|
Ngày 25 tháng 10 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Nhiều doanh nghiệp thủy điện đang sử dụng nguồn tài sản quý giá của rừng nhưng thiếu trách nhiệm khi trả nợ rừng (dịch vụ môi trường rừng- DVMTR). Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng vì thế chưa thể đạt đến mục tiêu tốt đẹp của nó.
Chính sách chi trả DVMTR được triển khai theo Nghị định số 99/2010, ngày 24-9-2010 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2011. Trên cơ sở đó, Quỹ này ở Phú Yên cũng được thành lập theo Quyết định số 1116, ngày 30-7-2012 của Chủ tịch UBND tỉnh.
Mục đích, nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả DVMTR theo hướng xác định rõ lợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được chi trả và phải chi trả DVMTR, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ; đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch.
Tại Phú Yên, chính sách này còn giúp cho các chủ rừng, cộng đồng dân cư có diện tích rừng cung ứng DVMTR trên các lưu vực được chi trả tiền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển rừng. Mục đích rất tích cực, song đến nay nhiều doanh nghiệp thủy điện đang sử dụng nguồn tài sản quý giá về DVMTR có trách nhiệm trả nợ rừng, nhưng vẫn cố tình chậm thực hiện, gây khó khăn cho Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Phú Yên hoạt động.
Ông Mai Tiến Lên, Giám đốc Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Phú Yên cho biết, việc thu tiền ủy thác chi trả DVMTR của tỉnh chủ yếu từ 3 Nhà máy thủy điện có lưu vực từ 2 tỉnh trở lên là các Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H'Năng. Mặc dù Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam (VNFF) đã ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đối với các Nhà máy trên, nhưng đến nay mới chỉ có Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ chuyển cho Quỹ của tỉnh 1.122 triệu đồng, dẫn đến chậm chi trả tiền cho các đối tượng được hưởng DVMTR.
Theo Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Phú Yên, đến hết quý II/2013, từ năm 2011-2012, quỹ mới chỉ thu được 1.830 triệu đồng. Trong đó, năm 2012 thu được 1.658 triệu đồng/10.290 triệu đồng, đạt 16,1%; quý I và II/2013 chỉ thu 255 triệu đồng/4.369 triệu đồng, đạt 5,8% kế hoạch. Hai doanh nghiệp chưa nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR là Nhà máy thủy điện Krông H' Năng (Công ty Cổ phần Sông Ba) và Nhà máy thủy điện Sông Hinh (Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn-Sông Hinh).
Để thanh toán tiền chi trả DVMTR cho các đối tượng có diện tích rừng cung cấp DVMTR của 2 nhà máy thủy điện trên, ngày 7-8-2013, UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn-Sông Hinh. Văn bản nêu rõ, trên cơ sở sản lượng điện thương phẩm của Nhà máy thủy điện Sông Hinh trong các năm 2011-2012 và quý I-II năm 2013, tổng số tiền DVMTR rừng mà công ty còn nợ, chưa thanh toán về VNFF là 23.121 triệu đồng.
Vì vậy VNFF chưa thể điều phối tiền ủy thác chi trả DVMTR cho các tỉnh Phú Yên và Đắc Lắc. Việc này đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện tiền chi trả DVMTR cho các chủ rừng ở địa phương. Vì vậy, UBND tỉnh đề nghị Công ty Cổ phần thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh khẩn trương thanh toán số tiền còn nợ DVMTR nêu trên về Quỹ BVVPTR Việt Nam, để tỉnh Phú Yên điều phối chi trả các tỉnh theo quy định.
Để xây dựng ba thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông H'Năng, tỉnh Phú Yên mất hơn 10.000ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp; trong đó có hơn 1.000ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và đầu nguồn. Từ thực tế mất rừng do làm thủy điện, Chính phủ đã ra Nghị định số 23/2006 về thi hành Luật BVVPTR, quy định rõ: "Cơ quan cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải bảo đảm việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác...".
Theo đó, ba thủy điện trên phải thực hiện trồng lại rừng; trong đó, Công ty cổ phần thủy điện Sông Ba Hạ phải trồng lại 204ha rừng và Công ty cổ phần Sông Ba trồng 175ha. Tuy nhiên, việc trồng lại rừng theo quy định chưa được các doanh nghiệp này thực hiện nghiêm túc và viện lý do, các địa phương chưa bố trí được quỹ đất và thiếu kinh phí trồng lại rừng; chưa có quy định doanh nghiệp trích lợi nhuận sản xuất, kinh doanh thủy điện để tham gia với địa phương trồng lại rừng bị mất do thủy điện.
Trong khi đó, chính sách chi trả DVMTR của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1-1-2011, nhưng các doanh nghiệp trên một lần nữa cố tình "chây ỳ" thực hiện. Điều này cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp làm thủy điện đều có chung mục đích chạy theo lợi nhuận, liên tục viện cớ để phó thác trách nhiệm cho xã hội về vấn đề môi trường do mình gây ra.
Hậu quả, rừng mất, chậm được phục hồi, thủy điện thì thi nhau tích nước, dẫn đến vào mùa nắng, dòng sông Ba ngày càng khô kiệt, biến dạng; nhiều đoạn chỉ còn lại những mương nước, ao tù như "dòng sông chết". Khi mùa mưa lũ đến, các thủy điện "đua" nhau xả lũ, uy hiếp tính mạng, tài sản người dân vùng hạ du, làm đảo lộn cuộc sống của hàng nghìn hộ dân ven sông. Việc "làm ăn" này quả là không công bằng. (Công an TP Đà Nẵng 24/10) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Ngày 18/10, UBND tỉnh ban hành Công văn số 2349 thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và tổng kết công tác chuyển đổi rừng trồng cao su.
Theo đó, UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT chỉ đạo, đôn đốc các BQL rừng phòng hộ, đặc dụng, các Công ty TNHH MTV lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh và đề nghị UBND huyện Kon Plông, Tu Mơ Rông nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2013, đặc biệt là chỉ tiêu trồng rừng theo Quyết định số 131/ỌĐ-UBND rmày 05/3/2013 của UBND tỉnh. Chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2014-2015 theo dự án được phê duyệt.
Chỉ đạo các chủ rừng phối hợp với UBND các huyện, thành phố trên cùng địa bàn tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh; tăng cường công tác kiểm tra, xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Chuẩn bị điều kiện tốt nhất cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô 2013-2014 nhằm giảm thiểu thấp nhất thiệt hại do cháy rừng gây ra.
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tăng cường công tác kiểm tra và xử lý nghiêm đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng, khai thác rừng trái phép, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tổ chức sơ kết Phương án chấn chỉnh và tăng cường công tác quản lý và bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum giai đoạn 2013-2015 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 150/QĐ-UBND ngày 08/3/2013 (UBND tinh đã chi đạo tại Công văn số 2184/UBND-KTN ngày 03/10/2013).
Phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công thương rà soát các dự án đầu tư có chuyển đổi diện tích rừng sang mục đích khác, đề xuất việc thu tiền trồng rừng thay thế (đổi với các đơn vị không có khả năng trồng rừng); đồng thời chỉ đạo việc triển khai trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyến đổi, thời gian thực hiện từ mùa vụ trồng rừng năm 2014.
Đôn đốc các đơn vị khẩn trương hoàn thành việc trồng cao su trên đất lâm nghiệp đã được UBND tỉnh cho phép chuyến đổi. Rà soát, tổng hợp báo cáo tình hình chuyển đổi rừng trồng cao su từ năm 2008-2011, tình hình trồng cao su trên đất lâm nghiệp từ năm 2007-2013; đồng thời tham mưu ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị đánh giá, tổng kết công tác chuyển đổi rừng trồng cao su giai đoạn 2008-2011 và công tác trồng cao su trên đất lâm nghiệp từ năm 2007-2013. (Kontum.gov.vn 25/10) đầu trang(
Chiều 24/10, UBND tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ rừng năm 2013 và triển khai nhiệm vụ năm 2014.
Mùa khô năm 2012 - 2013, dù đã làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn và chỉ đạo sâu sát trong việc tuần tra, canh gác rừng nhưng do tình hình thời tiết những tháng cuối năm 2012 và đầu năm 2013 diễn biến phức tạp, tình trạng khô hanh kéo dài, trên địa bàn tỉnh vẫn xảy ra 6 vụ cháy rừng tại xã Ngọc Thanh, thị xã Phúc Yên với tổng diện tích cháy hơn 21ha, tăng 2 vụ so với cùng kỳ.
Khi đám cháy xảy ra, địa phương, chủ rừng và các lực lượng kiểm lâm, công an, quân đội đã huy động hơn 300 lượt người kịp thời khống chế, dập tắt đám cháy, không để xảy ra cháy lớn, lây lan ra diện rộng.
Nhiệm vụ đặt ra cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng, bảo vệ rừng mùa khô 2013 - 2014 là: Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao ý thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân về phòng cháy chữa cháy và bảo vệ rừng; tổ chức ký cam kết quy trách nhiệm đối với 19 thôn vùng đệm về bảo vệ rừng đặc dụng Tam Đảo, 250 chủ rừng về bảo vệ rừng phòng hộ, 25 chủ rừng sản xuất vùng trọng điểm cháy.
Phát huy phương châm 4 tại chỗ, chú trọng sự chủ động, kịp thời sáng tạo của chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ để xử lý mọi tình huống ngay từ khi mới phát sinh phát lửa. Rà soát đất lâm nghiệp, diện tích rừng đã giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng; giải quyết các tranh chấp, lấn chiếm để hoàn thành tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp; kiểm tra, thanh tra nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng đất lâm nghiệp và quản lý sử dụng rừng.
Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Hà Hoà Bình yêu cầu các sở, ngành, địa phương và chủ rừng tăng cường phối hợp, chủ động xây dựng phương án và triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng có hiệu quả, trong đó, chú trọng biện pháp phòng là chính. Tăng cường trách nhiệm của chủ rừng, các địa phương, quyết tâm trong mùa khô 2013 - 2014 giảm được cả 3 tiêu chí: số vụ cháy, diện tích bị cháy và thiệt hại do cháy.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh giao Sở NN&PTNT phối hợp với Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư chủ động xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí, cân đối nguồn ngân sách để chủ động cấp kinh phí cho lực lượng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng chống cháy rừng, kịp thời đưa tin về tình hình cháy rừng để góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm và nghĩa vụ của các tầng lớp nhân dân trong việc phòng cháy chữa cháy rừng.
Sở Công an, Sở Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy phối hợp với Chi cục Kiểm lâm xác định rõ nguyên nhân cháy rừng, thủ phạm để xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
Tại hội nghị, 14 tập thể, cá nhân đã được UBND tỉnh tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng mùa khô 2012 - 2013. (Vinhphuc.gov.vn 25/10) đầu trang(
Sau hơn một năm triển khai, thực hiện Chỉ thị 08 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, công tác ngăn chặn, xử lý các hoạt động khai thác, vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép trên địa bàn huyện Chợ Đồn đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Để thực hiện có hiệu quả, ngay sau khi Chỉ thị số 08 được ban hành, đồng thời trên cơ sở các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên, cấp ủy, chính quyền huyện Chợ Đồn đã lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, có hiệu quả trong việc triển khai, tổ chức thực hiện chỉ thị trên địa bàn huyện.
Kết quả sau một năm triển khai thực hiện chỉ thị này, ngành chức năng huyện đã tổ chức lồng ghép tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, quản lý khoáng sản trên địa bàn được 158 buổi với hơn 8.000 lượt người nghe.
Đặc biệt, đến nay đã có 13 xã, thị trấn, với 1.147 hộ dân ký cam kết không khai thác, chế biến, vận chuyển khoáng sản; 7 hộ gia đình, cá nhân cam kết không sử dụng máy móc khai thác, chế biến, vận chuyển khoáng sản trái phép và 12 chủ tịch UBND xã, thị trấn ký cam kết với huyện không để xảy ra hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trái phép trên địa bàn; 187 chủ sở hữu máy cưa xăng đăng ký, ký kết và cấp giấy chứng nhận sử dụng.
Về công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý, bảo vệ khoáng sản trong thời gian qua cũng có những chuyển biến tích cực. Các ngành chức năng trên địa bàn huyện đã tích cực tăng cường các biện pháp xử lý vi phạm, kiểm tra, truy quét ngăn chặn hoạt động khai thác, vận chuyện, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép trên địa bàn. Kết quả trong năm 2012 và 9 tháng đầu năm 2013, ngành chức năng huyện đã phát hiện 168 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, tịch thu hơn 250m3 gỗ các loại.
Đặc biệt, từ khi triển khai thực hiện Chỉ thị 08, huyện đã phát hiện bắt giữ được một số vụ việc nổ cộm như: Vụ việc khai thác gỗ nghiến tại Khe Cạn, xã Bản Thi có khối lượng là hơn 38m3 gỗ tròn; vụ ở khu vực Lũng Luồng, xã Xuân Lạc phát hiện 3 cây gỗ nghiến mới bị chặt hạ và đang xẻ dở, tổng khối lượng hơn 33m3…các vụ việc trên đã được khởi tố hình sự, chuyển cơ quan công an điều tra.
Bên cạnh tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng thì công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản trên địa bàn huyện Chợ Đồn trong thời gian qua cũng được triển khai quyết liệt. Huyện đã tiến hành kiểm tra được 43 lượt tại các xã có hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn. Qua các cuộc kiểm tra cùng với đoàn công tác của tỉnh đã phát hiện 2.700m3, tương đương khoảng 3.769 tấn quặng sắt và 40,8 tấn quặng sufua khai thác trái phép; tịch thu 4 thiết bị phục vụ khai thác khoáng sản trái phép.
Ngoài ra, việc khai thác khoáng sản trái phép tại khu vực Khuổi Giang, giáp ranh xã Đồng Lạc và Quảng Bạch diễn biến phức tạp, tổ công tác liên ngành của huyện kiểm tra nhiều lần nhưng khó kiểm soát vì các đối tượng khai thác hoạt động vào ban đêm nên huyện đã áp dụng biện pháp đánh sập, lấp 6 cửa lò để ngăn chặn việc khai thác khoáng sản trái phép tái diễn... (Báo Bắc Kạn 24/10) đầu trang(
Đoàn chuyên gia của Tổ chức Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) vừa kết thúc tốt đẹp chuyến thẩm định thực địa Hồ sơ đề cử UNESCO công nhận quần đảo Cát Bà là Di sản thiên nhiên thế giới.
Các chuyên gia của IUCN có ấn tượng sâu sắc về những giá trị đa dạng sinh học tại đây, đặc biệt đánh giá cao công tác quản lý, bảo tồn gìn giữ di sản thiên nhiên quý giá của chính quyền và người dân huyện đảo Cát Hải, TP.Hải Phòng.
Hồ sơ đề cử Di sản thiên nhiên thế giới quần đảo Cát Bà là sự tập hợp những kết quả nghiên cứu, căn cứ khoa học và số liệu chính xác của các nhà khoa học hàng đầu về lĩnh vực này được dày công thực hiện trong nhiều năm qua. Theo đó, quần đảo Cát Bà có tổng diện tích hơn 336 km2 với 388 đảo đá vôi, lớn nhất là đảo Cát Bà. Quần đảo Cát Bà có lịch sử phát triển địa chất lâu dài, trải qua hơn 18.000 năm di sản vẫn giữ được tính tự nhiên cao.
Trong suốt quá trình tiến hóa, quần đảo Cát Bà đã hình thành nên 7 hệ sinh thái nhiệt đới cận chí tuyến điển hình, chứa đựng đầy đủ các giá trị nổi bật về đa dạng sinh học, bao gồm: Rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi lớn nhất Châu Á và tiêu biểu của thế giới (150 km2); rừng ngập mặn lớn nhất ở vùng đảo Việt Nam; vùng triều với các khảm sinh vật bám đặc sắc; hệ sinh thái rạn san hô phát triển nhất Vinh Bắc bộ; hồ nước mặn đặc thù chỉ có ở Cát Bà và Vịnh Hạ Long cùng một số nước khác…
Trên tổng số 3860 loài thực vật, động vật sống trên cạn và dưới biển, đã phát hiện có tới 130 loài quý hiếm được đưa vào sách Đỏ Việt Nam và thế giới (76 loài). Trong đó, 21 loài đặc hữu được IUCN xếp hạng ở mức cực kỳ nguy cấp (CR), mà đặc biệt nhất là loài Vọoc Cát Bà. Đây là 1/25 loài linh trưởng bị đe dọa cao nhất thế giới, cần phải được bảo tồn ngoại hạng toàn cầu. Hiện nay chỉ còn một quần thể duy nhất trên thế giới với 63 cá thể Vọoc phân bố ở Cát Bà…
Như vậy, quần đảo Cát Bà chứa đựng đầy đủ các giá trị đa dạng sinh học quý hiếm có tính toàn cầu, đáp ứng trọn vẹn 2 tiêu chí số 9 và số 10 của Công ước Di sản thế giới. Vấn đề đặt ra đối với cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân TP.Hải Phòng, mà trực tiếp nhất là huyện đảo Cát Hải là cần phải lập kế hoạch, đồng thời thực thi ngay các giải pháp, biện pháp quản lý, bảo tồn và khai thác phát huy giá trị nổi bật toàn cầu mang tính toàn vẹn của quần đảo Cát Bà khi được UNESCO công nhận trở thành Di sản thiên nhiên thế giới.
Theo ông Dương Anh Điền, Chủ tịch UBND TP.Hải Phòng, từ nhiều năm trước, khi quần đảo Cát Bà được xếp hạng là Danh lam thắng cảnh, di tích đặc biệt cấp quốc gia, Vườn quốc gia, Khu bảo tồn biển và Khu dự trữ sinh quyển thế giới thì Cát Bà đã được quan tâm bảo vệ thông qua hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và quốc tế cũng như những biện pháp cụ thể của thành phố, của huyện Cát Hải trong công tác tăng cường tuyên truyền, quản lý, khai thác tiềm năng, lợi thế để phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống người dân địa phương.
Trong đó, có những giải pháp nhằm trả lại môi trường biển, rừng ngập mặn như vốn có, bảo vệ và tạo sự sinh sôi cho quần thể Vọoc Cát Bà, hạn chế những tác động của con người làm nguy hại đến di sản.
Tiến sỹ Bùi Thanh Tùng-Bí thư Huyện ủy Cát Hải khẳng định thêm về vấn đề này: “ Trước lộ trình quần đảo Cát Bà được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, chúng ta cần định hướng dài hạn cho mô hình quản lý tổng hợp đối với di sản, tập trung vào các vấn đề như: bảo tồn nguyên vẹn giá trị cảnh quan thiên nhiên, giá trị các hệ sinh thái điển hình, các loài động thực vật đặc hữu bản địa có giá trị toàn cầu; quản lý giám sát chặt chẽ các hoạt động kinh tế xã hội, tăng cường nghiên cứu làm rõ thêm những giá trị của di sản...
Điều này không chỉ dừng lại ở ý nghĩa phục vụ cuộc sống người dân trước mắt, mà nó còn bao hàm ý nghĩa nhân văn cao cả là gìn giữ và truyền lại món quà vô giá do thiên nhiên ban tặng cho muôn đời con cháu mai sau. Đó là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân huyện đảo nói riêng và TP.Hải Phòng nói chung cũng như đối với du khách mỗi khi đến với đảo ngọc Cát Bà”. (Tài Nguyên&Môi Trường 24/10) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Báo Lao Động tổ chức toạ đàm trực tuyến với chủ đề “Giải pháp nào cho cây cao su ở miền Trung?”
Cơn bão số 10 và số 11 vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề cho người dân trồng cao su ở các tỉnh Bắc và Trung Trung Bộ. Là cây công nghiệp mang lại nhiều lợi ích kinh tế lớn cho nông dân, song những thiệt hại sau hai cơn bão vừa qua đang đặt ra nhiều vấn đề về quy hoạch trồng cao su ở khu vực này.
Được đông đảo bạn đọc quan tâm, thời gian qua báo Lao Động đã đăng tải nhiều loạt bài liên quan đến quy hoạch cây cao su ở miền Trung, từ đó sớm tìm một giải pháp thoả đáng để hướng dẫn doanh nghiệp và người nông dân hạn chế tối đa những rủi ro do thiên tai mang lại cho cây trồng này.
Nhằm rộng đường dư luận, cung cấp một cách đầy đủ, sâu rộng thông tin về phát triển, định hướng cây cao su ở miền Trung, Báo Lao Động tổ chức toạ đàm trực tuyến với chủ đề “Giải pháp nào cho cây cao su ở miền Trung?”.
Nhiều thông tin hữu ích về cây cao su ở khu vực Bắc và Trung Trung Bộ sẽ được trao đổi tại buổi tọa đàm này như: Cao su ở khu vực này đã được quy hoạch như thế nào, những cảnh báo về nguy cơ rủi ro từ thiên tai và nguyên nhân cao su ở Bắc Trung Bộ vẫn phát triển theo phong trào, gây phá vỡ quy hoạch.
Cũng tại buổi tọa đàm này, các doanh nghiệp, nông dân sẽ có cơ hội chia sẻ những khó khăn trong quá trình trồng cây cao su và nguyện vọng của họ sau khi xảy ra thiệt hại tại đây. Từ đó, cơ quan chức năng sẽ đặt ra vấn đề: Nên tiếp tục trồng cao su ở miền Trung hay không, khi mà tỉ lệ rủi ro từ thiên tai là quá lớn? Nếu trồng lại cao su, chính quyền, doanh nghiệp và người dân sẽ phải làm những gì để hạn chế tối đa những rủi ro này?
Buổi toạ đàm sẽ có sự tham gia của đại diện Bộ NNPTNT, các nhà khoa học, đại biểu Quốc hội, tập đoàn cao su Việt nam, đại diện chính quyền các tỉnh, doanh nghiệp và người nông dân có ý kiến xung quanh vấn đề trồng cây cao su ở miền Trung, từ đó thống nhất nhiều giải pháp hữu ích hơn vì sự phát triển lâu bền của ngành cao su Việt Nam. (Lao Động 25/10) đầu trang(
“Cục Trồng trọt, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ NN-PTNT) - hai đơn vị chủ trì trực tiếp xây dựng quy hoạch có trách nhiệm trong việc định hướng phát triển cây cao su các tỉnh miền Trung. Tuy nhiên, việc quy hoạch chi tiết và quyết định trồng cao su ở đâu, trồng ra sao... là trách nhiệm của các tỉnh”.
TS Phạm Đồng Quảng- Phó Cục trưởng phụ trách Cục Trồng trọt nêu quan điểm trên khi trao đổi về trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong việc quy hoạch trồng cao su ở các tỉnh miền Trung, gây thiệt hại nghiêm trọng sau 2 cơn bão số 10 và số 11 vừa qua.
Theo ông Quảng, sự xuất hiện của cây cao su ở các tỉnh miền Trung là có căn cứ vào lịch sử phát triển. Cụ thể từ khoảng năm 1959 - 1960, Trung ương đã có chủ trương đưa cây cao su vào một số nông lâm trường tại các tỉnh vùng Bắc Trung bộ gồm Quảng Bình, Quảng Trị như Nông trường Bến Hải, Nông trường Quyết Thắng (Quảng Trị), Nông trường Việt Trung (Quảng Bình).
Cây cao su được đưa từ đảo Hải Nam (Trung Quốc) bằng đường hàng không về Quảng Bình, đồng thời có các chuyên gia Trung Quốc sang giúp đỡ tư vấn về kỹ thuật. Lúc đó, Tổng cục Cao su là đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp quản lí cao su tại đây.
Đến khoảng năm 1961 - 1962, diện tích cao su ở hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị khoảng 900 đến 1.000 ha. Tuy nhiên, do giá cao su lúc đó còn rất thấp, vấn đề an ninh lương thực vẫn còn là gánh nặng nên cây cao su ở miền Trung ít được quan tâm.
Sau năm 1975, cùng với đà phát triển trồng mới trên cả nước, cao su ở Bắc Trung bộ bắt đầu được mở rộng diện tích. Đến năm 1996, Chính phủ đã lần đầu tiên phê duyệt quy hoạch phát triển cây cao su. Theo đó, vùng Bắc Trung bộ được quy hoạch diện tích khoảng 42 nghìn ha tới năm 2005 (trong đó Thừa Thiên - Huế 3.000 ha, Quảng Bình 8.000 ha, Quảng Trị 12.000 ha, Hà Tĩnh 3.000 ha, Thanh Hóa 6.000 ha, Nghệ An 10.000 ha).
Đi đôi với quy hoạch này, Chính phủ cũng đã có nhiều chính sách dành cho cây cao su như lồng ghép vào Chương trình 327, hỗ trợ cho nông dân vay vốn từ dự án nước ngoài... Điều này đã góp phần thúc đẩy diện tích cao su vùng Bắc Trung bộ liên tục tăng về diện tích. Đến năm 2007, diện tích cao su toàn vùng đã lên tới 47.000 ha, và đến năm 2009 đã xấp xỉ 60.000 ha.
Nhằm tiếp tục có định hướng phát triển hiệu quả, bền vững cho cao su ở miền Trung, năm 2009, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt quy hoạch phát triển cây cao su lần thứ hai. Theo đó, chủ trương tiếp tục trồng mới 20.000 ha cây cao su ở vùng Bắc Trung bộ, đảm bảo ổn định diện tích cao su ở vùng này khoảng 80 nghìn ha vào năm 2015. Tuy nhiên đến năm 2012, diện tích cao su thực tế ở vùng này đã lên tới 80.000 ha, năm 2013 tăng lên 82.000 ha.
Một số tỉnh diện tích cao su năm 2013 đã đạt quy hoạch tới năm 2015 gồm Thanh Hóa, Quảng Trị, thậm chí Quảng Bình và Hà Tĩnh đã vượt xa quy hoạch định hướng đến năm 2015 (Hà Tĩnh vượt hơn 2.000 ha, Quảng Bình vượt hơn 4.000 ha). Riêng Nghệ An và Thừa Thiên - Huế chưa đạt diện tích quy hoạch nhưng sẽ đạt diện tích trong thời gian không lâu nữa.
TS Phạm Đồng Quảng cũng cho biết, giá cao su trong những năm 2010 - 2011 tăng rất mạnh, có lúc lên tới 120 triệu đồng/tấn, đưa cao su trở thành cây trồng siêu lợi nhuận là nguyên nhân chính khiến diện tích cao su tăng nhanh hơn quy hoạch, đặc biệt cao su tiểu điền.
Ngoài căn cứ vào lịch sử phát triển, lấy ý kiến từ các địa phương, các cơ quan xây dựng quy hoạch đã căn cứ rất chi tiết vào các dữ liệu khoa học về thời tiết, thổ nhưỡng, thiên tai... Cùng với việc cải tiến các giải pháp kỹ thuật và giống, phải khẳng định vấn đề rủi ro về rét ở Bắc Trung bộ đối với cây cao su đã được giải quyết.
Khó khăn nhất của vùng này là nước tưới hết sức khó khăn, mùa khô hạn kéo dài, cây cao su lại là cây chịu hạn.
Về đất đai, cao su dễ tính, có thể trồng được cả ở đất nghèo kiệt, vốn chỉ trồng được keo, bạch đàn. Bằng chứng như tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, đất trồng cao su đều là đất rừng nghèo kiệt, hoặc đất canh tác cây nông nghiệp kém hiệu quả.
Về vốn và đầu tư, cao su tuy đầu tư cao nhưng với giá mủ những năm qua trung bình từ 50 - 60 triệu đồng/tấn, chỉ cần từ 1 - 2 năm thu hoạch là dân thu hồi được vốn và có thể làm giàu... Điều này đã được chứng minh diện tích cao su tiểu điền tăng mạnh trong những năm qua.
Nhưng bất lợi lớn nhất của Bắc Trung bộ là bão. Bão nhiều, bão to. Bao đời nay ai cũng biết điều đó. Mà cây cao su lại giòn, kém chịu gió... Phải chăng các đơn vị xây dựng quy hoạch, gần đây nhất là quy hoạch năm 2009 đã bỏ qua điều đó?
Về bão, các đơn vị xây dựng quy hoạch đã tính tới và căn cứ chặt chẽ vào các dữ liệu về diễn biến thời tiết rất kỹ lưỡng, chứ không phải duy ý chí.
Cụ thể từ năm 1970 (thời điểm các diện tích cao su đầu tiên ở miền Trung đã khai thác mủ) đến năm 1990, tổng cộng vùng Bắc Trung bộ có hơn 40 cơn bão. Trong đó, 7 cơn bão có ảnh hưởng tới cao su, làm cho cao su và các cây trồng khác gãy đổ. Còn tính từ năm 1997 (sau thời điểm Chính phủ có quy hoạch lần thứ nhất về cao su) đến trước thời điểm xảy ra hai cơn bão số 10 và 11 năm 2013 vừa qua, có 9 cơn bão có ảnh hưởng đáng kể đến cao su, trong đó chỉ có 2 - 3 cơn bão gây ảnh hưởng nặng.
Cụ thể như Hà Tĩnh có cơn bão số 5 năm 2007 và cơn bão số 10 năm 2013, còn Quảng Bình từ năm 1960 đến nay chỉ có một cơn bão năm 1983 và bão số 10 năm 2013... Kể từ năm 1960 đến nay, Bắc Trung bộ cũng chưa có cơn bão nào nặng và kéo dài (hơn 5h trên đất liền) như cơn bão số 10 vừa qua.
Cần khách quan rằng, không chỉ cao su bị gãy đổ vì bão, mà tất cả các cây trồng khác cũng gãy đổ nặng nề trong các cơn bão vừa qua (ví dụ Quảng Nam chỉ có 400 ha cao su gãy đổ nhưng có tới hơn 21 nghìn ha rừng gãy đổ trong cơn bão số 11).
Theo ông Quảng: Cục Trồng trọt, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (Bộ NN-PTNT) - hai đơn chủ trì trực tiếp xây dựng quy hoạch xin thừa nhận có trách nhiệm trong việc định hướng phát triển cây cao su cho các tỉnh miền Trung.
Tuy nhiên, cũng phải khẳng định rằng, việc xây dựng quy hoạch và quy hoạch của Chính phủ phê duyệt chỉ là quy hoạch định hướng. Quyết định quy hoạch của Chính phủ đã yêu cầu các địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể để có quy hoạch chi tiết. Việc quy hoạch chi tiết ở các địa phương ra sao, tất nhiên đã được thông qua và nhất trí bằng các chủ trương, nghị quyết của HĐND, UBND các địa phương.
Nghĩa là quy hoạch của Chính phủ không thể chỉ ra cụ thể, mà việc xác định trồng bao nhiêu, trồng ở đâu, trồng lúc nào... để phù hợp với điều kiện tiểu vùng khí hậu, thổ nhưỡng... của từng địa phương là do các tỉnh phê duyệt, và trách nhiệm ấy là của các tỉnh.
Cũng theo ông Quảng, khoảng 10.000 - 12.000 ha, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Hà Tĩnh (khoảng 2.000 ha), Quảng Bình (khoảng 7.100 ha) và Quảng Trị (khoảng 1.750 ha) thiệt hại trên 70%, có thể xem là mất trắng. Trước mắt, cần tận thu mủ, dọn dẹp và tận dụng gỗ gãy đổ. Việc quyết định có trồng lại hay không, trồng lại thế nào, không trồng lại thì trồng cây gì... hiện đang là vấn đề trăn trở lớn của cả ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên thời gian còn dài, ít nhất phải tới tháng 4/2014 mới tới vụ trồng mới nên chúng ta còn nhiều thời gian để bình tĩnh tham khảo thêm nhiều ý kiến của cơ quan khoa học, các nhà quản lí, DN và nguyện vọng của người dân. Ngày 31/10 tới, Cục Trồng trọt, Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN, các địa phương và nông dân sẽ tổ chức một cuộc hội thảo, cùng nhau ngồi lại để bàn và quyết định xem có trồng lại hay không.
Qua nắm bắt ban đầu, hiện hầu hết các địa phương, đơn vị có diện tích cao su bị thiệt hại nặng đều có nguyện vọng và bày tỏ quyết tâm sẽ trồng lại, thậm chí nhiều nơi vẫn muốn tiếp tục mở rộng diện tích. Tất nhiên, trường hợp quyết định trồng lại ra sao, trồng ở đâu phải tiếp tục bàn, ví dụ Hà Tĩnh cho biết sẽ đẩy cao su lên các vùng phía tây như Vũ Quang, Hương Khê, Hương Sơn, hạn chế tối đa các vùng gần biển như Kỳ Anh.
Ngoài ra, khoảng 70 - 75 nghìn ha cao su bị ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau chắc chắn mật độ sẽ giảm. Hiện Bộ NN-PTNT và cả Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN đã có các phương án kỹ thuật tối ưu nhất cho việc khắc phục này.
Để đối phó, hạn chế thiệt hại nếu có bão tiếp cũng như cho các năm sau, ông Quảng cho hay: Về phía Bộ NN-PTNT, chúng tôi sẽ gấp rút nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trồng cao su có cùng điều kiện bão giống Việt Nam như Malaysia, đảo Hải Nam (Trung Quốc) để có kênh tham khảo.
Vừa qua, có một số nông dân Quảng Trị áp dụng biện pháp chặt bớt cành cao, tỉa bớt tán trước bão nên dù tâm bão đi qua cao su cũng không bị gãy đổ. Rõ ràng làm như vậy cao su sẽ ảnh hưởng nặng nề tới năng suất mủ, có thể một vài năm sau mới khôi phục lại hoàn toàn nhưng đó có thể cũng là một giải pháp đối phó với bão.
Tại cuộc hội thảo sắp tới, tất cả sẽ vào cuộc thêm để tìm ra giải pháp tối ưu nhất khi đối phó với bão, chẳng hạn về giống, hướng trồng, địa điểm trồng, thậm chí xây dựng thêm hệ thống chằng chống cho cao su... (Nông Nghiệp Việt Nam 2410) đầu trang(
Một diện tích cao su rất lớn nữa tại tỉnh Quảng Trị bị bão số 11 tiếp tục quật gãy cho thấy vấn đề quy hoạch chi tiết cũng như các chính sách và biện pháp kỹ thuật bảo vệ cho cao su phát triển bền vững đã bộc lộ nhiều điều chưa an toàn.
Sau khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng CP) ra QĐ 327 vào năm 1992 về một số chủ trương chính sách sử dụng đất trống, đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước, tỉnh Quảng Trị đã cho trồng thí điểm một số diện tích cao su tiểu điền ở hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh.
Đến năm 1996, tại kỳ họp thứ 7, HĐND tỉnh khóa III đã ra Nghị quyết 7b/NQ-HĐ "về phát triển cây công nghiệp dài ngày bằng vốn vay ngân hàng được ngân sách cấp bù lãi suất". Agribank Quảng Trị được giao trực tiếp thực hiện việc cho vay trồng mới và chăm sóc cây cao su, cà phê theo chương trình cấp bù lãi suất của UBND tỉnh. Kết quả đã cho vay trồng mới trên 4.100 ha, cho vay chăm sóc 4.700 ha cao su với tổng số tiền cho vay bù lãi suất 24 tỷ đồng.
Bước sang năm 2001, toàn bộ diện tích cao su tiểu điền được ngân sách cấp bù lãi suất đã chuyển đổi sang cho vay từ nguồn vốn của dự án Đa dạng hóa nông nghiệp do Ngân hàng Thế giới tài trợ với thời hạn cho vay 18 năm, lãi suất ưu đãi là 0,81%/tháng, có ân hạn 8 năm trong thời gian kiến thiết cơ bản.
Ngoài ưu đãi này cùng với việc giá mủ cao su trên thị trường thế giới tăng cao đã tạo động lực thúc đẩy nông dân Quảng Trị tích cực đầu tư phát triển cây cao su. Theo thống kê của Agribank Quảng Trị, từ năm 1996 đến tháng 9/2008 đã cho vay trồng mới được 7.871 ha với dư nợ (bao gồm cả cho vay phục hồi) là 83 tỷ đồng. Sau khi dự án đa dạng hóa nông nghiệp kết thúc giai đoạn một, Agribank Quảng Trị tiếp tục sử dùng vốn thương mại cho vay trồng mới và chăm sóc cao su. Đến nay dư nợ cho vay trồng và chăm sóc cao su của nông dân Quảng Trị xấp xỉ 160 tỷ đồng.
Trong 17 năm qua, tính từ 1996 đến nay Quảng Trị may mắn không phải hứng chịu một trận bão lớn nào nên cây cao su đã thực sự trở thành “cây xóa đói giảm nghèo” tốt nhất của vùng đất này. Tổng diện tích cao su được trồng tại Quảng Trị đến cuối năm 2012 đạt hơn 19 ngàn ha, trong đó diện tích cho khai thác mủ đến 10.829 ha.
Tuy nhiên qua hai cơn bão số 10 và 11, đặc biệt là cơn bão số 10 vào ngày 1/10 đã làm gãy đổ một diện tích cao su rất lớn tại Quảng Trị, đặt ra vấn đề cần nghiên cứu lại đánh giá tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt với cây công nghiệp dài ngày như cao su để hạn chế thấp nhất về thiệt hại hoặc chuyển đổi một số diện tích đất sang trồng hồ tiêu, trồng màu, trồng cỏ nuôi bò. Người dân đang rất cần các cơ quan chức năng trả lời câu hỏi trồng cao su ở tiểu vùng nào là phù hợp nhất cùng với những chính sách nông nghiệp đầy đủ hơn.
Thực tế cho thấy diện tích cao su trồng ở các xã phía đông huyện Vĩnh Linh bị gãy đổ rất nhiều. Vùng này sát biển lại không có vành đai chắn gió nên khi bão vào cây cao su càng dễ đổ hơn.
Trong khi đó theo thứ tự của địa lý tự nhiên từ hướng biển Đông vào, huyện Cam Lộ nằm sau cả huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, cách biển khoảng 40 km, lại có quy hoạch rõ ràng hai vùng phát triển cây công nghiệp khác nhau, cây lạc ở vùng đông bắc và cây cao su, hồ tiêu ở vùng tây nam, có rừng che chắn. Vậy nên khi bão số 10 vào thì rất ít diện tích cao su ở Cam Lộ bị gãy đổ, cả huyện chỉ có 78 ha cao su hư hỏng.
Tại vùng Cùa với hai xã Cam Chính, Cam Nghĩa của huyện Cam Lộ, nơi núi rừng bao quanh, cây cao su nằm giữa thung lũng lại càng không ảnh hưởng gì. Phân tích tính chất địa hình và khoảng cách địa lý để thấy rõ việc điều chỉnh lại quy hoạch chi tiết để phát triển cao su ở Quảng Trị cho phù hợp là rất cần thiết.
Ông Nguyễn Văn Bài - Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Trị cho biết, trong khó khăn của thiên tai chúng tôi xác định phải tìm một giải pháp phù hợp đối với vấn đề cây cao su. Tỉnh sẽ rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch chi tiết trồng cây cao su tại Quảng Trị, định hướng lại cây trồng phù hợp cho từng địa phương. Tổ chức lại sản xuất trên cơ sở hình thành các vùng chuyên canh phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu...
Tại hội nghị triển khai sản xuất sau bão số 10 mới đây, ông Nguyễn Đức Cường - Chủ tịch tỉnh Quảng Trị nhấn mạnh phương châm của Quảng Trị là thực hiện sản xuất đa cây, đa con, tập trung, quy mô, chuyên canh, hiệu quả, có tính hàng hóa cao. Trong phát triển cây cao su cũng như cây công nghiệp dài ngày khác phải đề cao tính bền vững, ổn định lâu dài và những biện pháp bảo vệ cho cây trồng. Hết sức chú ý quy hoạch vùng để phát triển bền vững khai thác hết thế mạnh các cây, con phù hợp với các vùng, miền.
Chúng tôi gặp gỡ nhiều nông dân trồng cao su họ nói rằng phải chi có bảo hiểm nông nghiệp thì nỗi đau sau bão số 10 sẽ nhẹ đi với bà con rất nhiều. Tỉnh Quảng Trị hiện có 56% lao động nông nghiệp, có hàng chục ngàn hộ trồng cao su, là đối tượng cần thiết được hưởng chính sách BHNN.
Nếu không có BHNN cho cao su thì khi có thiên tai xảy ra như vừa qua nông dân chỉ được hỗ trợ thiệt hại theo Quyết định 142/2009 của Chính phủ. Theo đó diện tích cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm bị thiệt hại hơn 70%, được hỗ trợ 4 triệu đồng/ha, thiệt hại từ 30 - 70%, hỗ trợ 2 triệu đồng/ha. Trong khi đó trị giá mỗi ha cao su đang cho khai thác mủ đến 300 triệu đồng. Do vậy khoản hỗ trợ 142 không đáng bao nhiêu so với thiệt hại mà người dân phải gánh chịu.
Để hạn chế những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp cũng như tìm chỗ dựa cho nhà nông, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 315/QĐ-TTg về việc thực hiện thí điểm bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2011 - 2013 tại 21 tỉnh, thành phố, trong đó không có tỉnh Quảng Trị.
Theo đó, sẽ hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại tài chính do hậu quả của thiên tai, dịch bệnh gây ra, góp phần bảo đảm ổn định an sinh xã hội nông thôn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp. Quyết định 315 hỗ trợ 100% phí bảo hiểm cho nông dân nghèo, hỗ trợ 80% cho nông dân cận nghèo và hỗ trợ 60% cho nông dân không thuộc diện nghèo, cận nghèo tham gia thí điểm BHNN. Tức là tất cả các đối tượng tham gia BHNN đều được hỗ trợ.
TS Trần Mạnh Đạt - Giám đốc Phân hiệu Đại học Huế tại Quảng Trị cho rằng khi có chủ trương về phát triển cây trồng, vật nuôi chiến lược thì cần có chính sách bảo hiểm nông nghiệp đi kèm cho nông dân.
Tỉnh Quảng Trị nên kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương sớm triển khai chính sách BHNN cho địa phương nhằm tạo điều kiện cho nông dân an tâm sản xuất. Dù chính sách còn trong giai đoạn thí điểm song rất cần sự linh hoạt với biên độ cho phép bổ sung BHNN với cây cao su để hạn chế tối đa những thiệt hại lớn cho nông dân trước thiên tai, dịch bệnh. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/10) đầu trang(
Từ ngày 19-24/10, Hội chợ triển lãm đồ gỗ nội ngoại thất High Point Market đã diễn ra tại thành phố High Point, bang North Carolina, Hoa Kỳ. Đây là hội chợ có quy mô và uy tín lớn nhất trong ngành công nghiệp đồ gỗ và trang trí nội, ngoại thất quốc tế.
Sự hiện diện tại Hội chợ cho thấy nỗ lực tham gia cạnh tranh trên thị trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên qua Hội chợ lần này, người ta có thể thấy còn rất nhiều điều phải làm để quảng bá và khẳng định thương hiệu của ngành gỗ Việt Nam tại thị trường Mỹ.
11 doanh nghiệp Việt Nam tham gia Hội chợ trong một khuôn viên chung nhất, rộng hơn 200m2. Toàn bộ 100% chi phí gian hàng, chi phí trang trí tổng thể khu trưng bày cũng như chi phí tuyên truyền, quảng bá cho các doanh nghiệp tham gia chương trình đều do Bộ Công Thương chi trả. Việc tập trung các gian hàng Việt Nam ở một khu duy nhất sẽ giúp tạo ấn tượng mạnh hơn đối với khách hàng và đối tác quốc tế.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc điều hành, Công ty Scansia cho biết: “Nếu đã nhỏ rồi mà còn phân tán nữa thì không có tầm cỡ. Đối với người Mỹ, chúng ta mà chỉ chiếm có vài chục mét vuông thì chắc không tạo được ấn tượng, gom lại như vậy sẽ làm cho người tham quan hiểu được tầm vóc của ngành công nghiệp gỗ Việt Nam”.
Ông Đào Trần Nhân, Trưởng Cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Hoa Kỳ cho biết thêm: “Chúng ta có một gian hàng lớn, tổng thể của Việt Nam, phía khách hàng sẽ thấy được sự đa dạng, phong phú của mặt hàng Việt Nam cũng như thiết kế, trang trí nội thất. Như thế sẽ có thuận lợi hơn nhiều”.
Tại hội chợ, khu trưng bày của các doanh nghiệp Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khách tham quan nhờ các lợi thế tốt về chất liệu, đẹp về kiểu dáng và cạnh tranh về giá cả.
Ông Rich Kyle, Khách hàng nói: “Tôi thấy giá cả cũng như chất lượng đều rất tốt. Tôi nghĩ rằng tôi có thể hợp tác kinh doanh với các đối tác Việt Nam mà tôi gặp hôm nay. Và tôi cũng rất mong muốn được hợp tác kinh doanh với Việt Nam vì tôi rất muốn đến Việt Nam mà chưa có cơ hội. Tuy nhiên, cũng có một số thông tin tôi tìm kiếm nhưng chưa có và tôi cần phải chờ để có những trao đổi và thông tin cụ thể trước khi có thể quyết định hợp tác”.
Hội chợ High Point Market diễn ra hai lần một năm, với tổng diện tích trưng bày là 900.000 m2 và sự tham gia của khoảng 2.000 doanh nghiệp từ hơn 100 quốc gia khác nhau. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài, thay vì chỉ tham gia vào hai mùa hội chợ, các khu trưng bày của họ được thuê cố định và mở cửa quanh năm. Đây là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam chưa làm được.
Bà Bùi Thị Thanh An, Phó Cục trưởng, Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương cho rằng: “Nếu chúng ta có thể duy trì gian hàng ở đây lâu dài thì khách hàng sẽ biết có các nhà xuất khẩu Việt Nam, nhà sản xuất Việt Nam tại một địa điểm liên tục tại Hội chợ đồ gỗ High Point trong suốt trong và ngoài mùa hội chợ, họ có thể đến bất cứ lúc nào ngay tại Showroom của Việt Nam”.
Năm 2012, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam vào Mỹ là 1,8 tỷ USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu gỗ. Thị trường Mỹ được dự báo sẽ tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực của đồ gỗ Việt Nam trong những năm tới với tốc độ tăng trưởng từ 15-20%/năm. Những nỗ lực thể hiện và khẳng định mình tại các hội chợ quốc tế lớn như thế này được kỳ vọng là một trong những hoạt động nhằm hiện thực hóa các dự báo đó. (VTV 25/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh vừa biểu dương trong toàn ngành 3 cán bộ tại Hạt Kiểm lâm huyện Hương Sơn vì đã có hành động dũng cảm vượt lũ dữ cứu sống 8 người dân thoát khỏi tử thần.
Ba cán bộ kiểm lâm thuộc Hạt kiểm lâm huyện Hương Sơn được lãnh đạo Chi cục kiểm lâm Hà Tĩnh tuyên dương là Hạt phó Lê Thanh Hải và hai kiểm lâm viên Lê Văn Sâm, Đào Đức Giang.
Ông Nguyễn Văn Thành, Hạt trưởng Hại kiểm lâm huyện Hương Sơn cho biết, chiều ngày 16/10, cán bộ trực của đơn vị nhận được điện thoại gấp của chính quyền xã Sơn Bằng đề nghị hỗ trợ ứng cứu nhiều hộ dân đang bị mắc kẹt trong cơn lũ. Dù chưa kịp ăn uống sau cả buổi sáng cùng đơn vị hỗ trợ người dân trên địa bàn di chuyển đổ đạc đi tránh lũ, anh Lê Thanh Hải cùng hai kiểm lâm viên là Lê Văn Sâm, Đào Đức Giang đã xin lệnh, nhanh chóng lên đường.
Lúc này sông Ngàn Sâu nước dâng cao, chảy xiết, rác, gỗ tuồn về rất nguy hiểm, nhưng anh Hải, anh Sâm và anh Giang đã dũng cảm cho thuyền vượt lũ dữ, luồn lách qua các khu vườn ngập nước tìm đến vị trí các hộ dân bị nước bủa vây. Chuyến đầu tiên, sau gần 2 tiếng đồng hồ cả 3 anh đưa đưa 5 người dân đang bị mắt kẹt ở gác xép tránh lũ của hai ngôi nhà ra khỏi vùng nguy hiểm.
Vừa cứu được 5 người dân đến nơi an toàn, 3 cán bộ kiểm lâm này lại nhận được thông tin còn 3 hộ dân khác ở Sơn Bằng bị mắc kẹt, nếu không kịp thời ứng cứu sẽ bị nước lũ cuốn trôi. Không ngại hiểm nguy, cả 3 cán bộ này lại vượt lũ dữ, tìm đến địa chỉ có người cầu cứu.
Lúc này trời tối, mưa mỗi lúc một nặng hạt, việc di chuyển cứu người bằng thuyền rất nguy hiểm. Trên đường băng lũ, người cầm lái là kiểm lâm viên Lê Văn Sâm bị cành cây đâm thẳng vào chân gây chấn thương, máu chảy nhiều. Dù vậy, 3 kiểm lâm trên vẫn dũng cảm đi thuyền tới nơi 3 người dân bị mắc kẹt, lần lượt đưa từng người xuống thuyền đưa về đơn vị lánh nạn.
Ngay sau đó, kiểm lâm Viên Lê Văn Sâm đã được đơn vị đưa đến một trạm y tế sơ cứu, 2 kiểm lâm viên còn lại tiếp tục cùng đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp dân phòng chống, khắc phục hậu quả trận lũ dữ gây ra.
Ngay sau khi biết thông tin, đích thân ông Nguyễn Huy Lợi, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT kiêm Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hà Tĩnh đã trực tiếp có mặt tại Hạt kiểm lâm huyện Hương Sơn thăm, tặng quà cho 3 cán bộ kiểm lâm nói trên.
Ông Lợi cho biết, tại cuộc họp mới nhất giữa lãnh đạo chi cục với các hạt trưởng các huyện vào sáng ngày 22/10, ông đã biểu dương hành động dũng cảm cứu người của 3 cán bộ nêu trên, đồng thời giao các phòng ban, các hạt trưởng phải thông tin trên diện rộng để cán bộ, nhân viên học tập, noi gương. (Dân Trí 24/10) đầu trang(
Ngày 24/10, Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam đã cùng khởi động chương trình phục hồi rừng ở dãy Trường Sơn, khu vực biên giới Lào và Việt Nam.
Thông báo từ WWF cho biết, chương trình phục hồi rừng được tiến hành tại 20 xã thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam. Trong đợt trồng rừng này, các cây bản địa sẽ được trồng mới trên 200 ha và xúc tiến tái sinh rừng tại hơn 430ha. Trong năm 2014, chương trình sẽ tiếp tục trồng thêm cây bản địa trên 250ha và xúc tiến tái sinh rừng tại 2.970ha, cũng tại khu vực trên.
Trung Trường Sơn là một trong những nơi có độ đa dạng sinh học cao trong khu vực và trên thế giới, với rất nhiều loài thú quý hiếm chỉ có thể tìm thấy tại khu vực này như sao la, voọc, mang Trường Sơn, mang lớn và thỏ vằn... Tuy nhiên, việc rừng bị tàn phá cùng với hoạt động săn bắn trái phép đang đẩy nhiều loài tới nguy cơ bị tuyệt chủng. Nếu không có những nỗ lực tái tạo rừng, hệ sinh thái khu vực sẽ không thể phục hồi. (Công An Nhân Dân 25/10; Sài Gòn Tiếp Thị 25/10; An Ninh Thủ Đô 25/10; VietnamPlus.vn 25/10; Dangcongsan.vn 25/10; Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn 25/10; Nhân Dân 25/10) đầu trang(
Đề án khung và Danh mục các nhiệm vụ bảo tồn nguồn gen cấp tỉnh thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2020, với kinh phí dự toán khoảng 8 tỷ đồng vừa được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt, và giao Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Sở NN&PTNT, Sở Y tế, các cơ quan đơn vị liên quan tổ chức thực hiện.
Theo đó, sẽ bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen quý, hiếm, có giá trị đặc biệt về kinh tế, xã hội, y học, khoa học, môi trường phục vụ phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Nam. Trong đó chú trọng bảo tồn, khai thác và phát triển nguồn gen sâm Ngọc Linh, quế Trà My, ba kích Tây Giang, trụ lông Đại Bình, tiêu Tiên Phước, song mật, ngô nếp Hội An, lúa rẫy, heo, gà địa phương. (Quangnam.gov.vn 25/10) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm tỉnh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tổ chức, gia đình gây nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) theo đúng quy định của pháp luật.
Khoảng 5 năm gần đây, phong trào nuôi ĐVHD trong tỉnh phát triển rất nhanh, do ĐVHD là loài dễ nuôi, có sức đề kháng tốt, dễ bán, lại được giá, loài nuôi phù hợp với qui mô kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại. Nuôi ĐVHD không chỉ giúp cho các hộ dân có thu nhập cao, tạo việc làm mà còn là cách để giảm áp lực việc săn bắt động vật hoang dã trong tự nhiên, bảo vệ nhiều loài động vật hoang dã trước nguy cơ bị tuyệt chủng…
Trong tỉnh hiện có hơn một nghìn tổ chức, cơ sở đăng ký gây nuôi sinh sản, sinh trưởng ĐVHD. Nhiều mô hình thành công mang lại hiệu quả kinh tế cao như hộ ông Hồng, ông Thuật, ông Trúc… nuôi rắn ở Lâm Thao, đặc biệt trang trại nuôi rắn của hộ anh Trần Trọng Cảnh ở khu 4, xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao có chi phí chuồng trại ban đầu lên tới hàng trăm triệu đồng, đây cũng là gia đình nuôi rắn có qui mô lớn nhất trong tỉnh.
Gây nuôi sinh sản ĐVHD là một trong những biện pháp để bảo tồn nguồn gen, giảm áp lực lên việc săn bắn động vật hoang dã ngoài tự nhiên, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân.
Để quản lý việc gây nuôi ĐVHD đúng qui định của pháp luật, hàng năm Chi cục Kiểm lâm tiến hành kiểm tra tổng thể đối với các cơ sở gây nuôi ĐVHD, kiểm tra đột xuất các quán ăn, nhà hàng đặc sản, phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp sai phạm. Tuy nhiên, vẫn còn một số hộ chưa thực hiện việc đăng ký gây nuôi hoặc xuất bán ĐVHD không khai báo với cơ quan chức năng.
Qua các đợt kiểm tra, Chi cục Kiểm lâm đã lập biên bản và yêu cầu các cơ sở thực hiện đúng các quy định về gây nuôi ĐVHD; xử lý nghiêm, đúng quy định pháp luật đối với các tổ chức, cơ sở không chấp hành, đồng thời thường xuyên tuyên truyền cho các hộ dân nắm rõ qui định của nhà nước khi gây nuôi ĐVHD (vì đây là ngành chăn nuôi có điều kiện).
Về con giống phải có nguồn gốc rõ ràng, hợp pháp; được UBND xã (phường) nơi đăng ký gây nuôi ĐVHD đồng ý cho đặt trại nuôi; chuồng trại phù hợp với đặc tính của loài nuôi và năng lực sản xuất của trại nuôi, an toàn cho người và vật nuôi; đảm bảo các qui định về vệ sinh môi trường, phòng ngừa dịch bệnh.
Tại cơ sở, Chi cục Kiểm lâm đã giao cho các Hạt Kiểm lâm thường xuyên theo dõi, kiểm tra các tổ chức, cơ sở nuôi ĐVHD trong việc khai báo nhập, xuất ĐVHD; việc ghi chép sổ sách khi nhập và xuất bán, các phát sinh tăng, giảm đàn...(có chữ ký của cán bộ Kiểm lâm địa bàn). Hiện tại 100% tổ chức, cơ sở gây nuôi có sổ theo dõi trại nuôi ĐVHD và tham gia ký cam kết thực hiện đúng các qui định của nhà nước về nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ ĐVHD.
Nuôi ĐVHD là chương trình chăn nuôi mới, nắm rõ các qui định của Nhà nước, có sự đầu tư về vốn, sự hiểu biết đầy đủ về đặc tính của loài nuôi, có định hướng rõ ràng, chắc chắn phong trào gây nuôi ĐVHD của tỉnh nói riêng, của cả nước nói chung sẽ phát triển, không những góp phần tích cực vào phát triển kinh tế rừng, tạo việc làm cho người dân, góp phần phát triển kinh tế hộ, mà còn góp phần bảo tồn quĩ gen và đa dạng sinh học ở Việt Nam. (Báo Phú Thọ 25/10) đầu trang(
Nếu như trong 2 năm đầu của nhiệm kỳ 2011-2015, mỗi năm toàn tỉnh trồng mới được xấp xỉ 9.000ha rừng, thì vụ trồng rừng năm 2013 đã có bước tiến vượt bậc với tổng số diện tích trồng mới là 11.049ha, vượt 22,8% so với kế hoạch.
Đây được coi là nền tảng vững chắc để toàn tỉnh bước vào vụ trồng rừng 2014, được coi là năm tăng tốc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV.
Được coi là năm bản lề thực hiện kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011-2015, chỉ tiêu trồng rừng năm 2013 tỉnh giao kế hoạch 9.000ha, cao hơn 2 năm đầu nhiệm kỳ 1.000ha. Tuy chỉ tiêu tăng, nhưng thuận lợi cơ bản của vụ trồng rừng là nguồn vốn của Trung ương phân bổ cho kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của Lạng Sơn có tăng hơn so với năm trước (30 tỷ đồng).
Như vậy trong chỉ tiêu trồng mới 9.000 ha rừng, thì nguồn ngân sách Trung ương đã đủ trồng 4,1 nghìn ha. Ở nội dung trồng cây phân tán, cũng như hàng năm, ngân sách tỉnh vẫn tiếp tục phân bổ cho các địa phương đảm bảo trồng mới 3.000ha rừng. Điều này có nghĩa là 7,1 nghìn ha rừng đã có vốn để triển khai thực hiện. Số diện tích còn lại được kỳ vọng từ phong trào trồng cây nhân dân, các doanh nghiệp và các huyện tự cân đối từ nguồn vốn sự nghiệp nông nghiệp.
Tuy nhiên phân tích kỹ từng chỉ tiêu thì vụ trồng rừng năm nay vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Bà Nguyễn Thị Kim Loan, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển lâm nghiệp cho biết: chỉ tiêu trồng cây phân tán vẫn tiếp tục vượt cao, nhưng không đồng đều ở các địa phương, chẳng hạn như huyện Văn Lãng không thể hoàn thành chỉ tiêu này và phải điều chuyển sang cho Tràng Định triển khai.
Trong khi đó chỉ tiêu trồng rừng tập trung cũng mới chỉ đạt 77,2% kế hoạch giao. Hiện nay ngành chuyên trách đang tích cực tham mưu cho các địa phương và cấp có thẩm quyền các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế này. Bước sang năm 2014, dự kiến kế hoạch trồng rừng sẽ tiếp tục tăng ở mức 9.500ha.
Tuy nhiên cũng như năm nay, dự kiến các nguồn vốn ngân sách đủ để trồng trên 7.000ha, như vậy chỉ còn hơn 2.000ha phải huy động các nguồn lực ngoài ngân sách. Nếu tiếp tục triển khai tốt công tác xã hội hóa nghề rừng thì con số này không đáng lo ngại. Hiện nay các vườn ươm trên địa bàn tỉnh cũng đã gieo tạo được trên 26 triệu cây con giống, sẵn sàng cho vụ trồng rừng năm sau. (Báo Lạng Sơn 25/10) đầu trang(
Thời điểm này, cùng với các địa phương khác trên toàn tỉnh, huyện Chợ Mới đang tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để phục vụ công tác trồng rừng năm 2014.
Năm 2014, huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng hơn 1.200ha rừng. Để chuẩn bị cho công tác trồng rừng, công nhân của lâm trường huyện Chợ Mới và người dân các địa phương đã tích cực đóng bầu để tra hạt, ươm giống vào đầu tháng 11 tới. Cơ cấu giống cây trồng rừng trong năm tới của huyện chủ yếu vẫn là cây keo chiếm hơn 80% còn lại là cây mỡ và một số cây khác như: hồi, lát.
Tuy nhiên, theo đánh giá của huyện Chợ Mới, đến thời điểm này, số lượng các hộ dân đăng ký trồng rừng mới chỉ đạt gần 60% kế hoạch. Cùng với việc làm tốt công tác chuẩn bị cây giống cho vụ trồng rừng mới, chính quyền địa phương cũng đang chú trọng thực hiện nhiều giải pháp nhằm tiêu thụ tốt gỗ rừng trồng đã đến tuổi khai thác nhằm giải phóng đất trồng rừng cho người dân. (Đài PT - TH Bắc Kạn 25/10) đầu trang(
Đó là ý kiến của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Lê Huy Bá, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành phát biểu tại buổi toạ đàm về chiến lược phát triển vùng Tây Nguyên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 do Ban Chỉ đạo Tây Nguyên phối hợp cùng với Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (TPHCM) tổ chức mới đây tại thành phố Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk).
Theo giáo sư Lê Huy Bá, Tây Nguyên có tổng diện tích tự nhiên trên 5,4 triệu ha và cũng là vùng có diện tích đất đang sử dụng chiếm tỷ lệ cao (81,5%), đứng thứ 4 trong 7 vùng ở nước ta. Địa hình đất Tây Nguyên là một phức hợp núi, cao nguyên, trũng giữa và đồng bằng. Tài nguyên đất ở Tây Nguyên khá đa dạng, đặc biệt có 1,3 triệu ha đất đỏ bazan với hàm lượng chất hữu cơ, đạm, lân, kali…cao, cho phép phát triển nhiều loại cây trồng, nhất là cây công nghiệp dài ngày như cà phê, hồ tiêu, cao su, điều, chè, dâu tằm, cây ăn quả.
Tuy nhiên, trong thời gian qua do việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp diễn ra quá mạnh, tràn lan, cộng với các cấp chính quyền buông lỏng công tác quản lý bảo vệ rừng nên làm cho diện tích rừng, đất rừng ngày càng thu hẹp. Mặt khác, do canh tác không khoa học, không hợp lý nên làm cho thảm thực vật (tấm áo bảo vệ mặt đất) bị lột đi nhanh chóng kéo theo tình trạng xói mòn, rửa trôi đất ở Tây Nguyên ngày càng nhiều.
Theo Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường Đắk Lắk, ở độ dốc từ 5 đến 8 độ, với lượng mưa hàng năm 1.905 mm, trên 1 ha nương rẫy, lượng đất bị rửa trôi lên đến 95,1 tấn/năm, trên đất trồng ngô là 105,7 tấn, trên đất trồng cà phê có 2 năm tuổi 69,2 tấn… gấp rất nhiều lần so với nơi có rừng (rừng tái sinh 12 tấn, rừng nguyên sinh chỉ có dưới 6 tấn).
Cũng theo các nhà khoa học, qua tổng kết nhiều điểm quan trắc trên các độ dốc và các vùng đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên cũng cho thấy lượng chất dinh dưỡng trung bình hàng năm trên 1 ha đất sản xuất bị cuốn trôi rất lớn. Theo tính toán sơ bộ, mỗi năm đất Tây Nguyên bị tụt trôi xuống sông Mê Kông và sau đó bị đẩy ra biển Đông lên đến hàng trăm triệu tấn và kèm theo với đất là hàng vạn tấn màu mỡ, chất hữu cơ khác….
Ngoài ra, độ che phủ rừng ở Tây Nguyên ngày bị suy giảm đã làm cho lượng nước ngầm trong đất cũng bị suy kiệt, độ ẩm của đất giảm, các vi sinh vật trong đất mất theo. Đây cũng là lý do khiến cho đất canh tác nhanh bạc màu, xói mòn. Thậm chí, nhiều nơi ở khu vực Tây Nguyên đã có biểu hiện của sự sa mạc hóa, hạn hán quanh năm, cây trồng bị khô cằn không phát triển.
Các nhà khoa học đã đề xuất các tỉnh Tây Nguyên cần hạn chế việc chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên sang mục đích sử dụng khác, tăng cường đầu tư trồng mới rừng để phủ xanh đất trống, đồi trọc. Các tỉnh Tây Nguyên cũng bố trí lại cơ cấu cây trồng hợp lý, canh tác khoa học, nhất là hạn chế việc phát triển cây cà phê, đồng thời thực hiện việc đa dạng hoá cây trồng trong các vườn cà phê để giữ vững cân bằng sinh thái, hạn chế tài nguyên đất bị rửa trôi, thoái hóa góp phần tạo điều kiện cho Tây Nguyên phát triển kinh tế, xã hội bền vững. (Tin Tức 25/10) đầu trang(
Trong hơn 13 năm (từ 2000 – 6/2013), rừng Hà Giang đã được đầu tư từ nhiều Chương trình, dự án của Trung ương; chủ yếu là Chương trình 327, Chương trình 661, Chương trình 135, Chương trình phục hồi và phát triển rừng tại 4 huyện vùng cao nguyên đá....Nhờ đó, độ che phủ của rừng không ngừng được tăng lên từ 39,9 % năm 2000 cho tới thời điểm cuối tháng 6/2013 đạt trên 55,6 %.
Hiện nay, trên địa bàn Hà Giang có trên 40 nghìn ha rừng tự nhiên với trữ lượng lâm sản lớn và đa dạng về chủng loại đang được triển khai bảo vệ nghiêm ngặt; trên 21 nghìn ha rừng tái sinh được khoanh nuôi, phục hồi và phát triển; trên 1.600 ha các loại cây bản địa như thông nhựa, bồ đề, xa mộc; và khoảng 2.100 ha cây công nghiệp và các loại cây dược liệu quý như đỗ trọng, thảo quả, xuyên khung...
Trên các cánh rừng tự nhiên, ngoài các loại gỗ quý hiếm như gỗ đinh, nghiến, kháo đá, thông đá, pơ mu, các cánh rừng của Hà Giang còn có nhiều loại cây nguyên liệu phục vụ cho sản xuất giấy như mỡ, tre, nứa và các loại song mây phục vụ cho xuất khẩu.
Trong những năm qua, nhờ chính sách đầu tư phát triển rừng của Trung ương và những định hướng trong công tác bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng của tỉnh Hà Giang như chính sách giao rừng và đất rừng đến hộ và nhóm hộ gia đình, chính sách hỗ trợ lương thực cho các hộ trồng rừng, bảo vệ rừng, chính sách hỗ trợ chất đốt cho đồng bào vùng cao nguyên đá...đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tình trạng đốt rừng làm nương rẫy được chấm dứt và các cánh rừng được bảo vệ tốt hơn.
Để thúc đẩy công tác phát triển rừng, tỉnh Hà Giang đã ưu tiên mở rộng và phát triển hệ thống đường giao thông tại các vùng qui hoạch phát triển rừng và các cánh rừng. Đây là cơ sở để phục vụ nhu cầu đi lại, chăm sóc, bảo vệ, tu bổ và khai thác các sản phẩm từ rừng với khối lượng ngày càng lớn.
Ngoài ra, do diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng còn khá lớn (vào khoảng 58.230 ha), tỉnh Hà Giang thực hiện chủ trương khuyến khích hộ và nhóm hộ, các doanh nghiệp đầu tư phát triển trồng rừng theo mô hình nông – lâm kết hợp, khuyến khích các cá nhân và tập thể phát triển và mở rộng mô hình kinh tế trang trại nhất là trang trại trồng rừng cây nguyên liệu.
Theo tổng kết đánh giá của UBND tỉnh Hà Giang: Sau hơn 13 năm phục hồi và phát triển rừng, độ che phủ của rừng trên địa bàn Hà Giang không ngừng được nâng lên; tài nguyên rừng ngày càng đa dạng về chủng loại, trữ lượng lâm sản ngày càng lớn. Điều đó đã góp phần quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng cũng như công cuộc xoá đói giảm nghèo đối với một tỉnh miền núi biên giới còn nhiều khó khăn nơi cực Bắc của Tổ quốc. (Hagiang.gov.vn 24/10) đầu trang(
VQG Xuân Thủy (Nam Định) là khu RAMSAR đầu tiên của nước ta có hệ động thực vật khá phong phú và đa dạng. Nhờ có chính sách quản lý phù hợp, đồng thời chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý thuộc các tổ chức phi Chính phủ giúp người dân địa phương phát triển kinh tế, VQG Xuân Thủy đã giảm được sức ép khai tài nguyên và môi trường của cộng đồng nơi đây, được người dân ủng hộ và đồng thuận cao trong việc phát triển tài nguyên môi trường biển.
Theo ông Phan Văn Phong, Phó Giám đốc Sở TN&MT tỉnh Nam Định: Vườn Quốc gia Xuân Thủy có trên 120 loài thực vật bậc cao, trong đó có gần 20 loài thích nghi với điều kiện sống ngập nước hình thành nên hệ thống rừng ngập mặn rộng trên 3.000ha; trên 220 loài chim, trong đó có trên 150 loài chim di cư, 50 loài chim nước và có 9 loài nằm trong Sách đỏ quốc tế. Ngoài là điểm dừng chân, cung cấp nguồn thức ăn của các loài chim di trú, Vườn còn là khu bảo tồn giống rất giàu tiềm năng của ngành hải sản.
Sự thuận lợi về điều kiện tự nhiên cũng chính là lý do Vườn Quốc gia Xuân Thủy phải đối diện với những khó khăn trước áp lực về nuôi trồng và khai thác nguồn lợi thủy sản nói riêng, tài nguyên và môi trường nói chung. Do dân số thuộc các xã vùng đệm tương đối đông và chủ yếu làm nông nghiệp, nên buộc họ phải khai thác 2.000ha vùng bãi bồi ven biển làm đầm nuôi tôm, trên 500ha nuôi thả đánh bắt cá (vây Vạng). Song đa số các hộ nghèo vẫn phải sống dựa vào nguồn đánh bắt thủy sản tự nhiên ở vùng lõi của Vườn Quốc gia.
Vì vậy, sau khi Vườn Quốc gia Xuân Thủy được giao cho Nam Định quản lý, UBND tỉnh đã cụ thể hóa công tác quy hoạch, quản lý và bảo vệ Vườn, trong đó có Quyết định 1853/2009 về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng đất ngập nước ven biển để thả nuôi và khai thác các loại nhuyễn thể.
Trên cơ sở đó, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã phối hợp với các tổ chức phi Chính phủ, chính quyền địa phương và cộng đồng phát triển các tour tuyến, điểm du lịch sinh thái bền vững. Mô hình du lịch sinh thái cộng đồng được hình thành tại xã Giao Xuân và đang hoạt động với hiệu quả cao. Trong thời gian tới, mô hình du lịch sinh thái cộng đồng cũng sẽ được xây dựng tại xã Giao Thiện.
Các tuyến du lịch đang được tiến hành ở khu vực Vườn Quốc gia gồm tuyến xem phim, tuyến du thuyền cửa sông, tuyến đi bộ qua các đầm nuôi tôm và tuyến du lịch đồng quê. Những tuyến du lịch cộng đồng này đã và đang huy động đông đảo người dân địa phương tham gia, họ trực tiếp là người hướng dẫn, cũng cấp dịch vụ nên có điều kiện tăng thu nhập, kể cả sản xuất các sản phẩm truyền thống bán cho du khách.
Bên cạnh đó, người dân các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Thủy còn phát triển mạnh nuôi tôm theo hình thức quảng canh cải tiến, mà không phải bổ sung thức ăn công nghiệp. Trong các đầm nuôi tôm vẫn duy trì diện tích rừng ngập mặn nhất định tạo bóng râm cho tôm cá trú ẩn.
Đặc biệt, trên tổng diện tích 1.500ha mặt nước bán ngập tại Vườn thuộc vùng phục hồi sinh thái đã được quy hoạch nuôi ngao. Với 3 loại hình sản xuất là nuôi ngao thịt, chuyên ươm ngao giống và khai thác giống tự nhiên. Năm 2005, huyện Giao Thủy đã cho sinh sản giống ngao bằng phương pháp nhân tạo thành công, đến nay đã đáp ứng được 40% ngao giống tại chỗ. Riêng năm 2011 sản xuất tới 3 tỷ ngao cám. Sản phẩm ngao của huyện Giao Thủy nói riêng và tỉnh Nam Định nói chung, đã được EU công nhận là thực phẩm an toàn cấp B liên tục kể từ năm 2004.
Bên cạnh đó, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đang phối hợp với các tổ chức phi Chính phủ như IUCN, MEF, MCD, WAP xây dựng cơ chế đồng quản lý rừng ngập mặn. Theo cơ chế này, cộng đồng sẽ được tập hợp thành các tổ nhóm và được giao một diện tích rừng ngập mặn nhất định để khai thác thủy sản. Đây là cơ chế giúp cho công tác quản lý đạt hiệu quả cao, vừa giúp cộng đồng nhất là người nghèo và phụ nữ có nguồn thu nhập ổn định, do biết sử dụng khôn khéo đất ngập nước mang lại, vừa bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên của Vườn… (Tài Nguyên&Môi Trường 24/10) đầu trang(
Có diện tích đất lâm nghiệp cao thứ hai trong tỉnh, những năm qua, huyện Sơn Động đã chú trọng đầu tư phát triển kinh tế rừng. Trồng cây lấy gỗ, khai thác lâm sản phụ, người dân có việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống.
Quốc lộ 279 đoạn từ thị trấn An Châu đến xã Long Sơn quanh co, uốn lượn theo triền núi. Nơi đây được ví như con đường xanh bởi hai bên là những cánh rừng rộng lớn. Rừng kinh tế bạt ngàn thông, keo, bạch đàn, rừng phòng hộ tán lá ken dày với nhiều tầng nấc che chở cho muông thú.
Anh Ngọc Văn Dân, Phó Chủ tịch xã Long Sơn cho biết: "Long Sơn bây giờ không còn đất trống, đồi núi trọc. Toàn xã có gần hai nghìn ha rừng kinh tế. Khai thác đến đâu, người dân chuẩn bị hiện trường trồng lại ngay đến đó. Một số hộ mua ô tô, làm nhà mới, mở cửa hàng nhờ có tiền bán gỗ. Ngoài nguồn lợi từ rừng trồng, bà con còn có thu nhập khá từ lâm sản phụ như ba kích, nấm lim, nhựa thông, măng tre”.
Sinh sống ở thôn Thượng, xã Long Sơn, trước đây ông Ngọc Văn Nạp chưa chú trọng đến trồng rừng vì thiếu vốn, lo ngại đầu ra bấp bênh. Năm 1999, được cán bộ ngành lâm nghiệp đến vận động và cấp miễn phí cây giống, ông trồng 3,8 ha thông.
Vài năm sau, thấy thị trường lâm sản khởi sắc, gỗ ngày càng được giá, tiêu thụ dễ dàng, ông mở rộng diện tích, đến nay có tổng số 15 ha rừng nguyên liệu. Mỗi năm, ông bán 2 ha keo 5 năm tuổi, thu lãi hơn 70 triệu đồng. Diện tích trồng thông ông coi như "của để dành”, dự định 6 năm nữa mới khai thác, nhẩm tính sẽ có số tiền vài trăm triệu đồng.
Cũng như Long Sơn, gần đây, kinh tế rừng ở xã Dương Hưu có chuyển biến tích cực. Đảng uỷ xã đã chỉ đạo chính quyền, các đoàn thể cơ sở vận động, hướng dẫn nhân dân trồng rừng, ươm cây giống tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển. Đến nay, Dương Hưu có hơn 3.500 ha rừng kinh tế, trong đó một nghìn ha đến tuổi khai thác.
Gia đình ông Bàn Vũ Quyền, thôn Mùng, xã Dương Hưu đầu tư vốn trồng 25 ha keo. Vừa qua, ông đã khai thác hơn chục ha, thu lợi nhuận gần 350 triệu đồng. Nguồn thu từ rừng giúp gia đình ông Quyền và nhiều hộ khác trong xã có cuộc sống no ấm, sung túc, thúc đẩy thương mại, dịch vụ phát triển. Đến nay, toàn xã có gần 40 ô tô tải đáp ứng nhu cầu vận chuyển gỗ.
Với hơn 60 nghìn ha rừng và đất lâm nghiệp, Đảng bộ, chính quyền huyện Sơn Động coi đây là thế mạnh và lựa chọn kinh tế rừng là hướng đi mũi nhọn. Giai đoạn 2006 - 2010, toàn huyện trồng hơn 9 nghìn ha rừng tập trung và 446 ha cây phân tán; khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh gần 24 nghìn ha. Những kết quả đó đã tạo tiền đề cho kinh tế rừng ở Sơn Động phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
Tháng 9 - 2011, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã ban hành Nghị quyết về "Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt giai đoạn 2011 - 2015”, tập trung thực hiện các giải pháp: Đẩy mạnh giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình; khuyến khích tích tụ đất để hình thành các vùng nguyên liệu tập trung… Đến nay, tỷ lệ che phủ của rừng ở Sơn Động đạt 74,5%, vượt 4,5% so với mục tiêu đề ra. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/10, tr20) đầu trang(
Năm 2013, người dân huyện Khánh Vĩnh đã rất chú trọng đến việc phát triển mở rộng diện tích rừng, đặc biệt là rừng keo. So với một số cây trồng khác thì trồng keo vốn đầu tư thấp nhưng đầu ra khá thuận lợi, giá cả ổn định. Cây keo đang được hàng trăm hộ dân trên địa bàn Khánh Vĩnh tập trung đầu tư để nâng cao cuộc sống, góp phần phủ xanh đồi núi.
Sau khi Chương trình 132 kết thúc, huyện Khánh Vĩnh tiếp tục được tỉnh đầu tư Chương trình 147. Trong 3 năm, chương trình này đã cấp phát cho dân trên 900 ngàn cây giống trồng trên diện tích trên 246 ha. Nhờ sự đầu tư từ phía Nhà nước và người dân, diện tích rừng tăng hàng năm.
Đến năm 2013, theo thống kê chưa đầy đủ, toàn huyện có khoảng 4000 ha rừng keo từ 1 - 4 năm tuổi, độ che phủ rừng hiện nay đạt 72,4 %. Tuy nhiên, vấn đề chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng và chăm sóc để năng cao năng suất cây trồng cần được quan tâm hơn.
Anh Cao Xuân Thiện - Chủ tịch Hội Nông dân Khánh Vĩnh đề xuất: "Huyện cần quan tâm đến việc tổ chức các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật trồng keo cho nông dân, xây dựng các vườn ươm cây giống đạt chuẩn, khuyến khích nông dân đưa giống keo cây mô vào trồng. Nên tính đến việc tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp đầu tư xây dựng khu sản xuất chế biến gỗ và bột giấy tại chỗ. Đồng thời khuyến cáo nông dân chọn giống cây phù hợp cho năng xuất cao hơn để trồng". (Đài PT - TH Khánh Hòa 25/10) đầu trang(
Trong khi nhiều địa phương trong tỉnh không đạt kế hoạch trồng mới cao su năm 2013 do vật tư đầu vào tăng, giá mủ cao su xuống thấp, thì huyện Cẩm Thủy vượt kế hoạch trồng mới cao su. Năm 2013, huyện đặt ra mục tiêu trồng mới 80 ha cao su.
Với quyết tâm thực hiện trồng mới diện tích cao su vượt so với kế hoạch đề ra, huyện đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả ngay từ những ngày đầu vụ như: Rà soát diện tích có thể sử dụng trồng cao su để đưa vào quy hoạch; tuyên truyền, vận động, mở các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cao su mới trồng cho các hộ có diện tích trồng cao su.
Bên cạnh đó, tổ chức cho nhân dân tiến hành đào hố trước khi trồng khoảng 1 tháng và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện chờ thời tiết thuận lợi là tiến hành trồng nhằm bảo đảm tỷ lệ cây sống cao. Tăng cường công tác kiểm định giống cao su nhằm bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng trước khi đem trồng. Nhờ vậy, kết thúc vụ trồng cao su năm 2013, toàn huyện đã trồng mới được 109 ha cao su, vượt 29 ha so với kế hoạch.
Hiện tại, huyện đang thực hiện rà soát, quy hoạch quỹ đất trồng mới cao su cho những năm tiếp theo. Dự kiến, năm 2014, huyện sẽ phấn đấu thực hiện trồng mới 60 ha cao su. (Báo Thanh Hóa 25/10) đầu trang(
Hàng trăm người dân từ nhiều tỉnh, thành đang đổ xô vào vùng rừng hẻo lánh thuộc xã Cư K'lông, huyện Krông Năng để khai thác đá quý saphia và thạch anh tinh thể vì... tin đồn.
Hơn một tháng qua, hàng trăm người dân từ các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu... tràn vào tiểu khu 300 thuộc xã Cư K'lông, huyện Krông Năng khai thác thạch anh tinh thể và đá quý saphia. Tại khu vực suối Ea Bal, lực lượng chức năng đã phát hiện lán trại kiên cố bằng khung thép lợp tôn, một số máy nổ, dàn sàng...
Có khoảng 1ha đã bị đào bới nham nhở, mật độ giếng đào tìm đá quý dày đặc, bề mặt địa hình bị biến dạng. Một ngọn đồi cao khoảng 900m so với mực nước biển bị khoét sâu vào sườn, đất đá sạt xuống bồi lấp ruộng của dân, tràn ra suối gây ô nhiễm nguồn nước. Khu vực thứ hai thuộc thượng nguồn suối Ea Kul, nằm trên núi cao (trung bình khoảng 1.000m so với mực nước biển) cũng bị đào bới với chiều dài 500m dọc theo bờ suối, các giếng đào vẫn còn mới nguyên.
Sở TNMT Đăk Lăk cho biết, thực tế chưa có cơ sở khẳng định tiểu khu 300 có đá quý saphia hay thạch anh tinh thể, qua công tác nắm tình hình cũng chưa thấy ai đào được viên đá nào. Nạn đào bới trái phép trong khu vực trên bùng phát do những vi phạm về sử dụng đất đai của Hợp tác xã Nông nghiệp - Kinh doanh tổng hợp Trương Sơn (HXT Trường Sơn).
Được UBND tỉnh Đăk Lăk ra quyết định cho thuê hơn 300ha đất để đầu tư trồng rừng, nhưng đơn vị này lại bán đất trái phép cho ông Nguyễn Hồng Hải - trú tại tỉnh Cà Mau. Ngay sau khi mua đất, ông Hải đã đưa phương tiện, máy móc vào khai thác khoáng sản trái phép - hiện ông Hải không có mặt nhưng các thiết bị vẫn còn tại hiện trường. Cùng với việc khai thác của ông Hải, gần đây xuất hiện tin đồn một số người khai thác được saphia đem bán ở thị xã Buôn Hồ, do vậy số người kéo vào ngày càng nhiều.
Theo nhận định của Sở TNMT Đăk Lăk, nạn đào bới trái phép, hủy hoại môi trường, gây sạt lở đất tại tiểu khu 300 hiện nay rất nghiêm trọng, cần được ngăn chặn kịp thời. Nhưng do khu vực này nằm sâu trong rừng, địa hình hiểm trở, đường vào lầy lội và dốc ngược nên công tác truy quét khoáng tặc gặp rất nhiều khó khăn.
Dù đã rất nỗ lực, song các lực lượng chức năng mới chỉ giải tỏa được khu vực suối Ea Bal - một trong hai địa điểm khai thác trái phép, hạn chế số người từ các nơi đổ về. Thực tế nạn khai thác khoáng sản trái phép ở tiểu khu 300 vẫn chưa được giải quyết triệt để, nguy cơ tái bùng phát rất cao.
Ngày 18.10, UBND tỉnh Đăk Lăk đã chỉ đạo huyện Krông Năng huy động các lực công an, quân đội, Phòng TNMT tăng cường truy quét tại tiểu khu 300, lập các chốt kiểm soát để ngăn chặn người vào. UBND tỉnh cũng giao Sở TNMT phối hợp các cơ quan chức năng tham mưu việc thu hồi đất của HTX Trường Sơn do lợi dụng chủ trương trồng rừng để mua bán đất trái phép, đề xuất xử lý sai phạm theo quy định của pháp luật. (Nông Thôn Ngày Nay 25/10) đầu trang(
Khi PV thông báo với TGĐ Công ty Lâm nghiệp Buôn Ja Wâm về việc gỗ lậu ngang nhiên qua nhiều chốt trạm và qua cả Lâm trường thì ông này lớn tiếng: “ Anh phát hiện thì anh cứ bắt”...
19/10/2013, theo tin báo của người dân, PV đã theo chân và ghi lại hình ảnh một xe công nông chở khoảng 10m3 gỗ bằng lăng đi từ rừng Buôn Ja Wâm qua địa bàn xã EaKiết (Đắk Lắk). Do chở quá nặng, xe này chỉ di chuyển với tộc độ khoảng 5km/h.
Điều kỳ lạ là chiếc xe này, đi qua nhiều chốt trạm bảo vệ rừng, chốt trạm Kiểm lâm và đi qua cổng Lâm trường Buôn Ja Wâm nhưng không hề có bóng dáng của cán bộ kiểm lâm hay cán bộ bảo vệ rừng ra kiểm tra.
Khi đem thắc mắc này trao đổi với ông Dương Văn Sơn TGĐ Cty Lâm nghiệp BJW (đơn vị quản lý rừng BJW) thì chúng tôi nhận được tuyên bố: “Anh phát hiện thì anh cứ bắt” kèm lời đe dọa báo những bài đã đăng trước đó về Lâm trường.
Theo thông tin phản ánh của người dân, đêm nào cũng có hàng chục xe gỗ đi qua địa bàn xã Ea Kiết, thời gian từ 20h đến 24h (gồm xe công nông độ chế và xe ô tô có mui bịt kín). Những xe chở từ 8 - 12m3 có giá “đóng luật” cho các trạm là trên 6 triệu đồng.
Sáng 20/10/2013, cách trạm bảo vệ rừng của lâm trường Buôn Ja Wâm không quá 500m, PV đã ghi lại hình ảnh hàng trăm cây gỗ bằng lăng có đường kính từ 30 - 70cm đã bị cắt và cưa xẻ. Hiện chỉ còn khoảng 100m3 gỗ chưa vận chuyển.
Khi PV hỏi một cán bộ bảo vệ vì sao gỗ bị cắt ngay tại trạm mà không có ý kiến gì thì người này không trả lời mà bỏ ra sau nhà gọi điện thoại.
Được biết, hiện nay hàng ngàn hec ta rừng Buôn Ja Wâm không còn gỗ nữa, chỉ có những khu gần trạm bảo vệ thì mới còn gỗ lớn. Việc cắt và cưa xẻ tại chỗ ngay trạm đã được Lâm trường bảo kê. Họ cho phá rừng nguyên sinh với mục đích bán gỗ lấy tiền và chia nhau đất để trồng cao su.
Theo ghi nhận của chúng tôi, tình hình cắt, xẻ gỗ lậu ở đây vẫn hoạt động bình thường dù cho hiện nay cơ quan CSĐT Công an huyện Cư Mga đang hoàn tất hồ sơ để truy tố một số cán bộ đoàn kiểm lâm liên ngành có hành vi nhận tiền bảo kê cho lâm tặc mà Báo ĐSPL đã phản ánh trước đó. Điều này cho thấy, các cơ quan quản lý, bảo vệ rừng ở Cư Mga vẫn bất chấp pháp luật, vẫn bảo kê cho lâm tặc “dọn” sạch những cây gỗ còn lại.
Đề nghị lãnh đạo tỉnh Đắk Lắk, sở NN&PTNT và lãnh đạo huyện Cư Mga cần xử lý nghiêm và triệt để đối với hành vi bảo kê lâm tặc phá rừng của cán bộ, nhân viên kiểm lâm và bảo vệ rừng. (Đời Sống&Pháp Luật 25/10) đầu trang(
24/10, nhận được tin báo của người dân tổ 1B, phường Đức Xuân, thị xã Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, phóng viên TTXVN đã trực tiếp đến hiện trường chứng kiến nước thải công nghiệp của cơ sở chế biến giấy đế của Công ty cổ phần lâm sản Bắc Kạn xả thẳng ra sông Cầu.
Ông Cao Duy Linh ở tổ 1B, phường Đức Xuân cho biết việc xả nước thải bẩn của cơ sở sản xuất giấy của Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn là thường xuyên.
Trước đây Công ty chỉ xả vào ban đêm, nhưng nay ngang nhiên xả cả ban ngày. Các hộ dân nơi đây nhiều đêm không thể ngủ nổi do mùi hôi thối từ nước thải này gây ra.
"Chúng tôi đã kiến nghị nhiều lần đến các cấp chính quyền, truyền thông. Cảnh sát môi trường đã lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính, nhưng cơ sở này vẫn ngang nhiên thải nước bẩn ra môi trường," ông Linh nói.
Hiện trạng là cả một khúc sông Cầu, nơi có đường nước thải của cơ sở sản xuất giấy này chảy ra đen xì, đứng trên bờ sông cách hơn 10m vẫn không thể chịu được mùi hôi thối.
Bà Hoàng Thị Ngân là hộ gia đình ở gần nhất với đường nước thải này bức xúc: "Nhà tôi ở gần đây nên tôi khẳng định là nước thải ra sông Cầu là rất nhiều, cả ngày lẫn đêm. Mùi của nước thải rất khó chịu, vừa hôi thối, vừa có cả mùi hóa chất độc hại, hít vào rất khó thở. Hầu như nhà tôi phải đóng cửa kín suốt cả ngày, đêm. Những ngày trở trời thì gần như cả khu vực này đều không thể chịu nổi."
Theo Đại tá Triệu Đình Hòa, Trưởng phòng Cảnh sát môi trường, Công an tỉnh Bắc Kạn, vào ngày 15/8, Phòng đã lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với Công ty cổ phần lâm sản Bắc Kạn đồng thời ra Quyết định số 16 (20/8/2013) xử phạm vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với Công ty này.
Theo Biên bản vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Công ty cổ phần lâm sản Bắc Kạn, cả 5 thông số đều vượt quy chuẩn; trong đó có chỉ số BOD vượt trên 14,5 lần; COD vượt gần 9 lần, độ màu vượt gần 8 lần…
Đại tá Triệu Đình Hòa cũng khẳng định ông Tổng Giám đốc Công ty cổ phần lâm sản Bắc Kạn Lê Hồng Cường hầu như không có mặt ở Bắc Kạn. Khi lập biên bản và quyết định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường, Phó Tổng Giám đốc Mạch Quang Trung đều đại diện.
Ngoài việc xử phạt, Biên bản làm việc giữa Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường với Công ty cổ phần Lâm sản Bắc Kạn cũng xác định hệ thống xử lý nước thải của Công ty đã xuống cấp, phát sinh nước thải ra sông Cầu, gây ô nhiễm môi trường; yêu cầu Công ty chỉ được hoạt động trở lại khi đã xử lý hệ thống xả nước thải đúng theo thiết kế.
Nhưng cho đến nay Công ty cổ phần lâm sản Bắc Kạn vẫn không chấp hành, ngang nhiên xả thải ra môi trường bất chấp pháp luật. (VietnamPlus.vn 25/10) đầu trang(
23/10, tại thị trấn Phố Lu, lực lượng tuần tra Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Thắng đã phát hiện và bắt giữ xe ô tô biển kiểm soát 24N – 6573 do lái xe Phạm Tú Anh, trú tại thị trấn Khánh Yên, huyện Văn Bàn điều khiển đang chở trái phép một khối lượng lớn gỗ.
Sau khi tháo dỡ bạt che thùng xe ô tô, cơ quan chức năng phát hiện chủ hàng và cũng là lái xe Phạm Tú Anh đã dùng 72 két vỏ bia Hà Nội để ngụy trang, phía dưới là 104 tấm gỗ vàng tâm có chiều dài 1 mét, bề dày 7 đến 16 cm, rộng từ 35 đến 50 cm, tổng khối lượng đo được là 3,371m3.
Phạm Tú Anh khai nhận đã mua gom số gỗ này tại một số xã, thị trấn của huyện Văn Bàn để chở về Hà Nội tiêu thụ.
Theo tài liệu chuyên môn của ngành lâm nghiệp thì gỗ vàng tâm hay còn gọi là mỡ rừng thuộc nhóm IV, hiện còn số lượng không nhiều tại những cánh rừng tự nhiên của huyện Văn Bàn.
Hiện, cơ quan chức năng đang mở rộng điều tra vụ vận chuyển trái phép số gỗ vàng tâm nói trên. (Báo Lào Cai 25/10) đầu trang(
Nếu như chục năm trước việc tìm mua một vài ký sâm Ngọc Linh hết sức khó khăn bởi không có nguồn thì hiện nay, dù ở bất kỳ đâu, từ Lạng Sơn, Hà Nội, Đà Nẵng, TP.Hồ Chí Minh hay Tây nguyên đều dễ dàng mua được loại “thần dược” này.
Vì sao nguồn sâm Ngọc Linh trong tự nhiên cạn kiệt, sâm trồng chưa có trên thị trường mà lại có sẵn đến như vậy?
Một ngày đầu tháng 10-2013, do ảnh hưởng của cơn bão số 10, Tây nguyên mưa gió sụt sùi. Phóng viên vào một quán cơm ở thị trấn Đắk Tô, huyện Đắk Tô, Kon Tum) để dò hỏi chủ quán nơi tìm mua sâm Ngọc Linh.
Thấy chiếc ôtô sang trọng biển số ngoại tỉnh, cô chủ quán cơm sốt sắng: “Các anh cẩn thận, kẻo mua phải sâm giả đấy. Ngay như em đây năm ngoái mua cho người anh ở sân bay Phù Cát, cũng mua phải sâm giả. Giờ em mua quen rồi, biết phân biệt sâm thiệt sâm giả, để em gọi điện thoại hỏi cho!”.
Nói rồi chủ quán rút điện thoại ra gọi, nhưng đầu dây bên kia không liên lạc được. Gọi tiếp số khác, cô chủ nói chuyện xong đưa máy cho chúng tôi. Đầu dây bên kia một phụ nữ xưng tên Bình hỏi chúng tôi cần mua bao nhiêu, mua dùng hay biếu... Giá chủ quán đưa ra là 32 triệu đồng/kg loại 10 củ/kg.
Khi khách đề nghị chị mang nhiều loại để xem, chị đồng ý song hẹn sẽ đến muộn vì đang bận ở huyện Ngọc Hồi. Người chồng cô chủ quán cơm không muốn chúng tôi phải chờ bà Bình, anh liền bảo: “Qua chỗ khác mua cũng được!”. Rồi anh kể ra nào là bà Nga, bà Duyên, bà Minh... được xem là những người bán sâm Ngọc Linh có uy tín ở đây. Anh mặc áo mưa chạy xe máy đi hỏi sâm giúp.
Chủ quán chạy đi chừng 20 phút rồi về dẫn phóng viên đến một địa điểm bán sâm Ngọc Linh ngay giữa thị trấn Đắk Tô. Đây là căn nhà sang trọng hai tầng, có ôtô “xịn”, thể hiện sự phát đạt của gia chủ. Đưa chúng tôi ra nhà sau, chủ nhà bê một thùng cát-tông được dán băng keo kín, nguyên đai nguyên kiện như mới được gởi tới.
Bên ngoài thùng có dòng chữ: Người nhận: Minh H., kèm theo số điện thoại. Thùng sâm Ngọc Linh được đổ ra đất, bà M. và người giúp việc nhặt nhạnh, phân loại từng nhóm. Củ sâm to dài hoặc sâm nhỏ được để riêng. Nhìn đống sâm củ dài, nhiều đốt, có củ rất to đẹp mắt. Nhiều củ còn nguyên cành, lá, hoa, quả.
Khi khách hỏi giá, bà M. bảo loại một: củ lớn, chừng 5 - 7 củ/kg, giá 35 triệu đồng. Loại nhỏ hơn giá thấp hơn, rẻ nhất 22 triệu đồng/kg. Bà M. khuyên chúng tôi, nếu mua dùng nên mua loại nhỏ này, chỉ cần sâm nhiều đốt chứng tỏ già năm là tốt, không cần củ to.
Hỏi bà M. loại sâm này từ đâu đưa về, bà khẳng định đây là sâm trồng ở Quảng Nam. Làm thế nào để phân biệt sâm thật, sâm giả? Ông H. liền lấy một củ sâm cũng rất giống loại này từ trong tủ lạnh mang ra, nói rằng đấy là sâm giả. Họ bẻ củ sâm giả và chỉ rằng trong thân có nhiều mủ. Nhìn kỹ đống “sâm Ngọc Linh” mà bà M. đổ ra thì không thể biết đó là sâm Ngọc Linh chính hiệu hay không?
Chỉ có điều những củ này da bóng láng, không sần sùi như sâm Ngọc Linh thật mà chúng tôi đang cầm mẫu đối chứng. Nếu bỏ củ sâm thật vào đống sâm giả sẽ dễ phân biệt được, còn chỉ nhìn mắt thường ai cũng cho rằng cả đống mấy chục ký kia là sâm Ngọc Linh.
Suốt thời gian qua, nhiều người vì có nhu cầu đối với loại dược liệu này phải lâm cảnh tiền mất tật mang. Chị Đinh Thị Nguyệt, ở Pleiku (Gia Lai) nhờ người mua hộ gần 1kg sâm Ngọc Linh để biếu người thân hết 18 triệu đồng. Nhưng khi gửi biếu cho người thân ở Hà Nội, họ ngay lập tức trả về với lời trách móc “Sao lại tặng sâm giả?”, khiến chị Nguyệt một phen muối mặt.
Năm 2012, chị Hoàng Thị Thanh Xuân (ở phường An Phú, quận 2, TP.Hồ Chí Minh) có chuyến công tác lên Kon Tum. Lái xe taxi đã đưa chị đi sâu vào một bản làng thuộc huyện Đắk Glei cách chân núi Ngọc Linh vài chục cây số. Đây là nơi duy nhất trên thế giới có loài sâm quý giá này sinh sống, nên gọi sâm Ngọc Linh là vậy.
Chủ nhà là một người đàn ông người Xê Đăng, nói không rõ tiếng Kinh. Ông ta đưa ra một gùi nhỏ có chứa củ sâm. Ông nói tại TP.Kon Tum, loại sâm này có giá trung bình 40 triệu đồng/kg là người mua đi bán lại, ở đây ông đi đào được chỉ bán 25 triệu đồng. Mừng vì mua hàng tận gốc, chắc chắn thật, chị lấy ngay 1 ký và còn thưởng cho người lái xe 500.000 đồng.
Sau khi mang về nhà ngâm rượu, mấy tháng sau lấy uống thì rượu có vị chát đắng, cay xè, nóng rát. Vừa nuốt, cổ họng chồng chị bị ngứa không chịu nổi, trong ruột lại cồn cào khó chịu. Hoảng quá, chồng chị ngay trong đêm đến bác sĩ. Thì ra họ đã bị quả lừa, mua phải sâm Ngọc Linh giả là củ ráy rừng!
Theo tìm hiểu của PV, từ năm 2010 trong quá trình điều tra hai vụ trộm gần 1.600 gốc sâm Ngọc Linh của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Tô, Kon Tum, Công an tỉnh Kon Tum đã phát hiện một đường dây tiêu thụ sâm Ngọc Linh giả. Công an Kon Tum đã tạm giữ hành chính ông Nguyễn Đình Ký (trú thôn Măng Đen, xã Đắk Long, huyện Kon Plông, Kon Tum) khi ông ta đang tiêu thụ khoảng 2kg sâm Ngọc Linh giả với giá 4 triệu đồng/kg.
Những người mua bán sâm Ngọc Linh khắp các nơi đều cho rằng mình bán sâm Ngọc Linh thật. Nhưng theo một người sau khi từ giã việc mua bán sâm giả tiết lộ: Trên thị trường hiện nay 99,9% đều không phải sâm Ngọc Linh mà là tam thất Vũ Điệp! Đây là loại cây rất nhiều ở các tỉnh phía bắc và Vân Nam Trung Quốc, chỉ có giá khoảng 800.000 đồng/kg, ai muốn mua chỉ cần gọi điện, đặt hàng là người ta gởi cả tấn theo xe đò mang vào.
Tam thất cùng họ với sâm Ngọc Linh, về củ, hoa, lá và trong thành phần củ này cũng có một số hoạt chất giống sâm Ngọc Linh. Nhưng tam thất Vũ Điệp mỗi năm tăng trưởng từ 7 - 10 đốt, trong khi sâm Ngọc Linh chỉ tăng 1 đốt. Ở nơi xuất phát chẳng ai tin dùng nhưng khi đưa vào Tây nguyên, tam thất Vũ Điệp nghiễm nhiên trở thành sâm Ngọc Linh được bán đủ giá. Trước đây khi chưa được nhận diện, có người bán với giá 30 - 50 triệu đồng/kg, thậm chí cả trăm triệu đồng/kg.
Hiện nay, không một gia đình người đồng bào nào ở Kon Tum hay Quảng Nam có thể tìm được 1kg sâm Ngọc Linh tự nhiên. Giỏi lắm họ chỉ tìm được năm ba củ, vài lạng trong những lần xuyên rừng gặp may. Bên cạnh đó, sâm Ngọc Linh là loài mà chuột và nhiều loại thú gặm nhấm ở rừng rất nghiện, vì thế chúng sẽ không bỏ qua trước khi con người tìm thấy! Trong khi đó, trồng sâm Ngọc Linh để khai thác được cần từ 10 năm trở lên.
Lâu nay chúng ta quen gọi củ sâm, thực chất đó là thân cây sâm Ngọc Linh chứ không phải củ nằm dưới đất như củ nghệ, củ gừng... Khi hạt sâm Ngọc Linh rơi xuống đất mọc lên, có gốc nhưng bộ phận gốc này không lớn lên hàng năm thành củ mà như người tiêu dùng nhìn thấy mà phần gốc này nuôi thân cây phát triển. Mùa xuân đâm chồi nảy lộc, cây sâm Ngọc Linh vươn cành nảy một đốt, ra lá ra hoa và đến mùa đông cây rụi lá.
Cái đốt do cành mọc ra năm trước nằm trên mặt đất, cứ lớn dần qua chục năm thành chục đốt. Chúng ta khai thác thân này để sử dụng, nghĩa là khai thác phần thân cây sâm tích luỹ qua các năm. Do thân sâm nằm trên mặt đất ở rừng rậm, cành khô lá mục nhiều, cùng với nước mưa đưa đất vùi lấp bồi lắng nên giống như thân sâm nằm dưới đất nên quen gọi củ sâm là vậy. Nhiều người bán sâm giả vùi củ dưới đất đỏ cho rằng mình mới đào lên là hoàn toàn lừa đảo.
Bà Trần Thị Tuyết - Giám đốc Sở Khoa học - Công nghệ Kon Tum khẳng định: “Rất khó để tìm được sâm Ngọc Linh thật bán trên thị trường. Do chính quyền không giao trách nhiệm quản lý loại cây này cho Sở Khoa học - Công nghệ nên bà không có chức năng kiểm tra, kiểm định chất lượng những thứ được cho là sâm Ngọc Linh thật hay giả đang bày bán khắp nơi.
Hiện nay loại sâm Ngọc Linh do các cá nhân và doanh nghiệp trồng người ta sử dụng mùn đất phủ lên gốc sâm Ngọc Linh để bảo vệ phần thân, rễ nằm dưới đất. Vì thế một số củ sâm Ngọc Linh có gốc phình to, nhiều nhánh, nhiều rễ, rất khác với củ tam thất”.
Từ năm 1995, khi cây sâm Ngọc Linh trong tự nhiên đứng trước nguy cơ cạn kiệt, các tỉnh Kon Tum, Quảng Nam cùng Bộ Y tế đặt vấn đề trồng sâm để duy trì nguồn gien và phát triển thương mại. Lâm trường Đắk Tô (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Tô) Kon Tum lãnh ấn tiên phong trồng sâm Ngọc Linh.
Gần 20 năm qua, doanh nghiệp này loay hoay với diện tích 8ha sâm. Song trên thực tế, mật độ đậm đặc và chất lượng của vườn sâm này có như kỳ vọng hay không là vấn đề cần bàn. Đầu tháng 10-2013, Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Kon Tum cho biết vườn ươm sâm giống ở xã Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông của Trung tâm giống sâm Ngọc Linh (thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đắk Tô) đang xuất hiện bệnh thối củ sâm khiến hơn 8ha sâm Ngọc Linh của đơn vị này đứng trước nguy cơ bị dịch nghiêm trọng.
Hiện Chi cục Bảo vệ thực vật Kon Tum đã tiến hành kiểm tra, lấy mẫu phẩm gửi giám định để xác định nguyên nhân bệnh; đồng thời hướng dẫn các biện pháp trước mắt xử lý tạm thời sâu hại trên cây sâm Ngọc Linh khiến nhiều người quan tâm hết sức lo lắng.
Ở tỉnh Quảng Nam, từ năm 2005 - 2010 Viện Dược liệu đã tiến hành triển khai dự án đầu tư cấp Bộ Y tế “Nghiên cứu phát triển sâm Việt Nam”. Dự án triển khai trồng được 3ha sâm Ngọc Linh tại Trạm dược liệu Trà Lĩnh, Nam Trà My, Quảng Nam.
Hiện nay, một số người dân tộc thiểu số ở Kon Tum và Quảng Nam đã trồng và có thu hoạch từ sâm Ngọc Linh. Thế nhưng đa số sâm này chỉ là những vườn manh mún, diện tích nhỏ, công tác bảo quản hết sức nghiêm ngặt nên sản phẩm không có nhiều. Do nhu cầu hạt sâm nhân giống rất lớn nên người trồng sâm ít khai thác củ, chỉ để thu hoạch hạt, nhân giống vì sâm cây con giá rất cao.
Nước ta có nhiều nơi trồng thử nghiệm sâm Ngọc Linh như: Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, Bình Định... nhưng kết quả chưa có tính thuyết phục. Do đặc trưng địa lý, hiện tại chỉ riêng vùng đất Quảng Nam và Kon Tum xung quanh dãy Ngọc Linh là phát triển được sâm Ngọc Linh.
Đến nay cũng chỉ có Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum có vườn sâm lớn nhất nước với diện tích khoảng 150ha. Tuy nhiên lãnh đạo công ty này cho biết chỉ đang nhân giống, thu hái hạt, không thu hoạch củ.
UBND tỉnh Kon Tum mới có chủ trương đầu tư dự án “Hoàn thiện quy trình công nghệ nhân giống, canh tác, mở rộng sản xuất, xây dựng phát triển thương hiệu quốc gia sâm Ngọc Linh”; cơ quan quản lý dự án: Bộ Khoa học - Công nghệ; chủ đầu tư: Trung tâm Ươm tạo và hỗ trợ doanh nghiệp Khoa học & Công nghệ - Cục phát triển thị trường và Khoa học & Công nghệ.
Dự án đặt mục tiêu từ nay đến năm 2023 sẽ phấn đấu trồng được từ 800 đến 1.000ha sâm Ngọc Linh, với tổng kinh phí đầu tư trên 567 tỷ đồng. Dự án sẽ đầu tư khoa học, công nghệ để xây dựng và hoàn thiện quy trình nhân giống, tạo ra số lượng cây giống lớn, dự kiến từ 4 - 5 triệu cây giống/năm; hoàn thiện quy trình công nghệ canh tác và mở rộng diện tích trồng sâm theo kế hoạch; hoàn thiện quy trình công nghệ chế biến, xây dựng nhà máy chế biến các sản phẩm cây sâm Ngọc Linh;
Áp dụng các công nghệ mới trong thu hoạch, bảo quản, chiết xuất nhằm tạo được các sản phẩm có giá trị cao; xây dựng nhà máy chế biến với quy trình công nghệ hiện đại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu; tìm giải pháp để xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm của cây sâm Ngọc Linh và được bảo hộ trên thế giới; bảo vệ cùng với việc chống hàng giả cho thương hiệu sâm Ngọc Linh.
Ông Trần Hoàn, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum, cho biết: Sâm Ngọc Linh là loại dược phẩm có giá trị kinh tế, khoa học rất lớn, nhưng việc bảo vệ nó trước nạn sâm giả là vấn đề nan giải. Sâm Ngọc Linh rất cần được cơ quan chức năng quan tâm bảo vệ, vừa là bảo vệ người tiêu dùng, vừa bảo vệ thương hiệu quốc gia.
Theo Nghị định 32/2006/ NĐ-CP ngày 30-3-2006 về quản lý thực vật rừng, động vật nguy cấp quý hiếm thì sâm Ngọc Linh thuộc loại thực vật rừng nhóm 1A, Nhà nước cấm khai thác, mua bán, tiêu thụ dưới mọi hình thức. Như vậy hiện nay các điểm mua bán sâm Ngọc Linh đều là bất hợp pháp.
Để chống sâm giả người mua sâm Ngọc Linh cần thiết yêu cầu người bán chứng minh được xuất xứ hàng hóa. Nếu là sâm tự nhiên, đương nhiên là không hợp pháp (thực chất là gần như không có), còn sâm trồng thì phải có xuất xứ: người trồng, nơi trồng, độ tuổi. (Công an TP.HCM 24/10) đầu trang(
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Cách đây khoảng 10 năm, có một phong trào làm thủy điện. Lớn giao cho Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN), dưới 30MW phân cấp cho địa phương phê duyệt dự án, theo dõi đầu tư xây dựng.
Cả nước làm thủy điện, tận dụng mọi khả năng làm thủy điện, vắt từng KW điện ở mọi nơi nếu còn có thể, không tính toán kỹ tới hậu quả về môi trường, thiệt hại về tài nguyên rừng, đời sống của người dân vùng thượng lưu và hạ lưu các hồ chứa.
Đến khi có những dấu hiệu bất thường, Chính phủ phải vào cuộc, tiến hành thanh kiểm tra và kết quả của các đợt thanh kiểm tra đó là đưa ra khỏi qui hoạch điện toàn quốc 405 dự án (tức không xây nhà máy thủy điện ở những nơi này nữa), không tiếp tục xem xét 172 dự án đang được chờ để thông qua, chấn chỉnh đầu tư xây dựng nhằm nâng cao chất lượng những dự án dở dang, bảo dưỡng, nâng cấp các công trình đang vận hành để tránh sự cố có thể xảy ra.
Chủ trương này của Chính phủ rất được hoan nghênh và người ta tạm yên tâm một phần trước tình hình thời tiết ngày càng bất thường do biến đổi khí hậu toàn cầu.
Nhưng rồi sự “yên tâm” đó không được bền lâu. Chỉ với cơn bão số 10, cơn bão đầu mùa đi vào miền Trung đã gây rất nhiều thiệt hại về người và của, trong đó riêng thiệt hại từ các hồ thủy điện khiến hàng nghìn hộ dân nháo nhác, dư luận xã hội bất an đã là hồi chuông cảnh báo không thể xem thường.
Cơn bão số 10 mang theo mưa lớn phụ họa với lượng mưa cũng lớn không kém từ cơn bão số 8 trước đó đã làm nước các con sông từ Thanh Hóa tới Quảng Ngãi dâng cao bất thường, nước tràn về các hồ chứa, buộc các hồ này phải xả lũ ở mức cao nhất. Không chỉ thế, 4 đập ngăn nước bị vỡ, hàng trăm đập khác dò rỉ, càng làm những hộ dân không được thông tin đầy đủ, chưa có kinh nghiệp tránh lũ hoảng sợ.
Do xả cấp tốc, nước hồ thủy lợi Vực Mẫu ( Quỳnh Lưu,Nghệ An) ngập 20.000 ngôi nhà, hàng trăm héc ta rau màu của thị trấn Hoàng Mai. Xả lũ đột ngột với lưu lượng lớn ở các công trình A Vương,Đăkmin 4 ( Quảng Nam) đã làm ngập lụt các huyện Điện Bàn, Đại Lộc, thị xã Hội An. Hồ thủy điện La Hiêng 2 ( Phú Yên) xả lũ khiến một vùng rộng lớn phía hạ lưu ngập nhiều ngày liền...
Giờ đây sau nhiều năm vận hành đã có thể kết luận được hồ thủy điện là nguyên nhân chính đang làm chết dần các con sông như Thu Bồn, Vu Gia, Sông Côn, giết chết các loài thủy sản, gây tình trạng mùa hè thì khô hạn mùa đông thì úng ngập, nếu không xả lũ thì trên úng ngập, nếu xả lũ thì lũ lụt phía hạ lưu. Bài học đắt giá đó càng đắt hơn nếu các hồ chứa bị vỡ, nước từ các cơn lũ nhân tạo khủng khiếp đó cuốn trôi người, nhà cửa, hoa màu phía dưới, làm biến dạng địa hình, đất canh tác đã ổn định nhiều trăm năm.
Đấy là chuyện miền Trung trước mối đe dọa của thủy điện. Liên hệ tới Hà Nội, một địa phương phìa hạ lưu của những hồ thủy điện rất lớn, lại nằm kẹt giữa các con sông, tình cảnh cũng không hơn gì .
Cho nên, vừa qua đã có một đợt chấn chỉnh việc xây dựng thủy điện được đánh giá là tốt, vậy không nên dừng ở đó mà nên có đợt thanh tra, kiểm tra kỹ hơn, qui trách nhiệm lãng phí, tham nhũng trong việc làm thủy điện tới từng cá nhân, gia cố bồi trúc hàng trăm hồ thủy điện, hồ thủy lợi đang có nguy cơ. Cũng nên thành lập thanh tra chuyên ngành xây dựng hồ đập để hạn chế tình trạng bớt xén, qua loa khi xây dựng các con đập , tình trạng phổ biến hiện nay ở các nhà máy vừa và nhỏ. (Tầm Nhìn 24/10) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Lãnh đạo Lực lượng quốc phòng nước này ngày 24/10 đã lên tiếng xin lỗi người dân vì hoạt động huấn luyện về thuốc nổ đã gây ra vụ cháy rừng nghiêm trọng ở gần thành phố Lithgow, thuộc khu vực Blue Mountains, phía Tây thành phố Sydney, khiến ba ngôi nhà bị phá hủy và gần 50.000 hécta rừng bị cháy.
Quyền Tổng tư lệnh lực lượng quốc phòng, Trung tướng không quân Mark Binskin cho biết một đám cháy nhỏ đã bốc lên trong đợt huấn luyện thường kỳ tại căn cứ Marrangaroo ngày 16/10 là nguyên nhân dẫn tới cháy rừng bùng phát trên diện rộng tại khu vực này.
Phát biểu trước báo giới tại Sydney ngày 24/10, tướng Binskin tuyên bố: "Tôi thực sự xin lỗi. Qua điều tra riêng của chúng tôi, đám cháy nhỏ do huấn luyện đã được xác định là nguyên nhân dẫn tới cháy rừng." Trong khi đó, cuộc điều tra của lực lượng cảnh sát bang New South Wale vẫn đang được tiếp tục triển khai.
Cũng theo Quyền Tổng tư lệnh lực lượng quốc phòng Australia, quyết định tiến hành huấn luyện được đưa ra trong điều kiện gió nhẹ, nhiệt độ 23 độ C, cảnh báo cháy rừng ở mức thấp và không có lệnh cấm lửa hoàn toàn.
Các nhân viên lực lượng quốc phòng đã nhanh chóng phản ứng sau khi có đám cháy nhưng không thể ngăn cản ngọn lửa bùng phát.
Tướng Binskin cho biết lực lượng quốc phòng thừa nhận trách nhiệm nhưng không đưa ra cam kết về đền bù thiệt hại. Kết quả điều tra vụ việc này có thể dẫn tới thay đổi trong quy trình huấn luyện trên phạm vi toàn bộ nước này. (VietnamPlus.vn 24/10; (Sài Gòn Giải Phóng 24/10; Quân Đội Nhân Dân 24/10; Phụ Nữ TPHCM 24/10; VOV 24/10) đầu trang(
Ngày 24/10, một phi công 43 tuổi đã thiệt mạng khi đang làm nhiệm vụ chữa cháy tại khu vực đám cháy có địa thể cực kỳ nguy hiểm, gần khu vực phía nam Sydney, Shane Fitzsimmons, chỉ huy lực lượng phòng cháy nông thôn cho biết.
Fitzsimmons chia sẻ: “Tất cả chúng tôi đều nhận thức được nỗi đau của gia đình bởi vì người chồng, người cha của họ đã ra đi”.
Hơn 100 đám cháy rừng đã khiến 1 người dân thiệt mạng và thiêu rụi hơn 200 ngôi nhà tại bang New South Wales trong tháng này. 61 đám cháy đã bùng lên hôm 17/10 trong đó 23 đám cháy đang nằm ngoài tầm kiểm soát, mặc dù thời tiết lạnh đã làm giảm mối đe dọa từ các đám cháy và những người dân sơ tán trước đó đã quay trở lại nhà của mình.
Sỹ quan cảnh sát Joe Cassar tại bang New South Wales cho biết, các nhân viên đang cố gắng tiếp cận vị trí máy bay bị rơi nhưng do địa hình dốc và gió mạnh đã khiến họ gặp nhiều khó khăn.
Cassar nói với các phóng viên rằng: “chúng tôi đang cố gắng để tìm ra phi công nhưng gặp khó khăn do thời tiết và những đám cháy”.
Nhân viên dịch vụ cứu hỏa cho biết, các nhà điều tra vẫn đang điều tra nguyên nhân của các đám cháy, trong đó có vài đám cháy xảy ra do đường dây điện bị hỏng vì gió mạnh, một số do sét đánh và một số đám cháy do cố ý. Cảnh sát đã tạm giữ một số trẻ em có liên quan tới vụ việc. (VOV 24/10) đầu trang(
Bảo tồn thiên nhiên hoang dã là một trong những thế mạnh của “Xứ sở Chuột túi” và đảo Rottnest ở bang Tây Australia là một điển hình trong lĩnh vực này.
Không chỉ được xếp hạng là Khu bảo tồn thiên nhiên hạng A, đảo Rottnest còn là nơi lý tưởng để nuôi dưỡng tinh thần, giúp con người vượt qua những lo lắng về “cơm áo gạo tiền” của cuộc sống.
Cách thành phố Perth - thủ phủ bang Tây Australia - một chặng phà ngắn, đảo Rottnest như một thế giới khác, tách biệt khỏi những ồn ào của nơi phồn hoa đô thị. Khu bảo tồn thiên nhiên hạng A này nổi tiếng với những loài cây quý hiếm và đẹp mắt, những loài động vật hoang dã và sinh vật biển đa dạng. Điều đặc biệt là Chính phủ Australia và chính quyền bang Tây Australia đang nỗ lực xây dựng nơi đây trở thành một điểm nuôi dưỡng tinh thần của người dân cũng như du khách.
Tại các khu dừng chân hay ăn uống, du khách có thể vuốt ve những con công rực rỡ hay những chú chuột túi dạn người. Xác tàu đắm - di sản của những cuộc thám hiểm bờ biển Tây Nam miền Tây Australia - cũng là địa điểm lý tưởng để lặn và khám phá.
Tách biệt khỏi thế giới xô bồ, không có bóng dáng chiếc xe hơi nào ở trên đảo. Xe đạp là một trong những cách tuyệt nhất để đi quanh đảo, với dịch vụ thuê xe có tại bến phà và nhiều điểm trên đảo.
Bên cạnh đó, xe buýt Bayseeker cũng chạy thường xuyên quanh đảo, dừng đỗ tại những bãi biển và điểm lướt sóng xa xôi để phục vụ du khách. Tản bộ trên những con đường đèo cũng là một chút trải nghiệm sự thử thách tính kiên trì, bền bỉ để hướng tới ngọn hải đăng hay mục tiêu lịch sử nào đó trên đỉnh đồi. Cũng từ sự thử thách đó, bài học về sự chia sẻ, động viên, giúp đỡ lẫn nhau đã được nhân lên gấp bội.
Đảo Rottnest tách khỏi lục địa chính của Tây Australia hơn 7.000 năm trước khi mực nước biển dâng cao. Không lâu sau đó, thổ dân Nyungah đã đến sinh sống tại vùng này và gọi đảo là Wadjemup, có nghĩa là “Vùng bên kia nước.” Đảo Rottnest mang ý nghĩa tâm linh to lớn với cộng đồng thổ dân ở Australia. (VietnamPlus.vn 25/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||