Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 26 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Trần Ngọc Căng vừa có văn bản giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành: Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và UBND các huyện, thành phố triển khai các biện pháp quản lý bảo vệ rừng.
Theo đó, tăng cường kiểm tra truy quét và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và những cơ quan, chủ rừng, đặc biệt là người có thẩm quyền nhưng thiếu trách nhiệm, có tiêu cực, để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn​ chiếm, tái lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác lâm sản trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
Đồng thời, kiểm tra, rà soát các cơ sở chế biến gỗ; quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các xưởng chế biến gỗ sử dụng gỗ bất hợp pháp hoặc cố tình không chấp hành quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng.
Ngoài ra, Chủ tịch Trần Ngọc Căng yêu cầu tiến hành kiểm tra, rà soát toàn bộ diện tích đất rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm sử dụng sai mục đích tại các công ty, doanh nghiệp… Kiên quyết xử lý vi phạm, thu hồi đất theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Theo chỉ đạo, các cơ quan chức năng phối hợp với cấp ủy, chính quyền cơ sở đôn đốc các chủ rừng triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên diện tích được giao. Nếu chủ rừng thiếu trách nhiệm để rừng bị phá, đất rừng bị lấn chiếm…kiên quyết xử lý trách nhiệm của chủ rừng theo quy định của pháp luật. (Tài Nguyên Và Môi Trường 24/7) đầu trang(
Từ nhiều năm nay, khu rừng lộc vừng cổ thụ hàng trăm năm tuổi tại làng Siêu Quần, xã Phong Bình, huyện Phong Điền, TT-Huế được người dân bảo vệ nghiêm ngặt nhờ hương ước.
Theo chính quyền và người dân địa phương, cả làng Siêu Quần có tới hàng nghìn cây lộc vừng cổ thụ, trải dài hơn 2 km, tạo thành một vành đai vững chãi, che mưa chắn bão cho làng. Để giữ được một khu rừng vô giá như thế này, người dân nơi đây đã đưa việc gìn giữ rừng lộc vừng vào hương ước của làng, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng thành quy ước văn hóa để dân làng thực hiện nghiêm túc.
Mặc dù những năm gần đây, lộc vừng cổ thụ được giới chơi cây cảnh săn lùng, trả giá cao, nhưng rừng lộc vừng ở Siêu Quần vẫn phát triển tốt, trở thành lá phổi xanh che chắn cho làng. Đây là kết quả của sự đồng lòng, đồng sức và ý thức bảo vệ cao của bà con dân làng. Làng cũng đã thành lập một đội chuyên bảo vệ rừng làm việc trên tinh thần tự nguyện.
Từ bao đời nay, người dân làng Siêu Quần coi rừng cây là linh hồn của làng và các thế hệ con cháu ra sức bảo tồn, phát huy bởi một quan niệm đơn giản nhưng không dễ thực hiện “còn rừng là còn làng”. Hương ước của làng đã và đang phát huy hiệu quả trong việc bảo vệ khu rừng của làng ngày một xanh tươi. (Đài Truyền Hình Việt Nam 25/7) đầu trang(
Sáng 25-7, đoàn công tác của Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT) đã có buổi làm việc với UBND tỉnh Quảng Nam về nội dung liên quan đến vụ phá rừng pơ mu ở khu vực biên giới thuộc xã La Dêê, huyện Nam Giang.
Trước đó, sau khi kiểm tra hiện trường vụ phá rừng pơ mu tại Tiểu khu 351, thuộc xã La Dêê, Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng (BĐBP), đã có buổi làm việc với Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Nam cùng cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang.
Tại buổi làm việc, Thiếu tướng Nguyễn Văn Nam đã phê bình nghiêm khắc cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang trong việc để xảy ra vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng ngay trong khu vực quản lý, bảo vệ biên giới; đồng thời chỉ đạo cơ quan điều tra BĐBP nhanh chóng xác định các đối tượng tham gia phá rừng, tiến hành làm rõ vấn đề, có hay không việc bao che, dung túng cho các đối tượng phá rừng ngay trong địa bàn tuần tra, kiểm soát của lực lượng Biên phòng. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Chiều 25/7, Đại tá Lê Quang Vịnh, Trưởng Công an huyện Nam Giang, cho biết: Toàn bộ hồ sơ vụ án phá rừng pơ mu xảy ra ở khu vực biên giới thuộc xã La Dêê, công an huyện đã chuyển lên cho Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh Quảng Nam tiếp tục thụ lý, điều tra.
Sáng cùng ngày, đoàn công tác Cục Kiểm lâm (Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN-PTNT) do ông Đỗ Trọng Kim, Phó Cục trưởng dẫn đầu làm việc với UBND tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, cuộc họp nội bộ, báo chí không được tham dự, vì vụ việc đang trong quá trình điều tra.
Chiều cùng ngày, trao đổi với NNVN, ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam thông tin, tại buổi làm việc với Cục Kiểm lâm, Quảng Nam đã kiến nghị một số vấn đề.
Cụ thể, đối với Cục Kiểm lâm phải có báo cáo với Bộ NN-PTNT để Bộ tiến hành làm việc với các bộ, ngành liên quan nhằm rà soát, đánh giá để có hướng quản lý chặt chẽ khu vực rừng giáp ranh biên giới. Nhất là vụ phá rừng pơ mu vừa xảy ra cho thấy công tác phối hợp giữa các lực lượng của các cơ quan rất bất cập. Ngoài ra quy trách nhiệm chưa được rõ ràng. Do đó, phải làm rõ vấn đề này.
Được biết, ngày 26/7, UBND tỉnh Quảng Nam sẽ làm việc với lãnh với lãnh đạo Ủy ban Chính quyền tỉnh Sê Kông (Lào) nhằm phối hợp để bàn công tác phối hợp điều tra vụ phá rừng. (Nông Nghiệp Việt Nam 26/7) đầu trang(
PV Tiền Phong trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Tiến Thắng, Chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Biên phòng (BĐBP), về những vấn đề liên quan vụ việc phá rừng pơmu tự nhiên tại Tiểu khu 351 thuộc khu vực rừng phòng hộ Nam Sông Bung, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam.
Ông cho biết: Ngay sau khi nhận được báo cáo của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Nam và thông tin của các cơ quan báo chí về vụ việc phá rừng pơmu xảy ra tại khu vực biên giới do Đồn Biên phòng Cửa khẩu (BPCK) Nam Giang, BĐBP tỉnh Quảng Nam quản lý, Bộ Tư lệnh BĐBP đã có 3 công điện chỉ đạo Cục Phòng chống ma túy và tội phạm (PCMT&TP) BĐBP đến hiện trường tiến hành điều tra, xác minh, xử lý.
Bộ Tư lệnh đã triệu tập Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Phó Chỉ huy trưởng Nghiệp vụ, Trưởng phòng PCMT&TP của BĐBP tỉnh Quảng Nam và Ban Chỉ huy Đồn BPCK Nam Giang ra Bộ Tư lệnh để báo cáo rõ tình hình vụ việc.
Bộ Tư lệnh đã phê bình nghiêm khắc Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Nam, trực tiếp là đồng chí Chỉ huy trưởng, Chính ủy, Phó Chỉ huy trưởng Nghiệp vụ đã buông lỏng công tác quản lý, chỉ huy, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc để xảy ra vụ việc nghiêm trọng ở khu vực biên giới; không có biện pháp xử lý kiên quyết và kịp thời báo cáo  về Bộ Tư lệnh.
Đồng thời, đồng chí Tư lệnh BĐBP đã yêu cầu Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Nam nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tập thể và cá nhân liên quan đến vụ việc trên, nếu có dấu hiệu vi phạm phải đề xuất hình thức xử lý nghiêm khắc, báo cáo với Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Nam và Bộ Tư lệnh trước ngày 30/7; trước mắt, Bộ Tư lệnh đã ra quyết định đình chỉ công tác đối với Đồn trưởng, Chính trị viên và Phó Đồn trưởng kiêm Trạm trưởng Trạm Kiểm soát BPCK Nam Giang để làm rõ trách nhiệm.
Bên cạnh đó, Bộ Tư lệnh giao cho Cơ quan Điều tra Hình sự BĐBP phối hợp với lực lượng chức năng của tỉnh Quảng Nam khẩn trương tiến hành điều tra, làm rõ vụ việc; trao đổi bằng văn bản với Thường trực Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Nam để thống nhất chủ trương, biện pháp xác minh, điều tra, xử lý vụ việc trong thời gian nhanh nhất.
Về việc lãnh đạo huyện Nam Giang cho rằng, thời gian qua, các đồn biên phòng gây không ít khó khăn cho địa phương, Thiếu tướng cho hay: “Xung quanh thông tin của một số báo cho rằng tại hội nghị sơ kết công tác quốc phòng 6 tháng đầu năm 2016 do UBND huyện tổ chức, không có cán bộ các đơn vị biên phòng trong địa bàn huyện đến dự. Chúng tôi đã xác minh thông tin trên là không đúng. Đây là hội nghị sơ kết công tác quốc phòng, an ninh 6 tháng đầu năm 2016, do UBND huyện Nam Giang chủ trì, tổ chức tại Ban Chỉ huy Quân sự huyện, ngày 15/7/2016. Tại hội nghị trên, cả 3 Đồn Biên phòng trên tuyến biên giới huyện Nam Giang đều có cán bộ đến dự, gồm: Đại úy Nguyễn Quốc Bảo, Phó đồn trưởng Quân sự Đồn BPCK Nam Giang, Thượng tá Lê Hữu Hoàng, Đồn trưởng Đồn Biên phòng La Êê và Đại úy Đinh Sỹ Công, Phó đồn trưởng Quân sự Đồn Biên phòng Đắc Prinh”.
Tại hội nghị trên, Đại úy Nguyễn Quốc Bảo đã giải trình rõ những vấn đề đồng chí Chủ tịch UBND huyện Nam Giang nêu ra. Theo đó, BĐBP không gây bất cứ cản trở nào đối với các hoạt động tuần tra bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng và nhân dân địa phương tại khu vực cửa khẩu. Đồng chí Chủ tịch huyện đã kết luận BĐBP làm đúng chức trách, nhiệm vụ theo quy định pháp luật và yêu cầu xã La Dê tuyên truyền nhân dân chấp hành tốt quy chế biên giới và các qui định ra vào khu vực cấm…
“Theo thông tin chúng tôi nắm được, cán bộ, chiến sỹ 3 đồn biên phòng và cán bộ, nhân dân 6 xã biên giới của huyện Nam Giang (xã Chơ Chun, xã La ÊÊ, xã La Dê, xã Đắc Tôi, xã Đắc Pre và xã Đắc Prinh) nhiều năm qua luôn đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực; cán bộ, chiến sỹ các đồn thường xuyên phối hợp chặt chẽ với dân quân, công an các xã trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới và thực hiện tốt phong trào “BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới”, giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả”, ông nói thêm.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam vừa ký văn bản về việc xử lý vụ phá rừng tại khu vực biên giới. Văn bản khẳng định: “Tình tiết vụ việc có dấu hiệu bao che, dung túng của cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ”.
Theo ông, Bộ Tư lệnh BĐBP thấy rằng, vụ việc trên không thể không có dấu hiệu bao che, dung túng của cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao nhiệm vụ. Tuy nhiên, mức độ, tình tiết thế nào và những tập thể, cá nhân nào có liên quan cần chờ kết quả điều tra, xác minh của các cơ quan chức năng.
Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP luôn phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương trong lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác biên phòng và xây dựng BĐBP nói chung, cũng như trong xử lý các tập thể, cá nhân có liên quan đến vụ việc trên nói riêng. Đảm bảo nghiêm túc, khách quan, đúng pháp luật, nhằm xử lý nghiêm đối với những cán bộ vi phạm, đồng thời góp phần giáo dục các cán bộ, đảng viên khác thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Chiều tối 25/7, ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết, sáng 26/7, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam sẽ có buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Sekong (Lào). Nội dung làm việc dự kiến xoay quanh vấn đề liên quan phối hợp điều tra vụ phá rừng pơmu, đồng thời bàn các phương án, giải pháp kiểm soát tốt hơn rừng ở khu vực biên giới.
Ngày 25/7, lãnh đạo tỉnh Quảng Nam cũng có buổi làm việc với đoàn công tác Cục Kiểm lâm, sau khi đoàn này đi thực tế khu vực rừng pơmu bị tàn phá ở biên giới Nam Giang. “Rừng ở khu vực biên giới cần kiểm soát và quy trách nhiệm rất rõ ràng cho các cơ quan chức năng có liên quan, làm sao phải thuận lợi trong công tác tuần tra, kiểm tra bảo vệ rừng và xử lý các tình huống phát sinh”, ông Thanh nói.  Toàn bộ hồ sơ vụ việc đã được công an huyện Nam Giang chuyển lên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Nam tiếp tục thụ lý, điều tra. (Tiền Phong 26/7) đầu trang(
Ngày 26.7, UBND tỉnh Quảng Nam sẽ họp với phía nước bạn Lào về việc phối hợp điều tra vụ phá rừng pơmu và công tác phối hợp quản lý vùng giáp ranh với nước bạn Lào… Điều đặc biệt, đây là vụ phá rừng lớn nhất tỉnh Quảng Nam, nhưng Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho hay, cuộc họp này báo chí không được dự.
Liên quan đến vụ phá rừng pơmu ở vùng giáp ranh 2 tỉnh Quảng Nam và Sêkông (Lào), ngày 25.7, trao đổi với Dân Việt, ông Nguyễn Hồng Quang, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam, kiêm người phát ngôn cho biết, ngày 26.7 UBND tỉnh Quảng Nam sẽ làm việc với nước bạn Lào về việc điều tra vụ phá rừng này và công tác quản lý vùng giáp ranh.
Ông Quang nhấn mạnh, đây là cuộc họp nội bộ mang yếu tố nước ngoài, không mời báo chí vì thực hiện theo tinh thần công văn 341 của UBND tỉnh. Sáng 25.7, Sở Ngoại vụ tỉnh cũng đã trình kế hoạch ngày mai làm việc giữa địa phương 2 nước. Theo đó, tinh thần là triển khai theo công văn của lãnh đạo tỉnh, giao việc phát ngôn cho phía Công an.
“Làm việc với nước bạn Lào là để cùng nhau tăng cường công tác quản lý vùng biên” - ông Quang nói. (Dân Việt 25/7) đầu trang(
So với các huyện khác trong tỉnh Điện Biên, huyện Điện Biên Đông có tổng diện tích tự nhiên tương đối rộng.
Tuy nhiên, độ che phủ rừng của Điện Biên Đông chỉ đạt 25,1%. Một con số báo động về việc mất rừng nghiêm trọng. Quyết sách nào để Điện Biên Đông nâng độ che phủ lên 30%? Đây là bài toán khó đang dành cho các cấp, ngành quản lý, bảo vệ rừng tại huyện Điện Biên Đông.
Dọc tuyến đường vào trung tâm Thị trấn Điện Biên Đông, không khó để bắt gặp những khoảnh nương loang lổ, cả dãy núi toàn những ngọn đồi trọc lóc, vắng bóng cây cao. Ngược lại, phải rất khó khăn mới có thể nhìn thấy được những khu rừng già cổ thụ. Sự thật những cánh rừng biến mất đang hiện hữu trước mắt.
Theo Quyết định số 499/QĐ-UBND ngày 8/4/2016 của UBD tỉnh Điện Biên, phê duyệt kết quả Kiểm kê rừng năm 2015, cho thấy: Điện Biên Đông có tổng diện tích tự nhiên là 120.686,25ha, trong đó diện tích đất có rừng là 30.260,85ha. Độ che phủ rừng của Điện Biên Đông chỉ đạt 25,1%. Với tỷ lệ che phủ rừng giảm xuống thấp nhất tỉnh Điện Biên, cho thấy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Điện Biên Đông còn nhiều yếu kém.
Thực hiện Chương trình bảo vệ, phát triển rừng, năm 2015, kế hoạch giao huyện Điện Biên Đông trồng 100ha rừng phòng hộ, nhưng hết năm 2015, huyện chỉ tiến hành trồng 11,7ha rừng phòng hộ, đạt 11,7 % so với kế hoạch giao; thiết kế bảo vệ rừng tự nhiên mới 388,4 ha tại xã Na Son, đạt 9,03% kế hoạch huyện giao; thực hiện hỗ trợ 90.160 cây giống lâm nghiệp để trồng rừng sản xuất tại các xã Nong U, Pu Nhi, Keo Lôm và Thị Trấn đạt 56,35% kế hoạch tỉnh giao và huyện giao; bảo vệ rừng chuyển tiếp 336,8ha rừng đạt 98,3% kế hoạch huyện và tỉnh giao.
Đây không phải năm đầu tiên Điện Biên Đông không hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch Chương trình bảo vệ và phát triển rừng. Rừng mới không trồng được; nhưng tình trạng khai thác, chặt phá rừng trái phép lại tiếp tục xảy ra và có xu hướng gia tăng mạnh. Từ đó, độ che phủ rừng trên địa bàn huyện ngày càng giảm, nguy cơ sa mạc hóa của địa phương này ngày càng cao.
Tại Lễ Mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế phòng chống sa mạc hóa, ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên đã chia sẻ rằng: Một trong những lý do chọn Điện Biên Đông làm địa điểm tổ chức Lễ Mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế phòng chống sa mạc hóa và hưởng ứng Ngày môi trường thế giới, Ngày đa dạng sinh học là do độ che phủ rừng của Điện Biên Đông thấp nhất tỉnh, đạt 25,1%. Phương thức canh tác "cạo trọc", khiến đất bị bào mòn, hoang hóa. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nguy cơ sa mạc hóa.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất rừng, cháy rừng, khai thác, chặt phá và không trồng được rừng mới gia tăng, trách nhiệm chính thuộc về những cán bộ quản lý, bảo vệ rừng tại huyện Điện Biên Đông. Tuy nhiên, ở vào vị trí của họ mới thấy công tác quản lý bảo vệ rừng khó đến nhường nào.
Với xuất phát điểm là một huyện nghèo, điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, cơ sở hạ tầng thiếu thốn, trên 90% dân số là đồng bào dân tộc, gần 50% hộ nghèo, trình độ dân trí còn nhiều hạn chế, kinh tế xã hội ở mức tăng trưởng thấp. Hoạt động kinh tế chủ yếu chủ yếu của người dân là làm nương rẫy, phụ thuộc vào nương rẫy.
Dân số ngày càng tăng, không có đất sản xuất, họ vác dao ‘trảm” rừng. Nhiều diện tích rừng bị đốn hạ đơn thuần là nhằm mục đích canh tác, phục vụ cuộc sống mưu sinh. Nghịch lý ở chỗ, chỉ sau 2 đến 3 năm canh tác, đất nương bị thoái hóa, bào mòn, rửa trôi, không thể canh tác. Bỏ mặc sau lưng những khoảnh nương dần bị hoang hóa, người dân tiếp tục chặt phá rừng để làm nương.
Bên cạnh đó, những vướng mắc về suất đầu tư trồng rừng cũng là rào cản lớn đối với việc phát triển rừng. Trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Ngọc Hoành, Trưởng phòng NN&PTNT huyện Điện Biên Đông, cho biết: Định mức suất đầu tư hỗ trợ, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ, được áp dụng trên địa bàn là 200.000 đồng/ha/năm.
Trong quá trình lấy nguồn ngân sách địa phương để thực hiện, thì lại chi trả hết cho người nhận khoán 200.000 đồng/ha/năm. Vì vậy, không có chi phí cho công tác quản lý, nên khi thực hiện không có nguồn chi trả công thiết kế cho đơn vị tư vấn và chi phí nghiệm thu, gây khó khăn trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Cùng với đó, tình trạng khai thác rừng trái phép, chặt phá rừng, cháy rừng đã khiến cho những cánh rừng của Điện Biên Đông ngày càng mất đi. Ông Lò Văn Minh, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, cho biết: Trong những năm gần đây, số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng có xu hướng tăng. Năm 2015, lực lượng kiểm lâm đã phát hiện, xử lý và thu nộp ngân sách nhà nước trên 70 triệu đồng. Trong đó, 6 vụ phá rừng với diện tích rừng bị chặt phá trên 20ha, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
Tình trạng cháy rừng cũng liên tiếp xảy ra. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn huyện Điện Biên Đông đã xảy ra 17 vụ cháy rừng, diện tích bị cháy là 182ha, trạng thái rừng IIa và IIb, tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm trước.
“Chúng tôi đã tổ chức tuyên truyền, vận động, người dân cũng đến tham gia. Ký kết đấy, nghe tuyên truyền đấy nhưng đâu lại vào đấy, người dân vẫn cứ tiếp tục chặt phá những cánh rừng. Giải quyết khó khăn đâu chỉ muốn là được, áp lực của chúng tôi không hề nhỏ” -  Ông Minh cho biết thêm.
Năm 2016, huyện Điện Biên Đông đề ra chỉ tiêu: Thực hiện tốt công tác khoanh nuôi diện tích rừng tái sinh hiện có, trồng rừng sản xuất và rừng phòng hộ theo kế hoạch năm 2016, chăm sóc rừng trồng các năm trước, rừng KNTS, bảo vệ rừng trồng, trồng rừng tập trung 200ha trong đó 100ha rừng phòng hộ, 100ha rừng sản xuất. Nâng độ che phủ toàn huyện lên 30%.
Để đạt được mục tiêu đó, Ông Trần Văn Thượng, Phó Chủ tịch UBND huyện Điện Biên Đông, cho biết: UBND huyện Điện Biên Đông đã chỉ thị tăng cường các biện pháp trong công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng, trong đó tập trung vào công tác phòng, chống cháy rừng mùa khô.
Tiến hành giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình và cộng đồng dân cư theo tinh thần Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, của Chính phủ; tiếp tục kiểm tra, rà soát giao đất, giao rừng theo Kế hoạch số: 388/KH-UBND ngày 20/02/2013 của UBND tỉnh Điện Biên về rà soát, hoàn chỉnh thủ tục để giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các cá nhân, tổ chức.
Tăng cường tuyên truyền các biện pháp trong công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng PCCCR tới các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Tuyên truyền vận động người dân tham gia trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng giao trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng cho các hộ dân và cộng đồng thôn bản. Sử dụng tốt các nguồn vốn để khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng. Xử lý nghiêm đối với những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Ngoài những phương thức trồng rừng thay thế tập trung, cần bổ sung trồng rừng bằng phương pháp Nông - Lâm kết hợp, bởi vì hiện nay quỹ đất của nhân dân còn nhỏ lẻ canh tác lại đan xen nhau. Vì vậy việc trồng rừng thay thế  Nông - Lâm kết hợp không những thu hút được người dân tham ra trồng rừng mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cũng tại Lễ Mít tinh kỷ niệm ngày Quốc tế phòng chống sa mạc hóa, ông Lò Văn Tiến, PCT UBND tỉnh Điện Biên, khẳng định: “Con người lấy đi của tự nhiên những gì thì phải trả lại cho tự nhiên, để tự nhiên quay lại phục vụ chính cuộc sống của con người”.
Hy vọng rằng, các cấp, ngành quản lý bảo vệ rừng của huyện Điện Biên Đông sẽ có những giải pháp, những quyết sách đủ mạnh để phần nào đem lại màu xanh cho những cánh rừng. Còn con số nâng độ che phủ rừng lên 30% trong năm 2016, thì hãy để rừng xanh chứng minh. Đừng để đến khi “ăn của rừng rưng rưng nước mắt” mới nhận ra giá trị bền vũng của rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 24/7) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang (Tuyên Quang) đã tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.
Ông Khổng Văn Quang – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng  huyện  Na Hang cho biết, với mục tiêu hoàn thành tốt công tác quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng, Năm 2016, Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng  huyện Na Hang đã phối hợp với nhiều đơn vị tuyên truyền công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng. Qua các đợt tuyên truyền đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân các xã về công tác bảo vệ rừng – phòng cháy chữa cháy rừng.
Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng  huyện  Na Hang  đã phối hợp Đài Truyền thanh – Truyền hình huyện làm phóng sự về công tác bảo vệ rừng – phòng cháy chữa cháy rừng, tổ chức nói chuyện chuyên đề trong các trường học, ký cam kết bảo vệ – phòng cháy chữa cháy rừng với 32 thôn bản; tuyên truyền và ký cam kết với  896 hộ dân sống gần rừng về công tác bảo vệ rừng.
Từ nay đến hết năm 2016, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Na Hang tiếp tục tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng tại gốc, phối hợp với chính quyền địa phương, chủ rừng thường xuyên tuần tra, kiểm tra rừng trên lâm phần quản lý của các đơn vị chủ rừng trên địa bàn, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về bảo vệ rừng. (Văn Hiến Việt Nam 25/7) đầu trang(
Chúng tôi đã phản ánh việc khu rừng Khuôn Mánh (xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai), một di tích lịch sử cấp Quốc gia bị tàn phá tan hoang.
Sau bài báo này, người dân lại kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện, trong đó có chuyện về những ngôi nhà gỗ hoành tráng của ông Bí thư huyện này.
Một người dân bản địa đã đưa chúng tôi “mục sở thị” hai ngôi nhà nằm cạnh nhau trên khu đất rộng cả nghìn mét vuông tại xóm Suối Cạn (xã Phú Thượng, Võ Nhai). Người này cho biết, một trong hai ngôi nhà trên là của ông Nguyễn Văn Tiệu, Bí thư huyện Võ Nhai, được xây dựng vào khoảng năm 2006. Ngôi nhà sàn này có diện tích hàng trăm mét vuông, với các loại gỗ quý như nghiến, trai. Vợ chồng ông Tiệu đang sinh sống cùng vợ chồng người con cả tại ngôi nhà này.
Nằm liền kề với nhà sàn của ông Tiệu là một ngôi nhà sàn khác, cũng bề thế chẳng kém, hiện là nơi sinh sống của vợ chồng người con trai út của ông Tiệu. Người dân bản địa, với khả năng nhận biết các loại gỗ chỉ trong chớp mắt cho biết, ngôi nhà này cũng có rất nhiều gỗ quý, như nghiến, lim, trai… Theo một thông tin, ngôi nhà này ban đầu thuộc sở hữu của một người ở xã Phương Giao, năm 2015 thuộc về con ông Tiệu. Lúc mua về, ngôi nhà có vẻ khá cũ, nhưng sau được sửa sang, thay thế nên nó trở nên bề thế, hoành tráng nhất nhì xã Phú Thượng.
Ngoài 2 ngôi nhà trên, theo thông tin từ người dân, ông Nguyễn Văn Tiệu còn có một ngôi nhà bằng gỗ khác ở xóm Đình Đồng (xã Vũ Chấn). Ngôi nhà này được hoàn thiện năm 2012. Theo chia sẻ của ông Nguyễn Văn Sáu, em trai ông Tiệu thì khu nhà này cũng được ông Tiệu mua lại, sau đó về sửa sang, nâng cấp thành một khu khép kín gồm nhà ở, sân vườn, sân vui chơi bóng chuyền…“Ngôi nhà này thì anh Tiệu cuối tuần mới về nghỉ ngơi hoặc cùng bạn bè tổ chức ăn uống”, ông Sáu cho biết.
Nằm bên cạnh cơ ngơi của ông Tiệu là ngôi nhà gỗ của ông Nguyễn Văn Sáu. Ông Sáu cho hay, ngày xưa, khi làm ngôi nhà gỗ này, Hạt Kiểm lâm Võ Nhai đã vào kiểm tra rất nghiêm ngặt. Tuy nhiên, vì gỗ có nguồn gốc xuất xứ nên gia đình ông được phép xây dựng (?).
Ngồi trò chuyện với chúng tôi, ông Sáu nói rằng, hiện nay, nếu tính các ngôi nhà sàn làm bằng gỗ nghiến, trai, lim thì ở huyện Võ Nhai chỉ đếm trên đầu ngón tay. “Bây giờ, người ta cấm khai thác gỗ trong rừng, việc mua bán cũng bị cấm nên khó để làm được ngôi nhà như thế này lắm”, ông Sáu chỉ vào ngôi nhà mình giải thích. Chúng tôi nhìn theo tay ông Sáu chỉ, chợt nhận ra phía dưới chân ngôi nhà của ông Sáu có khá nhiều những khúc gỗ được xếp thành đống.
Theo người dân ở đây cho biết, nếu tính theo giá trị hiện tại, mỗi căn nhà của ông Tiệu và người thân sở hữu có thể lên tới tiền tỉ. Ông N.V.Đ, một người dân ở xã Phú Thượng cho biết, những căn nhà gỗ hoành tráng như của gia đình ông Tiệu hiện nay ở Võ Nhai rất ít. “Người dân ở đây vận chuyển, mua bán được một khúc gỗ nghiến là không dễ, nhưng nhà ông Bí thư có tới 4 dinh cơ toàn gỗ quý, đáng...nể thật”, ông Đ vừa nói vừa mủm mỉm cười.
Trao đổi với PV Báo GĐ&XH, ông Vũ Thế Cường, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Võ Nhai cho biết, việc xây dựng nhà gỗ nằm trong danh mục gỗ cấm thì Hạt Kiểm lâm chỉ kiểm tra, giám sát. Đối với nhà sàn cũ, UBND tỉnh đã có văn bản cấm mua bán ở Khu bảo tồn để tránh tình trạng người dân bán nhà cũ, sau đó lại lên rừng khai thác gỗ để làm nhà mới.
Khi chúng tôi gặp ông Nguyễn Văn Tiệu, đề cập đến những ngôi nhà gỗ của ông và người thân, ông Tiệu phân trần: “Cái nhà tôi đang ở thực ra là từ thời bố đẻ làm cho, đến 2006 thì tôi chuyển ra ngoài này, có đầy đủ hồ sơ, giấy tờ. Cái nhà này ngày xưa đơn thư cũng nhiều, Ủy ban Kiểm tra cũng đã kiểm tra, tôi cũng đã trình hết rồi. Còn cái nhà thứ hai (nhà con trai út ông Tiệu), thực ra là tôi mua cái nhà cũ trong xã Phương Giao từ năm 2015. Khi mua, con tôi cũng báo Hạt Kiểm lâm và làm thủ tục, sau đó tháo rời, vận chuyển ra ngoài này. Cái nhà ở xã Vũ Chấn là nhà cũ của chú em thứ năm. Cái nhà đó đã bỏ 3 - 4 năm rồi. Sau đó chú ấy bán, tôi bảo thôi bao nhiêu thì trả tiền chú ấy. Gỗ nghiến thì chỉ có mấy cái cột chứ còn lại xung quanh là gỗ tạp thôi. Còn nhà của chú Sáu thì tự chú ấy làm”.
Dù ông Tiệu nói vậy, nhưng xung quanh mấy ngôi nhà gỗ của ông Tiệu và người thân, dư luận vẫn xì xào. Rừng bị tàn phá tan hoang, trong khi nhà quan chức địa phương lại làm toàn bằng gỗ hoành tráng, việc người ta bàn tán, cũng khó tránh!
Huyện Võ Nhai là một trong những địa phương nóng nhất về tình trạng khai thác trái phép các nhóm gỗ quý nằm trong danh mục cấm. Thời gian qua, tình trạng “nghiến tặc” tàn sát rừng già tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đang là vấn nạn nhức nhối mà các cấp chính quyền, cơ quan chức năng đang ra sức để bảo tồn.
Để bảo vệ rừng nghiến, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ra nhiều văn bản chỉ đạo, đề nghị xử lý nghiêm các cá nhân vi phạm liên quan đến việc chặt phá, vận chuyển và mua bán trái phép. Đồng thời, UBND tỉnh cũng đã nghiêm cấm việc mua bán nhà sàn trong khu vực 6 xã thuộc Khu bảo tồn.
Như Báo GĐ&XH (số báo 85, ra ngày 15/7) đã phản ánh, địa điểm thành lập Đội Cứu Quốc quân II tại rừng Khuôn Mánh (xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) đã được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia từ năm 1994, nhưng đến nay khu rừng này bị khai thác tan hoang. Mặc dù đến nay đã có nhiều cơ quan, đơn vị kiểm điểm trách nhiệm nhưng trách nhiệm vẫn chung chung và dừng lại ở chuyện “rút kinh nghiệm”. Chúng tôi đã đặt lịch làm việc cũng như liên lạc nhiều lần với Chủ tịch UBND huyện Võ Nhai Đặng Xuân Trường, nhưng đều bị ông Trường cáo bận.
Nói về việc này, ông Nguyễn Văn Tiệu, Bí thư Huyện ủy Võ Nhai cho biết: “Khi chúng tôi phát hiện ra và vào kiểm tra cũng thấy tang thương. Sau đó, chúng tôi giao cho UBND và các ngành có liên quan phải kiểm điểm nghiêm túc về trách nhiệm của cá nhân, tập thể để xử lý theo đúng quy định. Nói chung, về sự việc này, sự phối hợp giữa các ngành, các cấp không được chu đáo. Để xảy ra chuyện rừng bị chặt trụi không một bóng cây thì trách nhiệm của UBND là không thể chối bỏ. Ngoài ra, chúng tôi đã giao cho đồng chí Chủ tịch UBND huyện chỉ đạo các ngành có liên quan phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm sau đó tổng hợp báo cáo lên Huyện ủy. Chắc phải trung tuần tháng 8 mới có kết quả”. (Phụ Nữ Today 25/7) đầu trang(
Ngày 25/7, UBND tỉnh đã có Công văn số 3692/UBND-NN về tăng cường triển khai các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Cụ thể, UBND tỉnh chỉ đạo các lực lượng chức năng liên ngành bao gồm: Kiểm lâm, công an, quân đội duy trì hoạt động, thực hiện quy chế, phương án phối hợp chặt chẽ, tăng cường kiểm tra truy quét các “đầu nậu”, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật và những cơ quan, chủ rừng, nhất là người có thẩm quyền thiếu trách nhiệm, có tiêu cực để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, khai thác rừng trái pháp luật, chống người thi hành công vụ.
UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp-PTNT chủ trì phối hợp với các huyện, thị xã và các đơn vị liên quan kiểm tra, rà soát các cơ sở chế biến gỗ; quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, xử lý nghiêm và kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các xưởng gỗ sử dụng gỗ bất hợp pháp hoặc cố tình không chấp hành các quy định của pháp luật. Sở Nông nghiệp-PTNT tiến hành kiểm tra, rà soát toàn bộ diện tích đất rừng bị phá, bị lấn chiếm sử dụng sai mục đích tại các doanh nghiệp, kiên quyết xử lý vi phạm, thu hồi theo quy định… (Báo Đắk Nông 26/7) đầu trang(
Thời gian qua, tình trạng phá rừng trên địa bàn tỉnh diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều vụ phá rừng có tính chất và mức độ thiệt hại rất nghiêm trọng.
Mới đây, tại Kỳ họp thứ 2, HĐND tỉnh khóa VII, nhiều cử tri và đại biểu HĐND tỉnh kiến nghị ngành NN-PTNT tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Điển hình, tại xã Sơn Thành Tây (huyện Tây Hòa), từ đầu năm 2016 đến nay đã phát hiện 18 vụ phá rừng với diện tích hơn 9,8ha, tập trung tại các khu vực Vực Véo, Thác Gà, Suối Phèn, Mũi Thuyền thuộc các tiểu khu 356, 357, 358 và V9.2.
Còn tại các tiểu khu 83 và 90 thuộc xã Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân) đã xảy ra vụ phá rừng rất nghiêm trọng, gây thiệt hại gần 110ha, trong đó có 33ha đất có rừng (chức năng phòng hộ 25ha, chức năng sản xuất 8ha) và gần 77ha đất trống có cây gỗ tái sinh. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã khởi tố vụ án vào ngày 29/5 và đang điều tra xử lý theo quy định.
Theo Sở NN-PTNT, một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép là do đời sống của người dân sống gần rừng còn khó khăn, thiếu đất sản xuất nên bị một số đối tựng thuê mướn, xúi giục tham gia phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép.
Thời gian qua, công tác giao đất cho dân để phát triển lâm nghiệp còn nhiều bất cập, diện tích giao chưa phù hợp và đúng với thực địa, chưa hướng dẫn người dân thực hiện nên khi phát dọn thực bì dẫn đến nhiều sai phạm. Trong khi đó, chế tài áp dụng xử lý các đối tượng vi phạm chưa kịp thời nghiêm minh, nhất là những người tham gia phá rừng là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, người có hoàn cảnh khó khăn không có điều kiện để thi hành quyết định, không có tài sản để cưỡng chế.
Thêm vào đó, đến nay hầu như các địa phương chưa thống nhất quan điểm xử lý cưỡng chế việc phá hủy cây trồng trên đất phá rừng trái phép. Ngoài ra, chính quyền địa phương chưa làm hết trách nhiệm trong công tác quản lý nhà nước về rừng, nhất là trên diện tích đã được UBND tỉnh thu hồi đất của các ban quản lý rừng phòng hộ giao trả lại cho các xã quản lý, lập thủ tục giao cho dân.
Theo ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN-PTNT, ngành Nông nghiệp đang đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng đến các tầng lớp nhân dân trên địa bàn quản lý bằng các hình thức phù hợp, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương, chủ rừng, các đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kịp thời phát hiện, bắt giữ, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm và tổ chức điều tra xác định đối tượng phá rừng để xử lý theo quy định.
Sở NN-PTNT đã phân công và chỉ đạo cán bộ kiểm lâm địa bàn làm tốt chức trách nhiệm vụ, tích cực tham mưu cho UBND các xã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ rừng theo Quyết định 07 ngày 8/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động, nguồn lâm sản nhập xuất của các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản, các trại, cơ sở gây nuôi động vật hoang dã trên địa bàn.
Ông Nguyễn Trọng Tùng cho biết: “Sở NN-PTNT tiếp tục tham mưu UBND tỉnh ban hành chỉ thị chỉ đạo các ngành, địa phương thực hiện nghiêm túc các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ cũng như của UBND tỉnh về tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn có hiệu quả tình trạng phá rừng, lấn chiếm, sử dụng đất rừng trái pháp luật… Sở NN-PTNT tiếp tục phối hợp cơ quan công an, các ngành chức năng và chính quyền địa phương điều tra xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm và đối tượng tham gia phá rừng để tham mưu cho UBND tỉnh có hướng chỉ đạo cụ thể, đồng thời điều tra làm rõ đối tượng chủ mưu, cầm đầu tham gia phá rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép để xử lý nghiêm theo quy định”. (Báo Phú Yên 25/7) đầu trang(
Rừng ở Tây Nguyên được ví như lá phổi xanh của cả khu vực Đông Dương. Thế nhưng, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 5 năm gần đây, bình quân mỗi năm Tây Nguyên mất hàng chục ngàn hécta rừng.
Con số đau lòng ấy đang nói lên sự kêu cứu khẩn thiết của rừng Tây Nguyên và cần có giải pháp quản lý bảo vệ rừng một cách phù hợp để giữ “lá phổi xanh” Tây Nguyên...
Bây giờ, đi về nơi những cánh rừng già ở Tây Nguyên chỉ còn xác xơ, trơ trụi; bao tiếng kêu cứu của rừng giường như vẫn còn vang vọng từng ngày... Thật đau xót, khi Vườn Quốc gia Yok Đôn, mệnh danh là khu rừng quý lớn nhất Tây Nguyên còn sót lại nhưng vẫn liên tiếp bị lâm tặc “xẻ thịt” gỗ quý. Chỉ tính trong 6 tháng đầu năm 2016, lực lượng Kiểm lâm Vườn Quốc gia Yok Đôn đã phát hiện xử lý 204 vụ vi phạm lâm luật với hàng trăm phương tiện, tang vật bị thu giữ, đã có tới 441 cây gỗ quý bị cắt hạ trái phép.
Gỗ trong khu vực trung tâm của vườn bị mất, ngoài vùng đệm cũng bị xâu xé từng ngày. “Nóng” nhất là tình trạng khai thác lâm sản, săn bắt trái phép động vật hoang dã, lấn chiếm rừng, mua bán tàng trữ trái phép lâm sản ở khu vực các trạm số 2,3, 5, 7, 8, 9 và 10 thuộc khu vực Đắk Na, Đrang Phốk và vùng giáp ranh các khu dân cư, bến sông, tuyến đường mòn, tỉnh lộ. Có những thời điểm “nóng” ở Vườn Quốc gia Yok Đôn như trong tháng 3-2016, lâm tặc đã đột nhập khai thác trái phép 117 cây gỗ quý gồm giáng hương, căm xe, cà chít… ở khu vực quản lý của các trạm số 5, 7, 11 và Đrang Phốk...
Tại vùng rừng quý ở Kbang, xung quanh khu vực Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh (Gia Lai) có những công ty lâm nghiệp để mất rừng như vô tình. Năm 2015, Công ty TNHH MTV Krông Pa đã mất 104 cây gỗ hương (nhóm I) nhưng không ai chịu trách nhiệm. Chính sự quản lý lỏng lẻo mà gỗ hương tiền tỷ ở rừng quý Kbang có chủ cũng giống như vô chủ.
Tương tự, Công ty TNHH MTV Trạm Lập ở xã Sơn Lang, (Kbang, Gia Lai) cũng để mất hàng trăm cây gỗ dổi mà chưa tìm ra thủ phạm. Các chủ rừng lý giải vì rừng rộng, người thưa nên khó giám sát hết, việc mất từng cây gỗ trong rừng diễn ra nhiều nơi, nhiều địa bàn nên khó giám sát phát hiện kịp thời...
Còn rừng tại các Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc An Khê và Ya Hội (An Khê, Gia Lai), nhiều năm qua bị người dân ngang nhiên lấn chiếm đất rừng để trồng rừng, trồng cây nông nghiệp nhưng không ngăn chặn xử lý kịp thời với diện tích trên 590ha. Hiện UBND tỉnh Gia Lai đang chỉ đạo cơ quan chức năng kiểm tra xử lý theo quy định.
Ở Kon Tum, trong 3 năm gần đây lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý gần 2.000 vụ vi phạm về quản lý bảo vệ rừng với 6.382,8m3 gỗ trái phép và 185,6ha rừng bị thiệt hại. Lãnh đạo tỉnh Kon Tum cũng thừa nhận việc vi phạm lâm luật còn nhiều, các địa phương chưa quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy ổn định lâu dài cho dân, một số chủ rừng chưa có biện pháp ngăn chặn và xử lý dứt điểm những đối tượng phá rừng ở các khu vực giáp ranh...
Tây Nguyên đang “nóng” ở Đắk Nông và Lâm Đồng với những vụ phá rừng có tổ chức công khai mà cơ quan chức năng địa phương không phát hiện xử lý kịp thời, đợi khi lực lượng chức năng của Bộ Công an vào cuộc mới tiến hành điều tra. Điển hình như vụ khai thác gỗ quy mô lớn với khối lượng thu giữ trên 250m3, tập kết ở địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong (Đắk Nông).
Khi các trinh sát Phòng 6, Cục C46 (Bộ Công an) phía Nam vào cuộc thì mới lộ ra hàng chục mét khối gỗ tại xưởng gỗ của DNTN Quốc Triệu ở xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, Đắk Nông, không có dấu búa kiểm lâm. Mở rộng kiểm tra tại bãi đất trống thuộc thôn 3A, xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, Đắk Nông, cơ quan chức năng đã phát hiện thêm nhiều bãi gỗ mới khai thác tập kết với tổng khối lượng trên 216m3 gỗ từ nhóm III đến nhóm VII.
Tại Lâm Đồng, rừng phòng hộ đầu nguồn khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 5 (xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm), bị băng nhóm Hà “đen” (tên thật Nguyễn Văn Hà, 48 tuổi, quê Nghệ An) cầm đầu, đã tàn sát không thương tiếc, kéo dài gần 2 năm nhưng cơ quan chức năng địa phương không phát hiện. Khi cơ quan chức năng của Bộ Công an vào cuộc thì lộ mặt hàng loạt đối tượng lâm tặc và nhiều công ty, xưởng gỗ lớn ở vùng lân cận thuộc Lâm Đồng, Bình Phước có dấu hiệu tiêu thụ gỗ khai thác trái phép từ băng nhóm phá rừng quy mô lớn này.
Dư luận lấy làm khó hiểu là tại sao rừng phòng hộ quanh khu vực thủy điện Đồng Nai 5 do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc quản lý nhưng lâm tặc triệt hạ gỗ nhiều năm, số lượng lớn mà không hay biết? (Công An Nhân Dân 24/7) đầu trang(
Pháp luật nước ta quy định, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước quản lý; còn rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc vốn quý của quốc gia, cần được bảo vệ và khai thác sao cho thật hiệu quả về mọi mặt.
Lâu nay, phần lớn rừng được Nhà nước giao cho các nông, lâm trường, các ban quản lý rừng và cũng có lúc không ít diện tích rừng lại giao cho chính quyền địa phương quản lý...
Có thể nói, rừng ở địa bàn Tây Nguyên đã bị mất khá nhiều khi các chủ rừng được giao quyền quản lý không hiệu quả, thậm chí có người còn tìm nhiều cách để trục lợi từ rừng được giao. Nhiều chính sách giữ rừng, giao rừng chưa thiết thực để đem lại hiệu quả như mong muốn...
Ông Nguyễn Trường Hải, Trưởng ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai, Gia Lai cho biết, đơn vị giao khoán hơn 7.600ha rừng cho dân làng bảo vệ thuộc 4 xã Ia Bá, Ia Tô, Ia Krai, Ia Khai (Ia Grai, Gia Lai) từ nguồn kinh phí dịch vụ rừng “rót” về.
Theo quy định bình quân mỗi hộ nhận khoán không quá 30ha, chi trả phí bình quân 260 ngàn đồng/ha/năm, chia đều bình quân mỗi tháng một hộ dân chỉ nhận khoảng 75 ngàn đồng để bảo vệ khoảng 30ha rừng, số tiền này mới đủ đổ một bình xăng xe máy. Chính sự bất hợp lý này mà người dân không mặn mà giữ rừng.
Có người cho rằng, một thời gian chúng ta giao rừng về cho chính quyền địa phương quản lý đã để mất hết rừng, bởi thực tế rừng đã bị thả nổi như “cha chung không ai khóc” (?!). Nhiều Chủ tịch UBND xã không hề biết diện tích rừng được giao cho mình, khi bị mất rừng thì quy trách nhiệm rất khó khăn.
Mặt khác, việc giao khoán rừng cho người dân thì giá tiền quá thấp, không đủ để sống mà giữ rừng. Tuy nhiên, Nhà nước không thể bỏ tiền ngân sách ra giao khoán bảo vệ rừng mà vấn đề cốt lõi là làm sao phải có nguồn thu từ rừng để bảo vệ rừng một cách bền vững.
Muốn vậy, Nhà nước phải có phương án phát triển rừng gắn với quản lý, sản xuất để tạo thu nhập cho người giữ rừng.
Nghĩa là Nhà nước phải có chính sách cụ thể cho người dân sống gần rừng được hưởng lợi từ rừng một cách thực sự như ngoài việc hỗ trợ kinh phí bảo vệ, người dân nhận giữ rừng còn được quyền sản xuất, canh tác diện tích đất dưới tán rừng, được khai thác lâm sản phụ, được trồng các loại rau, thảo dược phù hợp các loại, hoặc chăn nuôi... để thu nguồn lợi từ rừng một cách chính đáng mà giữ được rừng.
Ở các Vườn Quốc gia Yok Đôn, Kon Ka Kinh, Chư Mom Ray, Khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, đây là những khu rừng quản lý nghiêm ngặt ở Tây Nguyên nhưng tình trạng vi phạm lâm luật vẫn xảy ra do người dân sống xung quanh vùng đệm lén lút vào vùng lõi của vườn để đốn hạ gỗ quý, khai thác săn bắt trái phép... Có những đối tượng “đầu nậu” (cầm đầu) lợi dụng, mua chuộc những người dân xung quanh rừng để thuê họ cảnh giới, chỉ đường khai thác gỗ...
Ông Nguyễn Văn Hoan, Giám đốc Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh cho rằng, hiện ở vùng đệm Vườn Quốc gia này có khoảng gần 31 ngàn người sinh sống; hơn 80% cư dân trong vùng là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Bah Nar sinh sống ở hai huyện KBang và Đăk Đoa, Mang Yang... nhưng đa số là những hộ nghèo thiếu vốn, thiếu đất để sản xuất, công ăn việc làm chưa ổn định, nhiều hộ sống dưới mức nghèo, đói.
Vì vậy, để bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học một cách bền vững cần phải giải quyết triệt để được những mâu thuẫn gay gắt giữa việc bảo tồn đa dạng sinh học với sự phát triển KT-XH, văn hóa truyền thống của cộng đồng ở địa phương.
Cần đổi mới cơ chế tài chính cho công tác bảo vệ rừng từ nhiều nguồn thu trong quản lý dịch vụ rừng, hỗ trợ người dân vùng đệm phát triển kinh tế thông qua hỗ trợ việc phục hồi các ngành nghề truyền thống gắn với văn hóa truyền thống để kết hợp việc bảo vệ rừng với phát triển du lịch sinh thái.
Nhà nước phải có những chính sánh, quy định cụ thể việc chia sẻ lợi ích từ rừng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học; người dân được tham gia bảo vệ rừng và được hưởng lợi từ thành quả bảo vệ rừng như việc thu hái lâm sản phụ dưới tán rừng...
Theo ông Bùi Văn Quang, Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Mom Ray (Kon Tum), việc giao rừng cho cộng đồng làng sẽ đem lại hiệu quả cao. Tuy nhiên hiện nay, rừng đặc dụng vẫn thiếu kinh phí để giao khoán cho cộng đồng làng, người dân nhận khoán không đủ sống từ rừng để bảo vệ và giao trọng trách cho họ.
“Thực tế, ngoài yếu tố con người, kinh phí phù hợp, cái cốt lõi giữ rừng quý phải được giải quyết bằng cách tạo cho môi trường sống của người dân xung quanh rừng một cách bền vững để họ có trách nhiệm với rừng và không thể không giữ rừng được”, ông Quang chia sẻ.
Trong hội nghị bàn giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên, nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra mục tiêu bảo vệ, khôi phục và phát triển rừng khu vực này đến năm 2020 đạt 2,71 triệu hécta và nâng tỉ lệ che phủ rừng lên 49,8%.
Đồng thời sẽ phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho người dân và giữ vững an ninh quốc phòng của khu vực Tây Nguyên.
Nhưng để đạt được mục tiêu đặt ra, trước hết phải xác định vai trò, trách nhiệm của người giữ rừng, cần mở rộng quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh và nâng cao trách nhiệm tự bảo vệ đối với rừng sản xuất của chủ rừng, tăng thu nhập ổn định cho người làm nghề rừng nhằm bảo vệ, khôi phục được rừng, thúc đẩy, tạo động lực cho phát triển KT-XH của vùng Tây Nguyên. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Việc chuyển rừng nghèo, đất lâm nghiệp không còn rừng sang trồng các loại cây công nghiệp, làm dự án phát triển kinh tế, hay phải trồng lại rừng... là phù hợp với quy luật phát triển kinh tế-xã hội, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân vùng Tây Nguyên.
Tuy nhiên, thực tế quá trình thực hiện các chính sách phát triển KT-XH ở vùng Tây Nguyên đã nảy sinh những bất cập, có trường hợp làm sai, nóng vội, vì lợi ích nhóm, cá nhân... dẫn đến việc mất rừng đồng loạt mà kinh tế địa phương không phát triển, cuộc sống người dân vẫn đói nghèo...
Dự án chuyển đổi hàng trăm hécta rừng nghèo sang trồng cao su ở Tây Nguyên là chính sách phát triển KT-XH chung của Nhà nước nhằm xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.
Nếu xét về mặt chiến lược lâu dài, khách quan thì việc nhiều diện tích đất rừng nghèo kiệt bỏ hoang, sản xuất nương rẫy kém hiệu quả ở Tây Nguyên được chuyển sang trồng cây công nghiệp là một chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, chủ trương này đã được các địa phương vận dụng khác nhau và quá trình thực hiện nảy sinh những thiếu sót, chưa thực sự công tâm khách quan trong quá trình thẩm định, phê duyệt, giao dự án, dẫn đến nhiều diện tích rừng bị “chết oan”...
Riêng ở địa bàn tỉnh Gia Lai, chủ trương giao hơn 50 ngàn hécta rừng nghèo sang trồng cao su đã nảy sinh nhiều bất cập, gây bức xúc dư luận. Theo báo cáo của UBND tỉnh Gia Lai, trong số 17 doanh nghiệp được giao hơn 32,5 ngàn hécta đất rừng để thực hiện 44 dự án trồng cao su, thì chỉ trồng được hơn 25,5 ngàn hécta cao su và có khoảng 10,2% bị chết. Trong khi đó hàng chục ngàn hécta rừng tự nhiên đã bị triệt hạ không thương tiếc, nhiều diện tích rừng bị phá ngoài vùng quy hoạch.
Chỉ riêng 3 dự án chuyển rừng sang trồng cao su ở Công ty Bình Dương do Trần Văn Khanh, nguyên Giám đốc Công ty Bình Dương (Gia Lai) chịu trách nhiệm thực hiện đã tự khai hoang ngoài diện tích rừng cho phép theo quy định trên 589 hécta rừng (gồm 9,97 hécta rừng phòng hộ; 579 hécta rừng sản xuất), gây thiệt hại cho Nhà nước trên 18,68 tỷ đồng.
Qua giám sát của HĐND tỉnh Gia Lai đối với các dự án phát triển 50 ngàn hécta cao su trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2008 tới nay cho thấy, việc triển khai dự án còn nhiều bất cập, chưa đạt được hiệu quả về phát triển KT-XH như mục tiêu đặt ra.
Theo kế hoạch dự tính đến năm 2015 phải hoàn thành toàn bộ dự án nhưng đến nay mới chỉ đạt hơn 51%, một số diện tích để xảy ra tình trạng tranh chấp đất giữa doanh nghiệp với người dân. Một số doanh nghiệp tự ý chuyển đối mục đích sử dụng đất trồng cao su sang trồng mía, trồng cỏ, xây trại nuôi bò khi chưa có sự cho phép của cơ quan thẩm quyền. Việc tuyển người địa phương vào làm công nhân cho các dự án còn hạn chế...
Ở địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 35 dự án với tổng diện tích gần 30.700 hécta và đã có 24 dự án có quyết định cho thuê hơn 17.500 hécta đất. Tuy nhiên, nhiều dự án không hiệu quả như Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng Tân Phú Hưng triển khai dự án ở xã Ea Sol, Ea Hleo từ năm 2011 đến nay mới có 26 hécta cao su, còn lại phần lớn diện tích bị xâm canh.
Công ty TNHH Hoàng Nguyễn thuê 438 hécta đất ở Ea Hleo để chuyển rừng trồng cao su nhưng chỉ trồng được 90 hécta cao su và phần lớn đã bị chết, hàng chục hécta rừng còn lại bị phá, xâm canh. Ngoài ra còn có những dự án chuyển đổi, sang nhượng trái phép, gây bức xúc dư luận...
Tại tỉnh Đắk Nông đã giao hơn 30.000 hécta đất và rừng cho các doanh nghiệp để thực hiện các dự án nông lâm nghiệp theo quy hoạch vẽ ra trên giấy rất hấp dẫn nhưng thực tế chỉ thấy mất rừng và gây bất ổn xã hội.
Tại Đắk Ngo có 9 doanh nghiệp vào liên doanh liên kết trên tổng diện tích gần 2.000 hécta đất và rừng nhưng sau đó đã để mất hơn 1.000 hécta rừng. Phần lớn các dự án được tỉnh Đắk Nông cho thuê rừng, thuê đất, nhưng quá trình triển khai rừng không quản lý bảo vệ được, để mất rừng rồi mất luôn đất vì người dân xâm chiếm làm rẫy...
Từ thực tiễn cho thấy có nhiều nguyên nhân làm giảm diện tích rừng như lợi dụng chủ trương chuyển đổi mục đích sử dụng rừng để phá rừng, lấn chiếm đất rừng để sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng trái phép…
Các chính sách quản lý về rừng, đất đai còn được lợi dụng theo kiểu lách luật khi giao dự án như chia nhỏ dự án dưới 1.000 hécta trong vùng chuyển đổi để dễ dàng thực hiện các thủ tục pháp lý. Nhiều doanh nghiệp được giao rừng khi tự khảo sát, lập dự án chuyển đổi đất rừng, sau đó để mất rừng và gây lãng phí đất đai, hoạt động không hiệu quả.
Có doanh nghiệp xin dự án để chuyển đổi rừng, sang nhượng dự án (bằng cách lách luật dưới dạng góp vốn đầu tư) nhằm trục lợi cá nhân chứ không thực sự phát triển dự án bền vững nhằm xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người dân tộc thiểu số tại chỗ như chủ trương của Chính phủ đề ra... (Công An Nhân Dân 25/7) đầu trang(
Từng đoàn xe độ chế chở gỗ lậu nối đuôi nhau rầm rập chạy qua Ban Quản lý rừng phòng hộ (QLRPH) Ia Rsai (Krông Pa, Gia Lai). Gỗ được cắt, xẻ thành hộp đưa lên xe tuồn ra khỏi rừng đưa thẳng đến các “đầu nậu”. Ba trạm gác cửa rừng của Ban QLRPH Ia Rsai trấn ải xung quanh, nhưng thật khó hiểu, gỗ vẫn bị tàn phá một cách công khai.
T - người dẫn đường - cho biết, tại Krông Pa, lâm tặc như được “chống lưng”, phá rừng bất kể ngày đêm. Cây bị đốn hạ, xẻ hộp ngay tại rừng. Đêm xuống, chất gỗ lên xe, tìm cách đưa ra bên ngoài.
Có mặt tại “điểm nóng” Krông Pa, T nói, phục quay clip lâm tặc chở gỗ rất dễ, nhưng nếu bị phát hiện thì “khó bảo toàn mạng sống”. Nơi Krông Pa này, đã xuất hiện lâm tặc là con nghiện ma túy, chúng thẳng tay thanh trừng những ai cản trở “công việc” của chúng.
Hai xã Ia Rsai và Chư Rcăm (Krông Pa), ngay bìa rừng, từng khoảnh rừng trọc đã hiện ra. Tiếng cưa xăng chát chúa, gầm vang cả núi đồi. Tối, khoảng 18h, T ra lệnh: “Đi theo ngay, xe lâm tặc bắt đầu ra rồi”. Bám theo, PV phát hiện cứ 10 phút, từng tốp 2-4 xe máy độ chế lao ra, “cõng” 4-6 hộp gỗ nhắm thẳng hướng QL25. Đuổi theo, PV tận thấy 1 chiếc chở 5 hộp gỗ căm xe dài 1-1,5m, buộc ngang. Phía trước 2 chiếc độ chế buộc chặt các gốc gỗ hương cùng cưa xăng chạy “bạt mạng”.
Chụp xong, T quay đầu xe, nói: “Ta phục các xe khác”. Từ xa, một chiếc khác chở 2 hộp gỗ dài khoảng 3,5m, buộc dọc thân xe, lao đến, phía sau treo lủng lẳng các can xăng. “Gỗ căm xe đấy. Đêm, kiếm 800.000 - 3.000.000 đồng, tùy khối lượng, chủng loại gỗ” - T tiết lộ.
“Hai chiếc nữa đang ra” - theo hướng T chỉ, hai chiếc độ chế chở gỗ hương ào ào tiến lên. Chúng tôi “rượt” theo, lâm tặc tăng ga, nhả khói đen sì, bụi từ con đường cuộn lên mù mịt. Chụp hình xong, tôi ra hiệu “OK”. Phục đến 23h, T đếm, đêm đó khoảng 50 xe lâm tặc “ăn hàng”.
Khó hiểu, lâm tặc chạy xe gỗ ào ào mặc hai trụ sở UBND xã Ia Rsai và Ban QLRPH Ia Rsai đối diện hai bên. T cho biết, lâm tặc “canh” giờ đưa gỗ ra chủ yếu từ 12-13h trưa và 19-22h hằng ngày, đi qua hai trục đường chính là “đường bốn buôn” và “thôn Tân Lập”. Gỗ từ rừng được tập kết cho 3-4 “đầu nậu” trong huyện, từ đường đi của xe gỗ, PV phát hiện, đích đến có “đại lý” của đầu nậu L.V.H (thôn Tân Lập, xã Ia Rsai, huyện Krông Pa). Gỗ ở đây chủ yếu là hương, căm xe, cà chít, gáo. Mỗi tháng, một lâm tặc đi 10-12 chuyến, bỏ túi 10-20 triệu đồng, lợi nhuận gấp nhiều lần làm rẫy mì (sắn).
Bị Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Gia Lai Nguyễn Nhĩ gọi điện truy vấn, Hạt trưởng Hạt KL huyện Krông Pa Trương Quốc Dụng cho biết: “Hạt KL vừa rồi bắt khoảng 10 xe, UBND xã Ia Rsai bắt 13 xe, CA huyện bắt 5 xe, nó (lâm tặc) đi liên tục”.
“Nếu bị bắt như thế, có vấn đề gì ở đây mà lâm tặc vẫn liều như thế?. Ba trạm gác cửa rừng mà sao xe lâm tặc ra vào ngang nhiên? Xem nguồn gỗ tập kết, tiêu thụ ở đâu? Phải chặt được ngay chỗ tập kết” - ông Nhĩ truy tiếp. “Có thông tin, lính của trạm gác cửa rừng Ban QLRPH Ia Rsai lợi dụng Trưởng ban Vũ Đức Dân mới về nhận công tác, thứ bảy, chủ nhật “canh” lãnh đạo nghỉ thì cho xe lâm tặc vào phá, lấy mỗi xe 50.000 - 150.000 đồng” - ông Dụng khai báo với Chi cục trưởng Chi cục KL.
Hạt trưởng KL Krông Pa Trương Quốc Dụng thông tin thêm: “Lâm tặc ở đây rất “ma”, lực lượng vừa rời chốt, ra về là lâm tặc ào ào chạy ra”. Trong khi đó, Trưởng ban QLRPH Ia Rsai Vũ Đức Dân, ta thán: “Rất khó, đường ở đây rất nhiều. Chặn chỗ này thì lâm tặc chạy chỗ kia”. Cũng vì chặn bắt gỗ lậu, Chủ tịch UBND xã Ia Rsai Ngô Tiến Hùng bị xe ôtô bán tải của lâm tặc lao vào húc, may thay, nhảy thoát ra ngoài nên bảo toàn tính mạng.
“Phải tạo ra cú đấm, bao vây khu vực điểm nóng này. Sở sẽ phát văn bản gửi Chủ tịch huyện Krông Pa Tô Văn Chánh phối hợp xử lý”. GĐ sở NNPTNT Gia Lai Trương Phước Anh quả quyết. Nhiều năm, Gia Lai đã có chỉ thị, huyện nào để xảy ra nạn phá rừng thì Chủ tịch huyện đó phải chịu trách nhiệm. Thế nên, hình thức kiểm điểm, rút kinh nghiệm đối với Chủ tịch huyện xem ra chưa phải là hữu hiệu (!). (Lao Động 26/7) đầu trang(
Chiều 25-7, cơ quan Công an huyện Quỳ Châu phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Châu (Nghệ An) điều tra, truy bắt nhóm "lâm tặc" đánh trọng thương hai cán bộ kiểm lâm.
Khoảng 5 giờ sáng 25-7, tại khu vực rừng tại bản Nật Trên, xã Châu Hoàn (huyện Quỳ Châu), đoàn công tác của Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Châu phát hiện một nghi can chở sáu tấm gỗ xẻ lậu.
Ông Trần Đức Long, đoàn công tác của Hạt Kiểm lâm huyện Quỳ Châu, yêu cầu nghi can này lái xe đưa gỗ về Trạm Quản lý bảo vệ rừng Diên Lãm để xử lý. Nghi can này đã chống đối, lái xe bỏ chạy đến khu vực bản Nật Dưới (xã Châu Hoàn) trút gỗ xuống đất rồi gọi đồng bọn đến tấn công kiểm lâm.
Anh Nguyễn Chí Việt (cán bộ kiểm lâm) bị đánh ngất xỉu tại chỗ. Ông Long bị đánh và bị thương ở chân.
Chiều cùng ngày, Công an huyện Quỳ Châu đã xác định được nghi can chở gỗ lậu rồi gọi người khác đến đánh kiểm lâm trên tên là Tuấn (ở huyện Quỳ Châu). (Pháp Luật TP.HCM 25/7, Đời Sống Và Pháp Luật 26/7) đầu trang(
Điều gì đang diễn ra trong nhiều trang trại nhân nuôi động vật hoang dã kín cổng cao tường ở khắp các tỉnh của nước ta?
Nhiều con vật chưa hề được ghi nhận sinh sản trong nuôi nhốt, hoặc chửa đẻ “tắc bụp” mỗi năm một con non bé xíu, vậy mà với các trang trại gồm vài khoảnh ao xó vườn góc bếp tùm hụp thế kia, các ông bà chủ cứ tằng tằng “báo cáo sinh nở” rồi xuất bán cả tạ, cả nhiều tấn “hàng hoang dã” đi khắp trong và ngoài nước.
“Nhập vai” để điều tra khắp trong Nam ngoài Bắc của PV Báo Lao Động, thì, hóa ra, quá nhiều trang trại móc nối với lực lượng cán bộ tha hóa để làm việc mờ ám, biến trang trại thành nơi trung chuyển, “hợp pháp hóa” động vật bắt ngoài tự nhiên hoặc nhập lậu từ nước ngoài về. Cứ “bơi” (thậm chí chỉ bơi trên giấy tờ!) qua trang trại, động vật đều biến thành thứ có “nguồn gốc”, được “xác nhận” để xuất sang Trung Quốc hoặc đi vào các nhà hàng. Thiên nhiên bị “chọc tiết” với tốc độ bạo liệt.
Giữa thời cả thế giới sôi sục bảo vệ môi trường và hoang thú, Việt Nam cũng đã ký Công ước Cites để bảo vệ các loài động thực vật hoang dã nguy cấp từ rất sớm, người nào muốn mở trang trại, vận chuyển hay nhận nuôi con gì cũng phải xin... giấy đăng ký.
Đó là một phương pháp quản lý khoa học, cần thiết, là quả đấm thép để bảo vệ thiên nhiên hoang dã. Tức là, bằng cách nào đó, để khi kiểm lâm, cảnh sát môi trường hay lực lượng chức năng đến kiểm tra, thấy con cầy hương, con rùa tiền tỉ hoặc con nhím, con tê tê trong nhà mình, thì mình có “bảo bối” chìa ra để chứng minh “nguồn gốc hợp pháp” của chúng.
Tuy nhiên, nhiều chủ trang trại tiết lộ, cứ bỏ tiền ra là mua được giấy phép ngay. Có giấy rồi, muốn mang con vật về là vô tư. Ví dụ anh xin giấy được nuôi 10 con tê tê trong nhà, anh nuôi chán anh giết thịt hoặc bán sang Trung Quốc, cứ giữ cái giấy đó, lại bắt đâu đó chục con khác về nuôi. Giấy tờ chỉ là “chiêu bài”, là “bức bình phong” như kiểu niêu cơm Thạch Sanh thôi. Với tờ giấy nuôi 1 con cầy hương, nếu “khéo léo” các chủ trang trại có thể tiêu thụ dần cả vạn con cầy hương đem ra nhà hàng một cách hợp pháp.
Để thử nghiệm “bóc mẽ” chiêu trò này, chúng tôi làm cho mình một hồ sơ: Có trang trại ở Thường Tín, Hà Nội, muốn “mua giấy” để tự do đem động vật về trung chuyển rồi bán buôn kiếm lời. Chúng tôi lập một hòm thư điện tử mang tên Nguyễn Thanh Tâm để ngụy trang cho lý lịch của một “ông quan” muốn mở trang trại... Qua điện thoại, qua email, một anh chàng tên Nguyễn Minh Đ ở TPHCM ngay lập tức hứa sẽ cung cấp đủ các loại giấy tờ, hợp pháp hóa đủ loại con vật để “tống cổ” nó vào trong trang trại. Anh ta còn lên mạng quảng bá có nghề “làm lý lịch cho động vật”.
Sợ anh ta ba hoa rồi làm giả giấy tờ, vu oan cho việc cấp giấy khống của Kiểm lâm TPHCM, chúng tôi đã bay vào khu vực mà anh ta sinh sống. Anh ta đưa chúng tôi đến trang trại Thanh Long. Và tiền trao cháo múc, đại diện một tổ chức bảo tồn đã vào vai “đệ” của “ông chủ” Nguyễn Thanh Tâm (nhà báo hóa trang) đến lấy giấy, tham quan trang trại. Giấy Đ cấp có dấu đỏ hẳn hoi, có chữ ký của chủ trang trại Nguyễn Thanh Long và Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TPHCM bấy giờ (tháng 7.2014) là ông Nguyễn Đình Cương.
Đã 2 năm vào vai, đi khắp nhiều trang trại cả nước, đến giờ chúng tôi vẫn chưa hiểu nổi: Tại sao với cái tên giả, địa chỉ giả, không có trong tay một động vật hoang dã nào ngoài sâu bọ trong vườn cảnh trên sân thượng nhà mình, vậy mà những người “nhập vai” vẫn mua được đủ loại giấy tờ với dấu triện đàng hoàng.
Giấy viết rõ: “Trại nuôi động vật hoang dã Thanh Long” ở P. Linh Xuân, Q. Thủ Đức, TPHCM”, rồi Chi Cục trưởng kiểm lâm TPHCM ký, triện đỏ vào, ở góc trái ghi rõ địa chỉ ảo của chúng tôi: “Căn cứ biên bản kiểm tra số... ngày... của Chi cục Kiểm lâm TPHCM, Kiểm lâm TPHCM xác nhận số lượng 6 (sáu) con cầy vòi hương (tên khoa học...) và 6 con nhím xuất bán đến ông Nguyễn Thanh Tâm, địa chỉ thôn Sâm Xuyên, xã Hồng Vân, huyện Thường Tín, TP. Hà Nội. Thời gian vận chuyển... Chi Cục trưởng Nguyễn Đình Cương (đã ký)”.
Tất nhiên, cơ quan chức năng có cái lý của mình, họ có lỗi hay không, chúng tôi tạm chưa bình luận ở đây vội. Nhưng rõ ràng, chúng tôi không mua động vật, cũng chẳng có trang trại hay con vật nào, vậy mà chúng tôi lại có trong tay cái giấy vận chuyển và giấy xuất bán một lũ cầy, lũ nhím lẽ ra phải được quản lý chặt chẽ kia. Và còn rành mạch trong giao dịch với chúng tôi, đối tượng tên Đ cũng như gia đình trang trại Thanh Long đã nói toạc tất cả ra việc “mua giấy” ra sao, làm bậy thế nào, tuồn động vật vào... bàn tiệc ra sao.
Dù thế nào thì rõ ràng là chúng ta đã có một quy trình quá hổng, và đó là nguyên nhân để thiên nhiên Việt Nam cũng như các nước lân cận bị tàn sát qua con đường nhập lậu rồi hợp pháp hóa (trước khi bị tàn sát) trong các trang trại dạng này. Thậm chí, qua điều tra, chúng tôi còn biết, Ngô Minh Đ đã lên mạng Internet, quảng bá mình có thể “làm giấy xuất xứ cho động vật hoang dã gây nuôi các loại”, gồm 12 loại, với tê tê, nhím, cầy, lợn rừng, trĩ...
Chúng tôi cũng phỏng vấn Lê Văn S, một đối tượng chẳng nhận nuôi chăm sóc buôn lậu con gì cả, anh ta chỉ làm nghề “chạy” và buôn bán giấy phép kể trên. Các “lái buôn giấy phép” này cũng bày cho chúng tôi cách mượn ĐVHD từ các trang trại khác về nhốt ở khu của mình để báo cáo “tăng đàn” do sinh đẻ của động vật, rồi mời kiểm lâm đến ghi nhận, ghi nhận xong thì... trả lại cho trại bạn. Hầu hết họ tiết lộ về phương pháp dùng tiền “bôi trơn” việc cấp giấy quá cẩu thả cho các cá thể động vật... tưởng tượng, để thả vào các trang trại... nằm trên mây.
Sau khi có “lá bùa” với giá chỉ vẻn vẹn 3 triệu đồng cho việc hợp pháp hóa việc nuôi hoặc giết động vật hoang dã trong nhà mình, Ngô Minh Đ xui chúng tôi lên rừng bắt hoặc nhập lậu hoặc muốn làm gì thì làm. Kiểm lâm sẽ phát cho chúng tôi một cuốn sổ theo dõi di biến động của đàn cầy, đàn nhím. Cứ khai bừa. Cứ “bôi trơn” một tí là mọi chuyện sẽ “đầu xuôi đuôi lọt”.
Quả đúng như kịch bản, khi chúng tôi đối thoại với lực lượng kiểm lâm TPHCM, thì cách quản lý ở địa phương cũng như nhiều nơi là còn khá nhiều kẽ hở. Trong cuộc làm việc trực tiếp, nói về những bất cập trong hệ thống trang trại ở địa phương, nói về nguy cơ có thể có của những kẻ cố tình làm càn rồi sinh ra những chuyện tai quái kiểu như chúng tôi đang vào vai. Và dĩ nhiên, họ bảo họ là rất chặt chẽ, chưa phát hiện ra trò “phù phép” kiểu đó, còn nếu phát hiện thì sẽ xử lý ngay.
Thay vì nghe “bài ca” này, chúng tôi xin phép được xem các hồ sơ quản lý, và các kẽ hở để chúng tôi đã “mua” được cái giấy khống kia, thì lãnh đạo Kiểm lâm TPHCM thẳng thừng từ chối. Các hồ sơ đó, là thứ không phải ai cũng có thể xem được, kể cả anh là nhà báo, ông lãnh đạo chi cục nói.
Trước thái độ “giữ bí mật nghề nghiệp” một cách vô lý kể trên, chúng tôi thở dài nói với lãnh đạo Kiểm lâm TPHCM một câu vớt vát, trước khi buồn bã ra khỏi phòng làm việc của họ “nếu không có gì khuất tất, sao các anh phải giấu chúng tôi, khi tòa báo cử chúng tôi đi điều tra một cách chính danh vụ việc này nhỉ?”.
Và, vẫn giữ vai là “mối hàng” từng bỏ tiền triệu ra mua “lệnh bài” tuồn động vật rừng vào nhà mình rồi “hóa kiếp” hoặc bán buôn cho thiên hạ hóa kiếp, nhóm PV đã có mặt tại Trang trại Thanh Long. Những gì họ nói ra, trùng khít với những gì mà suốt quá trình giao dịch họ đã thể hiện, cũng như tờ giấy vô lối mà chúng tôi đang có. Nó ngược lại với các “khẳng định” của kiểm lâm địa phương trong cuộc đối thoại với chúng tôi trước đó.
P.V (trong vai chủ trang trại): Ví dụ chúng tôi muốn mua thêm các giấy khống cho việc vận chuyển, nuôi nhốt con cầy hương, muốn lấy giấy để nuôi nhiều con khác nữa thì trang trại có cung cấp đủ được không?
Người ở trại Thanh Long: Bao nhiêu cũng có. Nhưng bây giờ nói chung ký giấy tờ khó hơn. Bởi vì ông ba nuôi của anh Long là (lãnh đạo) kiểm lâm X, mà ông X về hưu cách đây vài tháng. Ông sau này mới lên, ông ấy lại sợ, ông lo giữ cái ghế. Ổng cho mấy thằng lính nó ký (thay) thế, rồi ổng mới ký sau cùng. Nên bây giờ chung chi (lót tay)...
- Nói thật là bây giờ người ta vẫn làm, làm ào ào (cấp giấy để các chủ trang trại “bán khống” cho người ngoài). Mình lên thì cũng vẫn lên thẳng phòng ông ấy thôi, nhưng mà dạng như mỗi cửa một chữ ký nháy nên mình phải tốn chi phí nhiều hơn. Cứ hình dung, tự dưng các ông ấy “đẻ” ra thêm hai ba thằng con ở dưới ấy. Ngày xưa mình chỉ có hai cửa...
Thế nên, (“mua giấy” khống) con chồn thì nó rẻ hơn, còn con cheo thì nó mắc hơn. Bởi nó thuộc nhóm IIB, dưới (kém quan trọng và kém nguy cấp hơn so với) gấu và cọp một tí. Vài triệu đồng gì đó. Với những trang trại nhỏ nếu họ tới mua thì mình vẫn xuất giấy cho. Còn những khi họ có những nguồn hàng khác nữa thì họ cũng nhờ mình (mua “giấy”), mình lại xuất phép cho họ.
PV: Tê tê mình bán là của Campuchia đúng không, chúng tôi muốn “mua giấy” như các chỗ các anh chị, giá thế nào?
- Hàng bọn đó là nó nhập từ Mã-lai, Trung Quốc gì đó, thì nhìn con tê tê nó yếu lắm. “Giấy” để nuôi tê tê (giấy khống xuất bán từ trang trại) phải mua với giá đắt chứ, tê tê (có vai trò quan trọng, được bảo vệ ở cấp độ) ngang với gấu luôn mà.
Đặc biệt đáng choáng váng, là khi tiếp xúc với ông Ba H ở Củ Chi, một người hơn 20 năm làm trang trại, ông ta thẳng thắn: Muốn có “giấy” xuất hàng đi các nơi, muốn ghi con gì, bao nhiêu ký, cứ quy ra tiền, trả sòng phẳng, các ông kiểm lâm còn ký giấy, cho xe ôm mang đến nhà chủ trang trại. Khỏi phải đi lấy.
Vậy đâu là sự thật về những lời tâm sự của “người trong cuộc” kiểu này? (Lao Động 26/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong tháng 7-2016, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã trực tiếp thu tiền dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng nội tỉnh là 23,622 triệu đồng. Cụ thể thu từ Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập 16,165 triệu đồng; thu Công ty cổ phần Thủy điện Srok Phu Miêng 7,457 triệu đồng.
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng thực hiện chi tạm ứng tiền dịch vụ môi trường rừng năm 2016 cho chủ rừng tổng cộng 1,403 tỷ đồng. Trong đó chi cho Công ty TNHH MTV cao su Sông Bé 725 triệu đồng, Công ty TNHH MTV cao su Bình Phước 600 triệu đồng, Hạt Kiểm lâm thị xã Phước Long 78 triệu đồng.
Lũy kế từ đầu năm đến nay thu sử dụng dịch vụ môi trường rừng được tổng 8 tỷ 967,34 triệu đồng, trong đó nhận tiền điều phối từ Quỹ trung ương 8,4 tỷ đồng, thu trong tỉnh 567,34 triệu đồng (kế hoạch đề ra năm 2016 thu trong tỉnh 684,535 triệu đồng). Tổng số tiền chi trả cho chủ rừng từ đầu năm đến nay là 13 tỷ 134,013 triệu đồng. (Báo Bình Phước 25/7) đầu trang(
Theo Nghị định số 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ, tỉnh Cà Mau hiện có hai công ty lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp, đổi mới. Dự kiến Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hiển và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ sẽ chuyển thành công ty cổ phần trong năm 2017.
Để thực hiện cổ phần hóa hai công ty lâm nghiệp theo đúng lộ trình, tỉnh kiến nghị Trung ương ban hành văn bản hướng dẫn về nguồn vốn và định mức chi cho việc kiểm đếm, tính toán trữ lượng rừng trồng để làm cơ sở cho việc xác định giá trị doanh nghiệp; đồng thời, bổ sung nguồn vốn để thực hiện việc đo đạc, cắm mốc phần diện tích của các lâm phần đã giao khoán cho hộ dân trước đây, khi cổ phần hóa, các cổ phần này sẽ giao về cho địa phương để giao cho hộ gia đình, cá nhân. (Đất Mũi 25/7) đầu trang(
Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, quyết tâm khôi phục và phát triển rừng bền vững, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu đề ra, gắn với nâng cao đời sống của người dân các địa phương có rừng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Đó là nội dung tại Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020.
Ngày 22/7/2016, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 191/TB-VPCP, truyền đạt  Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020.
Tại thông báo này, Thủ tướng yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới là phát huy lợi thế so sánh của Vùng, thực hiện tái cơ cấu kinh tế, trước hết là tái cơ cấu nông nghiệp; tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trong việc giải quyết thỏa đáng nhu cầu đất sản xuất cho người dân địa phương tại chỗ; ổn định tình trạng di cư tự do đối với cả nơi di chuyển đi và đến.
Với tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên tập trung chỉ đạo nỗ lực khắc phục các hạn chế, yếu kém, có cơ chế chính sách đột phá, tạo chuyển biến căn bản, rõ nét trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phối hợp chặt chẽ với các địa phương Tây Nguyên thực hiện các giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống hạn hán; phòng và chữa cháy rừng, cung cấp thông tin cảnh báo cháy rừng nhanh chóng đến các chủ rừng; hướng dẫn địa phương rà soát quy hoạch, kế hoạch phát triển các loại rừng; phối hợp với Bộ Nội vụ và các địa phương kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu quả của lực lượng kiểm lâm, thực hiện tốt chức năng bảo vệ rừng; xử lý nghiêm các vi phạm. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát lại lực lượng kiểm lâm, xử lý nghiêm những đơn vị và cá nhân vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn các địa phương rà soát, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vùng Tây Nguyên; kiểm tra, thu hồi đất lâm nghiệp sử dụng trái phép; kiên quyết chấm dứt tình trạng "hợp thức hóa" đất phá rừng, sang nhượng trái pháp luật.
Thủ tướng giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các cơ quan trong hệ thống vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ các Bộ, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương trong phòng ngừa và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương rà soát cơ chế, chính sách về di dân, tái định cư, hỗ trợ phát triển lâm nghiệp bền vững để có phương án bố trí vốn phù hợp.
Đối với các tỉnh Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tập trung triển khai và có giải pháp phù hợp phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được giao.
Không chuyển mục đích sử dụng 2,25 triệu ha rừng tự nhiên hiện còn sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai; không chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp.
Đồng thời rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng sang các dự án trồng rừng khác và các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp từ năm 2006 đến nay, đề xuất giải pháp phù hợp. Kiên quyết thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp thuộc các dự án vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng quy định. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương cải tạo, chuyển đổi rừng nghèo kiệt để trục lợi.
Bên cạnh đó tăng cường và đẩy mạnh các biện pháp giảm nghèo, đảm bảo cuộc sống của người dân sống trong và gần rừng ổn định; tăng cường các biện pháp nhằm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thủ tướng cũng yêu cầu các tỉnh Tây Nguyên quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ; kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở vi phạm, thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở không bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch. (Tài Nguyên Và Môi Trường 25/7) đầu trang(
Ngày 16/6/2003 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh.
Xác định khu vực nông, lâm trường đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, hình thành các vùng sản xuất nông, lâm, sản hàng hóa tập trung, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, góp phần xóa đói giảm nghèo
Ngày 16/6/2003 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh. Nhằm thể chế hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành các Nghị định số 170/2004/NĐ-CP và Nghị định 200/2004/NĐ-CP về vấn đề này.
Sau 10 năm triển khai chính sách đổi mới nông trường và lâm trường quốc doanh, cả nước đã sắp xếp từ 185 nông trường, công ty nông nghiệp giảm xuống còn 145 công ty nông nghiệp, giảm được 40 đầu mối (không tính các công ty nông nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng). Đối với lâm trường quốc doanh, sau rà soát đã giảm từ 256 lâm trường còn 148 công ty lâm nghiệp, thành lập.
3 công ty cổ phần (chủ yếu sản xuất giống cây lâm nghiệp), thành lập mới 91 ban quản lý rừng phòng hộ, giải thể 14 lâm trường hoạt động yếu kém hoặc không cần thiết giữ lại. Trong quá trình sắp xếp, các địa phương, đơn vị đã rà soát lại quỹ đất của nông, lâm trường.
Theo đó, diện tích đất giữ lại để sản xuất kinh doanh của nông trường và công ty nông nghiệp chỉ còn gần 631 nghìn ha; diện tích đất quản lý thuộc các lâm trường quốc doanh, công ty lâm nghiệp giảm từ 4 triệu ha còn hơn 2,2 triệu ha. Phần lớn diện tích đất giữ lại của công ty nông nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận, trong khi đất của các công ty lâm nghiệp có 53,3% được cấp giấy chứng nhận.
Sau khi đổi mới, sắp xếp, các công ty nông, lâm nghiệp đã bước đầu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức sản xuất kinh doanh. Một số công ty lâm nghiệp đã thực hiện phương án quản lý rừng bền vững và được các tổ chức quốc tế hỗ trợ để cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế (FSC) như Công ty lâm nghiệp Đắc Tô (Kon Tum), Công ty lâm nghiệp Đại Thành (Đắk Nông), Công ty lâm nghiệp Hà Nừng (Gia Lai).
Trong quá trình sắp xếp, nhiều hình thức tổ chức mới được phát sinh như Công ty lâm nghiệp EaHleo (Đắk Lắk) thành lập 3 công ty cổ phần để trồng cao su trên cơ sở góp vốn bằng đất đai với một số doanh nghiệp tư nhân; Công ty lâm nghiệp Phước An cũng của tỉnh Đắk Lắk liên doanh với các doanh nghiệp tư nhân trồng cao su và trồng rừng...
Tuy nhiên, việc thực hiện sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết 28- NQ/TW của Bộ Chính trị đã bộc lộ các bất cập. Cụ thể như: Mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của nhiều doanh nghiệp chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới; chưa thu hút thêm lao động. Nhiều công ty chưa thực sự trở thành điểm tựa cho phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội trên địa bàn.
Một số địa phương chậm chuyển nông trường quốc doanh sang mô hình mới và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Số lượng công ty nông nghiệp được cổ phần hóa chưa nhiều. Nhiều lâm trường chuyển đổi sang công ty lâm nghiệp nhưng chỉ là đổi tên, chưa có thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp, nên chưa tạo điều kiện để công ty phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt là công ty lâm nghiệp quản lý rừng sản xuất chủ yếu là rừng tự nhiên.
Về quản lý đất đai, một số công ty nông nghiệp, kể cả công ty đã cổ phần hoá chưa thực hiện việc rà soát trên thực địa, chưa hoàn chỉnh được hồ sơ để làm thủ tục giao đất, thuê đất, cấp mới, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Nguyên nhân do cơ quan quản lý khi cổ phần hóa không xác định rõ chủ quản lý, sử dụng đất sản xuất và không lưu ý hướng dẫn giải quyết về đất đai.
Chính quyền địa phương chưa thể hiện được vai trò quản lý nhà nước về đất đai, nhiều nơi phó mặc cho công ty tự quản lý và sử dụng. Việc phối hợp trong công tác quản lý, sử dụng đất tại địa bàn cũng chưa tốt. Có trường hợp đất nông trường đang quản lý nhưng chính quyền giao cho các hộ di dân, tái định cư làm nhà ở, sản xuất đã dẫn đến phát sinh nhiều khiếu nại phức tạp và kéo dài.
Về tổ chức sử dụng đất, nhiều đơn vị chưa hoàn thành việc chuyển đổi khoán sử dụng đất sản xuất theo Nghị định 01/CP sang khoán theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP. Một số đơn vị mới chỉ thực hiện ký lại hợp đồng khoán mà chưa có đổi mới căn bản về cơ chế khoán, do vậy hiệu quả sử dụng đất đai, rừng, vườn cây chưa có chuyển biến rõ rệt, phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý sử dụng đất đai như tình trạng sang nhượng trái phép, chuyển mục đích sử dụng đất…
Đứng trước những tồn tại trên đây, để tiếp tục sắp xếp, đổi mới các công ty nông, lâm nghiệp góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, ngày 12/3/2014 Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết 30-NQ/TW.
Để hiện thực hóa chủ trương này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 118/2014/NĐ-CP về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã ban hành một loạt văn bản hướng dẫn nhằm đẩy mạnh việc sắp xếp và nâng cao hiệu quả các công ty nông lâm nghiệp.
Đến thời điểm quý II/2016, hầu hết Phương án tổng thể sắp xếp công ty nông, lâm nghiệp của các địa phương, tập đoàn, tổng công ty đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Theo đó các công ty nông, lâm nghiệp sẽ được sắp xếp lại theo nhiều hình thức khác nhau gồm: duy trì doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chuyển thành công ty cổ phần, chuyển thành công ty TNHH 2 thành viên trở lên, chuyển thành đơn vị sự nghiệp và giải thể những đơn vị yếu kém, không cần thiết giữ lại.
Song song với sắp xếp lại mô hình tổ chức, các đơn vị tiếp tục rà soát và dự kiến có khoảng 500 nghìn ha đất sẽ được tiếp tục chuyển giao về địa phương quản lý và tái phân bổ cho các đối tượng khác sử dụng; đồng thời giải quyết chế độ cho trên một vạn lao động dôi dư.
Tuy nhiên, để việc sắp xếp các công ty nông, lâm nghiệp thực sự mang lại giá trị về kinh tế, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái trong thời gian tới, đạt được mục tiêu Nghị quyết 30- NQ/TW đặt ra cần sự chung tay vào cuộc mạnh mẽ của các bộ ngành, địa phương và sự nỗ lực của các công ty nông, lâm nghiệp. Theo đó, trước hết, phải xử lý dứt điểm diện tích đất tranh chấp, lấn chiếm, khoán trắng, cho thuê - cho mượn trái pháp luật.
Các công ty nông, lâm nghiệp phải chủ động rà soát, xây dựng phương án sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch, kế hoạch phát triển nông, lâm nghiệp của địa phương.
Phương án sử dụng đất của công ty nông, lâm nghiệp phải xác định rõ diện tích từng loại đất của công ty dự kiến giữ lại để sử dụng; diện tích phân bổ cho từng mục đích sử dụng phù hợp với nhiệm vụ được giao; phương án giải quyết các hợp đồng khoán còn thời hạn; biện pháp để bảo vệ, cải tạo, nâng cao hiệu quả sử dụng đất và rừng, bảo vệ môi trường.
Các công ty nông, lâm nghiệp phối hợp với chính quyền địa phương hoàn thành việc chuyển giao đất về địa phương, gồm: đất công ty không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, sử dụng không có hiệu quả; diện tích đất đã bán vườn cây; diện tích đất của các công ty nông, lâm nghiệp  phải giải thể; diện tích đất dư ra do thu hẹp nhiệm vụ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế và chính sách quản lý rừng theo hướng giao rừng tự nhiên gắn với giao đất theo quy định của pháp luật đất đai, pháp luật bảo vệ và phát triển rừng. Thực hiện định giá rừng sản xuất là rừng trồng làm cơ sở để giao vốn, thực hiện cổ phần hóa, liên doanh liên kết, thế chấp vay vốn. Việc thu hoạch sản phẩm rừng trồng là rừng sản xuất phải do chủ rừng quyết định về thời điểm và được tự do lưu thông tiêu thụ. (Bnews 26/7) đầu trang(
Những năm gần đây, ngoài các cây trồng chủ lực như cà phê, tiêu, điều…, sự xuất hiện cây mới mắc ca được ví là “nữ hoàng các loại hạt khô” đang lôi cuốn người dân Tây Nguyên lựa chọn đầu tư.
Thời gian qua, ở một số nơi, nông dân chặt bỏ cao su để thay thế cây trồng khác. Trước sự việc này, nhiều người lo lắng, nhất là nhà quản lý. Nhưng chưa ai quả quyết rằng, việc đó sai hay đúng, chỉ biết với người dân Tây Nguyên, việc chặt bỏ một giống cây để thay thế cây mới có hiệu quả kinh tế hơn thì họ sẵn sàng làm.
Năm 1995, anh Nguyễn Hữu Việt ở Đông Anh (Hà Nội) vào thôn Phúc Thọ 2, xã Tân Hà, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, lập nghiệp.
Rời quê hương, mỗi người một lý do nhưng ở họ có một khát khao rất rõ là làm giàu bằng chính sức mình để mỗi lần có về thăm quê không có điều gì ái ngại! Đất lành chim đậu, người vợ của anh quê Hà Tây đã cùng anh gắn bó vùng đất này hơn 20 năm và có với nhau 2 cậu con trai.
Vùng đất màu mỡ, đất đỏ ba zan rất thuận lợi cho cây cà phê phát triển. Hai bàn tay trắng, vợ chồng anh và nhiều người khác trong thôn gây dựng lên vùng đất thêm phần trù phú. Những vựa cà phê mang về hàng trăm triệu đồng đem lại cuộc sống khá giả. Nhà cửa xây dựng khang trang, con cái học hành tử tế.
Những năm gần đây, thời tiết Tây Nguyên có phần khắc nghiệt, nắng nóng kéo dài, nhiệt độ tăng, việc đầu tư hệ thống tưới cho vườn cây có phần tốn kém nhưng không thế mà anh và nhiều người dân nơi đây chùn bước. Bằng nhiều giải pháp khắc phục nhưng thực tế, cà phê đã có phần chững lại cả về năng suất và giá cả. Tuy vậy, anh Việt vẫn không chặt bỏ cây cà phê...
Cách anh Việt làm là kiếm tìm một giải pháp thích hợp nhất để giữ cà phê mà vẫn tăng thu nhập. “Tôi thích một chương trình trên tivi vào mỗi buổi sáng có ông Nguyễn Lân Hùng giới thiệu các giống cây trồng, vật nuôi mới. Mặc dù theo dõi nhiều nhưng việc lựa chọn giống cây nào lúc bấy giờ là rất khó khăn”, anh Việt kể.
Chuyện thật thú vị, cách đây 7 năm, trong một buổi sáng, anh Việt đang sửa chiếc máy bơm thì con trai gọi “bố ơi ông Hùng, ông Hùng nói trên ti vi”. Hóa ra anh từng dặn vợ, con nếu thấy ông Nguyễn Lân Hùng nói về cây trồng, vật nuôi thì gọi bố ngay để xem.
Hôm đó, khi chạy ngoài vườn vào, anh Việt chỉ xem được đoạn sau nhưng rất ấn tượng về giống cây mới có tên gọi mắc ca. Buổi tối, qua nhà hàng xóm uống nước, đưa chuyện này ra thì có 3 – 4 người xúm vào kể, sáng đó họ cũng xem được. Một cuộc “bàn tính” trong chớp nhoáng, 6 người đàn ông quyết định “cắt cơm” ít ngày để ra Bắc tìm cây mắc ca.
Hỏi anh Việt, bà xã có can ngăn không? Anh bảo, không bà vợ nào can ngăn cả. Thế rồi, họ đã cùng nhau lên xe đò về Ba Vì (Hà Nội) nơi có Trung tâm giống cây rừng (một đơn vị thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp VN). Tại đây, họ đã được cán bộ kỹ thuật giới thiệu về kỹ thuật trồng, chăm sóc đồng thời phát cho một cuốn tài liệu trồng mắc ca của nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn biên soạn.
Khi chuyến xe chở 6 người đàn ông và mấy trăm gốc mắc ca về đỗ ngay đầu ngõ, có người hỏi đó là cây gì, anh Việt nói là cây rừng vì rất khó giải thích để mọi người hiểu. Toàn bộ số cây giống này, các gia đình trồng xen với vườn cà phê.
Ba năm trôi qua, vườn cà phê vẫn phát triển bình thường, xen lẫn trong các hàng cây có mắc ca tỏa bóng mát. Vụ quả bói có ít, cây nhiều chỉ được 50 quả. Đến vụ thứ hai thì quả sai hơn. Và năm 2015, 200 gốc mắc ca trồng xen trên diện tích 2,7ha cà phê cho anh Việt thu hoạch 2 tấn hạt tươi.
Hỏi anh Việt, trồng xen có ảnh hưởng đến phát triển cà phê cũng như phát sinh chi phí sản xuất không? Anh Việt thật thà rằng, chẳng tốn kém.
“Làm giả ăn thật đấy. Năng suất, sản lượng cà phê không bị sụt giảm. Năm ngoái được 10 tấn, năm nay cà phê được 11 tấn. Cái chính là cây mắc ca góp phần điều hòa không khí vườn cây. Mùa nắng này, nếu không có mắc ca thì sẽ phải tưới cà phê 2 lần nhưng nay chỉ cần tưới một lần thôi”, anh Việt chia sẻ.
Chính từ lợi ích đầu tư này đã góp phần làm tăng giá trị thu nhập cho gia đình. Năm ngoái, 10 tấn cà phê, anh Việt bán được 380 triệu đồng; 2 tấn mắc ca bán được 400 triệu đồng. “Tính ra, có phải đầu tư mấy đâu, tận dụng đất đai, hỗ trợ ít phân bón mà thu nhập kép thế này thì tốt quá. Năm nay, đặt mục tiêu phải được 750 triệu từ thu nhập mắc ca”, anh Việt phấn khởi.
Chia tay anh Việt, từ Lâm Đồng, chúng tôi vượt hơn 300km đường rừng đến vùng đất Krông Năng (Đăk Lăk). Theo lời giới thiệu, điểm dừng chân của chúng tôi là hộ ông Nguyễn Văn Cúc ở thôn Lộc Xuân, xã Phú Lộc. Câu chuyện ông Cúc bén duyên với cây mắc ca cũng thật thú vị.
Ông Cúc có người bạn làm Trưởng phòng Nông nghiệp huyện (hiện là Phó Giám đốc Sở KHCN tỉnh Đăk Lăk) hồi năm 2004 khi người bạn đi học cao học ở Hà Nội được thầy giáo giới thiệu về giống cây mắc ca.
Biết gia đình ông Cúc có nhiều diện tích nên người bạn đã giới thiệu để ông Cúc trồng thử giống cây này xen với vườn tiêu. Mặc dù nhà có nhiều đất nhưng ông Cúc chỉ trồng thử 216 gốc mắc ca trên 1ha tiêu.
Năm 2008, vườn mắc ca bắt đầu cho quả bói và thu được 35kg. Một năm sau, số hạt thu được 3,8 tạ, gia đình chỉ để lại khoảng 10kg, phần còn lại bán cho Trung tâm giống Ba Vì. Năm 2010, số hạt thu được tăng lên 7 tạ, gia đình quyết để lại làm giống. Nhìn thấy lợi nhuận khá rõ với hướng đầu tư tích cực, năm 2011, ông Cúc trồng thêm 1ha và kêu gọi người thân mở rộng 4ha mắc ca xen với tiêu và cà phê.
Tại thời điểm này, quanh vùng ông Cúc có khoảng 50ha mắc ca, riêng tổng diện tích của gia đình và người thân lên đến 37ha. Từ 2011 đến nay, ngoài việc tự trồng, ông Cúc còn đứng ra bao tiêu sản phẩm cho các gia đình khác với giá mua 100 ngàn đồng/kg.
Qua sơ chế, sấy, cưa vỏ ra đóng gói, sản phẩm mắc ca ở đây được ông Cúc đem bán tại Hà Nội, TP.HCM với giá 250 ngàn/kg. Năm 2015, gia đình ông thu hoạch được 3 tấn mắc ca và thu mua thêm 6 tạ nữa.
Những năm gần đây, ông Cúc còn ươm giống, ghép cành tạo ra hàng vạn cây giống mắc ca cung ứng trên thị trường và thu hút được nhiều hộ dân trồng xen trong các vườn cà phê, tiêu…
Nhớ lại những năm đầu rời xa quê hương Bắc Giang vào Đăk Lăk lập nghiệp trong muôn vàn khó khăn, đến nay nhìn cơ ngơi của gia đình, ông Cúc thấy hạnh phúc. Hồi cuối năm ngoái, ông làm mới căn nhà gỗ trị giá hơn 3 tỷ đồng, ai thấy cũng tấm tắc ngợi khen.
Ông chia sẻ, thu nhập từ tiêu, cà phê thừa sức trang trải cho cuộc sống nhưng chính nguồn thu từ mắc ca mới làm nên sự giàu có và tên tuổi của mình nơi miền đất Tây Nguyên lộng gió này! (Nông Nghiệp Việt Nam 25/7) đầu trang(
Sau hơn hai năm nỗ lực, đồng lòng của các cấp chính quyền và người dân, công tác tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013 - 2015 theo Quyết định số 594/QĐ-TTg ngày 15/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Yên Bái đã cơ bản hoàn thành. Việc kiểm kê rừng hoàn thành là cơ sở cho tỉnh có những định hướng phát triển lâm nghiệp hiệu quả, bền vững.
Điều tra, kiểm kê rừng là để nắm bắt một cách chính xác toàn bộ diện tích rừng, chất lượng rừng, diện tích đất chưa có rừng được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp gắn với chủ quản lý cụ thể. Bên cạnh đó, cũng là để phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát về quản lý bảo vệ, phát triển rừng và việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng từ tỉnh đến cơ sở; thiết lập hồ sơ quản lý rừng, xây dựng cơ sở dữ liệu theo đơn vị quản lý, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp hàng năm.
Cũng trên cơ sở đó, có các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ, phát triển rừng, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Với những ý nghĩa to lớn đó, Yên Bái đã nỗ lực triển khai công tác điều tra, kiểm kê rừng với tiến độ nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Ngoài việc bám sát và thực hiện tốt theo các văn bản chỉ đạo của Trung ương, tỉnh cũng đã thành lập ban chỉ đạo và xây dựng kế hoạch, bố trí thời gian, nhân lực triển khai đề án; thành lập các tổ công tác kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các địa phương thực hiện với nỗ lực cao nhất và đến nay đã cơ bản hoàn thành.
Toàn bộ diện tích rừng, chất lượng rừng đặc dụng, rừng tự nhiên, rừng trồng được thể hiện rõ nét trên bản đồ. Tổng số đã kiểm kê ở 177 xã, phường, thị trấn với 240.571 lô, tổng diện tích đất lâm nghiệp là 523.275 ha, chiếm 75,9% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Trong đó, diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp 479.626 ha (đất có rừng 387.576 ha, chiếm 74,7% diện tích đất lâm nghiệp; đất chưa có rừng 92.050 ha; đất trồng rừng chưa thành rừng 21.881 ha...).
Trong 479.626 ha đất lâm nghiệp thì rừng phòng hộ 152.794 ha (bao gồm cả rừng tự nhiên, rừng trồng, đất chưa có rừng), rừng đặc dụng 36.147 ha, rừng sản xuất 290.684 ha. Diện tích rừng ngoài quy hoạch 43.649 ha, chủ yếu là quế, tập trung tại các huyện: Văn Yên, Trấn Yên, Văn Chấn. Độ che phủ của rừng toàn tỉnh đạt 62,2%. Diện tích rừng trồng 207.101 ha; trong đó, đã thành rừng 182.262 ha, chủ yếu là cấp tuổi 2, 3, 4, chưa thành rừng trên 24.000 ha.
Diện tích các loại cây trồng chính chủ yếu là quế với tổng diện tích 56.529 ha (Văn Yên 40.019 ha, Trấn Yên 10.266 ha), tăng 22.529 ha so với số liệu thống kê. Sơn tra 3.390 ha (Mù Cang Chải 1.211 ha, Trạm Tấu 2.178 ha). Măng tre Bát độ trên 2 ngàn ha (Trấn Yên 1.722 ha, Lục Yên 620 ha, Yên Bình 170 ha), toàn bộ diện tích được trồng tập trung. Cây cao su 2.503 ha tập trung ở Văn Chấn 1.970 ha, Văn Yên 492 ha, Trạm Tấu 40 ha.
Thông qua kết quả kiểm kê rừng, Yên Bái đã và đang có những hoạch định, cơ chế, chính sách phù hợp, hiệu quả cho phát triển lâm nghiệp bền vững và thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Tỉnh đã ban hành một loạt cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân trồng rừng, bình quân mỗi năm trồng mới trên 15.000 ha rừng; gắn với Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp trong phát triển lâm nghiệp ở vùng cao đưa cây sơn tra vào trồng rừng phòng hộ, kế hoạch 2016 trồng 850 ha tại huyện Trạm Tấu và Mù Cang Chải.
Đây là một chủ trương mới, nhưng các tổ chức đã gieo ươm được 1,471 triệu cây sơn tra giống bảo đảm chất lượng, số lượng cho kế hoạch trồng năm 2016. Hay đối với cây quế, huyện Văn Yên hỗ trợ 1 triệu đồng/ha trồng mới, các huyện khác hỗ trợ 3 triệu đồng/ha. Trong 6 tháng đầu năm, các địa phương đã trồng 3.344 ha quế, trên 9.104 ha rừng trồng sản xuất tập trung, trên 2.081 ha cây phân tán.
Ngoài ra, còn rất nhiều cơ chế, chính sách trong trồng, bảo vệ và phát triển vốn rừng đã được các địa phương ban hành và triển khai trong thời gian tới. Kết quả kiểm kê rừng tốt sẽ là tiền đề cho phát triển lâm nghiệp ngày một bền vững hơn, kinh tế hơn, hiệu quả hơn thời gian tiếp theo. (Báo Yên Bái 25/7) đầu trang(
Quan điểm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, quyết tâm khôi phục và phát triển rừng bền vững, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu đề ra, gắn với nâng cao đời sống của người dân các địa phương có rừng, góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội.
Đó là nội dung tại Thông báo kết luậncủa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị về các giải pháp khôi phục rừng bền vững vùng Tây Nguyên nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016-2020.
Cũng tại thông báo này, Thủ tướng yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới là phát huy lợi thế so sánh của Vùng, thực hiện tái cơ cấu kinh tế, trước hết là tái cơ cấu nông nghiệp; tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trong việc giải quyết thỏa đáng nhu cầu đất sản xuất cho người dân địa phương tại chỗ; ổn định tình trạng di cư tự do đối với cả nơi di chuyển đi và đến.
Với tinh thần đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền địa phương các tỉnh Tây Nguyên tập trung chỉ đạo nỗ lực khắc phục các hạn chế, yếu kém, có cơ chế chính sách đột phá, tạo chuyển biến căn bản, rõ nét trong công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, phối hợp chặt chẽ với các địa phương Tây Nguyên thực hiện các giải pháp tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng chống hạn hán; phòng và chữa cháy rừng, cung cấp thông tin cảnh báo cháy rừng nhanh chóng đến các chủ rừng; hướng dẫn địa phương rà soát quy hoạch, kế hoạch phát triển các loại rừng; phối hợp với Bộ Nội vụ và các địa phương kiện toàn, nâng cao năng lực và hiệu quả của lực lượng kiểm lâm, thực hiện tốt chức năng bảo vệ rừng; xử lý nghiêm các vi phạm. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát lại lực lượng kiểm lâm, xử lý nghiêm những đơn vị và cá nhân vi phạm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn các địa phương rà soát, hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vùng Tây Nguyên; kiểm tra, thu hồi đất lâm nghiệp sử dụng trái phép; kiên quyết chấm dứt tình trạng "hợp thức hóa" đất phá rừng, sang nhượng trái pháp luật.
Thủ tướng giao Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các cơ quan trong hệ thống vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ các Bộ, cơ quan chức năng và chính quyền địa phương trong phòng ngừa và đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng.
Các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẩn trương rà soát cơ chế, chính sách về di dân, tái định cư, hỗ trợ phát triển lâm nghiệp bền vững để có phương án bố trí vốn phù hợp.
Đối với các tỉnh Tây Nguyên, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu tập trung triển khai và có giải pháp phù hợp phấn đấu hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được giao.
Không chuyển mục đích sử dụng 2,25 triệu ha rừng tự nhiên hiện còn sang mục đích khác, kể cả các dự án, công trình đã được phê duyệt nhưng chưa triển khai; không chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo sang trồng cây công nghiệp.
Đồng thời rà soát, đánh giá kết quả thực hiện các dự án chuyển đổi rừng sang các dự án trồng rừng khác và các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp từ năm 2006 đến nay, đề xuất giải pháp phù hợp. Kiên quyết thu hồi diện tích rừng, đất lâm nghiệp thuộc các dự án vi phạm pháp luật, không thực hiện đúng quy định. Xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân lợi dụng chủ trương cải tạo, chuyển đổi rừng nghèo kiệt để trục lợi.
Bên cạnh đó tăng cường và đẩy mạnh các biện pháp giảm nghèo, đảm bảo cuộc sống của người dân sống trong và gần rừng ổn định; tăng cường các biện pháp nhằm giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thủ tướng cũng yêu cầu các tỉnh Tây Nguyên quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ; kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở vi phạm, thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở không bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch. (Chính Phủ 25/7) đầu trang(
Sáng 22/7, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức công bố và bàn giao kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009- 2020.
Sau kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng, quỹ đất lâm nghiệp (LN) quy hoạch giai đoạn 2016- 2020 toàn tỉnh hơn 325.182ha, giảm gần 10.000ha so với tổng diện tích đất LN kiểm kê đến cuối năm 2014 là 335.173ha. Trong đó, diện tích quy hoạch đất rừng đặc dụng là 90.946ha, rừng phòng hộ 94.211ha, rừng sản xuất 140.024ha.
Quỹ đất LN quy hoạch giai đoạn 2016 - 2020 được xác định dựa trên các kết quả rà soát từ: diện tích đất LN chuyển đổi sang đất khác do xây dựng các công trình và do quy hoạch sử dụng đất khác; diện tích đất chưa sử dụng và đất khác được quy hoạch vào đất LN. Cũng trong giai đoạn 2016 - 2020, sẽ thực hiện trồng rừng tập trung (trồng mới và trồng lại sau khai thác) 22.500ha và trồng 5 triệu cây phân tán, trong đó có 1 triệu cây ngập mặn; đồng thời không thực hiện khai thác gỗ rừng tự nhiên.
Sau công bố, sở cũng đã bàn giao và hướng dẫn các đơn vị thực hiện, sử dụng kết quả sản phẩm rà soát 3 loại rừng, làm cơ sở cho việc tổ chức sắp xếp lại sản xuất của ngành LN, tổ chức quản lý bảo vệ, phát triển rừng theo hướng bền vững, đạt hiệu quả kinh tế cao, góp phần thực hiện thành công tái cơ cấu ngành LN của tỉnh. (Báo Thừa Thiên – Huế 22/7; Nhân Dân 24/7) đầu trang(
Quản lý và phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ được xem là giải pháp chính giúp giảm thiểu ô nhiễm không khí ở TP Hồ Chí Minh - đô thị lớn nhất cả nước với trên 8,5 triệu dân.
Sau thời gian dài bị tàn phá do chiến tranh, từ năm 1978, TP Hồ Chí Minh đã bắt tay vào khôi phục diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ. Qua gần 38 năm phục hồi và phát triển, những cánh rừng ngập mặn hoang tàn trước đây đã phát huy vai trò là “lá phổi xanh” của thành phố.
Rừng Cần Giờ hiện được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thiên nhiên thế giới, với diện tích rừng ngập mặn lên tới hơn 31.700 ha; trong đó, 18.900 ha là rừng trồng, và trên 500 ha bãi bồi, với chức năng là vùng đệm ngoài của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
Theo Ban quản lý rừng ngập mặn Cần Giờ, ngoài chức năng điều hòa không khí, rừng ngập mặn còn có vai trò rất quan trọng trong việc ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu. Trong đó, các bãi bồi có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn, phát triển rừng, tạo thành những lớp thực vật bao bọc để chắn sóng, giữ đất chống sạt lở khi triều cường và nước biển dâng. Rừng cây ngập mặn có hệ rễ cũng như mật độ dày đặc, vừa cố định đất và hạn chế xói lở, vừa đẩy nhanh quá trình bồi tụ ở các vùng đất có bãi bồi.
Chính vì thế, đi đôi với việc quản lý, bảo vệ chặt chẽ diện tích rừng hiện có, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ tập trung khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh trồng rừng trên đất bãi bồi vùng cửa sông, ven biển để tăng diện tích rừng cũng như nâng cao giá trị rừng ngập mặn. Trong giai đoạn 2012 - 2015, gần 1.000 ha rừng tự nhiên đã được khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh và đa dạng hóa các loại cây trồng.
Dự kiến từ nay đến năm 2020, sẽ trồng mới thêm khoảng 200 ha đến 250 ha rừng ở các hiện trạng vùng bãi bồi cửa sông ven biển. Ban quản lý phối hợp với các trường đại học, viện nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu định hướng cho việc phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Theo ông Cao Huy Bình, Phó Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ, rừng ngập mặn trải dài trên địa phận các xã của huyện Cần Giờ, khi rừng ngập mặn được phục hồi, người dân Cần Giờ sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ trồng và chăm sóc rừng. Việc giao khoán rừng cho người dân đã phát huy hiệu quả, nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong công tác bảo vệ rừng.
Theo PGS.TS Viên Ngọc Nam thuộc Trường Đại học Nông lâm TP Hồ Chí Minh, rừng ngập mặn Cần Giờ không chỉ là một lá chắn bảo vệ TP Hồ Chí Minh, mà còn giúp các tỉnh lân cận trong việc hạn chế gió bão, xói lở từ bờ biển, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây còn là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng, là khu vực sinh trưởng cho nhiều loài động vật và thủy hải sản.
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cho rằng, rừng ngập mặn Cần Giờ có đặc điểm đặc biệt là nằm trong một thành phố lớn, có mật độ dân số cao, một trung tâm công nghiệp lớn nhất nước. Rừng cũng nằm bên cạnh tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An là những địa phương có ngành công nghiệp phát triển với tốc độ nhanh. Vì vậy, tác động của con người và các hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
Để kết hợp hài hòa giữa công tác bảo tồn và phát triển rừng, Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đặc biệt chú trọng đến tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng. Trung tâm truyền thông giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ đã đi vào hoạt động từ năm 2004 với nhiệm vụ chính là thực hiện công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn, vai trò của cộng đồng trong bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ.
Bà Phạm Thị Minh Trí, một lãnh đạo tại trung tâm cho rằng, nâng cao nhận thức, kiến thức về bảo vệ môi trường sẽ góp phần thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Đối với công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng hiện tại trung tâm tổ chức rất nhiều chương trình cho học sinh, các hộ dân sống ven rừng, cho hộ sản xuất dưới tán rừng và trên địa bàn huyện như Câu lạc bộ em yêu thiên nhiên, Phụ nữ với biến đổi khí hậu...
Việc bảo vệ và sử dụng bền vững rừng ngập mặn Cần Giờ chính là giải pháp lâu dài để TP Hồ Chí Minh ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định, dựa vào nguồn tài nguyên rừng, và thiết lập được một bức tường “Xanh ” vững chắc. (Tin Tức 24/7) đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ Sêrêpốk huyện Đam Rông đang triển khai cấp giống keo lai cho các hộ dân đăng ký trồng rừng 30a năm 2016.
Mỗi hộ được cấp từ 2.200 đến 2.300 cây giống, tương đương với 1 ha. Được biết, 1 ha rừng các hộ dân được hỗ trợ 10 triệu đồng bao gồm công phát dọn thực bì, đào hố, phân bón, mua giống và công chăm sóc 3 năm đầu.
Theo kế hoạch, năm 2016, huyện Đam Rông sẽ triển khai trồng 132 ha rừng 30a, số diện tích này được giao cho hơn 100 hộ triển khai trồng và sẽ phấn đấu hoàn thành công tác trồng rừng trong tháng 7 này. Ngoài trồng rừng 30a, huyện Đam Rông cũng đang tích cực chỉ đạo cho các cơ quan, đơn vị triển khai việc trồng cây phân tán và trồng rừng sau giải tỏa, nhằm nâng cao mức độ che phủ rừng trên địa bàn. (Báo Lâm Đồng 25/7) đầu trang(
6 tháng đầu năm 2016, ngoài việc tập trung triển khai phê duyệt các dự án đầu tư, bảo vệ phát triển rừng giai đoạn 2016 - 2020 của các chủ rừng nhà nước, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tập trung phối hợp với các ngành, địa phương tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng.
Trong đó tập trung đến các biện pháp phòng chống cháy rừng; ngăn chặn và hạn chế thấp nhất các vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng.
Về công tác phát triển rừng, các đơn vị tập trung cho công tác chăm sóc rừng trồng trong những năm trước và chuẩn bị cây giống, xử lý thực bì để khi có mưa sẽ triển khai trồng rừng theo kế hoạch năm 2016. Ngoài ra, trong công tác khai thác rừng (chủ yếu là khai thác rừng trồng), riêng các đơn vị chủ rừng Nhà nước đã khai thác được hơn 2800m3 gỗ rừng trồng và trên 1700m3 củi trên diện tích 147ha.
Tính từ đầu năm 2016 đến nay, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương và chủ rừng tăng cường công tác kiểm tra, ngăn chặn và kịp thời xử lí các vụ vi phạm luật quản lý bảo vệ rừng. Toàn tỉnh đã xảy ra 272 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đã xử lý 236 vụ, tịch thu hơn 435m3 gỗ và thu nộp ngân sách 3,4 tỷ đồng. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Khánh Hòa 25/7) đầu trang(
Thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế năm 2016, huyện Tuy Đức được giao trồng gần 850 ha. Trong đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên ở xã Quảng Trực được giao trồng hơn 290 ha rừng.
Đến thời điểm hiện nay, Công ty mới triển khai trồng được 15 ha. Binh đoàn 726 được giao trồng hơn 500 ha, đến nay trồng được 63 ha chủ yếu là cây thông, bời lời.
Ông Nguyễn Duy Tân, Hạt trưởng Hạt kiểm Lâm huyện Tuy Đức cho biết: “Diện tích đất trồng rừng thay thế hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn vì những người xâm lấn đất lâm nghiệp không hợp tác, ngăn cản việc thi công trồng rừng”.
Sau khi được giao diện tích trồng rừng, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên đã có thông báo gửi chính quyền địa phương, các thôn, bon và người dân không canh tác trên diện tích được quy hoạch trồng rừng. Đơn vị cũng tiến hành cắm biển thông báo diện tích đất quy hoạch, tổ chức họp dân để triển khai trồng rừng. Sau đó, Công ty đã ký hợp đồng với đơn vị thi công để phát dọn thực bì, mua giống, chuẩn bị đất trồng cây. Công ty đã mời người dân lên tham gia ký kết, giao khoán trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp bị xâm canh nhưng không được người dân phối hợp.
Không những không hợp tác, một số đối tượng còn tụ tập, cản trở việc trồng rừng của đơn vị. Cụ thể, vụ việc cản trở trồng rừng xảy ra vào ngày 4/7/2016, tại tiểu khu 1467, bon Bu Sóp, xã Quảng Trực, một số đối tượng cầm đầu, lôi kéo, kích động người dân địa phương ngăn chặn việc triển khai trồng rừng thay thế do Công ty Cổ phần Xây dựng, Dịch vụ, Thương mại Đức Thanh thực hiện. Một số đối tượng có hành vi đe dọa và phá hoại rừng trồng.
Nhóm đối tượng này còn khống chế Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên trên đường về Công ty.  Đây  là lần thứ 3 trong quá trình triển khai thực hiện, việc trồng rừng thay thế của Công ty bị ngăn cản. Hiện nay, các hoạt động trồng rừng đều phải dừng lại sau vụ việc xảy ra.
Ông Phạm Hòa Dũng, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Nam Tây Nguyên cho biết: “Hiện nay, cây giống đã chuẩn bị sẵn, 100 công nhân cũng đang chờ để thực hiện việc trồng rừng nhưng do đất bị lấn chiếm nên chưa thể thực hiện trồng rừng. Công ty rất cần sự hỗ trợ của các đơn vị chức năng triển khai trồng rừng cho kịp thời vụ. Tôi rất lo lắng vì nếu kéo dài sẽ qua thời vụ, người dân trồng các loại cây lên diện tích đất lâm nghiệp đã được quy hoạch sẽ rất khó cho việc trồng rừng”.
Tương tự, tại Trung đoàn 726 sau khi được giao đất, đơn vị đã tiến hành khảo sát nhưng phần lớn diện tích đất được giao hiện người dân đang xâm canh  trồng cà phê, hồ tiêu, khoai lang, mì. Để triển khai việc trồng rừng, đơn vị đã tổ chức tuyên truyền tại các thôn, bon, phổ biến mô hình nông lâm kết hợp nhưng không được người dân đồng tình, không đồng ý tham gia.
Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức cho biết: “Hiện nay, công tác trồng rừng đang gặp khó do đất quy hoạch phần lớn thuộc đất phá rừng và người dân đang canh tác. Người dân chưa phối hợp cùng các đơn vị thực hiện trồng rừng. Chính vì thế, huyện sẽ huy động các ban, ngành, đoàn thể tham gia vào hoạt động tuyên truyền, huy động, vận động người dân tham gia trồng rừng, phấn đấu sớm hoàn thành kế hoạch trồng rừng tỉnh giao”. (Báo Đắk Nông 25/7) đầu trang(
Ngày 25-7, Viện KSND đã tống đạt cáo trạng truy tố 11 bị can về các tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Lừa đảo chiểm đoạt tài sản” và “Vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động các tổ chức tín dụng”.
Trong vụ án này có 5 bị can là Giám đốc doanh nghiệp gồm: Trịnh Khánh Hồng, 49 tuổi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tân Hồng (Công ty Tân Hồng); Đinh Văn Hải, 44 tuổi, Giám đốc Công ty Đức Hùng; Trần Hữu Tuân, 42 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên Giang Linh; Nguyễn Thị Mỹ, 42 tuổi, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Thái An; Đỗ Hữu Bách, 43 tuổi Giám đốc Công ty Đức Hùng, 5 bị can nguyên là Giám đốc chi nhánh, trưởng, phó phòng và cán bộ tín dụng của chi nhánh một ngân hàng ở TP Hà Nội.
Theo cáo trạng, năm 2009, xuất phát từ nhu cầu của doanh nghiệp và chủ trương, chính sách của UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt dự án trồng rừng nguyên liệu..., Trịnh Khánh Hồng với vai trò là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty Tân Hồng đã lập dự án, lập hồ sơ vay vốn 20,5 triệu USD (tương đương hơn 380 tỷ đồng) của ngân hàng để trồng rừng nguyên liệu.
Tuy nhiên khi đã vay được vốn, Hồng không thực hiện dự án mà sử dụng vào mục đích riêng. Để che giấu hành vi, Hồng đã gian dối, tạo dụng ra 965 chứng từ chi tiền khống cho các hộ dân để trồng rừng.
Đến nay, toàn bộ số tiền nêu trên đối tượng Hồng đã vay từ ngân hàng, tương đương khoản tiền hơn 380 tỷ đồng không còn khả năng thanh toán.
Bên cạnh đó, trong quá trình hoạt động do đầu tư kinh doanh không hiệu quả, sử dụng vốn trái mục đích dẫn đến khó khăn trong hoạt động tài chính, phát sinh nhiều khoản tiền nợ đến hạn phải tra.
Để có tiền trả nợ và sử dụng cho mục đích cá nhân, Trịnh Khánh Hồng đã chủ mưu cùng với sự giúp sức các bị can trong vụ án đã có hành vi gian dối, sử dụng các chứng thư bảo lãnh không hợp pháp qua đó chiếm đoạt các doanh nghiệp hơn 281 tỷ đồng.
Đồng thời câu kết với một số doanh nghiệp khác lập hồ sơ khống để vay vốn ngân hàng nhằm mục đích trả các khoản nợ cũ, qua đó bị can Hồng đã chiếm đoạt khoản tiền 210 tỉ đồng. Đến nay, cơ quan tố tụng xác địn Trịnh Khánh Hồng và các đồng phạm đã chiếm đoạt của ngân hàng và đối tác số tiền hơn 863 tỷ đồng.
Theo cáo trạng, 5 bị can nguyên là cán bộ ngân hàng mặc dù biết rõ công ty của Trịnh Khánh Hồng khó khăn về tài chính không có tiền trả nợ đến hạn nhưng vì mong muốn không phát sinh nợ xấu để không bị kỷ luật nên đã ký các bảo lãnh để Hồng đi huy động vốn lấy tiền trả nợ cho ngân hàng.
Trong số này, bị can Đỗ Đức Hưng, Giám đốc chi nhánh ngân hàng đã ký 15 chứng thư bảo lãnh thanh toán vượt quyền phán quyết, không có hồ sơ, không thu phí, không theo dõi trên hệ thống sổ sách, không đúng với quy định của Nhà nước cũng như của ngân hàng, qua đó tạo điều kiện cho Trịnh Khánh Hồng lừa đảo hơn 281 tỷ đồng của doanh nghiệp.
Hành vi của Đỗ Đức Hưng nguyên Giám đốc chi nhánh một ngân hàng ở Hà Nội đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với vai trò đồng phạm, giúp sức cho Trịnh Khánh Hồng.
Ngoài ra, Đỗ Đức Hưng cùng 4 cán bộ ngân hàng dưới quyền khác cũng đã cố ý làm trái quy định Nhà nước trong hoạt động về cho vay, chỉ đạo cấp dưới cho vay đảo nợ gây thiệt hại cho Nhà nước hơn 500 tỷ đồng là phạm tội “Vi phạm về quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”. Ở nhóm hành vi này, Đỗ Đức Hưng có vai trò chủ mưu. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Xuất khẩu dăm gỗ ở Quảng Ngãi từng được xem là ngành “béo bở”, mang lại những khoản lợi nhuận “khủng” cho các doanh nghiệp. Thấy vậy nên nhiều “đại gia” ở tỉnh Quảng Ngãi đã thi nhau bỏ tiền đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất dăm gỗ. Có những doanh nghiệp sở hữu 2-3 nhà máy.
Việc phát triển một cách ồ ạt, thiếu quy hoạch đã dẫn đến tình trạng “cung vượt cầu”. Và hậu quả của nó là giờ đây không ít nhà máy dăm gỗ ở Quảng Ngãi rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”, phải sản xuất cầm chừng, thậm chí là đóng cửa do không đủ nguyên liệu sản xuất, trong khi thị trường xuất khẩu ngày càng bị thu hẹp, giá thành giảm mạnh.
Hơn 3 tháng nay, dây chuyền của nhà máy sản xuất dăm gỗ của Công ty TNHH Tam Minh ở Khu kinh tế Dung Quất (Quảng Ngãi) phải tạm ngưng hoạt động, chuyển qua kinh doanh ngành nghề khác. Nguyên nhân là do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào cũng như giá cả xuất khẩu xuống quá thấp, không mang lại hiệu quả kinh tế.
Ông Lưu Tuấn Anh, Giám đốc công ty này, chia sẻ: “Do Trung Quốc ép giá xuống thấp từ 10 - 15 USD/tấn đã làm ảnh hưởng đến việc trồng và khai thác dăm gỗ. Doanh nghiệp chỉ có thể lỗ hoặc may mắn là hòa vốn trong 6 tháng đầu năm”. Thống kê 6 tháng đầu năm 2016, các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ ở Quảng Ngãi chỉ xuất khẩu khoảng 830 ngàn tấn, thấp hơn 25% so với cùng kỳ năm trước.
Cùng với đó, giá cả thị trường luôn bấp bênh, nếu như năm 2015 về trước, giá một tấn dăm gỗ dao động từ 137-140 USD thì nay chỉ còn khoảng 125-128 USD. Điều này đã làm cho các doanh nghiệp chế biến dăm gỗ gặp rất nhiều khó khăn. Hiện, sản phẩm dăm gỗ của Quảng Ngãi chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc và một phần Hàn Quốc, Nhật Bản.
Vậy nên, giá cả phụ thuộc rất lớn vào các đối tác, dẫn đến bất cập là bị các đối tác ép giá, vì cho rằng gỗ dăm xuất không đạt chất lượng, khiến giá nguyên liệu rớt giá, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ thua lỗ. Cùng với đó, trên địa bàn Quảng Ngãi có quá nhiều nhà máy cùng ngành nghề, đến nay có 26 nhà máy đã khiến các doanh nghiệp đầu tư các dự án chế biến dăm gỗ rơi vào cảnh khó khăn về nguồn nguyên liệu đầu vào.
Điều này đã đẩy nhiều nhà máy đứng bên vực phá sản do thiếu nguyên liệu sản xuất, gây nên tình trạng tranh mua tranh bán không lành mạnh. Một vấn đề khác cũng làm đau đầu các doanh nghiệp là người dân bán keo non, chỉ 3-4 năm là khai thác dẫn đến kém chất lượng làm cho giá thành xuất bán thấp.
Ông Lê Hoàng Long, Phó Giám đốc Công ty TNHH Kim Thành Lưu, than thở: “Người dân chạy theo lợi nhuận nên bán keo non. Thị trường Trung Quốc lợi dụng ép giá. Trong khi nhà máy sản xuất dăm phát triển quá nhiều nên doanh nghiệp khó cạnh tranh”.
Nhiều chuyên gia kinh tế đã từng khuyến cáo cần phải mở rộng thị trường xuất khẩu, bởi việc lệ thuộc phần lớn vào thị trường Trung Quốc sẽ không ổn định. Tuy nhiên, cho đến lúc này vẫn chưa doanh nghiệp nào làm được. Giá dăm gỗ thị trường liên tục bấp bênh cộng việc từ đầu năm đến nay, doanh nghiệp phải chịu mức thuế xuất khẩu thêm 2% nên ngành chế biến dăm xuất khẩu vốn đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. (Công An Nhân Dân 26/7) đầu trang(
Sau phản ánh của báo chí, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có sự chỉ đạo quyết liệt chấm dứt nạn băm gỗ dăm lậu trên địa bàn.
Tại các huyện Thường Xuân, Triệu Sơn, Như Xuân, Như Thanh… tình trạng sản xuất gỗ dăm lậu đã bị dẹp bỏ. Tuy nhiên tại xã Trường Lâm, huyện Tĩnh Gia, Cty TNHH thương mại và dịch vụ Minh Long 68 (Cty Minh Long) vẫn ngang nhiên hoạt động, thách thức chính quyền.
Như Báo Lao Động đã phản ánh, sau khi Sở KH&ĐT Thanh Hóa có báo cáo gửi UBND tỉnh (ngày 15.4) về tình trạng sản xuất gỗ dăm lậu trên địa bàn tỉnh, ngày 11.5, UBND tỉnh Thanh Hóa đã họp nghe báo cáo kết quả kiểm tra, đánh giá tình hình hoạt động sản xuất của các cơ sở băm dăm gỗ trên địa bàn tỉnh và bàn biện pháp khắc phục những tồn tại trong thời gian qua.
Trước sự vào cuộc quyết liệt của lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa yêu cầu UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, ngày 2.6, UBND huyện Tĩnh Gia đã phải quyết định lập đoàn thanh tra liên ngành kiểm tra xử lý vi phạm đối với các cơ sở gỗ dăm trái phép trên địa bàn huyện.
Ngày 7.7, UBND huyện Tĩnh Gia đã có CV số 1313/TB-UBND về việc xử lý vi phạm với cơ sở sản xuất, chế biến gỗ dăm của Cty Minh Long. Theo CV này, Cty Minh Long hoạt động khi chưa có đầy đủ các văn bản pháp lý được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. Cty Minh Long chưa được chấp thuận chủ trương đầu tư, không có giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép hoạt động SXKD gỗ dăm theo quy định, sử dụng sai mục đích, tổ chức xây dựng công trình, hạng mục công trình trái phép.
UBND huyện Tĩnh Gia yêu cầu Cty Minh Long dừng mọi hoạt động liên quan đến thu mua nguyên liệu và sản xuất, chế biến dăm gỗ của cơ sở. Cty Minh Long phải chủ động tháo dỡ nhà xưởng, dây chuyền máy móc và các phương tiện, thiết bị khác phục vụ cho sản xuất, chế biến gỗ dăm. Hoàn trả nguyên trạng, khôi phục lại tình trạng đất như ban đầu và thực hiện trước ngày 15.7.
Đồng thời, UBND huyện Tĩnh Gia giao Công an huyện Tĩnh Gia tăng cường kiểm tra, xử lý đối với các phương tiện vận chuyển nguyên liệu, vật liệu thu mua và hoạt động của Cty Minh Long. UBND huyện Tĩnh Gia và Cty điện lực Thanh Hóa cũng đã có văn bản yêu cầu Điện lực Tĩnh Gia ngừng cung cấp điện cho Cty Minh Long.
Với tất cả những chỉ đạo quyết liệt của UBND Tĩnh Gia, tưởng chừng nạn sản xuất gỗ dăm sẽ chấm dứt hoàn toàn. Tuy nhiên, Cty Minh Long lại tỏ ra thách thức những dây chuyền băm dăm của công ty này vẫn ngang nhiên hoạt động hết công suất.
Điều đáng bàn là “lịch sử” chống đối của Cty Minh Long khá dầy dặn, Báo Lao Động điện tử đã đăng tải bài “Vụ sản xuất gỗ dăm lậu tràn lan: Lộ trách nhiệm của lãnh đạo huyện Tĩnh Gia” (ngày 5.6) phản ánh từ năm 2015 Cty này đã bị UBND xã Trường Lâm có văn bản số 56 thông báo về việc đình chỉ sản xuất, nhưng Cty Minh Long vẫn phớt lờ tiếp tục hoạt động.
Buộc UBND xã Trường Lâm ngày 16.10.2015 phải có báo cáo số 55/BC-UBND gửi đến UBND huyện Tĩnh Gia. Trong khi UBND huyện Tĩnh Gia chưa có động tĩnh gì thì Cty TM Minh Long lại chuyển cơ sở sang một vị trí khác vẫn tại thôn Hòa Lâm xã Trường Lâm. Tại đây, Cty TM Minh Long đã san phẳng khoảng 5.000m2 đất rừng sản xuất để làm xưởng băm dăm trái phép đến nay.
Đến khi chính UBND huyện Tĩnh Gia vào cuộc, đình chỉ hoạt động của Cty Minh Long thì Cty này vẫn tiếp tục hoạt động. Để làm rõ hoạt động thách thức chính quyền của Cty Minh Long, PV đã liên hệ lãnh đạo UBND huyện Tĩnh Gia và được ông Lê Anh Cường - Đội trưởng Đội kiểm tra quy tắc xây dựng cho biết: “Sau khi tỉnh có chỉ đạo về việc xử lý cơ sở sản xuất gỗ dăm không phép, UBND huyện Tĩnh Gia đã ngay lập tức lập đoàn kiểm tra liên ngành để thanh kiểm tra. Qua thanh tra phát hiện trên địa bàn huyện có 7 xưởng sản xuất trái phép. Sau đó, UBND huyện đã có văn bản yêu cầu các xưởng này dừng tất cả các hoạt động mua bán, sản xuất liên quan đến gỗ dăm và tự tháo dỡ xưởng xây dựng trái phép. Đồng thời huyện chỉ đạo các xã giám sát, ngăn chặn nếu các cơ sở này vẫn cố tình hoạt động”.
Về hoạt động của Cty Minh Long ở xã Trường Lâm, ông Cường cho biết, khi huyện lập đoàn Liên ngành đi kiểm tra, thì tại thời điểm đó họ dừng hoạt động. Sau khi đoàn dời đi có thể họ lại hoạt động trở lại như PV phản ánh.
Ông Cường cũng cho biết: “UBND huyện cũng đã lên phương án cưỡng chế, tháo dỡ các xưởng gỗ dăm trái phép. Việc cưỡng chế khá nhạy cảm và phải tiến hành theo các bước. Bởi liên quan đến tài sản như máy móc, thiết bị… làm không khéo gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Vì vậy, sau khi huyện đi kiểm tra đã có văn bản gửi UBND tỉnh để xin chỉ đạo. Nếu tỉnh chỉ đạo cưỡng chế tháo dỡ, huyện sẽ thực hiện ngay”.
Ông Cường cho biết, phương án trước mắt là cắt điện của đơn vị này. Thế nhưng điều khiến dư luận nghi ngờ UBND huyện Tĩnh Gia vào cuộc hình thức là điện vẫn được cung cấp cho cơ sở này sản xuất dăm lậu ngày đêm.(?!). (Lao Động 25/7) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 25/7, hàng nghìn người ở Los Angeles, bang California, Mỹ, phải rời bỏ nhà cửa khi đám cháy rừng lan rộng ngày thứ 4 liên tiếp.
Gần 3.000 lính cứu hỏa đang chiến đấu với “giặc lửa” ở Santa Clarita, California. Hiện đám cháy đã lan rộng 130 km vuông xung quanh rừng quốc gia phía Tây Bắc Los Angeles.
Sở Cứu hỏa Los Angeles cho biết, hiện đám cháy không di chuyển nữa nhờ điều kiện thời tiết gió nhẹ, độ ẩm cao tạo thuận lợi cho công tác dập lửa.
Giới chức địa phương ghi nhận đến nay 18 ngôi nhà đã bị phá hủy và 1 người thiệt mạng vì đám cháy này. Ngày 25/7, lệnh sơ tán đã mở rộng ra đến 10.000 hộ gia đình.
Trong khi đó tại Hy Lạp, chính quyền địa phương đảo Chios đã phải ban hành lệnh tình trạng khẩn cấp vì cháy rừng. Hàng chục lính cứu hỏa và máy bay đã được triển khai để dập đám cháy búng phát sáng sớm 25/7.
Đám cháy đã thiêu rụi nhiều diện tích cây olive và cây nhũ hương vốn là đặc sản nổi tiếng và là nguồn thu chính của hòn đảo 52.000 dân này. Vụ cháy xảy ra khi chỉ con khoảng một tháng nữa người dân có thể thu hoạch nhũ hương.
Trong khi đó, quan chức Madagascar ngày 25/7 cho biết, 39 người, trong đó có 16 trẻ em đã thiệt mạng trong một vụ cháy xảy ra hôm 23/7 vừa qua tại một ngôi làng cách thủ đô Antananarivo 500km về phía Nam.
Ngọn lửa bùng phát từ một túp lều rơm gần một đống lửa để phục vụ cho bữa tiệc mừng nhà mới. Một số nạn nhân đã cố chạy trốn nhưng bị mắc kẹt trong ngôi nhà chỉ có một cửa chính quá hẹp và bị chặn bởi chính những nạn nhân ngã quỵ trước khi thoát được ra ngoài. Đây là khu vực hẻo lánh của Madagascar nên quanh khu vực này lại không có trạm cứu hỏa. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 26/7) đầu trang(./.