông Vu Gia và Thu Bồn do con người tác động quá mạnh vào rừng. Tính đến tháng 4-2017, Quảng Nam đã mất 1.420,73ha diện tích rừng để chuyển mục đích sử dụng phục vụ cho thủy điện. Đặc biệt, tại các công trình thủy điện ở Quảng Nam như: Đắk Mi 4, Sông Tranh 2,… khi thi công công trình, chủ đầu tư đã bố trí tái định cư cho dân theo kiểu… dồn dân vào núi. Tại nơi ở mới, người dân không có đất sản xuất, đời sống khó khăn nên lại… tái nghèo, lại phá rừng làm rẫy.
Ông Nguyễn Quang Thử, Giám đốc Sở Công thương tỉnh Quảng Nam cho biết, theo quy định, các dự án thủy điện làm mất đất rừng buộc phải trồng rừng thay thế. Thế nhưng, vấn đề là tỉnh Quảng Nam không tìm đâu ra đất để cấp nhằm mục đích trồng rừng thay thế, nên vẫn chỉ trồng... trên giấy. Ông phân trần, các chủ đầu tư dự án thủy điện trên địa bàn “trồng rừng thay thế” bằng cách nộp tiền ủy thác cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam với tổng diện tích là 1.420,59ha. Song việc trồng rừng thay thế là rất khó vì không tìm đâu ra diện tích để trồng. Một số ý kiến đề xuất, thay vì trồng rừng trên núi thì bây giờ trồng rừng phòng hộ ven biển. Nhưng phương án này chưa được thống nhất.
Còn ông Phạm Ngọc Dũng, Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên - Huế cho biết, diện tích rừng “còn nợ” cần phải tiếp tục trồng của dự án thủy điện Hương Điền là 260ha, thủy điện Bình Điền là 320ha và thủy điện A Lưới là 71ha. Trước mắt, các dự án thủy điện đã trồng thay thế được 167ha/270 các thủy điện phải trồng. Số còn lại, các dự án thủy điện không thể trồng rừng được nên họ sẽ phải nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh để quỹ này tổ chức trồng rừng thay thế, với đơn giá 73 triệu đồng/ha. Tổng số tiền dự tính cả 3 thủy điện này phải nộp là hơn 48 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến thời điểm này, vẫn chưa có đơn vị nào nộp tiền trồng rừng thay thế dù quy định là cuối năm 2016. (Sài Gòn Giải Phóng 30/5) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh trồng mới được 285 ha rừng tập trung, trong đó, chủ yếu là rừng sản xuất, đạt 48,7% kế hoạch, tăng 37,8 ha so với cùng kỳ năm 2016. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán là 576,9 nghìn cây, chủ yếu là cây bóng mát, cây ăn quả và một số cây lâm nghiệp khác, đạt 84,8% kế hoạch. Công tác phòng chống cháy rừng luôn được các cấp, ngành triển khai tích cực, hạn chế thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Hiện nay, thời tiết bắt đầu nắng nóng gay gắt, nguy cơ cháy rừng là rất lớn. Vì vậy, để hoàn thành kế hoạch trồng rừng, thời gian tới, cùng với việc đôn đốc bà con tích cực trồng rừng, các cơ quan chức năng và chủ rừng tăng cường các biện pháp phòng, chống cháy rừng nhằm hạn chế nguy cơ cháy rừng và bảo vệ rừng. (Báo Vĩnh Phúc 26/5) đầu trang(
Ngày 26-5, Khu du lịch Lá phong Đà Lạt (phường 3, TP Đà Lạt, Lâm Đồng) chính thức đi vào hoạt động.
Tại sự kiện Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 33 – 2017, khu du lịch này được công nhận “Khu du lịch có nhiều cây lá phong tự trồng lớn nhất Việt Nam”.
Khu du lịch Lá phong Đà Lạt được xây dựng trên diện tích rộng gần 5ha, từ ý tưởng xây dựng một “vườn địa đàng” nhỏ bên trong khu “vườn địa đàng” lớn là thành phố Đà Lạt. Trong khu du lịch, những cây phong lớn nhất có đường kính khoảng 20cm, cao khoảng 6-7m.
Ngoài hơn 2.000 cây lá phong nguồn gốc bản địa Đà Lạt, tại đây còn có khoảng 20.000 cây tùng bút, 500 cây hoa anh đào, hàng trăm cây lá kim đặc hữu quý hiếm của Đà Lạt.
Sau khi đi vào hoạt động, nơi đây sẽ là địa điểm có thể giúp sinh viên, học sinh tới nghiên cứu, tìm hiểu về các loài cây lá kim đặc hữu của Việt Nam. (Sài Gòn Giải Phóng 26/5) đầu trang(
Theo kế hoạch, năm 2017, toàn tỉnh sẽ trồng mới hơn 7.000 ha rừng. Công tác trồng rừng đang được triển khai thực hiện tại các địa phương trong tỉnh.
Trong đó, chủ trương xã hội hóa trồng rừng, kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tự bỏ vốn để trồng rừng hưởng lợi theo quy định của Quyết định số 38 của Thủ tướng Chính phủ đang được các cấp, ngành đặc biệt quan tâm. Hiện tại, UBND các huyện, thị xã, thành phố đã chủ động cho người dân ứng vốn để mua cây giống, vật tư cần thiết phục vụ công tác trồng rừng đảm bảo đúng diện tích và kịp thời vụ. Tranh thủ thời tiết mưa đầu mùa, các đơn vị chủ rừng và doanh nghiệp ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh đang tập trung phát dọn thực bì, đào hố để chuẩn bị cho vụ trồng rừng mới năm 2017. (Đài PTTH Gia Lai 26/5) đầu trang(
Từ bài học đắt giá khi đánh đổi diện tích đất rừng tự nhiên cho các dự án thủy điện, khai khoáng, các địa phương miền núi cương quyết từ chối dự án nếu tác động đến rừng.
Những năm gần đây, khi điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, ngành tài nguyên môi trường, nông nghiệp đều nhất quán bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng, nhằm phát huy chức năng phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học rừng tự nhiên. Theo quy hoạch đến năm 2020, tỉnh sẽ tiến hành điều chỉnh diện tích đất lâm nghiệp lên 729.756ha. Trong đó, rừng đặc dụng có diện tích 139.895,8ha (so với Quyết định số 2462/QĐ-UBND ngày 9.8.2013 của UBND tỉnh tăng 6.348ha; rừng phòng hộ có diện tích 315.704,7ha (giảm 11.936,4ha); rừng sản xuất có diện tích 274.156,3ha (tăng 15.423ha). Năm 2017, diện tích đất rừng phòng hộ chuyển đổi mục đích sử dụng đất là 36,42ha.
Đáng chú ý, năm nay chỉ có mỗi huyện Nam Trà My là chuyển đổi 5ha rừng đặc dụng sang mục đích sử dụng khác (chủ yếu là công trình phục vụ giao thông, lưới điện quốc gia). Các huyện miền núi còn lại hầu như không đụng đến rừng tự nhiên.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho biết, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT đã đồng ý chủ trương nâng cấp Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh trở thành Vườn quốc gia Sông Thanh. Đây là tín hiệu tốt để thiết lập một vành đai xanh, tranh thủ nguồn lực đầu tư của Trung ương cũng như các tổ chức nước ngoài. Việc thành lập Vườn quốc gia Sông Thanh trên cơ sở diện tích lâm phận cũ đang quản lý là 75.274ha. Bổ sung khu vực rừng lim xanh quy mô 1.000ha và rừng di sản pơ mu rộng 7.000ha thành 2 tiểu khu của vườn quốc gia để công tác bảo tồn đa dạng sinh học được thực hiện nghiêm ngặt hơn.
Cũng trong năm nay, Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi tại huyện Nông Sơn với diện tích 18.000ha cũng được thành lập nhằm thu hút người dân tham gia bảo vệ và nâng cao độ che phủ rừng trong khu vực, giảm dần sức ép của vùng đệm đối với tài nguyên rừng. Đã có không ít doanh nghiệp đặt vấn đề đầu tư phát triển du lịch sinh thái tại đây, nhưng quan điểm của tỉnh là chỉ chấp thuận cho dự án vào làm du lịch bảo tồn, tuyệt đối không can thiệp và tác động vào rừng tự nhiên. Và ngược lại từ chối dự án nếu “đụng” vào rừng tự nhiên.
Qua điều tra hiện trạng, kiểm kê rừng những năm gần đây đều cho thấy, rừng tự nhiên với chức năng phòng hộ xung yếu của tỉnh đều điều chỉnh theo hướng tăng diện tích cả vùng đệm lẫn vùng lõi. Trong khi đó, theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, nhiều tỉnh thành của cả nước giảm diện tích loại rừng này. Kết quả công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016 thể hiện diện tích rừng toàn quốc hiện có 14.377.682ha. Trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 10.242.141ha và rừng trồng là 4.135.541ha. Nhiều tỉnh  thuộc vùng Tây Nguyên  giảm diện tích rừng tự nhiên. Đối với các địa phương có diện tích rừng tự nhiên giảm trong năm 2016, Bộ NN&PTNT cũng yêu cầu làm rõ nguyên nhân, xem xét trách nhiệm các tổ chức, cá nhân liên quan. (Báo Quảng Nam 26/5) đầu trang(
Sáng ngày 26/5, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Tuấn Quốc đã chủ trì cuộc họp với Ban Chỉ đạo chuyển đổi Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp thành Công ty TNHH hai thành viên (gọi tắt là Ban Chỉ đạo) để nghe báo cáo chuyển đổi Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp thành Công ty TNHH hai thành viên
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bà Rịa – Vũng Tàu với tiền thân là Lâm trường Xuyên Mộc được thành lập từ năm 1978. Trải qua quá trình hoạt động đến tháng 3/2016, Thủ tướng Chính phủ có văn bản về Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp. Sau đó, Chính phủ đồng ý cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp phối hợp với nhà đầu tư khác thành lập Công ty TNHH hai thành viên  trở lên, đồng thời giao cho UBND tỉnh rà soát lựa chọn đối tác tham gia góp vốn thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trên sơ sở đó, Ban Chỉ đạo đã xây dựng kế hoạch chi tiết về lộ trình thực hiện.
Tại cuộc họp, tổ chuyên viên giúp việc đã đề nghị Ban Chỉ đạo điều chỉnh lại lộ trình thời gian thực hiện vì không còn phù hợp; thống nhất thời điểm xác định vốn nhà nước tại doanh nghiệp là ngày 31/12/2016; Sở Tài chính khẩn trương hoàn thành việc thẩm định sắp xếp nhà và đất của Công ty làm cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất của Công ty, đồng thời hướng dẫn Công ty lựa chọn tổ chức tư vấn xác định vốn nhà nước và phương án chuyển đổi; Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt phương án sử dụng đất của Công ty để làm cơ sở xác định vốn nhà nước tại Công ty.
Phát biểu kết luận cuộc họp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Tuấn Quốc đồng ý với phương án mà Ban Chỉ đạo chuyển đổi Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp đề xuất như: tiếp tục giữ lại sử dụng toàn bộ các cơ sở nhà, xưởng hiện đang sử dụng và các diện tích đất đang phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả; chuyển giao cho UBND huyện Xuyên Mộc những diện tích đất rừng trồng cây gỗ lớn không đưa vào sản xuất kinh doanh được và chuyển giao cho Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam những diện tích đất xây dựng trại gà, trại heo.
Về việc thẩm định phương án sử dụng nhà đất, Phó Chủ tịch giao cho Sở Tài chính thẩm định phần nhà, Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định phần đất. Phó Chủ tịch cũng yêu cầu Ban Chỉ đạo hoàn thiện phương án nêu trên báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/6/2017. (Baria-vungtau.gov.vn 26/5) đầu trang(
Trong những năm qua, phong trào trồng rừng trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh, nhu cầu về giống cây lâm nghiệp (GCLN) ngày càng lớn. Nắm bắt cơ hội này, nhiều tổ chức, cá nhân đã đầu tư vườn gieo ươm cây giống nhưng hoạt động dưới dạng tự phát, nguồn gốc giống không rõ ràng, kém chất lượng, ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng.
Theo tìm hiểu thực tế tại thôn 5, xã Hợp Thắng (Triệu Sơn) được biết, toàn thôn có khoảng 50 hộ dân tự đầu tư vườn ươm sản xuất GCLN, sản lượng hàng chục triệu cây/năm. Hầu hết, các vườn ươm không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận sản xuất, kinh doanh khiến số lượng lớn GCLN chỉ được sản xuất theo kinh nghiệm, không bảo đảm quy trình, chất lượng.
Bà Lê Thị Xoan, thôn 5, xã Hợp Thắng, chủ vườn ươm GCLN, cho biết: Gia đình tôi tận dụng đất vườn xung quanh nhà hơn 500 m2 để đầu tư ươm GCLN chủ yếu là cây keo, lát... Mỗi năm ươm 3 vụ và xuất bán ra thị trường khoảng 20 vạn cây giống, trừ chi phí cho lợi nhuận từ 45 đến 50 triệu đồng/năm. Để sản xuất được cây giống, chúng tôi tự mua hạt giống về thuê người đóng bầu và dâm hom. Giá cây giống ở đây giao động khoảng 400 đồng đến 500 đồng/cây, thậm chí có thời điểm rẻ chỉ còn 250 đồng/cây. Về kỹ thuật dâm hom, chúng tôi chủ yếu tự mày mò làm chứ không được tập huấn, khi nào cây đủ kích thước thì bán chứ cũng không có cơ quan nào kiểm tra, chứng nhận đủ tiêu chuẩn xuất vườn. Khách hàng là những hộ trồng rừng từ các huyện Như Thanh, Như Xuân, Lang Chánh... đến mua cây giống.
Qua tìm hiểu ở các huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh, Ngọc Lặc... có khá nhiều vườn ươm hoạt động mà không có giấy chứng nhận sản xuất, kinh doanh với lý do... ngại thực hiện thủ tục xin cấp phép. Bên cạnh đó, đa phần các hộ có quy mô nhỏ, thiếu vốn nên chưa đầu tư xây dựng vườn ươm đúng quy cách; hạn chế về trình độ kỹ thuật cũng như hiểu biết pháp luật trong sản xuất GCLN nên chưa thực hiện quy định. Trong khi người trồng rừng lại ham GCLN giá rẻ ở các vườn ươm tư nhân. Đơn cử như giống cây keo ở các vườn ươm tự phát chỉ có giá khoảng 400 đồng/cây, còn ở các vườn ươm có giấy chứng nhận tiêu chuẩn xuất vườn có giá từ 800 đến 1.000 đồng/cây.
Hàng năm, toàn tỉnh có kế hoạch trồng mới 10.000 ha, tương đương hơn 20 triệu cây giống, nếu người trồng rừng sử dụng GCLN kém chất lượng sẽ dẫn đến thiệt hại nhiều mặt, vì GCLN có chu kỳ phát triển khá dài, phải mất từ 3-4 năm sau mới phát hiện được. Nhất là trong trồng rừng gỗ lớn, sử dụng GCLN không bảo đảm chất lượng, thì khoảng 5 năm sau là cây bị bấc ruột (rỗng ruột) không phát triển được. Không những vậy, sản xuất, kinh doanh cây giống tự phát, không bảo đảm chất lượng còn để lại nhiều hệ lụy, làm phát tán sâu bệnh gây thiệt hại cho người trồng rừng, ảnh hưởng đến môi sinh. Mặc dù vậy, công tác quản lý GCLN tại các vườn ươm tự phát vẫn còn buông lỏng.
Theo Nghị định 31 ngày 6-2-2016 của Chính phủ quy định mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, như: Phạt tiền từ 5 đến 30 triệu đồng đối với các hành vi vi phạm: Không có địa điểm kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật không phù hợp với từng loài cây trồng, từng cấp giống; không có hoặc không thuê nhân viên kỹ thuật có trình độ từ trung cấp trồng trọt, bảo vệ thực vật trở lên hoặc có giấy chứng nhận, xác nhận tập huấn về trồng trọt, bảo vệ thực vật. Địa điểm sản xuất không phù hợp với quy hoạch của ngành nông nghiệp...
Trong khi toàn tỉnh mới có 29 cơ sở sản xuất, kinh doanh GCLN được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh cây giống, được xác nhận xuất xứ, nguồn gốc giống cây... Hàng năm, các đơn vị này sản xuất được 18,5 triệu cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn, các loại cây, như: Keo, lát, xoan, lim, thông... phục vụ trồng rừng và trồng cây phân tán.
Trước thực trạng trên, để bảo đảm chất lượng GCLN thực hiện mục tiêu đến năm 2020 tổng diện tích rừng gỗ lớn khoảng 56.000 ha và ổn định diện tích đến năm 2025, sản lượng khai thác 800.000 m3/năm, tập trung tại các huyện: Mường Lát, Thường Xuân, Quan Sơn, Như Xuân, Quan Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Ngọc Lặc. Ngay từ bây giờ, các ngành chức năng của tỉnh, các địa phương sớm tổ chức quản lý, kiểm soát nghiêm ngặt các cơ sở tư nhân, hộ dân tự lập vườn ươm nhỏ lẻ trên địa bàn về nguồn gốc GCLN từ khâu nhập hạt giống; quản lý sản xuất cây giống ở vườn ươm; cấp giấy chứng nhận nguồn gốc cây giống tới khâu lưu thông đến chân lô trồng rừng... Nghiêm cấm không sử dụng các lô giống không rõ nguồn gốc xuất xứ; phải xử lý, tiêu hủy tất cả các lô giống không rõ nguồn gốc khi phát hiện. Đình chỉ sản xuất hoặc thu hồi giấy phép đối với những cơ sở không đủ điều kiện...(Báo Thanh Hóa 27/5) đầu trang(
Thực hiện kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại cuộc làm việc với tỉnh ngày 26-2 về việc đưa Tuyên Quang trở thành hình mẫu về phát triển kinh tế lâm nghiệp, ngày 26-5, đoàn công tác của Tổng cục Lâm nghiệp do PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng Cục trưởng làm trưởng đoàn đã đến kiểm tra tình hình phát triển kinh tế lâm nghiệp tại tỉnh.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã báo cáo nhanh về tình hình phát triển nông lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh, trong đó có kinh tế lâm nghiệp. Trung bình mỗi năm Tuyên Quang trồng mới 10.500 ha rừng, riêng trong năm nay tỉnh đã trồng 8.737 ha, khai thác 205.580 m3 gỗ. Trên địa bàn tỉnh có 23 cơ sở gieo ươm giống cây lâm nghiệp và 1 cơ sở nuôi cấy mô tại Trường Đại học Tân Trào. Thực hiện các giải pháp nâng cao giá trị gia tăng của ngành, từ 2016 đến nay tỉnh đã trồng 4.782 ha rừng keo lai hom, 217 ha keo lai mô và bạch đàn mô; 7.387 ha rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn; chuyển hóa rừng gỗ lớn từ rừng kinh doanh nguyên liệu giấy là 24,8 ha; cấp chứng chỉ rừng bền vững FSC cho 15.964 ha. Định hướng của tỉnh là nâng cao năng suất, giá trị rừng trồng; gắn phát triển lâm nghiệp với du lịch sinh thái; hình thành liên kết hộ gia đình, nhóm hộ gia đình trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ gỗ và lâm sản.
PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, để đưa Tuyên Quang trở thành hình mẫu về phát triển kinh tế lâm nghiệp, tỉnh cần chú trọng vào xây dựng hình mẫu về rừng trồng sản xuất, trong đó tỉnh cần thực hiện các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng gỗ rừng trồng; hoàn thiện các tổ chức sản xuất theo hướng hình thành các chuỗi liên kết giữa người trồng rừng với các công ty, doanh nghiệp chế biến; quy hoạch lại vùng nguyên liệu và xây dựng thị trường theo hướng cạnh tranh; ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, bảo vệ rừng, khai thác chế biến rừng và phát triển rừng; quan tâm đến các dự án trồng rừng thay thế; tăng cường quản lý chất lượng giống cây lâm nghiệp...
Tỉnh đề nghị, Tổng cục Lâm nghiệp kiến nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT hỗ trợ tỉnh xây dựng một trung tâm dịch vụ giống cây trồng quy mô 17 triệu cây/năm, trong đó riêng cây lâm nghiệp nuôi cấy mô là 5 triệu cây/năm; xây dựng mô hình liên kết trồng rừng quy mô công nghiệp hoặc bán công nghiệp, tổng diện tích 3.000 ha theo hướng sử dụng giống cây lâm nghiệp công nghệ cao.
Trước đó, đoàn công tác đã kiểm tra tình hình phát triển lâm nghiệp tại các xã Xuân Vân, Trung Trực của huyện Yên Sơn. (Báo Tuyên Quang 28/5) đầu trang(
Với mục tiêu đưa những giống keo nuôi cấy mô vào trồng rừng gỗ lớn, áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người trồng rừng, được sự hỗ trợ Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông tỉnh đã triển khai thực hiện dự án "Xây dựng và phát triển mô hình áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung”.
Mô hình triển khai tại 2 xã Tử Nê và Phú Vinh (Tân Lạc). Thời gian thực hiện 3 năm, quy mô 38 ha với 20 hộ gia đình tham gia. Đây là những hộ có đủ điều kiện về đất đai, lao động, kinh phí và tình nguyện tham gia thực hiện mô hình. Các hộ được hỗ trợ 100% cây giống (giống keo lai BV10, BV16, BV32) và 5% phân bón, được tập huấn kỹ thuật từ cách trồng, khoảng cách trồng, cách chăm sóc, bón phân từng giai đoạn.
Thăm đồi keo nuôi cấy mô rộng 2ha của gia đình ông Bùi Văn Dành, xóm Bin, xã Tử Nê, ông cho biết: Khi nhận giống về trồng, tỷ lệ cây sống khoảng 98%. Với ưu điểm cây sinh trưởng đều, nhanh, mới trồng từ tháng 9/2016 đến nay cây đã cao từ 2 – 2,5m, đường kính gốc 4cm. Thời gian trồng thành rừng gỗ lớn sau khoảng 10 năm sẽ cho thu hoạch, hứa hẹn hiệu quả kinh tế cao cho người trồng rừng.
Ông Bùi Văn Hung, xóm Bin trồng 1ha và cũng là hộ được hưởng lợi từ dự án. ông phấn khởi cho biết: Keo nuôi cấy mô là giống cây mới cho năng suất, chất lượng cao. So với giống keo giâm bằng hom thì keo nuôi cấy mô vượt trội hơn hẳn, cao gấp 1 – 1,5 lần.
Đến nay, mô hình áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh đã có kết quả bước đầu. Cây sinh trưởng, phát triển tốt, chiều cao trung bình đạt 2m, dự kiến trung bình 1 ha cho thu nhập từ 300 - 400 triệu đồng (sau 10 năm trồng), hiệu quả kinh tế của trồng rừng gỗ lớn tăng gấp nhiều lần so các loại giống khác.
Từ kết quả bước đầu của dự án trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh ở xã Tử Nê và Phú Vinh đã góp phần làm thay đổi tư duy, cách làm của người dân nhằm thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp phát triển bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao. (Báo Hòa Bình 29/5) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2017, đến thời điểm này toàn huyện Pác Nặm đã trồng được hơn 110ha rừng.
Trong đó, Bằng Thành là xã có tiến độ trồng rừng nhanh nhất huyện với khoảng 80ha, đặc biệt xã này có 40ha rừng  do người dân tự bỏ vốn ra trồng. Năm nay huyện Pác Nặm được giao chỉ tiêu trồng mới trên 430ha rừng. Người dân trong toàn huyện đã đăng ký trồng rừng được 619ha. Ban quản lý dự án phát triển rừng của huyện đã chỉ đạo kiểm lâm phụ trách địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức thiết kế ngoại nghiệp được gần 564ha.  Đến thời điểm này, toàn huyện đã xử lý thực bì được gần 370ha. Hạt Kiểm lâm huyện đã cấp hơn 200.000 cây giống cho những hộ dân đã xử lý thực bì xong.
Hiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi cán bộ kiểm lâm địa bàn đang tích cực đôn đốc người dân tập trung trồng rừng, cũng như xử lý nốt những diện tích chưa xử lý thực bì, để đảm bảo tiến độ trồng rừng theo đúng kế hoạch đề ra. (Đài PTTH Bắc Kạn 28/5) đầu trang(
Các tỉnh Tây Nguyên đã bước vào mùa mưa, các doanh nghiệp và đồng bào các dân tộc đã tập trung phương tiện, lao động, cây giống để phấn đấu hoàn thành việc trồng mới 12.559 ha rừng tập trung và trên 4,57 triệu cây phân tán.
Trong đó, có 1.000 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, 6.890 ha rừng sản xuất và trồng rừng thay thế 4.669 ha. Đắk Lắk là địa phương có diện tích rừng trồng tập trung trong mùa mưa này nhiều nhất với trên 4.884 ha.
Theo đó, các tỉnh Tây Nguyên đã tiến hành kiểm tra, rà soát lại diện tích đất trống, đồi núi trọc chưa có rừng, nhất là diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm trái phép làm nương rẫy có kế hoạch thu hồi trồng lại rừng phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất.
Cùng với đó là tiến hành rà soát, đánh giá, thu hồi toàn bộ, hoặc một phần dự án đối với các dự án chuyển đổi đất lâm nghiệp, rừng sang mục đích khác chậm tiến độ; không thực hiện dự án để rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép thu hồi giao lại cho địa phương có kế hoạch trồng lại rừng.
Các tỉnh vùng Tây Nguyên cũng từng bước ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong thâm canh rừng trồng để tăng năng suất, chất lượng rừng, kết hợp sản xuất lâm, nông và du lịch sinh thái nhằm góp phần nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Tỉnh Đắk Lắk đã có chủ trương khuyến khích các thành phần kinh tế khi tham gia trồng rừng phòng hộ, ngoài cây gỗ lớn còn có thể trồng xen các loại cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả lâu năm có tán che phủ như cây rừng.
Còn đối với rừng đặc dụng, tỉnh Đắk Lắk chọn các loại cây phù hợp với mục tiêu phục hồi hệ sinh thái nguyên sinh, chủ yếu là loài cây bản địa như sao, dầu, muồng đen, bằng lăng.
Riêng đối với trồng rừng sản xuất, tỉnh Đắk Lắk tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế mở rộng quy mô, xây dựng rừng nguyên liệu tập trung, có năng suất, chất lượng cao, ổn định, với các loại cây có chu kỳ khai thác ngắn nằm ở các địa bàn có điều kiện về giao thông thuận lợi như M’Đắk, Ea Kar, Ea Súp, Krông Bông…để không những góp phần nâng cao tỷ trọng GDP lâm nghiệp trong tổng GDP của tỉnh mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc tham gia trồng rừng, bảo vệ môi trường sinh thái…
Cũng theo Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, hiện nay là mùa mưa, mùa của trồng rừng ở Tây Nguyên nhưng do các bộ, ngành chưa bố trí vốn nên các tỉnh Tây Nguyên khó khăn trong việc tự cân đối vốn để thực hiện nhiệm vụ trồng rừng phòng hộ, đặc dụng…
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có tổng diện tích rừng là trên 2,513 triệu ha, trong đó, rừng tự nhiên có trên 2,234 triệu ha, diện tích còn lại là rừng trồng, tỷ lệ che phủ rừng chỉ còn 46,01% (tính cả cây cao su và cây đặc sản, còn không tính cây đặc sản, cây cao su thì chỉ còn 43,5%); đồng thời, đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, chăm sóc rừng để góp phần phấn đấu đến năm 2020 nâng tỷ lệ che phủ rừng tăng lên 49,8%. (Tin Tức 29/5) đầu trang(
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường, thực hiện việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân tại 6 huyện miền núi, đến nay đã có gần 50.400 hộ được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp với tổng diện tích trên 118.114 ha; trong đó, huyện Ba Tơ 37.641 ha, Minh Long 14.409 ha, Sơn Hà 24.881 ha, Sơn Tây 17.292, Trà Bồng 14.131 ha và Tây Trà 9.758 ha.
​Qua rà soát của các huyện, hiện vẫn còn khoảng 8.297 hộ thiếu hoặc chưa có đất sản xuất với diện tích và nhu cầu sử dụng khoảng 4.916 ha; trong đó huyện Ba Tơ 1.300 ha, Minh Long 1.067 ha, Sơn Hà 1.415 ha, Sơn Tây 431 ha, Trà Bồng 600 ha và Tây Trà 10​2 ha.
Tổng quỹ đất hiện có dành để lập phương án giao đất cho nhân dân trên địa bàn 6 huyện miền núi là 19.533 ha, trong đó Ba Tơ 7.245 ha, Minh Long 566 ha, Sơn Hà 1.952 ha, Sơn Tây 708 ha, Trà Bồng 5.876 ha và Tây Trà 3.184 ha. Quỹ đất này thu hồi từ các công ty nông lâm nghiệp, Công ty cổ phần Huyền Trang, Công ty cổ phần Tập đoàn Tân Mai, diện tích đất quy hoạch rừng phòng hộ chuyển sang quy hoạch rừng sản xuất theo Quyết định số 2480/QĐ-UBND.
Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Sở Tài chính và UBND các huyện tham mưu UBND tỉnh bố trí hỗ trợ kinh phí để các địa phương thực hiện công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính và lập phương án giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân. Hiện nay, UBND các huyện miền núi đã lập phương án, lựa chọn đơn vị tư vấn để thực hiện công tác này và dự kiến sẽ hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân trong năm 2017. (Đài PTTH Quảng Ngãi 26/5)đầu trang(
Trạm giống cây lâm nghiệp Bình Hiệp được thành lập từ năm 1991 với tên gọi ban đầu là Trạm Nghiên cứu thực nghiệm Bình Hiệp, đến năm 2003 đổi tên thành Trạm giống cây lâm nghiệp Bình Hiệp (thuộc Trung tâm giống Quảng Ngãi).
Với diện tích hơn 23ha, trạm đã sản xuất nhiều nhóm cây lâm nghiệp như keo lai (gồm 3 dòng chủ lực BV10, BV16, BV32) và nhóm cây trồng rừng phòng hộ ven biển như phi lao TT 2.6, TT 2.7. Với nhóm cây bản địa, trạm sản xuất các loại cây gỗ lớn như sao đen, lim xanh, xà cừ, gõ đỏ. Ngoài ra còn sản xuất nhiều loại giống cây ăn quả và cây dược liệu. Hằng năm, Trạm sản xuất từ 1,5 - 1,7 triệu cây giống, doanh thu đạt khoảng 1 tỷ đồng.
Trưởng Trạm giống cây lâm nghiệp Bình Hiệp Trần Mậu Hùng, cho biết: Hiện tại, trạm có gần 1ha vườn cây giống gốc lâm nghiệp từ nuôi cấy mô. Những năm đầu trạm sản xuất giống bằng gieo hạt là chính, khoảng hơn 15 năm trở lại đây, trạm chuyển qua sản xuất bằng phương pháp nhân giống sinh dưỡng như giâm hom, ghép, chiết...
Riêng từ năm 2016 đến nay, trạm đã chuyển hướng sang lĩnh vực sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô để tạo ra nguồn giống đạt chất lượng tốt hơn.  Năm 2017, trạm dự kiến cung cấp ra thị trường khoảng 2 triệu cây giống các loại để phục vụ trồng rừng. (Báo Quảng Ngãi 25/5) đầu trang(
Mục tiêu của giao rừng cho tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư là nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác nguồn lợi từ rừng. Tuy nhiên, vì hồ sơ thủ tục giao rừng quá nhiều, nên thời gian thực hiện kéo dài, chi phí tốn kém...
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi, tổng diện tích rừng hiện đã giao là 117.120/121.212ha, đạt 96% kế hoạch. Trong đó, 21.313ha rừng giao cho các hộ gia đình, cá nhân; 89.159ha rừng giao cho các BQL rừng phòng hộ; 6.648ha rừng giao cho các công ty lâm nghiệp. Số diện tích rừng còn lại, gần 4.100ha chính quyền các địa phương và ngành chức năng sẽ tiếp tục rà soát để giao cho các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ sau khi hoàn thành việc chuyển đổi một số diện tích rừng.
“Phải mất hơn một năm mới hoàn thành phương án giao rừng và bàn giao rừng tại thực địa. Nguyên nhân là vì hồ sơ, thủ tục giao rừng quá nhiều; lại liên quan đến trách nhiệm của nhiều sở, ngành nên thời gian thẩm định kéo dài”, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Nguyễn Đại cho biết.
Muốn giao rừng, UBND các huyện tiến hành lập phương án giao rừng và phải được HĐND huyện thông qua, Sở NN&PTNT thẩm định, Sở TN&MT cho ý kiến về thủ tục giao đất và kinh phí thực hiện. Sau đó, Sở NN&PTNT tổng hợp, báo cáo và trình UBND tỉnh ra quyết định phê duyệt phương án. Trên cơ sở quyết định của UBND tỉnh, UBND các huyện lại thực hiện hàng loạt “bộ” thủ tục trước khi giao rừng tại thực địa cho cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư.
Khó khăn trong quá trình giao rừng là phải tiến hành đo đạc, xác định vị trí, ranh giới, hiện trạng, trữ lượng rừng gắn với việc giao đất. Đây là bước tốn nhiều thời gian và chi phí nhất. Vì nếu hồ sơ rừng không phù hợp, Sở TN&MT không thể thẩm định, xây dựng bản đồ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gắn với rừng. “Bởi muốn giao rừng, phải giao đất trước”, ông Đại cho biết.
Đơn cử như huyện Trà Bồng, từ đầu năm 2016, UBND huyện xây dựng phương án giao 3.500ha rừng tại 8 xã. Dù đã được các sở, ngành tích cực thẩm định, góp ý kiến và giải quyết nhiều vướng mắc, nhưng phải đến tháng 5.2017, phương án mới hoàn chỉnh và được UBND tỉnh phê duyệt. Địa phương này phấn đấu đến cuối tháng 6.2017 sẽ hoàn thành việc giao rừng tại thực địa cho các cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư để quản lý và bảo vệ. Như vậy, để được giao 3.500ha rừng, huyện Trà Bồng mất hơn một năm mới hoàn thành các thủ tục.
Theo đại diện Chi cục Kiểm lâm, nếu các bộ thủ tục giao rừngthực hiện đúng quy trình, tức là mỗi sở, ngành tiến hành các bước thẩm định riêng lẻ thì thời gian hoàn thành sẽ rất lâu. Do đó, khi UBND các huyện gửi phương án giao rừng, Chi cục Kiểm lâm sẽ rà soát và phân loại các nội dung cần giải quyết để tham mưu Sở NN&PTNT ban hành văn bản gửi các đơn vị liên quan. “Bên cạnh những vấn đề cần sự thẩm định riêng lẻ của các sở, ngành thì nhiều nội dung cần sự vào cuộc chung của các đơn vị để rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục giao rừng”, ông Đại lý giải.
Theo kế hoạch, toàn tỉnh sẽ hoàn thành việc giao rừng vào năm 2018.  Tuy nhiên, thực hiện việc rà soát, chuyển đổi một số diện tích rừng hiện chỉ đang trong giai đoạn lập hồ sơ điều chỉnh, chứ chưa tiến hành các bước ngoài thực địa. Trong khi đó, việc đo đạc, xác định vị trí, ranh giới, hiện trạng, trữ lượng rừng lại tốn rất nhiều thời gian và kinh phí. Vì vậy, “nếu không có sự vào cuộc tích cực của các sở, ngành thì kế hoạch giao rừng khó hoàn thành đúng thời gian và tiến độ”, ông Nguyễn Đại cho biết. (Báo Quảng Ngãi 25/5)đầu trang(./.