|
Ngày 25 tháng 02 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Tình trạng buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã (ĐVHD) bất hợp pháp đang ngày càng phổ biến và diễn biến phức tạp.
Tội phạm săn bắt, buôn bán ĐVHD giờ đây không chỉ đơn thuần là tội phạm môi trường, mà đã trở thành mắt xích kết nối với đa dạng các mối đe dọa an ninh khác trên toàn cầu.
Thời gian qua, cơ quan chức năng phát hiện hàng loạt đường dây buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD “khủng” với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi. Qua đó, đã bắt giữ hàng chục tấn ngà voi, sừng tê giác, vẩy tê tê…
Cuối tháng 1/2016, lực lượng chống buôn lậu của Chi cục Hải quan Sân bay quốc tế Nội Bài phối hợp với Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc, Cục Cảnh sát Phòng chống buôn lậu (Bộ Công an) và Cục Hải quan Hà Nội đã phát hiện, bắt quả tang vụ vận chuyển số lượng lớn ngà voi theo đường hàng không vào nội địa qua cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài.
Các đối tượng khai nhận, số ngà voi trên được một đối tượng ở Angola thuê vận chuyển về Việt Nam, tổng trọng lượng số ngà voi trong 6 vali ký gửi của 3 đối tượng chứa khoảng 180kg.
Trước đó, cuối tháng 11/2015, khoảng 3 tấn ngà voi, vẩy tê tê được ngụy trang cùng đầu cá vược bị phát hiện khi đang làm thủ tục tái xuất tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hoành Mô, thuộc Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh. Khi lô hàng đầu cá vược được kiểm tra, lực lượng chức năng đã xác định trong các thùng hàng đầu cá vược đông lạnh có lẫn hơn 400 khúc hình trụ (trọng lượng 860kg) dạng sừng màu trắng đục.
Qua giám định sơ bộ là ngà voi và gần 2.200kg mảnh mỏng dạng vẩy sừng màu xám đen, xác định là vẩy tê tê. Cơ quan chức năng đã tạm giữ toàn bộ hàng hóa vi phạm trên để xử lý.
Giữa tháng 8/2015, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) phối hợp với một số phòng của Bộ Công an đã phát hiện, tịch thu 593kg ngà voi và 142kg sừng tê giác tại cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) do Công ty TNHH Vạn An nhập lậu.
Đồng thời, lực lượng hải quan tiếp tục phát hiện 2.181kg ngà voi do Công ty TNHH Hùng Huy Bảo nhập lậu. Ngoài ngà voi và sừng tê giác, sau đó, lực lượng hải quan còn phát hiện và tịch thu hơn 4.000kg vẩy tê tê có nguồn gốc từ Nigeria và Malaysia về Đà Nẵng, do Công ty TNHH Hùng Huy Bảo nhập lậu...
Cuối tháng 12/2015, Công an TP Hồ Chí Minh đã bắt khẩn cấp Võ Tá Dung (trú tại tỉnh Bình Dương) - đối tượng cầm đầu đường dây mua bán, vận chuyển ĐVHD quý hiếm. Theo hồ sơ vụ việc, ngày 26/12/2015, lực lượng chức năng đã bắt quả tang Nguyễn Văn Huấn, Võ Tá Dung điều khiển xe gắn máy chở 3 con tê tê có tổng trọng lượng 19kg đưa đi tiêu thụ ở các quán nhậu.
Kết quả giám định 3 cá thể tê tê trên nằm trong danh mục các loài ĐVHD quý hiếm. Dung khai nhiều lần thuê Huấn chở động vật quý hiếm mua tại TP Hồ Chí Minh về nhà mình ở tỉnh Bình Dương để tàng trữ, sau đó đưa đi tiêu thụ ở khu vực phía Bắc. Khám xét nơi ở của Dung, Công an TP Hồ Chí Minh phát hiện thêm 8 con tê tê khác.
Trường hợp ông Thiều Quốc Kỳ - cán bộ huyện Tây Giang (tỉnh Quảng Nam) mới đây công khai hình ảnh săn bắt ĐVHD quý hiếm lên trang facebook cá nhân gây bức xúc trong dư luận. Bức ảnh được ông Kỳ đăng tải trên mạng có hình ảnh của 3 con chồn bay nằm trong sách đỏ, quý hiếm nhóm 1 vừa bị bắt. Đồng thời cho biết, ở huyện Tây Giang, quán nào cũng có chồn bay làm món nhậu, vào quán hỏi sẽ được phục vụ ngay. Thậm chí, quán ăn chuyên bán chồn bay được ông Kỳ chỉ lại nằm ngay trước... trụ sở Công an huyện!
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, tình trạng buôn bán, tiêu thụ ĐVHD ở nước ta tiếp tục gia tăng thời gian qua, do nhiều người dân khai thác, tiêu dùng ĐVHD là thực phẩm, trang sức và làm thuốc, nhất là một số loài ĐVHD được quảng bá về những tính năng đặc biệt như bồi bổ sức khỏe, chữa bệnh nan y.
Mới đây, tháng 12/2015, Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường phía Nam (Bộ Công an) đã bắt quả tang Phan Huỳnh Anh Khoa (sinh năm 1993, thường trú tại quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh) đang đóng gói 9 cá thể rái cá vuốt bé và 1 cá thể voọc vá chân đen để giao cho khách hàng tại quán café trên đường Trần Thánh Tông (quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh).
Đây là các loài nằm trong danh mục nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. Theo yêu cầu, Khoa đã đưa lực lượng chức năng đến cửa hàng Vương quốc Thú cưng của mình tại số 93 Trần Thánh Tông (quận Tân Bình), và đã phát hiện nhiều động vật quý hiếm tại đây.
Khoa khai nhận, số lượng ĐVHD đang nuôi nhốt trong cửa hàng được thu mua từ Thái Lan để bán cho người nuôi thú cảnh tại Việt Nam. Tất cả đều không được kiểm dịch trước khi đến tay người nuôi. Cơ quan chức năng đang tiếp tục mở rộng điều tra nhằm bóc tách đường dây buôn bán ĐVHD trái phép làm sinh vật cảnh tại TP Hồ Chí Minh, trong đó Khoa là đầu mối quan trọng.
Theo khảo sát của Hiệp hội Bảo tồn ĐVHD (WCS), phong trào nuôi thú cưng là ĐVHD đang trở thành trào lưu trong giới trẻ, trong đó có nhiều loài động vật nguy cấp, quý hiếm được các bạn trẻ săn tìm. Nhiều loài ĐVHD khác có nguồn gốc từ nước ngoài cũng được nhập khẩu trái phép vào Việt Nam. Việc mua bán, vận chuyển VHD có nguồn gốc ngoại nhập không qua kiểm dịch tạo nên nguy cơ lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người và động vật trong nước.
Một số loài thuộc bộ gặm nhấm như sóc và chuột luôn tiềm ẩn trong cơ thể khả năng lây lan bệnh dịch hạch cho người. Những loài bò sát thường chứa một lượng lớn vi khuẩn samonela có thể gây tiêu chảy, tử vong ở người. Các loài chim có nguồn gốc ngoại nhập có khả năng tiềm ẩn trong cơ thể các chủng virus cúm, có thể gây lây lan dịch bệnh cúm cho người và gia cầm. (Kinh Tế Và Đô Thị 23/2) đầu trang(
Theo báo cáo của Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), nguồn thu từ các hoạt động buôn bán động vật hoang dã (ĐVHD) và các sản phẩm của chúng mỗi năm lên đến 20 tỷ USD, chỉ đứng sau buôn lậu ma túy, kinh doanh hàng giả, vũ khí và buôn người. Đặc biệt, loại tội phạm này đang gây ra sự tàn phá môi trường sinh thái và là nguy cơ dẫn tới sự sụp đổ toàn bộ hệ sinh thái trong khu vực.
Theo WWF, tội phạm săn bắt, buôn bán ĐVHD đã và đang gây ra những thiệt hại rất lớn cho nhân loại. Đây không chỉ thuần túy là dạng tội phạm môi trường, mà đã trở thành một mắt xích kết nối với đa dạng các mối đe dọa an ninh khác trên toàn cầu. Không những gây ra sự tàn phá môi trường sinh thái, sự biến mất của một số lượng rất lớn động vật trong thời gian ngắn đã dẫn tới sự sụp đổ của toàn bộ hệ sinh thái trong khu vực.
Cụ thể, 95% số loài tê giác bị tiêu diệt trong vòng một thế kỷ qua, nhiều loài đã tuyệt chủng tại Việt Nam; hàng chục ngàn con voi bị giết hại mỗi năm... Điều này tạo điều kiện cho các loài ngoại lai xâm hại, xâm nhập phá huỷ hệ sinh thái địa phương, phá hủy nền nông nghiệp, hủy hoại môi trường, đặc biệt là môi trường rừng, góp phần gây biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, đây còn là nguồn lây lan dịch bệnh bởi dòng buôn bán ĐVHD trên toàn cầu hoàn toàn thoát khỏi sự kiểm dịch y tế. Trong khi, 70% các bệnh truyền nhiễm tác động đến con người có nguồn gốc từ loài hoang dã. Cụ thể, đại dịch SARS năm 2003 bắt nguồn từ loài dơi móng ngựa; 39% các ca bệnh đầu tiên tại Trung Quốc từ các thương nhân, người mua và đầu bếp có liên quan tới hoạt động chế biến và buôn bán ĐVHD.
Đại dịch Ebola có nguồn gốc từ các loài linh trưởng hoang dã, đã bùng phát rất nhanh do thói quen sử dụng sản phẩm ĐVHD làm thực phẩm của người châu Phi. Năm 2004, tại châu Âu phát hiện virus H5N1 trong các con đại bàng bị buôn lậu từ Thái Lan, bắt giữ tại Brussels (Bỉ). Các bệnh như xoắn khuẩn, sán lá gan, gây tổn thương não, viêm gan và suy thận cấp có thể lây truyền rất nhanh qua việc sử dụng thịt ĐVHD (dúi, nhím…).
Việt Nam là một trong những quốc gia có tình trạng săn bắt và buôn bán ĐVHD vô cùng phức tạp. Các mạng lưới buôn bán ĐVHD lớn không chỉ hoạt động trong nước và khu vực mà còn vươn sang nhiều quốc gia và châu lục khác trên thế giới, điển hình là châu Phi. Tuy nhiên, theo đánh giá của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), một trong những nguyên nhân dẫn đến sự lộng hành của các đường dây buôn bán ĐVHD tại Việt Nam là do tội phạm liên quan đến ĐVHD chưa được coi là loại hình tội phạm nghiêm trọng.
Trong khi đó, tại Hội nghị London về nạn buôn bán trái phép ĐVHD tổ chức cuối năm 2014, với sự tham gia của lãnh đạo 46 quốc gia và 11 tổ chức quốc tế, các ý kiến đã nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc bảo vệ ĐVHD và sự cần thiết phải ngăn chặn nạn săn bắt buôn bán ĐVHD trên phạm vi quốc tế. Đại diện Vương quốc Anh thừa nhận, nạn buôn bán ĐVHD là ngành công nghiệp tội phạm xuyên quốc gia, sánh ngang với tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn người.
TS Nguyễn Duy Giảng - Vụ trưởng Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án kinh tế (Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao) khẳng định, tình trạng vận chuyển trái phép ĐVHD thời gian qua diễn ra tinh vi, trong khi phần lớn chủ hàng đều ở nước ngoài, nên có nhiều vụ phát hiện nhưng không tìm được chủ. Trong 5 năm qua, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao phát hiện, khởi tố, điều tra gần 40 vụ án hình sự, trong đó, tập trung chủ yếu ở Hải Phòng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh…
Các vụ án chủ yếu bị phát hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan ở cảng biển, được ngụy trang bằng nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt, khi cơ quan điều tra liên hệ với các công ty nhận hàng tại Việt Nam, các đơn vị này đều từ chối với lý do đối tác gửi nhầm hàng. Trong khi đó, yêu cầu tương trợ tư pháp nhằm xác minh người gửi và các tài liệu liên quan đều không được nước bạn trả lời nên việc xử lý các vi phạm rất khó khăn, mất thời gian.
Điều đáng nói, quá trình xử lý vi phạm khó truy được kẻ cầm đầu bởi chủ hàng thực sự thường ở nước ngoài, trong khi hợp tác tương trợ tư pháp trong phòng chống tội phạm săn bắt, buôn bán ĐVHD giữa Việt Nam và các quốc gia còn hạn chế.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Hùng Anh - Phó Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), do hàng hóa vi phạm phần lớn không khai báo chính xác nguồn gốc nên không có căn cứ đảm bảo tin cậy để trả lại tang vật cho nước xuất khẩu theo quy định. Với phương án thứ ba, ngoài việc cần khoản kinh phí khá lớn để tiêu hủy thì quy trình xử lý cũng mất nhiều thời gian, cần sự tham gia nhiều bên và hiện cũng chưa có hướng dẫn đầy đủ.
Bộ luật Hình sự hiện nay có những chế tài xử lý nghiêm khắc đối với nhóm tội phạm về ma túy, vũ khí và buôn bán người nhưng ngược lại, chế tài xử lý tội phạm về ĐVHD vẫn chưa thực sự phản ánh được tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm này. Việc xử lý vi phạm pháp luật về buôn bán, tiêu thụ ĐVHD trái phép chủ yếu xử phạt hành chính, mức phạt cao nhất hiện nay không quá 500 triệu đồng.
Trong khi đó, năng lực phát hiện vi phạm pháp luật về lĩnh vực này của cơ quan pháp luật như: Hải quan, kiểm lâm, cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, quản lý thị trường... lực lượng còn mỏng, trang thiết bị, phương tiện còn hạn chế. Khả năng đấu tranh đối với loại hình vi phạm này của lực lượng chuyên trách chưa theo kịp các thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp của các đối tượng vận chuyển, buôn bán ĐVHD trái phép.
Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt cao nhất cho loại tội phạm về ĐVHD là 7 năm tù. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa đến 10% tổng số vi phạm được đưa ra xét xử với mức phạt phổ biến là cải tạo không giam giữ và tù treo. Mặc dù tình trạng săn bắt, buôn bán ĐVHD ở Việt Nam diễn ra vô cùng phức tạp và nhiều vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng nhưng tổ chức ENV mới chỉ ghi nhận một trường hợp bị cáo phải nhận mức án cao nhất 7 năm tù theo quy định.
Ngày 29/6/2015, Bộ TN&MT đã có Công văn số 2592/BTNMT-TCMT gửi UBND các tỉnh, TP trực thuộc T.Ư thông báo về việc áp dụng Điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự. Theo đó, các hành vi săn bắt, giết hại, vận chuyển, nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự bất kể số lượng, khối lượng hay giá trị tang vật. Bộ TN&MT khuyến cáo các cơ quan chức năng tại địa phương không tiến hành bán đấu giá, phát mại đối với tang vật là các loài động vật hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý hiếm bị thu giữ trong các vụ vi phạm pháp luật.
Tháng 10/2015, 12 nước tham gia TPP gồm Úc, Brunei Darussalam, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam cùng ký bản cam kết bền vững về việc bảo vệ và bảo tồn môi trường, bao gồm hợp tác trong việc giải quyết các thách thức về môi trường như buôn bán trái phép ĐVHD.
12 nước nhất trí thực thi có hiệu quả pháp luật về môi trường của nước mình và không đi ngược lại với hệ thống pháp luật về môi trường để khuyến khích thương mại và đầu tư. Các nước cũng đồng ý thực hiện nghĩa vụ của mình theo Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), có biện pháp đối phó và hợp tác ngăn chặn buôn bán trái phép ĐVHD. (Kinh Tế Và Đô Thị 24/2) đầu trang(
Theo dự báo của Cục Kiểm lâm, mức dự báo cháy rừng tại Bà Rịa - Vũng Tàu đang ở cấp độ 5, cấp độ cực kỳ nguy hiểm.
Chỉ chưa đầy 2 tháng tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xảy ra gần chục vụ cháy rừng làm thiệt hại khoảng 50ha. Theo dự báo của Cục Kiểm lâm, mức dự báo cháy rừng tại Bà Rịa - Vũng Tàu đang ở cấp độ 5, cấp độ cực kỳ nguy hiểm. Vì vậy, việc PCCC tại địa phương này đang trở nên cấp thiết hơn.
Được biết, một vụ cháy rừng kéo dài 2 ngày đêm vừa mới xảy ra tại khu vực núi Minh Đạm, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 500 lượt người của các lực lượng cảnh sát PCCC và kiểm lâm đã được huy động mới dập tắt được đám cháy. Gần 40ha rừng đã bị thiêu rụi trong vụ cháy này. Đây là vụ cháy rừng thứ 8 ra tại Bà Rịa - Vũng Tàu từ đầu năm 2016 đến nay.
Hiện nay, Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng 34.000ha rừng, tập trung chủ yếu tại các huyện Xuyên Mộc, Tân Thành, Côn Đảo.
Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho biết, trong 3 tháng tới, nhiệt độ tại đây sẽ cao hơn trung bình nhiều năm từ 1 - 1,5oC, nắng nóng xảy ra nhiều hơn, vì vậy nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất cao. (Đài Truyền Hình Việt Nam 24/2) đầu trang(
Sáng 24-2-2016, tin từ Vườn quốc gia U Minh Hạ tỉnh Cà Mau cho biết đã có hơn 500 ha rừng tràm thuộc khu vực Vườn khô hanh, đến mức báo động cháy cấp III (cấp cao).
Bên cạnh đó còn có gần 3.000 ha diện tích rừng trong tình trạng báo động cấp II (cấp trung bình) và gần 1.700ha báo động cấp I (cấp thấp).
Theo anh Lê Thanh ha/tổng số 8000 ha diện tích của vườn chưa đến mức báo động cháy. “Tuy nhiên, nắng và gió đang dữ dội, quá trình bóc hơi nước rất nhanh. Chúng tôi đã và đang tiếp tục tăng cường các chốt canh lửa, cử nhiều lực lượng túc trực 24/24 và luồn rừng thường xuyên để kiểm tra tình trạng khô hạn”.
Được biết hơn 20 năm qua, kể từ 1995, khu vực rừng tràm Vườn quốc gia U Minh Hạ (trước đây gọi là khu rừng già Vồ Dơi) là khu rừng trạm duy nhất ở U Minh Hạ, Cà Mau chưa từng xảy ra cháy rừng. (Pháp Luật TP.HCM 24/2) đầu trang(
Theo báo cáo mới nhất của cơ quan chức năng tỉnh Kiên Giang ngày 24/2, không có động vật quý hiếm như sư tử, hổ, báo, tê giác chết tại vườn thú Vinpearl Safari Phú Quốc.
Ngày 23/2, Chi cục kiểm lâm Kiên Giang và phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường Công an tỉnh Kiên Giang đã tiến hành kiểm tra tại Vinpearl Safari Phú Quốc, sau khi Cơ quan quản lý CITES Việt Nam có công văn đề nghị tăng cường giám sát kiểm tra trại nuôi động vật hoang dã.
Báo cáo của Sở NN-PTNN Kiên Giang cho biết hiện tại ở Safari Phú Quốc có 104 loài động vật, trong đó có 56 loài nhập khẩu. Cụ thể, có 2.236 cá thể động vật đã được nhập về; đến ngày 19/2 còn 2.004 cá thể. Số động vật sổng chuồng gồm 135 khỉ đuôi dài còn nhỏ, số động vật chết gồm 108 cá thể do ảnh hưởng quá trình vận chuyển song không có động vật quý hiếm như sư tử, hổ, báo, tê giác chết; có 12 cá thể tăng do sinh sản.
Cũng theo báo cáo, hiện Safari Phú Quốc có 14 cá thể tê giác có nguồn gốc từ Vườn thú Mỹ Quỳnh ở Long An, vườn thú này cũng đang làm thủ tục xin nhập tê giác từ nước ngoài theo quy định pháp luật. (Tiền Phong 24/2) đầu trang(
Một số chủ cửa hàng lưu niệm giới thiệu với du khách nhẫn lông đuôi voi của người M'Nông có tác dụng mang lại may mắn, xua đuổi tà ma nhưng chính người dân tộc này lại phủ nhận.
Nhẫn lông đuôi voi là một trong những mặt hàng lưu niệm phổ biến được bán trong các khu du lịch ở Buôn Đôn (Đắk Lắk). Nhẫn được làm bằng kim loại như vàng, bạc… bên trong rỗng để lồng lông đuôi voi. Không chỉ đặc trưng cho vùng đất Tây Nguyên với truyền thống nuôi và thuần dưỡng voi, nhẫn còn được nhiều du khách coi là món quà mang lại may mắn và giúp xua đuổi tà ma.
Người M’Nông ở Tây Nguyên được biết đến với nghề săn và thuần dưỡng voi nổi tiếng. Trong nhiều tài liệu ghi lại, một trong những vị thần mà người M’Nông tôn thờ là Nguăch Ngual, tức thần Voi. Bởi thế những câu chuyện về vị thần này luôn thu hút sự quan tâm rất lớn của du khách.
Hầu như không du khách nào khi đến Đắk Lắk, đặc biệt là Buôn Đôn, Buôn Mê Thuột không biết đến câu chuyện yêu thủy chung của đôi trai gái người M’Nông gắn liền với chiếc nhẫn lông đuôi voi.
Theo đó, từ xa xưa có một đôi trai gái yêu nhau say đắm nhưng không đến được với nhau vì mâu thuẫn giữa hai làng. Chàng trai cầu xin vị thần lớn nhất Tây Nguyên (Thần Voi) giúp đỡ và được thần tặng một chiếc nhẫn lông đuôi voi làm tín vật. Nhờ vậy, họ đã nên nghĩa vợ chồng. Từ đó, nhẫn lông đuôi voi được xem là biểu tượng của tình yêu, sự thủy chung và may mắn.
Biết đến câu chuyện này từ những người từng du lịch Tây Nguyên trước đó, nên khi có dịp đến Buôn Đôn tháng 8/2015, Nguyễn Nhung, một du khách Bến Tre cũng không quên tìm mua nhẫn lông đuôi voi. Cô cho biết giá một chiếc nhẫn không quá đắt, chỉ vài trăm nghìn nên mua như một món quà kỷ niệm, và cũng để tặng người yêu.
Huyền Anh (Hà Nội) khi đến thăm thành phố Buôn Mê Thuột cũng được người họ hàng tặng một đôi nhẫn lông đuôi voi làm kỷ niệm và kể cho nghe câu chuyện truyền thuyết liên quan đến món đồ trang sức. Huyền Anh cho biết chưa biết thực hư câu chuyện này thế nào nhưng sau khi nghe, cô cảm thấy trân trọng chiếc nhẫn được tặng hơn và coi đó là món quà ý nghĩa.
Không chỉ nghe truyền miệng, nhiều người chưa có dịp đến Tây Nguyên nhưng cũng mong muốn sở hữu món trang sức này khi biết đến các giai thoại về nhẫn lông đuôi voi được các trang bán online đăng tải.
"Ở Buôn Đôn có một con voi cái của gia đình Y’Tep "yêu" một con voi đực cùng buôn từ khi con nhỏ, nên suốt đời con voi cái đó chỉ chịu sinh con với con voi đực đó thôi. Có thời gian voi đực bị bán cho một người ở buôn khác, nên đến mùa sinh sản chúng vượt rừng tìm đến nhau để sinh con… Có lẽ vì thế mà người dân M’Nông ở Buôn Đôn quan niệm lông đuôi voi không chỉ đem lại sự may mắn, mà đó còn là tượng trưng cho lòng chung thủy”, một trang mạng giới thiệu về nhẫn lông đuôi voi.
Anh Tuấn Quyền, một người làm trong ngành du lịch lâu năm và từng nhiều lần tham gia khảo sát Buôn Mê Thuột cho hay: "Người ta cho rằng voi là con vật lớn nhất hành tinh (trên cạn) nên mang thứ gì của nó, sẽ có được sức mạnh của nó. Chính vì vậy từ trước đến nay lông đuôi voi được săn lùng rất nhiều. Tuy nhiên, nó chỉ mang ý nghĩa tâm linh, chưa ai chứng kiến mang nhẫn này sẽ có hiệu quả".
Theo Huỳnh Thu, một người dân ở Đắk Lắk, lông đuôi voi theo quan niệm của người M’Nông đem lại may mắn trong tình yêu và sức khỏe. Tuy nhiên đó phải là cái lông rụng. Nếu lấy được lông trắng thì càng may mắn hơn. Từ quan niệm ấy, người ta mới thích mang nhẫn, lắc, dây chuyền lông voi. "Đó là do người Việt mình biến nó thành trang sức, còn ngày xưa dùng từ "sở hữu" đúng hơn", Thu nói.
Trong khi nhiều người tung hô nhẫn lông đuôi voi như một lá bùa hộ mệnh, còn du khách săn lùng như báu vật quý thì người trong cuộc phải phủ nhận "sức mạnh" của món đồ này. Anh Y’xuyên, người quản tượng tại khu du lịch thác Bảy Nhánh - Buôn Đôn cho biết từ khi có du lịch, mới xuất hiện việc lông voi có nghĩa may mắn.
"Nếu mà may mắn thật, chúng tôi bán lông làm gì, giữ cho con cháu gia đình chứ", anh nói. Việc truyền tai nhau về câu chuyện lông voi mang may mắn, xua đuổi tà ma đến giờ theo anh là không có cơ sở. Anh cũng cho biết chưa từng được gia đình truyền lại câu chuyện này bao giờ. (VnExpress/ Ione 24/2) đầu trang(
Mai sau không còn voi nhà, du khách đến Buôn Đôn sẽ hình dung một thời oanh liệt của nghề săn bắt, nuôi dưỡng voi qua những kỷ vật.
Đó là mong ước của ông Nguyễn Trụ, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH du lịch sinh thái Thanh Hà, người đã và đang cất công sưu tầm, tập hợp những hiện vật lưu niệm, những câu chuyện, giai thoại về voi Buôn Đôn…
Căn nhà sàn rộng hơn trăm mét vuông ở khu du lịch sinh thái Thanh Hà (xã Ea Huar, H.Buôn Đôn, Đắk Lắk) được xem là bảo tàng thu nhỏ, trưng bày nhiều dụng cụ săn bắt, thuần dưỡng voi rừng, cúng voi... Ông Trụ hào hứng kể về thú sưu tầm những hiện vật mà ông cho là đại diện của “văn hóa voi”. “Hơn chục năm trước, khi mở khu du lịch, tôi luôn nghĩ yếu tố hấp dẫn du khách đến đây chỉ có thể là voi, văn hóa voi. Nếu không có voi, có lẽ Buôn Đôn vẫn như những buôn làng bình thường khác ở Tây nguyên. Bởi vậy, lưu giữ những ký ức về voi dường như trở thành quyết tâm và công việc thường xuyên của tôi”, ông Trụ bộc bạch.
Nổi bật trong số hiện vật có chiếc bành voi làm bằng gỗ quý, nhiều chi tiết chạm trổ khá tinh xảo, đáy bành lót bằng tấm da voi dày, êm như nệm, hai bên bành được đan bằng mây khá cầu kỳ. Ông Trụ cho biết đây là chiếc bành khoảng 100 tuổi, xuất xứ từ một gia tộc giàu có trong vùng, ngày trước thường dùng cho voi khi đưa đón những vị khách quý. Để so sánh, ông chỉ tay về chiếc bành voi bên cạnh có dáng vẻ đơn giản, thô ráp hơn, dành cho những gru (thợ săn voi) cưỡi khi đi săn.
Trên vách nhà treo hai chiếc áo săn voi khá nguyên vẹn được làm từ vỏ cây lộc vừng rừng. “Điểm đặc biệt của những chiếc áo vỏ cây này là khi thợ săn voi mặc vào sẽ không còn hơi người, giúp họ mai phục trong rừng mà không sợ bị voi rừng đánh hơi phát hiện”, ông Trụ lý giải.
Đến nay, ông Trụ đã sưu tầm được hai bộ đồ nghề săn bắt voi hoàn chỉnh của người M’nông - Lào ở Buôn Đôn. Một bộ đồ nghề vốn của một gru già tên Ama Đinh ở buôn N’Drếch, xã Ea Huar, được ông Trụ mua lại với giá 50 triệu đồng thời điểm năm 2002. Trong bộ đồ nghề săn voi, có những sợi dây thừng dài hàng chục mét bằng da trâu. Ông Trụ cho biết để có da bện bộ dây thừng này, ngày trước người ta phải giết 5 con trâu đực vừa trưởng thành, chưa từng “gần gũi” trâu cái, theo quan niệm là để dây thừng không bị ô uế, dễ bắt được voi rừng.
Trong bộ sưu tập của ông Trụ còn hàng chục chiếc ché rượu, có chiếc ché trắng quý hiếm, những ấm chén bằng đồng chỉ được dùng trong nghi lễ cúng voi, một trong những lễ cúng quan trọng nhất ở vùng Buôn Đôn…
Giữa khu du lịch Thanh Hà có bức tượng Y Thu Knul, vị gru huyền thoại nửa đầu thế kỷ 20, từng bắt hàng trăm voi rừng, trong đó có con voi trắng tặng nhà vua Thái Lan và được nhà vua phong tặng danh hiệu Khunsanup (vua săn voi).
Gần bức tượng là khu mộ hai con voi xấu số tên H’Panh và Pắc Kú, trên mộ có tượng voi tạc bằng xi măng khá sống động. Theo bia “thân thế” trên mộ, voi cái H’Panh được ông Ama Kông, người săn voi nổi tiếng Buôn Đôn, bắt từ rừng năm 1955, chết do ngộ độc vỏ cây rừng năm 2010. H’Panh từng lập công trạng khi báo động có thú dữ và đưa một đoàn khảo sát du lịch ở núi Yok Đôn về nơi an toàn sau gần hai ngày đêm lạc trong rừng. Voi này cũng từng có mặt trong bộ phim Tây Sơn hào kiệt, chở diễn viên đóng vai vua Quang Trung xuất quân ra Bắc.
Cạnh mộ H’Panh là mộ Pắc Kú, là con voi được nhiều người biết đến do chết thảm dưới bàn tay dã man của kẻ xấu. Ông Trụ cho biết voi Pắc Kú từ Buôn Đôn bán qua Gia Lai nhiều năm, được Công ty Thanh Hà mua về lại năm 2009. Cuối năm 2010, khi kiếm ăn trong rừng, Pắc Kú bị đốt bằng xăng và chém hơn 200 nhát trên cơ thể. Sau gần 3 tháng chữa trị, voi Pắc Kú không qua khỏi do vết thương quá nặng.
Theo ông Nguyễn Trụ, việc xây mộ cho voi không phải là việc làm lập dị như có người bình phẩm mà là cách để tôn vinh loài voi, người bạn chung thủy, thân thiết của con người.
“Trong quan niệm của đồng bào Tây nguyên, voi không chỉ là tài sản quý mà còn được xem là thành viên trong gia đình, khi voi chết được buôn làng chôn cất và làm lễ cúng lớn. Còn tôi lập mộ cho voi cũng là cách mong muốn lưu giữ trong bảo tàng ký ức về công tích của voi và giúp những thế hệ sau biết đến một thời hoàng kim của voi Buôn Đôn, có hành vi đúng đắn để bảo vệ động vật hoang dã”, ông Trụ chia sẻ. (Thanh Niên 25/2) đầu trang(
Người Dao Đỏ (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai), luôn giữ trong mình những tri thức dân gian bảo vệ và quản lý tài nguyên rừng.
Quản lý rừng của thôn, bản: Tại các xã người Dao đỏ cư trú như Tả Phìn, Bản Khoang, Bản Hồ, Nậm Cang… khu rừng cấm được người dân quản lý, bảo vệ rất nghiêm ngặt và được tổ chức nghi lễ cúng hàng năm.
Trong buổi cúng rừng này những người tham gia lễ cúng sẽ thảo luận những vấn đề liên quan đến thôn, bản và những quy định liên quan đến việc bản vệ, quản lý rừng. Những ngày bình thường trong năm người dân không được vào trong rừng để lấy củi, lấy măng…
Quản lý theo dòng họ: Thông thường, số lượng những người quản lý rừng theo dòng họ có khoảng từ 5 đến 7 hộ gia đình và thậm chí hơn 20 hộ.
Họ có quan hệ dòng tộc với nhau, sống gần gũi, tương thân tương ái và cùng được hưởng lợi ích đáng kể từ rừng. Họ cùng nhau quản lý, giám sát khu rừng chung của mình.
Quản lý theo gia đình: Đây là những loại rừng tái sinh, mỗi hộ gia đình nhận một hay một vài khu rừng gần nơi ở của họ để quản lý và sử dụng.
Những luật tục và chế tài bảo vệ rừng: Đối với rừng cấm (Puông kiềm) hàng năm, cứ vào ngày Thìn tháng 5 âm lịch, người Dao đỏ ở Sa Pa (Tả Phìn, Trung Chải, Bản Hồ, Nậm Cang, Thanh Kim…) đều tổ chức cúng khu rừng thiêng, rừng cấm. Trong lễ cúng, các hộ gia đình ở thôn trại phải bầu chọn 1 người chủ trì lễ cúng và quản lý rừng cấm.
Người Dao đỏ đưa ra các quy định cho cả cộng đồng phải thực hiện đối với rừng cấm rõ ràng, như sau: Không được chặt cây hoặc đốt lửa trong rừng cấm; không được làm nương, làm ruộng ở khu rừng cấm; không được dựng nhà ở khu rừng cấm; không được lấy củi trong rừng cấm; không hái rau hoặc lấy các loại nấm trong rừng cấm; không săn bắn trong khu rừng cấm, không được chăn thả gia súc,…
Đặc biệt trong thời gian cúng rừng cấm 7 ngày không cho người lạ vào khu rừng cấm hoặc vào trong làng. Trong ngày cúng rừng cấm, tại mỗi đường vào khu rừng cấm và vào thôn, bản đều được treo một bảng ở bên đường.
Khi có người vi phạm quy định về rừng cấm, người quản lý rừng cấm sẽ mời các già làng để cùng tham gia giải quyết. Ông quản lý rừng cấm sẽ đưa ra hình phạt đối với người vi phạm bắt buộc phải tuân theo mà không có sự phản kháng nào cả.
Đối với rừng đầu nguồn (Uôm nhuần kìm), người Dao đỏ Sa Pa đã đề ra các quy định trong việc bảo vệ cũng như khai thác loại rừng này tập trung ở những nội dung sau: Không được khai thác gỗ bừa bãi. Nếu gia đình nào có nhu cầu làm nhà thì phải xin phép trưởng thôn, hoặc những người quản lý thông báo những cây gỗ, vị trí sẽ chặt gỗ và phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến các khu vực xung quanh và có khả năng tái sinh của các cây đã chặt.
Việc hái lượm cũng có những quy định cụ thể: hái rau rừng, măng, mộc nhĩ, nấm các loại… về phục vụ cho sinh hoạt, cho chăn nuôi không giới hạn số lượng; hái cây thuốc mọi người đều có quyền khai thác nhưng cấm không được khai thác tận thu (không được cắt sát gốc cả khóm cây, không được nhổ rễ cả cây hay cả bụi cây…) đảm bảo sự sinh sôi nảy nở về sau. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/2) đầu trang(
Do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại cuối tháng 1 vừa qua, nhiều tán rừng của xã Sà Dề Phìn (huyện Sìn Hồ) bị khô héo, nguy cơ cháy rừng rất cao. Xã Sà Dề Phìn đã và đang chủ động nhiều giải pháp để phòng chống cháy rừng.
Anh Hoàng Ngọc Trung – Phó Chủ tịch UBND, Trưởng Ban Chỉ đạo Phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) xã đưa chúng tôi đi thăm khu vực rừng bị chết do đợt rét đậm, rét hại vào cuối tháng 1 vừa qua. Những đám cây, cỏ chết khô hoặc ngả vàng bao phủ khắp các cánh rừng. Vào thời điểm nắng nóng, nhất là buổi trưa, chỉ cần một mồi lửa nhỏ sẽ xảy ra cháy rừng và khó kiểm soát được.
Thời điểm này, công việc của những người giữ rừng càng trở nên vất vả hơn bởi lúc nào cũng phải đề cao tinh thần cảnh giác, tăng cường kiểm tra đề phòng cháy rừng. Anh Trung cho biết: “Với phương châm “giữ rừng như giữ nhà”, vào thời điểm khô hanh như hiện nay, xã đã cử người túc trực 24/24 giờ để tuần tra những khu rừng trọng điểm, nhất là những nơi có nguy cơ cháy rừng cao. Đồng thời khuyến cáo Nhân dân về nguy cơ cháy rừng trong mùa nắng nóng để chủ động kịp thời khống chế và sẵn sàng ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra”.
Hiện nay, toàn xã có 2.100ha rừng, đợt rét đậm rét hại vừa qua có 122ha rừng và thảm thực vật bị chết khô, cháy lá, gãy cành. Khi gặp nắng nóng, chỉ cần một chút bất cẩn của người dân cũng có thể là mồi lửa dẫn đến cháy rừng. Ban Chỉ đạo PCCCR xã đã phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện tổ chức nhiều lớp tập huấn về công tác bảo vệ rừng cho các thành viên và tuyên truyền rộng rãi đến từng người dân trong xã.
Xã bầu 7 tổ chuyên trách bảo vệ rừng, 7 - 12 người/tổ. Tổ trưởng tổ chuyên trách có trách nhiệm bảo vệ, quản lý diện tích rừng được phân công; không cho phép người dân khai thác rừng khi chưa được phép của tổ trưởng. Các tổ chuyên trách còn hướng dẫn bà con kỹ thuật sản xuất nương rẫy gắn với PCCCR; làm đường băng cản lửa, quy định thời gian đốt nương vào sáng sớm; không đốt nương vào những ngày có nắng hanh, có gió mạnh. Khi đốt nương, các hộ phải báo với tổ trưởng tổ chuyên trách bảo vệ rừng và ký cam kết không để cháy rừng xảy ra.
Bên cạnh đó, xã còn đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức bảo vệ và PCCCR tới mỗi gia đình. Để 7 tổ chuyên trách bảo vệ rừng của xã hoạt động hiệu quả, hàng năm xã đã trích từ Ngân sách xã hỗ trợ 3 triệu đồng/1tổ để mua sắm, trang bị dao phát, giày vải, mũ, can nhựa sẵn sàng ứng cứu khi xảy ra cháy rừng.
Gia đình ông Mùa Hồ Sinh (bản Can Hồ) gắn bó với rừng đã nhiều năm nay, rừng cho củi để đun nấu cũng như cho măng để làm thức ăn. Theo ông, những cánh rừng trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của gia đình. Ông Sinh chia sẻ: “Bảo vệ rừng cũng là bảo vệ cuộc sống của chính mình. Hàng ngày, khi đi rừng, tôi thường dặn con cháu không được mang theo các dụng cụ gây cháy, đốt rừng làm nương rãy, nhất là mùa cao điểm như hiện nay”.
So với những người giữ rừng ở xã, công việc của anh Sùng Chìa Di vất vả hơn bởi anh đảm nhiệm chức vụ Tổ trưởng tổ chuyên trách bảo vệ rừng của bản Tìa Cu Y. Dáng người nhỏ nhưng anh Di rất nhanh nhẹn, lúc thì cùng cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện đến từng hộ để tuyên truyền bà con các biện pháp bảo vệ rừng, khi thì cùng tổ chuyên trách đi tuần tra trên những cánh rừng để có biện pháp phòng, chữa cháy rừng an toàn và hiệu quả.
“Mình giữ rừng tốt cũng là bảo vệ tài sản của gia đình. Rừng còn là cuộc sống của chính chúng ta... Vì vậy, tôi thường tuyên truyền, vận động để bà con Nhân dân trong bản hiểu và giữ rừng hiệu quả hơn” - anh Di tâm sự.
Ở Sà Dề Phìn, không chỉ có gia đình ông Sinh, anh Di mà rất nhiều bà con trong xã cũng đang nỗ lực bảo vệ rừng. Đây chính là hiệu ứng tốt để mùa khô năm nay và các năm tiếp theo, xã Sà Dề Phìn không xảy ra cháy rừng. (Báo Lai Châu 24/2) đầu trang(
Ngày 24.2, nguồn tin của Lao Động cho hay, Công an tỉnh Vĩnh Phúc đang điều tra, truy tìm thủ phạm gây ra vụ cháy hàng chục hécta rừng tại thôn Lập Đinh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên cách đây hơn một tuần.
Theo đó, vào khoảng 1 giờ 30 phút ngày 15.2 tại thôn Lập Đinh, xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc) đã xảy ra vụ cháy rừng khiến khoảng 17ha bạch đàn chồi, thông, keo bị thiêu rụi. Được biết, đây là khu rừng trồng đã được giao cho người dân quản lý. Chủ rừng là ông Nguyễn Văn Thanh ở xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
Ngay sau khi phát hiện đám cháy, kiểm lâm địa bàn xã Ngọc Thanh cùng chủ rừng đã huy động gần 40 người tổ chức cứu chữa. Khu vực xảy ra cháy rừng dốc cao hơn 300 mét nên xe chữa cháy, phương tiện hiện đại không tiếp cận được hiện trường. Điều đáng nói, mặc dù nguồn nước thì gần nhưng từ nhiều năm qua đường dân sinh đã bị chặn lại nên công tác chữa cháy gặp nhiều khó khăn.
Ông Lê Văn Nhã – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho biết, nguyên nhân ban đầu được xác định là do con người chủ ý gây ra chứ không phải do thiên nhiên gây ra. Với nhiều lý do khác nhau nên con người đã đốt rừng để phá hoại tài nguyên môi trường, xâm hại với tài sản của chủ rừng, ông Nhã nói.
Hiện tại Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã lập chuyên án điều tra thủ phạm gây ra vụ cháy rừng để xử lý. (Lao Động 24/2; Pháp Luật Và Xã Hội 24/2; Năng Lượng Mới 24/2) đầu trang(
Chiều 24.2, trao đổi với PV Lao Động, ông Trần Văn Lương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP.Đà Nẵng - cho biết, ngày 25.4, ông sẽ triển khai lực lượng vào cuộc xác minh có hay không việc phá rừng, mở đường phá hoại ở Bán đảo Sơn Trà (nơi được mệnh danh là "lá phổi" của TP.Đà Nẵng) như thông tin phản ánh bằng hình ảnh mà người dân ghi lại được trên bán đảo này.
Theo đó, nhiều ngay qua, trên mạng xã hội facebook xuất hiện nhiều hình ảnh, clip ghi lại cảnh rừng Sơn Trà bị đốn hạ và đốt phá.
Thông tin này chưa được xác minh nhưng tạo hiệu ứng khá lớn đối với nhiều người dân Đà Nẵng. Nhiều người lên tiếng chỉ trích việc làm này sẽ ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái tại bán đảo, đặc biệt là đe dọa loài voọc chà vá chân nâu đang sinh tồn tại đây.
Đây là loài đặc hữu của Đông Dương, có nguy cơ tuyệt chủng khi chỉ còn dưới 2.000 cá thể, riêng VN chiếm 50%, tập trung nhiều nhất ở Sơn Trà với 300 con (2014). Sách đỏ Việt Nam đã xếp loài linh trưởng này vào bậc nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng. (Lao Động 24/2; Tầm Nhìn 24/2) đầu trang(
Sau khi Dân Việt đăng bài phản ánh về hiện tượng người dân ồ ạt lên rừng tận thu gốc gỗ Pơ mu, chiều 24.2, khu vực bản Cắm, xã Cắm Muộn (Quế Phong, Nghệ An) đã được lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương phong tỏa đồng thời ra thông báo nghiêm cấm người dân vào rừng đào, tận thu loại gỗ quý hiếm này.
Chiều ngày 24.2, trao đổi với Dân Việt, ông Lương Thanh Bình – Chủ tịch UBND xã Cắm Muộn cho biết: “Hiện tại chính quyền địa phương, công an xã phối hợp với lực lượng kiểm lâm, công an huyện tiến hành kiểm tra thiệt hại mà người dân những ngày qua đã vào rừng tận thu gốc gỗ quý bán cho các thương lái. Hiện chúng tôi đã phối hợp với các cấp tuyên truyền cũng như thông báo đến bà con nghiêm cấm vào rừng để đào bới và tận thu gốc gỗ quý. Theo tôi được biết, đây không phải là gốc gỗ Pơ mu mà nó là loại gỗ quý hiếm khác, vì ở trên địa bàn từ lâu nay không còn gỗ Pơ mu nữa...”
Trong khi đó ông Dương Ngọc Hùng – Giám đốc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống thì cho hay: “Chúng tôi đã cho cán bộ vào kiểm tra, theo báo cáo thì người dân vào rừng tận thu gỗ quý trên không thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống quản lý, địa điểm mà người dân khai thác còn cách cánh rừng nguyên sinh thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống gần 6 km...Nhưng hiện tại chúng tôi vẫn cho cán bộ, túc trực 24/24 để tránh trường hợp người dân vào khai thác ngay ở trong rừng nguyên sinh....”
“Theo thông tin chúng tôi nhận được thì nhưng gốc cây quý hiếm mà bà con khai thác bán cho các thương lái lâu nay không phải gốc gỗ Pơ mu mà là gốc gỗ cây Bách sanh loại gỗ đặc biệt quý hiếm đang ít dần trên những cánh rừng ở Nghệ An...” ông Hùng cho biết thêm.
Trong khi đó theo nguồn tin riêng của PV Dân Việt, hiện tại khu vực bản Cắm, xã Căm Muộn, huyện Quế Phong (Nghệ An) hết sức phức tạp. Bỡi khi lực lượng kiểm lâm, công an huyện vào cuộc thì có hàng trăm người dân địa phương ra hô hào phản đối, cản trở lực lượng làm nhiệm vụ. Hiện các ngành chức năng đã thu được một lượng lớn gốc gỗ quý trên và đang làm các thủ tục để bàn giao cho kiểm lâm tiếp tục xử lý. (Dân Việt 24/2) đầu trang(
Những ngày đầu năm mới là dịp để người dân đi cúng lễ ở các đền chùa, cầu cho một năm nhiều tài lộc, may mắn, bình an. Theo quan điểm của Phật giáo, phóng sinh mang lại rất nhiều công đức.
Phóng sinh là một việc làm để thể hiện tấm lòng từ bi của con người đối với muôn loài. Khi con người nhìn thấy các loài vật đang bị bắt nhốt, giam cầm sẽ phát lòng từ bi, tìm cách giải thoát cho những con vật tội nghiệp đó. Người ta bẫy những con chim để bán cho người đi phóng sinh. Chúng lại bị bắt lại ngay sau khi được thả. Và rồi người ta lại mua. Vòng luẩn quẩn cứ thế cho đến khi chú chim bị chết. Lúc ấy lại là chuyện khác, một kiểu phát tâm từ bi vô trách nhiệm.
Một câu hỏi được đặt ra, lượng lớn những loài vật được con người mua về để phóng sinh, chúng từ đâu xuất hiện? Bản chất tốt đẹp của hoạt động phóng sinh còn không khi sự hiểu biết đúng đắn về tâm linh đi xuống. Liệu có bao nhiêu phần trăm trong tổng số những người tham gia hoạt động phóng sinh là vì thật tâm họ có lòng thương cảm đối với muôn loài? Hay tất cả những việc làm đó chỉ để mong mang lại những điều may mắn về cho bản thân mình?!
Như một chu kỳ, cứ những ngày đầu của năm mới, báo chí lại rần rần những bài viết về hoạt động phóng sinh ở các đền chùa. Không còn xa lạ nữa những dòng tít bài “Chim phóng sinh bị mua đi bán lại đến... chết mới thôi”, “Chim phóng sinh chết la liệt trước cổng chùa ngày Rằm tháng Giêng”, “Chim phóng sinh chết sau khi được thả”.
Rõ ràng hoạt động nhân văn, tốt đẹp này đã bị biến tướng rất nhiều so với những tốt đẹp vốn có. Theo quy luật của thị trường, có cầu ắt sẽ có cung. Nhu cầu phóng sinh của người dân ngày càng tăng thì sẽ xuất hiện người bán những con chim phóng sinh.
Người ta bẫy những con chim trời để bán cho người đi phóng sinh. Những con chim đó lại bị người bán bắt lại ngay sau khi được thả. Và rồi chúng lại được bán. Vòng luẩn quẩn cứ thế diễn ra cho đến khi chú chim tội nghiệp bị chết.
Báo chí đề cập rất nhiều, bản thân những người tham gia hoạt động phóng sinh cũng có thể tự suy luận ra được sự thật về những chú chim được họ mua lại để phóng sinh. Nhưng chẳng ai bận tâm đến điều này. Họ chỉ lo cho xong công việc của mình. Một kiểu phát tâm từ bi vô trách nhiệm.
Họ mua chim về để phóng sinh nhưng lại im lặng trước những hành vi giết lại động vật hoang dã. Họ mua chim phóng sinh thể hiện từ bi nhưng lại sử dụng những sản phẩm từ động vật quý hiếm. Và việc phóng sinh, vô tình trở thành tiếp tay cho điều ác.
Ở ngã tư phố Bà Triệu – Tô Hiến Thành (Hà Nội) từ lâu có một người phụ nữ bán trà đá khá nổi tiếng. Bà được biết đến là người phụ nữ tên Tim, quanh năm mang thóc ra nuôi chim trời. Bà bỏ tiền ra mua thóc về cho chúng ăn. Thi thoảng có người lại mang thóc đến cho bà để bà chăm lũ chim trời.
Chăm những đàn chim trời lâu đến nỗi... bà có thể hiểu được chúng muốn ăn gì. Thóc cũng phải hạt mẩy, ngon chúng mới ăn. Một ngày bà cho lũ chim ăn vài lần, ăn xong chúng đi nơi khác kiếm mồi rồi lại quay trở về quanh quẩn bên cây cột điện cạnh quán nước bà Tim.
Bà nói rằng người ta đưa bà lên báo nhiều rồi và bà không thích điều này lắm. Mình làm việc thiện, cho lũ chim ăn thì đâu có gì. Phải chăng những điều tốt đẹp trong xã hội bây giờ ít quá nên việc bình thường cũng trở nên đặc biệt trên mặt báo?
Ngồi nhìn ngắm đàn chim bình thản mổ từng hạt thóc trên vỉa hè, mặc kệ những chiếc xe vẫn ầm ầm lao qua, mặc kệ phố xá đông đúc, ồn ã. Bỗng thấy lòng nhẹ nhàng, thanh thản. Bỗng thấy được ý nghĩa thực sự của làm điều thiện với chúng sinh, ý nghĩa thực sự của phóng sinh. (Thể Thao Và Văn Hóa 24/2) đầu trang(
Ngày 24-2, dưới sự giám sát của đại diện Công an tỉnh, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền địa phương, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn lấy mẫu gốc cây rừng tự nhiên có khối lượng lớn đã bắt giữ đêm 20-2 đưa về Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam giám định, xác định chủng loại gỗ để có cơ sở xử lý theo quy định.
Tại vị trí cất giữ gốc cây rừng nêu trên, mùi tinh dầu gù hương tỏa ra thơm nức. Những người buôn bán gỗ trên địa bàn tỉnh xác định, nếu là gù hương thì gốc cây trên có giá vài tỷ đồng.
Vào lúc 23 giờ ngày 20-2, Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng chống cháy rừng số 1 (thuộc Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn) kiểm tra ô-tô biểm kiểm soát 20C-078.80, phát hiện trên ô-tô vận chuyển một gốc cây gỗ rừng tự nhiên có hình thù phức tạp, gỗ có dấu búa kiểm lâm số KL 1270.
Tại thời điểm kiểm tra, lái xe ô-tô, chủ gỗ xuất trình một bộ hồ sơ khai thác lâm sản do UBND huyện Bạch Thông cấp cho chủ rừng là ông Mã Văn Thành ở thôn Lủng Chang, xã Lục Bình, huyện Bạch Thông là gỗ tròn thương phẩm, chủng loại là gỗ Kháo thuộc nhóm VI.
Tuy nhiên trên thực tế lại là một gốc cổ thụ rất lớn, đường kính khoảng hơn 4 m, cao hơn 2 m, đứng gần có hương thơm của gỗ gù hương, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn nghi là gốc cây gù hương thuộc nhóm IIa (loại gỗ đặc biệt quý hiếm, hạn chế khai thác, sử dụng).
Hồ sơ của gốc cây này có nhiều khuất tất, cụ thể là bảng kê lâm sản do chủ gỗ lập không ghi ngày, tháng, năm, không ghi cụ thể tên lâm sản. Chủ gỗ không có biên lai nộp thuế tài nguyên. Khối lượng gỗ vận chuyển trên xe ô-tô không phù hợp với hồ sơ vận chuyển lâm sản nên Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn đã bắt giữ gốc cây này.
Lãnh đạo tỉnh Bắc Cạn và Chi cục Kiểm lâm xác định: Sau khi có kết quả giám định, xác định là gốc cây gù hương sẽ xử lý các cán bộ liên quan đến việc xác nhận đăng ký khai thác gỗ tận thu, kiểm tra hiện trường, đóng dấu búa kiểm lâm theo quy định. (Nhân Dân 24/2) đầu trang(
Suốt gần chục năm nay, những cánh rừng nghiến nguyên sinh trên địa bàn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn liên tục bị “chảy máu”.
Tang vật thu được trong những lần truy quét lâm tặc được các cấp chính quyền tỉnh Cao Bằng tổ chức bán đấu giá với giá trị thấp hơn rất nhiều giá thực tế trên thị trường. Trong khi đó, tình trạng rừng bị “xẻ thịt” vẫn diễn ra liên tục trước sự bất lực của các lực lượng chức năng.
Trong vai những người buôn gỗ, PV Báo Giao thông đã thâm nhập vào tận rừng sâu ở xã Triệu Nguyên (huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) và tận mắt chứng kiến cảnh gỗ quý bị đốn hạ nằm ngổn ngang trong rừng. (Giao Thông 24/2) đầu trang(
Rừng nghiến ở Triệu Nguyên vẫn liên tục “chảy máu” trong hàng chục năm qua. Đại diện lực lượng Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng cho rằng, để chấm dứt triệt để nạn phá rừng ở địa phương này là nhiệm vụ bất khả thi vì có quá nhiều khó khăn, trở ngại.
Trao đổi với PV Báo Giao thông, ông Nguyễn Văn Minh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng cho biết, khu vực rừng nghiến ở xã Triệu Nguyên từ lâu vẫn là một điểm “nóng” về vấn nạn phá rừng.
“Rừng bị phá từ những năm 1990 vẫn dai dẳng đến tận bây giờ. Đã có lúc nạn phá rừng ở đấy tạm thời lắng xuống vì có sự can thiệp quyết liệt của các lực lượng chức năng tỉnh và địa phương. Nhưng khoảng 2 - 3 năm trở lại đây, hiện tượng phá rừng có dấu hiệu “nóng” trở lại”, ông Minh cho hay.
Lý giải tình trạng phá rừng dai dẳng ở Triệu Nguyên, ông Minh cho rằng, nguyên nhân chính do vị trí địa lý và địa hình khu vực này rất phức tạp, hiểm trở. Phần lớn diện tích rừng nằm trên địa bàn huyện Nguyên Bình nhưng nơi tập trung nhiều gỗ quý lại phân bố ở điểm giáp ranh giữa hai huyện Thông Nông và Nguyên Bình nên việc giám sát và bảo vệ rừng gặp vô vàn khó khăn.
“Để vào nơi khai thác gỗ chỉ có hai con đường. Nếu lâm tặc bố trí người canh gác ở hai đầu lối vào này thì mọi hoạt động truy quét, vây bắt đều bị vô hiệu hết. Hơn nữa, khu vực đó sóng điện thoại rất mạnh, chỉ cần một cuộc điện thoại, các đối tượng có thể kịp thời tẩu tán tang vật, xóa hiện trường trước khi chúng tôi vào đến nơi”, ông Minh nói.
Bên cạnh đó, ông Minh cho rằng, tình trạng phá rừng ở địa phương này liên tục tái diễn còn một phần nguyên nhân từ chính quyền địa phương. “Theo luật thì UBND xã có quyền xử phạt hành chính hành vi phá rừng số tiền đến 5 triệu đồng, nhưng có thấy bao giờ họ xử phạt đâu.
Ở Triệu Nguyên trước nay chính quyền xã chưa từng bắt một vụ phá rừng nào cả. Tất cả đều do kiểm lâm hoặc lực lượng công an đứng ra phối hợp, tổ chức thôi”, ông Minh bức xúc. Theo ông Minh, với đặc thù là đơn vị cơ sở, nắm chắc địa bàn nhất, đáng ra chính quyền xã phải là người đi tiên phong trong công tác chống nạn phá rừng. Thế nhưng trên thực tế, kể cả khi lực lượng kiểm lâm đề nghị phối hợp kiểm tra, tuần rừng, đơn vị này cũng rất ít khi hợp tác. Có chăng chỉ đi được 1 - 2 lần rồi lại kiếm cớ thoái thác.
Về sự xuất hiện của Công ty Phương Đạt, ông Minh cho biết, doanh nghiệp này đã tham gia đấu giá mua gỗ nghiến tang vật nhiều lần trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Riêng tại xã Triệu Nguyên, ngoài 31,197 m3 gỗ nghiến năm 2015, Công ty Phương Đạt cũng từng trúng đấu giá một lô gỗ nghiến lớn hơn gấp nhiều lần vào khoảng 2 năm trước đó.
Tuy nhiên, theo ông Minh, cứ mỗi lần doanh nghiệp này vào rừng mua gỗ là nạn phá rừng ở Triệu Nguyên lại diễn ra rầm rộ hơn. Thế mới có chuyện, doanh nghiệp vừa vận chuyển hết số gỗ mua đấu giá của lần trước, lực lượng chức năng lại tiếp tục bắt giữ được một lô gỗ tang vật mới. Số gỗ này lại được đem bán đấu giá và Công ty Phương Đạt tiếp tục là đơn vị trúng đấu giá.
Tình trạng phá rừng ở Triệu Nguyên bắt đầu “nóng” lên cũng từ khi xuất hiện doanh nghiệp này về địa phương mua đấu giá gỗ. “Vẫn biết việc để doanh nghiệp vào rừng, mua gỗ sẽ có tính hai mặt, dễ bị lợi dụng để phá rừng nhưng để chúng tôi đưa gỗ ra khỏi rừng là cả vấn đề. Chúng tôi làm sao đầu tư được một hệ thống cáp tời gỗ như họ (Công ty Phương Đạt - PV). Rồi huy động máy móc, người bốc gỗ nữa. Lo đủ những khoản ấy, đem được gỗ ra khỏi rừng có bán được cũng bị “âm” là cái chắc”, ông Minh phân tích.
Dù theo nguyên tắc, quá trình khai thác và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng của Công ty Phương Đạt luôn phải có lực lượng chức năng giám sát, nhưng ông Minh thừa nhận quá trình này gặp rất nhiều khó khăn và có thể tồn tại lỗ hổng dễ bị lợi dụng, làm sai.
“Nói là có người giám sát nhưng cũng không thể cắt cử người đi theo họ vào rừng 24/24h được. Ngay cả khi trời mưa gió, người ta có khai thác hay không mình cũng không thể nắm hết. Thế nên, việc người dân lợi dụng tình hình khai thác gỗ bán cho doanh nghiệp hoặc doanh nhiệp khai thác hơn số lượng quy định hoàn toàn có thể xảy ra. Việc này chúng tôi sẽ cho kiểm tra ngay”, ông Minh khẳng định.
Trong khi đó, ông Nông Văn Trường, Phó chủ tịch UBND huyện Nguyên Bình cho biết, vài năm trước, tại xã Mai Long (huyện Nguyên Bình) cũng từng xảy ra tình trạng việc mua bán đấu giá gỗ bị lợi dụng để phá rừng, khai thác gỗ trái phép trong rừng. Khi sự việc bị phát hiện, những bên liên quan lập tức tìm cách đổ lỗi cho nhau.
“Ở Triệu Nguyên vừa qua tôi cũng nghe dư luận nói rằng, khi doanh nghiệp vào khai thác gỗ cũng có nhiều đối tượng lợi dụng vào theo để phá rừng. Khi biết được thông tin đó, chúng tôi đã chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát. Phải kiểm đếm cụ thể trong rừng gỗ đã chặt là bao nhiêu?, khối lượng gỗ cho phép khai thác là bao nhiêu?, khi gỗ đưa ra có đúng với khối lượng đó không?, có bị lén chuyển đi nơi khác không? Tất cả phải được kiểm tra chặt chẽ”, ông Trường cho hay. (Giao Thông 25/2) đầu trang(
Báo Giao thông các số 30 và 31 (ra ngày 23 và 24/2/2016) đã đăng tải loạt bài điều tra “Bất lực nhìn rừng Cao Bằng chảy máu” phản ánh tình trạng rừng nguyên sinh tại xã Triệu Nguyên, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng liên tục bị lâm tặc tàn phá trong nhiều năm qua.
Không những thế, chính sách bán đấu giá lâm sản tang vật tịch thu được trong những vụ bắt lâm tặc phá rừng của các cấp chính quyền địa phương này cũng tồn tại nhiều bất cập và bị các lực lượng xấu lợi dụng để phá rừng, khiến nạn “chảy máu” tài nguyên rừng của địa phương không ngừng tái diễn và gia tăng.
Sau khi loạt bài điều tra trên đăng tải, Báo Giao thông đã nhận được phản hồi của chính quyền địa phương cho biết, đã tổ chức kiểm tra, rà soát, xác minh những nội dung mà báo đã đưa tin.
Cụ thể, sáng 24/2, trao đổi với PV Báo Giao thông, ông Nguyễn Đức Trường, Chánh Văn phòng UBND huyện Nguyên Bình cho biết, ngay sau khi nhận được thông tin phản ánh của báo, UBND tỉnh Cao Bằng đã thành lập một Tổ công tác liên ngành bao gồm lực lượng chức năng tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với UBND huyện Nguyên Bình, chính quyền xã Triệu Sơn kiểm tra những nội dung Báo Giao thông đưa tin.
Quá trình kiểm tra, lực lượng chức năng ghi nhận tình trạng phá rừng trái phép diễn ra tại khu rừng Lũng Thàn, xóm Cảm Ngọa, xã Triệu Sơn là có thật. “Theo báo cáo của đơn vị chuyên môn thì quá trình kiểm tra đã phát hiện 5 khúc gỗ thuộc nhóm IIA tương ứng khoảng 2 m2 gỗ tròn trong rừng bị chặt hạ trái phép. Lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm kê và lập biên bản”, ông Trường cho hay.
Liên quan đến việc Doanh nghiệp tư nhân Xây dựng Phương Đạt tự ý tăng thời lượng khai thác gỗ quá thời gian quy định trong Biên bản giao nhận tài sản bán đấu giá ngày 4/2/2015, ông Trường thừa nhận là có thật.
Tuy nhiên, theo ông Trường, nguyên nhân dẫn đến việc trên là do trong quá trình khai thác, gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi (mưa nhiều) nên quá trình khai thác và vận chuyển gỗ bị kéo dài. “Vấn đề này thuộc về lỗi của đơn vị quản lý trực tiếp là Hạt Kiểm lâm huyện. Họ không báo cáo kịp thời để có phương án xử lý. Hạt Kiểm lâm huyện cũng đã bị kiểm điểm về sai sót trên”, ông Trường nói.
Vẫn theo ông Trường, trong ngày 25/2, lực lượng chức năng sẽ có báo cáo chính thức về kết quả kiểm tra những vụ việc Báo Giao thông nêu và sẽ có thông tin trả lời chính thức, đầy đủ. (Giao Thông 25/2) đầu trang(
Chiều 23/2, đoàn công tác của Sở NN&PTNT cùng một số ngành liên quan đã đi kiểm tra tình hình sản xuất tại huyện Kim Bôi.
Công tác bảo vệ rừng, PCCR được tăng cường nên trước, trong và sau Tết không xảy ra cháy rừng và khai thác rừng trái phép. Tại buổi làm việc với đoàn kiểm tra, huyện Kim Bôi đã đề xuất UBND tỉnh ban hành đề án cải tạo vườn tạp.
Trong khuôn khổ buổi làm việc, đoàn kiểm tra đã đi thực tế tại các xã Bắc Sơn, Sơn Thuỷ, Bình Sơn và Hạ Bì. (Báo Hòa Bình 24/2) đầu trang(
Để thực hiện có hiệu quả các phương án phòng chống cháy rừng trong mùa khô hanh, việc kiện toàn và trang bị phương tiện cần thiết cho các tổ, đội tại cơ sở để đảm bảo thực hiện nhiệm vụ cơ động tại chỗ đóng vai trò rất quan trọng. Đến thời điểm này, trên 1.780 tổ, đội phòng chống cháy rừng tại cơ sở được duy trì với hơn 1.800 thành viên.
Thời điểm sau tết Nguyên đán, trên địa bàn tỉnh Điện Biên, tình hình thời tiết khô hanh kết hợp với gió Lào thổi mạnh tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ gây cháy rừng. Vì vậy, công tác phòng chống cháy rừng vào thời điểm này được tỉnh Điện Biên tập trung chỉ đạo quyết liệt từ tỉnh đến cơ sở.
Trong đó, chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt là các hộ gia đình có diện tích nương rẫy giáp ranh với rừng, tuyên truyền nhân dân không đốt nương vào giờ cao điểm khi gió đang thổi mạnh; tổ chức cho nhân dân phát đường băng cản lửa, dọn thực bì, lau lách, thảm thực vật; thường xuyên tổ chức diễn tập các phương án phòng chống cháy rừng trong mùa khô hanh.
Thực hiện có hiệu quả phương châm 4 tại chỗ, nhất là kiện toàn lại các tổ đội phòng chống cháy rừng tại cơ sở. Đến nay, toàn tỉnh có trên 1.780 tổ, đội phòng chống cháy rừng với hơn 1.800 thành viên, đây là lực lượng tại chỗ đóng vai trò quan trọng trong công tác phòng chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong mùa khô hanh hiện nay. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Điện Biên 24/2) đầu trang(
Trao đổi với Zing.vn, TS Võ Đình Sơn cho biết, việc thay đổi chuồng trại, khí hậu nhiệt đới ẩm ở VN là thách thức với công tác bảo tồn động vật hoang dã.
TS Võ Đình Sơn là chuyên gia về thú y động vật hoang dã, giảng viên thỉnh giảng của ĐH Nông lâm TP HCM, có hơn 30 năm làm công tác bảo tồn động vật ở Thảo Cầm Viên TP HCM.
Bảo tồn các cá thể động vật hoang dã là công việc chưa bao giờ dễ dàng. Trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc các động vật hoang dã ở các vườn thú luôn cho phép tỉ lệ phù hợp số lượng cá thể chết.
Động vật ở các vườn thú chết có rất nhiều nguyên nhân. Ngoài chuyện các loài động vật lớn tuổi hay mắc bệnh chết thì một số chết do bị tai nạn với rào chắn sắt, hay có trường hợp cá thể đá, cắn nhau.
Đặc biệt những loài động vật mới nhập từ nước ngoài về thường tỷ lệ chết khá cao nếu không có sự chuẩn bị, chăm sóc chu đáo do thay đổi môi trường sống, khí hậu, thức ăn. Việc thay đổi các yếu tố này khiến các loại động vật chưa thích nghi rất dễ mắc bệnh và chết.
Thức ăn cũng là một yếu tố phải ổn định, đảm bảo chất lượng, không thay đổi khẩu phần ăn đột ngột đối với các loại động vật mới mua từ các nước khác về. Việc thay đổi thức ăn cũng là nguyên nhân dẫn đến các động vật khó thích nghi dễ mắc bệnh.
Trước đây khi còn làm việc ở Thảo Cầm Viên, có một số loại động vật mua ở Đức, Nga, Nam Phi… vận chuyển về Việt Nam bằng tàu thủy. Có chuyến thời gian di chuyển hơn cả một tháng với rất nhiều khó khăn.
Các chuyên gia thú y ở nước bạn phải luôn theo sát, chăm sóc các cá thể động vật ấy trong suốt thời gian vận chuyển cũng như thời gian đầu khi về Việt Nam. Nhiều loại động vật thích nghi với khí hậu, môi trường sống khác rất nhanh, nhưng cũng có cá thể mắc bệnh ngay khi thay đổi môi trường sống.
Hiện nay, hầu hết động vật mua từ các nước, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý của hai nước đều được vận chuyển bằng máy bay chuyên dụng. Tuy thời gian vận chuyển được rút ngắn rất nhiều nhưng việc thay đổi chuồng trại, các thủ tục xuất, nhập cảnh lâu, khí hậu thay đổi đột ngột cũng là thách thức không nhỏ trong công tác vận chuyển.
Vì thế, khi mua các động vật từ nước khác, các chủ đầu tư thường thuê luôn các bác sĩ thú y, nhân viên chăm sóc động vật ở các nước sở tại trong quá trình vận chuyển cũng như giai đoạn đầu về Việt Nam để đảm bảo sự an toàn, chăm sóc tốt nhất cho cá thể động vật được mua.
Khí hậu ở Việt Nam mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa do gần xích đạo, nên khi mua các loài động vật từ các nước gần xích đạo trong khu vực như Indonesia, Malaysia thì khả năng thích nghi môi trường sống, khí hậu của các động vật khá tốt.
Với các loại mua từ châu Âu quanh năm giá lạnh như vùng phía Bắc nước Nga hay những hoang mạc nắng nóng ở châu Phi cũng có rất nhiều loài động vật thích nghi khí hậu của Việt Nam rất nhanh và sau nhiều năm vẫn sống và sinh sản các thế hệ F1 rất tốt.
Ngoài ra, với đặc thù khí hậu thất thường, hay xảy ra dịch bệnh nên cũng có khá nhiều loài động vật ở các nước sau khi về Việt Nam vài năm mắc bệnh chết.
Vì thế, việc đảm bảo các quy định, nguyên tắc trong chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như thuần dưỡng các loại động vật phải nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo sự an toàn cho nhân viên cũng như chăm sóc tốt các loại động vật, đặc biệt là động vật quí hiếm. (Zing News 24/2) đầu trang(
Nhận được tin báo từ quân chúng nhân dân, tối 22/2, Lực lượng Kiểm lâm Cơ động, thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa đã bắt giữ một vụ vận chuyển gỗ với số lượng lớn, tại huyện Diên Khánh.
Theo đại diện của Đội Kiểm lâm cơ động, các đối tượng đã sử dụng xe tải nhỏ, vận chuyển gỗ khai thác được từ Khánh Vĩnh, về tập kết tại khu vực Đất Sét, xã Diên Xuân, huyện Diên Khánh. Từ đây, gỗ sẽ được đưa lên một chiếc xe tải lớn, để vận chuyển đi tiêu thụ tại tỉnh Bình Định.
Sau khi bắt giữ, gỗ và phương tiện vi phạm đã được lực lượng đưa về Hạt Kiểm lâm Cam Lâm để xử lý. Số lượng gỗ được lực lượng kiểm điếm lên đến 100 khúc, hơn 8m3 thuộc nhóm 2. Các chủ phương tiện đều khai nhận, đây là lần đầu tham gia vận chuyển gỗ.
Dù biết đây là hành vi, vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận nên bất chấp để thực hiện. Đây là vụ vận chuyển được đánh giá có quy mô lớn, và là vụ thứ 15 mà lực lượng Kiểm lâm Cơ động phát hiện, bắt giữ ở thời điểm trước, trong và sau Tết. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình 24/2) đầu trang(
Tài nguyên di truyền là tài sản riêng của mỗi quốc gia đồng thời cũng là tài sản chung của thế giới. Tài nguyên di truyền sinh vật là một bộ phận của giống, là vật liệu ban đầu để lai tạo giống mới và là hạt nhân của đa dạng sinh học nên giữ vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia.
Với nhận thức đó, Việt Nam đã sớm xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cho việc quản lý bảo tồn nguồn gen. Từ năm 1987 đến nay, mặc dù còn nhiều hạn chế, khoa học và công nghệ đã đóng góp đáng kể trong việc lưu giữ, bảo tồn và khai thác phát triển nguồn gen, đóng góp không nhỏ vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn tiếp theo, với mục tiêu và các nội dung đã đề ra của Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen, khoa học công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò then chốt và là động lực để thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen sinh vật, nguồn tài nguyên vô giá của đất nước.
Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gen phong phú, đặc hữu. Đến nay Việt Nam đã xác định được khoảng 49.200 loài sinh vật, bao gồm 7.500 loài/chủng vi sinh vật; 20.000 loài thực vật trên cạn và dưới nước; 10.500 loài động vật trên cạn; 2.000 loài động vật không xương sống và cá ở nước ngọt; có trên 11.000 loài sinh vật biển.
Do đó, Việt Nam là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học phong phú nhất thế giới, được xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật/tài nguyên di truyền, là nơi có nguồn gen cây trồng và vật nuôi địa phương đa dạng của thế giới.
Tuy vậy, sự đa dạng tài nguyên thực vật nói trên đang bị đe dọa nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh, của việc khai thác bừa bãi và thiếu ý thức, do thiên tai, do thói quen canh tác lạc hậu, do sự gia tăng dân số kèm theo quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ tại khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt là sự biến đổi khí hậu, nước biển dâng mà Việt Nam là 1 trong số 5 quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất.
Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầu cũng đặt ra những thách thức và những cơ hội mới. Mức độ biến đổi khí hậu trở nên nghiêm trọng hơn và ngày càng tác động tiêu cực đến tài nguyên di truyền.
Mặt khác, cộng đồng quốc tế cũng hơn bao giờ hết quan tâm chủ quyền quốc gia và trao đổi nguồn gen quốc tế. Vì thế vấn đề quản lý bảo tồn và khai thác sử dụng bền vững nguồn gen càng trở nên cấp thiết hơn.
Chính vì những lý do nên tại Quyết định số 1250/2013 ngày 31/7/2013, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đồng thời giao Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen.
Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên di truyền, trong vòng 10 năm qua Nhà nước đã ban hành khung pháp lý tương đối đầy đủ liên quan đến bảo tồn và khai thác sử dụng nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật .
Nhiều bộ luật quan trọng trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên đã ra đời và được hoàn thiện, như Luật Thủy sản; Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Tài nguyên nước. Đặc biệt, Luật Đa dạng sinh học 2008 đã tạo cơ sở pháp lý để các cộng đồng địa phương tham gia bảo tồn tài nguyên di truyền , thông qua các cơ chế mới về đồng quản lý và chia sẻ lợi ích.
Trước năm 2010, nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen chỉ tập trung vào việc bảo tồn, lưu giữ và sử dụng nguồn gen như là nguồn vật liệu cho công tác giống, chưa chú trọng đến việc khai thác hiệu quả kinh tế trực tiếp từ nguồn gen. Từ năm 2010,
Theo Thông tư 18/2010 ngày 24/12/2010 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, quy định việc quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ về quỹ gen (sau đó được sửa đổi bởi Thông tư 18/2014), nội dung nhiệm vụ khoa học và công nghệ về Quỹ gen được thực hiện với 2 cấp quản lý: Cấp Nhà nước và cấp Bộ, tỉnh; bao gồm bảo tồn nguồn gen; khai thác và phát triển nguồn gen; đánh giá di truyền nguồn gen.
Như vậy, sau năm 2010 ngoài những nhiệm vụ bảo tồn thì các nhiệm vụ về khai thác và phát triển nguồn gen, về ứng dụng công nghệ sinh học trong đánh giá di truyền nguồn gen đã được triển khai, làm cho các hoạt động quỹ gen ngày càng đóng góp thiết thực cho các hoạt động nghiên cứu triển khai trong các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật quan trọng của đất nước.
Hiện Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã xây dựng xong và trình Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen với mục tiêu ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn gen sinh vật để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng - an ninh.
Đặc biệt là các đối tượng nguồn gen bản địa, quý, hiếm, đặc hữu có giá trị kinh tế và giá trị khoa học cao; hình thành được mạng lưới nguồn gen quốc gia với các tổ chức đầu mối chuyên ngành (thực vật, động vật, thủy sản, dược liệu và vi sinh vật) đủ mạnh, có sự phân công trách nhiệm và liên kết chặt chẽ; tăng cường tiềm lực cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực cho các tổ chức trong Mạng lưới quỹ gen và tạo lập được cơ sở dữ liệu nguồn gen quốc gia phục vụ công tác bảo tồn, sử dụng bền vững nguồn gen.
Nội dung chính của Chương trình là nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong công tác bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen sinh vật; xây dựng tiềm lực cho các tổ chức khoa học và công nghệ trong Mạng lưới quỹ gen quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quỹ gen quốc gia.
Theo đó, công tác điều tra, thu thập và nhập nội nguồn gen thực vật, động vật và vi sinh vật đã và đang được các cơ quan trong hệ thống bảo tồn quỹ gen quốc gia tiến hành trong cả nước.
Tính đến năm 2013 có trên 30 hoạt động hỗ trợ việc quản lý và phát triển nguồn gen cây trồng nông nghiệp tại cộng đồng được triển khai, bởi 20 cơ quan với sự tham gia của khoảng 16.000 lượt cán bộ địa phương và nông dân. Với cây lâm nghiệp, hệ thống Khu bảo tồn trên cạn có 164 khu rừng đặc dụng với diện tích xấp xỉ 2,2 triệu ha (chiếm 7% diện tích tự nhiên cả nước), gồm 30 Vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 Khu bảo tồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh quan và 20 khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học.
Trong hệ thống khu bảo tồn, nhiều nguồn gen cây trồng rừng đã được lưu giữ, đánh giá tại chỗ để chọn các cây trội, nhân phục vụ công tác trồng rừng. Với cây thuốc, bảo tồn tại chỗ chủ yếu là tổ chức bảo tồn cây thuốc quý theo kinh nghiệm của các dân tộc (bảo tồn tri thức bản địa).
Trong giai đoạn 1998-2009 đã phối hợp để triển khai bảo tồn nguyên vị 120 loài tại 3 vườn Quốc gia (Tam Đảo, Bến Én, Cát Tiên). Việc bảo tồn lưu giữ các giống tại cộng đồng bắt đầu từ năm 1991 với 2 con giống, tới nay có 83 con giống của 35 giống vật nuôi. Bên cạnh đó đã bảo tồn, lưu giữ được 69 đối tượng, trong đó gia súc (trâu, bò, ngựa, dê, cừu, thỏ) gồm 11 đối tượng, lợn 12 đối tượng, gia thủy cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng) 46 đối tượng.
Bảo tồn lưu giữ tại chỗ nguồn gen thuỷ sản chủ yếu dựa vào hệ thống vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Ba khu bảo tồn biển: Hòn Mun - Vịnh Nha Trang (2001), Cù Lao Chàm (2003) và Khu bảo tồn biển Phú Quốc (2007) đã được thành lập. Bước đầu xây dựng được hệ thống bảo tồn tại chỗ gồm 30 vườn quốc gia, 60 khu bảo tồn thiên nhiên, 38 khu bảo vệ cảnh quan với tổng diện tích hơn 2,4 triệu ha, đã bao phủ được khoảng 90% số loài có trong sách đỏ Việt Nam.
Tính đến năm 2013, tổng số 28.028 nguồn gen cây trồng nông nghiệp đang được lưu giữ bảo quản chuyển chỗ tại 23 đơn vị thuộc hệ thống. Các hình thức lưu giữ bảo quản chính là ngân hàng gen đồng ruộng, ngân hàng gen hạt và ngân hàng gen in vitro.
Ngân hàng gen hạt giống đã bảo tồn được 1.000 giống của 35 loài cây có hạt, khu lưu trữ giống: 850 giống của 20 loài cây và ngân hàng gen in vitro: bảo quản 200 giống cây rừng. Bảo tồn hạt giống dược liệu gồm 174 mẫu hạt giống của 143 loài với 62 loài đã được đánh giá thời gian bảo quản an toàn trong kho lạnh ngắn hạn. Một số nguồn gen đặc biệt quý, khó có khả năng tái sinh tự nhiên đã được nghiên cứu bảo tồn in vitro trong phòng thí nghiệm.
Trung tâm Thử nghiệm và Bảo tồn vật nuôi thuộc Viện Chăn nuôi quốc gia hiện đang bảo tồn chuyển chỗ 15 giống gà và 3 giống lợn và bò H’Mông. Bảo tồn tinh phôi của nguồn vật liệu di truyền có nguy cơ bị mất và hiếm cũng được áp dụng. Về nguồn gen thủy sản đã khảo điều tra thu mẫu lưu giữ 12 loài. Cho đến nay đã bảo tồn an toàn và lưu giữ được 87 giống thuộc 75 loài thủy sản nước ngọt, 12 nguồn gen cá biển, 2 nguồn gen giáp xác và 4 nguồn gen nhuyễn thể …
Một số nguồn gen tảo và vi tảo làm thức ăn cho thuỷ sản cũng được bảo tồn. Công tác bảo tồn bằng phương pháp bảo quản lạnh tinh cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng cho một số loài thuỷ sản quan trọng như tôm Sú, cá Tra, cá Basa, cá Chép, cá Trắm cỏ, cá Trôi, cá Mè vinh, cá Song, cá Giò.
Tổng số có khoảng 22.000 chủng vi sinh vật thuộc 8 đối tượng nguồn gen vi sinh vật đang được lưu giữ bảo quản tại 8 viện, trường. Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật Quốc gia thuộc Đại học Quốc Gia Hà Nội đang bảo quản đa dạng nguồn gen vi sinh vật có mức độ an toàn cao (mức I) với số lượng trên 9.670 nguồn gen.
Trong số 2.500 chủng được tư liệu hóa theo chuẩn quốc tế, 2082 chủng đã được đưa vào danh sách các chủng vi sinh vật trong danh mục 270.000 nguồn gen vi sinh vật của Cơ sở dữ liệu các nguồn gen vi sinh vật toàn cầu. Xây dựng được hệ thống bảo tồn chuyển chỗ, lập danh mục và lưu giữ 730 loài cây thuốc cần bảo tồn theo 4 cấp độ; đánh giá khả năng lưu giữ trong kho lạnh của 150 loài cây thuốc.
Việc sử dụng nguồn gen đã được tư liệu hóa phục vụ chọn tạo giống mới ngày càng được tăng cường. Từ năm 2010 đến năm 2013 đã triển khai 18 nhiệm vụ khai thác và phát triển 61 nguồn gen cây trồng nông nghiệp. Đối với nguồn gen cây lâm nghiệp, Viện Nghiên cứu cây nguyên liệu giấy đã chọn được một số loài bạch đàn, keo sinh trưởng nhanh.
Với nguồn gen cây thuốc, đã triển khai một số dự án khai thác nguồn gen phát triển sản xuất giống và sản xuất dược liệu hàng hóa cung ứng nguyên liệu cho sản xuất thuốc.
Trước đây mỗi năm chỉ khoảng 50-100 nguồn gen được sử dụng cho việc tạo giống mới. Hiện các đơn vị bảo tồn nguồn gen của các Bộ, ngành đã cung cấp cho các công tác nghiên cứu ở các tổ chức khoa học và công nghệ lên đến hàng nghìn nguồn gen. (Báo Thái Nguyên 24/2) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đây là ý kiến của PGS.TS Nguyễn Văn Hùng – nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Xây dựng Hà Nội trước thông tin Chủ tịch Hà Nội đề nghị cử cán bộ đi nước ngoài học cắt tỉa, trồng mới cây xanh.
Vừa qua, Chủ tịch UBND TP Nguyễn Đức Chung đã giao Sở Xây dựng chủ trì, đề xuất, lựa chọn một số cán bộ quản lý lĩnh vực cây xanh thuộc Sở Xây dựng, Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh Hà Nội cử đi nước ngoài đào tạo, học tập ngắn hạn. Sau khi cơ cấu lại, các đơn vị bố trí chọn một số cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ về cắt tỉa đi học kỹ thuật cắt tỉa, trồng mới cây xanh tại Singapore, Trung Quốc.
Về đề xuất này, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng – nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Xây dựng Hà Nội cho biết, hiện nay trong nước có rất nhiều chuyên gia từng đi học tập, nghiên cứu tại nước ngoài về các lĩnh vực nông, lâm nghiệp hay quy hoạch kiến trúc đô thị, những người này hoàn toàn có đủ trình độ và hơn hết là hiểu biết về Hà Nội để đưa ra những giải pháp hiệu quả cho quy hoạch đô thị.
“Không ai hiểu Việt Nam bằng người Việt Nam, vậy tại sao phải cử người đi nước ngoài học tập?” – ông Nguyễn Văn Hùng phân tích.
Góp ý về đề xuất cử người đi nước ngoài, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng nhấn mạnh vấn đề tìm kiếm chuyên gia, theo ông Hùng, cần phải tìm hiểu xem những chuyên gia đủ trình độ đáp ứng yêu cầu của UBND Thành phố ở đâu, họ chủ yếu là những người đang công tác tại các trường chuyên ngành về sinh học hay kiến trúc. Những người này hoàn toàn có thể tập trung lại thành một nhóm, sử dụng chất xám để giải quyết những vấn đề khúc mắc trong quy hoạch đô thị, đặc biệt là vấn đề cây xanh.
PGS.TS Nguyễn Văn Hùng cũng đặt ra một số câu hỏi: “Quy hoạch đô thị thì cũng cần phải biết nhu cầu của đô thị là gì? Hà Nội cần bao nhiêu loại cây đô thị hay chỉ 1-2 loại cây? Chẳng lẽ cùng 1 tuyến phố mà trồng cả một hàng cây hoa sữa thì người dân khu đó chịu sao nổi?”.
Xét về thực tế vào thời điểm hiện tại, những người Việt Nam có trình độ đáp ứng đủ nhu cầu quy hoạch đô thị là không ít nhưng lại đang nằm rải rác khắp nơi, chưa có một tiếng nói hay góp ý chung.
Theo ông Hùng, những người này là con dân Việt Nam và trong thâm tâm họ muốn Thủ đô của họ có một diện mạo mới nên nếu sử dụng chất xám của họ thì sẽ phát huy tốt nội lực vốn có sẵn của đất nước. Còn việc đưa người đi ra nước bạn chỉ để học tập là tốt nhưng không phải cái gì cũng học được.
“Học những thứ quá đơn giản chỉ làm cho người ta coi thường người Việt Nam!” – nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Xây dựng Hà Nội nhấn mạnh.
Còn trong trường hợp nếu bắt buộc phải cử người đi nước ngoài học cắt tỉa cây thì nên cân nhắc kỹ do việc này sẽ ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước. Theo quan điểm của ông Hùng, việc đưa người đi nước ngoài học cắt tỉa cây là không hiệu quả mà tốn kém do đặc thù khí hậu của nước ta sẽ không giống với các nước đang phát triển khác.
"Nếu không tin tưởng trong nước thì tại sao thay vì đưa một đoàn đi ra nước ngoài học, chúng ta không thuê một chuyên gia nước ngoài về Việt Nam nghiên cứu môi trường, thổ nhưỡng rồi hướng dẫn lại các chuyên gia đang sống và làm việc tại Việt Nam" - ông Hùng thắc mắc. (Infonet 25/2) đầu trang(
Làng nghề gỗ mỹ nghệ xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai gần 40 năm qua là nơi nổi tiếng tái chế những mảnh gỗ vụn để tạo nên những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, mặt hàng xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới những năm gần đây.
Xuất hiện từ hơn nửa thế kỷ qua, nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống ở xã Bình Minh bắt nguồn từ các làng nghề mộc truyền thống của miền Bắc do người dân di cư mang theo. Đó là những làng nghề nổi tiếng như Đồng Kỵ (Bắc Ninh), La Xuyên (Nam Định)... Tuy vậy, tái chế những mảnh gỗ vụn phế thải trở thành đồ mỹ nghệ tinh xảo chỉ bắt đầu từ đầu thập niên 80.
Mọi chuyện khởi đầu khi một người thợ mộc tên là Kỳ Vân ở ấp Trà Cổ, xã Bình Minh có cây mít bị chết trong vườn nhà. Vứt đi thấy lãng phí nên ông Vân đã tìm cách dùng gỗ mít để tạo hình một con thuyền có các họa tiết tinh xảo. Con thuyền này được ông Vân mang lên Tp. Hồ Chí Minh bán và được một du khách người Nga rất thích mua đem về nước làm kỷ niệm. Đây được coi là sự khởi đầu cho việc hình thành nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ là các mô hình cho khách du lịch đến Việt Nam ở xã Bình Minh.
Hàng loạt các sản phẩm mô hình phong phú và đa dạng từ xe xích lô, ô tô, xe tăng, máy bay Boeing, trực thăng, tàu thuyền, tàu chiến đến mô hình các vũ khí, vật dụng trang trí... có giá từ vài chục đến vài triệu đồng/sản phẩm được các Nghệ nhân ở làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh chế tác theo yêu cầu của khách hàng.
Kể từ khi có các nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phát triển nhanh chóng nhờ một lượng lớn gỗ phế phẩm thải ra. Chúng tôi đến Cơ sở đồ gỗ mỹ nghệ Thành Nhân (ấp Tân Bắc, xã Bình Minh), cơ sở sản xuất gỗ mỹ nghệ lớn nhất với hàng trăm mẫu mã đồ gỗ trang trí trong nhà và có lượng sản phẩm xuất khẩu chiếm trên 90% sản phẩm gỗ mỹ nghệ huyện Trảng Bom.
Mỗi sản phẩm mô hình của Thành Nhân đều được các nghệ nhân hoàn thiện tỉ mỉ tới từng chi tiết nên khách hàng luôn yên tâm về chất lượng khi đặt hàng. Ngoài việc sản xuất ở xưởng, sản phẩm mô hình được đưa về gia công cho phần lớn những người biết nghề ở xã Bình Minh làm tại nhà, qua đó, có thể tận dụng cả những lao động dư thừa là người già và trẻ em trong gia đình.
Đồ gỗ Việt Nam đã và đang ngày càng được ưa chuộng ở các thị trường lớn trên thế giới vì lý do có chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh. Hiện nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ gia tăng cả trong và ngoài nước cũng là cơ hội cho ngành chế biến đồ gỗ trong nước phát triển, trong đó có làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh. Theo ông Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở gỗ mỹ nghệ Thành Nhân, mặt hàng gỗ mỹ nghệ của cơ sở Thành Nhân luôn trong tình trạng sản xuất không đủ xuất khẩu sang các thị trường Hoa Kỳ, Pháp, Đức và một số nước khác.
Có thời gian cơ sở Thành Nhân phải làm tới 2 container sản phẩm cung cấp cho tập đoàn Wal Mart (tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới của Hoa Kỳ). Gần 30 công nhân trong xưởng của anh đã phải tăng ca liên tục cho kịp tiến độ giao hàng. Khối lượng sản phẩm sau khi hoàn thành đã được khách khen ngợi vì giá thành vừa rẻ, sản phẩm lại có mẫu mã đẹp, chất lượng đồng đều.
Sau đó, đích thân đại diện của Wal Mart đã liên hệ trực tiếp với anh Thành Nhân, đặt hàng với số lượng lớn, trung bình 5.000 sản phẩm/tháng, trong khi năng lực của cơ sở chỉ là 2.000 sản phẩm/tháng mà còn phải phân phối đều cho khách hàng trong nước và ở các nước khác.
Hiện nay, cơ sở Thành Nhân có trên 500 mặt hàng mỹ nghệ với đủ các chất liệu gỗ khác nhau cho các mặt hàng trang trí từ bình dân đến cao cấp. Theo anh Nguyễn Thành Nhân, chủ cơ sở thì ngoài việc luôn đảm bảo chất lượng, cơ sở của anh cũng như các cơ sở khác tại làng nghề gỗ mỹ nghệ Bình Minh phải thường xuyên thiết kế các mẫu mã mới để khách hàng lựa chọn.
Trước mắt chúng tôi, nhìn đống gỗ vụn tưởng như là phế phẩm, có ai ngờ qua qua bàn tay khéo léo của người nghệ nhân đã có thể biến thành những mô hình gỗ mỹ nghệ độc đáo, phục vụ du khách khắp nơi trên thế giới. (Báo Ảnh Việt Nam 24/2) đầu trang(
Chiều 24/2, UBND tỉnh tổ chức họp để nghe và cho ý kiến việc kiện toàn BCĐ kiểm kê rừng và chuẩn bị cho việc tổng kết công tác BVR năm 2015, triển khai nhiệm vụ 2016.
Đồng chí Hoàng Viết Đường, Phó chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh chủ trì. Tham dự có các thành viên Ban chỉ đạo, Lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT; Tổ công tác kiểm kê rừng; Các thành viên BQL dự án.
Hiện nay, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là hơn 1.278.663,8 ha, trong đó, đất có rừng hơn 946.216,3, độ che phủ 57,4%.
Kết quả kiểm kê năm 2015 cho thấy, so với kết quả theo dõi diễn biến rừng năm 2014, tổng diện tích có rừng hiện nay tăng lên 41.537,41 ha (cụ thể diện tích có rừng trong quy hoạch lâm nghiệp giảm 18.984,83 ha, diện tích có rừng ngoài lâm nghiệp tăng 60.558,21 ha, độ che phủ cao hơn 2,8%).
Phát biểu kết luận tại buổi làm việc, đồng chí Hoàng Viết Đường – Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác kiểm kê rừng của các đơn vị, đồng thời nhấn mạnh trong thời gian tới, cần tiếp tục ra soát 3 loại rừng, diện tích đã kiểm kê ngoài 3 loại rừng để chuyển sang đất nông nghiệp. Phân tích, làm rõ nguyên nhân tăng, giảm diện tích. Đề nghị tổ kiểm kê rừng, cơ quan thường trực của BCĐ hoàn thiện hồ sơ báo cáo trong tháng 3/2016 để trình UBND tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy...
Cũng trong cuộc họp chiều nay, UBND tỉnh đã nghe và cho ý kiến về việc kiện toàn Ban chỉ đạo kiểm kê rừng giai đoạn 2011- 2020. (Báo Nghệ An 24/2) đầu trang(
Những năm gần đây, Đắk Lắk luôn quan tâm đến công tác quản lý bảo vệ rừng gắn liền phát triển kinh tế lâm nghiệp nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế vốn có của tỉnh. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ rừng mang lại vẫn chưa được như kỳ vọng…
Theo kết quả kiểm kê rừng công bố năm 2015, tổng diện tích rừng toàn tỉnh 507.489 ha, trong đó rừng tự nhiên 475.908,64 ha, rừng trồng 31.580,35 ha, đất chưa có rừng 214.506,2 ha; tổng trữ lượng gỗ rừng trên 60,6 triệu m3, trong đó, rừng tự nhiên 58,2 triệu m3, rừng trồng 31.580,35 ha.
Tuy nhiên, những năm qua kinh tế rừng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, nguyên nhân là do chưa có nhà máy chế biến lâm sản quy mô lớn, nên nguyên liệu rừng trồng gặp khó khăn trong việc tiêu thụ tại chỗ, phải xuất bán ra các địa phương khác với giá bấp bênh…
Một trong những địa phương có quỹ đất rừng lớn, những năm qua, với việc đẩy mạnh phong trào trồng rừng kinh tế, đến nay huyện M’Đrắk đã trồng được trên 10.000 ha bạch đàn cao sản, muồng đen, keo lai... Tuy có góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân, nhưng kinh tế rừng ở đây vẫn còn bấp bênh bởi thị trường thiếu ổn định, còn gặp nhiều khó khăn về đầu ra; chi phí đầu tư cao.
Tương tự, ở huyện Krông Bông, với trên 3.000 ha rừng trồng, đây cũng là nguồn nguyên liệu dồi dào phục vụ cho chế biến gỗ, nhưng trên địa bàn chưa có nhà máy chế biến nào được đầu tư nên gỗ vẫn chủ yếu xuất bán ngoài tỉnh. Ngay như Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông, để có được đầu ra ổn định, đơn vị này đã liên doanh với một doanh nghiệp ở Khánh Hòa.
Tuy giải quyết được khó khăn về thị trường, nhưng lại gặp khó trong vấn đề liên kết trồng rừng với người dân địa phương. Bởi theo tính toán của những người trồng rừng nơi đây, với chu kỳ 5 - 7 năm, bình quân mỗi ha rừng trồng phải đầu tư 15 - 25 triệu đồng tiền giống, với giá bán hiện nay, chỉ thu được khoảng 30-35 triệu đồng, tính ra nguồn lợi mang lại không đáng kể.
Hiệu quả kinh tế thấp, đầu ra sản phẩm bấp bênh, chi phí đầu vào tăng cao… đã làm cho người dân không còn mặn mà với việc đầu tư trồng rừng hoặc liên kết với các đơn vị lâm nghiệp.
Trên địa bàn tỉnh, một số doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến nhưng hầu hết công suất nhỏ, chủ yếu là sơ chế, hiệu quả còn thấp, một số doanh nghiệp muốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất nhưng do nguồn kinh phí hạn chế nên rất khó thực hiện. Chính vì vậy, ngành lâm nghiệp nên có quy hoạch, định hướng, khuyến khích phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu, nhằm tạo thị trường tiêu thụ ổn định cho các cá nhân, doanh nghiệp tham gia trồng rừng, góp phần đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng.
Đắk Lắk hiện có trên 230 nghìn ha rừng đặc dụng, trong đó Vườn Quốc gia (VQG) Yok Đôn 115.000 ha, VQG Chư Yang Sin 59.531 ha, Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Ea Sô 26.484 ha, KBTTN Nam Kar 20.575 ha, Khu Bảo tồn loài - sinh cảnh thông nước (thủy tùng) 120 ha, Khu rừng lịch sử - văn hóa - môi trường Hồ Lắk 10.200 ha.
Với diện tích rộng, lại có nhiều sản vật quý hiếm, những khu rừng đặc dụng ở địa phương đang lưu giữ nhiều giá trị quý giá cho quốc gia cũng như trên thế giới. Do ngân sách đầu tư cho các khu rừng đặc dụng thường được cân đối và phân bổ trực tiếp hàng năm chỉ đáp ứng cho chi phí hoạt động của bộ máy quản lý hoặc công tác xây dựng cơ bản, đã gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) trong bối cảnh sức ép của nạn phá rừng càng ngày càng gia tăng.
Do đó, để làm tốt công tác QLBVR, nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng đặc dụng cần đẩy mạnh hơn nữa xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư cũng như khai thác nguồn thu từ cung ứng dịch vụ môi trường rừng. Theo Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020, Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển rừng đặc dụng, trong đó có đầu tư kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái.
Việc ban hành chính sách đầu tư, cơ chế phát triển rừng đặc dụng nhằm tăng hiệu quả đầu tư, bảo đảm giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý các cấp đối với rừng đặc dụng, đồng thời tăng tính chủ động của Ban quản lý rừng đặc dụng trong hoạt động quản lý, kinh doanh các dịch vụ trong rừng đặc dụng để gia tăng nguồn thu trên nguyên tắc bảo tồn kết hợp với phát triển. Tuy nhiên, việc thu hút các nguồn lực đầu tư cho rừng đặc dụng ở tỉnh ta còn gặp nhiều khó khăn.
Có diện tích tự nhiên trên 59.000 ha, với 9 kiểu rừng hình thành trên nền khí hậu nhiệt đới gió mùa, Vườn Quốc gia Chư Yang Sin có nhiều tiềm năng, thế mạnh để thu hút các nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch sinh thái như tham quan nghiên cứu, trekking (hình thức du lịch mạo hiểm) chinh phục đỉnh cao nhất 2.442 m, tham quan rừng bằng xe đạp địa hình, leo núi cắm trại, du thuyền độc mộc trên sông Krông Nô và Krông Bông, tham quan rừng và quan sát động vật hoang dã, du lịch văn hóa – cộng đồng…
Năm 2015, Vườn đón khoảng gần 300 lượt khách đến tham quan, du lịch dã ngoại. Tuy có nhiều tuyến, điểm hấp dẫn nhưng để đưa vào khai thác vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức bởi nhu cầu vốn khá lớn, hơn nữa đây là VQG nên yêu cầu bảo tồn cao, không cho phép cải tạo, tác động... và bị ràng buộc nhiều cơ chế. Bên cạnh đó, đội ngũ quản lý và phát triển du lịch của Vườn đang trong quá trình xây dựng nên thiếu về số lượng và hạn chế về kinh nghiệm.
Ngoài ra, chưa có chương trình lớn nào quảng bá tiềm năng và phát triển sản phẩm du lịch cũng như chưa tạo được sự liên kết giữa các công ty du lịch lớn… Đây cũng là những khó khăn, trở ngại chung của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trong việc khai thác hiệu quả tiềm năng mà mình đang nắm giữ.
Hiện nay, tỉnh ta đang xây dựng đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Với việc nhanh chóng triển khai thực hiện đề án này, hy vọng sẽ tạo ra nhiều hướng mở mới cho phát triển kinh tế rừng, nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng theo hướng phát triển lâm nghiệp đa chức năng. (Đắk Lắk 24 Giờ 24/2) đầu trang(
Các doanh nghiệp trồng, chế biến mắc ca sẽ tiếp tục triển khai nhiều hoạt động trong năm 2016 nhằm sớm hiện thực hóa mục tiêu đưa Tây Nguyên thành thủ phủ mắc ca khu vực Đông Nam Á.
Thông tin được ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT, Trưởng Ban chỉ đạo Nghiệp vụ và Truyền thông mắc ca nhận định sau khi Hiệp hội Mắc ca Việt Nam được chấp thuận và chính thức thành lập theo Quyết định số 124/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ vừa qua.
Được biết, Hiệp hội Mắc ca Việt Nam được thành lập là kết quả của quá trình trên 1 năm chuẩn bị xúc tiến thành lập kể từ sau Hội thảo “Chiến lược phát triển cây mắc ca tại Tây Nguyên” tổ chức tháng 02/2015 tại TP. Đà Lạt (Lâm Đồng).
Sau sự kiện này, các doanh nghiệp, chuyên gia đã thành lập và tham gia Ban Trù bị Hiệp hội Mắc ca Việt Nam nhằm mục đích hoàn thiện dự thảo Điều lệ Hiệp hội; thực hiện các hồ sơ, thủ tục để xin phép Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các tổ chức liên quan thành lập Hiệp hội Mắc ca Việt Nam.
Ngoài ra, phía doanh nghiệp cũng đã triển khai nhiều hoạt động hiệu quả trong khuôn khổ chương trình phát triển cây mắc ca trở thành cây trồng lâm-nông-công nghiệp chiến lược mới tại Việt Nam như tổ chức các đoàn thực tế trong nước và các nước hàng đầu về công nghiệp mắc ca (Úc, Trung Quốc, Nam Phi, Mỹ,…); thuê chuyên gia nước ngoài và trong nước tư vấn lập chiến lược phát triển; tài trợ nghiên cứu về mắc ca; xây dựng quy định sản phẩm cho vay đầu tư phát triển cây mắc ca; tổ chức công tác truyền thông về giá trị và tiềm năng phát triển của loại cây này…
Trước đó, tại Hội nghị tổng kết hoạt động năm 2015 và định hướng năm 2016 của Ban Chỉ đạo Tây Nguyên tổ chức đầu tháng 01/2016 tại Kon Tum, các doanh nghiệp đã báo cáo tình hình phát triển mắc ca Việt Nam và đưa ra 4 nhóm đề xuất chính để tiếp tục phát triển cây mắc ca trong thời gian tới.
Thứ nhất, đề nghị Thủ tướng Chính phủ thay đổi quy định về hỗ trợ trồng cây mắc ca. Mức hỗ trợ nên quy định thống nhất là cứ trồng 1 ha mắc ca thì được Nhà nước hỗ trợ 15 triệu đồng để xây dựng vườn trồng, sẽ có ý nghĩa xã hội rất lớn (hỗ trợ cho người nghèo), vì phần lớn đất riêng của hộ dân trồng mắc ca có diện tích dưới 50 ha (quy định hiện hành chỉ hỗ trợ 15 triệu đồng cho các hộ trồng từ 50 ha trở lên).
Thứ hai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ nên ban hành định hướng, còn xác định cụ thể quy hoạch từng địa phương thì do địa phương chịu trách nhiệm và cần đẩy nhanh xây dựng chương trình quốc gia về mắc ca, đưa cây mắc ca chính thức là cây chiến lược của cây trồng Việt Nam.
Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước ban hành chủ trương ưu đãi về nguồn vốn để triển khai các sản phẩm tín dụng cho việc phát triển cây mắc ca, bao gồm các chính sách ưu đãi về lãi suất và kỳ hạn vay tái cấp vốn.
Thứ tư, chính quyền các tỉnh có điều kiện tự nhiên phù hợp cần đưa mắc ca vào đề án tái cơ cấu kinh tế địa phương và xây dựng bản quy hoạch phát triển mắc ca tại địa phương trên cơ sở rà soát lại quỹ đất, đặc biệt là đất đang trồng cây cà phê già cỗi, năng suất thấp, đất trồng các cây hiệu quả thấp để chuyển đổi sang trồng mắc ca. (Vietnamnet 24/2; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 24/2) đầu trang(
Một doanh nhân Nam Định đã hiến trên bảy ha đất nuôi trồng thuỷ sản để trồng rừng ngập mặn.
Vào những năm cuối của thế kỷ 20, ông Nguyễn Văn Cửu - chủ Doanh nghiệp Tư nhân Cửu Dung có dịp làm việc cùng những cán bộ phát triển rừng ngập mặn miền Bắc. Trao đổi chân tình giữa hai bên đã giúp người đàn ông đi đầu trong phong trào nuôi ngao ở xã Giao Xuân, huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định hiểu rằng nuôi ngao bền vững không thể bỏ qua vai trò của rừng ngập mặn. Ông Cửu là người đầu tiên đưa nghề nuôi ngao từ miền Nam về xã Giao Xuân.
Nước sạch, thức ăn sạch, không khí sạch giúp ngao Xuân Thuỷ thỏa mãn các tiêu chuẩn ngặt nghèo của châu Âu, biến nơi đây trở thành vùng nuôi ngao duy nhất của miền Bắc đủ điều kiện xuất khẩu theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cấp độ B của châu Âu, cấp độ sử dụng thực phẩm an toàn sau khi chế biến.
Những yếu tố quan trọng kể trên góp phần nuôi ngao sạch có từ khu rừng ngập mặn lớn nhất miền Bắc của Vườn quốc gia Xuân Thuỷ. Hiện nay, Công ty Cửu Dung chuyên sản xuất các giống ngao trắng Bến Tre, ngao dầu Nam Định, giống cua bể, tôm sú, tôm he Nhật Bản, sản xuất ngao cung cấp cho thị trường tiêu dùng cả nước.
Ông Cửu hiểu lợi thế của trang trai nuôi ngao có được nhờ nằm cạnh Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, khu Ramsar ngập mặn đầu tiên của Việt Nam được thế giới công nhận. Rừng vẹt xanh tươi tạo ra lượng bùn bã hữu cơ dưới lòng biển, tạo nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho ngao. Ngoài ra, vẹt thành tầng tầng lớp lớp cũng góp phần điều hoà không khí, mang lại khí hậu trong lành và những điều kiện tốt nhất cho ngao phát triển.
Vì vậy, khi được vận động phát triển rừng, chủ nhân thương hiệu ngao Cửu Dung và đồng thời là người đứng đầu Hội Nhuyễn thể Giao Thuỷ đã tình nguyện hiến bảy ha đất nuôi trồng của mình để trồng rừng.
Hiến đất thì dễ nhưng trồng rừng khó khăn gấp bội lần. Do xung quanh trang trai là đất trống, nước biển thoả sức tung hoành khi thuỷ triều lên, nên cắm vẹt con hay quả vẹt đều rất gian nan. Nhiều khi buổi chiều cắm vẹt thành hàng, sáng hôm sau, không còn dấu vẹt thành quả lao động hôm trước
"Trước vùng này là sóng bạc đầu," anh Đoàn Văn Hà – Ban Nông nghiệp xã Giao Xuân nhớ lại: "Cách đây hơn 20 năm khi anh em chúng tôi đến vùng này, cắm cọc tre xuống, qua một đêm, nó trôi đi, hoặc là quanh chân cọc, nó khoét khoảng chừng 20 - 30 cm, không thể nuôi trồng, có khi cắm quả vẹt xuống, nó cũng nổi quả vẹt lên.
Khó khăn không làm ông Cửu nản lòng. Tự tin vào khả năng vô hạn của con người, giám đốc Công ty Cửu Dung cùng anh em trong công ty kiên trì gieo vẹt. "Doanh nghiệp Cửu Dung kiên trì bám trụ ở đây, cứ bồi đến đâu lại cấy đến , bây giờ mới có khu vực như thế này", anh Hà chỉ cho chúng tôi thấy vẹt đã thành rừng dọc theo con đường đất của xã.
Sau hơn hai năm kiên trì trồng và giữ rừng, màu xanh của vẹt đã thành hình, gọi cò về khi thời tiết ấm áp. Rừng càng phát triển, việc nuôi ngao thêm thuận lợi
"Sau khi rừng phát triển trở lại, nó bảo vệ khu vực sản xuất của mình. Hàng năm ít bị xói lở, chi phí bớt đi", ông Nguyễn Văn Cửu nhớ lại: "Thứ hai, nó tạo cảnh quan màu xanh. Thứ ba, tạo thành nơi trú ngụ của các loài thuỷ hải sản, trong đó, có loài ngao của mình. Mình hiểu rừng như bãi lọc sinh học, nó cân bằng khu vực sinh thái ở nơi mình nuôi".
Đối với công ty Cửu Dung, rừng ngập mặn đã trở thành thành phần quan trọng trong chiến lược phát triển doanh nghiệp. Cây bần chua như bộ lọc nước tự nhiên, giữ môi trường sạch nuôi ngao. Phù du sinh vật sinh sôi dưới tán rừng cung cấp thức ăn đủ chất, đủ lượng cho ngao.
Nước sạch, thức ăn sạch giúp ngao Xuân Thuỷ thỏa mãn các tiêu chuẩn ngặt nghèo của châu Âu, biến nơi đây trở thành vùng nuôi ngao duy nhất của miền Bắc đủ điều kiện xuất khẩu theo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cấp độ B của châu Âu, cấp độ sử dụng thực phẩm an toàn sau khi chế biến. Bởi vậy, sản phẩm ngao của doanh nghiệp không chỉ có mặt tại thị trường trong nước mà con được xuất sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc.
Người xưa có câu: "Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt". Doanh nhân Nguyễn Văn Cửu thấm thía lợi ích lâu dài của rừng ngập mặn trên con đường làm giàu của mình. Vì vậy, ông đã lấy công sức và tài sản của mình để trồng vẹt, trả ơn cho rừng. Người tiên phong nuôi ngao ở xã Giao Xuân cũng là người duy nhất hiến đất trồng rừng ở Nam Định. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Hà Nội 23/2) đầu trang(
Huyện Chợ Mới có tổng diện tích đất có rừng là 45.874,4ha; Trong đó, rừng tự nhiên có 34.279,6ha; Tổng diện tích rừng trồng có 14.201,1ha. Huyện được coi là một trong những địa phương của tỉnh Bắc Kạn đi đầu trong việc trồng rừng mới hàng năm.
Là một trong những hộ trồng rừng từ khá sớm, anh Dương Văn Tình - Thôn Nà Tào, xã Như Cố, huyện Chợ Mới cho biết: Gia đình có 2ha rừng sản xuất, trước kia, do khó khăn trong khâu tiêu thụ, giá sản phẩm cây keo lại thấp nên gia đình anh cũng như các gia đình khác trong thôn không mặn mà lắm trong việc trồng rừng.
Vài năm trở lại đây, do có sự thay đổi về chính sách, cộng thêm giá cây keo tăng, tiêu thụ nhanh nên năm 2007 anh đã mạnh dạn trồng hết diện tích đất rừng; Năm 2014, anh khai thác số diện tích rừng trồng, trừ các khoản chi phí gia đình anh thu về 40 triệu đồng. Mặc dù số tiền không lớn nhưng nó đã giúp anh có khoản thu nhập để trang trải trong cuộc sống.
Theo anh Tình thì trồng keo chỉ vất vả khoảng hai năm đầu, những năm tiếp theo khi cây keo đã lớn thì không phải chăm sóc nhiều. Khoảng 6 đến 8 năm, cây keo đã cho khai thác, theo tính toán của anh với điều kiện của người nông dân như hiện nay, việc trồng rừng là điều kiện tốt nhất để thoát nghèo và vươn lên làm giàu trên chính mảnh đất của gia đình.
Mặc dù chỉ có gần 1ha đất lâm nghiệp để sản xuất nhưng những ngày này, gia đình bà Nguyễn Thị Viện – Thôn Nà Mố, xã Yên Đĩnh đang chủ động cuốc hố để trồng rừng mới. Theo bà Viện, cuốc hố sớm khi có mưa gia đình sẽ tiến hành trồng luôn.
Các xã có diện tích rừng trồng nhiều nhất bao gồm: Thanh Mai với gần 2.000ha; Hòa Mục gần 1.250ha; Quảng Chu hơn 1.200ha. Những nơi có diện tích rừng trồng thấp, bao gồm: Thị trấn Chợ Mới hơn 70ha; Tân Sơn gần 200ha. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Chợ Mới khóa V, nhiệm kỳ 2015-2020 nêu rõ từ nay đến năm 2020, phấn đấu hàng năm trồng rừng mới đạt 1.500ha; Duy trì độ che phủ rừng đạt 77%.
Để thực hiện tốt được điều này, huyện Chợ Mới đã giao các ngành chức năng, đặc biệt là Hạt Kiểm lâm tham mưu các văn bản, nhằm tăng cường bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện; Hàng năm phấn đấu trồng rừng mới đạt và vượt kế hoạch đề ra. Năm 2016, huyện Chợ Mới phấn đấu trồng mới 1.720ha rừng; Rừng trồng theo Dự án 147 là 1.600ha; Rừng phân tán 50ha; Rừng trồng sau khai thác 70ha.
Đến thời điểm này, toàn huyện đã thiết kế được hơn 2.000ha. Để việc trồng rừng diễn ra theo đúng kế hoạch, hiện chính quyền huyện Chợ Mới đang tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xử lý thực bì, cuốc hố. Bên cạnh đó, chỉ đạo Lâm trường huyện chăm sóc cây con, đảm bảo cây phát triển tốt…
Từ hiệu quả kinh tế do trồng rừng mang lại đã giúp người dân huyện Chợ Mới ngày càng khá giả, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ trồng rừng. Hi vọng rằng, với sự quyết tâm vào cuộc của cấp ủy, chính quyền địa phương, sự đồng thuận cao của người dân sẽ giúp công tác trồng rừng của huyện Chợ Mới đạt và vượt kế hoạch theo Nghị quyết đã đề ra. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Bắc Kạn 24/2) đầu trang(
Cuối tháng 11, thời điểm kết thúc vụ trồng rừng 2015, các huyện, thành phố đã hoàn thành một cách ngoạn mục kế hoạch đề ra.
Một số địa phương như Quản Bạ, Quang Bình, thành phố Hà Giang... trồng đạt và vượt kế hoạch rất cao. Kết quả trồng rừng 2015 cho thấy sự quyết liệt, linh hoạt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ, sự vào cuộc tích cực của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp đã mang lại tín hiệu tích cực.
Vụ trồng rừng 2015 vừa đi qua, chúng ta lại bắt đầu thực hiện nhiệm vụ mới, nhìn lại quãng thời gian đã qua, những việc đã làm mới thấy thành quả đạt được thật phi thường. Theo dõi quá trình thực hiện nhiệm vụ trồng rừng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XV Đảng bộ tỉnh cho thấy, chưa năm nào các huyện, thành phố hoàn thành kế hoạch tỉnh giao.
Trong thời gian từ 2011-2014, toàn tỉnh mới chỉ trồng được hơn 18 nghìn/55 nghìn ha rừng kinh tế, đạt 33% Nghị quyết; đối với chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, cũng chỉ được gần 4 nghìn/10 nghìn ha, đạt 36,5% Nghị quyết. Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả trồng rừng những năm vừa qua đạt thấp được xác định, do khó khăn về nguồn vốn.
Cụ thể, chương trình trồng rừng kinh tế, tổng nhu cầu vốn để thực hiện giai đoạn 2010-2015 là 1.281 tỷ đồng, nhưng đến hết năm 2014 mới cấp được 104 tỷ đồng, bằng 8,2% tổng nhu cầu. Trong đó, vốn ngân sách đầu tư phát triển của T.Ư trên 96 tỷ đồng, vốn địa phương trên 6 tỷ đồng, các nguồn vốn khác hơn 2 tỷ đồng. Còn chương trình trồng rừng phòng hộ, nguồn vốn cấp mới được trên 39 tỷ đồng/166,5 tỷ đồng, đạt gần 24% tổng nhu cầu.
Kế hoạch trồng rừng những năm trước không hoàn thành, điều này vô tình tạo áp lực cho năm cuối thực hiện Nghị quyết. Bởi lẽ, để hoàn thành mục tiêu trồng 55 nghìn ha rừng của giai đoạn 2010-2015, thì năm 2015 toàn tỉnh phải gánh thêm phần việc chưa làm xong của những năm trước, phải trồng đạt trên 40,5 nghìn ha. Trong đó, rừng lâm nghiệp xã hội trên 39,6 nghìn ha; rừng phòng hộ, đặc dụng 400 ha; trồng rừng hộ lan trên 87 ha; trồng rừng thay thế trên 403 ha.
Khi bắt tay vào thực hiện kế hoạch, đã có nhiều ý kiến cho rằng, chỉ tiêu giao như vậy quá cao, nhìn vào thực tế triển khai mấy năm trước thì rất khó có thể hoàn thành. Tuy nhiên, tỉnh ta đặt ra quyết tâm, phải thực hiện kế hoạch, chính vì vậy công tác kiểm tra, giao ban giữa UBND tỉnh với các huyện, thành phố được tiến hành gắt gao, thường xuyên theo từng tháng. Qua đó, kịp thời đề xuất giải pháp, tháo gỡ khó khăn để công tác trồng rừng triển khai đúng tiến độ.
Thế nhưng, dù tỉnh rất quyết liệt, các ngành chuyên môn, huyện, thành phố hưởng ứng nhiệt tình thì tiến độ trồng rừng vẫn cứ chậm, chưa tháng nào đạt mục tiêu. Còn nhớ, tại hội nghị giao ban kế hoạch trồng rừng tháng 7.2015, UBND tỉnh giao nhiệm vụ đến hết tháng 8 toàn tỉnh phải hoàn thành 75% kế hoạch, trong đó phải hoàn thành 100% kế hoạch trồng rừng phòng hộ và trồng cây hộ lan; các huyện Bắc Mê, Mèo Vạc phải hoàn thành từ 80% kế hoạch; Đồng Văn, Hoàng Su Phì, Xín Mần phải phấn đấu tối thiểu từ 60% kế hoạch trở lên... Kết thúc tháng 8, diện tích rừng trồng các huyện, thành phố thực hiện được hơn 3,5 nghìn ha, chỉ đạt 31% kế hoạch tháng.
Tại hội nghị giao ban tháng 8.2015, UBND tỉnh chỉ rõ, bên cạnh một số địa phương tập trung chỉ đạo, hoàn thành kế hoạch tháng như Yên Minh đạt 100%, Quản Bạ trên 104%, Vị Xuyên đạt 82%, một số huyện trọng điểm trồng rừng, tiến độ triển khai rất chậm như Bắc Mê trồng được gần 619 ha, đạt 35%; Bắc Quang 841 ha, đạt gần 37% kế hoạch tháng.
Số diện tích đạt được mới chỉ tính trên số lượng cây trồng cung ứng cho người dân, còn thực tế nhiều địa phương, người dân không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật dẫn đến tỷ lệ cây sống không cao. Do mải chạy theo tiến độ, người dân trồng cả vào những ngày thời tiết nắng nóng kéo dài, quy trình không đảm bảo nên qua kiểm tra cho thấy, tỷ lệ cây sống toàn tỉnh chỉ đạt 85%.
Khác với những năm trước, việc trồng rừng thường gặp khó khăn về vốn nên ảnh hưởng lớn đến tiến độ. Nhưng năm nay, tổng số vốn được giao trên 61,5 tỷ đồng, trong đó vốn hỗ trợ trồng rừng lâm nghiệp xã hội trên 57,2 tỷ đồng, vốn hỗ trợ trồng rừng phòng hộ trên 3,6 tỷ đồng, hỗ trợ trồng rừng hộ lan gần 647 triệu đồng. Nguồn vốn đã sẵn, nhưng tiến độ thực hiện vẫn rất chậm, điều này kéo theo việc giải ngân cũng rất... ì ạch. Kết thúc tháng 8, tổng vốn rút tạm ứng mới được trên 2,6 tỷ đồng, đạt trên 4% tổng vốn giao hỗ trợ trồng rừng.
Sau đợt giao ban kế hoạch tháng 9, xuất phát từ nhu cầu thực tế của các huyện, thành phố, đơn vị chức năng, đồng thời nhằm tạo thuận lợi triển khai nhiệm vụ trồng rừng 2016, tỉnh ta quyết định điều chỉnh giảm chỉ tiêu xuống còn 37.384 ha.
Đồng thời yêu cầu các sở, ngành tiếp tục phối hợp với các huyện, thành phố tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện; đôn đốc các huyện, thành phố tập trung chỉ đạo trồng rừng, làm tốt các khâu chuẩn bị hiện trường trồng rừng, kiểm tra, rà soát cây con giống, thiết kế trồng rừng, thực hiện đúng kỹ thuật chăm sóc, bảo vệ cây sau trồng; UBND các huyện, thành phố nghiêm túc triển khai thực hiện đúng khối lượng đăng ký, đảm bảo tiến độ chung toàn tỉnh...
Các huyện Bắc Mê, kế hoạch trồng rừng còn rất lớn trên 4,8 nghìn ha nên phải thường xuyên kiểm tra tình hình cung cấp cây giống, đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu của nhân dân; 2 huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, cần tập trung chỉ đạo thực hiện kế hoạch, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác chỉ đạo trồng rừng.
Sự quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, linh hoạt thực hiện nhiệm vụ đã mang đến thành công nhất định. Để hoàn thành kế hoạch trồng rừng, các thành viên BCĐ đã thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND tỉnh, đẩy mạnh tuyên truyền, kiểm tra, đôn đốc tiến độ trồng rừng vụ Thu. Riêng tháng 11.2015, toàn tỉnh trồng mới được trên 6.740 ha, lũy kế 11 tháng trồng được 37.814 ha đạt trên 101% kế hoạch.
Các huyện, thành phố tổ chức nghiệm thu được trên 47% so với kết quả trồng, tỷ lệ cây sống đạt gần 88%. Cuối tháng 11.2015, đúng thời điểm kết thúc vụ trồng rừng, 100% các huyện, thành phố thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu, trong đó Quản Bạ đạt gần 105%, thành phố Hà Giang trên 110%, Quang Bình trên 126%. (Báo Hà Giang 24/2) đầu trang(
Ngay sau những ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Thân, cán bộ, đảng viên và nhân dân huyện Yên Sơn đã ra sức thi đua lao động sản xuất, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016.
Những ngày này, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đang tập trung chuẩn bị cho công tác trồng rừng vụ xuân năm 2016 đảm bảo theo kế hoạch đề ra. Đến nay Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình đã vào bầu và gieo ươm được 300 nghìn cây giống keo lai giâm hom và keo hạt, đạt 50%.
Ông Bùi Thu Thủy, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình cho biết, Công ty đang quản lý trên 1.800 ha đất lâm nghiệp. Năm 2015 Công ty đã trồng được trên 171 ha rừng sản xuất, khai thác được trên 9.612 m3 gỗ. Tổng doanh thu đạt trên 5,8 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước hơn 172,6 triệu đồng; thu nhập bình quân đầu người đạt 5,4 triệu đồng/tháng. Đây là năm thứ 2 đơn vị đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch.
Anh Lương Trường Năng, Đội trưởng Đội sản xuất lâm nghiệp Trung Trực thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình cho biết, nhờ chủ động trong công tác giao khoán việc trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, hưởng lợi từ rừng nên công nhân luôn nêu cao cao trách nhiệm, gắn bó với rừng. Năm 2015 đội đã trồng được 74/60 ha rừng, đạt trên 112% kế hoạch năm; khai thác được 2.300 m3 gỗ, đạt 115% kế hoạch năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 6 triệu đồng/tháng.
Trên khắp các cánh đồng, cánh rừng ở xã Tiến Bộ là không khí lao động sản xuất của bà con. Chị Sèo Thị Hạ, thôn Đèo Trám cho biết, năm 2016, gia đình chị trồng 1 ha rừng sản xuất sau khai thác. Thời điểm này, gia đình đang dọn thực bì, cuốc hố chờ mưa xuân để trồng rừng. Vụ xuân năm 2016, xã Tiến Bộ có kế hoạch trồng 150 ha rừng.
Đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Trần Quyết Cường cho biết, ngay từ đầu năm, xã đã phát động phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Ngay sau 3 ngày lễ của Tết Bính Thân, nhân dân đã bắt tay vào sản xuất. Đến nay, nhân dân trong xã đã thiết kế, cuốc hố trồng hơn 20 ha rừng, cấy 100/128 ha lúa xuân, duy trì chăm sóc trên 200 ha chè...
Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước gắn với từng công việc cụ thể, các đơn vị từ xã, thị trấn đến các doanh nghiệp, cơ quan trên địa bàn huyện Yên Sơn đang thi đua lao động sản xuất, phấn đấu hoàn thành thắng lợi chỉ tiêu, kế hoạch năm 2016. (Báo Tuyên Quang 24/2) đầu trang(
Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế rừng gắn với xóa đói, giảm nghèo cho người trồng rừng, nhiều năm qua, Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa đã tham mưu cho Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) triển khai đồng loạt các giải pháp để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế rừng, đáp ứng yêu cầu quản lý rừng bền vững.
Ngành lâm nghiệp đã chú trọng đẩy mạnh cải tiến chất lượng giống phục vụ trồng rừng sản xuất. Điều đó được minh chứng qua việc quản lý chặt chẽ các nguồn giống trồng rừng; cây giống trước khi trồng được kiểm tra, cấp giấy chứng nhận nguồn gốc lô cây con. Giống cây rừng phải bảo đảm các tiêu chuẩn về chiều cao, đường kính, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng mới được xuất vườn.
Bên cạnh đó, ngành lâm nghiệp mỗi năm đều nhập khoảng 150 kg hạt keo tai tượng Úc để phục vụ trồng rừng kinh tế trên địa bàn tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh đã có khoảng 30.000 ha rừng keo tai tượng Úc, trên 10.000 ha xoan... Đây chính là tiền đề để phát triển vùng nguyên liệu gỗ lớn tập trung cho giai đoạn 2016 – 2020.
Thực tế cho thấy, cây xoan ta rất phù hợp với điều kiện lập địa tại các huyện phía Tây của tỉnh, đang trở thành cây chủ lực trong việc phủ xanh đất trống, đồi trọc và phát triển kinh tế rừng của huyện Mường Lát. Cây keo tai tượng Úc có biên độ sinh thái rộng, có thể trồng được tại hầu hết các huyện trong tỉnh, cho năng suất từ 1,5 đến 2 lần các loại cây khác và sau 10 năm có thể làm gỗ lớn đóng đồ mộc.
Cùng với xác định giống cây phù hợp, ngành lâm nghiệp còn tăng cường áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng và chăm sóc rừng. Để làm tốt điều này, Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa đã chủ động tham mưu cho lãnh đạo Sở NN&PTNT phối hợp với các cấp, các ngành liên quan để triển khai tuyên truyền sâu rộng đến người dân các biện pháp trồng rừng thâm canh, thay đổi dần cách nghĩ, cách làm trong phát triển kinh tế rừng cho bà con.
Đến nay, hầu hết rừng mới trồng trên địa bàn tỉnh đã được bón phân, tỉa cành và chăm sóc nên năng suất cao hơn nhiều so với trước đây, bình quân đã đạt 20 đến 25 m3/ha/năm.
Nhằm từng bước chuyển đổi từ mô hình phát triển lâm nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh tế rừng, kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái, mỗi năm, Chi cục Lâm nghiệp Thanh Hóa đã tham mưu cho Sở NN&PTNT chỉ đạo xây dựng hàng chục mô hình chuyển hóa từ rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn. Sau một thời gian chuyển hóa, trữ lượng rừng đã tăng rõ rệt, đạt 190 m3/ha, lượng tăng trưởng bình quân rừng đạt 30 đến 40 m3/ha/năm.
Dự kiến sau chu kỳ 10 đến 12 năm, trữ lượng rừng gỗ lớn có thể đạt từ 300 đến 350 m3/ha/chu kỳ, thu nhập bình quân đạt khoảng từ 450 đến 500 triệu đồng/ha/chu kỳ, gấp 2,5 đến 3 lần so với kinh doanh gỗ nhỏ. Đến nay, nhiều mô hình trồng rừng gỗ lớn đã khẳng định hiệu quả và được triển khai nhân rộng, nhiều hộ gia đình có điều kiện kinh tế đã chủ động chuyển hóa từ rừng trồng gỗ nhỏ thành rừng kinh doanh gỗ lớn với tổng diện tích toàn tỉnh mỗi năm khoảng 500 ha.
Đây chính là thành công lớn trong sản xuất lâm nghiệp, tạo bước đột phá trong việc xóa đói, giảm nghèo, tiến tới làm giàu từ nghề rừng cho bà con trồng rừng trên địa bàn tỉnh. Riêng với cây luồng, ngành lâm nghiệp cũng tiến hành triển khai nhiều mô hình phục tráng rừng luồng ở hầu khắp các vùng trồng luồng của tỉnh.
Khoảng 3 năm gần đây, toàn tỉnh đã phục tráng được hơn 1.000 ha luồng. Sau khi được phục tráng, số lượng luồng loại I và loại II tăng lên từ 20 đến 30%, giá trị thu nhập mỗi ha luồng tăng thêm từ 8 đến 10 triệu đồng so với trước, đạt từ 16 đến 18 triệu đồng/ha/năm.
Với hơn 626.500 ha, tiềm năng phát triển kinh tế rừng của tỉnh ta còn rất lớn. Vì thế, với việc cải tiến chất lượng giống cũng như tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng và chăm sóc rừng, nghề rừng đang mở hướng làm giàu cho hàng chục nghìn hộ dân trên địa bàn tỉnh cũng như phát triển kinh tế - xã hội tỉnh nhà. (Báo Thanh Hóa 24/2) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
“Những người thuần thú trong một rạp xiếc ở Nga đã dùng cách dí thuốc lá vào người gầu Bắc Cực, đánh chúng bằng roi kim loại và buộc những con gấu phải đứng trên hai chân bằng cách trói nghiến chúng vào tường khiến chúng từ bỏ dần thói quen đứng bằng bốn chân."
Được biết, những hình ảnh này được chụp tại show diễn của người thuần thú hoang nổi tiếng nước Nga – Yulia Denisenko và đồng nghiệp Yury Khokhlov. Show diễn này được tổ chức tại rạp xiếc Ivanovo, gần Moscow (Nga).
Ban tổ chức đã đăng những hình ảnh này lên mạng để quảng bá cho show diễn đặc biệt có sự tham gia biểu diễn của loài gấu Bắc Cực. Đặc biệt, show diễn có giá vé rất rẻ, chỉ từ 500 đến 1.200 rúp (tương đương khoảng 150.000 đến 360.000 đồng).
Theo đó, Yulia và Yury đã rọ mõm những chú gấu Bắc Cực hoang dã bằng rọ sắt và buộc chúng phải đứng thẳng bằng hai chân, hát và chơi nhạc cụ. Sau khi những hình ảnh này được đăng tải lên mạng, các tổ chức bảo vệ động vật đã lập tức lên tiếng phản đối và bày tỏ sự tức giận. Họ cho rằng Yulia và Yury đã đối xử tàn bạo đối với động vật hoang dã.
Elisa Allen, Phó giám đốc tổ chức từ thiện bảo vệ quyền động vật PETA cho biết: “Những người thuần thú trong rạp xiếc ở Nga đã dùng cách dí thuốc lá vào người gấu Bắc Cực, đánh chúng bằng roi kim loại và buộc những con gấu phải đứng trên hai chân bằng cách trói nghiến chúng vào tường khiến chúng từ bỏ dần thói quen đứng bằng bốn chân."
"Nhiều gấu con đã chết vì sự khắc nghiệt trong rạp xiếc. Những con sống sót thì bị đâm kim tiêm nóng vào miệng để tạo lỗ luồn dây kim loại làm rọ mõm.”
Gấu Bắc Cực hiện được xếp loại là một trong những loài động vật đang bị đe dọa. Số lượng gấu Bắc Cực đã suy giảm nghiêm trọng trong những năm qua và hiện chỉ còn lại khoảng 25.000 con trong tự nhiên. (Tiền Phong 24/2) đầu trang(
Khu bảo tồn động vật hoang dã lớn nhất tại Zimbabwe cho biết họ có thể phải giết 200 con sư tử do lo ngại sự bùng nổ số lượng của chúng sẽ dẫn đến tình trạng mất cân bằng sinh thái.
Trả lời tờ National Post, Giám đốc Khu bảo tồn Bubye Valley Blondie Leathem cho biết, sau cái chết thương tâm của “vua sư tử” Cecil tại Zimbabwe, các thợ săn đã trở nên “chùn tay” hơn trước sự phẫn nộ của cộng đồng thế giới. Số lượng sư tử cũng từ đó mà tăng lên một cách chóng mặt.
Theo ông Leathem, 500 con sư tử là số lượng quá lớn cho một khu dự trữ động vật hoang dã. Số lượng sư tử đã gấp 10 lần linh dương và hươu cao cổ tại đây. Khi mùa hè đến, các loài chó hoang, báo, báo ghê-pa sẽ dễ dàng trở thành con mồi của “chúa sơn lâm”.
Bubye Valley lo ngại rằng họ sẽ phải giết hại hơn một phần ba số sư tử để đảm bảo sự tồn tại của các loài động vật khác. Để tránh kịch bản xấu nhất có thể xảy ra, các nhà quản lý đã kêu gọi các khu dự trữ sinh quyển khác ở khắp châu Phi tiếp nhận những chú sư tử trên. Tuy nhiên, giám đốc Leathem nhấn mạnh rằng khu bảo tồn của ông thiếu kinh phí để di dời loại động vật này đến nơi ở mới.
Đáng lo ngại hơn, người đứng đầu tổ chức từ thiện Lion Aid có trụ sở tại Anh cho rằng "không nơi nào ở châu Phi có thể tiếp nhận một số lượng lớn sư tử như vậy.”
Năm ngoái, nha sĩ người Mỹ Walter Palmer đã gây nên cơn phẫn nộ toàn cầu khi giết chết chú sư tử nổi tiếng Cecil tại Vườn quốc gia Hwange, Zimbabwe. Palmer sau đó đã trở thành kẻ bị khinh miệt trên toàn cầu.
Người dân toàn thế giới phẫn nộ không chỉ vì Palmer đã giết chú sư tử hút khách du lịch bậc nhất Zimbabwe và đang được gắn thiết bị để phục vụ nghiên cứu khoa học, mà còn vì cách giết con vật quá tàn bạo: Palmer dụ Cecil ra khỏi khu vực an toàn của vườn quốc gia, chụp ảnh “kỷ niệm” với phần thân của con vật, sau đó lột da và chặt đầu nó. (Vn Tin Nhanh 24/2) đầu trang(
Tổ chức từ thiện về động vật hoang dã đã công bố sự thật "xấu xí" đằng sau những sinh vật được mệnh danh tuyệt đẹp - đó chính là kết quả của những "mối tình" cận huyết?
Hổ trắng rất hiếm trong tự nhiên chính vì thế chúng được thấy trong vườn thù hầu hết là kết quả của những mối quan hệ cận huyết, điều này cũng dẫn đến những hệ lụy đáng buồn như việc dị tật.
1/10.000 con hổ được sinh ra có vẻ ngoài khác thường do yếu tố Leucism - thiếu sắc tố lông và tạo cho chúng một bộ lông với mà trắng và cá vân đen đặc biệt là đôi mắt màu xanh.
Nhiều sinh vật sinh ra trong điều kiện nuôi nhốt cùng với việc nhân giống, lai tạo đã khiến chúng gặp các vấn đề như hở hàm ếch, mắt lồi, dị tật, lác mắt, hệ miễn dịch kém... Ngay cả hổ trắng khỏe mạnh khi được thả vào tự nhiên nó không thể tự săn được mồi.
Hổ Kenny có bộ lông trắng sinh ra có mõn ngắn, mặt to và răng nhô ra khi nhìn nghiêng càng thấy rõ sự khác biệt, những dị tật này được cho là bắt nguồn từ kết quả của việc giao phối cận huyết.
Kenny (2 tuổi) được cứu từ một trại nuôi nhốt lai tạo tư nhân ở Arkansas vào năm 2000. Hổ sinh ra với tình trạng được gọi là leucism (bị mất sắc tố da dẫn đến màu trắng) gặp các vấn đề với sức khỏe. Chú hổ Zabu này vĩnh viễn không có nụ cười hoàn thiệt vì bị hở hàm ếch. Còn Kenny may mắn khi sống sót trong khu bảo tồn, năm 2008 nó đã qua đời vì u ác tính.
Khoảng 80% lứa hổ trắng chết sớm, số còn lại cũng có tuổi thọ thấp. Tổ chức từ thiện động vật hoang dã cũng đã cứu một con hổ Benghal tên Willie, có đôi mắt lác. Nguyên nhân dị tận của hổ trắng Kenny và Willie được cho là do quan hệ cận huyết. (Tin Tức Việt Nam 24/2) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||