|
Ngày 29 tháng 10 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Hội đồng Cây Di sản Việt Nam vừa công nhận thêm 12 cây đơn lẻ và một quần thể cây là Cây Di sản Việt Nam, nâng tổng số cây di sản ở nước ta lên 514.
Các tỉnh có cây di sản được công nhận lần này là Hà Nam (ba cây), Hà Nội (ba cây), Thái Bình (hai cây). Các tỉnh Hà Tĩnh, Phú Thọ, Hòa Bình, Bến Tre, Phú Yên mỗi tỉnh một cây.
Nhiều cây di sản được công nhận lần này có tuổi thọ rất cao như cây Thị gần nghìn tuổi ở thôn Tiến Ân, xã Thủy Xuân Tiên, Chương Mỹ (Hà Nội), cây Bồ đề trên 500 tuổi ở phường Phú Lương, quận Hà Đông (Hà Nội), cây Bàng 500 năm tuổi và cây Bồ đề gần 400 năm ở thôn Văn Bối, xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng (Hà Nam). (Tiền Phong 29/10) đầu trang(
28/10, tại khu rừng bạch bạch đàn ở khu 6 và 5b, đồi 368, phường Bãi Cháy, thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) đã xảy ra hỏa hoạn.
Ông Nguyễn Thanh Sơn, Trưởng trạm Kiểm lâm phía tây (thành phố Hạ Long) cho biết: Ngọn lửa bùng phát từ khoảng 23h ngày 27/10. Sau đó, người dân và các lực lượng chức năng tại chỗ đã dập tắt đám cháy ngay trong đêm. Tuy nhiên, đến khoảng 8h ngày 28/10, lửa đã tái bùng phát và lan rộng.
Lực lượng chữa cháy và xe cứu hỏa đã được huy động nhưng do địa hình đồi phức tạp nên xe cứu hỏa không thể tiếp cận để chữa cháy. Người dân và lực lượng chức năng đã thực hiện các biện pháp chữa cháy tại chỗ và dọn quang cây bụi, cành khô, ngăn không để đám cháy lan rộng.
Đến 10h, ngọn lửa đã cơ bản được kiểm soát. Ước tính ban đầu, khoảng 3 ha rừng bạch đàn tái sinh bị ảnh hưởng và thiệt hại trong vụ cháy.
Hiện lực lượng chức năng địa phương và người dân đang tiếp tục theo dõi và tiến hành dọn quang xung quanh khu vực cháy để tránh ngọn lửa tái bùng phát. (Tiền Phong 29/10; Nhân Dân 28 - 29/10; VietnamPlus.vn 28/10; Công an TPHCM 28/10; Người Đưa Tin 28/10; Tiền Phong 28/10; Gia Đình&Xã Hội 28/10; Nông Thôn Ngày Nay 28/10; An Ninh Thủ Đô 29/10; VOV 28/10) đầu trang(
Để chủ động và kịp thời tổ chức lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó khi có các tình huống cháy rừng xảy ra ở địa phương, huyện Na Rì đã chủ động triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2013 - 2014.
Xác định công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR), là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng ở địa phương, nhằm bảo vệ các diện tích rừng sinh trưởng và phát triển tốt. Đồng thời, hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Hạt kiểm lâm huyện đã chủ động tham mưu cho Ban Chỉ đạo huyện tiến hành kiện toàn lại Ban Chỉ đạo (BCĐ) từ cấp huyện đến xã và 233 tổ, đội PCCCR tại chỗ ở các thôn, bản trong toàn huyện, với gần 1.200 thành viên tham gia. Chỉ đạo cho chính quyền cơ sở 22 xã, thị trấn xây dựng các phương án sẵn sàng PCCCR một cách có hiệu quả, phù hợp với từng địa phương.
Trao đổi về những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác PCCCR trên địa bàn thời gian tới, ông Nông Danh Hiển – Phó Chủ tịch UBND huyện Na Rì cho biết: Bên cạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức cho người dân trong việc việc PCCCR, huyện Na Rì tiếp tục đề cao công tác trực PCCCR. Ban Chỉ đạo cấp huyện thực hiện phân công lực lượng PCCCR từ huyện đến cơ sở, thực hiện trực 24/24 giờ trong những ngày khô hạn để cập nhật và thông báo cấp dự báo cháy rừng.
Cùng với đó, huy động lực lượng, phương tiện kịp thời dập tắt đám cháy khi có cháy rừng xảy ra, với phương châm “chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ”. Đảm bảo thực hiện tốt công tác PCCCR, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn huyện trong mùa khô năm nay. (Báo Bắc Kạn 28/10) đầu trang(
Huyện vùng cao Mù Cang Chải (Yên Bái) có diện tích rừng rộng lớn với gần 70 nghìn ha, địa hình phức tạp, người dân sống chủ yếu dựa vào rừng và sản xuất lương thực theo tập quán đốt nương làm rẫy trong thời điểm từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây cũng là mối đe dọa gây cháy rừng ở huyện vùng cao này.
Ông Dương Anh Tuấn - Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Mù Cang Chải cho biết: "Trên địa bàn huyện Mù Cang Chải xác định có hai thời điểm thường xảy ra cháy rừng là dịp tết và mùa làm nương rẫy. Để hạn chế tối đa tình trạng cháy rừng, huyện đang tiến hành chuyển trên 1.200ha đất nương rẫy sang trồng ngô, vừa góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định và từng bước nâng cao đờì sống đồng bào, vừa hạn chế được lửa rừng.
Ngoài ra, chúng tôi tăng cường cán bộ kiểm lâm xuống xã cùng thống kê số lượng nương rẫy của các hộ dân, trên cơ sở đó cán bộ kiểm lâm tổ chức hướng dẫn và giám sát quá trình đốt nương rẫy theo đúng quy trình, kỹ thuật".
Mùa khô hanh 2013-2014, với phương châm "phòng cháy là chủ yếu, chữa cháy phải khẩn trương, kịp thời, triệt để và cương quyết", ngay từ bây giờ, huyện đã kiện toàn ban chỉ huy PCCCR cấp huyện đến cấp xã, xác định vùng trọng điểm thường xuyên xảy ra cháy rừng để tập trung chỉ đạo; các xã tổng kết kiểm điểm đánh giá kết quả công tác PCCCR để rút kinh nghiệm; thường xuyên tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng dân cư về công tác bảo vệ rừng và PCCCR;
Hạt Kiểm lâm tăng cường cán bộ kiểm lâm xuống các địa bàn trọng điểm về cháy rừng, hướng dẫn và quản lý chặt chẽ việc đốt nương, rẫy theo quy hoạch; duy trì công tác thông tin báo cáo công tác bảo vệ rừng, PCCCR kịp thời, chính xác; phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về PCCCR nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Ngoài ra, để giải quyết tận gốc nạn cháy rừng, huyện xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, thay đổi tập quán sản xuất lạc hậu, thực hiện thâm canh tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Trên cơ sở đó, huyện đã tiến hành quy hoạch vùng sản xuất nông lâm nghiệp, vùng sản xuất nương rẫy, đẩy nhanh công tác giao đất, giao rừng nhằm xác định rõ trách nhiệm của chủ rừng trong việc PCCCR. (Báo Yên Bái 28/10) đầu trang(
Chủ tịch tỉnh Bình Định vừa phê duyệt Dự án Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 – 2016, do Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư. Tổng mức đầu tư của dự án gần 10,5 tỷ đồng.
Được biết, mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng, tiến đến giảm dần nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 – 2016 và những năm tiếp theo. (Quân Đội Nhân Dân 28/10) đầu trang(
Dự án VIE 028 vừa hỗ trợ 10 lớp tập huấn về cách bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cho bà con nông dân tại 10 bản thuộc 5 xã của huyện Con Cuông.
Hiện nay, huyện Con Cuông có độ che phủ rừng cao nhất nước nhờ làm tốt công tác trồng và bảo vệ rừng. Tiếp tục phát huy thế mạnh đó và nâng cao nhận thức cho bà con trong việc giữ rừng, Dự án VIE 028 về phát triển nông nghiệp nông thôn miền Tây Nghệ An vừa tiếp tục hỗ trợ 10 lớp tập huấn về cách bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường cho bà con nông dân tại 10 bản thuộc 5 xã Môn Sơn, Cam lâm, Châu Khê, Mậu Đức, Bình Chuẩn.
Mở 11 lớp tập huấn về cách trồng các lâm sản ngoài gỗ như Mây, Mét, Tre, Gừng… cho bà con tại 10 bản thuộc 5 xã : Bình Chuẩn, Thạch Ngàn, Lục Dạ, Yên Khê và Châu Khê và hỗ trợ triển khai xây dựng mô hình trồng Mây Nếp với 3 ha tại bản Mọi xã Lục Dạ cho 7 hộ dân tham gia.
Các loại lâm sản ngoài gỗ vừa bảo vệ rừng vừa cung cấp nguyên liệu cho bà con làm các đồ thủ công mỹ nghệ hiện nay đang được thị trường rất ưa chuộng mang lại thêm thu nhập cho gia đình nông dân vùng nông thôn miền núi. (Đài PT - TH Nghệ An 28/10) đầu trang(
Khu rừng được ông Triệu Tiến Châu ở thôn Minh An, xã Y Can, huyện Trấn Yên quản lý, bảo vệ tuy không phải là rừng già cổ thụ nhưng với vị trí chỉ nằm cách trung tâm thành phố Yên Bái khoảng 25km mà vẫn còn cả trên 190ha rừng tự nhiên sản xuất rậm rạp liền khu quả là một điều đáng quý.
Ông Châu cho biết: "Năm 2008, Lâm trường Việt Hưng giải thể, giao lại đất cho địa phương, tôi đã vận động 6 hộ dân khác trong thôn cùng nhận lại trên 190ha rừng tự nhiên sản xuất để quản lý, bảo vệ. Nhưng sau một thời gian do địa điểm khu rừng ở cách xa trung tâm, phí bảo vệ lại thấp nên các hộ dân lần lượt bỏ hết. Chỉ còn một mình tôi, khu rừng có nguy cơ bị chặt phá.
Không nản lòng, tôi quyết tâm lên đây dựng lều ở, để thuận lợi cho việc trông coi và đi tuần, kiên trì bảo vệ khu rừng không cho người dân chặt phá, lấn chiếm, phát nương làm rẫy. Nhờ đó, đến nay tất cả những diện tích rừng trên vẫn giữ được xanh tốt, tạo môi trường trong lành và giữ nước đầu nguồn, góp phần chống lũ ống, lũ quét".
Không chỉ vậy, khu rừng còn mang lại môi trường sống đảm bảo, là nơi trú ngụ cho nhiều loài động vật hoang dã như chim, gà rừng, cầy, cáo, sóc...
Ngoài tác dụng về môi trường tự nhiên, khu rừng còn cho giá trị về kinh tế. Tận dụng tán rừng rộng rãi, ông đầu tư mua giống lợn lai lợn rừng về nuôi thả rông trong rừng, lúc cao điểm nhất đàn lợn lai của ông lên đến trên 70 con. Hiện nay, đàn lợn của ông còn trên 30 con, hàng năm cho thu nhập bình quân từ 60 - 70 triệu đồng/năm.
Ông Châu tâm sự thêm: "Nhìn chung, bây giờ đã đỡ nhiều, chứ mấy năm trước đây phần vì không có điện, không có sóng nên mình không ở được đều, phần vì nhận thức của nhân dân còn hạn chế nên cũng hay đi chặt, đốn cây, làm cho việc quản lý, bảo vệ gặp không ít khó khăn.
2 năm trở lại đây cũng nhờ nguồn thu từ chăn nuôi lợn tôi đầu tư thuê máy vào đắp đập ngăn nước khe lại, tận dụng sức nước lắp máy phát điện, giúp việc ăn, ở sinh hoạt ở đây thuận lợi hơn, giúp công tác quản lý, bảo vệ được tốt hơn".(Báo Yên Bái 28/10) đầu trang(
Việc phát triển, quản lý bảo vệ rừng trong thời gian qua được cả nước quan tâm. Lợi ích chung từ rừng mang lại ai cũng thấy, thế nhưng lợi ích kinh tế cụ thể cho những người giữ rừng và bảo vệ rừng xem ra còn khá mập mờ, đó là một trong những nguyên nhân khiến tình trạng xâm hại rừng vẫn diễn ra.
Ông Nguyễn Ngọc Nhì, Phó chủ tịch UBND xã Đắk Lua, huyện Tân Phú (xã giáp ranh với Vườn quốc gia Cát Tiên), cho biết trước đây tình trạng phá rừng, săn bắt thú của người dân địa phương khá nhiều. Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, tình trạng xâm hại đến rừng đã giảm hẳn, một phần nhờ vào việc tuyên truyền, và quan trọng hơn là có những chương trình tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế.
Ông Nhì chia sẻ: “Từ khi hệ thống thủy lợi của Vườn quốc gia Cát Tiên đầu tư cho người dân các ấp: 4, 9 và 10 của Đắk Lua phát huy được hiệu quả, người dân sản xuất thêm vụ đông - xuân, trồng cây bắp lai có thu nhập tốt, đã không còn vào rừng để kiếm sống ở những tháng mùa khô do không có việc làm”.
Trăn trở về phát triển kinh tế ở các xã giáp ranh với rừng, ông Phan Sương, Phó bí thư Thường trực Huyện ủy Tân Phú, cho rằng nếu người dân còn quá khó khăn thì việc xâm hại đến rừng là khó tránh khỏi, nhất là đồng bào dân tộc đã từng gắn bó với rừng. “Tân Phú là huyện miền núi, thế mạnh là phát triển nông, lâm và thủy sản.
Thế nhưng để làm giàu bằng nông, lâm nghiệp thì rất lâu và khó. Đến nay tỷ lệ hộ nghèo của Tân Phú vẫn còn cao, chiếm khoảng 9%. Người dân nghèo lại ở gần rừng thì khả năng xâm hại rừng rất cao, nếu không có những phương án hỗ trợ cho người dân phát triển về kinh tế tốt” - ông Phan Sương nói.
Ông Phan Sương cũng cho hay, các dự án hỗ trợ để phát triển kinh tế của Vườn quốc gia Cát Tiên cho những xã vùng ven huyện Tân Phú thời gian qua đã có hiệu quả. Ông kiến nghị Ban quản lý Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai hỗ trợ thêm cho huyện đầu tư xây dựng hạ tầng: đường, điện và hệ thống thủy lợi cho 5 xã giáp ranh với rừng để người dân có điều kiện phát triển kinh tế, giảm động lực vào rừng.
Ông Trần Văn Mùi, Phó ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai, Giám đốc Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, cho rằng cần phải có những chính sách ưu đãi cho những địa phương có độ che phủ rừng cao và áp dụng chế độ chi trả dịch vụ môi trường giữa các địa phương.
Ông Mùi phân tích, hiện nay có những tỉnh làm rất tốt công tác bảo vệ rừng, trong đó Đồng Nai là tiên phong. Nhưng có những tỉnh, thành thì chỉ tập trung phát triển công nghiệp, không phải lo đến việc giữ và bảo vệ rừng. Người dân giữ rừng thì thu nhập thấp, còn kinh phí để bảo vệ rừng rất tốn kém, trong khi đó hưởng thụ lợi ích môi trường từ rừng là cho chung.
“Các tỉnh, thành không có hoặc có ít rừng cần chia sẻ chi phí cho những tỉnh làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. Những nơi thải ra ô nhiễm như các khu công nghiệp, kinh doanh xăng dầu cũng phải trả phí cho rừng, trả sòng phẳng chứ không phải là hỗ trợ để có kinh phí hỗ trợ cho người dân vùng đệm, vùng chuyển tiếp bảo vệ rừng.
Có thu nhập từ rừng ổn định qua những nguồn đó sẽ giúp người dân thấy được lợi ích sẽ gắn bó hơn trong việc cùng Nhà nước giữ rừng. Trồng một, hai cây thì dễ nhưng trồng hàng trăm, hàng ngàn hécta rừng thì không đơn giản” - ông Mùi nói.
Vấn đề ông Mùi đặt ra hoàn toàn có lý, bởi có những tỉnh muốn trồng rừng cũng không còn đất để trồng khi các khu công nghiệp và khu đô thị đã “chiếm” hết đất. (Báo Đồng Nai 29/10) đầu trang(
Nằm quanh lòng hồ thủy điện Na Hang (huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang) là khu rừng nguyên sinh đặc dụng hàng nghìn năm tuổi. Gỗ quý nhiều vô kể. Đám lâm tặc tứ xứ đánh hơi kéo về đêm ngày dòm ngó thèm thuồng, xuất tiền mua chuộc, thuê đầu gấu dằn mặt, nhưng rừng Na Hang vẫn bình yên. Công lao ấy, một phần nhờ vào người dân bản địa.
5 giờ sáng trên rẻo cao Tát Kẻ (xã Khau Tinh, huyện Na Hang), đội tuần rừng của bản mang dao, võng, gạo, can nước, đèn pin lên rừng săn… lâm tặc. Qui củ và bài bản như một đội tuần rừng chính quy của lực lượng kiểm lâm vậy.
Đội có 9 người. Bí thư chi bộ Phùng Văn Pham, trưởng bản Quan Văn Thiết phụ trách và chỉ đạo. Đã thành lệ, cứ 10 ngày đến nửa tháng đội tập trung lên rừng một lần, nhưng hôm nay là ngoại lệ. Tối hôm trước, trưởng bản Thiết nhận được tin của một phụ nữ trong bản tên là Triệu Thị Giàng cấp báo “có lâm tặc”. Trong lúc đi rừng, chị Giàng phát hiện một cây nghiến bị lâm tặc phát quang xung quanh, có dấu hiệu bị khai thác. Thế là sáng nay, đội tuần rừng của bản bỏ hết công việc thường ngày, tập trung lên rừng canh.
Họ đã làm việc này được 15 năm. Không có bất cứ một chế độ hỗ trợ nào. Mà có lẽ cũng không quan trọng chuyện chế độ này kia, với người Tày, người Dao ở Tát Kẻ, được tham gia vào đội tuần rừng là cả một vinh dự lớn lao. Họ biết, không nhiều nơi trên đất nước này rừng còn giữ được sự giàu có như Tát Kẻ.
“Đội tuần rừng bản Tát Kẻ được thành lập dựa trên bản Quy ước giữ rừng do dân bản tự lập ra vào năm 1998. Hàng năm, bản quy ước được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nhưng về cơ bản có 7 nội dung chính do những cuộc họp bản đề ra. Không chặt phá rừng, không vi phạm các quy định về phòng cháy chữa cháy, không săn bắn, không lấn chiếm rừng, không chăn thả gia súc trong rừng cấm, không phá hoại dụng cụ bảo vệ rừng, chấp hành nghiêm qui ước của bản về việc bảo vệ rừng…
Sau khi thống nhất các quy ước, dân bản trình lên xã, xã trình lên huyện phê duyệt rồi chuyển về cho dân bản ký vào thực thi. Mỗi nhà giữ một bản, dán vào cửa, đi ra đi vào đều có thể thấy”, trưởng bản Quan Văn Thiết tự hào.
Cũng chính vì bản quy ước dán ngay ở cửa, đi ra đi vào đều có thể thấy nên không có điều khoản giảm nhẹ cho những trường hợp vi phạm. Những gia đình không có người nào biết chữ, Bí thư chi bộ, trưởng thôn thay nhau đến đọc cho nghe, lúc nào nhớ nhuyễn thì mới thôi.
Người Dao, người Tày ở Tát Kẻ rất trọng chữ tín. Không cam kết thì thôi, đã cam kết rồi thì trời có sập cũng không vi phạm. Mấy năm nay, Tát Kẻ không phát hiện được trường hợp vi phạm nào. Có lúc, đám lâm tặc cho người mang tiền đến nhà trưởng bản, hứa mua cho cả con trâu để đổi lấy sự im lặng của dân bản, làm ngơ cho chúng tiếp cận với rừng nghiến nghìn năm. Biết tin, dân bản hò nhau đuổi.
Anh Nông Văn Đúng, người tong teo như cây mọc trên núi đá, tiếng Kinh nói chưa sõi nhưng cũng phanh ngực thách thức: Bản tao nghèo đói quen rồi. Không cần tiền của bọn phá rừng. Cút. Cút. Cả đám lâm tặc người xăm trổ lấm lét nhìn nhau rồi bỏ chạy.
Rẻo cao Tát Kẻ nằm giữa thung lũng rừng già. Không điện, không đường, sóng điện thoại cũng không. Hễ phát hiện dấu hiệu có lâm tặc thì chỉ có mỗi cách thông tin là chạy bộ. Bất cứ người lạ nào vào bản đều bị theo dõi. Nếu là bạn thì chẳng ai quý bằng. Còn nếu có ý định xâm hại đến rừng liền bị trục xuất ngay. Dân bản sống dựa vào rừng. Lấy măng, chặt tre, chặt nứa. Họ đi thành từng tổ, vừa kiếm ăn vừa kiêm luôn nhiệm vụ tuần rừng.
Những quy ước giữ rừng của người Tát Kẻ có phần đơn giản nhưng vô cùng hiệu quả. Ngay cả những quy định về việc xử lý người vi phạm cũng khá lạ lùng. Trường hợp vi phạm, hình phạt lớn nhất mà người Dao, người Tày ở Tát Kẻ rất sợ là bị loại khỏi danh sách bình xét hộ nghèo hoặc gia đình văn hóa vào cuối năm.
Danh hiệu gia đình văn hóa có thể chờ, chứ không được xét hộ nghèo là cả một vấn đề. Một chuyên gia người nước ngoài khi đến Tuyên Quang thực hiện dự án bảo vệ rừng từng nói: Điều cốt yếu là phải làm sao người dân sống gần rừng bớt đói nghèo thì rừng mới được bảo vệ. Đúc kết ấy đúng với hầu hết các khu rừng khác, còn ở Tát Kẻ, đói nghèo thật đấy, nhưng rừng vẫn được người dân gìn giữ, bảo vệ.
Tát Kẻ có 28 hộ, 122 nhân khẩu, hơn một nửa hộ nghèo, số còn lại cũng cận nghèo. Cả bản vỏn vẹn chưa đầy một ha ruộng nước, không nương rẫy, cuộc sống dựa hoàn toàn vào việc lên rừng lấy lâm sản phụ. Chai mật ong rừng, ngọn măng, cây tre, cây nứa không thể đảm bảo cuộc sống. Mỗi năm thiếu ăn vài ba tháng là chuyện bình thường.
Ví như năm ngoái, hạ thì khô hạn, mất mùa, đông thì sương muối, lạnh thấu xương, không cây gì mọc được. Cả bản phải ăn gạo cứu trợ Nhà nước. Năm nay cũng vậy. Tre nứa trên rừng đến mùa chết đỏ cả một trời, măng rừng chưa mọc nên dân bản bắt được con chuột rừng nào thì quý lắm.
Lại một mùa đói ăn nữa, nhưng tuyệt nhiên chẳng ai dám nghĩ đến chuyện thỏa hiệp với lâm tặc để phá rừng. “Khổ thì khổ rồi, đói cũng quen rồi, nhưng rừng thì phải giữ”, Trưởng bản Thiết nói. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/10) đầu trang(
Nằm khuất trong những cánh rừng bạt ngàn của vùng Chiến khu Đ rộng mênh mông, cuộc sống của người Chơ Ro ở các xã Mã Đà, Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai) từ lâu đã gắn bó mật thiết với rừng.
Men tỉnh lộ 322 độc đạo từ trung tâm huyện Vĩnh Cửu cắt ngang lòng hồ Thủy điện Trị An, chúng tôi tiến sâu vào trung tâm rừng nguyên sinh nơi chiến khu xưa. Ghé chốt kiểm lâm bảo vệ rừng của các cán bộ xã Mã Đà, chúng tôi tìm gặp ông Dương Ấu, một trong những tấm gương sáng về công cuộc bảo vệ và tái sinh rừng trên địa bàn xã mình.
Ngược với phong tục đốt, phá rừng làm nương rẫy như những năm trước kia, đồng bào Chơ Ro bây giờ lại biết bảo vệ rừng, bắt rừng sinh sôi nảy nở, làm nên những ấm no cho đời sống bản làng. Đặc biệt, nhiều thôn làng còn thành lập cả tổ đội giữ rừng để cùng những cán bộ kiểm lâm chống lại kẻ xấu muốn phá hủy rừng nơi đây, nhằm mang đến cho rừng, cũng như bản làng, một cuộc sống bình yên thực sự.
Ông Ấu tâm sự: “Cách đây chừng hơn 20 năm, quanh khu vực Mã Đà này, rừng núi hoang vu nên bọn lâm tặc thường tìm về đây để khai thác gỗ. Vì diện tích rừng rộng hàng trăm cây số, đường đi lại vô cùng khó khăn, mùa mưa nước trong lòng hồ Trị An dâng ngập mênh mông khiến việc bảo vệ rừng là vô cùng khó khăn, vất vả. Thế nên, lực lượng kiểm lâm dù nhiều tới đâu cũng không quản lý xuể.
“Nhưng khi những người Chơ Ro chúng tôi tham gia giữ rừng thì mọi chuyện dễ dàng hơn, bởi bất kỳ người Chơ Ro nào sinh sống vùng rừng Mã Đà này cũng đều thông thuộc địa hình, biết những con đường đất, những suối nước, vạt rừng mà bọn lâm tặc có thể đến, có thể đi, có thể vận chuyển để báo cho kiểm lâm, giúp kịp thời ngăn chặn, bảo vệ rừng”- ông Ấu khẳng định.
Dẫn PV đi xem những cánh rừng rậm rạp với nhiều cây gỗ dầu, sao đen, căm xe… hiếm hoi còn sót lại ở sát hồ Núi Le, ông Dương Ấu tự hào cho biết: “Mặc dù cả tổ quản lý rừng gần chục người nhưng thực chất, để những cánh rừng mãi xanh, những cây cổ thụ vẫn còn vươn bóng mát cho đời sau như thế này, công lao to lớn chính là những hộ dân tộc Chơ Ro sinh sống nơi đây trợ giúp. Dù lâm tặc có tinh vi, xảo quyệt đến đâu cũng không qua được tai mắt nhân dân, bởi chỉ cần những biểu hiện nghi vấn, những hoạt động đáng ngờ là bà con báo cho kiểm lâm ngay”.
Theo ông Nguyễn Văn Hùng - cán bộ kiểm lâm ở rừng Chiến khu Đ, ở đây mỗi người tham gia giữ rừng đều không có lương mà chỉ nhận trợ cấp là 500.000 đồng/ tháng và một số hoa lợi như trái cây, củi khô, ong rừng… mà thôi. Nhưng người giữ rừng nơi đây, họ không chỉ giữ rừng bằng số tiền công ít ỏi kia mà còn bằng tình yêu, niềm tin mãnh liệt vào nguồn tài nguyên quý giá của quê hương mình. (Nông Thôn Ngày Nay 29/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau khi Bộ Tài nguyên Môi trường có báo cáo đánh giá tác động môi trường, Thủ tướng Chính phủ có văn bản yêu cầu xem xét loại khỏi quy hoạch, Bộ Công thương vừa có quyết định chính thức loại thủy điện Đồng Nai 6, 6A khỏi quy hoạch.
Trao đổi với Tuổi trẻ, một quan chức Tổng cục Năng lượng, Bộ Công thương cho biết điểm quan trọng nhất để một dự án thủy điện có được thực hiện hay không phụ thuộc vào báo cáo đánh giá tác động môi trường. Vì vậy, khi Bộ Tài nguyên môi trường sau khi nghiên cứu, có đánh giá dự án gây ngập lớn, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường… và sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Công thương đã ra quyết định loại khỏi quy hoạch.
Điều này có nghĩa thủy điện Đồng Nai 6, 6A không thể được thực hiện, dù chủ đầu tư đã có điều chỉnh nhằm giảm mức tác động tiêu cực.
Cũng theo quan chức trên, sở dĩ Bộ Công thương không loại khỏi quy hoạch ngay bởi Thủy điện Đồng Nai 6 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Tổng sơ đồ Điện 7 (Quy hoạch điện 7). Nguyên tắc là cấp nào phê duyệt vào quy hoạch thì cấp đó sẽ quyết định loại khỏi quy hoạch. Vì vậy, sau khi Bộ Tài nguyên Môi trường có báo cáo đánh giá tác động Môi trường, Thủ tướng có chỉ đạo, Bộ Công thương mới ra quyết định loại khỏi quy hoạch.
Theo quan chức trên, điều này là bình thường bởi không có nghĩa cứ trong quy hoạch là sẽ thực hiện. Dự án trong quy hoạch khi làm báo cáo đánh giá tác động môi trường không đạt, ảnh hưởng xấu đến môi trường, hiệu quả kinh tế không cao… thì sẽ phải loại khỏi quy hoạch. (Người Lao Động 29/10; Tuổi Trẻ 29/10) đầu trang(
Ngày 28/10, Vườn quốc gia Cát Tiên, thuộc địa phân các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng cho biết, Bộ NN&PTNT đã có văn bản đồng ý về mặt chủ trương việc Vườn quốc gia Cát Tiên sẽ tiếp nhận thêm 10.000 ha rừng tự nhiên.
Diện tích này trước đây thuộc quản lý của Cty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp La Ngà, bao gồm 4.900 ha rừng gỗ, 5.760 ha rừng hỗ giao thuộc địa bàn huyện Định Quán, Đồng Nai.
Vườn quốc gia Cát Tiên hiện có diện tích 71.920 là một trong những khu dự trữ sinh quyền thế giới, đây là nơi cư ngụ của 40 loài động vật nằm trong sách đỏ thế giới. (Tuổi Trẻ 29/10) đầu trang(
Ngày 24/10, tại Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên, Ban quản lý Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai đã tổ chức Hội nghị giới thiệu, tuyên truyền, quảng bá về Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai cho đội ngũ cán bộ các huyện, xã và một số công ty, xí nghiệp nằm trong vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Khu dự trữ Sinh quyển.
Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai được UNESCO công nhận là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 580 của thế giới vào ngày 29/6/2011 và là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 8 tại Việt Nam, với tổng diện tích là 969.993 ha. Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai trải rộng trên địa bàn 5 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước và Đắk Nông, có tài nguyên sinh học, tài nguyên văn hóa đa dạng, phong phú...
Bốn chuyên đề được trình bày tại hội nghị, gồm: “Tổng quan về VQG Cát Tiên và Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai”, “Khái niệm chức năng, vai trò, tầm quan trọng và tiềm năng đa dạng sinh học của Khu dự trữ Sinh quyển Đồng Nai”, “Định hướng phát triển bền vững Khu dự trữ Sinh quyển”, “Giá trị môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử đối với rừng trong phát triển và hội nhập ở Đồng Nai”.
Những chuyên đề này sẽ tiếp tục được tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, nhằm nâng cao nhận thức cho người về tính đa dạng sinh học, đạo đức và văn hóa ứng xử với tự nhiên; nâng cao trách nhiệm trong việc bảo tồn, xây dựng Khu dự trữ Sinh quyển phát triển bền vững. Những khó khăn, vướng mắc và các giải pháp lâu dài để phát triển kinh tế, giảm bớt khó khăn cho người dân vùng đệm cũng đã được đưa ra thảo luận tại Hội nghị. (Báo Lâm Đồng 28/10) đầu trang(
Ngày 28-10, UBND tỉnh đã họp trực tuyến để thẩm định Quy hoạch và phát triển rừng Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2020. Đồng chí Chu Văn Tuyển, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì cuộc họp.
Tại Hội nghị, đại diện đơn vị tư vấn (Đoàn khảo sát thiết kế lâm nghiệp tỉnh) đã báo cáo dự thảo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2020. Hiện toàn tỉnh có gần 424.200ha đất lâm nghiệp, trong đó gần 338.600ha đất có rừng, 85.568ha đất chưa có rừng; trữ lượng rừng đạt khoảng trên 7 triệu m3 gỗ các loại và trên 9,5 triệu cây tre nứa.
Về loại rừng, hiện rừng sản xuất có diện tích lớn nhất với trên 262.700ha, tiếp đến là rừng phòng hộ trên 135.000 ha, rừng đặc dụng gần 25.400 ha.
Hiện nay, tổng diện tích rừng đã giao và cho thuê để bảo vệ và phát triển đạt gần 326.200ha (77%). Đơn vị tư vấn đã làm rõ các nội dung dự báo nhu cầu và thị trường tiêu thụ lâm sản; quy hoạch cụ thể đối với từng loại rừng phòng hộ, sản xuất, đặc dụng; công tác quản lý, bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học rừng, phát triển rừng, phát triển công nghiệp chế biến lâm sản...
Để đạt được quy hoạch trên, từ nay đến năm 2020, mỗi năm sẽ phấn đấu trồng mới 5.490ha rừng; trồng lại rừng sau khai thác là 9.760ha/năm; khai thác 500.000 m3... Ngoài ra trong những năm tới xây dựng 3 vườn thực vật, nâng cấp 20 vườn ươm; xây dựng mới và nâng cấp trên 170 trạm bảo vệ rừng; tăng cường xây dựng cơ sở chế biến gỗ, sản xuất đồ mộc, cơ sở hạ tầng phục vụ lâm sinh...
Tất cả các giải pháp trên nhằm mục tiêu nâng cao độ che phủ rừng lên 53,5% vào năm 2015, 55% vào năm 2020; duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 10% – 12%/năm; tạo công ăn việc làm cho 80.000 – 100.000 lao động đến năm 2020.
Tại cuộc họp, đại diện các đơn vị tham gia đều khẳng định Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 – 2020 do đơn vị tư vấn lập khá chi tiết. Tuy nhiên một số nội dung chưa lồng ghép với quy hoạch chung phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, các địa phương….
Phát biểu tại cuộc họp, đồng chí Chu Văn Tuyển, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá cao chất lượng bản Quy hoạch, nhất là trong việc bám sát tình hình thực tế, tuy nhiên vẫn còn nhiều điểm cần phải chỉnh sửa phù hợp, tránh lặp lại. Đồng chí đề nghị đơn vị tư vấn, tiếp thu những ý kiến đóng góp của các đơn vị, địa phương, để chỉnh sửa bản quy hoạch này xong trước ngày 15-11 tới. (Báo Quảng Ninh 28/10) đầu trang(
Ngày 25/10, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bến Tre đến làm việc với Ủy ban nhân dân huyện Ba Tri và các xã có đất rừng của huyện để công bố quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương đến năm 2020 theo quyết định số 1346 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2012 – 2020.
Theo quy hoạch, đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 1.826,5 ha, tập trung ở các xã An Thủy, Bảo Thạnh, Bảo Thuận, Tân Mỹ, Tân Thủy, tăng 243,1 ha so với hiện trạng. Trong đó đất rừng phòng hộ là 1.809,6 ha, số còn lại là đất rừng sản xuất. Diện tích đất lâm nghiệp tăng của huyện là đất rừng phòng hộ.
Trên cơ sở quy hoạch, từ nay đến năm 2020, huyện Ba Tri phải thực hiện một số chỉ tiêu, nhiệm vụ như bảo vệ diện tích rừng hiện có với hơn 800 ha, trồng và chăm sóc rừng mới trồng 372,4 ha, trồng lại rừng sau khi khai thác hơn 215 ha, trồng hơn 117.000 cây phân tán, chặt nuôi dưỡng và tỉa thưa hơn 28 ha, khai thác trên 251 ha rừng đến tuổi khai thác, trồng 100 ha rừng kết hợp sản xuất lâm – ngư, trồng 150 ha rừng phục vụ phát triển du lịch sinh thái.
Ngoài ra, huyện còn thực hiện các hoạt động hỗ trợ bảo vệ phát triển rừng như xây dựng vườn ươm cây giống, xây dựng trạm bảo vệ rừng, mua sắm trang thiết bị… (Bentre.gov.vn 28/10) đầu trang(
Đề án khung và danh mục các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh giai đoạn 2014 - 2020 vừa được UBND tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 3277.
Mục tiêu của đề án nhằm bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen sâm Ngọc Linh, quế Trà My, ba kích Tây Giang, trụ lông Đại Bình, tiêu Tiên Phước, song mật, bắp nếp Hội An, lúa rẫy, heo, gà địa phương.
Dự kiến kết quả giai đoạn 2014 - 2020 về bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh là xây dựng mô hình cụ thể về bảo tồn các nguồn gen cây trồng, vật nuôi và xác định được đặc tính quý của nguồn gen có giá trị. Trong đó có 4 nguồn gen cây trồng được phục tráng là lúa rẫy, bắp nếp Hội An, tiêu Tiên Phước, trụ lông Đại Bình và 2 nguồn gen vật nuôi được thuần chủng là heo cỏ, gà tre.
Về bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen cấp nhà nước thực hiện trong giai đoạn này là xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học thủy sinh vật của tỉnh; xây dựng các khu vực trồng chuyên canh, các vườn cây đầu dòng nhằm bảo tồn tại chỗ nguồn gen 5 loài: sâm Ngọc Linh, quế Trà My, ba kích Tây Giang, trụ lông Đại Bình, tiêu Tiên Phước; quy trình sản xuất sinh khối từ rễ sâm Ngọc Linh... Dự kiến kinh phí thực hiện đề án 8 tỷ đồng.
Được biết, Quảng Nam hiện có 1.129 loài thực vật bậc cao thuộc 164 họ đã được định dạng, trong đó 6 loài bị đe dọa toàn cầu; có 50 loài thú lớn, 22 loài dơi, 270 loài chim, 48 loài bò sát, 207 loài bướm đã được xác nhận, trong đó có nhiều loài đang bị đe dọa toàn cầu. Quảng Nam cũng là địa phương có những quần thể voọc chà vá chân xám, sao la có tầm quan trọng toàn cầu và những quần thể vượn, hổ có tầm quan trọng khu vực. (Báo Quảng Nam 29/10) đầu trang(
Ngày 26-10, ông Nguyễn Hữu Trực, giám đốc khu du lịch công viên nước Củ Chi (ấp 4, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP.HCM) xác nhận một sư tử mẹ lông nâu được nuôi tại khu du lịch đã sinh được hai sư tử con lông trắng như tuyết. Hiện hai sư tử con được nuôi cách ly và sức khỏe tốt.
Theo ông Trực, sư tử mẹ và sư tử bố đều được nhập từ Nam Phi vào tháng 11-2012, trong đó sư tử bố thuộc giống sư tử trắng quý hiếm (nhưng màu lông không trắng hoàn toàn như hai sư tử con). Sau khi nhập về một thời gian, khu du lịch đã cho nhân giống thành công.
Ông Bùi Hồng Thụy, giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ vườn thú Đông Dương (đơn vị nhập thú), cho biết bình thường bố mẹ sư tử trắng sinh ra sư tử con có màu trắng và nâu tỉ lệ 50-50. Vì vậy trường hợp mẹ là sư tử nâu sinh ra sư tử trắng là điều hiếm thấy. (Tuổi Trẻ 27/10) đầu trang(
Ngày 28-10, ông Huỳnh Vĩnh Lạc - phó chánh văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang - cho biết tỉnh và Tập đoàn Công nghiệp cao su VN đã thống nhất sẽ khởi công xây dựng nhà máy chế biến gỗ MDF vào cuối năm nay.
Theo đó, nhà máy chế biến gỗ MDF sẽ được triển khai tại Khu công nghiệp Thạnh Lộc (huyện Châu Thành), công suất chế biến khoảng 120.000m3 gỗ/năm, vốn đầu tư dự kiến 1.200 tỉ đồng. (Tuổi Trẻ 29/10) đầu trang(
Tái sinh rừng ngập mặn, ngăn chặn xói lở bờ biển... đang là vấn đề toàn cầu để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tại diễn đàn “Vùng Duyên hải” lần 2, do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) tổ chức tại Sóc Trăng vừa qua, những cảnh báo đáng sợ về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) được đưa ra bàn luận.
Ông Vũ Sỹ Tuấn, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, nói: “10% dân số Việt Nam không có nhà ở; hơn 40.000 km2 vùng đồng bằng ven biển Việt Nam, trong đó khoảng 90% diện tích ĐBSCL sẽ ngập trong nước. Những điều này có thể xảy ra khi nhiệt độ trái đất tăng 30C, mực nước biển dâng lên 1 m vào khoảng năm 2100”.
BĐKH hiện không chỉ ảnh hưởng đến một nước, một khu vực mà là nguy cơ toàn cầu. Đây chính là lý do IUCN chọn triển khai dự án (DA) “Cải thiện sức chống chịu với tác động của BĐKH tại vùng ven biển Đông Nam Á” ở 8 tỉnh, thành gồm: Chanthaburi, Trat (Thái Lan); Koh Kong, Kampot (Campuchia); Sóc Trăng, Kiên Giang, Bến Tre và H.Cần Giờ (TP.HCM) của Việt Nam. Đây là những địa phương có bờ biển gần nhau và điều kiện kinh tế - xã hội tương đồng.
TS Robert Mather, Giám đốc khu vực Đông Nam Á của IUCN, cho rằng: “Cộng đồng ven biển tại 3 nước trên đang phải đối mặt với những vấn đề giống nhau do BĐKH gây ra nên phải liên kết để tìm cách thích ứng với những thay đổi”.
DA “Cải thiện sức chống chịu với tác động của BĐKH tại vùng ven biển Đông Nam Á” hướng đến những giải pháp “mềm” dựa vào thiên nhiên, hệ sinh thái để ứng phó với BĐKH. Sau 2 năm thực hiện với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác phát triển Đức (GIZ), Quỹ Phát triển bền vững (SDF) và các cơ quan chức năng sở tại, IUCN đã triển khai hơn 30 DA thí điểm theo đặc thù mỗi quốc gia.
Nhiều giải pháp dựa vào thiên nhiên để ứng phó với BĐKH như: phục hồi và quản lý rừng ngập mặn, chống xói lở, bảo tồn rừng ngập mặn kết hợp với nuôi thủy sản… đã khẳng định được hiệu quả. Trong đó giải pháp hữu hiệu nhất là rào chắn sóng hình chữ T bằng cọc tre của Thái Lan hiện đang được thí điểm tại các tỉnh Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng.
Bà Bianca Schlegel, cán bộ kỹ thuật của DA rào cọc tre tại Bạc Liêu, cho biết: “Kinh phí cho 1 m rào chắn sóng chữ T chỉ khoảng 60 USD nhưng đảm bảo độ bền đến 4 năm. Đặc điểm nổi bật của rào chắn sóng này là làm giảm 60% năng lượng sóng biển khi đi qua và rất hiệu quả trong việc giữ lại phù sa, bồi lắng cho những bãi biển đã bị xói mòn”.
Thực tế, những rào chắn sóng bằng cọc tre cắm hình chữ T tại bờ biển thuộc xã Vĩnh Trạch Đông (TP.Bạc Liêu) đã chứng minh chỉ sau 18 tháng, khu vực bãi biển xói lở, quanh năm ngập nước (từ xã Vĩnh Trạch Đông đến xã Hiệp Thành) đã được bồi lắng và phủ xanh bằng rừng mắm rộng gần 2,5 ha lấn ra biến gần 300 m.
Ông Phan Văn Hoàng, điều phối viên DA tại Bạc Liêu, nói: “Điều đặc biệt là khi rừng ngập mặn đã xanh tốt thì những hàng rào tre này cũng đến lúc mục nát nên không cần phải tu bổ hay dọn dẹp”.
Tại Kiên Giang, các DA thí điểm cắm rào chắn sóng bằng cừ tràm thay cho tre cũng đang được thí điểm và mang lại hiệu quả “kép”, vừa bảo vệ bờ biển vừa giúp dân tiêu thụ cừ tràm. (Thanh Niên 28/10) đầu trang(
Nằm trước rừng cao su là căn nhà hai tầng khá hoành tráng của ông Dương Đình Phương (thị trấn nông trường Việt Trung - Bố Trạch, Quảng Bình). Gia đình ông có 8 ha cao su đã khai thác được 5 năm.
Ông Phương chậm rãi: “Ngôi nhà này là những gì còn lại của rừng cao su. Bây giờ muốn trồng lại phải đi vay vốn. Vay vốn với lãi suất ngân hàng như bây giờ, không có chế độ hỗ trợ gì thì không chết cũng thành thương. Còn không có vốn thì phải chấp nhận để rừng cao su tan hoang vậy thôi”.
Trong khoảng thời gian 10 năm gần đây, cây cao su ở Quảng Bình được phát triển một cách ồ ạt, chóng mặt. Đến đâu cũng nghe người dân bàn tán về trồng cao su. Nhiều địa phương chọn cây cao su làm bước đột phá, các DN nhà nước được khuyến khích chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây cao su.
Cơn lốc trồng cao su đã hút mọi sự đầu tư, vùng đất của người dân đổ vào. Ông Lê Văn Hiền (xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch) kể lại: Những năm trước, khi có dự án cao su tiểu điền thì cũng không ai để ý vì vậy phát triển khá èo uột. Nhưng rồi, khi mủ cao su được giá, nhiều hộ gia đình quay lại chăm sóc vườn cao su tiểu điền và có thu nhập cao ngất. Nhìn vào đó, nhiều gia đình khác cũng hồ hởi đến với cao su. Dân cao su lúc đó giàu nhanh trông thấy.
Người dân phá bỏ tất cả những loại cây tràm, bạch đàn, thông, vườn cây ăn trái để trồng cao su chỉ vì nhiều nhà trồng cao su đang giàu lên. Ông Hiền kể tiếp: “Chẳng cần quy hoạch, chẳng cần kỹ thuật, cứ có đất, sang nhà hàng xóm đã trồng cao su học vài chiêu kinh nghiệm là bố con ung dung vác rựa chặt cây, đào hố, mua giống cao su về trồng. Cứ được vạt nào là thấy vững bụng thêm chừng đó”.
Với tinh thần ấy, trong khoảng 10 năm gần đây, xã Tây Trạch đã phát triển diện tích cao su lên trên 1.200 ha, xã Phú Đinh (Bố Trạch) cũng có gần 900 ha. Anh Nguyễn Văn Đoàn (xã Tây Trạch) có khoảng 10 ha cao su bị bão số 10 và 11 làm thiệt hại nặng.
Anh cho hay: “Tôi cứ theo phương án, năm nay được 1 ha, lại vay mượn, dành dụm để năm sau trồng thêm… Cứ như vậy phát triển hết đất thì được 10 ha. Lúc đó, chỉ nghĩ rằng trồng được cao su là mở rộng đường làm giàu. Thấy người ta cứ thu về mỗi ha cao su được năm, bảy chục triệu, thậm chí cả trăm triệu/năm thì ai cũng ham hết. Vậy là cứ theo nhau mà trồng”.
Anh Nguyễn Văn Đoàn chua xót: “10 ha của gia đình tôi nếu tính giá trị như tại thời điểm này cũng được 3 tỷ bạc. Trung bình năm thu về khoảng 500 triệu đồng. Bây giờ thì gần như trắng tay. Biết kêu ai bây giờ. Chỉ kêu trời cho đỡ chút xót xa thôi”.
Cũng theo anh Đoàn, cái khó nhất là lấy vốn đâu ra để trồng lại cao su. Nguồn vốn đầu tư vào rừng cao su hàng năm so với thu nhập từ cao su cũng chưa thể gọi là lãi vì mới thu hoạch được 2 năm. “Tính sấp ngửa lại chỉ mới gỡ được phần vay đầu tư, chưa có chi gọi là dành dụm. Giờ nếu có tiền cũng sẽ trồng cao su thôi. Nhưng vay đâu ra được hàng trăm triệu đồng để dọn vệ sinh và trồng mới đây”.
Nhà ông Dương Đình Phương mấy hôm nay gọi làm công đến mười mấy người. Riêng dọn cây cao su gãy đổ đã là khoản tiền lớn phải bỏ ra. "Trung bình dọn, cắt cây, chặt cành và vận chuyển ra khỏi rừng cao su cũng mất 15 - 20 triệu. Cao su non chưa bán thành gỗ được, chỉ bán củi thôi. Sau bão, củi nhiều chẳng ai mua nên cứ để đống vậy”. Ông Phương cho biết 8 ha đất trên được địa phương cấp từ năm 1992, từ năm 2011 được cấp lại sổ mới là đất lâm nghiệp để trồng cao su trong thời hạn 50 năm.
“Chính quyền địa phương chỉ bàn giao đất, còn việc trồng cao su với diện tích bao nhiêu, phương thức trồng thế nào hay những gì liên quan đến cao su thì gia đình tự lo liệu. Khi bị thiệt hại gia đình tự chịu chứ biết kêu ai” - ông Phương buồn bã.
Ông Phương cũng như hàng ngàn hộ nông dân ở Quảng Bình đang đứng trước khó khăn lớn trong việc hậu cây cao su bị bão tàn phá. Ngoài khó khăn về vốn thì việc phá bỏ trồng lại hay chuyển đổi sang trồng cây gì những người nông dân này chưa biết cần phải thế nào. “Trồng lại cây cao su phải có mức đầu tư khoảng 90 triệu đồng/ha. Số tiền này không phải nhỏ” - ông Phương ngậm ngùi.
Trên rừng cao su ở vùng đồng Vực Nồi (xã Phú Định), hai anh em ông Nguyễn Văn Luyến đang thu dọn rừng cao su gần 2 ha của gia đình. Những cây nào đổ nghiêng được chống dậy, những cây gãy thì dùng cưa máy cắt ngang thân.
Đứng bên gốc cây cao su vừa bị cưa ngang, ông Luyến thẫn thờ: “Ngoài vốn vay hai cha con tui làm thuê ở đâu được đồng nào cũng đổ hết vô cao su. Giờ thiệt hại nặng như vầy biết làm sao. Tính kiểu gì cũng bí hết. Với diện tích bị hư hỏng đến 60 - 70% như này thì chỉ phá bỏ đi trồng lại. Nhưng phải vay vốn vài trăm triệu trồng lại chờ đến năm, sáu năm sau mới có thu hoạch mới tính chuyện hoàn vốn được, mà vay thì khó lắm. Chắc cũng phải để vậy, bòn được chút nào hay chút đó thôi”. (Nông Nghiệp Việt Nam 28/10) đầu trang(
Thống kê của Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, tới cuối tháng 9 năm nay, toàn tỉnh có 9.129 ha cao su được trồng trên đất lâm nghiệp nghèo kiệt và đất nông nghiệp - tăng 1.986 ha so với cuối năm 2012.
Cây cao su đã có mặt trong cơ cấu cây trồng của toàn tỉnh nhưng được trồng tập trung tại Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Bảo Lâm và đang có xu hướng tăng nhanh ở Đơn Dương, Đam Rông và Cát Tiên... do khá phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương và cũng đã từng bước khẳng định được hiệu quả kinh tế cao trong việc cải tạo rừng và vườn rừng nghèo kiệt.
Có thể nói, phần lớn diện tích cây cao su hiện có của tỉnh đang được trồng tập trung tại các huyện phía Nam, nơi có nhiều diện tích rừng và đất rừng cần được cải tạo. Tại huyện Đạ Huoai, Trung tâm Nông nghiệp huyện cho biết, cây cao su được xác định là một trong những loại cây chính được đưa vào thay thế cây điều và cây ăn quả năng suất chất lượng thấp giai đoạn 2010-2012 theo đề án của UBND huyện và cũng phù hợp với Quy hoạch Phát triển cao su của UBND tỉnh giai đoạn 2010-2020.
Nhờ đó, trong 2.755 ha cao su (số liệu Sở NN-PTNT) của huyện có 1.322 ha cao su đại điền do các doanh nghiệp trồng trên đất lâm nghiệp và 1.412 ha cao su tiểu điền do nhân dân tự đầu tư trồng trên đất nông nghiệp theo hướng sản xuất nông - lâm kết hợp.
Hiện tại, trên địa bàn huyện Đạ Huoai, đã có trên dưới 100 ha cao su bắt đầu cho thu hoạch mủ với năng suất xấp xỉ 31,4 tạ/ha. Với giá bán tại vườn bình quân trong năm 2012 vào khoảng 14.500 đồng/kg đã có một số hộ bắt đầu có thu nhập cao từ cao su, và mức thu nhập này được khẳng định là cao hơn nhiều so với những giống cây dài ngày khác tại địa phương như điều, cây ăn quả giống cũ.
Còn tại huyện Đạ Tẻh, cây cao su được Chương trình “Phát triển lâm nghiệp gắn với giảm nghèo trong vùng đồng bào DTTS” đưa vào trồng thay thế các giống cây trồng hiệu quả kinh tế thấp tại các xã Mỹ Đức, Quốc Oai và khu vực Tôn K’Long. Qua theo dõi của Trung tâm Nông nghiệp huyện thì diện tích cao su do bà con DTTS trồng đều đang phát triển khá tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 95%.
Theo thống kê của UBND huyện thì tại địa bàn Đạ Tẻh tới cuối tháng 9 năm 2013 này đã có 2.500 ha cao su. Phần lớn diện tích cao su này (khoảng 1.500/2.500 ha) là cao su đại điền của các doanh nghiệp trồng trên đất rừng nghèo kiệt đã được UBND tỉnh giao hoặc cho thuê để sản xuất - kinh doanh. Nhờ được chăm sóc đúng kỹ thuật, cây cao su ở Đạ Tẻh đang hứa hẹn cho năng suất và chất lượng mủ không thua kém so với cây cao su được trồng ở các tỉnh có truyền thống thâm canh cao su lâu năm như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước…
Việc các doanh nghiệp và nông dân đưa cây cao su vào trồng trên đất rừng nghèo kiệt và trồng cải tạo vườn rừng (theo Sở NN-PTNT thì đến nay các doanh nghiệp được giao và thuê đất lâm nghiệp đã trồng được 10.812 ha rừng, trong đó có 3.770 ha cao su đại điền) đã góp phần nâng cao độ che phủ của rừng, nâng cao giá trị kinh tế của rừng và đất rừng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cao cho hàng ngàn hộ nông dân từ trước tới nay đang có thu nhập thấp và bấp bênh từ việc canh tác điều và cây ăn quả…
Diện tích ngày càng được mở rộng cho thấy cây cao su đã có chỗ đứng khá vững chắc trong cơ cấu cây trồng của địa phương và mục tiêu có 28.115 ha cao su trước năm 2020 của UBND tỉnh đề ra là không khó thực hiện, nhất là khi phát triển cao su được UBND tỉnh và Sở NN-PTNT xem là một trong các giải pháp quan trọng của Chương trình REDD+ giai đoạn 2 từ nay tới cuối năm 2015 đang được triển khai trên toàn tỉnh để bảo vệ và phát triển rừng bền vững. (Báo Lâm Đồng 29/10) đầu trang(
Được chọn cùng xã Vũ Linh (Yên Bình) tổ chức làm điểm thực hiện Đề án Giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2015 của HĐND tỉnh, thời gian này, cấp ủy, chính quyền huyện Trấn Yên và xã Y Can đang tích cực triển khai để đạt mục tiêu Đề án đề ra.
Do hoàn cảnh lịch sử để lại, đất lâm nghiệp ở Y Can cũng như các địa phương trong tỉnh có nhiều nguồn gốc khác nhau, việc quản lý và sử dụng còn nhiều bất cập nên tình trạng lấn chiếm, tranh chấp thường xuyên xảy ra, cá biệt đã có vụ việc khiếu kiện đông người gây mất an ninh trật tự. Có đất để sản xuất kinh doanh lâu dài là mong muốn của mọi người dân, nó còn là “thẻ bảo lãnh” để vay vốn đầu tư trồng những giống cây lâm nghiệp dài ngày, cho hiệu quả kinh tế cao.
Ngay sau khi có công văn chỉ đạo của UBND tỉnh, huyện Trấn Yên đã thành lập Ban chỉ đạo và tổ thư ký giúp việc, đồng thời tiến hành xây dựng kế hoạch về tổ chức triển khai thực hiện phương án giao đất, cho thuê đất, giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp đối với quỹ đất do Lâm trường Việt Hưng bàn giao cho Ban quản lý 661 của huyện quản lý tại xã Y Can.
Theo số liệu trên giấy tờ thì quỹ đất mà xã Y Can giao cho người dân trong thời gian tới là từ Lâm trường Việt Hưng bàn giao sang Ban quản lý 661 huyện Trấn Yên có tổng diện tích 2.062ha. Sau khi rà soát tại thực địa và bản đồ 672 thì diện tích trên chỉ còn 1.901ha (số diện tích giảm do sai số đo đạc là 45,3ha và diện tích đất khác xen kẽ là 115,65ha).
Trong số diện tích 1.901ha đất lâm nghiệp, Ban quản lý 661 huyện đã giao cho doanh nghiệp tư nhân 327 là 43,8ha, giao cho cộng đồng thôn An Hòa năm 2011 là 13,6ha. Như vậy diện tích sau khi rà soát và thực hiện phương án là trên 1.843ha.
Để có căn cứ xây dựng phương án, huyện đã chỉ đạo xã Y Can xây dựng hạn mức đã giao đất lâm nghiệp bình quân trên địa bàn xã và thông qua kỳ họp của HĐND xã trình huyện phê duyệt. Hạn mức của Dự án giao rừng, cho thuê rừng gắn với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất lâm nghiệp của xã Y Can về mỗi hộ gia đình là 2,2ha.
Ông Vũ Quốc Tiêu - Chủ tịch UBND, Trưởng ban Chỉ đạo Dự án xã Y Can cho biết: “Quỹ đất thực hiện Dự án là 1.843ha, trong đó có 644ha quy hoạch rừng tự nhiên sản xuất, do vậy tổng số diện tích cần phải lập theo phương án phê duyệt là 1.481ha của 427 hộ gia đình, cá nhân, trong đó giao 310 lượt hộ/568 thửa/518ha, cho thuê 285 lượt hộ/762 thửa/962ha.
Hiện nay, tổ công tác đã tiến hành lập hồ sơ giao đất, cho thuê đất đối với các hộ gia đình, cá nhân tại 7 thôn: Quyết Tiến, Quyết Thắng, Khe Chè, An Hòa, An Thành, An Phú và Minh An”.
Tuy nhiên việc thực hiện Đề án trên địa bàn Y Can còn nhiều khó khăn do khi nhận bàn giao từ Lâm trường Việt Hưng sang Ban quản lý 661 chỉ được nhận bàn giao từ hồ sơ, không tiến hành bàn giao tại thực địa; việc bàn giao tại thực địa chỉ tiến hành đối với phần diện tích hiện nay Lâm trường đang canh tác và được UBND tỉnh giao; phần đường ranh giới cũ của Lâm trường trước khi bàn giao không được thể hiện bằng file số quy chuẩn mà chỉ dựa vào bản đồ cũ để khoanh định ranh giới trên bản đồ 672 và cũng không được tiếp nhận cụ thể tại vị trí nào, do vậy số liệu hiện nay để tính toán chỉ dựa vào số liệu được xác định trên bản đồ 672.
Trong quá trình xây dựng Đề án của huyện và của xã Y Can, quỹ đất do Lâm trường bàn giao cho huyện quản lý, thực tế khi nhận bàn giao toàn bộ quỹ đất này đã bị thay đổi hiện trạng; hiện trạng sử dụng đất đang do người dân canh tác và có tài sản trên đất, về cơ bản hộ gia đình đã quản lý và sử dụng ổn định từ trước năm 1993 nên khó xác định tài sản trên đất… (Báo Yên Bái 27/10) đầu trang(
Năm 2013, toàn tỉnh có kế hoạch trồng 381ha rừng môi trường cảnh quan. Trong đó, các Ban Quản lý rừng phòng hộ trồng 270ha; trồng rừng ngập mặn trên đầm Thị Nại 87ha; trồng rừng sau khai thác titan 111ha.
Đến thời điểm này, các đơn vị, địa phương đã tiến hành xử lý thực bì được 334ha, cuốc hố 92ha và đã trồng được 69ha rừng. Ngành nông nghiệp tỉnh đã yêu cầu các đơn vị, địa phương đẩy nhanh tiến độ trồng rừng môi trường cảnh quan, bảo đảm đến cuối tháng 11 hoàn thành công tác trồng rừng theo kế hoạch đề ra và triển khai các biện pháp chăm sóc để tỷ lệ cây sống đạt hơn 95%. (Đại Biểu Nhân Dân 29/10) đầu trang(
Nhận thấy nuôi chim trĩ ít bị dịch bệnh mà giá bán cao nên nhiều người dân xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể đang đầu tư nhân rộng mô hình nuôi chim trĩ đỏ.
Theo thống kê của UBND xã Hà Hiệu, năm 2012, gia đình ông Chu Thanh Phương là hộ dân đầu tiên của xã đầu tư nuôi chim trĩ đỏ. Với 4 đôi giống bố mẹ ban đầu, đến nay, gia đình ông Phương đã có trên 50 con chim trĩ giống và đã bán được khoảng 200 con giống chim trĩ đỏ đạt tiểu chuẩn. Hiện ở xã Hà Hiệu đã có thêm 10 hộ dân nuôi thử nghiệm chim trĩ đỏ với quy mô nhỏ, lẻ.
Theo người dân nuôi chim trĩ tại Hà Hiệu cho biết: Chim trĩ đỏ là giống dễ nuôi, ít bệnh, ăn ít, đẻ trứng nhiều. Giá bán chim trĩ đỏ hiện nay khá cao, trung bình 100.000 đồng/con giống mới nở và 3-3,5 triệu đồng/ cặp đôi giống bố mẹ. (Đài PT - TH Bắc Kạn 29/10) đầu trang(
28/10, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết kế hoạch trồng mới cây cao su năm 2013 và sơ kết 9 tháng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng năm 2013, phương hướng thực hiện nhiệm vụ năm 2014.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong năm 2013, toàn tỉnh đã trồng mới 868 ha cây cao su, vượt kế hoạch đề ra, nâng tổng diện tích cao su trong toàn tỉnh đạt 1.515 ha. Trong đó có 1.218 ha cao su đại điền, 297 ha cao su tiểu điền, cây cao su đang sinh trưởng và phát triển tốt.
Về định mức đầu tư, các doanh nghiệp dành khoảng 78 triệu đồng để trồng 1 ha cao su, cây cao su tạo việc làm thường xuyên cho khoảng 340 lao động trong vùng trồng, bình quân thu nhập của lao động đạt 3,6 triệu đồng/người/tháng.
Chương trình phát triển cây cao su được đánh giá là có hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội và môi trường, góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển nông thôn, nâng cao chất lượng và độ che phủ của rừng.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai trồng cao su vẫn còn những tồn tại như quản lý đất thiếu chặt chẽ, sản xuất giống cao su chịu lạnh chưa đáp ứng được nhu cầu. Riêng với diện tích cây cao su tiểu điền, phần lớn người dân tự mua giống từ Trung Quốc, không qua kiểm định chất lượng nên tiềm ẩn rủi ro. Hiện, Lào Cai chưa được xếp vào vùng quy hoạch phát triển cây cao su của cả nước nên chưa được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước…
Theo kế hoạch, năm 2014, toàn tỉnh sẽ trồng mới 1.000 ha cây cao su, hoàn thành Dự án trồng thí điểm cây cao su đại điền với diện tích 2.000 ha.
Về bảo vệ và phát triển rừng, đến thời điểm này toàn tỉnh đã gieo ươm 1.643 vạn cây giống lâm nghiệp các loại, xuất vườn 1.215 vạn cây, đáp ứng nhu cầu trồng mới 6.314 ha rừng tập trung, đạt 107% kế hoạch giao, trong đó 340 ha rừng phòng hộ và hơn 5.900 ha rừng sản xuất.
Công tác bảo vệ rừng thường xuyên được quan tâm, thực hiện khoán bảo vệ rừng (có hỗ trợ ngân sách nhà nước) đạt 119 nghìn ha, có 2.500 hộ gia đình thuộc 183 thôn, bản tham gia.
Tính từ đầu năm đến nay, ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 210 vụ vi phạm về bảo vệ rừng, trong đó có 71 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 27 vụ mua bán, chế biến, 24 vụ khai thác lâm sản bất hợp pháp tại huyện Văn Bàn, Sa Pa. Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được kiểm soát tốt, kịp thời dập tắt 2 vụ cháy rừng, không để cháy lan rộng.
Bên cạnh đó, nổi lên một số vấn đề như chất lượng rừng trồng còn đạt thấp, một số diện tích trồng mới có tỷ lệ sống chưa cao, trồng chưa đúng mật độ. Tình trạng vi phạm Luật quản lý và bảo vệ rừng có xu hướng phức tạp, phương thức ngày càng tinh vi, lâm sản quý tại khu vực rừng xa xôi, hẻo lánh đang bị khai thác trái phép.
Kết luận hội nghị, ông Doãn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp đẩy mạnh phối hợp đào tạo nghề cho công nhân cao su, sớm có đánh giá về sản lượng, năng suất mủ cao su trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục tuyên truyền và giải quyết triệt để giải quyết tình trạng tranh chấp đất, tạo vùng nguyên liệu tập trung.
Đối với công tác trồng, bảo vệ và phát triển rừng, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần sớm quy hoạch diện tích trồng rừng, ưu tiên nguyên liệu cho nhà máy khai thác và chế biến gỗ có quy mô lớn. Tích cực diễn tập, sẵn sàng ứng phó khi cháy rừng xảy ra và tổ chức truy quét, ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác rừng trái phép. Hoàn thành công tác thu quỹ bảo vệ môi trường rừng và sớm chi trả chế độ cho các chủ rừng. (Báo Lào Cai 29/10) đầu trang(
Năm 2013, huyện Ba Bể đã trồng được trên 2.600ha rừng, vượt 3% kế hoạch đề ra, trong đó: Ban Quản lý Dự án trồng rừng huyện Ba Bể trồng được 2.100ha và Ban Quản lý Dự án trồng rừng Vườn Quốc gia Ba Bể trồng được 500ha. Qua nghiệm thu rừng sản xuất, tỷ lệ cây sống đạt hơn 96%.
Trong đó, Lâm trường Ba Bể có tỷ lên cây sống được nghiệm thu gần 2.040 ha, đạt 97%, Vườn Quốc gia Ba Bể có tỷ lệ nghiệm thu đạt trên 96%. Để có được kết quả đó, các Ban quản lý dự án trồng rừng đã chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn và chính quyền các xã tham gia trồng rừng đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng cho người dân. Từ đó chất lượng rừng trồng từng bước được nâng lên.
Hiện nay, người dân trồng rừng trên địa bàn huyện Ba Bể đang tiến hành chăm sóc và bón phân cho những diện tích rừng mới trồng để cây sinh trưởng và phát triển tốt. (Đài PT - TH Bắc Kạn 28/10) đầu trang(
Năm 2014, huyện Ngân Sơn được giao kế hoạch trồng rừng là 1.800 ha, cao hơn năm 2013 là 300 ha. Tuy nhiên đến thời điểm này người dân trên địa bàn huyện mới đăng ký trồng rừng được khoảng 800 ha, đạt hơn 40% kế hoạch.
Năm 2013, huyện Ngân Sơn có kế hoạch trồng mới 1.500 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là trên 1.250 ha còn lại là rừng phòng hộ và trồng cây phân tán, cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là cây keo lai, cây mỡ và cây thông. Trong quá trình thực hiện, toàn huyện đã thiết kế được hơn 1.500 ha , đạt 104% kế hoạch. Tuy nhiên, kết thúc khung thời vụ, kết quả trồng rừng của huyện mới được gần 1.200 ha, đạt 80% kế hoạch.
Nguyên ngân được xác định là do một số hộ dân đã không thực hiện hoặc thực hiện giảm so với đăng ký thiết kế ban đầu với lý do thiếu nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, diện tích đất đủ điều kiện để quy hoạch vào trồng rừng phần lớn nằm ở vùng sâu, vùng xa, không có đường lâm nghiệp nên rất khó khăn cho việc vận chuyển cây giống; một số diện tích đất lâm nghiệp tại các xã Bằng Vân, Đức Vân, thị trấn Nà Phặc… có khả năng trồng rừng lớn lại nằm trong quy hoạch của Lâm trường Ngân Sơn, nên không đưa vào trồng rừng theo dự án được….
Chính vì thế, để vụ trồng rừng năm 2014 đạt theo kế hoạch đề ra, hiện Ban quả lý dự án trồng rừng 147 huyện Ngân Sơn và chính quyền các địa phương đang tích cực vào cuộc tuyên truyền vận động để người dân hiểu về lợi ích của việc trồng rừng để từ đó tích cực hưởng ứng và mở rộng diên tích trồng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 27/10) đầu trang(
Vừa qua, Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học thu được tiêu bản 3 cây hạt trần gần chân cột cờ Lũng Cú (huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang) ở độ cao 1.616m. Mỗi cá thể có chiều cao khoảng 5m, đường kính thân 20cm.
Từ đặc điểm hình thái của tiêu bản thu được, so sánh với những đặc điểm trong khóa định loại, Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học xác định, đây là loài vân sam. Tuy nhiên, vào thời điểm ấy, ý kiến nêu trên chưa được xác nhận.
Gần đây, GS, TS Phan Kế Lộc, người đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây hạt trần ở Việt Nam, sau khi thu được tiêu bản đầy đủ (có nón) của loài hạt trần ở chân cột cờ Lũng Cú, ông đã khẳng định, 3 cá thể hạt trần ở chân cột cờ Lũng Cú chính là vân sam.
Thông tin từ Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học cho thấy, vân sam (Abies delavayi Franch, fansipangensis (Q.P.Xiang&al.) Rushforth là loài đặc hữu, nguồn gen hiếm và độc đáo của Việt Nam. Trước khi phát hiện được ở Lũng Cú, vân sam có khu phân bố rất hẹp, chỉ mới gặp ở độ cao từ 2.600-3000m của vùng núi Phanxipăng, Sa Pa (Lào Cai), mọc xen với thiết sam núi đá và một số loài cây lá rộng trên sườn núi granit, tạo thành các cảnh quan có giá trị khoa học và thẩm mỹ cao. Vân sam ở Phanxipăng, chiều cao tối đa tới 30m, đường kính hàng mét, lá mọc xoắn ốc, dày, dựng thẳng, hình dải, dài 1-3cm, rộng khoảng 1mm.
Được biết, vân sam có nguy cơ sắp tuyệt chủng do quần thể nhỏ, phân bố hạn chế. Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp vân sam vào nhóm sẽ nguy cấp (VU). Vân sam cũng được xếp vào Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý hiếm (nhóm I) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.
Như vậy, Lũng Cú là địa danh thứ hai trong cả nước, sau Phanxipăng của SaPa (tỉnh Lào Cai), phát hiện được vân sam. Sự có mặt của vân sam ở Lũng Cú, một mặt đã làm tăng giá trị khoa học của Công viên địa chất toàn cầu, mặt khác, cũng góp phần làm tăng sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Từ nay, những ai yêu thích thiên nhiên, muốn tận mắt thấy vân sam không cần phải lên đến độ cao hơn 2000m ở Phanxipăng mà chỉ cần đến cột cờ Lũng Cú cũng có thể chiêm ngưỡng được.
Tuy nhiên, theo các cán bộ của Trung tâm Đa dạng và An toàn sinh học, vấn đề đặt ra là, ở Hà Giang, ngoài Lũng Cú, vân sam còn có ở đâu? Và tại sao ở Hà Giang, vân sam lại có thể phân bố ở độ cao tương đối thấp (1.616m) (Quân Đội Nhân Dân 27/10) đầu trang(
Chị Phạm Thị Thu, tổ trưởng tổ vườn ươm cây giống của Công ty TNHH Trường Thành là người có thâm niên trong nghề ươm cây giống. Năm 1988, chị bắt đầu vào làm tại lâm trường Thác Bà của tỉnh Yên Bái.
Tại đây, chị đã học tập và trau dồi thêm vốn kinh nghiệm để ươm cây giống phục vụ cho việc trồng rừng. Sau những tháng ngày làm việc tại các lâm trường, chị quyết định rời quê hương đến với vùng đất mới Bắc Kạn, nơi có núi rừng là một phần cuộc sống của chị. Trong những năm tháng đầu đến đây chị đã trải qua rất nhiều những khó khăn, vất vả, sống trong hoàn cảnh thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.
Mỗi năm, vườn ươm nơi chị Thu làm việc đã ươm được khoảng hơn 100 vạn cây. Cung ứng giống cây keo và cây mỡ cho dự án trồng rừng 147 của huyện Chợ Đồn. Tuy nhiên, do điều kiện còn hạn chế, nhân công thiếu, phải thuê nhân công từ các tỉnh khác để đóng bầu, ươm cây… Chính vì vậy, việc mở rộng và phát triển những vườn ươm còn gặp nhiều khó khăn. (Đài PT - TH Bắc Kạn 28/10) đầu trang(
Hơn 20 năm trước, khu vực phường Long Bình (TP.Biên Hòa) chủ yếu là rừng trồng. Dạo ấy, rừng ở khu vực này được xem là lá phổi xanh của TP.Biên Hòa. Đó là chuyện... ngày trước. Còn bây giờ, những cánh rừng ngày nào đã biến mất, thay vào đó là nhà cửa san sát cùng những xưởng sản xuất, kho bãi xây tràn lan trên đất rừng.
Lâu nay, KP.8, phường Long Bình được khá nhiều người biết đến bởi đây là “thủ phủ” của các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ. Theo người dân quanh vùng, trên địa bàn có những xưởng xây dựng trên đất rừng đã nhiều năm nhưng chẳng hiểu vì sao vẫn tồn tại. Có lẽ vì chẳng có cơ quan chức năng nào hỏi thăm nên người này giới thiệu với người kia, gia đình này lôi kéo gia đình khác đến làm ăn, sinh sống khiến đất rừng ngày càng bị thu hẹp, còn nhà, xưởng của cá nhân cứ nhiều thêm.
Hiện nay dọc theo con đường đất từ ga Hố Nai vào khu vực tổ 25, KP.8 khoảng 1km, tình trạng xây dựng trái phép vẫn diễn ra hàng ngày. Ngoài một số nhà xưởng hoạt động từ lâu, còn vài chục căn nhà đã định hình; thậm chí có cả nhà lầu với kiến trúc khá đẹp đang được xây dựng trên một con đường mới mở rộng lớn. Để có điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, các doanh nghiệp trong khu vực cùng góp tiền kéo một đường điện riêng với chi phí đầu tư hàng trăm triệu đồng.
Trao đổi với những người chủ nhà đang sống ở đây, ai cũng thừa nhận đất rừng thì chắc chắn không có giấy tờ, nhưng hàng trăm hộ dân đã “lỡ” xây nhà và ổn định cuộc sống nhiều năm; vài chục nhà xưởng vẫn sản xuất đều đều thì Nhà nước có đuổi đi cũng không dễ (?!).
Nhận định về tình trạng đất rừng ở phường Long Bình bị chiếm dụng, mua bán tràn lan, ông Lê Văn Đông, nguyên Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, không khỏi bức xúc, xót xa. Theo ông Đông, vào khoảng năm 1985, rừng ở khu vực này rất đẹp, nhất là tại KP.8 dân nhận khoán trồng rừng khá nhiều. Từ khi khu công nghiệp phát triển, người người từ nơi khác đổ về dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng. Sau đó rừng mất dần và đến nay dường như nó đã bị xóa sổ.
Tình trạng lấn chiếm đất rừng và xây dựng nhà xưởng ồ ạt tại KP.8, phường Long Bình (TP.Biên Hòa) trong một thời gian dài, song chính quyền địa phương lại không có biện pháp hữu hiệu gì để ngăn chặn...
Theo số liệu của ngành lâm nghiệp, diện tích đất trồng rừng tại phường Long Bình vào năm 1986 là 314 hécta. Thời điểm này, UBND tỉnh cho phép các đơn vị lâm nghiệp quốc doanh tổ chức cho các hộ dân, gia đình công nhân viên chức và đơn vị tập thể nhận đất trồng rừng, nhận rừng đã trồng để chăm sóc bảo vệ cho đến khi thu hoạch sản phẩm.
Theo đó, có 55 hợp đồng giao khoán với các hộ gia đình được ký kết với tổng diện tích 159 hécta, phần còn lại do Lâm trường Biên Hòa (nay là Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa) quản lý.
Từ năm 2002 đến nay, UBND tỉnh ra quyết định thu hồi 286 hécta đất rừng giao cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân để phát triển công nghiệp. Như vậy, diện tích rừng ở phường Long Bình còn 28 hécta. Trong đó có cả đất rừng do các hộ dân được giao khoán đang sinh sống từ thời điểm ký hợp đồng đến nay. Ngoài ra, còn có các công trình hạ tầng, như: đường giao thông, hệ thống thoát nước... và hơn 7 hécta rừng nằm xen kẽ giữa khu dân cư và khu công nghiệp. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian không lâu, hầu như toàn bộ đất rừng đều bị cá nhân lấn chiếm.
Nhận định về tình trạng đất rừng bị “xẻ thịt” mỗi ngày để đến nay bị “xơi tái” hoàn toàn, Giám đốc Trung tâm lâm nghiệp Biên Hòa Trần Đình Xướng cho biết những vụ lấn chiếm và xây dựng trái phép trên đất rừng, trung tâm đều phát hiện và lập biên bản. Sau những vụ vi phạm, đơn vị chủ rừng đều gửi văn bản về địa phương đề nghị hỗ trợ, phối hợp giải quyết.
Lý do phải nhờ đến chính quyền địa phương là bởi trung tâm không có thẩm quyền xử lý việc lấn chiếm và xây dựng công trình trái phép trên đất rừng. Thế nhưng, hầu hết các vụ vi phạm đối với đất rừng tại KP.8, phường Long Bình đều... rơi vào quên lãng. Những năm gần đây, mọi vấn đề liên quan đến đất rừng diễn biến phức tạp hơn, thậm chí nhiều người coi đất rừng là... của mình, còn có hành vi đe dọa, chống đối nhân viên bảo vệ rừng.
Liên quan đến những việc lấn chiếm, sang nhượng đất rừng trái phép tại KP.8, phường Long Bình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh đang thụ lý, điều tra vụ vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng và mua bán đất trái phép tại địa phương này. Điều này cho thấy, mức độ vi phạm ở lĩnh vực đất đai ở phường Long Bình trong thời gian qua là rất nghiêm trọng.
Tuy nhiên, trong lúc ngành chức năng tiến hành điều tra làm rõ các thủ đoạn lấn chiếm đất rừng và sang nhượng phi pháp đất công, tình hình vi phạm vẫn không dừng lại. Đáng chú ý là việc mua bán đất rừng vẫn ngang nhiên diễn ra trước sự bất lực của chính quyền địa phương. Thậm chí, khi cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra thực địa, một số đối tượng rất manh động, tỏ thái độ chống đối, đồng thời kêu gọi các hộ dân có nhà trên đất rừng tập hợp lại hòng thách thức những người thực thi công vụ.
Trước vấn đề khá gay cấn khi hàng ngày phải chứng kiến sự lộng hành của một nhóm đối tượng môi giới mua, bán đất rừng, Chủ tịch UBND phường Long Bình Bùi Đức Nam thừa nhận chính quyền địa phương có nhiều thiếu sót, yếu kém khi để xảy ra tình trạng phức tạp kéo dài này.
Trong khi đó, đề xuất về hướng giải quyết đối với đất rừng bị chiếm dụng thời gian qua, ông Trần Đình Xướng, cho rằng dứt khoát phải trả lại hiện trạng ban đầu đối với diện tích còn lại của trung tâm đã bị lấn chiếm, mua bán, xây dựng trái phép từ năm 2011. Riêng những gia đình đã sống trên đất rừng từ năm 1980 đến nay, nếu nằm trong quy hoạch phát triển công nghiệp thì tiến hành thủ tục hỗ trợ di dời; nếu thuộc quy hoạch khu dân cư thì nên sớm giải quyết cho người dân đăng ký quyền sử dụng đất để thực hiện quyền và nghĩa vụ như quy định. (Báo Đồng Nai 28/10) đầu trang(
Tại nhiều địa phương ven biển miền Trung, tình trạng phá rừng phòng hộ... đã gây nên những hậu quả nhãn tiền.
Những rừng phi lao phòng hộ ven biển có tác dụng rất lớn trong việc phòng ngừa thiên tai. Thế nhưng trên thực tế, tại một số địa phương ven biển các tỉnh miền Trung, do nhu cầu mở rộng phát triển, những rừng phòng hộ đã không còn. Sau mỗi mùa mưa bão, người dân ven biển lại phải đối mặt với tình trạng sạt lở, biển xâm thực và cát bay.
Đường Trường Sa- Hoàng Sa, tuyến đường ven biển đẹp nhất thành phố Đà Nẵng, sau cơn bão số 11 trở nên hoang tàn. Nhiều hàng quán, nhà cửa, cây cối dọc tuyến đường này đều bị gió bão thổi tung và quật ngã, nằm la liệt. Cát biển bị sóng cuốn phăng lên bờ, phủ dày hàng tấc trên mặt đường và vào tận nhà dân. Phải mất nhiều ngày, chính quyền địa phương và người dân nơi đây mới tạm khắc phục để thông tuyến.
Ông Trần Văn Sự, người dân ở phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng cho hay: Trước đây, các bãi biển từ bán đảo Sơn Trà đến Ngũ Hành Sơn dày đặc những hàng phi lao chắn sóng, nhưng giờ đây chỉ còn lác đác vài cây. Thay vào đó là những khu resort, khách sạn, nhà hàng và những hàng cây cảnh được đưa từ rừng về.
“Ngày xưa rừng dương (phi lao) ở đây không được dày lắm nhưng về mùa mưa bão thì rất hiệu quả trong việc chắn sóng, chắn gió. Ngoài ra thì cát biển cũng không dồn đưa lên đường. Bây giờ hàng dương không còn thì gây tác hại rất nhiều cho các nhà dân sống ven biển”- ông Sự cho biết.
Lão ngư Cao Văn Ba ở phường Mân Thái, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nhớ lại: trước kia muốn ra biển, phải băng qua rặng dương già hàng chục năm tuổi. Giờ đây, từ nhà mở cửa ra là đã thấy sóng biển. Cơn bão số 11 vừa rồi, hàng chục tàu thuyền của ngư dân ở làng chài Mân Thái mặc dù đã được đưa lên bờ nhưng vẫn bị sóng biển đánh úp, hư hỏng nặng.
“Tôi thấy trồng dương có lợi ích rất nhiều. Nếu trời bão gió mà có được hàng dương trồng dày thì cũng cản được gió và cản được đất. Trường hợp sóng lớn thì ghe thuyền cột vào hàng dương cũng đỡ thiệt hại tài sản. Vùng ven biển này nên trông dương hoặc dừa thì vào mùa mưa bão có thể cản sóng và giữ đất được”.
Không riêng gì thành phố Đà Nẵng, tại nhiều địa phương ven biển các tỉnh miền Trung, tình trạng phá rừng phòng hộ để nuôi trồng thuỷ sản, xây dựng các khu nghỉ dưỡng... đã gây nên những hậu quả nhãn tiền. Nhiều nơi biển xâm thực, ăn sâu vào đất liền cả trăm mét, đe doạ đến tài sản và tính mạng của người dân trong vùng.
Ông Phan Xuân Tiệp, Phó Ban quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng cho biết: "Về thực tế giám sát tren bãi biển, chúng tôi thấy, việc trồng cây phi lao, trồng lâu năm thì sẽ chống được gió, chống được sóng và chống được cát bay từ biển vào. Chúng tôi cũng đề xuất với các ban ngành và UBND thành phố có hướng chỉ đạo sở Nông nghiệp- phát triển nông thôn tiếp tục duy trì việc trồng rừng phòng hộ ven biển bằng cây phi lao để chống sóng và gió".
Hệ thống rừng phòng hộ và rừng ngập mặn ven biển được xem như những “bức tường xanh” vững chắc, bảo vệ tính mạng và tài sản của cộng đồng dân cư ven biển. Tại nhiều địa phương, nhiều dự án tái tạo những khu rừng phòng hộ ven biển hy vọng sẽ trở thành những “lá chắn” giúp người dân an tâm hơn trước sóng to, gió lớn mỗi khi đến mùa mưa bão. (VOV 28/10) đầu trang(
Ở Kon Tum, đất của sâm Ngọc Linh là xã Măng Ri và Ngọc Lây của huyện Tu Mơ Rông, thế nhưng do khai thác triệt để, sâm Ngọc Linh ngày càng hiếm đi, thị trường lại xuất hiện sâm Ngọc Linh giả.
Nghe khách hỏi mua sâm Ngọc Linh, Phó công an xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông, ông A Đăng trố mắt nhìn tôi từ đầu đến chân: “Ở đây sâm dây quán nào cũng có bán. Sâm rừng thì mùa này làm gì có nữa mà mua?”. Nói đoạn, ông A Đăng chỉ lên ngọn núi xanh xa xa có làn sương trắng như tấm voan phủ lên mờ mờ nói nửa thật nửa đùa: “Núi Ngọc Linh đó, muốn sâm thì lên đó mà kiếm”.
Trò chuyện, ông A Đăng bảo, nói là sống trên đất sâm Ngọc Linh nhưng loại củ sâm trồng nho nhỏ thì thấy rồi, còn củ sâm tự nhiên lấy từ núi Ngọc Linh cao gần 2.600 m kia thì từ ba năm trở lại đây ông không thấy nữa. Trong ký ức của mình, ông A Đăng vẫn nhớ chuyện già làng và đàn ông ở đây mỗi lần đi rừng Ngọc Linh về đều mang cả ba lô hay non non 1/3 bao đựng gạo (loại 25 kg) củ sâm. Sau đó, sợ sâm mốc nên mang ra phơi khô để đó dùng dần như “người Kinh dưới đồng bằng ăn khoai lang”.
Còn Bí thư Xã đoàn Măng Ri, anh A Mon kể: “Hồi đó không ai biết mua bán sâm Ngọc Linh. Cha tôi đi rừng về vác cả bao sâm, cho tụi tôi vài củ. Tụi tôi đợi mấy người bán kem dạo hay bong bóng vào đổi. Cứ mỗi củ sâm đổi được... một cây kem, hoặc hai cái bong bóng thổi chơi”. Theo A Mon, có thể mấy người bán kem, bong bóng dạo ban đầu không biết giá trị sâm này, nhưng sau đó biết được vậy mà vẫn đổi “rẻ như cho”.
Nghe có vẻ khó tin, nhưng Phó bí thư Huyện ủy Tu Mơ Rông, ông Đỗ Tấn Dạng bảo: “Cái đó thiệt chứ không chơi. Hồi tụi tôi đi công tác ở xã Măng Ri, đồng bào cho ít thì 4-5 củ sâm, nhiều thì cả chục củ, nhưng tụi anh chê vì mang trên ba lô... mệt, nên không lấy”.
Đường bê tông vào UBND xã Măng Ri dài hơn 500 m, có hàng loạt quán mọc lên. Phan Thế Nhuận, quê ở tỉnh Hà Nam vào buôn bán gần 10 năm ở đây khẳng định: “Quán nào cũng mua bán sâm hết. Có điều đến hôm nay tìm được củ sâm Ngọc Linh tự nhiên chính hiệu còn khó hơn vàng”.
Khi ngỏ ý muốn mua củ sâm nhỏ để dùng, Nhuận lắc đầu: “Nói thiệt, quán em không có. Còn hàng chục quán ở đây, nếu có chỉ một vài quán thôi, mà có cũng chỉ vài củ, may mắn lắm mới mua được”.
Thế rồi Nhuận khuyên khách nên mua sâm Ngọc Linh được trồng, không nên mua sâm tự nhiên vì “sâm bây giờ giả tận... ruột” dù chúng tôi đang đứng tại Măng Ri, nơi được coi là “thánh địa” của sâm Ngọc Linh ở Kon Tum.
Thấy tôi ngạc nhiên, bởi đâu đâu người ta cũng rao bán sâm tự nhiên Kon Tum mà vì sao tại “thủ phủ chính hãng” lại nói là sâm giả? Nhuận giải thích: Mấy năm nay, sâm Ngọc Linh có giá, đoàn người bản xứ lên núi Ngọc Linh tìm sâm ngày càng nhiều, vơ sạch từ lớn đến nhỏ để bán, dù việc này đã bị cấm từ lâu. Vì vậy sâm hiếm dần.
“Lâu lâu có người tìm được củ sâm. Vừa ra tới đầu rừng đã có người mua nóng ngay, có đâu nữa mà mang về bán cho các hàng quán tại chỗ, nói gì đến quán xá ở ngoài huyện và các thành phố lớn”, Nhuận nói. Cũng theo Nhuận, chỉ có ai buôn bán sâm uy tín lâu nay mới mua được hàng.
Theo giới thiệu của một người quen, tôi và anh bạn đồng nghiệp ở Báo Kon Tum vào nhà một chủ buôn bán sâm Ngọc Linh ở thị trấn Đăk Tô (Kon Tum) “xem hàng”. Ban đầu, chị V. chủ nhà hồ hởi vào trong nhà mang ra một gói to, mở mấy lớp giấy báo, ni lông, hai củ sâm to bằng ngón tay cái, dài khoảng gang tay còn nguyên lá rất đẹp. Chị V., bảo là hàng hiếm, mới mua được vài ngày và nếu mua sẽ bán giá 20 triệu đồng. Cũng theo chị V., lâu nay sâm Ngọc Linh giả phần nào đã làm hạ giá của sâm Ngọc Linh thật.
Hỏi vì sao có sâm giả tại đây, một người quen đang công tác ở Hội Nông dân huyện Tu Mơ Rông cho biết, mấy năm nay củ vũ diệp tam thất được tuồn từ Trung Quốc vào tận các thôn làng ở huyện Tu Mơ Rông.
“Mỗi ký tam thất chỉ mấy chục ngàn đồng, trong khi đó, mỗi ký sâm Ngọc Linh là mấy chục triệu đồng”, người này nói. Theo đó, các củ tam thất khi về vùng sâu, vùng xa Tu Mơ Rông thì đưa cho người dân tộc chôn xuống đất để... dính tí đất Kon Tum cho dễ qua mặt khách hàng. Có điều, sâm Ngọc Linh thứ thiệt không bao giờ có tí đất bám vào. Vì sâm này sống trên thảm mục cây rừng, làm gì dính đất.
Một chủ mua bán sâm có thâm niên gần 20 năm ở thị trấn Đăk Tô tên Quán cho biết, mấy năm nay loại củ ráy, tam thất từ Trung Quốc được nhập vào để trà trộn với sâm thật, rất nhiều người không phân biệt được thật - giả. Chỉ dân sành sâm Ngọc Linh nhìn bề ngoài sẽ nhận ra sâm giả: đó là sâm Ngọc Linh thật, lá mọc so le, còn củ sâm giả, lá mọc thẳng.
“Khi ngâm rượu thì hai loại sâm Ngọc Linh và tam thất có mùi, vị, màu nước như nhau. Nhưng nhấm sâm Ngọc Linh, ban đầu thấy vị đắng, sau đó có vị ngọt. Củ ráy, tam thất khi bẻ ra có ruột trắng như củ mì, cắn vào sẽ cay xé miệng”, anh Quán giải thích.
Theo anh Quán, sâm giả nhập vào là do sâm Ngọc Linh ngày càng cạn kiệt. Ngày trước mua củ sâm Ngọc Linh 1 - 2 kg là chuyện thường, nhưng “lâu lắm rồi chưa mua được loại sâm này”. Khoảng 3 - 5 năm trở lại đây, may mắn lắm anh Quán mới mua được sâm Ngọc Linh củ 3 lạng, còn lại 4 - 5 củ/kg tươi, giá 17 triệu đồng; hay 3 củ/kg giá 30 triệu đồng. Theo anh Quán, giá sâm Ngọc Linh khô xịn 100% hiện nay giá trên 200 triệu đồng, còn lại loại 2 củ/kg sâm Ngọc Linh tươi cũng 50-60 triệu đồng.
Kỹ sư Võ Khắc Phục, cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Tu Mơ Rông, cho biết để bảo tồn sâm Ngọc Linh, địa phương đã hai lần cấp giống cho đồng bào thiểu số ở các xã Măng Ri, Ngọc Lây, Tê Xăng trồng trong rừng. Có điều, giống sâm này khó nhân rộng và rất đắt. Năm 2012, huyện đặt Công ty TNHH lâm trường Đăk Tô để cấp cây giống cho đồng bào nhưng không có. Đến giữa năm 2013 giống này mới có thì mỗi mầm giống là 50.000 đồng, còn nếu mua ở huyện Nam Trà My (Quảng Nam) thì 80.000 - 90.000 đồng/mầm.
“Thế nhưng không phải ai được cấp để trồng sâm Ngọc Linh cũng đảm bảo sống. Bởi đã từng cấp cho dân xã Ngọc Lây, nhưng có hộ giữ được, hộ thì để chết cả”, ông Phục nói.
Phó bí thư Huyện ủy Tu Mơ Rông, ông Đỗ Tấn Dạng cho biết: Huyện và tỉnh Kon Tum cũng có nghị quyết hẳn hoi về việc phát triển diện tích cây sâm Ngọc Linh. Kế hoạch đến năm 2022, huyện Tu Mơ Rông phát triển 1.000 ha sâm Ngọc Linh.
Theo đó, tỉnh sẽ đầu tư 567 tỉ đồng vào dự án này, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp đầu tư vào để phát triển sâm quý cũng như ngăn chặn tình trạng giả sâm Ngọc Linh bán trên thị trường. (Thanh Niên 27/10, Tr14) đầu trang(
Tây Nguyên là một trong những vùng chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, chủ yếu là lượng mưa, phân bố mưa và cường độ mưa ngày càng khốc liệt, gây thiệt hại lớn về người và tài sản cho đồng bào các dân tộc.
Chỉ riêng tại Đắk Lắk, mới đây do ảnh hưởng của cơn bão số 8 kết hợp với gió mùa Tây Nam cường độ mạnh đã xảy ra lũ quét, làm chết 7 người tại các huyện Ea Súp, Cư M’gar...
Tại tọa đàm về Chiến lược phát triển vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp với Trường Đại học Nguyễn Tất Thành tổ chức mới đây tại thành phố Buôn Ma Thuột, GS.TS Lê Huy Bá, Trưởng Khoa Môi trường, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, thành phố Hồ Chí Minh đề nghị, cần sớm lập bản đồ khu vực có nguy cơ lũ quét vùng Tây Nguyên nhằm góp phần giảm thiệt hại về người và tài sản cho người dân.
Theo Trung tâm Khí tượng Thủy văn Tây Nguyên: Những năm gần đây, lượng mưa ở Tây Nguyên đã thay đổi nhiều theo hướng nơi mưa nhiều thì càng nhiều hơn và ngược lại, nhất là hiện tượng mưa tập trung với cường độ mạnh và lượng lớn có tần suất xuất hiện nhiều hơn. Đây là nguyên nhân chủ yếu làm cho loại hình thiên tai lũ quét, sạt lở đất xuất hiện ngày càng nghiêm trọng hơn.
Trong khi đó, các tỉnh Tây Nguyên lại có địa hình chủ yếu là đồi, núi, cao nguyên; riêng địa hình có độ dốc từ 10 độ trở lên chiếm gần một phần hai diện tích của khu vực. Những vùng đất dốc này, trước đây được che chở khá tốt của cây rừng nhưng những năm gần đây rừng bị chặt phá nghiêm trọng nên độ che phủ không những giảm sút mà chất lượng rừng cũng suy giảm.
Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tổng diện tích rừng của toàn vùng chỉ còn trên 2,848 triệu ha, độ che phủ còn 51,3%; trong đó, rừng có trữ lượng là 1,772 triệu ha, chỉ đạt độ che phủ là 32,4%... nên càng làm cho những vùng đất dốc trở thành đất trống, đồi núi trọc hoặc có rừng nhưng cũng chỉ là các loại cây có độ che phủ thấp như cây sắn, cây bụi ít có tác dụng điều hòa dòng chảy mặt.
Cũng theo các nhà khoa học, mất rừng, nhất là rừng ở những nơi đất dốc làm cho dòng nước mưa tập trung vào các sông, suối nhiều gấp 3 đến 5 lần và nhanh hơn gấp 8 đến 10 lần khi không có rừng nên tần suất, cường độ lũ quét xuất hiện nguy hiểm ngày càng nhiều hơn mỗi khi có mưa.
Mất rừng, mặt đất nhanh chóng phân hoá, suy giảm kết cấu liên kết nên khi mưa xuống, đất bão hòa nước, dòng nước mặt tập trung nhanh, chảy mạnh dễ gây nên tình trạng xói lở đất, thậm chí, có nơi đất bị sụt lở cả một vùng rộng lớn…
GS.TS Lê Huy Bá cũng như các nhà khoa học đã đề xuất, các tỉnh Tây Nguyên trước mắt cần nhanh chóng đầu tư xây dựng bổ sung mạng lưới trạm quan trắc đo đạc, nhất là các trạm đo mưa tại các vùng đã từng có mưa lớn sinh ra lũ quét, sạt lở đất.
Các tỉnh Tây Nguyên cũng nâng cấp, hiện đại hóa hệ thống thông tin liên lạc, nghiên cứu các hình thể gây mưa có lượng và cường độ lớn, xây dựng bản đồ dự báo nguy cơ lũ quét, lũ ống cho toàn vùng.
Các ngành chức năng nhanh chóng khảo sát, cập nhật hàng năm hiện trạng lũ quét, sạt lở đất và xác định vùng có nguy cơ lũ quét, sạt lở đất cao, xây dựng hệ thống cảnh báo nguy cơ lũ quét… để không những hạn chế thiệt hại về con người và tài sản của đồng bào các dân tộc mà còn phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội cho vùng Tây Nguyên.
Các nhà khoa học cũng đề xuất, kiến nghị các tỉnh Tây Nguyên cần bảo vệ, phục hồi diện tích rừng hiện có; đồng thời, tăng cường đầu tư trồng mới thêm rừng để nâng độ che phủ rừng, quy hoạch, bố trí lại các khu dân cư, sản xuất, đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi…hợp lý, khoa học, hiệu quả trong việc phòng chống thiên tai. (Tin Tức 29/10) đầu trang(
Ngày 28-10, Sở NN&PTNT Bình Định cho biết Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Thu Hà đã ký quyết định xử phạt Nguyễn Thành Sơn (trú thôn Kim Sơn, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân) hơn 110 triệu đồng do khai thác gỗ trái phép trong rừng phòng hộ.
Theo đó, ông Sơn đã khai thác trái phép 10,7 m3 gỗ tròn, chủng loại keo lá tràm, thuộc nhóm VI trong rừng phòng hộ tại xã Ân Nghĩa (huyện Hoài Ân), bị Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Ân phát hiện lập biên bản vi phạm sáng 4-9-2013.
Ngoài bị xử phạt hành chính 100 triệu đồng, ông Sơn còn bị buộc nộp lại số tiền hơn 7,64 triệu đồng bán gỗ để sung công quỹ Nhà nước và phải thanh toán chi phí trồng lại 1.131 m2 diện tích rừng phòng hộ đã bị khai thác trái phép, với số tiền hơn 2,68 triệu đồng. (Quân Đội Nhân Dân 29/10; Tuổi Trẻ 28/10) đầu trang(
Các thủy điện có công suất trên 30 MW đều đã do EVN đầu tư. Hầu hết dự án thủy điện còn lại đều là vừa và nhỏ, đóng góp ít vào sản lượng điện của cả nước nhưng tác động tiêu cực đến môi trường rất lớn
Mới đây, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp với Ủy ban Kiểm tra trung ương tổ chức đoàn giám sát việc quy hoạch, đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện ở khu vực Tây Nguyên và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và đề nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND các địa phương nói trên không thực hiện cấp phép đầu tư, xây dựng các dự án thủy điện mới cho đến khi thực hiện xong việc rà soát quy hoạch.
Có dự án sau một thời gian vướng mắc khâu đền bù giải phóng mặt bằng trong khi chủ đầu tư đã bỏ nhiều tiền vào các hạng mục khác nên tỉnh phải bồi thường cho doanh nghiệp.
Chẳng hạn, năm 2008, UBND tỉnh Đắk Nông đã đồng ý cho Công ty CP Năng lượng Trung Thành Hưng (TP HCM) đầu tư xây dựng dự án Khu Du lịch sinh thái, văn hóa Liêng Nung kết hợp Nhà máy Thủy điện Đắk Nia. Tuy nhiên, sau khi giao dự án cho doanh nghiệp thì vướng mắc phát sinh, nhất là trong khâu giải phóng mặt bằng nên dự án bị tắc.
Mới đây, UBND tỉnh Đắk Nông đã ra quyết định thu hồi dự án trước thời hạn với lý do “để triển khai thực hiện chủ trương của UBND tỉnh đầu tư xây dựng công viên vui chơi giải trí Liêng Nung”. Điều đáng nói là ngoài việc giao dự án thì UBND tỉnh Đắk Nông cũng giao cho chủ đầu tư quản lý, bảo vệ gần 13 ha rừng tự nhiên tại khu vực thác Liêng Nung.
Theo biên bản bàn giao rừng, tại thời điểm dự án được chuyển về cho Công ty CP Năng lượng Trung Thành Hưng, toàn bộ gần 13 ha rừng có mật độ che phủ và trữ lượng gỗ khá cao. Sau khi dự án hoàn thành, toàn bộ diện tích rừng này sẽ được đầu tư, mở rộng để chuyển thành rừng đặc dụng nhằm bảo tồn thiên nhiên, hệ sinh thái. Thế nhưng, đến đầu năm 2011, toàn bộ diện tích rừng tại khu vực thác Liêng Nung hầu như đã bị xóa sổ hoàn toàn do chủ rừng không quản lý, bảo vệ.
Ngoài việc mất trắng gần 13 ha rừng, mới đây, UBND tỉnh cũng đã phải bồi hoàn hơn 25,6 tỉ đồng cho Công ty CP Năng lượng Trung Thành Hưng do đã đầu tư xây dựng một số hạng mục. Đây là một trong nhiều dự án thủy điện thiệt đơn thiệt kép ở Tây Nguyên. Vì vậy, thời gian qua, UBND tỉnh Đắk Nông đã rà soát, loại bỏ 8 dự án thủy điện có tổng công suất 25,7 MW ra khỏi quy hoạch.
Trong báo cáo mới đây gửi đến Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đánh giá về dự án thủy điện La Hiêng 2 (xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân) và dự án thủy điện Đá Đen (xã Hòa Mỹ Tây, huyện Tây Hòa), UBND tỉnh Phú Yên cho rằng cả 2 dự án đều triển khai rất chậm. Dự án thủy điện La Hiêng 2 do Công ty CP VRG Phú Yên làm chủ đầu tư với công suất 18 MW, khởi công năm 2009, kế hoạch hoàn thành năm 2011 nhưng đến nay vẫn chưa xong đường hầm dẫn nước.
Còn dự án thủy điện Đá Đen với công suất 9 MW do Công ty CP Đầu tư Năm Bảy Bảy làm chủ đầu tư, được khởi công từ tháng 8-2005, được UBND tỉnh Phú Yên cho phép gia hạn rất nhiều lần nhưng đến nay vẫn chỉ mới dừng lại với hạng mục đường dẫn vào rừng để thi công với chiều dài khoảng 5 km. Tại công trường thủy điện vắng hoe, bên trong cánh cổng sắt đóng kín mít chỉ có một người bảo vệ với vài chiếc xe ủi, xe múc nằm gỉ sét ở chân núi. Người bảo vệ cho biết mọi hoạt động thi công đã dừng từ nhiều tháng nay.
Trong khi đó, những cánh rừng ở 2 dự án thủy điện này đang bị đốn hạ không thương tiếc. Không chỉ 84 ha rừng phòng hộ nằm trong phạm vi bị ngập ở dự án thủy điện La Hiêng 2 và 10 ha ở dự án thủy điện Đá Đen bị mất mà việc ủi đường luồn sâu vào rừng để thi công của 2 dự án này đã tạo điều kiện cho lâm tặc vào những khu lân cận để đốn gỗ.
Khi đến thủy điện Đá Đen vào giữa buổi sáng, chúng tôi bắt gặp hàng đoàn xe máy đang rú ga theo con đường vừa được mở để chở gỗ. “Ban đêm còn khiếp hơn. Xe chở gỗ từ núi Đá Đen xuống cứ ầm ầm, không ai dám ra đường” - ông Nguyễn Văn Tùng, người dân ở xã Hòa Mỹ Tây, kể.
Ông Hoàng Trọng Trọng, Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Phú Yên, cho biết vì dự án thủy điện Đá Đen triển khai quá chậm nên năm 2012, Sở Công Thương có đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị UBND tỉnh Phú Yên thu hồi nhưng sau đó, UBND tỉnh Phú Yên lại tiếp tục cho gia hạn dự án đến cuối năm 2013.
“Nhu cầu về điện năng là cần thiết nhưng không thể chấp nhận nhà đầu tư làm ăn kiểu như thế. Chúng tôi sẽ tiếp tục đề nghị thu hồi” - ông Trọng quả quyết.
Lý giải về việc gia hạn, ông Huỳnh Xuân Sơn, Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh Phú Yên, cho rằng do chủ đầu tư của dự án là doanh nghiệp nhà nước, đã chi ra một số vốn đầu tư ban đầu, nếu thu hồi sẽ mất vốn nhà nước. “Nhưng lần này, nếu dự án tiếp tục ì ạch thì phải kiên quyết thu hồi chứ không du di nữa” - ông Sơn nói. (Người Lao Động 29/10) đầu trang(
Ngày 28-10, văn phòng UBND tỉnh Kon Tum cho biết, trước tình trạng xe gỗ chở quá khổ, quá tải lưu thông trên đường Hồ Chí Minh (đoạn từ huyện Đăk Glei đến huyện Ngọc Hồi) đã gây sạt lở, hư hỏng, xuống cấp nhiều đoạn trên tuyến đường này, đặc biệt là khu vực đèo Lò Xo, UBND tỉnh Kon Tum đã ban hành Công văn số 2427/UBND-KTN về việc xử lý xe chở quá tải, quá khổ lưu thông trên địa bàn tỉnh Kon Tum.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Công an tỉnh, Sở Giao thông Vận tải và UBND huyện Ngọc Hồi và UBND huyện Đăk Glei phải nghiêm túc triển khai thực hiện Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 23/6/2013 của Thủ tướng về việc tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông nghiêm trọng trong hoạt động vận tải; chỉ đạo của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia về việc kiểm tra, xử lý vi phạm xe chở quá tải trọng trên quốc lộ và của UBND tỉnh về công tác đảm bảo an toàn giao thông.
UBND tỉnh Kon Tum cũng yêu cầu các lực lượng chức năng, địa phương liên quan phối hợp chặt chẽ trong quá trình tuần tra, kiểm soát, xử lý kiên quyết với các xe chở quá khổ, quả tải. (Quân Đội Nhân Dân 28/10; Giao Thông Vận Tải 28/10) đầu trang(
Hiện nay, tổng diện tích sâu ong gây hại trên địa bàn toàn tỉnh là 681,9ha. Cuối tháng 10 sẽ là thời điểm sâu non nở rộ, do vậy, trước tình hình phức tạp của sâu ong, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đã đề nghị các huyện, thị xã có biện pháp tăng cường kiểm tra, phòng trừ sâu ong đợt 4 gây hại.
Theo số liệu điều tra của Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông: Sâu ong đợt 4 vũ hóa và đẻ trứng vào cuối tháng 9, đầu tháng 10; sâu non nở rộ từ ngày 17 đến ngày 23 tháng 10. Hiện nay, sâu ong đang tuổi 1-3, mật độ phổ biến 80-100 con/cây, cao 500 con/cây, cá biệt 700-800 con/cây; tổng diện tích bị hại 681,9 ha (tái nhiễm trên nhiều diện tích bị hại của lứa trước).
Trước tình hình này, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh đề nghị: UBND các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, Bạch Thông (vùng đang có dịch): Khẩn trương xây dựng phương án phòng trừ sâu ong; chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vâth, UBND các xã/thị trấn tăng cường kiểm tra, phát hiện sâu ong trên những diện tích các lứa trước sâu chưa gây hại; đồng thời đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, hướng dẫn nông dân tự kiểm tra, phát hiện và phòng trừ kịp thời, hiệu quả.
Đối với UBND các huyện Ba Bể, Na Rỳ, Ngân Sơn, Pác Nặm, thị xã Bắc Kạn (vùng chưa phát hiện dịch sâu ong) cần chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các huyện, Phòng Kinh tế thị xã, Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, UBND các xã/thị trấn hướng dẫn và đôn đốc chủ rừng tiến hành kiểm tra những diện tích trồng mỡ của gia đình nhằm sớm phát hiện sâu ong gây hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời. (Đài PT TH Bắc Kạn 29/10) đầu trang(
Thông tin nhanh qua Đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều xe ô tô lưu thông qua địa bàn huyện Đông Hòa chở động vật hoang dã trái phép. (Nhân Dân 28/10) đầu trang(
Xuất phát từ tin đồn có đá quý, hơn một tháng qua, hàng trăm người dân địa phương và các tỉnh lân cận đã ùn ùn kéo về huyện Krông Năng (Đắk Lắk) với hi vọng "đổi đời" đã đào bới làm tan nát khu rừng nơi đây.
Từ giữa tháng 9/2013, xuất hiện tin đồn tiểu khu 300 thuộc xã Cư K’lông, huyện Krông Năng có đá quý Saphia, thạch anh tinh thể. Hàng trăm người từ nhiều tỉnh, thành bất chấp đường sá lầy lội, núi rừng hẻo lánh, kéo vào tìm vận may. Có thời điểm, số người bám trụ ở đây lên tới hơn 300 người.
Đến giữa tháng 10, những người này chia làm hai khu vực, thi nhau đào bới. Khu vực thứ nhất là rừng cây rậm rạp thuộc thượng nguồn suối Ea Kul, kéo dài từ núi cao xuống các thung lũng, khe suối. Khu vực thứ hai nằm trên thượng nguồn suối Ea Bal.
Mặc dù, đào ngày đào đêm, bất chấp mưa gió nguy hiểm nơi rừng núi, thế nhưng, đá quý đâu không thấy, chỉ thấy môi trường nơi người dân ôm ấp ảo vọng có đá quý bị tàn phá nghiêm trọng. Dọc 2 bên bờ đoạn suối Ia Kul với chiều dài khoảng 500m bị khoáng tặc đào xới không thương tiếc, biến dạng bề mặt địa hình nguyên thủy với lổm chổm các hố đào sâu hoắm.
Để ở lại rừng tiếp tục đào đá quý người dân đã chặt phá nhiều cây rừng lập lán trại khiến rừng bị tàn phá ngổn ngang. Hiện nay, khoảng 1ha diện tích đã bị khoáng tặc đào bới tả tơi, do bị đào khoét sâu nên sườn đồi đã bị sạt lở khoảng 0,1 ha. Đất đá sạt lở xuống dòng suối làm ảnh hưởng môi trường sinh thái, đất sản xuất, hủy hoại đất nguyên thủy và ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng. Sau một thời gian vào rừng đào bới, nhiều người đã bỏ rất nhiều công sức và tiền của nhưng tất cả đều ra về với sự thất vọng vì không đào được đá quý.
Trước tình hình người dân đổ xô khai thác đá quý trái phép vì nghe theo tin đồn, UBND huyện Krông Năng đã kịp thời chỉ đạo các phòng ban chức năng ra quân giải tỏa đoàn khoáng tặc.
Đồng thời chỉ đạo sát sao các lực lượng công an, quân sự, thanh tra, phòng TN&MT cùng vào cuộc để truy quét. Bố trí các trạm tuần tra giao thông trên các tuyến đường vào khu vực, bố trí lực lượng ăn ở tại thực địa nhằm kiểm tra, truy đuổi và xử lý người dân từ các nơi đổ về đây để thành lập băng nhóm khai thác khoáng sản trái phép.
Tuy nhiên, do khu vực khai thác khoáng sản trái phép nằm sâu trong rừng, địa hình hiểm trở, đường giao thông đi lại lầy lội và dốc cao nên rất khó khăn cho công tác kiểm tra, truy quét, tịch thu máy móc, phương tiện của khoáng tặc. Khi bị ngăn chặn ban ngày, họ chuyển sang làm đêm, khiến các lực lượng chức năng truy quét cũng rã rời.
Vì vậy, mặc dù đã hết sức nỗ lực nhưng UBND huyện Krông Năng bước đầu mới tiến hành giải tỏa được một trong 2 vị trí của khu vực khoáng tặc hoạt động.
Hiện, cơ quan chức năng đang tiếp tục truy quét khu vực còn lại và tiến hành xác định nguồn gốc xuất phát ra tin đồn gây nên sự xáo trộn trên địa bàn xã Cư Klông trong thời gian qua. (Đời Sống&Pháp Luật 29/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX đã xác định, Đồng Nai sẽ trở thành tỉnh cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào năm 2015. Trong đó, tỷ lệ che phủ cây xanh đến năm 2015 đạt 56% và năm 2020 đạt 52%; phấn đấu ổn định tỷ lệ che phủ rừng là 29,76%. Chính vì vậy, việc giữ rừng, quản lý bảo vệ đất rừng là nhiệm vụ khá nặng nề.
Với nhu cầu phát triển phù hợp với thực tiễn của địa phương, một phường có hàng trăm hécta rừng trồng như Long Bình (TP.Biên Hòa) được điều chỉnh giảm diện tích rừng để phát triển công nghiệp là hợp lý. Số rừng trồng còn lại theo quy hoạch chỉ còn chưa đến 10 hécta. Thế nhưng, số diện tích ấy từng ngày bị “gặm nhấm” không thương tiếc, và cho đến nay thì bị xóa sạch.
Một cán bộ trong ngành kiểm lâm chứng kiến rừng ở phường Long Bình bị xóa sổ, đã phải xót xa thốt lên: “Rừng không thể tự nhiên biến mất, mà nguyên nhân chủ yếu do con người tác động đến. Cơ quan chức năng và địa phương đã không cương quyết xử lý ngay từ đầu, đồng thời thiếu biện pháp ngăn chặn hiệu quả”.
Người ta có thể đưa ra hàng loạt lý do để nói về việc mất rừng, chẳng hạn: do địa bàn rộng và thiếu nhân lực dẫn đến chỗ không quản lý nổi; vì đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng thuộc thành phần côn đồ hung hãn và có hành vi chống người thi hành công vụ nên khó giải quyết dứt điểm...
Chuyện rừng ở Long Bình bị mất sạch trong thời gian vài năm là một lẽ, nhưng còn chuyện mất đất rừng thì sao? Từ một khu vực đi đâu cũng thấy rừng, giờ trở thành địa phương đi đâu cũng thấy nhà xây trái phép là một hiện tượng không bình thường.
Không bình thường ở chỗ, vấn đề lấn chiếm đất rừng, mua bán sang tay rồi xây nhà, xưởng diễn ra công khai, thậm chí thực hiện một cách ồ ạt nhưng chưa thấy trường hợp nào bị xử lý đến nơi đến chốn. Không ít trường hợp vi phạm liên quan đến đất rừng ở phường Long Bình đã được lên kế hoạch giải tỏa, cưỡng chế nhưng sau đó rơi vào im ắng rất khó hiểu.
Có thể nói, xuất phát từ sự nương tay trong thời gian dài của chính quyền địa phương trước những vi phạm đã dẫn đến hệ lụy khó lường cần phải được thẳng thắn nhìn nhận. Cái “giá” ở đây chính là mất rừng, mất đất rừng và tình trạng nhà tự phát mọc nhan nhản trên đất rừng không thể kiểm soát hết. Việc “làm trọc rừng xanh”, tiếp đến lấn chiếm đất rừng rồi xây dựng không phép ở phường Long Bình để lại hậu quả không dễ giải quyết. Làm thế nào để khắc phục, nhanh chóng trả lại toàn bộ diện tích đất rừng khi có hàng trăm nhà ở, xưởng sản xuất xây kiên cố trên đó? (Báo Đồng Nai 29/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Chính phủ, chỉ một số ít chủ đầu tư thủy điện thực hiện việc trồng, hoàn trả lại rừng. Hầu hết đều muốn nộp tiền vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng thay cho việc trồng lại rừng.
Từ năm 2006 đến nay, có hơn 50.000 ha đất rừng các loại được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng thủy điện nhưng chủ đầu tư trồng bù lại chỉ ngót nghét 1.000 ha.
Cụ thể, từ cuối năm 2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) từng báo cáo Thủ tướng về việc chuyển đổi rừng để thực hiện các dự án thủy điện giai đoạn 2006-2012.
Theo đó, trong 6 năm, có hơn 20.000 rừng bị chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng 160 dự án thủy điện. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng bù lại chỉ được 735 ha, bằng 3,7% diện tích rừng đã bị mất.
Thực tế, theo rà soát mới đây của Bộ Công Thương, tỉ lệ diện tích rừng trồng bù còn thấp hơn rất nhiều. Từ khi thực hiện Nghị định 23/2006/NĐ-CP khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải đảm bảo việc đầu tư trồng rừng mới thay thế nhưng, đến nay có đến 50.930 ha rừng các loại đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng cho các dự án thủy điện.
Trong khi đó, rất ít chủ đầu tư thủy điện có phương án trồng rừng thay thế. Hậu quả, diện tích rừng trồng thay thế chỉ được hơn 1.000 ha, bằng 2% diện tích rừng đã chuyển đổi.
Kết quả rà soát tính đến tháng 9 năm 2013 (có đầy đủ các địa phương có dự án thủy điện) cho thấy đã loại khỏi quy hoạch 6 dự án thủy điện bậc thang và 418 dự án thủy điện nhỏ do tác động tiêu cực lớn đối với môi trường xã hội.
Đồng thời, không xem xét quy hoạch 172 vị trí tiềm năng thủy điện; Tạm dừng đối với 4 dự án thủy điện bậc thang và 132 dự án thủy điện nhỏ.
Cả nước hiện còn lại 815 dự án thủy điện. Trong đó, đã vận hành phát điện 268 dự án, đang thi công xây dựng 205 dự án, dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017.
Hiện nay, việc trồng hoàn trả rừng của các dự án thủy điện ở hầu hết các địa phương đều gặp khó khăn, việc thực hiện còn lúng túng giữa trách nhiệm, nghĩa vụ của địa phương và chủ đầu tư dự án trong bố trí đất trồng rừng, loại cây trồng, chế độ chăm sóc, bảo vệ, đơn giá trồng rừng....
Chỉ một số ít địa phương hoặc dự án thủy điện đã và đang thực hiện trồng hoặc lập phương án trồng rừng. (Đất Việt 28/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Cảnh sát bang New South Wales (Úc) vừa bắt hai thanh niên 16 tuổi sau khi phát hiện thấy một quả bom tự chế ở khu vực đang có cháy rừng của bang này.
ABC News cho biết, cảnh sát khu vực kể trên đã phát hiện được quả bom tự chế của hai thanh niên này vào hồi 13h ngày 27/10. Vào thời điểm đó, hai thanh niên này đã lắp đặt xong các thiết bị gây nổ và ném quả bom vào một khu đất.
Hiện, vụ việc đang được cơ quan chức năng tiếp tục điều tra.
Trong lúc này, đám cháy rừng ở bang New South Wales, Úc vẫn đang tiếp tục lan rộng. Mặc dù lực lượng cứu hỏa làm việc rất nỗ lực nhưng do gió lớn nên việc kiểm soát đám cháy gặp nhiều khó khăn.
Theo báo cáo, trong hai tuần qua, có khoảng 60 vụ cháy rừng đã xảy ra trên diện rộng ở bang New South Wales và thiêu rụi 200 ngôi nhà. (Tuổi Trẻ 28/10; Tiền Phong 29/10) đầu trang(
Những đàn cá sư tử có độc, xâm nhập vùng biển Đại Tây Dương với mật độ dày đặc, khiến các nhà khoa học lo ngại sẽ gây tác động xấu cho môi trường biển.
"Sự xuất hiện của cá sư tử với số lượng lớn và mật độ dày đặc có thể là thảm họa môi trường tồi tệ nhất mà biển Đại Tây Dương phải đối mặt", CNN dẫn lời Graham Maddocks, chủ tịch và là người sáng lập Tổ chức Hỗ trợ Đại dương, cho biết.
Cá sư tử là loài sinh vật biển sống ở vùng biển nhiệt đới nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, có độc, sinh sản nhanh và không bị động vật săn mồi nào tấn công. Với khả năng ăn hung hăng bất kỳ thứ gì, cá sư tử có thể phá hủy đến 90 % một rạn san hô.
Loài cá này có thể đẻ khoảng từ 30.000 - 40.000 trứng trong một vài ngày, một con cá phát triển khả năng sinh sản khi được khoảng một tuổi.
Nhà sinh thái học James Morris thuộc Trung tâm Khoa học Đại dương Quốc gia cho biết cá sư tử có thể tạo ra một sự thay đổi lớn với sự đa dạng sinh học của Đại Tây Dương bởi loài cá này được đánh giá là những "kẻ săn mồi" cấp cao có số lượng đông đảo nhất ở một số rạn san hô thuộc Đại Tây Dương.
Cũng theo Maddocks, để bắt được cá sư tử một cách ăn toàn và hiệu quả, các nhà sinh vật học cần kiểm soát được hành vi của chúng và sử dụng hệ thống định vị GPS với công nghệ cao nhất để phục vụ cho các máy quay camera và con người có thể sóng sót khi đi xuống độ sâu đại dương mà loài cá này sinh sống.
Người dân sống quanh khu vực biển tham gia vào nỗ lực bắt cá sư tử bằng cách tổ chức các cuộc thi câu cá để bắt được cá sư tử nhiều nhất có thể. Tuy nhiên biện pháp này vẫn chưa chắc có thể ngăn chặn triệt để được số lượng cá sư tử hay không. (Vnexpress.net 28/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||