Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 29 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Từ lâu, Việt Nam được xem là thị trường “nóng” về tiêu thụ động vật hoang dã (ĐVHD) trong khu vực. Trước tình trạng vận chuyển, buôn bán, tàng trữ ĐVHD đang diễn biến hết sức phức tạp, dư luận cho rằng mức xử phạt cho các đối tượng này chưa tương xứng với hành vi phạm tội.
Thời gian qua, các ban, ngành chức năng đã nỗ lực rất nhiều trong công tác ngăn chặn hành vi buôn bán ĐVHD. Nhiều vụ vận chuyển, tiêu thụ ĐVHD lớn đã được triển khai và triệt phá thành công. Theo ghi nhận, gần đây lực lượng kiểm soát Hải quan đã phát hiện, bắt giữ, xử lý 31 vụ liên quan đến mua bán, vận chuyển trái phép ĐVHD và các sản phẩm liên quan.
Trong đó, đơn vị này đã đấu tranh triệt phá nhiều vụ vận chuyển trái phép ĐVHD với số lượng lớn như: vụ vận chuyển trái phép 137,5kg ngà voi và các sản phẩm chế tác từ ngà voi (vòng, hạt) từ Ăngola về Nội Bài, vụ vận chuyển trái phép 9.052kg vỏ mai đồi mồi, 1.345kg tắc kè, 16kg đồi mồi sống từ Indonesia về cảng Hải An, Hải Phòng; vụ buôn lậu, vận chuyển trái phép 300kg gỗ trắc từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu La Lay, Quảng Trị…
Trước sự vào cuộc mạnh mẽ, tình hình buôn bán ĐVHD đã có những chuyển biến tích cực. Theo một thống kê của Cục Kiểm lâm, gần đây số lượng các vụ vi phạm trong mua bán, vận chuyển, tiêu thụ ĐVHD có xu hướng giảm từ 459 vụ năm 2014 xuống còn 295 vụ năm 2015 và 256 vụ năm 2016. Tuy nhiên, qua những vụ việc đơn vị này cũng chỉ ra rằng, tình hình phạm tội trong lĩnh vực buôn bán ĐVHD vẫn diễn biến rất phức tạp. Minh chứng là, nhiều đối tượng tội phạm đã sử dụng các mạng xã hội như Facebook, Zalo, Wechat… để thực hiện các giao dịch buôn bán ĐVHD bất hợp pháp, gây khó khăn cho cơ quan điều tra, kiểm soát.
Ngoài ra, không ít đối tượng lựa chọn Việt Nam là điểm trung chuyển trên cả ba tuyến đường biển, đường bộ và đường hàng không. Vụ thu giữ 36kg sừng tê giác, 2 cá thể hổ con đông lạnh và một số sản phẩm từ ĐVHD do đối tượng Nguyễn Mậu Chiến (SN 1970) và Nguyễn Văn Tùng (SN 1983) là một ví dụ. Theo khai nhận từ các đối tượng, số hàng trên được vận chuyển trót lọt qua nhiều điểm trung chuyển như Nam Phi, Malaysia, TP Hồ Chí Minh… và đến khi chúng vận chuyển bằng tàu hỏa ra Hà Nội để tiêu thụ thì bị cơ quan điều tra bắt giữ. Dù vậy, có một điểm đáng mừng từ vụ việc này là, chỉ sau chưa đầy hai tuần kể từ khi bị bắt, các đối tượng đã bị cơ quan chức năng khởi tố.
Có thể khẳng định, một trong những biện pháp chặn hiệu quả hành vi buôn bán ĐVHD là công tác xử phạt nghiêm minh. Tuy nhiên, có một thực tế là hiện loại tội phạm liên quan đến hành vi xâm hại, đe dọa các loài động vật trong Sách Đỏ vẫn chưa được coi là phạm tội nghiêm trọng.
Chẳng hạn, theo Điều 190 Bộ luật Hình sự, hình phạt cao nhất cho tội phạm về ĐVHD là 7 năm tù. Thậm chí, không ít trường hợp việc sát hại ĐVHD chỉ áp dụng mức phạt hành chính theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP. Trường hợp của Chu Văn Cường và Lê Bá Thuận (xã Quỳnh Lập, thị xã Hoàng Mai) là một ví dụ. Sau khi đăng ảnh giết khỉ lên Facebook, Hạt Kiểm lâm thị xã Hoàng Mai đã đến kiểm tra và tiến hành xử phạt Chu Văn Cường 5,25 triệu đồng về hành vi nuôi ĐVHD trái phép. Còn đối với hành vi “mua động vật hoang dã trái phép” và “giết động vật hoang dã trái phép”, Lê Bá Thuận bị xử phạt hành chính với số tiền 12,7 triệu đồng.
Cần phải khẳng định, việc các cơ quan chức năng đã áp dụng Nghị định 157/2013/NĐ-CP để xử phạt hành chính thay vì điều 190 Bộ luật Hình sự hoàn toàn không sai nhưng rõ ràng, mức phạt trên chưa đủ tính răn đe.
Chỉ cần làm phép tính đơn giản, với mỗi kg ngà voi ở Việt Nam có giá 5.000 - 7.000 USD, còn ở một số nước khác mỗi đôi ngà voi có giá 40.000 - 50.000 USD. Giá cả chênh lệch nên các đối tượng chỉ cần trót lọt vài vụ buôn bán ngà voi, tê tê… mức thu lời sẽ là “siêu lợi nhuận”. Với mức lợi nhuận “khủng” từ buôn bán ĐVHD, nhiều ý kiến cho rằng cần phải xử lý như tội buôn ma tuý. Bởi nếu coi sản phẩm ĐVHD có tính chất ảnh hưởng nguy hiểm như ma túy, thì bất kể hành động nào liên quan đến ĐVHD như mua, bán, sử dụng đều coi là vi phạm thì sẽ cải thiện rất nhiều trong việc xử lý vấn nạn buôn bán ĐVHD hiện nay.
Liên quan đến công tác phòng chống cũng như ngăn chặn hành vi buôn bán ĐVHD, trao đổi với báo chí, bà Nguyễn Đào Ngọc Vân, Quản lý dự án của Tổ chức Bảo vệ thiên nhiên- WWF tại Việt Nam cho rằng, để hoạt động trên thực sự đem lại hiệu quả, trước mắt các ngành chức năng cần sớm tăng cường các biện pháp thực thi pháp luật, đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền sâu rộng tới người dân. “Hiệu quả thực thi pháp luật đáng phải bàn nhiều nếu Việt Nam không thực sự bắt tay vào cuộc nhanh hơn, tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật tốt hơn thì mức độ tuyệt chủng các loài ĐVHD sẽ rất lớn, con cháu chúng ta sẽ không có cơ hội được nhìn thấy các loài này trong tự nhiên nữa” - bà Nguyễn Đào Ngọc Vân cảnh báo. (Pháp Luật VN 26/8) đầu trang(
Theo báo cáo của Công ty TNHH một thành viên Lâm sản Khánh Hòa, qua công tác tuần tra kiểm soát, bảo vệ rừng, từ đầu năm đến nay, công ty đã phát hiện 60 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong lâm phận công ty được giao quản lý. Công ty đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm xử lý các vụ việc này.
Trong 60 vụ vi phạm, có 42 vụ người dân phát lấn chiếm đất rừng trồng, với diện tích 18.346m2; 1 vụ phát lấn chiếm đất rừng tự nhiên, với diện tích 685m2; 3 vụ khai thác rừng trái phép, khối lượng lâm sản thu giữ 4,538m3. Bên cạnh đó, lực lượng quản lý bảo vệ rừng của công ty còn tạm giữ 1 xe máy vận chuyển gỗ trái phép vô chủ; qua kiểm tra, phát hiện 14 vụ cất giấu lâm sản trong rừng, thu giữ 55,571m3 gỗ các loại. (Báo Khánh Hòa 29/8) đầu trang(
Phú Thọ có diện tích rừng và đất lâm nghiệp khá lớn với gần 190 nghìn ha, chiếm phần lớn tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Những năm qua, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được đặc biệt chú trọng từ tỉnh đến cơ sở, thế trận toàn dân tham gia bảo vệ rừng tiếp tục được thiết lập và giữ vững, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật về rừng.
Đặc biệt, kiểm lâm- lực lượng nòng cốt trong công tác bảo vệ rừng đã không quản ngại khó khăn tích cực phối hợp với các lực lượng chức năng, chính quyền địa phương và người dân giữ màu xanh cho rừng.
Có dịp đi tuần rừng cùng cán bộ Hạt Kiểm lâm Tân Sơn mới thấy hết được những khó khăn vất vả của những người giữ màu xanh cho rừng. Tân Sơn là huyện có diện tích lâm nghiệp chiếm trên 80% diện tích đất tự nhiên, giáp ranh với 5 huyện, trong đó có 3 huyện tỉnh ngoài gồm Đà Bắc (Hòa Bình), Phù Yên (Sơn La), Văn Chấn (Yên Bái). Nơi đây hầu hết là địa hình núi cao, tập trung đồng bào dân tộc ít người sinh sống nên công tác quản lý, bảo vệ rừng, đặc biệt là quản lý địa bàn vùng giáp ranh gặp rất nhiều khó khăn. Nhờ có sự chung tay giữa các cấp, các ngành chức năng và người dân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng nên vùng rừng Tân Sơn mùa này đẹp như một bức tranh, những cây lau lách khi xưa đã thay bằng rừng keo khép kín tạo nên một màu xanh bạt ngàn.
Ông Nguyễn Anh Tuấn- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tân Sơn kể lại: “Trước đây đồng bào thiểu số sinh sống ở miền núi còn lưu giữ nếp sống du canh, du cư, cộng với cuộc sống khó khăn nên việc xâm canh đốt rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép… dễ xảy ra nếu không quản lý tốt. Để hạn chế tình trạng xâm canh, xâm cư, nhất là vi phạm lâm luật, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với các ngành chức năng của huyện Tân Sơn tham mưu với cấp ủy, chính quyền xây dựng quy ước phối hợp quản lý vùng giáp ranh với các địa phương tỉnh bạn, các đơn vị lâm nghiệp trên các lĩnh vực quản lý địa giới hành chính, bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường… Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm phối hợp với các xã giáp ranh; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc cơ sở thực hiện nghiêm phương án bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR; quy ước bảo vệ rừng. Nhờ vậy, rừng được bảo vệ tốt hơn”.
Thực tế cho thấy, không chỉ ở những nơi nhiều rừng tự nhiên, vùng giáp ranh, công tác quản lý bảo vệ rừng mới khó khăn mà những vùng rừng trồng  như: Đoan Hùng, Hạ Hòa, Cẩm Khê... cũng đối mặt với nhiều thách thức  bởi thường xuyên có sự tác động của con người nên nguy cơ cháy rừng rất cao. Mặc dù vậy, do lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tuyên truyền cho người dân nên ý thức của họ về bảo vệ rừng đã được nâng lên. Đoan Hùng là huyện có diện tích rừng chủ yếu là rừng trồng nhưng nhiều năm nay không có cháy rừng xảy ra. Hầu hết các diện tích bạch đàn kém hiệu quả đã được thay thế bằng cây keo đem lại hiệu quả kinh tế cao. Thấy được hiệu quả từ rừng, người dân đã tích cực tham gia trồng và bảo vệ rừng. Ông Nguyễn Khắc Lạc ở xã Phương Trung, huyện Đoan Hùng phấn khởi: “Nhờ cán bộ kiểm lâm hướng dẫn chuyển bạch đàn kém hiệu quả lại hại đất sang trồng keo năng suất gấp đôi, vì thế kinh tế gia đình tôi được nâng lên rõ rệt. Nghe cán bộ kiểm lâm nói chúng tôi thấy được tác hại của việc phá rừng, cháy rừng từ đó còn biết cách trồng rừng và bảo vệ rừng tốt hơn”.  Phát huy vai trò là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh và Sở Nông nghiệp và PTNT thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng, đảm bảo chấp hành pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng ở các địa phương, Chi cục Kiểm lâm đã tích cực chủ động tham mưu đề xuất giúp cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, các tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR, phát triển rừng trên địa bàn. Xác định tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về rừng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm đã hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ về công tác tuyên truyền với nhiều nội dung, hình thức phong phú.
Thông qua các buổi tuyên truyền trực tiếp tại cơ sở và phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh; phối hợp với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương các cấp để phổ biến rộng rãi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về công tác bảo vệ và phát triển rừng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật  tới các tầng lớp nhân dân. Nhờ vậy ý thức bảo vệ rừng của các tầng lớp nhân dân đặc biệt là đồng bào vùng sâu vùng xa được nâng lên rõ rệt.
Trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu cho UBND tỉnh văn bản về tăng cường các biện pháp bảo vệ rừng, PCCCR mùa khô hanh, tham mưu cho UBND huyện, xã củng cố BCH các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR, các tổ, đội PCCCR; duy trì đều đặn cảnh báo nguy cơ cháy rừng; tu sửa đường băng cản lửa và tăng cường kiểm soát địa bàn nhờ đó đã hạn chế các vụ cháy rừng xảy ra. Việc làm tốt công tác kiểm tra, giám sát khai thác và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về rừng được thực hiện khá thường xuyên nên đã hạn chế các vụ vi phạm.
Đi đôi với công tác quản lý bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm đã triển khai hiệu quả các chương trình phát triển rừng. Vào vụ trồng rừng lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh đã tập trung hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân thông qua các lớp tập huấn, phát tờ rơi, loa truyền thanh… Vì vậy bà con đã biết trồng rừng đúng kỹ thuật và đầu tư phân bón, công chăm sóc nên rừng trồng sinh trưởng và phát triển tốt. Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh đã trồng được gần 9.000ha rừng tập trung. Tuy nhiên, hoạt động của kiểm lâm địa bàn còn hạn chế, việc nắm bắt địa bàn cơ sở có lúc còn chưa sâu. Tại địa bàn một số nơi vẫn còn xảy ra cháy rừng; tình trạng phá rừng làm nương rẫy còn diễn ra nhỏ lẻ ở một số huyện vùng cao. Việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước  về rừng và đất lâm nghiệp của chính quyền địa phương ở một số nơi  chưa được quan tâm đúng mức, chỉ đạo chưa quyết liệt.
Ông Trần Tú Anh - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết: “Sở Nông nghiệp và PTNT tiếp tục chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với  các ngành liên quan, UBND các huyện, thành, thị hướng dẫn địa phương thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Chi cục Kiểm lâm cần thực hiện tốt các dự án: Nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng; đầu tư phát triển giống cây lâm nghiệp chất lượng cao tỉnh Phú Thọ. Đồng thời phối hợp với các lực lượng chức năng thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm  pháp luật về rừng và đất lâm nghiệp”.
Mùa khô hanh đang  đến gần, lực lượng kiểm lâm lại bước vào thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ  rừng với những yêu cầu cao hơn, phức tạp hơn.  Mặc dù còn nhiều khó khăn khi lực lượng mỏng, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiếu song lực lượng kiểm lâm tỉnh đang cố gắng, tích cực triển khai các giải pháp phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng, các địa phương và người dân nhằm làm tốt công tác bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có, gắn bảo vệ với phát triển rừng một cách bền vững để giữ mãi màu xanh trên quê hương Đất Tổ.(Báo Phú Thọ 26/8) đầu trang(
Xu hướng quản lý rừng bền vững trong tương lai của tỉnh không phải bố trí nhiều lực lượng kiểm lâm tuần tra, truy quét hay lập trạm chắn ba-ri-e kiểm soát ở các “cung đường gỗ lậu” mà tập trung vào phát triển mạnh kinh tế rừng để bảo vệ rừng, giữ rừng bằng công nghệ cao...
Hàng loạt văn bản, công cụ pháp lý ban hành để siết chặt quản lý, tăng cương kỷ cương, kỷ luật bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, kể cả dành nguồn lực và tăng cường lực lượng kiểm lâm địa bàn, nhưng ở nhiều nơi, gỗ rừng vẫn tuồn về xuôi với số lượng lớn. Thêm vào đó là các chính sách giao đất giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số hưởng lợi song kết quả không như mong muốn. Nghịch lý là các khu rừng có chủ (được Nhà nước giao rừng, cấp kinh phí hỗ trợ nhận khoán bảo vệ) vẫn bị tàn phá, điển hình như các khu rừng phòng hộ Sông Tranh, Đắc Mi, A Vương...
Trong khi đó, ở nhiều nơi, không cần lực lượng kiểm lâm đông đúc nhưng thực tế rất thành công trong giữ rừng tự nhiên. Như rừng trên địa bàn huyện Nam Trà My và Tây Giang được cộng đồng dân cư quản lý nghiêm ngặt nhờ trồng cây dược liệu (sâm Ngọc Linh, đảng sâm, sa nhân...) dưới tán rừng. Chính ở nơi này đồng bào dân tộc thiểu số Xê Đăng, Cơ Tu nhận thức rằng, rừng còn mới giúp cho loài cây dược liệu sinh trưởng, phát triển tốt và đem lại nguồn lợi kinh tế không hề nhỏ cho họ.
Khác với vùng Tây Nguyên và các tỉnh thành lân cận, rừng Quảng Nam đa dạng hệ sinh học với độ che phủ đạt gần 57%. Chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế rừng ở 9 huyện miền núi được thực hiện đạt kết quả. Minh chứng là ở vùng thấp từ huyện trung du đến địa phương vùng núi cao đều ít thấy hình ảnh đất trống đồi trọc mà thay vào đó là màu xanh trùng điệp của rừng keo và cao su. Nhiều địa phương miền núi đang thực hiện chủ trương phát triển kinh tế rừng gắn với việc bảo vệ rừng. Kinh tế rừng ở đây là người dân sẽ trực tiếp hưởng lợi, kể cả ở rừng đặc dụng. Dân có đất rừng, doanh nghiệp sẽ thuê lại với thời hạn lâu dài. Sau đó, dân sẽ được tạo điều kiện làm công nhân cho doanh nghiệp, có việc làm thu nhập ổn định. Lâu nay đồng bào quay lại phá rừng vì cuộc sống túng quẫn, sản xuất lâm nghiệp chưa đủ sức nuôi sống gia đình. Do đó, lấy kinh tế rừng để giữ rừng được xem là thượng sách!
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh nêu bất cập: có nhiều khu vực giao khoán bảo vệ rừng cho đồng bào, họ vẫn tuần tra, kiểm soát hàng tháng nhưng thực tế rừng vẫn bị xâm hại. Ngược lại có nơi chẳng cần kiểm lâm, Nhà nước không bỏ tiền ra chi trả cho công tác giao khoán bảo vệ nhưng rừng vẫn nguyên vẹn. “Xu hướng mới mà tỉnh sẽ tiếp cận trong tương lai là không nhất thiết cần nhiều kiểm lâm, mà sử dụng công nghệ cao để quản lý, lấy kinh tế rừng để bảo vệ rừng” - ông Thanh khẳng định.
Tại huyện miền núi Hiệp Đức, thời điểm này hình thành 5 nhà máy sản xuất, chế biến gỗ quy mô công nghiệp. Đây sẽ là lợi thế cho người trồng rừng trên địa bàn. Bởi một thời gian khá dài, gỗ nguyên liệu sản xuất ra của người dân địa phương bị ép giá liên tục do gỗ làm ra phải vận chuyển xuống địa bàn Thăng Bình hay huyện Quế Sơn để tiêu thụ. Tại cánh nam của tỉnh được quy hoạch nhà máy chế biến gỗ đóng tại huyện Phú Ninh và cánh bắc là huyện Đại Lộc.
Theo thống kê chưa đầy đủ, 10 năm nay mỗi năm ngân sách tỉnh chỉ dành hơn 1 tỷ đồng cho công tác giao đất giao rừng, đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho đồng bào miền núi. Nghị quyết số 12 của HĐND tỉnh quyết định hỗ trợ 500 tỷ đồng cho khu vực miền núi đến năm 2020, trong đó có tính toán đến sắp xếp dân cư, phát triển sinh kế rừng bền vững. Ở bình diện quốc gia, ngày 9.9.2015, Chính phủ có Nghị định về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020. Nghị định đã ra đời hơn 2 năm nhưng tính đến thời điểm này đồng bào vẫn chưa được hưởng lợi.
Theo giải thích của Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Lê Minh Hưng, địa phương sở dĩ chậm triển khai nghị định này vì ngân sách tỉnh không đủ chi phí thực hiện. Đơn giá giao khoán bảo vệ rừng 400 nghìn đồng/ha/năm nếu áp dụng đồng bộ thì số tiền bỏ ra cực kỳ lớn. Giữa thực tiễn và chính sách “không gặp nhau”. Trước đây do chạy theo chỉ tiêu yêu cầu của cấp trên, việc đo đạc bản đồ đất lâm nghiệp theo tỷ lệ 1/10.000, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đồng bào không chính xác nên có tình trạng một số địa phương miền núi “giữ hộ” quyền sử dụng đất của dân.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh, Nghị định 75 về chính sách vay vốn tín dụng có bất cập. Đối tượng cho vay là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Còn nhóm hộ gia đình không thuộc đối tượng ưu tiên vay vốn ưu đãi. Trong khi đó, tỉnh chủ trương và hầu hết đã giao đất giao rừng cho nhóm hộ. Do đó, phải điều chỉnh đưa thêm nhóm hộ vào đối tượng hưởng lợi vay vốn ưu đãi để tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế rừng gắn với việc bảo vệ rừng. (Báo Quảng Nam 25/8) đầu trang(
Chiều 25-8, UBND H. Hòa Vang tổ chức hội nghị sơ kết công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng vùng giáp ranh với các huyện Đông Giang và Đại Lộc (Quảng Nam).
Theo báo cáo, lực lượng Kiểm lâm đã phối hợp tổ chức 20 đợt truy quét, đẩy đuổi các đối tượng xâm nhập rừng trái phép; tuyên truyền, xây dựng kế hoạch PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ cho gần 2.200 hộ dân vùng giáp ranh...
Tại hội nghị, các đại biểu tham dự đề nghị UBND 3 huyện chỉ đạo sớm xây dựng Quy chế phối hợp trong công tác quản lý Nhà nước để tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị chức năng vùng giáp ranh thực thi nhiệm vụ; xác định rõ địa giới hành chính, đóng mốc giáp ranh... (Công An Đà Nẵng 28/8) đầu trang(
Phú Thọ hiện có gần 190ha rừng và đất lâm nghiệp trên tổng số 353,456ha đất tự nhiên toàn tỉnh. Phát huy vai trò nòng cốt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng lực lượng kiểm lâm địa bàn đã đồng hành với nhân dân trong việc giữ rừng và phát triển kinh tế rừng.
Những năm gần đây, Chi cục Kiểm lâm Phú Thọ luôn quan tâm củng cố hệ thống các trạm kiểm lâm địa bàn, chỉ đạo tăng cường phân công kiểm lâm phụ trách địa bàn xã. Đến nay trên địa bàn tỉnh có 25 trạm kiểm lâm địa bàn với 139 công chức phụ trách địa bàn xã. Các trạm đều được đặt ở các khu vực trọng điểm nơi có nhiều rừng, thực hiện nhiệm vụ tham mưu, phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. Cán bộ kiểm lâm địa bàn đã bám, nắm địa bàn các xã để quản lý, bảo vệ rừng và vận động nhân dân trồng rừng. Lực lượng này thường xuyên tuần tra, phối hợp với cơ sở để phát hiện, xử lý các vi phạm trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức tuyên truyền vận động người dân cùng tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Nhằm nâng cao năng lực cho kiểm lâm địa bàn, hàng năm Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn các xã và thi nghiệp vụ kiểm lâm địa bàn. Qua đó, giúp cán bộ kiểm lâm làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương thực hiện trách nhiệm quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo quy định của Nhà nước; thực hiện các trình tự và nội dung kiểm tra, giám sát việc khai thác lâm sản, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến lâm sản; việc cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất để trồng rừng có năng suất cao tại địa phương. Trong những năm qua, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã thực hiện tốt công tác khuyến lâm cơ sở, hướng dẫn nhân dân trồng rừng đạt năng suất và hiệu quả cao, kết hợp tạo vành đai xanh phòng chống cháy rừng và nâng cao thu nhập cho người dân.
Nhờ vậy lực lượng kiểm lâm địa bàn đã tạo mối quan hệ chặt chẽ với chính quyền địa phương cấp xã, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Tỉnh ta có diện tích rừng giáp ranh với các tỉnh: Hòa Bình, Yên Bái, Sơn La khá lớn, trước đây ở những vùng giáp ranh này thường xảy ra việc chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động người dân cùng tham gia bảo vệ rừng mà tình trạng này cơ bản đã giảm. Xác định nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng tại gốc, lực lượng kiểm lâm địa bàn thường xuyên bám dân, bám rừng, với phương châm cùng ăn, cùng ở, cùng làm với nhân dân địa phương và đã thực sự trở thành nòng cốt trong sự nghiệp quản lý bảo vệ rừng ở địa phương.
Thực tế cho thấy, lực lượng kiểm lâm địa bàn đã có sự đóng góp không nhỏ trong việc kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý các vụ vi phạm lâm luật. Chính lực lượng này đã phát hiện kịp thời các đối tượng xâm hại đến rừng. Để quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả, những năm qua, ngành kiểm lâm đã tăng cường lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn tại những vùng rừng trọng yếu để cùng phối hợp với các lực lượng của địa phương tổ chức tuần tra, phát hiện và xử lý các vụ vi phạm, lực lượng kiểm lâm địa bàn còn thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục sâu rộng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bảo vệ rừng đến người dân sống gần rừng.
Tân Sơn là huyện có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn với 57.801,47ha trong đó diện tích rừng phòng hộ là 9.320,8ha, rừng đặc dụng là 15.048ha và rừng sản xuất là 30.619,3ha… Trên địa bàn huyện có 6 trạm kiểm lâm địa bàn là: Thu Cúc, Xuân Sơn, Xuân Đài, Lai Đồng, Tam Thanh và Văn Luông với tổng số 21 cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn. Diện tích rừng lớn, lực lượng mỏng, trang bị còn hạn chế nhưng các cán bộ kiểm lâm ở đây thường xuyên bám nắm địa bàn các xã được giao để tuyên truyền cho bà con nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng.
Tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền, địa phương chủ động phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Tân Sơn tổ chức kiểm tra an ninh rừng, kiểm tra mốc giới khu vực giáp ranh, quản lý giám sát sản xuất nương rẫy, quản lý khai thác lâm sản nhằm ngăn ngừa đến mức thấp nhất việc xảy ra vi phạm, bảo vệ rừng tại gốc. Thường xuyên tuần tra kiểm soát, phát hiện các vụ vi phạm về bảo vệ rừng, lồng ghép tuyên truyền trong các buổi họp khu dân cư, phát tờ rơi, tập huấn kỹ thuật về nghiệp vụ bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng hướng dẫn giúp bà con hiểu được lợi ích từ việc bảo vệ rừng và cùng tham gia.
Tuy lực lượng còn mỏng, trang bị còn thiếu nhưng với sự nhiệt tình trong công việc, thường xuyên bám sát dân, bám rừng những cán bộ kiểm lâm địa bàn đã phát huy vai trò của mình trong công tác quản lý và bảo vệ rừng, những năm gần đây trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ chặt phá rừng lớn các vụ cháy rừng đã giảm hẳn. Cùng với người dân và các lực lượng khác, cán bộ kiểm lâm địa bàn đã góp sức cho những cánh rừng ngày càng thêm xanh.  (Báo Phú Thọ 28/8) đầu trang(
Ngày 28-8, tin từ Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha – Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình cho biết, lực lượng tuần tra rừng của đơn vị này vừa bắt giữ vụ săn bắn linh trưởng quý hiếm bằng súng quân dụng AK trái phép trong khu vực VQG này.
Vào lúc 12h30 ngày 26-8, trong khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực Hung Trung, thuộc khoảnh 7, tiểu khu 609, lâm phận VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ tuần tra của Trạm Kiểm lâm Khe Gát thuộc Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện 2 đối tượng đang gùi 2 bao tải từ trong rừng đi ra.
Phát hiện thấy tổ tuần tra, các đối tượng liền bỏ chạy. Tổ tuần tra tiến hành truy đuổi và bắt giữ được một đối tượng cùng 1 bao lác, còn một đối tượng đã lợi dụng địa hình rừng núi để chạy thoát và vứt lại tang vật.
Tại hiện trường, lực lượng chức năng thu giữ các tang vật gồm: 1 bao tải màu vàng có chứa 1 khẩu súng tiểu liên AK không còn đạn, đã cũ, rỉ sét, không có số hiệu, 17 kg xương động vật chưa xác định được loài; 1 bao tải màu vàng do đối tượng chạy thoát bỏ lại có chứa 4 cá thể linh trưởng nghi là Voọc đã chết với tổng trọng lượng 12,6 kg. Số linh trưởng này đã được cạo hết lông và sấy khô qua lửa, bị mổ lấy óc, nội tạng, chỉ còn một ít lông bám ở các chi.
Đối tượng bị bắt giữ là Hoàng Đức Ái, (SN 1974), trú tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch.
Qua đấu tranh khai thác, Ái khai nhận đã cùng với đối tượng tên Minh (cùng trú tại thôn Chày Lập, xã Phúc Trạch) mang theo 1 khẩu súng tiểu liên AK, 5 viên đạn vào khu vực Ba Sạp (lâm phận VQG) từ ngày 18/8 để săn bắn động vật rừng.
Theo khai nhận, 4 cá thể Linh trưởng do các đối tượng thay phiên nhau sử dụng súng AK để bắn, mỗi người bắn được 2 cá thể, còn 17 kg xương động vật là do các đối tượng tìm thấy tại các luồng bẫy có sẵn trước rồi mang về tiêu thụ.
Sau khi bắn chết 4 cá thể linh trưởng nói trên, các đối tượng tiếp tục đi sâu vào rừng nhưng không bắn được thêm cá thể động vật nào nên quay trở về. Trong quá trình vận chuyển, các đối tượng thay nhau gùi tang vật và mang khẩu súng tiểu liên AK. Khi đến khu vực Hung Trung thì bị lực lượng Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện và bắt giữ.
Xác định đây là hành vi có tính chất rất nghiêm trọng, vi phạm pháp luật hình sự về tàng trữ, sử dụng vũ khí quân dụng trái pháp luật và vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, Hạt Kiểm lâm VQG Phong Nha - Kẻ Bàng tiến hành lập biên bản, chuyển giao toàn bộ hồ sơ, tang vật và đối tượng vi phạm cho Cơ quan Công an huyện Bố Trạch để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. (An Ninh Thủ Đô 29/8) đầu trang(
Ngày 28/8, Trung tá Trần Văn Thắng, Đội trưởng Đội CSGT số 2 (thuộc Phòng CSGT Công an tỉnh Quảng Nam) cho biết, vừa bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ lậu trên đường Hồ Chí Minh.
Theo đó, vào lúc 4h30 cùng ngày, trong khi đi tuần tra kiểm soát trên đường Hồ Chí Minh (đoạn qua xã Cà Dy, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam), tổ công tác của Đội CSGT số 2 do thiếu tá Phạm Phương Bình làm tổ trưởng phát hiện 2 đối tượng dùng xe máy kéo theo xe bò chở đầy gỗ lưu thông theo hướng Nam Giang về huyện Đại Lộc (tỉnh Quảng Nam).
Nhận thấy 2 đối tượng có nhiều biểu hiện nghi vấn, tổ công tác ra tín hiệu cho xe dừng lại để kiểm tra. Lúc này, 2 đối tượng bất ngờ bỏ xe bò lại rồi tăng tốc xe máy bỏ chạy.
Đội CSGT số 2 liền tổ chức truy đuổi và bắt được đối tượng Nguyễn  Dũng (SN 1970, trú thôn Thạnh Mỹ 2, thị trấn Thạnh Mỹ, huyện Nam Giang).
Tại hiện trường, qua kiểm đếm, tổ công tác xác định trên xe bò vận chuyển hơn 1 khối gỗ chua (thuộc nhóm 3 trong danh mục phân loại gỗ của nhà nước hiện hành). Hiện, vụ việc đã được bàn giao cho đội Kiểm lâm cơ động số 2 (thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam) tiếp tục điều tra, làm rõ. (Giao Thông 28/8) đầu trang(
Ngày 27/8, Chi cục Thủy sản Quảng Bình cho biết đã thực hiện thả về biển an toàn một con rùa biển có trọng lượng khoảng 8kg.
Trước đó, anh Nguyễn Chí Công (ở phường Đồng Phú, TP Đồng Hới-Quảng Bình) tình cờ mua được con rùa biển này từ một ngư dân. Sau khi mua, anh được nhiều người giải thích đó là rùa quý cần được bảo vệ. Anh Công tự nguyện đưa rùa biển đến giao nộp cho cơ quan chức năng.
Theo Chi cục Thủy sản, loại rùa biển này có tên là Vích Bi, màu nâu-trắng (tên khoa học Cholelonia mydas) là loài thủy sinh quý hiếm, có trong danh mục các loài có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ và tuyệt đối không được đánh bắt, mua bán, vận chuyển.
Từ đầu năm đến nay, đã có 3 trường hợp người dân tự nguyện giao nộp rùa biển quý hiếm cho cơ quan chức năng để thả về biển. (Nông Nghiệp VN 28/8) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Mặc dù quản lý địa bàn rộng, địa hình phức tạp nhưng nhiều năm nay, Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn luôn thực hiện hiệu quả việc quản lý, bảo vệ phát triển và phòng cháy chữa cháy rừng (BVPT - PCCCR).
Là đơn vị chuyên trách, thực hiện chức năng bảo vệ và quản lý lâm sản, những năm qua Hạt Kiểm lâm Thanh Sơn luôn tích cực tham mưu giúp UBND huyện thực hiện hiệu quả việc BVPT - PCCCR. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Tiến Hiếu - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện cho biết: Hiện nay, Hạt có 5 trạm kiểm lâm địa bàn, 3 bộ phận trực thuộc và 1 tổ kiểm lâm cơ động PCCCR; năm 2016, đơn vị đã tổ chức được 9 buổi tuyên truyền cấp xã và khu hành chính với hơn 400 người tham gia là trưởng khu, bí thư chi bộ, công an viên, cán bộ lâm nghiệp và các chủ rừng; phát trên 3.900 tờ gấp hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng và PCCCR; tu sửa 3km đường băng trắng cản lửa, làm mới, tu sửa 3 panô, áp phích tuyên truyền tại các xã Hương Cần, Yên Sơn, Tân Minh…
Hàng năm, huyện Thanh Sơn đã chỉ đạo thực hiện tốt dự án BVPTR trên địa bàn, công tác trồng mới rừng phòng hộ, rừng sản xuất và giao khoán bảo vệ rừng cho người dân được triển khai đúng khối lượng, chất lượng, đảm bảo tiến độ, vượt kế hoạch đề ra. Riêng năm 2016, toàn huyện trồng được 2.376ha rừng cây nguyên liệu giấy tập trung, trên 134.000 cây phân tán, khoán bảo vệ rừng tự nhiên 7.700ha, chăm sóc trên 190ha rừng trồng phòng hộ, độ che phủ rừng theo tiêu chí mới đạt 50%. Các lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội thường xuyên kiểm tra, kiểm soát các tụ điểm nhằm ngăn chặn kịp thời việc vận chuyển mua bán trái phép.
Năm 2016 đã lập biên bản và xử lý 53 vụ về: Vận chuyển, mua bán, cấp dấu trái phép lâm sản; khai thác rừng, phát rừng, làm nương rẫy trái phép; vi phạm về PCCCR, vi phạm thủ tục hành chính trong mua bán, vận chuyển lâm sản; vận chuyển mua bán trái phép động vật hoang dã... thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 200 triệu đồng... Huyện đã phối hợp, nghiệm thu các hạng mục của dự án kiểm kê rừng của tỉnh theo đúng tiến độ trên địa bàn 23 xã, thị trấn với 258 khu hành chính có rừng và đất lâm nghiệp.
Thời gian qua trên địa bàn huyện vẫn còn xảy ra cháy rừng nhỏ lẻ, làm nương rẫy trái phép ở một vài xã vùng sâu, vùng xa... Nguyên nhân là do một bộ phận người dân nhận thức về công tác bảo vệ rừng còn hạn chế, chính quyền địa phương ở những địa bàn phức tạp chưa thực sự quan tâm chú trọng đến công tác BVPTR-PCCCR, có nơi còn buông lỏng quản lý; lực lượng kiểm lâm mỏng, chất lượng hoạt động và năng lực của một số cán bộ kiểm lâm địa bàn còn hạn chế, chưa đồng đều trong khi địa bàn hoạt động rộng, địa hình phức tạp, điều kiện, phương tiện làm việc còn thiếu thốn.
Thời gian tới, huyện Thanh Sơn tiếp tục làm tốt công tác quản lý BVPTR - PCCCR, trong đó bảo vệ tốt trên 12.300ha rừng tự nhiên, chỉ đạo khoán bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ 8.700ha và hơn 25.300ha rừng trồng; thực hiện tốt việc chuyển đổi và trồng rừng sản xuất giai đoạn 2016 - 2020; chỉ đạo công tác trồng rừng, trồng trên 600ha rừng sản xuất dự án và phòng hộ, tuyên truyền vận động nhân dân trồng rừng thâm canh cây keo hạt ngoại thay thế bạch đàn chồi, hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao, giữ vững độ che phủ rừng của huyện đạt trên 50%. Tăng cường công tác thanh tra, pháp chế xử lý nghiêm những vụ vi phạm Luật BVPTR; hướng dẫn tổ chức, cá nhân kinh doanh, mua bán, vận chuyển lâm sản và động vật hoang dã đúng quy định của Nhà nước; tích cực nắm bắt địa bàn, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về rừng nhằm bảo vệ và ngăn chặn kịp thời mọi hành vi xâm hại đến rừng; kiên quyết xử lý mọi trường hợp vi phạm. (Báo Phú Thọ 25/8) đầu trang(
Từ ngày 01/01/2018, mức hỗ trợ khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên không trồng bổ sung trên địa bàn tỉnh Bắc Giang được thực hiện theo Quyết định số 29/2017/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Giang vừa ban hành.
Theo đó, hỗ trợ khoán quản lý bảo vệ rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng tự nhiên, rừng trồng phòng hộ, đặc dụng hoặc được các Ban Quản lý rừng giao khoán bảo vệ rừng. Mức hỗ trợ là 300.000 đồng/ha/năm (hiện nay mức hỗ trợ đang là 200.000 đồng/ha/năm). Đồng thời hỗ trợ chi phí quản lý, kiểm tra và nghiệm thu bằng 4% tổng số kinh phí hỗ trợ khoán quản lý bảo vệ rừng hàng năm.
Đối với hộ gia đình, cá nhân ở các huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, thực hiện theo quy định tại Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số mức hỗ trợ phát triển sản xuất quy định tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo.
Đối với hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo và cộng đồng dân cư thôn được giao rừng ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (khu vực II, III) thuộc vùng dân tộc và miền núi thì thực hiện theo quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Cùng đó, Quyết định cũng quy định mức hỗ trợ khoán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên không trồng bổ sung. Đối tượng hỗ trợ là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn được các Ban Quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ khoán khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên không trồng bổ sung. Mức hỗ trợ là 3.000.000 đồng/ha/ 6 năm (bình quân 500.000 đồng/ha/năm). Hỗ trợ chi phí quản lý, kiểm tra và nghiệm thu bằng 4% tổng số kinh phí hỗ trợ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh không trồng bổ sung hàng năm.
Trong cùng một nội dung hỗ trợ có nhiều chính sách khác nhau quy định thì tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng chỉ được nhận hỗ trợ từ một chính sách mà có lợi nhất cho đối tượng nhận hỗ trợ. (Bacgiang.gov.vn 25/8) đầu trang(
8 tháng năm 2017, toàn tỉnh trồng mới được hơn 584 ha rừng tập trung, đạt 97,4% kế hoạch năm, tăng 1,2% so với cùng kỳ. Trong đó, có hơn 560ha rừng sản xuất, gần 24 ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.
Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2017, từ nay đến cuối năm, tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng, chính quyền địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong công tác bảo vệ và phát triển rừng; nghiên cứu, chuyển giao một số mô hình giống cây lâm nghiệp mới, đem lại hiệu quả kinh tế cao… Đồng thời, chú trọng đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng. (Báo Vĩnh Phúc 28/8) đầu trang(
Tiếng ồn, bụi bặm, mùi ẩm mốc từ nhà máy dăm gỗ của Công ty TNHH Thanh Thành Đạt khiến cuộc sống của hàng chục hộ dân ở Hà Tĩnh bị đảo lộn suốt 10 năm nay.
Thời gian gần đây, VTC News nhận được phản ánh của người dân thôn Lam Long, xã Xuân Hải, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) về việc nhà máy dăm gỗ của Công ty TNHH Thanh Thành Đạt (ở Nghệ An) hoạt động gây tiếng ồn, bụi bặm. Điều đó khiến cuộc sống của người dân bị đảo lộn.
Theo ghi nhận, nhà máy dăm gỗ này hoạt động nằm sát khu dân cư, nơi có nhiều hộ dân đang sinh sống. Nhà của người dân và nhà máy chỉ cách nhau một bức tường, không có bạt che chắn.
Bên trong nhà máy, nhiều xe tải chở gỗ với số lượng lớn được tập kết, cạnh đó những chiếc máy dăm gỗ đang hoạt động hết công suất, gây ra tiếng ồn ào khủng khiếp. Gỗ dăm được chất thành đống, cao hàng chục mét, thậm chí cao hơn cả nhà dân.
Chị Nguyễn Thị Tuyết (thôn Lam Long, xã Xuân Hải) cho biết, đã 10 năm nay, từ khi đi vào hoạt động, nhà máy dăm gỗ của Công ty Thanh Thành Đạt gây ra tiếng ồn, bụi bặm khiến cuộc sống của gia đình chị và nhiều hộ dân xung quanh bị đảo lộn hoàn toàn.
“Chú nhìn đó, nhà tôi chỉ cách nhà máy dăm gỗ một bức tường sơ sài, máy hoạt động cả ngày lẫn đêm, chạy ầm ầm khiến nhà cửa rung lắc không thể nào chợp mắt. Gia đình tôi đã nhiều lần cầu cứu lên chính quyền địa phương nhưng rồi "cóc kêu không thấu trời''”, chị Tuyết buồn bã nói.
Ông Nguyễn Đức Cẩn (thôn Lam Long, xã Xuân Hải) bức xúc: “Người dân chúng tôi không hiểu vì sao chính quyền lại đồng ý đi cấp phép cho một nhà máy băm dăm gỗ hoạt động nằm ngày trong khu dân cư, chỉ cách nhà dân một bức tường rào nhưng lại không có phương án bảo vệ, che chắn bụi.
Gỗ dăm được xay chất cao thành núi, thậm chí cao hơn nhà dân, chỉ cần một cơn gió nhẹ là bụi dăm bay kín nhà, phải dùng bạt trùm kín nhà để tránh bụi. Không những vậy, dăm gỗ để lâu mùi ẩm mốc, hôi thối xốc thẳng vào nhà không thể chịu được”.
Ngoài gia đình chị Tuyết, ông Cẩn, rất nhiều hộ dân khác xung quanh phải chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhà máy. Họ nhiều lần bức xúc phản ánh lên chính quyền địa phương, tuy nhiên đến nay, sự việc đã kéo dài 10 năm nhưng vẫn chưa được giải quyết.
"Trước đây cũng có nhiều đoàn này, đoàn khác về kiểm tra nhưng đâu rồi lại vào đấy, có được xử lý đâu. Cứ đà này không sớm thì muộn rồi người dân chúng tôi cũng phải mang bệnh mà chết sớm thôi", một người dân xã Xuân Hải bức xúc nói.
Theo tìm hiểu được biết, ban đầu khi mới về xây dựng thì nhà máy này có tên là “Nhà máy chế biến gỗ xuất khẩu và Làng nghề Phổ Hải”.
Tuy nhiên, khi đi vào hoạt động, làng nghề đâu chẳng thấy, chỉ thấy đây là một nhà máy chuyên băm dăm gỗ tràm.
Họ thu mua gỗ tràm từ những huyện lân cận, sau đó vận chuyển bằng xe tải về tập kết ở đây để xay thành gỗ dăm, chất thành từng núi, sau đó vận chuyển đi bán trong và ngoài nước.
Liên quan đến vấn đề trên, ông Cao Xuân Chương, Chủ tịch UBND xã Xuân Hải cho biết, hiện xã đã nắm được phản ánh về việc nhà máy dăm gỗ của Công ty Thanh Thành Đạt hoạt động gây ra tiếng ồn, bụi bặm cho người dân địa phương. Đồng thời, xã cũng đã báo cáo sự việc lên UBND huyện Nghi Xuân.
"Sắp tới, chúng tôi sẽ tổ chức làm việc trực tiếp với các hộ dân bị ảnh hưởng để nghe ý kiến, nguyện vọng của người dân. Đồng thời làm việc với lãnh đạo nhà máy để có phương án khắc phục những tồn tại về môi trường mà người dân phản ánh", ông Chương nói. (VTC News 28/8) đầu trang(
Như chúng tôi đã phản ánh, từ trong khoảng thời gian gần 2 năm qua, hàng loạt các cơ sở chế biến lâm sản từ gỗ rừng trồng trên địa bàn tỉnh đã rơi vào tình trạng khó khăn trong sản xuất kinh doanh. Cho đến thời điểm này, thị trường dù đã có một số chuyển biến nhất định, song tình hình vẫn chưa có những biến chuyển mang tính khả quan. Thậm chí là tình hình sản xuất càng trở nên khó khăn hơn trong những tháng mùa mưa vừa qua.
Nếu như khoảng hơn 1 năm trước, anh Trần Trung Kiên có tới 4 xưởng chế biến ván bóc ở các huyện Chợ Mới, Ngân Sơn và Bạch Thông với trung bình 1 xưởng thường xuyên có 7 lao động thì đến thời điểm này, anh chỉ còn duy trì thường xuyên 2 cơ sở với khoảng 3 lao động/1xưởng. Theo anh Kiên cho biết, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng nêu trên là do thiếu nguồn nguyên liệu ổn định.  Thậm chí phải đến 3-4 ngày mới gom đủ nguyên liệu cho 1 buổi sản xuất. Sản lượng cũng vì thế mà giảm tới 4 lần so với trước. Bên cạnh đó, do thời tiết có mưa kéo dài, dẫn tới ván bóc ra không phơi được. Mặc dù khó khăn về nguyên liệu, nhưng thực tế giá thu mua gỗ cũng như đầu ra sản phẩm vẫn giữ mức ổn định.
Theo số liệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện toàn tỉnh có gần 240 cơ sở chế biến lâm sản, giảm khoảng 35 cơ sở so với năm 2016. Trong đó, gỗ bóc có 65 cơ sở, gỗ băm có 12 cơ sở. Nhưng phần lớn các cơ sở gỗ băm, gỗ bóc đều rơi vào tình trạng dừng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng từ đầu năm đến nay. Thời tiết mưa kéo dài đã khiến cho việc khai thác, vận chuyển gỗ của người dân gặp khó. Bên cạnh đó, do các xưởng chế biến mọc lên ồ ạt cũng đã khiến cho diện tích rừng đến tuổi khai thác không còn đáp ứng đủ nhu cầu. Bên cạnh đó, do những năm trước nhiều xưởng vẫn phụ thuộc nguyên liệu có được từ xử lý thực bì trồng rừng, thì từ năm nay do những thay đổi về đối tượng rừng được cải tạo trồng mới, nên nguồn nguyên liệu này đã cơ bản không còn.
Việc chế biến gỗ rừng trồng thường được đẩy mạnh vào các tháng cuối năm. Nhưng theo các chủ cơ sở, trong những ngày tới thời tiết dù ổn định hơn nhưng dự báo cũng sẽ khó có cải thiện tích cực. Bởi việc thiếu nguyên liệu sản xuất đã diễn ra trong một thời gian khá dài. Và bài toán quy hoạch vùng nguyên liệu ổn định cho các cơ sở chế biến gỗ xem ra vẫn còn khá nan giải. (Đài PTTH Bắc Kạn 28/8) đầu trang(
Liên quan đến vụ vận chuyển hơn 17 m3 gỗ không khai báo tại cửa khẩu Bờ Y (tỉnh Kon Tum) hồi đầu tháng 8/2017, Chi cục Hải quan cửa khẩu Bờ Y (Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum) vừa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH TM và XNK Bảo Huy với tổng số tiền 95,75 triệu đồng.
Trong đó bao gồm 4 triệu đồng tiền phạt do vi phạm quy định về khai hải quan; phạt 51,75 triệu đồng đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế và 40 triệu đồng do vi phạm các quy định chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Ngoài ra, Công ty TNHH TM và XNK Bảo Huy còn buộc phải tái xuất toàn bộ số gỗ trắc và gỗ cẩm ra khỏi Việt Nam (do muốn nhập khẩu phải có giấy phép).
Trước đó, vào đầu tháng 8/2017, Công ty Bảo Huy mở tờ khai nhập khẩu 90 tấn ngô hạt từ Lào về Việt Nam qua cửa khẩu Bờ Y. Tờ khai được hệ thống thông quan tự động phân luồng vàng.
Qua theo dõi, Đội Kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum) nhận thấy lô hàng có nhiều nghi vấn nên đã phối hợp cùng Chi cục Hải quan cửa khẩu Bờ Y tiến hành nâng luồng, chuyển kiểm tra thực tế hàng hóa.
Kết quả kiểm tra phát hiện số lượng ngô hạt thực tế nhập khẩu chỉ có 52,8 tấn. Cùng với đó, lực lượng Hải quan còn phát hiện trong lô hàng có một lượng lớn gỗ không khai báo trên tờ khai hải quan, bao gồm 17,27 m3 gỗ hương xẻ hộp, 0,36 m3 gỗ cẩm lai xẻ và 13,4 tấn gỗ trắc và gỗ cẩm tận dụng gốc, cành, ngọn. Toàn bộ số gỗ được cất giấu phía sau thùng container và nhét phía dưới thùng xe. (Hải Quan 28/8) đầu trang(
Diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng và độ che phủ rừng trên địa bàn huyện Ia Grai liên tục giảm mạnh do sự lấn chiếm của người dân sử dụng vào mục đích cá nhân. Vì vậy, thời gian qua, huyện Ia Grai đã đẩy mạnh công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm và trồng lại rừng theo chủ trương của tỉnh.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Ia Grai, tính đến đầu tháng 8-2017, tổng diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng của huyện Ia Grai là 10.610,4 ha, trong đó đất lâm nghiệp bị người dân lấn chiếm sử dụng là 4.090,5 ha. Thực hiện quyết định của UBND tỉnh về thu hồi đất rừng bị lấn chiếm để chuyển đổi cây trồng phù hợp mục đích lâm nghiệp và trồng lại rừng, huyện Ia Grai đã thành lập Ban Chỉ đạo thu hồi đất rừng huyện và các Ban Chỉ đạo thu hồi đất rừng cấp xã. Sau hơn 3 tháng triển khai chủ trương nói trên, toàn huyện đã thu hồi được 196,1 ha. Trong đó, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Ia Grai thu hồi được 122,1 ha tại 3 xã: Ia Khai, Ia Grăng và Ia Bă. Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Grai thu hồi được 74 ha tại địa bàn xã Ia Chía.
Bên cạnh đó, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Ia Grai đã phối hợp với UBND xã Ia Grăng, xã Ia Bă vận động được 47 hộ dân tự nguyện kê khai, trả lại diện tích đất rừng đã lấn chiếm gần 50 ha và cam kết tham gia trồng rừng có hưởng lợi trên diện tích này. Tính đến đầu tháng 8-2017, diện tích đất trồng rừng phòng hộ trên toàn huyện đạt gần 100% diện tích đã thu hồi, trong đó diện tích đất trồng rừng sản xuất là 40,4 ha.
Ông Nguyễn Trường Hải-Trưởng ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Ia Grai, cho biết: Thời gian đầu triển khai, đơn vị gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Nguyên nhân chủ yếu là do tập quán canh tác gắn với rừng đã ăn sâu vào tiềm thức và sinh kế của người dân. Nhiều người có thói quen du canh, chặt phá, đốt rừng khai phá rẫy mới để canh tác. Những năm qua, có hàng chục vụ việc xâm hại rừng, lấn chiếm đất rừng tại một số xã bị ngành chức năng phát hiện, xử lý bằng nhiều hình thức, kể cả khởi tố hình sự nhưng vẫn chưa đủ sức răn đe. Chính vì vậy, việc thu hồi đất rừng bị lấn chiếm đã khó, vận động bà con chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với mục đích lâm nghiệp và trồng lại rừng càng gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền chưa đến nơi đến chốn, nhận thức của người dân về chính sách thu hồi, giao khoán đất để trồng rừng hưởng lợi còn hạn chế. Mặc dù vậy nhưng được sự chỉ đạo quyết liệt của Huyện ủy, UBND huyện, sự nỗ lực của các Ban Quản lý và các xã có rừng nên công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm và trồng lại rừng bước đầu đạt kết quả khả quan.
Trong thời gian tới, các đơn vị chủ rừng và UBND các xã có rừng ở huyện Ia Grai tiếp tục triển khai công tác thu hồi đất và trồng lại rừng. Nhằm khuyến khích việc giao khoán đất cho người dân trồng rừng, các đơn vị chủ rừng đã có nhiều kiến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn cho người dân như: Đối với những hộ đã trồng điều từ 3 năm trở lên, đề xuất cho người dân giữ nguyên điều và trồng xen cây keo, bời lời; hỗ trợ cây giống, trợ cấp kinh phí cho người dân...(Báo Gia Lai 28/8) đầu trang(
Chi nhánh Công ty Cổ phần Tư vấn Dịch vụ về Tài sản - Bất động sản DATC tại TP Huế phối hợp với Ban Quản lý rừng Phòng hộ Sông Bồ tổ chức đấu giá gỗ rừng trồng như sau:
I. ĐẶC ĐIỂM TÀI SẢN:
1. Gỗ rừng trồng 06 lô gồm Lô 1 khoảnh 1, lô 1 khoảnh 2, lô 1 khoảnh 3 và lô 1 khoảnh 4 tiểu khu 67; Lô 1 khoảnh 6, Lô 1 khoảnh 7 tiểu khu 69 xã Phong Xuân, huyện Phong điền, tỉnh TT Huế. Diện tích : 4.529 ha
2. Giá khởi điểm: 54.602.000 Đồng (Bằng chữ: Năm mươi bốn triệu, sáu trăm lẻ hai ngàn đồng chẵn)
3.Tiền đặt trước: 8.200.000 đồng (Bằng chữ: Tám triệu, hai trăm ngàn đồng chẵn/)
II. THỜI GIAN THAM KHẢO, CÁCH THỨC ĐĂNG KÝ THAM GIA ĐẤU GIÁ, BÁN, NỘP HỒ SƠ ĐẤU GIÁ, TIỀN MUA HỒ SƠ VÀ NHẬN TIỀN ĐẶT TRƯỚC:
1. Thời gian, địa điểm xem tài sản: Từ ngày ra thông báo cho đến 10 giờ ngày 05/09/2017 tại Xã Phong Xuân , huyện Phong điền, tỉnh TT Huế.( Liên hệ Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Bồ để được hướng dẫn xem tài sản)
2. Thời gian, địa điểm tham khảo, bán hồ sơ, nộp hồ sơ tham gia đấu giá: Từ ngày ra thông báo cho đến 10 giờ 00 ngày 05/09/2017 tại Văn phòng Chi nhánh Công ty Cổ phần Tư vấn Dịch vụ về Tài sản- Bất động sản DATC tại thành phố Huế-Số 22 Tố Hữu, TP Huế
3. Cách thức Đăng ký tham gia đấu giá: Tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đấu giá thông qua việc nộp hồ sơ tham gia đấu giá hợp lệ tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Tư vấn Dịch vụ về Tài sản- Bất động sản DATC tại thành phố Huế-số 22 Tố Hữu, TP Huế
4. Thời gian, địa điểm nộp tiền đặt trước: ngày 31/08/2017 ; ngày 01/09/2017 và từ 7 giờ 00 đến trước 10 giờ 00 ngày 05/09/2017 (trong giờ hành chính) tại Chi nhánh Công ty Cổ phần Tư vấn Dịch vụ về Tài sản- Bất động sản DATC tại thành phố Huế. Khách hàng nộp tiền đặt trước vào tài khoản của Chi nhánh Công ty CP Tư vấn DV Về TS-BĐS DATC tại TP Huế số 55110000647573 Tại Ngân hàng TMCP Đầu tư & Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Thừa Thiên Huế
5. Tiền mua hồ sơ tham gia đấu giá: 150.000 đồng
III. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM TỔ CHỨC ĐẤU GIÁ: 08 giờ 00’’ ngày 06/09/2017 tại Văn phòng Chi nhánh Công ty Cổ phần Tư vấn Dịch vụ về Tài sản - Bất động sản DATC tại TP Huế - Số 22 Tố Hữu, TP Huế.
IV. HÌNH THỨC ĐẤU GIÁ, PHƯƠNG THỨC ĐÁU GIÁ:
1. Hình thức đấu giá: Đấu giá bằng cách bỏ phiếu kín trực tiếp tại cuộc đấu giá theo từng vòng đấu, liên tục cho đến khi không còn người yêu cầu đấu giá tiếp, người có mức giá trả cao nhất là người trúng đấu giá.
2. Phương thức đấu giá: Phương thức trả giá lên
V. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CÓ NHU CẦU THAM GIA ĐẤU GIÁ XIN LIÊN HỆ:
- Văn phòng Chi nhánh- Số 22 Tố Hữu, Huế. Điện thoại: 0234.3832542-0914079393.
- Ban Quản lý Rừng Phòng hộ Sông Bồ- Phường Tứ Hạ, TX Hương Trà, TT Huế
(Đấu Thầu 28/8) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Đồng Nai kiểm tra khiếu nại và giải quyết khiếu nại của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh, liên quan đến quyền sử dụng đất khu bị thu hồi tại xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 16/8/2017, Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản số 8679/VPCP-V.I về việc khiếu nại của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Theo đó, văn bản này nêu rõ: Về việc khiếu nại của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh liên quan đến quyền sử dụng đất tại xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã có ý kiến tại văn bản số 1785/UBND-NC ngày 16/3/2010 với nội dung: UBND huyện Long Thành đã kiểm tra khẳng định việc sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Khiêm đủ điều kiện bồi thường theo Khoản 2, Điều 8, Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 01/12/2004 của Chính phủ.
Thế nhưng, tại văn bản số 1549/TB-UBND ngày 04/3/2015 của UBND tỉnh Đồng Nai xác định diện tích đất của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh là đất công nên không được bồi thường. Bà Oanh đã có đơn khiếu nại gửi Thủ tướng Chính phủ.
Qua đó, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình có chỉ đạo: “Giao Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Đồng Nai kiểm tra khiếu nại và giải quyết khiếu nại của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh là con của bà Nguyễn Thị Khiêm liên quan đến quyền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất tại xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Đề xuất biện pháp giải quyết khiếu nại và đề xuất kiểm tra, xử lý vi phạm trong quá trình giải quyết khiếu nại của người dân không đúng pháp luật theo đúng quy định của pháp luât. Đồng thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả trước ngày 01/10/2017”.
Bà Oanh cho biết, từ khi có quyết định giao 16 ha đất trồng rừng vào năm 1986 đến nay UBND huyện Long Thành vẫn chưa ban hành quyết định thu hồi với diện tích nói trên.
Thế nhưng, khi UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 3895/QĐ.CT.UBT thu hồi 1.297.263,5m² đất để thực hiện dự án KCN An Phước, trong đó có các thửa đất mà gia đình bà Oanh đang sử dụng thì đất của gia đình bà lại được xác định là đất công do UBND xã quản lý nên không thể quy chủ để lập thủ tục bồi thường.
Từ đó, gia đình bà Oanh liên tiếp có đơn khiếu nại gửi các cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa được giải quyết dứt điểm. Bà Oanh cho biết thêm, đến nay UBND các cấp vẫn chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho bà theo quy định.
Cụ thể, tại Khoản 2, khoản 3 Điều 6 Luật khiếu nại 2011 quy định các hành vị bị nghiêm cấm trong giải quyết khiếu nại như sau: “2. Thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại; không giải quyết khiếu nại; làm sai lệch thông tin, tài liệu, hồ sơ vụ việc khiếu nại; cố giải quyết khiếu nại trái pháp luật. 3. Ra quyết định giải quyết khiếu nại không bằng hình thức quyết định”.
Và tại Điều 28 Luật Khiếu nại 2011 quy định thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu như sau: “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý”.
Như vậy, nhiều năm nay gia đình bà Oanh đã có đơn khiếu nại gửi các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết, nhưng đến nay UBND huyện Long Thành, UBND tỉnh Đồng Nai vẫn chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định là không đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị UBND tỉnh Đồng Nai xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng khiếu nại kéo dài, gây bức xúc cho người dân. (Pháp Luật+ 28/8) đầu trang(
Ngành lâm nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường (BVMT). Thực hiện quản lý rừng bền vững và đạt chứng chỉ rừng theo các tiêu chuẩn quốc tế là vấn đề thiết yếu trong thời kỳ hội nhập.
Mới đây, hội thảo triển khai dự án “Tăng cường vai trò của Liên minh HTX Việt Nam trong Chương trình quản lý rừng bền vững (QLRBV) và Chứng chỉ rừng (CCR)” được tổ chức tại Hà Nội đã cho thấy, rừng gắn liền với sự phát triển kinh tế và các mục tiêu quốc gia. Phát triển rừng bền vững là sự sống còn không chỉ riêng của nước ta.
Tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng Đề án thực hiện QLRBV và CCR đã được Chính phủ quan tâm và thực hiện ở một số địa phương (Thừa Thiên Huế, Phú Yên, Quảng Ngãi, Yên Bái, Hà Giang…). Muốn phát triển và thực hiện thành công đề án này, trong giai đoạn 2017 - 2020, cần có sự vào cuộc và cố gắng của nhiều cấp ngành, cũng như người dân trên cả nước.
Mục tiêu khi thực hiện đề án là thực hiện quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị dịch vụ môi trường rừng, thúc đẩy cấp CCR ở Việt Nam nhằm đáp ứng các các yêu cầu của thị trường trong nước và thế giới, qua đó, góp phần nâng cao giá trị gia tăng ngành lâm nghiệp.
Đến năm 2020, trên cả nước có ít nhất 500.000 ha rừng sản xuất được cấp CCR bền vững, trong đó có 350.000 ha rừng trồng và 150.000 ha rừng tự nhiên.
Theo Ts. Nguyễn Đắc Thắng - Phó Chủ tịch Thường trực Liên minh HTX Việt Nam, hiện nay, trên cả nước có 10.000 HTX, tổ hợp tác (THT) lâm nghiệp và hoạt động liên quan đến lâm nghiệp, không chỉ cho thấy tiềm năng của rừng mà còn cho thấy sự cần thiết của việc QLRBV, tạo quy trình sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
QLRBV và CCR có vai trò quan trọng khi nước ta đang trong thời kỳ hội nhập. CCR là điều kiện cần và đủ để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Đạt CCR không phải là để gỗ bán được giá cao hơn, để bảo đảm góp phần phát triển kinh tế bền vững, môi trường bền vững, xã hội bền vững.
Ông Lê Văn Bách - Vụ Phát triển sản xuất lâm nghiệp Việt Nam, cho rằng: “Sân chơi hội nhập là sân chơi chung, nên có những ràng buộc chung. Chúng ta muốn được chấp nhận và thành công trong sân chơi ấy, thì phải có CCR. Nói cách khác, chúng ta đang trồng rau sạch, sản xuất thịt sạch theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, Organic… thì rừng cũng phải “sạch” và đạt các tiêu chuẩn chung”.
Theo Ts. Nguyễn Đắc Thắng, muốn thực hiện được đề án về QLRBV và CCR, cần phải xác định được những lợi ích của dân - người trực tiếp sản xuất, để họ thấy BVRBV là việc như cơm ăn nước uống hàng ngày.
Hiện nay, quy mô sản xuất rừng của các hộ dân còn rất nhỏ (3 - 5ha), nếu sản xuất độc lập thì không thể phát triển. Vì vậy, cần có các HTX, THT và thậm chí là liên kết các HTX với HTX, HTX với DN để nâng cao chất lượng và năng suất.
Chúng ta không nên trông chờ vào các nguồn hỗ trợ, mà phải chủ động và đa dạng các nguồn hỗ trợ (từ Nhà nước, DN, các chủ rừng…) đồng thời tích cực chuyển giao KH-KT bằng cách liên kết các tổ chức nghiên cứu, quản lý chặt chẽ và chuyển giao các giống mới đến tận tay người dân.
Để làm được những điều trên, vai trò của Liên minh HTX Việt Nam là vô cùng quan trọng, khi đứng ra làm cầu nối liên kết người dân với người dân trong HTX và liên kết HTX, THT với DN để bảo đảm đầu ra, thực hiện thành công tái cơ cấu theo chuỗi.
Ông Richard Laity - Tổ chức cấp Chứng chỉ lâm nghiệp - rừng phụ trách khu vực Đông Nam Á, cho biết: “Việt Nam đặt mục tiêu thu nhập bình quân đầu người là 7,8 tỷ USD vào năm 2020. Để phát triển lâm nghiệp bền vững, Việt Nam phải tìm ra những HTX , THT tiêu biểu, phù hợp để thực hiện trước, sau đó tiến hành nhân rộng. Tôi thấy ở một số địa phương như Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Phú Yên… các Liên minh HTX tỉnh đã giúp đỡ các HTX và THT rất nhiệt tình và ở những địa phương này đã thực hiện tốt vấn đề QLRBV và cấp CCR”.
Bên cạnh phát triển sản xuất gỗ, Liên minh HTX Việt Nam và các Liên minh HTX tỉnh phải hướng dẫn cụ thể cho các HTX, đưa ra phương pháp sản xuất thích hợp, có thể trồng xen các loại cây ngắn ngày để tăng thu nhập cho người dân và tạo vòng quay sản xuất, vì thời gian cho một lần thu hoạch rừng là không ngắn.
Ts. Nguyễn Đắc Thắng cũng cho rằng: “Để thực hiện tốt, chúng ta cần thông qua các HTX để cập nhật thông tin một cách chính xác. Các tổ chức cần phối hợp với cơ quan chức năng (Bộ NN&PTNT, Chính phủ…) để sản phẩm rừng phải gắn liền với lợi ích của người dân nói chung, các thành viên trong HTX, THT nói riêng, để từ đó từng bước hòa nhập quốc tế”. (Thời Báo Kinh Doanh 28/8) đầu trang(
Công Đa là xã đặc biệt khó khăn của huyện vùng cao Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây nhờ trồng rừng nhiều hộ dân trên địa bàn xã vươn lên thoát nghèo. Với thu nhập hàng trăm triệu đồng/ha/chu kỳ, trồng rừng đang là hướng phát triển kinh tế thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu của người dân nơi đây.
Ông Dương Văn Chinh - Phó Bí thư chi bộ thôn Khuân Bén cho biết, nhiều năm về trước, người dân trong thôn chỉ biết trồng ngô, sắn… hiệu quả kinh tế không cao. Năm 1992, hưởng ứng theo lời vận động và được sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ kiểm lâm tỉnh, một vài hộ dân trong thôn mạnh dạn chuyển từ trồng sắn sang trồng rừng, chủ yếu là trồng keo. Sau khi thu hoạch thấy trồng keo cho thu nhập cao hơn nên nhiều hộ dân trong thôn học tập và làm theo.
Thôn Khuân Bén hiện có 83 hộ dân, 100% các hộ dân trong thôn trồng rừng, với tổng diện tích 220 ha. Nhờ nguồn thu nhập từ trồng rừng, nhiều hộ dân trong thôn vươn lên thoát nghèo. Hiện thôn có trên 80% hộ dân có nhà xây kiên cố và khoảng 20 hộ có thu nhập trên 200 triệu đồng nhờ trồng rừng, hộ nghèo trong thôn giảm từ 39 hộ (2016) xuống còn 35 hộ.
Anh Trần Văn Hà, thôn Khuân Bén là một trong những gia đình mới vươn lên thoát nghèo chia sẻ, năm 2008, khi thấy nhiều gia đình trong thôn trồng rừng cho thu nhập cao, gia đình quyết định học tập. Thời điểm đó, gia đình bắt đầu trồng thử 2 ha keo, sau đó mở rộng diện tích trong những năm tiếp theo. Đến nay, gia đình có 6 ha rừng keo, chủ yếu là cây keo tai tượng.
Năm 2015, gia đình bán 2 ha keo đầu tiên, thu về 200 triệu đồng. Nhờ nguồn thu nhập này, gia đình xây được nhà mới kiên cố và thoát được cái nghèo đeo bám nhiều năm.Không chỉ thoát nghèo, nhiều hộ dân thôn Khuân Bén vươn lên làm giàu từ trồng rừng.
Là một trong những gia đình làm giàu từ trồng rừng, ông Nguyễn Viết Trọng, thôn Khuân Bén cho hay, mặc dù là cây lâu năm (từ 7 -10 năm mới cho thu hoạch) nhưng so với trồng sắn, trồng ngô, trồng keo mang lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững.
Theo ông Trọng, gia đình bắt đầu trồng keo từ năm 2000 với tổng diện tích 5 ha. Từ khi khai thác rừng keo lần đầu tiên năm 2010, cuộc sống của gia đình cải thiện nhiều. Đồ dùng trong gia đình như ti vi, tủ lạnh, xe máy… đều được  mua sắm bằng tiền thu hoạch keo của gia đình. Đầu năm 2017, gia đình tiến hành khai thác rừng keo lần thứ hai với diện tích 1,5 ha thu về 190 triệu đồng. Với nguồn vốn này, ông sẽ tiếp tục đầu tư phát triển nuôi cá, nuôi gà…
Ông Nguyễn Thành Đạo - Bí thư Đảng ủy xã Công Đa cho biết, Công Đa là xã đặc biệt khó khăn của huyện Yên Sơn, với 60% là đồng bào dân tộc thiểu số; trong đó, dân tộc Tày chiếm khoảng 52%. Mặc dù, sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng đã được triển khai ở Công Đa cách đây hơn 20 năm nhưng vài năm trở lại đây mới thực sự phát triển mạnh.
Hiện, trồng rừng là ngành kinh tế mũi nhọn của Công Đa, 100% số hộ dân trên địa bàn xã trồng rừng với tổng diện tích rừng sản xuất trên 3.000 ha, bao gồm các loại cây như: keo, bồ đề, mỡ. Thu nhập từ trồng rừng giúp các hộ dân ở Công Đa vươn lên thoát nghèo, từng bước cải thiện cuộc sống.
Cũng theo ông Đạo, nhờ sự nhất trí, đồng lòng của chính quyền và người dân địa phương nên diện tích trồng rừng hàng năm của xã đều đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. Bên cạnh đó, xã tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… (Đại Đoàn Kết 28/8) đầu trang(
Dự án khu du lịch tâm linh ngàn tỉ dừng triển khai trong khu vực rừng phòng hộ vì chủ đầu tư không đảm bảo năng lực tài chính.
Ngày 28-8, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho biết UBND tỉnh này vừa có báo cáo gửi Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tình hình triển khai thực hiện dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam tại xã Tam Đại (huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam).
Theo báo cáo, trong quá trình triển khai dự án, chủ đầu tư gặp một số khó khăn, vướng mắc, như thủ tục pháp lý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác bảo vệ môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ triển khai dự án, nguồn vốn thực hiện… Trong đó, khó khăn lớn nhất là không đảm bảo năng lực tài chính nên chủ đầu tư báo cáo UBND tỉnh Quảng Nam không tiếp tục triển khai, dừng thực hiện dự án.
Được biết, dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam do Công ty TNHH Ba Vàng Quảng Nam (số 40 Trần Phú, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam) làm chủ đầu tư. Theo đề án, công trình sẽ được triển khai trên diện tích 200 ha với tổng kinh phí xây dựng 1.000 tỉ đồng, chia làm nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu sẽ đầu tư trên diện tích 67 ha, kinh phí đầu tư 500 tỉ đồng, dự kiến hoàn thành sau 12 tháng thi công.
Trước đó, vào ngày 26-5-2016, chủ đầu tư phối hợp với chính quyền địa phương long trọng tổ chức lễ động thổ khởi công xây dựng dự án trước sự chứng kiến của nhiều lãnh đạo trung ương, địa phương. Tại lễ động thổ, các lãnh đạo, nhà hảo tâm đã ủng hộ hàng chục tỉ đồng, nhiều hiện vật có giá trị để góp công xây dựng công trình.
Điều đáng nói, dù làm lễ động thổ vào ngày 26-5-2016 nhưng đến ngày 3-6-2016, UBND tỉnh Quảng Nam mới có quyết định số 234/TB-UBND thu hồi ban đầu 19,59 ha đất rừng phòng hộ Phú Ninh để phục vụ dự án.
Việc dự án Khu du lịch tâm linh Thiền Trúc Lâm Quảng Nam được UBND tỉnh Quảng Nam tạo điều kiện thuận lợi tối đa, kể cả cho phép chủ đầu tư "cầm đèn chạy trước ô-tô" như trên khiến nhiều nhà đầu tư khác phải ganh tị.
Thời điểm đó, thông tin dự án xây dựng trong lâm phận rừng phòng hộ Phú Ninh, lại nằm sát hồ Phú Ninh - nơi cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho hàng ngàn người dân TP Tam Kỳ đã gây ra nhiều ý kiến phản ứng. (Người Lao Động 28/8) đầu trang(
Từ những bất cập trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nên diện tích rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Nông đang dần bị thu hẹp. Vì vậy, việc nâng cao độ che phủ rừng theo tinh thần của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đang đặt ra nhiều thách thức đối với ngành nông nghiệp và các địa phương.
Theo thống kê, tổng nguồn vốn để thực hiện các chương trình, dự án trồng rừng trên địa bàn tỉnh là trên 370 tỷ đồng, bao gồm vốn trung ương cấp, vốn địa phương và các nguồn vốn khác. Trong đó, giai đoạn từ 2004-2010, toàn tỉnh được cấp trên 32,4 tỷ đồng; giai đoạn 2011 đến nay là trên 256 tỷ đồng. Từ nguồn vốn được cấp, riêng trong giai đoạn 2011-2016, toàn tỉnh đã trồng được 7.721 ha/9.346 ha rừng, đạt 82,6% kế hoạch đề ra. Nhưng thực tế cho thấy, dù nguồn vốn đầu tư lớn, diện tích trồng rừng đạt cao, nhưng hiệu quả xem ra lại thấp.
Điển hình, đối với chương trình trồng rừng thay thế, toàn tỉnh đã triển khai trồng được trên 1.814 ha/4.653 ha. Suất đầu tư đối với trồng rừng thay thế được tính bình quân trên 90 triệu/ha. Tuy nhiên, qua giám sát của Thường trực HĐND tỉnh cho thấy, hiệu quả và chất lượng trồng rừng đạt rất thấp, cây phát triển chậm, cây chết còn chiếm tỷ lệ cao, rừng trồng manh mún, đa số diện tích rừng chưa được nghiệm thu do chưa đủ điều kiện.
Đối với rừng trồng phòng hộ cảnh quan quốc lộ 14 có mức đầu tư trên 79 triệu đồng/ha. Diện tích thiết kế, trồng và chăm sóc từ năm 2004 đến nay là 54 ha, nhưng hiện chỉ còn lại 9 ha; trong đó chỉ có khoảng 3 ha là có khả năng có thể thành rừng được nghiệm thu.
Đối với chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Chính phủ, toàn tỉnh đã trồng được trên 2.078 ha/2.430 ha, đạt 85% kế hoạch, nhưng diện tích đạt yêu cầu chỉ có 869 ha, chiếm 41%. Diện tích bị chặt phá, lấn chiếm và không đạt yêu cầu chiếm đến 56%.
Riêng Dự án trồng rừng Flich, từ khi triển khai đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 9.442 ha, do 4 doanh nghiệp và 5.159 hộ trồng. Thế nhưng, qua kiểm tra, ngoài một số diện tích nhỏ đã khai thác, phần lớn diện tích không đạt yêu cầu, bị lấn chiếm và chuyển đổi sang cây trồng khác.
Các chương trình triển khai trong nhiều năm, nhưng tỷ lệ độ che phủ rừng không được nâng lên mà còn giảm theo từng năm. Nếu năm 2006, tỷ lệ độ che phủ rừng của tỉnh là 55,5% thì đến nay chỉ còn 38,8%. Như vậy, trong vòng 10 năm, độ che phủ rừng đã giảm đến 16,7%. Ngoài do buông lỏng công tác quản lý, bảo vệ rừng thì những bất cập trong công tác trồng rừng cũng là nguyên nhân dẫn đến giảm độ che phủ của rừng.
Qua kiểm tra thực địa, Đoàn giám sát của Thường trực HĐND tỉnh cho rằng, nguyên nhân dẫn đến diện tích trồng rừng ở các địa phương không đạt và mất chủ yếu là do các chủ rừng buông lỏng công tác quản lý. Hầu hết các đơn vị đều chưa có giải pháp hữu hiệu để thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích rừng được giao. Công tác rà soát, thiết kế trồng rừng chưa sát với thực tế. Nhiều diện tích thiết kế trồng rừng trên vùng đất màu mỡ, phù hợp với phát triển hoa màu và cây công nghiệp. Vì vậy, các hộ dân thường phá và “chuyển đổi” diện tích rừng trồng sang sản xuất cây công nghiệp có giá trị cao hơn như Dự án Flich ở Đắk Glong. Vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương từ huyện đến xã còn lu mờ. Các ban chỉ đạo cấp huyện được thành lập nhưng không hoạt động, chưa làm tốt chức năng tham mưu cho chính quyền địa phương đối với công tác quản lý, phát triển rừng mà chủ yếu là phó mặc cho hạt kiểm lâm, các công ty, cá nhân.
Theo báo cáo của UBND tỉnh, từ đầu năm đến nay, tình hình phá rừng, vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng diễn ra rất nghiêm trọng. Chỉ riêng từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh ghi nhận trên 298 vụ phá rừng, chủ yếu ở các huyện Đắk Song, Đắk Glong và Krông Nô. So với cùng kỳ năm trước, số vụ phá rừng tăng trên 52%, diện tích rừng bị thiệt hại trên 192 ha, tăng 150,4% so với cùng kỳ năm trước. Cũng theo nhận định của UBND tỉnh, công tác bảo vệ rừng ở cấp cơ sở còn yếu, có dấu hiệu bao che, móc ngoặc của cán bộ cơ quan chức năng. Trên các địa bàn phát hiện một số băng nhóm tội phạm phá rừng theo kiểu xã hội đen. Tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng chưa được giải quyết dứt điểm. Qua rà soát, toàn tỉnh hiện còn 5.147 hộ, 14.819 khẩu đang lấn chiếm 10.508 ha đất rừng.
Trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh và trước cử tri, Giám đốc Sở Nông nghiệp - PTNT Lê Trọng Yên cho rằng, nguyên nhân dẫn đến số lượng và diện tích rừng bị phá tăng lên trong những tháng đầu năm là do trong thời gian sắp xếp lại các công ty lâm nghiệp, cán bộ buông lỏng quản lý. Trước đây, diện tích rừng bị phá chưa thống kê hết do chủ rừng sợ trách nhiệm nên giấu. Khi nhân sự thay đổi, lãnh đạo mới của các công ty lâm nghiệp đã tiến hành rà soát lại diện tích bị chặt phá. Vì vậy, trong tổng diện tích rừng bị phá năm 2017 có đến 100 ha được thống kê vào diện tích bị mất của năm 2016.
Với sự vào cuộc quyết liệt trong chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, nhiều trường hợp vi phạm pháp luật trong quản lý, bảo vệ rừng đã được đưa ra xử lý. Điển hình, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh phát hiện và xử lý trên 28 vụ, với trên 58 đối tượng hủy hoại rừng; phát hiện trên 5 vụ với 7 đối tượng vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và trên 31 vụ, với 28 đối tượng vận chuyển gỗ trái phép… Cùng với đó, tỉnh cũng đã xử lý các hành vi cấu kết, móc ngoặc của cán bộ, cơ quan chức năng để mất rừng như điều chuyển, xử lý trên 34 lượt cán bộ, công chức vi phạm…
Theo thống kê, năm 2017, tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh chỉ đạt 38,8%. Như vậy, để đạt mục tiêu đến năm 2020 theo Nghị quyết HĐND tỉnh là phấn đấu độ che phủ rừng đạt 42%, nghĩa là phải tăng thêm 4,33%. Tuy nhiên, nhiều đại biểu HĐND tỉnh cho rằng, nếu bây giờ thực hiện trồng rừng thì cũng phải mất 4-5 năm mới thành rừng được. Vì vậy, để hạn chế tối đa việc giảm tỷ lệ độ che phủ, chúng ta phải vừa trồng vừa chống. Nghĩa là, ngoài việc đẩy mạnh trồng rừng, tính thêm diện tích các loại cây trong danh mục Bộ Nông nghiệp - PTNT cho phép vào độ che phủ, ngành chức năng cần có giải pháp căn cơ hơn nữa trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng hiện có.
Từ thực tế giám sát, Thường trực HĐND tỉnh đã đề nghị UBND tỉnh cần chỉ đạo kiểm tra, thanh tra đối với các chương trình, dự án trồng rừng, xử lý nghiêm đối với các đơn vị, chủ đầu tư các dự án thiếu trách nhiệm trong việc quản lý rừng, gây lãng phí nguồn ngân sách trong thời gian qua. UBND tỉnh chỉ đạo kiên quyết hơn nữa đối với những địa phương, đơn vị quản lý, bảo vệ rừng để đất rừng bị lấn chiếm, mua bán, sang nhượng, xây dựng nhà cửa, lều lán trái phép. Các địa phương vào cuộc điều tra, xử lý các đối tượng có hành vi phá rừng, lấn chiếm đất rừng, mua bán sang nhượng đất rừng trái phép.
Phát biểu tại kỳ họp thứ 4, HĐND tỉnh, đồng chí Lê Diễn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cho rằng, để nâng cao tỷ lệ độ che phủ rừng theo kế hoạch, các cấp ngành, địa phương cần nhanh chóng triển khai các biện pháp trồng rừng, bảo vệ diện tích rừng hiện có. Hiện tại, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đang chỉ đạo rất quyết liệt, với quyết tâm một trong vài năm tới phải lập lại kỷ cương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Tỉnh đã nhờ sự trợ giúp và vào cuộc của Bộ Công an để tấn công mạnh mẽ đối với các loại tội phạm liên quan đến vi phạm phá rừng. Tỉnh cũng đang rà soát lại một lần nữa những tổ chức, cá nhân sai phạm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Một số cán bộ vi phạm hiện nay đã xử lý và một số đang và sẽ tiếp tục xử lý, chứ không phải dừng lại ở việc đánh giá tình hình, tìm hiểu nguyên nhân là xong. (Báo Đắk Nông 28/8) đầu trang(
Báo Thanh tra ngày 8/8/2017 có bài: "Hoành Bồ (Quảng Ninh): Gần 140 ha rừng bị... “chảy máu”, rút kinh nghiệm là xong?" phản ánh, Thanh tra tỉnh Quảng Ninh qua thanh tra việc chấp hành chính sách pháp luật trong công tác quản lý đất lâm nghiệp, bảo vệ rừng và thực hiện chính sách hỗ trợ sau mưa lụt (năm 2015) tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ đã "điểm mặt" hàng loạt sai phạm và chỉ rõ trách nhiệm của nhiều tổ chức, cá nhân liên quan. Tuy nhiên, UBND huyện Hoành Bồ lại tiến hành kiểm điểm theo kiểu... "làm cho có".
Sau khi đăng tải, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có Văn bản số 6129 gửi Báo Thanh tra.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu UBND huyện Hoành Bồ, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiểm tra, rà soát kết quả xử lý theo thẩm quyền đối với các tổ chức, đơn vị, cá nhân trực thuộc đã để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng trái phép, phá rừng tự nhiên tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ.
Giao và ủy quyền Thanh tra tỉnh kiểm tra, đôn đốc các đơn vị thực hiện các nội dung kết luận, kiến nghị của Thanh tra tỉnh và các chỉ đạo của UBND tỉnh; tổng hợp kết quả thực hiện xử lý các nội dung phản ánh của Báo, có văn bản trả lời; báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất biện pháp giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong quá trình xử lý về UBND tỉnh trước ngày 30/8/2017. (Thanh Tra 29/8) đầu trang(
UBND tỉnh Nghệ An vừa ra văn bản chỉ đạo UBND các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh kiểm tra, xử lý thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lầm nghiệp đối với các hộ gia đình, cá nhân vi phạm Luật Bảo vệ phát triển rừng.
Văn bản số 4952/UBND-NN, ngày 05/7/2017 của UBND tỉnh Nghệ An nêu rõ: Trong thời gian vừa qua trên địa bàn tỉnh xảy ra một số vụ việc về tình trạng người dân tự ý đốt phát rừng tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái với pháp luật tại một số huyện như Quỳ Hợp; Quế Phong; Quỳ Châu; Anh Sơn và Con Cuông. Sự việc nêu trên đã vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 2004 và Luật Đất đai 2013 và các quy định của nhà nước về quản lý rừng và quản lý đất đai.
Nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng trên, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo thực hiện nghiêm một số nội dung trọng tâm.
Trong đó, yêu cầu tổ chức rà soát tổng kiểm tra tình hình công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn huyện, thành phố, thị xã; kiểm tra việc sử dụng rừng của các đơn vị chủ rừng; kiểm tra các đối tượng rừng đã và đang phát đốt xử lý thực bì, trồng rừng trong thời gian qua, nếu vi phạm phát đốt vào diện tích rừng tự nhiên thì tổ chức khám nghiệm hiện trường, lập hồ sơ xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Đối với các hộ gia đình, cá nhân đã được nhà nước giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp gắn với giao rừng, cho thuê rừng. Nếu vi phạm các quy định của Luật Bảo vệ phát triển rừng 2004, Luật Đất đai 2013 và các quy định khác của pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý đất đai thì phải chịu hình thức xử lý theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.
Đặc biệt, UBND tỉnh Nghệ An yêu cầu UBND cấp huyện chỉ đạo kiểm tra, áp dụng các biện pháp thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Sau khi thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân vi phạm theo quy định; UBND cấp huyện giao cho UBND cấp xã sở tại quản lý và chỉ đạo cơ quan chuyên môn tham mưu đấu giá quyền sử dụng đất lâm nghiệp theo đúng quy định của pháp luật.
Chỉ đạo các tổ chức kiểm điểm trách nhiệm tập thể, cá nhân có liên quan trong việc rừng của địa phương mình quản lý mà bị phát đốt, chuyển đổi mục đích sử dụng trái pháp luật, vi phạm chủ trương của Đảng tại Chỉ thị 13-CT/TW ngày 12/01/2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Giao Sở NN&PTNT chỉ đạo tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các nội dung trên, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng, bảo vệ an toàn diện tích rừng tự nhiên hiện có của tỉnh.
Được biết, sau khi nhận được văn bản trên thì UBND các huyện có xảy ra tình trạng người dân tự ý đốt phát rừng tự nhiên, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp trái với quy định của pháp luật như Quỳ Hợp; Quế Phong; Quỳ Châu; Anh Sơn và Con Cuông… cũng đã có văn bản gửi Phòng TN&MT; Phòng NN&PTNT; Văn phòng ĐKQSDĐ; Hạt Kiểm lâm và các xã, thị trấn trên địa bàn thực hiện các nội dung trên theo chỉ đạo của UBND tỉnh Nghệ An. (Tài Nguyên & Môi Trường 28/8) đầu trang(
Thực hiện Quyết định số 672, ngày 26/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/10.000, xét duyệt cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng  đất lâm nghiệp, quán triệt chủ trương mỗi mảnh đất, mảnh rừng đều có chủ, trong 10 năm (từ 2006-2016), tỉnh Hòa Bình đã giao hơn 48.771 ha cho 713 cộng đồng, đạt 100% so với kế hoạch; giao  hơn 104.964 ha cho 51.107 hộ gia đình, đạt 100% kế hoạch.
Nhờ đó, cộng đồng dân cư xóm và hộ gia đình đã có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ rừng. Hiện tượng phá rừng, khai thác rừng, lâm sản, lấn chiếm chuyển đổi mục đích rừng và đất lâm nghiệp đã giảm nhiều. Đặc biệt, nhiều khu rừng giao cho cộng đồng quản lý đã phát huy được tính tích cực của văn hoá làng xã từ lâu đời nên được bảo vệ tốt.
Công tác trồng rừng hiệu quả hơn với tỷ lệ thành rừng cao; tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân; góp phần xoá đói, giảm nghèo, từng bước góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Nhiều hộ dân trong tỉnh đã tự bỏ vốn đầu tư trồng rừng sản xuất; trong đó, cây keo lai khẳng định được giá trị kinh tế với thu nhập bình quân trên 60 triệu đồng/ha. Tỉnh còn hình thành nhiều trang trại nông, lâm nghiệp, mô hình kinh tế hộ gia đình cho hiệu quả kinh tế cao ở các huyện Kim Bôi, Lạc Thuỷ, Tân Lạc.
Ông Lê Minh Thủy, Chi Cục trưởng Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình cho biết, hiện tỉnh đã thành lập được 1.830 tổ, đội quần chúng với 12.028 người tham gia bảo vệ rừng; 206 xã có rừng đã xây dựng được bản Quy ước bảo vệ rừng. Diện tích rừng được trồng từ 2006-2016 là 55.000 ha; diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi, bảo vệ là hơn 76.951 lượt ha, chủ yếu do cộng đồng dân cư, hộ gia đình bỏ công chăm sóc, bảo vệ. Tỷ lệ che phủ rừng sau 10 năm tăng từ 40,4% lên 51,2%.
Tuy nhiên, hiệu quả vẫn chưa như kỳ vọng. Hầu hết các khu rừng giao cho cộng đồng là rừng tự nhiên sau khai thác, trữ lượng thấp; thường áp dụng phương pháp khoanh nuôi tái sinh; thiếu nguồn vốn đầu tư để thực hiện trồng bổ sung nâng cao chất lượng rừng. Diện tích rừng tự nhiên được giao cho hộ gia đình hầu như không mất nhưng kém phát triển do các hộ ít quan tâm. Việc hưởng lợi từ rừng còn ít nên chưa mang lại hiệu quả về kinh tế.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình Nguyễn Văn Dũng khẳng định, chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số là đúng đắn. Tuy vậy, mức hỗ trợ thấp, thủ tục khai thác sử dụng vẫn còn rườm rà.
Do đó, để phát triển rừng bền vững, nhà nước cần xây dựng chính sách khuyến khích tích tụ đất đai, liên doanh liên kết, hình thành các tổ chức sản xuất liên kết theo chuỗi trong lâm nghiệp. Từ đó, thu hút vốn đầu tư xã hội vào trồng rừng sản xuất.
Mới đây, tại buổi làm việc với Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, tỉnh Hoà Bình kiến nghị cần sửa đổi một số quy định cũng như điều chỉnh lại khái niệm chưa phù hợp trong Luật Đất đai năm 2013 và Dự thảo Luật Bảo vệ phát triển rừng.
Tỉnh cũng đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương quan tâm nguồn kinh phí để sớm tổ chức kiểm kê rừng trên địa bàn toàn quốc; xây dựng chính sách hưởng lợi và cơ chế hưởng lợi đảm bảo cho đối tượng nhận rừng yên tâm quản lý, bảo vệ và tăng cường đầu tư để phát triển rừng; thay đổi các quy trình kỹ thuật lâm sinh không còn phù hợp. (Đảng Cộng Sản VN 25/8) đầu trang(
Chào mừng kỷ niệm 72 năm ngày Quốc khánh 2/9, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tổ chức lễ phát động trồng rừng.
Hoạt động trồng rừng được tổ chức với mục đích nhằm tuyên truyền, giáo dục mục đích ý nghĩa của việc trồng rừng và bảo vệ rừng cho tất cả cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị và trong nhân dân.
Đồng thời, thông qua hoạt động trồng rừng sẽ nâng cao nhận thức của tầng lớp nhân dân về tác dụng của rừng gắn với phát triển kinh tế xã hội, phát huy hết tiềm năng kinh tế của tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế chung của tỉnh nhà và khu vực theo hướng phát triển bền vững.
Ngoài ra, trồng rừng ngập mặn ven biển sẽ bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao chức năng phòng hộ chắn sóng lấn biển, góp phần giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. (Môi Trường & Cuộc Sống 29/8) đầu trang(
Ðây là chủ trương từ Chương trình hợp tác của Liên hợp quốc (LHQ) về “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua các nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng tại các nước đang phát triển” (UN-REDD) vừa triển khai tại Lâm Ðồng.
Chuyên gia Bùi Lê Inh - điều phối viên Dự án UN-REDD Việt Nam phụ trách địa bàn Lâm Ðồng cho biết: Ðến nay, trên 35.600 cây đã được giao để trồng tại địa bàn các huyện Ðam Rông, Lâm Hà và Di Linh.
Lâm Đồng là một trong 6 tỉnh ở Việt Nam được triển khai Chương trình UN-REDD giai đoạn II, vì vậy, cần phát huy lợi thế này một cách tối đa có thể. Với việc đồng hành từ các cơ quan đối tác thực hiện của LHQ như Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), Cơ quan Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) và Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) cùng nguồn tài trợ của Chính phủ Na Uy, chương trình trồng cây phân tán chắc chắn sẽ đưa lại nhiều lợi ích lớn.
Mục tiêu của Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II là nâng cao khả năng của Việt Nam để có thể hưởng lợi từ các khoản chi trả dựa trên kết quả cho REDD+ trong tương lai và thực hiện các thay đổi căn bản mới tích cực trong ngành lâm nghiệp. Đây là sự “thống nhất hành động” của hệ thống LHQ tại Việt Nam nói chung và giữa các bên liên quan trong Chương trình UN-REDD Việt Nam.
Theo đó, các hoạt động sẽ ngày càng tập trung nhiều hơn vào việc thực hiện các chính sách và biện pháp đề xuất trong Kế hoạch Hành động REDD+ cấp tỉnh. Mục đích của các kế hoạch này để chứng minh rằng thực sự có thể đạt được mục tiêu cô lập và giảm phát thải khí nhà kính bằng cách can thiệp thiết thực, chỉnh sửa hay gia hạn những chương trình quốc gia có tác động đến độ che phủ rừng hay sinh khối rừng. Cùng đó, với Quyết định số 5399/QĐ-BNN-TCLN ngày 25/12/2015 của Bộ NN&PTNT quy định thí điểm chia sẻ lợi ích từ REDD+ trong khuôn khổ thực hiện Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II.
Cụ thể hóa các hoạt động trong Thoả thuận hỗ trợ thực hiện Kế hoạch hành động REDD+ cấp cơ sở (SiRAP) ở Lâm Đồng được triển khai bằng ba gói thầu, số 02, 06 và 07. Trong đó, gói số 02 dành cho Ban Quản lý rừng phòng hộ (BQL RPH) Sêrêpốk. Giống được cung cấp là cây muồng đen, một loài cây lâm nghiệp, đa mục đích, thuộc họ đậu, có tán không rậm rạp, gỗ lớn nhờ đó cung cấp thêm lượng đạm cho cây cà phê. Muồng cũng cản được sự bay hơi của nước nên giúp giữ nước cho cà phê. Theo chuyên gia Bùi Lê Inh, sau khoảng 4-5 tuổi, muồng có thể được khai thác làm trụ cho cây hồ tiêu. Với phương án trồng xen này, cà phê không ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng và mục tiêu sẽ đạt được là tăng độ che phủ rừng.
Trong lúc đất lâm nghiệp đang bị xâm lấn trái phép, việc trồng xen cây phân tán là phương án rất tối ưu, người dân quản lý bảo vệ rẫy cà phê của mình vừa có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ muồng dưới sự giám sát và nghiệm thu của BQL RPH.
Theo đó, nếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, người dân sẽ được thụ hưởng theo chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đến nay, tổng số cây giống muồng đã ban giao xong là 26.864 cây, trong đó các xã Đạ Tông 2.080 cây; Đạ M’rông 1.570 cây; Đạ Rsal 8.964 cây và Rô Men 14.250 cây.
Đối với gói số 06, cây giống được giao cho 3 BQL RPH: Tân Thượng, Lán Tranh và Nam Ban với tổng số 11.272 cây. Trong đó, Tân Thượng 2.800 ha, Nam Ban 2.800 ha và Lán Tranh 2.500 ha. Đây là chương trình thử nghiệm thực hiện SiRAP. Chương trình sẽ chi trả dựa trên kết quả sự tăng trưởng của rừng, tỉ lệ thuận sự tích lũy cac-bon của rừng (sau khi kết thúc đo đếm lại theo cách quy ra tấn), mỗi tấn trả 5 USD. Trên cơ sở này, các BQL giao cho các nhóm hộ, bình quân từ 20-35 ha. Những diện tích này vẫn được chi trả dịch vụ môi trường rừng (450.000 đồng/ha); UN-REDD sẽ trả từ 200 - 250 ngàn đồng/ha và hỗ trợ giống cây lâm nghiệp, và hơn 4.000 cây ăn quả giống ghép như sầu riêng, bơ. Trong tổng số 200 - 250 ngàn đồng được tạm ứng trước một phần kinh phí.
Còn gói số 07 là đặc thù hoạt động của tổ chức PAO cùng chương trình UN-REDD. Theo đó, Lâm Đồng vừa được hỗ trợ đối với 2 đơn vị là BQL RPH Tân Thượng và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Di Linh. Chương trình này cũng được hỗ trợ cây muồng đen để trồng xen với cà phê, mật độ 278 cây/ha. Trong đó, BQL RPH Tân Thượng 60 ha và Công ty Lâm nghiệp Di Linh 68 ha. Theo Ban Quản lý Chương trình UN-REDD Lâm Đồng, tất cả cây giống muồng đen đã bàn giao xong tại các cơ sở, kích thước cây cao 50 cm; gốc 0,3 cm, với nguồn gốc được kiểm định đầy đủ.
Với điều kiện thuận lợi nhờ có Chương trình UN-REDD, thực tế sẽ đem lại kinh tế bằng việc nâng cao hiệu quả năng suất cây cà phê, mặt khác tăng độ che phủ của rừng, góp phần quan trọng trong ứng phó biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, phía trước còn nhiệm vụ hết sức quan trọng là khâu chăm sóc, bảo vệ khi chương trình trồng cây phân tán đã hoàn thành. Vì vậy, rất cần đến trách nhiệm của các chủ rừng, các địa phương trong giám sát và ý thức đồng tham gia hiệu quả từ phía người dân. (Báo Lâm Đồng 28/8) đầu trang(
Chiều 28/8/2017, Ban Chỉ đạo cổ phần hóa các lâm trường tổ chức cuộc họp triển khai một số nội dung liên quan đến việc xây dựng phương án cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp: Thác Bà, Yên Bình, Việt Hưng, Ngòi Lao. Đồng chí Nguyễn Chiến Thắng - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo chủ trì cuộc họp.
Triển khai công tác cổ phần hóa theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, UBND tỉnh đã triển khai, ban hành các văn bản chỉ đạo hướng dẫn thực hiện cổ phần hóa 4 công ty lâm nghiệp thuộc tỉnh quản lý gồm: Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Yên Bình, Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Thác Bác, Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Việt Hưng, Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Ngòi Lao. Theo đó, tỉnh đã phê duyệt giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa; tổ chức phê duyệt phương án sử dụng đất của các công ty lâm nghiệp; hoàn thành phương án xử lý nhà đất của các công ty lâm nghiệp cổ phần hóa; hoàn thành phương án sắp xếp lao động; dự kiến tiêu chí nhà đầu tư chiến lược tham gia mua cổ phần tại 4 công ty lâm nghiệp; dự thảo phương án cổ phần hóa. Hiện nay đang chờ kết quả xác định nhà đầu tư chiến lược để xác định mức vốn điều lệ và xác định số cổ phần bán cho các đối tượng theo quy định.
Tại cuộc họp, các đại biểu đã cho ý kiến vào dự thảo tờ trình và Quyết định phê duyệt tiêu chí, trình tự lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược khi thực hiện cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh quản lý.
Kết luận cuộc họp, đồng chí Nguyễn Chiến Thắng -  Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo cổ phần hóa các lâm trường đề nghị sau cuộc họp này, Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan thường trực, tiếp tục tham mưu hoàn thiện tờ trình và Quyết định phê duyệt tiêu chí, trình tự lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, phương thức bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược khi thực hiện cổ phần hóa các công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh quản lý. Sau khi được phê duyệt sẽ tổ chức hướng dẫn trình tự, thủ tục cho các nhà đầu tư tham gia làm nhà đầu tư chiến lược và đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đồng chí đề nghị, việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược phải đảm bảo hết sức chặt chẽ, nhanh chóng. Sau đó sẽ tiến hành các bước theo để phấn đấu hoàn thành công tác cổ phần hóa xong trước 31/12/2017. (Yenbai.gov.vn 28/8) đầu trang(
Chiều 28/8, UBND TP Đà Nẵng đã làm việc với Hiệp hội du lịch TP Đà Nẵng về việc rà soát các dự án tại bán đảo Sơn Trà. Đà Nẵng sẽ có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ sau khi tổng hợp các ý kiến của Hiệp hội du lịch, các tổ chức, doanh nghiệp có dự án đầu tư tại Sơn Trà.
Tại buổi làm việc, ông Huỳnh Tấn Vinh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng cho biết: Hiệp hội vẫn giữ nguyên các kiến nghị trước đây đã gửi Thủ tướng Chính phủ. Các kiến nghị đã được hơn 1,5 vạn người đồng tình, nhiều nhân sỹ trí thức, đại biểu quốc hội, đông đảo người dân ủng hộ. Hiệp hội đã tổ chức hội thảo khoa học về Sơn Trà vào ngày 17/8 và đã có văn bản kiến nghị gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên tại bán đảo Sơn Trà.
“Đây là kiến nghị rất xác đáng, vì Sơn Trà là báu vật không ở nơi nào trên thế giới hay thành phố nào ở Việt Nam có được. Nếu chúng ta quy hoạch các khu lưu trú không thận trọng, thế hệ con cháu chúng ta sẽ không còn bán đảo Sơn Trà màu xanh nữa. Bảo tồn, phát triển bền vững là xu thế của du lịch thế giới và cũng là xu thế mà Thủ tướng Chính phủ đã tuyên bố: không đánh đổi môi trường để lấy phát triển kinh tế, gây ảnh hưởng đến người dân”, ông Vinh khẳng định.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng cho biết: chính quyền Đà Nẵng luôn cầu thị, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến liên quan việc bảo tồn, phát triển tại bán đảo Sơn Trà. Các ý kiến của Hiệp hội, cũng như của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các nhà đầu tư sẽ được thành phố xem xét tổng hợp để có báo cáo gửi Thủ tướng đảm bảo nội dung và đúng tiến độ, yêu cầu.
“Quan điểm là phát triển bền vững bán đảo Sơn Trà, trong đó yếu tố an ninh quốc phòng và đa dạng sinh học phải xem xét hết sức cẩn trọng. Qua nhiều lần làm việc, căn cứ nhiều ý kiến đã sơ bộ sà soát các dự án tại đây”, ông Tuấn cho biết.
Ông Nguyễn Thành Tiến, Phó chánh văn phòng UBND TP Đà Nẵng, cho biết: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam tại công văn 6038 (ngày 9/6/2017) của văn phòng Chính phủ về việc rà soát các dự án trước ngày Thủ tướng ký quyết định 2163 về quy hoạch tổng thể  phát triển khu du lịch Quốc gia trên Sơn Trà,  UBND TP đã giao Sở KH&ĐT chủ trì rà soát các dự án tại đây. Sở đã thống kê trên bán đảo Sơn Trà có 18 dự án của 10 chủ đầu tư. Đến nay, việc rà soát 18 dự án đã cơ bản xong. Sở cũng đã làm việc với các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Hiện nay, có 4/10 nhà đầu tư đã có văn bản ý kiến kiến nghị lên UBND TP Đà Nẵng. Văn phòng UBND TP đang tổng hợp và hối thúc các doanh nghiệp khẩn trương có ý kiến để tổng hợp đưa vào trong báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/8.
“Nguyên tắc rà soát lần này đưa ra một số tiêu chí về an ninh quốc phòng và đa dạng sinh học”, ông Tiến cho biết
Về an ninh quốc phòng, ông Tiến cho biết: Đã làm việc với BCH quân sự TP và qua rà soát có một số dự án có ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng nên phải cắt giảm. Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các dự án được phép dưới bình độ 200m trở xuống, tuy nhiên một số vị trí có yếu tố nhạy cảm so với quyết định 3412 của Bộ Quốc phòng nên đã lưu ý đưa vào rà soát.  Dự án nào vi phạm quyết định này phải cắt giảm. Thành phố đề nghị khu vực từ bình độ 100m trở xuống sẽ sử dụng cho các dự án có yếu tố lưu trú. Khu vực từ  bình độ 100m đến 200m sẽ phục vụ cho phát triển du lịch thuần túy, không có yếu tố lưu trú, không xây dựng công trình trên khu vực này. Trong yếu tố lưu trú cũng cắt giảm không cho cư trú, chỉ cho phép lưu trú về du lịch.
Về đa dạng sinh học, ông Tiến cho biết: Sở TN&MT đã căn cứ 9 nghiên cứu từ năm 1995 đến nay về đa dạng sinh học ở Sơn Trà để đưa ra vùng thường gặp sự xuất hiện của động vật quý hiếm và cây dược liệu. Đa phần tập trung ở phía Đông và Đông Bắc. Qua rà soát đã loại trừ các dự án ở khu vực này. Ngoài ra, vấn đề hành lang xanh để kết nối tự nhiên các khu vực, trong quá trình rà soát cũng đã tính đến. Đặc biệt là khu vực  dự án Bãi Bắc. Riêng vấn đề rừng, trong đó có rừng đặc dụng, thành phố sẽ thu hồi các dự án tại đây, tuyệt đối không xâm hại vào rừng đặc dụng.
“Trên tinh thần đó, Sở KH&ĐT đã cắt giảm quy mô các dự án, cũng như buồng phòng. Số lượng quy đổi buồng phòng trước đây rất cao, qua rà soát số lượng đã giảm đáng kể, tương đương số lượng buồng phòng mà du lịch phát triển đưa ra”, ông Tiến cho biết.
Theo ông Nguyên Ngọc Tuấn, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng: Khu Đông và Đông Bắc bán đảo Sơn Trà là khu nhạy cảm về an ninh quốc phòng, những dự án đã được chấp thuận tại đây cần thiết phải xem xét kỹ lưỡng, cơ bản sẽ hủy các dự án. Riêng các dự án đã hoàn thành, ông Tuấn cho biết xin ý kiến cho tồn tại nhưng yêu cầu chủ đầu tư phải làm hành lang xanh để đảm bảo việc di chuyển cho động vật quý hiếm.
Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng Huỳnh Tấn Vinh không có ý kiến về chủ trương cũng như việc rà soát các dự án tại Sơn Trà, tuy nhiên ông Vinh đặt 2 câu hỏi cho lãnh đạo Đà Nẵng: Khi rà soát thành phố có rà soát tính pháp lý của các dự án đã cấp hay không? Trên bán đảo Sơn Trà không chỉ có 18 dự án mà còn có 138 biệt thự đã cấp cho các cá nhân, những biệt thự này có được rà soát và giải quyết như thế nào?
Ông Tuấn cho biết: việc rà soát đi sâu vào quy mô. Trong đó, tính pháp lý của các dự án là một tiêu chí để đánh giá. Khi báo cáo Thủ tướng, Đà Nẵng sẽ trình bày tính pháp lý và quan điểm của thành phố về các dự án. Riêng số biệt thự, cũng sẽ rà soát, nếu không nằm trong các tiêu chí mà thành phố đã thống nhất thì phải cắt giảm, thay đổi, thậm chí phải hủy.
“Đà Nẵng rất nghiêm túc triển khai chỉ đạo của Chính phủ. Đà Nẵng cũng chờ đợi Chính phủ có những ý kiến tiếp theo để xử lý các vấn đề liên quan đến dự án ở Sơn Trà”, ông Tuấn khẳng định.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng: Khu Đông và Đông Bắc bán đảo Sơn Trà là khu nhạy cảm về an ninh quốc phòng, những dự án đã được chấp thuận tại đây cần thiết phải xem xét kỹ lưỡng, cơ bản sẽ hủy các dự án. Riêng các dự án đã hoàn thành, ông Tuấn cho biết xin ý kiến cho tồn tại nhưng yêu cầu chủ đầu tư phải làm hành lang xanh để đảm bảo việc di chuyển cho động vật quý hiếm. (Tiền Phong 29/8) đầu trang(
Báo điện tử Một Thế Giới nhận được bài viết của PGS.TS Võ Văn Minh, Phó hiệu trưởng Trường đại học Sư phạm Đà Nẵng, trưởng nhóm DN-EBR (Đại học Đà Nẵng) phản biện mạnh mẽ về việc chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đang dự định cho phá hàng chục ha rừng dừa nước ở KKT Dung Quất nhằm phục vụ cho dự án nhà máy bột giấy VNT19.
Tháng 5.2017, cộng đồng mạng "dậy sóng" vì thông tin rừng dừa nước Cà Ninh ở xã Bình Phước, huyện Bình Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) sắp bị khai tử. Đây được xem vốn quý của tỉnh Quảng Ngãi và là "lá phổi xanh" của KKT Dung Quất. Thế nhưng, chỉ vì dự án nhà máy bột giấy VNT19 muốn sử dụng 50ha/70ha của rừng dừa này làm hồ chứa nước mà số phận rừng dừa nước hết sức mong manh.
Mặc dù rừng dừa xã Bình Phước có lịch sử trên trăm năm, nhưng người ta quyết định phá đi chỉ vì 1 dự án phát triển còn chưa biết kết quả "phát triển" ra sao, khi mà công nghệ sản xuất của dự án này còn bị hoài nghi. Trong khi đó, có 1 dự án khác chi hàng chục tỉ đồng chỉ để trồng lại rừng dừa tại một vị trí trước giờ chưa có dừa tồn tại!?
Dự án đó chính là dự án trồng rừng ngập mặn ven biển các xã Bình Phước, Bình Đông và Bình Dương, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi do Sở TN-MT làm chủ đầu tư, được phê duyệt tại quyết định số 1369/QĐ-UBND ngày 12.8.2015 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi.
Dự án có tổng diện tích hơn 107ha, gồm diện tích trồng mới dừa nước hơn 65ha, diện tích phục vụ trồng rừng gần 42ha; tổng vốn đầu tư trên 21 tỉ đồng. Hiện nay đã trồng được hơn 38ha chiếm gần 59% so với diện tích đã phê duyệt.
Điều trớ trêu là khu vực trồng dừa này mới chỉ được 1 năm, nay dự án nhà máy thép Dung Quất "quan tâm" chọn làm hồ chứa nước. Tuy nhiên, lần này họ không đề nghị phá dừa làm hồ chứa mà chỉ đề nghị cho dừa nước "sống chung" với hồ nước.
Dư luận lại lo lắng liệu dừa nước "mới sinh" này có tồn tại được trong hồ nước không? Mặt khác, dư luận cũng đặt vấn đề rằng liệu cơ quan tham mưu quy hoạch phát triển các dự án công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã làm hết trách nhiệm chưa? Liệu chính quyền tỉnh đã tính kỹ đến việc lãng phí đầu tư trên địa bàn tỉnh hay chưa? Nhiều câu hỏi lớn sẽ phải chờ đợi cơ quan chức năng!
Cũng trong tháng 5.2017, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Đặng Văn Minh chủ trì buổi họp tham vấn báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án nhà máy thép Hòa Phát Dung Quất trước khi trình Bộ TN-MT thẩm định.
Ông Phó chủ tịch kết luận: đề nghị chủ đầu tư phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân Quảng Ngãi nếu để xảy ra ảnh hưởng môi trường và khẳng định "nếu nhà máy xả thải ra ảnh hưởng đến môi trường thì phải buộc dừng hoạt động".
Về phía chủ đầu tư, lãnh đạo Tập đoàn Hòa Phát khẳng định dự án thép Hòa Phát Dung Quất được sử dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, đảm bảo thân thiện môi trường và tiết kiệm năng lượng. Với ưu thế của chu trình sản xuất khép kín, đầu ra của công đoạn trước là đầu vào của công đoạn sản xuất sau, các phụ phẩm tạo ra trong các công đoạn sản xuất đều được thu hồi và sử dụng làm nguyên liệu sản xuất. Nước làm mát thiết bị được xử lý tuần hoàn sử dụng lại, nước thải sinh hoạt được xử lý đảm bảo quy chuẩn môi trường và sử dụng lại, không thải ra môi trường.
Tại buổi làm việc, lãnh đạo Công ty cổ phần Hòa Phát Dung Quất cũng đã cam kết đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các biện pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường liên quan đến dự án; thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong quá trình triển khai và thực hiện dự án. Tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật môi trường quốc gia mà dự án áp dụng; chịu trách nhiệm đền bù thiệt hại khi để xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường.
Ở đây có mấy ý cần khẳng định lại cho rõ rằng: Nếu chủ đầu tư cam kết thì phải cam kết trách nhiệm cá nhân và nếu để xảy ra sự cố thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân chủ đầu tư theo Luật Bảo vệ môi trường và Luật Hình sự Việt Nam. Chủ đầu tư có dám cam kết như vậy không?
Còn lãnh đạo tỉnh cũng không thể kết luận "nếu vi phạm… thì cho dừng…". Thiết nghĩ nếu vi phạm thì phải xử lý theo đúng pháp luật hiện hành.
Mới chỉ ở giai đoạn tham vấn ĐTM nên lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi cần chất vấn chủ đầu tư ở mấy điểm sau: Thứ nhất, chủ đầu tư đã mời đơn vị tư vấn đủ năng lực hay chưa? Báo cáo ĐTM đã tham vấn đầy đủ ý kiến của các bên liên quan đúng quy định hay chưa? Quá trình tham vấn ý kiến có đảm bảo khách quan hay chưa?
Thứ hai, nếu chủ đầu tư khẳng định “chu trình sản xuất khép kíp, đầu ra của công đoạn trước là đầu vào của công đoạn sản xuất sau, các phụ phẩm tạo ra trong các công đoạn sản xuất đều được thu hồi và sử dụng làm nguyên liệu sản xuất. Nước làm mát thiết bị được xử lý tuần hoàn sử dụng lại, nước thải sinh hoạt được xử lý đảm bảo quy chuẩn môi trường và sử dụng lại, không thải ra môi trường” thì dự án này có nhất thiết phải sử dụng nguồn nước đầu vào nhiều đến mức phải huy động cả nguồn đập ngăn mặn sông Trà Bồng, hồ Bình Đông và cả hồ Cà Ninh với việc tích nước khu vực dừa mới trồng hay không?
Liệu dự án chưa triển khai, mà các vấn đề liên quan đến môi trường chưa dự báo, đánh giá được thì khi vận hành có đảm bảo an toàn tuyệt đối hay không?
Thứ ba, nếu chủ đầu tư không đủ năng lực đánh giá tác động môi trường và phải nhờ cậy đơn vị tư vấn hỗ trợ thì đơn vị tư vấn đưa ra giải pháp kỹ thuật tích nước hồ chứa (nơi đang triển khai trồng rừng với hàng chục tỉ đồng đầu tư) và để xảy ra dừa chết hoặc phát triển không như mong đợi, thì đơn vị tư vấn phải chịu hoàn toàn trách nhiệm bồi thường và khắc phục thiệt hại theo đúng quy định của pháp luật.
Cuối cùng, thiết nghĩ nếu chính quyền quyết tâm bảo vệ môi trường thì đề nghị tất cả các cam kết của chủ đầu tư phải được công khai cho cộng đồng và chính quyền biết và giám sát ngay từ bây giờ. Chỉ có như vậy mới đảm bảo niềm tin đối với nhân dân trước các sự kiện "điểm nóng" môi trường trong toàn quốc. (Một Thế Giới 28/8) đầu trang(./.