Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 10 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Ngày 22/10, tại Hà Nội, cơ quan Quản lý CITES Việt Nam cùng với Hội Phụ nữ Hà Nội tổ chức Hội thảo chia sẻ thông tin nâng cao nhận thức bảo vệ tê giác và giảm cầu về sừng tê giác.
Phát biểu khai mạc, bà Trần Phương Hoa, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội cho biết, Hội nghị lần này là sự khởi đầu cho một chuỗi các hoạt động tuyên truyền nhằm tăng cường nhận thức về bảo tồn tê giác và các loài hoang dã nguy cấp. Qua hội thảo lần này, sẽ mang đến những thông tin bổ ích giúp chị em phụ nữ Thủ đô có cái nhìn chính xác hơn về tác dụng của tê giác từ đó tuyên truyền vận động người thân không mua bán, sử dụng sừng tê giác.
Theo số lượng thống kê, từ đầu năm 2013, tới nay đã có hơn 746 cá thể tê giác bị chết dưới bàn tay của các kẻ săn trộm ở Nam Phi, nơi có quần thể tê giác lớn nhất. Điều đó có nghĩa là mỗi ngày hơn hai cá thể tê giác bị giết lấy sừng, được tiêu thụ nhiều nhất ở các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Các đại biểu tham dự hội thảo đã được lắng nghe lý giải về công dụng thực sự của sừng tê giác khi cho rằng đó là một loại thuốc có thể chữa bách bệnh và hạ sốt. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh mà ngược lại nó còn chứa các thành tố có hại cho sức khỏe. Đây cũng là một trong những nỗ lực mới nhất của Hội phụ nữ Thủ đô để nâng cao nhận thức và giảm nhu cầu về tê giác ở Việt Nam. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/10) đầu trang(
Ngày 22/10, Sở NN-PTNT Quảng Nam cho biết, thực hiện dự án lâm nghiệp (WB3) từ nguồn vốn vay Ngân hàng Thế giới (WB) và đối ứng ngân sách tỉnh, UBND tỉnh Quảng Nam vừa phê duyệt xây dựng 6 chòi canh lửa với tổng mức đầu tư 1,17 tỷ đồng nhằm từng bước hoàn thiện mạng lưới cơ sở vật chất phục vụ công tác phát hiện, bảo vệ phòng chống cháy rừng trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, sẽ xây 6 chòi canh lửa tại thôn 2A, xã Trà Kót, thôn Mậu Long, xã Trà Sơn, huyện Bắc Trà My; thôn 3, xã Tiên Cảnh, thôn 3, xã Tiên An, huyện Tiên Phước; thôn 3, xã Phước Gia, huyện Hiệp Đức; thôn Tam Hòa, thị trấn Đông Phú, huyện Quế Sơn.
Theo quy mô đầu tư, 6 chòi canh lửa đảm bảo tầm quan sát 7-10 km, kết cấu móng, cột dầm, sàn bê tông cốt thép chịu lực M200, cầu thang bê tông cốt thép kết hợp cầu thang thép, mái lợp tôn dày 0,42 mm, lắp dựng thu lôi chống sét. Diện tích xây dựng 9m2/chòi, tổng chiều cao 12,63m/chòi. Dự án do Sở NN-PTNT làm chủ đầu tư và trực tiếp quản lý thực hiện. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/10) đầu trang(
Chiều 21/10, ông Doãn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã chủ trì Hội nghị đánh giá thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và khai thác rừng trong 9 tháng, bàn nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác 3 tháng cuối năm 2013.
Báo cáo đánh giá tại hội nghị cho thấy, trong 9 tháng năm 2013, ngành chức năng đã kiểm tra, phát hiện, lập hồ sơ xử lý 210 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng (giảm 25 vụ so với cùng kỳ năm 2012). Tịch thu 145 m3 (làm tròn số) gỗ các loại, 11,5 tấn đầu cục, bìu gỗ pơ-mu, 16,7 kg động vật hoang dã, 7 xe mô tô và 1 xe ô tô. Tổng số tiền thu do xử lý vi phạm, phần đã nộp vào ngân sách là 1,1 tỷ đồng.
Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2013 còn có những diễn biến phức tạp, nổi cộm là huyện Sa Pa và Văn Bàn cần được các ngành và địa phương tập trung giải quyết.
Kết luận hội nghị, ông Doãn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu ngành chức năng và địa phương (trọng điểm là huyện Văn Bàn) cần rà soát, đánh giá thực tế và chính xác nguồn gỗ do khai thác trái phép đang tồn trên rừng để chuyển về huyện làm tài sản của Nhà nước.
Yêu cầu rà soát lại quy trình quản lý như đóng dấu búa kiểm lâm, cấp giấy phép vận chuyển gỗ ra khỏi địa bàn, đấu giá tài sản vi phạm, kiên quyết không buông lỏng khâu này để các đối tượng lợi dụng để buôn bán gỗ trái phép, quay vòng giấy phép nhiều lần. Có thể sử dụng nguồn gỗ này để làm công sở, trường học, kiên quyết không đấu giá gỗ với giá rẻ để rồi lại mua gỗ phục vụ các công trình xây dựng với giá cao.
Đối với ngành chức năng có trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng, cần nêu cao trách nhiệm hơn nữa công tác. Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh cũng đồng ý với chủ trương, kế hoạch trong thời gian tới với việc mở đợt cao điểm kiểm tra, truy quét, ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái phép với trọng điểm là huyện Văn Bàn. Yêu cầu lực lượng kiểm lâm tiếp tục là nòng cốt, tổ chức lực lượng tinh nhuệ, chuyên nghiệp trong thực thi nhiệm vụ đặc biệt này, việc truy quét cần phải có hiệu quả cao.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh nêu một số vấn đề để các ngành, địa phương lưu ý như việc kiểm soát cấp phép cho các cơ sở chế biến lâm sản, trồng rừng tại khu vực xây dựng các nhà máy thủy điện, quy hoạch rừng và đất lâm nghiệp, tổ chức trồng rừng, nhận khoán bảo vệ, phát triển rừng…
Về các vụ khai thác rừng trái phép xảy ra trên địa bàn huyện Văn Bàn trong thời gian vừa qua, đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Doãn Văn Hưởng yêu cầu các cơ quan chức năng cần sớm kết thúc điều tra và đưa ra xét xử vụ án. (Báo Lào Cai 23/10) đầu trang(
Để chủ động thực hiện hiệu quả công tác PCCCR hạn chế thiệt hại đến mức thấp nhất do cháy rừng gây ra, UBND tỉnh Lai Châu ra Chỉ thị số 13 ngày 14/10/2013 yêu cầu:
UBND các huyện, thị xã: Tập trung chỉ đạo các xã, phường, thị trấn tăng cường quản lý nhà nước về bảo vệ rừng và PCCCR, kiểm soát nguy cơ cháy rừng. Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, PCCCR; tăng cường kiểm tra PCCCR, rà soát bổ sung phương án PCCCR theo phương châm 4 tại chỗ; chủ động xử lý thực bì, làm giảm vật liệu cháy ở các khu rừng dễ cháy, làm mới, tu sửa đường băng cản lửa ở các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao; duy trì chế độ thường trực 24/24 giờ trong suốt mùa khô.
Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của tỉnh tăng cường kiểm tra, đôn đốc công tác bảo vệ rừng, PCCCR ở các địa phương, chủ rừng trong việc tổ chức thực hiện phương án PCCCR tại địa phương theo sự phân công của Trưởng Ban.
Sở NN&PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tham mưu cho Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; thường xuyên kiểm tra đôn đốc các địa phương, đơn vị, chủ rừng thực hiện nghiêm các biện pháp PCCCR; có kế hoạch huy động lực lượng, phương tiện, chỉ huy chữa cháy rừng khi cần thiết.
Đồng thời, chỉ đạo Chi cục Lâm nghiệp tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng, các Ban Quan lý rừng phòng hộ trong thiết kế trồng rừng phải xây dựng các công trình phòng cháy, xử lý thực bì để trồng rừng đảm bảo an toàn tuyệt đối về PCCCR.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh rà soát quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương các cấp; chuẩn bị lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; tập trung chỉ đạo, điều tra xử lý thủ phạm gây cháy rừng, các đối tượng chống người thi hành công vụ… (Kiemlam.gov.vn 23/10) đầu trang(
Ngày 23-10, Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng huyện Yên Sơn đã tổ chức diễn tập phòng, chống cháy rừng năm 2013.
Cuộc diễn tập phòng, chống cháy rừng huyện Yên Sơn năm 2013 được tổ chức lồng ghép cả cấp huyện và cấp xã và chia thành thành 2 giai đoạn.
Giai đoạn I tổ chức chuẩn bị phòng cháy, chữa cháy rừng, bao gồm các nội dung huấn luyện: Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; điều chỉnh, bổ sung, triển khai kế hoạch phòng cháy chữa cháy rừng và bảo vệ rừng; giao nhiệm vụ, hiệp đồng đảm bảo phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng cho các cơ quan, ban, ngành. Giai đoạn II tổ chức diễn tập thực binh chữa cháy rừng tại núi Nghiêm, thuộc địa phận thôn Đồng Sung, xã Phú Lâm (Yên Sơn).
Kết thúc diễn tập, Ban Chỉ đạo diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng tỉnh đã đánh giá cuộc diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng huyện Yên Sơn năm 3013 đạt 8,5 điểm, loại giỏi. (Báo Tuyên Quang 24/10) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Mặc dù độ che phủ của rừng ở nước ta đã được nâng lên hằng năm, nhưng tăng trưởng còn chậm, năng suất, chất lượng thấp và tỷ lệ rừng bị phá cũng không ít. Do vậy, tái cơ cấu ngành lâm nghiệp là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ và phát triển rừng một cách bền vững; từng bước nâng cao đời sống người dân.
Một trong những mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp chủ yếu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 của nước ta là tăng tỷ lệ che phủ rừng đạt 40,7%. Trong đó chú trọng đẩy mạnh trồng rừng kinh tế; không tiếp tục khai thác rừng tự nhiên; có cơ chế, chính sách phù hợp để khuyến khích người dân tại chỗ trồng và bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.
Ðồng thời, ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, chủ động phòng, chống cháy rừng. Ðể phát triển bền vững kinh tế rừng, ngành lâm nghiệp cần chú trọng đến công tác trồng rừng, bảo vệ tốt các rừng ngập mặn, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên và rừng sản xuất. Khai thác có hiệu quả lâm sản đi đôi với phát triển và bảo vệ vững chắc các loại rừng; không ngừng nâng cao chất lượng rừng.
Một trong những thử thách lớn của ngành lâm nghiệp hiện nay là nạn phá rừng ở nhiều địa phương vẫn diễn biến phức tạp, trong đó nổi cộm là các địa bàn thuộc khu vực Tây Nguyên, miền trung và Tây Bắc.
Riêng tại các tỉnh Tây Nguyên, theo Cục Kiểm lâm, chỉ trong sáu tháng đầu năm nay, lực lượng kiểm lâm và các lực lượng có liên quan đã kiểm tra, phát hiện 3.715 vụ vi phạm, trong đó hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật có số vụ cao nhất, với 2.015 vụ (chiếm 54,2%), 304 vụ khai thác lâm sản (chiếm 8,2%), 876 vụ phá rừng trái pháp luật (chiếm 23,6%), 29 vụ vi phạm các quy định về PCCCR (chiếm 0,8%), 425 vụ vi phạm khác (chiếm 11,4%). Mặc dù, các ngành chức năng đã nỗ lực, song số vụ vi phạm vẫn có chiều hướng gia tăng, quy mô, tính chất, mức độ và hậu quả các vụ phá rừng xảy ra ngày càng nghiêm trọng.
Do vậy, để quản lý rừng hiệu quả, cần tăng cường công tác bảo vệ rừng, nhất là những cánh rừng nguyên sinh, rừng có gỗ quý, mang lại giá trị kinh tế cao, một mặt tạo điều kiện nâng cao mức sống cho người dân sống ở vùng đệm, vùng lõi, mặt khác ngành lâm nghiệp, các cơ quan hữu quan và chính quyền các cấp cần thực hiện tốt các quy định của luật pháp, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm, giáo dục, tuyên truyền, vận động người dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật quản lý, bảo vệ rừng.
Ði đôi với bảo vệ, quản lý là công tác phát triển rừng. Phần lớn số diện tích rừng tự nhiên của nước ta hiện nay là rừng nghèo và rừng non mới hồi phục, năng suất thấp, trong đó có từ 20 đến 25% tổng trữ lượng gỗ tự nhiên chất lượng xấu không có giá trị sử dụng. Mặc dù đã phát triển các giống cây để trồng rừng, nhưng cả nước hiện mới có hơn 5.000 ha rừng giống, phần lớn diện tích này mới chỉ được tuyển chọn sơ bộ.
Do vậy, các giống cây đưa vào trồng rừng nhiều nơi chưa bảo đảm chất lượng, dẫn đến tình trạng năng suất và chất lượng rừng trồng chưa cao, chưa ổn định. Các loại cây trồng cho năng suất cao có khả năng đáp ứng được thị trường trong nước và quốc tế còn rất hạn chế. Ðây chính là những khó khăn, thách thức của ngành lâm nghiệp trong việc nâng cao năng suất, chất lượng cây rừng phục vụ sản xuất lâm nghiệp.
Thời gian tới, để phát huy hiệu quả các loại rừng, một mặt ngành lâm nghiệp tập trung đẩy mạnh cơ cấu kinh tế lâm nghiệp, trong đó chú trọng cơ cấu đất sử dụng trong lâm nghiệp, mặt khác nâng cao giá trị lao động thông qua lợi ích và các nguồn lợi kinh tế, xã hội do rừng mang lại, tăng đầu tư tiền vốn, khoa học kỹ thuật, công tác quy hoạch để rừng phát triển đa dạng, chất lượng rừng được nâng cao và bền vững.
Theo Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi, để đem lại lợi ích kinh tế từ rừng sản xuất cần tập trung phát triển và nâng cao chất lượng thông qua công tác chăm sóc để làm giàu rừng gắn với việc cải tạo rừng nghèo kiệt.
Mặt khác, ngành lâm nghiệp cần tăng cường đưa giống mới vào sản xuất, phát triển trồng rừng gỗ lớn nhằm nâng cao sản lượng gỗ thương phẩm, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Như vậy, quản lý đi đôi với phát triển rừng đa dạng, bền vững, phát huy hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường đang là bài toán đặt ra cho ngành lâm nghiệp và cả xã hội trong giai đoạn trước mắt và lâu dài.
Công tác xã hội hóa nghề rừng đang trở thành một yêu cầu quan trọng, để mỗi người dân, tổ chức, doanh nghiệp đều trở thành những người giữ rừng. Thực hiện chủ trương này, một trong những biện pháp của ngành lâm nghiệp đưa ra là cần nâng cao trách nhiệm quản lý rừng của chủ rừng và chính quyền các cấp.
Quản lý chặt chẽ tình trạng dân di cư tự do cả nơi đi và nơi đến; tuyên truyền, vận động, ổn định đời sống của người dân; phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan kiểm tra, giám sát thực hiện chi trả tiền giao khoán quản lý bảo vệ rừng đúng quy định theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được xây dựng; tăng cường kiểm tra các hiện trường khai thác gỗ, lâm sản, trong đó chú trọng kiểm tra việc khai thác tận thu, tận dụng cải tạo rừng, chuyển đổi rừng.
Ðể thực hiện công tác phát triển các thành phần kinh tế trong lâm nghiệp, Nhà nước đang tập trung chỉ đạo điều chỉnh cơ cấu các loại hình tổ chức quản lý, rà soát quy hoạch rừng; thúc đẩy các loại hình tổ chức quản lý bảo vệ và phát triển rừng theo hướng bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tính phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong lâm nghiệp.
Bên cạnh việc phát triển các công ty lâm nghiệp nhà nước được hình thành từ các lâm trường quốc doanh, ưu tiên chú trọng phát triển mạnh mẽ kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Ðể thực hiện chủ trương này, cần xây dựng mô hình hợp tác trong lâm nghiệp, đưa số hợp tác thuộc lĩnh vực này tăng ít nhất 200% vào năm 2020 so với năm 2011.
Một trong những công cụ quan trọng hiện nay để tăng độ che phủ của rừng, bảo vệ và chăm sóc rừng hiệu quả là chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Theo đó, các tổ chức, cá nhân sử dụng môi trường rừng, đang được hưởng lợi từ những dịch vụ môi trường cần có nghĩa vụ chi trả cho những đối tượng đang cung cấp dịch vụ đó.
Tính đến nay, cả nước thu hơn 2.300 tỷ đồng từ dịch vụ này. Hằng năm, tổng diện tích giao, khoán quản lý, bảo vệ rừng được hưởng nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng đạt hơn 2,3 triệu ha.
Riêng năm 2012, hệ thống quỹ bảo vệ và phát triển rừng từ Trung ương tới các địa phương thu gần 1.200 tỷ đồng. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã từng bước thúc đẩy, từ đó tạo lập cơ chế thị trường có sự định hướng và thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc tạo ra công ăn, việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người làm nghề rừng. Các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán, bảo vệ và chăm sóc rừng ngoài nguồn thu nhập từ các giá trị trực tiếp rừng còn được hưởng kinh phí từ dịch vụ này.
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, hiện tại một số tỉnh, mức chi trả dịch vụ môi trường rừng bình quân cho các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán, bảo vệ rừng đã đạt từ 300 nghìn đồng đến 400 nghìn đồng/ha/năm.
Nhờ làm tốt chính sách này, tại tỉnh Lâm Ðồng, hằng năm đã khoán bảo vệ rừng cho gần 10 nghìn hộ gia đình, trong đó có hơn 30% số hộ là đồng bào dân tộc thiểu số, bình quân mỗi hộ nhận được từ 10 triệu đến 12 triệu đồng, góp phần ổn định và cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ nhận khoán, bảo vệ rừng. Theo báo cáo của hai tỉnh Sơn La và Lâm Ðồng, từ năm 2008 đến năm 2010, số vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng đã giảm hơn 50%.
Bên cạnh việc tăng cường chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ngành lâm nghiệp phối hợp chính quyền các địa phương tuyên truyền, vận động, ổn định đời sống của người dân để giảm thiểu tình trạng dân di cư tự do. Ðồng thời, tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân làm rừng; xây dựng tốt các mô hình cá nhân, gia đình quản lý, bảo vệ rừng.
Thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi về thể chế và các hình thức đa dạng, linh hoạt để nông dân, hộ gia đình góp giá trị quyền sử dụng đất cùng doanh nghiệp nhằm tập trung tích tụ đất cho các tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô lớn. Cùng với đó là sự đầu tư nhằm phát huy vai trò của trang trại, gia trại lâm nghiệp, với
mục tiêu đưa số lượng trang trại, gia trại lâm nghiệp lên 150% vào năm 2015 và 200% vào năm 2020 so với năm 2011; từng bước ổn định đời sống kinh tế người dân khu vực có rừng, tạo điều kiện bền vững để người dân gắn bó lâu dài với nghề rừng.
Bộ NNPTNT vừa phê duyệt "Ðề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp" với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; tăng giá trị sản xuất bình quân hằng năm từ 4 đến 4,5%; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển bền vững... (Nhân Dân 24/10) đầu trang(
Đó là khẳng định của TS.Đinh Thanh Sang– Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, Trường Trung cấp Nông lâm tỉnh Bình Dương về sự kiện cây cao su “gặp nạn” tại khu vực miền Trung vừa qua. PV Nông Nghiệp Việt Nam đã có cuộc trao đổi với TS.Sang về vấn đề này.
TS.Sang cho biết: Trong tình hình biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp và khốc liệt như hiện nay thì trước sức mạnh của cơn bão số 10 và bão Nari vừa qua, cây cao su - vốn có đặc tính giòn, rễ mọc ngang, tán lá dày thì việc gãy đổ hàng loạt cũng là điều thấy trước.
Nên nhớ, ngay cả vùng trồng cao su miền Đông Nam bộ như Đồng Nai, Bà Rịa, Hòa Bình vốn “yên bình” từ bao nhiêu năm còn bị cơn bão số 1 xảy ra vào tháng 4/2012 cũng làm gãy đổ hàng ngàn cây cao su và giá trị thiệt hại hàng tỷ đồng đó sao!
Theo nghiên cứu của chúng tôi, cây cao su chỉ thích hợp với tốc độ gió 2-3 m/s, chỉ cần gió cấp 8 là có thể gãy ngọn, gió cấp 10 có thể làm cây bật gốc.
Vấn đề cần nhìn nhận ở đây là cây cao su trồng từ tỉnh Thanh Hóa đến các tỉnh miền Đông Nam bộ đều thích hợp, rất tốt và có hiệu quả kinh tế thật sự. Thế nên, người dân vùng Bắc Trung bộ đổ xô nhau trồng cây cao su cũng là điều tự nhiên, chỉ có điều giống mua trôi nổi không ai kiểm soát.
Mà lẽ ra trước đó nhà nước khuyến cáo là chỉ nên trồng ở những vùng ít bị chịu ảnh hưởng hướng gió chính của bão, hoặc trồng rừng cao su phía sau rừng cây lâm nghiệp, nhằm hạn chế tác động trực tiếp hướng gió chính của bão. Nếu chúng ta làm tốt công tác này thì mức độ thiệt hại sẽ giảm đi.
Vì vậy, sắp tới chúng ta nên chú ý đến công tác bảo vệ và phát triển rừng, trồng các vành đai cây chắn gió cho cao su, đặc biệt là khâu tuyển chọn giống cao su cho vùng tiểu điền.
TS.Sang cho hay: Nếu trồng cao su lại tại các tỉnh Trung bộ, nhất thiết phải có các chính sách khuyến khích việc bảo vệ và trồng các loài cây thân gỗ có khả năng chống chịu gió làm vành đai chắn bão.
Theo tôi, nếu xét trên góc độ khu vực thì tốt nhất là trồng cây phi lao dọc theo các vùng nằm ven biển trên các loại đất cát; đối với đất cát ven biển thông thường và cồn cát trắng vàng thì ngoài cây phi lao là ưu tiên số một, chúng ta có thể trồng cây keo lá tràm; đối với đất cồn cát đỏ, chúng ta có thể trồng cây phi lao, cây sầu đông.
Nếu xét trên góc độ trong nội bộ vùng, chúng ta trồng các loài tre hay keo lá tràm để làm vành đai chắn gió xung quanh các diện tích cao su.
Cụ thể: Đối với các diện tích ven biển, ngập úng, khu vực có nhiều gió hoặc các vùng đồi dốc quá 130, và nơi có độ sâu tầng đất mặt nhỏ hơn 1m, chúng ta nên chuyển sang các loại cây trồng khác thay thế.
Như chúng ta đã biết, khu vực các tỉnh miền Trung là nơi tập trung nhiều cơn bão lớn, vì vậy chúng ta nên áp dụng mô hình truyền thống vườn - ao - chuồng (VAC), đặc biệt chọn các cây trồng đáp ứng được một số tiêu chí quan trọng là thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, khả năng chống chịu hay mùa vụ tránh mùa bão, chi phí đầu tư thấp, các giống có năng suất cao và là những cây trồng truyền thống, thiết yếu đối với thị trường.
Một số cây trồng có thể thay thế như khoai lang, sắn, bắp, đậu phộng, và trồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc như bò, trâu cung cấp thịt cho thị trường.
Đối với các diện tích kín gió nằm sâu trong đất liền, địa hình bằng phẳng, nơi có độ sâu tầng đất mặt lớn hơn 1m, các vùng đồi dốc dưới 13o và có rừng phòng hộ vành đai thì chúng ta có thể trồng lại cây cao su nhưng không nên nóng vội mà phải cần thêm nhiều các nghiên cứu khảo nghiệm và sau đó tuân thủ nghiêm ngặt theo một số nguyên tắc phòng tránh gãy đổ.
Trước mắt cũng như về lâu về dài, phải ưu tiên đến công tác bảo tồn và phát triển diện tích rừng tự nhiên, trồng các vành đai cây chắn gió đặc biệt là cây phi lao; khâu tuyển chọn giống cao su; kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác mủ cao su.
Khâu chọn giống đóng vai trò rất quan trọng đến sự đổ gãy của cao su, phải chọn các giống có rễ sâu, tán thấp và thân to, nên sử dụng các cây giống ươm trong bầu. Đặc biệt là các giống có khả năng chịu được gió và rút ngắn được thời gian khai thác như GT1, PB 255, PB 260, RRIM 600. (Nông Nghiệp Việt Nam 24/10) đầu trang(
Theo ông Lê Quang Thung – nguyên Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Công nghiệp Cao su VN (VRG), khí hậu và đất đai ở miền Trung không có nhiều lựa chọn cây, con gì cho người dân và trong bối cảnh đó cây cao su là một giải pháp. Vấn đề đặt ra là việc trồng cao su của người dân đã được hướng dẫn một cách bài bản, khoa học chưa? Đặc biệt là khuyến cáo của VRG về việc lập “lá chắn” bảo vệ cho cây cao su thời gian qua còn bị xem nhẹ…
Ông Thung cho hay: Với điều kiện khí hậu ẩm ướt về mùa đông, hạn hán gió Lào vào mùa hè, mưa bão về mùa thu và chất đất thì cằn cỗi nên các tỉnh miền Trung không thể nói là thích hợp cho cây cao su, một cây nhiệt đới. Tuy nhiên lựa chọn cây gì cho dân miền Trung lại là bài toán hóc búa.
Ở các địa phương này trước đây đã có cao su nhưng chỉ với diện tích nhỏ. Sau hơn 20 năm mày mò thì người dân mới đến với cây cao su như là một lựa chọn bất đắc dĩ nhưng đấy là lựa chọn của thực tế, của hàng vạn hộ nông dân, bởi vậy không thể nói dân và cán bộ địa phương lựa chọn sai.
Trong điều kiện đất đai của miền Trung thì chỉ có 2 cây phát triển được là cây rừng mà chủ yếu là keo lai và cao su. Thu nhập của cây keo lai thì quá thấp, 5-6 năm mới cho thu hoạch, tính ra mỗi năm chỉ được 5-7 triệu/ha, quá thấp, tính ra mỗi hộ nông dân ít ra cũng phải trồng hàng chục ha keo mới đủ sống.
Quỹ đất của miền Trung không có nhiều, mỗi hộ thông thường chỉ năm, ba nghìn m2, nhiều thì cũng vài ba ha nên cây keo lai đã một thời phát triển thịnh vượng và được thay thế bởi cây cao su.
Với cây cao su thì khó nhất là tính chịu gió kém. Hàng năm, cứ đến mùa mưa bão thì cây cao su bất kể ở miền nào, kể cả Nam bộ đều có tỷ lệ gãy đổ nhất định, và sau khoảng 20 năm thì số cây bị mất đi khoảng 30 – 40%.
Chúng tôi cũng tính toán rằng, trung bình trên 20 năm VN mới có bão lớn (như cơn bão ở miền Trung vừa qua) nên gây thiệt hại nhiều hơn bình thường. Nếu bây giờ chúng ta bắt tay vào trồng lại thì phải hai mươi mấy năm sau mới xảy ra mưa bão lớn, lúc này cây cao su cũng đã khai thác mủ được mười mấy năm và đến thời kỳ thanh lý rồi, có gãy đổ cũng không sao.
Tôi khẳng định tính tổng thể thì hiệu quả cây cao su vẫn cao. Thậm chí khi cây cao su bị gãy đổ thì người dân vẫn bán được gỗ. 1 ha cao su khi thanh lý thu được 250 – 300 triệu đồng, trong khi suất đầu tư 1 ha trồng mới chỉ có hơn 100 triệu. Không loại tài sản nào khi thanh lý lại có thể trồng mới được hơn 2 lần như cây cao su cả!
Tính tổng thể thì hiệu quả cây cao su vẫn cao. Thậm chí khi cây cao su bị gãy đổ thì người dân vẫn bán được gỗ
Bây giờ, có ý kiến cho rằng nên trồng loại cây khác, tôi hỏi trồng cây gì hiệu quả hơn cao su với đất đai rất xấu như ở khu vực này? Anh bảo trồng mía, trồng cây lương thực thì thử hỏi thủy lợi đâu mà làm. Nếu trồng được thì người dân đã trồng lâu rồi.
Theo ông Thung: Diện tích cao su thiệt hại không xảy ra nhiều tại các đơn vị thuộc VRG do ngay từ đầu đã tuân thủ áp dụng các biện pháp hạn chế tác động của gió bão. VRG có công ty cao su Quảng Trị, Quảng Nam, Hà Tĩnh đều nằm ở miền Trung, từ năm 2006 đến nay đều làm ăn tốt nhất so với các công ty nông lâm nghiệp khác ở địa phương.
Theo quy trình, ngoài cơ cấu giống chặt chẽ, cây cao su còn được khuyến cáo trồng ở khu vực cách biển từ 50 km và xung quanh phải có trồng cây chắn gió. Các vườn cây thuộc VRG đều có trồng cây chắn gió là keo lai, trồng thật dày ở khu vực hướng gió thổi vào. Cây keo khi trồng dày sẽ níu đỡ cây kia và che chắn cho vườn cao su.
Cách làm này đã giúp các vườn cao su của VRG nhiều năm qua giảm được thiệt hại lớn trong các mùa mưa bão.
Còn cao su tiểu điền trong dân do diện tích nhỏ, mỗi nhà trồng vài nghìn mét vuông hay một vài ha, nên thường không quan tâm trồng cây keo lai dày xung quanh. Về giống họ cũng chỉ chọn những giống năng suất cao mà ít để ý đến tiêu chí kháng gió. Vì thế, thiệt hại thường thấy rất rõ tại các vườn cao su này khi thiên tai xảy ra.
Theo ông Thung, thời gian tới chúng ta cần có biện pháp giải thích, hướng dẫn, vận động bà con nên trồng thêm cây keo, bình thường 1 ha có thể trồng 550 cây cao su, nhưng ở miền Trung chỉ nên trồng 400 cây, diện tích còn lại để trồng đai keo bảo vệ (keo chống gió phải trồng dày chứ không thể trồng thưa như trồng rừng kinh tế).
Trồng thế này, nông dân vừa có nguồn thu từ cây keo, vừa bảo vệ được vườn cao su. Có lẽ, mưa bão thời gian qua bà con đã bị tác động nhiều và có được kinh nghiệm rồi, vì thế giờ tổ chức hướng dẫn họ làm theo phương pháp “lá chắn” keo lai sẽ dễ dàng và hiệu quả nhanh thôi. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/10) đầu trang(
Ngày 23-10, Sở Nông nghiệp - phát triển nông thôn đã có buổi làm việc với các sở, ngành để thống nhất nội dung phân kỳ đầu tư Dự án khẩn cấp bảo tồn voi tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2014-2020, trình UBND tỉnh phê duyệt và gửi Bộ Nông nghiệp - phát triển nông thôn bố trí vốn.
sDự kiến nguồn vốn cần để thực hiện dự án là hơn 74 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách Trung ương 80%, ngân sách địa phương là 20%. Dự án khẩn cấp bảo tồn voi triển khai trên địa bàn 3 huyện: Tân Phú, Định Quán và Vĩnh Cửu.
Mục tiêu của dự án là bảo tồn, phát triển bền vững quần thể voi hoang dã, khôi phục bảo vệ nguồn gen động vật, thực vật nguy cấp quý hiếm và đa dạng sinh học trong vùng sinh cảnh của voi; đồng thời tăng cường thực thi pháp luật, kiểm soát các hoạt động buôn bán vận chuyển trái phép ngà voi. (Báo Đồng Nai 24/10) đầu trang(
Những năm gần đây, việc chăn nuôi thương phẩm một số loài động vật hiếm ở Việt Nam khá sôi động: đà điểu, gà sao, trĩ đỏ, nhím, cầy hương, dông cát, kỳ đà, heo rừng... Không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, việc này còn giúp giảm áp lực săn bắt động vật hoang dã, bảo vệ nhiều loài quý hiếm trước nguy cơ tuyệt chủng. Tuy nhiên, không phải cơ sở chăn nuôi động vật hiếm nào cũng thành công, nhiều cơ sở đầu tư thất bại, vướng nợ nần.
TS Võ Văn Sự, chi hội Động vật quý hiếm thuộc hội Chăn nuôi Việt Nam, nguyên trưởng bộ môn Động vật quý hiếm và đa dạng sinh học thuộc viện Chăn nuôi quốc gia, cho biết nguồn gốc sâu xa khiến người dân tìm đến các loài vật nuôi hiếm là nhiều người – đặc biệt ở châu Á – tin rằng ăn động vật hoang dã giúp họ mạnh mẽ, chữa được bệnh, lại an toàn.
Lý do khác là giá thức ăn tăng cao cộng chi phí thuốc phòng dịch bệnh khiến giá thành chăn nuôi bị đội lên, đặc biệt từ khi các nguồn thịt ngoại giá cực thấp được nhập vào, người chăn nuôi không trụ nổi nên phải xoay đủ kiểu, trong đó có việc tìm nuôi những con vật mới. Hơn nữa, những loài vật đó dẫu năng suất thấp nhưng không đòi hỏi cám công nghiệp, thức ăn bổ sung vitamin...
“Các loại này hầu như ít bệnh, nếu nuôi đúng quy trình thì có lẽ chẳng bao giờ cần đến thuốc. Thêm nữa chăn nuôi loại này không cần đến điện, mà vì thiếu nó đã làm chết 15.000 con gà, 3.000 heo công nghiệp ở các trang trại trong mùa hè 2008…”, TS Sự lý giải.
Cũng theo TS Sự, nhiều cơ sở nuôi thất bại có thể do nhận thức sai lầm của người chăn nuôi, tưởng động vật hiếm dễ nuôi: “Heo rừng Việt Nam là một điển hình. Việc thuần hoá nó không đơn giản, 95% là chết. Vì thế, người dân không nên tự làm. Con hon (don) cực kỳ khó sinh trong môi trường nhân tạo. Cầy hương từ miền Nam đưa ra miền Bắc đẻ rất ít…”
Nhiều người nuôi cho rằng, các con vật này không bệnh tật. Thực tế thì nuôi ít không sao, nhưng khi nuôi nhiều với mật độ lớn, khả năng nhận bệnh từ các loài vật nuôi khác và từ chúng với nhau cao hơn nhiều. Vậy nên việc vệ sinh phòng bệnh không thể xem thường.
TS Sự nói: “Thường họ nuôi một vài cặp, và như thế nguy cơ đồng huyết rất cao, khó có thể chọn lọc được giống tốt. Chưa kể thức ăn đơn điệu, như có khi cả tháng cho nhím ăn mỗi ngô. Họ không biết rằng trong rừng, nhím có thể ăn rất nhiều loại cây, củ quả, giun dế... để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho nó”.
Theo TS Sự, so với thế giới thì số loài vật được nuôi ở nước ta mới hơn phân nửa. Tuy nhiên cách thức của chúng ta chủ yếu là tự phát, người dân phải tự mày mò tìm hiểu kỹ thuật. “Cơ quan khoa học cần đi trước. Khốn nỗi, các cơ quan khoa học chỉ được giao nhiệm vụ khi thấy người dân đã làm ồ ạt nhằm khẳng định liệu chăn nuôi con vật đó có được không, có nguy hiểm đến môi trường hay không, và nếu được là nên như thế nào...”, TS Sự lý giải.
Với góc nhìn của một chuyên gia đã nhiều năm nghiên cứu về việc chăn nuôi động vật hiếm và bản thân từng khởi xướng việc chăn nuôi này, TS Sự cho rằng nên nhìn nhận mặt tích cực của việc chăn nuôi động vật hiếm là tạo nên sản phẩm mới cho xã hội, cho xuất khẩu và cơ may tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là khu vực miền núi nơi đất rộng, nguồn thức ăn từ cây cỏ, củ quả nhiều và rẻ.
“Nhưng để có hiệu quả thì ta cần tổ chức chăn nuôi hệ thống, bài bản, đặc biệt hướng tới sản phẩm hữu cơ. Mặt khác, Nhà nước cũng phải ngăn chặn nạn “hàng giả” trong lĩnh vực này. Hàng giả vốn là tai vạ cho nhiều ngành kinh tế, đối với các loại động vật mới “được giá” này lại càng tai vạ”, TS Sự nói.
Ngoài ra, cũng nên công nhận chúng là giống vật nuôi, bởi “thực ra nhiều loài đều vừa là hoang dã, vừa là thuần hoá: bò rừng – bò nhà, heo rừng – heo nhà... Như vậy ta sẽ có nhím rừng – nhím nhà, trĩ đỏ rừng – trĩ đỏ nhà. Nhân đây cũng cần nói đến con hươu. Hươu sao hầu như không thấy trong rừng từ năm 1975, nhưng hàng trăm ngàn con hươu hiện tại đều từ hươu nhà nuôi từ năm 1920 tại Hương Sơn vẫn bị coi là động vật hoang dã”, TS Sự nhận định. (Sài Gòn Tiếp Thị 24/10) đầu trang(
Những năm gần đây, lực lượng Hải quan đã trực tiếp phát hiện nhiều vụ vận chuyển động vật hoang dã, đặc biệt thu giữ nhiều kg sừng tê giác. Bên cạnh kết quả trên, lực lượng Hải quan lại gặp nhiều khó khăn trong quá trình xử lý vụ việc, tang vật vi phạm.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, từ đầu năm 2008 đến nay, toàn Ngành đã phát hiện, xử lý được 13 vụ vận chuyển trái phép sừng tê giác, thu giữ tang vật vi phạm xấp xỉ 121,5 kg.
Điển hình, ngày 26-2-2012, Cục Điều tra Chống buôn lậu-Tổng cục Hải quan phối hợp với Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài-Cục Hải quan Hà Nội kiểm tra, phát hiện 2 hành khách nhập cảnh trên chuyến bay từ Hồng Kông về Nội Bài có hành vi vận chuyển trái phép 22kg sừng tê giác.
Ngày 6-1-2013, lực lượng Hải quan thuộc Cục Hải quan TP. HCM đã kiểm tra, phát hiện 1 hành khách nhập cảnh có hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa cấm nhập khẩu đi từ Mô-dăm-bích quá cảnh qua hai địa điểm là Đô-ha (Qatar) và Băng Cốc (Thái Lan) đến Việt Nam. Tang vật thu giữ 16,5 kg sừng tê giác.
Ngày 20-5-2013, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã phát hiện, bắt quả tang vụ nhập lậu hơn 5 kg sừng tê giác qua đường hàng không. Khách nhập cảnh tên D.V.S, sinh năm 1982, quốc tịch Việt Nam, nhập cảnh trên chuyến bay VN100 của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam.
Khi hành khách này làm thủ tục tại khu vực hải quan, bằng các biện pháp nghiệp vụ, Đội Thủ tục hàng hóa nhập khẩu phát hiện có dấu hiệu nghi vấn, nên đã yêu cầu ông D.V.S. đưa hành lý vào kiểm tra trọng điểm bằng phương pháp thủ công. Kết quả, cơ quan Hải quan phát hiện có 6 khúc sừng tê giác, cân nặng khoảng 5 kg, được cất giấu tinh vi trong va ly.
Qua xử lý, lực lượng Hải quan nhận thấy, hàng vi phạm chủ yếu từ nước ngoài tạm nhập vào Việt Nam bằng đường hàng không (hầu hết có nguồn gốc từ Nam Phi), sau đó tái xuất đi nước thứ ba. Các đối tượng còn cấu kết với các đối tượng buôn lậu là người Campuchia, Thái Lan và Trung Quốc để buôn bán, vận chuyển tuồn hàng lậu vào Việt Nam hoặc Trung Quốc diễn biến khá phức tạp.
Tuy nhiên, việc xác minh các doanh nghiệp trong nước đứng tên nhận các lô hàng vi phạm rất khó thực hiện vì không có đủ căn cứ xác định có sự thông đồng với người gửi hàng. Hơn nữa, quá trình xác minh các đối tượng nước ngoài gửi hàng hoá vào Việt Nam gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về hệ thống pháp luật.
Không những thế, việc bảo quả tang vật vi phạm cũng gặp nhiều khó khăn, dễ bị mốc, hỏng nếu không được xử lý kịp thời. Đối với các sừng tươi vừa mới cắt rất dễ bị hỏng do không có kho chuyên dụng bảo quản và nguồn kinh phí để đảm bảo.
Hiện nay vẫn chưa có điều luật quy định định lượng ở các tình tiết định khung cấu thành cơ bản và cấu thành tăng nặng như hàng cấm có số lượng lớn, số lượng rất lớn và số lượng đặc biệt lớn.
Chính vì vậy, Cục Điều tra chống buôn lậu kiến nghị, cần thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả, trong đó, nâng cao vai trò của các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội ở tất cả các khâu. Quá trình phối hợp này phải được thực hiện từ khâu tổ chức tuyên truyền vận động, đào tạo nhận biết các loài hoang dã cần được bảo vệ... đến phát hiện, bắt giữ, xử lý.
Xây dựng điều phối hoạt động tại các địa bàn trọng điểm như sân bay quốc tế Nội Bài, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất… Đồng thời, thành lập các đầu mối trao đổi thông tin thường xuyên về tội phạm trong lĩnh vực này ở các nước láng giềng và nước xuất xứ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ về thông tin xác minh, điều tra.
Bên cạnh đó, cần tiến hành tập huấn hàng năm về động thực vật hoang dã cho các cơ quan thực thi pháp luật (nhận dạng loài, áp dụng CITES, các xu hướng và thủ thuật buôn lậu, luật pháp liên quan mới ban hành). Hướng tới vấn đề bảo vệ động thực vật hoang dã ở Việt Nam cần được xây dựng thành "Chương trình mục tiêu quốc gia" huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế.(Hải Quan 24/10) đầu trang(
Bà Teresa Telecky, Giám đốc Bộ phận loài hoang dã, Tổ chức Human Society International, gửi lời nhắn nhủ này tới cộng đồng thế giới nói chung và tất cả người dân Việt Nam nói riêng, khi trả lời phỏng vấn báo Kinh tế Việt Nam bên lề hội thảo chia sẻ thông tin nâng cao nhận thức bảo vệ tê giác và giảm cầu về sừng tê giác, tổ chức ngày 22/10, tại Hà Nội.
Bà Teresa Telecky cho biết về thực trạng săn bắt tê giác trên thế giới: Từ đầu năm 2013 tới nay đã có hơn 746 cá thể tê giác bị chết dưới bàn tay của các kẻ săn trộm ở Nam Phi, nơi có quần thể tê giác lớn nhất trên thế giới. Điều đó có nghĩa là mỗi ngày hơn hai cá thể tê giác bị giết hại để lấy sừng. Khá nhiều trong số các sừng đó đã được đem đến châu Á, trong đó có Việt Nam. Sự tái diễn nạn săn bắn trộm tê giác đang tàn phá các quần thể tê giác hoang dã ở châu Á và châu Phi và không có dấu hiệu giảm đi.
Theo bà Teresa Telecky, những lời thêu dệt về công dụng chữa bệnh của sừng tê giác đã làm cho một số người tin rằng đây là một liều thuốc chữa bách bệnh hoặc giảm sốt, và một số người sử dụng để giải rượu. Một số đối tượng khác lại sử dụng làm quà tặng cao cấp hoặc thể hiện đẳng cấp. Tuy nhiên, kết quả nhiều nghiên cứu áp dụng công nghệ cao đã cho thấy sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh và chỉ có chất keratin và các thành tố khác có hại cho sức khỏe con người.
Trong vòng 3 năm qua, cả Mozambique và Việt Nam đều chứng kiến sự tuyệt chủng của quần thể tê giác. Các nhà bảo tồn cảnh báo rằng ở Nam Phi cả tê giác đen và tê giác trắng tự nhiên có thể bị tuyệt chủng trước năm 2026.
Thông qua sự phối hợp với Hội Liên hiệp phụ nữ Hà Nội, chúng tôi đã có cơ hội giới thiệu chiến lược giảm cầu sử dụng sừng tê giác tới một bộ phận đông dân số. Nếu có thể thuyết phục được phụ nữ Việt Nam không mua hoặc sử dụng sừng tê giác, thì sẽ giúp giảm cầu một cách hiệu quả và giúp cứu được loài tê giác khỏi sự tuyệt chủng.
Nhân đây, tôi muốn kêu gọi tất cả người dân Việt Nam đang có nhu cầu sử dụng sừng tê giác hãy dừng lại, từ bỏ ý định đó để bảo vệ loài động vật hoang dã này.
Bà Teresa Telecky muốn nhấn mạnh cho mọi người hiểu sử dụng sừng tê giác là rất độc hại cho sức khỏe. Bởi để có thể săn bắn được một con tê giác thì người ta phải tẩm một loài thuốc rất độc vào vũ khí săn bắn. Thứ thuốc này không làm cho con tê giác bị chết nhưng khi bị bắn thứ thuốc đó thì con tê giác và sừng cũng đều bị ngấm thuốc.
Tại các nông trại lớn trên thế giới, người ta thường sử dụng loại thuốc nói trên để diệt các loại côn trùng, động thực vật gây hại. Vì thế, người sử dụng sừng tê giác chắc chắn sẽ gặp phải những chất vô cùng độc hại cho sức khỏe. (Kinh Tế Việt Nam 24/10) đầu trang(
Ngày 23/10, Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế Lê Ngọc Tuấn cho biết: Cán bộ Khu bảo tồn Sao la vừa phát hiện được hình ảnh của Mang lớn (tên khoa học là Muntiacus vuquangensis) - loài thú quý hiếm đang sống ngoài tự nhiên ở khu bảo tồn Sao la.
Đây là phát hiện đầu tiên về loài mang lớn, thông qua đợt kiểm tra từ bẫy ảnh; cùng với các phát hiện trước đó về thỏ vằn, voọc chà vá chân nâu, trĩ sao… làm phong phú thêm bộ sưu tập các loài thú quý hiếm ở khu bảo tồn Sao la.
Việc loài mang lớn và các loài thú đặc hữu khác xuất hiện trong Khu bảo tồn Sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế cho thấy tiềm năng về đa dạng sinh học rất lớn ở khu bảo tồn này, một lần nữa ghi nhận các hoạt động hiệu quả của đội tuần tra bảo vệ rừng cũng như nỗ lực của toàn thể cán bộ Khu bảo tồn trong các hoạt động bảo vệ các loài thú quý hiếm.
Trên cơ sở đó, Quỹ quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF) đang tiến hành giúp đỡ cho Ban quản lý Khu bảo tồn Sao la đặt thêm các bẫy ảnh, hy vọng sẽ thu được nhiều hơn nữa ảnh về động vật hoang dã quý hiếm xuất hiện tại đây, góp phần đa dạng giá trị sinh học độc đáo của nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên - Huế nói riêng.
Tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa có quyết định thành lập Khu bảo tồn Sao la và mở rộng diện tích từ 12.153 ha (theo văn bản thống nhất quy mô diện tích năm 2008) lên thành 15.519 ha. Khu bảo tồn Sao la tỉnh Thừa Thiên - Huế có nhiệm vụ bảo tồn quần thể loài sao la và các loài thú móng guốc là mang lớn và mang Trường Sơn; bảo tồn các loài động, thực vật đặc hữu và quý hiếm khác; bảo tồn các loài, nguồn gene và các sinh cảnh...(Tin Tức 23/10; Khám Phá 24/10; Phụ Nữ TPHCM 23/10) đầu trang(
Ngày 23-10, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam phối hợp với Ngân hàng Phát triển Châu Á tổ chức lễ ký kết hợp đồng giao khoán quản lý, bảo vệ gần 14.000 héc-ta rừng cho 50 nhóm hộ của 10 thôn thuộc hai xã Tà Pơơ và Chà Vàl (huyện Nam Giang).
Hợp đồng giao khoán được ký kết giữa chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Thanh và Hạt Kiểm lâm Nam Giang cho 50 nhóm hộ. Theo đó, các nhóm hộ sẽ được giao rừng trên cơ sở phân định mốc ranh giới, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng và hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Hợp đồng có thời hạn ban đầu là năm năm, nhằm tạo tiền đề xây dựng sinh kế bền vững cho người dân ở khu vực miền núi, góp phần bảo vệ và phát triển rừng...
Cũng trong dịp này, Ngân hàng Phát triển Châu Á đã trao tặng mười sổ tiết kiệm, với tổng trị giá 400 triệu đồng cho mười thôn hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn hai xã Tà Pơơ và Chà Vàl để làm nguồn vốn phát triển sinh kế ban đầu. (Nhân Dân 24/10; VietnamPlus.vn 23/10; Lao Động 23/10; Báo Quảng Nam 24/10) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai vừa Nguyễn Thành Trí đã chủ trì buổi làm việc về bảo tồn phát triển Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
Tại cuộc họp, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Trí yêu cầu thời gian tới, tập trung nhiều nguồn lực cho công tác tuyên truyền, quảng bá về khu dự trữ sinh quyển, ưu tiên nguồn vốn để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, đồng thời thu hút các nguồn vốn trong và ngoài nước để bảo vệ phát triển Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
Đa số các thành viên của Ban Quản lý Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai đều đề xuất tỉnh tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá để người dân sống trong và gần khu dự trữ sinh quyển có ý thức giữ gìn bảo vệ và phát triển; đầu tư thêm kết cấu hạ tầng để thu hút khách du lịch...
Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 580 của thế giới vào ngày 29-6-2011 và là khu dự trữ sinh quyển thứ 8 của Việt Nam. Khu này có vùng lõi gồm Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu Bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai.
Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai có diện tích gần 970 ngàn hécta, nằm trên địa bàn 5 tỉnh, là: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Dương, Bình Phước và Đắk Nông. Nơi đây được các nhà khoa học đánh giá có đa dạng sinh học phong phú của khu vực và quốc tế; là vùng rừng mưa ẩm nhiệt đới cuối cùng còn sót lại ở miền Nam Việt Nam với nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/10) đầu trang(
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp Cát Tiên thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên đang chăm sóc 34 cá thể gấu, 8 cá thể vượn đen má vàng, 2 cá thể vượn đen má trắng.
Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Cát Tiên cho biết: Hai loài gấu mà Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp Cát Tiên đang chăm sóc là những loài có tên trong sách đỏ Việt Nam. Đây là các loài thuộc nhóm 1B, nhóm các loài động vật hoang dã nguy cấp, cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại. Hầu hết những cá thể gấu được đưa vào Trung tâm cứu hộ là những cá thể được lực lượng kiểm lâm và cảnh sát môi trường đấu tranh, bắt giữ hoặc tiếp nhập của các cơ sở nuôi nhốt tại các tỉnh Tây Nguyên và vùng Đông Nam bộ.
Theo ông Thanh, những cá thể gấu khi vào trung tâm đều có bệnh, một số bị dị tật. Sau khi tiếp nhận, các bác sĩ thú y và cán bộ kiểm lâm sẽ sàng lọc, chăm sóc trong một thời gian dài, nhằm tạo điều kiện để gấu thích nghi với môi trường bán hoang dã và hoang dã. Khi gấu đã lành bệnh và có thể hòa nhập tốt với môi trường tự nhiên lúc đó sẽ được thả trở lại rừng.
Đối với những cá thể bị dị tật hoặc không còn khả năng hòa nhập với môi trường tự nhiên thì Trung tâm sẽ chăm sóc tại những khu vực riêng. Từ khi thành lập đến nay, Trung tâm đã cứu hộ thành công hàng trăm loài động vật quý hiếm.
Năm 2005, Bộ NN&PTNT đã ban hành quyết định thành lập Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp Cát Tiên (nằm trong khuôn viên Vườn Quốc gia Cát Tiên) với chức năng tiếp nhận các loài động vật hoang dã nguy cấp bị săn bắt hoặc nuôi nhốt trái phép.
Sau thành lập, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Cát Tiên đã được Trung tâm Cứu hộ linh trưởng Monkey World (Vương Quốc Anh) và Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã nguy cấp Pingtung thuộc Trường Đại học Pingtung Đài Loan hỗ trợ kỹ thuật cứu hộ chăm sóc. Hai tổ chức trên cũng tài trợ kinh phí để 4 cán bộ của Vườn Quốc gia Cát Tiên ra nước ngoài học và nghiên cứu về kinh nghiệm cứu hộ động vật hoang dã.
Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cát Tiên cho biết, ngoài vấn đề cứu hộ động vật, thời gian tới Trung tâm cứ hộ động vật hoang dã nguy cấp Cát Tiên sẽ triển khai thêm chức năng nghiên cứu tập tính sinh học, sinh lý sinh sản, nuôi sinh sản trong điều kiện bán hoang dã các loài quý hiếm nhằm phục vụ công tác bảo tồn các loài nguy cấp, thực hiện hoạt động đào tạo, huấn luyện dịch vụ thú y cung cấp thông tin cho các cơ sở nuôi nhốt hợp pháp các loài động vật hoang dã. (VietnamPlus.vn 24/10) đầu trang(
Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã và đang thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ hệ sinh thái ngập nước điển hình của cửa sông Hồng, các loài động vật, thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước; phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.
Do có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn các loài chim, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã được Tổ chức Bảo tồn Chim quốc tế công nhận là một vùng chim quan trọng của Việt Nam. Tháng 1/1989, Vườn Quốc gia Xuân Thủy là vùng đất ngập nước đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước Quốc tế RAMSAR (Công ước bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của những loài chim nước).
Tháng 1/2003, Thủ tướng ký Quyết định số 01/2003/QĐ-TTg nâng hạng Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân Thủy thành Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Tháng 12/2004, UNESCO công nhận Vườn Quốc gia Xuân Thủy trở thành vùng lõi Khu dự trữ sinh quyển thế giới khu vực ven biển liên tỉnh đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Ông Nguyễn Viết Cách, Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy cho biết: Trong 10 năm qua, Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng cửa sông Hồng, các loài động thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, nhất là các loài thủy sinh và các loài chim nước, chim di trú; phục vụ cho nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tạo việc làm cho cộng đồng dân cư địa phương.
Các quy chế quản lý như khai thác nguồn lợi ngao giống tại cửa sông Hồng; cộng đồng tham gia quản lý rừng ngập mặn; chia sẻ lợi ích thủy sản dưới tán rừng ngập mặn và tạo những sinh kế bền vững mới thay thế cho cộng đồng như trồng nấm, phát triển du lịch sinh thái, nuôi ong... đã góp phần thiết thực trong việc thực hiện chiến lược sử dụng khôn khéo và bền vững tài nguyên vùng bãi bồi khu vực Vườn Quốc gia Xuân Thủy.
Bên cạnh đó, với sự hỗ trợ và tư vấn của các tổ chức phi Chính phủ và các quỹ bảo tồn như: Jica, Unessco, Mcd, Corin-Asia, MFF, UNDP, VCF... Vườn Quốc gia Xuân Thủy đã triển khai khá nhiều chương trình, dự án như Chương trình liên minh đất ngập nước (WAP); dự án phát triển cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học tại Việt Nam; dự án tăng cường năng lực và hỗ trợ thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích... bước đầu đem lại những thành công nhất định góp phần bảo tồn bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng.
Vườn Quốc gia cũng chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục môi trường cho cộng đồng địa phương, góp phần nâng cao nhận thức về lợi ích của công tác phục hồi, bảo vệ rừng ngập mặn nói riêng và bảo vệ tài nguyên môi trường nói chung. Từ đó hình thành ý thức trân trọng rừng ngập mặn và thiên hướng sử dụng khôn khéo và bền vững nguồn tài nguyên đất ngập nước quý giá của cư dân vùng cửa sông ven biển ở Trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/10) đầu trang(
Năm 2014, huyện Ngân Sơn được giao kế hoạch trồng rừng là 1.800 ha, cao hơn năm 2013 là 300 ha. Tuy nhiên đến thời điểm này người dân trên địa bàn huyện mới đăng ký trồng rừng được khoảng 800 ha, đạt hơn 40% kế hoạch.
Năm 2013, huyện Ngân Sơn có kế hoạch trồng mới 1.500 ha rừng, trong đó rừng sản xuất là trên 1.250 ha còn lại là rừng phòng hộ và trồng cây phân tán, cơ cấu giống cây trồng chủ yếu là cây keo lai, cây mỡ và cây thông. Trong quá trình thực hiện, toàn huyện đã thiết kế được hơn 1.500 ha , đạt 104% kế hoạch. Tuy nhiên, kết thúc khung thời vụ, kết quả trồng rừng của huyện mới được gần 1.200 ha, đạt 80% kế hoạch.
Nguyên ngân được xác định là do một số hộ dân đã không thực hiện hoặc thực hiện giảm so với đăng ký thiết kế ban đầu với lý do thiếu nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, diện tích đất đủ điều kiện để quy hoạch vào trồng rừng phần lớn nằm ở vùng sâu, vùng xa, không có đường lâm nghiệp nên rất khó khăn cho việc vận chuyển cây giống;
Một số diện tích đất lâm nghiệp tại các xã Bằng Vân, Đức Vân, thị trấn Nà Phặc… có khả năng trồng rừng lớn lại nằm trong quy hoạch của Lâm trường Ngân Sơn, nên không đưa vào trồng rừng theo dự án được; thời vụ trồng rừng trùng với thời vụ thu hoạch các cây trồng vụ xuân và chuẩn bị cho gieo trồng vụ mùa, nên người dân không tập trung cho công việctrồng rừng.
Chính vì thế, để vụ trồng rừng năm 2014 đạt theo kế hoạch đề ra, hiện Ban quả lý dự án trồng rừng 147 huyện Ngân Sơn và chính quyền các địa phương đang tích cực vào cuộc tuyên truyền vận động để người dân hiểu về lợi ích của việc trồng rừng để từ đó tích cực hưởng ứng và mở rộng diên tích trồng. (Đài PT - TH Bắc Kạn 24/10) đầu trang(
Ở Bình Phước, mỗi năm có không ít diện tích cây điều phải thanh lý vì già cỗi hoặc được chủ vườn cưa hạ để chuyển đổi cây trồng. Nếu trước đây, người dân chỉ dùng làm chất đốt thì nay gỗ điều đang chiếm ưu thế trong sản xuất đồ mộc gia dụng, như bàn ghế, kệ tủ. Vì thế, phần lớn gỗ điều khi thanh lý được bán tại vườn hoặc chất đống chờ tăng giá.
Tại các huyện Bù Gia Mập, Lộc Ninh, Bù Đốp, gỗ điều được xếp từng đống cao bên vệ đường. Tùy từng nơi mà thương lái ra giá khác nhau, do phí vận chuyển, điều kiện đường sá, thân gỗ to nhỏ...
Trước đây, gia đình anh Điểu K.Huy ở ấp 1, xã Đồng Tâm (Đồng Phú) chỉ để gỗ điều làm chất đốt. Đầu năm 2011, vườn điều có hiện tượng cháy lá, khô cành, xì mủ nên anh chặt 2 sào điều, bán được hơn 1 triệu đồng tiền gỗ. Tuy nhiên, những hộ có kinh tế dư dả thì “ủ” gỗ chờ tăng giá.
Khi nhu cầu đời sống của con người nâng cao, sản phẩm đồ gỗ gia dụng dần được thay thế các vật dụng bằng nhựa trong gia đình. Với lợi thế về cây công nghiệp như tỉnh Bình Phước thì lượng gỗ điều thanh lý sẽ đóng vai trò quan trọng trong chuyển hướng mục tiêu từ sử dụng gỗ rừng tự nhiên sang gỗ cây lâu năm. Điều này sẽ mang lại nguồn lợi cho người trồng từ việc bán gỗ điều, thay vì chỉ để làm chất đốt, thậm chí để mối mọt như trước đây. (Báo Bình Phước 24/10) đầu trang(
Do hoàn cảnh lịch sử, áp lực gia tăng dân số và hậu quả chiến tranh đã thúc đẩy nhanh sự suy thoái, sự xáo trộn và phá hoại các hệ sinh thái tự nhiên của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Sự biến đổi các hệ sinh thái và các dịch vụ của chúng đồng thời chịu tác động của nhiều tác nhân. Đó chính là những mối đe dọa trực tiếp và gián tiếp đến các hệ sinh thái của chúng. Cụ thể như sự gia tăng dân số của vùng đã gây áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhiều hệ sinh thái suy giảm về chất và diện tích, do việc sử dụng bất hợp lý các nguồn tài nguyên như nước, đa dạng sinh học.
Các hoạt động phát triển kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long tuy đã tạo bước đột phá cho vùng hạ lưu sông Mê Kông, cải thiện thu nhập của cộng đồng dân cư và phục vụ nhu cầu cuộc sống cho địa phương nhưng đã và đang gây áp lực đối với chức năng của các hệ sinh thái, do việc khai thác quá mức các dịch vụ cung cấp, điều tiết và du lịch, văn hóa. Đồng thời, công tác quy hoạch còn yếu kém, tính thực thi pháp luật thấp và nguồn nhân lực cho quản lý đa dạng sinh học, đất ngập nước của vùng hạn chế, dẫn đến nhiều hoạt động khai thác quá mức, đánh bắt động vật hoang dã trái phép đã và đang đe dọa, phá hủy nơi cư trú của nhiều loài quý, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng.
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản gây biến đổi trực tiếp đến các hệ sinh thái đất ngập nước, làm giảm dịch vụ cung cấp các nguồn lợi tự nhiên, dịch vụ điều tiết dự trữ nguồn nước. Trong những năm gần đây, việc phát triển nhanh chóng diện tích nuôi tôm tự phát, không tuân thủ quy hoạch, thiếu các giải pháp kỹ thuật đã gây nhiều thiệt hại cho lâm nghiệp, nông nghiệp và ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Trong 10 năm vừa qua, có khoảng 250.000ha đất lúa màu mỡ trong vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long bị chuyển sang nuôi tôm. Diện tích mặt nước nuôi thủy sản năm 2012 lên tới 740.000ha, tăng 39.000ha so với năm 2006. Điều này không những gây suy thoái môi trường ngay tại các khu vực chuyển đổi, mà còn làm tăng mức độ lan truyền mặn sâu vào nội đồng, một số khu vực bị ô nhiễm lan truyền không thể kiểm soát nổi.
Mặt khác, việc sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất lúa, cây ăn quả đã gây ô nhiễm đến chất lượng môi trường khu vực, làm ảnh hưởng trực tiếp đến các giá trị và chức năng của các hệ sinh thái.
Theo Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, trong 3 vụ lúa hàng năm, nông dân tại Cần Thơ, Đồng Tháp bón phân hóa học các loại từ 514-613kg/ha. Nếu chỉ sản xuất 2 vụ hè thu và thu đông trong năm, nông dân bón từ 348-435kg/ha. Như vậy, mỗi năm đồng ruộng trong khu vực gánh từ 10.000 tấn hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật trở lên. Đó là chưa tính lượng nông dược được phun xịt, rải trên vườn cây, trong ao nuôi thủy sản với tổng diện tích hơn 700.000ha.
Sự biến đổi sử dụng đất và độ che phủ đất đã làm biến đổi chức năng của hệ sinh thái, gây áp lực đến các dịch vụ cung cấp, điều tiết và hỗ trợ của hệ sinh thái. Ví dụ ở Tiền Giang, từ năm 2011-2012 có hơn 1.000ha đất lúa “biến mất”, chủ yếu do nông dân chuyển sang trồng cây ăn trái và làm đường giao thông. Chỉ từ năm 2007-2010, tỉnh Sóc Trăng mất tới 8.000ha đất lúa, còn tỉnh Đồng Tháp trong thời gian từ 2008-2010 cũng bị “bốc hơi” 3.000ha đất lúa do chuyển đổi mục đích sử dụng.
Đặc biệt, tác động của biến đổi khí hậu đã và đang là mối đe dọa nguy hiểm đổi với Đồng bằng sông Cửu Long, làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan tràn chua phèn và gây ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của các hệ sinh thái. Trong nhiều trường hợp làm biến mất nhiều hệ sinh thái và gây mất mát các dịch vụ hệ sinh thái của khu vực.
Trong các mối đe dọa đã nêu trên, sự gia tăng dân số và áp lực phát triển kinh tế được coi là mối đe dọa cơ bản nhất. Từ đó xuất hiện nhiều áp lực khác lên các dịch vụ hệ sinh thái, bởi các chính sách phát triển không hợp lý.
Chẳng hạn như phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản quá mức đã làm mất nhiều hệ sinh thái có giá trị như rừng ngập mặn. Trong đó, biến đổi khí hậu đang được xem là mối nguy hiểm tiềm tàng, đe dọa nghiêm trọng đến dịch vụ hệ sinh thái của Đồng bằng sông Cửu Long cả về trước mắt và lâu dài. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/10) đầu trang(
Sau 3 năm thành lập, đến nay, Trạm kiểm định chất lượng nông, lâm, thủy sản Hà Nội (Sở NN&PTNT Hà Nội) đã đáp ứng được việc kiểm nghiệm một số nhóm các chỉ tiêu chất lượng, an toàn thực phẩm.
Cụ thể: 8 chỉ tiêu vi sinh cơ bản nhất để kiểm soát an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản; 4 chr tiêu các chất cấm tồn dư kháng sinh, hoóc môn trong thịt và thủy sản bằng phương pháp Elisa; một số chỉ tiêu bảo vệ thực vật bằng phương pháp kiểm nghiệm nhanh…
Trạm đã được Bộ KH&CN công nhận phù hợp theo ISO 17025 lĩnh vực vinh sinh, mang số hiệu Vilas 642 và được Bộ NN&PTNT chỉ định là phòng thử nghiệm chất lượng nông, lâm, thủy sản với mã số LAS-NN77. (Hà Nội Mới 23/10, Tr3, số 16050) đầu trang(
UBND tỉnh Quảng Nam vừa quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu dự án trồng rừng cảnh quan khu vực Tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng và Nghĩa trang liệt sỹ tỉnh với tổng giá trị các gói thầu gần 2 tỷ đồng từ vốn ngân sách nhà nước.
UBND tỉnh giao Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Nam (chủ đầu tư) có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lựa chọn các nhà thầu theo đúng các qui định tại Luật Đấu thầu, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 và Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 của Chính phủ. (Quangnam.gov.vn 23/10) đầu trang(
Tỉnh đang thực hiện giao khoán quản lý bảo vệ 336.527 ha rừng cho 19.111 hộ, trong đó có 16.397 hộ dân tộc thiểu số với diện tích 319.855 ha.
Đại diện UBND tỉnh cho biết, việc giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ dân với đơn giá từ 300.000 - 400.000 đồng/ha góp phần ổn định cuộc sống cho các hộ nhận khoán.
Tỉnh cũng giao 7.628 ha rừng cho các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, buôn sống gần rừng để trồng rừng, quản lý bảo vệ rừng và sản xuất nông - lâm kết hợp tại các huyện Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Đức Trọng, Lâm Hà, Lạc Dương, Đam Rông và Bảo Lộc. (Tin Tức 23/10) đầu trang(
Chuyện anh Nguyễn Tấn Hiệu (SN 1974, thôn Phú Quý 2, xã Tam Mỹ Đông, Núi Thành, Quảng Nam) bị đi tù rất ngắn gọn. Năm 2007, anh liên quan đến dự án trồng rừng và bị “dính” 2 năm tù giam.
Trở lại đời thường, anh vẫn bám rừng, làm giàu từ rừng. Tài sản trong tay anh hiện có hơn 30 ha rừng keo lá tràm, 10 ha xoài, 1.000 cây chanh không hạt. Mỗi năm, anh bỏ túi 400 - 500 triệu đồng.
Anh Bảy hé mở, trước đây, anh làm chủ thầu xây dựng có tiếng ở đất Quảng Nam. Năm 1998, anh ôm nhiều công trình xây dựng và "ngày đó, ném cục tiền ấy vào mua vàng, hay ngân hàng thì chắc không phải như thế này. Chỉ ngồi chơi đủ sống rồi”.
Anh Bảy cho biết: “Chẳng giấu gì các chú, cái số tôi vậy rồi. Những năm 1998, đổ tiền vào trồng rừng, đến năm 2007, có một dự án trồng rừng được Nhà nước rót vốn. Lúc này, tôi có mối quan hệ rộng nên đứng ra nhận trồng rừng. Trong quá trình triển khai thì bị sai phạm, rồi tôi dính án 2 năm”.
Nói về lý do vì sao lại dính tù tội, anh Bảy gãi đầu: Thôi chuyện qua rồi đừng nhắc lại nhiều chú ạ! Hai năm “bóc lịch” trong trại giam là quá đủ rồi. Sai lầm, khổ đau thì cũng đã qua. Người ta bảo: “Ăn của rừng rưng rưng nước mắt. Tôi đã nếm đủ, hiểu được cái mình làm sai. Ngẫm lại, người đời nói quả không sai nhưng quan trọng là mình biết sửa sai thôi”.
Gác lại những tháng ngày liên quan đến tù tội, PV hỏi tiếp: Sau khi ra tù sao anh không chú tâm đến thầu công trình xây dựng mà đeo bám rừng? Anh Bảy đáp: Cùng vì rừng khiến mình sạt nghiệp nên mình tiếp tục ôm lấy rừng để đòi lại những cái đã mất", Bảy Rừng tâm sự.
Anh Bảy trải lòng: “Từ trước những 1998, nơi đây là những nương rẫy của bà con. Ngày đó, người dân sống theo kiểu du canh du cư, cứ hết cánh rừng này họ đốt khu rừng khác để trồng lúa, sắn. Và sau một vài mùa lại đi khai phá khu vực mới, sau đó quay lại chỗ cũ.
Càng ngày, đất bạc màu và năng suất không cao. Thấy những ngọn đồi trọc lốc, mỗi đợt mưa là đất đá cuốn trôi theo dòng nước, nếu không trồng cây lên đó thì sẽ không giữ được đất, nên tôi bỏ tiền gom đất của bà con để trồng keo".
Dẫn PV tham quan khu rừng rộng bạt ngàn, đặc biệt là có nơi đá nhiều hơn đất, thế nhưng cây keo mọc lên xanh ngút ngàn. “Để trồng được keo lên đó là điều không dễ, phải đào hố thật sâu rồi lấy đất từ nơi khác bỏ xuống hố và trồng cây lên. Ngoài ra, hằng năm cho nó “nuốt” rất nhiều phân mới sống được. Khó khăn là thế nhưng hàng chục ha núi đá được tôi phủ xanh cây tràm”, anh Bảy nói.
Nhờ cần cù, chịu khó, nay Bảy Rừng sở hữu riêng cho mình một khối tài sản “vàng xanh” trên 30 ha keo tại xã Tam Mỹ Tây. Nói về hiệu quả, anh Bảy hạch toán: Mỗi héc ta keo cho mức lãi từ 60 - 70 triệu đồng sau từ 5 - 7 năm trồng, chăm sóc.
Như vậy, với 30 ha rừng, số tiền Bảy Rừng thu về mỗi năm không hề nhỏ. Bảy Rừng cười: “Từng ấy tiền có phải mình ôm đâu, phải nuôi 10 người làm quanh năm, đến vụ thu hoạch nuôi thêm gần 200 nhân công. Các chú xem đó, để có con đường vào đây, tôi phải bỏ ra cả tỷ đồng phá đá, ủi đất. Tính đi, tính lại thì lại cũng không ăn thua. Nhưng yêu rừng, đam mê rừng mình không bỏ được nghiệp trồng rừng”.
Anh Bảy phân tích: Thực tế, để có một diện tích đất rừng trồng thì nguồn lực đầu tư không hề nhỏ. Với phương châm lấy ngắn nuôi dài, những nơi thu được thì lấy vốn đó đầu tư tiếp và trồng mới sẽ diễn ra liên tục trong các năm. Việc khai thác cũng vậy, không chỉ đảm bảo về công ăn việc làm mà ổn định cả về thu nhập.
Từ suy nghĩ như vậy, cùng với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, Bảy Rừng sẵn lòng giúp đỡ nhiều hoàn cảnh khó khăn tại địa phương. Anh thổ lộ: “Cuộc sống bà con dân tộc còn lắm gian truân nên dù việc nhỏ hay lớn, nếu trong khả năng mình giúp đỡ được thì tôi luôn sẵn lòng.
Trung bình mỗi ngày có gần hàng chục lao động trong thôn tìm đến tôi xin việc làm. Có nhiều người ốm đau không có tiền chữa trị hay đến năm học mới, người làm thuê họ cần tiền lắm. Cứ rứa tôi ứng tiền trước, người nhiều thì 5 đến 10 triệu, người ít thì vài trăm ngàn. Ít bữa họ lại làm trả sau.
Ngày trước tui cũng vậy, nếu không có sự chung tay giúp đỡ, động viên kịp thời của mọi người thì chưa chắc tôi đã có được cơ ngơi và sự nghiệp hôm nay”.
Từ khi có của ăn của để, Bảy Rừng nhận nuôi hai đứa trẻ mồ côi, nay hai người đã lớn và có gia đình. Và hằng ngày họ cũng gắn bó với công việc trồng rừng.
Ông Nguyễn Trung Kiên ở xã Tam Trà gắn bó công việc chăm sóc rừng cho anh Bảy gần 5 năm nay, mỗi tháng ông được trả 3-4 triệu đồng. Cơm, thức ăn chủ lo. “Ở đây không những tôi mà có 10 anh em có việc làm thường xuyên, còn đến mùa vụ thu hoạch keo thì hàng trăm người. Ở vùng núi này, tháng thu nhập như vậy là khủng rồi, chứ trồng sắn, lúa không được bao nhiêu"
Rời “thánh địa” keo của Bảy Rừng, nhìn 10 ha xoài Tứ Quý, Đài Loan sang năm bắt đầu cho trái, anh Bảy nhẩm tính: “Nếu bán ở chợ đầu mối ở TP Tam Kỳ, Quảng Nam thì 1 kg là 17.000 đồng, và mỗi năm sẽ cho hàng trăm triệu đồng”. Ngoài ra, còn 1000 cây chanh không hạt, sắp tới cũng cho quả thì hằng năm Bảy Rừng thu về số tiền không nhỏ.
Trong mấy năm trở lại đây rừng keo của Bảy Rừng đón tiếp không ít đoàn tham quan. Không những thế, rừng keo này đã làm "đề tài" cho nhiều người nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, thạc sĩ. “Mỗi lần có nghiên cứu sinh đến thì họ chặt, rồi làm hỏng nhiều cây để nghiên cứu. Thế nhưng tôi không làm khó dễ cho họ, mình giúp họ bảo vệ thành công luận án là vui rồi”, Bảy Rừng tâm sự. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/10) đầu trang(
Một doanh nghiệp (DN) chuyên về lĩnh vực kinh doanh linh kiện ô tô, xe máy có trụ sở tại Hà Nội bỗng dưng nhảy vào lĩnh vực trồng cây dược liệu và được tỉnh Bắc Giang, dưới sự tham mưu của Chi cục Kiểm lâm, cấp phép khảo sát, điều tra hệ thống sinh thái và địa chất tại rừng phòng hộ Cấm Sơn (Lục Ngạn). Nhưng, đâu là cốt lõi của câu chuyện nực cười này.
Ngày 3/6/2013, tỉnh Bắc Giang có công văn số 1354 chấp thuận cho Cty CP Vina Anh Linh, trụ sở tại 184 Thái Thịnh, Đống Đa (Hà Nội) được thực hiện khảo sát, điều tra hệ thống sinh thái và địa chất tại khu vực rừng phòng hộ Cấm Sơn với diện tích 500 ha thuộc địa phận xã Tân Sơn (Lục Ngạn) để trồng cây dược liệu.
Theo thuyết trình dự án của Cty CP Vina Anh Linh, dự án này sẽ đầu tư 100% kinh phí để đầu tư trồng cây dược liệu quý có giá trị dưới tán rừng nhằm chống bào mòn cho đất, tăng cường độ che phủ cho rừng, sản phẩm dự án được bao tiêu toàn bộ.
Ngoài ra, DN này cũng đưa ra những nội dung khảo sát cụ thể gồm: Điều tra tình hình dân số, tập quán sinh hoạt và thói quen phát triển kinh tế gia đình từ rừng, quan hệ xã hội của người dân địa phương; Đào thăm dò một số vị trí để xác định tầng địa chất, lấy mẫu đất phân tích, xác định thành phần dinh dưỡng khí hậu phù hợp với cây trồng trong dự án.
Cty cũng sẽ khảo sát, lập dự toán và quyết định đầu tư cải tạo nâng cấp tuyến giao thông từ trung tâm xã Tân Sơn đến các vùng dự án, đồng thời khẳng định sẽ hỗ trợ địa phương xây dựng thêm lớp học, bệnh xá, khám chữa bệnh miễn phí cho nhân dân... Ngoài ra, DN còn cam kết thực hiện nghiêm túc, không gây ảnh hưởng tới rừng.
Dường như quá sốt sắng trước dự án, hay vì một lý do nào đó, ông Dương Xuân Bánh, Phó GĐ Sở NN-PTNT, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đã ngay lập tức có công văn số 640 gửi huyện Lục Ngạn, Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm Sơn, xã Tân Sơn, đề nghị "tạo điều kiện cho Cty CP Vina Anh Linh vào tiến hành khảo sát tại rừng phòng hộ".
Tình trạng khai thác vàng sa khoáng trái phép trên địa bàn một số xã như Tân Sơn, Phong Minh… của huyện Lục Ngạn diễn ra đã lâu. Còn nhớ năm 2003, tại đây đã có tới cả chục chiếc tàu cuốc của những người từ Nam Định tới đây đào đãi vàng.
Sau khi nhân dân địa phương phản ánh và các cơ quan thông tin đại chúng lên tiếng, huyện Lục Ngạn đã ra tay ngăn chặn nạn khai thác trái phép này. Đầu năm 2006, tình trạng trên lại tái diễn và trở thành vấn đề bức xúc bởi quy mô khai thác ngày càng lớn.
Trước thực trạng đó, huyện Lục Ngạn chỉ đạo các xã khu vực trên tăng cường công tác quản lý việc khai thác khoáng sản; thành lập tổ kiểm tra liên ngành, lập biên bản vi phạm hành chính đình chỉ hoạt động và phạt tiền chủ tàu cuốc, máy xúc vi phạm quy định về quản lý tài nguyên khoáng sản.
Câu chuyện về dự án trồng cây dược liệu của Cty CP Vina Anh Linh và vấn nạn khai thác vàng tại Lục Ngạn tưởng chẳng có gì liên quan đến nhau. Tuy nhiên, nhiều người dân tại huyện Lục Ngạn lại cho rằng, có cái gì đó mờ ám đằng sau việc Cty CP Vina Anh Linh khảo sát đất.
Sự việc có vẻ sáng tỏ dần dần khi huyện Lục Ngạn có văn bản gửi Sở NN-PTNT tỉnh Bắc Giang vào ngày 5/9/2013 "tố" những hành vi bất thường của Cty CP Vina Anh Linh trong rừng phòng hộ gồm: Cty đã đào 2 hố sâu trong rừng tự nhiên phòng hộ khi chưa có ý kiến của cơ quan quản lý. Ngày 27/8, Ban quản lý rừng phòng hộ Cấm Sơn đã lập biên bản đình chỉ việc khảo sát của Cty CP Vina Anh Linh.
Ngày 3/9, các cơ quan chức năng huyện Lục Ngạn đã thanh tra thực địa khu vực khảo sát của DN này thì phát hiện tại hiện trường có 2 lán trại, đào 2 hố, mỗi hố có chiều rộng 6m, chiều dài 6m, diện tích 36m2, sâu đến 2m. Cty này còn thuê đến 15 người từ nhiều tỉnh đến để đào bới.
Điều kỳ lạ nhất là số đất mà Cty CP Vina Anh Linh lấy được từ các hố sâu trong rừng phòng hộ Cấm Sơn đều được DN này đóng thành các túi khoảng 15kg và được chuyển đi khỏi địa phương. Hơn nữa, thực tế là ngoài việc đào lấy đất mang đi, DN không khảo sát bất kỳ số liệu nào khác để phục vụ cho việc đầu tư lập dự án trồng cây dược liệu dưới tán rừng như xin phép ban đầu.
Dư luận đặt câu hỏi, vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước, ở đây là Chi cục Kiểm lâm, trực tiếp là Chi cục trưởng Dương Xuân Bánh, ở đâu khi để một DN dễ dàng qua mặt tỉnh làm những việc mờ ám?
Được biết, sau khi những hành vi bị lộ tẩy, Cty CP Vina Anh Linh trốn bặt tăm mà không hề quay lại làm việc hay giải trình gì với Sở NN-PTNT tỉnh Bắc Giang mặc dù cơ quan này đã nhiều lần liên hệ yêu cầu làm việc. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/10, tr14) đầu trang(
Sáng 23.10, ông Lê Văn Bé, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên, cho biết vụ vận chuyển thú rừng quý hiếm bằng xe cứu thương sẽ xử lý hành chính, vì tê tê là thú rừng quý hiếm thuộc nhóm 2B, không nằm trong danh mục động vật hoang dã quý hiếm cần được bảo tồn.
"Căn cứ vào quy định, hành vi này chỉ xử lý hành chính. Còn mức xử phạt thế nào thì cần phải tiếp tục xác minh, làm rõ", ông Bé nói.
Theo ông Bé, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Yên đã yêu cầu tài xế Lê Văn Tùng (ở phường Xuân Lộc, TP.Vinh, Nghệ An), người lái xe cứu thương BKS 57M-9017 chở 49 con tê tê cung cấp giấy tờ chủ sở hữu xe và chủ lô hàng tê tê bị bắt.
“Chúng tôi đã yêu cầu, nhưng đến nay tài xế vẫn chưa cung cấp. Nếu quá thời hạn quy định, tài xế không cung cấp đầy đủ theo yêu cầu của Chi cục Kiểm lâm thì sẽ xử lý theo quy định pháp luật”, ông Bé nói.
Toàn bộ số lượng 49 con tê tê nặng gần 256 kg đã được các cơ quan chức năng định giá 511,6 triệu đồng, đựng trong bao cước, và sẽ được bán đấu giá cho các cơ sở gây nuôi động vật rừng được cấp giấy đăng ký trại nuôi theo quy định pháp luật. (Thanh Niên 23/10) đầu trang(
“Tôi chưa có số liệu thống kê chính xác, nhưng bình quân một tháng bắt hơn chục vụ phá rừng, hàng chục khối gỗ chứ không ít. Ngăn chặn phá rừng ở đây gần như là không thể. Nguyên nhân cơ bản nhất là luật chưa đủ mạnh, thiếu sự phối hợp ăn ý, khi xảy ra vụ việc thì xử lý không dứt khoát…”.
Đó là ý kiến ông Nguyễn Đăng Quan, Phó Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu (KBT) khi trao đổi với Nông Nghiệp Việt Nam.
Trong khi lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc (Bà Rịa - Vũng Tàu) né tránh thì lãnh đạo Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu lại rất mong muốn được trao đổi với báo chí để nói lên những khó khăn trong công tác bảo vệ rừng của mình. Chiều ngày 10/10, PV đến Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu giữa lúc lực lượng bảo vệ và kiểm lâm đưa về một khúc gỗ săng đá dài 3 mét, đường kính khoảng 60cm, tang vật tịch thu của lâm tặc.
Đống gỗ trước sân gồm đủ loại: gõ, sao, săng đá, sến, dầu..., mỗi ngày lại được chất cao hơn. “Tụi tôi hầu như chỉ làm được một việc là tịch thu tang vật chứ chưa có biện pháp hữu hiệu nào để ngăn chặn tình trạng phá rừng”, một cán bộ trong BQL KBT nói.
Theo ông Nguyễn Đăng Quan: Nguyên nhân chính khiến tình trạng phá rừng cứ tái diễn nhức nhối là công tác xử lý quá nhẹ, không đủ sức răn đe. Dù biết họ cưa cây, phá rừng nhưng khó có thể bắt. Chỉ cần quăng cưa, rìu đi, tang vật còn lại là cái xe, họ nói đi rẫy, thậm chí đi chơi… là xong, mình mang xe về rồi cũng phải thả ra.
Điển hình như năm ngoái, xảy ra một vụ rất lớn. Chúng tôi phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc, công an và xã đội xã Bình Châu phục kích trên đường ven biển, phát hiện nhóm lâm tặc đi trên 3 xe gắn máy hai bánh kéo theo một xe lôi chở khúc gỗ săng đá từ Hồ Linh, Hồ Cốc phóng trên đường ven biển về hướng Hàm Tân (Bình Thuận) nên truy bắt nhưng bị tụi họ một mặt vẫn không dừng xe, một mặt chống trả quyết liệt.
Đến ngã 3 QL55, chúng tôi bắn chỉ thiên yêu cầu dừng xe lại để kiểm tra thì họ rồ ga chạy nhanh hơn. Không chỉ thế, họ còn ép xe của tụi tôi, tay lăm lăm những khúc gỗ, cà mã tấu xuống mặt đường làm lửa văng tung tóe, sẵn sàng đánh trả nếu chúng tôi áp sát.
Gần như ngày nào lực lượng bảo vệ rừng của KBT cũng bắt được tang vật mang về như thế này. Nhưng, chỉ có tang vật chứ không có người vi phạm
Mặc dù đã bắn mấy phát chỉ thiên nhưng họ vẫn ngoan cố, chúng tôi bắn vào lốp xe, không may viên đạn trúng khúc gỗ cứng nên đạn đã dội ngược, trúng người làm 3 người (đều trú tại xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân, Bình Thuận) bị thương. Lúc này tụi họ mới bỏ chạy vào nhà dân, để lại hiện trường 1 xe máy và khúc gỗ săng đá.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, cơ quan công an các cấp đã vào cuộc điều tra. Và kết luận cuối cùng là không đủ yếu tố khởi tố vụ án hình sự, chỉ phạt hành chính. Thậm chí, một điều tra viên thụ lý vụ án còn nói với chúng tôi là giải quyết êm xuôi lo tiền thuốc thang cho 3 tên phá rừng đi, đừng để kiện tụng phiền phức! Như thế, làm sao răn đe được?
Ông Quan cho biết: Sau khi sự việc xảy ra, chúng tôi bị nhiều cuộc điện thoại gọi tới với nội dung đe dọa. Nhiều khi đang chạy xe ngoài đường, tự nhiên có cục đá to tướng ném trúng. May có mũ bảo hiểm.
Nhân sự của KBT có 68 người, trong đó có 42 bảo vệ, chia làm 8 chốt. Năm nay được tăng cường thêm tổ kiểm lâm 11 người nữa. Theo qui định, lực lượng như vậy thì không mỏng. Nhưng trên thực tế thì… mỏng.
Bởi vì như anh thấy đấy, địa hình KBT bằng phẳng, lại “nằm giữa lòng dân”, xung quanh toàn khu dân cư, chỗ nào cũng có thể xâm nhập vào rừng được. Cái khó nữa là phần lớn diện tích KBT ngày xưa là rừng sản xuất, vẫn còn ruộng rẫy của dân, họ vẫn ra vô hàng ngày. Lâm tặc lợi dụng điều này, vào rừng như đi rẫy, rất khó kiểm soát.
Chưa tính sự nguy hiểm, anh em bảo vệ ở đây đã cực lắm rồi. Làm cả ngày lẫn đêm chứ không phải 1 năm không quá 200 giờ như luật đâu. Vậy nhưng, thu nhập chỉ chưa đến 4 triệu đồng/tháng.
Tôi công tác ở đây 30 năm rồi, chứng kiến nhiều chuyện khôi hài lắm. Như việc bắt quả tang lâm tặc chở gỗ, chúng tôi bắt rồi xảy ra xô xát, ra cơ quan công an, tên chở gỗ khai đi rẫy, thấy người ta bỏ gỗ bên đường thấy tiếc nên mang về chứ không phá rừng. 2 tên còn lại nói đi chơi và không quen biết người chở gỗ, họ làm chứng lời khai của tên chở gỗ.
Cơ quan công an chấp nhận. Ngược lại, không tin chúng tôi vì không có ai làm chứng cả. Họ bảo: “Bên kia có người ngoài làm chứng, còn các anh cùng là bảo vệ, đương nhiên phải bảo bênh vực nhau rồi”!
Còn vũ khí, chúng tôi chỉ được trang bị gậy, súng bắn đạn cao su và bình xịt hơi cay. 3 thứ này lâm tặc biết rất rõ và chẳng hề sợ, tụi nó có cưa máy, rựa dài trong tay nên sẵn sàng xô xát.
Có lần anh em bắt quả tang lâm tặc đang cưa trộm gỗ, trong tay có cầm cây rựa, khi xảy ra xô xát nhẹ, dù chưa làm gì nhưng khi ra cơ quan công an, họ hạch chúng tôi là: ai cho phép các anh dùng rựa làm vũ khí?
Theo ông Quan, cần những biện pháp để ngăn chặn tình trạng phá rừng như hiện nay như: Thứ nhất, đối tượng vi phạm có một số từ huyện Hàm Tân, Bình Thuận sang, đa số còn lại là dân địa phương. Nhưng lâm tặc từ Bình Thuận muốn sang đây hoạt động thì phải có người địa phương. Cho nên, phải làm công tác tuyên truyền sâu rộng cho “người nhà” trước đã. Đó là nhiệm vụ của chính quyền địa phương các cấp và cả chúng tôi.
Thứ 2 là có hướng giải quyết công ăn việc làm cho bà con nông dân. Xưa giờ bà con đa số mưu sinh dựa vào rừng, chính quyền xã phải sàng lọc những đối tượng “cộm cán”, phá rừng chuyên nghiệp để răn đe, thuyết phục và hỗ trợ họ tìm một công việc khác ổn định.
Điều quan trọng thứ 3 là vấn đề xử lý. Như trên tôi đã nói, không kể mức phạt không đủ sức răn đe, nhiều năm nay, các cấp chính quyền từ huyện, xã đến Hạt Kiểm lâm, đã ra cả trăm quyết định xử phạt về tội phá rừng, nhưng họ không đóng, cơ quan chức năng cũng chẳng làm gì, chẳng tiến hành cưỡng chế. Cho nên, cần xử lý mức phạt nặng nhất có thể. Và khi đã có quyết định xử phạt, phải làm dứt khoát. Không đóng phạt thì phải tiến hành cưỡng chế.
Về tình trạng phá rừng lấy gỗ làm than, ngày xưa thì nhiều, nhưng giờ cũng bớt rồi. Chúng tôi đã kết hợp với kiểm lâm đi kiểm tra và hủy khá nhiều lò. Nhưng bây giờ, họ không làm than trong rừng nữa mà đưa hẳn về nhà, rất khó xử lý. (Nông Nghiệp Việt Nam 23/10) đầu trang(
Tuyến đường Hồ Chí Minh qua địa bàn tỉnh Kon Tum được Nhà nước đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để tạo tuyến giao thông quan trọng, thông suốt từ Bắc tới Nam. Về đêm, những chiếc xe chở gỗ quá khổ, quá tải vẫn thường xuyên chạy qua đèo Lò Xo, khiến tuyến đường Hồ Chí Minh nhanh chóng hư hỏng nặng.
Mùa bão lũ năm 2013, đường Hồ Chí Minh (từ huyện Đắk Glei đến huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) dù chỉ mới hoàn thiện trong vài năm nay nhưng bị sạt lở, hư hỏng. Tình trạng xe chở quá khổ, quá tải thường xuyên lưu thông trên tuyến đường này góp phần tàn phá tuyến đường.
Đường Hồ Chí Minh có nhiều đoạn xuống cấp, nhất là ở khu vực đèo Lò Xo giáp ranh giữa tỉnh Kon Tum và tỉnh Quảng Nam. Về đêm, từng đoàn xe chở gỗ đi qua tuyến đường này.
Cứ về đêm, tình trạng từng đoàn xe chở gỗ chở quá khổ, quá tải vẫn thường xuyên đi qua tuyến đường này, với hành trình về xuôi. Được biết, những chiếc xe gỗ này được chở từ Lào, qua Cửa khẩu quốc tế Bờ Y (huyện biên giới Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) đi dọc đường Hồ Chí Minh, rồi chạy về tỉnh Quảng Nam, TP Đà Nẵng. (Công an TPHCM 24/10; Tài Nguyên&Môi Trường 24/10) đầu trang(
Không chỉ tự ý phá hơn 20ha rừng thuộc địa bàn xã Bồng Am (Sơn Động - Bắc Giang), Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Động còn ngang nhiên mở cả đường xuyên rừng để phục vụ cho việc vận chuyển lâm sản. Sự việc ngang nhiên là vậy nhưng cơ quan chức năng lại không hề hay biết trong suốt thời gian dài!
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Sơn Ðộng (Công ty Lâm nghiệp Sơn Động) được UBND tỉnh Bắc Giang phê duyệt dự án cải tạo rừng tự nhiên tại huyện Sơn Động giai đoạn 2008-2012, với tổng diện tích 390ha. Tuy nhiên, thay vì làm đúng chức năng nhiệm vụ được giao thì doanh nghiệp này lại “tiện tay” xơi nốt hơn 20ha rừng trên địa bàn xã Bồng Am, gây bức xúc dư luận. Chỉ khi nhiều người dân gửi đơn tố cáo, sự việc mới vỡ lở.
Theo Kết luận nội dung tố cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang, đến hết năm 2012, công ty này đã thực hiện cải tạo, khai thác được 351,7ha trên tổng số 390,6ha được cấp phép. Tuy nhiên, ngoài việc cải tạo diện tích rừng trên, Công ty Lâm nghiệp Sơn Động còn phá 23ha rừng tự nhiên để trồng rừng kinh tế nằm tại khu vực Khe Rào (xã Bồng Am) và khoảnh 19, đội Ðá Bờ 2 khi chưa được sự đồng ý của cơ quan chức năng có thẩm quyền là vi phạm pháp luật.
Ngoài ra, đơn vị này còn tự ý mở hẳn một con đường dài gần 4km chạy xuyên rừng để làm đường cho xe tải hoạt động trong khu vực này. Sự việc nghiêm trọng là vậy nhưng đơn vị quản lý trực tiếp vùng rừng bị phá là Hạt Kiểm lâm Sơn Động (Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Giang) lại không hề hay biết, không hề có báo cáo sự việc.
Kết luận nội dung tố cáo phá rừng của Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang nêu rõ: Hạt Kiểm lâm Sơn Động là đơn vị được nhà nước giao trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng của các tổ chức cá nhân trên địa bàn huyện Sơn Động. Vi phạm của Công ty Lâm nghiệp Sơn Động xảy ra nhưng Hạt Kiểm lâm Sơn Động không có biện pháp ngăn chặn và báo cáo xử lý kịp thời là chưa thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình.
Chính vì vậy, Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang đã yêu cầu Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang chỉ đạo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sơn Động kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cán bộ kiểm lâm phụ trách địa bàn các khu vực mà Công ty Lâm nghiệp Sơn Động phá rừng.
Ông Dương Xuân Bánh, Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang cho hay: Việc phá rừng của Công ty Lâm nghiệp Sơn Động là hoàn toàn sai nhưng chúng tôi không xác định được mức độ thiệt hại cụ thể vì số thiệt hại...không đáng bao nhiêu.
Theo lý giải của ông Bánh, mỗi hecta rừng Công ty Lâm nghiệp Sơn Động phá chỉ được khoảng 2m3 gỗ; 23ha rừng tự nhiên bị phá chỉ chưa đầy 50m3 gỗ nên không biết tính toán thiệt hại cụ thể như thế nào (?!).
Tuy nhiên, lãnh đạo Sở NN&PTNT tỉnh Bắc Giang không giải thích được với số gỗ thu được khi phá hàng chục hecta rừng tự nhiên ít như vậy mà Công ty Lâm nghiệp Sơn Động lại phải mở cả đường xuyên rừng, thuê ô tô tải chuyên chở gỗ ra khỏi rừng.
Ông Bánh cũng cho biết, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang đã chuyển hồ sơ xin ý kiến của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang về hình thức xử lý kỷ luật với những cá nhân, đơn vị sai phạm. Thế nhưng, đến nay vẫn chưa có hình thức kỷ luật cụ thể.
“Ngay sau khi có kết luận xử lý với Công ty Lâm nghiệp Sơn Động từ Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, nếu Công an tỉnh Bắc Giang vào cuộc, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang sẽ phối hợp cung cấp thông tin", ông Bánh khẳng định. (Kinh tế Nông thôn 23/10) đầu trang(
Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú đã ban hành Kết luận số 05/KL-UBND về việc thanh tra việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại (GCNKTTT) đối với 61,3ha tại Ban Quản lý Rừng kinh tế (BQLRKT) Suối Nhung (thời kỳ từ 1/1/2005 - 31/12/2012).
Qua thanh tra việc lập thủ tục, hồ sơ và việc chấp hành pháp luật trong quá trình thẩm định hồ sơ đề nghị UBND huyện Đồng Phú cấp GCNKTTT cho các hộ Trần Đức Tiến, Trần Đức Lý và Nguyễn Văn Đức trong diện tích 61,3ha đất tại Tiểu khu 369 do BQLRKT Suối Nhung quản lý và hộ ông Trần Đức Quyền tại Tiểu khu 369 do Ban QLRKT Tân Lập quản lý, cho thấy:
Đối với hộ ông Trần Đức Tiến, năm 2008, hộ ông Tiến được UBND huyện Đồng Phú cấp GCNKTTT số 04/2008/GCNKTTT tại Quyết định số 2483/QĐ-UBND ngày 20/8/2008 với diện tích 195.146,4m2. Tuy nhiên, tại Hợp đồng khoán đất lâm nghiệp - gây trồng cây công - lâm nghiệp số 02/KTBQLRSN ngày 10/5/2004, hộ ông Tiến được BQLRKT Suối Nhung ký giao khoán với diện tích 08ha tại khoảnh 5, Tiểu khu 363, nguồn gốc đất do ông Tiến lấn chiếm trước năm 1997. Thực tế, diện tích đất được cấp GCNKTTT của hộ ông Tiến tăng 11,5ha so với Hợp đồng khoán đất số 02/KTBQLRSN.
Ngày 7/6/2012, Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú ban hành Quyết định số 2193/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ GCNKTTT theo Quyết định số 2483/QĐ-UBND đối với hộ ông Tiến với lý do: Diện tích đất trang trại của ông Tiến có 115.146,4m2 là đất lấn chiếm trái phép.
Đối với hộ ông Trần Đức Lý: Năm 2009, hộ ông Lý được UBND huyện Đồng Phú cấp GCNKTTT số 19/2009/CN-KTTT tại Quyết định số 244/QĐ-UBND ngày 6/1/2009 với tổng diện tích 123.439,6m2 tại ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi, huyện Đồng Phú. Tuy nhiên, tại Hợp đồng khoán đất lâm nghiệp - gây trồng cây công - lâm nghiệp số 06/KTBQLRSN ngày 10/5/2004 lại có 6,0ha tại khoảnh 5, Tiểu khu 363. Như vậy, trên thực tế, diện tích đất hộ ông Lý đang đứng tên 4 thửa và tăng so với diện tích trong hợp đồng khoán đất là 6,3ha.
Ngày 7/6/2012, Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú ban hành Quyết định số 2195/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ GCNKTTT theo Quyết định số 244/QĐ-UBND đối với hộ ông Lý với lý do: Diện tích đất trang trại của ông Lý có 63.439m2 là đất lấn chiếm trái phép.
Đối với hộ ông Nguyễn Văn Đức: Năm 2010, hộ ông Đức được UBND huyện Đồng Phú cấp GCNKTTT số 3366/2010/CN-KTTT tại Quyết định số 3366/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 với diện tích là 60.143m2 tại ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi, huyện Đồng Phú. Toàn bộ diện tích đất trên thuộc khoảnh 11, Tiểu khu 363 do BQLRKT Suối Nhung quản lý giao khoán cho Cty Sasco nhưng bị ông Đức lấn chiếm đất từ năm 2008.
Ngày 6/9/2011, Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú ban hành Quyết định số 2728/QĐ-UBND thu hồi và hủy bỏ GCNKTTT theo Quyết định số 3366/QĐ-UBND đối với hộ ông Đức với lý do: Diện tích đất trang trại của ông Đức tại khoảnh 11, Tiểu khu 363 là đất lấn chiếm trái phép (đất giao khoán cho Cty Sasco).
Đối với hộ ông Trần Đức Quyền: Năm 2009, hộ ông Quyền được UBND huyện Đồng Phú cấp GCNKTTT số 23/2009/GCNKTTT tại Quyết định số 248/QĐ-UBNF ngày 6/9/2009 với diện tích 51.665,5m2 tại ấp Thạch Màng, xã Tân Lợi. Diện tích đất trên ông Quyền khai phá từ năm 1996, hiện đang trồng cao su, tiêu và điều.
Việc lập thủ tục, hồ sơ và chấp hành pháp luật trong quá trình thẩm định hồ sơ đề nghị UBND huyện cấp GCNKTTT đối với 4 hộ nói trên thể hiện nhiều sai phạm nghiêm trọng như: Không thực hiện đúng trình tự thủ tục đề nghị cấp GCMKTTT; quá trình thẩm tra, xác minh không kết hợp với các cơ quan có liên quan để cùng tiến hành xác minh dẫn đến việc UBND huyện cấp GCNKTTT sai quy định cho các hộ vi phạm những quy định tại Quyết định số 51/2005/QĐ-UBND của tỉnh.
Từ những kết quả trên, Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú đã giao Trưởng phòng Nội vụ huyện: Tham mưu UBND huyện kiểm điểm trách nhiệm đối với ông Lê Ngọc Thiền, Trưởng Phòng NN&PTNT huyện; ông Đào Đăng Hùng, Phó trưởng Phòng NN&PTNT huyện thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra hồ sơ trước khi trình UBND huyện ký cấp GCNKTTT cho các hộ trên.
Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú đề nghị Thường trực Huyện ủy và cấp ủy có liên quan kiểm điểm đối với các ông: Nguyễn Hữu Duy, nguyên Chủ tịch UBND xã Tân Lợi, hiện là Bí thư Đảng ủy xã Tân Hưng, xác nhận sai nguồn gốc sử dụng đất cho hộ ông Tiến, ông Lý, ông Quyền; Lê Phi Trình, nguyên Trưởng Phòng NN&PTNT, hiện đã nghỉ hưu; Đoàn Công Thiệm, nguyên Phó Chủ tịch UBND xã Tân Lợi, hiện đã nghỉ hưu.
Chủ tịch UBND huyện Đồng Phú giao Phòng NN&PTNT huyện tham mưu UBND huyện thu hồi và hủy bỏ GCNKTTT số 23/2009/GCNKTTT tại Quyết định số 248/QĐ-UBNF ngày 6/9/2009 do hoạt động không đúng quy định tại Quyết định số 51/2005/QĐ-UBND của tỉnh.
Đối với ông Trần Tấn Minh, Giám đốc BQLRKT Suối Nhung: Buông lỏng quản lý và bảo vệ đất để các hộ xâm canh, lấn chiếm nhưng không kịp thời ngăn chặn. Hiện ông Minh đang bị xử lý kỷ luật nên không xem xét xử lý.
Đối với ông Lê Thanh Vân, công chức Phòng NN&PTNT: Thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, cố ý làm trái các quy định tại Quyết định số 51/2005/QĐ-UBND của tỉnh không xem xét xử lý vì ngày 30/8/2013, Chủ tịch UBND huyện đã buộc thôi việc do đang thi hành án. (Thanh Tra 23/10) đầu trang(
Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Phú Yên Lê Văn Trúc vừa ký quyết định xử phạt ông Phan Hoàng Tuấn Anh (trú thôn Tân Thạnh, xã Tân Hạnh, huyện Long Hồ, Vĩnh Long) 40 triệu đồng do vận chuyển gỗ trái phép.
Với hành vi trên, ông Anh bị tước quyền sử dụng giấy phép lái ô tô thời hạn 6 tháng, tịch thu 129 khúc gỗ tròn (7,660m3) và 24 khúc gỗ hộp (1,354m3) loại sơn huyết thuộc nhóm 1.
Theo Hạt Kiểm lâm huyện Đông Hòa, ngày 19/9/2013, ông Anh điều khiển ô tô 63C-026.82 vận chuyển gỗ trái phép trên quốc lộ 1 theo hướng bắc - nam, đến địa bàn khu phố 2, thị trấn Hòa Vinh, huyện Đông Hòa thì bị bắt giữ. (Báo Phú Yên 23/10; Công An Nhân Dân 24/10) đầu trang(
Mặc dù chưa thống nhất được phương án đền bù, giá cả với người dân nhưng Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (BT-HT-TĐC) huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh) đã đưa lực lượng chức đến chặt phá cây cối, san ủi nhiều diện tích đất rừng để lấy mặt bằng làm mỏ đá cho một công ty tư nhân.
Năm 2005, bà Lê Thị Phượng được bà Nguyễn Thị Tĩnh là nhân viên Cty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh, chuyển nhượng thửa đất trồng rừng được bà Tĩnh ký hợp đồng kinh tế với Cty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh số 29/HĐKT về việc Khoán đất – Trồng – Chăm sóc – Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn với diện tích 11ha tại lô 1 khoảnh 1PK1 – tiểu khu 389A thuộc địa phận xã Kỳ Liên huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh).
Thời gian thực hiện hợp đồng là 40 năm tình từ tháng 1/2005 đến tháng 1/2045 .
Cũng trong năm 2005, bà Phượng được bà Lê Thị Nga, nhân viên Cty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh, chuyển nhượng cho bà thửa đất trồng rừng được Cty giao tại hợp đồng kinh tế số 54/ HĐKT về việc Khoán đất – Trồng – Chăm sóc – Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn với diện tích 8,5 ha tại lô 6 + 7A+ 8A tại khu vực 389A thuộc đia phận xã Kỳ Liên.
Thời hạn kết thúc hợp đồng này là 40 năm tính từ thời điểm ký 1/2005.
Theo như đơn khiếu nại của gia đình bà Phượng gửi đến các cơ quan chức năng, để đầu tư vào việc cải tạo đất và thực hiện việc trồng rừng theo hợp đồng “hộ gia đình tự bỏ vốn đầu tư” thì gia đình bà đã thế chấp tài sản, vay vốn ngân hàng nhiều tỉ đồng để đầu tư.
Từ năm 2005 gia đình bà đã bắt đầu cải tạo đất và trồng cây dưới sự giám sát kỹ thuật của Cty Nông lâm sản.
Gia đình bà đã tạo công ăn việc làm cho hàng chục hộ dân xã Kỳ Liên trong một thời gian dài, bỏ ra rất nhiều công sức, tiền bạc để trồng và chăm sóc mới có được khu rừng xanh tốt. Đã được chính quyền địa phương và tỉnh ghi nhận thông qua việc được Đài truyền hình tỉnh nêu gương là hộ trồng rừng giỏi của huyện nhà.
Ngày 08/4/2011, UBND tỉnh Hà Tĩnh ra quyết định số 1195/QĐ – UBND về việc thu hồi đất, giao đất.
Cụ thể, quyết định thu hồi 83.886,2m2 đất tại khu vực núi Đá Mài, xã Kỳ Liên (Kỳ Anh – Hà Tĩnh) của Cty CP Nông lâm sản Hà Tĩnh (Trùng với diện tích đất của bà Phượng - PV) và giao toàn bộ diện tích đất thu hồi trên cho Ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng quản lý để cho Cty CP Việt Gia – Song Hui thuê lại đất để khai thác đá xây dựng.
Sau khi tiếp nhận được quyết định của UBND tỉnh, bà Phượng đã đến gặp, làm việc với đại diện Cty Nông lâm sản Hà Tĩnh, đại diện UBND huyện Kỳ Anh, Cty Việt Gia – Song Hui tại trụ sở Cty Nông lâm sản.
Tuy nhiên, theo như bà Phượng cho biết, bên phía đơn vị có trách nhiệm là Việt Gia – Song Hui không đưa ra một thỏa thuận gì và cũng không có biên bản ghi lại nội dung cuộc họp này.
Sau đó, bà Phượng có làm đơn yêu cầu Cty Nông lâm sản thực hiện việc đền bù những thiệt hại khi gia đình bà bị thu hồi đất khi chưa đến hạn thanh lý hợp đồng giữa bà với Cty này nhưng không được Cty này giải quyết.
Kể từ năm 2011 đến thời điểm hiện tại, gia đình bà Phượng vẫn canh tác bình thường, cây cối sinh trưởng tốt nhưng gia đình bà vẫn không hề nhận được bất kỳ một phương án đền bù nào từ Cty Việt Gia – Song Hui và không hề có văn bản nào về việc thanh lý hợp đồng đã ký giữa bà và Cty Nông lâm sản.
Tuy nhiên, sáng ngày 10/10/2013, tại khu vực đất rừng của gia đình bà Phượng canh tác xuất hiện nhiều người lạ mặt kèm theo dụng cụ, xe cơ giới xông vào khu vực đất rừng thuộc sự quản lý của gia đình bà Phượng chặt phá cây cối, san ủi đất.
Lạ hơn, theo gia đình bà Phượng cho biết tại thời điểm đó có lực lượng Công an huyện với lý do “bảo vệ cho đơn vị thi công” đã ngăn cản không cho gia đình bà vào khu vực đất rừng của mình.
Hiện tại, tại khu vực đất rừng do gia đình bà Phượng thuê lại của Cty Nông lâm sản để trồng cây theo hợp đồng kinh tế đã được ký kết giữa 2 bên, tuy nhiên việc Công ty Việt Gia – Song Hui tự ý vào khu vực này chặt phá cây, san ủi mà chưa đi đến phương án hỗ trợ đền bù cho gia đình bà Phượng liệu đã đúng chưa?
Theo như Quyết định số 1195/QĐ – UBND về việc thu hồi đất giao đất của UBND tỉnh Hà Tĩnh do ông Lê Đình Sơn ký ngày 8/4/2011 thì việc bàn giao lại khu vực đất rừng của hộ gia đình bà Phượng cho Cty Việt Gia – Song Hui sau khi đã thực hiện xong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định.
Trao đổi về vấn đề này ông Nguyễn Việt Đức - Phó Chủ tịch Hội đồng BT-TH-TĐC huyện Kỳ Anh cho biết: Cúng tôi đã 3 lần phát giấy thông báo mời làm việc gửi về tận nhà bà Phượng nhưng mà không thấy bà phượng hợp tác, trước đó chúng tôi cũng tiến hành họp với các bên liên quan như Công ty Nông lâm sản Hà Tĩnh, UBND huyện Kỳ Anh, và gia đình bà Phượng. Tuy nhiên, về phía gia đình bà Phượng vẫn chưa đồng ý với số tiền áp giá mà của hội đồng áp giá đền bù GPMB huyện đưa ra.
Lý giải về chuyện gia đình bà Phượng phản ánh việc công an không cho gia đình bà vào khu vực mà gia đình bà trồng cây ông Đức nói, lực lượng công an chỉ làm nhiệm vụ “bảo vệ thi công” chứ không có gì khác?
Sau khi nhận được phản ánh của bà Phượng, ngày 17/10/2013, Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng và Nhà Nước đã có công văn số 4240/TDTW gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị chỉ đạo các cơ quan chức năng, xem xét giải quyết theo thẩm quyền trả lời công dân theo luật định. (Tamnhin.net 24/10) đầu trang(
Những năm gần đây, các bãi bồi rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng được thiên nhiên ưu đãi và nhiều chính sách của địa phương, môi trường thuận lợi nên các quần ngư hội tụ về sinh sản tại các bãi bồi rừng phòng hộ ven biển ngày càng nhiều, hình thành nên các bãi sò huyết, nghêu, cua biển giống và cũng là nơi lý tưởng của các loài thuỷ sản khác: cá chẻm, cá ngát, tôm sú, tôm sắt, cá kèo sinh sản. Ước tính trung bình mỗi năm đem lại nguồn thu nhập cho người dân nơi đây hàng chục tỉ đồng.
Tuy nhiên, nguồn lợi này đang đứng trước nguy cơ cạn kiệt dần, mất khả năng tái sinh do bị khai thác một cách vô tội vạ; với nhiều phương tiện có tính chất hủy diệt: ghe cào, te, lưới mùng, xới tung bãi sò huyết, nghêu giống…bán nơi khác để nuôi, bất chấp sự ngăn cản của chính quyền địa phương đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, làm cạn kiệt nguồn nguyên liệu thuỷ sản ven bờ. Nhiều nơi có hiện tượng nghêu, sò nuôi chết hàng loạt, môi trường bị phá vỡ, rất khó cải tạo ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của hàng chục ngàn lao động nghề biển.
Do đặc điểm các loài thuỷ sản ven biển đến mùa sinh sản, chúng tìm đường ra biển. Khi gió chướng thổi mạnh ấu trùng theo sóng biển dạt vào bờ, cùng với môi trường sinh thái phù hợp (rừng phòng hộ ven biển) ấu trùng phát triển nở thành các loài thuỷ sản sống ven biển. Đó là tài sản thiên nhiên đã ban tặng cho bãi bồi ven biển Sóc Trăng.
Thế nhưng, thời gian gần đây các bãi bồi ven biển ở xã Vĩnh Hải, Phường 2 (Vĩnh Châu); Trung Bình (Trần Đề) do người dân dùng các loại dụng cụ: Đục, đáy, lưới giăng, xiệp, lưới thẹ (khẩu độ lưới rất nhỏ)…giăng khắp nơi để khai thác các loại thủy sản, làm ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản ven bờ.
Chỉ tính riêng ở khu vực xã Vĩnh Hải (Vĩnh Châu) có khoảng 30 giàn lưới thẹ (cua giống), 200 giàn lưới giăng để bắt cá kèo giống. Còn tại các bãi bồi ở các xã An Thạnh Ba (Cù Lao Dung); Vĩnh Hải (Vĩnh Châu); Bãi Giá ( Trung Bình – Long Phú). Tình trạng khai thác nghêu huyết giống ngày càng diễn biến phức tạp; hàng trăm con người cứ mặc nhiên khai thác theo kiểu tàn sát các bãi nghêu giống dọc các bãi bồi ven biển nơi đây cả ngày lẫn đêm để bán cho vùng nuôi sò, nghêu ở Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh… khiến các loài thuỷ sản ven bờ khu vực này gần như kiệt quệ. (Đại Đoàn Kết 24/10) đầu trang(
Khu Quản lý giao thông đô thị số 1 (thuộc Sở Giao thông vận tải TP.HCM) vừa đề nghị Công an Q.5 xử lý vụ chặt cây xanh trái phép trên đường Trần Bình Trọng.
Ngày 3-10, nhân viên Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh tuần tra phát hiện hai đối tượng giả danh nhân viên của công ty chặt cành cây dầu trước địa chỉ 125B Trần Bình Trọng. Bị phát hiện, hai đối tượng này bỏ chạy để lại xe máy và dụng cụ ở hiện trường.
Trước đó, người dân trên đường Vành Đai Trong, P.Bình Trị Đông, Q.Bình Tân phát hiện một nhóm người chạy xe tải bên hông có dòng chữ “công viên cây xanh” đốn hạ cây dầu trước số nhà 313 đưa ra khỏi hiện trường. Qua kiểm tra, Công ty TNHH MTV Công viên cây xanh cho biết không cử đơn vị nào đốn cây dầu trên. (Tuổi Trẻ 24/10) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Hai trận bão liên tiếp (10 và 11) đổ bộ vào miền Trung những ngày qua đã hạ gục hàng vạn ha cao su, nhiều hộ trồng cao su ở miền Trung, đặc biệt là ở hai tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị rơi vào cảnh tay trắng.
Thật đau lòng, rất nhiều hộ trồng cao su đã phải vay nợ, thế chấp nhà cửa, đầu tư hàng trăm triệu đồng, đổ bao sức lực, mồ hôi, thậm chí cả nước mắt với mong muốn đổi đời với “vàng trắng”… bỗng chốc trôi tuột theo bão!. Nhiều người ví, hậu quả người trồng cao su ở miền Trung phải gánh chẳng khác gì thảm họa.
Theo nhiều chuyên gia nghiên cứu về cây cao su, cứ tính ở mức thấp nhất, mỗi ha cao su đang khai thác bị gãy đổ, dân sẽ mất 200 triệu đồng, thì chỉ riêng ở Vĩnh Linh, Quảng Trị (hơn 5.000 ha bị gãy đổ), con số thiệt hại của người trồng cao su còn lớn hơn cả ngân sách của tỉnh thu về trong cả năm 2013.
Phải thừa nhận, cao su là một trong những ngành sản xuất công nghiệp có thế mạnh ở Việt Nam. Lợi nhuận từ cây cao su không chỉ làm tăng kim ngạch xuất khẩu cho đất nước, mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo cho người dân địa phương.
Tuy nhiên, vì chạy theo phong trào, nên một số địa phương đã vội vàng phát triển cao su trên những vùng đất không phù hợp, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan chuyên môn về phương thức và địa bàn trồng… Bài học nhỡn tiền giờ đã hiển hiện: Tỷ lệ cao su bị chết khá cao, hoặc mất trắng do bão, lũ...
Điều đáng nói là thảm họa cao su ở miền Trung đã được cảnh báo trước, nhưng chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan đã bỏ ngoài tai. Ngay từ các kỳ họp Quốc hội các khóa XI, XII, việc các tỉnh Bắc Trung Bộ phá rừng lấy đất trồng cao su với lý do đây là rừng nghèo kiệt, được không ít đại biểu Quốc hội nêu ra trong nhiều phiên thảo luận về kinh tế - xã hội và các phiên chất vấn Bộ trưởng Bộ NN&PTNT. Rất nhiều ý kiến gay gắt rằng, vì sao ở nhiều nơi, rừng bị phá trồng cao su không phải là rừng nghèo kiệt.
Rồi, quy hoạch trồng cao su ở Bắc Trung Bộ là một tính toán phi kinh tế, liều lĩnh... Tuy nhiên, tình hình vẫn không thay đổi và nó được triển khai trong suốt thời gian dài. 10 năm trở lại đây, diện tích cao su tăng đột biến tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị.Người ta chặt cả tràm, bạch đàn, keo, thông, vườn cây ăn trái để trồng cao su chỉ vì “có nhiều nhà trồng cao su đang giàu lên”, mà không lường trước được hậu họa.
Cơ quan chức năng cũng không hề đưa ra khuyến cáo; thậm chí ở nhiều địa phương, chính quyền còn khuyến khích người trồng cao su mở rộng diện tích. Mới đây, Tập đoàn Cao su Việt Nam còn đặt vấn đề với tỉnh Quảng Bình là tiếp tục mở rộng diện tích cao su của tập đoàn này trên đất Quảng Bình.
Để xảy ra hậu quả nêu trên, trách nhiệm thuộc về chính quyền địa phương và Bộ NN&PTNT, nhưng vai trò của Bộ NN&PTNT là không nhỏ vì bộ là cơ quan quản lý nhà nước về chuyên ngành phải có trách nhiệm xác định quy hoạch, kỹ thuật gieo trồng và quan trọng hơn là kiểm tra, giám sát chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện.
Chưa nói đến hệ lụy xấu về môi trường do việc phá rừng tự nhiên trồng cây cao su gây ra, trước mắt tình trạng nhiều cánh rừng cây cao su bị gãy đổ sau mỗi cơn bão vừa qua ở khu vực Bắc Trung Bộ đang đẩy nhiều người dân khu vực vào tình cảnh rất khó khăn. Do vậy, Bộ NN&PTNT cần phải vào cuộc ngay và thể hiện trách nhiệm của mình trong việc hỗ trợ, đền bù cho những hộ trồng cao su rơi vào cảnh khốn khó.
Mặt khác, Bộ NN&PTNT cần khẩn trương nghiên cứu để triển khai các giải pháp căn cơ, lâu dài cho vấn đề này. Bên cạnh đó, lãnh đạo các địa phương để xảy ra tình trạng phát triển cao su tràn lan, cần dũng cảm nhận trách nhiệm. Không thể khi hậu quả nghiêm trọng xảy ra, lại đổ lỗi cho người dân không thực hiện đúng quy hoạch…?
Hơn thế, việc quy trách nhiệm vào lúc này không quan trọng bằng việc tìm ngay biện pháp để khuyến cáo người dân không nên trồng lại cao su ở những vùng chịu bão mạnh, đồng thời cần lập lại quy trình trồng cao su thật chặt chẽ, nhằm hạn chế tối đa thiệt hại từ cây cao su không chỉ ở các tỉnh miền Trung, mà còn ở nhiều địa bàn khác trong cả nước.(Tin Tức 24/10) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngày 23/10, lực lượng cứu hỏa ở Australia tiếp tục phải chống chọi với nắng nóng, nhiệt độ cao và gió khô khi các vụ cháy mới lại tiếp tục xảy ra sau một tuần cháy rừng liên tiếp, song những lo ngại về tình trạng thảm họa tồi tệ đã được nới lỏng phần nào.
Cuộc khủng hoảng cháy rừng ở Xứ sở Chuột túi đã bước sang ngày thứ bảy, vẫn còn 71 đám cháy đang hoành hành khắp bang New South Wales với chu vi lên tới 1.600km. Trong đó, 29 đám cháy vẫn chưa kiểm soát được. Người dân vẫn được cảnh báo cần thận trọng dù chưa có thêm báo cáo nào về thiệt hại tài sản.
Mối lo ngại lớn nhất là khu vực Blue Mountains phía Tây thành phố Sydney, một địa điểm du lịch có dân số lên tới 75.000 người.
Tại đây, đã có ba đám cháy dữ dội diễn ra trong nhiều ngày nhưng theo các quan chức phụ trách cứu hỏa, nguy cơ nghiêm trọng đã giảm đi đáng kể.
Ở Springwood, nơi hơn 100 ngôi nhà bị "thần hỏa" phá hủy trong tuần trước, một đám cháy bị nâng lên mức cao nhất là "khẩn cấp" với tro tàn vẫn còn lửa bị thổi về phía các ngôi nhà. Tuy nhiên, hiện người dân đã được thông báo có thể trở về nhà vì nguy cơ đã được ngăn chặn.
Trong khi đó, các đám cháy mới lại bùng phát ở những nơi khác của bang New South Wales như tại Minmi gần Newcastle phía Bắc Sydney cũng ở mức đánh giá "khẩn cấp," khiến đường cao tốc nối liền hai thành phố phải đóng cửa và và gây ra tình trạng giao thông hỗn loạn.
Một đám cháy khác cũng đã bùng lên dữ dội gần Lake Macquarie phía Tây Bắc Sydney, buộc phải sử dụng máy bay phun nước để khống chế nhưng gió to khiến nỗ lực đó chưa hiệu quả.
Hiện diện tích đất bị cháy đã lên tới hơn 124.000ha khắp bang New South Wales và hơn 200 ngôi nhà đã bị phá hủy. Song chỉ có một người thiệt mạng do người dân đã được cảnh báo sơ tán hoặc đến các trung tâm tạm cư. (VietnamPlus.vn 23/10) đầu trang(
Theo một nghiên cứu mới, mặc dù là “mái nhà” của khoảng 16.000 loài cây, nhưng chỉ có 227 loài “có ưu thế đặc biệt” chiếm 50% tổng số cây ở khu vực Amazon.
Một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế đã phát hiện khu vực này là quê hương của tổng cộng 390 tỉ cây. Trong tạp chí Science, các nhà nghiên cứu đã viết có hơn 11.000 loài cây quý hiếm vào loại bậc nhất, chỉ chiếm 0,12% diện tích che phủ rừng.
Tuy nhiên, dữ liệu mới có thể giúp hé lộ những bí mật sinh thái thuộc sở hữu của điểm nóng đa dạng sinh học này. Kết quả đưa ra dựa trên một cuộc khảo sát được thực hiện tại 1.170 điểm và 500.000 cây trên diện tích 6 triệu kilomet vuông, thường được mô tả là lá phổi của thế giới.
Các tác giả cho biết, nguyên nhân sâu xa của sự thống trị đặc biệt của 227 loài cây, chiếm 1,4% số lương các loài cây ước tính trong khu vực, vẫn chưa được khám phá. Tiến sĩ Han ter Steege từ Trung tâm Đa dạng sinh học Tự nhiên ở Hà Lan cho biết: “Thông thường, chúng ta biết rằng có vài loài cây nổi trội nhất trong hệ sinh thái, song nếu bạn có một hệ sinh thái có tới 16.000 loài cây mà chỉ cần 227 loài làm nên một nửa của tổng số, đây là điều ngạc nhiên đối với chúng tôi. Chúng tôi thực sự không biết tại sao các loài cây này chiếm ưu thế đặc biệt như vậy bởi chúng không có bất cứ đặc điểm sinh học nào nổi trội”.
Trong báo cáo nghiên cứu, Tiến sĩ Han và đội ngũ gồm hơn 100 nhà khoa học viết rằng, không có bằng chứng nào cho thấy hai tính trạng chức năng quyết định của cây là khối lượng hạt giống và mật độ gỗ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định loài cây nào thống trị cảnh quan.
Loài cây chiếm ưu thế nhất được xác định là Euterpe precatoria, một giống cọ bản địa ở vùng Trung và Nam Mỹ, với quần thể trung bình ước tính có hơn 5 tỉ cá thể trong phạm vi khu vực Amazon.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng 5.800 loài quý hiếm nhất có số lượng dưới 1.000 cá thể, đủ điều kiện để phân loại là loài đặc hữu có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới.
Tiến sĩ ter Steege cho biết, dữ liệu cũng có thể được sử dụng bởi các nhà bảo tồn để tìm ra những loài đã được phát hiện trong khu vực được bảo vệ, chẳng hạn như công viên quốc gia, và những loài nằm ở những khu vực không được bảo vệ, và do đó dễ bị ảnh hưởng bởi nạn phá rừng. (Agroviet 22/10) đầu trang(
Những con gấu Andean sống ở Nam Mỹ có phản ứng giận dữ và cùng cào phá chiếc máy ảnh khi phát hiện bị chụp hoặc quay phim.
Để phục vụ nghiên cứu, các nhà khoa học lắp đặt nhiều máy quay và máy ảnh để ghi lại hình ảnh những con gấu Andean sống ở khu rừng tại Khu vực Quản lý Tự nhiên Quốc gia Apolobamba của Bolivia. Những con gấu này biểu hiện phản ứng giận dữ khi phát hiện bị "lén" quay phim hay chụp ảnh.
Khi phát hiện chiếc máy ảnh hướng về phía mình, một con gấu Andean ngay lập tức tấn công chiếc máy ảnh, làm hỏng và treo chiếc máy ảnh lơ lửng trên cây. Trong một đoạn video khác, một con gấu mẹ và hai con gấu con tập trung vào chiếc máy quay treo gần nơi ở rồi cào, cắn chiếc máy quay như một thứ đồ chơi.
"Chúng tôi thu thập được nhiều hình ảnh quan trọng cho phép tiến hành các nghiên cứu hiều rõ hơn về sự phong phú trong hành vi của loài gấu Andean và để bảo vệ chúng trong tương lai", Discovery News dẫn lời Lilian Painter, giám đốc Hiệp hội Bảo tồn Động vật hoang dã quốc gia, cho biết.
Hầu hết mọi loài động vật đều ghét bị chụp ảnh, nhưng đôi khi có những trường hợp ngoại lệ như con lười thường hay thể hiện sự yêu thích khi đứng trước máy ảnh.
Gấu Andean là loài gấu duy nhất sinh sống ở Nam Mỹ, bao gồm Venezuela, Ecuador, Peru, Bolivia và Panama. Sau gấu trúc, đây là loài gấu đang gặp nguy hiểm trong số những loài gấu hiện nay còn trên thế giới. (Vnexpress.net 23/10) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa