Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 28 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH THUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Để người dân hiểu được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc chi trả DVMTR, Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo đã tích cực phối hợp với các ban, ngành liên quan, như: phòng NN&PTNT, phòng TN&MT huyện; Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên và chính quyền các địa phương có rừng nằm trong khu vực được chi trả thường xuyên tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách chi trả DVMTR đến người dân.
Song khó khăn trong công tác chi trả lại xuất phát từ công tác giao đất, giao rừng vì hiện nay huyện mới đang tập trung triển khai rà soát, đo đạc trên thực địa. Địa bàn các xã có diện tích rà soát manh mún, giao thông khó khăn, mất nhiều thời gian và công sức trong quá trình triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, huyện còn thiếu nhân lực và trang thiết bị, phương tiện rà soát, phân loại rừng. Chủ rừng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa đủ điều kiện để nhận tiền DVMTR.
Hiện huyện Tuần Giáo đã và đang tích cực phối hợp với các đơn vị tư vấn, cơ quan chức năng triển khai rà soát rừng thuộc lưu vực sông Đà với đối tượng chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản.
Theo đó, 12 xã, bao gồm: Ta Ma, Phình Sáng, Rạng Đông, Pú Nhung, Tỏa Tình, Quài Nưa, Mùn Chung, Nà Tòng, Mường Mùn, Pú Si, Mường Thín và Mường Khong thuộc lưu vực sông Đà được thụ hưởng chính sách chi trả DVMTR, với tổng diện tích 28.354ha. Với việc đẩy nhanh tiến độ giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân trong thời gian tới, việc chi trả DVMTR chắc chắn sẽ thuận lợi hơn.
Ông Vừ Sái Sùng, Chủ tịch UBND xã Pú Nhung cho biết: Qua rà soát trên thực địa của đơn vị tư vấn, xã có hơn 1.000ha rừng thuộc lưu vực sông Đà được chi trả DVMTR. Tuy nhiên, đến nay bà con vẫn chưa được nhận tiền chi trả dịch vụ đó. Bà con đều mong muốn, các ban, ngành chức năng đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hồ sơ cấp đất, giao đất, giao rừng để người dân thực sự trở thành chủ rừng, yên tâm phát triển kinh tế lâm nghiệp cũng như khoanh nuôi, bảo vệ rừng.
Dù chưa được chi trả DVMTR, chính quyền địa phương vẫn động viên người dân tích cực khoanh vùng các khu vực dễ xảy ra cháy rừng để có phương án phòng cháy chữa cháy hiệu quả; xã phối hợp với cán bộ kiểm lâm tăng cường kiểm tra, kiểm soát lâm sản và phát hiện, ngăn chặn kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm, phát, đốt rừng, khai thác, mua bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản trái phép. Nhờ đó, thời gian qua, xã Pú Nhung không để xảy ra cháy rừng cũng như các hành vi xâm hại, phá rừng, lấn chiếm rừng, khai thác rừng trái phép. (Báo Điện Biên 26/10) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đăk Nông đã tổ chức tập huấn kiến thức về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 400 lượt cán bộ và nhân dân tham gia giữ rừng ở các huyện Krông Nô, Ðắk Glong, Ðắk R’lấp.
Ngoài ra, cùng với việc tổ chức treo băng rôn, áp phích, dựng 16 bảng tuyên truyền cố định và truyền thanh lưu động, Quỹ cũng đã cấp phát 2.000 cuốn sổ tay tuyên truyền liên quan đến chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng dân cư. (Báo Đăk Nông 26/10) đầu trang(
Theo các chuyên gia thì việc mất rừng và suy thoái rừng là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu. Do đó, việc triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) sẽ góp phần quan trọng vào việc giảm thiểu tác hại của hiện tượng biến đổi khí hậu.
Theo Trung tâm khí tượng – thủy văn tỉnh Đăk Nông, so với thập niên 1979 -1988, nhiệt độ không khí trung bình thập niên 1999 - 2008 cao hơn rõ rệt, nhất là vào các tháng mùa đông và trên độ cao từ 100m- 800 m, phổ biến cao hơn từ 0,50C - 0,80C. Nhiệt độ trung bình các tháng mùa đông cao hơn hẳn so với các thời kỳ khác, tiêu biểu là tháng 1, phổ biến cao hơn từ 0,80C-1,500C…
Ðiều này khẳng định sự gia tăng của nhiệt độ xảy ra ở tất cả các vùng và nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè rõ rệt. Trong các năm 2009 - 2010, nhiệt độ càng cao hơn các năm trước, nắng nóng kéo dài làm khô hạn rất nhiều nơi trên khu vực Tây Nguyên nói chung và Ðắk Nông nói riêng.
Ðơn cử, vào cuối tháng 8/2009, đúng vào tháng có nhiều mưa nhất ở những năm trước, nhưng ở các huyện Ðắk Mil, Chư Jút, Krông Nô… nắng nóng diễn ra rất gay gắt, khiến hàng trăm hécta cây trồng vụ mùa đã bị thiệt hại nặng.
Mặt khác, biến đổi khí hậu đã khiến cho thời tiết trên địa bàn tỉnh thay đổi khó lường và khắc nghiệt hơn. Chẳng hạn như mùa khô thì hạn hán, thiếu nước; mùa mưa lượng mưa nhiều gây lũ quét và lũ về nhiều hơn, với cường độ lớn hơn…
Theo Quyết định 799, ngày 27/6/2012 của Thủ tướng phê duyệt Chương trình hành động Quốc gia về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng, suy thoái rừng, quản lý bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn và nâng cao trữ lượng các bon rừng giai đoạn 2011 – 2020” (Chương trình REDD+) thì việc lồng ghép các chương trình có liên quan như: Chương trình mục tiêu Quốc gia về biến đổi khí hậu, Chính sách chi trả DVMTR… là rất cần thiết.
Quyết định 799 cũng nêu rõ, Quỹ REDD+ là một Quỹ ủy thác trực thuộc Quỹ Bảo vệ – phát triển rừng ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, được thành lập theo quy định tại Nghị định 05/2008/NÐ-CP, ngày 14/01/2008 để tiếp nhận và quản lý các khoản tài chính từ các nguồn tài trợ, ủy thác của các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài cho REDD+ và thực hiện nhiệm vụ chi trả dịch vụ cho REDD+…
Theo các chuyên gia thì khác với một số nước, ở Việt Nam, REDD+ được xem như là một nguồn thu nhập tiềm năng, có thể đóng góp cho cả chương trình chi trả DVMTR. Ðó chính là cơ chế phối hợp của chính sách chi trả DVMTR với các chương trình mục tiêu khác.
Còn theo Nghị định 99/2010/NÐ-CP, vai trò của chính sách DVMTR đối với việc hạn chế tác hại của biến đổi khí hậu là việc cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường rừng để đáp ứng các nhu cầu xã hội và đời sống nhân dân.
Bao gồm: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối; điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội; hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính bằng các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng, giảm diện tích rừng và phát triển rừng bền vững; bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch; dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản.
Thực tế, thời gian qua, thực hiện chính sách chi trả DVMTR, Quỹ Bảo vệ – phát triển rừng tỉnh đã tổ chức chi tạm ứng tiền cho các “chủ rừng”, với số kinh phí lên đến hơn 88,7 tỷ đồng. Từ số tiền này, phần nào giúp các hộ dân sinh sống gần rừng có thêm thu nhập, cải thiện mức sống và tiến tới xóa đói, giảm nghèo. (Báo Đăk Nông 25/10) đầu trang(
Ðể triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), thời gian qua, Quỹ Bảo vệ-phát triển rừng tỉnh đã phối hợp với đơn vị chuyên môn tổ chức điều tra, phân loại, thống kê hiện trạng rừng và các đối tượng tham gia chính sách chi trả DVMTR.
Qua đó, Quỹ đã xác định được đối tượng sử dụng DVMTR và đối tượng được chi trả DVMTR, cũng như ranh giới diện tích rừng, tình trạng rừng, nguồn gốc hình thành rừng chi tiết đến từng lô thửa, từng đơn vị, hộ nhận khoán bảo vệ rừng. Ðây là cơ sở để Quỹ tính toán giá trị chi trả trên địa bàn các huyện, đảm bảo sự công bằng cho các “chủ rừng” khi tham gia cung ứng DVMTR trong từng lưu vực.
Ðơn cử, trên địa bàn hai huyện Ðắk Glong và Krông Nô hiện có diện tích rừng khá lớn và có nhiều nhà máy thủy điện được xây dựng. Trong đó, tại huyện Ðắk Glong, diện tích đất rừng tự nhiên là trên 100.000 ha, đất rừng trồng 8.413 ha.
Còn tại Krông Nô, diện tích đất có rừng tự nhiên là 27.000 ha, đất rừng trồng 4.456 ha. Với tiềm năng đất rừng đó, trong những năm qua, ngoài các đơn vị được Nhà nước giao đất, giao rừng, cho thuê đất, thuê rừng để quản lý, bảo vệ thì chính quyền các địa phương cũng đã tiến hành các thủ tục giao khoán bảo vệ cho cá nhân, cộng đồng thôn, bon, buôn với diện tích khá lớn.
Còn trong lưu vực của 4 nhà máy thủy điện gồm: Thủy điện Buôn Tua Srah, Thủy điện Ðắk N’teng, Thủy điện Ðồng Nai 3 và Thủy điện Ðồng Nai 4 cũng có đến 41 tổ chức, đơn vị “chủ rừng” tham gia cung ứng DVMTR. Với tiềm năng về môi trường rừng và các hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến môi trường rừng như vậy, có thể nói, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR trên địa bàn tỉnh là cần thiết và mang lại ý nghĩa xã hội, lợi ích kinh tế cao.
Không những vậy, việc thực hiện chính sách này sẽ giúp các “chủ rừng” nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng, góp phần thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Không chỉ có tiềm năng về phát triển lâm nghiệp, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh còn có cảnh quan tự nhiên đẹp, các hệ sinh thái rừng phục vụ cho du lịch và nhiều địa điểm có thể phát triển dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn, con giống tự nhiên phục vụ nuôi trồng thủy sản… Ðây chính là những tiềm năng về môi trường rừng cần được khai thác có hiệu quả thông qua thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR.
Theo Quỹ Bảo vệ-phát triển rừng tỉnh thì hàng năm, đơn vị được ủy thác thu từ các tổ chức, doanh nghiệp có sử dụng DVMTR với số tiền lên đến hàng chục tỷ đồng. Do đó, nếu các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, làm giàu trữ lượng, nâng cao chất lượng rừng và diện tích rừng trồng được mở rộng thì hưởng lợi càng nhiều hơn.
Cuối năm 2012, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch chi tạm ứng tiền DVMTR cho các “chủ rừng” của các khu rừng có cung ứng DVMTR. Ðây là giải pháp nhằm giải quyết một phần khó khăn về kinh tế và tạo điều kiện cho các “chủ rừng” xây dựng kế hoạch, biện pháp thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Đăk Nông 25/10) đầu trang(
Trong khi người dân không còn nhiều mặn mà với nghề rừng thì Nghị định 99/2009 của Chính phủ về thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ra đời. Đây là chính sách ưu đãi đối với người trồng rừng nhằm góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, để bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái ngày một tốt hơn.
Theo ghi nhận tại một buổi tiến hành chi trả dịch vụ môi trường rừng cho người dân xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh. Chính từ chính sách mới này đã thể hiện sự quan tâm đến người dân vùng núi. Qua đây nhằm góp phần cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân để bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái ngày một tốt hơn, đảm bảo cho hoạt động của các nhà máy thủy điện ổn định lâu dài…
Ông Hạng Sáy Dua - Chủ tịch UBND xã Huổi Lèng, huyện Mường Chà cho biết: "Xã Huổi Lèng đã thành lập các tổ, đội ở các bản để làm tốt công tác phòng chống chữa cháy rừng, đặc biệt xã có 2 bản được dự án lâm nghiệp cộng đồng triển đầu tư vào. Từ đó, đã có quỹ để chi trả cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng. Chúng tôi so sánh giữa bản chưa được dự án lâm nghiệp cộng đồng đầu tư vào và bản được dự án đầu tư thì thấy hiệu quả hơn, đồng thời người dân còn được chi trả dịch vụ rừng nên họ đã có ý thức, trách nhiệm về việc bảo vệ rừng cao hơn và tốt hơn."
Đối với khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé được thành lập năm 1986, với diện tích 182.000 ha, nằm trên địa phận tỉnh Lai Châu nay là tỉnh Điện Biên, với mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái rừng đặc trưng cho vùng núi cao Tây Bắc. Tổng diện tích của khu bảo tồn là gần 45.600 ha vùng lõi, nằm trên địa bàn 5 xã biên giới của huyện Mường Nhé, cùng với sự cư trú của một số dân tộc như: Hà Nhì, Thái, Mông, Si La, Cống...
Trong đó, diện tích rừng tự nhiên trên 28.700 ha với độ che phủ 63%. Ở đây có rất nhiều cánh rừng nguyên sinh như: Rừng thường xanh trên đất thấp, rừng thường xanh núi thấp, rừng thường xanh trên núi cao và rừng tre nứa đang được bảo tồn nguyên vẹn. Những năm qua, tình trạng dân di cư tự do ồ ạt vào địa bàn đã gây tác động không nhỏ đến hệ thực vật rừng.
Theo ông Trần Xuân Tâm - Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé cho biết: "Mặc dù chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mới được triển khai bước đầu song về cơ bản đã có sự chuyển biến tích cực hơn so với trước đây.
Để làm được điều này, đơn vị đã tổ chức tuyên truyền trên địa bàn 5 xã vùng đệm với 24 cộng đồng thôn, bản bằng các buổi họp dân của cán bộ kiểm lâm địa bàn và những cán bộ kỹ thuật. Với diện tích 31.211 ha, đơn vị đã ký được 34 hợp đồng cho 34 cộng đồng để triển khai với diện tích trên 18.000 ha. 9 tháng qua, diện tích giao cho cộng đồng quản lý, bảo vệ tốt; qua hợp đồng thấy có sự ràng buộc hơn, tần suất tuần tra, kiểm tra được thường xuyên hơn, đã có sự chuyển biến".
Tuy nhiên, cũng theo ông Trần Xuân Tâm thì chính từ việc nhận thức của người dân còn hạn chế nên vẫn còn có những khó khăn, vô hình chung đang tạo ra rào cản. Thêm vào đó, diện tích khu bảo tồn rộng, phân bố ở 5 xã; người dân coi đây là việc mà họ đương nhiên được hưởng mà không cần phải bảo vệ.
Từ đó, Ban quản lý khu bảo tồn đã tập trung tuyên truyền các chính sách về bảo vệ rừng đến người dân và những nhóm giao khoán bảo vệ. Hàng tháng, Ban quản lý đã tổ chức giao ban nhóm trưởng nhằm phát hiện khó khăn trong quá trình triển khai để bàn giải pháp tháo gỡ, đồng thời nâng cao ý thức cho người dân khi nhận khoán bảo vệ rừng.
Phải khẳng định rằng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa rừng; huy động nguồn lực xã hội, đặc biệt của các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng vào việc bảo vệ và phát triển rừng gắn với công tác xóa đói giảm nghèo, nhất là đối với đồng bào dân tộc, đồng bào nghèo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi như tỉnh Điện Biên.
Tính đến thời điểm hiện nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Điện Biên đã ký được 4 hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng với các nhà máy thủy điện, công ty cấp nước, trong đó có 3 hợp đồng với các nhà máy thủy điện và nhà máy nước. Đó chính là cơ sở quan trọng cho việc triển khai đôn đốc thu nộp và thực hiện chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đến các chủ rừng.
Theo đó, từ đầu năm đến nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng đã thu được 100 tỷ đồng từ quỹ Trung ương và 500 triệu đồng từ các hợp đồng ủy thác nội tỉnh. Mặt khác, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang tạo sự chuyển biến mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội.
Chính sách này còn góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người làm nghề rừng. Đặc biệt, các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán bảo vệ rừng ngoài thu nhập từ các giá trị trực tiếp của rừng còn được hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng. (Đài PT - TH Điện Biên 26/10) đầu trang(
Vừa qua, UBND tỉnh Đăk Nông đã ban hành Quyết định số 1578 quy định chi tiết giá rừng trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở để ngành chức năng căn cứ, dễ xử lý các vụ vi phạm lâm luật hơn và hạn chế được việc… “huề cả làng”.
Theo Quyết định 1578, việc áp dụng giá rừng bình quân trên địa bàn tỉnh để tính tiền sử dụng rừng khi Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, giá trị quyền sử dụng rừng, sở hữu rừng trồng; tính tiền thuê rừng khi Nhà nước cho thuê rừng không thông qua đấu giá quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng; tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng; tính giá trị góp vốn; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm lâm luật, gây thiệt hại cho Nhà nước.
Về chi tiết, đối với giá bình quân từng loại rừng (giá trị lâm sản và giá trị môi trường) thì quy định nêu rõ theo rừng đặc dụng, phòng hộ, sản xuất ở từng địa phương. Ví dụ, áp dụng cho một ha rừng khộp, tại huyện Chư Jút (thuộc loại rừng đặc dụng) có trữ lượng 400 m3 gỗ trở lên thì trị giá hơn 1,76 tỷ đồng; còn loại rừng sản xuất có giá trị, chất lượng như trên, giá hơn 1,17 tỷ đồng/ha.
Ngoài diện tích rừng giàu, đối với loại rừng sản xuất, ở trạng thái rừng thường xanh nghèo trữ lượng (dưới 100 m3 gỗ/ha) thuộc địa bàn huyện Ðắk Glong được định giá 53,3 triệu đồng, nhưng với trữ lượng rừng giàu (400 m3 gỗ/ha trở lên) có giá trị hơn 700 triệu đồng/ha.
Quyết định còn quy định, giá quyền sử dụng rừng tự nhiên của từng trạng thái rừng; giá cho thuê rừng tự nhiên của các loại rừng, theo từng trạng thái rừng; giá trị lâm sản bình quân từng loại rừng. Ðối với rừng trồng cũng được quy định giá để tính giá trị quyền sở hữu, giá trị góp vốn, giá trị bồi thường.
Cụ thể, một ha cây keo, có mật độ 2.200 cây, trồng năm đầu trị giá 28,3 triệu đồng và từ năm thứ 4 đến năm thứ 7, giá 62,6 triệu đồng. Cao nhất ở nhóm rừng trồng là cây thông, mật độ 2.500 cây/ha, trồng từ năm thứ 6 đến năm thứ 10, có giá gần 120 triệu đồng.
Nói về việc đưa Quyết định 1578 vào triển khai, ông Hà Công Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: “Ngay sau khi tỉnh ban hành giá rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn bắt đầu xử phạt một số “chủ rừng” để mất rừng. Như trường hợp ở Công ty Cổ phần sản xuất, chế biến nông sản Việt mới để mất rừng thì cũng đã được xác minh giá rừng để áp dụng xử phạt theo Quyết định 1578. Liên quan đến vấn đề này, trường hợp ở các Công ty Khải Vy, Công ty Công Long cũng đang được đề xuất áp dụng đền bù theo giá rừng tỉnh quy định vì để mất rừng”.
Cũng theo ông Tài, khi có giá rừng, trách nhiệm giữ rừng đối với các “chủ rừng” sẽ phải cao hơn trước. Mặt khác, quy định cũng sẽ góp phần hạn chế được các đối tượng xâm hại tài nguyên rừng... Vì ngoài phạt hành chính, hình sự trong vi phạm lâm luật thì từ “chủ rừng” đến người vi phạm sẽ bị áp dụng khung phạt tài chính, có thể ở mức cao.
Trước mắt, Quyết định 1578 mới áp dụng đối với những trường hợp vi phạm lâm luật xảy ra từ ngày 4/10 trở đi. Còn những diện tích rừng bị mất vào thời gian trước, theo Quyết định 1578 thì đang được các cơ quan chuyên môn xem xét, đề xuất phương án xử lý sau.
Nếu như nhìn về thời gian trước, nhiều “chủ rừng” được Nhà nước giao trách nhiệm quản lý rừng và để mất với diện tích lớn, nhưng chưa ai phải đền tiền cả. Ngay như vào năm 2011, ngành Nông nghiệp đề xuất cả chục dự án nông, lâm nghiệp để mất rừng phải đền tiền thì cũng không thực hiện được vì chưa có giá rừng.
Như vậy, đến nay, những quy định liên quan đến việc xử lý vi phạm quản lý, bảo vệ rừng đã được tỉnh ban hành rất rõ ràng và cụ thể. Ðiều quan trọng là cơ quan chức năng cần phải quyết tâm vào cuộc để xem xét, xử lý “chủ rừng”, người dân có thực hiện đúng quy định trong quản lý, bảo vệ rừng hay không. (Báo Đăk Nông 25/10) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Tỉnh Lào Cai và Lai Châu có 7 huyện giáp ranh là: Bát Xát, Sa Pa, Văn Bàn (Lào Cai) và Sin Hồ, Phong Thổ, Than Uyên, Tân Uyên (Lai Châu) với diện tích hàng vạn ha rừng và đất rừng. Hầu hết diện tích này là thuộc loại rừng phòng hộ, dễ bị xâm hại và tiềm ẩn nguy cơ cháy cao khi mùa khô đến.
Thực tế, các năm 2008, 2010, tại khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên, "giặc lửa" đã từng tấn công làm thiệt hại hàng ngàn ha rừng. Trước khi bước vào mùa khô năm nay, trong các ngày từ 22 đến 24/10, lực lượng chức năng hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu đã khảo sát và thống nhất phương án quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong mùa khô 2013 - 2014.
Từ đầu năm đến nay, ngành chức năng 2 tỉnh đã kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ xử lý hàng trăm vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Riêng tại Lào Cai xảy ra 210 vụ tịch thu gần 150 m3 gỗ các loại, trên 16 kg động vật hoang dã, 7 xe mô tô và 1 xe ô tô. Số vụ tuy có giảm so với cùng thời điểm năm 2012, nhưng tính chất phức tạp lại gia tăng và tinh vi hơn. Theo ông Nguyễn Văn Vui, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lào Cai, số vụ cháy rừng và diện tích rừng bị cháy không đáng kể, nhưng nguy cơ cháy vẫn tiềm ẩn rất cao.
Theo đánh giá của cơ quan chức năng 2 tỉnh, có tới 80% các vụ cháy rừng xảy ra là do người dân đốt nương làm rẫy, bất cẩn để lửa lây lan ngoài tầm kiểm soát. Các hộ dân này hiện vẫn sinh sống xen kẽ và làm nương ngay trong vùng lõi của rừng, nên việc để xảy ra cháy và khai thác gỗ tự nhiên là điều khó tránh khỏi.
Mới đây, tại các địa phương khu vực chân núi Hoàng Liên thuộc huyện Văn Bàn (Lào Cai), Than Uyên, Tân Uyên (Lai Châu) đã xảy ra tình trạng "lâm tặc" khai thác," rút ruột" rừng với khối lượng hàng ngàn mét khối gỗ mặc dù Nhà nước đã có lệnh" đóng cửa rừng" từ lâu.
Trước tình hình cấp bách của công tác bảo vệ rừng, 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu thống nhất phương án rà soát, đánh giá chính xác nguồn gỗ do khai thác trái phép đang tồn trên rừng để chuyển về huyện làm tài sản của Nhà nước rà soát lại quy trình quản lý như đóng dấu búa kiểm lâm, cấp giấy phép vận chuyển gỗ ra khỏi địa bàn, đấu giá tài sản vi phạm, kiên quyết không buông lỏng khâu này để các đối tượng lợi dụng buôn bán gỗ trái phép, "quay vòng" giấy phép nhiều lần.
Tại những địa phương có diện tích rừng bị khai thác trái phép nhiều phải sớm kiểm tra, truy quét, ngăn chặn tình trạng chặt phá, vận chuyển gỗ và các sản phẩm ra khỏi rừng. Các ngành, địa phương lưu ý khi kiểm soát, cấp phép các cơ sở chế biến lâm sản, khu vực xây dựng các nhà máy thủy điện phải quy hoạch trồng rừng, tổ chức trồng rừng, tránh xâm hại vào rừng nguyên sinh và đóng góp đầy đủ phí bảo vệ môi trường rừng.
Toàn tỉnh Lào Cai hiện có 185.915 ha rừng (rừng tự nhiên 149.012 ha rừng trồng 36.903 ha) và 41.058 ha đất trống cần tiếp tục quy hoạch trồng rừng bổ sung.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lào Cai, với đặc thù của tỉnh miền núi, nhận thức của người dân còn thấp, tập quán canh tác còn lạc hậu, việc phát rừng lấy đất canh tác vẫn diễn ra. Diện tích canh tác nương trên đất lâm nghiệp còn tương đối nhiều.
Việc thu hái lâm sản, khai thác rừng lấy lâm sản, đốt than hoa, đốt ong lấy mật, săn bắt chim thú... vẫn diễn ra tại một số địa phương như: Sa Pa, Văn Bàn, Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Yên, Bảo Thắng, càng làm tăng nguy cơ cháy rừng Hiện, lực lượng kiểm lâm Lào Cai đã xây dựng 34 trạm kiểm lâm cụm xã, bố trí 238 cán bộ phụ trách 164 xã, phường, thị trấn.
Các trạm kiểm lâm đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ở cơ sở phối hợp với các cơ quan chức năng hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc khai thác, sử dụng, kinh doanh rừng của các chủ rừng và chính quyền cơ sở, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm trong quản lý, bảo vệ rừng.
Đến nay, lực lượng kiểm lâm Lào Cai đã hướng dẫn cộng đồng dân cư thôn, bản ở các địa phương xây dựng 1.644 bản quy ước bảo vệ rừng, tạo cơ hội cho đồng bào các dân tộc phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần bảo vệ và phát triển nhanh vốn rừng, nâng độ che phủ rừng của tỉnh từ 18,2% năm 1991 lên gần 60% năm 2013.
Ngoài ra, để bảo vệ, phát triển rừng bền vững, có ý kiến cho rằng các địa phương, ngành chức năng cần sớm tính đến phương án khoanh nuôi các khu vực rừng và di dân ra khỏi vùng lõi của rừng những khu vực rừng nguyên sinh, tái sinh, rừng non cần phải được khoanh vùng, cấm triệt để người dân vào khai thác tránh để tình trạng người dân vào sâu trong rừng đốt nương trồng thảo quả như hiện nay, tiềm ẩn nhiều nguy cơ cháy rừng sử dụng những cây khó cháy làm đường băng xanh cản lửa và xây dựng hệ thống bể chứa nước bảo vệ rừng trong vùng lõi Vườn Quốc gia Hoàng Liên. (Tin Tức 27/10) đầu trang(
Ngày 25/10, tỉnh Yên Bái tổ chức diễn tập phòng, chống cháy rừng và tìm kiếm cứu nạn năm 2013 tại huyện Trấn Yên.
Cuộc diễn tập phòng, chống cháy rừng năm 2013 của tỉnh Yên Bái được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn một tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng, bao gồm các nội dung: Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Trấn Yên đánh giá tình hình điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng đảm bảo phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng cho các cơ quan, ban, ngành tham gia buổi diễn tập.
Giai đoạn hai tổ chức diễn tập thực binh chữa cháy rừng tại thôn 4 thuộc xã Minh Quán, huyện Trấn Yên. Với tình huống giả định như sau: Ngày 25/10, Ban Chỉ huy Phòng chống cháy rừng xã Minh Quán nhận được điện của trưởng thôn 4 cho biết tại khu vực đồi keo của ông Bằng ở thôn 4, xã Minh Quán do bất cẩn trong việc thu dọn đốt thảm thực bì để trồng sắn, đã để xảy ra cháy lan vào khu vực đồi bồ đề gần kề. Ngay sau đó, thôn 4 đã tổ chức báo động, huy động lực lượng đến nơi xảy cháy, hình thành hàng rào để phát dọn đường băng cản lửa.
Với phương châm "4 tại chỗ," việc chữa cháy rừng đã được bà con và các lực lượng cơ động của huyện và ứng phó của tỉnh tiến hành khẩn trương, kịp thời ngăn chặn, hạn chế đám cháy, không để xảy ra cháy lớn, cháy lan kéo dài, đồng thời ứng cứu kịp thời làm giảm mức độ thiệt hại về tài nguyên rừng, tính mạng và tài sản của nhân dân.
Huyện Trấn Yên là một trong những địa phương có diện tích rừng lớn ở tỉnh Yên Bái, với gần 48.000ha rừng; trong đó có gần 8.000ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ còn lại là rừng trồng, rừng sản xuất với độ che phủ rừng đạt trên 70 %.... (VietnamPlus.vn 25/10; Pháp Luật VN 26/10; Báo Yên Bái 25/10) đầu trang(
Ngày 24/10, huyện Lục Yên đã tổ chức diễn tập ứng phó cháy rừng – tìm kiếm cứu nạn tại xã Mai Sơn.
Nội dung cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng – tìm kiếm cứu nạn tại xã Mai Sơn được chia thành 2 phần: phần cơ chế tổ chức hội nghị Ban Chỉ huy PCCCR-BVR xã đánh giá tình hình, điều chỉnh bổ sung kế hoạch PCCCR-BVR; giao nhiệm vụ, tổ chức hiệp đồng đảm bảo cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng của các lực lượng, ban ngành, đoàn thể và nhân dân trong xã.
Về phần thực binh, nội dung diễn tập thực hành chữa cháy rừng với tình huống giả định do một số hộ dân ở thôn Sơn Bắc đốt nương, làm cháy lan sang khu vực rừng trồng tại khu vực này. Thực hiện phương châm “4 tại chỗ”, Ban Chỉ huy PCCCR-BVR xã Mai Sơn đã huy động gần 200 cán bộ, chiến sĩ dân quân, công an, kiểm lâm, học sinh và người dân ở khu vực thôn Sơn Bắc tham gia chữa cháy.
Các lực lượng tham gia đã phát huy hiệu quả các phương tiện thô sơ, truyền thống để chữa cháy rừng như vỉ dập lửa, xô thùng, can nước, dao phát, bờ cào...kết hợp phát băng cản lửa, dùng máy cưa chặt cây. Nên chỉ trong thời gian ngắn, các lực lượng tham gia đã khống chế, dập tắt đám cháy không để lan sang các cánh rừng bên cạnh.
Cuộc diễn tập ứng phó cháy rừng – tìm kiếm cứu nạn xã Mai Sơn đã đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và phương tiện và được Ban Chỉ đạo diễn tập huyện đánh giá đạt loại giỏi. (Yenbai.gov.vn 25/10) đầu trang(
Đầu tháng 9 tới nay, lượng mưa trên địa bàn huyện Sa Pa rất thấp. Theo Trung tâm Khí tượng thủy văn, đây là thời gian hạn hán dài nhất trong những năm gần đây. Cùng với đó, thời gian này, đồng bào vùng cao đang làm rẫy nên nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn.
Chỉ tính từ trung tuần tháng 9 tới nay, trên địa bàn huyện Sa Pa đã xảy ra 2 vụ cháy rừng, làm thiệt hại 25 ha rừng. Hiện nay, các xã Sa Pả, Tả Van, Bản Hồ đang ở mức báo động cấp 5 - cấp cực kỳ nguy hiểm… (VOV 27/10) đầu trang(
Thực hiện dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) tại huyện Thanh Chương, trong thời gian qua đã thu lại nhiều hiệu quả thiết thực.
Nhờ sự phát triển bền vững và ổn định của dự án này không chỉ màu xanh của rừng được trải rộng dần mà còn giúp người dân trên địa bàn huyện có được cuộc sống ấm no, ổn định.
Tới thời điểm cuối tháng 8-2013 dự án trồng rừng WB3 tại huyện Thanh Chương đã triển khai đồng bộ 11/13 xã theo quy hoạch. Theo đó, tổng dự án thiết kế hơn 836 ha/ 800 ha, đạt kế hoạch trên 104%. Tổng diện tích trồng rừng trên 450 ha, đạt chỉ tiêu gần 54%.
Theo tiến độ dự án hàng năm cho thấy, diện tích cũng như số hộ dân tham gia trồng rừng theo dự án WB3 tăng mạnh. Lý do là giá gỗ nguyên liệu tăng, nhiều diện tích rừng đến kỳ thu hoạch giải phóng đất để trồng mới.
Đặc biệt, nhờ việc được hỗ trợ vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách nên các hộ dân có điều kiện, mạnh dạn đầu tư hơn trong việc trồng rừng phát triển kinh tế. Điều đáng nói là người dân tham gia dự án đã thu được hiệu quả kinh tế cao và họ thật sự nhận thức được về quyền lợi và trách nhiệm của mình trong công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Để có được những kết quả nói trên, BQL dự án WB3 huyện Thanh Chương đã phải nỗ lực hết mình, vượt qua nhiều khó khăn. Cán bộ dự án không mệt mỏi với việc đi tới từng xã để tuyên truyền về dự án, cũng như hướng dẫn cho người dân kỹ thuật trồng và chăm sóc.
Bên cạnh đó, quyết định lớn tới những kết quả đã đạt được, đó là việc làm tốt công tác kiểm tra, giám sát vườn ươm sản xuất giống các loại để cung cấp cho dự án bảo đảm chất lượng và theo đúng quy định. Theo đó, các cây giống như: PV32; PV73; PV75; keo hạt (được nhập từ Úc), có sức tăng trưởng nhanh, chống chịu được gió bão, cho năng suất cao, hàng năm vườn ươm cung ứng khoảng 2,5 - 3 triệu cây giống.
Ông Hồ Văn Hải – GĐ Ban quản lý rừng phòng hộ Thanh Chương, kiêm PGĐ dự án WB3 tại huyện Thanh Chương cho biết: “Điều đáng mừng đó là dự án được phát triển bền vững, lan tỏa. Mừng hơn đó là hiệu quả dự án mang lại thiết thực, khiến người dân yên tâm, phát huy hết khả năng sản xuất trong đó gồm đất đai và nhân lực. Dự án này vừa tạo lại màu xanh cho rừng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định cho người dân …”. (Pháp Luật&Xã Hội 26/10) đầu trang(
Để bảo vệ diện tích rừng trên địa bàn, ngay từ đầu năm 2013 Hạt Kiểm lâm Cẩm Thủy đã phối hợp với chính quyền địa phương, hội cựu chiến binh (CCB) xã Cẩm Thành thực hiện công tác bảo vệ rừng và thống nhất chọn chi hội CCB thôn Phâng Khánh xây dựng “Mô hình chi hội CCB tham gia bảo vệ rừng lim”.
Mô hình có với 12 thành viên, chia thành 3 tổ luân phiên thường trực, tuần tra, kiểm tra rừng, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi xâm hại đến rừng, đặc biệt vào thời điểm thời tiết nắng nóng, khô hanh; đồng thời, tuyên truyền người dân thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ, phát triển và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Đưa cưa xăng tập trung tại thôn để quản lý, vận động người dân ký cam kết không khai thác rừng trái phép; không sử dụng súng săn vào việc săn, bắn động vật hoang dã... Vì vậy, an ninh rừng được giữ vững. Không có cháy rừng xảy ra. Rừng đã được phục hồi và phát triển cả về diện tích che phủ và giá trị đa dạng sinh học, thảm thực vật. Hiện nay, mô hình này đang được nhân rộng trên địa bàn toàn huyện. (Báo Thanh Hóa 26/10) đầu trang(
Huyện Thuận Nam hiện có hơn 16.000 ha rừng tự nhiên và gần 2.000 ha rừng trồng. Toàn bộ diện tích trên đều là rừng phòng hộ, do đó, công tác bảo vệ rừng luôn được địa phương quan tâm, triển khai nhiều giải pháp, phối hợp giữa các lực lượng, mang lại những kết quả đáng ghi nhận.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Thuận Nam, đơn vị và các chủ rừng đã chủ động phối hợp với các lực lượng công an, quân sự và chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát, tổ chức nhiều đợt truy quét trên địa bàn, vùng giáp ranh, vùng rừng trọng điểm để ngăn chặn tình trạng khai thác, phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.
Trong 9 tháng năm 2013, lực lượng chức năng đã phối hợp tổ chức 87 đợt truy quét, với trên 700 lượt người tham gia; phát hiện 28 vụ vi phạm; tịch thu trên 17m3 gỗ các loại và nhiều tang vật, phương tiện khác, thu nộp ngân sách trên 82 triệu đồng.
Ông Bùi Văn Hảo, Phó Trưởng Ban quan lý Rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Tân Giang cho biết: Công tác phối hợp quản lý, bảo vệ rừng giữa các lực lượng luôn chặt chẽ, có kế hoạch cụ thể. Định kỳ hàng tháng và đột xuất vào các đợt cao điểm, chúng tôi phối hợp với Hạt Kiểm lâm hai huyện Thuận Nam và Ninh Phước tổ chức truy quét dài ngày trong rừng. (Báo Ninh Thuận 27/10) đầu trang(
Giới bảo vệ môi trường và những người quan tâm đến số phận những chú voọc hoang dã cuối cùng ở phía bắc Kon Tum đã bất ngờ trước thông tin một thầy giáo trẻ dạy học ở vùng cao đã tự giải cứu hai chú voọc chà vá chân đen khỏi cái chết dưới tay thợ săn.
Giờ đây, câu chuyện về “thầy giáo cứu voọc” đã trở thành chuyện bình thường ở xã vùng sâu Măng Bút (huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum) và được đưa lồng ghép vào các chương trình ngoại khóa. Thú rừng vẫn còn, thợ săn tiếp tục truy đuổi và những cuộc giải cứu để giành lấy sự sống cho các loài linh trưởng bé nhỏ giữa đại ngàn của thầy Trần Quốc Việt - giáo viên bộ môn hóa sinh Trường THCS xã Măng Bút - cũng vì thế chưa kết thúc.
Thầy giáo Trần Quốc Việt tâm sự mỗi lần cứu được một động vật hoang dã là mỗi lần lại thấy tâm hồn mình thanh thản hơn. “Động vật, đặc biệt là các loài linh trưởng, chẳng khác gì con người, cũng biết lo sợ, biết yêu thương, có trí khôn và biết cảm ơn người. Có hôm hai anh em ôm con voọc thả vào rừng, vừa thả ra là thấy nó chạy bạt mạng, nhưng đi được một lúc nó quay lại nhìn mình bằng ánh mắt rất kỳ lạ hàm chứa sự biết ơn. Đó là ánh mắt ám ảnh nhất đối với mình” - thầy Việt nói. (Tuổi Trẻ 27/10) đầu trang(
Nhằm giúp Sóc Trăng quản lý bền vững diện tích rừng, cũng như đảm bảo sinh kế cho người dân, Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) và UBND tỉnh đã ký thỏa thuận thực hiện dự án "Quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng".
Dự án được thực hiện tại các huyện Trần Đề, Cù Lao Dung, Long Phú và thị xã Vĩnh Châu, với khoảng 70% diện tích rừng ngập mặn. Chính phủ Đức hỗ trợ dự án 2 triệu Euro. Mục tiêu là giúp các nhóm dân cư nghèo tham gia vào quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên rừng một cách bền vững. Sau 7 năm khảo sát, chuẩn bị, dự án đã thành lập được 3 nhóm đồng quản lý rừng ngập mặn với hơn 1.000 hộ dân tham gia.
Trong quá trình triển khai dự án, phía Đức sẽ hỗ trợ Sóc Trăng nghiên cứu phục hồi diện tích rừng ngập mặn bị tổn hại do người dân khai thác trước đây. Ngoài ra, tổ chức GTZ cũng sẽ phối hợp với UBND tỉnh Sóc Trăng khảo sát, đánh giá lại tiềm năng khoáng sản, đa dạng sinh học trong các đai rừng ngập mặn để có phương hướng khai thác hiệu quả.
Việc khảo sát, nghiên cứu phân bố lại dân cư tại các vùng đệm, bìa rừng cũng là một hợp phần của dự án. Đối với người dân khi tham gia dự án, sẽ được hỗ trợ đào tạo nghề, phương tiện khai thác thủy sản. Đến nay, tổ chức GTZ đào tạo nghề đan lưới cho hơn 5.000 thành viên, hỗ trợ ngư cụ đánh bắt thủy sản cho hàng trăm hộ dân.
Theo Sở NN & PTNT Sóc Trăng, từ khi giao rừng cho các nhóm đồng quản lý đến nay, hiện tượng xâm hại, khai thác rừng trái phép đã không còn. Nguồn lợi thủy sản dưới tán rừng cũng được bảo vệ khá tốt. Thời gian tới địa phương sẽ nhân rộng nhóm đồng quản lý và dần chuyển toàn bộ diện tích rừng ngập mặn cho cộng đồng quản lý.
Theo Bộ NN&PTNT, diện tích rừng ngập mặn Việt Nam hiện nay chỉ còn khoảng 156.000ha, giảm 50% trong 60 năm qua. Đó là một trong những nguyên nhân khiến thiên tai tại Việt Nam ngày càng nặng nề, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống người dân. Do đó, hiệu quả bước đầu của dự án “Quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng ven biển tỉnh Sóc Trăng" là điểm sáng, cần được nhân rộng trong việc bảo vệ rừng ngập mặn trước thách thức của biến đổi khí hậu tại Việt Nam. (VTV Cần Thơ 25/10) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng đang là hướng đi được đánh giá là bền vững để bảo vệ tài nguyên rừng. Tuy nhiên, cho đến nay, mô hình này vẫn chưa phát huy hiệu quả do thiếu hệ thống chính sách, khung pháp lý phù hợp, thậm chí nó chỉ được đề cập đến một cách sơ sài ở trong một vài quyết định, văn bản có liên quan.
Theo kết quả điều tra của Viện Chiến lược và Chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn (Ipsard), cả nước hiện có khoảng 10.006 cộng đồng dân cư thôn tham gia quản lý, bảo vệ rừng, chủ yếu là cộng đồng các dân tộc ít người.
Tổng diện tích rừng cộng đồng đang quản lý và sử dụng khoảng 2,7 triệu hecta, trong đó 68,6% là đất có rừng, 31,4% là đất trống đồi trọc. Cộng đồng quản lý rừng tự nhiên là chính (chiếm 96%), rừng trồng chỉ chiếm 4% và chủ yếu do cộng đồng trồng bổ sung trên diện tích đất trống đồi trọc thông qua các chương trình, dự án.
Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Phó viện trưởng Ipsard nhận định, bảo vệ và quản lý rừng ở nước ta vẫn chưa tìm thấy mô hình nào tối ưu nhất. Các lâm trường, các ban quản lý rừng không đủ nhân lực để quản lý bảo vệ rừng. Sau nhiều năm chuyển hầu hết đất lâm nghiệp cho các lâm trường quản lý, những năm gần đây nước ta đã quay trở lại phương thức đồng quản lý rừng giữa Nhà nước và các cộng đồng thôn bản.
Thạc sỹ Vũ Duy Hưng, Viện Ipsard cho biết, qua khảo sát các mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng ở 5 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Đắk Nông và Đắk Lắk thấy, có sự khác nhau trong hiệu quả quản lý giữa các cộng đồng ở từng địa phương.
Tại Tây Nguyên, mặc dù được quản lý tốt hơn trước khi giao cho cộng đồng nhưng rừng vẫn tiếp tục bị “chảy máu”. Sau khi giao rừng cho cộng đồng quản lý từ 8 – 10 năm, rừng tiếp tục bị phá từ 40 – 90%, bị lấn chiếm từ 5 – 80%, chất lượng rừng bị suy thoái nghiêm trọng.
Thậm chí, khảo sát tại buôn Treng, xã Ea H’Leo (Ea H’Leo – Đắk Lắk), toàn bộ 1.190ha rừng được giao hầu như đã bị phá sạch để trồng cây công nghiệp và phần lớn bị người dân địa phương khác lấn chiếm. Một mô hình được đánh giá tương đối tốt là rừng cộng đồng buôn Ta Ly, xã Ea Sol (huyện Ea H’Leo) nhưng trên thực tế cũng có khoảng 40 – 50% diện tích rừng bị phá để làm nương rẫy và trồng cây công nghiệp.
Trong khi đó, tại Tây Bắc, mô hình rừng cộng đồng lại được quản lý khá hiệu quả do có các lực lượng chuyên trách, xây dựng được quy ước quản lý, bảo vệ rừng rất cụ thể, các hoạt động quản lý bảo vệ rừng đã trở thành nề nếp.
Đơn cử như ở khu 9, thị trấn Than Uyên (Than Uyên – Lai Châu), cộng đồng quy định các hộ làm nhà mới chỉ được sử dụng từ 1 – 3 cây gỗ có đường kính trên 30cm dưới sự giám sát của cộng đồng; được sử dụng gỗ rừng trồng để phục vụ thủy lợi; mỗi năm chỉ được phép vào rừng lấy củi 1 lần vào dịp cuối năm trong vòng 1 – 3 ngày; không được lấy măng, chỉ được lấy rau, lá thuốc nhưng phải báo cho tổ bảo vệ thì tại Bon Ja Rá, xã Nghĩa Thắng (Đắk R’Lấp – Đắk Nông), khi rừng còn gỗ người dân được tự do khai thác mà không phải chịu quy định nào, được tự do lấy củi với số lượng không hạn chế.
Có lẽ vì vậy mà từ khi được giao cho cộng đồng quản lý đến nay (năm 2008), ở Bon Ja Rá, người dân không trồng thêm được một hecta rừng nào, thậm chí còn bị phá đến 80%, chất lượng rừng rất kém, không còn cây có đường kính trên 30cm, độ che phủ chỉ còn 30 – 32%. Trong khi đó ở xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên (Điện Biên), từ khi được giao năm 1994 đã trồng được hàng chục hecta, rừng được bảo vệ nghiêm ngặt, chất lượng rừng đạt trên trung bình, đường kính cây to trên 40cm, độ che phủ đạt 100%.
Từ thực tế này, ông Hưng đưa ra nhận xét: Ở mỗi vùng miền, mô hình quản lý rừng cộng đồng cần có những thay đổi sao cho phù hợp với phong tục tập quán, điều kiện sống và trình độ của người dân. Còn theo ông Nguyễn Nghĩa Biên, Viện trưởng Viện Điều tra và Quy hoạch rừng (FIPI), có sự khác nhau giữa các địa phương thể hiện sự cứng nhắc trong xây dựng mô hình, có thể phù hợp với địa phương này nhưng không phù hợp với địa phương khác, mô hình của miền Bắc không thể áp dụng cho miền Nam và ngược lại.
Có một lý do khiến mô hình quản lý rừng cộng đồng chưa phát huy hiệu quả là tác động của mô hình đến thu nhập của hộ gia đình còn yếu và không ổn định. Trong số 9 mô hình được Ipsard khảo sát, chỉ có 4 mô hình tại Tây Nguyên là có thu nhập từ khai thác gỗ thương mại, với mức thu nhập từ rừng cộng đồng (gỗ và lâm sản ngoài gỗ) chiếm bình quân 7% thu nhập của hộ.
Lợi ích kinh tế trực tiếp do lâm nghiệp cộng đồng quy ra tiền cho mỗi hộ chỉ trên dưới 1 triệu đồng/năm. Do vậy, chưa tạo động lực khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý rừng, họ sẵn sàng phá rừng để trồng các loại cây khác có lợi nhuận cao hơn. Điều này thể hiện rất rõ ở vùng Tây Nguyên khi mấy năm gần đây, cà phê, cao su, hồ tiêu được giá đã làm tăng áp lực lên những khu rừng.
Ngoài ra, theo ông Biên, việc Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý chủ yếu là rừng nghèo, ở xa khu dân cư, còn rừng tốt do các ban quản lý, doanh nghiệp nắm giữ đã không khuyến khích được người dân tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Ở một khía cạnh khác, theo ông Biên, mô hình lâm nghiệp cộng đồng là một trong những hướng quản lý và bảo vệ rừng một cách bền vững, lại đảm bảo sinh kế bền vững cho hàng chục triệu dân nhưng đáng tiếc là cho đến nay, vẫn chưa có văn bản pháp lý chính thức nào dành cho lâm nghiệp cộng đồng mà chỉ có các điều khoản trong các quyết định, nghị định hay thông tư nên chưa khuyến khích được mô hình này phát triển.
Thậm chí, có những chính sách khó đi vào thực tiễn bởi không phù hợp, xa rời thực tế, khó áp dụng và chưa phù hợp với trình độ của người trồng rừng, vốn chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách chỉ tập trung vào việc quản lý, kiểm soát rừng thay vì hỗ trợ cho người của các cộng đồng tham gia quản lý. Chính điều này đã không khuyến khích được sự tham gia của người dân và cộng đồng.
GS.Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nêu vấn đề: Phương thức giao rừng cho cộng đồng rất hiệu quả trên thế giới, chính vì vậy các tổ chức quốc tế mới khuyến cáo, tư vấn cho Việt Nam triển khai mô hình này. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn về cộng đồng ở Việt Nam và trên thế giới, khiến việc giao rừng kém hiệu quả. Uy tín của người đứng đầu cộng đồng (trưởng bản, già làng) có ý nghĩa quyết định đến tính tự giác của toàn thể cộng đồng trong quản lý và bảo vệ rừng.
“Ở nước ta, thường những người đứng đầu thôn bản nếu được lòng chính quyền xã, thì chưa chắc được lòng người dân. Khái niệm cộng đồng ở Việt Nam cũng rất mơ hồ, chưa được quy định trong các văn bản Luật của nhà nước. Cộng đồng không phải cơ quan chính quyền, không phải là DN, cũng không phải tư nhân, nên không có cả tư cách pháp nhân và thể nhân, vì vậy không thể mở tài khoản ở ngân hàng, cũng không thể cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi chủ thể là thôn bản”, ông Võ nói.
Chính vì vậy, rất nhiều ý kiến tại hội thảo “Một số đề xuất chính sách nâng cao hiệu quả quản lý rừng dựa vào cộng đồng” do Ipsard tổ chức đều cho rằng, cần thiết lập một nền tảng cho kiện toàn chính sách, hệ thống những quy định đối với đất lâm nghiệp cộng đồng tại Việt Nam. Đồng thời, cần thành lập một cơ quan chính thức quản lý toàn bộ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng ở nước ta.
“Các chính sách của nhà nước cần xác lập và thừa nhận quyền quản lý, sử dụng rừng của cộng đồng. Nhà nước phải ban hành quy định cụ thể về khai thác, hưởng lợi rừng cộng đồng, thủ tục hành chính, xử lý vi phạm các hành vi xâm hại rừng cộng đồng và điều chỉnh các quan hệ trong cộng đồng trong lĩnh vực quản lý rừng’, ông Hưng đề xuất.
Từ mô hình thực hiện ở tỉnh Điện Biên trong khuôn khổ dự án Quản lý rừng bền vững vùng đầu nguồn Tây Bắc (SUSFORM – NOW) do Tổ chức JICA (Nhật Bản) hỗ trợ, ông Inoue Yasuyuki, chuyên gia của JICA cho rằng, để triển khai hiệu quả mô hình, bên cạnh việc quản lý, bảo vệ rừng cũng cần tổ chức các hoạt động nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân.
Theo đó, dự án hỗ trợ thành lập các ban quản lý tại thôn xóm để điều phối các hoạt động quản lý rừng và phát triển sinh kế, xây dựng quỹ thôn bản; thành lập đội tuần tra, bảo vệ rừng, kinh phí chi trả lấy từ nguồn quỹ thôn bản và các nhóm sản xuất khác; giao đất giao rừng đến tận thôn bản. Trong dự án này, quỹ thôn bản có vai trò vô cùng quan trọng để điều phối các hoạt động của các nhóm, đội sản xuất, đội tuần tra bảo vệ rừng; nguồn kinh phí của quỹ được lấy từ phí dịch vụ môi trường rừng và nhiều chương trình, dự án khác.
Nhờ mô hình hoạt động này mà trong năm 2012, dự án đã hỗ trợ người dân trồng được 79ha rừng, năm 2013 trồng được 144ha, 80% diện tích là keo. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ người dân phát triển sinh kế thông qua mô hình nuôi lợn, bò, gà, cá; xây dựng hầm biogas; trồng rau, nấm, cây ăn quả, cỏ nuôi bò; sản xuất rượu, làm chổi…
Ông Inoue Yasuyuki cho rằng, mục tiêu chính của dự án là cho người dân một công cụ để vừa có thể giữ vững diện tích rừng vừa đảm bảo sinh kế thay vì cho người dân tiền, đưa họ vào thế bị động. Trong mô hình này, vai trò của già làng, trưởng bản là vô cùng quan trọng.
Trong khi đó, ông Biên đặt một câu hỏi: Tại sao không thành lập một cơ quan chính thức cho lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam? Có như vậy, mô hình này mới phát huy hiệu quả một cách bền vững. (Kinh tế Nông thôn 26/10) đầu trang(
Gần một nửa trong tổng số 1.239 dự án đã được quy hoạch sẽ phải dừng lại do hiệu quả thấp và tác động tiêu cực tới môi trường, theo đề xuất của Chính phủ.
Thông tin này được công bố tại cuộc họp ngày 26/10 của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, thẩm tra báo cáo Chính phủ về rà soát quy hoạch tổng thể thủy điện.
Chính phủ đã đồng ý loại khỏi quy hoạch 6 dự án thủy điện bậc thang và 418 dự án thủy điện nhỏ do hiệu quả thấp và có nhiều tác động tiêu cực đối với môi trường, xã hội; không xem xét quy hoạch 172 vị trí tiềm năng thủy điện; tạm dừng có thời hạn 136 dự án; tiếp tục rà soát, đánh giá 158 dự án.
Như vậy, cả nước hiện còn lại 815 dự án, công trình thủy điện; trong đó đang vận hành 268 dự án, đang thi công xây dựng và dự kiến khai thác từ nay đến năm 2017 là 205 dự án trên tổng số 1.239 dự án đã được quy hoạch.
Theo báo cáo thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, chất lượng quy hoạch thủy điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ rất hạn chế; không ít dự án bị loại bỏ, thiếu khả thi, phải điều chỉnh sơ đồ khai thác và quy mô trong quá trình đầu tư; số lượng dự án thủy điện nhỏ khá lớn nhưng đóng góp không nhiều về công suất phát điện.
Nếu tính thêm số các dự án tạm dừng, tiếp tục đánh giá thêm tác động môi trường, kinh tế-xã hội và hiệu quả đầu tư, quy hoạch thủy điện nhỏ sẽ bị điều chỉnh khá nhiều. Số lượng các dự án thủy điện nhỏ trong quy hoạch là rất lớn (gần 90%) nhưng đóng góp về tổng công suất của các dự án này không nhiều (khoảng 26%) và tỷ trọng này sẽ thấp hơn nữa nếu một số dự án này bị loại bỏ khỏi quy hoạch (418 dự án, tổng công suất lắp máy 1.174 MW).
Các dự án, vị trí thủy điện tiềm năng bị đưa ra khỏi quy hoạch vì 2 lý do chính: hiệu quả đầu tư thấp, không có nhà đầu tư quan tâm; có tác động xấu đến môi trường và kinh tế-xã hội. (Vnexpress.net 27/10; VietnamPlus.vn 26/10; Nông Thôn Ngày Nay 28/10) đầu trang(
Trước tình trạng nhiều nhà đầu tư đã được cấp phép nhưng không tiến hành triển khai dự án, mới đây UBND tỉnh Đắk Nông đã cho thu hồi và loại bỏ 8 dự án thủy điện nhỏ trên địa bàn.
Đây là kết quả của chương trình kiểm tra, đánh giá hiện trạng các dự án thủy điện do Sở Công Thương tỉnh Đắk Nông thực hiện trong thời gian vừa qua trên toàn địa bàn.
8 dự án thủy điện nhỏ bị loại bỏ ra khỏi quy hoạch phát triển thủy điện có tổng công suất thiết kế là 25,7MW bao gồm: Ðắk R’Sung 2, Ðắk Sin 3, Ðắk Búk So 1, Ðắk Mâm 3, Ðắk Pri, Ea Hir 1, Ea Hir 2 và Ðắk Muong.
Nguyên nhân do các dự án thủy điện này xây dựng sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái rừng đặc dụng cũng như cuộc sống của người dân, hoặc chủ đầu tư không triển khai xây dựng nhà máy và không tuân thủ các quy định chung trong việc thu hồi đất, giải phóng mặt bằng dẫn đến mâu thuẫn với người dân trong vùng dự án. (VTV 26/10) đầu trang(
Thiệt hại hàng chục ngàn hécta caosu tại các tỉnh miền Trung do cơn bão số 10 gây ra, đã đặt ra vấn đề việc trồng caosu ở đây có phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng ở khu vực này? Và việc tái canh cây caosu sẽ được làm thế nào để hạn chế được tối đa thiệt hại.
Để làm rõ vấn đề, Lao Động đã có cuộc phỏng vấn ông Lê Xuân Hòe - Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Caosu Việt Nam (VRG).
Ông Hòe cho biết: Cơn bão số 10 đã gây thiệt hại khoảng 1.400ha caosu tại một số nông trường của Cty TNHH MTV Caosu Hà Tĩnh (750ha) và Cty TNHH MTV Caosu Quảng Trị (650ha) thuộc VRG. So với diện tích vườn cây hiện có, tỉ lệ thiệt hại khoảng 11,5% ở Hà Tĩnh (750/ 6.500ha) và 14,4% ở Quảng Trị (650/ 4.500ha).
Phần lớn vườn cây thiệt hại đang trong thời kỳ khai thác, trong đó có 130 ha mới trồng được 7 năm, bắt đầu vào giai đoạn khai thác; một số vườn cây đã khai thác 29 năm, chuẩn bị vào giai đoạn thanh lý. Ngoài ra, có một phần diện tích cây kiến thiết bị nghiêng, có thể khắc phục được. Hầu hết các vườn cây này đều được trồng cách xa biển từ 10 - 40km, cá biệt một số vườn cây chỉ cách biển vài kilômét và đã khai thác rất nhiều năm, chuẩn bị thanh lý. Ước tính thiệt hại sơ bộ khoảng 200 tỉ đồng.
Ông Hòe cho rằng, việc trồng caosu ở các tỉnh duyên hải miền Trung không phải là sai lầm. Bởi lẽ, đến nay vẫn không có một loại cây nào có thể thay thế cây caosu do hiệu quả kinh tế của nó. Ngoài ra, việc trồng caosu ở đây là còn góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Nếu chỉ cần giá cao su ở một số nơi khó khăn như Tây Bắc, miền Trung bán ra hòa vốn thì cái lợi lớn nhất là tiền lương của hàng chục ngàn CNLĐ ở đây cũng đã góp phần hạn chế nghèo khó.
Trước đây, người Pháp cũng đã trồng caosu tại một số tỉnh miền Trung như Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị từ năm 1958. Sau này, chúng ta phát triển mở rộng trồng cây caosu ra. Việc phát triển cây caosu ra khu vực phi truyền thống không chỉ Việt Nam làm mà nhiều nước khác cũng đã làm.
Theo nhiều người dân địa phương ở tỉnh Quảng Trị, cơn bão số 10 vừa qua là cơn bão mạnh nhất trong vòng 28 năm qua. Do sức gió quá mạnh, cả cột điện, cột anten còn gãy đổ, thì chẳng có cây cối nào chịu được. Mặt khác, do sự phát triển cây caosu thời gian qua có nơi còn trồng theo phong trào, nên trồng giống cây chưa được phù hợp, hoặc trồng quá gần biển, dẫn đến thiệt hại lớn khi có bão.
Ông Hòe chia sẻ: Theo quy hoạch của Chính phủ về việc trồng cây caosu đến năm 2015, tổng diện tích trồng caosu của VRG phải đạt 500.000ha, trong đó ở trong nước là 300.000 - 350.000ha; ở nước ngoài (chủ yếu là Campuchia và Lào) từ 150.000 - 200.000ha. Diện tích trồng caosu ở miền Trung hiện đã trồng được 30.000/50.000ha so với quy hoạch.
Như vậy, từ nay đến năm 2015, VRG phải tiếp tục trồng, phát triển khoảng 20.000ha caosu ở khu vực miền Trung nữa. Tuy nhiên, trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tập trung phát triển các vườn cây caosu dịch sang khu vực phía tây, giáp với vùng núi, bảo đảm các vườn cây phải cách xa biển tối thiểu 50km, đồng thời cũng tiếp cận với khu vực vùng sâu, vùng xa, góp phần thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Thực ra, vài năm gần đây VRG đã thực hiện việc này, cho nên các vườn cây bị thiệt hại nặng nhất vừa qua là các vườn nằm gần biển đã trồng trước đây nhiều năm.
Mặt khác, nếu cho rằng lo ngại tác động của bão mà không dám trồng cao su ở khu vực miền Trung thì e rằng cũng chưa được chính xác lắm. Bởi lẽ, với cây cao su thì phải tính lâu dài theo chu kỳ chứ không tính theo năm. Còn bão gió, tất nhiên sẽ có ảnh hưởng đến cây cối. Ngay tại Đồng Nai, dù cách xa biển, nhưng có năm, do ảnh hưởng của bão cũng bị thiệt hại khoảng 600ha cao su. Điều cần làm là phải chọn giống và các khâu kỹ thuật khác để có thể chống được bão lớn. (Lao Động 26/10) đầu trang(
Ông Nguyễn Ngọc Truyện, một chuyên gia có kinh nghiệm hàng chục năm nghiên cứu về cây cao su (nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu cao su VN) nhận định: Việc có tới gần 2 vạn ha cao su bị bão đánh đổ, gãy ở Bắc Trung bộ chắc chắn có nguyên nhân do giống.
Ông Truyện khẳng định, không phải gần đây cao su mới được đem trồng tại Bắc Trung bộ. Thực ra, khu vực này (từ Quảng Bình trở ra đến Thanh Hóa) đã được nghiên cứu rất kỹ và ngay từ năm 1958 Bộ Nông trường đã cho trồng cao su rồi (nông trường Quyết Thắng ở Quảng Trị, nông trường Việt Trung ở Quảng Bình, Đông Hiếu và Tây Hiếu ở Nghệ An, Thạch Thành ở Thanh Hóa…).
Sau giải phóng năm 1975, cao su trong Nam nhiều quá nên khu vực miền Trung dần bỏ lửng đi, không trồng cao su nữa. Tuy nhiên, khi chuyển từ cao su sang trồng các loại cây khác như cam, chuối, dứa, mít thì hầu hết đều bị chết và lỗ “toe xác pháo”; chỉ một số vùng còn giữ lại cây cao su thì sống ngon lành. Và đây cũng là lý do người dân dần quay trở lại phát triển cao su như ngày nay.
Là chuyên gia đầu ngành trong nghiên cứu về cây cao su, ông có đồng tình việc trồng cao su ở khu vực Bắc Trung bộ hay không? Trả lời câu hỏi này, ông Truyện cho biết: Đặc điểm tiểu vùng khí hậu của Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ là hứng bão trực tiếp; mùa hè thì hạn, nóng; mùa đông rét; mùa xuân thì ẩm ướt dễ bệnh. Với khí hậu này, cộng với trước đây rừng còn nhiều thì đúng là không nên phát triển cây cao su rồi.
Nhưng sau này rừng bị phá hết và suốt mấy chục năm sau giải phóng dân không biết trồng cái gì, loay hoay trồng – chặt, chẳng cây nào hiệu quả. Còn hơn chục năm nay, dân trồng cao su giàu lên thấy rõ. Bây giờ, các anh cứ thử đến phỏng vấn các nhà vườn sau khi cao su gãy đổ, anh chị trồng lại cây gì?
Tôi đoán chắc phải 2/3 sẽ nói trồng lại cao su. Đơn cử như ở Quảng Nam, Quảng Ngãi trước đây cũng bị bão gây hại 3.000 ha, mọi người cũng kêu rầm rầm, nhưng cuối cùng cây cao su vẫn được lựa chọn trồng lại vì hiệu quả kinh tế tốt nhất so với các cây khác.
Ông Truyện cho hay: Tôi theo dõi và phân loại ra, thấy rất rõ, vườn cây của Tập đoàn Công nghiệp cao su VN (VRG) bị đổ gãy nhẹ hơn. Diện tích gãy chủ yếu ở vườn tiểu điền và vườn cao su do địa phương quản lý. Vậy nguyên nhân ở đây là gì?
Theo tôi, gãy nhiều là do giống. Những vườn cao su bị đổ gãy chủ yếu rơi vào giống cho năng suất cao (như RRIV 4) nhưng khả năng chống chịu gió bão rất kém. Dân trồng chủ yếu tự phát, tự đi kiếm giống về trồng và chỉ tập trung cho năng suất.
Mấy năm qua giá cao su cao ngất ngưởng, dân đổ xô vào trồng tự phát, không theo cơ cấu giống, nhiều người tự vào Nam mua giống trôi nổi. Trong khi đó, thị trường giống ở phía Nam hết sức náo loạn, đủ các loại được quảng cáo “siêu năng suất” nhưng chất lượng chẳng biết ra sao.
Chúng tôi cũng nghiên cứu rồi, ở miền Trung phải chấp nhận dùng giống cho năng suất thấp hơn nhưng có khả năng chống chịu gió bão tốt. Bài học về giống cao su không phù hợp trước đây trồng tại khu vực miền núi phía Bắc còn hiển hiện rất rõ, vì thế việc chọn đúng giống cho miền Trung cần đặc biệt quan tâm.
Trước hết, cơ quan chức năng cần tổng kiểm tra, khảo sát lại các giống cao su đã và đang trồng tại đây, từ đó tổng kết, đánh giá và đưa ra khuyến cáo rộng rãi đến người trồng cao su. Nhưng việc này có thể sẽ mất nhiều thời gian.
Muốn có thông tin nhanh rất cần các cơ quan thông tấn báo chí cử phóng viên đến các khu vực cao su đổ gãy nhiều để điều tra thực tế giống cao su trồng chủ lực tại đây là gì, từ đó khuyến cáo nhanh cho bà con nông dân.
Cũng theo ông Truyện: Các nhà khoa học đã nghiên cứu bộ giống cao su phù hợp với đặc điểm khí hậu của miền Trung rồi như: RRIM 712, RRIM 600, GT 1 chống chịu khá hơn gió bão.
Tai hại là nhiều người dân sử dụng khá nhiều giống năng suất cao như RRIV 4 trong khi sức chịu gió chỉ bằng 1/5 các giống này. Hiện các đơn vị thuộc VRG đóng tại Bắc Trung bộ đã đưa 3 giống RRIM 712, RRIM 600, GT 1 vào trồng đại trà tới 55% diện tích, các giống khác chiếm 45% cũng có thế mạnh là chịu được gió.
Từ sự cố này, tôi thấy rằng đây là cái giá của tự phát, thiếu quản lý về mặt nhà nước, thiếu định hướng, thiếu hướng dẫn cho người dân lựa chọn giống phù hợp với thời tiết khắc nghiệt của miền Trung.
Tốt nhất là các Sở NN-PTNT từng tỉnh phải tổ chức làm dịch vụ kỹ thuật cho người dân và chịu trách nhiệm về vấn đề này, đặc biệt là về giống cao su.
Tôi để ý ở khu vực trồng cao su Nam Đông, Phong Điền (Thừa Thiên- Huế) vừa qua bị bão nhưng gãy đổ rất ít. Tìm hiểu ra mới biết là do Sở NN-PTNT tỉnh này trước đây đã vào tận Viện Nghiên cứu cao su ký hợp đồng mua đúng với cơ cấu giống được khuyến cáo nên hạn chế được tác hại cho người dân. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/10) đầu trang(
Hai cơn bão số 10 và 11 đi qua, Cty Cao su Quảng Trị có một diện tích rất ít cây cao su bị gãy đổ. Giữ được như vậy nhờ Cty đã luôn chú trọng đến các biện pháp kỹ thuật cho vườn cây.
Ông Văn Lưu, TGĐ Cty Cao su Quảng Trị cho biết, toàn bộ diện tích vườn cây cao su của Cty gần 4.500 ha. Tại tỉnh Quảng Trị, Cty có gần 4.000 ha, tập trung chủ yếu ở hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh. Trong đó, tại huyện Gio Linh vườn cao su khá lớn tuổi. Còn diện tích cao su ở huyện Vĩnh Linh, Cty vừa đưa vào khai thác mủ và sắp khai thác đến gần 1.000 ha.
Sau bão, những cây cao su gãy đổ được Cty tập trung công nhân khắc phục bằng cách cưa cây, dọn vườn. Những cây còn phát triển được nhưng đã bị gãy thì được cưa cành, bôi mỡ vazeline, những cây bị đổ nghiêng dùng dây kéo thẳng đứng lại để chăm sóc. Cây nào không ảnh hưởng vẫn tiếp tục cho khai thác mủ.
Anh Trần Quang Khôi ở Nông trường Quyết Thắng cho biết nhờ sự giúp đỡ của anh em công nhân nên từng cây trong vườn của anh được chống dậy, chằng chéo phục hồi gần hoàn chỉnh. Sau gần một tháng tập trung lực lượng, đến nay Cty Cao su Quảng Trị cơ bản khắc phục đến 70% số diện tích cao su bị ảnh hưởng của hai cơn bão.
Cây cao su ở Quảng Trị phát triển mạnh cách nay gần 30 năm, đánh dấu bằng sự kiện Cty Cao su Quảng Trị được thành lập vào năm 1984. Cùng với việc Cty trồng cao su đại điền thì nông dân Quảng Trị cũng trồng cao su tiểu điền.
Song ngần ấy thời gian Quảng Trị chỉ có một trận bão lớn xảy ra vào năm 1985 mà thôi. Nên mọi cảnh báo về thời tiết khắc nghiệt ở miền Trung với cây cao su đã phần nào bị yếu tố chủ quan của người trồng cao su và thời gian ấy khuất đi.
Bây giờ để cây cao su phát triển an toàn, sống chung với thời tiết biến đổi khí hậu bất thường, theo ông Văn Lưu, với địa hình như ở Quảng Trị nói riêng và miền Trung nói chung, công tác chọn giống cây trồng phải luôn được quan tâm hàng đầu. Phải chọn những giống cao su phù hợp với rét và gió bão.
Ông Lưu cho biết bà con nông dân Quảng Trị nhiều nơi đang trồng giống cao su xuất xứ từ miền Nam nên không phù hợp thời tiết và khí hậu địa phương. Để cho bà con nông dân hiểu rõ điều này, các nhà quản lý nên chú trọng công tác tuyên truyền chương trình giống kỹ thuật.
Phối hợp vừa tuyên truyền vừa đề cao công tác quản lý giống trên địa bàn một cách chặt chẽ, khoa học, đừng để bà con quá dễ dãi trong khâu chọn giống cây trồng, thiệt hại khó lường.
Khi cây cao su phát triển, nên chú ý tạo tán cho cây ở độ cao chỉ từ 2 đến 2,5 m, làm vậy gặp gió bão ít bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó, có thể trồng tăng mật độ cây trên một diện tích để trừ khi bão tố, sâu bệnh làm hư hỏng thì tỷ lệ số cây còn lại trong vườn phù hợp cho cao su phát triển.
Với cao su tiểu điền, diện tích vườn cây của mỗi gia đình tương đối nhỏ nên trước mùa mưa bão bà con nông dân cần tỉa bớt cành để cây cao su vững vàng. Chỉ tỉa cành thì cao su phát triển vẫn bình thường, hạn chế được khả năng xiêu vẹo khi có gió lớn làm đứt hết rễ, cần quá trình phục hồi lâu.
Với việc trồng vành đai rừng bảo vệ thì từ trước đến nay Cty Cao su Quảng Trị vẫn trồng để bảo vệ vườn cây. Đây là biện pháp chắn gió, giữ vườn hữu hiệu. Do diện tích cao su của Cty trồng ở những vùng địa hình khá phù hợp, nằm ở phía tây các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, xa biển, sát rừng, kín gió, cách làm chú trọng các biện pháp khoa học nên khi gặp bão vườn cây cao su của Cty ít ảnh hưởng hơn. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/10) đầu trang(
Sau kinh nghiệm khắc phục cây cao su đổ ngã ở Nông trường Bình Ba (trực thuộc Cty TNHH MTV Cao su Bà Rịa), Nông Nghiệp Việt Nam nhận được sự chia sẻ kinh nghiệm thêm của ông Trần Quốc Hưng, TGĐ Cty CP Cao su Hòa Bình (Hòa Bình, Xuyên Mộc, Bà Rịa- Vũng Tàu), bởi sự thiệt hại của Cty này sau cơn bão số 9 (tháng 2/2006) và số 1 (tháng 4/2012) cũng rất lớn.
Ông Hưng cho biết, tổng kết sau 2 cơn bão vừa qua, công ty đã có gần 500 ngàn cây cao su (tương đương khoảng 1.000 ha) bị đổ và gãy. Trong đó, tỉ lệ số cây cao su bị gãy chiếm đến 60%!
Do vườn cây của công ty hầu hết là cao su già trồng từ những năm 1982-1989, mật độ cây trồng 476 cây/ha. Sau bão mật độ còn khoảng 300 cây/ha. Trên cây vườn già, chúng tôi cho tổ chức cưa cắt toàn bộ số cây bị gãy, đổ trên lô, những lô thiệt hại nặng làm trước, nhẹ làm sau, thực hiện nhiều nhóm cưa cắt, làm cuốn chiếu theo lô.
Chính tôi trực tiếp ra hiện trường chỉ đạo điều hành, đôn đốc đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Sau khi cưa cắt xong lô nào thì bố trí lao động dọn dẹp cành nhánh lô đó, tổ chức trực gác lửa trên vườn cây bởi vì sau bão là mùa khô.
Còn đối với vườn cây nhóm 1, chúng tôi chỉ đạo tập trung cưa số cây bị đổ không phục hồi, đồng thời rong bớt cành nhánh, tập trung cơ giới và thủ công, sử dụng dây để cột kéo và dùng cừ (tràm) để chống đỡ số cây đổ có khả năng phục hồi (chưa bị gãy cổ rễ).
Mặt khác, cắt phần ngọn đối với số cây gãy thân cách mặt đất lớn hơn hoặc bằng 2m hoặc cắt nhánh đối với số cây bị gãy nhánh.
Đối với vườn cây kiến thiết cơ bản mà bị ngã đổ, chúng tôi chỉ đạo cho tiến hành “rong” bớt cành nhánh, cột kéo bằng dây và chống đỡ cây bị đổ, nghiêng bằng cây cừ. Chú ý là chỉ cưa thanh lý đối với số cây bị đổ gãy cổ rễ thôi.
Lúc đó, do tính chất khẩn trương của công việc khắc phục hậu quả nên chúng tôi đã “tổng huy động” tất cả lực lượng anh em công nhân, lao động cả ngày thứ 7, chủ nhật để đẩy nhanh tiến độ công việc.
Ông Hưng cho biết: Nhìn chung, cây cao su còn lại sau bão hầu hết bị gãy cành, long gốc, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và năng suất vườn cây. Còn số cây cao su được cột kéo hoặc chống đỡ trên vườn cây khai thác hầu hết đều phát triển kém do bộ rễ đã bị tổn thương, đồng thời thường bị khô một mặt vỏ (phần bị đứt rễ nhiều), khả năng cho mủ thấp hơn rất nhiều so với cây bình thường.
Một điểm khác nữa là do khu vực địa bàn công ty nằm gần biển nên mức độ gió thường nhiều, một số cây được chống đỡ trước đây thường hay bị ngã đổ trở lại. Đây cũng là cái khó của công ty hiện nay. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/10) đầu trang(
Nông trường làm sai sao bắt dân chịu? Đó là tâm trạng hết sức bức xúc của trên 30 hộ dân là chủ các vườn cao su trong giai đoạn cho mủ tại khu vực xã Hưng Thuận, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Theo tìm hiểu của Thanh Niên, khu vực này rộng gần 150 ha trước kia là một phần của khu đất rộng do nông trường cao su Bời Lời quản lý. Năm 1992, ông Hà Minh Đỏ, Giám đốc nông trường, đã ký hợp đồng kinh tế với nhiều hộ dân về việc giao đất trồng cao su. Thời hạn giao đất bằng với chu kỳ sinh trưởng của cây cao su là 50 năm.
Sau khi ký hợp đồng, các hộ dân đã đầu tư rất nhiều công sức, tiền của để san ủi mặt bằng, trồng và chăm sóc cây cao su đúng quy trình kỹ thuật. Họ cũng đóng phí quản lý cho nông trường và nộp thuế đầy đủ cho nhà nước. Trong hợp đồng cũng cam kết, bên nào vi phạm sẽ chịu hoàn toàn trước pháp luật. Đến nay cây cao su đang giai đoạn cho mủ ổn định, là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ gia đình, trong đó không ít trường hợp là cán bộ hưu trí, thương binh.
Thế nhưng, ngày 25.10, tại trụ sở UBND xã Hưng Thuận đã diễn ra cuộc họp thông báo Công văn của UBND tỉnh Tây Ninh về chủ trương cho thuê 149,52 ha đất tại ấp Bùng Binh (xã Hưng Thuận) do ông Nguyễn Văn Lam, Trưởng phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Trảng Bàng, chủ trì, cho rằng việc nông trường ký hợp đồng kinh tế giao đất cho các hộ dân là sai thẩm quyền nên yêu cầu các hộ dân có nhu cầu tiếp tục thuê đất thì trong vòng 30 ngày phải đến Phòng Tài nguyên - Môi trường làm thủ tục thuê đất nhưng thời hạn thuê đất chỉ được đến tháng 6.2017.
Ngoài ra, người dân phải cam kết sau khi hết hạn thuê đất phải trả lại cho huyện, tỉnh, không được tái canh cây cao su, không được sang nhượng. Thông báo của ông Lam đã gặp sự phản đối quyết liệt của các hộ dân.
Bà Lan Phương, một hộ dân có vườn cao su trong khu đất, cho biết: “Từ năm 1992, theo khuyến khích của tỉnh, người dân chúng tôi đã ký hợp đồng 50 năm với nông trường. Đây là đơn vị kinh tế nhà nước, thuộc UBND huyện Trảng Bàng. Từ đó, người dân đã bỏ nhiều tiền của, công sức để đầu tư vườn cao su. Bỗng dưng, nay cũng chính nhà nước lại bảo hợp đồng này không đúng và đòi thu hồi đất của chúng tôi, như vậy là quá phi lý”.
Theo nhiều hộ dân khác, nếu các đơn vị nhà nước (như nông trường) làm sai thì nhà nước có trách nhiệm phải xử lý nông trường chứ không thể bắt người dân gánh chịu. Trong bản hợp đồng mà nông trường cao su Bời Lời ký giao đất cho các hộ dân đều căn cứ vào các quy định và chủ trương của trung ương, tỉnh, huyện lúc đó. Bây giờ không thể muốn nói sai là sai được.
Còn thời hạn hợp đồng 50 năm là đúng theo chu kỳ sinh trưởng của cây cao su vào thời điểm đó. UBND huyện và UBND tỉnh không thể lấy chu kỳ cây cao su hiện nay là 25 năm để áp đặt hợp đồng cũ. (Thanh Niên 28/10) đầu trang(
Theo báo cáo của Chính phủ, chỉ một số ít chủ đầu tư thủy điện thực hiện việc trồng, hoàn trả lại rừng. Hầu hết đều muốn nộp tiền vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng thay cho việc trồng lại rừng.
Chính phủ vừa có báo cáo gửi Quốc Hội về kết quả rà soát quy hoạch đầu tư xây dựng các dự án thủy điện và vận hành khai thác các công trình thủy điện.
Kết quả rà soát tính đến tháng 9 năm 2013 (có đầy đủ các địa phương có dự án thủy điện) cho thấy đã loại khỏi quy hoạch 6 dự án thủy điện bậc thang và 418 dự án thủy điện nhỏ do tác động tiêu cực lớn đối với môi trường xã hội. Đồng thời, không xem xét quy hoạch 172 vị trí tiềm năng thủy điện; Tạm dừng đối với 4 dự án thủy điện bậc thang và 132 dự án thủy điện nhỏ.
Cả nước hiện còn lại 815 dự án thủy điện. Trong đó, đã vận hành phát điện 268 dự án, đang thi công xây dựng 205 dự án, dự kiến đưa vào vận hành khai thác từ nay đến năm 2017.
Trong điều kiện quỹ đất khó khăn, hầu hết chủ đầu tư dự án kiến nghị thực hiện quy định trồng rừng thay thế theo hình thức nộp tiền vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng để cơ quan chức năng điều tiết, bố trí trồng rừng.
Hiện nay, việc trồng hoàn trả rừng của các dự án thủy điện ở hầu hết các địa phương đều gặp khó khăn, việc thực hiện còn lúng túng giữa trách nhiệm, nghĩa vụ của địa phương và chủ đầu tư dự án trong bố trí đất trồng rừng, loại cây trồng, chế độ chăm sóc, bảo vệ, đơn giá trồng rừng.... Chỉ một số ít địa phương hoặc dự án thủy điện đã và đang thực hiện trồng hoặc lập phương án trồng rừng. (Tuổi Trẻ 27/10) đầu trang(
Ngày 25/10, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cho biết, nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam từ ngày 24 đến 26/10 của Ủy viên Hội đồng Liên bang, Bộ trưởng Bộ Kinh tế, Giáo dục và Nghiên cứu Thụy Sỹ, Johann N. Schneider-Ammann, Bộ trưởng cùng đoàn doanh nhân Thụy Sỹ đã đến thăm một trong 40 dự án liên quan đến Chương trình Hợp tác phát triển kinh tế Thụy Sỹ tại Việt Nam.
Dự án Phát triển doanh nghiệp bền vững (SCORE) tập trung vào nhóm các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong ngành Gỗ ở Việt Nam tại 3 địa phương: TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.
Sử dụng các công cụ mang tính thực tế cao của ILO, dự án tổ chức đào tạo và tư vấn tại nhà máy, giúp DNNVV cải thiện năng suất lao động và điều kiện làm việc; tập trung phát triển quan hệ hợp tác tại nơi làm việc, gồm: hợp tác tại nơi làm việc, quản lý chất lượng, sản xuất sạch, quản lý nhân sự, an toàn vệ sinh lao động.
Dự án phù hợp với Kế hoạch phát triển DNNVV của Việt Nam giai đoạn 2011-2015. Theo kế hoạch, sẽ có khoảng 350.000 DNNVV thành lập mới trong giai đoạn này, tạo thêm khoảng 3,5 - 4 triệu việc làm, đóng góp khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). (Công An Nhân Dân 26/10) đầu trang(
Tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, đầu tư trồng rừng dài hạn; tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm; tập trung phát triển sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao… là hàng loạt giải pháp được đưa ra nhằm tháo gỡ khó khăn cho ngành công nghiệp chế biến gỗ (CBG).
Theo Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam (Bộ NN&PTNT), ngành công nghiệp chế biến gỗ (CBG) có sự phát triển nhanh, mạnh trong thời kỳ từ năm 2000 đến nay. Tuy nhiên, hiệu quả không cao do thiếu quy hoạch, còn phụ thuộc nhiều vào gỗ nguyên liệu và phụ liệu nhập khẩu (NK).
Ngoài ra, quy mô sản xuất nhỏ với công nghệ hạn chế, thiếu hình thức tổ chức sản xuất, liên doanh, liên kết thích hợp gắn kết nhà máy chế biến với sản xuất và cung ứng nguyên liệu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp (DN) CBG chưa coi trọng khai thác thị trường đồ gỗ nội địa, bỏ ngỏ thị trường đồ gỗ nội thất cho các cơ sở chế biến nhỏ, làng nghề gỗ và đồ gỗ NK…
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết: Một trong những khúc mắc khá lớn của ngành CBG hiện nay chính là nguồn nguyên liệu. Với việc phát triển công nghiệp CBG, nhu cầu gỗ nguyên liệu không ngừng tăng trong những năm gần đây.
Do nguồn cung gỗ nguyên liệu trong nước không đáp ứng về số lượng, chất lượng, chủng loại cho công nghiệp chế biến sản phẩm gỗ đồ mộc XK, nên các DN CBG đã phải NK gỗ xẻ, gỗ tròn, các loại ván nhân tạo không ngừng tăng lên trong giai đoạn 2007-2012, với tốc độ tăng bình quân 12,1%/năm. Năm 2012, NK gỗ và sản phẩm gỗ đạt kim ngạch 1,5 tỷ USD, tăng 10,1% so với năm 2011.
Ông Ngãi lý giải, không chỉ trong giai đoạn vừa qua, mà tương lai, nguyên liệu gỗ vẫn là bài toán khá nan giải đối với ngành công nghệ CBG Việt Nam. Với sản lượng trung bình 70m3 /ha cho chu kỳ 7 năm, sản lượng gỗ rừng trồng hàng năm đạt 6,3 triệu m3 , trong đó có 1,2 triệu m3 gỗ lớn (20%) và 6 triệu m3 gỗ nhỏ (80%), chưa đáp ứng được nhu cầu gỗ lớn của Việt Nam đến năm 2020. Vì vậy, nếu bắt đầu trồng gỗ lớn từ năm 2013 thì ít nhất đến năm 2025 mới có thể khai thác được.
Thêm vào đó, hiện nay ngành Lâm nghiệp chưa xây dựng được quy trình trồng rừng gỗ lớn cũng như chưa tuyển chọn giống phù hợp cho trồng rừng gỗ lớn phù hợp cho các vùng miền nên rất khó có thể tiến hành trồng rừng gỗ lớn đại trà trong giai đoạn 2012-2020. Vì vậy, khai thác gỗ nhỏ với một tỷ lệ nhỏ gỗ lớn vẫn là nguồn nguyên liệu chủ yếu trong giai đoạn tới và nếu ngành không có giải pháp kịp thời thì NK gỗ lớn vẫn là giải pháp chủ yếu cho đến những năm 2025-2030.
Đề cập tới khó khăn của ngành CBG, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát cho rằng: Bên cạnh vấn đề nguyên liệu, ngành CBG của Việt Nam chủ yếu hướng tới XK trong khi phải đáp ứng với yêu cầu mới của các thị trường NK như Luật Lacey của Mỹ, FLEGT của Cộng đồng châu Âu về nguồn gốc, xuất xứ của gỗ hợp pháp. Đây cũng là những thách thức rất lớn đối với quản lý rừng sản xuất bền vững của Việt Nam, đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao trình độ quản lý rừng, quản lý sản xuất lâm nghiệp để phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền-Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest): Thời gian qua, các DN CBG trong nước chỉ chú tâm tới việc khai thác và sản xuất thành phẩm XK mà chưa chú trọng tới nguồn cung. Chính vì vậy, ngay từ bây giờ, các DN ngành gỗ cần phải tập trung đầu tư cho vùng nguyên liệu.Đó là yếu tố quyết định giúp sản phẩm có sức cạnh tranh lớn trên thị trường và phát triển bền vững. Bên cạnh đầu tư lâu dài cho vùng nguyên liệu, trước mắt DN cũng cần tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước như gỗ mít, xoài, điều…
Cùng với đó, cần đặc biệt chú trọng đổi mới công nghệ sản xuất, nâng cấp chất lượng sản phẩm, đầu tư đẩy mạnh XK sản phẩm “tinh”, chứ không chỉ XK hàng “thô” như bao lâu nay vẫn làm.
Về lâu dài, để tháo gỡ khó khăn cho ngành CBG, ông Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, theo Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, định hướng thời gian tới của ngành là sẽ tập trung xây dựng các vùng cung cấp nguyên liệu tập trung gắn với các trung tâm CBG và đồ gỗ; quản lý bền vững và có hiệu quả tổng diện tích rừng sản xuất được quy hoạch là 8,4 triệu ha; thực hiện các biện pháp trồng rừng và khai thác hiệu quả để hình thành rừng gỗ lớn thay thế NK.
Ngoài ra, ông Ngãi cho biết, sẽ phát triển hình thức tổ chức sản xuất liên kết, tập trung hóa, tổng hợp hóa trong công nghiệp CBG. Cụ thể, tổ chức lại sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các DN quy mô vừa và lớn ở từng vùng kinh tế; lấy các DN mạnh/đầu tàu hiện có làm trung tâm liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực, nhất là sản phẩm XK.
Bên cạnh đó, Tổng cục Lâm nghiệp cũng sẽ kiến nghị xem xét, sửa đổi bổ sung các chính sách thu hút vốn FDI theo hướng khuyến khích các DN FDI liên kết sản xuất với các DN Việt Nam, để tránh tình trạng khép kín khong có tác dụng lan tảo đến DN Việt Nam trong vùng.
Theo ông Ngãi, để tự “cứu” mình, các DN CBG cũng cần tập trung phát triển sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời, đồ mộc mỹ nghệ và sản phẩm mây tre, quế, hồi… Đồng thời, đẩy mạnh chế biến ván nhân tạo, giảm dần chế biến dăm gỗ XK; triển khai xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm có hiệu quả đối với cả thị trường trong và ngoài nước.
Liên quan tới vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng: Việt Nam đã được coi là công xưởng gỗ của thế giới. Chúng ta cần công nghệ chế biến để đem lại giá trị cao hơn. Nhưng trước hết ta phải xác định được trồng những cây gì là đặc biệt của Việt Nam. Muốn làm được điều đó, mỗi địa phương phải tìm ra thế mạnh của mình và tập trung vào cây trồng thế mạnh. (Hải Quan 26/10) đầu trang(
Hội chợ nội thất lớn nhất thế giới High Point Market vừa diễn ra tại tiểu bang North Carolina, Mỹ, thu hút hơn 2000 doanh nghiệp trong đó có 11 công ty sản xuất đồ gỗ Việt Nam. Hội chợ lần này mang lại nhiều cơ hội kinh doanh nhưng cũng cho thấy, những thách thức không nhỏ đối với đồ gỗ Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Được tổ chức 2 lần/năm, hội chợ High Point Market năm nay quy tụ những tên tuổi nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực sản xuất đồ nội thất với hàng chục ngàn sản phẩm được trưng bày tại hơn một trăm toà nhà tại thành phố High Point, nơi được mệnh danh là "Thủ đô nội thất thế giới".
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc điều hành công ty Scansia Pacific và nguyên Chủ tịch Hiệp hội Chế biến Gỗ và Thủ công Mỹ nghệ TP HCM cho biết: “Gỗ cứng hay còn gọi là gỗ solid vẫn có một tầm vóc trong đồ nội thất cho dù có nhược điểm là giá thành cao. Gỗ nhân tạo rẻ hơn nhưng gỗ solid vẫn có chỗ đứng vì việc tìm mua loại sản phẩm này cũng chứng tỏ tầm cỡ của khách hàng. Đây là sản phẩm mà Việt Nam có thế mạnh”.
Theo ông Thắng, tay nghề của công nhân và sự nhạy bén của doanh nghiệp cũng là những yếu tố không nhỏ giúp Việt Nam vươn lên trở thành quốc gia đứng đầu Đông Nam Á về xuất khẩu đồ gỗ.
Dù có những lợi thế trên nhưng đồ gỗ Việt Nam vẫn chưa tránh được nhược điểm cố hữu là đơn điệu trong thiết kế và thiếu đa dạng về chủng loại. Phần lớn các sản phẩm của Việt Nam tại hội chợ High Point Market đều có kiểu dáng tương tự như sản phẩm của các công ty nước ngoài nhưng lại không bắt mắt bằng, đặc biệt là sự thiếu vắng các thiết kế mang tính đột phá để tạo ra sự khác biệt.
Việt Nam hiện đứng thứ 6 về xuất khẩu đồ gỗ trên thế giới và là nước xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 2 vào Mỹ, chỉ sau Trung Quốc. Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam vào Mỹ năm 2012 đạt 1,8 tỷ USD, tăng 25% so với năm trước. Tuy nhiên, theo Hiệp hội Công nghiệp đồ gỗ ASEAN, Việt Nam phần lớn tập trung sản xuất theo các đơn đặt hàng từ nước ngoài, thiết kế sản phẩm và phân phối đều phụ thuộc khách hàng, khiến sức cạnh tranh của doanh nghiệp giảm sút. (VOV 27/10) đầu trang(
Ngày 25/10, tại Hà Nội, UBND tỉnh Quảng Trị đã tổ chức công bố Quyết định số 1745 ngày 26/9, về công nhận và giới thiệu rộng rãi Bộ tài liệu khung đào tạo nghề trong lĩnh vực lâm nghiệp bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là kết quả của Chương trình hợp tác giữa tỉnh Quảng Trị và Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Cộng hòa Liên bang Đức, thông qua Tổ chức Sequa tài trợ.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị Nguyễn Văn Bài cho biết: Dự án đào tạo thí điểm nghề rừng và quản lý rừng bền vững cho cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị, do Công ty Forestfinace Service GmbH-Bonn (Đức) và Công ty Lâm nghiệp Bến Hải tại Hồ Xá, huyện Vĩnh Linh cùng phối hợp thực hiện từ tháng 11/2011.
Trong 2 năm triển khai dự án, đã có 50 lượt cán bộ quản lý và 200 lượt công nhân và người lao động được đào tạo, bồi dưỡng về chuyên ngành lâm nghiệp, giúp nâng cao kỹ năng quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế và được cấp chứng chỉ FSC.
Theo đó đã góp phần quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn; môi sinh, môi trường cải thiện rõ rệt; giá trị kinh tế khi bán sản phẩm gỗ khai thác tăng đáng kể. Hiện nay, giá bán rừng có chứng chỉ FSC cao hơn so với rừng không có chứng chỉ khoảng 30-50%. Gỗ có chứng chỉ là nguồn nguyên liệu hợp pháp thay thế cho nguồn gỗ phải nhập khẩu, để sản xuất các mặt hàng cung ứng cho thị trường xuất khẩu sang châu Âu. Hiện Quảng Trị có tới 11.000ha rừng được cấp chứng chỉ FSC.
Trên kết quả thực tế đã đạt được trong quá trình thực hiện dự án, Ban Quản lý đã tập hợp thành Bộ tài liệu khung hướng dẫn đào tạo bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, là quy chuẩn tối thiểu cho đào tạo nghề trong lĩnh vực phát triển kinh tế lâm nghiệp, giúp cán bộ quản lý kỹ thuật và công nhân lâm nghiệp nâng cao năng lực quản lý, bảo vệ, khai thác tài nguyên lâm nghiệp bền vững và nhất là hiểu biết thấu đáo quy định của pháp luật về rừng.
Theo nhận xét của ông Olaf Uwe Van Meegen, Tổng Giám đốc điều hành Công ty Forestfinace Service GmbH-Bonn (Đức), Bộ tài liệu khung đào tạo nghề trong lĩnh vực lâm nghiệp bền vững này cũng chính là bộ công cụ lâm nghiệp đầu tiên của Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế. (Công An Nhân Dân 26/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm (KL) tỉnh vừa có văn bản chỉ đạo các Hạt KL kiểm tra, lập hồ sơ quản lý chặt chẽ các trại nuôi động vật hoang dã (ĐVHD); tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn các chủ trại thực hiện đúng quy định pháp luật, đặc biệt với các trại nuôi ĐVHD hung dữ, đảm bảo an toàn cho người nuôi, nhân dân trong vùng và an toàn dịch bệnh...
Tỉnh hiện có 126 trại nuôi ĐVHD được cấp phép. Trong số này có 114 trại nuôi ĐVHD thông thường, 12 trại nuôi ĐVHD quý hiếm; trong đó, 17 loài được cấp phép gây nuôi, bao gồm: ĐVHD thông thường có 12 loài (nhím, nhím bờm, heo rừng, heo mán Thái Lan, heo rừng lai, cầy vòi hương, nhông cát gutta, chim trĩ đỏ, nai, rắn ráo thường, hưu sao và don). Riêng ĐVHD quý hiếm có 5 loài (gấu ngựa, kỳ đà, cầy hương, rắn ráo trâu, rắn hổ mang thường). (Báo Bình Định 27/10) đầu trang(
Năm 2013, BQL Dự án WB3 tỉnh phân bổ cho huyện Tây Sơn trồng 300 ha rừng. Tuy nhiên, thực tế nhu cầu tham gia của nhân dân tăng nên diện tích đăng ký và thiết kế thực hiện lên 500 ha với 250 hộ tham gia ở 6 xã: Bình Tân, Tây Thuận, Bình Thuận, Tây Xuân, Vĩnh An và Bình Thành.
Trong đó, xã Tây Thuận có diện tích tham gia nhiều nhất - trên 192 ha. Sau khi được BQL Dự án huyện tiến hành kiểm tra quy trình đào hố, lấp phân, đến nay toàn huyện đã trồng 80% tổng diện tích rừng tham gia Dự án, gồm keo lai và bạch đàn, chủ yếu là keo lai. Hiện nay, BQL Dự án WB3 huyện tiếp tục kiểm tra, thẩm định các diện tích đảm bảo kỹ thuật để hướng dẫn bà con trồng rừng kịp thời vụ. (Báo Bình Định 27/10) đầu trang(
Mặc dù có diện tích rừng lớn nhất Quảng Ninh và rất nhiều lâm sản có giá trị cao, nhưng ngành công nghiệp chế biến lâm sản của huyện Ba Chẽ gần như không có. Việc cụm công nghiệp Nam Sơn vừa được triển khai xây dựng mới đây có thể coi là những bước đi đầu tiên của huyện Ba Chẽ trong phát triển sản xuất công nghiệp.
Huyện Ba Chẽ có trên 90% diện tích đất tự nhiên là rừng và đất trồng rừng, với gần 55.700 ha. Sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng và lâm sản phụ đạt hàng nghìn mét khối; khai thác nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến dược liệu cũng đạt hàng chục tấn mỗi năm.
Với lợi thế này, lâm nghiệp và chế biến lâm sản được xác định là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Ba Chẽ. Tuy nhiên, hiện Ba Chẽ mới có duy nhất một doanh nghiệp sản xuất giấy ở dạng thô với quy mô nhỏ, công suất khoảng 3.000 tấn/năm, nên cũng chỉ tiêu thụ được một phần sản lượng tre, dóc khai thác trên địa bàn huyện.
Ngoài ra, Công ty Lâm nghiệp Ba Chẽ (trước là lâm trường Ba Chẽ) dù đã bước đầu tham gia chế biến một số loại lâm sản, nhưng chỉ với quy mô tự cung tự cấp, giải quyết nguồn lâm sản thuộc đơn vị quản lý và khai thác. Quy mô, năng lực chế biến còn yếu kém, sản xuất manh mún, quy trình công nghệ lạc hậu, mức độ cơ giới hóa chưa cao, chưa có sản phẩm tinh chế... đang là những nguyên nhân cản trở sự phát triển của ngành chế biến lâm sản ở Ba Chẽ.
Để tạo điều kiện cho Ba Chẽ phát triển, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt quy hoạch chung Ba Chẽ giai đoạn 2010-2025. Trong đó, 3 cụm công nghiệp được quy hoạch gồm cụm công nghiệp xã Nam Sơn quy mô 50 ha, cụm công nghiệp Đạp Thanh quy mô 50 ha và cụm công nghiệp xã Thanh Lâm quy mô 40 ha, tập trung vào ngành chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, chế biến nông lâm sản.
Vừa qua, cụm công nghiệp chế biến lâm sản và cảng Nam Sơn (Ba Chẽ) đã được khởi công xây dựng, và đến năm 2015, một phần cụm công nghiệp này sẽ đi vào hoạt động. Hiện đã có 4 doanh nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản triển khai các hoạt động đầu tư, đồng thời đạt được các bước cơ bản trong thủ tục đầu tư theo quy định.
Ngày 12/8 vừa qua, Công ty cổ phần gỗ Thanh Lâm đã triển khai xây dựng nhà máy chế biến gỗ Nam Sơn trên diện tích gần 8 ha tại cụm công nghiệp Nam Sơn có tổng mức đầu tư gần 200 tỷ đồng, công suất 80.000 tấn sản phẩm/năm. Dự kiến, sau 6 tháng triển khai xây dựng nhà máy sẽ cho ra sản phẩm đầu tiên.
Thời gian qua huyện Ba Chẽ đã tăng cường các hoạt động thu hút đầu tư, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến lâm sản. Huyện đã tạo điều kiện thuận lợi như mặt bằng, hành lang pháp lý... thu hút các tổ chức, cá nhân, nhà đầu tư vào đầu tư.
Ông Nguyễn Minh Sơn, Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ cho biết, huyện đang triển khai các chính sách ưu tiên về giao đất cho doanh nghiệp. Để tạo thêm sức hút đầu tư, các doanh nghiệp sẽ được huyện phối hợp giải phóng mặt bằng một cách nhanh nhất, thuận lợi nhất, để có thể đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động ngay.
Đối với nhiều dự án, huyện phát huy nội lực cũng như tham mưu với tỉnh xây dựng hệ thống hạ tầng bên ngoài cho các nhà đầu tư. Như vậy, doanh nghiệp chỉ cần tập trung vào việc xây dựng hạ tầng, sắm trang thiết bị, công nghệ sản xuất để triển khai các hoạt động sản xuất.
Đi liền với việc giải phóng mặt bằng thì việc dành quỹ đất để tái định cư và giao đất sản xuất cho dân bị ảnh hưởng bởi dự án để ổn định cuộc sống trong thời gian qua cũng gặp không ít khó khăn.
Ông Lý Văn Xuân, Phó Chủ tịch UBND xã Nam Sơn (huyện Ba Chẽ), cho biết, sau nhiều cố gắng của chính quyền địa phương, quá trình giải phóng mặt bằng của cụm công nghiệp Nam Sơn đã cơ bản hoàn thành. Chỉ còn một số hộ dân chưa chịu di dời cũng đang được huyện phối hợp các tổ chức ở địa phương tiến hành các cuộc họp bàn giải quyết các vướng mắc và sẽ tổ chức di dời trong thời gian sắp tới.
Hiện nay, xã Nam Sơn đã hoàn thành một khu tái định cư với số lượng gần 40 gia đình. Mỗi lô đất rộng khoảng gần 400 m2, đủ điều kiện xây dựng nhà ở, khu chuồng trại chăn nuôi và đất vườn để trồng rau, hoa… Cùng với quá trình thi công các hạng mục công trình của cụm công nghiệp chế biến lâm sản và cảng Nam Sơn, hệ thống đường giao thông cũng được quy hoạch và triển khai. Nhờ đó việc đi lại, vận chuyển của bà con sắp tới sẽ thuận lợi hơn.
Về nguồn nhân lực, huyện đang có kế hoạch đào tạo lao động địa phương có đủ trình độ, kiến thức để làm việc ngay tại các cụm công nghiệp này. Huyện cũng đang tiến hành quy hoạch lại sản xuất, vận động người dân trồng, chăn nuôi và khai thác hợp lý để tạo nguồn nguyên liệu ổn định cho các cụm công nghiệp chế biến.
Những tín hiệu đáng mừng đang đến với ngành công nghiệp sản xuất, chế biến lâm sản của huyện Ba Chẽ. Mong rằng với sự nỗ lực của chính quyền và người dân nơi đây, những cụm công nghiệp này sẽ sớm đi vào hoạt động, góp phần đưa giá trị sản xuất công nghiệp của địa phương khởi sắc để Ba Chẽ không còn bị nhắc đến là “huyện trắng công nghiệp”. (Tin Tức 28/10) đầu trang(
Hiện nay, rừng sản xuất trồng trên địa bàn tỉnh chủ yếu là rừng gỗ nhỏ, trồng theo phương thức quảng canh nên năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế thấp. Chính vì vậy, phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn đang là nhiệm vụ quan trọng tái cơ cấu đầu tư ngành lâm nghiệp, góp phần tăng thu nhập, phát triển kinh tế nông thôn miền núi.
Để nâng cao giá trị và hiệu quả kinh doanh rừng, góp phần phát triển kinh tế lâm nghiệp trên địa bàn, UBND tỉnh đã giao Chi cục Lâm nghiệp (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) xây dựng 2 mô hình chuyển hóa rừng keo tai tượng kinh doanh gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn ở xã Trí Nang. Biện pháp kỹ thuật chính của mô hình là tỉa thưa điều chỉnh mật độ, không gian dinh dưỡng của rừng keo 4 năm tuổi.
Trong đó, mô hình 1, tỉa thưa điều chỉnh rừng mật độ từ 1.660 cây/ha xuống còn 1.100 ha, tiếp theo 2 năm tới sẽ tiếp tục tỉa thưa còn 750 cây/ha và tỉa thưa để lại mật độ cuối cùng để kinh doanh gỗ lớn khoảng 450 cây/ha vào 8 năm tuổi của rừng keo. Mô hình 2, tỉa thưa điều chỉnh rừng mật độ 1.330 cây/ha xuống còn 750 cây/ha và tỉa thưa để lại mật độ cuối cùng kinh doanh gỗ lớn khoảng 450 cây/ha vào 8 năm tuổi của rừng. Ngoài tỉa thưa điều chỉnh mật độ còn tiến hành các biện pháp tỉa cành, chăm sóc, bón phân... theo quy trình kỹ thuật cho rừng.
Thực tế cho thấy, rừng keo tai tượng đạt tốc độ tăng trưởng lớn nhất vào giai đoạn từ 8 - 12 năm tuổi. Thông qua mô hình chuyển hóa rừng keo kinh doanh gỗ lớn, trữ lượng rừng bình quân dự kiến đạt từ 250-300 m3/ha, theo thị trường giá bán gỗ lớn (keo đường kính đầu nhỏ từ 25cm trở lên) khoảng 2,5-3 triệu đồng/m3, bình quân đạt từ 400 – 500 triệu đồng/ha/chu kỳ.
Trong khi đó, gỗ nhỏ làm nguyên liệu (băm dăm) khoảng từ 900.000 đồng – 1.000.000 đồng/tấn, bình quân đạt từ 90 -130 triệu đồng/ha/2 chu kỳ gỗ nhỏ. Việc chuyển hóa rừng gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn kéo dài thêm khoảng từ 5-7 năm so với 1 chu kỳ gỗ nhỏ nhưng giá trị kinh tế mang lại cao hơn nhiều lần so với việc thực hiện liên tục 2 chu kỳ kinh doanh gỗ nhỏ.
Nhiều chủ rừng ở xã Luận Thành (Thường Xuân), xã Thành Mỹ (Thạch Thành), xã Trí Nang (Lang Chánh), cho biết: Những tháng gần đây, có nhiều người tìm đến hỏi mua gỗ nhỏ làm bột giấy giá khoảng 950.000 đồng/1 tấn, người làm nghề rừng đã trăn trở suy nghĩ nhiều trước thực tế giải bài toán để rừng keo phát triển thêm vài năm nữa mới khai thác sẽ cho hiệu quả kinh tế cao hay bán đi, bởi bà con đang gặp khó khăn về nguồn vốn vì đã vay mượn để đầu tư trồng rừng, trang trải cuộc sống, nuôi con ăn học...
Trao đổi với ông Lê Văn Đốc, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về vấn đề phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn, chúng tôi được biết: Theo quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Thanh Hóa giai đoạn 2011-2020, toàn tỉnh có 55.932 ha đất trống và đất có rừng trồng quy hoạch phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn.
Sở đang chỉ đạo thiết lập vùng kinh doanh gỗ lớn tập trung với quy mô 55.932 ha gắn với các nhà máy chế biến lâm sản nhằm nâng cao sản lượng và giá trị rừng trên một đơn vị diện tích, tạo đột phá trong phát triển lâm nghiệp cả về năng suất, sản lượng, chất lượng, hiệu quả kinh tế, góp phần quan trọng tái cơ cấu đầu tư ngành lâm nghiệp, giải quyết việc làm và tăng thu nhập kinh tế hộ gia đình; thực hiện xóa đói, giảm nghèo bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói chung và lâm nghiệp nói riêng.
Cụ thể, phát triển vùng kinh doanh gỗ lớn từ năm 2012-2015, diện tích 22.865 ha; từ năm 2016-2020, diện tích 33.067 ha; đến năm 2020 tổng diện tích rừng gỗ lớn toàn tỉnh là 55.932 ha; đến chu kỳ khai thác trữ lượng gỗ lớn đạt 20,99 triệu m3, phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Để giải bài toán hiệu quả kinh tế lâu dài và nỗi lo kinh phí trước mắt của người làm nghề rừng, tạo điều kiện cho các đơn vị, cá nhân thực hiện mục tiêu phát triển kinh doanh rừng gỗ lớn, sở đã xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh doanh rừng trồng gỗ lớn để trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. (Báo Thanh Hóa 26/10) đầu trang(
Ngày 25-10, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Đức Quyền đã ký quyết định phê duyệt dự án trồng rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, chống xói lở bờ biển trên địa bàn tỉnh, với tổng số vốn đầu tư gần 40 tỉ đồng.
Theo đó, trong năm 2014-2015, Sở Tài nguyên - môi trường Thanh Hóa (chủ đầu tư) sẽ triển khai trồng mới, bảo vệ và phát triển 300ha rừng ngập mặn tại các xã Đa Lộc, Minh Lộc, Hải Lộc (huyện Hậu Lộc); xã Hoằng Phụ (huyện Hoằng Hóa) và xã Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn). Cây bần chua được chọn trồng trên diện tích rừng ngập mặn này, nhằm tạo vành đai rừng phòng hộ chắn sóng, chống sạt lở, bảo vệ người dân và các công trình đê biển, hạ tầng dân sinh tại các xã nêu trên. (Tuổi Trẻ 26/10) đầu trang(
Chiều 24.10, tại thôn A Réh (xã Tà Lu, huyện Đông Giang) đã diễn ra lễ ra quân trồng rừng phục hồi đa dạng sinh học theo dự án “Dự trữ Cacbon và bảo tồn đa dạng sinh học rừng” (Dự án Carbi). Dự án do Bộ Môi trường, Bảo tồn thiên nhiên và An toàn hạt nhân CHLB Đức (BMU), Ngân hàng phát triển Đức và WWF Việt Nam phối hợp thực hiện.
Năm 2013, dự án Carbi hỗ trợ trồng 450ha rừng tại 2 tỉnh Quảng Nam và Thừa Thiên Huế. Riêng tại huyện Đông Giang, dự án hỗ trợ cho 124 hộ dân tại 4 thôn của xã Tà Lu với tổng diện tích đất trồng rừng 160ha (gồm các loại cây sao đen, lát hoa và lim xanh), thực hiện từ đây cho đến cuối năm 2013. Bình quân mỗi hec ta rừng nằm trong vùng dự án được hỗ trợ từ 10-12 triệu đồng/hộ dân. Dự kiến trong năm 2014, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ trồng thêm 250ha rừng và xúc tiến tái sinh 2.970ha rừng tại các vùng của huyện Đông Giang.
Dự án nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng và suy thoái rừng giúp bảo tồn khả năng đa dạng sinh học rừng tại địa phương. (Báo Quảng Nam 25/10) đầu trang(
Từ ngày 24-25/10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức chung kết Hội thi kiểm lâm địa bàn giỏi năm 2013.
Để đến với vòng chung kết, 18 thí sinh đã phải vượt qua vòng thi sơ loại từ cơ sở. Tại vòng chung kết, mỗi thí sinh phải trải qua 3 phần thi: Tự luận, trắc nghiệm và vấn đáp. Qua 2 ngày thi sôi nổi và hào hứng, các thí sinh đã hoàn thành tốt các phần thi. Kết quả có 2 thí sinh đạt loại xuất sắc, 6 thí sinh đạt loại giỏi, những thí sinh còn lại đạt loại khá và trung bình. (Đài PT – TH Kon Tum 26/10) đầu trang(
Trong khuôn khổ đề tài độc lập cấp nhà nước, ngày 23.10.2013, tại Cà Mau, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình (Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam) phối hợp với Sở NN&PTNT Cà Mau đã tổ chức Hội thảo “Nghiên cứu nguyên nhân làm suy giảm rừng ngập mặn và các giải pháp công nghệ trồng cây ngập mặn tại vùng bãi xói lở ở các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã cùng trao đổi các kết quả nghiên cứu về nguyên nhân suy giảm cũng như các giải pháp công nghệ nhằm phục hồi và phát triển rừng ngập mặn qua các báo cáo tham luận như: Một số điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn vùng ĐBSCL;
Nguyên nhân suy giảm rừng ngập mặn khu vực ĐBSCL; Diễn thế đa dạng sinh học và diễn thế rừng ngập mặn ĐBSCL và bán đảo Cà Mau; Tác động của tuyến kè tạo bãi ven biển Tây tỉnh Cà Mau; Hàng rào giảm sóng, nâng bãi để trồng cây ngập mặn; Các giải pháp tổng hợp khôi phục rừng ngập mặn ở ĐBSCL...
Hội thảo đã chỉ ra nguyên nhân chính làm suy giảm rừng ngập mặn là do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, do những tồn tại trong cơ chế, chính sách bảo vệ rừng ngập mặn, do hiện tượng xói lở gia tăng. Về giải pháp, các đại biểu cho rằng, kỹ thuật “Hàng rào giảm sóng, nâng bãi để trồng cây ngập mặn” là giải pháp tối ưu để phục hồi rừng ngập mặn trong thời gian tới khi được sử dụng kết hợp với giải pháp kè bê tông ly tâm tạo bãi. (Tạp chí Khoa Học&Công Nghệ VN 25/10) đầu trang(
Có kinh nghiệm chăn nuôi động vật hoang dã, hết lòng giúp nông dân (ND), khi ông Trần Văn Thưởng được Hội ND quận Liên Chiểu, Đà Nẵng chọn làm chi hội trưởng chi hội nghề nghiệp lĩnh vực này của quận, hội viên rất phấn khởi.
Anh Lê Hồng Vinh - chủ trang trại nuôi chim trĩ đỏ phường Hoà Minh, chia sẻ: Điều hội viên cần nhất ở người chi hội trưởng là phải có kinh nghiệm về nghề, gỡ được các vướng mắc của ND và ông Thưởng đã làm tốt những điều này.
Đúng như anh Vinh nhận xét, ông Thưởng có 15 năm trong nghề nuôi động vật hoang dã. Ông đã từng trắng tay nhiều lần mới có được thành công như hôm nay. Trang trại của ông rộng trên 1ha, lúc nào cũng có vài ngàn con rắn các loại, nhiều nhất là hổ mang phì, hổ trâu (những loại rắn thị trường rất chuộng). Mỗi năm, ông xuất bán từ 10 – 15 tấn rắn các loại, hơn chục tấn kỳ đà, vài trăm cặp nhím… Doanh thu năm nào cũng vài tỷ đồng, lãi ròng là hơn 500 triệu đồng.
Với thành công này, ông đã được hội viên bầu làm chi hội trưởng chi hội ND khối phố Hòa Mỹ 6, Hòa Minh. “Điều hội viên quý ông Thưởng nhất là tấm lòng. Ông không giấu nghề, giúp được ai cái gì là ông giúp không điều kiện”- ông Nguyễn Thanh Bê - Chủ tịch Hội ND quận Liên Chiểu, nhận xét.
Hội viên Nguyễn Vũ, phường Hoà Khánh Nam, tâm sự: “Tôi nuôi nhím 5 năm không thấy đẻ. Nhím giống rất đắt (18-20 triệu đồng/cặp) mà nuôi hoài không đẻ thì lỗ chết. May mà anh Thưởng đã đến bày cách. Không phải nhím của tôi không đẻ mà đẻ vào ban đêm bị nhím bố ăn thịt mà mình không biết. Nghe anh Thưởng hướng dẫn, khi nhím cái mang thai, tôi tách nhím đực ra, và có ngay nhím con”.
Hội viên Trần Thị Hai, phường Hoà Hiệp Bắc nuôi hươu lấy nhung kể: “Ngày trước, mỗi lần lấy nhung cần cả 10 người, tốn trên chục triệu đồng. Từ khi anh Thưởng hướng dẫn, tôi lấy nhung vừa khoẻ, vừa không tốn kém, mỗi lần chỉ hết 300.000 đồng, chất lượng nhung lại tốt”.
Điều hội viên tín nhiệm nhất đối với anh Thưởng là gỡ vướng cho bà con về pháp lý. Nhiều ND thấy nuôi động vật hoang dã có lợi là nhảy vô làm, đến khi có sản phẩm thì không bán được vì vướng thủ tục. Nếu không chứng nhận về nguồn gốc sản phẩm, theo quy định ngành kiểm lâm sẽ không cho xuất bán, thậm chí lập biên bản tịch thu, xử phạt.
“Để giải quyết khâu này, phải có một tổ chức đứng ra đại diện lo pháp lý đầu ra sản phẩm cho bà con. Tôi đề xuất thành lập chi hội chăn nuôi động vật hoang dã thông thường và được Hội ND quận đồng ý” - ông Thưởng tâm sự.
Đầu năm 2013, chi hội nghề nghiệp chăn nuôi động vật hoang dã thông thường thành lập, hội viên đăng ký tham gia rất đông, nhưng ông Thưởng đặt điều kiện: Tiêu chí đầu tiên tham gia chi hội là không đối phó với quy hoạch, di dời, giải toả (nhiều người nuôi vài con cho có để lấy cớ không chịu di dời, hoặc để đòi tiền đền bù...). Với tiêu chí này, ông chỉ chấp nhận 28 hội viên là những ND quyết tâm với nghề nuôi động vật hoang dã và đã có cơ sở chăn nuôi.
Ông Nguyễn Thanh Bê nhận định, hoạt động này nhanh chóng đạt hiệu quả như ông Phan Ngọc Lễ (phường Hoà Hiệp Bắc), trước kia nuôi heo rừng rất nhiều nhưng không bán được do vướng thủ tục. Tham gia chi hội nghề nghiệp, chỉ trong mấy tháng đầu năm 2013, ông liên tục xuất bán đi TPHCM, thu lãi trên 70 triệu đồng. Ông Phan Tấn Phong (phường Hoà Minh) nuôi hàng trăm con chim trĩ nhưng không bán được vì thủ tục. Ngay sau khi tham gia chi hội, đã bán một lô hàng 250 triệu đồng... (Nông Thôn Ngày Nay 26/10) đầu trang(
Rời bỏ nghề phá rừng đốt than độc hại, cực nhọc trăm bề mà chẳng đủ ăn, chàng rể xóm than tự tạo cơ hội làm giàu bằng cách mày mò nhân giống loài chim quý có tên trong Sách Đỏ.
Người dân thôn 6, xã Ea Bar (huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk) sống bằng nghề đi rừng đốt than đã nhiều năm nay. Công việc nặng nhọc, quanh năm lem lấm, hít khói bụi độc hại mà thu nhập không được bao nhiêu. Về làm rể xóm than, anh Văn Minh Thể (sinh năm 1980) nghiền ngẫm tìm lối thoát.
Anh Thể thật thà kể: Tôi xem ti vi, thấy giới thiệu nhiều mô hình chăn nuôi hay lắm! Trên Tây Nguyên này, nhiều người nuôi chồn, nhím, heo rừng. Tôi cũng mua vài cặp chồn lông đen nuôi thử rồi nhưng chẳng ăn thua. Sau thời gian dài tìm hiểu, tôi quyết đầu tư vào nghề nuôi trĩ, loài chim quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.
Đầu năm 2012, vay mượn hơn 30 triệu, anh cùng vợ là chị Dương Thị Vân Sơn tìm đến trang trại chim trĩ lớn ở Kim Bảng, Hà Nam học hỏi kỹ thuật và mua con giống. Đường xa không thể vận chuyển chim con, anh mạo hiểm mua 150 quả trứng giá 50 nghìn đồng/quả, đóng thùng đưa về tự ấp tại lò trứng vịt.
“Lần đầu tiên đi xa nhà mà lại mang theo mấy chục triệu, hai vợ chồng nơm nớp lo sợ. Lúc về ôm khư khư thùng trứng, mấy anh lơ xe tò mò hỏi: Ôm hài cốt hay sao mà giữ chặt vậy? Bởi với tôi đó không chỉ là gia sản mà còn hy vọng đổi nghề của gia đình”- anh Thể kể.
Sau 27 ngày ấp số trứng trên chỉ nở được 34 con. Thấy tỷ lệ không đạt, anh gửi tiền ra mua thêm 100 quả trứng, nở thêm đúng 34 con nữa. Chăm chỉ đọc sách báo, xem truyền hình, lên mạng tìm hiểu, vừa nuôi vừa rút kinh nghiệm, từ 68 con trĩ đã nở, anh lựa 21 con mái, 7 con chim trống để nhân giống. Số chim còn lại anh bán hết để trả nợ.
Hơn một năm qua, anh Thể vừa mày mò tự nhân giống vừa cung cấp ra thị trường hơn 1.000 con chim giống, thu lãi hàng trăm triệu đồng. Cách đây nửa tháng anh vừa xuất 1 lứa chim giống thu về gần 100 triệu đồng. Hiện anh còn hơn 100 con, trong đó 28 con chim sinh sản. “Liên tục ấp trứng, nhiều lứa chim non ra đời nhưng vẫn chưa đủ cung cấp giống ra ngoài thị trường. Rất nhiều người đến đặt chim giống mà không có”, anh Thể cho biết.
Chim trĩ rất dễ nuôi, ít dịch bệnh hơn gà vịt, chi phí đầu tư không lớn lắm nên thời gian gần đây nhiều người đặt giống để nuôi. Nhân giống nhanh, một chim mái đẻ một đợt kéo dài 3 tháng khoảng 90 quả trứng. Mỗi chim trĩ mái có thể đẻ hàng trăm quả trứng/năm. Hiện tại, thu nhập chính của gia đình anh Thể là từ việc bán giống chim trĩ và phục vụ nhu cầu chơi chim trĩ cảnh. Ngoài khách từ các địa phương trong tỉnh, người chăn nuôi ở Gia Lai, Bình Định, Phú Yên cũng nghe tiếng tìm đến đặt hàng.
Anh Thể cho biết thêm: Ở ngoài Bắc, phải 7 - 8 tháng tuổi chim trĩ mới sinh sản lứa đầu, trọng lượng chim trưởng thành chỉ 1,2 - 1,5kg/con, giá chim thịt 350.000đ/ ký. Còn ở Đắk Lắk nuôi chỉ 6 tháng trĩ đã đẻ trứng, trọng lượng 1,5 - 1,7kg/con, chưa có chim thịt để bán mà chỉ mới đầu tư bán chim giống. Chim non nở ra 20 ngày tuổi bán giống giá 150 nghìn/con, chim 1 tháng tuổi bán 200 nghìn/con, 3 - 4 tháng giá 700 -800 nghìn/con. Chim mái chuẩn bị đẻ trứng giá hàng triệu đồng/con, chim cồ 800 nghìn/con.
Anh Thể dự kiến sẽ mở rộng mô hình nuôi thêm 40 - 50 chim đẻ, vừa bán chim giống, chim cảnh vừa hướng tới phát triển chim trĩ thương phẩm. (Tiền Phong 26/10) đầu trang(
Theo Hạt Kiểm lâm Buôn Ma Thuột, đến nay trên địa bàn thành phố có 30 cơ sở nuôi động vật hoang dã thông thường được Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận.
Các loài động vật hoang dã được nuôi sinh sản và thương phẩm chủ yếu là heo rừng, nhím, kỳ đà, cầy vòi hương và rắn các loại. Số cơ sở đăng ký nuôi động vật hoang dã thông thường trên mỗi năm đến cơ quan chức năng làm hồ sơ, thủ tục xuất bán hơn 20.000 cá thể các loại.
Được biết, thu nhập bình quân của mỗi cơ sở đạt từ 150-250 triệu đồng/năm; và đây cũng là hướng phát triển kinh tế hộ phù hợp, góp phần cải thiện đời sống người dân địa phương. (Báo Đăk Lăk 26/10) đầu trang(
Tại hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 03/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và cuộc vận động “Người cán bộ hội và nông dân tiêu biểu xuất sắc làm theo lời Bác” của Hội Nông dân TP Đà Nẵng, ông Trần Văn Thưởng, Chi hội trưởng Chi hội nghề nghiệp chăn nuôi động vật hoang dã quận Liên Chiểu vinh dự được Thành hội trao tặng Bằng khen cá nhân điển hình tiêu biểu, xuất sắc.
Nói về mô hình của mình, ông Trần Văn Thưởng cho biết, xuất phát từ thực tế chăn nuôi động vật hoang dã thông thường theo kiểu manh mún, tự phát trong nhân dân, ông đã mạnh dạn đề xuất với chính quyền địa phương thành lập Chi hội nghề nghiệp trực thuộc Hội Nông dân Q. Liên Chiểu với mục đích tập hợp những hộ nông dân để hình thành mô hình sản xuất mới, vừa tạo ra hiệu quả kinh tế cao, vừa góp phần làm tốt công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này. Bản thân gia đình ông đi tiên phong trong việc chăn nuôi động vật hoang dã.
Ông Trần Thiên Vũ, 47 tuổi, ở tại Chơn Tâm, P. Hòa Khánh Nam đã áp dụng mô hình chăn nuôi nhím với hơn 20 cá thể. Theo ông Vũ, nuôi nhím thì có phần dễ dãi hơn, thức ăn dễ kiếm, nó rất phàm ăn, những cây, củ hư có thể cho ăn được, nhím sinh sản nhanh, nhanh lớn, ít dịch bệnh, mỗi kg nhím giá tiền đến 320 nghìn đồng. Kể từ ngày tham gia Chi hội nghề nghiệp, ông Vũ được cán bộ Hội Nông dân và Trạm Thú y của quận hướng dẫn cụ thể về cách chăm sóc, cách phòng ngừa dịch bệnh trong đàn nhím nuôi.
Đến nay, Chi hội đã tập hợp gần 30 hội viên, tổ chức nhiều mô hình chăn nuôi heo rừng, chim trĩ, nhím, ba ba, nai, kì đà... Được Chi hội tư vấn, giúp đỡ, hiệu quả kinh tế đem lại cho nhiều hộ chăn nuôi đã nâng cao hơn so với trước đây.
Điển hình như ông Phan Công Lễ vừa xuất bán kì đà thu về hàng trăm triệu đồng. Ngoài ra, mô hình nuôi chim trĩ của anh Phạm Tiên Phong (P. Hòa Minh) cũng phát huy kết quả. Nhiều nơi nghe tiếng tìm tới học hỏi và đặt mua con giống. Với những con giống, vật nuôi khó tìm đầu ra, Chi hội nỗ lực tìm kiếm thị trường tiêu thụ giúp hội viên ổn định đầu ra cho sản phẩm.
Theo Chủ tịch HND Q. Liên Chiểu Nguyễn Thanh Bê, những năm gần đây, việc chuyển đổi mô hình sản xuất luôn là điều trăn trở trong bà con nông dân. Việc tìm ra hướng mới giúp nông dân ổn định sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế của các nông dân ở Q. Liên Chiểu là điều đáng biểu dương và ghi nhận.
Vì vậy, Hội Nông dân quận thường xuyên phối hợp với các ngành chức năng như kiểm lâm, thú y... để giúp khâu phòng, chữa bệnh và giải quyết nhanh các thủ tục pháp lý khi tiêu thụ các động vật hoang dã thông thường khi nông dân nuôi được. (Công An Đà Nẵng 25/10) đầu trang(
Ngày 24/10, Thanh tra tỉnh Cà Mau, cho biết, đơn vị này vừa công bố quyết định thanh tra tại Cty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ và Vườn quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau).
Đây là cuộc thanh tra đột xuất theo sự chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau. Theo đó, Thanh tra tỉnh sẽ tiến hành thanh tra tại Ban Quản lý rừng đặc dụng Vồ Dơi (nay là Vườn Quốc gia U Minh Hạ); lâm ngư trường Sông Trẹm, Trần Văn Thời, 30/4, U Minh I và U Minh II (nay hợp nhất thành Cty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ).
Trong đợt thanh tra đột xuất này, Thanh tra tỉnh Cà Mau sẽ làm rõ một số vấn đề như: việc giao 863 ha đất thuộc vùng đệm Vườn Quốc gia U Minh Hạ; làm rõ việc các lâm ngư trường xác định trữ lượng cây rừng không đúng quy trình, giảm giá trị rừng mà không tổ chức đấu thầu… (Nông Nghiệp Việt Nam 25/10) đầu trang(
Sáng 25-10, Công an tỉnh Quảng Nam cho biết vừa ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam Huỳnh Huy Hội (24 tuổi, trú xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành) để điều tra về hành vi giết người.
Trước đó, 13-10, tại khu vực chân núi Bà Thi, xã Tam Xuân 2, huyện Núi Thành xảy ra vụ hỗn chiến giữa gia đình ông Võ Huỳnh Trưởng (40 tuổi, thôn Thạch Kiều, xã Tam Xuân 2) và gia đình ông Huỳnh Huy Cường (trú cùng thôn). Nguyên nhân xảy ra vụ hỗn chiến bằng hung khí là do hai gia đình mâu thuẫn trong việc tranh chấp 50m2 đất rừng tại chân núi Bà Thi.
Trong lúc xô xát, Huỳnh Huy Hội đã dùng hung khí đâm chết ông Trưởng. Ngoài ra, vụ xô xát cũng làm 7 người khác bị thương gồm ông Nguyễn Văn Tổng (46 tuổi), Nguyễn Văn Văn (24 tuổi) và Võ Ngọc Hòa (bên gia đình ông Trưởng) và bà Nguyễn Thị Thanh Nga, Huỳnh Huy Quốc, Huỳnh Huy Hội, Huỳnh Huy Việt (là vợ và các con ông Cường).
Theo hồ sơ điều tra, vào năm 2006 gia đình ông Cường có phát cỏ, dọn vệ sinh khu đất rừng hơn một sào tại chân núi Bà Thi để trồng keo, mỗi năm thu hoạch một lần. Sau đó, gia đình ông Trưởng cũng lên phát cỏ khu đất bên cạnh trồng cây keo và xảy ra việc tranh chấp diện tích đất trồng keo của gia đình ông Cường, dẫn đến mâu thuẫn và án mạng nghiêm trọng trên. (Tuổi Trẻ 25/10; Người Lao Động 25/10) đầu trang(
Năm 2008, khi UBND tỉnh Thanh Hóa cho phép Ban Quản lý Dự án (BQLDA) Công trình Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn thuê và khai thác đất làm vật liệu san lấp cũng là thời điểm mở đầu cho những tranh chấp không đáng có giữa Công ty TNHH Trúc Vinh và Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Tĩnh Gia.
Với những rắc rối pháp lý cùng những sai sót trong quá trình thu hồi, bồi thường đất, khiến những người trồng rừng 20 năm đứng trước việc mất trắng cơ nghiệp. Dự án lớn, là niềm tự hào của Thanh Hóa và cả vùng đất rộng lớn Bắc Trung bộ. Song, có nên không khi để hạt sạn này làm cho niềm vui trở nên không trọn vẹn?
Theo Quyết định 1734/ QĐ-UBND của UBND tỉnh Thanh Hóa thì việc thu hồi 1.484.604m2 đất giao cho BQLDA thuê để sử dụng vào mục đích khai thác đất làm vật liệu san lấp và trong 10 ngày UBND huyện Tĩnh Gia có trách nhiệm quyết định thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân (nếu có); tổ chức bồi thường giải phóng mặt bằng (GPMB) theo quy định của pháp luật.
Quyết định này không nêu cụ thể thu hồi đất của những đơn vị nào và chỉ thu hồi đất (nếu có), dẫn đến việc UBND huyện Tĩnh Gia không ban hành quyết định thu hồi đất, mà chỉ thực hiện việc kiểm kê và lập phương án bồi thường trình UBND tỉnh phê duyệt.
Dựa vào phương án do UBND huyện lập, ngày 7.8.2008 UBND tỉnh Thanh Hóa có quyết định số 2242/QĐ-UBND, duyệt dự toán bồi thường cây thông cho BQLRPH 1.569.180.900 đồng, trong khi UBND tỉnh không có quyết định thu hồi đất của đơn vị này. Điều đáng nói, cũng là mấu chốt của sự việc chính là diện tích thu hồi 420.765m2 phê duyệt bồi thường cho BQLRPH Tĩnh Gia, đang được Công ty TNHH Trúc Vinh sử dụng hợp pháp.
Do thời điểm thu hồi đất vào giữa tháng 6.2008, nên trình tự thủ tục phải theo Nghị định số 84/2007/NĐ-CP. Điểm a, khoản 1, Điều 60 Nghị định này quy định: “Thực hiện đúng trình tự, thủ tục về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định từ Điều 49 đến Điều 59 Nghị định này”.
Từ những viện dẫn pháp luật cho thấy, UBND tỉnh Thanh Hóa và UBND huyện Tĩnh Gia sai sót rất nhiều về trình tự, thủ tục, thiếu hẳn các quyết định thu hồi đất tổng thể và thu hồi đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân… Và, ngay trong bản án của Tòa phúc thẩm ngày 30.1.2013 cũng cho thấy một phần sự không rõ ràng trong việc thu hồi đất, cụ thể “…diện tích BQLRPH bị ảnh hưởng là 42,765 ha là đất của tổ chức nhưng chưa có cơ sở xác định UBND tỉnh Thanh Hóa có ban hành quyết định thu hồi đất đối với BQLRPH hay không, trong quyết định UBND tỉnh cũng không giao nhiệm vụ cụ thể cho UBND huyện Tĩnh Gia như thế nào?
Từ những từ ngữ thiếu cụ thể, hay chính xác hơn là “tránh đưa ra những địa chỉ cụ thể” trong quyết định của UBND tỉnh, (vì đây là đất thuộc diện tích rừng phòng hộ), khiến Tòa phúc thẩm đã phải bác toàn bộ phán quyết của Tòa sơ thẩm. Và, cũng chính từ lập luận của Tòa cho thấy dù “chưa có cơ sở xác định UBND tỉnh Thanh Hóa có ban hành quyết định thu hồi đất đối với BQLRPH” hay không, nhưng UBND huyện vẫn lập phương án đền bù, bồi thường. Đây chính là mẫu chốt của vấn đề.
Theo những quy định liên quan đến quản lý rừng, thì BQLRPH không phải là chủ rừng, mà chủ yếu thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng phòng hộ. Tuy nhiên, sau khi chuyển đổi Lâm trường Tĩnh Gia thành BQLRPH Tĩnh Gia, UBND tỉnh Thanh Hóa đã không thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho nông trường trước đó. Đây cũng chính là “cơ sở pháp lý” để BQLRPH thực hiện những minh bạch trong quy chế quản lý rừng, hưởng lợi các chính sách của Nhà nước đối với các chủ rừng được giao, cho thuê nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp.
Đối với vụ việc liên quan đến Công ty Trúc Vinh, ngày 6.3.1997, Giám đốc Lâm trường Tĩnh Gia Phan Thị Xoan ký hợp đồng số 20 HĐ/BV với ông Nguyễn Bá Trung, nội dung giao 67ha rừng tại tiểu khu 671 cho ông Trung chăm sóc, bảo vệ. Biên bản bàn giao thể hiện tổng số cây thông tại thời điểm bàn giao là 7.750 cây.
Tại biên bản kiểm kê khối lượng bồi thường giải phóng mặt bằng số 01/BBKK-Tổ 4 ngày 20.6.2008, do Hội đồng bồi thường GPMB lập cho BQLRPH Tĩnh Gia, tổng số cây thông lấy nhựa là 57.926 cây, trong đó 15.750 cây từ 5 - 7 năm, số còn lại lớn hơn 7 năm.
Từ thời điểm ký hợp đồng, bàn giao rừng năm 1997 đến khi Nhà nước thu hồi năm 2008, ông Trung và Công ty TNHH Trúc Vinh vẫn thực hiện trồng dặm, bảo vệ, chăm sóc và khai thác nhựa thông tại khu rừng này, không có tranh chấp, không có bất cứ can thiệp nào của Lâm trường, sau đó là BQLRPH Tĩnh Gia.
Như vậy, số cây thông còn lại, sau khi trừ đi 7.750 cây ban đầu, phải thuộc về Công ty TNHH Trúc Vinh, phù hợp với quy định của pháp luật. Hơn nữa, BQLRPH Tĩnh Gia là đơn vị sự nghiệp hành chính có thu, thực hiện cơ chế tài chính theo Nghị định 42/2006/NĐ – CP, phải mua lại và bao tiêu sản phẩm của chủ rừng. Thế nhưng, tài liệu cho thấy BQLRPH không những thu địa tô, mà còn được hưởng lợi từ chính sách định mức phân bổ vốn chăm sóc rừng, phòng cháy chữa cháy của Nhà nước – vốn được dành cho các chủ rừng.
Vậy, việc UBND huyện Tĩnh Gia lập phương án cho BQLRPH Tĩnh Gia được hưởng tiền đền bù, bỏ qua đóng góp của 63 công nhân trồng rừng tại Công ty TNHH Trúc Vinh có hợp lý, thuận tình không? (Đại Biểu Nhân Dân 25/10) đầu trang(
Từ ngày 19/10 đến nay, một đàn voi rừng khoảng 30 con nhiều lần kéo về sát khu dân cư của thị trấn Ea Súp, huyện Ea Súp. Đây là một câu chuyện vừa mừng vừa lo!
Nhiều người phát hiện đàn voi tại khu vực gần hồ Ea Súp thượng, thuộc lâm phần quản lý của Công ty lâm nghiệp Cư M’Lan và khu vực rừng phòng hộ của huyện Ea Súp. Chính quyền huy động công an và các lực lượng khác ra túc trực ngày đêm để khua chiêng và dùng các biện pháp khác xua đuổi bầy voi, tránh việc chúng phá hoa màu, nương rẫy và bảo vệ tính mạng, tài sản cho dân.
Đàn voi này rất khôn, chúng thường “bố trí” vài ba con đi trước để “thám thính”, nếu thấy bóng người đông, khua chiêng, gõ trống, đốt lửa tạo khói xua đuổi thì chúng có chút dè dặt đứng xa để chờ thời cơ về ăn hoa màu; nhưng thấy ít bóng người là mạnh dạn kéo đến. Những ngày gần đây, chúng ngày càng tiến gần tới khu dân cư, tỏ vẻ không “bận tâm”, sợ hãi gì về những phương pháp xua đuổi đã quá quen thuộc của các lực lượng chức năng và người dân.
Năm 2007, đàn voi này cũng về đây ăn và dẫm phá hoa màu của người dân thuộc các xã Ea Lơi, Ea T’Mốt của huyện Ea Súp gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng với bà con nghèo vùng biên giới, khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh thiếu đói. Năm nay, chúng mạnh dạn hơn, kéo về gần sát trung tâm thị trấn Ea Súp, nơi tập trung đông dân cư.
Ông Trần Ngọc Quang - Chủ tịch UBND huyện Ea Súp tỏ ra lo ngại: “Chúng có vẻ không sợ các biện pháp mà lực lượng áp dụng để xua đuổi. Hiện UBND huyện đã làm công văn gởi đến cơ quan cấp trên xem xét, tìm biện pháp hữu hiệu để đưa đàn voi ra khỏi khu vực này, tránh gây thiệt hại về người và của cho dân. Bên cạnh đó đảm bảo cho đàn voi được an toàn, tránh khỏi sự săn lùng của những kẻ săn voi”.
Nhìn ở góc độ bảo tồn phát triển voi rừng thì đây cũng là một tin mừng. Vẫn còn voi đàn xuất hiện để người và đất Tây Nguyên tự hào về một biểu tượng dũng mãnh tưởng như sắp mất dần và chỉ còn trong ký ức. Nhưng nhìn ở góc độ thực tế hơn thì chuyện đàn voi rừng xuất hiện về sát khu dân cư như thế cũng gây ra nhiều nỗi lo!
Trước hết, đó là lo đàn voi sẽ tiếp tục về phá hoại hoa màu, nhà cửa người dân. Và lo nếu chúng ta không kịp thời có các biện pháp giám sát, theo dõi, định hướng di trú và chăm sóc, bảo vệ đàn voi rừng này một cách chặt chẽ, khoa học, hiệu quả thì số phận của chúng sẽ dễ rơi vào tầm ngắm của các tay súng chuyên đi săn tìm ngà voi, lông, đuôi voi. (Công an TPHCM 26/10) đầu trang(
Sau khi đăng bài viết về tình trạng lâm tặc lộng hành một cách khó hiểu ở Lạc Dương (Lâm Đồng), báo Pháp luật Việt Nam nhận được khá nhiều đơn thư, ý kiến bạn đọc đề nghị bày tỏ bức xúc, cần được nghe tiếng nói của cơ quan chức trách về vấn đề này.
UBND tỉnh Lâm Đồng cho hay, ngay sau khi nhận được thông tin về vụ việc trên, chính quyền tỉnh đã có Văn bản số 5708 gửi Sở NN&PTNT, Công an (CA) tỉnh, UBND huyện Lạc Dương.
Trước mắt, UBND tỉnh giao Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương trực tiếp chỉ đạo CA huyện chủ trì, phối hợp với Hạt Kiểm lâm (KL) và các đơn vị có liên quan khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ các đối tượng hủy hoại cây rừng, lấn chiếm đất rừng trái phép, chống người thi hành công vụ (đặc biệt là các đối tượng cầm đầu và các đối tượng khác có liên quan) để xử lý nghiêm theo pháp luật.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện, chính quyền xã Đạ Sar và các đơn vị có liên quan tích cực phối hợp với lực lượng CA và KL trong việc điều tra, làm rõ và xử lý các đối tượng trong vụ việc nêu trên; thành lập Đoàn công tác liên ngành của huyện tổ chức giải tỏa dứt điểm trước ngày 30/10/2013 diện tích đất đã bị người dân lấn chiếm trái phép để giao lại cho Cty Thành Phong thực hiện dự án đầu tư theo quy định.
Đề nghị CA tỉnh chỉ đạo kiểm tra, theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện của CA huyện Lạc Dương đối với vụ việc nêu trên, đồng thời yêu cầu các cơ quan chức trách báo cáo kết quả thực hiện về UBND tỉnh trước ngày 30/10/2013 để có ý kiến chỉ đạo tiếp.
Bí thư Huyện ủy Lạc Dương Đỗ Quý Uy cũng đã có Văn bản số 865 gửi UBND huyện Lạc Dương và CA huyện yêu cầu thực hiện những nội dung đã được chỉ đạo tại Văn bản số 5708 của UBND tỉnh và Kết luận số 229 của Ban Thường vụ Huyện ủy về điều tra, xử lý nội dung liên quan đến hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng, gây rối trật tự, xâm hại sức khỏe người khác.
Đối với đơn yêu cầu khởi tố vụ án của bà Võ Thị Nhạn, đề nghị CA huyện hướng dẫn bà Nhạn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tiến hành điều tra xác minh và quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND huyện Lạc Dương Nguyễn Duy Hải đã ra văn bản số 1158 giao CA huyện chủ trì, phối hợp với Hạt KL Lạc Dương, Ban Quản lý rừng Đa Nhim, UBND xã Đạ Sar và Cty Thành Phong khẩn trương điều tra làm rõ và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng chống lực lượng giải tỏa của huyện đang thực hiện nhiệm vụ.
Cụ thể là vợ chồng ông Sáu, bà Hoa, ông Hỏa Văn Định và các đối tượng khác, mặt khác, đấu tranh làm rõ đối với khối lượng gỗ 1.549m3 dùng để bờ ta luy và 8 gốc thông 3 lá còn lại trên diện tích đã giải tỏa và chưa giải tỏa của ông Sáu, bà Hoa để củng cố hồ sơ xử lý theo quy định.
Tuy nhiên, ngày 26/9/2013 Phó Trưởng CA huyện Lạc Dương - Thượng tá Phạm Phú Ty - ra Văn bản số 556: “Việc Cty Thành Phong giải tỏa không có kế hoạch giải tỏa trình UBND huyện phê duyệt, không làm việc thông báo trước cho đối tượng bị giải tỏa, vì vậy hành vi xô xát của vợ chồng Sáu, Hoa với số người giải tỏa sáng 12/9/2013 không cấu thành tội chống người thi hành công vụ”(?!)
Trong khi đó, tại Báo cáo số 114 ngày 19/9/2013 của Hạt KL Lạc Dương nêu rõ: “Ngày 12/9/2013, Cty Thành Phong phối hợp với Trạm Quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) Đarahoa thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim, KL địa bàn xã Đạ Sar, lâm phần do Cty Thành Phong quản lý, trong quá trình đang thực hiện công tác giải tỏa có 2 người đến nói là người làm thuê trông coi vườn và gọi điện báo cho chủ vườn biết; sau đó, có khoảng 9 người, trong đó có một phụ nữ, mỗi người đều mang theo hung khí đến ngăn cản, chống đối không cho đoàn thực hiện công tác giải tỏa và đã xảy ra xô xát.
Cụ thể, các đối tượng đã xô ngã và dùng cây đánh bà Võ Thị Nhạn - Giám đốc Cty Thành Phong, ông Lê Trần Phong - Phó Giám đốc Cty Thành Phong và rượt đuổi lực lượng tổ chức giải tỏa cho Cty, hành hung lực lượng hỗ trợ giải tỏa gây chấn thương nhẹ.
Ông Thuận KL địa bàn bị đánh vào chân trái, ông Hào bị chảy máu ngón cái của tay phải do bị gậy tầm vong đánh vào người. Cán bộ Trạm QLBVR Đarahoa Đinh Xuân Phương bị đánh vào người bằng gậy tầm vông. Cty Thành Phong ông Lê Trần Phong và bà Võ Thị Nhạn bị đánh bằng gậy tầm vông, bà Nhạn bị xô ngã. Sau khi vụ việc xảy ra, Cty Thành Phong đã gọi điện thoại báo cho CA huyện vào giải quyết vụ việc”.
Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật Hình sự về tội chống người thi hành công vụ: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật” thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Từ đây, dư luận tiếp tục đặt vấn đề có hay không việc “bảo kê” cho “lâm tặc” hủy hoại rừng, lấn chiếm đất rừng và chống người thi hành công vụ? Vì sao không khởi tố vụ án để điều tra, làm rõ theo quy định tại Điều 100 Bộ luật Tố tụng Hình sự? (Pháp Luật Việt Nam 26/10) đầu trang(
Ngày 15/9/2013, Báo Quân Đội Nhân Dân đăng bài ""Thái Nguyên: Ai ""xẻ"" rừng Ngàn Me"" của tác giả Minh Mạnh - Xuân Đức, phản ánh hiện trạng rừng phòng hộ và rừng sản xuất Ngàn Me thuộc địa bàn xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bị các đối tượng chặt phá lấy gỗ, chiếm đất trồng rừng.
Chiều 25-10, ông Trần Quyết Thắng, Phó chủ tịch UBND huyện Đồng Hỷ cho biết, sau khi bài viết được đăng tải, UBND huyện Đồng Hỷ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng vào cuộc xác minh, làm rõ vụ việc. Đến nay, Công an huyện Đồng Hỷ đã khởi tố vụ án hình sự và bắt tạm giam một đối tượng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên cũng đang thẩm định để trình UBND tỉnh Thái Nguyên công nhận rừng Ngàn Me là rừng phòng hộ.
Như đã phản ánh, mặc dù việc phá rừng Ngàn Me đã rõ, nhưng việc ngăn chặn và xử lý các đối tượng phá rừng của các cấp, các ngành chức năng thì vẫn chưa có giải pháp hiệu quả. Điều mà người dân mong đợi không chỉ là quyết định của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc công nhận khu vực rừng đầu nguồn Ngàn Me là rừng phòng hộ, mà còn là sự vào cuộc của các ngành chức năng để làm rõ và xử lý nghiêm minh trước pháp luật những kẻ vi phạm các quy định trong quản lý và bảo vệ rừng… (Quân Đội Nhân Dân 26/10) đầu trang(
Giáp ranh với những địa phương “nóng” với nạn khai thác gỗ trái phép như các huyện An Lão, Hoài Ân (Bình Định); Đức Phổ (Quảng Ngãi), do đó, huyện Hoài Nhơn (Bình Định) được xem như là “cái túi” của nhiều ngả gỗ lậu đổ về để tiêu thụ, hoặc làm nơi trung chuyển đi nơi khác.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Hoài Nhơn, trên địa bàn huyện này đang có đến 54 cơ sở chế biến gỗ và hàng trăm xưởng cưa đang hoạt động nhiều hình thức: Trại mộc dân dụng, cơ sở đóng tàu cá và mua bán lâm sản. Do đó, nhu cầu tiêu thụ gỗ trên địa bàn huyện rất lớn.
Không chỉ vậy, Hoài Nhơn còn là điểm trung chuyển của gỗ lậu khai thác trái phép từ huyện An Lão đưa xuống địa bàn thị trấn Bồng Sơn; hoặc từ huyện Hoài Ân đưa xuống địa bàn xã Hoài Đức, rồi từ đây vận chuyển đi nơi khác để tiêu thụ. Do đó, từ trước đến nay, Hoài Nhơn vẫn được xem là điểm nóng về nạn vận chuyển và tiêu thụ gỗ lậu.
Theo ông Trần Trung Miên, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn, để ổn định vùng giáp ranh với huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), ngành Kiểm lâm 2 huyện đã thiết lập quy chế phối hợp nhằm ngăn chặn triệt để hoạt động của lâm tặc. Khi có dấu hiệu vi phạm của lâm tặc, chính quyền các địa phương trong vùng giáp ranh như các xã Phổ Cường, Phổ Khánh (Đức Phổ - Quảng Ngãi) và Hoài Sơn (Hoài Nhơn - Bình Định) liền phối hợp với kiểm lâm địa bàn tổ chức tuần tra, ngăn chặn.
Do đó, trong những năm gần đây, nạn khai thác lâm sản trái phép trong những diện tích rừng tự nhiên ở khu rừng giáp ranh Bình Định - Quảng Ngãi được lắng dịu. Hiện địa bàn vùng giáp ranh này chỉ còn nổi cộm nạn săn bắt, vận chuyển và mua bán động vật hoang dã.
Các cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn của huyện Hoài Nhơn cũng được ngành chức năng quản lý rất chặt. Hạt Kiểm lâm Hoài Nhơn thường xuyên phối hợp với Cảnh sát kinh tế thuộc Công an huyện tổ chức kiểm tra các cơ sở chế biến lâm sản và các xưởng cưa trên địa bàn.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn, ông Trần Trung Miên, cho biết: “Trong thời gian gần đây, tính chất quy mô trong những hoạt động của lâm tặc trên địa bàn được chúng thu nhỏ dần để tránh sa lưới ngành chức năng. Các cơ sở chế biến lâm sản và các xưởng cưa không còn dám tiêu thụ và tàng trữ gỗ lậu vì sợ nếu vi phạm sẽ bị rút giấy phép hoạt động”.
Nếu như trong năm 2012, Hạt Kiểm lâm huyện Hoài Nhơn tổ chức 136 đợt tuần tra, kiểm tra và phát hiện 34 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 4 vụ chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý hình sự thì trong 9 tháng đầu năm 2013, ngành chức năng huyện này đã tăng cường công tác tuần tra, kiểm tra lên đến 236 đợt, phát hiện 12 vụ vi phạm, trong đó có 3 vụ tàng trữ gỗ lậu, 1 vụ mua bán động vật hoang dã, 1 vụ vận chuyển lâm sản và 1 vụ khai thác lâm sản trái phép.
Những con số trên cho thấy, khi sự phối hợp của các ngành chức năng càng chặt chẽ, công tác tuần tra, kiểm tra được tăng cường thì hành vi vi phạm của lực lượng lâm tặc càng giảm. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/10) đầu trang(
Ngày 25/10, trên tuyến Quốc lộ 1, thuộc xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và chức vụ phối hợp với Trạm Cảnh sát giao thông huyện Đức Phổ đã bắt quả tang xe ô tô, do tài xế Võ Văn Quang điều khiển chở 94 cá thể rùa biển quý hiếm đã chết, được ướp đá đông lạnh với tổng trọng lượng hơn 1 tấn, trung bình mỗi con từ 5- 20 kg. Đây là rùa biển quý hiếm cần được bảo vệ và cấm săn bắt, buôn bán.
Tài xế Võ Văn Quang khai, số rùa biển này được mua lại từ các chủ tàu cá xa bờ ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Sau khi hoàn tất việc thu mua gom từ các tàu cá, Quang sử dụng xe đông lạnh của ông Trương Quang Hạnh vận chuyển vào tỉnh Bình Định để tiêu thụ với giá từ 7 - 12 triệu đồng mỗi con, tùy theo trọng lượng .
Thời gian qua, lực lượng công an và biên phòng đã bắt nhiều vụ vận chuyển hàng trăm rùa biển được các đầu nậu thu mua tại Cảng Sa Kỳ, thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn.
Theo Viện Tài nguyên và Môi trường biển, các loài rùa biển được tìm thấy ở vùng biển của Việt Nam đều được xếp vào các nhóm nguy cấp hoặc rất nguy cấp trong danh sách các loài bị đe dọa tuyệt chủng của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm mọi hành vi mua, bán, vận chuyển các loài rùa biển vì mục đích thương mại.
Hiện, Công an Quảng Ngãi đang tạm giữ phương tiện và số rùa biển trên, tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (Công An Nhân Dân 26/10, tr8; Sài Gòn Giải Phóng 26/10; Tin Tức 26/10, tr7; An Ninh Thủ Đô 26/10, tr2; Pháp Luật Việt Nam 26/10, tr2; Biên Phòng 26/10; Nhân Dân 26/10) đầu trang(
Sáng 25.10, ông Lê Văn Phi- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Phù Mỹ cho biết: Đơn vị vừa xử phạt 19,5 triệu đồng với 3 hộ ông Nguyễn Văn Tự, Nguyễn Xuân Mỹ và Trần Xuân Thủy (6,5 triệu đồng/hộ) về hành vi nuôi nhốt và tàng trữ trái phép động vật hoang dã.
Chiều 24.10, lực lượng Hạt Kiểm lâm huyện đã tiến hành thả toàn bộ hơn 10,5kg động vật hoang dã nuôi nhốt trái phép tại các hộ nêu trên, bao gồm kỳ đà hoa và các loại rắn như rắn ráo, ráo trâu, hổ trâu và rắn lục về lại rừng tự nhiên. (Nông Thôn Ngày Nay 26/10) đầu trang(
Tại buổi tiếp xúc với cử tri huyện Mang Yang của đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ngày 2/7/2013 với sự có mặt của ông Hà Sơn Nhin, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai, Trưởng đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai và ông Trần Đình Thu - Giám đốc Công an tỉnh Gia Lai, nhiều cử tri ở thị trấn Kon Dỡng (Mang Yang) kiến nghị việc chặt phá rừng thông trái phép và nhiều diện tích này đã được lãnh đạo UBND huyện cấp sổ đỏ…
Khi Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Gia lai yêu cầu huyện Mang Yang trả lời về việc cấp số đỏ, thì ông Nguyễn Như Phi, đang là Chủ tịch UBND huyện Mang Yang trả lời, từ trước đến nay huyện không cấp một sổ đỏ nào trên diện tích đất rừng như ý kiến của cử tri đã phản ánh. Thế nhưng khi trao đổi với phóng viên thì Chủ tịch Nguyễn Như Phi cho rằng UBND huyện cấp sổ đỏ sai vì do bộ phận tham mưu chưa chính xác…
Sau khi nhận được phản ánh từ công luận về những việc làm bất thường ở huyện Mang Yang trong chuyện phá rừng, cấp sổ đỏ trái phép, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai khẩn trương vào cuộc để làm rõ…
Tuy nhiên không hiểu sao, sau nhiều tháng điều tra thì UBND huyện Mang Yang (Gia Lai) lại có báo cáo xin cho phép giữ nguyên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, đồng thời kiểm tra rà soát thực tế diện tích các hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời để tiến hành cấp đổi, cấp lại và chỉ đạo các ngành chức năng của huyện lập cam kết với các hộ dân không lấn chiếm thêm diện tích đất và bảo vệ diện tích rừng thông còn lại…
Báo cáo số 214/BC-UBND, ngày 1/10/2014 về tình hình phá rừng, lấn chiếm đất trái phép tại địa bàn xã Đak Djrăng của UBND huyện Mang Yang còn cho biết, theo kết quả kiểm tra của UBND huyện Mang Yang trong vụ việc người dân phá rừng thông, lấn chiếm đất lâm nghiệp tại tiểu khu 496, 499 với diện tích lấn chiếm đo đạc được là 129,3ha, có 204 thửa đất bị chiếm và được phân chia, đã xác định được tên của 115 hộ lấn chiếm, trong số 110 hộ lấn chiếm đất tại tiểu khu 496 xác định được tên của 60 hộ là đồng bào Bahnar, trú tại các làng Đê Rơn (xã Đak Djrăng); Đê Roa, Đê Kôp, Đê Ktu, thị trấn Kon Dơng…
Lãnh đạo huyện Mang Yang cho rằng, phá rừng ở các tiểu khu 496, 499 do Ban Quản lý rừng phòng hộ Đak Đoa quản lý, qua nhiều thời kỳ, nhiều thế hệ lãnh đạo, hiện nay chủ rừng không xác định ranh giới, người lấn chiếm, thời gian lấn chiếm, việc để mất rừng và trồng rừng mới Ban Quản lý không báo cho UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện để theo dõi, chỉ đạo xử lý.
Tuy nhiên, về mặt quản lý nhà nước, UBND xã Đak Djrăng còn buông lỏng để một bộ phận người dân địa phương và dân ở nơi khác đến xâm canh, chặt phá rừng nhưng không có biện pháp giải quyết triệt để; về diện tích, ranh giới của 128,18ha đất rừng bị phá trong vụ án năm 2005 và việc lấn chiếm đất rừng từ năm 2005 đến nay Ban Quản lý Rừng phòng hộ Đak Đoa không xác định được vị trí, ranh giới nên tổ công tác của huyện không có cơ sở để xác định, bóc tách cụ thể diện tích cũng như thời gian lấn chiếm nên không có cơ sở để đề nghị giải quyết, bên cạnh đó các hộ dân lấn chiếm đất cố tình không phối hợp khi có người đến xác minh…
UBND huyện Mang Yang đề xuất xin giữ nguyên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 50 hộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2003, trong đó có một phần nằm trên diện tích đất rừng theo quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Gia Lai; đồng thời tiến hành kiểm điểm, thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách đối với Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng; kỷ luật cảnh cáo đối với Phó Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch UBND xã Đak Djrăng. Riêng các cá nhân là cán bộ công chức tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện hiện đã chuyển công tác về tỉnh nên không đưa ra hình thức xử lý…
Thật khó hiểu với những kiến nghị trên nên chúng tôi đã trao đổi với Chánh Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai, người phát ngôn báo chí của UBND tỉnh cho biết, đã nhận báo cáo của UBND huyện Mang Yang nhưng xét thấy không rõ ràng nên yêu cầu làm rõ để xử lý cụ thể trách nhiệm qua các thời kỳ lãnh đạo, phải xác định cụ thể những ai đã ký cấp “sổ đỏ” và số lượng cụ thể mới xử lý được.
Còn việc giao vụ việc cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai điều tra làm rõ cũng chưa có kết quả cuối cùng, vụ việc đang giai đoạn điều tra nên chưa cung cấp thông tin. . (Công An Nhân Dân 27/10) đầu trang(
Công an huyện Anh Sơn cho biết, đơn vị này vừa bắt giữ 4 chiếc xe Reo không có BKS. Đây là những chiếc xe được xem là “hung thần” chuyên dụng để chở gỗ, kéo gỗ, được các chủ xe độ lên từ những chiếc xe cũ.
Trước đó, tối 25-10, trong quá trình tuần tra kiểm soát trên địa bàn, lực lượng CSGT huyện Anh Sơn đã phát hiện 4 chiếc xe Reo không BKS vẫn ngang nhiên lưu thông trên đường nên đã bắt giữ cả 4 chiếc xe và đưa về trụ sở để làm rõ.
Loại xe này được xem là “hung thần” chuyên dụng để kéo, chở gỗ. Đây là những chiếc xe cũ không có BKS hoặc BKS đã hết hạn đăng ký, được độ thêm tời kéo và nhiều phương tiện khác để phục vụ tối đa cho việc khai thác gỗ. Thường thì lâm tặc rất chuộng loại xe này, bởi nó có thể len lỏi vào những nơi có địa hình hiểm trở tận trong rừng sâu, có thể “cõng” hàng chục khối gỗ mà vẫn trèo đèo, lội suối rất khỏe.
Hiện, CA huyện Anh Sơn đang tiếp tục hoàn tất hồ sơ, xử lý 4 chiếc “hung thần” nói trên. (Pháp Luật&Xã Hội 27/10) đầu trang(
Cũng như huyện Quỳ Châu, hàng ngàn hộ dân ở nhiều xã của huyện Quỳ Hợp (Nghệ An) cũng chưa có đất rừng sản xuất, không có đất người dân phải đi “tha hương” để tìm kế sinh nhai. Trong khi đó đã hơn một năm nay huyện Quỳ Hợp đã nhận hơn 3,8 ngàn ha đất lâm nghiệp mà UBND tỉnh thu hồi từ các lâm trường trên địa bàn nhưng vẫn chưa giao cho người dân.
Bà Nguyễn Thị Hạp – Xóm trưởng xóm Hợp Thành cho biết: Hiện xóm có 53 hộ dân nhưng phần lớn đều thiếu đất rừng sản xuất. Dân đã có đơn kêu lên tỉnh, huyện, xã nhưng đến nay cũng chỉ mới được cấp đất rừng “nhỏ giọt”, không đủ để canh tác.
Theo một danh sách do ông Hoàng Xuân Ngư – Chủ tịch UBND xã Tam Hợp ký thì hiện địa phương này còn 329 hộ dân thiếu đất lâm nghiệp. Ông Trương Quang Lập – Bí thư Đảng ủy xã Tam Hợp cũng thừa nhận: Xóm Hợp Thành hiện có hơn 50 hộ dân nhưng có đến hơn 50% là hộ nghèo. Xóm cũng có hơn 50% hộ dân chưa có đất rừng sản xuất hoặc nếu có cũng rất ít. Bình quân số hộ có đất rừng sản xuất của xóm Hợp Thành là 0,29hộ/ha.
Trong khi đó, tại các lâm trường bình quân diện tích đất rừng trồng bổ theo đầu cán bộ cũng gấp mấy chục lần người dân. Sắp tới chúng tôi tiếp tục kiến nghị thu hồi đất từ các lâm trường. Nếu kêu huyện không được thì chúng tôi tiếp tục kêu lên tỉnh.
Theo tài liệu của UBND huyện Quỳ Hợp thì địa phương này hiện có hàng ngàn hộ dân là chưa được cấp đất lâp nghiệp. Cụ thể như xã Đồng Hợp 217 hộ, xã Châu Lộc 253 hộ, Châu Lý 189 hộ, Châu Thái 910 hộ, Yên Hợp 162 hộ…
Tiếp xúc với các hộ dân thiếu đất rừng sản xuất, nhưng nhìn phía sau phía trước của những căn nhà nhỏ đơn sơ nép mình bên sườn núi là những cảnh rừng bạt ngàn. Khi được hỏi những cánh rừng này thuộc sở hữu của ai, thì tất cả người dân đều cho rằng đất rừng đó là do các lâm trường quản lý. Thiếu đất để sản xuất trong khi đất lâm trường nhiều nên đa số người sân phải đi làm thuê cho lâm trường.
Theo bà Nguyễn Thị Hạp – xóm trưởng xóm Hợp Thành cho rằng từ năm 2004 đến nay, UBND tỉnh đã có nhiều quyết định thu hồi đất từ các lâm trường nhưng số đất rừng mà người dân nhận được rất “khiêm tốn”.
Trao đổi với ông Hồ Thanh Hùng – Giám đốc Lâm trường Đồng Hợp thì ông này cho rằng: Theo các quyết định của UBND tỉnh, chúng tôi đã bàn giao hết diện tích đất bị thu hồi và có xác nhận của huyện, xã, đại diện người dân. Cụ thể Quyết định 199/QĐ.UB.ĐC ngày 24/2/2004 giao 41 ha, Quyết định 456/QĐ-UBND-ĐC ngày 10/10/2007 giao hơn 83 ha, Quyết định 212/QĐ-UBND.ĐC ngày 24/8/2012 giao 1.488,87 ha...
Tuy nhiên khi được hỏi vì sao người dân vẫn chưa được nhận số đất rừng theo quyết định trên của UBND tỉnh thì ông này cho rằng: “Lâm trường đã bàn giao đất rừng trên thực địa và hồ sơ cho các ngành chức năng. Còn việc giao đất đến tận tay người dân thuộc trách nhiệm của chính quyền địa phương” ông Hồ Thanh Hùng khẳng định.
“Trước đây chúng tôi quản lý gần 10 ngàn ha nhưng sau đó trả lại cho tỉnh và năm 2003 được cấp bìa thì cũng quản lý 5.325,20 ha. Sau nhiều lần trả đất cho tỉnh, hiện chúng tôi quản lý 3.627,5 ha. Sắp tới chúng tôi sẽ trả lại cho tỉnh hơn 500 ha nữa. Tôi nghĩ lâm trường đã bàn giao đất cho địa phương, còn người dân chưa nhận được là do chính quyền chưa bàn giao cho dân…” ông Hùng cho biết thêm.
Trao đổi với ông Lô Trung Sơn – Phó Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Quỳ Hợp thừa nhận: “Từ năm 2012 tỉnh đã thu hồi 3.835,87 ha đất lâm nghiệp từ Lâm trường Đồng Hợp và Lâm trường Quỳ Hợp. Sau đó huyện đã giao cho các xã triển khai bàn giao nhưng đến nay số diện tích này vẫn chưa giao hết đến người dân…”.
Nói đến lý do trên ông Sơn cho rằng: “Phần lớn số diện tích đất mà các lâm trường trả nói trên người dân đã làm nhà ở hàng chục năm nay. Một số diện tích thì nằm sâu trong rừng, đi lại khó khăn nên người dân không nhận”.
Được biết, hiện nay UBND huyện Quỳ Hợp cũng đang chỉ đạo các xã rà soát lại để sớm cấp đất đến người dân. Theo đó, những diện tích mà dân đã sử dụng trùng, không có tranh chấp thì tiến hành lập biên bản bàn giao và lập hồ sơ cấp cho dân. Đối với diện tích ở xa thì lập dự án hoặc đưa vào chương trình nông thôn mới… (Tamnhin.net 26/10) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm Sông Hinh vừa phối hợp với UBND xã Ea Lâm (Sông Hinh) bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ trái phép từ tỉnh Gia Lai về Phú Yên ngang qua địa bàn.
Khi bị lực lượng chức năng truy đuổi, tài xế điều khiển ô tô tải vận chuyển gỗ trái phép bỏ trốn. Tại hiện trường, ô tô tải hiệu Huyndai biển kiểm soát 86T - 0805 chở 189 khúc gỗ xẻ nhóm 1 (gỗ thuộc loài nguy cấp, quý hiếm, nhóm IIa) với khối lượng gần 3,5m3.
Hiện toàn bộ tang vật, phương tiện nói trên đang được Hạt Kiểm lâm Sông Hinh tạm giữ để điều tra, xử lý. (Báo Phú Yên 27/10) đầu trang(
Cho rằng Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) huyện An Lão, Bình Định, có khuất tất, o ép người nhận khoán chăm sóc, quản lý rừng trong việc chia tiền hưởng lợi nên ông Lê Văn Ta (trú thôn Long Hòa, xã An Hòa, huyện An Lão) gửi đơn đến ngành chức năng yêu cầu giúp đỡ, đòi lại công bằng.
Tháng 1/2000, Lâm trường An Sơn (nay là BQLRPH An Lão) và ông Lê Văn Ta xác lập hợp đồng “giao khoán đất có rừng trồng cho hộ gia đình sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”. Theo đó, Lâm trường An Sơn giao khoán cho ông Ta chăm sóc, quản lý 4,7ha đất có rừng trồng gồm keo (640 cây/ha) và điều (122 cây/ha) trồng vào năm 1999, tại lô c, d, khoảnh 5, tiểu khu 34 (thuộc địa bàn xã An Hòa) trong thời hạn 50 năm.
Đến năm 2008, khi UBND tỉnh Bình Định thực hiện phân cấp 3 loại rừng, một phần diện tích rừng thuộc tiểu khu 34 được chuyển từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất. Thời điểm này, hộ nhận khoán được hưởng lợi sản phẩm rừng trồng theo quy định tại Điều 6 Quyết định 147/2007/QĐ-TTg (QĐ 147) của Thủ tướng Chính phủ.
Theo đó, đối với diện tích rừng sản xuất do hộ gia đình, cá nhân nhận khoán của các Ban quản lý (BQL) rừng đặc dụng, phòng hộ, sau khi khai thác, chủ rừng được hưởng 100% sản phẩm rừng trồng và chỉ phải nộp cho bên giao khoán số tiền tương đương 80kg thóc/ha/chu kỳ khai thác.
Năm 2012, sau khi có chủ trương của UBND tỉnh Bình Định, BQLRPH huyện An Lão thuê đơn vị tư vấn, thẩm định và lập hồ sơ thiết kế, khai thác 4,18ha keo tại khoảnh 5, tiểu khu 34; trong đó, hộ ông Ta có 1,48ha tại lô c, d. Sau khi hoàn tất thủ tục pháp lý, UBND huyện An Lão giao Phòng Tài chính - Kế hoạch hợp đồng với đơn vị có chức năng đấu giá tổ chức đấu giá diện tích này.
Kết quả, Cty TNHH Đức Hằng đã đấu trúng 4,18ha keo, tổng khối lượng gỗ 285,7m3 với số tiền trúng thầu trên 104 triệu đồng. Riêng phần diện tích 1,48ha keo của ông Ta có khối lượng gỗ là 130,6m3 và số tiền trúng đấu giá trên 47 triệu đồng. Sau khi trừ các khoản chi phí (chi phí quản lý; chi phí thiết kế, thẩm định; chi phí đấu giá; nộp 80kg thóc/ha), ông Ta nhận trên 36,9 triệu đồng tiền hưởng lợi.
Ông Ta trình bày: Tại đợt đấu giá lần này, hộ ông có 1,48ha rừng với gần 1.000 cây keo hơn 13 năm tuổi; trong đó, rất nhiều cây có đường kính từ 30-40cm nhưng đơn vị chức năng xác định tổng khối lượng gỗ chỉ 130,6m3 và bán với số tiền trên 47 triệu đồng là quá thấp so với thực tế. Với diện tích rừng thực tế của ông, nếu bán gỗ keo đúng giá thị trường, số tiền thấp nhất cũng phải từ 150-180 triệu đồng.
Mặt khác, theo quy định tại QĐ 147, người nhận khoán chăm sóc, quản lý được hưởng lợi 100% sản phẩm rừng trồng và chỉ phải nộp cho bên giao khoán số tiền tương đương 80kg thóc/ha/chu kỳ khai thác. Vậy nhưng, huyện An Lão và BQLRPH An Lão buộc người nhận khoán rừng chịu nhiều khoản chi phí khác là không hợp lý, o ép người dân. Ngoài ra, khi tổ chức đấu giá, ngành chức năng không thông báo cho người nhận khoán rừng biết, khiến dư luận đặt nghi vấn về sự minh bạch, công khai của việc làm này.
“Tôi nhận thấy quá trình bán đấu giá có nhiều khuất tất, có dấu hiệu o ép người dân nên không đồng ý nhận tiền hưởng lợi và kiên quyết không giao diện tích rừng cho đơn vị trúng thầu khai thác; bởi nếu tôi đồng ý nhận hơn 36,9 triệu đồng thì chẳng khác gì cho không. Tôi đề nghị ngành chức năng liên quan xem xét lại quy trình đấu giá cũng như xác định lại giá trị thực đối với diện tích rừng keo mà tôi đã nhận chăm sóc, quản lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bản thân tôi” - ông Ta cho biết thêm.
Liên quan đến vấn đề này, ông Nguyễn Đình Đài - Giám đốc BQLRPH huyện An Lão - cho rằng: “Việc tổ chức đấu giá diện tích rừng trồng tại tiểu khu 34 được thực hiện đảm bảo quy trình, thủ tục và đúng với các quy định của pháp luật hiện hành. Việc chia tiền hưởng lợi cho các hộ nhận khoán được ngành chức năng thực hiện theo quy định tại QĐ 147 và Thông tư 02/2008 ngày 23/6/2008 của Liên Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính nên không có chuyện người dân bị o ép.
Tuy nhiên, thời điểm tổ chức đấu giá (tháng 9/2012-PV), đơn giá gỗ keo thấp hơn so với hiện nay nên nếu ông Ta muốn gặp đơn vị trúng thầu để thỏa thuận tăng mức giá bán thì BQLRPH sẽ tạo điều kiện để hai bên gặp gỡ, trao đổi nhằm đi đến giải quyết dứt điểm vụ việc một cách thấu tình, đạt lý”.
Qua những nội dung trên có thể thấy, khiếu nại của ông Ta không phải là không có cơ sở. Do đó, UBND huyện An Lão và ngành chức năng có liên quan sớm xem xét, giải quyết dứt điểm vụ việc một cách thấu tình, đạt lý; bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên liên quan, tránh xảy ra tình trạng khiếu nại kéo dài, ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự và dư luận địa phương. (Pháp Luật VN 28/10) đầu trang(
Sâm Ngọc Linh giả được bán công khai ở Kon Tum với đủ loại giá, từ vài ba triệu đến vài chục triệu đồng/kg củ tươi. Ngoài việc đưa hàng tạ củ được cho là sâm Ngọc Linh từ biên giới phía Bắc vào để bán rầm rộ như bán rau, quả, nguy hại hơn người ta đưa cả giống vào đây để trồng…
Hơn bất kỳ nơi nào trong nước và trên thế giới, đỉnh Ngọc Linh đã cho ra đời một sản phẩm đặc hữu quý giá là sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis). Năm 1973 ngành dược khu Trung Trung Bộ đã tìm ra cây sâm chi Panax tại độ cao 1.800m trên dãy Ngọc Linh thuộc địa phận huyện Đăk Tô, Kon Tum, mặc dù trước đó nhiều nhà khoa học cho rằng chi Panax chỉ có ở miền Bắc.
Theo đánh giá của Bộ Y tế: Đây là cống hiến quan trọng cho khoa học, bổ sung tri thức mới về vùng phân bố chi Panax xuống tới vĩ tuyến 15 và bổ sung cho chi Panax ho Araliaceae một loài mới.
Dãy Trường Sơn từ Bắc vào Nam, đến Tây Nguyên vút lên với đỉnh Ngọc Linh cao thứ 2 sau đỉnh Fansipan. Phía đông đỉnh Ngọc Linh là tỉnh Quảng Nam, còn bên tây là địa phận Kon Tum, 2 vùng khí hậu trái ngược nhau. Đỉnh Ngọc Linh quanh năm mây phủ giao thoa cả 2 vùng khí hậu.
Cây sâm Ngọc Linh tự nhiên sinh trưởng ở độ cao từ 1.200m trở lên, dưới tán rừng già, và cho tới nay chỉ có hai tỉnh Kon Tum và Quảng Nam là có cây sâm này. Đây là một loại cây thân thảo sống lâu năm, cao 40 cm đến 1m, thoạt nhìn rất giống nhân sâm Triều Tiên, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy thân rễ có sẹo và các đốt như đốt trúc do thân khí sinh rụng hằng năm để lại.
Sâm Ngọc Linh là một chi thuộc họ Panax, nên hình thể rất giống với nhiều loại Panax khác. Chính thế giới buôn sâm đưa củ tam thất từ phía Bắc vào bán giả sâm Ngọc Linh khiến người tiêu dùng rất dễ nhầm lẫn, không thể phân biệt.
Qua tìm hiểu của PV, nguy hại hơn, trong mấy năm lại đây do việc mua bán sâm giả bị phanh phui, một số thương lái bắt đầu đưa cả giống tam thất mà họ cho là sâm Ngọc Linh từ phía Bắc vào Kon Tum, Quảng Nam để trồng.
Tỉnh Kon Tum hiện có nhiều tổ chức, cá nhân trồng sâm Ngọc Linh như: Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đăk Tô, Công ty CP sâm Ngọc Linh Kon Tum, Cty Thái Hoà, Viện Dược liệu… một số doanh nghiệp, cá nhân đang tiếp tục xin UBND tỉnh giao đất để trồng sâm kinh doanh do hiệu quả kinh tế của nó.
Dự án của Trung tâm ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Khoa học và Công nghệ với đầy tham vọng: "Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh”; Dự án đặt mục tiêu từ nay đến năm 2023 trồng từ 800 đến 1.000 ha sâm Ngọc Linh, tổng vốn trên 567 tỷ đồng từ vốn ngân sách và vốn đóng góp của các doanh nghiệp thành viên.
Trước nhu cầu cây sâm Ngọc Linh thành loại cây thương mại, nhưng quản lý giống sâm Ngọc Linh thuần chủng thì gần như chưa cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm. Các tổ chức, cá nhân tự mình mày mò tìm nguồn giống, tự mình trồng.
Một người trồng sâm Ngọc Linh lâu năm ở Kon Tum cho rằng: Nếu như chục năm trước, khi các loại giống Panax từ phía Bắc chưa tràn vào, có thể tin rằng giống sâm Ngọc Linh thuần chủng. Còn hiện nay không biết đâu mà lần. Kể cả người ta đưa khách lên núi xem vườn cây, nhổ củ từ dưới đất lên cũng chưa hẳn đã là sâm Ngọc Linh thật!
Một nguồn tin đáng tin cậy của chúng tôi cho biết, năm 2013 có khoảng 9kg hạt giống tam thất hoang (nhìn rất giống hạt sâm Ngọc Linh) được đưa theo đường dây không chính thống vào cho một doanh nghiệp ở Kon Tum để trồng.
Bây giờ muốn mua hạt giống cái gọi là sâm Ngọc Linh, chỉ cần cầm điện thoại a lô là có. Củ tam thất dễ trồng, ở độ cao thấp hơn 1.200m cây vẫn sống, vẫn phát triển tốt. Mỗi năm loại này sinh trưởng 7-10 đốt, vì thế chỉ cần 2-3 năm là có thể thu hoạch, khác với sâm Ngọc Linh thật cần trồng cả chục năm, chất lượng mới đảm bảo.
Một khi tam thất phía Bắc đã vào lãnh địa pha tạp với sâm Ngọc Linh thì 5-10 năm nữa, có thể lai tạo thành một giống loài mới, hoặc chúng lấn át và đẩy loài Sâm Ngọc Linh thuần chủng đi đến tuyệt chủng-một người tâm đắc với cây sâm Ngọc Linh tỏ ra ưu tư.
Ông Trần Hảo-Giám đốc Cty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum cho biết, năm 2012, một vị ở Viện Dược liệu-Bộ Y tế vào đặt vấn đề với Cty ông phối hợp thực hiện đề tài: Khai thác và phát triển nguồn gen sâm Ngọc Linh. Tuy nhiên, xem qua mức giá mà dự án đưa ra, thấy không có hiệu quả kinh tế, nên Cty không hợp tác.
Ông Hảo cho rằng, Viện Dược liệu yêu cầu trồng và cung cấp cho họ 1 ha vườn sâm và 0,5 ha vườn ươm, nhưng tổng kinh phí giao khoán chỉ gần 2,3 tỷ đồng (cộng cả chi phí để các nhà khoa học vào nghiệm thu, kiểm tra đề tài) là quá thấp và phi thực tế.
Ví như mức giá cây giống hiện nay khoảng 80.000-100.000 đồng/cây nhưng mức giá Viện Dược liệu đưa ra chỉ 46.500đồng/cây trong khi mỗi ha sâm cần đến khoảng 40.000 cây. Ông Hảo cho rằng để trồng 1 ha sâm Ngọc Linh hiện nay cần phải đầu tư khoảng 5 tỷ đồng. Dưới mức giá này khó đảm bảo mật độ cây con cũng như hiệu quả của dự án.
Tuy nhiên, hiện nay chúng tôi được biết Viện Dược liệu cũng đang triển khai một số dự án bảo tồn, phát triển nguồn gen sâm Ngọc Linh tại Kon Tum.
Qua hợp đồng chào hàng của Viện Dược liệu email cho Công ty CP sâm Ngọc Linh Kon Tum thấy gần như Viện này khoán trắng việc chọn giống, trồng sâm của đề tài: “Khai thác và phát triển nguồn gen sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis Ha et Grushv.) cho bên B. Hợp đồng thuê khoán công việc ghi rõ:
Bên A (Bên giao khoán) Viện Dược liệu, Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thị Bích Thu. Bên B… nhận tiến hành triển khai đề tài theo các nội dung sau: Tuyển chọn cây mẹ để xây dựng vườn giống gốc; Tuyển chọn các giống đầu dòng về gieo ươm tại vườn ươm; Xây dựng quy trình kỹ thuật chọn lọc, nhân thuần giống sâm Ngọc Linh; Xây dựng vườn sản xuất cây giống đạt tiêu chuẩn; 1 ha vườn giống gốc với mật độ 45.000 – 60.000 cây/ha; 0,5ha vườn ươm đảm bảo cung cấp 50.000 cây giống/năm;
Theo dõi phát hiện sâu bệnh và xúc tiến các biện pháp phòng trừ; Sản phẩm giao nộp bên A gồm có:01 ha vườn giống gốc; Số lượng cây còn sống: 40.000 cây; 0,5ha vườn ươm.
Báo cáo kết quả trồng sâm Ngọc Linh trong mô hình. Báo cáo chuyên đề về sinh trưởng và phát triển của sâm Ngọc Linh tại vườn giống gốc. Báo cáo chuyên đề về xây dựng qui trình trồng trọt, chăm sóc và thu hoạch hạt giống sâm Ngọc Linh tại Kon Tum… Kinh phí 2.292.400.000 đồng.
Dự thảo hợp đồng này cho thấy toàn bộ phần quan trọng nhất của dự án như: Tuyển chọn cây mẹ để xây dựng vườn giống gốc, tuyển chọn các giống đầu dòng để gieo ươm tại vườn ươm lẽ ra phải được chủ đề tài lựa chọn và kiểm tra nghiêm ngặt nhưng ngay từ đầu những người làm đề tài đã có ý định “khoán trắng “ cho đối tác. Như vậy, liệu kết quả của những vườn giống gốc sâm Ngọc Linh của Viện Dược liệu đặt hàng còn đáng tin cậy?.
Nguồn gen sâm Ngọc Linh rất cần những vườn giống gốc, không lai tạp. Có như thế mới đặt vấn đề phát triển đại trà sâm Ngọc Linh Kon Tum thành loại cây hàng hoá có giá trị kinh tế cao, đồng thời bảo vệ và phát triển loài cây quý hiếm đặc hữu này. (Tiền Phong 27/10) đầu trang(

BÌNH THUẬN - NHẬN ĐỊNH
Đầm Thủy Triều là vùng đất chuyển tiếp giữa đất liền của huyện Cam Lâm với vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa). Trước đây, khu vực này có rất nhiều diện tích rừng ngập mặn và thảm cỏ biển, song do người dân nuôi trồng thủy sản tùy tiện nên diện tích rừng ngập mặn và thảm cỏ biển nơi đây đã mất dần. Trước tình hình đó, UBND tỉnh Khánh Hòa đã triển khai giải pháp khôi phục rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ven đầm.
Đề tài “Triển khai các mô hình phục hồi và quản lý rừng ngập mặn, thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều” được giao cho Viện Hải dương học chủ trì thực hiện có tổng kinh phí hơn 674 triệu đồng, trong đó kinh phí từ ngân sách hơn 534 triệu đồng, thời gian thực hiện từ tháng 7-2012 đến tháng 7-2014.
Mục tiêu của đề tài là phục hồi thành công rừng ngập mặn, quản lý có hiệu quả rừng ngập mặn và thảm cỏ biển ở khu vực đầm Thủy Triều, phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và phát triển du lịch có sự tham gia của doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng địa phương.
Qua hơn 1 năm thực hiện, đến nay, đề tài đã đạt một số kết quả: Trồng mới gần 3,5ha rừng ngập mặn với tỷ lệ sống từ 60 - 80%, trong đó có 1,2ha thuộc xã Cam Hòa, 1ha thuộc xã Cam Hải Đông và 1,2ha thuộc xã Cam Thành Bắc với sự tham gia của 5 hộ dân và Nhà máy Đường Khánh Hòa; lựa chọn khu vực đề xuất bảo tồn và quản lý 1ha rừng ngập mặn tự nhiên và 30ha thảm cỏ biển vùng ven bờ thuộc xóm 4, thôn Thủy Triều, xã Cam Hải Đông; triển khai các hoạt động truyền thông tại 6 xã/phường ven đầm, trong đó tổ chức 2 đội tình nguyện địa phương tham gia giám sát thảm cỏ biển trong đầm.
Đặc biệt, năm 2012, đề tài đã trồng thử nghiệm tại khu vực xã Cam Hải Đông 23 cây cóc đỏ giống (Lumnitzera littorea) - sản phẩm của đề tài cấp cơ sở năm 2010 của Viện Hải dương học. Đây là loài cây quý hiếm nằm trong sách Đỏ của Việt Nam và thế giới. Sau 1 năm cây cóc đỏ phát triển tốt, đạt tỷ lệ sống 78%.
Theo lãnh đạo Viện Hải dương học, một trong những trở ngại lớn trong việc khôi phục hệ đa dạng sinh học ở đầm Thủy Triều là hoạt động của con người ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và chất lượng của cây ngập mặn, thảm cỏ biển.
Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện, đơn vị đã phối hợp chặt chẽ với Nhà máy Đường Khánh Hòa, nhân dân các xã Cam Thành Bắc, Cam Hòa, Cam Hải Đông để triển khai các hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, chính quyền địa phương cũng như doanh nghiệp trong công tác bảo vệ môi trường sinh thái, trồng rừng ngập mặn.
Đồng thời, chú trọng việc thực hiện cơ chế đồng quản lý trong thực hiện đề tài bởi đây cũng là một trong những cầu nối quan trọng giúp người dân, doanh nghiệp và nhà khoa học xích lại gần nhau. Tất cả vì mục đích chung là xây dựng thành công bức tường rào bằng cây ngập mặn ngăn cách giữa đất liền với biển.
Một khi rừng ngập mặn đã lên xanh thì đây sẽ là nơi cung cấp thức ăn cho các loài thủy hải sản, góp phần đem lại sinh kế và ổn định đời sống cho dân cư sống ven đầm. Đây cũng chính là hướng phát triển bền vững của đầm Thủy Triều. (Báo Khánh Hòa 2/10) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Một máy bay chữa cháy rừng ở phía nam thành phố Sydney (Úc) đã gặp tai nạn và rơi xuống một công viên quốc gia hôm qua. Reuters cho biết vụ rơi máy bay đã làm phát sinh một đám cháy rừng nữa, thêm vào tổng số 55 đám cháy khác trên toàn bang New South Wales trong vòng một tuần qua. Phi công lái máy bay được nói đã thiệt mạng.
Sở cứu hỏa địa phương nói nhiệt độ trong vùng đã giảm và gió cũng thổi nhẹ hơn nhưng lửa vẫn cứ tiếp tục cháy. Trong suốt một tuần qua, cháy rừng đã thiêu rụi hơn 200 căn nhà và hàng chục ngàn hecta rừng.
Một trong những đám cháy lớn nhất được nói là xuất phát từ một cuộc tập trận bắn đạn thật của quân đội trong vùng. Vụ việc đã khiến quân đội phải lên tiếng xin lỗi. Cảnh sát cũng đã bắt nhiều trẻ em bị nghi gây ra một số đám cháy. Một số đám cháy khác được nói bùng lên do sét đánh hoặc đường dây điện tóe lửa trong thời tiết gió mạnh.
Hiện chính quyền bang đã ban bố tình trạng khẩn cấp để dễ dàng yêu cầu người dân sơ tán, hi vọng tránh được thảm họa “Ngày thứ bảy đen tối” hồi năm 2009 ở bang Victoria khiến 173 người thiệt mạng và gây thiệt hại 4,4 tỉ USD. (Tuổi Trẻ 25/10) đầu trang(
Các nhà nghiên cứu cho biết sẽ thiết kế loại vệ tinh giám sát rừng có thể giám sát miền tây nước Mỹ. Qua hình chụp có thể phát hiện đốm cháy rừng vừa xảy ra, từ đó nhanh chóng điều động các phương tiện để dập tắt trước khi vụ cháy vượt quá tầm kiểm soát.
Từ Trường đại học California, Berkeley, các nhà khoa học đã thiết kế dòng vệ tinh ở quỹ đạo địa tĩnh mang theo những cảm biến, camera và phần mềm phân tích để kiểm soát cháy rừng. Kinh phí chừng vài trăm triệu USD và họ hy vọng sẽ được tài trợ bởi chính phủ hoặc nguồn quỹ tư nhân.
Theo tiến sĩ vật lý Carl Pennypacker, vụ cháy rừng hồi năm 1991 đã tàn phá hơn 3.000 ngôi nhà ở Berkeley và Oakland. Vì vậy, loại vệ tinh giám sát này sẽ giúp tránh những thảm họa tương tự. Bên cạnh đó ông cũng nhận định do hiện tượng nóng ấm toàn cầu, khả năng cháy rừng sẽ thường xuyên hơn và trên diện rộng.
Daily Mail dẫn lời tiến sĩ Carl Pennypacker cho rằng, dòng vệ tinh này có thể được xây dựng và kiểm soát bởi chính phủ liên bang và đối tác là khu vực tư nhân giống như chương trình truyền hình vệ tinh Landsat. Chi phí chỉ vài trăm triệu USD nhưng lại tiết kiệm được 2,5 tỉ USD mà ngân sách quốc gia phải bỏ ra để chữa cháy hằng năm. (Thanh Niên 27/10)đầu trang(
Trong vòng 4 năm qua, có ít nhất 441 loài vật mới đã được khám phá tại vùng rừng rậm rạp và rộng lớn Amazon - Nam Mỹ, trong đó có một loài khỉ độc đáo có thể kêu như mèo.
Từ năm 2010 đến 2013, các nhà khoa học tại WWF (Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới) đã phát hiện thêm 258 loài cây, 84 loài cá, 58 động vật lưỡng cư, 18 loài chim cùng hàng trăm loài côn trùng và sinh vật mới. Trong số đó, độc đáo nhất là loài thằn lằn có màu sắc vân lửa, một loài ếch nhỏ chỉ bằng móng tay, một loài cá Piranha chỉ “ăn chay”, một loài hoa lan tuyệt đẹp màu hồng.
“Những chủng loài này tạo thành một di sản tự nhiên độc đáo mà chúng ta có trách nhiệm phải gìn giữ. Điều này có nghĩa là phải bảo vệ ngôi nhà của chúng - rừng mưa nhiệt đới Amazon - vốn đang phải đối mặt với nạn phá rừng và tiến trình xây các con đập chắn nước.” - Claudio Maretti , người đứng đầu nhóm nghiên cứu các loài vật tại Amazon của WWF, cho biết.
Những gì các nhà khoa học vừa khám phá tại Amazon là quá độc đáo. Loài thằn lằn vân lửa được khám phá nhờ thu thập trứng từ rừng Amazon Columbia. Có tên gọi Cercosaura hypnoides, đây là một loài vật khá bí ẩn, chưa từng được thấy ngoài con nở từ trứng, ám chỉ chúng có thể đang bị đe dọa.
Trong khi đó, loài ếch siêu nhỏ đã thuộc diện bị đe dọa bởi nơi chúng sinh sống - vùng Guyana, sắp được mở cửa cho khách du lịch. Các nhà khoa học đặt tên cho loài này là Allobates amissibilis, theo nghĩa Latin là “có thể bị mất đi”. Loài cá Piranha mới, Tometes camunani, được khám phá tại vùng rừng Amazon thuộc Brazil lại chỉ chuyên ăn các loại thực vật sống trong các vùng nước chảy mạnh và nhiều đá, khác với bà con của chúng là loài cá Piranha nổi tiếng ăn thịt và vô cùng háu ăn.
Sobralia imavieirae sẽ là tên của loài hoa lan có màu hồng tuyệt đẹp, được tìm thấy cũng tại rừng Amazon Brazil, nơi vốn là vùng sinh sống của rất nhiều loài hoa lan dại. Đặc biệt nhất là lòai khỉ Callicebus caquetensis, hay còn gọi là Caqueta titi, thuộc 20 loài khỉ trong rừng Amazon nhưng loài khỉ mới này có một tính chất rất đáng yêu khi chúng rên nhẹ như mèo mỗi khi chúng thỏa mãn.
Nhiều loài động vật được khám phá đều sống duy nhất tại rừng Amazon, nghĩa là chúng sẽ bị đe dọa nếu việc hủy họai rừng như hịên nay vẫn tiếp tục diễn ra. (Người Lao Động 27/10; Đời Sống&Pháp Luật 25/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa