|
Ngày 28 tháng 07 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GỚI
BẢO VỆ RỪNG
Mưa ít, nắng nóng kéo dài, độ ẩm thấp… đã khiến nhiều vạt rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị chết khô, nguy cơ cháy rừng cao.
Truớc tình hình này, các cơ quan chức năng của tỉnh đã tập trung mọi nguồn lực cho công tác phòng chống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ: lực luợng, chỉ huy, phương tiện và hậu cần tại chỗ.
Đakrông là huyện có diện tích rừng tương đối lớn, hơn 68.000ha, chủ yếu nằm ở vùng đồi núi, trải dài trên địa bàn rộng, địa hình phức tạp, xa khu dân cư nên khi có cháy rừng xảy ra thì việc huy động các lực lượng, phương tiện chữa cháy gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, một bộ phận người dân vẫn còn phát đốt rừng để làm nương rẫy hoặc chặt củi, đốt than, khai thác gỗ, săn bắt động vật hoang dã và rà tìm phế liệu chiến tranh cũng làm cho nguy cơ cháy rừng luôn ở mức báo động.
Để hạn chế mức thấp nhất cháy rừng xảy ra, Phó chủ tịch UBND huyện Hồ Thị Cúc cho biết, huyện quan tâm nhất đó là chỉ đạo các xã xây dựng phương án phòng chống cháy rừng một cách cụ thể, sát đúng với đặc điểm của từng vùng theo phương châm 4 tại chỗ. Mặt khác, huyện cũng phát động phong trào quần chúng tham gia bảo vệ, phòng chống cháy rừng đặc biệt hướng đến đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn bởi trình độ dân trí của họ còn thấp, ý thức bảo vệ rừng chưa cao.
Cùng với Đakrông, huyện Triệu Phong cũng đang triển khai xây dựng các chương trình bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn.
Theo Phó chủ tịch UBND huyện Phan Văn Giải, nhằm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân và kỹ năng chữa cháy rừng của các đơn vị, địa phương; đồng thời nâng cao khả năng lãnh đạo, chỉ huy cũng như sự phối kết hợp giữa các lực lượng theo phương châm 4 tại chỗ, hạn chế thấp nhất những thiệt hại xảy ra, huyện đã tổ chức các lớp diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng; tuyên truyền, phổ biến Luật Bảo vệ rừng đến các thôn, xóm, trường học với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; tổ chức cho nhân dân ký cam kết không vi phạm Luật Bảo vệ rừng. UBND huyện đã củng cố, kiện toàn các tổ bảo vệ rừng, các đội xung kích chữa cháy rừng và tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát tại các khu vực có khả năng xảy ra cháy rừng.
Từ một phần ngân sách nhà nước và sự đóng góp của chủ rừng, huyện đã chỉ đạo 2 xã Triệu Thượng và Triệu Ái xây dựng Quỹ quản lý bảo vệ rừng để chi khen thưởng cho các tổ chức, cá nhân có tin báo tố giác hành vi phá rừng và hỗ trợ cho người tham gia chữa cháy rừng cũng như các hoạt động quản lý bảo vệ rừng từ phía cộng đồng dân cư. Nhờ các hoạt động phòng chống cháy rừng, những năm trở lại đây, gần 15.000ha rừng trên địa bàn huyện Triệu Phong chưa xảy ra vụ cháy nào.
Hiện, Quảng Trị có khoảng 235.000ha rừng, trong đó có hơn 138.000ha rừng tự nhiên và hơn 90.000ha rừng trồng. Để công tác bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng đạt hiệu quả cao, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh đã xác định rõ các vùng trọng điểm cháy rừng và thời gian cao điểm thường xảy ra cháy rừng để huy động lực lượng kiểm lâm trực 24/24 giờ; xây dựng các phương án bảo vệ, đặc biệt là đối với 20.000ha rừng thông.
Chi cục đã đầu tư kinh phí tu sửa chòi canh, nâng cấp đường ranh cản lửa, tổ chức phát thực bì và mua sắm, trang bị 9 xe chữa cháy, một số xe tiếp nước cùng tất cả các dụng cụ cần thiết cho các Hạt Kiểm lâm phục vụ công tác phòng chống cháy rừng.
Hàng năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đều tổ chức các lớp huấn luyện chữa cháy rừng bằng phương tiện cơ giới để giúp các Đội xung kích chữa cháy rừng hiểu rõ tính năng và sử dụng thành thạo các loại máy móc, phương tiện, dụng cụ, phối hợp chặt chẽ trong công tác chữa cháy.
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khổng Trung cho biết, phương tiện cơ giới là một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao trong chữa cháy rừng, do đó, cùng với huấn luyện, Chi cục đã tổ chức khảo sát hiện trường, tình hình giao thông, điểm tiếp nước ở các vùng trọng điểm có khả năng chữa cháy rừng bằng phương tiện cơ giới để chủ động triển khai khi cháy rừng xảy ra, tiếp cận nhanh đám cháy, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền của và hạn chế thấp nhất thiệt hại xảy ra.
Tuy nhiên, công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở Quảng Trị đang gặp trở ngại lớn, các phương tiện cơ giới của tỉnh chỉ mới tiếp cận được khoảng 30% diện tích rừng hiện có, còn lại vì không có đường cho ô tô vào, điểm tiếp nước lại ở khá xa nên rất khó tiếp cận.
Do đó, để hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra, không chỉ lực lượng kiểm lâm mà các cấp chính quyền, các chủ rừng phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý cũng như tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng và tham gia phòng chống cháy rừng; xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là xây dựng đường ranh cản lửa kết hợp làm đường giao thông.
Các địa phương, chủ rừng phải tự mình đánh giá tình hình để bố trí lực lượng, tập trung nhân lực, vật lực, chủ động, sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra. (Đại Biểu Nhân Dân 28/7, tr7) đầu trang(
27/7, Công an Sơn La cho biết đã điều tra, làm rõ vụ hủy hoại rừng tại địa bàn xã Mường Hung, huyện Sông Mã.
Theo điều tra ban đầu của Công an huyện Sông Mã, trên địa bàn xã có một số hộ lấn chiếm đất rừng phòng hộ ở cụm bản Cát, nay đã được xã tách thành 5 cụm bản đang được cơ quan chức năng giải quyết. Đối tượng Cà Văn Hơn, khi đó là Bí thư Chi bộ bản Lọng Tòng đã tổ chức họp dân, bàn chuyển đổi mục đích sử dụng.
Trong khi chưa có ý kiến của cơ quan chức năng, đối tượng Hơn đã tổ chức cho nhiều người chặt phá diện tích rừng phòng hộ, gây thiệt hại 19 hecta rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Quá trình điều tra, Công an huyện đã bắt Cà Văn Hơn, lập hồ sơ xử lý và tiếp tục điều tra, xử lý những người liên quan. (Công An Nhân Dân 28/7, tr5) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đương dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện Chợ Mới. (Nhân Dân 28/7, tr7) đầu trang(
26-7, tại TP Đà Nẵng, Hội Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Việt Nam, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học và UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Hội thảo Bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn lần thứ 6.
Hai nội dung chính được bàn thảo kỹ gồm: Tri thức bản địa và sinh kế cộng đồng; biến đổi khí hậu, chăm sóc cây cổ thụ - Cây di sản Việt Nam.
Đa dạng sinh học trên dãy Trường Sơn rất phong phú, là một hệ sinh thái độc nhất ở Đông - Nam Á. Tuy nhiên, nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây hiện đang bị suy giảm và từng phần biến mất. Do vậy, hội thảo là dịp để các nhà khoa học, nhà quản lý thảo luận những vấn đề cần thiết nhất để góp phần cùng bảo tồn đa dạng sinh học trên dãy Trường Sơn. (Nhân Dân 27/7) đầu trang(
Thượng úy Trịnh Xuân Tùng - phó Trạm trưởng trạm CSGT quốc lộ 1A, thuộc Phòng CSGT đường bộ - đường sắt (Công an tỉnh Thanh Hóa)- cho biết lúc gần 10g sáng 26-7, tại km 289 trên quốc lộ 1A đoạn qua địa bàn thị xã Bỉm Sơn (Thanh Hóa), lực lượng CSGT của đơn vị đã phát hiện, bắt giữ một xe taxi chở 20 con tê tê (tổng trọng lượng 99,5kg).
Đối tượng, phương tiện và tang vật của vụ việc này đã được chuyển cho Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Thanh Hóa và Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa xử lý theo thẩm quyền. (Tuổi Trẻ 26/7; Công An Nhân Dân 28/7, tr2; Nhân Dân 28/7; Tin Tức 28/7, tr13; Đại Đoàn Kết 28/7, tr10) đầu trang(
Ca sĩ "Đường cong" đăng một đoạn chia sẻ khá dài và khiến hàng loạt người hâm mộ xúc động.
Cách đây ít phút, trên trang cá nhân của Thu Minh vừa chia sẻ hình ảnh về một chú khỉ bị nhốt trong lồng với cánh tay bị thương rất nặng, đã khiến nhiều người hâm mộ rớt nước mắt.
Nữ ca sĩ "Đường cong" còn chia sẻ thêm: "Bạn có thể không cần phải là 1 người Thành Công, không cần phải là một người Giàu Có... nhưng bạn nên là một người sống Nhân Ái, có tình thương dù là với một con Vật, thì mới có lòng Nhân Ái với con Người. Và đó sẽ là Tài Sản Lớn Nhất mà bạn dành cho Con Cháu mình về sau... Những đứa trẻ được sống với những hình ảnh Nhân Ái sẽ là nền tảng để phát triển Tâm Lý - Trí Tuệ - Sáng Tạo, sống có ích cho Xã Hội... Tích Phúc đi Người làm ra chuyện này."
Thu Minh đã đưa ra một triết lý sống tràn đầy tình nhân ái và tình yêu thương. Ai cũng thương cảm chú khỉ và đồng tình với ý kiến của nữ ca sĩ. Hẳn ai cũng biết, Thu Minh sở hữu tình thương yêu động vật bao la mà không phải ai cũng có được. Thu Minh còn xuất hiện rất nhiều trên báo chí nước ngoài khi cô sang Nam Phi tham gia chiến dịch bảo vệ tê giác.
Hơn nữa mới đây, cô còn có cơ hội tiếp xúc với Hoàng tử Anh, David Beckham và cả nam vương Quách Phú Thành... khi đi phát động chiến dịch bảo vệ động vật hoang dã. (Ngôi Sao 26/7) đầu trang(
Khu bảo tồn biển Cù lao Chàm (TP Hội An) đã tiến hành triển khai thực hiện nhiều dự án để bảo vệ, phục hồi các rạn san hô của Cù lao Chàm, trong đó có Dự án phục hồi rạn san hô cứng tại vùng biển thôn Bãi Hương của Tổ chức Rừng ngập mặn cho tương lai (gọi tắt là tổ chức MFF) hướng đến mục tiêu kết hợp hài hòa việc khai thác với bảo tồn tài nguyên biển.
Cùng với việc thực hiện phong trào "Cù Lao Chàm nói không với túi nilon" đã được thực hiện từ năm 2009, đến việc bảo vệ, phục hồi các rạn san hô từ dự án này và nhiều hoạt động thiết thực khác nữa cho thấy nỗ lực của chính quyền và từ chính người dân địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cộng đồng dân cư và khách du lịch về trách nhiệm bảo vệ tài nguyên quý báu, bảo vệ môi trường sinh thái Cù lao Chàm đang là một việc làm cấp thiết.
Tất cả nhằm hướng đến mục tiêu bảo tồn bảo vệ môi trường thiên nhiên, góp phần phát triển bền vững môi trường du lịch và Cù lao Chàm luôn là điểm đến hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. (Công An TP Đà Nẵng 28/7) đầu trang(
Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp, mang nét đặc trưng, điển hình của vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười xưa còn sót lại. Hiện vườn được chia thành năm khu quản lý, mỗi khu được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch với tổng chiều dài khoảng 60 km.
Mặc dù được bảo vệ khá nghiêm ngặt, nhưng những năm vừa qua vẫn xảy ra nhiều vụ cháy, có vụ thiêu rụi hàng trăm ha đồng cỏ và rừng tràm.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc vườn quốc gia (VQG) Tràm Chim cho biết, từ năm 2009, được sự chấp thuận của UBND tỉnh Đồng Tháp, Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên tại Việt Nam (WWF-VN) phối hợp cùng VQG đã triển khai dự án “Tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế địa phương với sự tham gia của cộng đồng trên cơ sở quản lý hợp lý tài nguyên thiên nhiên tại VQG Tràm Chim”. Dự án do công ty Coca-Cola Việt Nam tài trợ.
Mục tiêu của dự án là tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học thông qua việc quản lý nước -lửa thích hợp và cải thiện sinh kế của địa phương bằng cách để cộng đồng tham gia vào các hoạt động du lịch sinh thái kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan và văn hóa địa phương.
Từ khi triển khai, dự án đã nghiên cứu và xây dựng mực nước cần quản lý cho từng khu trong suốt cả năm, dựa theo phương pháp cân bằng nước, hiện trạng và đặc tính chịu khô, chịu ngập của thực vật, hiện trạng hạ tầng và cao độ khác biệt trong từng khu.
Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu đánh giá mới đây của trường ĐH Cần Thơ về công tác quản lý nước - lửa ở VQG Tràm Chim thời gian vừa qua, đang có nhiều vấn đề cần quan tâm do sự chênh lệch cao của mực nước giữa các tháng trong năm, làm ảnh hưởng đến các quần xã thực vật, nhất là liên quan đến các vụ cháy rừng.
Và hệ quả thực tế đã xảy ra: trong khoảng thời gian năm năm từ 2009-2013, ở VQG đã xảy ra tổng cộng 24 vụ cháy, thiêu rụi gần 300 ha đồng cỏ và hơn 130 ha rừng tràm, trong đó hai khu A1 và A5 mỗi khu xảy ra đến chín vụ cháy, cháy lớn ở khu A5 vào năm 2009 và khu A1 vào 2010; các khu còn lại cũng xảy ra từ một đến ba lần cháy.
Theo Tiến sĩ Dương Văn Nỉ, Khoa Môi trường trường ĐH Cần Thơ, ở giai đoạn trên, mực nước tại hai khu A1 và A5 thấp hơn nhiều so với mực nước đề nghị, nên “xảy ra cháy lớn ở khu A1 năm 2010 không phải do mực nước thấp, mà nguyên nhân là do các chất hữu cơ tích lũy (thực bì) giữ mực nước cao trong những năm trước đó”.
Tiến sĩ Dương Văn Nỉ cho biết thêm, trong thời gian từ 2009 - 2013, đã có sự thay đổi lớn về diện tích của các quần xã thực vật trong VQG Tràm Chim. Thay đổi lớn nhất là quần xã tràm. Năm 2009 chỉ có 1.900 ha nhưng đến năm 2013 đã tăng lên hơn 2.200 ha, và một phần nhỏ quần xã lúa ma, từ 27 ha đến nay đã tăng lên 37 ha.
Trong khi quần xã tràm và lúa ma tăng thì ngườc lại, quần xã cỏ ống đã giảm từ 451 ha xuống còn 269 ha. Quần xã có diện tích giảm đáng kể nhất là quần xã cỏ năng. Nếu như thời điểm năm 2009 toàn VQG có hơn 1.100 ha thì đến năm 2013 diện tích đồng cỏ năng chỉ còn khoảng 600 ha.
“Vì vậy, để duy trì đa dạng sinh học trong VQG Tràm Chim, diện tích tràm phải được kiểm soát... do tốc độ xâm lấn của quần xã tràm rất nhanh và rất mạnh, hơn cả tốc độ xâm lấn của quần xã cây mai dương, nếu không kiểm soát được thì trong tương lai, diện tích đồng cỏ năng sẽ liên tục giảm”.
Kết quả nghiên cứu đánh giá của trường ĐH Cần Thơ cũng cho thấy, do giữ mực nước cao làm cho loài cỏ năng không thể tạo củ. Trong khi đó các loài khác như tràm, cỏ chỉ, rau dừa lại xâm lấn mạnh, tạo ra thảm thực vật vừa dày, vừa xốp làm cho sếu đầu đỏ không thể đáp xuống và kiếm ăn được. Điều này có thể là nguyên nhân dẫn đến sự giảm sút cá thể sếu đầu đỏ về Tràm Chim.
Giám đốc VQG Tràm Chim Nguyễn Văn Hùng cho biết, trong giai đoạn 1990-2000 số lượng cá thể sếu về Tràm Chim mỗi năm luôn nhiều hơn 200 con, nhưng từ năm 2000 đến nay số lượng sếu về ngày càng thấp dần, đến năm 2013 chỉ có 15 con quay về Tràm Chim.
Kết quả nghiên cứu của nhóm tiến sĩ Dương Văn Nỉ và cộng sự cho thấy, trong khoảng thời gian 12 năm (2000-2012) có một số thay đổi về hệ sinh thái ở Tràm Chim do việc thực hiện quản lý mực nước. Cũng trong thời gian này, số lượng sếu về Tràm Chim luôn biến động. Cụ thể năm 2000 có 167 con, năm 2001 chỉ về 48 con, nhưng năm 2004 lại tăng lên 159 con. Cho đến năm 2012 giảm còn 52 con, và năm 2013 vừa qua chỉ về 15 con. “Điều đó cho thấy sự thay đổi này có liên quan đến việc quản lý nước - lửa, tức là năm nào giữ mực nước thấp và có xảy ra cháy đồng cỏ thì số lượng Sếu về sẽ tăng lên ở những năm tiếp theo”.
Tiến sĩ Dương Văn Nỉ phân tích thêm, số lượng sếu về Tràm Chim trước năm 2000 luôn cao hơn sau năm 2000 thì không liên quan nhiều đến việc quản lý nước, vì trước năm 2000 chưa có sự can thiệp nào đến hệ sinh thái tự nhiên của Tràm Chim, mà đây có thể là sự giảm sút tổng đàn sếu tại đồng bằng sông Cửu Long.
Số liệu tổng hợp của các nhà khoa học cho thấy, trước đây, đàn sếu đến khu vực đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm dao động từ 500-800 con, chúng kiếm ăn ở hai khu vực chính là vùng Kiên Lương - Hà Tiên và Tràm Chim - Láng Sen. Thông thường vào đầu mùa khô, chúng đến các khu vực bên Campuchia gần biên giới Việt Nam như Tà Keo, rồi bay sang Kiên Lương - Hà Tiên, sau đó mới đến Tràm Chim, chúng sẽ ở đây cho đến hết mùa khô mới bay về khu vực miền bắc của Campuchia.
Theo ghi nhận của các nhà khoa học, đàn sếu về đến tỉnh Tà-Keo giảm không đáng kể, dao động trong khoảng 300-500 con. Trong năm 2011-2013 chúng mở rộng vùng kiếm ăn bên Campuchia như ở khu vực A-lung Ring gần Hà Tiên. Điều đó có thể khẳng định rằng, việc chuyển đổi đất canh tác từ trồng trọt sang nuôi trồng thủy sản (tôm) ở khu vực Kiên Lương - Hà Tiên và tình trạng giảm sút diện tích quần xã cỏ năng tại VQG Tràm Chim là những nguyên nhân trực tiếp làm cho số lượng sếu đầu đỏ về khu vực đồng bằng sông Cửu Long giảm đáng kể từ năm 2000 đến nay.
Tiến sĩ Dương Văn Nỉ cho biết, qua nghiên cứu cho thấy, trong giai đoạn 2009-2011 số lượng các lần cháy ở VQG Tràm Chim cao hơn so với các năm trước nhưng với cường độ thấp hơn do việc tích tụ các sinh khối hữu cơ giữa hai lần cháy ít hơn. Tuy nhiên, trong năm 2012 do việc giữ nước ở mức cao trong toàn bộ VQG nên các sinh khối hữu cơ lại được tích tụ, và cháy lại xảy ra.
Mặc dù trong năm 2013 việc này đã được điều chỉnh nhưng kết quả cho thấy hệ sinh thái ở đây rất nhạy cảm, nhất là đối với các đồng cỏ, lượng hữu cơ tích tụ tăng rất nhanh trong một thời gian ngắn. Do đó, chỉ quản lý mực nước thôi là chưa đủ hiệu quả để giảm quá trình tích tụ sinh khối trên đồng cỏ, mà cần áp dụng thêm biện pháp đốt chủ động, chu kỳ đốt có thể là từ 2-3 năm tùy theo tốc độ tích tụ sinh khối từng khu.
Cụ thể, theo Tiến sĩ Dương Văn Nỉ, tiếp tục quan trắc mực nước ở nhiều vị trí trên các quần xã lúa ma, cỏ năng, cỏ mồm, cỏ ống và theo dõi tích tụ sinh khối hàng năm; chủ động đốt theo chu kỳ ở các đồng cỏ có hàm lượng chất hữu cơ tích tụ cao; kiểm soát sự xâm lấn của quần xã tràm ra đồng cỏ.
Đối với khu A2, có thể chấp nhận giữ khu này như một hệ sinh thái ẩm ướt quanh năm, vì điều kiện khắc phục để trở thành hệ sinh thái khô-ngập rất tốn kém, khó khả thi và sẽ làm tăng nguy cơ cháy hủy diệt vì lớp hữu cơ tích tụ quá dày. Như vậy, trọng tâm bảo tồn khu này là đa dạng sinh học nhóm thủy sinh, nhưng ưu tiên là nhóm cá chứ không phải rừng tràm.
Do đó, có thể thu hoạch tràm hiện nay, nếu không tràm cũng sẽ chết do thời giam giữ mưc nước cao như hiện nay. Thu hoạch tràm vừa có thêm nguồn kinh phí để đầu tư gia cố hệ thống đê bao, cống đập và xây dựng các trạm bơm bổ sung.
Riêng ở khu A3, là bãi ăn chính của sếu, ngoài việc áp dụng biện pháp đốt cỏ chủ động, cần thường xuyên theo dõi và quan trắc quần xã cỏ năng, nhất là khả năng tạo củ. Có như vậy mới tạo môi trường tốt thu hút đàn sếu về.
Tiến sĩ Dương Văn Nỉ còn cho biết thêm, dựa trên những thành công của việc cắt đê trong năm 2009, đã cải thiện đáng kể dòng chảy, cải thiện độ pH của đất, đa dạng sinh học và chất lượng nước...nên nhóm nghiên cứu đề xuất thêm ba vị trí cắt đê mới trong khu A1. Những đoạn cắt mới này sẽ cải thiện thêm môi trường nước và đa dạng sinh học không chỉ cho khu A1 mà cho cả VQG Tràm Chim.
Tọa lạc trên địa bàn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, diện tích hơn 7.500 ha, vườn quốc gia Tràm Chim được đánh giá là nơi tính đa dạng sinh học cao, mang nét đặc trưng, điển hình của vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười xưa còn sót lại.
Tháng 5 năm 2012, vườn quốc gia Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar thứ 2.000 của thế giới. Hiện vườn được chia thành năm khu quản lý, mỗi khu được bao quanh bởi hệ thống kênh rạch với tổng chiều dài khoảng 60 km. (Nhân Dân 27/7) đầu trang(
Rừng ngập mặn ven biển Đồng bằng sông Cửu Long được xem như lá phổi xanh bảo vệ cư dân và hệ sinh thái đất ngập nước nhưng vì nhu cầu phát triển kinh tế con người đang tàn phá nghiêm trọng. Những đầm tôm thay thế rừng ngập mặn đang diễn ra khá phổ biến ở Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau…
Vụ Phát triển rừng (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thống kê hiện cả nước còn khoảng 166.000 ha rừng ngập mặn, giảm 60% so với những năm 1940.
Theo ông Nhữ Văn Kỳ, Vụ Phát triển rừng, một trong những nguyên nhân làm giảm diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển hiện nay chính là tình trạng phá rừng làm đầm nuôi tôm tự phát, nuôi tôm quảng canh, sinh thái. Nguyên nhân khác nữa là chuyển mục đích sử dụng đất hợp pháp sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông nghiệp, xây dựng đê bao, khu công nghiệp, cảng biển, khai thác gỗ, củi…
Trên thực tế, điều kiện trồng rừng ven biển rất khó khăn trong khi ngân sách nhà nước đầu tư cho trồng rừng phòng hộ thấp. Vì vậy tỉ lệ cây sống thành rừng chỉ đạt từ 50 - 60%.
Mặt khác, công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất còn bất cập, thiếu sự phối hợp, thống nhất giữa các ngành liên quan cũng góp phần vào làm suy giảm diện tích rừng ngập mặn. Hơn nữa, khâu quy hoạch rừng ở từng địa phương thiếu ổn định, thường bị điều chỉnh do nhu cầu sử dụng đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phát triển kinh tế tại địa phương. Việc giao khoán rừng ngập mặn cho các hộ gia đình bảo vệ còn nhiều hạn chế.
Hiện tượng biến đổi khí hậu, nước biển dâng làm cho nhiều diện tích rừng bị ngập sâu, biển đang có xu hướng tiến sâu vào nội địa, các hoạt động từ thượng nguồn sông Mê Kông như xây dựng các đập thủy điện, ngăn dòng đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống rừng ngập mặn. Các nhà máy sản xuất trong khu vực xả thải làm ô nhiễm môi trường cũng có tác động tiêu cực hệ sinh thái rừng ngập mặn, thạc sỹ Trần Thanh Cao, Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam bộ chia sẻ.
Ông Phan Huy Thông, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia cho biết: Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, ứng phó với biến đổi khí hậu, dự kiến cả nước phát triển diện tích rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển, chống cát bay đạt 330.000ha vào năm 2015 và đạt 500.000 ha vào năm 2025.
Để đạt mục tiêu đó, theo ông Thông cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt từ khâu quy hoạch, rà soát lại quy hoạch diện tích rừng ngập mặn, đổi mới và nâng cao hiệu quả của chính sách đầu tư trồng, bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn.
Ông Trần Văn Thức, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau cho biết: Bờ biển thuộc địa bàn tỉnh đang trong tình trạng sạt lở nghiêm trọng. Để bảo vệ diện tích rừng phòng hộ ven biển tỉnh đã đưa ra hai giải pháp công trình và phi công trình. Cụ thể là xây dựng kè bê tông ly tâm ven bờ khu vực biển Tây thuộc huyện U Minh nhằm tạo bãi bồi để tái sinh rừng.
Ông Trịnh Hoàng Việt, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Long An chia sẻ những giải pháp có thể thực hiện trong việc bảo vệ rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển. Đó là tăng cường công tác khuyến lâm ở cơ sở nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng, phổ biến quảng bá các mô hình nông lâm kết hợp đạt hiệu quả như mô hình nuôi ong mật dưới tán rừng, mô hình cây lúa nước và cây tràm kết hợp với gà thả vườn, nghiên cứu và tuyển chọn các giống cây trồng thích nghi trên các dạng lập địa. Khuyến khích mở các vườn ươm cây giống chất lượng, hỗ trợ cung cấp cây giống cho người dân trồng cây phân tán.
Theo ông Nhữ Văn Kỳ, việc xây dựng quy hoạch tổng thể rừng ngập mặn trên phạm vi cả nước, khôi phục phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ở từng địa bàn cụ thể sẽ giúp cơ quan chức năng quản lý tốt diện tích và chất lượng rừng ngập mặn hện nay. Đối với các trường hợp sử dụng diện tích rừng không đúng quy hoạch cần thu hồi và xử lý nghiêm khắc. Ngoài ra, đối với các công trình đê biển thì phải coi rừng ngập mặn là một hạng mục thành phần, từ đó dành một phần kinh phí thỏa đáng để đầu tư, chăm sóc, bảo vệ.
Khi thực hiện công tác quản lí rừng cũng cần chú trọng kĩ thuật GIS (Hệ thống thông tin địa lý) và công nghệ viễn thám giám sát chất lượng rừng và lưu trữ những số liệu của rừng để theo dõi. Cần thực hiện quan trắc chất lượng nước để nắm những đặc trưng cửa sông, đại diện cho yếu tố môi trường có thể nhạy cảm với sức khỏe của rừng ngập mặn. (Tin Tức 27/7; Nông Nghiệp Việt Nam 28/7, tr18) đầu trang(
Tám lâm tặc bị bắt quả tang khi đang phá rừng tại đồi đá Pô Cốp - vùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, huyện Tương Dương.
Toán lâm tặc gồm 8 đối tượng do chủ đầu nậu tên Dương (trú tại huyện miền núi Con Cuông) cầm đầu. Địa điểm bắt quả tang toán lâm tặc đang tàn phá rừng tại đồi đá Pô Cốp nằm giáp ranh giữa địa bàn hai xã Xiềng My và Nga My.
Theo hồ sơ của PC49, từ ngày 15-7 đến nay tốp lâm tặc đã dùng cưa xăng đốn hạ 16m3 gỗ gồm 10m3 gỗ trai, 4m3 gỗ đinh hương, 2m3 sú và gội. Số gỗ này mọc trên núi đá Pô Cốp thuộc tiểu khu 604 (xã Xiềng My) và tiểu khu 607 (xã Nga My) thuộc vũng lõi của rừng đặc dụng trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống.
Do địa hình hiểm trở, hiện PC49 phối hợp Ban quản lí Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống giám sát toán lâm tặc trong quá trình kéo 16m3 gỗ từ điểm chặt hạ ra trạm kiểm lâm Xiêng My để xử lí.
PC49 đang tiếp tục điều tra vụ án phá rừng nghiêm trọng này. (Tuổi Trẻ 28/7; Nông Thôn Ngày Nay 28/7, tr2) đầu trang(
Thời gian qua, các lực lượng chức năng đã siết chặt việc buôn bán các sản phẩm từ gỗ quý, trong đó có thớt gỗ nghiến. Tuy nhiên, thớt gỗ nghiến vẫn được bán lén lút trong nhà dân.
"Dốc thớt" - tên thường gọi của tiểu khu 14, thị trấn Mộc Châu, huyện Mộc Châu, Sơn La, nơi từng bày bán thớt gỗ nghiến công khai những năm trước đây - nay cảnh tượng đó không còn. Nhưng trong vai người mua hàng, phóng viên VTV vẫn dễ dàng tìm được địa chỉ mua thớt gỗ nghiến. Xem hàng không phải ở mặt tiền mà phải xuống chuồng gà hoặc kho chứa đồ sau nhà và việc ngã giá cũng diễn ra tại đây.
Từ khi thớt gỗ nghiến bị cấm buôn bán, hàng chục hộ dân ở đây vẫn “âm thầm” buôn bán. Hàng được cất kỹ hơn nhưng không thiếu, thậm chí đặt hàng loại nào cũng có. Một điều khó hiểu đó là việc buôn bán này diễn ra cách UBND huyện và hạt kiểm lâm Mộc Châu chưa đầy 2km.
Thớt gỗ nghiến được bán nhiều tại huyện Thuận Châu và Mộc Châu của tỉnh Sơn La tuy nhiên, theo thống kê của cơ quan chức năng, trong quý II/2014, chỉ có 0,2 ha rừng trong tổng số hơn 108.000 ha rừng địa phương đang quản lý bị chặt phá, trong đó không có diện tích gỗ nghiến.
Vậy những tấm thớt gỗ nghiến được buôn bán lén lút từ đâu? Chừng nào cơ quan chức năng còn chưa vào cuộc thì những cây gỗ quý trong rừng vẫn sẽ tiếp tục “đội nón ra đi”. (VTV 27/7) đầu trang(
Được tin báo của quần chúng nhân dân, vào lúc 15h30 ngày 21/7, tại thôn Dân Lễ, xã Thuận Hòa, huyện Hàm Thuận Bắc các đối tượng lâm tặc đã tập trung xe mô tô để vận chuyển gỗ trái phép. Tại đây lực lượng công an xã đã tạm giữ khoảng 10 xe mô tô tự lắp ráp.
Tuy nhiên, trong quá trình thi hành nhiệm vụ thì các đối tượng đã gây rối, chống đối lực lượng làm nhiệm vụ và tẩu tán một số xe mô tô. Khi lực lượng cảnh sát giao thông Công an huyện Hàm Thuận Bắc có mặt tại hiện trường thì chỉ còn lại 3 xe mô tô, cảnh sát giao thông đã ra quyết định tạm giữ và đưa về trụ sở Công an huyện để tiếp tục điều tra làm rõ.
Được biết các xe mô tô này đều được tháo bỏ các bộ phận như yên, bửng, biển số, pô và cả bình xăng. Bọn chúng chế lại dàn khung sắt vững chắc làm thành yên xe, thêm 2 phụt nhúng mỗi bên, hàn thêm sắt xung quanh niền xe và lấy bình nhựa làm bình xăng tự chế treo trên cổ lái và thay đổi một số bộ phận khác. Các đối tượng dùng xe này để chở gỗ từ huyện Di Linh về Thuận Hòa và chở đi tiêu thụ một số địa phương khác.Theo thống kê chưa đầy đủ của lực lượng Công an xã Thuận Hòa thì trên địa bàn xã có trên 30 xe mô tô tự lắp ráp như thế này để vận chuyển gỗ trái phép. (Bảo Vệ Pháp Luật 27/7) đầu trang(
27/7, ông Hồ Hoàng Thái, Phó Bí thư huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Tây Trà cho biết, địa phương vừa kiến nghị lãnh đạo tỉnh có giải pháp khẩn cấp ngăn chặn tình trạng tàn phá rừng phòng hộ ở các xã Trà Xinh và Trà Thọ.
"Từ cuối năm 2013, khi hồ chứa nước Nước Trong dâng nước đạt đến cao trình, lâm tặc đã cưa hạ nhiều cây rừng cổ thụ, đóng thành bè kéo xuôi theo dòng nước về huyện Sơn Hà đưa đi tiêu thụ", ông Thái nói.
Theo thống kê của Công an xã Trà Xinh, từ đầu năm đến nay, lực lượng công an xã phối hợp với quân đội, kiểm lâm tổ chức 6 đợt truy quét gỗ lậu trên địa bàn, phát hiện nhiều bè gỗ với tổng khối lượng gần 20 m3 gồm các loại: chò, dổi, kiềng kiềng... Những cây cổ thụ khoảng hơn 80 năm tuổi này được tập kết bên hồ Nước Trong ở thôn Trà Veo.
"Nhiều lần chúng tôi phát hiện họ dùng ghe máy kẹp bè gỗ hai bên, xuôi dòng theo hồ chứa nước Nước Trong. Tuy nhiên, do địa bàn phức tạp, hiểm trở, con người và phương tiện hạn chế nên khó bắt giữ", trưởng công an xã Trà Xinh cho biết.
Còn theo ông Đinh Tấn Vũ, Chủ tịch UBND xã Trà Thọ, do người dân nhường đất cho vùng lòng hồ chứa nước Nước Trong nên thiếu đất sản xuất. Đã có 3 ha rừng bị phá để làm nương rẫy. Người dân cũng thường vào các khu rừng phòng hộ ở xã Trà Xinh (giáp ranh với Trà Thọ) cưa hạ gỗ. Nhiều người dùng cưa máy nổ ầm ầm cả ngày "xẻ thịt" rừng phòng hộ ở khu vực đầu nguồn công trình hồ chứa nước này.
Trước tình hình diễn biến phức tạp, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi đã lập Trạm kiểm lâm gần khu vực đập chính hồ Nước Trong ở xã Sơn Bao, huyện miền núi Sơn Hà. Trạm này có bốn cán bộ kiểm lâm, bảo vệ rừng có nhiệm vụ túc trực ngày đêm ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ lậu ở đầu nguồn huyện Tây Trà.
Ngoài ra, Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi cũng chỉ đạo Hạt kiểm lâm các huyện Tây Trà, Sơn Hà phối hợp với lực lượng công an, quân đội, dân quân địa phương thường xuyên truy quét, ngăn chặn tình trạng phá rừng phòng hộ đầu nguồn công trình này.
Hồ chứa nước Nước Trong có tổng dung tích gần 290 triệu m3 thuộc địa phận hai huyện Tây Trà và Sơn Hà. Dung tích hồ này chứa nước lớn nhất khu vực miền Trung hiện nay với tổng vốn đầu tư gần 2.300 tỷ đồng. Hồ vừa có vai trò thủy lợi vừa thủy điện. (VnExpress 27/7) đầu trang(
Tổng cục Lâm nghiệp vừa có văn bản số 1001 ngày 23/7/2014 gửi Sở NN-PTNT các tỉnh, công đoàn ngành, các trường và đơn vị trong ngành đề nghị tạo điều kiện để người lao động trong cơ quan tham gia cuộc thi viết về cuộc sống của những người làm nghề rừng, bảo vệ và phát triển rừng.
Thông qua câu chuyện về những cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong ngành lâm nghiệp cuộc thi sẽ giúp cho xã hội có cái nhìn khách quan, chân thực, đồng cảm với những hi sinh gian khổ của những người ngày đêm bảo vệ màu xanh cho đất nước, khơi gợi tình yêu thiên nhiên, yêu rừng và chung sức bảo vệ rừng của toàn xã hội. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/7) đầu trang(
24/7, Tòa án nhân dân huyện Vũ Quang (Hà Tĩnh) đã mở phiên tòa xét xử tuyên phạt bị cáo Chu Quốc Quân (SN 1993) trú tại xã Hương Long, Hương Khê (Hà Tĩnh) 15 tháng tù giam; Lưu Quốc Hương (SN 1991), trú tại xã Phú Gia (Hương Khê) 12 tháng tù giam; Trần Văn Tú (SN 1984), trú tại xã Hương Vĩnh (Hương Khê), Lê Khắc Mạnh (SN 1977) và Phạm Văn Minh cùng trú xã Phú Gia (Hương Khê) bị kết án nhưng cho hưởng án treo.
Cả 5 bị cáo đều liên quan đến vụ chống người thi hành công vụ xảy ra tại Trạm Kiểm lâm chợ Bộng, thuộc địa bàn huyện Vũ Quang. Như tin đã đưa, trước đó, rạng sáng ngày 6/4, trong lúc tuần tra tại khu vực cầu treo chợ Bộng (Vũ Quang), đội Kiểm lâm Cơ động và PCCC rừng thuộc Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Trạm Kiểm lâm chợ Bộng (thuộc Hạt Kiểm lâm Vũ Quang) phát hiện Quân và Tú đang đi xe máy kéo theo xe ba gác chở khoảng 2m3 gỗ trái phép nên tiến hành bắt giữ.
Sau khi bị bắt, Quân đã gọi Tú, Mạnh, Hương, Minh và đồng bọn (khoảng 12 người) mang theo hung khí, đến trụ sở Trạm Kiểm lâm chợ Bộng để cướp lại xe kéo và toàn bộ số gỗ nhưng bị cán bộ kiểm lâm phát hiện, ngăn cản.
Thấy các đối tượng hung hãn và manh động, ông Cù Việt Tường, Đội phó Đội kiểm lâm cơ động và PCCC rừng đưa súng ra cảnh báo các đối tượng dừng lại nhưng các đối tượng vẫn tiếp tục dùng dao đe dọa và đòi mang bằng được xe kéo và số gỗ trên.
Để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của mình và đồng đội cũng như giữ lại tang vật vụ việc, ông Tường đã bắn 1 phát súng chỉ thiên nhưng súng không nổ, sau đó bắn phát súng thứ 2 thì bị các đối tượng lao vào cầm tay giằng súng làm súng phát nổ trúng người Hương.
Không dừng lại ở đó, các đối tượng còn tiếp tục đẩy xe kéo ra khỏi trạm kiểm lâm và lên xe bỏ chạy. (Đời Sống & Pháp Luật 25/7) đầu trang(
Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau cho biết, mùa sạt lở bờ biển đang uy hiếp nhiều cánh rừng phòng hộ.
Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau cho biết, mùa sạt lở bờ biển đang uy hiếp nhiều cánh rừng phòng hộ. Đặc biệt, bờ biển phía Tây của tỉnh Cà Mau dài trên 91 km, trước đây hiền hòa bồi lắng thì mấy năm nay nổi lên sóng dữ bất thường, gây xói lở nghiêm trọng.
Chi cục trưởng Nguyễn Long Hoai kể, mùa mưa năm 2010, sóng biển làm sạt lở hết rừng phòng hộ ở vàm Rạch Dinh và mỗi năm lấy đi 15-50 m, đến nay đã mất 3.800 ha rừng phòng hộ. Tại bờ biển phía Tây này, có 5 chỗ sạt lở với chiều dài 32 km ở huyện U Minh. Bờ biển nối từ huyện U Minh xuống huyện Phú Tân đang bị sạt lở rất nặng.
Bờ biển phía Đông tỉnh Cà Mau cũng đang bị sóng dữ cuốn đi nhiều mảng rừng phòng hộ. Đai rừng phòng hộ rộng 1 km, nay nhiều nơi chỉ còn trăm mét. Mới đây, làng chài Tân Thuận gần cửa biển Gành Hào gần tỉnh Bạc Liêu đã phải di dời. Khu vực Mũi Cà Mau, vùng đất trồng màu ven biển Khai Long của xã Đất Mũi (Ngọc Hiển) đã bị sóng biển cuốn trôi gần như hoàn toàn.
Mấy năm qua, tỉnh Cà Mau đầu tư trên 510 tỷ đồng từ nhiều nguồn vốn, khắc phục sạt lở tại các điểm xung yếu với tổng chiều dài khoảng 17 km. Trong đó, giải pháp kè ngầm chắn sóng hỗ trợ tái sinh rừng phòng hộ dài 8,2 km tương đối có hiệu quả, còn lại chỉ là giải pháp tạm thời chống đỡ sóng dữ được vài mùa mưa, ngay cả 2,7 km kè bê tông kiên cố cũng mong manh trước những con sóng cao hơn 3 m.
Hiện nay, hàng chục cây số rừng phòng hộ ở huyện U Minh bị sạt lở nghiêm trọng, có nơi đai rừng chỉ còn rộng khoảng 30 m. Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau lo ngại, nếu không có vốn thực hiện các giải pháp bảo vệ thì vài năm tới, đai rừng phòng hộ nơi đây không còn. Khi ấy, cả vùng rừng U Minh Hạ sẽ bị sóng biển hung dữ đe dọa trực tiếp, có thể biến mất. (Tiền Phong 26/7) đầu trang(
Những ngày này, cơ quan kiểm lâm cùng lực lượng chức năng các tuyến đã phải túc trực ngày đêm để ngăn chặn hành vi khai thác cây ươi đang mùa cao điểm ra quả theo cách đốn cây, hủy diệt.
Khu vực rừng tự nhiên thuộc sự quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Hương Thủy thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế không giống như một khu rừng đang được tăng cường quản lý, bảo vệ trong mùa cao điểm, dấu hiệu của sự tàn phá rừng và xâm nhập trái phép xuất hiện ở nhiều nơi.
Đi sâu vào bên trong, từng đoàn người gùi, cõng lương thực và máy cưa nối đuôi nhau tiến vào rừng Khe Hung, nơi vẫn còn nhiều cây ươi lớn chưa bị đốn hạ.
Hàng loạt cây ươi kích thước lớn có tuổi đời từ hàng chục đến hàng trăm năm đã bị đốn hạ để thu hoạch quả. Những người khai thác ươi trái phép cho biết, mỗi kg quả thu được, sẽ bán với giá từ 100.000 - 200.000 đồng. Có những cây cổ thụ bị cưa đổ chỉ vì vài kg quả trên cành.
Vì lý do an toàn, nên hơn hai ngày ở trong rừng, việc ghi hình của phóng viên ANTV đối với các đối tượng vi phạm hết sức hạn chế. Tuy nhiên, cảnh tượng những thân cây bị cưa hạ để khai thác quả thì diễn ra ở khắp nơi. Mặc dù dọc theo tuyến đường độc đạo dẫn vào khu rừng này có đến hai trạm quản lý, bảo vệ rừng nhưng lực lượng túc trực, bảo vệ rừng lại rất ít.
Nắm bắt việc ươi sẽ được mùa nên ngay từ đầu vụ, Chi cục kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo lực lượng các tuyến tăng cường lực lượng để ngăn chặn việc người dân xâm nhập vào rừng để hạ cây, thu hoạch quả.
Tuy nhiên, rõ ràng là tại một số nơi, vấn đề thực hiện nhiệm vụ đã thả lỏng dẫn đến việc nhiều cây ươi vẫn bị đốn hạ ngày càng nghiêm trọng. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Tại địa bàn huyện Kbang, tỉnh Gia Lai nạn khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép đang diễn biến hết sức phức tạp.
Lực lượng kiểm lâm phối hợp với công an huyện vừa ra quyết định khởi tố vụ án, bắt tạm giam một nhóm đối tượng về hành vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Trước đó, vào ngày 13/6, Nguyễn Ngọc Quýnh, trú tại tổ 8, thị trấn Kbang, huyện Kbang, được sự tiếp tay của Hồ Như Khôi là cán bộ kiểm lâm huyện Kbang phụ trách địa bàn xã Kon Pne, Quýnh đã thuê 4 đối tượng gồm Hồ Văn Vĩnh; Hoàng Văn Tùng; Nguyễn Cảnh Dinh và Phạm Văn Đạt bốc dỡ và vận chuyển gỗ trái phép.
Tổng số gỗ bị phát hiện bắt giữ gồm 21m3 gỗ Bách Xanh, Sao Cát, Tô Hạp từ nhóm IIA đến nhóm V, vận chuyển trên xe ô tô tải biển kiểm soát 81C-01628 đi từ xã Kon Pne ra thị trấn Kbang.
Khi đến trạm gác cửa rừng Lâm nghiệp Krông Pa thì bị lực lượng chức năng kiểm tra và bắt giữ. Hiện vụ việc đang được các cơ quan chức năng huyện Kbang điều tra, củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh đã xảy ra gần 520 vụ vi phạm về quản lý, bảo vệ rừng, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tại các địa phương vùng miền núi, khu vực giáp ranh công tác chống phá rừng vẫn đang diễn ra phức tạp và gặp nhiều khó khăn.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong tổng số 517 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và quản lý rừng thì có đến 496 vụ vi phạm về khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép, so với cùng kỳ, tăng 119 vụ (496/377).
Trước sự chỉ đạo quyết liệt của UBND tỉnh, các đơn vị Kiểm lâm, chủ rừng và chính quyền nhiều địa phương đã tích cực phối hợp ra quân truy quét, tuần tra kiểm soát và chốt chặn nhằm hạn chế tối đa tình trạng vi phạm về rừng.
Tuy nhiên, hiện nay tại khu vực giáp ranh ở những địa phương miền núi như: Ninh Sơn, Bác Ái công tác này vẫn diễn biến phức tạp. Tình trạng các đối tượng sử dụng xe độ chế để khai thác, vận chuyển lâm sản vẫn diễn ra rất phổ biến.
Mặc dù đã có nhiều biện pháp nhưng để giải quyết triệt để tình trạng này thì rất khó. Các lực lượng Kiểm lâm trong khi truy quyét chỉ có thể bắt giữ những loại xe này khi phát hiện xe có chở lâm sản trái phép, còn trường hợp khác thì lại không được xử lý.
Ông Nguyễn Đức Hinh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ninh Sơn cho biết: Hiện nay trên địa bàn huyện vẫn còn khoảng 100 xe độ chế, các đối tượng dùng để đi khai thác, vận chuyển lâm sản.
Thời gian qua, các ngành chức năng và lực lượng Kiểm lâm tại địa phương đã triển khai rất quyết liệt các giải pháp xử lý nên tình trạng sử dụng loại phương tiện này có giảm nhưng vẫn không thể giải quyết triệt để.
Cũng theo ông Hinh, hiện nay hướng khai thác lâm sản của các đối tượng “lâm tặc” trên địa bàn huyện Ninh Sơn chủ yếu là gỗ sao tại khu vực rừng Tà Nôi ( xã Ma Nơi) và các tiểu khu giáp ranh khu vực Lâm Đồng thuộc lâm phần quản lý Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ninh Sơn.
Theo báo cáo 6 tháng đầu năm của Hạt kiểm lâm Ninh Sơn, toàn huyện phát hiện 256 vụ vi phạm về lĩnh vực rừng, tăng 113 vụ so với năm 2013 (256/143 vụ), trong đó có đến 165 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, 55 vụ khai thác rừng trái pháp luật, 34 cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản vi phạm pháp luật và nhiều vụ vi phạm khác.
Đơn vị đã tiến hành xử lý, xử phạt vi phạm hành chính 250 vụ, so với cùng kỳ năm 2013, số vụ xử phạt tăng 108 vụ (250/142 vụ), tịch thu hơn 96m³ gỗ các loại, 60 xe môtô độ chế và một số phương tiện khác.
Ông Phạm Cao Đảm, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết: Trước tình hình khai thác, mua bán và vận chuyển lâm sản vẫn diễn biến phức tạp, đặc biệt tại các khu vực miền núi, vừa qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tham mưu UBND tỉnh thành lập ba tổ kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu động liên ngành và tăng cường lực lượng công an tham gia nhằm tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Được biết, ba tổ kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu động liên ngành được thành lập và hoạt động trên địa bàn huyện Ninh Sơn (2 tổ) và địa bàn huyện Bác Ái (1 tổ). Mỗi tổ gồm 10 thành viên, các lực lượng bao gồm: lực lượng các ngành Kiểm lâm cơ động, Kiểm lâm viên điều động từ các đơn vị chủ rừng, Vườn quốc gia và lực lượng công an. Các tổ này sẽ được đóng chốt tại các điểm nóng và cửa rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ninh Sơn và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tân Tiến quản lý.
“Ngày 10 tháng 7 vừa qua các tổ kiểm tra lưu động này đã chính thức đi vào hoạt động, với sự hỗ trợ của lực lượng công an thì việc ngăn chặn tình trạng xe độ chế trước khi các đối tượng vào cửa rừng sẽ hạn chế rất nhiều, công tác ngăn chặn khai thác gỗ và vận chuyển lâm sản trái phép sẽ mang lại kết quả trong thời gian tới”, ông Đảm cho biết thêm. (Báo Ninh Thuận 25/7) đầu trang(
24-7, Ban chỉ huy bảo vệ rừng và Phòng chống cháy rừng huyện Thuận Bắc tổ chức hội nghị sơ kết công tác quản lý bảo vệ rừng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2014.
Trong 6 tháng đầu năm, lực lượng Kiểm lâm huyện thuận Bắc đã phối hợp với đơn vị chủ rừng và lực lượng liên ngành tổ chức 42 đợt tuần tra, truy quét tại các vùng trọng điểm trên toàn địa bàn.
Qua đó, đã phát hiện, bắt và xử lý 8 vụ vi phạm lâm luật, thu nộp ngân sách trên 28 triệu đồng. Các địa phương và đơn vị chủ rừng thực hiện có hiệu quả phương án phòng chống cháy rừng mùa khô trên địa bàn huyện.
Trong 6 tháng cuối năm, huyện Thuận Bắc tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm tra, truy quét, xử lý và ngăn chặn tình trạng pháp rừng làm rẫy, lấn chiếm đất rừng; nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm lâm địa bản xã và thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Tăng cường tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng để nâng cao ý thức trách nhiệm cũa người dân; đồng thời xây dựng phương án phòng chống cháy rừng mùa khô và truy quét chống phá rừng. (Báo Ninh Thuận 25/7) đầu trang(
25-7, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh đã chủ trì hội nghị sơ kết công tác bảo vệ và phát triển rừng 6 tháng đầu năm 2014 và triển khai nhiệm vụ những tháng cuối năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2014, diện tích rừng bị phá là 0,82 hécta, giảm 74% so với cùng kỳ năm 2013. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện 141 vụ vi phạm về rừng và đa số là vi phạm mua bán lâm sản, động vật hoang dã trái phép.
Hiện toàn tỉnh có hơn 162 ngàn hécta rừng, trong đó gần 120 ngàn hécta rừng tự nhiên và hơn 42 ngàn hécta rừng trồng. Từ đầu năm đến nay, rừng của Đồng Nai được bảo vệ tốt, không xảy ra cháy rừng, điểm nóng hoặc vi phạm nghiêm trọng về rừng.
Để công tác bảo vệ rừng ngày một tốt hơn tỉnh đã phối hợp với các địa phương có rừng vận động cộng đồng tham gia bảo vệ rừng và đã thành lập được 43 tổ bảo vệ rừng.
Tại buổi làm việc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh yêu cầu lực lượng kiểm lâm phải phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chủ rừng, địa phương có rừng thường xuyên kiểm tra bảo vệ rừng để giảm các vụ vi phạm về rừng, đồng thời chú trọng công tác trồng rừng để tăng diện tích và tỷ lệ che phủ của rừng. (Báo Đồng Nai 25/7) đầu trang(
Cốc Lắc là một bản của xã Tú Nang, (Yên Châu) bản có 60 hộ, 282 nhân khẩu. Kinh tế của bản chủ yếu dựa vào các mô hình dịch vụ, canh tác cây nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Bên cạnh đó, người dân trong bản luôn nâng cao ý thức quản lý bảo vệ và phát triển rừng, góp phần phát triển kinh tế, giữ gìn môi trường sống.
Trưởng bản Hoàng Văn Thuận khoe: Khu rừng của bản có gần 600 ha, trong đó có gần 18 ha rừng trồng chủ yếu là gỗ lát, gỗ tếch. Những năm qua, do bảo vệ tốt nên không có trường hợp phá rừng và cháy rừng xảy ra.
Để bảo vệ rừng, bản đã thành lập đội PCCC và Tổ bảo vệ rừng, thường xuyên tổ chức họp dân tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, phát quang đường băng cản lửa, giao đất, giao rừng cho tổ chức, cá nhân, nêu cao ý thức bảo vệ chung. Mỗi một cây rừng ở đây đều được coi như là một thành viên của bản vậy.
Tháng 4-2014, là mùa làm rẫy, người dân bản lân cận đốt nương do vô ý đã làm cháy lan sang rừng của bản Cốc Lắc. Lúc đó là nửa đêm, nhưng khi nghe tiếng kẻng báo động của bản, nhà nào cũng cử người tham gia dập tắt lửa. Do ứng cứu và dập tắt kịp thời nên đám cháy chỉ phá hủy vài trăm mét vuông rừng.
Ông Lê Văn Hoa, Trạm trưởng Trạm bảo vệ rừng số 2 huyện Yên Châu, cho biết: Năm nào bản cũng tổ chức ký cam kết về công tác bảo vệ rừng, người dân ở đây đều ý thức được rằng một hộ bảo vệ rừng thì khó, nhưng cả bản tập trung bảo vệ thì khu rừng được mãi xanh tốt.
Hơn nữa, người dân được hưởng lợi: khai thác gỗ, tre đúng quy định để làm nhà; thu hoạch măng để cải thiện bữa ăn; nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng; khai thác cành cây khô làm củi, rau rừng, thuốc nam... Cốc Lắc là một trong những bản có tinh thần trách nhiệm cao của xã Tú Nang về công tác phát triển và bảo vệ rừng.
Nói về thành quả bảo vệ rừng của bản, ông Hoàng Văn Ê, Bí thư chi bộ bản, hồ hởi cho biết: Chi bộ đã ban hành nghị quyết chuyên đề về bảo vệ rừng, nhiều năm qua, bản luôn phát huy được vai trò tiên phong của đảng viên, người cao tuổi và người có uy tín trong bản trong công tác bảo vệ rừng. Cán bộ xã thường xuyên cùng bản tổ chức họp dân lồng ghép với công tác bảo vệ rừng.
Nhìn cánh rừng xanh ngút ngàn của Cốc Lắc, sẽ hiểu hơn lời của Trưởng bản Hoàng Văn Thuận chia sẻ: "Bảo vệ rừng là giữ cho môi trường sống của của con cháu chúng tôi sau này". Cốc Lắc được coi là điểm sáng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng bền vững của xã Tú Nang. (Báo Sơn La 25/7) đầu trang(
Trên địa hình toàn núi đá vôi, độ dốc cao, với một người bình thường việc đi lại đã khó khăn, thế nhưng mỗi lần đi tuần rừng, cán bộ kiểm lâm Tuyên Quang còn gùi thêm 15kg nhu yếu phẩm cần thiết.
Đó là chưa kể những hiểm nguy rình rập trên đường. Khó khăn là vậy nhưng lực lượng kiểm lâm nơi đây vẫn ngày đêm bám rừng, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá của đất nước.
Trong chuyến công tác tại Tuyên Quang, PV có dịp được gặp và trò chuyện với cán bộ kiểm lâm của Trạm Kiểm lâm cửa rừng Phúc Sơn (Hạt Kiểm lâm Chiêm Hóa). Qua câu chuyện, PV phần nào thấy được nỗi vất vả mà các anh đang trải qua để thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng.
Ông Hoàng Ngọc Đường, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm cửa rừng Phúc Sơn, tâm sự: “Hiện, trạm đang quản lý rừng của 2 xã Minh Quang và Phúc Sơn với diện tích hơn 10.000ha nhưng do lực lượng cán bộ mỏng nên công tác quản lý, bảo vệ rừng ở đây gặp nhiều khó khăn”.
Theo ông Đường, khó khăn lớn nhất đối với anh em là công tác đi tuần rừng, do diện tích rừng lớn nên không thể đi trong ngày, mỗi chuyến tuần tra của anh em kiểm lâm thường kéo dài 2 - 3 ngày. Nguy hiểm hơn, với địa hình núi đá vôi, độ dốc lớn, trong quá trình đi tuần chỉ cần sơ sẩy là có thể nguy hiểm tới tính mạng bất cứ lúc nào.
Ngoài ra, trong quá trình đi tuần, lực lượng kiểm lâm luôn phải đối mặt với các đối tượng manh động, sẵn sàng chống trả để cướp lại tang vật bất cứ lúc nào. Ông Đường nhớ lại: “Vào khoảng tháng 3/2014, chúng tôi nhận được tin báo của cộng tác viên tại thôn Biến, xã Phúc Sơn, trên địa bàn xuất hiện hai đối tượng có hành vi khai thác gỗ trái phép (gỗ tận thu). Để tiếp cận hiện trường, chúng tôi phải huy động tới 7 anh em mật phục nằm chờ đối tượng. Sau một ngày đêm men theo đường rừng, chúng tôi đã tiếp cận và bắt gọn 2 đối tượng khi chúng đang thực hiện hành vi khai thác gỗ trái phép. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, các đối tượng đã bị xử phạt hành chính lên tới 25 triệu đồng”.“Trong thời gian mật phục, anh em đã bí mật chuyển qua nhiều vị trí là những đỉnh núi cao để theo dõi các động thái của lâm tặc. Đặc biệt, anh em mật phục vào ban đêm, dù thiếu nước uống, thiếu lương khô, khó khăn trăm bề nhưng chúng tôi vẫn phải cẩn thận từng bước, tránh không cho đối tượng phát hiện ra.
Các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép đều rất manh động, sẵn sàng chống trả khi bị ngăn chặn nên lực lượng kiểm lâm luôn phải đối mặt với hiểm nguy rình rập. Ngoài công tác quản lý, bảo vệ, chúng tôi còn tham gia trồng rừng, phối hợp với chính quyền địa phương làm công tác tuyên truyền, lên kế hoạch thực hiện công tác quản lý, phòng cháy, chữa cháy rừng. Đi cơ sở vất vả là vậy nhưng anh em vẫn phải thay nhau trực ở trạm 24/24 giờ, không cho đối tượng xấu có cơ hội vận chuyển gỗ qua”, ông Đường cho biết thêm.
Để quản lý, bảo vệ rừng, nhiều cán bộ của Trạm Kiểm lâm cửa rừng Phúc Sơn phải trực tiếp đối đầu với các đối tượng lâm tặc manh động, sẵn sàng chống trả, cướp lại tang vật khi bị phát hiện. Điển hình như anh Đoàn Công Tú, kiểm lâm viên, trong quá trình đưa tang vật về trạm xử lý, đã bị các đối tượng ném gãy chân.
Hay mới đây, cán bộ kiểm lâm Trạm Kiểm lâm cửa rừng Phúc Sơn đã phối hợp bắt gọn 2 đối tượng ném đá vào trạm khi chúng tổ chức cướp tang vật không thành. Ông Đường kể lại, sáng 19/6/2014, anh em đi tuần ở thôn Tầng phát hiện ở bãi ngô có 5 cái thớt, khi đang tiếp cận thì có đối tượng tên là Thành xin số gỗ trên. Khi xin không được, đối tượng này cầm gậy tấn công đồng chí Tú, ngay lúc đó có đồng chí Phương tiếp ứng nên đối tượng mới bỏ đi. Sau đó, số gỗ trên đã được đưa về trạm xử lý.
Đến khoảng 22 giờ đêm hôm đó, đối tượng Thành cùng một người tên Quý đi xe máy qua barie của trạm. Một lúc sau chúng quay lại, khi đi qua cửa nhà làm việc, hai đối tượng này đã chửi bới thô tục và ném đá vào đồng chí Hà Đức Ngân đang ngồi trực.
Sau đó, hai đối tượng phóng xe cách trạm khoảng 80m thì dừng lại, quay về hướng trạm thì thào bàn tán. Khi chúng tôi rọi đèn pin thì chúng chửi bới hung hăng, nổ máy rú ga phi thẳng về phía trạm, nhặt đá cạnh đường ném tới tấp về phía anh em tôi. Trước tình thế này, chúng tôi phải chạy vào nhà để tránh, tôi chạy vào lấy súng ra bắn cảnh cáo thì 2 đối tượng mới lên xe bỏ đi, cách trạm khoảng 300m thì dừng lại.
Cùng lúc đó, có 3 người của trạm đi tuần đêm về, ngay lập tức chúng tôi tổ chức vây bắt hai đối tượng trên.
“Nhờ đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới nhân dân, tăng cường công tác tuần tra, bám sát địa bàn nên tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép đã giảm rõ rệt. Cụ thể, tháng 1/2014, trạm phát hiện tới 12 vụ vận chuyển gỗ nhưng hai tháng gần đây giảm xuống còn 3- 4 vụ/tháng”, ông Đường kể. (Kinh Tế Nông Thôn 25/7, tr15) đầu trang(
Theo tin từ Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), tính đến ngày 25/7, tỉnh Phú Yên đang có nguy cơ cháy rừng ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh.
Nắng nóng gay gắt, thời tiết khô hanh kéo dài cộng với việc người dân đốt dọn nương rẫy nên nguy cơ cháy rừng trên địa bàn rất cao. Theo Chi cục Kiểm lâm Phú Yên, nắng nóng còn tiếp tục kết hợp với gió mùa thổi mạnh thì nguy cơ cháy rừng trên diện rộng là rất lớn, công tác dập lửa sẽ hết sức khó khăn vì rừng nằm trên núi cao, xa khu dân cư, rất khó tiếp cận.
Trước tình hình này, Chi cục Kiểm lâm Phú Yên đang tích cực triển khai phương án phòng, chống cháy rừng, trong đó tập trung vào các đối tượng phát, đốt rẫy trong và ven rừng; đồng thời bố trí lực lượng sẵn sàng ứng phó khi có sự cố xảy ra. Được biết, để ngăn ngừa cháy rừng có thể xảy ra, các chủ rừng là hộ gia đình và doanh nghiệp đều tự kiểm tra, canh gác và làm đường băng cản lửa.
Theo người đân địa phương, đây là năm nắng hạn tàn khốc và kéo dài nhất trong vòng 10 năm gần đây.
Hiện các ngành chức năng và địa phương trên địa bàn tỉnh đang tích cực triển khai phương án phòng, chống cháy rừng, giảm thiểu thiệt hại. Ngoài phương pháp tuyên truyền đến người dân về pháp luật trong quản lý, bảo vệ rừng, các đơn vị kiểm lâm cơ sở trên địa bàn tỉnh còn thường xuyên đôn đốc chủ rừng, nhất là các doanh nghiệp trồng rừng tích cực kiểm tra hiện trạng rừng, tăng cường làm băng cản lửa, hạn chế xảy ra cháy rừng lớn.
Theo đó, cũng như mọi năm, phương án phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) được đơn vị triển khai từ đầu mùa khô. Vào thời gian cao điểm của đợt nắng nóng, lãnh đạo các chi cục thường xuyên về các địa bàn miền núi đôn đốc các đơn vị trực thuộc chủ động trang thiết bị, tu sửa và lắp đặt thêm biển cảnh báo cháy rừng tại các vùng trọng điểm thường hay xảy ra cháy rừng; bố trí lực lượng trực chốt, không cho những người không phận sự vào rừng.
Đồng thời, lực lượng chức năng cũng tăng cường tuyên truyền người dân nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ rừng, đặc biệt là cẩn trọng trong việc sử dụng lửa. Ngoài ra, Chi cục Kiểm lâm còn chủ động phối hợp với các ngành liên quan và chính quyền địa phương xây dựng kế hoạch, phương án PCCCR, sẵn sàng tham gia dập lửa kịp thời, không để cháy rừng lan ra diện rộng.
Có thể thấy, công tác PCCCR được các cấp, ngành của tỉnh tích cực triển khai trên tinh thần tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, vận động nhân dân cùng tham gia.
Cũng theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên, trong điều kiện khó khăn về kinh phí cho công tác PCCCR, phương án được đặt ra là tăng cường tuần tra, kiểm soát, lắp đặt biển cảnh báo nguy cơ cháy rừng tại những vùng nguy hiểm; tập trung vào công tác tuyên truyền, vận động người dân cùng tích cực tham gia bảo vệ, sẵn sàng giúp sức khi có sự cố xảy ra.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên cho biết, việc dùng lửa trong sản xuất, các hành vi đốt thực bì tìm kim loại, bắt tổ ong, nấu ăn trong rừng... là những nguy cơ gây cháy rừng cao.
Trong khi đó, đời sống của người dân miền núi còn nhiều khó khăn, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số, ý thức bảo vệ rừng và PCCCR của một bộ phận dân cư chưa cao, hoạt động sản xuất nông nghiệp lạc hậu; nạn phát, đốt rừng trái phép, sử dụng lửa trong khu vực rừng diễn ra thường xuyên, vượt quá khả năng kiểm soát của ngành chức năng. Bên cạnh đó, các chế tài và hình thức xử lý vi phạm chưa nghiêm... dẫn đến nguy cơ cháy rừng ngày càng cao.
Mặc dù công tác PCCCR được các cấp chính quyền, sở, ban ngành đặc biệt quan tâm, nhưng do kinh phí còn hạn chế, chính sách hỗ trợ cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR chưa tương xứng nên chưa kích thích được sự tham gia của đông đảo người dân. Các dụng cụ, thiết bị phục vụ công tác này còn ít và thô sơ, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Nhìn chung, các giải pháp PCCCR đang áp dụng hiện nay cũng chỉ dừng lại ở việc tăng cường chỉ đạo bảo vệ rừng và kiện toàn ban chỉ huy các vấn đề cấp bách, các tổ, đội bảo vệ rừng và PCCCR; quản lý chặt chẽ việc đốt, dọn rẫy trong mùa khô, hướng dẫn chủ đầu tư bố trí các công trình PCCCR trong dự án trồng rừng tập trung phù hợp với diện tích, địa hình và khu vực; tăng cường tuần tra, tuyên truyền bảo vệ rừng và PCCCR đến tận người dân, đồng thời tăng cường tập huấn nghiệp vụ, diễn tập cho các đơn vị, địa phương và lực lượng PCCCR chuyên trách…
Để khắc phục tình trạng này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã tăng cường triển khai kế hoạch phối hợp với lực lượng vũ trang và các địa phương kiểm tra, lên phương án PCCCR, tập trung vào những vùng trọng điểm có nguy cơ cháy cao.
Đồng thời kiện toàn bộ máy Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR ở các huyện, thị xã, thành phố. Lực lượng này gồm có Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Tài nguyên – Môi trường, Tài chính, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên và lực lượng vũ trang, do đồng chí phó chủ tịch UBND làm trưởng ban. Mỗi tổ PCCCR ở xã có từ 5 đến 10 người làm nhiệm vụ tuần tra bảo vệ rừng, đóng vai trò nòng cốt trong chữa cháy rừng tại chỗ.
Theo quy định, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong công tác quản lý, bảo vệ và PCCCR các cấp phải chịu trách nhiệm trước cấp ủy, UBND cùng cấp trong việc theo dõi, chỉ đạo công tác bảo vệ rừng và PCCCR thuộc địa bàn quản lý.
Các đơn vị kiểm lâm trực thuộc xác định cụ thể các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để bố trí các nguồn lực phù hợp theo phương châm bốn tại chỗ nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các tình huống, không để xảy ra cháy rừng.
Các địa phương rà soát, hoàn thiện quy chế phối hợp trong bảo vệ và PCCCR giữa lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội và bộ đội biên phòng; xây dựng quy chế phối hợp hoạt động giữa lực lượng kiểm lâm với lực lượng dân quân tự vệ, công an xã, phường, thị trấn cùng các lực lượng khác trong giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ rừng.
Các ngành có liên quan lập đoàn công tác liên ngành tăng cường kiểm tra, đôn đốc các huyện, xã và chủ rừng thực hiện nghiêm phương án bảo vệ rừng và PCCCR; đồng thời tăng cường lực lượng tổ chức chốt, trạm ở cửa rừng và thường trực tại khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh tuần tra, kiểm soát, kiên quyết không để những đối tượng không có phận sự vào rừng trong thời kỳ cao điểm của mùa khô và chỉ đạo lực lượng kiểm lâm thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời thông tin về dự báo, cảnh báo cháy rừng, phát hiện sớm điểm cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng và website của Cục Kiểm lâm.
Đơn vị này còn phải tổ chức ứng trực PCCCR 24/24 giờ trong những tháng cao điểm của mùa khô; chủ động triển khai lực lượng, phương tiện, trang thiết bị PCCCR, đảm bảo xử lý kịp thời các tình huống cháy rừng. (Đảng Cộng Sản VN 22/7) đầu trang(
Hai cây long não khổng lổ tại Biệt điện Bảo Đại ở Buôn Ma Thuột, vừa được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đưa vào danh sách "Cây di sản Việt Nam".
Hai bên cổng chính Biệt điện Bảo Đại ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có hai cây long não khổng lồ tuyệt đẹp được trồng cân xứng, gốc lớn hàng chục người ôm, mỗi cây tỏa cành xanh rợp cả trăm mét vuông, trông như cổ thụ nghìn tuổi.
Mới đây, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã làm thủ tục công nhận, đưa 2 cây long não này vào danh sách “Cây di sản Việt Nam”.
Long não hay còn gọi là rã hương là một loại cây thân gỗ, lớn, thường xanh, có thể cao tới 20–30 m. Lá nhẵn bóng, vò dập sẽ thơm nhẹ mùi long não. Nhờ chứa tinh dầu, gỗ long não không bị côn trùng phá hại. Trước đây, Long não thường bị khai thác để sản xuất long não tự nhiên, phục vụ trong y tế, còn hiện nay mọi loại long não đều được chế biến tổng hợp từ nhiều loại nguyên liệu khác nhau.
Trong danh sách cây di sản Việt Nam đã được công nhận, có lẽ đôi long não này thuộc hàng “trẻ tuổi” nhất. Theo tiến sĩ sử học Lương Thanh Sơn- Giám đốc Bảo tàng Đắk Lắk, cơ quan hiện có khuôn viên bao trọn cả Biệt điện Bảo Đại Buôn Ma Thuột, căn cứ vào lịch sử thành lập đô thị của vùng đất này, đôi cây long não đã được người Pháp đưa sang chỉ có thể được trồng khi vua Bảo Đại cho xây Biệt điện khoảng năm 1929-1930.
Rất nhiều người không tin đôi cây khủng này mới trên 80 tuổi. Nhưng thực tế cho thấy nhiều loại cây trồng trên Tây Nguyên đã phát triển với tốc độ khó tin. Ví dụ cây Bồ đề do lãnh đạo tỉnh trồng tại Đình Lạc Giao ( nơi được xem là điểm khai sinh ra thành phố Buôn Ma Thuột bây giờ) vào ngày 30/8/1990, tới nay mới 24 tuổi nhưng đã bị rất nhiều văn thi sĩ tả là “ cổ thụ hàng trăm năm tuổi”. (Tiền Phong 26/7, tr13) đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng trên báo Nhân Dân cho biết: Tình trạng khai thác và vận chuyển trái phép các sản phẩm từ cây ươi đang diễn ra hàng ngày trên địa bàn H.Sông Hinh. (Nhân Dân 26/7, tr7) đầu trang(
25.7, Sở VH-TT-DL tỉnh Đồng Tháp cho biết cây khế (287 năm tuổi) và cây sộp (ảnh, 326 năm tuổi) được ông Ngô Văn Hay (ngụ Đồng Tháp) tặng cho BQL Khu di tích Nguyễn Sinh Sắc (P.4, TP.Cao Lãnh) đã được công nhận là cây di sản VN.
Hai cây này được trồng cạnh khu vực mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc và là những cây cổ thụ đầu tiên tại Đồng Tháp được công nhận cây di sản. (Thanh Niên 26/7, tr3) đầu trang(
Huyện Phước Sơn không chỉ nổi tiếng với những mỏ vàng mà còn có nhiều sản vật quý mà núi rừng đã ban tặng cho con người như gỗ quý, nguồn nước, các sản vật từ rừng như mật ong, trái ươi bay, cây đót,... Từ những sản vật này, người dân có cơ hội vươn lên làm giàu bền vững.
Lộc rừng ở Phước Sơn nhiều, nhưng không phải vô tận. Nếu khai thác không đúng quy trình thì nguồn lợi từ rừng sẽ cạn kiệt, môi trường sống sẽ ngày càng xấu đi. Cách đây 5-10 năm, thị trấn Khâm Đức nhộn nhịp kẻ bán người mua, nay bắt đầu khó khăn vì cơn bão khủng hoảng. “Cơn lốc” vàng đã từng giúp một số người lên giàu lên sau vài lần trúng quả, rồi cũng nhiều đại gia phải lâm nợ, vào vòng lao lý vì vàng.
Đến thời điểm này thì khó khăn đã dần lộ diện, sống ở mảnh đất mà vàng thành cứu cánh, thì khi vàng cạn kiệt kéo theo bao hệ lụy khôn lường. Ngồi tâm sự với anh Tuyển, Công ty Trường Sơn, mới thấy hết những khó khăn của nghề khai thác vàng, đầu tư lớn, rủi ro nhiều, cuối cùng anh kết luận : “Nếu vàng mà dễ khai thác thì nó đâu có giá trị và đang sốt như bây giờ”.
Khi vàng không còn là cứu cánh, người Phước Sơn nhận ra rằng, chính những sản vật từ rừng sẽ mang lại cho họ cuộc sống no đủ nếu biết vừa khai thác, vừa gìn giữ và phát triển. Ngoài vàng, rừng Phước Sơn còn cho con người nhiều sản vật quý như cây đót thu hoạch vào mùa xuân; mật ong rừng cũng mang lại nguồn thu nhập lớn cho bà con các dân tộc. Có người đã khai thác được cả ngàn lít mật trong vụ vừa qua, mang lại nguồn thu nhập đáng kể.
Cây ươi bay cũng là một sản vật của Phước Sơn. Tiếc rằng thời gian qua đã bị người dân tàn phá, cưa ngã vô tội vạ để thu hái quả. Để bảo vệ những cánh rừng, suốt mùa thu hoạch quả ươi, Hạt Kiểm lâm huyện luôn tuần tra, truy đuổi những đối tượng vào rừng hái quả, kéo theo nạn phá rừng ngày càng diễn biến phức tạp. Máu đã đổ trên những cánh rừng, vì kế sinh nhai, nhiều người đã phá vỡ đi màu xanh vốn có của rừng. Thiết nghĩ, để hạn chế tình trạng này, chính quyền địa phương nên giao khoán rừng cho cộng đồng bảo vệ, chăm sóc và thu hoạch ươi theo hướng bền vững.
Khi đến xã Phước Thành, gặp anh Phen, Chủ tịch UBND xã, mới hay, xã này có trữ lượng vàng lớn, nhiều công ty có bãi vàng khai thác ở đây. Vàng nhiều là vậy nhưng xã vẫn còn nghèo, quá trình xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó khăn, số tiêu chí đạt thấp. Vì vậy, xã đang hướng bà con phát triển các mô hình sản xuất bền vững, thay vì chờ sẵn lộc trời. Hy vọng con đường nhựa mới mở từ thị trấn Khâm Đức đi các xã Phước Chánh, Phước Kim, Phước Thành, Phước Lộc sẽ là con đường nối những bờ vui, để lộc rừng là món quà đại ngàn mà mọi người dân cùng chung hưởng.
Khi đến Phước Lộc, ngồi trong lán trại của anh Lại Minh Trang, một phu vàng quê Ninh Bình, thấy cảnh bà con người dân tộc gùi những sản vật như măng rừng, rau rừng, hoa chuối và nhiều thứ khác đến bán cho anh em khai thác vàng mới thấy những sản vật của rừng Phước Sơn thật phong phú. Với anh Toàn, cán bộ vừa được điều động từ Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phước Sơn vào xã Phước Lộc làm Chủ tịch UBND xã, nếu biết phát triển vốn rừng, xây dựng những mô hình nông - lâm kết hợp thì rừng sẽ cho cuộc sống no ấm, đủ đầy, chứ không chỉ có máu, nước mắt sau những lần tìm kiếm vàng trong hầm mỏ xa xôi.
Rời Phước Sơn trong cơn mưa chiều xối xả, lòng ấm áp hơn vì biết rằng những trái ươi bay gặp mưa sẽ đâm chồi nảy lộc, rồi những cánh rừng ươi lại xanh ngút ngàn sau những cơn mưa. Mùa ươi bay những năm sau lại được mùa, được giá nếu rừng được bảo vệ tốt hơn. Lộc rừng sẽ nuôi sống bao người dù không phải là vô tận. (Kinh Tế Nông Thôn 25/7, tr4) đầu trang(
Trên cung đường chính chạy qua xã Tân Tri lên huyện Bắc Sơn (Lạng Sơn), mỗi ngày có tới chục đoàn, mỗi đoàn 6 - 10 xe, mỗi xe chở hàng chục thanh gỗ nghiến chạy với tốc độ cao đi tiêu thụ.
Theo tìm hiểu của phóng viên, nguồn gốc gỗ mà các đối tượng vận chuyển xuất phát từ xã Nghinh Tường (Võ Nhai - Thái Nguyên). Điều đáng nói là, sự việc diễn ra đã lâu nhưng cơ quan chức năng, chính quyền địa phương vẫn chưa có giải pháp xử lý hữu hiệu.
Nhận được tin báo của người dân về tình trạng vận chuyển gỗ nghiến đang diễn ra một cách công khai ở Tân Tri, PV cùng bạn đồng nghiệp lên đường tìm hiểu vụ việc. Để biết được quy mô cũng như phương thức vận chuyển của các đối tượng, PV phải vượt qua con đường đất nhão nhoét với nhiều đoạn dốc cao ngất mới sang tới xã Tân Tri. Tâm sự với PV, anh H., một người dân thôn Thâm Xi (xã Tân Tri), cho biết: “Trước đây, người dân trong xã đi vác gỗ thuê đông lắm, trung bình mỗi ngày cũng được hơn 200.000 đồng. Bây giờ người ta không thuê dân vác nữa mà dùng ngựa đưa gỗ xuống chân núi, rồi đưa đi tiêu thụ bằng xe máy”.
Chỉ tay vào con đường nối từ thôn Thâm Xi tới UBND xã Tân Tri, anh H. nói: “Trước đây, cung đường này là con đường chính vận chuyển gỗ của các đối tượng lâm tặc, mỗi ngày có tới hàng chục tốp vận chuyển qua đây. Để tránh bị phát hiện, các đối tượng đã chuyển sang đi bằng con đường khác”.
Khi hỏi về nguồn gốc gỗ lấy ở đâu, anh H. cho biết: “Cụ thể gỗ lấy ở đâu thì em không biết. Chỉ biết là nhận gỗ ở bản Mùn, xã Nghinh Tường (Võ Nhai)”. Khi PV ngỏ ý nhờ đưa vào nơi thường lấy gỗ, anh H. kể: “Các đối tượng hoạt động rất tinh vi, trên đường vào lại có các “chim lợn” làm tình báo nên người lạ vào là họ biết ngay. Em mà đưa các anh vào đó thì nguy hiểm cho anh, cho em và cả gia đình em nữa”.
Còn bà V. (xã Tân Tri), người có thâm niên đi vác gỗ nghiến, cho biết: “Trước đây, tôi có một thời gian dài đi vác gỗ thuê. Để đến được nơi vác gỗ, tôi phải dậy từ 5 giờ sáng, đi đến khoảng 10 giờ trưa thì tới khu vực bản Mùn, xã Nghinh Tường. Từ đây, chúng tôi đi lên núi vác gỗ đến khoảng 14 giờ thì vác về tới chân núi. Tối đến chúng tôi vào nhà dân ở dưới chân núi nhờ nấu cơm ăn để ngày mai đi vác tiếp, thu nhập được khoảng 240.000 đồng/ngày. Để không bị các cơ quan chức năng phát hiện, giờ họ vận chuyển qua thôn Bình An mà không đi qua thôn Thâm Xi như trước kia”.
Để nắm rõ hơn về con đường mà các đối tượng vận chuyển cũng như quy mô, số lượng gỗ nghiễn đưa đi tiêu thụ, PV cùng đồng nghiệp phải mất nhiều ngày “phục kích” tại xã Tân Tri. Sau một ngày “mật phục” trên con đường nối từ thôn Thâm Xi tới UBND xã Tân Tri, PV không thu được kết quả gì. Tối đến, PV ghé vào một quán nước gần UBND xã để phục kích các đối tượng. Khoảng hơn 23 giờ, trong màn đêm tối như mực, bỗng PV nghe thấy tiếng xe máy gầm rú, kèm theo đó là ánh đèn pha rọi sáng cả một vùng.
Sáng hôm sau, PV dậy từ rất sớm để phục kích. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này PV đều bật sẵn máy chờ các đoàn xe lao tới là hành động. Đúng 6 giờ sáng, tiếng xe máy inh ỏi từ phía xa bắt đầu gầm rú cả một vùng. Theo quan sát của PV, đoàn xe gồm 8 người, mỗi xe chở từ 8 - 10 thanh gỗ nghiến chạy về hướng trung tâm huyện Bắc Sơn để tiêu thụ.
Không hài lòng với những bức ảnh đã chụp, PV cùng đồng nghiệp bàn với nhau đi sâu vào con đường đất nối từ thôn Bình An ra UBND xã Tân Tri để tác nghiệp. Vị trí chúng tôi chọn để ghi hình là trước một vũng bùn lớn kéo dài hàng trăm mét. Khoảng 9 giờ sáng, những tiếng xe máy gầm rú bắt đầu vang lên. Tôi giả vờ bị hỏng xe để quay lại toàn bộ cảnh đoàn xe đi qua.
Với cách bố trí như vậy, PV đã ghi lại được toàn bộ cảnh vận chuyển gỗ nghiến. Theo những tài liệu quay được, đoàn chở gỗ gồm 6 người, 1 người đi sau tiếp xăng. Mỗi đối tượng thường chở 10 - 12 thanh gỗ nghiến, trung bình mỗi thanh gỗ dài 1m, rộng 30 - 40cm, dày khoảng 30cm. Phần lớn xe máy các đối tượng dùng để vận chuyển gỗ đều mang biển kiểm soát của tỉnh Thái Nguyên.
Mang những hình ảnh mà PV thu thập được đưa cho ông Nguyễn Đức Thịnh, Chánh văn phòng UBND huyện Võ Nhai xem, ông Thịnh tỏ ra khá bất ngờ. Ông cho biết, sẽ tham mưu cho lãnh đạo UBND huyện nhóm họp các bên liên quan để giải quyết dứt điểm việc này.
Còn ông Nguyễn Quang Lịch, Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, cho biết: Ban có 17.417ha rừng đặc dụng, nằm trên địa bàn 7 xã và 1 thị trấn. Riêng xã Nghinh Tường có hơn 1.900ha. Ở bản Mùn, xã Nghinh Tường có rừng đặc dụng nhưng nằm phía trên rừng phòng hộ và giáp với Niêm Thủy, Na Rì, Bắc Kạn.Ông Lịch khẳng định: “Gỗ mà các đối tượng vận chuyển từ bản Mùn, xã Nghinh Tường sang Bắc Sơn (Lạng Sơn) là gỗ từ bên Na Rì chuyển sang. Chúng tôi hiện có 2 chốt chặn tuyến đường khai thác gỗ nghiến trái phép từ Niêm Thủy, Na Rì sang bản Mùn nhưng do nằm ở vùng giáp nên gặp không ít khó khăn. Tháng 6 vừa qua, chúng tôi cùng các xã giáp ranh của 3 tỉnh ký kết quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng”.
Theo ông Phan Quốc Thụ, Phó giám đốc Ban quản lý: “Cách đây 15 năm, lượng cây nghiến có tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã bị đốn hạ. Hiện, chỉ còn những cây nghiến loại nhỏ, mới trồng, chiều cao chỉ từ 5 - 7m”.
Mặc dù đã phối hợp với các xã giáp ranh để bảo vệ rừng, đặc biệt tại xã Nghinh Tường có 2 chốt trực 24/24 giờ nhưng tại sao các đối tượng vẫn vô tư vượt mặt kiểm lâm đưa gỗ đi tiêu thụ? Phải chăng có “lỗ hổng” trong đội ngũ kiểm lâm hay sự phối hợp giữa các tỉnh không tốt? Câu hỏi này xin gửi tới cơ quan chức năng ở các địa phương có rừng. (Kinh Tế Nông Thôn 25/7, tr3) đầu trang(
Đội chống buôn lậu miền Bắc, cục điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan đã triệt phá đường dây chuyên buôn bán, vận chuyển động thực vật hoang dã từ châu Phi về Việt Nam với số lượng lớn, bước đầu chuyên án bắt giữ một lượng lớn tê tê. (An Ninh Thủ Đô 26/7; Lao Động 26/7, tr3; Công An Nhân Dân 26/7, tr1) đầu trang(
Với chủ đề “Quản lý và sử dụng rừng ngập mặn bền vững các tỉnh ven biển”, diễn đàn Khuyến nông @ nông nghiệp khu vực Nam bộ diễn ra sáng 25.7 tại Cà Mau công bố cả nước có trên 242.000 ha rừng ven biển bị mất trong 71 năm qua.
Theo đó, cả nước có 20 tỉnh, TP có rừng ngập mặn trải dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Kiên Giang) với tổng diện tích là 408.500 ha (năm 1943) nhưng hiện chỉ còn khoảng 166.000 ha (giảm gần 60%). Nguyên nhân rừng ngập mặn ven biển bị mất là do tàn phá của chất độc hóa học trong chiến tranh, tác động xấu từ thiên nhiên và con người...(Tiền Phong 26/7, tr15; Thanh Niên 26/7, tr5; Sài Gòn Giải Phóng 26/7, tr7) đầu trang(
Ý thức giữ rừng, bảo vệ rừng trong đồng bào Khmer, huyện Tri Tôn nhiều năm qua đã góp phần giúp những cánh rừng không bị vụ cháy lớn nào xâm hại, mặc dù luôn được cảnh báo cháy cấp 5, cực kỳ nguy hiểm.
Cuối buổi chiều đầu tháng tư vừa qua, trong lúc thu hoạch hạt điều về, bà Néang Nhây (sinh năm 1951) và Néang Nonl (sinh năm 1953), cùng ngụ ấp Ninh Lợi (xã An Tức, Tri Tôn) phát hiện một đám cháy cạnh giếng nước trên đỉnh đồi A1 (đồi Tà Pạ nhỏ).
Bà Néang Nhây kêu đứa cháu chạy nhanh xuống đồi báo cho Trạm Kiểm lâm địa bàn An Tức, rồi cùng với bà Néang Nonl và ba đứa cháu lao vào chữa cháy. Trong tay không có dụng cụ gì, mọi người đã nhanh trí vạch lá khô tạo khoảng trống chung quanh đám lửa để tránh lây lan.
"Lá khô phủ dày đến mấy tấc (một tấc bằng một cm), gặp nắng nóng nên cháy rất nhanh. Khi đám cháy cạnh giếng nước vừa tắt thì gió thổi tàn lửa qua chỗ khác gây cháy tiếp. Chúng tôi phải nhanh chóng vạch lá làm hành lang an toàn chữa cháy chung quanh đám cháy mới, cố gắng dập tắt lửa bằng mọi giá trước khi lực lượng kiểm lâm tới", bà Néang Nhây kể lại.
Khi được hỏi vì sao không phải rừng của mình nhưng vẫn nhiệt tình chữa cháy, bà Néang Nonl cười: "Phải coi rừng là tài sản chung chứ phân biệt làm gì. Lỡ để đám cháy bùng phát, biết đâu lan sang vườn điều của mình thì mình cũng bị thiệt hại mà. Rừng có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào Khmer chúng tôi".
Trưởng Trạm Kiểm lâm địa bàn An Tức Lý Văn Tâm cho biết, mùa khô năm nay, nắng nóng gay gắt nên hầu hết các khu vực rừng đều có lá khô phủ dày rất nguy hiểm. "Nếu bà Néang Nhây và Néang Nonl không có ý thức cắt đám cháy kịp thời thì có thể đám cháy đã bùng phát thành vụ cháy lớn, hậu quả rất khó lường", ông Tâm phân tích và chia sẻ thêm: "Trạm Kiểm lâm địa bàn An Tức chịu trách nhiệm quản lý hơn 1.000 ha đất rừng khu vực xã An Tức và Ô Lâm. Trong đó, khoảng 700 ha đất có rừng. Nhờ thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền nên ý thức bảo vệ rừng trong đồng bào Khmer được nâng cao. Họ chính là "tai mắt" tại chỗ chứ lực lượng kiểm lâm không thể bao quát hết được".
Chủ tịch UBND xã An Tức Khuất Thành Phương cho biết, địa phương đã quyết định tặng giấy khen và thưởng nóng cho bà Néang Nhây và Néang Nonl nhằm động viên người dân chung tay bảo vệ rừng.
Ðối với anh Chau Sóc Phonl, kỹ thuật viên lâm nghiệp xã An Tức, nhờ có 5,2 công đất rừng và 16 công đất co bưng trồng lúa mà anh lo được cho hai con trai vào đại học. Cậu lớn Chau Chanh Thươne đang học năm cuối ngành tài chính - ngân hàng (Trường đại học An Giang), còn cậu nhỏ Chau Hồ đã là sinh viên Trường đại học nông lâm (TP Hồ Chí Minh).
Do vậy, dù cánh rừng nằm trên đỉnh đồi Tà Pạ nhỏ (cao khoảng 200 m) nhưng hầu như ngày nào anh Phonl cũng lên thăm rừng. "Ngoài trồng keo chung quanh, tôi còn trồng điều xen giữa rừng sao. Mỗi ngày, gia đình thu hoạch hơn 10 kg hạt điều. Với giá bán 12.000 đồng/kg như hiện nay, gia đình có nguồn thu nhập khá ổn định", anh Phonl bộc bạch.
Anh Chau Kol, ấp Ninh Lợi (xã An Tức) cho biết, suốt hơn 20 năm bảo vệ 12 công đất rừng, anh chưa một lần để xảy ra cháy rừng. "Ngày nào tôi cũng lên rừng kiểm tra, dọn cành cây khô và thu hoạch được 5-6 kg hạt điều. Tôi đang trồng thử cây tre tầm vông trên đất rừng để lấy ngắn nuôi dài. Hy vọng Nhà nước cấp vốn và dạy cho đồng bào trồng cây gì, nuôi con gì dưới tán rừng hiệu quả. Ðược như vậy thì bà con càng yên tâm gắn bó với rừng hơn", anh Kol đề xuất.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Tri Tôn Lý Vĩnh Ðịnh chia sẻ, nhờ ý thức của người dân cùng với việc giao khoán rừng hiệu quả đã giúp hạt quản lý hiệu quả những cánh rừng an toàn, không những thế còn giúp đồng bào Khmer nghèo có được cuộc sống ổn định từ rừng. (Nhân Dân 26/7, tr2) đầu trang(
Bộ Tài Nguyên Môi Trường cho rằng độ che phủ rừng ở Việt Nam tính đến cuối năm ngoái là gần 40%.
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nâng độ che phủ này lên 45%. Con số cụ thể được đề ra là diện tích rừng đặc dụng được ổn định trên 2 triệu héc ta, phục hồi 620 ngàn héc ta rừng tự nhiên, tái sinh tự nhiên 750 ngàn héc ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng thêm 250 ngàn héc ta rừng phòng hộ. Ngoài ra còn cải tạo 350 ngàn héc ta rừng tự nhiên nghèo.
Ông Trần Văn Thành, giám đốc Vườn Quốc Gia Yok Don, đưa ra đánh giá về việc thực hiện công tác đóng cửa rừng như chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:
Chính phủ đóng cửa rừng là đúng đắn rồi, có một số nơi thực hiện tốt, nhưng một số nơi vẫn chưa tốt do tình trạng người dân cón nghèo, rồi do tình trạng một số lách luật khai thác trái phép tài nguyên rừng ở một số nơi. Ở Yok Don việc chính quyền địa phương không thực hiện tốt việc bảo vệ rừng xảy ra phổ biến. Đặc biệt một số lâm tặc lợi dụng sơ hở của những người thừa hành pháp luật họ khai thác gỗ rừng trái phép rất phổ biến, rồi kể cả việc móc nối với bên Kampuchia khai thác trái phép ở đó cũng có xảy ra.
Nhà báo Lê Phú Khải, người từng có những bài phóng sự điều tra về tình trạng rừng của Việt Nam, đưa ra một số đánh giá về tình hình rừng đặc dụng, rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ tại Việt Nam trong thời gian gần đây như sau:
Rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, theo như tôi biết đã cho thuê rồi ( số rừng đầu nguồn giáp với biên giới Trung Quốc). Đây là chính sách sai lầm- cho họ thuê rừng đầu nguồn họ muốn làm gì thì làm tức đe dọa đến an ninh của đất nước!
Còn đối với rừng phòng hộ ven biển, Nhà nước Việt nam cũng thấy tầm quan trọng của nó nên rừng phòng hộ ven biển bắt đầu được làm tốt. Ví dụ tôi vừa đi Kiên Giang về, tôi thấy rừng phòng hộ ven biển phía tây được trồng và nuôi dưỡng tốt.
Ngoài biện pháp đóng cửa rừng tự nhiên, không cho khai thác với mục tiêu được nói nhằm cho rừng phục hồi, vừa qua Việt Nam còn có chương trình trồng mới 5 triệu héc ta rừng.
Chương trình này được tiến hành từ năm 1988 đến năm 2010 và là một chương trình kinh tế-xã hội- sinh thái trọng điểm với mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 43%.
Nhìn lại chương trình này, ông Trần Văn Thành có đánh giá:Thực sự chương trình này cũng có vài địa phương làm tốt, nhưng cũng có những địa phương làm không tốt cả về số lượng lẫn chất lượng. Tôi biết nhiều địa phương báo cáo không trung thực, không chính xác cũng do tình hình tiêu cực, có thể nói là tham nhũng, báo cáo thành tích để củng cố vị trí ghế ngồi.
Không thành công có khi vì lý do con người, có khi vì thời tiết, có khi do cháy rừng nên có những nơi không thực hiện tốt việc này. Nhiều người đánh giá chương trình 5 triệu héc ta rừng kết quả không như mong đợi. Vì có nhiều nguyên nhân như tôi nói và thứ hai giá trị đầu tư, suất đầu tư cho một héc ta rừng ở những vùng sâu, vùng xa thấp quá nên trồng có trồng rồi để cỏ, để lửa hay dân lấn chiếm khiến mất diện tích, không thành rừng.
Thực sự chương trình (trồng 5 triệu ha rừng) này cũng có vài địa phương làm tốt, nhưng cũng có những địa phương làm không tốt cả về số lượng lẫn chất lượng. Tôi biết nhiều địa phương báo cáo không trung thực, không chính xác cũng do tình hình tiêu cực, có thể nói là tham nhũng
Và sau đây là ý kiến của nhà báo Lê Phú Khải về chương trình được cho là lớn như thế: Tôi cho rằng chương trình 5 triệu héc ta rừng cần phải kiểm tra rất kỹ vì khi đầu tư mà không kiểm tra thì sẽ loạt vào túi cá nhân cán bộ, đến nơi còn rất ít. Nói như ông Nguyễn Phú Trọng: tham nhũng nhìn đâu, sờ đâu cũng thấy. Đến mức độ như thế rồi nên đồng vốn Nhà nước bỏ ra trong những dự án này thất thoát rất nhiều. Tôi biết như thế!
Lực lượng được trao trách nhiệm bảo vệ rừng là kiểm lâm. Mỗi khi xảy ra các vụ vi phạm lâm luật trầm trọng, gây thất thoát lớn cho nguồn tài nguyên rừng, ngành này bị chỉ trích dữ dội.
Tuy nhiên theo ông Trần Văn Thành thì ngành kiểm lâm của Việt Nam có những cái khó không thể hoàn thành trách nhiệm của họ: Việc bảo vệ rừng chỉ duy do lực lượng kiểm lâm không thôi cũng không đúng lắm. Tại vì lâm tặc móc nối với các lực lượng khác kể cả công an, kể cả bộ đội biên phòng. Quyền lực của kiểm lâm có giới hạn nên đổ thừa cho lực lượng kiểm lâm không, cũng không đúng. Chính tôi cũng làm việc này trong thời gian hai năm nay cũng rất quyết liệt mà không ít lần đụng chạm với công an và bộ đội biên phòng khi họ tiếp tay cho ‘việc đó’.
Nên dù lực lượng kiểm lâm có quyết liệt, nhưng những người vi phạm không ngán lực lượng kiểm lâm vì chúng tôi không có quyền hạn mạnh mẽ như công an, bộ đội biên phòng; từ đó họ dễ dàng trấn áp hoặc dùng những thủ đoạn để vu khống hay lấn án lực lượng kiểm lâm. Có thể nói họ như mafia với những thủ đoạn làm ảnh hưởng đến tinh thần, công việc cũng như sự an toàn của lực lượng kiểm lâm.
Theo tôi lực lượng kiểm lâm nay mất tác dụng vì ‘lâm tặc’ ngày càng tinh vi. Nhà nước lập ra lực lượng kiểm lâm cũng đông và có luật, nhưng những ngành nội chính như công an và quân đội không ủng hộ, không làm mạnh mẽ thì cũng không làm gì được.
Tôi biết ở những nước khác cơ quan pháp luật có đủ quyền hành, nhưng ở Việt Nam thì nhưng đơn vị như kiểm lâm, quản lý thị trường không phải công an không có đủ quyền hạn để làm. Tôi đã phản án những vụ nghiêm trọng, những đầu nậu tai to mặt lớn mà họ không làm!
Gần Việt Nam như Indo, Ấn Độ, Malaysia, tôi từng đến, và thấy kiểm lâm của họ làm rất tốt và được các cơ quan pháp luật khác ủng hộ như công an, bộ đội… (Ở Việt Nam thì ) người ta chỉ bảo vệ lợi ích trước mắt mà không quan tâm đến tài nguyên rừng.
Qui định đất đai do Nhà nước quản lý ngay cả đối với đất rừng được cho là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ‘cha chung không ai khóc’ hay mạnh ai nấy khai thác mà không lo bảo tồn, trồng mới.
Nhà báo Lê Phú Khải nói đến tình trạng đó:Do đồng bào của mình nghèo quá, đồng bào thiểu số đó. Cứ hình dung đối với một cây quí trị giá tiền lớn, nhưng họ sẵn sàng chặt đi để trồng một cây ngô thôi. Tình trạng là như thế. Hơn nữa người ta nói rừng phải là rừng của tư nhân, rồi người ta thuê và nuôi công nhân trả lương, cho họ ăn uống đầy đủ để canh chừng rừng, thì mới giữ rừng được. Chứ còn để như tình trạng thế này thì hoặc do viên chức Nhà nước vô trách nhiệm, hoặc người dân sẳn sàng chặt cây để trồng cây lương thực sinh sống.
Theo tôi giao đất, giao rừng là một chính sách đúng đắn để người dân tự bảo vệ khi nào đất là của riêng người ta. Chính sách này có nơi làm tốt, có nơi chưa làm tốt.
Tuy nhiên, theo ông Trần Văn Thành việc giao đất, giao rừng cũng phải tùy loại: Giao rừng để trồng lấy lợi nhuận thì người ta làm được, nhưng giao rừng tự nhiên để quản lý, bảo vệ thì không được. Bời vì khi giao rừng cho người ta mà không cho khai thác để có thu nhập nhất định thì làm sao người ta giữ rừng đó.
Ví dụ hiện nay Nhà Nước (khoán) 200 ngàn đồng cho một héc ta trong một năm để giữ rừng và không được lấy gì trong đó hết. Nếu một hộ gia đình được giao 10- 15 héc ta thì chỉ được khoảng 2-3 triệu một năm, làm sao người ta đủ sống! Ngoài ra người ta không có quyền hạn gì cả; khi xảy ra vụ việc gì phải báo với công an thôi.
Do đó rừng tự nhiên phải do Nhà nước bảo vệ, giao cho một đơn vị, cơ quan nào đó và cung cấp đủ điều kiện để người ta bảo vệ chẳng hạn nhân lực, trang thiết bị và qui định pháp luật. Còn người dân thì giao những khu đất nghèo nàn không phải rừng tự nhiên để người ta trồng từng có cuộc sống tốt hơn.
Tất nhiên phải có hỗ trợ về giống, chính sách. Dân thì nghèo mà giao một miếng đất không, không có hỗ trợ kỹ thuật, giống thì họ sẽ làm đậu, làm lúa, bắp để có thu nhập mà sống chứ không thể trồng rừng được. (Dư Luận Thế Giới Về VN/TTXVN 25/7, tr18) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
27.7, lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Lâm Đồng cho biết có 8 chủ dự án thủy điện cam kết trồng rừng thay thế diện tích là 657 ha trong năm 2014.
Nhưng đến nay chỉ có BQL dự án Thủy điện Đồng Nai 5 hoàn thành trồng rừng thay thế 130 ha bằng việc nộp gần 11 tỉ đồng vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Công ty CP thủy điện Miền Nam, chủ dự án thủy điện Đam Bri có trách nhiệm trồng trên 400 ha rừng thay thế, nhưng chưa thực hiện với lý do không đủ tiền và xin điều chỉnh giảm diện tích; đơn vị này xin đóng tiền trồng rừng thành nhiều đợt nhưng bị lãnh đạo tỉnh từ chối, trong khi mùa trồng rừng năm 2014 kết thúc vào cuối tháng 8. (Thanh Niên 28/7, tr2) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tích cực triển khai nhiều biện pháp đôn đốc thu nợ tiền dịch vụ môi trường rừng đối với các cơ sở sử dụng dịch vụ môi trường rừng, nhờ đó công tác thu đạt được kết quả khả quan.
Tuy nhiên, công tác thu nợ tiền dịch vụ môi trường rừng vẫn còn một số tồn tại, vướng mắc cần có giải pháp tháo gỡ kịp thời.
Trong công tác thu-chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), ông Võ Văn Hạnh-Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh-cho biết: Tổng diện tích đất có rừng trên địa bàn tỉnh là 712.477 ha, trong đó diện tích rừng được hưởng DVMTR là 493.579 ha, gồm: 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước; 90 tổ chức nhà nước không phải là chủ rừng và 7 cộng đồng dân cư thôn.
Tổng cơ sở sử dụng DVMTR đang quản lý thu là 25 cơ sở với 38 nhà máy thủy điện, nguồn thu bình quân 60 tỷ đồng/năm. Theo kế hoạch năm 2014, tổng số tiền DVMTR phải thu trên 57,4 tỷ đồng (trong đó, thu nội tỉnh. 25,5 tỷ đồng; thu điều phối từ quỹ Trung ương. Hơn 31,9 tỷ đồng). Tính đến thời điểm 23-7, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã thu được hơn 36,4 tỷ đồng, đạt 63,4% so với kế hoạch năm 2014.
Đối với công tác chi trả, đến thời điểm trước 30-4-2014, sau khi có Quyết định điều chỉnh kế hoạch thu chi tiền DVMTR năm 2013 của UBND tỉnh và kết quả nghiệm thu rừng của Sở Nông nghiệp và PTNT đối với chủ rừng là tổ chức nhà nước, các Hạt Kiểm lâm đối với cộng đồng dân cư thôn, trừ phần diện tích giảm (42.100 ha) so với kế hoạch không được thanh toán tiền DVMTR, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã chi thanh toán đủ 100% cho các chủ rừng tổng số tiền hơn 103 tỷ đồng của 3 năm (2011, 2012, 2013).
Riêng năm 2014 theo phê duyệt của tỉnh tại Quyết định 95/QĐ-UBND, Quỹ đã thực hiện chi ứng quý I với số tiền 12 tỷ đồng và đang xúc tiến tiếp tục chi ứng quý II cho các chủ rừng với mức ứng là 70% trên số thực thu theo quy định của tỉnh.
Theo Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, để có được những con số thu-chi khả quan như vậy là cả một quá trình, ngay từ đầu năm Quỹ đã phối hợp tốt với các sở ngành liên quan nhanh chóng đàm phán và ký kết hợp đồng ủy thác với các cơ sở sử dụng DVMTR để xúc tiến công tác quản lý thu; xác định ranh giới, diện tích rừng trong khu vực của từng nhà máy thủy điện cho đến từng chủ rừng; xác định hệ số k thành phần để quy đổi diện tích chi trả; xúc tiến rà soát rừng của của các chủ rừng là tổ chức Nhà nước, rà soát rừng gắn với công tác xây dựng phương án quản lý bảo vệ rừng của 90 xã và 7 cộng đồng dân cư thôn; tiến hành xây dựng kế hoạch thu chi hàng năm chặt chẽ, đúng quy trình để trình UBND tỉnh phê duyệt thực hiện.
Bên cạnh đó, chia sẻ về một số tồn tại, vướng mắc trong công tác thu nợ tiền DVMTR, ông Hạnh cho biết: Một trong những khó khăn hiện nay trong việc thu tiền DVMTR năm 2011, 2012 đối với các thủy điện nội tỉnh, Quỹ chỉ thu được tiền đối với các nhà máy thủy điện thực hiện bán theo giá thỏa thuận, còn lại các nhà máy thủy điện được áp dụng biểu giá chi phí tránh được vẫn chưa thu với số tiền lên đến 24,7 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu là tiền DVMTR của các cơ sở thủy điện nội tỉnh (dưới 30 MW) chưa được bên mua điện là Tổng Công ty Điện lực Miền Trung thực hiện chi trả (do năm 2012 trở về trước chưa có cơ cấu tiền DVMTR trong giá thành tiền điện).
Do vậy, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã tham mưu cho UBND tỉnh nhiều lần kiến nghị Bộ Công thương sớm có hướng chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng như Tổng Công ty Điện lực miền Trung thực hiện chi trả tiền DVMTR cho các thủy điện nội tỉnh của năm 2011 và 2012.
Ngoài ra, đối với lưu vực sông Kôn (lưu vực liên tỉnh), khi công bố diện tích rừng cung ứng DVMTR của Nhà máy Thủy điện Vĩnh Sơn A (tỉnh Bình Định) thì vẫn còn thiếu diện tích rừng cung ứng nên UBND tỉnh Gia Lai đã có văn bản đề nghị Bộ Nông nghiệp và PTNT sớm xem xét, bổ sung phần thiếu để có cơ sở xác định diện tích rừng trong lưu vực chi trả đến từng chủ rừng, xây dựng phương án chi trả cho các chủ rừng khi thu được tiền.
Thêm một khó khăn nữa là, một số cơ sở sử dụng DVMTR không nộp hoặc chậm nộp, cố tình trì hoãn, chây ỳ trong việc nộp tiền trong khi chế tài xử lý chưa đủ mạnh để buộc những đơn vị này thực hiện nghiêm chính sách. Do vậy cần thiết phải có chế định xử phạt hành chính kể cả việc phong tỏa tài khoản giống như trong lĩnh vực thuế, để công tác thu nộp tiền DVMTR có hiệu lực và hiệu quả hơn. (Báo Gia Lai 25/7) đầu trang(
Trồng, chăm sóc hàng ngàn cây thông phủ xanh núi Thụp được tuổi trẻ xã Kon Thụp (huyện Mang Yang) triển khai được hơn một năm nay. Cuộc “cách mạng xanh” này mang nhiều ý nghĩa, nhất là khơi dậy tinh thần trách nhiệm của từng người trẻ sống ở làng.
Núi Thụp - ngọn núi cao nhất và từng là biểu tượng cho sự hùng vĩ của vùng đất Kon Thụp. Trong kí ức của nhiều người già, ngọn núi xưa kia có rất nhiều cổ thụ, tạo nên một vùng rừng già. Người dân ở 7 làng Bahnar sống quanh chân núi luôn tự hào, xem đây là điểm tựa vững vàng mỗi khi nghĩ về buôn làng.
Khi đi xa trở về hay khi đi lạc ra khỏi địa hạt của mình, người Bahnar chỉ cần hướng về phía những tán cổ thụ trên ngọn núi kỳ vĩ nhất vùng, sẽ tìm thấy đường về nhà. Thế nhưng, ngọn núi biểu tượng cho sự hùng vĩ dần trở nên trơ trọi trước “cơn lốc” phá rừng, mưu cầu đất đai để sản xuất.
Anh A Ninh - Bí thư Đoàn thanh niên xã cho biết: “Trong những câu chuyện của già làng, ông luôn nhắc đến ngọn núi Thụp với rừng già bao phủ, con nai, con mang sống chung với con người. Nghe già kể ai cũng nuối tiếc vì đã để mất rừng. Không ai còn nhận ra núi Thụp từng là biểu tượng cho sự hùng dũng, niềm kiêu hãnh của người Bahnar vùng này. Vậy là trong những cuộc họp làng, vấn đề trồng cây gây rừng lại cho núi Thụp được đặt ra. Khôi phục rừng đồng nghĩa với khôi phục lại biểu tượng của cả vùng. Xã quyết định giao trọng trách này cho Đoàn thanh niên. Mới đầu mình chưa biết phải triển khai công việc như thế nào, nhưng vẫn nhận. May mắn là trong nhiều cuộc họp chi đoàn, vấn đề này được thanh niên rất ủng hộ”.
Làm sao phủ kín cho ngọn núi với diện tích hàng chục ha là bài toán không dễ. A Ninh nói, có nhiều vấn đề đặt ra khiến làng phải họp bàn mãi, chẳng hạn như trồng cây gì, trồng như thế nào, kinh phí ở đâu…”Cuối cùng, chúng tôi mạnh dạn đến đặt vấn đề với Công ty Lâm nghiệp Kon Chiêng - đơn vị có kinh nghiệm trồng rừng đứng chân trên địa bàn huyện. Không ngờ Công ty rất nhiệt tình giúp đỡ. Lúc này chúng tôi mới thở phào bắt tay vào việc. Công ty tư vấn cho chúng tôi trồng giống cây thông - loài cây khá phù hợp với thổ nhưỡng trong vùng, đồng thời hướng dẫn kỹ thuật trồng và hỗ trợ toàn bộ cây giống”, A Ninh kể lại.
Một ngày đầu mùa mưa 2013, hơn 2.000 người dân của 7 làng Bahnar sống quanh núi Thụp, trong đó phần lớn là thanh niên đã làm nên một cuộc “cách mạng xanh”. Họ đã phủ xanh núi Thụp bằng 20 ngàn cây thông non chỉ trong một buổi sáng.
Bí thư đoàn thanh niên nói: “Sau khi trồng, mình giao trách nhiệm cho từng chi đoàn của 7 làng, mỗi làng phải chăm sóc, bảo vệ đến khi thông mọc thành rừng, nếu để thông chết sẽ bị kiểm điểm. Chi đoàn các làng thường phối hợp với người dân trong xã làm cỏ, đồng thời tuyên truyền cho họ cách phát dọn để không làm cháy rừng thông”.
Lứa thông non nhờ chăm sóc tốt đã xanh ngời những búp non, cây cao quá đầu gối, có cây đã tới thắt lưng. Hôm nay là ngày các chi đoàn phát động làm cỏ cho thông trước khi mùa mưa tới nên không khí rộn ràng hẳn. Thanh niên các làng tập trung đông đủ với đủ thứ dụng cụ, người cầm cuốc, người cầm xà gạc.
Trên sườn núi cao, bóng những chiếc áo xanh lom khom, thấp thoáng giữa những hàng thông non. Đúng là không có việc gì khó nếu có sự đồng lòng của tập thể. Anh Amyin-làng Dư Nâu chia sẻ: “Đoàn xã phân công rồi, mỗi làng chăm sóc một lô hơn 1,5 ha. Chi đoàn làng Dư Nâu cũng như các làng khác, đều muốn chăm sóc thông thật tốt để nó mau lớn, mau thành rừng phủ xanh cho núi Thụp”.
Cô gái trẻ tên Đó quẹt những giọt mồ hôi khi đứng lâu trên sườn núi dốc, cho biết thêm: “Đoàn phát động thanh niên trồng, chăm sóc thông nên mình hào hứng tham gia ngay, vì đây là việc có ích, nhất là tìm lại màu xanh cho phong cảnh núi đồi Kon Thụp”.
Bí thư đoàn thanh niên xã A Ninh phấn khởi khi cho rằng, trồng thông phủ xanh núi Thụp là một trong những thành quả của tuổi trẻ toàn xã. Anh nói: “Sự đoàn kết chính là yếu tố tạo nên sức mạnh, sự đồng thuận cao trong lực lượng trẻ, vì thế đã giành nhiều kết quả trong các phong trào thi đua.
Song đáng kể nhất phải kể đến phong trào làm kinh tế giỏi trong thanh niên. Nhiều hộ thanh niên hiện có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Toàn xã chỉ còn 15/815 hộ thanh niên nghèo. Đoàn xã đang cố gắng giúp họ thoát nghèo bằng cách để các hộ thanh niên khá giả giúp hộ thanh niên nghèo vay vốn.
Song song với đó là phong trào gây quỹ cũng được các chi đoàn làng thi đua bằng nhiều hình thức. Mỗi chi đoàn làng đều có khoảng 1h đất để trồng bời lời, bắp, hay mì tùy vào điều kiện từng làng”.
Năm thanh niên tình nguyện 2014 được tuổi trẻ xã Kon Thụp hưởng ứng bằng nhiều hoạt động ý nghĩa. A Ninh cho biết, với một xã vùng hai còn nhiều khó khăn như Kon Thụp, phát huy tinh thần xung kích tình nguyện cần trở thành một thói quen, lối sống tốt để thanh niên góp phần vào phát triển kinh tế xã hội, giúp địa phương thoát nghèo. (Đoàn Thanh Niên 25/7) đầu trang(
Hiện nay, toàn huyện Ba Bể đã thực hiện công tác trồng rừng cơ bản đạt kế hoạch với 1.495,57ha, bằng 93,4% kế hoạch năm 2014.
Năm 2014, theo kế hoạch, huyện Ba Bể thực hiện trồng 1.600ha rừng, trong đó có 1.097ha rừng tập trung và 503ha rừng phân tán.
Để hoàn thành tốt các chỉ tiêu đề ra, ngay từ đầu năm, huyện Ba Bể đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị chuyên môn phối hợp với các xã, thị trấn thực hiện đồng bộ các giải pháp, từ khâu vận động người dân đăng ký đến việc hướng dẫn người dân các biện pháp kỹ thuật trồng rừng, đồng thời phối hợp với các đơn vị sản xuất cây giống cung ứng đủ và kịp thời giống cây cho hộ dân đăng ký trồng rừng, chủ động tháo gỡ khó khăn ngay tại cơ sở.
2 Ban QLDA trồng rừng huyện Ba Bể và Vườn Quốc gia Ba Bể đã thực hiện gieo ươm số lượng cây giống cho kế hoạch trồng rừng năm 2014 với tổng số trên 4 triệu cây (mỡ, lát, thông, xoan, keo).
Hiện nay, toàn huyện đã tiến hành trồng được 1.495,57ha, đạt 93,4% kế hoạch (902,81ha rừng sản xuất tập trung; 524,77ha rừng phân tán và hơn 76ha rừng phòng hộ).
Trong đó: Ban Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng huyện trồng được 1.248,23ha (726,65ha rừng sản xuất tập trung; 469,74ha rừng phân tán và hơn 51ha rừng phòng hộ); Ban Quản lý bảo vệ và Phát triển rừng Vườn Quốc gia Ba Bể trồng được 247,34ha (176,19ha rừng sản xuất tập trung; 55,031ha rừng phân tán và 16,12ha rừng phòng hộ). Các địa phương thực hiện công tác trồng rừng tốt như Yến Dương, Mỹ Phương, Chu Hương...
Song song với công tác trồng, ngành chuyên môn huyện cũng phối hợp với các địa phương hướng dẫn người dân chăm sóc cây mới trồng nhằm đảm bảo diện tích trồng. (Backan.gov.vn 25/7) đầu trang(
Báo Bình Phước số 2213, ra ngày 19-5 có đăng bài “Một cán bộ kiểm lâm tự ý chặt điều của dân”.
Nội dung bài báo phản ánh việc ông Phạm Văn Sanh, cán bộ kiểm lâm huyện Bù Đăng và ông Phạm Bá Trung, cán bộ Nông - lâm trường Đồng Nai đã chặt phá 45 cây điều của hộ ông Lăng Văn Sống, trú ấp 11, xã Thống Nhất (Bù Đăng) và việc thu hồi đất của các hộ Lăng Văn Quảng, Lăng Thị Quý, cùng trú ấp 2, xã Thống Nhất và hộ Lăng Văn Xuân, trú ấp 11, xã Thống Nhất không đúng thẩm quyền.
Ngày 11-6, Báo Bình Phước nhận được Công văn số 470/UBND-TN của UBND huyện Bù Đăng phản hồi hai nội dung. Thứ nhất, UBND huyện Bù Đăng cho rằng bài báo phản ánh việc ông Phạm Văn Sanh và ông Phạm Bá Trung chặt phá 45 cây điều của hộ ông Lăng Văn Sống, trú ấp 11, xã Thống Nhất là có thật. Tuy nhiên, theo văn bản phản hồi của UBND huyện Bù Đăng thì việc ông Sanh và ông Trung chặt phá 45 cây điều của hộ ông Lăng Văn Sống là do chặt nhầm, không cố ý hủy hoại tài sản là chưa chính xác.
Vì theo tìm hiểu của phóng viên và trong đơn phản ánh của ông Lăng Văn Sống gửi đến Báo Bình Phước thì chính ông Sanh thuê và chỉ đạo 3 người khác vào chặt điều của gia đình ông Sống, không phải do chặt nhầm. Khi phát hiện vườn điều của gia đình bị chặt phá, ông Sống và gia đình đã ra sức ngăn cản nhưng không được.
Chỉ đến khi ông Sống đến trình báo Công an xã Phước Sơn thì việc chặt phá mới dừng lại, lúc đó ông Sanh và ông Trung đưa người về. Ông Lương Đình Dũng, Trưởng Công an xã Phước Sơn (Bù Đăng) cho biết: Sau khi sự việc xảy ra, Công an xã Phước Sơn đến kiểm tra hiện trường và mời các bên liên quan về UBND xã làm việc, lấy lời khai và hòa giải.
Theo tìm hiểu của phóng viên, ngày 18-11-2013, khi ông Sanh yêu cầu giải tỏa, đền bù số tiền 2 triệu đồng/ha với các hộ Lăng Văn Quảng, Lăng Văn Xuân, Lăng Thị Qúy... nhưng ông Sống không đồng ý với lý do số tiền này không đủ bù chi phí, công sức đã bỏ ra, nên mới có sự việc ngày 19-3-2014 ông Sanh thuê người đến chặt phá vườn điều của ông Sống.
Nội dung thứ hai, UBND huyện Bù Đăng cho rằng Báo Bình Phước phản ánh việc ông Phạm Văn Sanh và ông Phạm Bá Trung thu hồi đất của các hộ Lăng Văn Quảng, Lăng Thị Quý cùng trú ấp 2, xã Thống Nhất và hộ Lăng Văn Xuân, trú ấp 11, xã Thống Nhất không đúng thẩm quyền là chưa chính xác. Báo Bình Phước phản hồi như sau:
Sau khi nhận đơn của các hộ: Lăng Văn Quảng, Lăng Thị Quý, Lăng Văn Xuân tố cáo ông Phạm Văn Sanh và ông Phạm Bá Trung thu hồi đất không đúng thẩm quyền, ngày 31-5-2014, phóng viên Báo Bình Phước đã đến gặp trực tiếp các hộ dân để xác minh (có ghi âm, bản tường trình). Cụ thể như sau: Ngày 17-10-2013, ông Phạm Văn Sanh và ông Phạm Bá Trung đến thu hồi đất của các hộ dân này nhưng không có bất kỳ văn bản, giấy tờ hay quyết định nào.
Theo phản hồi của UBND huyện Bù Đăng thì diện tích mà các hộ dân này đang canh tác là đất của Công ty Vinaphygen được UBND tỉnh giao quản lý, vậy thì việc thu hồi đất bị xâm canh phải là trách nhiệm của Công ty Vinaphygen. Ông Sanh không có tư cách pháp nhân để đến thu hồi đất của các hộ dân này.
Trong khi đó, theo công văn phản hồi của UBND huyện Bù Đăng thì ngày 8-11-2013, Công ty Vinaphygen mới ký hợp đồng cho ông Sanh và ông Trung mượn đất, nhưng trên thực tế ông Sanh và ông Trung đã tự ý thu hồi đất của các hộ dân từ ngày 17-10-2013. Như vậy, ông Sanh và ông Trung thu hồi đất của các hộ dân khi chưa có sự thỏa thuận cho mượn đất của Công ty Vinaphygen.
Việc này phải lý giải như thế nào? Việc Công ty Vinaphygen cho ông Sanh và ông Trung mượn đất là sai vì UBND tỉnh giao đơn vị này trồng cây xoan chịu hạn, không phải để cho thuê hay bán. Nếu việc này xảy ra thì UBND huyện Bù Đăng cần có biện pháp ngăn chặn và báo cáo sự việc lên UBND tỉnh!
Trong khi tìm hiểu thông tin để trả lời văn bản phản hồi của UBND huyện Bù Đăng, phóng viên được biết thêm: Sau phản ánh của Báo Bình Phước, cơ quan chức năng vào cuộc điều tra xác minh thông tin thì hai ông Phạm Văn Sanh và Phạm Bá Trung ngoài cam kết trả lại đất cho các hộ dân, còn “lén lút” hỗ trợ thêm 10 triệu đồng/ha cho các hộ Lăng Văn Quảng, Lăng Thị Quý, Lăng Văn Xuân... để mong các hộ này bỏ qua, không tố cáo đến cơ quan chức năng. Không biết UBND huyện Bù Đăng có biết sự việc này không?
Việc UBND huyện Bù Đăng kịp thời phản hồi thông tin báo nêu, Ban Biên tập Báo Bình Phước rất hoan nghênh và mong UBND huyện Bù Đăng tiếp tục tiếp thu, phản hồi những thông tin có vấn đề ở địa phương.
Tuy nhiên, Ban Biên tập cũng mong UBND huyện Bù Đăng chỉ đạo các cơ quan chuyên môn điều tra, nắm rõ vụ việc để việc trao đổi thông tin mang tính hiệu quả và có hình thức xử lý nghiêm những đơn vị, cá nhân vi phạm. (Báo Bình Phước 25/7) đầu trang(
Xã Minh Thanh (Sơn Dương) có diện tích rừng chiếm 2/3 diện tích đất tự nhiên. Nhân dân đã tập trung phát triển kinh tế rừng, thực hiện nhiều giải pháp bảo vệ và phát triển rừng, coi đây là mũi nhọn trong phát triển kinh tế của địa phương.
Toàn xã có trên 2.400 ha rừng, trong đó trên 750 ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, còn lại là rừng sản xuất. Diện tích rừng trải đều ở 13 trong 14 thôn. Xác định phát triển và bảo vệ rừng là nhiệm vụ trọng tâm, cấp ủy, chính quyền xã và các đoàn thể tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực phát triển trồng rừng, bảo vệ rừng, không vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng... vì vậy, những năm gần đây, trên địa bàn xã không có hiện tượng trồng cây trái phép trên đất lâm nghiệp, hay xảy ra cháy rừng...
Hằng năm, UBND xã đều chỉ đạo kiện toàn Ban phát triển rừng của xã và các thôn. Căn cứ vào kết quả rà soát đất lâm nghiệp, giao chỉ tiêu trồng rừng cho từng thôn; xây dựng phương án chủ động phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR); kiểm tra hoạt động của các tổ PCCCR ở các thôn.
Anh Hoàng Văn Trưởng, Phó trưởng thôn Đồng Đon, thành viên tổ PCCCR của thôn cho biết, thôn có 46 ha rừng, trong đó có 17,9 ha rừng sản xuất. Nhiều năm nay, thôn đều duy trì hoạt động của tổ PCCCR, với gần 10 thành viên, có tổ trưởng, tổ phó.
Hằng năm, tổ được cấp phát một số dụng cụ cần thiết cho công tác PCCCR như dao, câu liêm, giầy… Các thành viên trong tổ còn phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể thôn vận động bà con thực hiện trồng rừng đúng kế hoạch. Năm 2014, thôn được giao trồng mới 4 ha rừng, đến nay đã hoàn thành 100% kế hoạch.
Năm 2012, UBND xã đã phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Trào vận động nhân dân trồng mới 91 ha rừng. Hằng năm, công tác trồng rừng đều được chỉ đạo quyết liệt ngay từ đầu vụ, các hộ có diện tích trồng rừng mới đều được tuyên truyền, vận động trồng hoàn thành kế hoạch.
Năm 2014, theo kế hoạch toàn xã trồng mới 81 ha rừng, đến giữa tháng 7 đã thực hiện được trên 81% kế hoạch. Do thời gian đầu vụ nắng nóng kéo dài đã gây ảnh hưởng đến tiến độ trồng rừng, hiện nay thời tiết đang thuận lợi, bà con đã tập trung trồng rừng, phấn đấu hoàn thành trước 30-7.
Trên địa bàn xã có nhiều hộ trồng rừng lâu năm, gắn bó với rừng, luôn thực hiện tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. Từ kinh tế rừng đã mang nguồn thu khá cho các hộ, giúp nhân dân ổn định đời sống, vươn lên thoát nghèo. Gia đình ông Đỗ Văn Khan, thôn Đồng Đon có hơn 3 ha rừng đã trồng từ nhiều năm nay. Năm 2013, gia đình ông khai thác 3 ha, thu được 140 triệu đồng. Ngay sau khai thác, ông đã trồng mới 3 ha rừng, vừa phát triển kinh tế gia đình, vừa góp phần giữ gìn môi trường sống trong lành.
Theo UBND xã Minh Thanh, cùng với công tác tuyên truyền, vận động nhân dân trồng rừng đạt kế hoạch năm 2014, xã vẫn đang tiếp tục rà soát diện tích đất lâm nghiệp để chủ động xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2015.
Hiện nay, hầu hết diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn xã đều đã được cấp sổ bìa đỏ, đây không chỉ là cơ sở pháp lý để người dân thực hiện nghiêm công tác trồng và bảo vệ rừng, mà còn giúp người dân yên tâm phát triển kinh tế rừng hiệu quả. (Báo Tuyên Quang 25/7) đầu trang(
6 tháng đầu năm 2014, các hộ tham gia trồng rừng theo Dự án WB3 đã trồng được 1.443 ha, đạt 53,5% kế hoạch năm, nâng tổng diện tích trồng rừng của dự án lên 4.816 ha, đạt 82,2% kế hoạch toàn dự án.
Bên cạnh đó, các huyện đã thẩm định, phê duyệt kết quả đo đạc, lập hồ sơ bản đồ địa chính được 2.936 ha, đạt 93,2% kế hoạch. Cũng trong 6 tháng đầu năm, các hộ trồng rừng tiếp tục được vay vốn ưu đãi của dự án từ Ngân hàng Chính sách xã hội, với số tiền 5,97 tỷ đồng.
Tuy nhiên, tính đến hết tháng 6, còn 608 hộ dân tham gia dự án ở các huyện: Như Thanh, Ngọc Lặc, Thạch Thành... chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa chính chủ.
Đồng thời, tỷ lệ hộ dân được vay vốn thấp, mới chỉ có 1.294 hộ được vay, với số tiền 25,2 tỷ đồng, đạt 21% kế hoạch. (Báo Thanh Hóa 26/7) đầu trang(
Báo Quảng Nam số ra ngày 2.6 đăng bài “Giải quyết tranh chấp đất rừng trồng tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm (Đại Lộc): Chờ xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất” phản ánh vụ việc tranh chấp đất giữa một số hộ dân trong và ngoài xã Đại Sơn khi UBND tỉnh thu hồi đất, cấp cho Nhà máy xi măng Xuân Thành (thuộc Tập đoàn Xuân Thành) xây dựng bãi tập kết nguyên liệu.
Tuy nhiên, vụ việc chưa được các cơ quan chức năng của huyện giải quyết nên một số hộ dân vẫn tiếp tục khiếu kiện.
Truy nguyên nguồn gốc đất, Lâm trường Đại Lộc có Văn bản số 09/QĐ-LT ký ngày 6.8.1996, giao cho nhóm hộ ông Lê Tranh - cán bộ nhân viên lâm trường 120ha đất trống đồi trọc tại tiểu khu 80 (xã Đại Sơn) để trồng rừng trong thời hạn 20 năm. Ngày 18.1.2002, UBND tỉnh Quảng Nam có Quyết định số 145/QĐ-UB về việc thu hồi diện tích 16.984ha đất của Lâm trường Đại Lộc giao cho UBND huyện Đại Lộc quản lý.
Trong đó, diện tích đất rừng bị thu hồi tại xã Đại Sơn là 8.7154ha (bao gồm cả diện tích mà Lâm trường Đại Lộc đã giao cho nhóm hộ ông Lê Tranh). Ngày 20.4.2002, Hội đồng kiểm kê của huyện Đại Lộc cùng đại diện Lâm trường Đại Lộc và UBND xã Đại Sơn đã lập biên bản thống nhất bàn giao rừng, đất rừng và các hồ sơ có liên quan cho UBND xã Đại Sơn.
Theo đó, UBND xã Đại Sơn có trách nhiệm đóng mốc phân chia lô, khoảnh đã được xác định kiểm tra đo vẽ. Đồng thời kiểm tra, bảo vệ không cho người dân lấn chiếm phá hoại các khu rừng trồng, rừng tái sinh, đất trống... Như vậy, Văn bản số 09/QĐ-LT về việc giao 120ha cho nhóm hộ ông Lê Tranh trồng rừng đã hết hiệu lực pháp lý. Diện tích đất tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm thuộc quyền quản lý của UBND huyện Đại Lộc, mà trực tiếp là UBND xã Đại Sơn.
Qua hiện trạng thực tế sử dụng đất còn cho thấy, Lâm trường Đại Lộc giao 120ha cho nhóm hộ ông Lê Tranh nhưng nhóm hộ này chỉ trồng được 30ha tại khu vực Khe Hoa - Suối Lấm, diện tích còn lại do các hộ dân trong và ngoài địa phương phát trồng.
Ngoài ra, nhóm hộ ông Lê Tranh quản lý, sử dụng đất rừng không hiệu quả nên diện tích 30ha cũng đã bị nhóm hộ ông Hồ Văn Cảnh xâm lấn, phát dọn, canh tác từ nhiều năm nay.
Theo ông Dương Tài Liệu - Chủ tịch UBND xã Đại Sơn, năm 2007, UBND xã Đại Sơn phối hợp với đoàn đo đạc của tỉnh đã đo đạc đất theo hiện trạng thực tế để lập thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân. Khi đó, nhóm hộ ông Lê Tranh không thực hiện việc đo đạc thực tế để xét cấp đất và cũng không có ý kiến gì.
Qua kiểm tra, nhóm hộ ông Lê Tranh chỉ có trích lục bản đồ, chưa có quyết định giao đất của cơ quan có thẩm quyền. Nhóm hộ ông Tranh cho rằng, các hộ trên lấn chiếm đất của các ông vào năm 2013 là không đúng thực tế. Bởi các hộ bị ông Lê Tranh khiếu nại tranh chấp đất đều thể hiện ở bản đồ lâm nghiệp 1/10.000 năm 2007 của xã.
UBND xã Đại Sơn cho rằng, từ năm 2010 đến nay, không có đơn tranh chấp giữa các hộ dân, nhưng khi có chủ trương thu hồi đất giao cho Tập đoàn Xuân Thành làm bãi tập kết nguyên liệu mới xảy ra tranh chấp.
UBND xã Đại Sơn đã báo cáo vụ việc lên các ngành chức năng của huyện để có hướng giải quyết dứt điểm. Hiện Phòng TN&MT huyện Đại Lộc tiến hành thẩm tra, xác minh các chứng cứ pháp lý để tham mưu UBND huyện Đại Lộc có hướng giải quyết.
Nếu không thống nhất với kết quả giải quyết của UBND huyện, các nhóm hộ có thể khởi kiện ra tòa án để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. (Báo Quảng Nam 25/7) đầu trang(
Sau 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ, trên địa bàn tỉnh ta đã tạo sự chuyển biến tích cực góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm cho người dân trong việc bảo vệ và giữ rừng.
Qua thống kê của cơ quan chức năng cho thấy, toàn tỉnh có trên 393.340ha đất có rừng nằm trong lưu vực được chi trả DVMTR. Trong đó, diện tích rừng thuộc lưu vực sông Đà là chủ yếu với gần 242.300ha; diện tích rừng còn lại thuộc lưu vực sông Mã và lưu vực hoạt động của các nhà máy thủy điện, nhà máy nước sinh hoạt nội tỉnh.
Từ khi đi vào hoạt động đến nay, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tiếp nhận trên 243 tỷ đồng tiền chi trả DVMTR từ Nhà máy Thủy điện Sơn La, Hòa Bình. Ngoài ra, Quỹ còn thu tại nội tỉnh từ các cơ sở, nhà máy sử dụng dịch vụ trên 1,7 tỷ đồng để chi trả dịch vụ tới chủ rừng.
Tuy nhiên do việc rà soát, xác định chủ rừng gặp khó khăn nên trong năm 2013, tiến độ chi trả dịch vụ tới người dân đạt thấp (gần 13,5 tỷ đồng, đạt 15,8% kế hoạch). Từ đầu năm 2014 đến trung tuần tháng 6, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã tổ chức chi trả trên 84 tỷ đồng cho chủ rừng là các tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng thôn bản. Trong đó, trên 75 tỷ đồng được chi trả đến các hộ gia đình, cộng đồng thôn bản.
Để việc chi trả DVMTR đến đúng đối tượng thụ hưởng, minh bạch, cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã phối hợp với UBND huyện, thị xã; lực lượng kiểm lâm, công an, biên phòng và các tổ chức chính trị, đoàn thể tại cơ sở kiểm tra, giám sát việc thực hiện chi trả đến tận tay chủ rừng, niêm yết công khai danh sách chủ rừng, diện tích rừng và số tiền mà chủ rừng được nhận.
Việc đánh giá chất lượng rừng được thực hiện nghiêm, đảm bảo theo điều kiện cung ứng DVMTR, cập nhật theo dõi diễn biến diện tích, hiện trạng rừng được chi trả...
Qua kiểm tra nghiệm thu diện tích cung ứng DVMTR cho thấy: Diện tích rừng người dân được hưởng lợi từ chính sách chi trả DVMTR chất lượng được nâng lên rõ rệt. Môi trường rừng được cải thiện, góp phần tăng khả năng phòng hộ, điều tiết nguồn nước. Thu nhập người dân tham gia khoanh nuôi, bảo vệ rừng từng bước được cải thiện.
Theo tính toán, đối với hộ nhận khoán sẽ có thu nhập từ 2 - 3 triệu đồng/năm từ tiền chi trả DVMTR, với hộ tham gia bảo vệ rừng chung cộng đồng thu gần 860.000 đồng/năm.
Ông Vũ Văn Đức, Phó Chủ tịch UBND huyện Tuần Giáo cho biết: Qua rà soát, toàn huyện có trên 25.318ha rừng đủ điều kiện cung ứng DVMTR. Huyện đã ký ban hành 231 quyết định giao rừng cho 93 cộng đồng và 138 hộ gia đình thuộc các xã: Quài Nưa, Nà Tòng, Mùn Chung, Mường Mùn, Pú Xi, Mường Thín, Ta Ma, Rạng Đông, Phình Sáng và Pú Nhung.
Trong đó, trên 12.700ha rừng đặc dụng, gần 8.200ha rừng phòng hộ, còn lại là diện tích rừng sản xuất. Đây là cơ sở để người dân được nhận tiền chi trả DVMTR từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Điện Biên.
Vừa qua, các chủ rừng đã được nhận tổng số tiền trên 4,3 tỷ đồng dịch vụ nên ai cũng phấn khởi. Qua nghiệm thu chất lượng rừng trên địa bàn cho thấy, giảm tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng; khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật. (Báo Điện Biên Phủ 25/7) đầu trang(
Trong nhiều giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) thì rừng được xem là giải pháp mang lại nhiều kỳ vọng nhất.
Cùng với cả nước, Cà Mau đang nỗ lực trồng và bảo vệ tất cả các loại rừng hiện có trên địa bàn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động do BĐKH có thể mang lại.
Biến đổi khí hậu đang là một hiểm hoạ nghiêm trọng, làm thay đổi môi trường, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và suy thoái sự đa dạng sinh học và tài nguyên nước. Những năm gần đây, Cà Mau luôn làm tốt công tác bảo vệ và phát triển tất cả các loại rừng trên địa bàn, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài.
Toàn tỉnh hiện có tổng diện tích rừng trên 86.000 ha, bao gồm nhiều loại rừng, trong đó, chủ đạo là rừng tràm và rừng ngập mặn ven biển. Ðể bảo vệ và phát triển diện tích rừng trên địa bàn thời gian qua tỉnh tập trung nhân lực và vật lực để phòng chống cháy cũng như hạn chế tình trạng chặt phá cây rừng.
Ông Lê Văn Sử, Giám đốc Sở NN&PTNT, nhận định: “Trong mùa khô vừa qua, toàn tỉnh chỉ xảy ra hai vụ cháy rừng với diện tích 0,92 ha. Ðó là minh chứng cho sự nỗ lực rất lớn của tỉnh trong việc bảo vệ và phát triển diện tích rừng”.
BÐKH làm cho hiện tượng thời tiết cực đoan những năm gần đây tăng lên một cách đáng kể về cả cường độ và tần suất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của người dân. U Minh là vùng đất thấp, trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của BÐKH làm mực nước biển dâng cao. Huyện có trên 25.000 ha rừng tràm và cả rừng phòng hộ ven biển.
Ông Lê Thanh Triều, Chủ tịch UBND huyện U Minh, cho biết, huyện đang tập trung chỉ đạo quyết liệt từ việc bảo vệ diện tích rừng hiện có cũng như tích cực chuẩn bị để trồng hoàn thành diện tích rừng mới. Ðồng thời, chỉ đạo tăng cường công tác tuần tra kiểm soát hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chặt phá cây rừng.
Ðể bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, công tác quản lý tiếp tục được các đơn vị tăng cường. Ông Lê Văn Sử cho biết thêm, các lực lượng tuần tra luôn được tăng cường tại những khu vực phức tạp như rừng phòng hộ ven biển, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau nhằm ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác trái pháp luật.
Ngoài ra, còn tăng cường kiểm tra các tụ điểm kinh doanh, mua bán lâm sản, truy quét và phá huỷ lò hầm than trái phép. Từ đầu năm đến nay, các đơn vị đã phát hiện trên 180 vụ vi phạm các quy định bảo vệ và phát triển rừng.
Ngọc Hiển là địa phương có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất tỉnh, một loại rừng vô cùng quan trọng cho việc giảm nhẹ và thích ứng với BÐKH. Chủ tịch UBND huyện Ngọc Hiển Nguyễn Trường Giang cho biết, tuy tình hình chặt phá cây rừng vẫn còn diễn biến phức tạp nhưng được sự quan tâm phối hợp của nhiều ngành, những tháng đầu năm đã phát hiện trên 46 trường hợp vi phạm về khai thác và vận chuyển lâm sản, triệt phá trên 482 lượt lò than trái phép. Huyện quyết tâm giữ và phát triển tất cả các loại rừng hiện có trên địa bàn.
Bên cạnh việc sử dụng các công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất công nghiệp, nông, lâm nghiệp và xử lý tốt chất thải,… thì phát triển, trồng và bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn là một hành động thiết thực nhất để hạn chế thiệt hại và thích ứng với BÐKH. Ðể tiếp tục phát triển diện tích và các loại rừng trên địa bàn, ông Sử cho biết, Sở NN&PTNT đang tiến hành rà soát và kiểm kê tất cả các loại rừng trên địa bàn để có giải pháp bảo tồn, phát triển hợp lý.
Ðồng thời, chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng thuộc vườn quốc gia. Ngoài ra, hoàn thiện công tác thay đổi sổ hợp đồng giao khoán rừng sản xuất để tăng cường quản lý và phát triển rừng thời gian tới.
BÐKH gây những tác động và tổn thương nặng nề về kinh tế lẫn xã hội. Chính vì vậy, cần có những hành động ngay từ lúc này và kế hoạch dài hơi trong tương lai. Phát triển và bảo vệ rừng được xem là giải pháp trước mắt và cả lâu dài.
Không chỉ phát triển diện tích, ông Sử còn cho biết, hiện nay ngành NN&PTNT đang hoàn thiện quy hoạch chi tiết các khu rừng đặc dụng trên địa bàn trong chiến lược phát triển hệ thống rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020.
Nhằm mục tiêu không chỉ bảo vệ và phát triển diện tích rừng mà còn hướng tới phát triển tài nguyên dưới tán rừng. Ðồng thời, đã tiến hành rà soát phần diện tích đất trống ven biển để tiến hành trồng rừng ngập mặn cũng như tìm mô hình phát triển phù hợp trong thời gian tới trước tác động BÐKH.
Bảo vệ, phát triển diện tích rừng cũng như đa dạng sinh học dưới các tán rừng đang là nỗ lực của các ngành, các cấp trong “cuộc chiến” hạn chế và thích ứng với tác động của BÐKH. (Báo Cà Mau 25/7) đầu trang(
Theo báo cáo của ngành chức năng, trước đây Lâm trường An Sơn đã hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng cho gần 30 hộ dân ở Thôn 2, và Thôn 3, xã An Toàn thực hiện việc quản lý bảo vệ 439 ha rừng phòng hộ tại Tiểu khu 46, xã An Quang và Tiểu khu, 38 xã An Vinh.
Với vị trí được giao khoán bảo vệ xa nơi ở nên công tác quản lý bảo vệ khó khăn, trong khi tình hình khai thác, vận chuyển lâm sản hiện nay diễn ra hết sức phức tạp. Chính vì vậy, UBND huyện đã chỉ đạo BQL rừng phòng hộ thanh lý hợp đồng quản lý bảo vệ rừng đối với 439 ha rừng nói trên, đồng thời giao khoán lại cho các hộ dân khác ở Thôn 5 xã An Quang và Thôn 6 xã An Vinh để quá trình quản lý, bảo vệ rừng được thuận lợi hơn.
Hiện nay, BQL rừng phòng hộ đã hoàn thành việc thanh lý hợp đồng. UBND huyện cũng đã chỉ đạo BQL rừng đặc dụng An Toàn có kế hoạch giao khoán mới cho những hộ dân tại Thôn 2 và Thôn 3 xã An Toàn để tăng thêm thu nhập. (UBND Huyện An Lão 26/7) đầu trang(
Trước đây, nhiều người khi đến khu vực Yên Bái, Lào Cai... thường thấy cảnh những hàng gỗ bóc phơi la liệt ven đường chạy dài tít tắp theo những trục đường lớn nhỏ, những mô đất trống...
Nhưng nay, cảnh tấp nập đó không còn nữa vì người dân không dám tiếp tục bóc gỗ vì sợ thua lỗ, hoặc làm cầm chừng để thanh lý các hợp đồng trước tháng 5/2014.
Theo phản ánh của các hộ dân bóc gỗ ở Yên Bái thì từ ngày 1/5 thương lái Trung Quốc bất ngờ thông báo giảm giá thu mua gỗ bóc đối với các chủng loại gỗ keo, bồ đề, bạch đàn. Cụ thể, gỗ keo giảm từ 1,1 triệu đồng xuống còn 1 triệu đồng hoặc 900.000đ/m3, bạch đàn giảm từ 1,2 triệu đồng xuống còn 1,1 triệu đồng/m3, bồ đề giảm từ 1,3 triệu đồng xuống còn 1,1 triệu đồng/m3. Việc giảm giá bất ngờ này gây thiệt hại nặng nề cho hàng ngàn hộ dân làm nghề bóc gỗ.
Chị Bùi Thị Dung, một chủ xưởng bóc gỗ ở xã Lương Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái không giấu nổi sự giận giữ bảo: "Thương lái Trung Quốc giảm giá đột ngột mà không thông báo trước, trong khi đó, gần như toàn bộ các hộ dân làm nghề bóc gỗ tại địa phương đã đặt mua gỗ của các chủ rừng với giá cao (bạch đàn 1,3 triệu đồng, keo 1,1 triệu đồng, bồ đề 1,2 triệu đồng/m3) dẫn tới việc lỗ đậm. Trung bình mỗi mét khối gỗ các loại người dân lỗ trên 100.000đ.
Không những thế, các chủ xưởng như chúng tôi phải chi tiền thuê 6 - 10 công nhân làm việc với tiền lương mỗi tháng 3 - 4 triệu đồng/tháng. Nếu đem con số này nhân với khối lượng gỗ phải bù lỗ thì mỗi hộ chúng tôi thua thiệt hàng chục thậm chí hàng trăm triệu đồng một tháng".
Theo thống kê của chị Dung, chỉ tính trên địa bàn huyện Trấn Yên đã có tới hàng ngàn cơ sơ làm gỗ bóc. Cách đây gần hai tháng, những chủ xưởng này phải cạnh tranh nhau mua nguyên liệu gỗ từ khắp nơi trong và ngoài tỉnh. Có người còn đặt tiền trước để mua hàng chục héc ta rừng keo, bạch đàn với số tiền lên đến hàng tỷ đồng. Số tiền tỷ đem rải vào rừng đó do họ đi vay ngân hàng mà có.
Chính vì thế nên khi bị thương lái Trung Quốc ép giá, nhiều người đã rơi vào cảnh khóc dở mếu dở. Nếu tiếp tục bóc gỗ thì phải chịu lỗ đậm, nếu không hoạt động để đợi giá gỗ tăng trở lại hoặc tìm đối tác khác thì số tiền lãi phải trả ngân hàng cũng rất lớn, trong khi chưa biết đến bao giờ giá gỗ mới tăng lại như cũ. Thậm chí, giá mặt hàng này tiếp tục giảm thì chủ xưởng bóc gỗ có khi phải bán nhà trả nợ.
Trước việc bị thương lái ép giá, rất nhiều xưởng bóc gỗ đã phải "đắp chiếu" chờ giá lên mới tiếp tục hoạt động. Trên địa bàn huyện Trấn Yên, Yên Bình, Lục Yên, tỉnh Yên Bái và Bảo Hà, tỉnh Lào Cai chỉ lác đác vài xưởng gỗ hoạt động cầm chừng.
Theo ông Nguyễn Vô Thường, chủ xưởng bóc gỗ ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái thì xưởng của ông tiếp tục hoạt động là do duy trì được mối xuất khẩu gỗ bồ đề, bạch đàn sang Ấn Độ. Cách đây gần 2 tháng, thị trường xuất khẩu gỗ của gia đình ông chủ yếu là Trung Quốc, còn Ấn Độ chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ.
Khi xảy ra khủng hoảng, thị trường Ấn Độ lại trở nên quan trọng và đảm bảo sự hoạt động. Mặc dù số lãi của thị trường này chỉ đủ bù đắp lại phần thua lỗ do thị trường Trung Quốc gây ra, nhưng trong thời điểm này hòa vốn đã là một thành công rồi. Những chủ xưởng bóc gỗ khác chỉ tập trung xuất khẩu sang Trung Quốc khi xảy ra sự việc như hiện nay thì không kịp trở tay, dẫn đến thua lỗ, đóng cửa.
Cũng giống như ông Thường, để duy trì được hoạt động, gia đình chị Bùi Thị Dung đã tìm cách xuất khẩu gỗ bạch đàn, bồ đề sang Ấn Độ, mặc dù việc xuất khẩu sang thị trường này có nhiều khó khăn như phải vận chuyển sản phẩm xuống tận Hải Phòng rồi xuất theo đường thủy, chi phí vận chuyển cao hơn. Nhưng đổi lại đây là thị trường có uy tín, khi nâng - hạ giá sản phẩm họ thường thông báo trước để phía Việt Nam biết để có sự điều chỉnh giá cả phù hợp.
Gia đình chị Dung có tới 3 dây chuyền cưa, cắt, bóc gỗ, nhưng đến nay chỉ còn 1 dây chuyền hoạt động, còn lại phải "đắp chiếu" vì giá thu mua gỗ xuống thấp, nhiều chủ rừng không bán gỗ nên không có nguyên liệu sản xuất.
"Trên địa bàn xã Lương Thịnh có khoảng hàng chục xưởng bóc gỗ nhưng hiện chỉ còn duy nhất một mình xưởng của gia đình tôi còn hoạt động với một dây chuyền sản xuất, số còn lại phải đóng cửa vì sợ thua lỗ và một phần vì các chủ rừng không bán gỗ vì giá quá thấp", chị Dung cho biết. (Kiến Thức 26/7; Khoa Học & Đời Sống 25/7, tr14) đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Công văn số 745 chỉ đạo các sở, ngành, địa phương thực hiện các biện pháp ngăn ngừa hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân của một số doanh nghiệp bằng hình thức mời hợp tác trồng rừng.
Theo UBND tỉnh, hiện có một số công ty bất hợp pháp đang thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản công dân với thủ đoạn là tuyên truyền có nguồn vốn lớn (hàng chục tỷ đồng) của các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ cho dự án trồng rừng, mức hỗ trợ khoảng 15 triệu đồng/ha. Các công ty này đã mở rộng chân rết đến các địa phương thực hiện hành vi lừa đảo, trong đó có tỉnh Kiên Giang…
Với hình thức là thành lập các công ty cổ phần đăng ký vốn điều lệ hàng nghìn tỷ đồng nhưng các thành viên của công ty không góp vốn. Họ kêu gọi ký hợp đồng hợp tác bằng cổ phiếu khống để lừa đảo các doanh nghiệp và cá nhân bằng việc thu phí cấp vốn ban đầu hàng chục triệu đồng/hợp đồng và thu gom giấy tờ đất.
UBND tỉnh, yêu cầu Sở NN-PTNT, Sở Thông tin và Truyền thông, báo đài địa phương và các phóng viên thường trú báo đài trung ương có mặt trên địa bàn tuyên truyền, khuyến cáo để các doanh nghiệp và công dân không bị mắc bẫy lừa đảo của các đối tượng xấu; khi phát hiện các đối tượng có dấu hiệu lừa đảo, báo ngay cho các cơ quan chức năng hoặc chính quyền địa phương biết để xử lý.
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Thuế tỉnh và các địa phương tăng cường kiểm tra, theo dõi chặt chẽ quy trình thành lập doanh nghiệp, chi nhánh công ty, đăng ký vốn điều lệ, phát hành cổ phiếu, nghĩa vụ thuế..., để phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kiên quyết.
Công an tỉnh tiếp tục theo dõi chặt chẽ các công ty có dấu hiệu lừa đảo, củng cố chứng cứ để có biện pháp xử lý kịp thời, hạn chế thiệt hại cho nhân dân. (Nhân Dân 26/7; Tuổi Trẻ 26/7, tr7) đầu trang(
25-7, Văn phòng UBND huyện Đại Lộc cho biết: Công ty CP Đại Phước Xanh đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất viên nén sinh học tại địa phương, với tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng khoảng 90 tỷ đồng.
Nhà máy có công suất khoảng 80.000 tấn/năm, thu hút nguồn nguyên liệu mỗi năm khoảng 200.000 tấn keo, trong đó 60% gỗ keo rừng trồng và 40% gỗ tạp.
Nhà máy sử dụng nguyên liệu chế biến chủ yếu từ thân, cành cây keo lá tràm, keo lai tại địa phương để sản xuất viên nén sinh học dạng ép nhằm thay thế than đá phục vụ các nhà máy nhiệt điện.
Dự kiến, nhà máy này sẽ hoàn thành, vận hành từ đầu năm 2015. Khi nhà máy được đưa vào hoạt động sẽ góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hàng trăm lao động; đồng thời tạo điều kiện, kích thích người dân địa phương trồng rừng, cải thiện đời sống…
Theo ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khu vực trung du và miền núi Quảng Nam có ưu thế phát triển cây keo. Hiện trên địa bàn tỉnh có khoảng 110 nghìn héc-ta cây keo lá tràm và cây keo lai. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy chế biến. (Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Hơn 70 người dân các thôn An Điềm Bắc 1 và An Điềm Bắc 2 thuộc xã Cửu An (TX An Khê - Gia Lai) dùng rựa, cuốc xông vào hăm dọa, ngăn cản không cho nhân viên Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (Vĩnh Thạnh - Bình Định) trồng rừng nhằm chiếm đất.
Ngày 23/7, PV lên Hòn Mum thuộc tiểu khu 226, vùng đất Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (viết tắt là Cty Sông Kôn) đang trồng rừng với mong muốn được tận mắt chứng kiến cảnh chiếm đất rất manh động của người dân TX An Khê.
Chiếc xe Uoat đưa PV đến Hòn Mum phải vật vã lắm mới vượt qua được chặng đường rừng gập gềnh, lầy lội do vừa có mấy cơn mưa. Tuy nhiên, nỗi ám ảnh của CBCNV thuộc Trạm QLBVR số 1 là những cái bẫy chông bằng đinh được người dân TX An Khê cài dưới những cái lỗ nước, lấp dưới lớp thực bì dọc đường nhằm ngăn cản xe của Cty Sông Kôn tập kết cây giống vào rừng.
Anh Lê Công Tám, Đội trưởng Đội QLBVR số 1, nói: “Mỗi khi vận chuyển, chúng tôi phải dò từng lỗ nước, từng lớp thực bì trên đường để tránh tình trạng bị thủng lốp xe. Chỉ trong 3 ngày 19-20 và 21/7 mà chúng tôi đã thu lượm được 12 bàn chông”.
Khi PV vừa lên đến Hòn Mum cũng là lúc nhân viên của Cty Sông Kôn bắt đầu trồng rừng trên khoảnh đất gần Trạm QLBVR. Thật ngạc nhiên, khi nhân công vừa bắt tay vào việc là lập tức cánh rừng đang yên ắng bỗng vang lên nhiều tiếng hú.
Chỉ trong 10 phút, người từ trong rừng chạy ra, người từ dưới làng chạy xe máy lên, loáng chốc đã có đến hơn 70 thanh niên, phụ nữ tay rựa, tay cuốc hung hãn xông vào khoảnh đất nơi hơn 30 công nhân đang trồng rừng. Những cây giống vừa trồng xuống liền bị họ nhổ lên vứt bừa bãi trên đất. Họ vung cuốc, lia rựa hăm dọa công nhân.
PV đang đứng chụp hình thì bị 1 thanh niên lao đến kề rựa vào cổ, nói: “Không chụp, quay gì hết. Biến!”. Đứng bên cạnh PV anh Lê Công Tám cũng bị 1 thanh niên hăm dùng rựa chém. Hoảng quá, tôi lập tức gọi điện cho ông Nguyễn Hùng Vỹ, Phó Chủ tịch UBND TX An Khê để thông báo tình hình.
Khi biết là nhà báo, đám đông mới bớt manh động, nhưng vẫn bao vây khoảnh đất không cho công nhân làm việc. Theo nhận diện của các cán bộ Trạm QLBVR số 1, người vung rựa hăm dọa chúng tôi là Nguyễn Ngọc Hạnh, người hăm chặt anh Tám là Hà Văn Phúc cùng ở xã Cửu An (TX An Khê).
Ông Võ Hồng Nguyên, Trưởng phòng QLBVR (Cty Sông Kôn), minh họa thêm sức nóng của “cuộc chiến” chiếm đất ở đây: “Trong 2 ngày 19 và 20/7, cũng tại khoảnh đất này, công nhân đang trồng rừng thì cũng bị hàng trăm người dân đến phá tương tự, từ đó đến nay chưa trồng được.
Vào ngày 20/7, ông Nguyễn Ngọc Hạnh (người hăm chém PV) cũng đã dùng rựa kê vào cổ nhân viên Cty là Nguyễn Đăng Quang, và ông Nguyễn Văn Hiếu dùng rựa đánh vào chân khiến nhân viên Nguyễn Thái Thạch bị thương.
Trước đó, vào ngày 26/5/2013, bà Trần Thị Lệ Hồng (1971), người ở TX An Khê cầm đầu một số đối tượng ở thôn An Thạch (xã Xuân An) và làng Hòa Bình (xã Tú An) xông vào đốt Trạm QLBVR Nước Poon và hành hung 3 cán bộ đang trực tại trạm. Những đối tượng nói trên đã bị TAND tỉnh Bình Định tuyên phạt tù giam vào tháng 6 vừa qua”.
Tình trạng người dân các xã Tú An, Cửu An, Xuân An thuộc TX An Khê (Gia Lai) lấn chiếm đất rừng do Cty Sông Kôn (Vĩnh Thạnh - Bình Định) quản lý đã xảy ra hàng chục năm qua. Thế nhưng do chính quyền địa phương 2 bên can thiệp không rốt ráo nên sự việc đã không được ngăn chặn mà ngày càng tăng tốc.
Theo ông Võ Văn Cường, GĐ Cty Sông Kôn, ranh giới đất rừng đã được phân chia rạch ròi theo Chỉ thị 364-CT (ngày 6/11/1991) của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), được tỉnh Gia Lai xác định phần đất bị lấn chiếm là của Bình Định, do Cty Sông Kôn quản lý.
Năm 2001, Cty Sông Kôn tiến hành đến bù hoa màu, công khai hoang cho những hộ dân TX An Khê đang canh tác, và tiến hành trồng rừng trên những diện tích này thì lập tức bị người dân các xã Tú An, Cửu An, Xuân An (TX An Khê) phá hoại để chiếm đất.
Ông Cường cho hay: “Năm 2008, Cty khai thác hơn 113 ha rồi trồng mới tại TK 217 thuộc xã Vĩnh Thuận (Vĩnh Thạnh - Bình Định), giáp ranh xã Xuân An (TX An Khê) thì bị một số hộ dân thôn An Thạch (xã Xuân An) cản phá, chiếm đất. Dù vụ việc đã được báo cáo lên các cấp có thẩm quyền nhưng do không được can thiệp nên vào năm 2010, Cty tiếp tục khai thác gần 75 ha tại TK 226 giáp ranh với xã Cửu An (TX An Khê) thì bị dân thôn An Điềm Bắc 1 “học theo” dân An Thạch tổ chức phá phách, chiếm đất.
Tiếp đến năm 2013, Cty Sông Kôn tổ chức trồng hơn 128 ha rừng tại 2 TK 210B và 217 ở khu vực Nước Poon thì bị dân làng Hòa Bình (xã Tú An) vào nhổ phá, phun thuốc khai hoang cho cây giống chết để chiếm đất trồng hoa màu. Tháng 3/2104 Cty tiếp tục khai thác, trồng mới gần 48 ha tại 2 khu vực nói trên thì cũng tiếp tục bị “bức tử” cây giống bằng thuốc khai hoang”.
Và trong lần PV trực tiếp chứng kiến này, người dân chiếm đất không chỉ nhổ phá, dùng thuốc khai hoang giết chết những cánh rừng mới trồng mà còn dùng hung khí hăm dọa, ngăn cản không cho nhân viên Cty Sông Kôn trồng rừng.
Mang không khí nóng bỏng của “cuộc chiến” chiếm đất diễn ra tại khu rừng thuộc TK 226 vừa chứng kiến về làm việc với UBND xã Cửu An (TX An Khê), chúng tôi được ông Phạm Đình Phùng, Chủ tịch UBND xã, cho biết: “Sau khi điều tra, chúng tôi đã điểm danh được một số đối tượng tại địa phương chuyên cầm đầu những vụ phá rừng chiếm đất của Cty Sôn Kôn, trong đó nổi lên đối tượng Nguyễn Văn Minh ở thôn An Điềm Bắc 1.
Những hộ chiếm đất của Cty Sông Kôn cũng đã từng chiếm hơn 40 ha rừng của BQLRPH Bắc An Khê (Gia Lai) để lấy đất SX. Qua điều tra, những hộ này không phải do thiếu đất SX, có nhiều hộ đang sở hữu diện tích đất vượt hạn điền (nhiều hơn 2ha), trong đó có đối tượng Nguyễn Ngọc Hạnh vừa hăm chém các anh khi nãy, nhưng giờ vẫn đi chiếm đất một cách manh động. Do vụ việc xảy ra ban đầu không được giải quyết dứt khoát nên nạn chiếm đất dắt dây đến giờ”.
Theo các văn bản PV có trong tay, từ năm 2013, giữa huyện Vĩnh Thạnh (Bình Định) và TX An Khê (Gia Lai) đã có sự phối hợp nhằm giải quyết dứt điểm nạn chiếm đất của Cty Sông Kôn. Tuy nhiên, không biết sự phối hợp này “chặt chẽ” đến mức nào mà đến nay người dân vùng giáp ranh thuộc TX An Khê vẫn ngang nhiên phá rừng mới trồng của Cty Sông Kôn để chiếm đất. Thậm chí dùng hung khí để phục vụ cho việc chiếm đất như đang sống ngoài vòng pháp luật!?
Theo quan điểm của ông Võ Văn Cường, GĐ Cty Sông Kôn, muốn giải quyết rốt ráo việc này, cấp tỉnh phải vào cuộc. Trước mắt, các xã phải thắt chặt quản lý dân của mình mới mong ngăn chặn được nạn chiếm đất một cách manh động. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/7) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GỚI
Tờ Guardian dẫn báo cáo của các nhà khoa học Nhật Bản cho biết, những con khỉ sống ở gần thành phố Fukushima, Nhật Bản đã xuất hiện những dấu hiện bất thường do bị nhiễm xạ sau vụ nổ ở nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 năm 2011.
Theo đó, trong máu của những con khỉ sống trong khu vực bị ảnh hưởng đã xuất hiện những tế bào bạch cầu, hồng cầu giảm, nồng độ hemoglobin (huyết sắc tố) thấp.
Nghiên cứu cho thấy khoảng 61 con khỉ sống cách khu vực bị nhiễm xạ 70km và 31 con khỉ cách đó 400km, ở bán đảo Shimokita đã xuất hiện dấu hiệu trên. Những con khỉ này đã dương tính với phóng xạ caesium.
Những con khỉ hoang dã ở Nhật Bản thường có thói quen tắm trong suối nước nóng và điều này đã khiến chúng dễ dàng mắc các bệnh truyền nhiễm.
Mặc dù những dấu hiệu lạ chỉ xuất hiện trên loài khỉ nhưng phát hiện này sẽ khiến Công ty Điện lực Tokyo (TEPCO) phải chịu thêm áp lực. Trước đó, công ty này đã bị chỉ trích dữ dội khi tỏ ra quá chậm chạp trong việc triển khai các biện pháp ngăn ngừa thảm họa hạt nhân.
Khoảng 50.000 hộ gia đình đã bị di dời sau thảm họa hạt nhân và các cơ quan chức năng đã phải vật lộn để tránh việc lây nhiễm phóng xạ.
"Mức phóng xạ caesium được tìm thấy trong những con khỉ ở Fukushima giống hệt với những con cừu ở Vương Quốc Anh sau sự cố hạt nhân ở Chernobyl vào năm 1986. Tôi nghĩ rằng những con khỉ đã bị nhiễm xạ" - Giáo sư Jim Smith của Đại học Portsmouth, Anh cho biết. (VietnamPlus 26/7; Đại Đoàn Kết 28/7, tr16) đầu trang(
Trong khi voi ở Châu Phi phải đối mặt với vực tuyệt chủng do nạn săn trộm để lấy ngà, thì voi Châu Á bị đối xử tàn bạo bởi con người để phục vụ cho những "dịch vụ du lịch sinh thái" - mà nhiều người cho rằng cứ đi du lịch sinh thái là đang góp phần bảo vệ môi trường/thiên nhiên/động vật hoang dã.
Bạn có biết rằng để có những chú voi phục vụ cho ngành du lịch mà nhiều voi con hoang dã đã bị bắt giữ ở Myanmar, bị hành hạ, đánh đập cho đến khi bị buộc phải chấp nhận và làm những gì "người chủ" muốn? Những tên buôn lậu voi thiết lập đường dây buôn bán những chú voi bị bắt giữ cho những khu giải trí, công viên hay du lịch sinh thái có dịch vụ cưỡi voi.
Voi là loài động vật sống theo bầy đàn và voi trưởng thành sẽ chiến đấu đến chết để bảo vệ voi non, vì thế mà những kẻ săn trộm voi ở Myanmar lùa đàn voi vào sâu trong rừng, sau đó giết voi trưởng thành (vì voi sống theo mẫu hệ, nên thường những chú voi con phải chứng kiến cái chết của voi bà, mẹ, dì, chị....).
Những chú voi con sau đó phải trải qua quá trình gọi là Phajaan - quá trình này bao gồm việc nhốt những chú voi con vào chuồng chật hẹp hoặc đẩy chúng xuống những cái hố cực nhỏ để chúng không thể tự di chuyển. Người "huấn luyện" sẽ đánh đập voi liên tục bằng dùi cui, bằng dùi có mấu sắt nhọn, và voi bị bỏ đói cho đến khi vì sợ hãi mà buộc phải tuân theo lệnh của con người.
Và ngay cả khi đã bị khuất phục, những chú voi vẫn tiếp tục bị đánh đập, dù không thường xuyên như trong quá trình Phajaan. Nếu từng quan sát những chú voi trong rạp xiếc, hoặc ở những khu du lịch sinh thái như thế này, bạn sẽ thấy quản tượng luôn mang theo một chiếc dùi gỗ, thường có đi kèm mấu sắt ở đầu dùi.
Đây chính là vũ khí đánh đập những chú voi này, và chiếc dùi cầm theo tay để "nhắc nhở" chú voi nếu không tuân lệnh sẽ bị đánh. Quản tượng khi cưỡi voi cũng cầm chiếc dùi này để đâm thẳng vào phần màng tai, hoặc thái dương voi, gây ra sự đau đớn dữ dội và buộc chú voi phải làm theo bất kỳ điều gì họ muốn.
Những chiếc ghế được làm để đặt trên lưng voi cho dịch vụ cưỡi voi cũng gây ra sự đau đớn vô cùng cho những chú voi. Phần đế của những chiếc ghế này được đặt thẳng lên xương sống của voi, liên tục đè sức nặng lên phần cột sống.
Bạn có biết rằng, những chú voi bị sử dụng cho dịch vụ cưỡi voi đa phần đều bị chấn thương xương sống? Xương sống của chúng không cấu tạo để có thể chịu được sức nặng trong thời gian dài, và thường những khu vực có dịch vụ cưỡi voi bắt voi phải cho khách cưỡi liên tục không ngừng nghỉ.
Những du khách muốn được xem những chú voi vẽ tranh, hay làm những trò tiêu khiển, đặc biệt là cưỡi lên voi và chụp ảnh kỷ niệm cùng những chú voi. Nhưng có một điều tất cả họ cần phải biết, đó là để có được những chú voi phục vụ trong ngành du lịch và giải trí như vậy, rất nhiều voi hoang dã đã phải chết. Và chính chú voi mà họ chụp ảnh cùng, đã và đang bị đánh đập và bị đối xử tàn ác như thế nào! (Đất Việt 27/7) đầu trang(
Nitish Bambhaniya – người cứu hộ động vật đã bắt gặp cảnh con trăn đá to lớn đang cố gắng nuốt chửng một con linh dương tại một khu làng nhỏ tại Ấn Độ.
Sau khi nhận được tin báo từ một người địa phương về sự xuất hiện của con trăn khổng lồ, Nitish và nhóm của anh đã vượt hơn 25 dặm bằng xe máy tới khu vực này và nhìn thấy con trăn đã gần như nuốt chửng chú linh dương.
Chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng, người dân trong làng muốn giết con trăn đá Ấn Độ khổng lồ bởi lo sợ nó sẽ gây nguy hiểm cho trẻ em và những người sinh sống trong khu vực.
Người dân tụ tập lại ngày một nhiều khiến cho con trăn hoảng sợ và nhả con mồi ra chạy trốn. Nitish cho biết nó làm như thể để giảm trọng lượng cơ thể và trườn đi nhanh hơn. Nhóm cứu hộ cũng thuyết phục người dân không gây nguy hiểm tới con trăn và dân làng đã đồng ý.
Sau đó Nitish và đồng đội đã bắt được chú trăn này và giao lại cho trạm kiểm lâm. Trăn đá sau đó đã được thả tự do tại một khu rừng ở gần đó. (Người Lao Động 26/7) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||