Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 26 tháng 02 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tội phạm săn bắt, buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) gây ra mối đe dọa đối với đa dạng sinh học, khiến nhiều loài bị tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng.
Liệu có những lỗ hổng trong việc quản lý dẫn đến các đối tượng buôn bán, vận chuyển ĐVHD bất hợp pháp lách luật? Báo Kinh tế & Đô thị đã trao đổi với luật sư Bùi Quang Thu (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) xung quanh vấn đề này.
Bảo vệ ĐVHD quý hiếm là việc quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường nói chung đang được thế giới quan tâm. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về vấn đề này.
Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, các đối tượng nuôi, nhốt, săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép ĐVHD quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của loại động vật đó, thì có thể bị phạt tiền lên đến 500 triệu đồng, bị phạt tù lên đến 7 năm.
Ngoài ra, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng quy định, những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm. Còn theo Luật Đa dạng sinh học, các loài ĐVHD được xem xét đưa vào danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên.
Tuy nhiên, đến nay, việc săn bắt và khai thác động vật quý hiếm vẫn chưa được ngăn chặn. Nhiều giống, loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị tiêu diệt hoặc đang có nguy cơ tuyệt chủng.
Nạn buôn bán ĐVHD được so sánh ngang với tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn bán người. Ttuy nhiên, với quy định của Bộ luật Hình sự 2015, có hiệu lực thi hành từ 1/7/2016, chế tài xử lý nghiêm minh hơn, có tính răn đe cao hơn. Tội phạm ĐVHD được coi là tội phạm rất nghiêm trọng. Vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ có thể bị phạt tù lên đến 15 năm, phạt tiền lên đến 2 tỷ đồng đối với cá nhân.
Trong đó, việc buôn bán, vận chuyển qua biên giới được xác định là một tình tiết định khung tăng nặng. Đặc biệt, lần đầu tiên, Bộ luật Hình sự quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân về tội này.
Theo đó, ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp nhân còn có thể bị phạt tiền lên đến 15 tỷ đồng và/hoặc bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc bị cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định. Ngoài ra, Việt Nam đã ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật điều chỉnh hoạt động phòng chống tội phạm ĐVHD và tương thích với các cam kết quốc tế. (Kinh Tế Và Đô Thị 25/2) đầu trang(
Mặc dù mới có giấy cấp đất giao khoán trồng rừng và chưa được cấp phép phát rừng để trồng rừng ở bán đảo Sơn Trà, nhưng người dân đã ngang nhiên mở đường, phát rừng và dựng cả lán trại gần cả tháng trời mà lực lượng kiểm lâm Sơn Trà không hay biết gì.
Sáng 25-2, lực lượng chức năng quận Sơn Trà (TP Đà Nẵng) đã tiến hành tháo dỡ lán trại xây dựng trái phép ở tiểu khu 62, rừng bán đảo Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) do ông Nguyễn Văn Tâm làm chủ.
Đích thân ông Nguyễn Phú Ban, Giám đốc Sở Nông nghiệp phát triển Nông thôn TP Đà Nẵng đến hiện trường để kiểm tra tình trạng phá rừng và xây dựng lán trại trái phép này. Tại thời điểm lập biên bản, ông Tâm không xuất trình được giấy tờ liên quan đến đất trồng rừng cũng như giấy phép xây dựng công trình lán trại tại tiểu khu 62.
Sau khi tiến hành tháo dỡ, cơ quan chức năng cũng buộc ông Tâm không được xây dựng bất cứ công trình gì trên phần diện tích được giao khoán trồng rừng tại tiểu khu 62, đồng thời di dời toàn bộ vật dụng, vật liệu xây dựng và công nhân lao động làm rừng ra khỏi khu vực rừng.
Theo ghi nhận của phóng viên Báo Người Lao Động, tiểu khu 62 rừng bán đảo Sơn Trà nằm ngay bên đường thảm nhựa vào khu du lịch Bãi Cát Vàng và lực lượng kiểm lâm cũng thường xuyên tuần tra trên các tuyến đường này.
Tuy nhiên, hộ ông Tâm đã thuê công nhân chặt phá rừng, đào đất làm đường gần 400 m vào rừng xây dựng lán trại, từ trước Tết Nguyên đán nhưng lực lượng kiểm lâm không hề hay biết gì.
Quan sát tại hiện trường, chúng tôi nhìn thấy một mảng rừng rộng lớn trải dài gần 400m bị phát trọc, cây cối loại nhỏ bị chặt hạ, nhánh cây phơi khô bỏ ngổn ngang, trông rất thê thảm.
Đặc biệt, việc phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ động vật rất phong phú nơi đây. Trong đó, có voọc ngũ sắc được ghi trong Sách Đỏ của Việt Nam. Con đường đất rộng chừng 2 m cũng bị đào bới đất rừng để làm đường xuống lán trại. Diện tích dựng lán trại rộng gần 50m2, dựng nhà tôn và khung sắt, gỗ và nển lót gạch vỉa hè.
Ông Võ Đình Công, Chủ tịch UBND phường Thọ Quang, bức xúc cho rằng trách nhiệm lớn nhất để người phá rừng, xây dựng lán trại này là lực lượng kiểm lâm không làm tròn trách nhiệm, thơ ơ với công việc bảo vệ rừng.
“Nhà nước bỏ tiền ra trả lương cho hàng chục kiếm lâm bảo vệ rừng ở bán đảo Sơn Trà nhưng để người dân phá rừng gần cả tháng trời mà không phát hiện ra, chi bằng bỏ tiền thuê một người dân đã phát hiện vụ việc này rồi phản ánh với cơ quan chức năng, còn gía trị hơn nhiều”, ông Công  thẳng thắn bộc bạch.
Trong khi đó, ông Trần Văn Thanh, hạt trưởng hạt kiểm lâm Sơn Trà, cũng thừa nhận  rằng  do anh em cán bộ kiểm lâm chủ quan, nghĩ rằng đất rừng này đã giao cho UBND phường quản lý nên lơ là trong kiểm tra.
Sau khi nghe ý kiến của các bên, ông Nguyễn Phú Ban, nhấn mạnh: Vụ việc này phải xử lý đến nơi đến chốn. Ai làm sai, thiếu trách nhiệm phải nhận trách nhiệm chứ không đùn đẩy, đổ lỗi cho nhau. "Vụ này nói kiểm lâm không biết là có vấn đề chứ phá rừng gần cả tháng mà nói không biết sao được"- ông Ban nhấn mạnh.
Ông Ban cũng cho biết thêm hiện nay trên bán đảo Sơn Trà có 2.539 ha rừng nằm trong khu bảo tồn và 1.073 ha đất được UBND TP giao khoán cho dân trồng rừng và các đơn vị xây dựng khu du lịch. Hiện nay, việc giao đất rừng cũng chưa xong nên hết tháng 3 tới, sẽ rà soát làm dứt điểm việc giao rừng  để dễ quản lý, khỏi bị chồng chéo. (Người Lao Động 25/2; Dân Việt 25/2; Tiền Phong 26/2) đầu trang(
Chiều 25.2, ông Võ Đình Công - Chủ tịch UBND phường Thọ Quang (quận Sơn Trà, Đà Nẵng) - cho biết, sau khi tháo dỡ toàn bộ lán trại tại tiểu khu nói trên, phường đã đề nghị các hộ dân này dừng ngay việc trồng và phát rừng, vận chuyển các vận dụng để làm lán trại ra khỏi khu vực trước ngày 26.2.
Ngoài ra, các hộ dân vi phạm phải khắc phục bằng cách trồng cây lại trên con đường đã khai phá theo hướng dẫn của kiểm lâm.
Thừa nhận thiếu giám sát, quản lý nên đã xảy ra tình trạng này nhưng chỉ có ông Phan Văn Khoa (kiểm lâm quản lý địa bàn, thuộc Hạt kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn) bị đề nghị truy cứu thiếu trách nhiệm và kiểm điểm.
Ông Trần Văn Thanh - Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn - nói, 7ha đất rừng trên đã được bàn giao lại cho phường quản lý. Ngược lại, ông Công cho rằng: "Hàng nghìn ha đất rừng tại bán đảo kiểm lâm chỉ mới bàn giao trên một tổng thể, chưa bàn giao chi tiết nên chúng tôi không biết đâu cả. Vì vậy, trách nhiệm chính khi để xảy ra việc này là kiểm lâm. Chúng tôi chỉ có một phần trách nhiệm trong chuyện này thôi".
Trong khi đó, đích thân kiểm tra hiện trạng khu rừng vào sáng 25.2, ông Nguyễn Phú Ban - GĐ Sở NNPTNT Đà Nẵng - gay gắt: "Ai làm sai, thiếu trách nhiệm phải nhận trách nhiệm chứ không đùn đẩy, đổ lỗi cho nhau. Kiểm lâm nói không biết là có vấn đề, phá rừng gần cả tháng mà nói không biết sao được. Tôi đề nghị phải xử lý đến nơi đến chốn trách nhiệm của từng cá nhân".
Ông Thanh cho biết, lực lượng kiểm lâm đang tiến hành đo đạc lại diện tích rừng bị "cạo trọc". Sau khi có kết quả, kiểm lâm sẽ cùng địa phương đưa ra biện pháp xử lý. (Lao Động 25/2) đầu trang(
Vụ việc đêm 20-2, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng chống cháy rừng (Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn) bắt giữ một ô-tô chuyên dụng cứu hộ giao thông vận chuyển gốc cây rừng tự nhiên quý hiếm, khả năng là gù hương khoảng 3,9 khối, giá trị lên tới vài tỷ đồng đang thu hút sự quan tâm của dư luận, đặc biệt là những người buôn bán gỗ. Làm thế nào mà những người có liên quan lại “biến” gốc cây quý hiếm thành gỗ tạp.
Ngày 7-10-2015, Phó Chủ tịch UBND huyện Bạch Thông La Thị Huyền ký Văn bản số 668/UBND-NN về việc xác nhận đăng ký khai thác gỗ tận thu, nêu rõ: “Căn cứ vào hồ sơ xin khai thác gỗ tận thu của chủ rừng Mã Văn Thành ở thôn Lủng Chang, xã Lục Bình, huyện Bạch Thông (Bắc Cạn), UBND huyện Bạch Thông đồng ý cho chủ rừng khai thác gỗ tận thu tại lô 5, khoảng 9, tiểu khu 357 ở thôn Lủng Chang, xã Lục Bình với khối lượng gỗ tròn thương phẩm là 3,38 khối gỗ kháo (nhóm VI) trong thời gian từ ngày 9-10-2015 đến 30-12-2015”.
“Chủ rừng có trách nhiệm khai thác đúng địa danh, diện tích, khối lượng được phê duyệt trong hồ sơ, chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra những vi phạm. Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông, UBND xã Lục Bình có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc khai thác gỗ, phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi vi phạm quy định về khai thác gỗ của chủ rừng, xử lý các sai phạm theo quy định của pháp luật” - Văn bản 668/UBND-NN của UBND huyện Bạch Thông yêu cầu.
Tuy nhiên, trên thực tế, chủ rừng là ông Mã Văn Thành lại không thực hiện đúng chính hồ sơ xin khai thác gỗ do mình lập và không chấp hành Văn bản 668 của UBND huyện Bạch Thông là khai thác tận thu gỗ tròn mà lại đi khai thác gốc cây.
Đáng chú ý, cán bộ kiểm lâm, lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Bạch Thông, UBND xã Lục Bình đồng tình với việc làm sai trái của ông Mã Văn Thành, bằng cách: Xác nhận vào bảng kê lâm sản, biên bản kiểm tra thực tế, thậm chí đóng cả dấu búa kiểm lâm vào lâm sản được khai thác không đúng với hồ sơ.
Để khai thác và vận chuyển được gốc cây rừng có đường kính hơn bốn mét, cao khoảng hai mét này, chủ rừng và những người có liên quan mất nhiều ngày đào đất chung quanh gốc cây, dùng máy cẩu lên ô-tô chuyên dùng cứu hộ, san lấp đường vận chuyển từ rừng xuống đường giao thông, vận chuyển đi tiêu thụ vào đêm khuya ngày 20-2-2015. Những hành động trên cho thấy, chủ rừng và những người có liên quan biết giá trị lớn của gốc cây này.
Khi bắt giữ gốc cây rừng có hình thù rất phức tạp nêu trên đang được vận chuyển đi tiêu thụ, cán bộ kiểm lâm phát hiện hồ sơ và thực tế gỗ vận chuyển trên ô-tô không khớp nhau, UBND huyện Bạch Thông cấp cho chủ rừng khai thác gỗ tròn, gỗ tạp, nhưng thực tế là gốc cây rừng lớn, tỏa ra hương thơm của dầu gù hương, nghi là gốc cây gù hương, loài gỗ quý hiếm nhóm IIa, hạn chế khai thác, sử dụng, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn mới có quyền cấp phép khai thác, sử dụng.
Nhiều người chuyên buôn bán lâm sản trên địa bàn tỉnh Bắc Cạn khẳng định đây là gốc cây gù hương, có giá trị nhiều tỷ đồng, vì nó không những là loại gỗ quý hiếm, mà còn là gốc cây nguyên khối nên rất có giá trị đối với những người chơi đồ gỗ mỹ nghệ.
Chi cục Trưởng Kiểm lâm Bắc Cạn Hoàng Văn Hải cho rằng: “Khi đứng gần, gốc cây tỏa ra hương thơm ngát của dầu gù hương nên đây gần như chắc chắn là gốc cây gù hương”. Tuy nhiên, để có cơ sở khoa học xác định loại gỗ, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đã lấy mẫu đưa đến Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam giám định, khi có kết quả sẽ lấy đó làm cơ sở pháp lý xử lý vụ việc.
Ông Hải cũng cho biết: Vụ việc sẽ sớm được làm rõ, là gốc cây quý hiếm sẽ bị tịch thu, những kiểm lâm có liên quan đến sai phạm trong vụ việc này sẽ bị xử lý nghiêm. (Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Thiếu đất sản xuất, dù nhận tiền giữ rừng nhưng người dân lại đi khai thác gỗ trái phép ngay diện tích rừng do chính gia đình mình bảo vệ.
Mỗi năm, tỉnh Quảng Nam chi 2,5 tỷ đồng cho người dân bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn. Tiền đã chi trả song rừng vẫn bị thảm sát. Những vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng này có sự tiếp tay của người được giao khoán bảo vệ rừng.
Khi triển khai dự án thủy điện Sông Tranh 2, tỉnh Quảng Nam đã tái định cư hơn 200 hộ dân xã Trà Bui ngay vùng lõi của rừng phòng hộ này. Đây là một trong những nguyên nhân rừng bị xâm hại. Thiếu đất sản xuất, dù nhận tiền giữ rừng nhưng người dân lại đi khai thác gỗ trái phép ngay diện tích rừng do chính gia đình mình bảo vệ.
Nguyên nhân mất rừng do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh làm chủ rừng đã hợp đồng giao khoán sai đối tượng. Cụ thể, trong danh sách hàng trăm cá nhân nhận khoán tại xã Trà Bui có nhiều người già yếu, thương tật bẩm sinh.
Ban quản lý không giám sát việc tuần tra, chia phiên bảo vệ rừng; không có nhật ký bảo vệ rừng cụ thể. Sơ kết mới đây, chính quyền địa phương cho rằng, việc giao khoán bảo vệ rừng thời gian qua không hiệu quả. Sự thiếu trách nhiệm của Ban quản lý rừng và cả các nhóm hộ dẫn đến Nhà nước mất tiền và mất luôn cả tài nguyên rừng.
Quảng Nam đã giao khoán bảo vệ rừng đến từng nhóm hộ gia đình với tổng diện tích gần 300.000ha (tương đương 72% diện tích rừng tự nhiên toàn tỉnh). Tỉnh này cũng đã giải ngân hơn 100 tỷ đồng cho các chủ rừng, người dân. Khoán bảo vệ rừng là chủ trương thiết thực song để giữ bình yên tài nguyên rừng không thể khoán trắng cho dân bởi thù lao chỉ 200.000 đồng/ha/năm. (Đài Truyền Hình Việt Nam 25/2) đầu trang(
Chiều hôm 25-2, cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Nam cho biết đã thực hiện lệnh tạm giam đối với ông Nguyễn Cường, Phó Giám đốc BQL rừng phòng hộ Đăk Mi, để điều tra về hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ.
Theo hồ sơ vụ việc, kể từ tháng 10-2013 đến giữa tháng 4-2014, phía BQL rừng phòng hộ Đăk Mi (huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam) đã nhiều lần tổ chức kiểm tra hành vi khai thác gỗ lậu xảy ra trên địa bàn. Trong những lần kiểm tra trên, phía đơn vị này đã tạm giữ gần 50 m3 gỗ của lâm tặc khai thác trong khu vực được bảo vệ.
Tuy nhiên, theo quy định thì số gỗ thu được phải chuyển lên cho cơ quan chức năng xử lý nhưng vị phó giám đốc này đã chỉ đạo không chuyển cho cơ quan cấp trên xử lý số gỗ trên mà tự ý bán cho một số cá nhân để lấy tiền. Theo ước tính, số tiền mà ông Cường thu được từ việc bán số gỗ trên là hơn 250 triệu đồng. Đồng thời, phía cơ quan điều tra cũng đã khám xét nơi ở của ông Cường và thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến vụ việc.
Được biết ở địa bàn Quảng Nam, tình trạng khai thác gỗ lậu xảy ra thường xuyên. Tuy nhiên, nhiều cán bộ trong BQL bảo vệ rừng vẫn chưa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong quá trình thi hành nhiệm vụ dẫn đến thất thoát tang vật. Trước đó, ông Phan Văn Dự (Phó đội Quản lý rừng cơ động Sông Tranh, huyện Bắc Trà My, Quảng Nam) và hai nhân viên cũng có hành vi sai phạm tương tự và bị đình chỉ công tác để phục vụ điều tra. (Pháp Luật TP.HCM 25/2; Năng Lượng Mới 25/2) đầu trang(
Các cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau đang khó xử với đàn khỉ hiện “cát cứ” trên đảo Hòn Khoai, huyện Ngọc Hiển.
Đàn khỉ (được cho là hàng ngàn con) do một doanh nghiệp được phép thả nuôi thí điểm trên hòn đảo này cách nay hơn năm năm để phục vụ du lịch. Tuy nhiên, khi lãnh đạo tỉnh có công văn yêu cầu thu hồi đàn khỉ thì vấn đề gần như nan giải, bởi khó lòng bắt được số lượng khỉ quá lớn trong môi trường hoang dã.
“Mấy bữa trước nhà thằng T. nấu cơm chưa kịp ăn thì cả bầy khỉ kéo đến rinh nguyên nồi cơm ra rừng. Tụi nó vừa đi vừa bốc cơm ăn thấy mắc cười lắm” - bà N., sinh sống trên đảo Hòn Khoai, kể về tình trạng bầy khỉ đang quậy tưng trên hòn đảo được xem là lớn và hoang sơ nhất tỉnh Cà Mau này.
“Mình đuổi theo thì nó chạy, đứng lại thì nó cũng đứng lại. Mình nhảy thì nó nhảy, vừa tức mà vừa thương” - chị T., bán hàng nước gần cảng Hòn Khoai, nói bầy khỉ có mặt trên đảo rất đông. Chúng hay “phục kích” trên các tán cây ở mé rừng để theo dõi động tĩnh của chủ nhà mà quậy phá.
Không chỉ khu vực cảng Hòn Khoai mà hầu như nhiều nơi trên đảo đều bị khỉ đến quấy phá. Anh Nguyễn Đình Tùng, cán bộ công tác tại trạm hải đăng trên đỉnh Hòn Khoai, cho biết nhiều lúc anh em tại trạm phải luân phiên canh phòng bầy khỉ vào trộm phá.
Các cán bộ trên trạm hải đăng Hòn Khoai kể không thể cứ phải thức canh bầy khỉ, đơn vị này tăng cường thêm chó để làm cảnh giới trước “giặc” khỉ. Không ngờ thừa lúc không có người chú ý, bầy khỉ đã dụ đám chó ra rừng và... ẵm một con kéo lên cây cao rồi thả xuống.
Từ đó, đám chó lại đâm ra “ngán” bầy khỉ mưu mẹo. Được thế, khỉ lại ngày càng tiến sâu vào khu sinh hoạt của anh em trạm hải đăng. “Nó canh mình, mình canh nó. Mình đi ngủ là nó vô trộm chẳng chừa thứ gì, từ dầu ăn, nước mắm đến quần áo cũng bị chúng lục tứ tung...” - anh Tùng kể. Mấy tháng trước, bầy khỉ vào bẻ mận dưới chân tháp hải đăng, bị rượt đuổi khỉ mẹ làm rơi khỉ con lại rồi tháo chạy vào rừng.
“Nhiều lúc mình nghĩ bắt được sẽ đánh cho một trận. Nhưng lúc bắt được nhìn mặt nó thấy tội nghiệp rồi lại thôi” - một cán bộ đồn biên phòng 700 đóng chân trên đảo Hòn Khoai nói. Doanh trại này cũng không ít lần bị khỉ kéo vào phá phách.
Vườn rau, cây ăn trái trồng chưa kịp ăn là bị bầy khỉ đến bình địa. Ban đầu chúng rất dạn dĩ khi “xông pha” vào phá phách nơi ở của con người, nhưng khi một vài con trong đàn bị bắt nhốt để “thị uy” thì đàn khỉ trở nên dè dặt để đối phó.
Thiếu tá Đoàn Minh Hoàng (đồn biên phòng 700) kể không chỉ rau màu, cây trái bị khỉ phá, mà ngay cả gà vịt đẻ trứng cũng bị chúng vào ăn cắp. “Mình thấy nó cặp nách trứng gà vừa thấy giận nhưng cũng thấy tội nghiệp. Có lẽ khỉ đói quá nên buộc phải đi ăn cắp chứ không còn cách nào khác” - ông Hoàng kể.
Tháng 9-2009, UBND tỉnh Cà Mau có công văn chấp thuận cho Công ty TNHH Hải Đăng (Công ty Hải Đăng) thực hiện dự án đầu tư du lịch sinh thái, kết hợp gây nuôi động vật hoang dã và vườn thú du lịch trên cụm đảo Hòn Khoai phục vụ du khách trong và ngoài nước.
Theo tinh thần chủ trương này, Công ty Hải Đăng được phép thả một số loài động vật về môi trường hoang dã trên cụm đảo này, phù hợp với môi trường sinh thái và quy hoạch của tỉnh. Theo biên bản kiểm tra của Hạt kiểm lâm Hòn Khoai hồi tháng 5-2010, số khỉ đuôi dài mà Công ty Hải Đăng thả nuôi thí điểm tại Hòn Khoai là 2.840 con, trong đó có 256 khỉ đực.
Trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ, ông Trần Quý, giám đốc Công ty Hải Đăng, cho biết hiện tại số lượng khỉ trên đảo Hòn Khoai còn ít nhất trên 1.000 con, chưa kể số khỉ sinh sản sau thời gian thả ra môi trường hoang dã.
Ông Lê Văn Hải, chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, cho biết do lo ngại ô nhiễm môi trường, tháng 7-2013 UBND tỉnh Cà Mau đã yêu cầu Công ty Hải Đăng kết thúc việc nuôi thí điểm và thu gom, di dời đàn khỉ ra khỏi đảo Hòn Khoai.
Ông Trần Quý cho biết Công ty Hải Đăng đã tổ chức đặt bẫy để bắt khỉ trên đảo Hòn Khoai dời qua đảo Hòn Sao gần đó không có người ở. Tuy nhiên, vất vả lắm cũng chỉ bắt được vài chục con, vì sau khi tốp khỉ đầu tiên bị sa bẫy, số khỉ còn lại rút vào rừng sâu và không bị mắc bẫy nữa.
Việc thu gom trên 1.000 con khỉ tại Hòn Khoai vì vậy đã không được tiếp tục. Cũng theo ông Quý, việc duy trì đàn khỉ trên đảo sẽ rất tốt khi triển khai xây dựng dự án du lịch sinh thái ở đảo Hòn Khoai.
Ông Hải cho biết thêm tháng 8-2015, UBND tỉnh Cà Mau một lần nữa có văn bản nhắc nhở Công ty Hải Đăng tiếp tục thu gom dứt điểm đàn khỉ trong quý 3-2015. Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cũng mời ông Trần Quý đến cam kết tìm mọi biện pháp thu gom dứt điểm số lượng khỉ còn lại trên đảo. Tuy nhiên, việc thu gom không đạt hiệu quả.
Một cán bộ đồn biên phòng 700 Hòn Khoai cho biết từ khi có con khỉ đầu tiên bị đặt bẫy bắt, đàn khỉ rút vào rừng. Khi đói, mỗi đàn chỉ “cử” một con khỉ đầu đàn tiếp cận với nơi sống của con người để trinh sát. Nếu không có động tĩnh thì từng tốp khỉ mới kéo đến tìm thức ăn.
Thiếu tá Hoàng cho rằng từ khi đàn khỉ có mặt trên Hòn Khoai, các cơ quan đứng chân trên đảo có “phiền phức” hơn nhưng cũng vui vui. Theo ông Hoàng, nên duy trì số lượng khỉ ở đảo trên cơ sở bảo đảm cân đối nguồn thức ăn.
Vì số lượng khỉ trên đảo quá đông so với diện tích trên 4km2 của cụm đảo Hòn Khoai nên việc khan hiếm nguồn thức ăn cho khỉ là không tránh khỏi.
Trong hoàn cảnh đó, khi việc thu hồi đàn khỉ gần như nan giải thì sự sinh sôi của chúng khiến đàn khỉ vốn đã khổng lồ càng thêm đông đúc. Dĩ nhiên khi đói, theo bản năng, chúng lại tìm đến nơi ở của con người.
Anh Nguyễn Đình Tùng, cán bộ công tác tại trạm hải đăng trên đỉnh Hòn Khoai, kể từ lúc tóm được khỉ con, anh em hải đăng lại phải… nhường khẩu phần ăn cho nó.
“Mấy tháng nay con khỉ này uống của tụi tui mấy thùng sữa rồi”, nách con khỉ đang uốn éo trên tay, Tùng nói anh em hải đăng nuôi được con khỉ đâm ra lại… đỡ buồn. Bầy khỉ thấy có một con bị bắt thì cũng “tâm trạng”, không dám táo tợn đột nhập vào khu nhà như trước. (Tuổi Trẻ 25/2) đầu trang(
Bạc Liêu đang trải qua những tháng ngày khô hạn, xâm nhập mặn nghiêm trọng. Dự báo sang đầu tháng 3, gần 130ha rừng Vườn chim Bạc Liêu sẽ đối mặt với khả năng xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, do được tạo điều kiện thuận lợi, chủ động, nguy cơ cháy rừng cũng giảm thiểu…
Trước Tết Nguyên đán, Ban quản lý Vườn chim Bạc Liêu phối hợp nhiều đơn vị, địa phương thực tập phương án chữa cháy rừng năm 2016. Cơ quan chuyên môn đánh giá cao về chất lượng, các lực lượng tham gia tích cực, phối hợp nhịp nhàng, thao tác nhanh, tạo được thế chủ động trong công tác chữa cháy rừng trong mọi tình huống. Thời điểm đó, không khí lạnh tràn về nên khu rừng được dự báo cháy rừng cấp III - cấp có khả năng xảy ra cháy rừng.
Nhưng chỉ còn ít ngày nữa, mức dự báo cháy sẽ lên cấp IV - có khả năng cháy rừng lớn và lan nhanh, bởi nhiệt độ trong rừng sẽ đạt 33 - 34oC, độ ẩm chỉ còn khoảng 50 - 60%, cộng với gió khô hanh. Thời tiết cực đoan sẽ còn kéo dài bởi hiện tượng El Nino.
Dù vậy, ông Trần Bình Lộc - Giám đốc Ban quản lý Vườn chim (Sở NN&PTNT Bạc Liêu) vẫn lạc quan khẳng định: “Năm nay phòng cháy “ngon” nhất”. Để chứng minh cho nhận định này, ông dẫn chúng tôi đi xem một số hạng mục công trình phục vụ phòng cháy, chữa cháy vừa đưa vào sử dụng. Có 500m lộ trục chính và 4.600m lộ bờ bao và các chốt bảo vệ rừng trị giá 6 tỷ đồng đã hoàn thành.
Các hạng mục do Sở VH-TT&DL đầu tư này đã làm giảm vật liệu cháy bìa rừng, tiện cho việc tuần tra, xử lý khi có sự cố. Còn sở chủ quản cũng đã nạo vét xong khoảng 600m kênh mương nội đồng và 4 kênh xương cá nên việc cấp, thoát nước dễ dàng. Tranh thủ triều cường, Ban quản lý lấy nước dự trữ để tăng độ ẩm, làm giảm nguy cơ cháy rừng. Năm nay, tiếp tục nạo vét các kênh xương cá còn lại, tổng vốn 600 triệu đồng.
Bên cạnh những thuận lợi khách quan đó, Ban quản lý Vườn chim đã chủ động thực hiện nhiều biện pháp khác để phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR). Một tổ đo cấp dự báo cháy rừng đã được lập, phối hợp với Trạm Kiểm lâm Vườn chim thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình thời tiết và đo cấp dự báo cháy rừng, báo cáo kịp thời về Ban chỉ đạo PCCCR tỉnh, Sở NN&PTNT. Bố trí 5 máy chữa cháy chuyên dụng cho 5 tổ trực ở nơi có nguy cơ cháy cao và vùng lõi (vùng chim sinh sản).
Lịch trực của lực lượng Vườn chim và Kiểm lâm luân phiên 24/24 cũng đã có. Từ 9 - 17 giờ hằng ngày, hai lực lượng sẽ lên thang quan sát; còn mỗi tuần thì đi tuần tra vùng đệm một lần.
Nói về vùng đệm, lãnh đạo Ban quản lý Vườn chim cũng tỏ ra phấn khởi, cho biết ý thức bảo vệ vườn chim của người dân sống nơi đây đã tốt hơn. Cả năm 2015 không xảy ra trường hợp xâm nhập rừng trộm chim, đốt lửa sát bờ bao nào.
Có kết quả đó là do Ban quản lý đã chỉ đạo Chi đoàn Vườn chim cùng đoàn viên khóm Kinh Tế (phường Nhà Mát) và đoàn viên ấp 16, ấp 17 (xã Vĩnh Hậu A, huyện Hòa Bình) tổ chức các đợt phát tờ bướm, ký cam kết không đốt lửa xung quanh vùng đệm và triển khai các văn bản cấp trên về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR cho khoảng 200 hộ dân sống quanh vùng đệm vườn chim.
Rõ ràng, với những thuận lợi và sự chủ động của đơn vị quản lý sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ xảy ra cháy, dù phải đối mặt sự khắc nghiệt của thời tiết mỗi năm càng gay gắt. (Báo Bạc Liêu 24/2) đầu trang(
Tổng diện tích đất có rừng của huyện Chư Pah (Gia Lai)  là hơn 30.471 ha. Qua khảo sát, trong 4.511 ha rừng trồng trên địa bàn huyện có hơn 70% diện tích rừng dễ cháy, tập trung tại các xã: Hòa Phú, Chư Đăng Ya, Chư Jôr, Ia Kreng, Đak Tơ Ver, Hà Tây, Ia Khươl và thị trấn Phú Hòa…
Để chủ động phòng chống-cháy rừng, huyện Chư Pah đã chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể, địa phương tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và triển khai nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô.
Theo đó, huyện đã kiện toàn Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng, PCCCR và phân công nhiệm vụ cho các thành viên; tổ chức triển khai họp thôn, làng, ký cam kết; kiểm tra, thống kê nương rẫy ở các xã, các khu vực trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao… sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia chữa cháy. Đồng thời, các chủ rừng tích cực tổ chức tuyên truyền tới người dân về công tác phòng-chống cháy rừng, tổ chức tuần tra khu vực trọng điểm dễ cháy.
Nhờ sẵn sàng và chủ động phòng-chống cháy rừng, lực lượng chức năng đã khống chế kịp thời 2 điểm cháy rừng. Cụ thể, vào ngày 8-2 (mùng 1 Tết Nguyên đán), tại khu vực rừng trồng thuộc tiểu khu 229 (Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ) xuất hiện 1 điểm cháy rừng, lực lượng bảo vệ rừng phát hiện kịp thời và dập tắt, không xảy ra thiệt hại rừng. Đến ngày 17-2, tại tiểu khu 249 (Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ) lại xảy ra điểm cháy và được dập tắt kịp thời.
Ông Trương Văn Nam-Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Chư Pah cho biết: Đến thời điểm này trên địa bàn huyện, các đơn vị chủ rừng đã làm tốt công tác PCCCR. Ngay vào đầu mùa khô chúng tôi đã chuẩn bị phương án phòng-chống cháy rừng và phương án chữa cháy rừng, 80% diện tích rừng trồng trên địa bàn được phát dọn, đốt trước và bố trí trực gác 24/24 giờ, hạn chế thấp nhất việc xảy ra cháy rừng.
Được biết, nguyên nhân xảy ra các vụ cháy rừng trong những năm qua chủ yếu do sự thiếu ý thức của con người như: đốt nương làm rẫy để cháy lây lan; vào rừng đốt lửa nấu ăn, sinh hoạt, đốt lửa trong rừng để săn bắn chim thú, đốt than, đốt cỏ lấy đất sản xuất hoặc lấy cỏ non để chăn thả gia súc...
Để tránh tình trạng này, Hạt Kiểm lâm huyện đã tăng cường công tác kiểm tra, điều tra các vi phạm về công tác phòng-chống cháy rừng, truy quét nạn khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép và nạn phá rừng làm nương rẫy trên địa bàn toàn huyện; thành lập đội phòng-chống cháy rừng tại các thôn, làng ứng cứu nhanh và kịp thời nếu xảy ra cháy rừng. Lực lượng Kiểm lâm huyện cũng sẽ tập trung tuần tra, kiểm tra vào thời gian cao điểm mùa khô tại các vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy cao. (Báo Gia Lai 25/2) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có tổng diện tích tự nhiên 5.105,4 ha, trong đó có 4.851,43 ha là đất rừng nằm trên địa bàn 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.
Độ cao lớn nhất là 1.349 m (đỉnh Pu Canh), độ cao trung bình là 900 m, độ cao thấp nhất là 300 m so với mặt nước biển. Độ dốc bình quân trên 300, chiều dài sườn dốc 1000 – 2000 m, hiểm trở, đi lại rất khó khăn.
Đồng chí Nguyễn Hồng Quân, Trưởng Ban Quản lý Khu bảo tồn Thiên nhiên Phu Canh cho biết: Với những khó khăn như vậy trong những năm qua, Ban quản lý xác định việc phòng – chống cháy rừng dựa vào 4 tại chỗ.
Trước tiên điều tra, xác minh hiện trạng tài nguyên rừng và quá trình tổ chức thi công các công trình lâm sinh xác định trọng điểm xảy ra dễ cháy rừng để xây dựng phương án phòng cháy phù hợp. Xây dựng các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng tại cơ sở các xã xóm, thường xuyên có mặt trực 24/24 giờ vào mùa hanh khô.
Các tổ, đội này có từ 8 – 20 người được học tập, huấn luyện, được trang bị các dụng cụ, phương tiện tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của cháy rừng và địa hình ở từng khu vực để trang bị các phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng. Cán bộ kiểm lâm địa bàn là người theo dõi, hướng dẫn hoạt động của các tổ, đội này. Xây dựng công trình Phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) như băng cản lửa, xây dựng chòi canh, gác lửa rừng.
Trong khu bảo tồn xây dựng được 4 chòi (mỗi xã 01 chòi). Địa điểm đặt chòi phải đảm bảo được tầm nhìn xa nhất và có tính bao quát. Thực hiện các biện pháp làm giảm vật liệu cháy như đốt trước có điều kiện, vệ sinh rừng bằng cách chặt bỏ cây sâu, bệnh, chặt nuôi dưỡng, tỉa cành và thu dọn vật liệu cháy đem ra ngoài khu vực rừng có nguy cơ cháy cao và cháy lan.
Kết hợp việc chăm sóc, chặt tu bổ với việc thu dọn cành nhánh, loại bỏ các cây già cỗi, cong queo, sâu bệnh, cây chết đứng, gió đổ vào mùa khô. Chăn thả gia súc cũng là biện pháp làm giảm vật liệu cháy ở những khu rừng trảng cỏ, cây bụi hoặc rừng trồng có nhiều cỏ tranh…kết hợp việc chăn thả gia súc như trâu, bò…
Thành lập Ban chỉ đạo về phòng – chống cháy rừng và thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các cơ sở về việc thực hiện công tác PCCCR. Tuyên truyền phổ biến những quy định về PCCCR, thông báo kịp thời về các thông tin về lửa rừng và cấp dự báo cháy rừng về từng xã.
Có quy định về trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng, sinh hoạt định kỳ và báo cáo tình hình PCCCR đều đặn lên cấp trên. Duy trì đảm bảo thông tin liên lạc trong suốt mùa cháy, việc tiếp nhận thông tin có thể bằng điện thoại hoặc người đưa tin… Ban chỉ đạo PCCCR ở từng xã nắm được, chủ động đề ra các biện pháp tổ chức phòng – chống và ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra.
Ở các khu vực rừng dễ cháy, xây dựng bảng quy ước bảo vệ rừng, PCCCR, các biển cấm lửa. Các biển này được đóng ở nơi dễ thấy, dễ dọc, nội quy ngắn gọn dễ hiểu. Hàng năm được kiểm tra bổ sung, thay đổi nội dung cho phong phú và phù hợp với các nội dung tuyên truyền. Các biện pháp tuyên truyền cần linh hoạt, không gò bó có thể tuyên truyền ở nơi đông người như trước giờ chiếu phim, trước giờ họp ở các lớp học…
Ngoài ra còn được tuyên truyền ở từng gia đình, từng hộ sống trong và ven rừng. Thời kỳ cao điểm cháy rừng dễ xảy ra tuyên truyền bằng mọi hình thức, trên mọi phương tiện có thể như: đài, vô tuyến, loa phóng thanh, trên các phương tiện giao thông đi lại…
Ngoài công tác phòng – chống cháy rừng, Ban quản lý cũng đã tạo điều kiện an sinh cho các hộ sống từ rừng khu bảo tồn. Bằng nguồn vốn dự án 661 trong các năm qua nhân dân trong 4 xã đã tích cực phát triển sản xuất lâm nghiệp. Đã nhận khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng hiện có. Trồng mới rừng phòng hộ trên 837 ha, trong đó có 364 ha rừng luồng là loài cây vừa phát huy hiệu quả kinh tế của 2 xã Đồng Chum và Đồng Ruộng tạo điều kiện an sinh xã hội và bảo vệ rừng. (Môi Trường Và Đời Sống 24/2) đầu trang(
Chính quyền huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam đang lập hồ sơ, trình Chính phủ xin cơ chế bảo vệ đặc biệt khu rừng lim còn lại.
Huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam hiện chỉ còn duy nhất một quần thể rừng lim, nhưng cũng đang bị lâm tặc đe dọa tàn phá. Trước thực trạng này, chính quyền huyện đang lập hồ sơ, trình Chính phủ xin cơ chế bảo vệ đặc biệt khu rừng này.
Quần thể rừng lim nằm giáp ranh với huyện Nam Giang và ở ngay khu vực thượng nguồn các hồ thủy điện trên tuyến sông Bung. Việc bảo vệ khu rừng rất khó khăn khi thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ phá rừng có tổ chức, có quy mô lớn tại cánh rừng này.
Liên tiếp trong những ngày qua, huyện Tây Giang đã tổ chức đội liên ngành vào tận cội rừng để kiểm tra, đánh số, lập hồ sơ về quần thể thiết lim ở đây. Đây là cơ sở để địa phương trình Chính phủ, xin cơ chế bảo vệ đặc biệt cánh rừng lim duy nhất còn lại ở miền Trung. (Đài Truyền Hình Việt Nam 25/2) đầu trang(
Vào cuối tháng 2/2014, UBND tỉnh Long An đã phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Vườn thú Mỹ Quỳnh tại xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa (cách trung tâm Sài Gòn khoảng 30 km) do Công ty Cổ phần Vườn thú Mỹ Quỳnh làm chủ đầu tư.
Quy mô vốn đầu tư của dự án dự kiến là 280 tỷ đồng. Dự án bắt đầu từ năm 2012 và dự kiến khai trương vào năm 2017.
Theo quy hoạch này, Vườn thú Mỹ Quỳnh là mô hình công viên giải trí du lịch sinh thái tổ chức nuôi dưỡng, trưng bày nhân giống các loài động thực vật trong nước và các nước trên thế giới.
Khu vườn thú phân ra 3 khu lớn gồm: đảo tê giác và chim; khu họ mèo lớn, gấu và bò sát và khu thú móng guốc.
Trên website, Vườn thú Mỹ Quỳnh định hướng sẽ là khu Safari đầu tiên ở Việt Nam được tổ chức và quản lý theo mô hình quốc tế với hơn 3.000 động vật hoang dã đến từ châu Phi, Việt Nam và các nước khác.
Khi đến đây, du khách sẽ trải nghiệm cảm giác phiêu lưu kỳ thú khi đi xe địa hình và tham quan các con thú được thả rông theo đúng môi trường hoang dã châu Phi thực tế...
Theo giấy phép kinh doanh, Công ty Cổ phần Vườn thú Mỹ Quỳnh có vốn điều lệ là 100 tỉ đồng do ông Lâm Phúc Hoành - một doanh nhân gốc Quảng Ngãi là người đại diện theo pháp luật. (Cafebiz 25/2) đầu trang(
Ngày 24/2, bác sĩ Lê Văn Khen - Khoa ngoại, Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Cà Mau, cho biết sức khỏe của bé Trần Khánh Tài, 4 tuổi, ngụ xã Tắc Vân, TP Cà Mau (tỉnh Cà Mau) đã ổn định.
Tuy nhiên, bé Tài vẫn phải nằm viện để bệnh viện tiếp tục theo dõi.
Theo hồ sơ của Bệnh viện Sản – Nhi tỉnh Cà Mau, bé Trần Khánh Tài được người nhà đưa đến bệnh viện cấp cứu vào khoảng 15 giờ ngày 21/2. Khi đó, bé đang trong tình trạng bị thương nhiều vết ở cẳng tay phải. Sau khi khám hội chẩn, các bác sĩ của bệnh viện đã khẩn trương tiến hành phẫu thuật. Thật may khi cháu Tài chỉ bị thương ở phần mềm và đứt gân gấp cổ tay.
Theo lời kể của mẹ bé Tài - chị Trịnh Thị Bé, xế chiều ngày 21/2, sau khi cho cá sấu ăn, anh của chị dọn chuồng. Khi đó, bé Tài đang chơi gần bên nhưng thấy ống nước cậu dẫn nước rửa chuồng thì chạy lại lấy liền bị con cá sấu nằm gần đó hả họng, cắn phập vào tay. “Nếu anh tôi không hay kịp giành lấy con tôi, mà cháu té luôn vào chuồng cá sấu thì tôi không biết chuyện gì xảy ra nữa” – giọng chị Bé vẫn chưa hết lo lắng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 24/2; Công An TP.HCM 25/2) đầu trang(
Theo kết quả đánh giá hiện trạng bảo tồn của 15 loài cây lá kim trên địa bàn Tây Nguyên của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam vừa công bố, trong số 7 loài cây lá kim có nguy cơ tuyệt chủng cao vì mức độ suy giảm nguồn gen và khả năng tái sinh hạt tự nhiên thấp, Lâm Đồng có ba loài là Đỉnh Tùng, Thông Đà Lạt và Bách xanh núi đất cần chú ý ưu tiên bảo tồn ngay.
Trong đó, Đỉnh Tùng hiện chỉ có hai quần thể ở Lâm Đồng và đều có tính đa dạng di truyền tương đối cao nhưng lại quá nhỏ về kích thước (không quá 20 cá thể/quần thể). Loài Thông Đà Lạt còn sáu quần thể, nhưng có số lượng dưới 50 cá thể/quần thể và có hệ số giao phối cận noãn khá cao cho nên nguy cơ tuyệt chủng lớn. Loài Bách xanh núi đất hiện có ba quần thể cũng khá nhỏ về kích thước trong các mảnh rừng bị suy giảm, mức độ đa dạng di truyền tương đối thấp.
Dựa trên những kết quả này, nhóm nghiên cứu đề xuất giải pháp cần phải quản lý chặt chẽ sự phát triển của cây giống tại chỗ. Bên cạnh đó, việc xây dựng một nguồn gen lõi tại chỗ cũng là biện pháp để duy trì và bảo tồn sự phát triển các nguồn gen. Điều này sẽ cho phép các hạt giống thu thập có thể làm tăng sự đa dạng di truyền trong mỗi vùng.
Ngoài ra, tỉnh Lâm Đồng cần quan tâm xem xét thực hiện ngay việc thu thập hạt giống và ươm trồng cây giống cho ba loài này. (Tài Nguyên Và Môi Trường 25/2) đầu trang(
Sau khi nhân giống thành công giống tùng Yên Tử quý hiếm từ hạt cách đây gần 10 năm, mới đây, anh Phạm Văn Sự - SN 1979, phó chủ tịch UBND phường Trưng Vương, TP.Uông Bí, cựu nhân viên của Ban Quản lý Di tích và rừng quốc gia Yên Tử - đã lại một lần nữa nhân giống thành công loài cây này từcành.
Anh Sự cho biết, trong khoảng 100 cây giống ươm từ cành, 40 cây đã có cho quả tốt; số cây còn lại sẽ đem ra vườn ươm trong thời gian tới.
Trước đó, năm 2008, sau nhiều lần thất bại, anh Phạm Văn Sự đã nhân giống thành công Xích Tùng từ hạt được anh kỳ công thu lượm từ những cây tùng cổ trên Yên Tử. Tuy nhiên, phải đến năm 2010, khi khoảng 200 cây tùng giống phát triển ổn định, anh mới dám công bố nhân giống thành công. Hiện, 200 cây tùng trên đã phát triển rất tốt trong vườn nhà anh.
Gần 15 năm công tác tại Yên Tử, xót xa trước cảnh từng cây tùng cổ chết dần, chết mòn bởi tuổi cao sức yếu, lại trước sự tấn công của sâu bệnh, thiên tai, con người…là lý do thôi thúc anh nghiên cứu nhân giống để thay thế trước khi rừng tùng có thể biến mất.
Hiện, Ban Quản lý Khu di tích và rừng quốc gia Yên Tử đang bắt đầu triển khai dự án chăm sóc, cứu chữa cho 247 cây Xích Tùng đang lâm “trọng bệnh” trên Yên Tử, đồng thời nghiên cứu ươm giống để trồng mới thay thế những cây đã chết.
Theo anh Sự, với việc nhân giống thành công từ cành, việc triển khai ươm giống tại Yên Tử sẽ dễ dàng hơn, bởi cành luôn có sẵn, trong khi hạt thì phải đợi vào mùa – tháng 9 và phải mất công lựa chọn thu lượm.
“Sau khi nhân giống thành công cả từ cành và hạt, tôi thấy rằng, về kỹ thuật không khó lắm. Có điều, cả cành và hạt mất nhiều thời gian để nẩy mầm, vì thế nếu không lưu tâm chăm sóc cả cành và hạt đều chết. Hơn nữa, thực tế cũng ít đơn vị, cá nhân nào quan tâm đến việc nhân giống vì giá trị kinh tế của loại cây này không cao” – anh Sự chia sẻ. (Lao Động 24/2) đầu trang(
Khoảng 21h 30 tối 25.2, ông Huỳnh Long Hải, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Phú Quốc cho biết: lực lượng kiểm lâm rừng Phú Quốc đang nổ lực dập tắt một đám cháy rừng thuộc khu vực núi Du Hương (xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc).
Diện tích rừng bị cháy là khu vực đất sản xuất nông nghiệp của dân tiếp giáp với rừng phòng hộ Phú Quốc.
Đám cháy được phát hiện vào lúc 6 giờ chiều nay. Ngay sau đó, Ban chỉ đạo phòng chống cháy rừng địa phương đã huy động hàng trăm lực lượng tham gia chữa cháy, không để cháy lan vào khu vực rừng phòng hộ.
Ông Hải cho biết thêm, hiện tại, đám cháy đã cơ bản được khống chế nhưng do trời tối nên lực lượng kiểm lâm chưa thống kê chính xác được diện tích bị cháy và cháy trên phần đất của hộ dân nào. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do người dân đốt cỏ làm nương rẫy. (Thanh Niên 25/2) đầu trang(
Theo báo cáo mới nhất của Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, hiện toàn lâm phần rừng tràm U Minh Hạ có hơn 43.000 ha nguy cơ cháy cao.
Trong đó, 20.300 ha được dự báo cháy cấp 3 và gần 23.000 ha dự báo cháy cấp 2. Đặc biệt, đã có 163 ha rừng chuyển từ báo cháy cấp 3 lên cấp 4 (cấp nguy hiểm); trên 5.000 ha rừng đã kiệt nước, nếu cháy sẽ không có nước để chữa.
Diện tích rừng khô hạn tập trung nhiều tại lâm phần thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ với hơn 13.500 ha dự báo cháy cấp 3 và gần 10.000 ha dự báo cháy cấp 2. Riêng phần diện tích rừng dự báo cháy cấp 4 thuộc lâm phần Trung tâm Thực nghiệm Lâm nghiệp Tây Nam Bộ (xã Trần Hợi, huyện Trần Văn Thời).
Ông Đỗ Văn Đồng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, cho biết mức độ cảnh báo cháy rừng đang tăng lên từng ngày. “Nếu hạn hán kéo dài, một số điểm rừng sẽ thiếu nước phục vụ công tác phòng chống cháy rừng (PCCR). Nước dưới chân rừng đang rút rất nhanh, chỉ sau vài ngày, rừng ở mức báo cháy cấp 3 đã có thể lên cấp 4” - ông Đồng lo lắng.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh Cà Mau liên tiếp ban hành các văn bản đề nghị các cơ quan chức năng phối hợp tốt PCCR mùa khô năm 2016. Hiện tỉnh Cà Mau đã tạm đóng cửa toàn bộ lâm phần U Minh Hạ, nghiêm cấm các hoạt động khai thác, lấy mật ong, đốt đồng… và hạn chế khách tham quan trong tỉnh. Khách du lịch ngoài tỉnh vẫn được đón tiếp nhưng phải có sự hướng dẫn của nhân viên kiểm lâm. Việc đóng cửa rừng có thể kéo dài đến mùa mưa.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Cà Mau, những ngày qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với các lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra, tăng cường trang thiết bị, phương tiện, sẵn sàng cho công tác PCCR.
Vườn Quốc gia U Minh Hạ cũng đã triển khai các tổ máy bơm, cắt cử lực lượng ứng trực tại những khu vực có nguy cơ cháy cao. Đồng thời, triển khai lực lượng xuống địa bàn trực 24/24 giờ, tiếp tục ban gạt toàn bộ các tuyến đường bộ, dọn các tuyến kênh lưu thông để đưa vào phục vụ công tác phòng cháy trong mùa khô.
Ông Trần Trung Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, khẳng định đơn vị này đã tập trung mọi nguồn lực để PCCR, trong đó đến nay đã thành lập 18 tổ máy bơm với 89 thành viên; thành lập 6 tổ hậu cần với 16 thành viên, tổ chức nhân lực tham gia tập huấn công tác PCCR theo kịch bản mới và cứu hộ, cứu nạn.
Để giữ nước cứu rừng, lực lượng chức năng đã đắp 21 đập, khép kín toàn bộ hệ thống 12 cống thoát nước trên lâm phần U Minh Hạ. Hiện 17 máy bơm công suất lớn, 39 máy bơm công suất nhỏ, 49 xuồng máy cùng trang thiết bị PCCR đã được tập kết đến các chốt canh, chòi canh, sẵn sàng ứng phó kịp thời khi có sự cố xảy ra. (Người Lao Động 25/2) đầu trang(
Tin tức trên Tri Thức Trực Tuyến, chiều 25/2, lãnh đạo Vườn Quốc gia U Minh Hạ (Cà Mau) cho biết, nơi đây có 5.314/8.526 ha rừng bị ảnh hưởng khô hạn. Trong đó, diện tích báo cháy cấp độ 3 (cấp cao) là 506 ha, 2.948 ở cấp 2 và cấp 1 chiếm 1.687ha.
Nắng nóng khiến nước trong các kênh giữa rừng chỉ còn 1,9 m, thấp hơn cùng kỳ năm trước 0,3 m. Để phòng chống cháy rừng, Vườn Quốc gia U Minh Hạ huy động 5 tổ máy bơm, mở thêm 11 chốt canh rừng tại các nơi trọng yếu.
Vài ngày tới, các nơi rừng có cấp độ báo cháy cao sẽ được tăng cường thêm 6 tổ máy bơm.
Ngoài lực lượng cơ hữu bám rừng 24/24, Vườn Quốc gia U Minh Hạ hợp đồng với hàng trăm người dân để phòng chống cháy tại khu vực vùng đệm rộng 25.000 ha.
Ông Trương Thanh Hào, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Kiên Giang cho biết, rừng trong Vườn Quốc gia Phú Quốc cũng có nhiều nơi báo cháy cấp độ 3, một số nơi cấp độ 4 (nguy hiểm). Hiện, Kiểm lâm Kiên Giang đang phối hợp cùng Hạt Kiểm lâm và Vườn Quốc gia Phú Quốc kiểm tra phòng chống cháy rừng ở những nơi trọng yếu.
Theo VTV, khu vực miền Trung - Tây Nguyên có 5 tỉnh được cảnh báo cháy rừng ở cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm - gồm: Lâm Đồng, Gia Lai, Kon Tum, Ninh Thuận và Khánh Hòa. Trước tình hình này, các tỉnh đã chủ động đưa ra các phương án phòng chống cháy rừng.
Tại Lâm Đồng, Khánh Hòa, lực lượng kiểm lâm đã phối hợp với các địa phương tổ chức tuần tra, canh gác rừng 24/24h. Tại các địa bàn có diện tích rừng trồng, rừng sản xuất lớn, lực lượng chức năng đã tổ chức đốt dọn thực bì, làm đường băng cản lửa.
Tại Ninh Thuận - địa phương đang chịu ảnh hưởng nặng nề bởi khô hạn, việc phòng chống cháy rừng cũng đã được triển khai. Điểm mới trong công tác phòng chống cháy rừng ở Ninh Thuận năm nay là ngoài chính quyền cấp cơ sở, tỉnh đã tăng cường thêm 5 lực lượng gồm: cảnh sát giao thông, cảnh sát cơ động, quân sự, kiểm lâm và đơn vị chủ rừng tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng tại cơ sở. Đồng thời cấp kinh phí tăng cho các địa phương và đơn vị chủ rừng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thực hiện tốt công tác bảo vệ gần 150.000 ha rừng toàn tỉnh.
Còn tại tỉnh Gia Lai hiện có trên 700.000 ha rừng; trong đó, gần một nửa diện tích là rừng dễ cháy. Các ngành chức năng và đơn vị chủ rừng đã chủ động triển khai các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện, thiết bị tham gia chữa cháy. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền tới người dân về các biện pháp phòng, chống cháy rừng, tổ chức tuần tra tại các khu vực trọng điểm dễ cháy.
Do mùa khô năm nay quá khắc nghiệt, 3 tháng nay không có trận mưa trái mùa nào nên đã khiến lớp thảm thực vật ở hàng loạt cánh rừng tại Tây Nguyên và Nam Bộ khô trắng, cây cối xác xơ, trở nên dễ bắt cháy và lan rất nhanh nếu lửa bén vào. Khả năng kiểm soát và dập tắt cháy còn gặp nhiều khó khăn khi 1-2 tháng tới vào cao điểm mùa khô, nhiều ngày nắng nóng, khô hạn sẽ xảy ra diện rộng.
Cũng trên báo Tri Thức Trực Tuyến, ngoài nguy cơ cháy rừng, nắng hạn đang làm cho lúa ở miền Tây bị thiệt hại ngày càng nhiều. Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng… còn ảnh hưởng xâm nhập mặn và đã có 4 tỉnh công bố thiên tai.
Ông Lương Minh Quyết, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng cho biết, diện tích lúa thiệt hại do hạn và mặn ở tỉnh này tăng từ gần 9.000 ha lên khoảng 11.000 ha.
"Sóc Trăng đang đề nghị Trung ương hỗ trợ 1.300 tỷ đồng để phòng chống hạn, xâm nhập mặn", ông Quyết nói. (Đời Sống Và Pháp Luật 26/2) đầu trang(
Theo bà Hà Thị Tuyết Nga, Giám đốc Cơ quan quản lý CITES Việt Nam (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp), hiện số lượng cụ thể tê giác tại Việt Nam như sau: vườn thú Đại Nam (5 con), Thảo cầm viên TP Hồ Chí Minh (2 con), Vườn Xoài (2 con), vườn thú Mường Thanh (4 con), Thiên đường Bảo Sơn (4 con) và vườn thú Mỹ Quỳnh (19 con). Như vậy, hiện Việt Nam đang có 36 cá thể tê giác.
Tất cả các cá thể tê giác trên được nhập về Việt Nam từ vài năm trước, hiện sức khỏe đảm bảo và được gắn chip để quản lý, không thể có chuyện tê giác nhập lậu về Việt Nam được.
Trả lời câu hỏi của NNVN về việc Việt Nam hiện có còn tê giác bản địa hay không, bà Nga cho rằng, nếu nói về tê giác Việt Nam, từ năm 2011 đã phát hiện một cá thể tê giác ở vùng phân bố chết vì già. Do đó, một số thông tin cho rằng tê giác Việt Nam đã tuyệt chủng.
“Nhưng về chuyên môn, phải tính chu kỳ một vòng đời của con tê giác (35 – 40 năm) kết thúc mà không phát hiện cá thể tê giác nào sống trong tự nhiên nữa, thì mới được công bố tê giác tuyệt chủng. Từ đó đến nay vẫn chưa có thông tin thêm gì về tê giác Việt Nam, và cũng chưa có điều tra toàn diện về vấn đề này”, bà Nga thông tin.
Trong một diễn biến liên quan, trước thông tin số lượng động vật hoang dã tại Vườn thú Vinpearl Safari Phú Quốc (Kiên Giang) chết hàng loạt, trong đó có một số động vật quý hiếm như tê giác, bà Nga cho rằng, theo thông báo từ Chi cục kiểm lâm tỉnh Kiên Giang, vườn thú Safari đang hợp tác trao đổi theo hình thức mượn của vườn thú Mỹ Quỳnh (Long An) 14 con tê giác để trưng bày.
Còn về chuyện NK tê giác, bà khẳng định CITES chưa cấp bất cứ giấy phép NK tê giác nào cho Safari. Rõ ràng tê giác ở đó không phải tê giác mới nhập về, và thông tin tê giác chết là không có cơ sở. (Nông Nghiệp Việt Nam 25/2) đầu trang(
Trao đổi với Zing.vn, ông Vương Tuấn Mạnh, Phó giám đốc CITES Việt Nam cho biết từ năm 2007 đến nay, cơ quan này đã cấp phép cho nhập 40 cá thể tê giác vào Việt Nam.
CITES cũng ghi nhận đã có 3 cá thể tê giác bị chết và không có tê giác nào chết vài tháng trở lại đây. Các đơn vị nhập tê giác trong cả nước cũng không có báo cáo nào mới về việc tê giác chết.
"Nếu có tê giác chết, theo quy định, các vườn thú phải báo ngay cho chính quyền để phân loại, xử lý, lập hội đồng đánh giá... Quy định rất chặt chẽ", đại diện CITES nói.
Ông Mạnh cho biết, đơn vị nhập nhiều tê giác vào Việt Nam nhất là công ty vườn thú Mỹ Quỳnh, với 14 cá thể.
Theo Tuổi Trẻ, do cơ sở hạ tầng đang trong quá trình hoàn thiện nên trước đây khi nhập số tê giác này về, vườn thú Mỹ Quỳnh đã gửi chúng cho một đơn vị ở TP HCM giữ, sau đó mới đưa về cơ sở trên địa bàn tỉnh Long An vào cuối tháng 10/2015.
Ngày 21/12/2015, 14 con tê giác cùng với 6 con hổ và 8 con sư tử từ vườn thú Mỹ Quỳnh đã được Chi cục Kiểm lâm Long An cấp phép di chuyển về Phú Quốc.
Hiện tại vườn thú Mỹ Quỳnh vẫn còn 2 con hổ trắng, 2 con tê giác và 1 con sư tử.
Trước đó, trao đổi với công viên nước Củ Chi (công ty TNHH Xây dựng thương mại Dịch vụ Đặng Vinh làm chủ đầu tư), đại diện phòng kinh doanh cho biết hiện có khoảng 70 loài động vật với 500 cá thể động vật được nuôi, phục vụ du khách tham quan tại công viên nước Củ Chi. Trước đây công viên có nuôi tê giác nhưng hiện nay đã gửi cho một đơn vị khác nuôi.
Ở khu du lịch Đại Nam (Bình Dương), ông Dương Thành Phi, giám đốc vườn thú khu du lịch Đại Nam, cho biết hiện nay Đại Nam đang có 58 loài động vật với hơn 600 cá thể được chăm sóc, nuôi dưỡng với những qui định nghiêm ngặt nhằm đảm bảo sức khỏe cho động vật cũng như an toàn cho nhân viên và khách du lịch.
Khách du lịch tham quan vườn thú chiếm 70% lượng khách tham quan tổng thể khu du lịch Đại Nam. Hiện khu du lịch đang có nhiều loài động vật quý hiếm như hổ, sư tử, linh trưởng, gấu và tê giác.
Cũng theo ông Phi, khu du lịch Đại Nam là vườn thú sở hữu tê giác đầu tiên trong hiệp hội các vườn thú ở Việt Nam. Hiện nay khu du lịch đang chăm sóc 5 cá thể tê giác.
Về vấn đề trao đổi thú giữa các vườn thú trong nước, ông Phi thông tin trước giờ chỉ có vài lần trao đổi thú với vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội) và chưa có cơ hội trao đổi thú với Vinpearl Sarafi Phú Quốc.
Thảo Cầm Viên, được xem là vườn thú lâu đời nhất cả nước, cũng đang nuôi 2 tê giác. Theo ông Phạm Văn Tân, Phó tổng giám đốc phụ trách Thảo Cầm Viên, 2 con tê giác này được nhập từ Nam Phi cách đây 5 năm. Hiện tại hai con tê giác này vẫn đang nuôi, chăm sóc ở Thảo Cầm Viên.
Hiện Thảo Cầm Viên có hơn 1.100 cá thể động vật của hơn 150 loài đang được nuôi, chăm sóc. Trong năm qua, nhiều loài động vật sinh sản thêm các thế hệ F1, F2 như hổ trắng, hổ vàng, linh trưởng…
Đại diện vườn thú của khu du lịch Thiên đường Bảo Sơn (Hà Nội) cho biết, đang nuôi 4 con tê giác phục vụ tham quan, tìm hiểu động vật hoang dã của du khách. Bốn con tê giác được mua và vận chuyển từ Nam Phi năm 2012.
Cả đại diện của CITES và Hiệp hội Vườn thú Việt Nam đều cho rằng, việc mượn, trao đổi thú giữa các vườn thú không vì mục đích thương mại là hoạt động bình thường.
Phó giám đốc CITES, ông Vương Tiến Mạnh cho biết, mọi hoạt động trao đổi giữa các vườn thú theo luật định phải có giám sát của lực lượng kiểm lâm. Các vườn thú phải đăng ký về tình trạng chăm sóc, nuôi nhốt... với kiểm lâm địa phương. (Zing News 25/2) đầu trang(
Thời gian gần đây, trên địa bàn các xã Châu Thôn, Quang Phong, Cắm Muộn, huyện miền núi cao Quế Phong (Nghệ An), xuất hiện các tư thương từ miền xuôi rầm rộ lên thu mua gốc, thân, cành của gỗ bách xanh với rất giá cao. Hiện tượng này gây gây mất an ninh trật tự các thôn bản và làm xáo trộn cuộc sống người dân, ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý bảo vệ rừng.
Người dân xã Cắm Muộn cho biết, thấy có người lên thu mua, nhiều người trong các bản đổ xô vào rừng tìm kiếm gốc rễ gỗ bán một cân giá 20 nghìn đồng. Cũng theo người dân xã Cắm Muộn, số gốc cây bách xanh mà họ thu gom được chính là số củi họ lượm lặt được lúc đi rẫy.
Từ trước đến nay, chưa có cơ quan chức năng nào một thông báo, văn bản nào về việc ngăn cấm người dân đi lượm lặt loại củi này. Việc thu mua gỗ này để làm gì thì người dân không ai biết. Nhận định ban đầu của cơ quan chức năng, có thể do vân loại gỗ này rất đẹp nên số gốc rễ bách xanh này sẽ được vận chuyển ra phía bắc để bán cho một số xưởng thủ công mỹ nghệ thực hiện chế tác sản phẩm trang trí như: bình hoa, độc bình…
Theo ngành chức năng, số gốc, thân và cành của gỗ bách xanh được thu mua thuộc nhóm 2A - nhóm quý hiếm cần được bảo vệ và hạn chế khai thác. Thế nhưng, nhiều người dân ở bản Piếng Cắm, xã Cắm Muộn đã thu gom số gỗ quý này cho một đại lý trước khi được đầu nậu vận chuyển về xuôi.
Với tình trạng người dân ồ ạt tự do vào rừng khai thác gốc rễ cây bách xanh như hiện nay đã làm động đến cả khu rừng lớn, bởi số lượng cây bị đốn hạ sẽ là cấp số nhân theo thời gian. Chính quyền xã Cắm Muộn thừa nhận có hiện tượng người dân khai thác thu gom gốc bách xanh nhưng chưa có biện pháp ngăn chặn.
Theo quy định, nếu việc khai thác có nguồn gốc từ tự nhiên, không có nguồn gốc hợp pháp đều vi phạm về quy định quản lý lâm sản của Nhà nước. Để chấm dứt tình trạng khai thác, thu gom, mua bán gốc gỗ bách xanh quý hiếm trên địa bàn các xã đã nêu trên, lực lượng chức năng và chính quyền địa phương cần tập trung giải quyết, xử lý dứt điểm. (Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Chiều 25/2, ông Hoàng Quốc Việt - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho PV Dân trí biết đã thành lập đoàn kiểm tra sự việc nói trên.
Theo ông Hoàng Quốc Việt sau khi báo chí phản ánh, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các ngành liên quan kiểm tra sự việc. Còn việc kiểm tra và kết luận cụ thể như thế nào còn chờ đợi cơ quan chức năng và lực lượng liên quan được giao nhiệm vụ sẽ có báo cáo cụ thể.
Còn ông Lê Văn Giáp - Chủ tịch UBND huyện Quế Phong cũng cho PV Dân trí biết đã lập đoàn và cử các lực lượng liên quan có mặt tại bản Cắm, xã Cắm Muộn để rà soát tình hình cụ thể.
“Chúng tôi đã lập đoàn kiểm tra sự việc báo Dân trí phản ánh. Theo báo cáo của anh em thì gỗ mà người dân nói trên không phải là gỗ Pơmu”, ông Giáp cho biết.
Như Dân trí đã phán ánh trong những ngày qua tình trạng hàng chục tiểu thương lên bản Cắm, xã Cắm Muộn, huyện Quế Phong (Nghệ An) để mua gốc gỗ Pơmu với giá từ 10.000 ngàn/10kg. Tiếp theo đó, người dân địa phương đã đồn thổi và "đua nhau" vào rừng để "săn" những gốc gỗ được cho là gốc Pơmu già đem về bán.
Chiều tối ngày 24/2 (vào lúc 17h30’), PV đã vào vai thương lái đi mua gỗ quý trở lại bản Cắm, xã Cắm Muộn để tìm hiểu thêm sau sự việc những ngày qua người dân tại đây đổ xô đi “săn” gỗ gốc Pơmu xem như thế nào.
Mặc dù, con đường đi vào bãi tập kết “tận thu” gỗ quý đã bị phong tỏa, tuy nhiên trong một số hộ dân vẫn còn có nhiều gốc cây gỗ quý(?). Khi PV hỏi mua thì mọi người vẫn bảo bán được và sẽ vận chuyển ra ngoài cho các chủ mua.
Tại thời điểm PV “vi hành” thì khu vực bản Cắm hết sức phức tạp. Bởi sau khi thông tin báo chí phản ánh thì lực lượng kiểm lâm, công an huyện vào cuộc phong tỏa hiện trường….
Khi lực lượng chức năng thực thi nhiệm vụ, thì có hàng trăm người dân địa phương ra hô hào phản đối, cản trở lực lượng làm nhiệm vụ.
"Nếu việc khai thác có nguồn gốc từ tự nhiên, không có nguồn gốc hợp pháp đều vi phạm về quy định quản lý lâm sản của nhà nước. Để giải quyết tận gốc việc này, chúng tôi sẽ kiểm tra, nếu gỗ có nguồn gốc từ việc giao rừng theo Nghị định 163, trách nhiệm của kiểm lâm và địa phương phải hướng dẫn người dân lập hồ sơ khai thác đúng với quy định", một cán bộ kiểm lâm Quế Phong cho biết.
Hiện các ngành chức năng đã thu được một lượng lớn gốc gỗ quý trên và đang làm các thủ tục để bàn giao cho kiểm lâm tiếp tục xử lý. (Dân Trí 25/2) đầu trang(
Trong những năm gần đây liên tiếp xảy ra nhiều vụ phá rừng với quy mô lớn, nhiều cây gỗ thuộc loại quý hiếm, có tuổi đời hàng trăm năm bị “xẻ thịt” không thương tiếc. Thực trạng trên đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về nạn phá rừng hiện nay.
“Ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, thế nhưng, chỉ vì lợi nhuận trước mắt, nhiều đối tượng đã ngang nhiên ra tay triệt hạ rừng không thương tiếc.
Những ngày đầu năm xuất hiện thông tin về số lượng gỗ sa mu vô chủ được phát hiện nơi vệ đường ở huyện Kỳ Sơn. Cụ thể, vào ngày 14/2, tại bản Buộc Mú, xã Na Ngoi (Kỳ Sơn), người dân phát hiện hai đống gỗ và một đống củi được tập kết ngay ngắn nhưng che chắn sơ sài bên vệ đường, đoạn dẫn lên đỉnh núi Pù Xai Lai Leng. Qua quan sát, những tấm gỗ này có khổ lớn, còn tươi mới và không có dấu búa của lực lượng chức năng.
Thống kê sau đó cho thấy, số gỗ này có khoảng gần 30 đường hoành (dùng để làm nhà ở) được xẻ vuông vắn, hàng chục tấm ván xẻ mỏng, có chiều rộng tầm 6 m và 3 tấm dong có chiều rộng gần 1 m, dài khoảng 2 m.
Ngay sau khi tiếp nhận thông tin về việc xuất hiện số gỗ vô chủ này bên đường, huyện Kỳ Sơn đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm lực lượng Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ và Công an huyện, phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành kiểm tra, xác minh và xử lý thông tin.
“Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện, tịch thu toàn bộ số gỗ nói trên, tương đương hơn 4 m3. Đây là gỗ sa mu, bị người dân khai thác trên các cánh rừng của đỉnh Pù Xai Lai Leng để đưa về sử dụng trong gia đình”, ông Cao Văn Quỳnh, Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ huyện Kỳ Sơn cho biết.
Cũng theo ông Quỳnh, Kỳ Sơn là huyện biên giới rẻo cao, với diện tích rừng già lớn, giáp với nước bạn Lào nên công tác bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn. Trong những năm qua, các đơn vị liên quan đã phối hợp làm tốt công tác bảo vệ rừng trên địa bàn. Tuy nhiên, do tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu sống dựa vào rừng nên vẫn còn xảy ra hiện tượng người dân lén lút vào rừng khai thác gỗ quý để mang về sử dụng.
Trong năm vừa qua, các đơn vị liên quan đã phối hợp tổ chức tuần tra, xử lý tình trạng khai thác gỗ trái phép, qua đó tịch thu hơn 70 m3 gỗ các loại. Sa mu là loại gỗ quý hiếm thuộc nhóm 2A, bị nghiêm cấm khai thác dưới mọi hình thức. Tuy nhiên, do giá trị sử dụng và độ bền nên trong những năm gần đây, cùng với pơ mu thì đây là loại gỗ bị khai thác tương đối nhiều.
Ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn cho biết thêm, gỗ sa mu chủ yếu bị người dân địa phương lén lút khai thác để mang về dựng nhà. Dù cơ quan chức năng đã đẩy mạnh tuyên truyền, nhắc nhở, xử phạt hành chính nhưng công tác ngăn chặn vẫn gặp không ít khó khăn.
Mới đây nhất, vào ngày 15/2, hai người dân ở xã Huồi Tụ (Kỳ Sơn) là Lỳ Bá Cả và Vừ Bá Sở lén lút chở một số lượng gỗ pơ mu, sa mu đã được xẻ thành tấm ngay ngắn trên hai xe ôtô, một xe BKS Lào và xe BKS 37V-0631 về xuôi; khi đang lưu thông trên Quốc lộ 7A đoạn qua địa phận huyện Con Cuông thì bị Trạm Kiểm lâm cơ động Khe Choăng, thuộc Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng chống cháy rừng số 1 Nghệ An phát hiện, bắt giữ.
Qua kiểm tra được biết, số lượng gỗ trên tương đương khoảng 3 m3, không có dấu búa của lực lượng kiểm lâm cũng như giấy tờ chứng minh nguồn gốc. Toàn bộ tang vật, phương tiện liên quan đã bị tạm giữ để xử lý theo quy định.
Không chỉ trên địa bàn huyện Kỳ Sơn, trong vài năm gần đây, tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh liên tục xảy ra nhiều vụ khai thác rừng trái phép, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường tự nhiên và cuộc sống của người dân.
Tại huyện Quế Phong, sau vụ việc phát hiện, bắt giữ 5 đối tượng khai thác gỗ sa mu dầu trái phép ở khu vực biên giới Việt - Lào vào tháng 7/2015, 2 tháng sau đó, vào ngày 27/9, tại xã Quang Phong, tổ tuần tra Công an huyện Quế Phong đã tổ chức mai phục, thu giữ 133 tấm gỗ pơ mu thành phẩm, chiều dài hơn 2 m, rộng 27 cm, dày 9 cm.
Sau khi khai thác, số gỗ này được vận chuyển lén lút bằng đường sông đến bãi tập kết, khi đang chuẩn bị bốc lên xe đưa đi tiêu thụ thì bị phát hiện, bắt giữ. Đối tượng đã bỏ lại tang vật và phương tiện để thoát thân.
Trước đó, vào cuối tháng 7/2014, lực lượng Kiểm lâm huyện Tương Dương phối hợp với Đồn Biên phòng Tam Hợp và lực lượng bảo vệ rừng phòng hộ tổ chức tuần tra, kiểm tra rừng ở khu vực biên giới, qua đó phát hiện vụ khai thác gỗ trái phép tại 5 quả đồi liền kề. Qua kiểm tra, có 50 gốc chặt, cưa thành 60 lóng gỗ tròn gồm pơ mu, gỗ dổi và 46 tấm gỗ pơ mu đã được xẻ, tương đương 156,768 m3.
Ông Hoàng Quốc Việt, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An cho biết: Nghệ An là tỉnh có diện tích tự nhiên và diện tích rừng lớn nhất cả nước. Toàn tỉnh có hơn 874.000 ha diện tích đất có rừng, độ che phủ là 53%, số lượng xã có rừng là 359 xã. Do vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng gặp không ít khó khăn, nhất là ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Trong năm 2015, các lực lượng chức năng của Nghệ An đã đẩy mạnh công tác tuần tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; qua đó phát hiện, bắt gần 500 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu hơn 1.000 m3 gỗ tròn, xẻ các loại. Riêng Phòng Cảnh sát Môi trường Công an Nghệ An từ đầu năm đến nay đã bắt giữ và xử lý 28 vụ, 35 đối tượng, thu giữ gần 230 m3 gỗ cùng nhiều phương tiện và tang vật phục vụ việc vận chuyển và khai thác lâm sản trái phép.
Đồng chí Hoàng Viết Đường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho rằng, để xảy ra tình trạng phá rừng tại một số địa phương trên địa bàn trước hết là do công tác quản lý, bảo vệ rừng ở một số địa phương còn lỏng lẻo; trách nhiệm và ý thức của một bộ phận cán bộ thực thi công vụ chưa cao; sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương chưa đồng bộ, thông tin chưa được cập nhật kịp thời.
Nhiều vụ việc bị bắt giữ nhưng xử lý còn nhẹ, chưa có tính răn đe. Bởi vậy, để hạn chế vấn nạn phá rừng, ngoài việc tăng cường tuần tra, kiểm soát và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, ngành liên quan, ngành Kiểm lâm cần tập trung làm tốt công tác kiểm kê rừng, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để bàn giao rừng. (Công An Nghệ An 25/2) đầu trang(
Chiều 25-2, ông Lê Thanh Hóa, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) cho biết, cơ quan này đã tiến hành khởi tố vụ án cất giữ hàng chục m3 gỗ lậu ở Khánh Vĩnh, chuyển toàn bộ hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, ngày 6-1, Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh phối hợp với Đội Kiểm lâm cơ động thuộc Chi cục Kiểm lâm vùng IV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), kiểm tra cơ sở chế biến gỗ Huynh Tin ở thôn Suối Sâu, xã Khánh Đông do ông Nguyễn Công Huynh làm chủ, phát hiện cơ sở này đang cất giữ 68 lóng gỗ tròn các loại, tổng khối lượng lên đến hơn 60,2m3 và 64 khúc gỗ xẻ hộp các loại, tổng khối lượng hơn 16,3m3.
Tại thời điểm kiểm tra, ông Huynh không xuất trình được giấy tờ hợp pháp về nguồn gốc số gỗ nêu trên. Cơ quan chức năng đã tiến hành lập biên bản tạm giữ toàn bộ số gỗ lậu để xử lý. (Báo Khánh Hòa 25/2) đầu trang(
Những năm gần đây, tình hình cháy rừng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có chiều hướng gia tăng, cả về số vụ lẫn về diện tích bị cháy. Các vụ cháy lớn thường xảy ra vào cao điểm của mùa khô hoặc mùa vào vụ sản xuất của các hộ dân có nương rẫy ở ven rừng.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, từ đầu năm 2016 đến nay, toàn tỉnh đã xảy ra hàng chục vụ cháy rừng, trong đó có 11 vụ cháy rừng có diện tích lớn (chủ yếu xảy ra ở Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng), với tổng diện tích rừng tự nhiên bị cháy gần 42 ha, mức độ thiệt hại gần như 100% thảm thực vật dưới tán rừng, cây tái sinh và một số cây rừng nhỏ hiện hữu.
Cụ thể, tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, từ ngày nghỉ Tết nguyên đán Bính Thân năm 2016 đến nay, hầu như ngày nào cũng có các vụ cháy lớn, nhỏ xảy ra. Ngày 23.2, qua ghi nhận thực tế tại Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng cho thấy hình ảnh khu rừng bị cháy trên diện rộng, những cây rừng có đường kính từ 0,1 đến 0,3 mét bị cháy xém đứng trơ gốc, những thảm xanh thực vật biến mất không còn, chỉ còn những làn khói trắng bốc lên từ những thân cây khô vẫn còn âm ỉ cháy, càng cho thấy rõ hiện trạng cây rừng bị tàn phá nặng nề.
Nguyên nhân các vụ cháy được ngành chuyên môn xác định, chủ yếu do một số đối tượng có đất sản xuất ven rừng lợi dụng thời tiết nắng nóng, dễ cháy cố ý đốt để lấn chiếm, tái chiếm đất rừng trồng mì; một số lý do khác như người dân thiếu ý thức còn nấu ăn tại rừng, vào rừng bỏ tàn thuốc bừa bãi, dùng lửa nung khói bắt ong mật đã vô tình làm cháy lan ra diện rộng.
Mặc khác, do Ban quản lý Khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng chưa xây dựng được kế hoạch phối hợp phòng cháy chữa cháy rừng với chính quyền địa phương, nên khi xảy ra cháy rừng không có lực lượng hỗ trợ kịp thời; chưa thực hiện tốt phương châm bốn tại chỗ; lực lượng bảo vệ bố trí mỏng tại khu vực trọng điểm cháy; không có chòi canh gác rừng trên cao nhằm phát hiện đám cháy kịp thời; bố trí dụng cụ chữa cháy, nguồn nước chưa đảm bảo đủ để chữa cháy; chưa hình thành đường băng cản lửa… nên khi xảy ra cháy kèm theo gió lớn, đám cháy sẽ lan ra diện rộng rất nhanh, không thể cứu chữa kịp.
Bàn về các giải pháp cấp bách để phòng chống cháy rừng như hiện nay, ông Tạ Văn Đáo- Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cho rằng, việc cần thiết trước mắt là cho gắn biển cấm hạn chế ra vào rừng tại các đường mòn, lối mở đối với một số đối tượng không có trách nhiệm; nếu vào rừng phải có lý do chính đáng và báo ngành chức năng biết để kiểm soát, như thế sẽ hạn chế được rất nhiều các nguy cơ cháy rừng không đáng có.
Riêng ông Võ Đức Trong- Giám đốc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tây Ninh yêu cầu các lực lượng tại địa phương nên hỗ trợ tích cực với ngành chuyên môn trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng tại chỗ; huy động kịp thời lực lượng hỗ trợ khi có cháy xảy ra, tránh trường hợp cháy càng lâu thiệt hại sẽ càng lớn; đồng thời kiến nghị lực lượng công an hãy quyết liệt vào cuộc, điều tra, mật phục tìm ra các đối tượng gây ra các vụ cháy, tăng cường xử lý hình sự các đối tượng cố ý chống phá nhằm đủ sức răn đe.
Nhằm ngăn chặn kịp thời các vụ cháy rừng xảy ra liên tiếp như hiện nay, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Tân yêu cầu các ngành chức năng cần tăng cường lực lượng tuần tra kiểm soát trên các địa bàn trọng điểm suốt ngày đêm, để ứng phó, ngăn chặn kịp thời; song song đó tổ chức vận động tuyên truyền đến người dân ở xung quanh các khu vực trọng điểm nâng cao ý thức trong việc sử dụng lửa và tố giác với ngành chức năng khi phát hiện đám cháy hoặc đối tượng khả nghi ra vào rừng; tiếp tục thực hiện tốt phương châm 4 tại chỗ, bố trí thêm lực lượng, phương tiện, dụng cụ chữa cháy tại các nơi trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, chữa cháy có hiệu quả.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Tây Ninh có trên 41.000 ha rừng các loại, gồm rừng tự nhiên và rừng trồng; có 39 tổ, đội phòng chống cháy rừng, với 420 người tại chỗ trực cháy 24/24 giờ; lực lượng phối hợp hỗ trợ 529 người và các dụng cụ phòng cháy chữa cháy tại chỗ được bố trí sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra.
Tuy nhiên, hiện thời tiết đang bước vào cao điểm của mùa khô, khi đã nhiều ngày không mưa, nắng nóng gay gắt kéo dài, nên nguy cơ cháy rừng được xác định đang ở cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm), đòi hỏi toàn xã hội nâng cao ý thức, cảnh giác bảo vệ rừng, giữ gìn “lá phổi xanh” của cộng đồng. (Báo Tây Ninh 25/2) đầu trang(
Quảng Ninh có 250 km bờ biển, diện tích rừng ngập mặn khá lớn, là nơi cư trú của nhiêu loài thủy sản và chim biển. Tuy nhiên, đã có nhiều cánh rừng bị tàn phá để lấy đất làm nhà, xây dựng khu đô thị mới, đào đắp nuôi trồng thủy sản, một số nơi trở thành vùng nước trắng...
Để trả lại cho thiên nhiên những gì mà con người đã lấy đi, xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên là tâm gương sáng vê phục hồi, bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn...
Đồng Rui là xã đảo huyện Tiên Yên có gần 5.000ha đất tự nhiên, trong đó có 2.700 ha rừng ngập mặn, tạo ra sự đa dạng về sinh thái, là nơi cư trú, sinh sản của nhiều loại hải sản như: tôm, cua, cá, các loài vỏ cứng ngao, vạng, ngán, hàu hà; các loài nhuyễn thể sá sùng, bông thùa. Rừng ngập mặn còn là nơi trú ngụ của các loài chim biển, các loài sinh vật khác, góp phần bảo vệ môi trường, là bức tường thành thiên nhiên vững chắc bảo vệ đồng ruộng, thôn xóm.
Đi dọc con đê thôn Hạ, thôn 4, nhìn những cây sú, cây đước, cây dâng, xanh ngát che kín mặt nước, không ai nghĩ nơi đây đã có 1.700 ha rừng bị tàn phá, nhiều loài hải sâm, chim thú không còn nơi cư trú, đất biển hoang hóa.
Đó là vào những năm 90 thế kỉ trước, phong trào lấn biển, đào đắp đầm nuôi tôm rộ lên, thu hút người dân nhiều vùng đổ về, nhưng do làm ăn kém hiệu quả, các chủ đầu tư bỏ dần, các vùng bãi biển trở nên nghèo kiệt. Nhờ sự chỉ đạo kịp thời của tỉnh, huyện và các ngành liên quan, sự chung tay góp sức của Nhân dân xã và sự hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan, tổ chức quốc tế và phi chính phủ như: Tổ chức KVT (Hà Lan), ACTMANG (Nhật Bản), Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Cục môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường), Trung tâm nghiên cứu tài nguyên Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội và Chương trình FGP - PTE (EC/UNDP)... Nhiều đoàn chuyên gia, cán bộ, các nhà khoa học dành thời gian nghiên cứu, hỗ trợ kinh phí, kĩ thuật, trồng mới hàng trăm héc-ta rừng ngập mặn.
Xã xây dựng được quy chế bảo vệ rừng, thành lập Ban Điều hành phụ trách chung toàn xã, thành lập 4 ban quản lí rừng ngập mặn ở 4 thôn, chấm dứt tình trạng đào đắp bãi biển, chặt phá cây làm củi. Ông Phạm Văn Hải, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch UBND xã đánh giá: Từ năm 2005 trở lại đây, Đồng Rui đã phục hồi hơn 1.200ha rừng ngập mặn, đẩy mạnh mô hình quản lí rừng cộng đồng, giao việc trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác rừng cho từng thôn nên ý thức người dân được nâng lên.
Rừng được phục hồi, phát triển tạo môi trường tốt cho các loài hải sản cư trú, sinh sôi, trở thành nguồn thu nhập chính của người dân. Từ năm 2011 đến nay, sản lượng khai thác hải sản tự nhiên chiếm 50% tổng thu nhập toàn xã. Bình quân mỗi năm Đồng Rui thu hoạch 350 tấn hải sản các loại, trong đó khai thác tự nhiên là 320 tấn.
Năm 2014 đạt 400 tấn hải sản các loại, trong đó nhiều loại hải sản có giá trị như cua biển, ốc dĩa chiếm tới 60% giá trị kinh tế. Trên địa bàn xã có tới 70% số hộ dân sống bằng nghề khai thác hải sản tự nhiên từ rừng ngập mặn, một số hộ còn nhờ vào rừng ngập mặn để phát triển mô hình kinh tế gia trại như nuôi trồng thủy sản, nuôi ong, nuôi vịt biển.
Ông Lê Đạo Toàn ở thôn Thượng là người có gần 10 năm lăn lộn với nghề nuôi vịt biển, cho biết: Gia đình ông có 700 con vịt nuôi nước mặn, mỗi ngày cho thu hoạch từ 550 - 600 quả trúng, lãi khoảng 500.000 đồng. Hiện nay, Đồng Rui có trên 40 hộ gia đình nuôi khoảng 17.000 con vịt biển, giống của Trung tâm Nghiên cứu vịt Đài Xuyên (Viện Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).
Trứng vịt biển của Đổng Rui được người tiêu dùng biết đến và ưa chuộng qua các Hội chợ OCOP Quảng Ninh và các cửa hàng OCOP ở các huyện, thị xã, thành phố. Nhiều gia đỉnh ở Đồng Rui đã mạnh dạn kết hợp giữa nuôi tôm và nuôi vịt đẻ trứng trên diện tích vài héc-ta mặt nước ao đầm của gia đình. Vịt biển tự kiếm thức ăn ở rừng ngập mặn như tôm, tép, cáy, còng nên chi phí chăn nuôi giảm, lợi nhuận cao hơn.
Còn ở những cánh đồng nhiễm mặn, người dân chuyển sang trồng khoai lang. Với 250 hộ trồng khoai, sản lượng đạt 5000 tấn/năm. Khoai lang Đồng Rui ruột vàng, ăn ngọt đậm, bùi, được người tiêu dùng ưa chuộng, được huyện lựa chọn làm sản phẩm tham gia chương trình "Mỗi xã, phường một sản phẩm" OCOP của Quảng Ninh.
Song song với việc bảo vệ phát triển rừng ngập mặn, phát triển kinh tế dưới tán rừng và mặt nước mặn, Đồng Rui còn có thế mạnh của vùng sinh thái rừng biển ôn hòa, không khí trong lành để phát triển du lịch sinh thái. Ông Phạm Văn Chiêu, Trưởng thôn 4 đưa chúng tôi đi khám phá rừng ngập mặn. Con thuyền luồn dưới tán rừng ngút ngàn của cây sú, cây vẹt, cây dâng, cây trang, nhẹ nhàng trôi trên mặt nước.
Thủy triều lên ngập ngang thân cây, bóng những chú cò trắng ẩn hiện trên bãi đất bồi, một luồng gió thổi, hít hà vị biển mặn, hưởng làn gió mát trong lành. Thủy triều xuống, nước cạn, giữa biển nổl lên một bãi cát vàng óng, trải dài hơn 1 km, xung quanh là nước biển xanh - một bãi tắm biển lí tưởng, một cảnh đẹp hoang sơ như muốn giữ chân người ở lại.
Với thành quả trong việc phục hồi, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn, hiện Đồng Rui đang được các tổ chức trong, ngoài nước lấy làm mô hình điểm về chương trình phục hồi và triển khai các công trình nghiên cứu về rừng ngập mặn của nhiều cơ quan Nhà nước. (Người Cao Tuổi 24/2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ngày 23-2, Phó Chánh Văn phòng UBND TP Hà Nội Lưu Quang Huy đã ký ban hành Thông báo số 32/TB-VP về kết luận của Chủ tịch UBND TP tại buổi làm việc về công tác cắt tỉa cây xanh và trồng mới thay thế trên các tuyến phố.
Theo đó, Chủ tịch UBND TP giao Sở Kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Văn phòng UBND TP và các đơn vị liên quan khẩn trương trình UBND TP dự thảo Quyết định quy định phân cấp quản lý Nhà nước một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn TP Hà Nội; đề xuất những vấn đề vướng mắc liên quan đến thẩm quyền của HĐND TP, báo cáo tại phiên họp HĐND TP cuối tháng 3-2016 hoặc đầu tháng 4-2016.
Sở Tài chính thống kê toàn bộ chi phí phân bổ cho lĩnh vực cây xanh, vườn hoa trên địa bàn TP dự kiến trong năm 2016, báo cáo UBND TP để làm căn cứ quyết định phân bổ ngân sách thực hiện trong thời gian tới.
Sở Xây dựng, UBND các quận, huyện, thị xã tạm dừng toàn bộ việc đấu thầu công tác quản lý, duy trì cây xanh thảm cỏ trên địa bàn toàn TP giai đoạn 2016-2019. Trước mắt, thực hiện đặt hàng  theo từng quý. Việc đấu thầu sẽ tiếp tục thực hiện theo phương án tổng thể của TP.UBND các quận, huyện, thị xã khảo sát, thống kê lại cụ thể khối lượng cây xanh, thảm cỏ, phân loại từng loại cây xanh trên địa bàn quản lý, thống kê các công việc cần triển khai, các dự án cần thực hiện trong thời gian tới, gửi Sở Xây dựng tổng hợp, báo cáo UBND TP.
Sở Xây dựng thống kê toàn bộ các dự án, công việc đã thực hiện liên quan đến cây xanh, thảm cỏ từ năm 2011 đến năm 2015, báo cáo UBND TP. Trước mắt giao toàn bộ việc cắt tỉa cây xanh trên địa bàn 12 quận thuộc TP cho Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội thực hiện, đảm bảo mỹ quan đô thị, phù hợp từng tuyến phố.
Sở Xây dựng thành lập các tổ, cùng Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội thực hiện cắt tỉa, trồng mới, thay thế cây xanh theo khả năng thực hiện của Công ty. Việc trồng mới cây thiếu, thay thế cây cong, cây mục nát phải được thực hiện xong trong đêm. Sau khi thay thế sẽ tiếp tục cắt tỉa vào thời điểm thích hợp, đảm bảo điều kiện sinh trưởng của cây.
Những tuyến phố có cây tuổi đời từ 10 năm trở lên, khi thay thế phải đảm bảo cây có đường kính tương ứng; đánh chuyển những cây không đúng chủng loại cây đô thị ra trồng tại Công viên Hòa Bình (cây đa, cây si...). Toàn bộ chi phí thực hiện theo cơ chế thị trường. Thành phố cho phép vừa khảo sát, vừa thực hiện và hoàn thiện thủ tục, thanh quyết toán chặt chẽ đúng quy định của nhà nước.
Sở Xây dựng chủ trì, đề xuất, lựa chọn một số cán bộ quản lý lĩnh vực cây xanh thuộc Sở Xây dựng, Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội cử đi nước ngoài đào tạo, học tập ngắn hạn.
Sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội, nghiên cứu, tổ chức lại bộ máy tổ chức của Công ty theo hướng: Thành lập các đơn vị cắt tỉa chuyên nghiệp; Thành lập các xí nghiệp trồng cây mới và phát triển cây giống; Thành lập các xí nghiệp quản lý cây xanh; Thành lập các đơn vị quản lý công viên, vườn hoa. Sau khi cơ cấu lại, các đơn vị bố trí chọn một số cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ về cắt tỉa đi học kỹ thuật cắt tỉa, trồng mới cây xanh tại Singapore, Trung Quốc.
Liên quan đến việc chỉ đạo quản lý cây xanh trên địa bàn Hà Nội theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, GS Nguyễn Lân Hùng, Tổng Thư ký Các hội sinh học Việt Nam bày tỏ, việc Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung chỉ đạo Sở Xây dựng Hà Nội cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập kinh nghiệm quản lý cây xanh đô thị là rất đáng hoan nghênh và nên làm.
“Việc đi, học tập kinh nghiệm các nước có hệ thống cây xanh đường phố đẹp như Singapore, một số thành phố của Trung Quốc là rất cần thiết. Singapore được đánh giá là một đất nước kiểu mẫu về cây xanh đô thị, thành phố của cây xanh và được ví như “vườn trong phố”. Thế nên, chúng ta rất nên học tập, xem họ làm như thế nào, quản lý cây xanh đô thị như thế nào mà sạch và đẹp như thế...”, GS Nguyễn Lân Hùng nói.
Vị GS đầu ngành về cây xanh thông tin thêm, nhiều thành phố lớn trên thế giới trồng những hàng cây hai bên đường vươn vào nhau, tạo thành vòm, bên dưới các phương tiện lưu thông, rất đẹp và chỉ có đến tận nơi để tham quan mới học hỏi được cách làm của họ.
“Việc học tập, mở rộng hiểu biết là rất nên nhưng chúng ta cũng cần lựa chọn cách làm phù hợp với Hà Nội. Ví dụ, chủng loại cây phải phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, với tập quán sinh hoạt, văn hóa của người Việt Nam. Chúng ta không cần học ở đâu xa xôi, Singapore hiện là một đô thị xanh kiểu mẫu cho cả thế giới học tập, lại có các điều kiện về khí hậu, thổ nhưỡng khá tương đồng với ta. Vì thế, chỉ đạo của lãnh đạo thành phố Hà Nội là rất hợp lý” - GS Nguyễn Lân Hùng nói.
Ủng hộ việc thành phố thành lập các đơn vị cắt tỉa cây xanh chuyên nghiệp, GS Nguyễn Lân Hùng nhấn mạnh, cây xanh đô thị đầu tiên phải đảm bảo yếu tố an toàn, sau mới đến bóng mát và đẹp.
“Một số tuyến đường mới mở ở Hà Nội đang được trồng cây xanh có chủ đích và được quy hoạch khá đẹp như đường Võ Nguyên Giáp. Hiện nay, 2 hàng cây xanh ven đường đã đâm chồi nảy lộc, chỉ vài năm nữa, cây phát triển tán, cho bóng mát và sẽ tạo được ấn tượng rất tốt với người dân và khách nước ngoài” - GS Nguyễn Lân Hùng đánh giá. (An Ninh Thủ Đô 25/2; Dân Việt 25/2) đầu trang(
Ngày 24-2, ông Mai Đăng Hiếu, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng cho biết, đơn vị đã tiếp nhận 100 cây hoa anh đào do Hội giao lưu hoa anh đào của Nhật Bản tặng TP Đà Nẵng.
Đây là những cây hoa anh đào có lịch sử từ năm 1950; được trồng và trao tặng cho một số nước trên thế giới để thể hiện thông điệp hòa bình và hợp tác. Đại diện Hội hoa anh đào (Nhật Bản) chia sẻ, một thầy giáo đã phải chứng kiến 100 học sinh của mình trong thế chiến thứ 2 nên rất đau xót; vì vậy, thầy muốn tặng hoa anh đào để truyền tải thông điệp thế giới hòa bình không có chiến tranh.
Đến nay, đã có 3.000 cây hoa anh đào đã được tặng cho các nước trên thế giới… Ông Hiếu cho hay, 100 cây hoa anh đào sẽ được trồng tại Công viên Châu Á, khi công viên này đang hình thành không gian văn hóa của 9 nước, trong đó có Nhật Bản. Dự kiến, TP Đà Nẵng sẽ tổ chức lễ hội hoa anh đào diễn ra vào tháng 4-2016. (Công An Nhân Dân 25/2; Quân Đội Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Theo kế hoạch năm 2016, toàn tỉnh Nam Định sẽ trồng 223 ha rừng phòng hộ và 500 nghìn cây phân tán các loại. Đồng chí Bạch Ngọc Chiến- Phó chủ tịch UBND tỉnh đã tới dự.
Đây là một trong những hoạt động thiết thực của việc học tập và làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh hưởng ứng Tết trồng cây, góp phần quan trọng vào cải thiện môi trường sinh thái trước những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu.
Đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo Sở NN&PTNT, Đoàn TNCSHCM tỉnh đã trực tiếp tham gia trồng mới hơn 1000 cây phi lao bổ xung vào dự án trồng rừng phòng hộ của tỉnh, đây là loại cây trồng có tác dụng chắn sóng ven biển tốt. Theo kế hoạch năm 2016, toàn tỉnh sẽ trồng 223 ha rừng phòng hộ và 500 nghìn cây phân tán các loại.
Việc làm trên đã góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để tuổi trẻ Nam Định nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của mình đối với công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu bằng những hành động cụ thể, thiết thực. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Nam Định 26/2) đầu trang(
Sau lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ-Xuân Bính Thân 2016”, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ Kho KT789 (Cục Kỹ thuật Binh chủng, Tổng cục Kỹ thuật) bước vào trồng cây ở các khu vực với khí thế phấn khởi...
Hố trồng, phân bón, cây giống... đều được đơn vị chuẩn bị chu đáo từ trước. Chỉ sau một ngày, hơn 2.300 cây keo, cây sưa, cây sấu, cây sao đen... đã được trồng tại các vị trí, theo đúng kế hoạch của đơn vị.
Đại tá Lê Ngọc Vượng, Chủ nhiệm Kho KT789 cho biết: Đảng ủy, chỉ huy kho luôn xác định việc trồng cây không chỉ là cải tạo cảnh quan, môi trường, mà còn tạo nguồn thu cải thiện đời sống bộ đội, góp phần nâng cao chất lượng công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật.
Những năm qua, Kho KT789 luôn tổ chức thực hiện tốt phong trào trồng cây, đưa việc trồng cây thành nội dung, chỉ tiêu thi đua hằng năm của đơn vị. Riêng năm 2015, đơn vị đã trồng, chăm sóc được 4.000 cây keo, cây sấu, cây xà cừ... nâng số cây xanh, cây ăn quả, cây lấy gỗ đã trồng trong toàn đơn vị lên gần một vạn cây.
Triển khai phong trào “Tết trồng cây” năm nay, đơn vị đã tích cực chuẩn bị từ khâu quy hoạch khu trồng cây, khu tăng gia sản xuất, đào hơn 2.300 hố trồng và phối hợp với cấp trên để chọn cây giống phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của đơn vị.
Sau khi cẩn thận tưới nước vào gốc những cây keo mới trồng, Thiếu úy QNCN Phạm Văn Phương, nhân viên Trạm Bảo dưỡng-Sửa chữa (Kho KT789) chia sẻ: Làm việc trong cái nắng nóng, oi bức của mùa hè tại xưởng, tiếp xúc với khí tài trang bị, dầu mỡ, chúng tôi càng thấy ý nghĩa thiết thực của việc trồng cây. Hưởng ứng phong trào trồng cây của đơn vị phát động, tất cả chúng tôi đều hăng hái tham gia và càng thấm nhuần sâu sắc hơn lời Bác Hồ dạy.
Còn Hạ sĩ Phùng Thế Chinh, chiến sĩ Trung đội Vệ binh thì cho rằng: Từng khu vực, cây trồng đều được chỉ huy đơn vị phân công, giao nhiệm vụ đến từng bộ phận, từng người. Trách nhiệm của chúng tôi là phải trồng, chăm sóc, bảo vệ cây, thực hiện trồng cây nào là sống, xanh tốt cây đó, để đơn vị ngày càng xanh, sạch, đẹp hơn...
Không chỉ có Kho KT789, các đơn vị kho, xưởng, tiểu đoàn của Cục Kỹ thuật binh chủng đều thực hiện tốt phong trào trồng cây, tạo được cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Nhiều đơn vị còn trồng tổ chức các khu trồng cây ăn quả, cây công nghiệp như chuối, mía... Nhờ vậy, các đơn vị đã tăng thêm nguồn thu, cải thiện đáng kể đời sống cho bộ đội.
Trong thời gian tới, Đảng ủy, chỉ huy Cục Kỹ thuật binh chủng lãnh đạo, chỉ đạo cơ quan, đơn vị làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm để bộ đội tích cực tham gia trồng cây, đồng thời là lực lượng xung kích trong tham gia phòng, chống cháy rừng. Sau mỗi đợt trồng cây, từng đơn vị phải giao nhiệm vụ cụ thể cho các bộ phận chăm sóc, bảo vệ chu đáo, để cây trồng đạt tỷ lệ sống cao, phát triển xanh tốt. (Quân Đội Nhân Dân 25/2) đầu trang(
Toàn tỉnh hiện có 23 cơ sở hoạt động sản xuất gieo ươm cây phục vụ kế hoạch trồng rừng; hàng năm cung cấp được khoảng 30. 560.000 cây giống, qua đó có thể đáp ứng trồng được trên 15.200ha. Giá trị kinh tế trên 1ha đơn vị trồng rừng còn rất thấp, ước chỉ đạt 5 triệu đồng/năm.
Đây là những nội dung được đưa ra tập trung thảo luận tại Hội nghị đưa giống tốt vào sản xuất lâm nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 do Sở NN&PTNT tổ chức sáng ngày 25/2. Tham dự Hội nghị có các viện, trung tâm khoa học, lãnh đạo một số huyện, thành phố, các xã trên địa bàn tỉnh
Tính đến hết năm 2015, trên địa bàn toàn tỉnh có 13 nguồn giống đã được ngành chuyên môn công nhận, qua đó hàng năm cung cấp vật liệu cho các vườn giống được 4 triệu cây. Từ đó có thể trồng được trên 2.200ha, đáp ứng được 18% nhu cầu toàn tỉnh. Tuy nhiên nếu được chăm sóc và khai thác theo đúng quy trình, kỹ thuật thì nguồn giống trên có thể tăng lên 12 triệu cây, qua đó đáp ứng được 54% nhu cầu toàn tỉnh.
Cũng trong giai đoạn 2010 – 2015 toàn tỉnh đã cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh cây lâm nghiệp cho 33 cơ sở, đến nay chỉ còn 23 cơ sở hoạt động; trong đó có 7 đơn vị quốc doanh, 16 đơn vị tư nhân. Hàng năm các vườn ươm trên có thể gieo được khoảng 30.560.000 cây, qua đó đáp ứng trồng được trên 15.200ha, đáp ứng được 43% nhu cầu toàn tỉnh.
Do đó hàng năm các huyện, thành phố trong tỉnh phải thu mua từ các đơn vị ngoại tỉnh chiếm 57%. Công tác thẩm định nguồn gốc giống mặc dù đã được các huyện, thành phố quan tâm song chất lượng giống hiện nay còn rất thấp; tỷ lệ giống tốt có chất lượng cao được đưa vào trồng hàng năm chỉ đạt 10% tổng số giống rừng trồng. Nguồn nguyên liệu giống để cung cấp cho các vườn ươm chiếm tỷ lệ rất thấp do đó phải thu mua từ bên ngoài, điều này khiến cho khó kiểm soát chất lượng nguồn nguyên liệu giống.
Thảo luận tại Hội nghị, các đại biểu đồng tình, đánh giá rất cao ý nghĩa của Hội thảo, thông qua đó sẽ góp phần từng bước khai thác có hiệu quả các tiềm năng, từng bước thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp.
Để làm  tốt hơn nữa công tác quản lý giống trong sản xuất lâm nghiệp, các đại biểu đề nghị: Tỉnh cần có một chiến lược dài hơi về nhu cầu giống tốt của nhân dân, có phân theo từng loại giống, địa bàn và theo từng năm; thực hiện nghiêm ngặt việc đối với quản lý đối với các vườn ươm, rừng trồng bằng nguồn ngân sách nhà nước; đẩy mạnh công tác tuyên truyền gắn với đó là xây dựng các mô hình trồng rừng bằng nguồn giống tốt.
Quan tâm tìm đầu ra cho sản phẩm, gắn sản xuất với tìm đầu ra cho sản phẩm để nâng hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích. Tăng cường công tác phối kết hợp với các viện, trung tâm khoa học thiết thực và hiệu quả hơn. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Giang 25/2) đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường ở nhiều nơi còn được gọi là chi trả dịch vụ hệ sinh thái, là một sáng kiến bảo tồn bắt nguồn từ lý thuyết kinh tế học tân tự do.
Xây dựng trên nền tảng của kinh tế học tân cổ điển, kinh tế học tân tự do đề xuất sự dịch chuyển vai trò điều tiết của nền kinh tế từ khu vực công sang khu vực tư và cho rằng thị trường có khả năng phân bổ tối ưu tài nguyên và hàng hóa (bao gồm cả các dịch vụ môi trường) với điều kiện là các quyền sở hữu được phân định rõ ràng.
Định nghĩa về chi trả dịch vụ môi trường (Wunder, 2005) đang được sử dụng rộng rãi là một ví dụ tiêu biểu cho lý thuyết này. Tuy nhiên, từ lý thuyết tới thực tế vẫn còn là khoảng cách: phần lớn các chương trình/sáng kiến chi trả dịch vụ môi trường trên thế giới không đảm bảo đầy đủ các tiêu chí theo định nghĩa của Wunder.
Nhiều học giả đã đưa ra bằng chứng cho thấy chi trả dịch vụ môi trường hoàn toàn theo thị trường là điều không mong muốn và bất khả thi. Thực tế cho đến nay sự tham gia của khu vực công (cụ thể hơn là Nhà nước) vẫn đóng vai trò rất quan trọng trong các sáng kiến chi trả dịch vụ môi trường.
Sarah Scherr & nnk (2011) chia vai trò của Nhà nước (đại diện bởi Chính phủ) trong chi trả dịch vụ môi trường làm 3 dạng:Mua dịch vụ môi trường (một chiến lược thay thế hoặc bổ sung cho các quy định pháp luật); Điều khiển/điều tiết giao dịch dịch vụ môi trường (huy động cầu dịch vụ môi trường của khu vực tư nhân thông qua các quy định tuân thủ luật môi trường hoặc thiết lập các hệ thống trao đổi quota hàng hóa và dịch vụ môi trường); Hỗ trợ (hỗ trợ và thúc đẩy sự hình thành, phát triển của các giao dịch dịch vụ môi trường tự nguyện của khu vực tư nhân).
Bài viết này nhằm phân tích sự chuyển biến về vai trò của Nhà nước trong sự hình thành và phát triển của chi trả dịch vụ môi trường ở Việt Nam theo ba dạng như trên thông qua một số mốc thời gian quan trọng, qua đó đưa ra một số đề xuất định hướng cho sự phát triển của chi trả dịch vụ môi trường trong tương lai trên cơ sở cân bằng giữa các yếu tố thị trường và phi thị trường.
Mặc dù bài viết chỉ tập trung vào vấn đề chi trả dịch vụ môi trường rừng liên quan chủ yếu đến ngành lâm nghiệp, song những phân tích này vẫn có giá trị nhất định đối với các lĩnh vực chi trả dịch vụ môi trường khác đã hoặc sẽ có ở Việt Nam.
Sau một thời gian dài dưới cơ chế quản lý rừng kế hoạch hóa và tập trung (giai đoạn trước năm 1990), diện tích rừng của Việt Nam bị thu hẹp đáng kể, đe dọa nghiêm trọng môi trường sống và sinh kế của người dân.
Trước tình hình này, từ năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định 327-CT về một số chủ trương sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước, trong đó chú trọng tới công tác giao đất giao rừng và hỗ trợ đầu tư cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.
Đây là tiền thân của Dự án 661 (thường gọi là Dự án 5 triệu ha rừng), được Quốc hội phê chuẩn năm 1997 và Chính phủ quyết định thực hiện từ năm 1998 (Quyết định 661/QĐ-TT ngày 29/7/1998) với mục tiêu nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên mức 43% vào năm 2010.
Đối với trồng rừng, Chương trình 661 hỗ trợ tài chính và cây giống cho người dân còn bảo vệ rừng được thực hiện qua hình thức khoán bảo vệ. Tuy có nhiều nguồn vốn khác nhau nhưng vốn đầu tư cho Dự án 661 từ ngân sách Nhà nước là chủ yếu. Vì vậy có thể coi đây là một dạng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó, nguồn tài chính lấy từ ngân sách nhà nước (Chính phủ là đại diện cho bên chi trả dịch vụ môi trường) chuyển tới người dân (bên cung cấp dịch vụ môi trường) để bảo vệ và phát triển rừng (trong đó có các dịch vụ môi trường rừng).
Cho tới nay, đây vẫn là cơ chế chi trả dịch vụ môi trường phổ biến ở nhiều nước, ví dụ như Chương trình Quốc gia Bảo tồn rừng của Trung Quốc (Liu và nnk, 2008). Ngay cả tại những nước có nền kinh tế thị trường hóa ở mức độ cao như Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu, Chính phủ vẫn trực tiếp chi trả cho các chương trình cho bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường trong nông nghiệp, trong đó, riêng Chương trình Hóa đơn nông trại của Hoa Kỳ đã chi trả cho các chủ sử dụng đất tư nhân tới 4,5 tỉ đô la Mỹ trong năm 2005 (Scherr & nnk, 2007).
Trên phạm vi toàn cầu, theo FAO (2007) và Milder & nnk (2010), khu vực công (gồm chính phủ ở các cấp, các tổ chức quốc tế và các tổ chức đa phương như Ngân hàng thế giới) là bên mua lớn nhất đối với các dịch vụ môi trường.
Thách thức lớn nhất của các chương trình chi trả dịch vụ môi trường do Nhà nước chi trả là vấn đề hiệu quả (Scherr & nnk, 2011). Do được thực hiện ở quy mô lớn và thường ôm đồm nhiều mục tiêu, các chương trình dạng này thường không được thiết kế đủ chi tiết để tính tới sự khác biệt của các địa phương và của các loại dịch vụ môi trường khác nhau cũng như bị “dàn trải” vốn, đặc biệt là cho lĩnh vực giảm nghèo. Là một chương trình kinh tế – xã hội – sinh thái tổng hợp không chỉ chú trọng vào độ che phủ rừng mà còn hướng tới mục tiêu xóa đói giảm nghèo cho người dân sinh sống dựa vào rừng, Chương trình 661 cũng không phải là ngoại lệ.
Đã có khá nhiều ý kiến trái chiều về lựa chọn cây giống, chi phí giao dịch, mức độ minh bạch và sự tham gia của người dân, hiệu quả thực tế trong bảo vệ rừng ở nhiều nơi, v.v của chương trình này. Tuy nhiên, xem xét dưới góc độ thị trường, không thể phủ nhận vai trò của Chương trình 661 (dù là một chương trình mang tính bao cấp) trong việc tạo ra nền tảng cho chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng sau này bằng một loạt các biện pháp như giao đất giao rừng, khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ trồng rừng và các hoạt động nâng cao nhận thức khác.
Ở đây, Nhà nước với vai trò là bên mua đã khởi xướng các yếu tố ban đầu cho thị trường dịch vụ môi trường rừng và thúc đẩy nhận thức của các bên về chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Trước khi Chương trình 661 kết thúc, Chính phủ Việt Nam đã quyết định thử nghiệm một cơ chế mới để huy động nguồn lực cho ngành lâm nghiệp theo Quyết định 380/QĐ-TTg về thử nghiệm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại hai tỉnh Lâm Đồng và Sơn La từ năm 2008 đến năm 2010. Đến năm 2010, quá trình thử nghiệm kết thúc và cơ chế chi trả này được nhân rộng ra toàn quốc bằng Nghị định 99/Nghị định-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
So với Chương trình 661, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng không có nhiều khác biệt căn bản trừ việc gánh nặng tài chính được chuyển từ Ngân sách nhà nước sang khu vực tư nhân (các công ty thủy điện, cơ sở kinh doanh du lịch, công ty cung cấp nước sạch).
Cho dù có một số nghiên cứu gần đây chỉ ra một số đơn vị chi trả dịch vụ môi trường rừng là doanh nghiệp nhà nước (như SAWACO ở Thành phố Hồ Chí Minh hay Tập đoàn Điện lực Việt Nam) vì vậy đây nên được xem là tiền từ khu vực công (McElwee, 2012), chúng tôi vẫn cho rằng dòng tài chính này mang tính chất “tư nhân” vì hai lý do: (1) các doanh nghiệp nói trên vẫn hướng tới lợi nhuận giống như tư bản tư nhân và (2) thực chất số tiền chi trả được thu từ các doanh nghiệp và cá nhân trực tiếp sử dụng dịch vụ chứ không phải từ các công ty nói trên.
Thêm một điểm mới của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng so với Chương trình 661 – được kỳ vọng sẽ thúc đẩy yếu tố “thị trường” – là tính điều kiện (thể hiện qua các nghiên cứu về hệ số K và các quy định về theo dõi và giám sát). Tuy nhiên, trên thực tế, cho đến nay việc đảm bảo tính điều kiện trong chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99 là rất hạn chế do các nguyên nhân kỹ thuật và tài chính.
Trên thế giới, vai trò “điều khiển” chi trả dịch vụ môi trường của Nhà nước thường được thực hiện qua hai hình thức: (1) quota (Nhà nước đặt ra ngưỡng cho phép sử dụng dịch vụ hoặc gây ô nhiễm nhất định, ví dụ Khung quy định tín chỉ chất lượng nước thử nghiệm tại Hoa Kỳ) và (2) các cơ chế chứng chỉ sinh thái (hàng hóa và dịch vụ được chứng nhận về các dịch vụ môi trường thông qua quá trình sản xuất, như trường hợp chứng chỉ gỗ có nguồn gốc hợp pháp và thu hoạch bền vững của EU).
Trong các trường hợp này thì các quy định có tính bắt buộc về hạn mức, còn các bên sử dụng dịch vụ môi trường được quyền thỏa thuận với bên cung cấp dịch vụ môi trường hoặc với nhau để đạt được hạn mức đó với chi phí mà họ cho là hợp lý nhất.
Trong trưởng hợp chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam, tuy được gọi là “chi trả” song trên thực tế các doanh nghiệp và cá nhân thực hiện theo Nghị định 99 là tuân theo quy định có tính bắt buộc mang tính chất nộp phí sử dụng tài nguyên/bảo vệ môi trường nhiều hơn là giao dịch chi trả dịch vụ môi trường theo đúng định nghĩa của nó.
Như vậy, tuy các quy định liên quan về chi trả dịch vụ môi trường rừng hướng tới yếu tố thị trường và kinh tế hóa dịch vụ môi trường rừng nhưng việc thực hiện các quy định này vẫn mang màu sắc phi thị trường vì bản chất các hàng hóa/dịch vụ môi trường rừng vẫn được nhìn nhận là “tài sản công” mà không phải là “tài sản tư nhân”.
Điều này có thể hiểu được trong bối cảnh chúng ta còn thiếu các kết quả nghiên cứu định lượng về sự hình thành, giới hạn và sự biến động của các loại dịch vụ môi trường rừng cũng như một khung pháp lý chặt chẽ về quyền sở hữu/sử dụng tài nguyên. Tuy nhiên, chính sách này cũng đặt ra một nguy cơ gây suy giảm, thậm chí triệt tiêu động lực phát triển của các giao dịch tự nguyện về dịch vụ môi trường rừng.
Thông qua Nghị định 99, Chính phủ đặt ra “luật chơi” và thiết lập một hệ thống chi trả gián tiếp (hệ thống quỹ bảo vệ và phát triển rừng từ trung ương tới các tỉnh). Chi trả trực tiếp giữa bên sử dụng và bên cung cấp dịch vụ có được đề cập trong Nghị định 99, song không được chi tiết hóa và do vậy không tạo ra khuyến khích để các bên thực hiện dạng chi trả này.
Các doanh nghiệp sẽ cho rằng họ chỉ cần thực hiện nghĩa vụ theo Nghị định 99 là đủ, người dân bảo vệ và phát triển rừng thiếu căn cứ để đề nghị chi trả trực tiếp, còn chính quyền địa phương sẽ nhìn thấy rủi ro về chính trị khi thực hiện các hoạt động không được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật. Trong khi đó, ở Việt Nam sự tham gia hỗ trợ của chính quyền địa phương là không thể thiếu trong việc hình thành và vận hành của các cơ chế chi trả dịch vụ môi trường.
Nghiên cứu của chúng tôi về mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện giữa một bên là các hộ kinh doanh du lịch sinh thái tại hồ Ba Bể và một bên là các hộ ở thôn phía đầu nguồn nước (năm 2013) cho thấy cho dù cả hai bên đều rất mong muốn thực hiện, mô hình đã không thể duy trì do thiếu sự hỗ trợ liên tục của các cơ quan chính quyền ở địa phương.
Dù không có các nghiên cứu đầy đủ trên toàn quốc, song chúng tôi tạm kết luận Nghị định 99 đã không hỗ trợ được sự phát triển của các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện. Một đánh giá nhanh qua công cụ tìm kiếm Google với cụm từ “chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện” (22/1/2016) chỉ cho ra đúng 4 kết quả, đều liên quan tới mô hình nói trên tại huyện Ba Bể. Có thể vẫn tồn tại nhiều cơ chế khác, tuy nhiên, sự thiếu vắng trên công cụ tìm kiếm internet phổ biến nhất hiện nay cho thấy ít nhất các mô hình như vậy không nhận được sự quan tâm đầy đủ của các bên.
Tương lai của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam: Nhà nước trong vai trò hỗ trợ?
Không thể phủ nhận vai trò của Nghị định 99 trong việc “tạo đà” cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam cũng như trong việc huy động nguồn lực từ khối tư nhân cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tuy nhiên, chính sách mang tính áp đặt này cũng sẽ khiến cho chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam có nguy cơ không bền vững khi mà các ưu tiên chính sách trong tương lai có thể thay đổi trong bối cảnh các doanh nghiệp ở Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh rất lớn trong quá trình hội nhập tới đây. Thêm vào đó là nguy cơ làm mất đi cơ hội có được các dòng tài chính và sáng kiến/cơ chế linh hoạt và đa dạng khác.
Cần thừa nhận rằng việc thúc đẩy các yếu tố thị trường cho các giao dịch về dịch vụ môi trường rừng sẽ bền vững hơn nhưng cũng đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, nhất là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền sở hữu/sử dụng tài sản tự nhiên và lượng hóa các dòng hàng hóa và dịch vụ môi trường.
Vì vậy trong tương lai gần, việc điều tiết dịch vụ môi trường rừng bằng các công cụ thị trường như “thương mại hóa dịch vụ môi trường” hoặc “Đền bù chi phí cơ hội” (Wunder, 2007; van Noordwijk & Leimona, 2011) là không khả thi vì các yếu tố kinh tế-xã hội nền tảng cho các công cụ này như hệ thống quy định pháp luật về quyền sở hữu và sử dụng tài nguyên còn chưa đầy đủ. Hơn nữa, bản thân các dịch vụ môi trường rừng vẫn được nhìn nhận là “tài sản công” nên các công cụ thị trường khó có thể phát huy đầy đủ tác dụng.
Nhiều nước trên thế giới đã có những bước đi theo hướng phân quyền, tạo ra những cơ chế linh hoạt cho phép khối tư nhân tham gia cung cấp dịch vụ công và cơ chế hợp tác công-tư trong lĩnh vực này. Một mặt nào đó quá trình này giống với việc tham gia của doanh nghiệp trong cung cấp các dịch vụ bưu chính viễn thông song song với xu hướng giảm dần sự khống chế về giá cả của Nhà nước (Scherr & nnk, 2011). Chúng tôi cho rằng đây là một hướng đi cần được thử nghiệm ở một quy mô nhất định.
Với tiêu chí “hỗ trợ và thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các giao dịch dịch vụ môi trường tự nguyện của khu vực tư nhân”, các biện pháp sau đây có thể được cân nhắc:
Hỗ trợ chính sách và thể chế: Đưa ra các quy định chi tiết hơn cho các giao dịch tự nguyện, tạo ra hành lang pháp lý để các bên có thể tham gia; Khuyến khích xây dựng và áp dụng các hệ thống chứng nhận sinh thái; Quy định cụ thể về nhiệm vụ của các cơ quan chính quyền liên quan trong thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện; Nghiên cứu nhân rộng các mô hình/sáng kiến chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện hiện có.
Hỗ trợ kỹ thuật: Cung cấp các đầu mối liên lạc của chính quyền để các bên có thể gặp và yêu cầu hỗ trợ trong chi trả dịch vụ môi trường, ví dụ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng các cấp ngoài chức năng quản lý tài chính và giám sát còn phải đóng vai trò trung gian trong các giao dịch chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện; Cung cấp các khóa đào tạo và cung cấp thông tin cho các bên liên quan như một dịch vụ tư vấn; Tiến hành các nghiên cứu lượng hóa dịch vụ môi trường, xây dựng các bản đồ dịch vụ môi trường rừng để các bên quan tâm có thể chọn địa điểm ưu tiên; Thiết lập đối tác với các doanh nghiệp để giúp thiết kế và khởi động các dự án về chi trả dịch vụ môi trường.
Với những hoạt động như trên, các cơ quan Nhà nước sẽ đóng vai trò tích cực hơn, thậm chí trực tiếp tham gia các giao dịch chi trả dịch vụ môi trường rừng với tư cách là bên trung gian hiện chủ yếu do các dự án và các tổ chức phi chính phủ đảm nhận, hoặc giúp nhân rộng các sáng kiến của những tổ chức này.
Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước cũng sẽ đóng vai trò chủ động hơn trong việc tìm kiếm những nguồn tài chính bổ sung cho công tác bảo vệ rừng và môi trường nói chung.
Quỹ Tài chính Lâm nghiệp Quốc gia (FONAFIFO) của Costa Rica là một ví dụ tốt cho mô hình này: FONAFIFO vừa có chức năng quản lý Nhà nước về chi trả dịch vụ môi trường như phân bổ ngân sách, vừa có quyền (tuy nhiên không phải là độc quyền) tìm kiếm các nguồn tài chính khác để thực hiện chi trả dịch vụ môi trường trong nước cũng như quốc tế (Porras & nnk, 2013).
Như vậy, Nhà nước có thể cùng một lúc đóng vai trò “điều khiển” và “hỗ trợ” các bên trong chi trả dịch vụ môi trường rừng và từng bước giúp hình thành cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng theo thị trường một cách bền vững.
Mặc dù khái niệm chi trả dịch vụ môi trường bắt nguồn từ lý thuyết thị trường, việc Nhà nước trực tiếp tham gia điều tiết chi trả dịch vụ môi trường rừng vừa cần thiết vừa là điều mà các bên chi trả dịch vụ môi trường rừng đều mong muốn. Trong ngành lâm nghiệp, từ những năm 1990 đến nay, Nhà nước đã chuyển dần từ vai trò bên mua dịch vụ môi trường rừng sang bên điều khiển chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Bằng Nghị định 99 và các văn bản pháp luật liên quan khác, Chính phủ đã tạo ra một khung pháp lý khá vững chắc cho chi trả dịch vụ môi trường và huy động được đầu tư từ các doanh nghiệp tư nhân vào công tác quản lý bảo vệ rừng. Tuy nhiên, sự đầu tư này có tính bắt buộc tuân thủ quy định pháp luật hơn là đầu tư một cách tự nguyện để đảm bảo vốn tài nguyên và môi trường.
Điều này đe dọa tính bền vững của chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và đặt ra yêu cầu về phía Chính phủ phải có chính sách, hành động theo hướng hỗ trợ: mở rộng khung pháp lý, trực tiếp tham gia và thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các mô hình chi trả dịch vụ môi trường tự nguyện giữa doanh nghiệp/các tổ chức khác và các cộng đồng dân cư cũng như giữa các cộng đồng dân cư khác nhau.
Đây là những bước đi phù hợp với lý thuyết về sự “tiến hóa” vai trò của Nhà nước trong chi trả dịch vụ môi trường cũng như trong phát triển nền kinh tế thị trường nói chung ở nước ta. (Môi Trường Và Đời Sống 25/2) đầu trang(
Trong một vài năm trở lại đây, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng đã có nhiều tiến bộ, nhất là những diện tích rừng được chi trả phí dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ.
Chính sách chi trả DVMTR là một chính sách mới. Tiền phí thu được là để bảo vệ và phát triển rừng, chi trả trực tiếp cho các tập thể, tổ chức và người dân trực tiếp trồng, bảo vệ, phát triển rừng nằm trong lưu vực. Nói như vậy không có nghĩa là công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng nói chung không được quan tâm.
Dẫu còn nhiều khó khăn nhưng hàng năm, Yên Bái vẫn dành khá nhiều nguồn vốn cho công tác phát triển rừng. Bình quân mỗi năm trồng mới trên dưới 15 ngàn héc-ta rừng từ vùng thấp đến vùng cao, từ rừng phòng hộ đến rừng kinh tế. Nhờ vậy, diện tích rừng ngày một nâng lên.
Hết năm 2015, diện tích rừng toàn tỉnh đã đạt 428.138 ha, độ che phủ đạt 61,5%. Trong đó, có 234.000 ha rừng tự nhiên còn lại là rừng trồng sản xuất và phòng hộ.
Chỉ tính riêng năm 2015, toàn tỉnh đã trồng 15.497,3 ha; trong đó, rừng trồng sản xuất tập trung 12.352,9 ha, bao gồm: keo các loại 4.765,7 ha; quế 4.606,2 ha; bạch đàn 72,4 ha; bồ đề 791,7 ha; xoan, mỡ 212,3 ha; tre Bát độ, mai 48,7 ha; cây lâm nghiệp khác 1.855,9 ha (diện tích trồng lại rừng sau khai thác 10.425,9 ha; diện tích trồng rừng mới 1.927,7 ha); 875 ha rừng trồng phòng hộ và 3.767.225 cây phân tán, quy diện tích 2.269,4 ha.
Nhưng có một thực tế là đời sống người dân, nhất là người dân vùng cao, vùng đồng bào dân tộc có diện tích rừng nằm trong các lưu vực được chi trả tiền DVMTR đã nâng lên rõ rệt.
Ý thức trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, chủ rừng ngày một nâng cao. Từ người khai thác, chặt phá rừng nay chuyển sang trồng và tu bổ rừng, các vụ việc vi phạm lâm luật giảm hẳn, chất lượng tài nguyên rừng nâng lên. Năm 2015, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng đã chi trả cho các chủ rừng trên 36 tỷ đồng với diện tích rừng được chi trả trên 166 ngàn héc-ta (diện tích chưa quy đổi).
Trong đó, diện tích rừng nằm trong lưu vực sông Đà 51.861 ha, lưu vực sông Hồng trên 67 ngàn héc-ta, lưu vực sông Chảy trên 45 ngàn héc-ta. Có thể nói, chính sách chi trả phí DVMTR được coi là bước đột phá trong nhận thức và hành động của toàn xã hội về trách nhiện bảo vệ và phát triển rừng, không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị phòng hộ mà còn trực tiếp tạo thêm nguồn thu nhập cho người làm rừng.
Xã Nậm Khắt, huyện Mù Cang Chải có 5.636 ha rừng. Trước đây, bà con mỗi năm chỉ được nhận trên dưới 200 ngàn đồng tiền khoán bảo vệ rừng. Nay vẫn diện tích này, bà con trong xã được nhận thêm 1,135 tỷ đồng từ tiền phí DVMTR.
Gia đình Giàng A Hảng được giao quản lý bảo vệ trên 5 ha rừng. Như vậy, mỗi năm, gia đình cũng có nguồn thu 2,5 triệu đồng từ tiền khoán, bảo vệ và phí DVMTR. Số tiền tuy không phải là quá lớn nhưng cũng góp phần nâng cao cuộc sống của người dân vùng cao nơi đây và sẽ là động lực để bà con yêu rừng hơn, giữ rừng tốt hơn.
Bên cạnh đó, Nghị định số 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ cũng quy định rõ, chủ rừng phải bảo đảm diện tích rừng cung ứng dịch vụ được bảo vệ phát triển theo đúng chức năng được quy định trong quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Hộ nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài phải bảo đảm diện tích rừng cung ứng dịch vụ được bảo vệ phát triển theo đúng hợp đồng đã ký kết với chủ rừng.
Qua 5 năm triển khai thực hiện cho thấy, các chủ rừng, diện tích rừng được chi trả DVMTR đều bảo đảm các yêu cầu theo các hợp đồng ký kết.
Rõ ràng việc thực hiện chính sách chi trả phí DVMTR không chỉ đem lại lợi ích kinh tế cho người làm rừng, xóa đói giảm nghèo mà chắc chắn, ý thức bảo vệ và phát triển rừng của người dân không ngừng nâng lên. Đó là bước đột phá trong công tác bảo vệ, phát triển rừng trên địa bàn. (Báo Yên Bái 25/2) đầu trang(
Với 300,000 lao động và trị giá gần 7 tỷ USD (số liệu năm 2015), ngành công nghiệp gỗ Việt Nam được xây dựng vững chắc trên nền tảng những cánh rừng tự nhiên.
Tuy nhiên, mô hình chứng chỉ FSC và bài học về trồng, quản lý và khai thác rừng bền vững đã làm thay đổi nhận thức, sinh kế và cuộc sống của người dân nơi đây; đồng thời giảm tải áp lực lên tài nguyên thiên nhiên của Quốc gia cũng như giảm thiểu việc nhập khẩu, buôn bán gỗ lậu từ các nước trong khu vực.TMT giới thiệu câu chuyện thành công của Forexco - một doanh nghiệp gỗ Việt Nam được ghi nhận trên thế giới theo nguồn của WWF-Việt Nam.
Nhu cầu về đồ gỗ có chứng chỉ của Hội đồng Quản trị Rừng thế giới (FSC) mang đến một tương lai vững chắc hơn cho những người trồng rừng ở Việt Nam.
Ông Lê Xuyên phát biểu: “Tôi và cha tôi rất tâm huyết với nghề trồng rừng. Chúng tôi đã tham gia trồng rừng cho Công ty Forexco từ hơn 10 năm trước. Kể từ đó, kinh tế của gia đình chúng tôi trở nên khấm khá hơn và tích lũy được nhiều tiền hơn. Cụ thể tôi đã mua được xe hơi, còn bố tôi tạo dựng được trang trại – tất cả là nhờ vào trồng rừng”.
Hiện đang quản lý 180ha rừng trồng cho Công ty Forexco ông Xuyên là một trong số hàng trăm ngàn người dân sống phụ thuộc vào lâm sản.
Riêng ngành công nghiệp đồ gỗ cần đến 300,000 nhân công, đạt giá trị lên tới  gần 7 tỷ đô-la Mỹ trong năm 2015.Nhưng trong những năm tăng trưởng ngành công nghiệp chế biến và hoạt động buôn bán xuất khẩu lâm sản lại có nền tảng không vững chắc, tài nguyên rừng của Việt Nam đã bị khai thác quá mức.
Trong vòng 40 năm qua, quốc gia mất tới 43% diện tích rừng, đe dọa đến hệ sinh thái phong phú và đem lại những vấn đề môi trường như sạt lở đất, lũ lụt ngày càng nghiêm trọng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng, Việt Nam đẩy mạnh nhập khẩu gỗ.
Forexco, công ty sản xuất đồ gỗ mà ông Xuyên cung cấp nguyên liệu đã nắm bắt được xu thế kinh doanh mới trong việc trồng, quản lý và khai thác rừng bền vững.
Phó giám đốc Đặng Công Quang giải thích: “Trước năm 2000, ngành sản xuất đồ gỗ chủ yếu sử dụng rừng tự nhiên. Tuy nhiên, do nhận thức của người sử dụng châu Âu cũng như nhận thức của bản thân người Việt trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng, chúng tôi ngưng sử dụng gỗ được khai thác từ rừng tự nhiên bởi vì việc khai thác quá mức gây hại tới môi trường và các cánh rừng. Từ năm 2000, công ty chúng tôi chuyển hướng sang sản xuất đồ gỗ xuất khẩu bằng gỗ rừng trồng, đặc biệt là gỗ cây keo”.
Việc trồng rừng có thể cung cấp nguồn gỗ hiệu quả giúp giảm gánh nặng lên các khu rừng tự nhiên và giảm nguy cơ gỗ khai thác bất hợp pháp trà trộn vào dây chuyền cung ứng. Tuy nhiên gỗ rừng trồng ở Việt Nam không phải là giải pháp thân thiện với môi trường: các hoạt động thiếu bền vững như khai thác trắng cả khu vực rộng lớn, đốt thực bì, chặt hạ cây quanh các nguồn nước và lạm dụng phân bón hóa học và thuốc sâu có thể gây ra những tác động xấu lên môi trường.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng châu Âu với đồ gỗ có nguồn gốc bền vững và rõ ràng, Forexco quyết định theo đuổi chứng chỉ FSC. Thời điểm trước đây với một lượng ít gỗ được cấp chứng chỉ tại Việt nam, công ty phải dựa vào nguồn gỗ nhâp khẩu đắt tiền từ Malaysia và Nam Mỹ. Được  sự hỗ trợ của WWF, Forexco bắt đầu xây dựng nguồn cung cấp gỗ nguyên liệu nội địa đạt FSC ngay trên đất công ty do những người dân như ông Xuyên quản lý và hợp tác với các hộ nhỏ lẻ.
Không phải qua một đêm mọi thứ thay đổi được. Ông Quang cho biết: “Người dân thường sử dụng các phương pháp và quy trình trồng cây theo cách cũ. Để thay đổi, công ty chúng tôi phải tổ chức tập huấn cho bà con nhiều lần. Nhờ đó họ có thể hiểu được sự cần thiết phải bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học và tránh được biến đổi khí hậu”.
Forexco đã thực hiện nhiều khóa tập huấn và các hoạt động nâng cao nhận thức cho người ươm trồng cây, công nhân, và cộng đồng để họ  tuân thủ 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí do FSC quy định. Công ty cung cấp cây giống và hỗ trợ mọi chi phí trồng cây. Từ năm 2013,Forexcocũng đã hổ trợ hai hộ trồng rừng ở các đại bàn lân cận rừng Công ty phát triển mở rộng thêm245 ha rừng được cấp chứng chỉ FSC.
Ông Quang cho biết:  “Với FSC, mỗi héc-ta đem đến cho người dân địa phương thêm gần 15-20% lợi nhuận. Những mảnh rừng trồng được quản lý bền vững trông thật khác biệt với các khu rừng xuống cấp quanh đó, lợi ích kinh tế chẳng còn bao nhiêu.”
Ông Xuyên đã nhìn thấy sự thay đổi trong 10 năm qua. “FSC thực sự cải thiện môi trường tốt hơn” – ông chia sẻ. “Việc không khai thác gần các ao hồ, sông suốiđã bảo về được nguồn nước và chất lượng nước, các cây bản địa được trồng xen kẽ. Cây của tôi khỏe hơn so với những cây được trồng ở nơi đốt thực bì. Các cây non có đủ độ ẩm và lớn nhanh hơn vì đất giữ được ẩm ướt và độ mùn. Nếu chúng tôi đốt cây, khi mùa mưa tới, lớp đất trên cùng sẽ bị trôi đi khiến đất đai trở nên khô cằn”.
“Các tiêu chuẩn FSC rất ngặt nghèo nhưng với chứng chỉ đạt được, các khu rừng trồng đem lại nhiều lợi ích hơn và có giá trị hơn”.
Về cơ bản, công ty đã tạo được thị thường và đưa ra giá tốt cho các hộ cung ứng gỗ nguyên liệu. (Tin Môi Trường 25/2) đầu trang(
Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam (VFD) dược thực hiện từ năm 2012 -2017 nhằm thúc đẩy sự chuyển đổi của Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu để phát triển bền vững và hạn chế phát thải khí nhà kính. Qua 3 năm triển khai đến nay dự án đã đạt được kết quả khả quan.
Với 3 hợp phần chính (Hợp phần cảnh quan bền vững, Hợp phần thích ứng và Hợp phần Điều phối và chính sách) được thực hiện tại Trung ương và 4 tỉnh bao gồm: Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An và Long An, dự án đã giúp các tỉnh tham gia cải thiện quản lý rừng bền vững, trang bị công cụ và khả năng tiếp cận các cơ hội, sinh kế để tăng khả năng chống chịu với các rủi ro trước mắt và lâu dài do biến đổi khí hậu; đồng thời, hỗ trợ cơ quan quản lý các cấp nhận thức rõ rủi ro của biến đổi khí hậu, trang bị công cụ và năng lực giải quyết rủi ro Đối với tỉnh Thanh Hóa, VFD đã kết nối với Chương trình phát thải thấp Châu Á hỗ trợ UBND tỉnh xây dựng Kế hoạch Tăng trưởng xanh; Kế hoạch hành động “Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng, suy thoái rừng, quản lý rừng bền vững và tăng cường trữ lượng các bon rừng”, gọi tắt là Kế hoạch hành động REDD+cấp tỉnh; hỗ trợ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh và các địa phương tổ chức rà soát xác định chủ rừng, diện tích rừng phục vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng thông qua việc việc ứng dụng ảnh vệ tinh tại huyện Quan Hóa và huyện Bá Thước.
Tổ chức 6 khóa tập huấn, tập trung vào việc bồi dưỡng các kiến thức cơ bản về BĐKH cho trên 250 cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và hàng ngàn lượt cán bộ cấp xã, thôn, bản và người dân, góp phần làm thay đổi nhận thức và nâng cao năng lực ứng phó. Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, Ban Chỉ đạo, Tổ công tác cấp huyện, cán bộ cấp xã về chính sách chi trả DVMTR.
Tổ chức các khóa tập huấn, tuyên truyền về chính sách chi trả DVMTR tới cán bộ và nhân dân các địa phương trong lưu vực được chi trả tại 7 huyện: Mường Lát, Quan Hóa, Bá Thước; Quan Sơn, Thường Xuân, Như Xuân và Như Thanh.
Dự án đã hỗ trợ chuyên gia triển khai, đánh giá thực trạng và đề xuất các mô hình sinh kế trên địa bàn tỉnh. Hiện tại, đang hỗ trợ triển khai các mô hình sinh kế thích ứng với khí hậu như: Mô hình chăn nuôi gà địa phương kết hợp nuôi giun quế tại các huyện Mường Lát, Bá Thước và Thường Xuân. Mô hình canh tác lúa cải tiến (SRI) tại huyện Thường Xuân, Bá Thước; Mô hỉnh Nông lâm kết hợp tại Mường Lát và mô hình cải tạo vườn tạp tại Thường Xuân. Đồng thời, triển khai thực hiện 11 mô hình sinh kế tại 3 Khu BTTN (Xuân Liên, Pù Hu, Pù Luông).
Hiện nay, Dự án đang hỗ trợ triển khai hoạt động thí điểm giao đất, giao rừng có sự tham gia tại xã Trung Lý, huyện Mường Lát, hoạt động này nhận được sự đồng thuận, ủng hộ cao của chính quyền và người dân nơi đây, hiện tại, đã hoàn thành công tác ngoại nghiệp và dự kiến sẽ hoàn thành toàn diện trong Quý 1/2016.
Còn đối với Long An, nhóm thực hiện dự án đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức các hoạt động giảm nhẹ rủi ro và phòng chống thiên tai trong hợp phần thích ứng tại 30 xã/thị trấn thuộc 2 huyện Tân Thạnh và cần Đước nhằm nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền địa phương về biến đổi khí hậu; trang bị công cụ và khả năng tiếp cận của người dân với cách thức chuyển đổi sinh kế vùng đồng bằng tăng cường khả năng chống chịu với các rủi ro của biến đổi khí hậu.
Ngoài ra, những mô hình cải thiện sinh kế của Dự án Rừng và Đồng bằng Việt Nam được triển khai thực hiện tại các huyện cần Đước, Tân Thạnh, Đức Hòa, Đức Huệ đã và đang giúp nông dân đổi mới biện pháp canh tác cây lúa, cây bắp theo hướng bền vững, thay đổi nhận thức của nông dân trong việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn đất đai, giảm phát thải nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Qua đó, các mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế, năng suất, chất lượng đều cao hơn so với canh tác truyền thống; giúp người dân quản lý và bồi dưỡng tốt độ phỉ của đất, tiết kiệm nước tưới, hạn chế sử dụng thuốc BVTV và phân hóa học, bảo vệ sức khỏe, môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm... Theo kế hoạch, trong thời gian tới, dự án sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động đã thực hiện trên các xã còn tại tại 2 huyện Cần Đước và Tân Thạnh.
Như vậy, sau 3 năm triển khai, đến nay, dự án đã đạt được hiệu quả trong việc đặt nền móng và xây dựng năng lực nhằm đạt được tăng trưởng xanh, quản lý rừng bền vững, REDD+ và chi trả công bằng cho các dịch vụ môi trường rừng tại các tỉnh tham gia dự án.
Bên cạnh đó, qua việc đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của người dân từng địa phương VFD đã giúp cộng đồng xây dựng kế hoạch ứng phó với khí hậu, nâng cao hiểu biết về biến đổi khí hậu và rủi ro thiên tai cho người dân. (Tài Nguyên Và Môi Trường 25/2) đầu trang(
Nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, kết hợp phát triển công nghiệp chế biến lâm sản với công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tăng nguồn thu, giải quyết việc làm, cải thiện môi trường tự nhiên, sắp xếp lại sản xuất, chế biến gỗ, đồng thời xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm gỗ, tăng giá trị sản xuất, hướng tới thị trường xuất khẩu, tỉnh Lâm Đồng đã phê duyệt quy hoạch chế biến lâm sản tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020.
Theo đó, Lâm Đồng sẽ chú trọng các khâu quy hoạch sản phẩm, rà soát, di dời các xưởng chế biến lâm sản hiện có, quy hoạch lại cơ sở chế biến, vùng nguyên liệu. Với mục tiêu phấn đấu cơ cấu sản phẩm giai đoạn 2016 – 2020 gỗ xẻ 15%, ván ép 46%, hàng mộc 40%, sản phẩm chế biến tinh tăng bình quân từ 15 – 18%/ năm, ngành mây, tre đan tăng 17%/năm, giá trị sản xuất đạt 232 tỷ đồng, tạo việc làm cho gần 2000 lao động.
Nguồn vốn để thực hiện quy hoạch này là trên 3800 tỷ đồng. Để triển khai có hiệu quả, Lâm Đồng đề ra nhiều giải pháp thực hiện như khuyến khích, hỗ trợ di dời các cơ sở nằm cách bìa ừng dưới 2 km, các cơ sở di dời  vào khu, cụm công nghiệp sẽ giảm tiền thuê đất và miễn thuế doanh nghiệp từ 3 – 5 năm.
Đẩy mạnh áp dụng công nghệ, dây chuyền sản xuất tiên tiến, mở rộng hình thức liên doanh, liên kết doanh nghiệp, khuyến khích người sản xuất nguyên liệu góp vốn, xây dựng nhà máy chế biến đảm bảo ổn định, có tính cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Lâm Đồng 25/2) đầu trang(
Ngày 25-2, đoàn công tác của tỉnh do đồng chí Hoàng Dân Mạc - Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã đi kiểm tra thực địa tình hình quản lý, sử dụng đất của Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng tại các xã trên địa bàn huyện Đoan Hùng.
Cùng đi có các đồng chí: Nguyễn Hồng Thái - Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh; Hoàng Công Thủy - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; lãnh đạo các sở: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Kế hoạch và Đầu tư; lãnh đạo Văn phòng Tỉnh ủy, lãnh đạo huyện Đoan Hùng.
Đoan Hùng là huyện miền núi có thế mạnh phát triển cây lâu năm, cây ăn quả, đặc biệt là cây bưởi. Đến năm 2015, trên địa bàn huyện đã có khoảng 1.700ha bưởi, song diện tích còn phân tán nhỏ lẻ, chủ yếu trồng trên đất vườn của các gia đình.
Thực hiện quy hoạch phát triển Nông lâm nghiệp – Thủy sản tỉnh Phú Thọ đến năm 2020; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015 – 2020 về phát triển sản xuất nông lâm nghiệp – thủy sản và mục tiêu phát triển cây bưởi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, song quỹ đất cho việc mở rộng, trồng mới dự án còn hạn hẹp, một số diện tích các khả năng trồng bưởi hiện đã giao cho các công ty nông lâm nghiệp quản lý, trong đó Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng được UBND tỉnh giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 2020,54ha trên địa bàn 9 xã, thị trấn.
Năm 2014, qua thực hiện dự án đo đạc xác định hiện trạng sử dụng đất của đơn vị, diện tích Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng hiện còn sử dụng là 1.391,25ha, diện tích còn lại Công ty xin trả lại địa phương quản lý.
Thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, tạo hiệu quả kinh tế cao, UBND huyện Đoan Hùng đã phối hợp với Chi cục lâm nghiệp – Sở NN&PTNT khảo sát, kiểm tra đánh giá một số khu vực có khả năng trồng bưởi trên địa bàn 7 xã Bằng Doãn, Bằng Luân, Tây Cốc, Ca Đình, Minh Lương, Ngọc Quan, Phương Trung; đồng thời kiến nghị, đề xuất UBND tỉnh cho phép điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 – 2020 các khu vực trên chuyển sang đất trồng cây ăn quả, làm cơ sở đề nghị các cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất để thực hiện dự án.
Trên cơ sở kiểm tra thực địa tại các xã: Phương Trung, Tây Cốc, Bằng Luân và nắm bắt tình hình quản lý, sử dụng đất của Công ty Lâm nghiệp Đoan Hùng, Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Dân Mạc kết luận đồng tình với kiến nghị, đề xuất chuyển đổi diện tích đất lâm nghiệp trồng cây nguyên liệu giấy kém hiệu quả của công ty lâm nghiệp Đoan Hùng sang đất nông nghiệp trồng cây ăn quả cho hiệu quả kinh tế cao hơn.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy chỉ đạo UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành liên quan và huyện Đoan Hùng tiếp tục khảo sát, kiểm tra, đánh giá cụ thể tình hình sử dụng đất của Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng làm cơ sở đề nghị các cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và thu hồi diện tích đất có khả năng trồng cây ăn quả mà Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng đang quản lý sang thực hiện dự án mở rộng diện tích.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy lưu ý, cùng với thu hồi diện tích đất lâm nghiệp có khả năng phát triển cây bưởi do Công ty lâm nghiệp quản lý, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng tập trung tuyên truyền vận động các hộ dân có đất trong vùng thực hiện dự án cải tạo vườn tạp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án.
Huyện Đoan Hùng phối hợp với các sở, ngành chức năng xây dựng đề án phát triển cây bưởi Đoan Hùng thành vùng sản xuất cây ăn quả tập trung tại các khu vực trên; đẩy mạnh khuyến khích, thu hút đầu tư; lựa chọn các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có khả năng, quan hệ thương mại để đầu tư phát triển cây bưởi đặc sản trên địa bàn.
Đối với Công ty lâm nghiệp Đoan Hùng, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đề nghị huyện Đoan Hùng nghiên cứu, xem xét cấp bù đất lâm nghiệp nhằm đảm bảo diện tích hoạt động của doanh nghiệp... (Báo Phú thọ 25/2) đầu trang(
Liên quan đến những sai phạm như để doanh nghiệp FLC sử dụng đất phòng hộ ngoài diện tích được bàn giao, thi công hạng mục đường Hồ Xuân Hương kéo dài chưa làm đầy đủ thủ tục về đầu tư xây dựng…, Chánh Thanh tra tỉnh Thanh Hóa đã có báo cáo số 1277/BC-TTTH ngày 5/11/2015 về kết quả xác minh những vấn đề này.
Xung quanh vấn đề trên, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh.
Trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã tổ chức thực hiện kế hoạch trồng rừng hàng năm và trồng rừng thay thế khi chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác đạt kết quả cao, đứng trong tốp đầu của cả nước. Mỗi năm trồng rừng đạt bình quân 12.000 ha/năm; năm 2015 trồng rừng thay thế đạt 2.500ha.
Tỉnh Thanh Hóa luôn xác định việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ven biển là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng, tạo vành đai xanh, phát huy chức năng phòng hộ ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ hệ thống đê biển, cơ sở hạ tầng, góp phần phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh khu vực ven biển.
Các hoạt động liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng ven biển phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương. Ủy ban Nhân dân tỉnh tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các thành phần kinh tế, tham gia đầu tư bảo vệ và phát triển rừng ven biển.
Căn cứ Quyết định số 120/QĐ-TTg ngày 22/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu, giai đoạn 2015 - 2020 và các quy định hiện hành của nhà nước, Ủy ban Nhân dân tỉnh đã chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các ngành chức năng, Ủy ban Nhân dân các huyện, thị ven biển triển khai các nhiệm vụ quản lý bảo vệ và phát triển rừng ven biển.
Dự án Khu du lịch sinh thái Quảng Cư thị xã Sầm Sơn đã được Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hóa chấp thuận cho Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC đầu tư và cấp Giấy chứng nhận cho 2 dự án: Dự án Sân golf và dự án Resort.
Hai dự án trên có đất rừng phòng hộ và việc thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ cho 2 dự án đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định và thực hiện đúng các quy trình, quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong quá trình thi công, FLC đã chuyển đổi, sử dụng diện tích rừng phòng hộ ngoài phạm vi được giao là chưa phù hợp với quy hoạch được duyệt và quyết định giao đất, giao rừng của cơ quan có thẩm quyền.
Vi phạm trên, trách nhiệm thuộc về FLC, trong đó, có trách nhiệm của chính quyền địa phương, đơn vị chức năng đã không làm tốt công tác quản lý nhà nước.
Ủy ban Nhân dân tỉnh sẽ xem xét xử lý sai phạm của các tập thể, cá nhân theo đúng các quy định của pháp luật, hợp lý, hợp tình.
Về trách nhiệm quản lý, đối với Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thị xã Sầm Sơn, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Quảng Cư và các phòng ban liên quan của Ủy ban Nhân dân thị xã Sầm Sơn là thiếu kiểm tra giám sát, chưa sâu sát trong công tác quản lý đối với việc sử dụng đất rừng phòng hộ của FLC. Ủy ban Nhân dân tỉnh đã có chỉ đạo, yêu cầu báo cáo cụ thể và nghiêm túc kiểm điểm để có xử lý phù hợp.
Về việc xử lý tiếp theo, Ủy ban Nhân dân tỉnh đang giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban Nhân dân thị xã Sầm Sơn, Tập đoàn FLC và các đơn vị chức năng đề xuất phương án để trồng rừng thay thế, hoàn thiện hệ thống đê kè chống sạt lở bãi biển, đảm bảo môi trường sinh thái và an toàn cho các khu dân cư theo đúng quy định.
Những năm gần đây, môi trường đầu tư vào tỉnh Thanh Hóa liên tục được cải thiện mạnh mẽ và chưa bao giờ thuận lợi như hiện nay. Thanh Hóa đang rất cần những nhà đầu tư tiên phong như Tập đoàn FLC.
Các dự án của FLC đều có thời gian triển khai kỷ lục. Chỉ trong thời gian 9 tháng, FLC đã hoàn thành toàn bộ các hạng mục của FLC Sầm Sơn, mang lại diện mạo mới, thúc đẩy sự phát triển cho ngành du lịch Thanh Hóa.
Tuy vậy, để các dự án triển khai trên địa bàn tỉnh đảm bảo yêu cầu, tiến độ đề ra và đúng quy định của pháp luật, cần phải tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của các ngành, đơn vị chức năng, nhất là chính quyền cơ sở nơi dự án được triển khai.
Rất hoan nghênh ý kiến của các cơ quan báo chí, thông tấn trong việc tuyên truyền về những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, môi trường thu hút đầu tư của tỉnh Thanh Hóa; kịp thời biểu dương những nhân tố mới, cách làm hay, cổ vũ doanh nghiệp đầu tư vào Thanh Hóa, cũng như phản ánh những dấu hiệu sai phạm, hạn chế, tồn tại còn diễn ra ở các địa phương, đơn vị.
Phản ánh của báo chí góp phần quan trọng để các cấp chính quyền làm tốt hơn nữa công tác quản lý nhà nước, vì sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh, vì lợi ích của nhân dân và của các doanh nghiệp đầu tư tại Thanh Hóa. (Vietnam + 25/2) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Nhóm du khách ngồi trong xe hơi đã bị một phen hú vía khi con tê giác nặng hơn 1,4 tấn lao sầm sập và húc chiếc sừng nhọn hoắt vào thân ô tô.
Qua đoạn phim quay được cho thấy chú tê giác tỏ vẻ tò mò bất thường với chiếc xe Toyota màu trắng đậu trên vệ đường. Sự quan tâm nhanh chóng chuyển thành cơn giận dữ. Nó lao ầm ầm vào chiếc xe với tốc độ của một viên đạn. Bên trong chiếc xe là nhóm du khách đang thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên hoang dã.
Hình ảnh này được quay bởi Alexandra Poier tại vườn quốc gia Etosha, Namibia. Cô đang ngồi trên chiếc xe đi phía trước và vô tình ghi lại được cảnh tượng kì thú này. Alexandra cho biết nhóm du khách ngồi trên xe hơi may mắn thay vẫn bình an vô sự.
Cô chia sẻ: “Tôi nghĩ rằng con tê giác thấy nguy hiểm nên nó chủ động tấn công trước. Tôi cảm thấy rất sợ dù không ngồi trong chiếc xe ấy. Nó xảy ra rất nhanh và đột ngột. Sau khi nó lao vào chiếc xe, đoàn khách dời đi ngay sau đó. Hướng dẫn viên du lịch ở vườn quốc gia cho biết đây là điều rất hiếm gặp”.
Tê giác đen, sinh sống ở miền đông và nam châu Phi là loại động vật đang có nguy cơ tuyệt chủng. Số lượng loài động vật này ở công viên quốc gia Etosha vẫn chưa được biết rõ.
Tê giác đen nặng tới hơn 1,4 tấn có thể chạy với tốc độ tối đa 56km/giờ. Chúng nổi tiếng vì sự hung hăng và sẵn sàng lao vào bất kì vật thể lạ nào xuất hiện trên đường. (24 Giờ 25/2) đầu trang(
Theo National Geographic, trong lúc săn tìm gạc hươu, một người đàn ông phát hiện xác chim đại bàng đầu trắng nằm rải rác xung quanh khu vực phía đông bang Maryland vào hôm 20/2. Người này báo cáo sự việc với các cơ quan chức năng. Khi đến điều tra, cảnh sát phát hiện số lượng đại bàng đầu trắng chết lên đến 13 con.
"Chúng tôi chưa biết nguyên nhân gây ra cái chết bất thường của những con đại bàng đầu trắng và đang yêu cầu người dân giúp cung cấp thêm thông tin phục vụ điều tra", Catherine Hibbard, phát ngôn viên của Cục Động vật hoang dã và Cá Mỹ, đơn vị phối hợp điều tra với Cơ quan Cảnh sát Tài nguyên thiên nhiên bang Maryland, cho biết.
Các nhà chức trách đã làm việc tại hiện trường và gửi xác chim đại bàng đầu trắng đến Phòng thí nghiệm điều tra pháp y ở Ashland, Oregon, để phân tích nguyên nhân chim chết.
Trong những năm qua, một số trường hợp chim đại bàng đầu trắng chết do ăn phải xác cáo bị đầu độc bởi chủ đất ở vùng bờ biển phía đông bang Maryland từng được ghi nhận. Chất độc trong xác cáo có thể dễ dàng ngấm vào cơ thể đại bàng .
"Chim chết bất thường với số lượng lớn như trên là trường hợp chưa bao giờ xảy ra. Hiện còn quá sớm để kết luận về nguyên nhân", Hibbard nói.
Đại bàng đầu trắng có tên khoa học là Haliaeetus leucocephalu. Con trưởng thành dài 71 - 96 cm và nặng 3 - 6,5 kg. Loài đại bàng này được tìm thấy gần các vùng nước rộng lớn trên khắp nước Mỹ, nơi có nguồn thức ăn dồi dào. Chúng thường làm tổ trên những cây lâu năm. Năm 2007, đại bàng đầu trắng được rút tên khỏi danh sách động vật hoang dã nguy cấp và bị đe dọa của Mỹ.
Đại bàng đầu trắng, loài chim biểu tượng của nước Mỹ, từng có nguy cơ bị xóa sổ trong tự nhiên do nạn săn bắt, thuốc trừ sâu và môi trường sống thu hẹp. Số lượng đại bàng tăng trở lại trong những thập niên gần đây nhờ những biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt và lệnh cấm sử dụng thuốc trừ sâu DDT của chính quyền Mỹ (vỏ trứng đại bàng nhiễm thuốc DDT sẽ mỏng và dễ vỡ hơn trong thời gian ấp).
Theo luật pháp Mỹ, người giết đại bàng đầu trắng sẽ phải nộp phạt 100.000 USD và chịu án tù một năm. Cục Động vật hoang dã và Cá đang treo thưởng 10.000 USD cho người có thể cung cấp thông tin hữu ích về cái chết của những con chim. (VnExpress 25/2) đầu trang(
Thủ tướng Campuchia Hun Sen ngày 25.2 tuyên bố cho phép cảnh sát sử dụng trực thăng nã rocket để truy quét lâm tặc.
Ông Hun Sen gần đây đã giao Tư lệnh Cảnh sát quân sự Campuchia, tướng Sao Sokha chịu trách nhiệm việc truy quét nạn khai thác và buôn gỗ lậu (còn gọi là lâm tặc), theo AFP.
“Hành động phá rừng phải bị trừng trị. Tôi đã giao hai trực thăng cho ông Sao Sokha. Tôi cho phép dùng trực thăng nã rocket”, ông Hun Sen cho hay.
Thủ tướng Hun Sen nói chính phủ của ông cũng đã tịch thu gần 1 hecta đất từ những công ty tư nhân nhằm ngăn chặn nạn phá rừng trái phép.
Ông Hun Sen cho hay lâm tặc hoạt động với sự trợ giúp của những quan chức, cán bộ kiểm lâm, cảnh sát tham nhũng. “Có những cây rất lớn, làm sao việc chặt phá rừng có thể qua mắt được cảnh sát, quân cảnh, kiểm lâm và Bộ Môi trường? Hay những người này cũng làm điều tương tự?”, ông Hun Sen nói.
Trong những thập niên gần đây, nạn phá rừng trái phép tràn lan ở Campuchia khiến độ che phủ rừng giảm đáng kể, từ 73% vào năm 1990 xuống còn 57% vào năm 2010, theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc. (Thanh Niên 25/2; Doanh Nghiệp Việt Nam 25/2) đầu trang(
Một người đàn ông sống tại bang Queensland (Úc) đã có một phen hoảng hồn khi phát hiện thấy một con rắn ẩn nấp đằng sau ổ cắm điện sau khi người này nhận thấy ổ cắm điện không hoạt động.
Sự việc xảy ra khi một người đàn ông sống tại Maroochy River (bang Queensland, Úc) phát hiện thấy một ổ cắm điện trong nhà mình không hoạt động và có khói bốc ra. Trong khi tháo ổ cắm ra để kiểm tra, người này đã có một phen tá hỏa khi nhìn một con rắn dài đang ẩn nắp bên trong tường, phía sau ổ cắm.
Dịch vụ cứu hộ động vật hoang dã đã nhanh chóng được gọi đến hiện trường. Chuyên gia bắt rắn Richie Gilbert cho biết con rắn bị mắc kẹt là một con trăn kim cương. Gilbert đã phải rất khó khăn và mất nhiều thời gian để có thể mang con trăn này ra khỏi nơi bị mắc kẹt.
“Tôi phải mất một giờ để có thể giải thoát con trăn”, Richie Gilbert cho biết. “Do quá hoảng sợ, con trăn đã cuộn chặt càng khiến việc giải cứu nó gặp nhiều khó khăn hơn. Tôi đã phải đục 2 lỗ trên tường để giải cứu con trăn”.
Sau khi được giải cứu, con trăn đã được đưa đến vườn thú để điều trị những vết thương gây ra do điện giật, trước khi được thả về môi trường. Hiện vẫn chưa rõ làm cách nào mà con trăn có thể chui vào và mắc kẹt phía sau ổ cắm điện như vậy.
Trăn kim cương (còn có tên gọi trăn thảm) là loài trăn không có độc, tuy nhiên khi trưởng thành nó có thể đạt kích thước với độ dài lên đến 3m. (Dân Trí 26/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang