Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 26 tháng 06 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Việc thành lập Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Đồng Nai (trong đó bao gồm Vườn quốc gia (VQG) Cát Tiên) ít nhiều có liên quan đến vấn đề định mức phí tham quan VQG Cát Tiên.
Dự kiến, mức phí sẽ thu khi tham quan vườn là 40.000 đồng/người lớn, 20.000 đồng/học sinh, sinh viên, trẻ em cao dưới 1,2m được miễn phí...
Vấn đề xây dựng các công trình thủy điện ở đây cũng được dư luận trong những ngày gần đây quan tâm không kém việc… thu phí tham quan VQG Cát Tiên. Hiện trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có không ít công trình thủy điện sử dụng nguồn nước sông Đồng Nai để góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia.
Một thực tế cần lưu ý: Trong mùa khô vừa qua, Sở NNPTNT tỉnh Lâm Đồng đã phát văn bản yêu cầu đơn vị quản lý thủy điện nằm trên hệ thống sông Đồng Nai phải xả nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp ở vùng hạ lưu (Đạ Tẻh, Cát Tiên…). Rồi nữa, khi Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai được thành lập, hai công trình Thủy điện Đồng Nai 6 và 6A vốn được nhiều người quan tâm nay càng được quan tâm hơn.
Tất nhiên, việc định mức vé tham quan VQG Cát Tiên và việc xem xét các công trình thủy điện nằm trên hệ thống sông Đồng Nai đều quan trọng (tuy mức độ có khác nhau), nhưng điều quan trọng hơn vẫn là kết quả của công tác bảo tồn một khi khu dự trữ sinh quyển thế giới ở đây được công nhận trên cơ sở mở rộng VQG Cát Tiên. (Nông Thôn Ngày Nay 26/6)đầu trang(
Thời gian qua, tỉnh Lâm Đồng có không ít dự án liên quan đến rừng, đất rừng thực hiện sai cam kết; ý thức chấp hành pháp luật của nhiều chủ đầu tư thấp khiến tài nguyên rừng bị xâm hại với mức độ lớn.
Để chấn chỉnh tình trạng này và thu hút đầu tư phát triển tiềm năng đất rừng một cách hiệu quả, tỉnh Lâm Đồng cần mạnh tay hơn trong công tác thanh lọc các dự án yếu kém. Đây là mong muốn của hầu hết những người quan tâm đến việc các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuê rừng và đất rừng để làm kinh tế.
Lâm Đồng là một trong những tỉnh đi đầu trong việc phát triển kinh tế từ rừng với hơn 600.000 ha rừng (chiếm trên 60% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh). Tuy nhiên, việc đầu tư, phát triển kinh tế từ quỹ đất rừng lại đang bị không ít nhà đầu tư làm sai lệch.
Theo tỉnh Lâm Đồng, đến nay có 543 dự án của các nhà đầu tư, các doanh nghiệp được tỉnh cho thuê rừng, đất rừng để triển khai đầu tư, kinh doanh với diện tích 80.534 ha. Trong đó có 329 dự án còn hiệu lực với diện tích hơn 55.234 ha.
Bên cạnh một số ít dự án triển khai đúng tiến độ, giữ đúng cam kết, đầu tư có hiệu quả… thì hầu hết các dự án đều ở trong tình trạng trì hoãn kéo dài, "chây ì", thậm chí gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng.
Cụ thể, đến nay, Lâm Đồng mới chỉ có 214/329 dự án ký hợp đồng thuê rừng với tổng số tiền phải nộp thấp đến bất ngờ khoảng 2,48 tỷ đồng. Không chỉ trì hoãn, kéo dài việc ký hợp đồng thuê, không ít chủ đầu tư dù đã ký hợp đồng nhưng vẫn “câu giờ” nộp tiền thuê rừng, đất rừng. Hiện Lâm Đồng mới chỉ có 112/214 dự án nộp 1,63/2,48 tỷ đồng tiền thuê rừng.
Các dự án triển khai đầu tư phần lớn là dự án cải tạo rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế, làm du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng… Mặc dù tỉnh thường xuyên đôn đốc, giải quyết kịp thời những vướng mắc theo kiến nghị của các nhà đầu tư nhưng nhiều nhà đầu tư vẫn không triển khai hoặc triển khai dự án rất chậm mang tính đối phó. Hiện có đến 87 dự án với tổng diện tích 16.555 ha đã bị thu hồi.
Tại nhiều dự án bị xâm hại nghiêm trọng ở Lâm Đồng, hàng nghìn cây rừng bị triệt hạ trái phép, hàng chục héc ta đất rừng bị lấn chiếm. Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng cũng đã kiên quyết thu hồi các dự án này, buộc 23 chủ đầu tư có dự án để tài nguyên rừng bị xâm hại nhiều phải bồi thường hơn 8 tỷ đồng. Tuy nhiên đến nay, tình hình tài nguyên rừng bị xâm hại vẫn chưa chấm dứt hẳn.
Rừng là một lợi thế lớn của Lâm Đồng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân. Để thu hút đầu tư phát triển từ tiềm năng rừng, mang lại sự bứt phá lớn cho Lâm Đồng, quan trọng nhất hiện nay là cần “gạn đục khơi trong” các dự án đã được cấp phép, cho thuê rừng và đất rừng.
Dừng việc cấp phép các dự án có liên quan đến rừng, đất rừng để lập lại trật tự là điều cần thiết mà Lâm Đồng đã và đang thực hiện. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là các cơ quan chức năng của Lâm Đồng cần quyết liệt hơn nữa trong việc thanh lọc các dự án đã được cấp phép; trong đó việc xác định rõ mục đích đầu tư, năng lực của nhà đấu tư đối với dự án cũng như những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai dự án là hết sức quan trọng để từ đó có quyết định phù hợp. Cần kiên quyết thu hồi các dự án cố tình vi phạm những cam kết ban đầu, tiếp tục hỗ trợ cho những dự án “nghiêm túc” nhưng gặp khó khăn vì nguyên nhân khách quan để các dự án này đẩy nhanh tiến độ.
Việc điều chỉnh lại lĩnh vực thu hút đầu tư, địa bàn đầu tư, diện tích cho thuê của các dự án trong tổng thể chung cũng cần được chú trọng hơn. Chẳng hạn, việc cho 61 nhà đầu tư thuê rừng, đất rừng trên lâm phần của một Ban quản lý rừng hay việc có nhà đầu tư được thuê đến hàng trăm hécta rồi bỏ rừng bị phá là những trường hợp nên xem xét lại. Hoặc cũng không nên dành quá nhiều cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng mà nên ưu tiên hơn nữa cho các dự án phát triển công nghiệp chế biến lâm sản theo hướng tinh chế, sản phẩm cao cấp.
Nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ rừng ở các dự án là hết sức cấp thiết và đó không chỉ là việc nâng cao năng lực và trách nhiệm pháp lý của các nhà đầu tư sau khi được nhận rừng, đất rừng mà còn là sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà đầu tư với các cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương, là sự đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư với người dân tại chỗ. (VietnamPlus.vn 26/6)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
10.611 là số vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng từ đầu năm đến nay. Ngoại trừ vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng và vi phạm sử dụng đất lâm nghiệp tăng, hầu hết vi phạm về phá rừng trái phép, phá rừng làm rẫy, vi phạm quản lý động vật hoang dã, khai thác và buôn bán gỗ trái phép… đều giảm đáng kể.
Qua kiểm tra các vi phạm, lực lượng kiểm lâm đã xử lý trên 8.000 vụ, trong đó, có 104 vụ bị khởi tố hình sự còn lại là xử phạt vi phạm hành chính. Qua đó, tịch thu hơn 6.500 m3 gỗ tròn, 6.145m3 gỗ xẻ, 17.436 kg động vật rừng và nhiều phương tiện ô tô, máy kéo… Tổng thu gần 101 tỷ đồng, nộp ngân sách gần 85 tỷ đồng.
Theo nhận định của Cục Kiểm lâm (Bộ NN&PTNT), vi phạm đáng chú ý là phá rừng trái pháp luật. Trong đó, chủ yếu là rừng sản xuất với 406,42 ha chiếm 85,7%. Đặc biệt là việc khai thác gỗ trái phép diễn ra ở địa phương còn nhiều rừng tự nhiên, nhiều gỗ có giá trị thương mại cao như: Đắk Nông, Kon Tum, Lâm Đồng, Gia Lai, Điện Biên, Đắk Lắk, Bình Thuận, Bình Phước, Tuyên Quang, Quảng Bình và Bắc Kạn…
Ngoài ra, nạn chống người thi hành công vụ cũng rất đáng lo ngại ở các tỉnh như: Kon Tum, Hà Tĩnh, Bình Thuận, Lâm Đồng… với 13 vụ xảy ra trên cả nước làm 14 công chức bị thương. Đặc biệt, tình trạng này ngày càng gay gắt, gây hậu quả nghiêm trọng và ảnh hưởng xấu tới việc chấp hành kỷ cương và gây bức xúc trong xã hội. Trong khi đó, đối tượng chủ yếu là người dân do bị đầu nậu kích động, mua chuộc.
Theo Cục Kiểm lâm, một trong những nguyên nhân xảy ra tồn tại trên là chính quyền địa phương ở những nơi trọng điểm phá rừng chưa thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng. Đồng thời, chưa thực hiện hiệu quả Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ cũng như Chỉ thị 3714 của Tổng cục Lâm nghiệp.
Một số địa phương ban hành văn bản chỉ đạo quản lý bảo vệ rừng và đất lâm nghiệp, nhưng chưa thực hiện hết trách nhiệm quản lý các cấp về rừng và đất lâm nghiệp. Đồng thời, thiếu kiên quyết, phối hợp đồng bộ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp phép đầu tư, quản lý các dự án đầu tư gắn với bảo vệ rừng nên để xảy ra tình trạng tranh chấp đất đai giữa người dân và chủ dự án.
Một bất cập khác là, rừng do UBND cấp xã đang được giao quản lý trực tiếp hầu hết không có kinh phí tổ chức giao cho cộng đồng, hộ gia đình quản lý và không có đủ các điều kiện tổ chức lực lượng bảo vệ rừng nên để rừng bị tàn phá hoặc lấn chiếm đất trái phép. Câu chuyện phá rừng do quản lý rừng yếu kém của địa phương, doanh nghiệp gây hậu quả nghiêm trọng thể hiện rõ nhất ở vụ hàng chục nghìn cây thông bị chặt phá ở bản Luồng, xã Tú Mịch (Lạng Sơn) do chính người dân trồng.
“Một số địa phương còn cấp phép thành lập các xưởng chế biến lâm sản nhưng không tuân theo quy hoạch, không gắn cơ sở chế biến với vùng nguyên liệu, trong khi đó, cơ quan chức năng thiếu kiểm tra, giám sát nên xảy ra tình trạng cơ sở chế biến lợi dụng mua gỗ bất hợp pháp để sản xuất kinh doanh. Việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng chưa nghiêm, nhất là xử lý về quản lý đất đai còn “bỏ ngỏ”, số vụ truy tố xét xử đạt tỷ lệ thấp.
Thêm nữa, việc xử lý các đối tượng thuê chặt phá rừng, mua bán đất trái phép gặp rất nhiều khó khăn, rất ít các “đầu nậu” được xử lý… Do vậy, hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ rừng chưa cao”, đại diện Cục Kiểm lâm nhấn mạnh. (Thanh Tra 26/6)đầu trang(
Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng, chống cháy rừng (PCCR) luôn được Quảng Ninh xác định là nhiệm vụ cấp bách đặt lên hàng đầu. Xác định năm nay thời tiết diễn biến phức tạp, do vậy tỉnh đã chủ động chỉ đạo triển khai kế hoạch phòng ngừa cháy rừng đến tận các đơn vị, địa phương; tập trung vào các khu vực rừng thông, khu vực rừng đặc dụng có dân cư qua lại nhiều.
Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong công tác PCCR, Chi cục Kiểm Lâm tỉnh đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các Chỉ thị về tăng cường các biện pháp PCCR trong mùa khô hanh; kiện toàn Ban chỉ đạo các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCR từ huyện đến các phường, xã, thị trấn có rừng, đồng thời xây dựng phương án, kế hoạch về công tác PCCR mùa hanh khô; tuyên truyền, tập huấn công tác PCCR đến tận các thôn, bản trong toàn tỉnh.
Do làm tốt các biện pháp PCCCR trong mùa khô hanh nên số vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua đã giảm hẳn. Tuy nhiên, do thời tiết khô hanh kéo dài, từ đầu mùa khô hanh đến nay đã xảy ra 2 vụ cháy tại TP Cẩm Phả và TP Móng Cái. Một trong những nguyên nhân xảy ra cháy là do các các chủ rừng xử lý thực bì, sửa chữa hệ thống đường băng cản lửa còn hạn chế, chưa quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định trong công tác PCCCR.
Để thực hiện tốt các biện pháp PCCR và hạn chế đến mức thấp nhất về số vụ và thiệt hại do cháy rừng gây ra, tại cuộc làm việc với Chi cục Kiểm lâm tỉnh về công tác quản lý, bảo vệ rừng, đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: vai trò của rừng hiện nay rất quan trọng, do vậy công tác bảo vệ, phát triển rừng là nhiệm vụ hết sức nặng nề không chỉ đối với lực lượng kiểm lâm mà của toàn xã hội, do đó các ngành liên quan cần ứng dụng công nghệ kỹ thuật để cảnh báo PCCR, các địa phương, đơn vị liên quan cần xây dựng kế hoạch PCCR cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương. Khi xảy ra sự cố cháy cần xử lý nhanh, kịp thời theo phương châm “4 tại chỗ”; từng bước trang bị và nâng cao chất lượng các phương tiện phục vụ công tác PCCR.
Ông Hậu cũng yêu cầu: Chi cục Kiểm lâm cần nhanh chóng rà soát các cánh rừng tại khu vực lòng hồ trên địa bàn tỉnh, báo cáo lại UBND tỉnh. Trên cơ sở đó có phương án trồng rừng bổ sung tại khu vực lòng hồ này, có tác dụng giữ nước, điều hòa sinh thủy, phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu cho bà con nông dân.
Đặc biệt, vừa qua, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị về tăng cường các biện pháp PCCR trong mùa hanh khô 2011-2012. Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố, thủ trưởng các ngành, đơn vị đóng trên địa bàn và các chủ rừng triển khai thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm như: Tăng cường các hình thức tuyên truyền về công tác PCCR đến từng cơ quan, đơn vị, chủ rừng và người dân sống, hoạt động canh tác trong và gần rừng nhằm nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của các tổ chức và mọi người dân về công tác bảo vệ rừng và PCCR;
Kiện toàn, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCR, chủ động xây dựng và thực hiện các phương án PCCR; các địa phương, chủ rừng, các hộ nhận khoán bảo vệ rừng và lực lượng hợp đồng xã bảo vệ rừng trong mùa hanh khô phải thực hiện nghiêm, đúng quy định, quy phạm trong công tác PCCR.
Cũng tại Công văn số 172/ UBND-NLN2 về việc triển khai công tác bảo vệ và PCCR năm 2012, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan và UBND các địa phương thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCR trên địa bàn theo đúng các nội dung chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ và PCCR…
Có thể thấy rằng, do làm tốt công tác PCCR của lực lượng kiểm lâm và sự chỉ đạo, vào cuộc của hệ thống chính quyền cơ sở cùng các ngành liên quan nên một số điểm cháy đã được phát hiện, cứu chữa kịp thời. Các xã có rừng đảm bảo duy trì lực lượng trực, tuần tra canh gác, đồng thời tổ chức tốt các nguồn nhân lực, phương tiện, cơ sở vật chất cần thiết đảm bảo cho công tác PCCR, nhất là các vùng trọng điểm theo phương châm “4 tại chỗ”. (Theo Quangninh.gov.vn 25/6)đầu trang(
21/6, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Tiến Phương và Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Hai đã có buổi làm việc với các sở, ngành, địa phương về công tác quản lý và bảo vệ rừng 5 tháng đầu năm 2012.
Qua 5 tháng triển khai, công tác quản lý, bảo vệ rừng, ý thức trách nhiệm của các đơn vị chủ rừng, của lực lượng kiểm lâm được nâng lên. Đồng thời có sự phối hợp, hỗ trợ tích cực của lực lượng chức năng, các địa phương, nên công tác tuần tra kiểm soát, truy quét được tăng cường và hiệu quả hơn các năm trước.
Tuy nhiên, tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh 5 tháng đầu năm vẫn còn diễn biến phức tạp, nổi rõ nhất là địa bàn huyện Tánh Linh, khu vực giáp ranh Bắc Bình với Đức Trọng (Lâm Đồng). Công tác bảo vệ, tuần tra, kiểm soát, truy quét gặp nhiều khó khăn do địa hình hiểm trở, thủ đoạn các đối tượng phá rừng tinh vi, manh động, có tổ chức. Một số đơn vị chủ rừng còn buông lỏng, thiếu kiểm tra, giám sát. Một số địa phương không kiên quyết và kịp thời xử lý vi phạm dẫn đến tính giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung chưa cao.
Phát biểu tại cuộc họp, ông Lê Tiến Phương đánh giá cao công tác quản lý và bảo vệ rừng 5 tháng đầu năm 2012 của các sở, ngành, địa phương. Tuy nhiên, thực trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp hiện chỉ mới được kiềm chế nhưng chưa có dấu hiệu giảm, trách nhiệm quản lý vẫn còn buông lỏng, yếu kém, nhất là không bắt được quả tang đối tượng phá rừng, đã gây khó cho công tác điều tra, xét xử. Công tác phối hợp, quản lý giữa các ngành và các chủ dự án nông, lâm nghiệp còn nhiều hạn chế…
Trong thời gian tới, các ngành, địa phương cần vận động nhân dân tham gia quản lý bảo vệ rừng, tăng cường kiểm tra, truy quét chống phá rừng. Khu vực Tánh Linh cần thiết tăng cường lực lượng chuyên ngành để tăng cường công tác truy quét, ổn định tình hình… Riêng khu vực rừng giáp ranh cần triển khai thực hiện tốt nội dung phối hợp mà hai tỉnh Lâm Đồng - Bình Thuận đã ký kết.
Tại cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Tiến Phương giao ngành Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án chỉ đạo các cơ quan chuyên ngành phối hợp đẩy nhanh công tác điều tra, truy tố, đưa ra xét xử lưu động các vụ án phá rừng nhằm răn đe, phòng ngừa giáo dục chung… (Báo Bình Thuận 25/6)đầu trang(
Được sự hỗ trợ của Hội chữ thập đỏ tỉnh, tại xã Diễn Kim, hội chữ thập đỏ Diễn Châu vừa tổ chức lớp tập huấn về công tác quản lý và bảo vệ rừng cho các tình nguyện viên ở 2 xã vùng biển Diễn Bích và Diễn Kim.
Toàn huyện Diễn Châu hiện có 450ha rừng ngập mặn và rừng phi lao chắn sóng, trong đó riêng xã Diễn Bích có 150 ha và Diễn Kim có 200 ha rừng Đước và Sú vẹt.
Trong những năm vừa qua, nhờ làm tốt công tác chăm sóc, bảo vệ nên toàn bộ diện tích rừng ngập mặn đều phát triển tốt, tạo thành bức tường xanh vững chắc, ngăn chặn triều cường bảo vệ an toàn cuộc sống dân sinh ở các xã vùng ven biển.
Trong thời gian 2 ngày, 30 tình nguyện viên được truyền đạt các kiến thức về hiểm họa, thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu, kỹ năng lập kế hoạch để quản lý bảo vệ rừng bền vững. Thông qua lớp học nhằm nâng cao hơn nữa ý thức bảo vệ rừng ngập mặn, nhằm phát huy tác dụng tích cực của rừng trong phòng chống thiên tai và bảo vệ môi sinh môi trường. (Theo Đài PT – TH Nghệ An 26/6)đầu trang(
PV đã mất một ngày ngồi trên những mảnh ruộng nhỏ như manh chiếu quanh khu vực chùa Láng với mục đích duy nhất là tìm gặp chủ nhân của những khoảnh rau ấy, nhưng thất bại. Từ sự tiêu điều của mảnh vườn này, ngẫm về "tham vọng" bảo tồn húng Láng của TP. Hà Nội mới thấy dự án sẽ gặp nhiều khó khăn. Có bột chưa hẳn đã gột nên hồ.
Sẽ không quá lời khi khẳng định húng Láng là một trong những thứ gia vị trứ danh của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Thứ gia vị giản đơn này đã đi vào nhiều trang văn thơ và quan trọng hơn đã ở lại với đời sống hàng trăm năm nay. Trong sự háo hức và ngưỡng mộ của người đời, húng Láng còn được "thêu dệt" thêm nhiều chuyện hậu trường khá thú vị, nhất là khi nó đi cùng với sở thích và thú vui ăn uống của các văn nghệ sỹ đất Hà thành. Đến nay, ở nhiều nhà hàng, quán ăn của Thủ đô, người ta vẫn tự hào giới thiệu với thực khách rau gia vị của mình chính là húng Láng nổi tiếng. Thế mới biết, húng Láng đã hơn một thứ gia vị, trong nhiều trường hợp, nó là tinh hoa, là nét văn hóa của mảnh đất này.
Những tưởng, sau hàng chục năm sống lay lắt, người trồng húng Láng sẽ nức lòng khi TP. Hà Nội dự định đầu tư 2 tỷ đồng để bảo tồn giống rau này. Thế nhưng, trên thực tế, người dân và một số nhà khoa học tỏ ra không mặn mà với tham vọng này. Hiện, húng chỉ còn được trồng ở một khoảnh đất nhỏ trên phố Chùa Láng, với khoảng vài trăm mét vuông đất.
Thậm chí, trong diện tích ít ỏi đó, húng Láng còn phải cạnh tranh gay gắt với mùng tơi, rau muống, kinh giới,… Ngay sát ruộng rau, nhà cửa mọc lên san sát, vật liệu xây dựng, gạch đá chất cao. Không tìm được chủ nhân đám ruộng, tôi lân la hỏi chuyện một bà cụ bán nước gần chùa Láng về những đám rau húng Láng cuối cùng của thành phố. Bà già chép miệng: "Chắc chỉ vài ba năm nữa thôi những mảnh ruộng bé xíu này cũng không còn nữa. Húng Láng chỉ trồng ở đất này, mang ra nơi khác nhất định không còn là húng Láng nữa".
Xưa, người ta từng có câu ca: "Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô đầm Sét, sâm cầm hồ Tây". Trong chừng ấy thứ ngon của Hà Nội xưa, húng Láng "chễm chệ" cùng bao loại đặc sản khác. Nay, thứ rau này đang ngày càng bị thu hẹp diện tích. Không cần làm phép so sánh thì ai cũng nhận thấy giá trị bạc tỷ của những dự án được xây dựng trên mảnh đất trồng húng Láng mang lại cao hơn trăm nghìn lần so với số tiền thu được từ những khoảnh rau kia…
PGS.TS Trần Khắc Thi (Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, Trưởng bộ môn rau và cây gia vị) phản ứng khá thận trọng với thông tin TP. Hà Nội dành 2 tỷ đồng bảo tồn húng Láng. Theo ông Thi, trước đó, thành phố đã có dự án bảo tồn các loại cây, quả đặc sản và có hơn chục loại được đưa vào danh sách. Nguồn kinh phí cho công việc này khá khiêm tốn, nên nếu húng Láng được dành riêng tới 2 tỷ đồng thì quả là sự quan tâm đặc biệt.
"Mỗi năm, Trung tâm Nghiên cứu rau quả được rót một ít kinh phí để bảo tồn 8 loại rau đặc sản của Hà Nội, nay không hiểu sao húng Láng lại được quan tâm đặc biệt, được "rót" tới 2 tỷ đồng để bảo tồn. Húng Láng được coi là đặc sản chủ yếu do hương vị, được trồng trong điều kiện thổ nhưỡng đặc biệt (khu vực Chùa Láng - Hà Nội). Tôi nghĩ nếu không trồng trên đất ấy e rằng không bảo tồn được, còn nếu mang húng Láng ra nơi khác trồng thì chẳng khác nào gây dựng một "dị bản" cho húng Láng xưa", ông Thi nói.
Hiện, khu vực quanh chùa Láng cũng có quá nhiều thay đổi so với trước: nhà cửa san sát, nguồn nước ô nhiễm,… Nếu coi thổ nhưỡng và nguồn nước quyết định hương vị của húng Láng thì ngay cả khi được bảo tồn, giống rau gia vị này chưa hẳn "trứ danh" như thuở nào. Ông Thi cũng cho rằng số tiền 2 tỷ đồng dành cho húng Láng không lớn nhưng hiện chúng ta còn nhiều thứ phải làm hơn là bảo tồn húng Láng.
Trước đó, Sở NN&PTNT Hà Nội cho rằng, diện tích sản xuất húng Láng hiện còn khoảng 2.000m2, nhưng trên thực tế có lẽ không được như vậy. Ông Đặng Văn Đắc, xã viên Hợp tác xã Láng Thượng chia sẻ, hiện ông vẫn còn gần 1 sào đất để trồng rau các loại, gồm cả húng Láng nhưng húng Láng lại khó tiêu thụ và hiệu quả không bằng trồng các loại rau xanh khác. Về bảo tồn giống rau này, ông Đắc nói: "Bảo tồn để làm gì, làm gì còn đất để trồng, với lại, ai sẽ là người trồng".
Như vậy, câu chuyện bảo tồn húng Láng lại đặt ra câu hỏi: bột có rồi nhưng có gột thành hồ hay không. Câu trả lời không khó bởi trong khi những người triển khai chương trình chưa trình bày dự án chi tiết thì chính những người trực tiếp sản xuất loại rau gia vị này cũng không mấy mặn mà. Xem ra, chẳng bao lâu nữa, húng Láng chỉ còn là một kỷ niệm đẹp trong những câu ca, trang văn cũ… (Kinh Tế Nông Thôn 25/6)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
24/6, tin từ UBND tỉnh Bình Phước cho biết, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Huy Phong vừa ký công văn giao UBND huyện Bù Đăng phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan lập kế hoạch và tổ chức thu hồi 500ha đất hiện đang bị xâm canh, lấn chiếm.
Đây là diện tích thuộc dự án của Công ty TNHH Đức Bình, Công ty TNHH Đức Thành, Công ty TNHH Đang Duy, Công ty TNHH Bảo Nhi và Công ty cổ phần Sản xuất thương mại dịch vụ và Nông nghiệp Hải Vương tại Ban quản lý rừng phòng hộ Bù Đăng (ngoài diện tích 1.100ha mà UBND tỉnh Bình Phước đã tổ chức thu hồi trước đó) để bổ sung cho quỹ trồng cao su tạo quỹ xóa đói, giảm nghèo theo quy định.
Được biết 500ha lâm nghiệp được tỉnh Bình Phước giao cho các công ty nói trên từ các năm 2008, 2009 nhưng do các công ty này không có năng lực tài chính, đầu tư nhỏ giọt, không có biện pháp quản lý tốt nên đã bị người dân xâm canh, lấn chiếm. (Công An Nhân Dân 25/6)đầu trang(
25-6, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khánh Hòa đã công bố các quyết định kỷ luật đối với nhiều các cán bộ lãnh đạo huyện Khánh Sơn do để xảy ra tình trạng phá rừng, buôn bán lâm sản trái phép ở địa phương này trong nhiều năm liền.
Theo đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa (Ban) quyết định kỷ luật cách hết các chức vụ trong Đảng (gồm ủy viên Ban Thường vụ, Bí thư Đảng ủy Công an huyện Khánh Sơn) đối với Thượng tá Nguyễn Thành Trung, Trưởng Công an huyện Khánh Sơn, do có nhiều vi phạm nghiêm trọng trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Ban cũng đề nghị cơ quan thẩm quyền giáng chức, giáng cấp ông Trung.
Ông Ngô Hữu Giác, Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp tỉnh Khánh Hòa, nguyên Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện này, nhận kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng; khiển trách về mặt Đảng đối với ông Nguyễn Bá Chiến, Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Khánh Sơn, do chưa chủ động nắm bắt tình hình phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép.
Cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Tô Quốc Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Sơn và đề nghị Sở NN&PTNT tỉnh Khánh Hòa cách chức hạt trưởng Hạt Kiểm lâm đối với ông Hùng. Kỷ luật với hình thức cách chức bí thư chi bộ Ban Quản lý rừng phòng hộ Khánh Sơn, đề nghị Sở NN&PTNT cách chức giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Khánh Sơn đối với ông Huỳnh Long Vấn.
Ban cũng đã thống nhất hình thức kỷ luật khiển trách về mặt Đảng đối với ông Cao Hồng Vân, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy Khánh Sơn, do chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ rừng chưa tốt. Ngoài ra, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa yêu cầu tập thể Ban Thường vụ Huyện ủy Khánh Sơn nhiệm kỳ 2010-2015 nghiêm khắc kiểm điểm, rút kinh nghiệm liên quan đến các sự việc trên. (Pháp Luật TPHCM 26/6; Nhân Dân 26/6)đầu trang(
Hiện nay, vườn quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh chỉ còn sót lại 3 cá thể voi cái. Nếu không có biện pháp khẩn cấp để bảo tồn, trong tương lai số voi còn sót lại chỉ có thể tồn tại trong ký ức.
Kể từ những năm 70, đàn voi rừng ở vườn quốc gia Vũ Quang có tới gần 10 cá thể, nhưng đến nay chỉ còn 3 con voi cái. Nguyên nhân chủ yếu là voi bị săn trộm lấy ngà và chết già.
Do môi trường sống bị tác động bởi con người đã làm nơi cư trú của voi bị chia cắt, nguồn thức ăn bị suy kiệt nên đàn voi này đã nhiều lần phá hoại hoa màu, cây cối của người dân.
Theo kế hoạch hành động khẩn cấp bảo tồn voi ở Việt Nam của Chính phủ, chỉ có 3 tỉnh gồm Đắk Lắk, Đồng Nai và Nghệ An là các địa phương được lựa chọn. Vườn quốc gia Vũ Quang lại không nằm trong khu vực bảo tồn khẩn cấp, nên công tác bảo tồn voi tại đây lại càng gặp nhiều khó khăn.
Vườn quốc gia Vũ Quang rộng hơn 56.000 ha, đây là nơi đâu tiên tìm thấy loài linh trưởng Sao La được xếp vào bậc “cực kỳ nguy cấp” trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Từ đó đến nay, các nhà khoa học cũng chưa tìm thấy thêm sự xuất hiện loài Sao La ở vườn quốc gia này. Hiện nay, số phận của loài voi đang đứng bên bờ vực tuyệt chủng giống như loài Sao La, do thường xuyên bị đe dọa trước nạn săn bắt động vật hoang dã trái phép ngày càng táo bạo. (Vov.vn 26/6)đầu trang(
Một đàn voi từng được xem là lớn nhất nước đang gặp phải thảm cảnh mất dần quân số không rõ lý do. PV Nông Nghiệp Việt Nam đã có cuộc săn lùng dấu tích nhưng con voi cuối cùng ở VQG Vũ Quang (huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh).
Ngược con đường độc đạo lên hai xã Hương Quang và Hương Điền, dù đang ban ngày nhưng Phạm Văn Bảo, cán bộ VQG Vũ Quang, người bạn đồng hành cùng tôi vẫn ngó nghiêng mỗi lần nghe tiếng sột soạt từ những bụi cây rừng. Anh giải thích rằng, đây là thời điểm này đang mùa nóng, mùa voi rừng ra suối nhiều nhất. Về lịch sử đàn voi, Bảo kể: Đã gần 25 năm, người dân rẻo cao này luôn nơm nớp khi phải sống chung với với chúng rồi.
Đàn voi rừng ở VQG Vũ Quang được phát hiện vào năm 1987. Làng Phương Điền (xã Hương Điền, huyện Vũ Quang), nằm ở miền biên viễn, cao ngất trên đỉnh Trường Sơn là nơi phát hiện đàn voi rừng đầu tiên. Mấy lần tìm hiểu, Bảo nghe các cụ già khẳng định rằng đàn voi này chắc là của nghĩa quân Hương Khê dưới trướng Phan Đình Phùng từ thời chống Pháp còn sót lại. Vì là voi của nghĩa quân nên chúng sống khá gần gũi, thân thuộc với người dân một thời gian dài.
Nghe nói ban đầu cả đàn có khoảng 12 con chia ra nhiều nhóm, thi thoảng chúng hội tụ lại. Đến năm 1995, một nữ nghiên cứu sinh người Ấn Độ sau quãng thời gian thực tế trong rừng già đã trình làng báo cáo: Xác định đàn voi Vũ Quang và công tác tuyên truyền bảo vệ đàn voi. Sau khi tìm hiểu kỹ, cô gái này tìm cách phối hợp với Tổ chức bảo vệ động vật thế giới WWF nghiên cứu tiếp và ra thông báo đàn voi rừng ở VQG Vũ Quang chỉ còn lại 5 con.
Lạ ở chỗ, khi đàn voi càng ít thì chúng càng hung dữ. Những cuộc viếng thăm trở thành nỗi ám ảnh của dân địa phương. Hết tàn phá hoa màu, quật gãy cột điện, thỉnh thoảng đàn voi lại dọa dẫm người dân bản địa. Không ít lần, người dân lên rừng đụng phải voi chạy bán sống bán chết. Như đầu năm nay chẳng hạn.
Anh Phan Văn Sơn cùng con trai là Phan Văn Quyết (13 tuổi) trú ở xóm Kiều (xã Hương Điền) vào khu vực khe Rác để bắt cá. Đang luồn rừng, bất chợt cha con anh thấy một con voi đứng sừng sững ngay trước mặt. Khoảng cách từ người tới voi chỉ khoảng 7m. Hoảng hồn, anh hét lớn và cùng con trai quay đầu bỏ chạy. Cháu Quyết người nhỏ nên chui nhanh được vào lùm cây rậm ẩn nấp, còn anh Sơn do chạy dọc theo suối cạn nên bị voi đuổi theo. Chạy đâu được gần 100 mét, anh Sơn bị voi đuổi kịp dùng vòi hất ngã. Với kinh nghiệm đi rừng, anh Sơn ôm đầu và nằm giả chết. Con voi dùng chân và vòi lật đi lật lại nhiều lần vào người anh Sơn nhưng không thấy động đậy gì.
Thấy anh Sơn không lên tiếng, cháu Quyết nghĩ rằng bố đã bị voi quật chết nên bật lên tiếng kêu khóc. Nghe tiếng thế, voi rừng lao tới tìm đứa bé. Thừa cơ anh Sơn chạy nhanh lên dốc núi và gọi con trai chạy trốn. Tiếp đó, chỉ trong vòng một tháng, đàn voi đã phá 5 chiếc xe máy của người dân khi tham gia giao thông trên đoạn đường tỉnh lộ 5. Con đường từ 2 xã vùng cao đi ra thị trấn Vũ Quang đã trở thành đồi Cảnh Dương trong tiểu thuyết Thuỷ Hử bên Trung Quốc. Không còn một bóng người qua lại khi màn đêm buông xuống. Mặc dù là đường nhựa nhưng chẳng một ai dám to gan lớn mật đi qua lúc trời tối một khi đã có quá nhiều người bị voi rừng xông ra rượt đuổi.
Chỉ cách đây mấy hôm anh Nguyễn Văn Phong, một lái buôn quê ở huyện Hương Sơn, đã phải bỏ lại chiếc xe máy cùng mấy chục con gà cho các chú voi đùa giỡn khi không may gặp phải chúng ở một khúc cua. Hôm đó do mải mua gà ở thị trấn nên anh về hơi muộn, đến đoạn cua Hói Đôi thì gặp 3 chú voi xông ra. Quá hoảng hồn anh vứt xe bỏ chạy. Một lúc sau gọi người đốt đuốc quay lại thì chiếc xe máy chỉ còn là đống sắt vụn, còn mấy chục con gà nhốt lồng sắt cũng bị dẫm nát. Hai hôm sau anh Nguyễn Văn Thạch ở thị trấn Vũ Quang chở hơn 200 trứng vịt lộn lên Hương Điền bán cũng phải bỏ trứng và xe chạy lấy người khi suýt chút nữa là đâm vào đàn voi.
Thậm chí voi rừng còn gõ cửa từng nhà phá phách. Dẫn tôi ra khu vườn đàn voi vừa viếng thăm cách đây vài hôm, chị Nguyễn Thị Phượng ở xóm Kiều vẫn còn hoang mang cực độ. “Đàn voi vào tận hồi nhà gầm thét, đạp lở cả một quãng đất, dẫm nát vườn cây vừa mới trồng. Hàng ngàn cây chuối, ngô, cam…phút chốc trở thành bãi đất hoang. Chồng đi vắng, tôi chỉ kịp bế đứa con nhỏ bỏ chạy. Lán trại của dân đều bị phá nát. Sản xuất ra bao nhiêu voi lấy hết bấy nhiêu. Không gì cản nổi chúng cả", chị Phượng tâm sự.
Tôi cùng Phạm Văn Bảo đi thêm vài khu vực nữa, dấu tích đàn voi hầu như có mặt ở khắp mọi nơi. Nỗi ám ảnh có thể gặp trên bất cứ đâu, từ người già đến trẻ nhỏ ở xã Hương Điền. Những vườn cây bị quần nát, những cột điện bị quật gãy đổ. Ban đêm, 1.200 hộ dân ở hai xã trong rừng này hầu như chẳng dám đi ra đường vì sợ rằng có thể đụng phải voi bất cứ lúc nào.
Nguyên nhân đàn voi rừng ở VQG Vũ Quang thường xuyên phá phách bước đầu được xác nhận là do chúng bị săn lùng ráo riết. Năm 2006, trong khi tuần hành bảo vệ rừng, cán bộ VQG đã phát hiện hai thi thể voi chết ở vùng đệm thuộc lâm phận hai xã Hương Quang và Hương Minh. Khi đoàn cán bộ VQG có mặt kiểm tra, một con đã bị cắt mất ngà, con còn lại bị thối rữa buộc phải cho đốt hủy để ngăn mùi hôi thối và dịch bệnh.
Tại phòng trưng bày mô hình các loài động vật quý của VQG Vũ Quang hiện lưu giữ bộ hài cốt gồm đầu, xương đùi và một số xương sườn của một con voi đực. Ông Đào Huy Phiên, Giám đốc VQG Vũ Quang, xác nhận, bộ hài cốt này chính là xương của con voi được phát hiện vào tháng 6/2006 tại tiểu khu 146A, địa phận rừng xã Hương Minh, huyện Vũ Quang. “Đây là xương của con voi đực, có tên khoa học Elephans maximus. Khi phát hiện nó đã bị cắt trộm mất ngà. Sau khi phát hiện chúng tôi đã đưa phần xương còn sót lại về đơn vị để phục vụ công tác nghiên cứu sau này”, ông Phiên nói.
Việc phát hiện xác chết của hai con voi với nhiều dấu hiệu khả nghi là bị bắn hạ đã khiến lãnh đạo VQG Vũ Quang chịu nhiều sức ép. Như vậy đàn voi rừng chỉ còn lại có 3 con. Điều đáng ngại là số phận 3 con voi này cũng thường xuyên bị đặt dấu hỏi trước sự săn lùng của nạn săn bắt động vật hoang dã. Một cuộc truy lùng thủ phạm giết hai con voi trên đã được Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh, Công an huyện Vũ Quang và VQG này khẩn trương tiến hành. Sau nhiều tháng trời điều tra, thu thập thông tin các cơ quan trên đã không tìm thấy bất cứ một thông tin nào liên quan đến vụ việc. Vụ truy lùng thủ phạm giết voi ở Vũ Quang đến lúc này gần như đã rơi vào quên lãng.
Để cứu đàn voi ông Phiên nêu ra các giải pháp, di dời 3 cá thể voi còn sót lại vào VQG Yooc Đôn (tỉnh Đắc Lắk), hoặc thả một vài cá thể voi đực vào VQG Vũ Quang để tạo môi trường mới, giúp đàn voi có cơ hội giao phối, sinh sản. “Chỉ có những giải pháp đó mới hi vọng cứu được đàn voi Vũ Quang”, ông Phiên trăn trở.
Đưa ra các giải pháp nêu trên, nhưng như ông Phiên cho biết, tất cả hiện nằm ngoài khả năng của VQG Vũ Quang do đơn vị thiếu kinh phí và chuyên gia. “Chỉ mỗi chuyện hỗ trợ kinh phí thiệt hại cho người dân sau mỗi lần voi phá hại tài sản, hoa màu chúng tôi cũng đã gặp rất nhiều khó khăn, chứ nói gì đến chuyện di dời cả đàn voi. Tiếp đó nếu có di dời được một vài cá thể voi đực khác đến cũng rất tốn kém, mà hiệu quả đạt được liệu có như ý muốn”. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/6)đầu trang(
Hàng chục người dân ở Đồng Phú (Bình Phước) được chính quyền cùng chủ rừng giao khoán cho giữ rừng và chăn nuôi dưới tán rừng theo quyết định (QĐ) của Thủ tướng Chính phủ.
Họ đã làm tốt trách nhiệm của mình nhưng bỗng nhiên lại bị đổ cho là phá rừng, để rồi chính quyền địa phương tìm mọi cách thu hồi đất mà không hề ban hành bất cứ văn bản nào.
Căn cứ Quyết định 202/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc khoán bảo vệ rừng khoanh nuôi, huyện Đồng Phú đã giao khoán cho 18 hộ dân nghèo 496ha rừng ở ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi. Hộ được giao nhiều nhất là 30ha, ít nhất cũng 20ha, thế nhưng chính quyền địa phương lại lập lờ trong việc giao khoán, sau đó đòi thu hồi bằng được.
Việc giao khoán được tiến hành từ năm 2001, nhưng trong quá trình làm sổ giao khoán, do còn nhiều vướng mắc trong giấy tờ nên đến tháng 5/2003, người dân mới chính thức được giao sổ và giao đất. Khi người dân vào nhận đất canh tác, đã có rất nhiều người xâm canh trong đó nên họ phải trả tiền công khai hoang cho những người này. Bà con cũng mời cán bộ lâm trường đi cùng để kiểm tra, làm chứng cho việc đất rừng bị xâm canh. Do các hộ nhận khoán đều nghèo nên việc trả tiền rất khó khăn, vì thế, họ phải chuyển nhượng một phần đất rừng đã nhận khoán cho một số hộ đang cần đất.
Điều đáng nói là, trong khi giao khoán cho người dân theo Quyết định 202/QĐ-TTg thì chính quyền nơi đây lại bắt dân phải thực hiện theo Quyết định 09 của tỉnh Bình Phước. Mặc dù có cán bộ lâm trường chứng kiến cảnh đất rừng bị xâm canh, nhưng sau đó chính quyền sở tại vẫn đổ cho người dân phá rừng, thu lại đất rừng của họ rồi cấp lại cho cán bộ để những người này hủy hoại tài sản của dân đã trồng trên đất, khiến bà con vô cùng bức xúc.
Câu chuyện ông Nguyễn Quốc Doanh, cán bộ Ban quản lý rừng kinh tế Suối Nhung đã cho người chặt, đốt 4ha keo lai của hộ ông Lương Văn Tiến (đã có sổ giao khoán) và giao lại cho cán bộ của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước là Nguyễn Công Vang (nay là Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phước Long) là một ví dụ.
Ngày 26/6/2006, đoàn công tác 3309 của UBND huyện Đồng Phú đi thu hồi đất xâm canh lấn chiếm và đã thu hồi luôn phần đất đã có sổ nhận khoán của hộ ông Tô Văn Hoài (người đại diện là Nguyễn Văn Tới), với diện tích bị chặt khoảng 9ha tràm bông vàng (keo lai) trồng từ năm 2005, một căn nhà mái tôn 90m2, 2ha xà cừ trồng từ năm 2001; hộ ông Mã Văn Chinh bị chặt 4ha; hộ ông Nông Văn Rượng bị chặt 13,01ha; hộ ông Nguyễn Tấn Sáng bị chặt 12,8ha. Tất cả những hộ trên đều được liệt vào tội xâm canh lấn chiếm trái phép và "phá rừng", mặc dù họ có sổ giao nhận khoán được các cơ quan chức năng ký xác nhận hẳn hoi.
Ông Sáng bức xúc nói: "Tôi là thương binh, gia đình rất khó khăn, được cấp đất theo đúng mục đích, chủ trương của Nhà nước. Vợ chồng tôi đã bỏ bao công sức chăm sóc để chờ ngày thu hoạch, vậy mà bỗng dưng bị thu hồi mà không được bồi thường. Việc này khiến vợ tôi quá bức xúc đã ngã bệnh rồi ra đi trong sự uất ức, xót xa".
Ngay khi bị thu hồi đất rừng, những hộ dân này đã làm đơn khiếu nại khắp nơi. Thế nhưng chính quyền huyện Đồng Phú cho rằng mình đúng, còn UBND tỉnh Bình Phước thì không xác minh triệt để, đánh giá khách quan, phân định đúng sai nhưng lại cho rằng UBND huyện Đồng Phú giải quyết đúng luật.
Tuy nhiên, trong Công văn số 3007/UBND-TD ngày 23/11/2007 của UBND tỉnh Bình Phước trả lời các hộ dân có thừa nhận: "Do việc tham mưu của một số đơn vị chưa chính xác dẫn đến một số sai sót như: một số diện tích không nằm trong quyết định thu hồi đất của một số hộ có hợp đồng giao khoán cũng bị cưỡng chế".
Mặc dù khẳng định UBND huyện Đồng Phú làm sai nhưng UBND tỉnh Bình Phước vẫn không chỉ đạo cấp dưới sửa sai, cũng không xử lý những cán bộ sai phạm, trong khi người dân thì ngày đêm trông ngóng vào sự công minh của chính quyền. (Kinh Tế Nông Thôn 25/6)đầu trang(
Loài Sao la trên dãy Trường Sơn được xem là đại diện tiêu biểu nhất cho đa dạng sinh học ở Việt Nam. Nhưng qua 20 năm, từ ngày phát hiện ra nó, hơn 3/5 số lượng cá thể của loài này đã biến mất.
Loài Sao la (tên khoa học là Pseudoryx nghetinhensis Dung et al.1993) - đây là loài thú lớn đặc hữu hẹp của hệ sinh thái rừng Trường Sơn.
Vào tháng 5/1992, Sao la được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới tại Vườn quốc gia (VQG) Vũ Quang (Hà Tĩnh). Đó là kết quả đáng tự hào của nhóm nghiên cứu gồm: Vũ Văn Dũng, Nguyễn Mộng Dao, Đỗ Tước và Jonh Makiner (người Anh).
Đó được xem là một phát hiện ấn tượng nhất từ cuối thế kỷ XIX - đầu XX, gây một chấn động mạnh đối với khoa học thế giới. Sau đó, Sao la được giới khoa học thế giới vinh danh “kỳ lân châu Á” bởi có sừng thon dài. Sao la là động vật có vú, nguy cơ tuyệt chủng cao nhất sống ở vùng rừng núi Trường Sơn, Việt Nam và có tên trong Sách Đỏ thế giới.
Cũng kể từ đó, các cuộc nghiên cứu liên tục được duy trì trên diện rộng ở Trường Sơn. Theo đó, chỉ phân bố ở hệ sinh thái rừng Trường Sơn cả ở hai phía Việt - Lào. Riêng Việt Nam, vùng phân bố lịch sử của Sao la kéo dài từ Quế Phong, Nghệ An (khoảng 19 độ 30 phút Bắc) xuống đến xã Lăng, huyện Tây Giang, Quảng Nam (khoảng 15 độ 50 phút Bắc).
PGS.TS. Nguyễn Xuân Đặng, Ủy viên Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cho biết: “Điểm đặc biệt của loài đặc hữu này là không phân bố tập trung mà chỉ hình thành các nhóm nhỏ dưới 10 cá thể, sống rải rác và cách xa nhau. Đến nay, đã ghi nhận được Sao la cư trú tại 50 xã, thuộc 20 huyện, của 6 tỉnh. Thừa Thiên Huế là tỉnh có số xã ghi nhận Sao la cao nhất với 18 xã, tiếp đến là Quảng Bình (9 xã), Quảng aNam (6 xã)...”.
Theo PGS. Nguyễn Xuân Đặng, các nhà nghiên cứu đã thực hiện khảo sát đến năm 2007 - 2008, một số khu vực phân bố chính của Sao la là: Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, VQG Pù Mát (đều thuộc Nghệ An); VQG Vũ Quang; khu vực Tây Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị; Thừa Thiên Huế - Quảng Nam. Các khảo sát trên được kết luận do tìm thấy các dấu chân, vết ăn trên lá cây, kết quả phỏng vấn người dân cho biết đã gặp loài này.
Dẫu vậy, “sau gần 20 năm nghiên cứu và bảo tồn, những hiểu biết của chúng ta về loài Sao la vẫn còn rất hạn chế. Và tình trạng các quần thể Sao la có xu hướng ngày một xấu đi…” - PGS. Đặng cũng thừa nhận.
Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp Sao la vào bậc nguy cấp (EN) và Danh lục Đỏ IUCN. Nhưng từ năm 2010, mức đe dọa của loài này được nâng lên CR - rất nguy cấp. Hiện rất khó xác định được số lượng Sao lao hiện nay ở Việt Nam nhưng PGS. Đặng cho hay, hiện không còn quá 200 cá thể.
Đây là một con số rất đáng báo động khiến các nhà nghiên cứu phải xót xa. Bởi từ khi phát hiện ra loài này vào năm 1992 ở Vũ Quang, rồi khảo sát khắp Trường Sơn cho thấy có khoảng 500 cá thể. Nhưng chỉ trong 20 năm, số cá thể Sao la ở Việt Nam chỉ còn chưa đầy 200.
Không những số lượng ít, quần thể Sao la hiện đang bị chia cắt sâu sắc thành những nhóm nhỏ, tách biệt nhau. Ban quản lý VQG Vũ Quang - nơi phát hiện ra Sao la đầu tiên, cho biết: 4 năm trước, nhóm đối tượng ở huyện Hương Sơn sang bắn được một con. Bị phát hiện, chúng vứt Sao la lại và bỏ chạy. Người của vườn đã đưa ra Hà Nội để nghiên cứu, nhưng nó đã bị chết và từ đó đến nay chưa gặp lại một cá thể nào khác.
Sau khi phát hiện ra Sao la, đã có khoảng 10 dự án hợp tác quốc tế lớn đầu tư trực và gián tiếp cho khảo sát và bảo tồn loài này nhưng theo PGS. Đặng, cá thể Sao la vẫn giảm quá nhanh bởi các nguyên nhân sau: nạn săn bắt, đặt bẫy và buôn bán động vật hoang dã diễn ra quá tràn lan, Sao la ngày càng có giá trị cao trên thị trường; đa dạng sinh học Trường Sơn đang suy thoái dần, bị phân mảnh, mất liên kết; năng lực quản lý bảo tồn còn hạn chế, tổ chức bảo tồn Sao la cấp quốc gia chưa có và ý thức người dân còn quá thấp; những hiểu biết về loài này hạn chế nên chưa có giải pháp bảo tồn đặc thù và công tác bảo tồn vẫn chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ của nước ngoài...
PGS. Đặng đề xuất: “Cần chú ý nhất bây giờ là hai khu vực có tầm quan trọng đặc đối với loài Sao la ở Việt Nam là: Thừa Thiên Huế - Quảng Nam (còn khoảng 40 - 50 cá thể) và Tây Nam Quảng Bình - Bắc Quảng Trị (30 - 40 cá thể)”.
Việc bảo tồn 200 con Sao la còn lại đang vấn đề của cả quốc gia, cả xã hội và cần sự vào cuộc của tất cả cộng đồng. Cấp quản lý nhà nước cần quan tâm mạnh hơn nữa đến sự đe dọa tuyệt chủng của loài này. Để bảo tồn loài này, cần xây dựng các vùng cảnh quan bảo tồn Sao la có diện tích đủ lớn và bao trùm hết, hoặc hầu hết các tiểu quần thể Sao la trong vùng đó. Vùng cảnh quan bảo tồn cần có các khu bảo tồn thiên nhiên làm hạt nhân, khu tăng cường bảo tồn Sao la và vùng đệm.
Nhiều nhà nghiên cứu tự nhiên đã phát biểu trong nhiều cuộc họp rằng: “Mong Sao la sẽ không là loài tê giác một sừng thứ hai” (Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (WWF) và Quỹ Bảo tồn tê giác quốc tế (IRF) ngày 25/10/2011, thông báo tê giác một sừng đã tuyệt chủng ở Việt Nam). (Sức Khỏe&Đời Sống 25/6)đầu trang(
Một điều đáng buồn là hiện tại ở Bắc Kạn, chưa ai nắm được diện tích, khối lượng rừng nghiến là bao nhiêu. Và, cũng chẳng ai nắm được con số chính xác về khối lượng gỗ nghiến bị lâm tặc triệt hạ.
Theo ông Hoàng Văn Hải – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn thì tình trạng khai thác gỗ trái phép ở Vườn quốc gia Ba Bể không chỉ diễn ra ở năm 2012 mà diễn ra từ 2011.
“Để xảy ra tình trạng này, BQL Vườn quốc gia phải chịu trách nhiệm. Đây là đơn vị trực thuộc quản lý của UBND tỉnh, còn chúng tôi là đơn vị cấp 2 trực thuộc Sở.
Việc quản lý, bảo vệ rừng ở vườn quốc gia Ba Bể là trách nhiệm của vườn quốc gia Ba Bể và chính quyền địa phương. Chi cục kiểm lâm chỉ có trách nhiệm hướng dẫn Hạt kiểm lâm vườn quốc gia Ba Bể về chuyên môn, nghiệp vụ” - ông Hải khẳng định khi bàn về trách nhiệm của mình.
Ông Hoàng Văn Hải: "Khối lượng gỗ nghiến là bao nhiêu, khối lượng gỗ nghiến bị chặt phá là bao nhiêu thì chúng tôi cũng chưa nắm được. Việc này của vườn quốc gia ba Bể".
Về vấn đề có hay không có sự tiếp tay của lực lượng kiểm lâm khi để cho gỗ lậu tuồn về thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, ông Hải cho rằng, gỗ mang ra khỏi rừng thì rất nhiều đường đi, trong đó có hệ thống đường mòn. Từ đường mòn mới tập kết ra các xã lân cận với vùng lõi Vườn quốc gia ven đường 254.
Từ đây, gỗ được vận chuyển về xuôi bằng ô tô hoặc có thể bằng xe máy. Nếu lực lượng kiểm lâm sơ hở, họ có thể đi bằng ô tô, còn lực lượng kiểm lâm làm chặt, họ đi bằng xe máy hoặc đi bộ. Việc lâm tặc vận chuyển gỗ bằng ô tô có thể xảy ra, đã từng xảy ra.
Lý giải về vấn đề tại sao trên con đường độc đạo 254 từ xã Nam Cường về huyện Chợ Đồn có các chốt chặn của lực lượng kiểm lâm, nhưng gỗ vẫn ngang nhiên lọt sào, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bắc Kạn cho rằng: do lực lượng kiểm lâm rất mỏng, kể cả có được tăng cường nữa nữa cũng khó làm được vì không được người dân ủng hộ. Cũng không loại trừ một số cán bộ kiểm lâm làm ngơ, né tránh, tiếp tay. Muốn nói gì thì nói, lực lượng kiểm lâm phải là nòng cốt, phải phát hiện và xử lý.
Điều đáng nói, mặc dù là người đứng đầu ngành kiểm lâm của tỉnh Bắc Kạn, là lực lượng nòng cốt để bảo vệ rừng, nhưng thời điểm hiện tại, ông Hải vẫn không thể nắm được trên toàn tỉnh có bao nhiêu diện tích gỗ nghiến, khối lương lớn hay nhỏ.
Ngay cả diện tích rừng nghiến bị phá cũng như số lượng gỗ nghiến bị lâm tặc tàn phá, vị Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cũng không nắm được.
“Khối lượng gỗ nghiến là bao nhiêu, khối lượng gỗ nghiến bị chặt phá là bao nhiêu thì chúng tôi cũng chưa nắm được. Việc này của vườn quốc gia ba Bể, tôi chỉ phụ trách về chuyên môn thôi. Không thể khẳng định được là trên địa bàn tỉnh có khối lượng gỗ nghiến là bao nhiêu vì chưa có một đề án nào để điều tra, đánh giá, thống kê”- ông Hải cho biết.
Bà Nguyễn Thị Hằng, Chủ tịch UBND xã Nam Mẫu bức xúc: “Tình hình khai thác gỗ nghiến trái phép diễn ra rầm rộ trong thời gian qua. Sau khi các đợt truy quét của đoàn tuần tra liên ngành kết thúc, lâm tặc lại khai thác rầm rộ hơn. Chúng tôi không hiểu sao, việc lâm tặc phá rừng rầm rộ như thế mà lực lượng làm nhiệm vụ lại không phát hiện ra, tiếng cưa xẻ, cây đổ ầm ầm như thế mà các trạm kiểm lâm lại không nghe thấy”.
Bà Hằng cũng đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền phải vào cuộc quyết liệt hơn nữa để cứu lấy Vườn quốc gia Ba Bể.
“Lực lượng kiểm lâm có phải ít đâu. Chính lực lượng này phải xem lại mình. Chúng tôi cũng có nghe thông tin việc kiểm lâm nhận tiền hối lộ để làm ngơ” - Chủ tịch xã Nam Mẫu tái khẳng định.
Theo báo cáo của Vườn quốc gia Ba Bể, trong năm 2011, đơn vị đã tiến hành kỷ luật 11 cán bộ vì đã vi phạm điều lệ Đảng và không hoàn thành nhiệm vụ trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đáng chú ý, trong số 11 cán bộ bị kỷ luật ở trên, có 1 kiểm lâm bị làm kiểm điểm và thuyên chuyển công tác vì có dư luận liên quan đến vấn đề nhận tiền hối lộ của lâm tặc.
Ông Nông Đình Khuê – Phó Giám đốc VQG Ba Bể, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm VQG Ba Bể cho rằng, hiện nhiều cán bộ kiểm lâm chưa làm hết trách nhiệm; công tác tuần tra, kiểm soát chưa được duy trì thường xuyên. Việc các đầu nậu vẫn tìm cách thu mua gỗ nghiến cũng nhức nhối không kém.
“Chúng tôi cũng đã nghe có dư luận về sự tiếp tay, thông đồng giữa kiểm lâm và lâm tặc. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng, chưa bắt được quả tang” – ông Khuê khẳng định.
Theo ông Triệu Văn Hiệu – Tổ trưởng Tổ truy quét Hạt Kiểm lâm huyện Chợ Đồn thì lâm tặc sử dụng mọi thủ đoạn để phá rừng và vận chuyển gỗ. Để qua mặt cơ quan chức năng, lâm tặc còn dùng xe biển xanh để vận chuyển. Lâm tặc còn rải đinh vứt xuống dọc đường để bỏ chạy nếu bị lực lượng kiểm lâm phát hiện.
Cũng theo ông Hiệu từ đầu năm 2012 đến nay, 4 trạm kiểm lâm của huyện Chợ Đồn phát hiện, bắt giữ 11 vụ vận chuyển gỗ nghiến trái phép, trong đó có 3 vụ lâm tặc dùng ô tô để vận chuyển.
Những con số mà Hạt Kiểm lâm Chợ Đồn thống kê về số lượng gỗ nghiến bị phát hiện chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.
Cũng theo báo cáo của Hạt kiểm lâm Chợ Đồn, trong năm 2011 cơ quan này đã tiến hành lập biên bản 149 vụ vi phạm phạm luật bảo và phát triển rừng. Kiểm lâm Chợ Đồn cũng đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyển cơ quan cảnh sát điều tra thụ lý hồ sơ liên quan đến 154,061m3 gỗ nghiến.
Những con số mà Hạt Kiểm lâm Chợ Đồn thống kê về số lượng gỗ nghiến bị phát hiện chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Số lượng gỗ nghiến tuồn từ vùng lõi vườn Quốc gia Ba Bể về xuôi mà không bị phát hiện còn lớn hơn rất nhiều.
Hiện, chưa có một con số thống kê chính xác về trữ lượng gỗ nghiến ở khu vực vùng lõi Vườn quốc gia Ba Bể; cũng chưa có con số cụ thể về số lượng gỗ nghiến bị lâm tặc triệt hạ.
Chính vì vậy, không ai biết được số gỗ nghiến lọt qua hệ thống thập diện mai phục để về xuôi an toàn là bao nhiêu. (Vietnamnet 26/6)đầu trang(
Tình hình vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng vẫn còn diễn biến phức tạp cả về tính chất và mức độ thiệt hại.
Tính từ đầu năm đến nay, toàn quốc đã phát hiện hơn 9.000 vụ vi phạm, đã xử lý hơn 7.000 vụ, tịch thu hơn 10.000 mét khối gỗ các loại, thu nộp ngân sách 86,9 tỷ đồng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, đến nay, diện tích rừng trồng mới tập trung đạt 30,2 nghìn ha, tăng 12,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 2,5 nghìn ha, trồng mới rừng sản xuất đạt 27,7 nghìn ha, tăng 8,9%.
Trong 6 tháng đầu năm, đã xảy ra 167 vụ cháy rừng, tăng 20 vụ so với cùng kỳ, nhưng tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 697 ha, giảm 313 ha so với cùng kỳ năm trước. 2 vụ cháy lớn ở Vườn quốc gia Hoàng Liên (Lào Cai) và khu rừng phòng hộ Nam Hải Vân (Đà Nẵng) được phát hiện sớm, chữa cháy hiệu quả, hạn chế thiệt hại.
Lâm sản hiện có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất trong nhóm nông - lâm - thủy sản. 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu lâm sản đạt 2,3 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước. (Chinhphu.vn 25/6)đầu trang(
24/6, tin từ UBND tỉnh Bình Phước cho biết, đã chỉ đạo Sở NN&PTNT rà soát việc thực hiện những qui định của tỉnh về quản lý, sử dụng đất tại dự án chăn nuôi hươu sao, trồng rừng, trồng cao su của Công ty TNHH Việt Lào, trên cơ sở đó phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong việc sang nhượng, sử dụng đất không đúng mục đích đối với dự án trên theo qui định của pháp luật.
Được biết, năm 2009, Công ty TNHH Việt Lào được UBND tỉnh Bình Phước quyết định giao hơn 84ha đất tại tiểu khu 361 thuộc Ban quản lý rừng kinh tế Suối Nhung để thực hiện dự án trồng rừng, trồng cao su và chăn nuôi hươu sao.
Theo quyết định phê duyệt, Công ty TNHH Việt Lào đầu tư 100%, không được sang nhượng dưới bất cứ hình thức nào. Trường hợp không đủ năng lực thực hiện, triển khai chậm, vi phạm các qui định thì thu hồi để bổ sung cho quỹ đất an sinh của tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, do không có năng lực tài chính nên ông Nguyễn Bá Linh, Giám đốc Công ty TNHH Việt Lào đã "phù phép" ra một số dự án "ma" để sang nhượng 40ha cho Công ty TNHH Sơn Nam (nay là Công ty TNHH một thành viên Vân Sơn, do ông Vũ Văn Định làm Giám đốc) theo hình thức liên doanh để trồng cao su.
Sau đó ông Linh tiếp tục dùng các dự án "ma" do mình "sáng tác" bán cùng một miếng đất cho nhiều người như: ông Trần Quốc Tiến, ông Nguyễn Hữu Thành, bà Lâm Thị Luyện (cùng ngụ tỉnh Bình Phước). Lấy tiền xong của các "đối tác", ông Linh đánh bài "chuồn" vì không có đất để giao. Liên quan vấn đề, mặc dù Công ty TNHH Việt Lào chưa thực hiện xong dự án được phê duyệt nhưng vẫn được cơ quan chức năng tỉnh Bình Phước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (Công An Nhân Dân 25/6)đầu trang(
Rừng thông ba lá là đặc sản thiên nhiên gắn liền với thành phố Đà Lạt- địa danh du lịch-lịch sử nổi tiếng của tỉnh Lâm Đồng và của cả nước. Thế nhưng “đặc sản” này đang bị xâm hại nghiêm trọng, với hơn 250ha bị phá trong 5 năm qua, phần còn lại cũng bị lâm tặc tỉa thưa dần.
Đáng chú ý, khu vực nội ô thành phố, rừng đã suy giảm hơn 1/3 diện tích. Các phương tiện thông tin đại chúng liên tục phản ánh tình trạng này trong suốt những năm qua, nhưng những cánh rừng thông thơ mộng của Đà Lạt vẫn tiếp tục bị chặt hạ không thương tiếc.
Từ đầu năm đến nay, vẫn có thêm 87 vụ xâm hại rừng, với hơn 5ha rừng thông bị phá. Trong đó, có nhiều vụ quy mô lớn, xảy ra ngay giữa nội ô Đà Lạt, với hàng trăm cây thông bị triệt hạ thẳng tay.
Nhưng lạ một điều là chưa có vụ nào bị xử lý nghiêm túc. Một số vụ đã truy tố hình sự hẳn hoi, nhưng sau đó lại rơi vào im lặng một cách khó hiểu. Không chỉ người dân xót xa, mất lòng tin, mà nhiều cán bộ ở cơ sở cũng bức xúc.
Một cán bộ cấp xã đề nghị không nêu tên, bày tỏ: “Tất cả các vụ việc chúng tôi đã chuyển cho ngành cấp trên trong thời gian qua thì dường như dẫm chân tại chỗ, tất cả đều bị chìm xuồng. Mong rằng các ngành chức năng phải xử lý nghiêm, từ đó mới giảm được tình trạng phá rừng”.
Trong số các vụ phá rừng đã xảy ra, vụ chặt hạ hàng trăm cây thông giống tại tiểu khu 153, khu vực thác Hang Cọp, xã Xuân Thọ, thành phố Đà Lạt, được mọi người lưu tâm đặc biệt. Bởi Thành uỷ Đà Lạt đã chỉ đạo cơ quan Công an khởi tố vụ án, với lời khẳng định là sẽ xử lý một cách nghiêm túc để làm gương răn đe. Tuy nhiên, sự vụ lại rơi vào quên lãng.
Ông Đoàn Văn Việt, Bí thư Thành ủy Đà Lạt thừa nhận: “Tôi thấy quản lý rừng, đất rừng có vấn đề. Đó là vi phạm lâm luật nhiều hơn, có giải quyết nhưng chậm, từ đó làm cho vấn đề quản lý, bảo vệ rừng cực kỳ khó”.
Có lẽ cái cực kỳ khó như ông Đoàn Văn Việt đề cập có nguyên nhân từ vấn đề trách nhiệm. Rừng bị phá hầu hết đều thuộc diện tích đã được giao cho các doanh nghiệp để thực hiện các dự án. Cơ quan chức năng của tỉnh Lâm Đồng cho rằng, các chủ dự án bỏ bê việc quản lý, bảo vệ là nguyên nhân chính khiến rừng bị phá.
Theo ông Nguyễn Khang Thiên, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, muốn ngăn chặn tình trạng mất rừng vì dự án, thì cần phải xử lý trách nhiệm đối với các doanh nghiệp vi phạm theo đúng quy định của pháp luật.
Thông Đà Lạt bị tàn phá không chỉ trong một ngày, một giờ mà liên tục xảy ra trong suốt một thời gian khá dài. Vậy tại sao tình trạng này vẫn không được chấn chỉnh? Trả lời câu hỏi này, ông Nguyễn Xuân Tiến, chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng nói rằng: “Nguyên nhân là do sự phối kết hợp giữa các ngành, các cấp chưa thật chặt. Tôi cho đó là cái lớn nhất. Phải thừa nhận là việc quản lý bảo vệ rừng ở một số địa bàn còn phức tạp”.
Xác định được lỗ hổng trong khâu quản lý, nhưng muốn bảo vệ rừng đòi hỏi chính quyền địa phương, thành phố Đà Lạt phải triển khai nhiều biện pháp mạnh. Vẫn biết cái khó của tỉnh Lâm Đồng là muốn thu hút đầu tư để phát triển hơn nữa ngành du lịch của địa phương. Nhưng nếu chiều lòng nhà đầu tư để rừng thông bị phá, thì du lịch của Lâm Đồng sẽ khó có thể phát triển bền vững. Bởi chính thông đã làm nên thương hiệu cho Đà Lạt. Và nếu không cứu lấy những cánh rừng thông còn sót lại, chắc chắn hình ảnh Đà Lạt thơ mộng sẽ mất trong tương lai không xa. (Vov.vn 25/6)đầu trang(
Ngày 24.6, tin từ huyện Kon Plông cho biết, ngày 21.6, tỉnh Kon Tum thành lập đoàn liên ngành xuống huyện Sơn Tây để xác minh nguồn gốc số gỗ lậu vừa được phát hiện tại nhà Bí thư Huyện ủy Sơn Tây (Quảng Ngãi).
Tại buổi làm việc, đại diện huyện Sơn Tây xác định nguồn gốc gỗ trên lấy từ xã Tân Lập, huyện Sơn Tây, không phải từ tỉnh Kon Tum. (Lao Động 25/6) đầu trang(
Theo báo cáo của Tổng cục Lâm nghiệp, trong 6 tháng đầu năm, thời tiết rét đậm, rét hại và khô hạn xảy ra tại một số tỉnh miền Bắc trong quý I đã làm chậm tiến độ trồng rừng, tuy nhiên sang quý II thời tiết thuận lợi hơn đã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng và đạt được kết quả tương đối khả quan.
Tính đến 20/6, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 56,2 nghìn ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2011; trong đó: trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng đạt 4,7 nghìn ha, tăng 61,7%; trồng mới rừng sản xuất đạt 51,5 nghìn ha, tăng 1,3%. Sản lượng gỗ khai thác đạt 2.248,8 nghìn m3, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2011.
Cụ thể, tại các tỉnh miền Bắc, hiện tại đang là chính vụ trồng rừng, các địa phương đang khẩn trương tiến hành trồng rừng, đặc biệt là trồng rừng sản xuất. Ước tính đến 20/6 các địa phương miền Bắc đã trồng được 55.431 ha rừng, chiếm 86% diện tích trồng rừng cả nước. Trong đó, diện tích rừng trồng phòng hộ và đặc dụng đạt 4.232 ha, chiếm 90% diện tích trồng rừng phòng hộ và đặc dụng cả nước; Diện tích rừng trồng sản xuất đạt 51.199 ha, chiếm 99% diện tích rừng trồng mới sản xuất cả nước.
Vùng có diện tích rừng trồng mới lớn nhất là Trung du và Miền núi phía Bắc đạt 41.760 ha, Đồng bằng sông Hồng 7.470 ha và Bắc Trung Bộ 6.201 ha. Một số tỉnh miền Bắc có diện tích rừng trồng mới khá là Tuyên Quang 8.216 ha, Yên Bái 7.862 ha, Quảng Ninh 6.800, và Bắc Kạn 5.191 ha.
Bên cạnh việc trồng rừng mới, các tỉnh miền Bắc tiếp tục tiến hành thiết kế, lập hồ sơ trồng rừng, xử lý thực bì, làm đất, sản xuất và chăm sóc cây giống để phục vụ nhu cầu trồng rừng vụ xuân hè 2012. Ngoài ra, các địa phương tiếp tục tiến hành chăm sóc rừng trồng theo kế hoạch, khoán khoanh nuôi tái sinh và giao khoán bảo về rừng tới các tổ chức, cá nhân.
Còn tại các tỉnh miền Nam, do đang là mùa khô nên các tỉnh miền Nam hầu như chưa tiến hành trồng rừng. Trong tháng 6, các địa phương tiếp tục triển khai trồng cây phân tán, tiến hành lập hồ sơ thiết kế, chuẩn bị hiện trường cho kế hoạch trồng rừng năm 2012, tiếp tục chăm sóc cây giống cho kế hoạch trồng cây phân tán năm 2012. (Đảng Cộng Sản VN 26/6)đầu trang(
Phú Quý là huyện đảo thuộc tỉnh Bình Thuận, nằm cách đất liền 120 km, với diện tích tự nhiên khoảng 17 km2. Hàng năm, do thời tiết khắc nghiệt, sóng to nên nhiều khu vực xung yếu trên đảo thường xảy ra hiện tượng sạt lở nghiêm trọng những khu vực xung yếu.
Bên cạnh đó nguồn nước ngọt trên đảo cũng ngày càng bị nhiễm mặn. Vì vậy, việc trồng cây phủ xanh cho đảo, nhất là trên các bãi bồi ven biển, tạo các đai rừng chắn sóng, hạn chế xói lở và giữ nguồn nước ngầm đang là vấn đề rất được quan tâm.
Ông Huỳnh Văn Hưng, Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Phú Quý cho biết: Trước đây, trên đảo hầu như chỉ là đồi trọc và chỉ có các loại cây như: Dứa dại, bã đậu, mù u mọc tự phát. Từ các Chương trình dự án hỗ trợ trồng rừng của Trung ương và địa phương, đến nay diện tích rừng của Phú Quý đã đạt hơn 500 ha, tán che phủ trên toàn đảo đạt gần 50% .
Trạm Nông Lâm nghiệp huyện Phú Quý đã tổ chức gieo ươm cây giống tại chỗ thay cho việc vận chuyển cây giống từ đất liền về đảo; số lượng gieo ươm năm sau nhiều hơn so với năm trước, đảm bảo đáp ứng nhu cầu trồng cây của các tổ chức, cá nhân trên toàn huyện. Từ đầu năm đến nay, Trạm Nông Lâm nghiệp huyện đã gieo ươm được 35.000 cây cây giống tại chỗ, chủ yếu là cây phi lao, xà cừ, bạch đàn; trồng tại các vùng trọng yếu của đảo được 16.000 cây.
Đáng chú ý, Trạm Nông Lâm nghiệp đã trồng được 5.000 cây đước tại những vùng ngập mặn ven biển Lạch dù, Hòn Tranh và Lỗ Sâu thuộc địa bàn xã Tam Thanh. Tuy Trạm mới trồng thử nghiệm cây ngập mặn ở đảo, nhưng tỉ lệ cây đước sống đạt trên 70%. Hiện Trạm Nông Lâm nghiệp tiếp tục thi công, mở rộng diện tích trồng cây nhằm tạo môi trường sinh thái trên các bãi đá ven biển, hình thành dãy cây xanh chắn sóng và tạo điều kiện cho các loài sinh vật biển trú ngụ, sinh trưởng.
Theo ông Huỳnh Văn Hưng, Bí thư Huyện ủy kiêm Chủ tịch UBND huyện Phú Quý, bên cạnh trồng rừng tập trung, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng được nhân dân trên đảo tích cực hưởng ứng, chuyển từ cây ngắn ngày sang trồng cây dài ngày, cây ăn quả lâu năm, góp phần tăng diện tích của rừng trên đảo. Phát triển rừng trên đảo là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Ước tính đến năm 2020, dân số trên đảo khoảng 30.000 người, cần một lượng lớn nước ngọt ngầm đủ để cung cấp sinh hoạt cho số dân sống trên đảo, nếu không tích cực trồng rừng phủ xanh cho đảo hàng năm để giữ lượng nước ngọt ngầm thì nguồn nước ngọt dùng cho sinh hoạt sẽ ngày càng cạn kiệt. (Tài Nguyên&Môi Trường 26/6)đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, trong vụ trồng rừng Thu Đông năm nay, các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh sẽ tiến hành trồng 5.164 ha rừng.
Công nhân của một cơ sở sản xuất giống ở xã Phước Thành, huyện Tuy Phước chăm sóc cây keo lai giống.
Cụ thể: Dự án Bảo vệ và Phát triển rừng do Chính phủ hỗ trợ vốn trồng 100 ha rừng môi trường cảnh quan trên địa bàn TP Quy Nhơn; Dự án trồng rừng KfW6 do Chính phủ Đức hỗ trợ vốn vay trồng 300 ha rừng phòng hộ tại các huyện Tây Sơn, Hoài Nhơn, Hoài Ân; Dự án trồng rừng do Ngân hàng Thế giới (WB3) hỗ trợ vốn trồng 2.000 ha rừng tại các huyện Hoài Ân, Tuy Phước, An Nhơn, Phù Mỹ, TP Quy Nhơn, Phù Cát và các công ty lâm nghiệp trồng 2.764 ha rừng sản xuất.
Hiện nay, các đơn vị, địa phương, doanh nghiệp đang tổ chức đo đạc, thiết kế diện tích rừng trồng theo kế hoạch nhằm triển khai trồng rừng khi mùa mưa lũ đến. (Vov.vn 25/6)đầu trang(
Năm 2012, tỉnh Bắc Kạn phấn đấu thực hiện 13.800ha rừng trồng mới, trong đó rừng trồng theo Dự án 147 là 12.000ha. Hiện nay, tranh thủ thời tiết thuận lợi, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ trồng, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu KH tỉnh giao, đảm bảo khung thời vụ.
Với kế hoạch (KH) trồng mới 12.000ha rừng theo Dự án 147, toàn tỉnh đã thiết kế được 12.299ha, đạt 102% KH. Theo báo cáo của Ngành Nông nghiệp, chỉ riêng huyện Ngân Sơn thiết kế đạt 76% KH, còn lại địa phương khác đều thiết kế vượt chỉ tiêu kế hoạch như: Bạch Thông (107% KH), Chợ Đồn (112% KH), Ba Bể (109% KH), Chợ Mới (108% KH), thị xã Bắc Kạn (102% KH), Pác Nặm (103% KH).
Vụ trồng rừng năm 2012, toàn tỉnh có 110 vườn ươm sản xuất trên 32,4 vạn cây giống, chủ yếu là mỡ và keo tai tượng, ngoài ra còn có thông và trúc, đảm bảo cung cấp đủ cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng được giao. Cây giống tại các vườn ươm cơ bản phát triển tốt, không có sâu bệnh hại. Trong tháng 5, tổng số cây giống đã thẩm định đủ tiêu chuẩn xuất vườn là 18,2 vạn cây, chủ yếu là giống mỡ, đạt 56% tổng số cây giống.
Xử lý thực bì là khâu quan trọng để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Do đó, Ban Quản lý Dự án 147 các địa phương đều tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xử lý thực bì linh hoạt, sớm giải phóng mặt bằng chuẩn bị trồng rừng mới. Do đó, đến tháng 4/2012, toàn tỉnh đã xử lý thực bì, cuốc lấp hố đạt 80% diện tích thiết kế; riêng huyện Bạch Thông xử lý thực bì đạt 100% diện tích, bắt đầu cấp cây giống cho nhân dân sẵn sàng trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi. Tháng 5/2012, nhân dân các địa phương đã xử lý xong thực bì, sẵn sàng trồng rừng mới.
Theo báo cáo tổng hợp của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh và các huyện, thị xã, tính đến ngày 18/6/2012, toàn tỉnh đã trồng được 8.173,22ha gồm: 6.847,52ha mỡ, 1.094,79ha keo, 102,13ha Thông mã vĩ và 128,78ha trúc, đạt 68% KH. Một số địa phương đã thực hiện được trên 80% KH gồm: Ba Bể (89% KH), Vườn Quốc gia Ba Bể (83% KH), Chợ Mới (87% KH); riêng huyện Bạch Thông đã thực hiện được 96% KH.
Ông Đàm Văn Chiến - Chi cục Trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Tiến độ trồng rừng năm 2012 đang được các địa phương đẩy nhanh thực hiện, so với cùng kỳ năm 2011, tiến độ trồng của năm 2012 tính đến thời điểm hiện nay là nhanh hơn mặc dù không đáng kể, chỉ khoảng 4 - 5%. Dự kiến nếu thời tiết thuận lợi như hiện nay, tỉnh sẽ hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng trong khung thời vụ (30/6).
Đối với 2 huyện Ngân Sơn, Pác Nặm - 2 địa phương đạt kết quả thấp nhất trong vụ trồng rừng năm 2011, Chi cụ Kiểm lâm và Chi cục Lâm nghiệp đã tăng cường cán bộ phụ trách địa bàn, thường xuyên giám sát cơ sở, đôn đốc các địa phương đẩy nhanh tiến độ các khâu thiết kế, xử lý thực bì và vận động nhân dân đẩy nhanh tiến độ trồng khi thời tiết thuận lợi… Do đó, công tác trồng rừng trên địa bàn 2 địa phương trên đã có những chuyển biến tích cực. Mặc dù còn gặp rất nhiều khó khăn như: Nhận thức của người dân địa phương về công tác trồng rừng còn hạn chế; giao thông không thuận lợi; điều kiện thời tiết khắc nghiệt… ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ trồng rừng nhưng tính đến ngày 18/6/2012, huyện Pác Nặm đã thực hiện được 833ha rừng, đạt 52% KH.
Hiện nay tranh thủ thời tiết thuận lợi, Ngành Nông nghiệp yêu cầu các địa phương tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn người dân đẩy nhanh tiến độ trồng rừng; Ban Quản lý Dự án 147 các huyện, thị xã chỉ đạo cán bộ hiện trường thường xuyên bám sát cơ sở, phối hợp với chính quyền địa phương đôn đốc bà con nhân dân, phấn đấu hoàn thành trồng rừng xong trước ngày 30/6/2012. (Theo Backan.gov.vn 25/6)đầu trang(
Cùng với các địa phương khác trong toàn tỉnh, hiện nay, huyện Na Rì đang tích cực chỉ đạo người dân các địa phương trong huyện đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, đảm bảo hoàn thành các diện tích đăng ký theo đúng tiến độ.
Năm 2012, huyện Na Rì có kế hoạch trồng mới 2.140ha rừng theo Dự án 147. Diện tích người dân đăng ký thực hiện đạt 100% kế hoạch. Tổng diện tích thiết kế toàn huyện thực hiện được 2.141,21ha, trong đó 1.965,57ha mỡ và 175,64ha keo. Năm nay, huyện Na Rì thực hiện trồng rừng trên phạm vi 21 xã của toàn địa bàn với hơn 2.400 hộ dân tham gia.
Để chuẩn bị tốt về cây giống, ngay từ đầu vụ, Ban Quản lý Dự án 147 của huyện đã thực hiện theo chỉ đạo chung của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tiếp nhận hạt giống và tổ chức gieo tại 15 vườn ươm trên địa bàn, đồng thời thường xuyên cử cán bộ kỹ thuật hướng dẫn bà con kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây giống, từ khâu đóng bầu, gieo ươm đến đảo bầu… nên chất lượng cây giống tại các vườn ươm đều đảm bảo.
Ông Phạm Tiến Thịnh - Phó Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Na Rì cho biết: Tổng số cây giống sản xuất tại 15 vườn ươm của huyện đạt khoảng 339 vạn cây, đảm bảo cung ứng đủ cho trên 2.140ha đã thiết kế; trong đó, cơ cấu giống chủ yếu vẫn là mỡ và keo. Thời gian qua, Ngành Nông nghiệp huyện đã thẩm định trên 174 vạn cây giống đủ tiêu chuẩn cung ứng cho các địa phương để tiến hành trồng. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng kéo dài làm chết một số lượng cây giống tại các vườn ươm nên để đảm bảo cung ứng kịp thời cây giống cho người dân, ngoài số lượng cây giống đủ điều kiện đã xuất vườn, Ban Quản lý Dự án 147 của huyện đã liên hệ mua một số cây giống tại Trung tâm Giống Cây trồng - Vật nuôi của tỉnh. Tính đến thời điểm này, toàn huyện đã tiến hành trồng mới được trên 1.600ha.
Hiện nay, thời tiết đang diễn biến thuận lợi, là thời điểm thích hợp để các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ trồng rừng. Để đảm bảo công tác trồng rừng năm nay hoàn thành kế hoạch đã đăng ký, huyện Na Rì đã chỉ đạo Ban quản lý Dự án 147 tiếp tục tăng cường tuyên truyền, phổ biến các chế độ chính sách về lâm nghiệp để giúp các hộ dân hiểu đầy đủ về cơ chế hỗ trợ, từ đó tích cực và chủ động trồng rừng theo diện tích đã đăng ký; đồng thời phối hợp tốt với chính quyền địa phương các cấp trong việc triển khai trồng, chăm sóc và bảo vệ các diện tích đã trồng.
Ông Nông Danh Hiển - Phó Chủ tịch UBND huyện Na Rì cho biết: Hiện nay, huyện đang chỉ đạo chính quyền các xã tăng cường công tác kiểm tra, báo cáo, đánh giá thường xuyên, đầy đủ về công tác chăm sóc, kiểm định, cung ứng giống cũng như tiến độ trồng rừng cụ thể tại mỗi xã, thị trấn; đồng thời chỉ đạo cán bộ khuyến nông khuyến lâm tăng cường theo dõi, hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cây giống, kỹ thuật trồng cho tất cả các hộ dân để đảm bảo tỷ lệ cây sống sau khi trồng.
Hiện nay, Ban Quản lý Dự án huyện đang tiếp tục phối hợp với Ngành Nông nghiệp huyện tập trung kiểm định chất lượng cây giống để cung ứng đầy đủ, kịp thời, đảm bảo số lượng và chất lượng cây giống cho người dân. Đối với những cây chưa đủ tiêu chuẩn xuất vườn, Ban Quản lý Dự án đã chỉ đạo các chủ vườn ươm tích cực chăm sóc, để đảm bảo cấp đủ giống cho các diện tích đăng ký trồng.
Ngoài ra, huyện cũng chỉ đạo các địa phương có kế hoạch phối hợp với các tổ chức, đoàn thể địa phương như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội nông dân giúp đỡ những hộ gia đình neo đơn, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn để đảm bảo trồng hết những diện tích đã đăng ký.
Bước vào thời điểm giữa năm, cùng với rất nhiều những nhiệm vụ nặng nề khác, việc hoàn thành kế hoạch trồng rừng theo chỉ tiêu đăng ký là một chỉ tiêu quan trọng mà huyện Na Rì đang phấn đấu hoàn thành. Với sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương, tin tưởng rằng vụ trồng rừng năm nay của huyện Na Rì sẽ hoàn thành kế hoạch và đảm bảo tiến độ, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 của huyện. (Theo Backan .gov.vn 25/6)đầu trang(
Cá rô biển là loại cá có chất lượng thịt ngon, giá trị kinh tế cao. Cá có kích cỡ 100 – 300gram/con, giá bán 180 – 200 ngàn đồng/kg.
Gọi cá rô biển vì dù sống chủ yếu ở nước ngọt, nhưng loại cá này vẫn có thể sống được ở nước lợ vùng cửa sông, ven biển và có hình dáng khác với cá rô đồng. Tuy nhiên, loài cá này đang bị khai thác quá mức.
Lo ngại cá sẽ bị tuyệt chủng, đầu năm 2011, ThS Phan Phương Loan, Bộ môn thủy sản, khoa nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại Học An Giang đã tự bỏ tiền túi bắt tay vào nuôi dưỡng, nghiên cứu và cho sinh sản nhân tạo. Cá rô biển cho sinh sản nhân tạo có tỷ lệ nở đạt từ 75 – 80%, tỷ lệ sống của cá 3 ngày tuổi đạt 83 – 90%.
Hiện ThS Loan đang đăng ký đề tài nghiên cứu khoa học tại Sở KH-CN tỉnh An Giang để hoàn thiện nghiên cứu và đưa vào sản xuất giống cung cấp cho người nuôi.
“Do có khả năng sống ở nước ngọt lẫn nước lợ, nên cá rô biển rất phù hợp nuôi trong điều kiện biến đổi khí hậu, khi sự xâm nhập mặn đang diễn ra”, ThS Loan, nói. (Đất Việt 26/6)đầu trang(
Những năm gần đây, việc thuần hóa, gây nuôi các loại động vật có nguồn gốc từ hoang dã là một nghề còn khá mới lạ với người dân Quảng Bình.
Nhiều người cho đây là một nghề mạo hiểm nên e ngại, không dám nuôi vì sợ rủi ro. Nhưng gia đình chị Nguyễn Thị Thao (sinh năm 1973) ở thôn Chánh Hòa, xã Nam Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) đã mạnh dạn đi đầu, huy động nguồn vốn gần 200 triệu đồng từ gia đình và vay ngân hàng đầu tư xây dựng chuồng trại để nuôi nhím và đã thành công với mô hình này.
Sau nhiều lần nghiên cứu, tìm hiểu về những mô hình chăn nuôi có hiệu quả, vợ chồng chị Thao mạnh dạn đầu tư nuôi nhím. Đầu năm 2007, với số tiền 100 triệu đồng dành dụm được, vợ chồng chị Thao quyết định vay thêm ngân hàng và người thân gần 80 triệu đồng tiến hành quy hoạch, xây dựng trang trại, chia thành những ô riêng biệt với hệ thống chuồng trại khép kín, đúng kĩ thuật.
Từ những con giống ban đầu, đến nay gia đình chị Thao đã có hơn 50 con nhím với 22 nhím cái đang trong thời kỳ sinh sản, 10 nhím đực và 18 nhím con; thu nhập 200-300 triệu đồng/năm từ bán nhím giống. Riêng năm 2011, gia đình chị Thao xuất bán được 15 cặp nhím giống với giá đỉnh điểm có cặp lên đến 40 triệu đồng/cặp, trừ chi phí gia đình chị thu được gần 300 triệu đồng. Sáu tháng đầu năm nay, trang trại nuôi nhím của gia đình chị Thao đã xuất bán được 12 cặp nhím giống con, với giá thị trường 6-7 triệu đồng/cặp, thu hơn 100 triệu đồng .
Là một trong số những gia đình được chị Thao chuyển giao và nhân rộng mô hình nuôi nhím, anh Lê Quang Dũng, thôn Nhân Nam, xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch (Quảng Bình) cho biết: “Trước năm 2009, bản thân tôi cũng như những nam thanh niên ở đây chủ yếu là đi biển hoặc đi xuất khẩu lao động. Nhưng khi biết mô hình nuôi nhím của chị Nguyễn Thị Thao tôi đã đến tìm hiểu và mua 15 con nhím giống từ trang trại của chị về nuôi. Chị Thao rất nhiệt tình chỉ bày cho chúng tôi những kinh ghiệm và kĩ thuật nuôi cũng như xây dựng chuồng trại. Bắt tay vào nuôi nhím tôi thấy công việc này dễ, khỏe và thu nhập ổn định hơn đi biển, nhu cầu thị trường ngày càng mạnh nên bản thân tôi cũng rất yên tâm về đầu ra.”
Chị Thao cho biết, hiện nay, trên thị trường giá cả giống nhím bố mẹ dao động từ 30-40 triệu đồng/cặp, nuôi từ 1 đến 1 năm rưỡi là nhím có thể sinh sản được. Nhím mẹ mỗi năm sinh sản khoảng 2 lần và mỗi lần có thể sinh từ 1 đến 3 con. Nhím lớn nhanh, chỉ 2 tháng tuổi đã nặng từ 2-3.5 kg, sau một năm có thể lên tới 10 kg. Nhím giống con khoảng 2 tuổi có thể xuất bán, với giá từ 6-7 triệu đồng/cặp; từ 3-5 tháng tuổi có giá từ 13-15 triệu đồng/cặp.
Nhím là động vật hoang dã, ăn tạp, có sức đề kháng cao, dễ thích nghi với môi trường, ít bị bệnh. Khi đầu tư xây dựng chuồng trại cần phải thoáng mát, sạch sẽ, thức ăn cho nhím chủ yếu là các loại rau, củ, quả. Một ngày có thể cho nhím ăn 3 lần, nhưng do nhím là loài động vật ăn đêm nên bữa ăn tối là bữa ăn chính. Nhím cũng không nên nuôi quá béo, vì béo quá nhím khó sinh sản được, một chuồng có thể nuôi 2 nhím cái, 1 nhím đực sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. (VietnamPlus.vn 26/6)đầu trang(
28 tuổi đời, 5 năm tuổi đảng, chị Hoàng Thị Yên, cán bộ Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp của huyện Bảo Yên, Lào Cai là một điển hình tiêu biểu được Huyện ủy Bảo Yên khen thưởng về những thành tích trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Chị đã có nhiều đóng góp, tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ khoanh nuôi trên 11.000 ha rừng, đảm bảo nguyên liệu cho kế hoạch sản xuất và chế biến hàng ngàn mét khối ván ép, lo đủ việc làm cho hơn 100 công nhân lao động và hàng nghìn hộ dân gắn bó với nghề rừng.
Chị Hoàng Thị Yên đã nhận thức sâu sắc rằng: "Làm theo Bác không cứ là phải là việc to tát, mà mỗi người phải tự xác định cho mình hoàn thành tốt công việc nhiệm vụ được giao, đem lại lợi ích chính đáng cho tập thể và người dân là hoàn thành tâm nguyện với Người". Nghĩ là làm, từ kiến thức học trong trường và kinh nghiệm tích lũy được qua thực tế lăn lộn gắn bó với rừng, chị Hoàng Thị Yên đã phát hiện một đặc điểm cực kỳ đơn giản nhưng quan trọng đối với sức tái sinh của cây mỡ, thứ cây mà hiện nay lâm trường đang trồng trên 700ha để làm nguyên liệu chế biến gỗ bóc.
Qua theo dõi, chị thấy những cây mỡ mới được khai thác có sự tái sinh từ chồi non quanh gốc rất nhanh. Chị lặng lẽ tỉa bớt mầm yếu, để lại 1, 2 mầm mỗi gốc thấy cây phát triển rất nhanh. Phát kiến này của chị được Ban Giám đốc Công ty đánh giá cao, bởi sau khi khai thác rừng mỡ nếu giữ lại chồi, chu kỳ thứ 2 vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, thậm chí phát triển rất nhanh, giảm được 1/5 chi phí so với trồng mới, rút ngắn 1/2 thời gian tái sinh rừng, làm lợi cho Công ty hàng tỷ đồng.
Là người con của quê hương Bảo Yên, chị rất rõ phong tục của đồng bào mình thường lãng phí thời gian nông nhàn vào những việc không đem lại hiệu quả kinh tế, trong khi rừng nhận khoán 2 năm tuổi trở lên rất cần tu bổ, chăm sóc thì bị bỏ bê. Được chị Hoàng Thị Yên tuyên truyền, vận động, bà con tiếp tục chăm sóc rừng.
Nhờ đó, cây lớn nhanh và rừng cũng được bảo vệ, phát triển tốt hơn do có bàn tay chăm sóc thường xuyên của con người. Địa bàn do chị phụ trách có hàng nghìn hộ nhận khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng với diện tích từ 1 ha trở lên. Nhiều địa phương, ngoài kế hoạch được giao, người dân còn tự bỏ vốn mua cây giống, phân bón để trồng rừng.
Trong vòng 4 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm, huyện Bảo Yên trồng mới từ 2.500 đến trên 3.000 ha rừng, riêng năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012, lâm trường Bảo Yên khoanh nuôi tái sinh và trồng mới trên 3.000 ha rừng, trong đó có 1.200 ha rừng sản xuất, nâng tán che phủ rừng của Bảo Yên đạt 55%, đứng thứ 2 so với 8 huyện, thành phố còn lại trong tỉnh.
Hơn 6 năm gắn bó với rừng, Hoàng Thị Yên đã sớm bộc lộ phẩm chất của người cán bộ tận tụy với công việc, gắn bó với dân, sống chan hòa với đồng nghiệp, giản dị trong phong cách giao tiếp, miệng nói tay làm, chị luôn được quần chúng tin yêu.
Ông Đỗ Văn Dũng, Bí thư Chi bộ, Giám đốc Công ty khẳng định: giao việc cho chị Hoàng Thị Yên, Ban Giám đốc hoàn toàn tin tưởng và yên tâm. "Đồng chí Yên được Chi bộ bình chọn là người đại diện tiêu biểu trong cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là hoàn toàn xứng đáng. Chi bộ chúng tôi rất tự hào vì có nữ đảng viên trẻ được Đảng bộ huyện và tỉnh ghi nhận là một trong những tấm gương tiêu biểu trong học tập và làm theo tấm gương của Bác kính yêu". (Đảng Cộng Sản VN 25/6)đầu trang(
Con cóc này chỉ có hai chân trước và một chân sau mặc dù vậy nó vẫn nhanh nhẹn, vẫn chạy nhảy rất linh hoạt.
Là một người thường xuyên đi rừng để sưu tập gốc cây và đá cảnh, trong một lần gần đây khi đi vào khu vực thủy điện Đankia - Suối Vàng, thuộc xã Đa Long, huyện Lạc Dương, Lâm Đồng, anh Nguyễn Trần Phú Huy tình cờ bắt gặp một con cóc lạ: nó chỉ có ba chân, mặc dù vậy nó vẫn rất nhanh nhẹn, vẫn chạy nhảy rất linh hoạt.
Sau khi bắt về và nuôi thử thì thấy chú cóc vẫn sống và phát triển bình thường. Thức ăn hằng ngày của chú cóc này là một loài sâu nhỏ gọi là sâu gạo hay còn gọi là sâu quy, thường dùng làm thức ăn cho chim cảnh. Có vẻ chú cóc này khá thích thú với món ăn lạ miệng này - anh Huy kể lại.
Cóc ba chân được người Trung Quốc gọi là cóc Thiềm Thừ và xem là biểu tượng rất may mắn. Nó thường được mô tả ngậm đồng tiền xu trong miệng, tượng trưng cho việc cóc mang vàng vào nhà. (Vnexpress.net 26/6)đầu trang(
Hiện nay, hầu hết xác động vật bị chết hoặc bị bắt giữ qua các vụ vận chuyển động vật hoang dã trái phép đều được đưa về Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam làm tiêu bản phục vụ công tác trưng bày. Nhìn những mẫu vật sống động y như thật ít ai biết rằng, phải trải qua rất nhiều công đoạn vất vả và cả độc hại.
Nhân sự kiện voi K’rông bất ngờ chết vào sáng 9-6 tại vườn thú Hà Nội, chúng tôi đã tìm đến Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam tại nhà A20 Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội để tìm hiểu về việc dựng tiêu bản phục vụ trưng bày. Ít ai ngờ, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam nơi đang lưu giữ hàng nghìn mẫu vật về tự nhiên của Việt Nam lại nằm khuất nẻo tại một góc của Viện Khoa học & Công nghệ.
Và cho đến giờ những tiêu bản quý giá của đất nước vẫn đang phải nằm trong 3 nhà kho cũ kỹ của bảo tàng với tổng diện tích chỉ xấp xỉ 100m2. Nhìn những mẫu vật sư tử, gấu, hổ, báo cho tới những mẫu hóa thạch quý hiếm bị xếp chen chúc trong kho mà… buồn. Để chế tác được số lượng mẫu vật như thế này cần rất nhiều thời gian và công sức của các cán bộ khoa học.
Như xác voi K’rông ở vườn thú Hà Nội, theo Tiến sĩ Phạm Văn Lực, Giám đốc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam để chế tác thành hai tiêu bản phải mất khoảng 1 năm và tốn kém cả trăm triệu đồng. Nhưng những con số đó vẫn là quá nhỏ nếu đem so với công sức của cán bộ bảo tàng. Việc chế tác các tiêu bản gồm rất nhiều công đoạn. Với những động vật cỡ lớn như hổ, báo, sư tử, gấu, voi,… phải sử dụng hóa chất để lọc da và xương. Phần da được xử lý hóa chất, tẩy rửa vệ sinh rồi đem đi nhồi, còn phần xương dựng khung trưng bày. Công đoạn khó nhất là phần dựng khuôn để nhồi da. Dựng được một tiêu bản sống động như ngoài tự nhiên không đơn giản. Các nhà khoa học phải quan sát hình thái, dáng điệu, tập tính sinh hoạt kỹ lưỡng mới có thể tạo ra mẫu vật như thật. Từ đó, tạo khuôn của từng bộ phận trên cơ thể mẫu vật, rồi khéo léo lắp lại thành hình hoàn chỉnh. Cuối cùng là phủ lên lớp da đã qua xử lý hóa chất. Phần xương cũng sẽ được dựng thành tiêu bản.
Với những động vật cỡ nhỏ, phần thịt không nhiều, việc chế tác cũng nhẹ nhàng hơn. Nhưng những động vật cỡ lớn như voi K’rông thì những khó khăn nhân lên gấp nghìn lần. Nếu không xử lý hết phần thịt còn sót lại sẽ làm hỏng bộ xương. Chính vì thế khi chế tác phải tỉ mỉ lọc những phần thịt nhỏ nhất còn bám trên xương. Công việc này đòi hỏi sự cẩn trọng, vì những tác động mạnh có thể gây ra sự phá hủy làm mất đi tính đồng nhất hoàn chỉnh khi dựng xương. Sau khi vệ sinh sạch, những đoạn xương sẽ được ghép lại hoàn chỉnh, lúc này việc dùng thuốc bảo quản mới được tiến hành.
Để hoàn thành được những công việc trên, mỗi nhà khoa học của bảo tàng phải nghiên cứu về rất nhiều mặt, từ tạo hình, cấu tạo xương động vật, cách chế tạo khuôn đúc mẫu, đến cách sử dụng chất bảo quản, tẩy rửa. Tuy nhiên, không thể tránh khỏi việc phải thường xuyên tiếp xúc với mùi xác động vật phân hủy. Bảo tàng đã nhiều lần phối hợp với các chuyên gia nước ngoài để đào tạo nguồn lực. Trong đó, chú trọng phần tạo dựng mẫu vật bằng các công nghệ mới, thay thế cho cách làm thủ công lỗi thời và độc hại. Thế nhưng, trong khi chờ công nghệ mới thì đội ngũ cán bộ Bảo tàng Thiên nhiên vẫn ngày ngày tiếp xúc trực tiếp với những hóa chất độc hại.
Hiện lượng mẫu vật do các cơ quan chức năng của Nhà nước thu giữ được từ các vụ săn bắn, buôn bán trái phép, các vườn thú, các cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã vẫn tiếp tục dồn về bảo tàng với số lượng lớn. Kho bảo quản hiện đã không còn chỗ trống. Cả chục tủ bảo quản chuyên dụng đã quá tải, số mẫu vật chồng chất trong kho. Nhưng cho đến nay, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vẫn chưa có chỗ an cư. Ông Phạm Văn Lực- Giám đốc Bảo tàng Thiên nhiên thở dải, nếu không có khu trưng bày và bảo quản mới, rất có thể, sự quá tải trên sẽ làm hỏng những tiêu bản từng được kỳ công chế tác bao năm nay.
Chờ cho đến khi Bảo tàng Thiên nhiên có chỗ an cư hẳn sẽ phải mất nhiều năm nữa. Những cán bộ của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vẫn phải tiếp tục núi công việc trên khu nhà chật chội. Mà chẳng đâu xa, xác voi K’rông vẫn phơi ở ngoài sân Viện Khoa học & Công nghệ. Ai đi qua đường Hoàng Quốc Việt đoạn trước cửa Viện cũng phải “bịt mũi” vì mùi hôi thối theo gió đưa ra. (An Ninh Thủ Đô 26/6)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Tiết trời nóng và hanh khô đã khiến các đám cháy rừng lan khắp bang Colorado (Mỹ) trong ngày 24-6, buộc hàng ngàn người phải rời bỏ nhà cửa lánh nạn.
Theo CNN, khoảng 11.000 người đã sơ tán ở quanh thành phố Colorado Springs sau khi một đám cháy bùng phát ở hẻm núi Waldo khiến hơn 800ha rừng bị thiêu rụi, buộc nhà chức trách ở Colorado Springs và hạt El Paso phải ban bố tình trạng khẩn cấp.
Sunny Smaldino - người phát ngôn Sở cứu hỏa thành phố - cho biết hơn 70 nhân viên cứu hỏa đã lập vành đai chặn lửa ở phía tây thành phố.
Ngoài ra còn có 6 đám cháy khác đang hoành hành ở Colorado. Thống đốc Colorado John Hickenlooper ngày 24-6 cho biết 70 trực thăng và xe bồn đã được điều động tới Colorado để giúp dập lửa.
Theo thống kê ban đầu, đám cháy lớn nhất nằm giữa khu vực Arapaho và rừng quốc gia Roosevelt, bùng phát từ 9-6, phá hủy 33.670ha rừng và thiêu rụi 191 ngôi nhà. Gần 2.000 lính cứu hỏa đã tham gia chống đám cháy này và mới kiểm soát được 45% trong ngày 24-6.
Một đám cháy lớn khác là đám cháy Little Sand trong rừng quốc gia San Juan (miền nam Colorado), thiêu rụi hơn 7.900ha rừng và chỉ mới khống chế được 31% trong ngày 24-6.
Tại tiểu bang Utah gần Colorado, thời tiết khô nóng và gió mạnh cũng thổi bùng ít nhất hai đám cháy rừng trong ngày 24-6… (Tuổi Trẻ 25/6) đầu trang(
25/6, Tân Hoa Xã đưa tin những trận mưa xối xả đã làm ít nhất 16 người chết và ảnh hưởng tới cuộc sống của khoảng 1,5 triệu người tại các tỉnh Quảng Tây, Giang Tây và Quảng Đông của Trung Quốc.
Thiệt hại vật chất ban đầu ước tính khoảng 20,3 triệu USD. Mưa lớn cũng gây ngập lụt trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực Nội Mông ở phía Bắc.
Trong khi đó, cháy rừng lan rộng và kéo dài nhiều ngày qua tại bang Colorado của Mỹ đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của người dân trong vùng, khiến hơn 1.000 hộ gia định phải đi sơ tán.
Theo giới chức địa phương ngày 25/6, đám cháy mới nhất đã bùng phát cuối tuần qua tại công viên quốc gia Waldo Canyon, phía Tây thành phố Colorado Springs, và lan rộng ra phạm vi hơn 1.000 ha rừng.
Các lực lượng cứu hỏa và chính quyền địa phương đã tiến hành sơ tán 1.050 hộ gia đình với khoảng 11.000 người tại đây và các khu vực lân cận để đảm bảo an toàn.
Trong khi đó, tại Ấn Độ, khoảng 15 người đã chết và 24 người bị thương nặng trong một vụ tai nạn đường bộ thảm khốc ở bang Uttar Pradesh.
Tai nạn xảy ra sáng 25/6 khi một xe khách quá tải đi từ thị trấn Hardwar đến huyện Sambal bất ngờ mất lái và đâm vào một gốc cây bên đường. Nguyên nhân tai nạn đang được các cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (VietnamPlus.vn 26/6)đầu trang(
George cô độc, "cụ" rùa Galápagos có thói quen chay tịnh “sex”, sinh vật quý hiếm nhất thế giới, đã qua đời ngày 24.6, "hưởng thọ" hơn 100 tuổi.
George cô độc (tiếng Tây Ban Nha: Solitario Jorge, tiếng Anh: Lonesome George), biệt danh là “gã trai độc thân nổi tiếng nhất họ hàng rùa Galápagos”, nổi tiếng vì thói “chảnh”, tức không cần bất cứ bạn tình nào trong suốt đời sống hơn một thế kỷ.
"Cụ" cũng là thành viên cuối cùng của chi rùa Chelonoidis nigra abingdoni tại La Pinta, một trong những hòn đảo nhỏ nhất thuộc quần đảo Galápagos (quần đảo tuyệt đẹp, thiên đường của động vật hoang dã, thuộc đất nước Ecuador nằm biệt lập ngoài Thái Bình Dương, cách Ecuador tới 600 dặm).
Theo Telegraph, nhà "rùa học" nổi tiếng Fausto Llerena - người đã ở cạnh rùa George suốt 40 năm qua - phát hiện George cô độc lặng lẽ qua đời vào sáng ngày 24.6 tại Công viên Quốc gia Galapagos.
Cụ rùa khổng lồ xứ Galápagos không có con cháu, sau khi nó nhất định không chịu giao phối với bất kỳ rùa cái chi khác họ, bất chấp mọi nỗ lực của nhân viên vườn thú kề từ năm 1993 đến giờ.
Giới chức tại Công viên Quốc gia Galápagos cho biết sẽ giám định pháp y để xác định nguyên nhân tử vong của cụ rùa từ lâu được xem là sinh vật quý hiếm nhất thế giới kể từ khi được phát hiện vào năm 1972 này. (Thanh Niên 26/6)đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa