|
Ngày 28 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Rừng Đắk Nông đang bị tàn phá, đất lâm nghiệp bị tranh chấp, lấn chiếm do quản lý lỏng lẻo của các chủ rừng, và có cả sự tiếp tay của các cán bộ làm công tác lâm nghiệp.
Thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Đắk Nông liên tục phát hiện nhiều trường hợp vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng khiến dư luận xã hội hết sức quan ngại, mà mới đây nhất là vụ chặt phá rừng nguyên sinh với nhiều cây gỗ quý, xảy ra chỉ cách UBND xã Trường Xuân huyện Đắk Glong khoảng 7km. Đắk Nông cũng là địa bàn mà tình trạng tranh chấp đất, lấn chiếm đất lâm nghiệp diễn ra phức tạp.
Bên cạnh nguyên nhân liên quan đến công tác kiểm soát dân di cư tự do, vấn đề nổi cộm tại Đắk Nông là tình trạng mất rừng do các công ty lâm nghiệp quản lý yếu kém, cán bộ tiếp tay cho hành vi phá rừng, và nhiều doanh nghiệp lợi dụng, núp bóng các dự án để phá rừng; mua bán chuyển nhượng đất rừng trái phép. Từ đầu năm đến nay, tỉnh Đắk Nông đã khởi tố 16 vụ với 46 bị can liên quan đến phá rừng, trong đó có nhiều giám đốc của các công ty lâm nghiệp. (VTV 26/8) đầu trang(
Thông tin tại hội nghị sơ kết công tác phối hợp việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng vùng giáp ranh các huyện Đông Giang - Đại Lộc - Hòa Vang chiều 25-8, do UBND huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng) phối hợp với UBND các huyện Đại Lộc, Đông Giang (tỉnh Quảng Nam) tổ chức cho thấy, năm 2016, Liên Hạt kiểm lâm Đông Giang - Đại Lộc - Hòa Vang đã làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) trên địa bàn. Qua đó, ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, góp phần bảo đảm an ninh trật tự trong quản lý, bảo vệ rừng ở địa phương.
Hạt Kiểm lâm 3 huyện đã phối hợp triển khai nhiều đợt tuyên truyền các văn bản của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ rừng và PCCCR cho nhân dân tại các xã, các thôn vùng giáp ranh; vận động nhân dân không phá rừng làm rẫy, không lấn chiếm rừng, không khai thác hoặc tiếp tay cho lâm tặc khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép; ký cam kết không kinh doanh, buôn bán động vật hoang dã trái phép, ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Đối với công tác bảo vệ rừng, các hạt kiểm lâm đã triển khai nhiều đợt truy quét vào các khu vực rừng giáp ranh; phối hợp kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn tình trạng vận chuyển lâm sản trái phép trên các tuyến đường bộ, đường thủy, các tuyến đường giao thông tiếp giáp 3 huyện. Kiểm lâm hai huyện Đông Giang và Hòa Vang đã phối hợp tổ chức 14 đợt truy quét, phá 55 bẫy dây, 5 lán trại; phát hiện và bắt giữ 1,34m3 gỗ các loại khai thác trái phép. Hạt Kiểm lâm Đông Giang, Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Kôn, Hạt Kiểm lâm Đại Lộc lập biên bản và thu giữ 0,75m3 gỗ các loại…
Tại hội nghị, nhiều ý kiến cho rằng, tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn và các khu vực giáp ranh vẫn chưa được ngăn chặn triệt để. Các đại biểu đề nghị lãnh đạo UBND 3 huyện xác định rõ ranh giới hành chính, đóng mốc giáp ranh các địa phương để tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước của từng đơn vị; tăng cường tuyên truyền bảo vệ rừng trong cán bộ và nhân dân; duy trì đều đặn các đợt phối hợp tuần tra bảo vệ rừng tại các vùng giáp ranh…
Theo đó, Hạt Kiểm lâm 3 huyện sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân đối với công tác bảo vệ rừng; phát huy vai trò của kiểm lâm địa bàn, vùng giáp ranh, vùng trọng điểm; tăng cường phối hợp tuần tra, truy quét các vùng trọng điểm; kiên quyết xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng...
Dịp này, Hạt Kiểm lâm Đông Giang - Tây Giang, Bắc Quảng Nam, rừng phòng hộ Sông Kôn, Hòa Vang và Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đã ký quy chế phối hợp bảo vệ và phát triển rừng vùng giáp ranh. (Báo Đà Nẵng 26/8) đầu trang(
Thông tin từ Sở NN&PTNT Hà Nội cho biết, trong tháng 8/2017, toàn TP để xảy ra 6 vụ vi phạm buôn bán, vận chuyển lâm sản trái phép.
Qua các vụ vi phạm, cơ quan chức năng đã thu giữ 1,3m3 gỗ quý hiếm quy tròn, phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được gần 158 triệu đồng nộp ngân sách. Như vậy, tính từ đầu năm 2017 đến nay, toàn TP đã phát hiện, xử lý 75 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. Tịch thu 32 cá thể động vật hoang dã quý hiếm. Thu giữ tổng gỗ quy tròn 33,91m3 (trong đó có 25,710 m3 gỗ quý hiếm), phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được trên 1,72 tỷ đồng nộp ngân sách.
Bên cạnh bảo vệ và phát triển rừng, công tác chăm sóc, bảo tồn số động vật hoang dã đang cứu hộ tại Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã cũng được nghiêm túc thực hiện. Đặc biệt là một số loài quý hiếm như: Hổ, Gấu, Mèo rừng, Vượn, Khỉ,... Duy trì nghiêm túc công tác phòng dịch, theo dõi tình hình thời tiết, không để xảy ra dịch bệnh, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho đàn động vật.
Tính riêng tháng 8/2017, Sở NN&PTNT Hà Nội đã tổ chức tiếp nhận 6 vụ với 83 cá thể và 4kg Rắn hổ mang, trong đó số đông vật hoang dã còn sống là: 41 cá thể và 4kg Rắn hổ mang; số động vật hoang dã chết là 42 cá thể.
Cũng trong tháng qua, Sở NN&PTNT Hà Nội cũng đã tổ chức chuyển giao 4 đợt cho Vườn Quốc gia Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình) 81 cá thể; trong đó có 34 cá thể Tê tê java, 36 cá thể Rùa núi vàng, 5 cá thể Rùa hộp trán vàng miền Bắc, 3 cá thể Culy nhỏ và 3 cá thể Culy lớn. (Kinh Tế & Đô Thị 25/8) đầu trang(
25.8, đại diện gia đình bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh, ngụ xã Tam Phước, TP. Biên Hòa, Đồng Nai cho biết: Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46), Công an tỉnh Đồng Nai đã có giấy mời bà Oanh tới trụ sở để làm việc liên quan tới đơn tố cáo của bà Oanh, tố cáo công ty Tín Nghĩa.
Theo đơn tố cáo, bà Oanh cho biết, bà là chủ sử dụng đất với tổng diện tích hơn 16ha để trồng cây tràm tại xã An Phước, huyện Long Thành và diện tích này nằm trong KCN An Phước do TCty Tín Nghĩa là chủ đầu tư.
Tháng 5.2017, ông Bùi Văn Thảo (chồng bà Oanh) được người dân báo tin, đã xuống hiện trường thì phát hiện cây tràm bị chặt hạ ngổn ngang, toàn bộ 10ha cây tràm loại 5 năm tuổi bị cưa sát gốc, số lượng khoảng 40.000 cây – theo bà Oanh. Đại diện Công an và UBND xã An Phước, huyện Long Thành đã ghi nhận hiện trường vụ việc.
Theo bà Oanh, sau đó, UBND xã An Phước đã tổ chức cuộc họp nhằm xác minh vụ việc, và ông Vũ Văn Luyến, đại diện Cty Tín Nghĩa tại buổi làm việc đã xác nhận việc chặt cây tràm do Cty Tín Nghĩa thực hiện. Ông Vũ Văn Luyến xác nhận có việc Cty cưa, ủi cây trên khu đất để kịp tiến độ giải phóng mặt bằng.
Tại buổi gặp cơ quan chức năng, gia đình bà Oanh trình bày, họ được Nhà nước giao đất trồng rừng từ năm 1986. Đến năm 2003, UBND tỉnh Đồng Nai có quyết định thành lập KCN An Phước nhưng giữa chủ đầu tư và người dân vẫn chưa thỏa thuận được mức đền bù. UBND tỉnh Đồng Nai cũng chưa có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng, nhưng Cty Tín Nghĩa lại tổ chức chặt phá, san ủi.
Cho rằng, gia đình bị thiệt hại nặng nề, bà Oanh đã làm đơn tố cáo, đề nghị khởi tố vụ án về hành vi “Hủy hoại tài sản”.
Ở một diễn biến mới nhất, theo phản ánh của bà Oanh, ngày 23.8.2017, gia đình bà tiếp tục phát hiện các hoạt động của xe ủi, xe cuốc, hoạt động san ủi trên đất của gia đình bà, dẫn tới việc những cây tràm tái sinh cũng bị san ủi sạch. “Theo kế hoạch, những cây tràm con tái sinh, chúng tôi dự định tận dụng để chăm sóc cho bớt phần đầu tư (dự kiến khoảng 25 triệu đồng/ha) cũng bị ủi sạch và lấp hết” – bà Oanh bức xúc. Vụ việc diễn ra ngày 23.8 này cũng được UBND xã và Công an xã An Phước ghi nhận hiện trạng.
Theo đó, lúc 14h45 ngày 23.8, UBND xã An Phước tiếp nhận đơn trình báo của bà Oanh về việc TCty Tín Nghĩa cho phương tiện cơ giới san ủi đất trên phần diện tích đất do gia đình bà Oanh sử dụng. UBND xã An Phước đã tiến hành xác minh và ghi nhận sự việc như sau: Tại thời điểm xác minh vào lúc 15h, tại vị trí đất ông Thảo chỉ dẫn đã được san ủi, móc gốc. Thời điểm đó, không có phương tiện cơ giới và công nhân hoạt động.
“Tổng diện tích san ủi khoảng 10ha do TCty Tín Nghĩa san ủi” – biên bản ghi rõ.
Tại biên bản cũng thể hiện ý kiến của đại diện TCty Tín Nghĩa. Theo đó, TCty Tín Nghĩa thực hiện việc san ủi, móc gốc tràm trên thửa đất đã được cấp sổ đỏ để tiến hành dọn dẹp mặt bằng triển khai dự án.
Trong khi đó, ông Bùi Văn Thảo (chồng bà Oanh) cũng có ý kiến rằng: Do phần diện tích đất trên bà Oanh đang khiếu nại và chưa đền bù thỏa đáng nên đề nghị TCty Tín Nghĩa ngưng việc thi công san ủi triển khai dự án đến khi cơ quan chức năng giải quyết xong.
UBND xã An Phước đã ghi nhận hiện trạng, các ý kiến và báo cáo UBND huyện Long Thành xem xét, giải quyết. Bà Oanh cho biết, cả 3 đợt bị xâm phạm tại khu rừng tràm của gia đình bà, thiệt hại đã lên tới 3 tỷ đồng. (Lao Động 25/8) đầu trang(
Chiều ngày 25/8, Hạt kiểm lâm Phan Thiết phối hợp với Đội cảnh sát môi trường Công an TP. Phan Thiết tiến hành thả 3 cá thể Cầy vòi hương (hay còn gọi là Chồn hương) vào Tiểu khu 300 thuộc Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Tà-Kóu (huyện Hàm Thuận Nam).
Trước đó, khi nắm được thông tin ông Võ Sĩ Tài (khu phố 2, phường Hàm Tiến) có nuôi 3 cá thể Cầy vòi hương – loài động vật rừng, nhưng không có giấy phép nên Hạt kiểm lâm Phan Thiết đã vận động và được ông Tài giao nộp để thả về môi trường tự nhiên. Qua kiểm tra, hạt kiểm lâm xác định 3 cá thể Cầy vòi hương được giao nộp có tổng trọng lượng 3kg, tương đương mỗi con nặng 1kg. Đây là loài động vật rừng thông thường, tuy nhiên để được nuôi thì buộc phải có giấy phép, xác nhận nguồn gốc rõ ràng. Sau khi xác nhận tình trạng sức khỏe 3 cá thể Cầy vòi hương đều ổn định, Hạt kiểm lâm Phan Thiết đã thả chúng vào khu bảo tồn thiên nhiên Tà-Kóu. (Báo Bình Thuận 25/8) đầu trang(
Ở độ cao 300m thuộc khu vực núi Chứa Chan (xã Suối Cát, huyện Xuân Lộc) hiện có 20 cá thể voọc chà vá chân đen đang sinh sống. Cách đó không xa còn có đàn voọc khác khoảng 20 con.
Đây là lần đầu tiên, Đồng Nai phát hiện số lượng lớn voọc chà vá chân đen, một trong những loài linh trưởng thuộc nhóm nguy cấp, cần được bảo vệ.
Hạt phó Hạt Kiểm lâm liên huyện Xuân Lộc và TX.Long Khánh Tôn Hà Quốc Dũng cho biết từ tin báo của người dân, tháng 6-2017 đơn vị tiến hành khảo sát tại núi Chứa Chan. Qua nhiều tháng quan sát, đơn vị ghi nhận có khoảng 40 cá thể voọc chà vá chân đen sinh sống, chia làm 2 đàn. Đặc biệt, trong đàn có những cá thể đang mang thai và một số con còn nhỏ.
Đàn voọc thường xuyên xuất hiện vào buổi sáng sớm đến lúc trời nắng mạnh để tìm thức ăn. Loài linh trưởng này có thói quen khi đi kiếm ăn ít gây ra xáo động xung quanh, không tranh giành như các loài vượn, khỉ khác nên khó phát hiện. Chỉ cần tiếng động lạ là cả đàn nhanh chóng lẩn trốn dưới các vạt cây rừng. Vậy nên việc tiếp cận đàn voọc không hề đơn giản, kể cả với những kiểm lâm viên làm công tác giữ gìn địa bàn.
Vào mùa này, núi Chứa Chan thường có mây mù bao phủ, cộng với mưa dầm dề liên tục trong nhiều ngày nên tầm nhìn khá hạn chế. Thời tiết ẩm ương nên khi có nắng ấm, đàn voọc tranh thủ kéo nhau ra phơi nắng trên những tảng đá to đồ sộ nằm ở lưng chừng núi.
Ở độ cao này, nếu đứng tại khu vực chùa Thiên Sơn (nằm cạnh núi Chứa Chan), qua ống nhòm chuyên dụng có thể thấy đàn voọc đang trải mình trên các phiến đá. Phơi nắng xong, cả đàn kéo nhau di chuyển sang vạt cây bảy thừa, cây da… ở bên dốc suối Nước Lạnh kiếm thức ăn.
Người dân địa phương cho hay từ trước đến nay núi Chứa Chan khá khan hiếm nước, không chỉ trong mùa khô mà cả mùa mưa. Do đó, cây cối ở đây vốn cằn cỗi, chỉ khu vực suối Nước Lạnh mới có thảm thực vật xanh tốt quanh năm.
Trong khi cả đàn đang bẻ những đọt non ăn ngon lành thì con đực đầu đàn đứng trên ngọn cây cao nhất để canh chừng. Mọi động tĩnh xung quanh đều được nó theo dõi tường tận, không rời mắt khỏi hướng mà chúng tôi đang đứng.
“Nhiều lần theo dấu đàn voọc, tôi thấy loài này di chuyển tìm thức ăn liên tục. Buổi sáng, chúng xuất hiện tầm 9-10 giờ, chiều 13-15 giờ, khi trời bắt đầu chuyển tối thì lũ lượt kéo nhau về. Vì vậy, việc tận mắt chứng kiến chúng sinh hoạt không dễ và phải đứng từ xa. Lần gần nhất, tôi tiếp cận đàn ở vị trí cách 50m” - ông Dũng cho hay.
Với những người quen địa hình và tìm hiểu về loài voọc như ông Dũng, chỉ khi nào chúng nhảy chuyển cành tìm thức ăn hoặc leo lên những tảng đá phơi nắng thì mới nhìn rõ.
Theo ông Dũng, đặc tính của loài này không ăn côn trùng, chỉ ăn lá cây và các loại hạt, quả rừng. Điều lạ nữa, voọc chỉ ăn phần ngon nhất của đọt cây vừa bẻ xuống nên quanh khu vực chúng kiếm thức ăn thường để lại phần thừa, dấu tích. Một số cây mà voọc chọn làm nơi nghỉ ngơi, cành cây trơn nhẵn, vỏ bị xước. Do đó, khi khảo sát địa bàn ông đã nắm được vị trí nào mà voọc thường xuyên lui tới.
Trụ trì chùa Thiên Sơn, thầy Thích Thiện Từ chia sẻ lâu nay sau lưng chùa là dãy núi đá rộng, vốn là nơi đàn voọc chọn làm nơi trú ngụ. Xung quanh có nhiều rẫy điều của bà con, nhưng chưa lần nào loài linh trưởng này đến phá hay hái điều ăn.
Trước đó vào năm 2007, khi thầy Thích Thiện Từ lên đây lập chùa đã thấy đàn voọc với khoảng 10 con. Sau đó, thầy đem chuyện này kể lại nhưng không ai tin, bởi nhiều người cho rằng trên núi cao khỉ thì có, chứ voọc không thể sinh sống lâu dài được. Đến nay, chúng sinh sản và tăng số lượng lên khoảng hơn 20 cá thể, trùng với thống kê của lực lượng chức năng.
Việc phát hiện đàn voọc chà vá chân đen sinh sống tại núi Chứa Chan khiến người dân xung quanh to mò. Vậy nên những ngày qua nhiều người đã tìm đến đây chờ cơ hội để tận mắt chứng kiến loài vật quý hiếm, trong đó có không ít đối tượng lạ, kẻ xấu rình rập nhằm săn bắn trộm.
“Thỉnh thoảng có người lạ xâm nhập vào khu vực này, các sư thầy trong chùa đều biết. Mỗi lần có động tĩnh khác thường là đàn chó tôi nuôi sủa inh ỏi. Vì vậy, tôi luôn thông báo kịp thời cho các cán bộ kiểm lâm theo dõi để cảnh giác” - thầy Thích Thiện Từ nói.
Ông Dũng cho biết thêm, phạm vi hoạt động của đàn voọc khoảng 24 hécta, là khu vực có đá lộ thiên, dây leo, địa hình dốc cao, thảm thực vật rừng tự nhiên, phía dưới đá có nguồn nước chảy ngầm. Đến nay, có đủ cơ sở để khẳng định trên núi Chứa Chan có 2 quần thể voọc chà vá chân đen sinh sống.
Vào mùa này trời đang nắng bỗng mây đen ùn ùn kéo đến rồi mưa như trút nước khiến việc bảo vệ đàn voọc rất vất vả. Núi Chứa Chan cao và rộng lớn, lại nằm giáp ranh với 4 xã: Suối Cát, Xuân Thọ, Xuân Trường, Xuân Hiệp và thị trấn Gia Ray nên có nhiều đường mòn để lên núi.
Chưa kể quanh đây hiện có 32 hộ dân sinh sống và làm rẫy, từ đó rất có thể kẻ xấu sẽ trà trộn vào dân để lên núi săn bắt, ảnh hưởng đến khu vực sinh sống của voọc. Thời gian qua, Hạt Kiểm lâm liên huyện đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến người dân, khuyến cáo bà con khi thấy voọc thì nên tỏ thái độ thân thiện, không được săn bắt trái phép.
“Chúng tôi đã vận động được 9 hộ dân có rẫy gần núi tham gia vào lực lượng bảo vệ đàn voọc. Khi có thông tin gì họ sẽ tích cực phối hợp với anh em kiểm lâm làm nhiệm vụ. Về lâu dài, để người dân là “tai mắt” của mình, cần hỗ trợ thêm kinh phí cho bà con” - ông Dũng lên tiếng.
Để bảo vệ sự toàn vẹn của voọc chà vá, việc tạo môi trường thuận lợi cho voọc cư trú, kiếm ăn việc hạn chế sự hiện diện của con người trong vùng chúng thường xuyên sinh sống, di chuyển là hết sức cần thiết. Hiện tại, Hạt Kiểm lâm liên huyện Xuân Lộc và TX.Long Khánh đã phối hợp với lực lượng công an, quân đội, địa phương và Ban Quản lý di tích núi Chứa Chan nhằm tăng cường công tác tuần tra, chốt trực các khu vực quan trọng để bảo vệ loài động vật quý hiếm này. (Báo Đồng Nai 26/8) đầu trang(
Nhằm nâng cao năng lực bảo vệ rừng cho cán bộ kiểm lâm và tổ đội bảo vệ rừng (TĐBVR) ở thôn, bản.
Vừa qua Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (Quan Hóa) phối hợp với Dự án rừng và đồng bằng Việt Nam, Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa triển khai lớp tập huấn “Nâng cao nghiệp vụ bảo vệ rừng cho cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng và lực lượng TĐBVR các thôn, bản vùng đệm Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu”.
Tham gia lớp tập huấn có 45 học viên là những kiểm lâm viên đang làm việc tại các trạm kiểm lâm, cán bộ pháp chế hạt kiểm lâm cùng TĐBVR của 36 thôn, bản vùng đệm tiếp giáp trực tiếp với rừng đặc dụng. Thông qua lớp tập huấn nhằm giúp các học viên nắm bắt được nội dung cơ bản của văn bản pháp luật về bảo vệ rừng, cách xử lý các tình huống trong quá trình tuần tra bảo vệ rừng; trình tự các bước lập hồ sơ xử lý các vụ vi phạm lâm luật tại cơ sở. Các học viên cũng được trao đổi kinh nghiệm về cách tiếp cận địa bàn cơ sở, các hành vi bị cấm tác động, xâm hại đến tài nguyên rừng đặc dụng và cách xử lý các tình huống trong quá trình tuần tra, bảo vệ rừng... (Báo Thanh Hóa 26/8) đầu trang(
Do tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, diễn biến thời tiết ngày càng phức tạp, nắng nóng, khô hanh kéo dài là những nguy cơ tiềm ẩn cháy rừng. Trước những thách thức đó, phương châm “4 tại chỗ” được lực lượng kiểm lâm xác định là giải pháp hàng đầu trong PCCCR. Phóng viên Báo Phú Thọ đã có cuộc trò chuyện với ông Đỗ Ngọc Đoàn - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp và PTNT về vấn đề này.
Những năm gần đây, hiệu quả kinh tế lâm nghiệp của tỉnh đã từng bước được khẳng định, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ rừng và PCCCR được triển khai tích cực với tinh thần “trực chiến 24/24h”. Nhưng do thời tiết biến đổi phức tạp, bất lợi đối với công tác bảo vệ rừng, cộng với khó khăn do địa bàn tỉnh ta giáp ranh với một số tỉnh miền núi phía Bắc cũng có diện tích rừng lớn nên nguy cơ cháy rừng cao, để xảy ra cháy rừng sẽ gây tổn thất rất lớn cả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái. Với phương châm “phòng cháy rừng hơn chữa cháy rừng”, những năm gần đây số vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại giảm nhiều so với trước.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân tác động nên trên địa bàn tỉnh vẫn còn xảy ra một số vụ cháy rừng nhỏ lẻ. Trong thời gian 2 năm trở lại đây xảy ra 5 vụ cháy rừng tại các địa phương gây thiệt hại 10ha rừng, trị giá trên 600 triệu đồng. Không chỉ thiệt hại về kinh tế, môi trường, sinh thái cũng bị ảnh hưởng nặng nề và phải mất một thời gian dài mới khắc phục được.
Trước diễn biến ngày càng khắc nghiệt của khí hậu thời tiết, nguy cơ cháy rừng thường xuyên báo động ở mức cao. Để hạn chế tới mức thấp nhất số vụ và thiệt hại do cháy rừng gây ra, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm trong toàn tỉnh nêu cao tinh thần phòng cháy, hạn chế tối đa việc xảy ra cháy rừng.
Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm đã đưa ra các giải pháp quan trọng, trong đó tập trung tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR mà trọng tâm là tuyên truyền đối với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp, khu dân cư, tổ chức, đoàn thể và những hộ dân sống xung quanh khu vực rừng. Bên cạnh đó, công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng, nhất là những thời điểm có nắng nóng, khô hạn kéo dài được coi là giải pháp phòng cháy cao nhất, giúp theo dõi, cảnh báo để mọi người biết, nêu cao ý thức bảo vệ rừng, có phương án ứng trực và sẵn sàng chữa cháy nếu xảy ra cháy rừng. Tăng cường tuần tra, kiểm soát địa bàn, đặc biệt những địa bàn trọng điểm, các khu rừng tự nhiên, địa bàn giáp ranh nơi có nguy cơ cháy rừng cao.
Cùng với đó, đẩy mạnh việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của lực lượng kiểm lâm địa bàn, tổ chức tập huấn nghiệp vụ bảo vệ rừng, PCCCR cho các lực lượng bảo vệ rừng, PCCCR tại cơ sở giúp họ nắm được những biện pháp cơ bản trong PCCCR. Đây chính là lực lượng quan trọng, nòng cốt tại cơ sở bởi thực tế “nước xa không cứu được lửa gần”, khi có cháy rừng thì lực lượng bảo vệ, PCCCR tại cơ sở sẽ là lực lượng nhanh nhạy, kịp thời nhất nhằm khống chế việc lan rộng của đám cháy trước khi thông báo cho lực lượng kiểm lâm huyện có mặt chữa cháy.
Một nội dung quan trọng không thể thiếu đó là chuẩn bị đầy đủ lực lượng, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác nhằm thực hiện tốt phương án “4 tại chỗ” trong PCCCR - đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu khi có cháy rừng xảy ra.
Cháy rừng chủ yếu xảy ra tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa với địa hình phức tạp, việc thực binh tác nghiệp khó khăn, tốc độ cháy nhanh nên việc ứng cứu bằng các phương tiện hiện đại hoặc huy động lực lượng từ bên ngoài là rất hạn chế. Do vậy khi có cháy rừng xảy ra cần nhanh chóng triển khai tốt phương án “4 tại chỗ” gồm: Lực lượng tại chỗ; phương tiện tại chỗ; hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ.
Cụ thể, khi có cháy rừng xảy ra tại địa bàn thôn, xã cần huy động ngay lực lượng địa phương tại chỗ và kịp thời sử dụng các dụng cụ, phương tiện tại địa phương hoặc của mỗi gia đình, cá nhân tự có; bố trí đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho lực lượng chữa cháy. Việc chỉ huy chữa cháy rừng cũng hết sức quan trọng, phải được xử lý ngay tại chỗ do cấp ủy, chính quyền địa phương nơi xảy ra cháy trực tiếp chỉ huy kịp thời xử lý khi có cháy rừng xảy ra. Thực hiện được tốt các nội dung cụ thể trên thì phương châm “4 tại chỗ” trong PCCCR mới thực sự phát huy được hiệu quả nhằm hạn chế thấp nhất mức thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Để thực hiện tốt công tác thực binh theo phương châm “4 tại chỗ” trong tình huống cháy rừng, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung đó là: Người chỉ huy cần phân tích đánh giá nhanh địa hình, quy mô điều kiện cụ thể của đám cháy về loại rừng bị cháy, địa hình, độ cao, hướng gió, tốc độ cháy… Trên cơ sở lực lượng, phương tiện tại chỗ hiện có để đưa ra phương án, giải pháp chỉ huy chữa cháy hiệu quả nhất.
Trong chữa cháy rừng với địa hình cao, dốc, khó tiếp cận đám cháy cần chú trọng ưu tiên cho việc phát tạo đường băng cản lửa và tiến hành xử lý đốt trước nhằm đón đầu và khoanh vùng, cô lập đám cháy. Các đường băng nếu được tận dụng qua các hệ thống đường mòn hoặc khe suối tự nhiên thì hiệu quả sẽ cao hơn. Lực lượng tham gia chữa cháy phải được phân bố đều theo các tổ, đội và nên có người địa phương thông thuộc địa hình, người có kiến thức nhất định về kỹ thuật, nghiệp vụ PCCCR.
Một yếu tố quan trọng nữa đó là dụng cụ, phương tiện PCCCR phải được chuẩn bị sẵn sàng và huy động kịp thời cùng lực lượng tại chỗ khi có cháy rừng xảy ra. Công tác tiếp tế hậu cần cho lực lượng thực binh chữa cháy rừng cũng cần được kịp thời xử lý. Đây cũng là nhiệm vụ quan trọng trong suốt quá trình thực binh chữa cháy. Chỉ khi nào thực hiện đồng bộ tốt các nội dung trên thì phương án “4 tại chỗ” trong công tác PCCCR mới đạt hiệu quả. (Báo Phú Thọ 26/8) đầu trang(
Hàng chục héc ta rừng ngập mặn bị đào xới khiến người dân phản ứng mạnh. Chính quyền địa phương buông lỏng quản lý, đến khi vào cuộc thì 34ha rừng xung yếu ở xã Tân Ninh (Quảng Ninh, Quảng Bình) tan hoang.
Theo phản ánh của người dân, rừng bần ngập mặn ở 2 thôn Quảng Xá, Hòa Bình (xã Tân Ninh) từ xưa đến nay bảo vệ làng rất tốt khỏi các trận lũ lớn. Nếu không có khu rừng này nước trên sông Long Đại dội về Kiến Giang sẽ xói lỡ đê bao, cuốn trôi nhà cửa, tín mạng người dân. Tuy nhiên, từ hơn một tháng qua, xuất hiện tin đồn đào hồ nuôi thủy sản sẽ được Formosa đền bù, từ đó 12 hộ của hai thôn này bất chấp mọi phản đối của dân làng đã thuê máy xúc đào xới rừng ngập mặn xung yếu khiến nhiều người dân bức xúc.
Ông Nguyễn Văn Dược cho biết: “Nhà tôi gần đê quốc gia của sông Kiến Giang, bần trước mặt nhà có từ lâu, tui 80 tuổi vẫn còn trồng bần chắn lũ, mà họ phá không thương tiếc, ra dặn đừng phá họ nói chết thì trồng lại, lo chi”. Trong khi đó Bà Nguyễn Thị Dọc bức xúc: “Công lao hằng trăm năm mới có rừng bần ngập mặn xanh tốt bảo vệ làng, mà họ bất chấp tất cả. Mất rừng bần là làng trôi khi mưa lũ thôi”. Bà Nguyễn Thị Mãn đánh giá: “Mấy lần phản ánh lên lãnh đạo xã thì được trả lời họ lỡ làm rồi, cấm sao được. Trước đây chỉ chặt một cành về làm củi là đã bị phạt. Nay tan hoang thế mà không có ai chịu trách nhiệm. Phá bần kiểu này không ai chấp nhận cả”.
Có mặt tại rừng ngập mặn xã Tận Ninh vùng giáp ranh 2 thôn Hòa Bình, Quảng Xá bên sông Kiến Giang chúng tôi chứng kiến hàng loạt hồ thủy sản đào xới bát nháo. Nhiều hộ dân đất cấp chỉ 1000m² đã đào hơn 5000m² thậm chí có hộ chỉ một hồ nhỏ nhưng lại thuê máy đào đến mấy héc ta. Nhiều gốc bần đang tươi tốt bị bức tử chỏng chơ, nhiều cây bần bị cào hết rễ trên mặt nước đang héo rũ, chết dần.
Theo ông Trần Đại Thọ, Chủ tịch UBND xã Tân Ninh, qua kiểm kê chỉ có 2 cây bần bị chặt, tuy nhiên phản ánh của người dân cũng như thực địa tại vùng rừng ngập mặn bị tan hoang thì con số trên hoàn toàn không chính xác. Hàng loạt cây bần tươi bị húc đổ, trong khi đó lượng bần cổ thụ chết rất nhiều. Ông Thọ còn cho biết: “Việc đào hồ trong rừng ngập mặn là 12 hộ với hơn 34ha. Vào năm 1995 họ được huyện cấp giấy nuôi trồng thủy sản với thời hạn 20 năm, đã hết hạn từ năm 2014 và 2015. Theo nguyên tắc, các hộ dân hết hạn phải viết đơn xin gia hạn nhưng họ đã tự ý đào ao hồ trong bần là sai hoàn toàn”.
Ông Thọ cho biết hiện xã Tân Ninh đã đình chỉ các hoạt động đào hồ rừng ngập mặn và yêu cầu 12 hộ này muốn nuôi trồng thủy sản thì phải viết đơn gia hạn, ngoài ra phải trồng lại bần ở trong hồ nhằm trả lại cảnh quan. Ông Dương Quang Huỳnh, một trong 12 hộ cho biết: “Nhà nước dặn thế nào thì phải thực hiện như vậy. Tui có giấy từ năm 1995, đến nay hết hạn rồi, vì làm hồ thua lỗ tui đi làm ăn xa, mới trở lại nuôi cá 3 năm nay, còn nhiều hộ họ nhận đất xong bỏ hoang bao nhiêu năm, chừ nghe đồn đền bù ảnh hưởng Formosa mới ra cơ sự này”.
Với thông tin có hộ cấp 1000m² đã đào lên 5000m², ông Thọ thừa nhận có việc đó và hiện đang buộc trả lại hiện trạng cũng như xử lý nghiêm. Ông Thọ nói: “Về trách nhiệm tôi nhận ra mình đã sai khi nắm bắt tình hình muộn, xử lý chưa rốt ráo khiến người dân đào rừng ngập mặn một tháng làm dư luận nhân dân bức xúc”.
Ông Nguyễn Ngọc Thụ, Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh cho hay: “Qua vụ việc nói trên, cho thấy nhận thức của cán bộ, lãnh đạo xã Tân Ninh rất mơ hồ về rừng phòng hộ. Để xảy ra tình trạng nói trên, nguyên nhân đầu tiên là do người dân thiếu hiểu biết, còn chính quyền địa phương nơi đây có thiếu sót và buông lỏng trong quản lý. Quan điểm của huyện là vừa phát triển nuôi trồng thủy sản, vừa giữ rừng bần. Sắp tới huyện sẽ không cấp tiếp đất mặt nước cho các hộ làm sai để bổ sung vào quy hoạch rừng phòng hộ nhằm đảm bảo an toàn cho người dân, đất đai, nhà cửa mỗi mùa mưa bão”. (Sài Gòn Giải Phóng 26/8) đầu trang(
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện An Lão, tỉnh Bình Định thời gian qua diễn biến phức tạp. Trong 8 tháng đầu năm nay, cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó có 35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép với 17 vụ phá rừng với diện tích bị phá 61.203m2, 3 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép với diện tích 12.565m2.
Huyện An Lão, tỉnh Bình Định có diện tích đất tự nhiên trên 69.688 ha, trong đó đất có diện tích rừng 62.630 ha, chiếm 89,8% gồm rừng tự nhiên 48.363 ha; rừng trồng 14.267 ha. Thời gian qua tình trạng phá rừng, chiếm đât lâm nghiệp trái phép trên địa bàn huyện diễn ra phức tạp tại các xã An Trung, An Dũng, An Quang, An Nghĩa, An Tân, An Hưng, thị trấn An Lão. Cơ quan chức năng đã tiến hành khởi tố, chuyển cơ quan điều tra 1 vụ phá rừng đầu nguồn và đang điều tra, xác minh các vụ phá rừng còn lại.
Cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó đã xử lý 30/35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, tịch thu 10,28m3 gỗ các loại, 1 xe ô tô, 3 xe mô tô, 1 xe độ chế, xử phạt hành chính 39,7 triệu đồng, xử lý hành chính 5/17 vụ phá rừng với số tiền 67,5 triệu đồng.
Theo ông Đoàn Văn Tá - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão thì nguyên nhân của tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp là do một số loại lâm sản quý như gỗ hương, lim, huỳnh đàn, trắc, dổi có lợi nhuận khá lớn nên thu hút nhiều người dân địa phương tham gia.
Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng nguyên liệu giấy của người dân rất lớn. Đáng ngại là nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng để lấy đất sản xuất, làm nương rẫy có chiều hướng gia tăng. Trong khi đó, phương án giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ chưa đáp ứng tình hình thực tế. Hạt Kiểm lâm phụ trách địa bàn hoạt động trong điều kiện rừng núi xa xôi, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên hạn chế trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương trong các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng.
Tại buổi làm việc với UBND huyện An Lão mới đây, ông Hồ Quốc Dũng - Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã yêu cầu chính quyền địa phương và các ngành chức năng phải siết chặt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
Tại các điểm nóng phá rừng, Hạt Kiểm lâm huyện phải thường xuyên mở các đợt truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Tổ chức kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các chốt kiểm tra lâm sản tại các địa bàn trọng điểm và các trục đường giao thông quan trọng mà các đối tượng lâm tặc thường xuyên vận chuyển lâm sản để kịp thời phát hiện, xử lý.
Lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với Công an, UBND các xã, thị trấn thống kê, phân hóa các đối tượng “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái pháp luật để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Đồng thời, phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tránh tình trạng phát hiện nhiều vụ phá rừng nhưng không xử lý được.
Tỉnh Bình Định đồng ý chủ trương cho chuyển các diện tích rừng phòng hộ do UBND xã quản lý sang Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý để thắt chặt các biện pháp bảo vệ.
UBND tỉnh Bình Định cũng đã ban hành Quyết định số 2777 ngày 04/8/2017 về việc thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn để thực hiện các chức năng thừa hành pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn. (Công An TPHCM 27/8) đầu trang(
Khai thác tài nguyên rừng lén lút vẫn đang có diễn biến phức tạp, tại Hà Giang vào khoảng 22 giờ 30 phút đêm qua ngày 26/8, tổ công tác của Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Hà Giang đã phát hiện thu giữ 31 cục gỗ nghiến đang cất giấu chờ mang đi tiêu thụ.
Vào thời điểm trên tổ công tác nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân có một lượng lâm sản đang được cất giấu ven rừng đoạn km17 Quốc lộ 4C đường Hà Giang- Đồng Văn (thuộc thôn Lũng Buông xã Minh Tân huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang) tổ công tác đã kịp thời có mặt.
Qua kiểm tra đây là số gỗ nghiến thuộc nhóm 2A được Nhà nước cấm khai thác đã bị lâm tặc cắt đoạn dạng thớt với kích thước 30x45cm đang tập kết để tiêu thụ.
Tổ công tác đã mời Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Phong Quang và đại diện Chính quyền xã Minh Tân phối hợp, làm thủ tục thu giữ bàn giao cho Kiểm lâm để xử lý theo quy định của pháp luật. (ANTV 27/8) đầu trang(
Trong lúc tuần tra kiểm soát, lực lượng biên phòng Đồn Biên phòng Pa Lin, Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Trị đã phát hiện và bắt giữ nhiều phách gỗ khai thác trái phép tại khu vực rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Trị.
Hai phách gỗ lớn có đường kính trên 1 mét, dài trên 3 mét và dày khoảng 25 cm. Hai phách gỗ lớn này ước tính khoảng 1 mét khối. Số gỗ này trong lúc các đối tượng vận chuyển theo suối về bãi tập kết thì bị lực lượng biên phòng phát hiện và bắt giữ.
Cũng trên địa bàn nhiều phách gỗ thuộc nhóm 6 trở lên cũng được lực lượng biên phòng phát hiện dọc theo các con suối khu vực xã A Vao huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị. (ANTV 26/8) đầu trang(
Tỉnh Kon Tum đang cho khai thác hàng trăm ha rừng thông trên 20 năm để thực hiện các dự án trồng cây mắc ca, cây sim…
Mặc dù chính quyền địa phương khẳng định phần diện tích được chuyển đổi nằm ngoài quy hoạch du lịch nhưng nhiều người lo ngại việc này sẽ phá vỡ cảnh quan, ảnh hưởng đến hệ sinh thái, khí hậu không chỉ ở Măng Đen mà cả huyện Kon Plông.
Ngày 24-8, tại xã Đắk Long, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum, những cây thông đường kính từ 15-30 cm bị đốn hạ nằm la liệt bên các triền đồi, nhiều nơi chỉ còn trơ lại cành, gốc. Ở nhiều quả đồi, rừng thông bị san phẳng, cây bị cắt nhỏ tập kết thành bãi chờ vận chuyển đi nơi khác. Một quả đồi sau khi đã tận thu hết gỗ bị đốt trụi. Cũng có quả đồi mới khai thác, cành lá đang còn tươi, nhựa thông đang rỉ ra.
Theo Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Plông, 198 ha rừng thông này thuộc tiểu khu 481, xã Đắk Long. UBND tỉnh Kon Tum đã thu hồi, chuyển mục đích sử dụng để cho Công ty TNHH Đăng Vinh (trụ sở tại TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định) triển khai dự án trồng cây mắc ca. Hiện dự án này đã khai thác, tận thu gỗ được 91 ha.
Ngoài diện tích này, trên địa bàn huyện Kon Plông, nhiều khu vực khác cũng đang được chuyển đổi như hai bên đường dẫn vào Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, một số cánh rừng thông đã bị đốn hạ, một số nơi đã đào hết gốc thông để san ủi.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) tỉnh Kon Tum, huyện Kon Plông có trên 2.000 ha rừng thông. Tỉnh chủ trương khai thác 800 ha rừng thông để thực hiện dự án, còn lại để tạo cảnh quan. Hiện đã cho chuyển đổi 312/800 ha rừng thông.
312 ha rừng thông được chuyển đổi để thực hiện dự án trồng cây mắc ca do Công ty TNHH Đăng Vinh làm chủ đầu tư; dự án bảo tồn sim rừng và xây dựng nhà máy chế biến rượu vang sim của Công ty TNHH MTV Sim Thiên Sơn; dự án trồng rau, hoa, cây ăn quả, dược liệu dưới tán rừng của HTX Nông nghiệp Tuyết Sơn Kon Plông...
Ông Nguyễn Đức Tuy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum, cho biết diện tích rừng thông chuyển đổi là khu vực đất cằn cỗi. "Quan điểm của tỉnh là làm sao để thu hút đầu tư và làm sao để rừng sản xuất phải đem lại hiệu quả kinh tế. Nếu không có dự án trồng mắc ca thì cũng phải khai thác diện tích thông trên vì cằn cỗi và trồng lại loại cây khác cho phù hợp" - ông Tuy nói.
Theo báo cáo 187/BC-SNN ngày 30-5-2017 của Sở NN-PTNT tỉnh Kon Tum, toàn tỉnh hiện có hơn 146 ha mắc ca. Qua kiểm tra vào năm 2016, cây mắc ca sinh trưởng, phát triển kém đến trung bình. Sở cũng đề nghị Bộ NN-PTNT xem xét chưa thực hiện phát triển nhân rộng sản xuất mắc ca trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2017-2020.
Vào tháng 4-2015, UBND tỉnh Kon Tum cũng có văn bản nhấn mạnh mắc ca là loại cây mới, Bộ NN-PTNT chưa quy hoạch phát triển. Tuy nhiên, chỉ 4 tháng sau, ngày 17-8-2015, UBND tỉnh Kon Tum ra văn bản chấp thuận cho Công ty TNHH Đăng Vinh thực hiện dự án trồng mắc ca. Đến tháng 1-2017, UBND tỉnh Kon Tum ra quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và cho công ty này thuê đất để thực hiện dự án trên.
Bà Trần Thị Thanh Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Đăng Vinh, thừa nhận ban đầu dự án chỉ trồng cây mắc ca. Tuy nhiên, do khuyến cáo của Bộ NN-PTNT và UBND tỉnh Kon Tum cũng nhắc nhở về việc trồng cây mắc ca không đạt hiệu quả cao nên sau đó, công ty trồng theo hướng mới là xen canh giữa cây mắc ca với các loại cây khác như sầu riêng, bơ và cam.
"Chúng tôi đã gửi tờ trình đến UBND tỉnh Kon Tum. UBND tỉnh cũng động viên chuyển đổi loại cây trồng vì sợ cây mắc ca hiệu quả không tốt" - bà Tùng nói.
Ông Phạm Phúc, hướng dẫn viên du lịch ở Gia Lai, thường đưa các đoàn khách từ TP HCM và Hà Nội lên thị trấn Măng Đen, huyện Kon Plông tham quan du lịch vì khí hậu mát mẻ và những cánh rừng thông đẹp.
"Măng Đen không có sản phẩm du lịch gì nổi bật. Khách đến Măng Đen chủ yếu là đổi gió, tận hưởng khí hậu mát mẻ. Tôi nghĩ phá rừng thông thì sẽ mất cảnh quan, khách không đến nữa. Thực tế khi tôi đưa khách đi qua những cánh rừng thông bị phá thì khách cũng tỏ vẻ rất tiếc nuối" - ông Phúc nói. (Người Lao Động 27/8) đầu trang(
Ngày 25-8, Hạt Kiểm lâm huyện Hòa Vang tổ chức thả cá thể voọc chà vá chân nâu đực, nặng 3 kg, tình trạng khỏe mạnh về môi trường tự nhiên tại bán đảo Sơn Trà.
Trước đó ông Bùi Thuận (sinh năm 1971, trú thôn Nam Thành, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang) giao nộp cá thể voọc chà vá chân nâu này.
Theo trình bày của ông Bùi Thuận, sáng 24-8, ông và người dân địa phương phát hiện trong vườn keo có một cá thể voọc chà vá chân nâu và tổ chức vây bắt, đồng thời báo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang đến tiếp nhận thả về môi trường tự nhiên.
Được biết, từ đầu năm 2017 đến nay, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang đã tiếp nhận từ người dân tổng cộng 3 cá thể động vật hoang dã gồm: 1 cá thể khỉ đuôi lợn; 1 cá thể rùa núi viền; 1 cá thể voọc chà vá chân nâu. Tất cả các cá thể động vật hoang dã nói trên đã được Hạt Kiểm lâm Hòa Vang thả về môi trường tự nhiên. (Sài Gòn Giải Phóng + HN Mới 26/8) đầu trang(
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện An Lão tỉnh Bình Định thời gian qua diễn biến phức tạp. Trong 8 tháng đầu năm nay, cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó có 35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép và 17 vụ phá rừng với diện tích bị phá 61.203m2, 3 vụ lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép với diện tích 12.565m2.
Huyện An Lão tỉnh Bình Định có diện tích đất tự nhiên trên 69.688 ha, trong đó đất có rừng 62.630 ha, chiếm 89,8% gồm rừng tự nhiên 48.363 ha; rừng trồng 14.267 ha. Thời gian qua tình trạng phá rừng, chiếm đất lâm nghiệp trái phép trên địa bàn huyện diễn ra phức tạp tại các xã An Trung, An Dũng, An Quang, An Nghĩa, An Tân, An Hưng, thị trấn An Lão. Cơ quan chức năng đã tiến hành khởi tố, chuyển cơ quan điều tra 1 vụ phá rừng đầu nguồn và đang điều tra, xác minh các vụ phá rừng còn lại.
Cơ quan chức năng đã phát hiện 52 vụ vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó đã xử lý 30/35 vụ vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép, tịch thu 10,28m3 gỗ các loại, 01 xe ô tô, 3 xe mô tô, 01 xe độ chế, xử phạt hành chính 39,7 triệu đồng, xử lý hành chính 5/17 vụ phá rừng với số tiền 67,5 triệu đồng.
Theo ông Đoàn Văn Tá- Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão thì nguyên nhân của tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp là do một số loại lâm sản quý như gỗ hương, lim, huỳnh đàn, trắc, dổi có lợi nhuận khá lớn nên thu hút nhiều người dân địa phương tham gia. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp để trồng rừng nguyên liệu giấy của người dân rất lớn. Đáng ngại là nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng để lấy đất sản xuất, làm nương rẫy có chiều hướng gia tăng. Trong khi đó, phương án giao đất lâm nghiệp, giao rừng cho người dân quản lý, bảo vệ chưa đáp ứng tình hình thực tế. Hạt Kiểm lâm phụ trách địa bàn hoạt động trong điều kiện rừng núi xa xôi, không thông thạo tiếng đồng bào dân tộc thiểu số nên hạn chế trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương trong các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng.
Tại buổi làm việc với UBND huyện An Lão mới đây, ông Hồ Quốc Dũng- Chủ tịch UBND tỉnh Bình Định đã yêu cầu chính quyền địa phương và các ngành chức năng phải siết chặt hơn nữa công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn huyện. Tại các điểm nóng phá rừng, Hạt Kiểm lâm huyện phải thường xuyên mở các đợt truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Tổ chức kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các chốt kiểm tra lâm sản tại các địa bàn trọng điểm và các trục đường giao thông quan trọng mà các đối tượng lâm tặc thường xuyên vận chuyển lâm sản để kịp thời phát hiện, xử lý. Lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với Công an, UBND các xã, thị trấn thống kê, phân hóa các đối tượng “đầu nậu”, chủ đường dây buôn bán lâm sản trái pháp luật để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đồng thời, phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tránh tình trạng phát hiện nhiều vụ phá rừng nhưng không xử lý được. Tỉnh Bình Định đồng ý chủ trương cho chuyển các diện tích rừng phòng hộ do UBND xã quản lý sang Ban quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý để thắt chặt các biện pháp bảo vệ.
UBND tỉnh Bình Định cũng đã ban hành Quyết định số 2777 ngày 04/8/2017 về việc thành lập Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng An Toàn thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng An Toàn để thực hiện các chức năng thừa hành pháp luật về bảo vệ rừng và phát triển rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên An Toàn. (Tài Nguyên & Môi Trường 26/8) đầu trang(
Được giao quản lý gần 1 triệu hecta rừng và đất rừng trong tình trạng “cái khó bó cái khôn”, hầu hết trong số 56 công ty lâm nghiệp (CTLN) trên Tây Nguyên rơi vào tình trạng hoạt động không hiệu quả, nợ lương, nợ bảo hiểm… Nhiều CTLN tự cứu bằng cách tổ chức “liên kết trồng rừng” tràn lan. Rốt cục, rừng trồng được thì ít, mà đất rẫy nở ra thì nhiều, với sự tiếp tay đắc lực của cán bộ nhân viên công ty.
Đến Kon Tum, dọc quốc lộ 14C từ huyện Ngọc Hồi đi vào xã Mô Rai, phóng viên chứng kiến nhiều xe container ùn ùn chở gỗ ra. Nhiều xe chất gỗ quá tải khiến quốc lộ dập nát, trơ sỏi đá. Vườn quốc gia Chư Mom Ray nằm cạnh quốc lộ 14C có nhiều toán lâm tặc canh giữ cho nhau vào rừng chặt gỗ. Ở xã vùng sâu này, việc lâm tặc hay ai chở gỗ lấy từ Vườn quốc gia đã thành chuyện “thường ngày ở vườn”.
Nhưng hiếm có nơi nào mà việc phá rừng tự nhiên diễn ra trắng trợn như Ea Súp - huyện giáp biên của tỉnh Đắk Lắk. Tại đây, nhiều thời điểm trong năm, nhóm phóng viên đều tận mắt thấy những cánh rừng do các CTLN quản lý bị chặt phá tràn lan. Ai cũng có thể gặp những đoàn xe cày độ chế ngang nhiên chở gỗ lậu từ rừng sâu ra trung tâm xã. Những tốp hàng chục chiếc xe máy lặc lè chở gỗ công khai chạy trên đường liên xã Ja Lơi. Những đoàn xe chở gỗ sao còn ứa nhựa do lâm tặc đốn hạ từ rừng của CTLN Rừng Xanh chạy vào trung tâm xã Cư K’bang xuyên qua tuyến đất đỏ liên xã Ea Rốk, Cư K’bang và Ea Lê, trước khi “qua mặt” trạm kiểm lâm địa bàn để tuồn hàng vào các xưởng gỗ.
Tháng 5/2017, tại huyện Ea Kar (tỉnh Đắk Lắk), phóng viên Tiền Phong cũng tận thấy rừng bị tàn phá công khai ở xã Cư Yang mà không có cơ quan chức năng nào vào cuộc. Người dẫn đường chua chát nói: Ôi dào! Trạm kiểm lâm, CTLN rồi UBND xã ở đây chỉ để làm vì! Ngày nào lúc sáng sớm và chiều tối, trên đường liên xã cũng đủ các loại xe chở gỗ phóng bạt mạng. Nhiều năm rồi, đối với dân tôi đây là “chuyện cơm bữa”!
Thế nhưng ông Quách Trung Hiếu, Trạm trưởng trạm kiểm lâm liên xã Cư Yang - Cư Bông - Cư Prông vẫn thản nhiên khẳng định: Từ ngày Thủ tướng lệnh đóng cửa rừng, huyện này đâu có khai thác gỗ rừng nữa?!
Còn ông Y Rốt, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ea Kar thì cho rằng vùng rừng bị phá mà chúng tôi phản ánh, thuộc lâm phần của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ea Kar, không thuộc trách nhiệm của Hạt.
Trong 5 tỉnh Tây Nguyên hiện nay, việc xử lý cán bộ làm trái trong việc QLBVR đang được thực hiện mạnh tay, quyết liệt nhất ở tỉnh Đắk Nông. Hai năm qua, hàng trăm cán bộ từ cấp xã đến cấp tỉnh bị kỷ luật, nhiều người bị khởi tố. Ông Hà Trung Ký - Trưởng ban Tuyên giáo tỉnh Đắk Nông cho biết: Từ nay đến cuối năm, hàng loạt cán bộ nữa sẽ tiếp tục bị kỷ luật cũng vì liên quan tới việc làm mất rừng. “Nếu không cương quyết, rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh thành đồi trọc hết”, ông Ký chia sẻ.
Theo bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2017, thì trong 135 quốc gia, Việt Nam được đánh giá cao về Tài nguyên văn hóa và Du lịch công vụ (hạng 30), Tài nguyên tự nhiên (hạng 34), Sức cạnh tranh về giá (hạng 35)… Tuy nhiên, Việt Nam lại tuột xuống gần chót bảng do Nạn phá rừng (hạng 103), Mức độ bền vững về môi trường (hạng 129).
Sự bất ổn về Rừng và Môi trường trên phạm vi cả nước khiến lãnh đạo Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, nhất là đối với khu vực Tây Nguyên.
Sau khi phân tích rõ các nguyên nhân mất rừng, lãnh đạo 5 tỉnh Tây Nguyên lần lượt chốt chương trình hành động, chỉ đạo các sở ngành liên quan sắp xếp lại các mô hình QLBVR, tập trung bảo vệ diện tích rừng tự nhiên còn lại, tăng cường trách nhiệm quản lý của các cấp chính quyền, đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, vận động các tổ chức và người dân cùng tham gia.
Là tỉnh “nóng” nhất Tây Nguyên về nạn phá rừng, giữa tháng 7/2017 Đắk Nông xác nhận độ che phủ của rừng ở tỉnh này chỉ còn có 38,8% (tỷ lệ toàn vùng Tây Nguyên là 43,5%). Mạnh tay xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ các cấp vi phạm QLBVR, Đắk Nông đồng thời đề nghị Bộ NN&PTNT trình Chính phủ hàng loạt kiến nghị tháo gỡ khó khăn.
Các kiến nghị của Đắk Nông đều liên quan đến túi tiền eo hẹp của ngân sách. Như đề nghị tăng mức trần hỗ trợ kinh phí khoán QLBVR lên 400 nghìn đồng/ha cho các công ty lâm nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân; Đề nghị được chủ động cân đối nguồn thu Dịch vụ môi trường rừng để điều tiết, phân bổ cho tất cả các chủ rừng; Đề nghị ngân sách Trung ương hỗ trợ 98,9 tỷ đồng để tỉnh thực hiện chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp; Đề nghị được sử dụng nguồn Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng do các nhà máy thủy điện nộp để trồng 500 ha rừng năm 2017. Riêng các dự án ổn định dân di cư tự do, Đắk Nông đã đề nghị được hỗ trợ tới hơn 1.123 tỷ từ nay đến năm 2020...
Một chuyên gia lâm nghiệp uy tín của Tây Nguyên là PGS.TS Bảo Huy, khi trao đổi với Tiền Phong về các kiến nghị này, đã bày tỏ quan điểm đồng tình. Ông cho rằng cách cho thuê rừng, giao rừng tràn lan như lâu nay tất yếu khiến rừng bị phá. Vì việc QLBVR là dịch vụ công ích, không đem lại nhiều lợi nhuận cho cá nhân hay doanh nghiệp, họ khó mặn mà với việc giữ rừng. Nhà nước cần khoanh diện tích rừng còn lại, đưa vào các khu bảo tồn và bỏ tiền ra để bảo vệ.
Là giảng viên cao cấp của trường Đại học Tây Nguyên, PGS.TS Bảo Huy cùng cộng sự đã trải qua nhiều năm tháng “ba cùng” với lực lượng kiểm lâm và đồng bào hàng trăm buôn làng, thôn xã trong việc kiên trì xây dựng thành công các mô hình quản lý rừng bền vững. Ông đặc biệt tâm đắc với kết quả giữ rừng hữu hiệu của thôn Vi Ch’Ring (xã Hiếu, huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum), làng Đê Tar (Xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai), bon Bu Nor (xã Quảng Tâm, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông), buôn Tul (Xã Yang Mao, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk).
Theo ông Bảo Huy, với quy mô rừng 500-1000 ha có thể giao cho một cộng đồng khoảng 100 hộ để cùng bảo vệ, kinh doanh quay vòng khép kín. Để tránh lạm dụng, người giữ rừng chỉ hưởng lợi từ rừng theo hạn mức nhất định của kỹ thuật quản lý rừng bền vững, dưới sự giám sát của nhân viên lâm nghiệp và cộng đồng địa phương. Thực chất thu nhập từ rừng chỉ đóng góp từ 10-25% cho thu nhập hộ. Tuy nhiên, cộng vào đó, đồng bào còn được thu hái thực phẩm, cây thuốc, lấy củi, và vui với môi trường sống xanh tươi, là giá trị tinh thần không thể đong đếm.
Thông qua UBND huyện Kon Plông, Tiền Phong đã tiếp cận được những người gắn bó với mô hình quản lý rừng bền vững của thôn Vi Chring, thuộc xã Hiếu phía bắc tỉnh Kon Tum. Anh A Triệu trưởng thôn Vi Chring kể: 37 hộ đồng bào dân tộc Mơ Nâm được giao quản lý 808 ha từ năm 2008 tới nay. Cá nhân anh chỉ học hết lớp 9 nhưng được dự nhiều cuộc tập huấn, biết rõ giá trị của rừng nên truyền đạt lại. Đồng bào hiểu rừng đầu nguồn nguyên vẹn, thì những cánh đồng dưới thung lũng mới đủ nước để cày cấy. Vì thế, 9 năm qua trai làng liên tục thay nhau tuần tra bảo vệ rừng, không cho đám lâm tặc vào rừng chặt phá.
Được mệnh danh là “Hạ Long trên Tây Nguyên”, Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng có cảnh quan tuyệt đẹp, hiện quản lý 20.338 ha rừng đặc dụng giáp ranh giữa 2 tỉnh Đắk Nông- Lâm Đồng. Lãnh đạo Khu BTTN này nhiều năm qua rất tin cậy giao khoán hơn 8.000 ha đất rừng cho 199 hộ đồng bào dân tộc Mạ ở các xã Ðắk Som, Ðắk P’lao (Ðắk Glong-Đắk Nông) và Ðạ K’nàng, Phi Liêng (Ðam Rông-Lâm Đồng). Mỗi hộ nhận công sá chỉ 7-8 triệu đồng/năm nhưng ngày nào cũng hăng hái tuần tra với tình yêu rừng bất tận, và cam kết sẽ bảo vệ đại ngàn xanh mãi. (Tiền Phong 26/8) đầu trang(
UBND tỉnh Hòa Bình đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh phối hợp với các cơ quan liên quan xác minh, làm rõ thông tin doanh nghiệp tư nhân tàn phá rừng đầu nguồn để trồng cam.
Sau loạt bài phóng sự phản ánh hiện trạng rừng đầu nguồn đang bị một vài công ty tư nhân tàn phá để trồng cam, ngày 21/8, UBND tỉnh Hòa Bình đã có công văn hồi đáp Báo điện tử VTC News.
Công văn hồi đáp của UBND tỉnh Hòa Bình ghi rõ sẽ xin tiếp thu nội dung thông tin đăng tải trên Báo điện tử VTC News.
"Để phúc đáp nội dung Báo điện tử VTC News đã đăng tải, UBND tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, xác minh, làm rõ, báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh trong tháng 8/017.
Sau khi có kết quả, UBND tỉnh Hòa Bình sẽ thông tin Ban biên tập Báo điện tử VTC News", ông Nguyễn Văn Dũng - Phó chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình nêu.
Trước đó, ngày 17/8, để làm sáng tỏ vấn đề người dân đã phản ánh trong hai bài viết Dân thảm thiết kêu cứu rừng đầu nguồn ở Hòa Bình: 'Thà bắn chết chúng tôi đi còn hơn' và Phá rừng đầu nguồn ở Hòa Bình: 'Con cháu chúng tôi sẽ gặp thảm họa lũ quét như Mù Cang Chải?', PV VTC News đã tới UBND tỉnh Hoà Bình, Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hòa Bình để làm việc.
Tuy nhiên, do lãnh đạo ở những đơn vị này đều bận họp nên PV đã để câu hỏi và những thông tin cần trao đổi lại.
Đến nay, sau gần một tuần, báo điện tử VTC News mới nhận được công văn hồi đáp của UBND tỉnh Hòa Bình. (VTC News 25/8) đầu trang(
Chủ đầu tư dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star (thường được biết đến là "đường hầm đất sét") tự ý chặt hạ cây rừng, xây dựng chui các hạng mục ảnh hưởng đến khu di tích thắng quốc gia hồ Tuyền Lâm
UBND TP Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng vừa có văn bản chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Đà Lạt phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, lập hồ sơ và đề xuất xử lý vi phạm tại Công ty CP Sao Đà Lạt, trong quá trình thực hiện dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star (thường được biết đến là đường hầm đất sét) tại Khu du lịch hồ Tuyền Lâm, phường 4, TP Đà Lạt ảnh hưởng đến khu di tích thắng quốc gia hồ Tuyền Lâm. Kết quả kiểm tra, đề xuất xử lý giải quyết dứt điểm trong tháng 8.
Liên quan đến vụ việc, Ban Quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm cũng đã có văn bản đề nghị Thanh tra Xây dựng TP Đà Lạt xem xét xử lý theo thẩm quyền quy định đối với Công ty Sao Đà Lạt.
Về những sai phạm của công ty này, Ban Quản lý Khu du lịch hồ Tuyền Lâm cho biết đối với khu vực rừng tự nhiên cuối đường hầm đất sét, chủ đầu tư đã tác động, xây dựng hơn 17 ki-ốt và diện tích liền kề khi chưa được cấp phép xây dựng.
Trong quá trình thực hiện dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star, Công ty Sao Đà Lạt còn san lấp hệ thống mương thoát nước dọc đường giao thông công cộng làm chỗ đậu xe gây ảnh hưởng đến kết cấu và chất lượng của công trình giao thông công cộng trong hồ Tuyền Lâm.
Ngoài ra, công ty này tự ý xây dựng hệ thống cầu gỗ (không có giấy phép xây dựng, không chứng minh được nguồn gốc gỗ dùng làm cầu) tại khu vực bảo vệ I của di tích thắng cảnh hồ Tuyền Lâm để kinh doanh dịch vụ chụp ảnh; đồng thời, lắp bè gỗ tạo sân khấu "phim trường" ảnh cưới trên mặt nước không bảo đảm an toàn.
Dù vậy, ông Trịnh Bá Dũng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sao Đà Lạt, phủ nhận việc chính quyền TP Đà Lạt, cơ quan chức năng xác định công ty xâm hại hồ Tuyền Lâm. Theo ông Dũng, sau khi có thông tin nêu tình trạng chặt cây phá cây rừng, đoàn liên ngành gồm đại diện UBND TP Đà Lạt, Hạt Kiểm lâm Đà Lạt... đã làm việc với công ty. "Kết quả buổi làm việc là hoàn không có việc chặt cây, phá cây và sử dụng cây" - ông Dũng nói.
Liên quan đến "phim trường" ảnh cưới không an toàn cho du khách, ông Dũng giải thích: "Lúc trước kia là có cây cầu băng ngang qua hồ. Thời gian gần đây, công ty cho một cá nhân thuê lại và có đóng một vài cầu gỗ để chụp hình cưới với mục đích làm đẹp thêm khu vực nêu trên mà thôi".
Cho rằng mình không vi phạm, chủ đầu tư dự án Khu nghỉ dưỡng Đà Lạt Star tiếp tục mở cửa các dịch vụ. Trong ngày 14-8, du khách muốn xuống cầu hay bè gỗ chụp hình đều được nhân viên ở đây thu tiền vé. Mỗi cặp du khách chụp hình phải mất 50.000 đồng/lượt, trọn gói ảnh cưới hết 500.000 đồng/lượt…(Người Lao Động 24/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Giải quyết vấn đề liên quan đến việc giao quản lý, bảo vệ và hưởng tiền DVMTR tại tiểu khu 677 (huyện Mường Chà, Điện Biên)
Cho rằng, huyện Mường Chà không chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ năm 2011 đến năm 2016 cho dân bản Huổi Lóng (xã Na Sang) tại tiểu khu 667 mà trả cho bản Huổi Nhả; cũng như giao diện tích rừng này cho người dân bản Huổi Nhả (xã Mường Mươn) quản lý, bảo vệ là sai. Ông Vàng A Nủ, Trưởng bản Huổi Lóng (xã Na Sang) cùng các hộ dân trong bản làm đơn đề nghị chính quyền các cấp trong tỉnh giao diện tích rừng tiểu khu 667 trên cho bà con quản lý; đồng thời đề nghị cơ quan chức năng phải trả tiền DVMTR từ năm 2011 đến năm 2016 cho dân bản Huổi Lóng…
Trao đổi với chúng tôi vấn đề này, ông Đinh Xuân Tiến, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Chà cho biết: Giải quyết đơn thư của ông Vàng A Nủ và người dân bản Huổi Lóng, Thường trực Huyện ủy, lãnh đạo UBND huyện đã nhiều lần xuống thực địa tiểu khu 677 kiểm tra, xác minh; đồng thời tuyên truyền giải thích để người dân Huổi Lóng hiểu và thực hiện. Gần đây nhất, là đầu tháng 8 vừa qua, đoàn công tác UBND huyện do ông Đinh Xuân Tiến làm trưởng đoàn trực tiếp cùng lãnh đạo Đảng ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể 2 xã: Na Sang và Mường Mươn có buổi làm việc tại trụ sở xã Mường Mươn để đối thoại với đại diện 2 bản Huổi Lóng, Huổi Nhả, nhằm giải quyết việc giao quản lý, bảo vệ và hưởng tiền DVMTR tại tiểu khu 677 cho nhân dân 2 bản.
Được biết, tại buổi làm việc, đoàn công tác cùng lãnh đạo 2 xã tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân 2 bản thực hiện nghiêm túc Nghị định 135/2006/ NĐ - CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện, xã. Ông Đinh Xuân Tiến khẳng định, việc giao đất giao rừng cho 2 bản Huổi Nhả và Huổi Lóng quản lý, bảo vệ để hưởng tiền chi trả DVMTR như hiện tại (giao tiểu khu 677 cho bản Huổi Nhả bảo vệ) là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên cơ sở kiến nghị của nhân dân bản Huổi Lóng, để đảm bảo lợi ích hợp lý của nhân dân 2 bản, căn cứ địa giới hành chính đã được xác lập và lịch sử sinh sống của cộng đồng dân cư cũng như để thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, UBND huyện thống nhất đưa ra phương án chia cắt tiểu khu 677 theo tỷ lệ hợp lý để nhân dân 2 bản Huổi Lóng, Huổi Nhả cùng quản lý, bảo vệ và hưởng tiền chi trả DVMT đối với tiểu khu 677.
Cụ thể, chia các khoảnh 9, 11, 14 và một nửa khoảnh 13 thuộc tiểu khu 677 với tổng diện tích 255,68ha đất có rừng cho bản Huổi Nhả tiếp tục quản lý, bảo vệ và hưởng tiền chi trả DVMTR. Sau khi chia lại, bản Huổi Nhả có tổng diện tích rừng quản lý, bảo vệ 692,72ha (thuộc các tiểu khu 677, 678 và 680). Chia các khoảnh 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10, 12 và một nửa khoảnh 13 thuộc tiểu khu 677 với tổng diện tích 382,24ha đất có rừng cho cộng đồng bản Huổi Lóng quản lý, bảo vệ và hưởng tiền chi trả DVMTR. Sau khi chia lại, bản Huổi Lóng có tổng diện tích quản lý, bảo vệ 1.002,3ha (thuộc các tiểu khu 669, 669A, 672, 673 và 677).
Tuy nhiên, đến thời điểm này, người dân bản Huổi Lóng vẫn không nhất trí chia diện tích rừng ở tiểu khu 677 cho cả 2 bản Huổi Nhả và Huổi Lóng cùng bảo vệ mà tiếp tục kiến nghị phải giao toàn bộ tiểu khu này cho bản Huổi Lóng quản lý, bảo vệ. Cũng như phải được trả toàn bộ số tiền DVMTR từ năm 2011 đến năm 2016 (đã trả cho bản Huổi Nhả) cho bản Huổi Lóng. Bởi họ cho rằng, diện tích rừng ở tiểu khu 677 đã được bà con trong bản bảo vệ từ năm 1993 - từ khi chưa có chính sách chi trả DVMTR thì mới có diện tích rừng xanh tốt như vậy để đủ điều kiện nhận tiền chi trả tiền DVMTR.
Thêm nữa, việc điều chỉnh địa giới hành chính giữa xã Na Sang - Mường Mươn; giữa bản Huổi Lóng - Huổi Nhả xác định cụ thể ra sao, diện tích giao đất giao rừng giao lại như thế nào dân bản Huổi Lóng không được tuyên truyền nên không biết! Chỉ đến cuối năm 2015 - khi được nhận được tiền chi trả DVMTR nhưng không đúng như diện tích bao năm qua đã bảo vệ thì bà con bản Huổi Lóng mới biết diện tích rừng tại tiểu khu 677 đã được giao cho bản Huổi Nhả quản lý! Sau khi biết việc này, người dân trong bản đã nhiều lần kiến nghị với chính quyền các cấp xem xét sớm giải quyết nhưng chưa lần nào được giải quyết triệt để. - Ông Vàng A Nủ, Trưởng bản Huổi Lóng cho biết.
Nói về vấn đề này, ông Đinh Xuân Tiến lần giở cả tập tài liệu dày cộp liên quan đến quá trình giải quyết việc giao quản lý, bảo vệ và hưởng tiền DVMTR tại tiểu khu 677 và khẳng định: Căn cứ việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện, xã có hiệu lực từ năm 2006: xã Na Sang được thành lập trên cơ sở chia tách từ xã Mường Mươn thì việc giao đất giao rừng cho 2 bản Huổi Nhả (xã Mường Mươn) và Huổi Lóng (cho xã Na Sang) quản lý, bảo vệ để hưởng tiền chi trả DVMTR như hiện tại (giao tiểu khu 677 cho bản Huổi Nhả bảo vệ) là đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị của dân bản Huổi Lóng là giao toàn bộ tiểu khu 667 và trả toàn bộ tiền DVMTR từ năm 2011 đến năm 2016 cho bà con là không thể thực hiện được.
Để người dân bản Huổi Lóng hiểu và đồng thuận với phương án chia cắt tiểu khu 677 cho cả 2 bản Huổi Nhả và Huổi Lóng cùng quản lý, bảo vệ và hưởng tiền chi trả DVMTR, thời gian tới huyện Mường Chà cùng cấp ủy, chính quyền 2 xã Na Sang, Mường Mương tiếp tục tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện theo phương án đã đề ra của huyện. Đồng thời, UBND huyện Mường Chà cũng đã báo cáo cụ thể tình hình giải quyết đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở: Nội vụ, Tài nguyên và Môi trường; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiên cứu, tư vấn, định hướng cho huyện giải pháp, phương án để giải quyết dứt điểm vụ việc. (Báo Điện Biên Phủ 24/8) đầu trang(
Những năm qua, mặc dù ở các huyện miền núi Quảng Nam, việc giao đất, giao rừng cho người dân chăm sóc, bảo vệ và sản xuất đạt nhiều kết quả tốt nhưng vẫn còn nhiều bất cập
Những vướng mắc liên quan đến chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi; công tác quản lý chưa chặt chẽ và hỗ trợ kinh phí đầu tư cho đồng bào bảo vệ, phát triển vẫn chưa nhiều.
Đến nay, tại 9 huyện miền núi Quảng Nam đã giao đất giao rừng cho 234 đơn vị cộng đồng dân cư với tổng diện tích hơn 158.000 ha và giao đất lâm nghiệp cho 5.854 hộ đồng bào dân tộc thiểu số với diện tích hơn 19.900 ha... Theo đánh giá chung, phần lớn diện tích đất, rừng giao cho các hộ và cộng đồng dân cư được quản lý tốt, hạn chế tình trạng xâm hại rừng. Tuy nhiên, vẫn còn bất cập của chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng; nhất là bị động về nguồn kinh phí thực hiện đo đạc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp và người dân khó tiếp cận vốn tín dụng cho lĩnh vực lâm nghiệp.
Trong thời gian tới, Quảng Nam sẽ bố trí ngân sách hợp lý cho công tác giao đất, giao rừng; tiếp tục rà soát, giao lại cho dân diện tích đất rừng do xã quản lý kém hiệu quả và bóc tách đất rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển đổi qua đất sản xuất giao cho dân. (VTV 27/8) đầu trang(
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên giai đoạn 2016-2020, Tỉnh ủy Gia Lai đã có nghị quyết chuyên đề, chỉ đạo các địa phương triển khai nhiều giải pháp quyết liệt và đồng bộ. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã xây dựng Kế hoạch “Tổ chức thu hồi diện tích đất rừng bị lấn chiếm để chuyển cây trồng phù hợp với mục đích lâm nghiệp và trồng rừng”.
UBND tỉnh đã yêu cầu hệ thống chính trị các cấp cùng vào cuộc tiến hành rà soát, phân loại, xác định diện tích đất lâm nghiệp theo quy hoạch của tỉnh để có cơ sở thu hồi những diện tích bị lấn chiếm; đồng thời có kế hoạch quản lý, bảo vệ diện tích sau khi thu hồi và trồng rừng kịp thời, không để tái lấn chiếm. Tuy nhiên, việc triển khai công tác này đang gặp nhiều khó khăn và vướng mắc cần phải có các giải pháp phù hợp để tháo gỡ. Phóng sự tại huyện Krông Pa sẽ phản ánh rõ vấn đề này.
Mặc dù vừa chấp hành xong án phạt tù vì tội hủy hoại rừng nhưng anh Ksor Lớ vẫn kiên quyết bám giữ mảnh đất hơn 5 sào mà anh đã lấn chiếm trái phép từ đất rừng. Anh cho rằng, nếu không có mảnh đất này thì gia đình mình không có tư liệu sản xuất để sinh kế.
Anh Ksor Lớ, buôn Jú, xã Krông Năng, huyện Krông Pa- Gia Lai cho biết: “Cán bộ huyện, xã có vào đây tuyên truyền, vận động tôi cùng gia đình trả lại đất rừng lấn chiếm trái phép để trồng rừng nhưng giờ trả lại đất thì không còn đất để sản xuất. Cả gia đình dựa vào việc sản xuất trên mảnh đất này”.
Tại khu vực nằm giữa rừng này thuộc xã Ia Hdreh, huyện Krông Pa giáp ranh với một số địa phương thuộc tỉnh Đăk Lăk hiện có 118 hộ di cư tự do từ nơi khác đến sinh sống, đã lấn chiếm trái phép trong nhiều năm nay hàng trăm ha đất lâm nghiệp tỉnh giao cho một doanh nghiệp để triển khai dự án trồng rừng. Huyện Krông đang phối hợp với doanh nghiệp quản lý dự án này tiến hành thu hồi những diện tích đất bị lấn chiếm nhằm phục vụ phát triển lâm nghiệp và giao lại cho chính người dân ở đây để trồng rừng nhưng họ chưa đồng ý. Chẳng những vậy, nhiều hộ còn tiếp tục làm nhà mới trên đất lâm nghiệp mà họ đã lấn chiếm trái phép.
Anh Ksor Ó, buôn Jú , xã Krông Năng, huyện Krông Pa- Gia Lai nói: “Giao lại đất để trồng rừng thì không có đất để sản xuất nông nghiệp, mà theo chu kỳ thì trồng rừng sau năm, bảy năm mới thu hoạch, trong khoảng thời gian đó người dân không có thu nhập để trang trải cuộc sống”.
Nhiều diện tích đất rừng bị lấn chiếm nằm phân tán, nhỏ lẻ, đan xen với đất người dân đã canh tác lâu năm; và việc người dân chưa tự giác kê khai đất rừng mình đã lấn chiếm trái phép cũng đặt ra không ít khó khăn trong việc tiến hành thu hồi.
Một trong những khó khăn, vướng mắc trong việc thu hồi đất rừng bị lấn chiếm đó là nhiều diện tích quy hoạch đất rừng, đất lâm nghiệp chồng lấn và nằm đan xen hình da báo với đất người dân đã canh tác ổn định lâu năm, giờ cần phải có sự bóc tách, xác định cụ thể hiện trạng đất mới có thể triển khai công tác thu hồi đất rừng bị lấn chiếm một cách phù hợp.
Ông Tạ Chí Khanh- Phó Chủ tịch UBND huyện Krông Pa- Gia Lai cho biết: “Diện tích người dân lấn chiếm trong thời gian quá lâu do đó vận động người dân trả lại đất cho nhà nước để trồng rừng gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt một số hộ đã lấn chiếm trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cây điều thì bà con tỏ thái độ phản đối, không đồng tình với việc giao đất lại để trồng rừng, trong đó có một số hộ mặc dù đã bị xử phạt tù vì phá rừng trái phép nhưng nay họ vẫn cố bám giữ đất họ đã lấn chiếm. Cái khó khăn thứ hai là hiện quy hoạch lại 3 loại rừng năm 2017 chưa được phê duyệt nên không có cơ sở pháp lý để nói với người dân rằng đất nào là đất lâm nghiệp”.
Theo kế hoạch, từ nay đến năm 2019, huyện Krông Pa sẽ thu hồi 7.443 ha đất rừng bị lấn chiếm. Nhiều giải pháp quyết liệt huyện đã triển khai nhưng việc thu hồi đất rừng bị lấn chiếm xem ra vẫn đang là bài toán khó. (Đài PTTH Gia Lai 25/8) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Quyết định số 3099/QĐ-UBND phê duyệt Phương án hỗ trợ cây giống lâm nghiệp trồng rừng, trồng phân tán trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
Theo Phương án, hỗ trợ 100% cây giống lâm nghiệp (bao gồm chi phí vận chuyển đến các thôn nơi ô tô đến được, bốc dỡ cây và cấp phát cho đối tượng được hỗ trợ).
Đối tượng được hỗ trợ là hộ dân miền núi thực hiện việc nhận khoán bảo vệ rừng chi trả DVMTR trên địa bàn (gọi tắt là hộ).
Điều kiện được hỗ trợ là các hộ nhận khoán chi trả DVMTR; có diện tích đất để trồng rừng, trồng phân tán (có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc giấy xác nhận của địa phương) theo đám hoặc theo dãi; và có đơn đề nghị hỗ trợ cây giống và cam kết trồng rừng cây gỗ lớn, đúng quy trình kỹ thuật, đúng số lượng.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Quảng Nam làm chủ đầu tư đối với nguồn vốn phân bổ cho cây Keo lai nuôi cấy mô: 1.648 tỷ đồng. Các Ban Quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng làm chủ đầu tư đối với nguồn vốn phân bổ cho cây Keo tai tượng Úc (gieo tạo từ hạt): 3.296 tỷ đồng.
Thời gian thực hiện hỗ trợ cây giống lâm nghiệp là 5 năm, từ năm 2017 đến 2021. Các đơn vị được giao làm chủ đầu tư xây dựng tiến độ thực hiện dựa trên tổng vốn được giao và số lượng đăng ký của hộ gia đình. Trường hợp thực hiện không hết năm kế hoạch hoặc nguồn vốn còn dư do giảm trừ qua đấu thầu thì chuyển sang năm sau thực hiện.
UBND tỉnh giao các đơn vị làm chủ đầu tư có trách nhiệm triển khai phương án; xây dựng tiến độ thực hiện, phối hợp với địa phương triển khai cho hộ đăng ký cây trồng, tổng hợp gói thầu, lập hồ sơ và tổ chức thực hiện đấu thầu sản xuất cây giống theo quy định hiện hành và nội dung Phương án này; giao nhận cây đến hộ, theo dõi quá trình giao nhận cây giống tại các địa phương, kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện trồng rừng sau khi cấp phát cây giống và thanh quyết toán theo quy định hiện hành. Báo cáo kết quả thực hiện của năm kế hoạch về Sở Nông nghiệp và PTNT trước ngày 15/3 năm sau.
UBND các huyện chỉ đạo Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện phối hợp với các chủ đầu tư để tổ chức thực hiện Phương án trên địa bàn huyện; hướng dẫn kỹ thuật trồng cây cho hộ gia đình; kiểm tra, báo cáo tình hình thực hiện trồng rừng trên địa bàn huyện.
UBND xã, Ban nhân dân thôn tham gia giao nhận cây giống và cấp phát cho hộ; Phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện hướng dẫn kỹ thuật trồng cây cho hộ gia đình; Kiểm tra tình hình giao nhận, bảo quản cây giống, đôn đốc các hộ trồng ngay sau khi nhận về, không để lưu vườn quá 3 ngày; Kiểm tra, báo cáo kết quả trồng cây tại địa phương; theo dõi hộ gia đình chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng rừng.
Hộ gia đình nhận cây giống có trách nhiệm trồng và chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật, định kỳ báo cáo kết quả rừng trồng với Ban nhân dân thôn; cam kết trồng rừng thành cây gỗ lớn mới được phép khai thác.
Sở Nông nghiệp và PTNT chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra việc tổ chức triển khai thực hiện Phương án này của các đơn vị, địa phương có liên quan theo quy định; báo cáo kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai và kết quả thực hiện theo định kỳ hằng năm về UBND tỉnh để theo dõi, chỉ đạo giải quyết. (Quangnam.gov.vn 25/8) đầu trang(
Từ năm 2008, Nhà nước đã có chính sách khuyến khích người dân trồng rừng sản xuất gỗ lớn theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg nhằm tăng thu nhập cho người làm nghề rừng, đặc biệt là bà con đồng bào vùng cao, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường, sinh thái. Tuy nhiên sau 10 năm triển khai chính sách này vẫn chưa thực sự được người dân vùng cao hưởng ứng.
Trồng rừng không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho các hộ gia đình mà còn tăng độ che phủ, bảo vệ môi trường, giữ đất chống xói mòn, giữ nước ngầm ở vùng đồi núi. Hiệu quả của rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ đã được khẳng định song đến nay việc triển khai ở các địa phương không dễ.
Tại Nghệ An trồng rừng là nghề chủ lực của tỉnh nhưng theo thống kê trong trên 160.000 ha rừng nguyên liệu, diện tích rừng gỗ lớn có khoảng trên 4.000 ha, tập trung ở một số huyện Nghĩa Đàn - Con Cuông, Tương Dương...Theo Sở NN&PTNT tỉnh Nghệ An việc trồng rừng gỗ lớn đang còn khó khăn bởi đòi hỏi thời gian chăm sóc, bảo vệ dài tối thiểu gấp đôi trồng rừng gỗ nhỏ, dẫn đến quá trình được khai thác, thu hồi vốn đầu tư lâu, trong khi đó điều kiện người dân còn rất khó khăn, nhu cầu cuộc sống luôn cần tiền để trang trải.
Bên cạnh đó, việc vay vốn để đầu tư trồng mới rừng gỗ lớn không hề dễ dàng. Mặc dù Nhà nước có những chế tài, chính sách tín dụng để phát triển lâm nghiệp, tuy nhiên thực tế các ngân hàng thường ngại cho vay về lĩnh vực này vì rủi ro cao, thời gian trả nợ kéo dài. Đây thực sự là một khó khăn lớn đối với người trồng.
Tương tự tại Quảng Nam dù Quyết định 147 được xem là chính sách đầu tiên khuyến khích người dân trồng rừng sản xuất gỗ lớn, nhưng 10 năm qua các huyện miền núi trong tỉnh vẫn chưa hào hứng thực hiện. Nguyên nhân theo Nghị định số 75/2011/NĐ-CP quy định danh mục các dự án được vay tín dụng đầu tư của Nhà nước không đề cập các dự án liên quan đến lâm nghiệp.
Văn bản này quy định chỉ có tổ chức, doanh nghiệp mới được vay tín dụng đầu tư. Về tín dụng xuất khẩu, nghị định cũng quy định sản phẩm hàng mây tre đan, đồ gỗ xuất khẩu thuộc danh mục mặt hàng được vay vốn tín dụng xuất khẩu, còn các hoạt động chế biến lâm sản khác và trồng rừng gỗ lớn không thuộc danh mục các dự án được vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước. Đây chính là rào cản khiến người dân không mấy mặn mà với chủ trương trồng gỗ lớn.
Phản ánh từ nhiều địa phương cũng cho thấy, quy hoạch quỹ đất để trồng rừng sản xuất còn khá hạn chế, manh mún, thậm chí đan xen giữa các chủ rừng nhà nước và hộ gia đình cũng như giữa các loại rừng với nhau. Điểm bất lợi thứ hai là trồng rừng gỗ lớn có chu kỳ kinh doanh dài trong khi thủ tục vay vốn từ các ngân hàng còn khó khăn, thời gian cho vay ngắn, khó tiếp cận, do đó, các doanh nghiệp và hộ gia đình thường trồng rừng gỗ nhỏ để xoay vòng vốn nhanh.
Khó khăn tiếp theo là vấn đề cơ sở hạ tầng lâm nghiệp và quản lý giống. Hiện Việt Nam chưa xây dựng được các vùng cung cấp nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến gỗ cũng như hệ thống đường lâm nghiệp và các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho các vùng chuyên canh trồng rừng.
Để khuyến khích người dân trồng rừng gỗ lớn Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhưng đến nay những chính sách ấy đã bộc lộ bất cập khiến người dân khó tiếp cận được.
Đơn cử như theo Điều 5 Quyết định 147 quy định điều kiện nhận hỗ trợ đầu tư trồng rừng là “đối với chủ rừng thì phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đối với doanh nghiệp nhà nước phải là đất trồng rừng sản xuất đã được giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng ổn định lâu dài (50 năm)” – điều này khiến các hộ rất khó tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ. Thêm vào đó, mức hỗ trợ 3 triệu đồng/ha cho trồng rừng gỗ lớn và 2 triệu đồng/ha cho trồng rừng gỗ nhỏ là quá thấp, thủ tục phức tạp nên không hấp dẫn các hộ gia đình.
Năm 2011, Chính phủ ban hành Quyết định số 66/2011/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung Quyết định 147/2007/QĐ-TTg theo hướng nâng mức hỗ trợ trồng rừng gỗ lớn lên 4,5 triệu đồng/ha. Riêng với các hộ gia đình thuộc 63 huyện nghèo, mức hỗ trợ được nâng từ 5 triệu đến 10 triệu đồng/hà (theo Quyết định số 2621/QĐ-TTg ngày 31/12/2012).
Đặc biệt theo Quyết định 38/2016/QĐ-TTg - Bảo vệ, phát triên rừng và hớ trợ kết cấu hạ tầng các công ty nông, lâm nghiệp đã nâng mức hỗ trợ lên 8 triệu đồng/há chộ hộ gia đình trồng các loài cây sản xuất gỗ lớn (khai thác sau 10 năm tuội) tuy nhiên những định mức này cũng chưa thực sự khuyến khích người dân trồng rừng gỗ lớn.
Theo đơn giá trồng rừng hiện nay (ở khu vực khó khăn trung bình), các hộ phải bỏ ra tổng chi phí 25 – 30 triệu đồng/ha/7 năm (đối với cây chu kỳ kinh doanh ngắn), bao gồm: chi phí chuẩn bị trồng rừng, giống, phân bón, nhân công, tiền chăm sóc cho 3 năm đầu, tiền bảo vệ rừng cho các năm tiếp theo đến khi khai thác.
Đối với khu vực khó khăn như vùng dân tộc, miền núi, chi phí trồng rừng còn cao hơn rất nhiều. Do đó, phần kinh phí còn thiếu để trồng rừng, các hộ gia đình phải đi vay để bù vào, mặc dù được vay ưu đãi, song khoản chi phí này vẫn là gánh nặng cho các hộ nghèo, đặc biệt đối với các hộ trồng rừng có chu kỳ kinh doanh dài với nhiều rủi ro.
Để thu hút người dân, đặc biệt người dân tộc thiểu số trồng rừng gỗ lớn, đại diện Ban Dân tộc HĐND tỉnh Quảng Nam cho rằng, cần sửa đổi các chính sách hiện hành về vay vốn tín dụng ưu đãi theo hướng tạo điều kiện thuận tiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ lớn. Nhà nước chỉ hỗ trợ kinh phí cho giống, khuyến lâm, phát triển hạ tầng vùng lâm sinh, chuyển sang hình thức cho vay ưu đãi để trồng rừng gỗ lớn chứ không nên hỗ trợ vốn cho không để trồng rừng sản xuất.
Đồng tình ý kiến nhiều địa phương cũng cho rằng, cần sửa đổi các chính sách hiện hành về vay vốn tín dụng ưu đãi, thuận tiện cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân vay vốn đầu tư trồng rừng sản xuất gỗ lớn. Ngoài việc hỗ trợ kinh phí cho giống, khuyến lâm và cơ sở hạ tầng, không nên hỗ trợ vốn cho không để trồng rừng sản xuất mà nên chuyển sang hình thức cho vay ưu đãi để trồng rừng gỗ lớn. (Đại Đoàn Kết 27/8) đầu trang(
Sáng 26-8, tại xã Long Sơn, TP. Vũng Tàu, Sở NN-PTNT đã tổ chức lễ phát động trồng rừng ngập mặn tại phần rừng phòng hộ thuộc xã Long Sơn, TP. Vũng Tàu. Các đồng chí: Nguyễn Thị Yến, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; Lê Tuấn Quốc, Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 100 đoàn viên thanh niên, cán bộ, công chức, viên chức các sở, ban, ngành đã tham dự lễ phát động.
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Lê Tuấn Quốc nhấn mạnh vai trò quan trọng của rừng ngập mặn trong bảo vệ vùng bờ biển, cửa sông, hạn chế xói lở và giảm nhẹ hậu quả thiên tai. Vì vậy, việc phát động trồng rừng ngập mặn là hành động thiết thực, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong mọi tầng lớp nhân dân về công tác bảo vệ, phát triển rừng, tạo mảng xanh bảo vệ môi trường và phục vụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội bền vững.
Dịp này, các đại biểu, đoàn viên thanh niên, cán bộ, công chức, viên chức đã cùng các lực lượng của Sở NN-PTNT trồng 15.000 cây đước trên diện tích 2ha rừng ngập mặn thuộc phần rừng phòng hộ trên địa bàn xã Long Sơn. (Báo BR-VT 26/8) đầu trang(
Phát triển rừng sản xuất kinh doanh gỗ lớn không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế cao mà còn tăng khả năng phòng hộ của rừng, nhất là giảm xói mòn, chống sạt lở, rửa trôi đất..., góp phần quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái và chống biến đổi khí hậu.
Ông Phạm Hồng Thái, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết, mặc dù có rất nhiều tiềm năng, thế mạnh để phát triển lâm nghiệp và có sức cạnh tranh lớn về kinh tế rừng, nhưng hiện nay, rừng trồng ở tỉnh ta phần lớn là rừng sản xuất kinh doanh gỗ nhỏ. Sản phẩm gỗ chủ yếu cung cấp nguyên liệu sản xuất dăm giấy, hiệu quả lại không cao. Với 1 ha rừng trồng, bình thường sau 5 năm cho thu hoạch được 80-90m3 gỗ và chỉ bán được khoảng 50 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu cải tạo thành rừng gỗ lớn, sau 5 đến 7 năm nữa sẽ thu về từ 350-500 m3 gỗ và giá trị tăng lên rất nhiều lần. Gỗ keo, tràm có thể làm các vật dụng trong nhà tốt như một số loại gỗ trong rừng tự nhiên. Thêm vào đó, hiện nay, nguyên liệu chế biến dăm giấy lại dư thừa, thị trường và giá thành tiêu thụ có xu hướng giảm, dẫn đến đời sống người làm rừng khó khăn...
Với mục đích để nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích rừng trồng, đáp ứng tăng thu nhập, xóa nghèo và góp phần xây dựng nông thôn mới, trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với các ngành, địa phương từng bước chuyển đổi cơ cấu sản phẩm gỗ rừng trồng từ khai thác gỗ non phục vụ chế biến dăm xuất khẩu sang kinh doanh gỗ lớn phục vụ chế biến tinh, sâu, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh sản phẩm trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Đồng thời, Chi cục đẩy mạnh tổ chức sản xuất dưới nhiều hình thức theo hướng mở rộng, hợp tác, liên doanh, liên kết giữa các hộ gia đình, cá nhân và doanh nghiệp nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm hàng hóa sử dụng gỗ rừng trồng, góp phần tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân sống bằng nghề rừng. Hơn thế nữa, phát triển rừng gỗ lớn không chỉ mang lại mục tiêu lợi ích về kinh tế cao mà còn tăng tính phòng hộ của rừng, như: giảm xói mòn, chống sạt lở, rửa trôi đất..., góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và chống biến đổi khí hậu.
Vì vậy, các địa phương, đơn vị trên toàn tỉnh đang tập trung xây dựng phương án và thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển rừng trồng kinh doanh gỗ lớn giai đoạn 2014-2020 theo kế hoạch với diện tích 2.000 ha; thực hiện quy hoạch phát triển cao su trên toàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 với diện tích 6.000 ha trên đất lâm nghiệp, bình quân mỗi năm trồng được 1.000 ha.
Bên cạnh đó, các địa phương, đơn vị cũng đẩy mạnh chuyển hóa rừng trồng cây mọc nhanh cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn; áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh để nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng. Đặc biệt, cần chú trọng việc cải tạo rừng tự nhiên là rừng sản xuất nghèo kiệt để trồng rừng theo hướng thâm canh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giá trị sản xuất lâm nghiệp.
Theo đó, loài cây đưa vào trồng rừng kinh doanh gỗ lớn là cây mọc nhanh, như: keo các loại, cây bản địa sinh trưởng nhanh: huỵnh, lát hoa...
Để đạt được mục tiêu đó, theo ông Phạm Hồng Thái, các địa phương trên địa bàn tỉnh cần tăng cường công tác tuyên truyền nhằm thay đổi căn bản nhận thức của người dân về hiệu quả việc trồng rừng kinh doanh gỗ lớn đối với sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp và nâng cao thu nhập, đời sống của người dân, từ đó, vận động người dân thực hiện tổ chức sản xuất rừng gỗ lớn một cách có hiệu quả.
Các địa phương cũng cần triển khai các chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực lâm nghiệp, như: hỗ trợ đầu tư và tín dụng để khuyến khích các thành phần kinh tế trồng rừng gỗ lớn, xây dựng các cơ sở chế biến gỗ...; hỗ trợ để cấp chứng chỉ rừng bền vững đối với rừng gỗ lớn.
Đặc biệt, cần ghép các nguồn vốn để triển khai thực hiện các mô hình trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và mô hình chuyển hóa rừng trồng cây mọc nhanh, cung cấp nguyên liệu gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn. Đồng thời, cần tranh thủ hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật của các dự án lâm nghiệp để xây dựng thí điểm các mô hình quản lý rừng trồng bền vững đối với tổ chức, nhóm hộ gia đình, cá nhân.
Ngoài ra, để khắc phục tình trạng trồng rừng manh mún, các địa phương cần quan tâm thành lập các hợp tác xã lâm nghiệp, từ đó, có cơ sở làm "bà đỡ" để phát triển lâm nghiệp nói chung và trồng rừng gỗ lớn nói riêng.
Một vấn đề quan trọng nữa là tỉnh cần có chính sách thu hút, khuyến khích các đơn vị đầu tư trong lĩnh vực chế biến gỗ có công nghệ cao và chế biến tinh, sâu, tận dụng được nguyên liệu nhằm tăng giá trị sản phẩm gỗ. Các địa phương, các ngành chức năng cần tiếp tục chú trọng đầu tư và đổi mới nội dung công tác khuyến lâm; thúc đẩy người dân, các tổ chức áp dụng tiến bộ khoa học, các biện pháp kỹ thuật, đưa các giống mới vào sản xuất thâm canh để rừng đạt tiêu chuẩn, chất lượng.
Hiện nay, một số tỉnh lân cận, như: Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, đã triển khai thực hiện trồng rừng gỗ lớn có hiệu quả. Ở tỉnh ta, một số địa phương cũng đã chú trọng tập trung trồng các loại cây bản địa, trồng rừng, cải tạo rừng trồng nguyên liệu thành rừng lấy gỗ lớn, điển hình có huyện Minh Hóa.
Ông Trần Mạnh Luật, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Minh Hóa cho biết: “Theo kế hoạch, trong năm 2017, huyện Minh Hóa quyết tâm chuyển đổi ít nhất 150 ha rừng trồng tập trung sang rừng lấy gỗ lớn. Huyện đã vận động nhân dân thực hiện thâm canh rừng trồng trên cơ sở áp dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, cải tạo rừng trồng nguyên liệu làm rừng gỗ lớn. Mỗi địa phương trong huyện thực hiện được ít nhất 10ha.
Bên cạnh đó, UBND huyện Minh Hóa cũng có quyết định hỗ trợ cho mỗi ha rừng trồng nguyên liệu sang rừng lấy gỗ lớn là 2 triệu đồng. Ngoài việc chỉ đạo cải tạo rừng trồng nguyên liệu sang rừng gỗ lớn, huyện Minh Hóa còn chỉ đạo bà con nhân dân đẩy mạnh trồng các loại cây bản địa có giá trị kinh tế cao, trồng keo các loại theo kiểu rừng lấy gỗ ở những khu vực xa đường giao thông, đồi núi cao để tận dụng hết quỹ đất; đẩy mạnh khoanh nuôi, bảo vệ rừng tự nhiên để làm giàu cho các thế hệ sau.
Trên cơ sở đó, Minh Hóa phấn đấu đưa diện tích rừng trồng gỗ lớn ngày càng tăng, gồm những giống cây có giá trị kinh tế cao và cây bản địa. Huyện cũng đồng thời có chính sách hỗ trợ để xây dựng được 3 đến 5 vườn ươm giống cây keo, vườn ươm cây bản địa, giải quyết việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn”.
"Có thể thấy, đẩy mạnh trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh là việc khai thác có hiệu quả tiềm năng, giá trị của rừng nhằm vừa bảo đảm vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, vừa góp phần phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng-an ninh và xây dựng nông thôn mới"- ông Phạm Hồng Thái nhấn mạnh thêm. (Báo Quảng Bình 25/8) đầu trang(
Việc trồng rừng theo Quyết định 661 của Thủ tướng Chính phủ (Dự án 661), được huyện Bắc Mê (Hà Giang) triển khai từ năm 2008 đến 2011, với diện tích trồng rừng là 1.207,4ha.
Một số cán bộ của Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Bắc Mê cùng cán bộ nông - lâm nghiệp tuyến xã của huyện này có chung cách nhận xét: Việc giao đất, giao kế hoạch trồng rừng ồ ạt cho dân, dẫn đến mạnh ai nấy làm, công tác kiểm tra, giám sát và hướng dẫn trồng rừng chưa được cụ thể, người dân lấy bầu cây về trồng thường không đúng kỹ thuật, có người còn trồng nguyên cả bao bầu giống, nên trồng được một thời gian cây còi cọc và tự chết.
Một số khu rừng trồng xuống không được chăm sóc, phát cỏ trong 2 năm đầu, nên cây cỏ dại và dây leo bủa vây, cây rừng rất khó sống sót. Còn những diện tích trồng nơi đồi thấp lại bị trâu, bò, dê phá hoại, dẫn đến tỷ lệ cây sống sót cũng rất ít.
Việc giao đất trồng rừng không được giám sát kỹ, dẫn tới một số hộ gia đình đăng ký nhận đất trồng rừng, nhưng thực tế lại trồng các loại cây lương thực ngắn ngày như ngô, lúa, đỗ, sắn, bí… Vì người dân thấy lợi ích từ rừng thấp, chủ yếu là cây gỗ rẻ tiền như keo, mỡ với thời gian sinh trưởng khá lâu, mỗi chu kỳ từ 8 đến 10 năm mới được thu hoạch, trong khi vốn duy trì trồng rừng không có.
Đã vậy đến khi được khai thác gỗ cũng gặp nhiều khó khăn, từ thủ tục xin khai thác, đến thuê nhân công chặt hạ cây trong rừng sâu, rồi đến khâu vận chuyển tiêu thụ, cùng với việc bị tư thương ép giá, thường gây thiệt thòi cho người trồng rừng, do đó việc trồng rừng sản xuất theo Dự án 661 tại Bắc Mê chưa nhận được sự quan tâm của người dân.
Từ chỗ không được sự ủng hộ từ người dân, dẫn đến sự thất bại nặng nề của việc trồng rừng theo Dự án 661 tại huyện Bắc Mê đã được chỉ rõ, bởi sau khi kiểm tra, xác minh rừng tại 10/13 xã trồng rừng theo dự án 661, với diện tích 1.207,4ha, nhưng đến năm 2016 đã không có cây rừng (gọi là mất trắng). Riêng xã Minh Sơn có diện tích rừng mất trắng nhiều nhất là 227ha. (Nông Nghiệp VN 25/8) đầu trang(
Nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng trồng, rừng ngập mặn trên địa bàn Hà Tĩnh đang bị suy kiệt vì thiếu vốn đầu tư phát triển rừng. Đáng chú ý là do không có kinh phí để khoán cho người dân địa phương chăm sóc, nên 835 ha rừng phòng hộ mới trồng trong 3 năm qua ở nhiều địa phương cũng đang đối diện với nguy cơ xóa sổ.
Năm 2017, Hà Tĩnh được Bộ NN&PTNT giao: Bảo vệ rừng phòng hộ 30.700 ha, bảo vệ rừng đặc dụng 51.571 ha; trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 300 ha; trồng rừng thay thế 642 ha; trồng rừng sản xuất 6.000 ha; trồng rừng ngập mặn 90 ha; trồng rừng chắn gió, chắn cát 40 ha; chăm sóc 12.020 ha rừng; trồng phân tán 2 triệu cây.
Theo định mức quy định tại Quyết định số 38 ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, thì để thực hiện được các chỉ tiêu nhiệm vụ trên cần 228 tỷ đồng. Trong đó, nguồn kinh phí huy động từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và các chương trình dự án là 153,5 tỷ đồng. Số kinh phí cần hỗ trợ từ nguồn ngân sách là 74,5 tỷ đồng.
Nhưng đến nay, nguồn ngân sách chỉ mới cấp được 12,1 tỷ đồng. Nguyên nhân là đến ngày 30/9/2016 vốn đầu tư phát triển rừng năm 2016 mới chỉ giải nhân được 30%, do đó thực hiện nghị quyết 60 của Thủ tướng Chính phủ, Trung ương đã không bố trí kế hoạch vốn năm 2017 để các địa phương sử dụng hết nguồn vốn năm 2016.
Hệ quả, đến nay các chủ rừng thực sự lao đao vì không được chuyển kinh phí hoạt động theo kế hoạch năm 2017. (Đài PTTH Hà Tĩnh 27/8) đầu trang(
Đó là một trong những đề nghị của đồng chí Hà Ngọc Chiến – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Trưởng Đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội trong buổi giám sát thực hiện các chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006-2016 tại tỉnh Lai Châu vừa qua (24/08).
Làm việc với Đoàn, về phía tỉnh Lai Châu có các đồng chí: Vũ Văn Hoàn – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Đỗ Ngọc An – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Tống Thanh Bình – Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh; đại diện lãnh đạo một số sở, ngành liên quan…
Lai Châu là tỉnh miền núi, biên giới còn nhiều khó khăn với 8 đơn vị hành chính cấp huyện và 265,095km đường biên giới giáp với Trung Quốc. Tỉnh có vai trò, vị trí hết sức quan trọng với hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn sông Đà, góp phần phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Sau 10 năm triển khai thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi, tỉnh Lai Châu đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Theo đó, tỉnh đã ban hành Quyết định số 1405/QĐ-UBND, ngày 9/10/2007 về việc phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch 3 loại rừng cùng nhiều văn bản khác nhằm triển khai, tổ chức và chỉ đạo thực hiện các chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình. Công tác phổ biến, tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng; các văn bản dưới luật cũng được tỉnh quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng. Từ đó, nhận thức của cộng đồng dân cư, hộ gia đình trong bảo vệ và phát triển rừng được nâng lên rõ rệt.
Về kết quả giao đất, giao rừng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 – 2016: Tổng diện tích đất rừng của tỉnh tính đến hết ngày 31/12/2016 là 680.664,83ha, trong đó, đất có rừng là 389.266,57ha; đất không có rừng 291.389,26ha. Các loại đất rừng đã giao cho tổ chức, doanh nghiệp gồm: các Ban Quản lý dự án Rừng phòng hộ 316.541,33ha; UBND các xã quản lý 204.367ha; các tổ chức kinh tế 6.028,1ha; cộng đồng dân cư 89.540,44ha; hộ gia đình, cá nhân 64.187,96ha. Tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh trong giai đoạn 2006 – 2016 tăng từ 37,7% lên 46,8%, tăng 9,1%.
Công tác quản lý, bảo vệ rừng của các tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình được thực hiện tốt hơn sau khi nhận giao khoán. Góp phần tạo niềm tin của Nhân dân với Đảng, chính quyền các cấp; hạn chế tình trạng di dân tự do, sản xuất tự phát, manh mún, thay đổi tập quán canh tác của người dân. Tạo công ăn việc làm ổn định, nâng cao nhận thức của người dân về những tác dụng của rừng. Tỷ lệ che phủ rừng không ngừng được nâng lên, thực hiện mục tiêu phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, chống sạt lở đất, hạn chế xói mòn, rửa trôi; bảo vệ an toàn và tích nước cho các công trình thủy điện, thủy lợi và nguồn nước sinh hoạt của người dân.
Sau khi nghe báo cáo của tỉnh, các thành viên Đoàn giám sát đề nghị tỉnh làm rõ một số nội dung: Phân tích, đánh giá hiệu quả giao rừng cho các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp; số liệu trong báo cáo của huyện Sìn Hồ, Phong Thổ và của tỉnh có sự chênh lệch khá lớn. Qua thực tế giám sát, hầu hết đất rừng chủ yếu là rừng phòng hộ được giao cho các Ban Quản lý Rừng phòng hộ, chưa giao cho hộ gia đình, cá nhân, người dân chưa phải chủ rừng có ảnh hưởng gì đến công tác bảo vệ và phát triển rừng hay không; nguyên nhân một bộ phận người dân địa phương chưa thiết tha với việc trồng rừng; đánh giá hiệu quả việc giao đất, giao rừng của các Ban Quản lý Rừng phòng hộ và UBND các xã; 13 chốt bảo vệ rừng được xây dựng và hoạt động có trích từ tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng hay không… Đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan đã giải đáp, làm rõ và cung cấp thêm thông tin cho Đoàn.
Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Đỗ Ngọc An – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: sau 10 năm thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, ý thức của người dân, cộng đồng được nâng lên rõ rệt, bằng chứng là tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh tăng đều qua các năm; đời sống của người dân được nâng cao, đặc biệt kể từ sau khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Thời gian tới, những nơi rừng có thể tái sinh, trồng được rừng, tỉnh sẽ tiếp tục có chính sách hỗ trợ người dân trồng rừng theo các quy định của nhà nước. Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh cũng kiến nghị với Đoàn: tăng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng để nâng mức sống của người dân khu vực có rừng, tăng phí khoanh nuôi, bảo vệ, trồng rừng lên 1 triệu đồng/ha để khuyến khích người dân trồng rừng; có chính sách phù hợp vừa phát triển được rừng, vừa đảm bảo cuộc sống người dân.
Kết luận buổi giám sát, đồng chí Hà Ngọc Chiến – Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Uỷ viên Ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc Quốc hội đánh giá cao sự chuẩn bị của tỉnh và các huyện cho chương trình giám sát của Đoàn. Qua các buổi giám sát, đồng chí cũng cho rằng: Lai Châu có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước khu vực đầu nguồn cho đồng bằng sông Hồng, việc quy hoạch, bảo vệ rừng không chỉ cho tỉnh mà còn cho cả nước.
Đồng chí cũng đề nghị, tỉnh cần nghiên cứu việc giao đất cho các hộ gia đình để đẩy mạnh việc trồng rừng, bảo vệ rừng, người dân hưởng lợi từ rừng theo đúng quy định; giải quyết dứt điểm các vụ việc liên quan đến giao đất, giao rừng trước thời điểm 2005; vấn đề tuyên truyền cần được thực hiện thường xuyên; tỉnh nên tổ chức Hội nghị tổng kết về giao đất, giao rừng, nhất là thời điểm chuẩn bị sửa đổi, bổ sung luật mới về bảo vệ và phát triển rừng; đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng đến cộng đồng dân cư và hộ gia đình, nhất là đối với tỉnh có vị trí quan trọng về nguồn nước như Lai Châu.
Các ý kiến kiến nghị của tỉnh, Đoàn sẽ tiếp thu và kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành liên quan xem xét, giải quyết cho tỉnh. (Bảo Vệ Rừng & Môi Trường 24/8) đầu trang(
Thời gian qua, mặc dù phải đối diện với nhiều thách thức, song các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh đã nỗ lực vượt khó, từng bước ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và đạt được những kết quả khả quan, tạo tiền đề xây dựng thương hiệu “Ðồ gỗ Bình Ðịnh”.
Theo ông Lê Minh Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định (FPA Bình Định), những năm gần đây, các doanh nghiệp (DN) chế biến gỗ và lâm sản (CBG-LS) xuất khẩu trên địa bàn tỉnh gặp nhiều khó khăn, nhất là những “rào cản kỹ thuật” do các nước nhập khẩu áp đặt, trong đó có những quy định của chuỗi hành trình sản phẩm FSC-CoC, Hiệp định VPA/FLEGT… Tuy nhiên, đây không chỉ là “rào cản kỹ thuật” mà cũng là cơ hội đối với các DN CBG-LS. Vì vậy, ngoài việc củng cố, sắp xếp lại dây chuyền sản xuất, các DN đã nỗ lực cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm theo chuẩn mực, quy định quốc tế… Kết quả, theo thống kê, tháng 8.2017, chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành CBG-LS tăng 9% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm, chỉ số này tăng 4,4%, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 13%.
Còn theo ông Lê Vỹ, Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Phú Tài, thời gian qua, cũng như nhiều DN CBG-LS trên địa bàn, hoạt động sản xuất kinh doanh của Phú Tài gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, bên cạnh sắp xếp lại bộ máy nhân sự, dây chuyền sản xuất, Công ty tăng cường kiểm soát các công đoạn chế biến gỗ theo chuẩn mực quốc tế và những quy định về FSC-CoC, Hiệp định VPA/FLEGT… Kết quả, 8 tháng đầu năm 2017, giá trị kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty Phú Tài đạt gần 15,2 triệu USD, tăng 53,5% so với cùng kỳ năm 2016.
Ngoài Tổng Công ty Phú Tài, trên địa bàn tỉnh còn có khá nhiều DN CBG-LS có giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng khá so với cùng kỳ, như: Công ty CP Kỹ nghệ gỗ Tiến Đạt (đạt 14,282 triệu USD, tăng 40,2%); Công ty CP Công nghệ gỗ Đại Thành (gần 8,5 triệu USD, tăng 27,3%); Công ty TNHH Thế Vũ (trên 3,95 triệu USD, tăng gấp 2,25 lần)…
Theo ông Lê Minh Thiện, mục tiêu của ngành CBG-LS giai đoạn 2017-2020 là phấn đấu đạt tăng trưởng bình quân hàng năm 5 - 10%; đến năm 2020 đạt tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 450 triệu USD; tăng dần cơ cấu đồ gỗ nội thất đạt khoảng 35 - 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Bình Định. Mục tiêu trọng tâm của FPA Bình Định là quyết tâm xây dựng, phát triển ngành CBG-LS bền vững với thương hiệu “Đồ gỗ Bình Định”.
Thực hiện mục tiêu trên là không hề đơn giản, bởi theo nhận định của các chuyên gia trong lĩnh vực CBG-LS, các DN Việt Nam đang phải đối diện với 4 thách thức về nguồn nguyên liệu gỗ, là: Áp lực nguồn cung; chất lượng gỗ rừng trồng trong nước; gỗ có chứng chỉ rừng (FSC, PEFC); nguồn cung cấp gỗ trong tương lai gần.
Ông Lê Minh Thiện cho rằng, trước 4 thách thức trên, FPA Bình Định đã đề ra một số giải pháp nhằm vượt qua khó khăn, tiếp tục đưa ngành CBG-LS phát triển bền vững, như: Tập trung chuyển đổi và phát triển sản xuất đồ gỗ nội thất theo chính sách hỗ trợ của UBND tỉnh, tăng năng lực chuyên môn hóa và tự động hóa trong sản xuất. Vận dụng linh hoạt các chính sách khuyến khích, ưu đãi của Chính phủ và UBND tỉnh để tăng mức độ liên kết và hiệu quả của ngành gỗ với các ngành hỗ trợ (nguyên liệu, máy móc, phụ kiện bao bì, hóa chất, dịch vụ, logistic…), bảo đảm nâng dần vị thế cạnh tranh của ngành gỗ trong chuỗi sản phẩm gỗ và lâm sản toàn cầu. Phát triển hệ thống trách nhiệm giải trình cấp Hiệp hội và tìm kiếm nguồn tài trợ từ các tổ chức, chương trình liên quan. Xây dựng hệ thống dữ liệu ngành gỗ Bình Định, kết nối với một số hiệp hội gỗ trong nước để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của hội viên. Hợp tác thực hiện các dự án xúc tiến thương mại và xuất khẩu đồ gỗ Bình Định cùng các dự án đào tạo, đổi mới công nghệ chế biến gỗ. (Báo Bình Định 27/8) đầu trang(
Đồng Nai: Dân kêu cứu vì 16 ha đất rừng được giao, khi thu hồi lại biến thành đất công không được bồi thường
Năm 1986, gia đình bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh được UBND huyện Long Thành giao đất trồng rừng. Nhưng khi có quyết định thu hồi đất làm KCN thì đất của gia đình bà lại thuộc diện tích đất công của UBND xã quản lý. Vì không được bồi thường, nhiều năm qua gia đình bà liên tục khiếu nại lên các cơ quan có thẩm quyền xem xét nhưng vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Theo đơn phản ánh của bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh (ngụ xã Tam Phước, Biên Hòa, Đồng Nai) gửi Pháp luật Plus cho hay: Năm 1986, ông Huỳnh Văn Hột, bà Nguyễn Thị Khiêm (cha, mẹ bà Oanh) và bà Huỳnh Thị Ngọc Oanh được UBND huyện Long Thành, giao 16 ha đất (diện tích hiện nay là 163.450m² gồm các thửa đất số 210, 254, 257, 258 tờ bản đồ số 04 thuộc xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai) theo Quyết định không số ngày 16/7/1986 và ngày 10/8/1986. Sau khi giao đất, gia đình bà đã tổ chức sản xuất trồng rừng ổn định không có tranh chấp với ai.
Ngày 12/9/1991, UBND xã An Phước ra quyết định đình chỉ việc sử dụng đất không đúng mục đích đối với ông Hột. Về điều này, bà Oanh cho biết: “Việc đình chỉ trồng cây trên không liên quan đến diện tích 16 ha mà gia đình tôi đang khiếu nại. Đồng thời, đối với việc giao đất trồng rừng trước đây đến nay vẫn chưa có quyết định thu hồi, cho nên không thể áp đặt việc đình chỉ sử dụng đất do UBND xã ban hành để làm căn cứ thu hồi đất nói trên là không có căn cứ”.
Ngày 12/6/1996, UBND huyện Long Thành ban hành quyết định số 352/QĐ.UBH giao đất trồng rừng sản xuất cho ông Đỗ Hồng Nhật trên diện tích đất trước đây đã được giao cho bà gia đình bà Oanh.
Tuy nhiên, sau đó UBND huyện Long Thành xác định việc giao đất cho ông Nhật là sai đối tượng nên ngày 18/12/2009 đã ban hành Quyết định số 5987/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 352/QĐ.UBH nêu trên. Gia đình bà Oanh tiếp tục canh tác trồng rừng, ổn định sản xuất từ đó đến nay, không tranh chấp.
Ngày 23/10/2002, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành quyết định số 3895/QĐ.CT.UBT thu hồi 1.297.263,5m² đất. Trong đó có 04 thửa đất mà bà Oanh đang khiếu nại.
Sau khi có quyết định thu hồi, gia đình bà Oanh có đơn xin quy chủ sử dụng đất để được bồi thường. Tuy nhiên, đất của gia đình bà Oanh được xác định là đất công do UBND xã quản lý nên không thể quy chủ để lập thủ tục bồi thường.
Từ đó, gia đình bà Oanh liên tiếp có đơn khiếu nại lên các cơ quan có thẩm quyền nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Trước đó, đã có những văn bản thể hiện đất của gia đình bà Oanh có cơ sở xem xét giải quyết và bồi thường theo quy định.
Cụ thể, tại Báo cáo số 466/BC-TTr ngày 10/12/2009 của Thanh tra huyện Long Thành, sau khi thẩm tra xác minh đã có báo cáo kết quả và kiến nghị: “Ban hành văn bản xác định diện tích 118.230m² thửa 254, cắt thửa 210 tờ bản đồ địa chính số 04 là thuộc quyền sử dụng của hộ bà Nguyễn Thị Khiêm. Giao cho UBND xã An Phước phối hợp với HĐBT huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư dự án Khu công nghiệp An Phước thực hiện việc thỏa thuận, bồi thường đối với hộ bà Nguyễn Thị Khiêm theo đúng quy định của pháp luật về đất đai”.
Sau đó, UBND huyện Long Thành tiếp tục ban hành các văn bản số 4360/UBND-NC và 4359/UBND-NC ngày 22/12/2009, về việc Quy chủ sử dụng đất thuộc dự án KCN An Phước. Văn bản này nhận định: “Việc bà Oanh có đơn xin quy chủ sử dụng đất đối với diện tích đất nói trên là có cơ sở xem xét giải quyết, vì bà Oanh được UBND huyện Long Thành giao đất trồng rừng từ năm 1986 và sử dụng ổn định, liên tục đến nay có ranh giới rõ ràng, không tranh chấp”.
Từ căn cứ trên, ngày 16/3/2010, UBND tỉnh Đồng Nai có Công văn số 1785/UBND-NC, về việc giải quyết đơn của bà Nguyễn Thị Khiêm. Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai có ý kiến: “Đề nghị Chủ tịch UBND huyện Long Thành kiểm tra và yêu cầu Chủ tịch UBND xã An Phước nghiêm túc thực hiện chỉ đạo của UBND huyện. Có quy định thời gian hoàn thành. Không để kéo dài gây bức xúc cho dân; Mọi sự chậm trể làm phát sinh khiếu nại phải được xử lý nghiêm theo quy định”.
Thế nhưng, không hiểu vì lý do gì UBND xã An Phước lại không thực hiện theo sự chỉ đạo trên. Bất ngờ, ngày 17/11/2011, UBND huyện Long Thành lại có văn bản số 3899/UBND-NC (văn bản 3899) về việc thu hồi văn bản số 4360/UBND-NC và 4359/UBND-NC, báo cáo số 136/BC-UBND của UBND huyện Long Thành.
Tại văn bản 3899 có nội dung: “Do quá trình sử dụng phần đất trên từ năm 1986 đến nay qua nhiều chủ sử dụng, với thời gian dài, cần có thời gian xác minh thêm chứng cứ, tài liệu lên quan để xử lý phù hợp”.
Như vậy có thể thấy, kể từ khi hộ gia đình bà Oanh được nhà nước giao đất quản lý và sử dụng liên tục, cho tới nay vẫn chưa có quyết định thu hồi từ cơ quan chức năng. Do đó, cơ quan chức năng hoàn toàn có cơ sở công nhận quyền sử dụng đất của dân, tiến tới việc xem xét bồi thường.
Nếu cá nhân, cơ quan nào lấy đất đã được giao cho dân đang quản lý, sử dụng mà chưa có quyết định thu hồi để giao cho cá nhân, đơn vị khác sử dụng là hành vi gây tổn hại đến quyền lợi của dân, có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Liên quan vụ việc trên, ngày 11/8, phóng viên đã liên hệ với UBND tỉnh Đồng Nai về nội dung đề nghị làm rõ phản ánh của bà Oanh. Thế nhưng từ khi Văn phòng UBND tỉnh tiếp nhận thông tin đến nay đã gần nửa tháng trôi qua mà phóng viên vẫn chưa nhận được phản hồi từ phía chính quyền nơi đây. (Pháp Luật+ 25/8) đầu trang(
Hội đồng Dân tộc Quốc hội đã thực hiện chương trình giám sát chuyên đề về “Tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016” trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Từ năm 2006 – 2016, tỉnh Điện Biên đã rà soát 271.562,3ha đất lâm nghiệp, giao cho cộng đồng dân cư 262.249,45ha (đạt 97,57%); diện tích đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 261.717,86ha (đạt 99,8%). Trong đó: 1.135 cộng đồng được giao đất, giao rừng; 1.124 cộng đồng được cấp quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) (đạt 99%). Diện tích đã được giao cho hộ gia đình, cá nhân là 8.610,39 ha, đạt 3,17%; diện tích đã cấp GCNQSDĐ là 7.485,04 ha, đạt 86,93%. 3.372 hộ gia đình, cá nhân được giao; số hộ gia đình, cá nhân được cấp quyền sử dụng là 2.939, đạt 87,16%.
Cộng đồng và hộ gia đình khi được giao rừng đã được UBND các huyện, thị xã, thành phố công nhận quyền sử dụng rừng trên diện tích được giao quản lý; được hưởng chế độ chính sách từ chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo quy định. Sau khi được giao rừng, cộng đồng dân cư và hộ gia đình đã tổ chức thành lập Ban Quản lý rừng cộng đồng và tổ tuần tra bảo vệ rừng. Đa số các cộng đồng dân cư và hộ gia đình sau khi giao, sử dụng rừng đúng mục đích, đúng ranh giới và theo quy chế quản lý rừng.
Tuy nhiên, tại một số nơi diện tích rừng đã giao vẫn bị chặt phá chủ yếu do các nguyên nhân: Tập tục canh tác truyền thống nương luân canh; tình trạng dân di cư tự do nhiều diễn biến phức tạp nhu cầu sử dụng đất để làm nương tăng đột biến; tình trạng tranh chấp; năng lực quản lý của một số cộng đồng và hộ gia đình còn yếu. Việc khảo sát, đánh giá trữ lượng rừng trước khi giao rừng tại một số địa phương còn chưa chặt chẽ, còn nhiều bất cập dẫn đến sự sai lệch trữ lượng rừng, ảnh hưởng đến loại rừng và chất lượng rừng giữa hồ sơ và thực tế, ảnh hưởng đến quá trình hưởng lợi thành quả bảo vệ rừng sau khi giao.
Quá trình thực hiện giao đất, giao rừng chưa chặt chẽ ở một số nơi đã làm phát sinh mâu thuẫn về đất đai giữa các cộng đồng giáp ranh, một số cộng đồng đã kiến nghị chia lại rừng do số tiền nhận từ DVMTR có sự chênh lệch lớn. Một số nơi đất nông nghiệp xen kẽ với đất lâm nghiệp rất khó khăn trong công tác quản lý về phòng cháy, chữa cháy. Công tác quản lý bảo vệ rừng của một số cộng đồng dân cư và hộ gia đình chưa thực sự vào cuộc, chưa nghĩ đến việc sống bằng nghề rừng; công tác giao đất, giao rừng chỉ triển khai thực hiện được ở diện tích đất lâm nghiệp có rừng, còn diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng chưa giao được do chưa có nguồn kinh phí.
Trước những khó khăn, tồn tại, bất cập trong công tác giao đất, giao rừng, UBND tỉnh đề nghị Quốc hội nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng. Cụ thể, bổ sung hai nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng là: Công khai, minh bạch, có sự tham gia và đồng thuận (theo đa số) của cộng đồng dân cư sở tại; tuân theo quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Quy định cụ thể đối với các hộ gia đình, cá nhân có nguyện vọng thực hiện quyền thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng để liên doanh trong bảo vệ và phát triển rừng; quy định giao rừng cho cộng đồng không thuộc phạm vi địa bàn cấp xã (để phù hợp với thực tế và tôn trọng lịch sử để lại sau khi chia tách địa giới hành chính); bố trí kinh phí để thực hiện việc giao diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng.
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Nguyễn Lâm Thành đề nghị tỉnh tăng cường công tác chỉ đạo rà soát giao đất, giao rừng đối với từng loại đất. Bởi chỉ khi hoàn thành các thủ tục của hệ thống pháp lý thì chính sách mới đến được với người dân, từ đó xây dựng hướng sinh kế liên quan đến rừng phù hợp, hiệu quả; đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến từng người dân để bà con hiểu, ủng hộ trong xây dựng các hương ước, quy ước bảo vệ, phát triển rừng. Những kiến nghị, đề xuất của tỉnh sẽ được đoàn công tác tiếp thu, tổng hợp và báo cáo với Quốc hội nhằm tìm hướng giải quyết.
Trước đó, đoàn giám sát của Quốc hội đã làm việc trực tiếp với huyện Điện Biên Đông và huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên chuyên đề về chuyên đề “tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 – 2016″. (Môi Trường & Cuộc Sống 26/8) đầu trang(
Vừa qua, Hội nghị tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2016- nhiệm vụ, giải pháp 2017 của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đã diễn ra nhằm đánh giá những kết quả đạt được, cũng như những hạn chế cần khắc phục trong công tác quản lý.
Hội nghị được tiến hành trên địa bàn các xã thuộc vùng quản lý của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là một đơn vị sự nghiệp về lâm nghiệp, trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nghệ An. Tại kỳ họp, đã nêu lên những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ năm 2016 của Ban quản lý.
Theo đó, lãnh đạo Ban quản lý đã bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động phối hợp với các đơn vị hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu, kế hoạch giao; quản lý và sử dụng các nguồn vốn nhà nước đầu tư tiết kiệm, đúng chế độ hiện hành, đạt mục tiêu đề ra.
Căn cứ phương án quản lý bảo vệ, khoanh nuôi rừng giai đoạn 2016 – 2020 đã được phê duyệt, đơn vị đã tiến hành lập hồ sơ thiết kế giao khoán bảo vệ rừng theo các nguồn vốn với tổng diện tích 71.992,81 ha,đối với 2.248 hộ gia đình và 17 tổ chức nhận khoán.
Ban quản lý đã tổ chức 129 đợt tuần tra truy quét bảo vệ rừng tại gốc trong năm 2016, đẩy lùi các đối tượng khai thác lâm sản trái phép. Công tác phát triển rừng năm 2016 trên địa bàn toàn huyện, cũng được đẩy mạnh với tổng diện tích rừng tập trung trồng trong năm là 1.050 ha, trong đó có 800ha rừng sản xuất và 250 ha rừng phòng hộ.
Trong năm 2016, Ban quản lýđã tổ chức tuyên truyền nhiều nơi với số lượng hơn 50 cuộc tuyên truyền tập trung và hơn 60 cuộc tham gia lồng ghép vào các cuộc họp xã, thôn, bản và các tổ chức khác để nâng cao nhận thức của người dân về vai trò và lợi ích của công tác bảo vệ rừng, các quy định của Nhà nước về phòng cháy chữa cháy rừng... trên địa bàn 9 xã vùng đệm của Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
Nhìn chung, trong năm 2016, không xảy ra cháy rừng trên địa bàn.Công tác trồng rừng đã và đang được triển khai, diện tích rừng sản xuất đã trồng là 637,8/800 ha, diện tích rừng phòng hộ đã thực hiện là 113/250 ha.
Trong năm 2016, đơn vị đã tiến hành lập hồ sơ trình cấp có thẩm quyền công nhận quần thể sa mu dầu là quần thể cây di sản Việt Nam; tiến hành điều tra, giám sát đa dạng sinh học, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.
Lãnh đạo Ban quản lý đã chủ động, quan tâm chỉ đạo củng cố lực lượng tự vệ, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, tham gia và thực hiện tốt nội dung kết luận các cuộc giao ban các đơn vị trong khối nội chính; xây dựng kế hoạch ATLC-SSCĐ và tham gia các cuộc giao ban, do ban chỉ đạo cấp huyện tổ chức.
Ban quản lý cũng quan tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức. Tháng 4/2016, bộ phận chuyên môn phối hợp với bên công đoàn, tổ chức tham quan, du lịch, học hỏi kinh nghiệm tại Lào và Thái Lan cho 100% cán bộ,công nhân viênđơn vị tham gia.
Công tác làm việc của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đạt được những kết quả tích cực như vậyđó là do nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, ban, ngành,cơ quan, tổ chức trên địa bàn. Bộ máy làm việc được bố trí hợp lý, ổn định, nhiệm vụ kế hoạch năm 2016 được thông báo và triển khai đồng bộ, cán bộ, công chức, viên chức đồng thuận, tin tưởng vào chính sách của Đảng và Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác.Cơ sở vật chấtngày càng khang trang, đầy đủ, đáp ứng được nhu cầu phục vụ thực hiện công tác chuyên môn.
Mặc dù công tác thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch năm 2016 đạt được những kết quả tích cực, nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn cần khắc phục.
Một trong những khó khăn đó là diện tích quản lý rất lớn, chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở, chia cắt, trong khi đó, biên chế thiếu so với quy định. Tình hình khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trong vùng rừng quản lý vẫn còn diễn ra. Nhận thức về trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, của một bộ phận nhân dân chưa cao. Hiện trạng quy hoạch đất đai phục vụ sản xuất nông - lâm nghiệp trên địa bàn huyện còn nhiều bất cập…
Cũng tại hội nghị, Ban quản lýđã nêu lên phương hướng nhiệm vụ, giải pháp đặt ra trong năm 2017 nhằm phát huy hơn nữa những thành quả đạt được, khắc phục những hạn chế.Ban quản lý tiếp tục tập trung quán triệt sâu sắc những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Bám sát Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Quế Phong lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt lần thứ IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020. Chỉ đạo thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ, kế hoạch sản xuất còn lại của năm 2016, giữ vững an ninh quốc phòng trên địa bàn, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân viên trong toàn đơn vị.
Một số giải pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm 2017 - đã được nêu ra tại hội nghị.
Trước hết, tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, các sở, ban, nghành liên quan để phát huy các mặt mạnh và khắc phục một số yếu kém còn tồn tại; tăng cường công tác kiểm tra cơ sở, đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm các đề án, tập trung bám vào các chỉ tiêu, kế hoạch giao.
Đại diện chính quyền địa phương các xã cũng đã thống nhất, phối hợp chặt chẽ cùng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, thực hiện tốt các nhiệm vụ trong năm 2017. Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho người dân được hưởng các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nướctrong lĩnh vực lâm nghiệp.
Năm 2016,Ban quản lý còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động. Songvới sự nỗ lực của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, sự hỗ trợ - giúp đỡ của các cấp, các ngành, hoạt độngcủa Ban quản lý đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đó là tiền đề tốt cho việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kế hoạch năm 2017. (Thương Hiệu & Công Luận 25/8)đầu trang(./.
|
|||