Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 25 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Hiện nhiều doanh nghiệp thủy điện đang sử dụng nguồn tài sản quý giá về dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) có trách nhiệm phải trả nợ rừng, song phần lớn đều cố tình chậm thực hiện, gây khó khăn cho hoạt động của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Phú Yên.
Chính sách chi trả DVMTR được triển khai theo Nghị định số 99/2010, ngày 24/9/2010 của Chính phủ, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/01/2011. Trên cơ sở đó, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Phú Yên cũng được thành lập theo Quyết định số 1116, ngày 30/7/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên.
Mục đích, nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng khung pháp lý về chính sách chi trả DVMTR theo hướng xác định rõ lợi ích, quyền hạn và nghĩa vụ của các đối tượng được chi trả và phải chi trả DVMTR, thực hiện xã hội hóa nghề rừng, từng bước tạo lập cơ sở kinh tế bền vững cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ; đặc biệt là bảo đảm nguồn nước cho sản xuất điện, nước và các hoạt động kinh doanh du lịch.
Tại Phú Yên, chính sách này còn giúp cho các chủ rừng, cộng đồng dân cư có diện tích rừng cung ứng DVMTR trên các lưu vực được chi trả tiền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong bảo vệ và phát triển rừng. Tuy nhiên, đến nay nhiều doanh nghiệp thủy điện đang sử dụng nguồn tài sản quý giá về DVMTR có trách nhiệm trả nợ rừng, nhưng vẫn cố tình chậm thực hiện, gây khó khăn cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Phú Yên hoạt động.
Ông Mai Tiến Lên, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Phú Yên cho biết, việc thu tiền ủy thác chi trả DVMTR của tỉnh chủ yếu từ 3 Nhà máy thủy điện có lưu vực từ 2 tỉnh trở lên là các Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông HNăng. Mặc dù Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF) đã ký kết hợp đồng ủy thác chi trả tiền DVMTR đối với các Nhà máy trên, nhưng đến nay mới chỉ có Nhà máy Thủy điện Sông Ba Hạ chuyển cho Quỹ của tỉnh 1.122 triệu đồng, dẫn đến chậm chi trả tiền cho các đối tượng được hưởng DVMTR.
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Phú Yên, đến hết quý II/2013, từ năm 2011-2012, quỹ mới chỉ thu được 1.830 triệu đồng. Trong đó, năm 2012 thu được 1.658 triệu đồng/10.290 triệu đồng, đạt 16,1%; quý I và II/2013 chỉ thu 255 triệu đồng/4.369 triệu đồng, đạt 5,8 % kế hoạch. Hai doanh nghiệp chưa nộp tiền ủy thác chi trả DVMTR là Nhà máy thủy điện Krông H Năng (Công ty Cổ phần Sông Ba) và Nhà máy thủy điện Sông Hinh (Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn-Sông Hinh).
Để thanh toán tiền chi trả DVMTR cho các đối tượng có diện tích rừng cung cấp DVMTR của 2 nhà máy thủy điện trên, ngày 7/8/2013, UBND tỉnh đã có văn bản yêu cầu Công ty Cổ phần Vĩnh Sơn-Sông Hinh. Văn bản nêu rõ, trên cơ sở sản lượng điện thương phẩm của Nhà máy thủy điện Sông Hinh trong các năm 2011-2012 và quý I-II năm 2013, tổng số tiền DVMTR rừng mà công ty còn nợ, chưa thanh toán về VNFF là 23.121 triệu đồng.
Vì vậy, VNFF chưa thể điều phối tiền ủy thác chi trả DVMTR cho các tỉnh Phú Yên và Đắk Lắk. Việc này, đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện tiền chi trả DVMTR cho các chủ rừng ở địa phương. Vì vậy, UBND tỉnh đề nghị Công ty Cổ phần thủy điện Vĩnh Sơn-Sông Hinh khẩn trương thanh toán số tiền còn nợ DVMTR nêu trên về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam, để tỉnh Phú Yên điều phối chi trả các tỉnh theo quy định.
Để xây dựng ba thủy điện Sông Ba Hạ, Sông Hinh và Krông HNăng, tỉnh Phú Yên mất hơn 10.000ha đất nông nghiệp, lâm nghiệp; trong đó có hơn 1.000ha rừng tự nhiên, rừng phòng hộ và đầu nguồn. Từ thực tế mất rừng do làm thủy điện, Chính phủ đã ra Nghị định số 23/2006 về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, quy định rõ: “Cơ quan cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác phải bảo đảm việc đầu tư trồng rừng mới thay thế diện tích rừng sẽ chuyển sang mục đích sử dụng khác...”.
Theo đó, ba thủy điện trên phải thực hiện trồng lại rừng, trong đó, Công ty cổ phần thủy điện Sông Ba Hạ phải trồng lại 204ha rừng và Công ty cổ phần Sông Ba trồng 175ha. Tuy nhiên, việc trồng lại rừng theo quy định chưa được các doanh nghiệp này thực hiện nghiêm túc và viện lý do, các địa phương chưa bố trí được quỹ đất và thiếu kinh phí trồng lại rừng; chưa có quy định doanh nghiệp trích lợi nhuận sản xuất, kinh doanh thủy điện để tham gia với địa phương trồng lại rừng bị mất do thủy điện.
Trong khi đó, chính sách chi trả DVMTR của Chính phủ có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, nhưng các doanh nghiệp trên một lần nữa cố tình “chây ỳ” không thực hiện. Điều này cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp làm thủy điện đều có chung mục đích chạy theo lợi nhuận, liên tục viện cớ để phó thác trách nhiệm cho xã hội về vấn đề môi trường do mình gây ra.
Hậu quả, rừng mất, chậm được phục hồi, thủy điện thì thi nhau tích nước, dẫn đến vào mùa nắng, dòng sông Ba ngày càng khô kiệt, biến dạng; nhiều đoạn chỉ còn lại những mương nước, ao tù như “dòng sông chết”. Khi mùa mưa lũ đến, các thủy điện “đua” nhau xả lũ, uy hiếp tính mạng, tài sản người dân vùng hạ du, làm đảo lộn cuộc sống của hàng nghìn hộ dân ven sông. (Tài Nguyên&Môi Trường 24/9) đầu trang(
Ngày 24/9, Văn phòng Công tác biến đổi khí hậu (BĐKH) Cần Thơ phối hợp cùng Trường Đại học Kinh tế Huế tổ chức Hội thảo "Chia sẻ kết quả đánh giá chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng".
Theo các nhà khoa học Trường Đại học Kinh tế Huế, suy giảm tài nguyên rừng đang diễn ra ở nhiều vùng trên cả nước và gây ra nhiều tác động đối với môi trường, sinh kế của cộng đồng, đặc biệt đối với dân tộc thiểu số sống trong rừng. Chi trả dịch vụ môi trường rừng có thể bảo vệ và tiếp tục phát triển rừng, đồng thời nâng cao thu nhập cho người dân nhận khoán bảo vệ rừng.
Qua 2 năm thực hiện, Chương trình thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng được thực hiện tại tỉnh Lâm Đồng đã thu được hơn 4,46 triệu USD, được sử dụng để chi trả cho các tổ chức, cá nhân nhận khoán hoặc có trách nhiệm bảo vệ rừng, tái tạo và phát triển rừng. Chương trình này còn nhằm mục tiêu phát triển rừng, hạn chế và chống tác động xấu từ BĐKH.
Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Kinh tế Huế đã thực hiện Dự án "Đánh giá chương trình thí điểm về chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam" tại tỉnh Lâm Đồng. Qua đó, nhóm nghiên cứu xác định việc chi trả dịch vụ môi trường rừng là hợp lý, đúng theo quy định của Nghị định số 99/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. ĐBSCL là khu vực có rừng cần áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng để có điều kiện bảo vệ, tái tạo và phát triển rừng đồng bằng trong tương lai.
Tuy nhiên, tại Hội thảo, nhiều đại biểu cho rằng, việc chi trả dịch vụ môi trường rừng ở ĐBSCL cần có thời gian để triển khai thực hiện, trong đó chú trọng biện pháp tuyên truyền, vận động để các tổ chức, cá nhân hoạt động, kinh doanh, sản xuất có liên quan chấp nhận và hiểu rõ tác dụng của việc chi trả dịch vụ môi trường rừng... (Báo Cần Thơ 24/9) đầu trang(
Theo Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Kon Tum, từ năm 2012 đến nay, đã nhận hơn 160 tỷ đồng từ dịch vụ môi trường rừng do các nhà máy thủy điện trên địa bàn đi vào hoạt động đóng góp và ủy thác theo quy định hiện hành. (Thanh Niên 24/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Thời gian qua, dù các ngành chức năng, chính quyền địa phương trong tỉnh đã tăng cường phối kết hợp, chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR), nhưng tình trạng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái phép ở Ninh Thuận vẫn còn diễn biến khá phức tạp. Với các lực lượng bảo vệ rừng thuộc các đơn vị Công ty lâm nghiệp, Ban quản lý bảo vệ rừng thì công tác này đang gặp rất nhiều khó khăn.
Quản lý gần 10.700 ha diện tích đất rừng tự nhiên thuộc khu vực xã Lâm Sơn (Ninh Sơn) giáp ranh huyện Đơn Dương (Lâm Đồng), trong khi đó lực lượng Ban Quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Krông Pha quá mỏng. Những năm qua, tình trạng phá rừng nơi đây diễn ra rất phức tạp, đặc biệt là tình trạng phá rừng làm rẫy của bà con vùng giáp ranh với huyện Đơn Dương.
Theo ông Phan Phú, Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Krông Pha, lâm phần quản lý của đơn vị chủ yếu thuộc khu vực giáp ranh 2 tỉnh, một số tiểu khu thuộc khu 73, 62, 56…đất đai màu mỡ rất thuận lợi để trồng và phát triển cây cà phê, cây ăn trái nên người dân trong vùng thường xuyên phá rừng, lấn chiếm đất rừng để trồng trọt, trong khi đó khu vực này lại có địa hình rất hiểm trở, bị chia cắt mạnh, từ xã Lâm Sơn đi lên không có đường giao thông, muốn tuần tra, kiểm soát rừng các khu vực này, các lực lượng phải đi đường vòng nhiều cây số vượt dốc, đồi.
Lực lượng Trạm QLBVR Tà Nôi, thuộc biên chế của Công ty TNHH Lâm nghiệp Ninh Sơn phải đảm trách nhiệm vụ kiểm soát, tuần tra quản lý hơn 5.000 ha rừng ở địa bàn giáp ranh giữa khu vực thôn Tà Nôi, xã Ma Nới với xã Đắc Quyn, huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) là nhiệm vụ vô cùng vất vả.
Ngoài những khó khăn vất vả trong công tác QLBVR, việc phải đối mặt với nguy hiểm có thể ảnh hưởng tới tính mạng đối với các lực lượng này cũng rất đáng lo ngại khi lâm tặc ngày càng manh động. Được biết, hiện nay lâm tặc thường tập trung thành từng nhóm hàng chục người để phá rừng và vận chuyển lâm sản trái phép. Khi bị phát hiện, chúng dùng hung khí chống trả quyết liệt. Thực tế, thời gian qua đã có rất nhiều vụ việc các lực lượng làm công tác QLBVR bị thương tích khi đối mặt với lâm tặc, gây bức xúc trong dư luận.
Dù hiện nay nhiều đơn vị quản lý lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có những mức hỗ trợ cho các lực lượng thuộc các trạm QLBVR, nhưng thu nhập của các lực lượng này nhìn chung còn khá thấp. Điển hình như tại Ban QLRPH Krông Pha, bình quân thu nhập của anh em làm công tác QLBVR sau khi đóng các mức bảo hiểm chỉ còn lại khoảng 1,5 triệu đồng/người. Nếu cộng thêm một số khoảng phụ cấp cũng chỉ từ một đến hai trăm ngàn đồng. Công tác QLBVR là trách nhiệm chung của xã hội, với các lực lượng làm công tác này nhiệm vụ của họ lại càng nặng nề và vất vả hơn rất nhiều. (Báo Ninh Thuận 26/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Việt Nam sẽ có thêm 41 khu bảo tồn mới, tổng diện tích khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 9% diện tích lãnh thổ vào năm 2020.
Ngày 24/9, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giới thiệu Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030.
Theo mục tiêu của chiến lược, đến năm 2020, diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn đạt 9% diện tích lãnh thổ; diện tích khu bảo tồn biển đạt 0,24% diện tích vùng biển; độ che phủ rừng đạt 45%; có 10 khu Ramsar, 15% diện tích hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị suy thoái được phục hồi, số lượng khu bảo tồn được quốc tế công nhận: 10 khu dự trữ sinh quyển, 10 vườn di sản ASEAN, 10 khu Ramsar…
Theo Cục trưởng Cục Bảo tồn Đa dạng sinh học, Tổng Cục Môi trường, Phạm Anh Cường, Việt Nam nằm trong 238 vùng sinh thái ưu tiên toàn cầu với nhiều kiểu hệ sinh thái, các loài sinh vật và nguồn gene phong phú, đa dạng và có giá trị được Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới ghi nhận.
Các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, duy trì nguồn gene tạo giống vật nuôi, cây trồng, cung cấp vật liệu cho xây dựng và các nguồn dược liệu, thực phẩm…. Ngoài ra, các hệ sinh thái còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết khí hậu và bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, theo ông Phạm Anh Cường, đa dạng sinh học đang trên đà suy giảm và suy thoái rất nhanh do khai thác trái phép quá mức và buôn bán tiêu thụ trái phép các loài động thực vật quý hiếm, gây ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh là một trong 5 nước chịu ảnh hưởng tiêu cực nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu, đa dạng sinh học ở Việt Nam đang bị suy thoái với tốc độ rất nhanh. Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần; số loài và cá thể của các loài hoang dã suy giảm mạnh.
Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, tổng số các loài động, thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (418 loài động vật, 464 loài thực vật), tăng 161 loài so với thời điểm 1992; hiện có tới 9 loài động vật được xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên tại Việt Nam như tê giác hai sừng, heo vòi, cầy rái cá, bò xám, hươu sao, cá chép gốc, cá chình Nhật, lan hài Việt Nam...
Trước bối cảnh đó, chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 xác định các mục tiêu, nhiệm vụ cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học phù hợp với thời kỳ mới, đồng thời thực hiện cam kết đối với công ước đa dạng sinh học mà Việt Nam là thành viên.
Trọng tâm của chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 là thay đổi thái độ, hành vi ứng xử đối với đa dạng sinh học và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; củng cố và thống nhất hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên; đẩy mạnh bảo tồn các loài nguy cấp quý hiếm; bảo tồn và sử dụng bền vững và chia sẻ công bằng lợi ích từ hệ sinh thái, góp phần phát triển đất nước theo định hướng nền kinh tế xanh, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Để đạt các được mục tiêu này, Việt Nam có kế hoạch thành lập 41 khu bảo tồn mới với tổng diện tích 775.000 ha vào năm 2020, tăng tổng diện tích hệ thống khu bảo tồn cả nước lên 3 triệu ha; phát triển 4 vườn thực vật, 5 vườn cây thuốc quốc gia, 2 vườn động vật quốc gia, 11 trung tâm cứu hộ động vật, 3 ngân hàng gene... Đến năm 2030, Việt Nam sẽ có thêm 23 khu bảo tồn mới.
Hiện tại, Việt Nam có tất cả 148 khu bảo tồn, tập trung phần lớn ở phía Bắc. (Chinhphu.vn 24/9; Vnexpress.net 24/9; Nhân Dân 25/9; Sài Gòn Giải Phóng 25/9; VietnamPlus.vn 24/9) đầu trang(
Trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng đồng ý UBND 4 tỉnh quyết định chuyển mục sử dụng đất để thực hiện một số dự án, công trình.
Cụ thể, Thủ tướng đồng ý UBND tỉnh Yên Bái chuyển mục đích sử dụng 1,13 ha đất trồng lúa và 28,5 ha đất rừng phòng hộ để thực hiện công trình đầu tư xây dựng thủy lợi Nậm Mở. UBND tỉnh Sơn La quyết định chuyển mục đích sử dụng 31,67 ha đất trồng lúa và 34,03 ha đất rừng phòng hộ để thực hiện 24 dự án, công trình;
UBND tỉnh Hòa Bình quyết định chuyển mục đích sử dụng 44,32 ha đất trồng lúa và 0,53 ha đất rừng phòng hộ để thực hiện 20 dự án, công trình; tỉnh Quảng Bình quyết định chuyển mục đích sử dụng 95.715,01 m2 đất trồng lúa và 90.038,19 m2 đất rừng phòng hộ để thực hiện 13 dự án, công trình. (Chinhphu.vn 25/9) đầu trang(
Trong khi hầu hết các mặt hàng nông sản xuất khẩu (XK) đều giảm cả về sản lượng và kim ngạch thì XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ trong 8 tháng qua vẫn đạt mức tăng trưởng khá cao, tới 11,6%. Lượng đặt hàng đồ gỗ tăng mạnh nhưng nhiều doanh nghiệp (DN) phải từ chối vì không đủ năng lực sản xuất.
Theo Bộ NN&PTNT, XK gỗ và các sản phẩm từ gỗ trong tháng 8/2013 đạt kim ngạch 432 triệu USD, đưa giá trị XK ngành này 8 tháng đầu năm 2013 lên mức 3,34 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm 2012. Nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ giảm 3,5% trong 8 tháng đầu năm, với kim ngạch 918 triệu USD.
Trong 8 tháng qua, ngoại trừ thị trường Đức giảm 14,4%, Pháp giảm 2,2%, XK nhóm mặt hàng đồ gỗ sang các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh: Hoa Kỳ tăng 7,2%, Trung Quốc tăng 14,7%, Nhật Bản tăng 20,3%, Hàn Quốc tăng 48,2%.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) cho biết, tổng hợp thông tin từ các DN chế biến gỗ, khối lượng các đơn đặt hàng năm nay tăng 20 - 30% so với năm 2012. Chẳng hạn, từ đầu năm đến nay, lượng đơn hàng từ khách hàng Nhật Bản của Công ty Bảo Hưng tăng 60%.
Năm ngoái, doanh thu XK của Bảo Hưng đạt 5 triệu USD thì năm nay dự kiến tăng lên 8 triệu USD. Công ty Tavico đã nhận được đơn hàng tăng lên khoảng 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo Công ty Đăng Long, đơn đặt hàng về DN này tăng 30%, chủ yếu là khách hàng Mỹ.
Những thị trường XK chủ đạo của hàng gỗ Việt Nam như Mỹ, Nhật Bản, châu Âu đang trên đà phục hồi. Cùng với nhu cầu thế giới tăng trưởng trở lại, DN Việt Nam còn nhận được nhiều hợp đồng XK từ Trung Quốc chuyển qua. Theo ông Quyền, giá nhân công Trung Quốc tăng, đồng nội tệ mạnh và các yếu tố chính sách khác của Trung Quốc làm phát sinh chi phí đầu vào khiến DN chế biến đồ gỗ đang đầu tư tại Trung Quốc phải chuyển sang các nước khác để gia công.
Thế nhưng, vấn đề nảy sinh hiện nay là các DN chế biến gỗ đang lo không tận dụng hết cơ hội từ thị trường. Nhiều DN thậm chí trong tình trạng “quá tải” đơn hàng, vì không đủ sức để nhận đơn hàng lớn. Theo ông Lê Trí Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Đức Lợi (Bình Dương), mấy tháng qua, đơn vị đã phải từ chối nhiều đơn đặt hàng của nước ngoài do năng lực sản xuất không thể đáp ứng.
Theo Viforest, thị trường có nhiều tín hiệu khả quan nhưng các DN lại đang ở thế lúng túng. Sở dĩ dẫn đến tình trạng này là do, những năm trước (2009-2011), XK đồ gỗ của Việt Nam sụt giảm bởi ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới khiến nhiều DN sa thải bớt công nhân, bán bớt máy móc để có tiền trả lãi ngân hàng, tái cơ cấu sản xuất. Năm nay, khi đơn đặt hàng tăng đột biến, không kịp đầu tư máy móc, tuyển công nhân, đào tạo nhân lực. Bây giờ hầu hết các DN ngành gỗ không dám nhận hợp đồng giao ngắn hạn vì không đủ năng lực về tài chính, nhân công, nguyên liệu.
Trên thực tế, hoạt động của các DN chế biến đồ gỗ XK ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập: đầu tư theo hướng dàn trải, không đầu tư chuyên sâu, chi phí sản xuất tăng cao, thời gian giao hàng cho khách hàng không đúng lịch.
Hầu hết DN thiếu liên kết với nhau trong sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, đã xảy ra tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, giẫm đạp lên nhau vì lợi ích cá nhân mà quên đi tính cộng đồng. Kim ngạch XK đồ gỗ 8 tháng đầu năm 2013 tăng mạnh nhưng thị phần chủ yếu rơi vào các DN có vốn đầu tư nước ngoài, do họ có nguồn khách hàng ổn định, nhà xưởng quy mô và nguồn vốn lớn.
Nguy cơ lớn nhất đối với nhiều DN đồ gỗ hiện nay là, khi bị từ chối đơn hàng, nhiều khách hàng nước ngoài sẽ bỏ đi, đặt hàng ở nước khác. Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.Hồ Chí Minh khuyến cáo: “DN phải tìm cách tăng cường năng lực sản xuất và nhân công lành nghề... Năm nay là thời điểm tốt để làm mới, đón đầu cơ hội”.
Theo Viforest, đối sách thị trường cần phải tập trung vào chiến lược: “Khách hàng đã vào thì không cho ra”. DN cần phải nhạy bén, dám chấp nhận những đơn hàng lớn và đảm bảo thời gian giao hàng. Đồng thời, cần nâng cao năng lực cạnh tranh, hiểu rõ khách hàng, hiểu rõ thị trường để có đầu ra phù hợp với thực lực của DN.
Với DN đang còn yếu sức, khó đáp ứng khối lượng đặt hàng lớn, cần liên kết, xây dựng mô hình nhóm DN hỗ trợ trong sản xuất, gia công, có sự phân công chuyên môn hóa về chủng loại sản phẩm, chi tiết sản phẩm... DN lớn, có tiềm năng, cần quan tâm hỗ trợ, chia sẻ với DN bạn về đơn hàng, kinh nghiệm quản lý, vốn kinh doanh, liên kết sản xuất với DN nhỏ…
Năm 2012, kim ngạch XK đồ gỗ và lâm sản đạt 4,67 tỉ USD, tăng 15,3% so năm 2011. Bộ Nông nghiệp và PTNT dự báo, kim ngạch XK đồ gỗ năm 2013 đạt 5,5 tỉ USD, đưa Việt Nam trở thành nước có kim ngạch XK gỗ lớn nhất Đông Nam Á, đứng thứ 2 châu Á và thứ 6 trên thế giới.
Thế nhưng, trong tổng giá trị giao thương ngành gỗ toàn cầu mỗi năm lên đến 96,7 tỷ USD, Việt Nam mới chiếm 2,68%. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách tạo nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực về công nghệ sản xuất và chính sách về công nghiệp phụ trợ. Nếu có chính sách, biện pháp phù hợp, ngành chế biến gỗ có thể đạt kim ngạch XK 15-20 tỷ USD trong giai đoạn 2025-2030. (Kinh tế Nông thôn 23/9) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bình Thuận vừa khai trương Cửa hàng đồ gỗ nội thất Việt tại số 396 Nguyễn Thị Thập, phường Tân Quy, quận 7, TP Hồ Chí Minh.
Cửa hàng đồ gỗ nội thất Việt bày bán những dòng sản phẩm mới bằng gỗ hồng tùng, xoan đào, bạch tùng, keo, dái ngựa, chò chỉ, được xử lý kỹ thuật qua hệ thống máy móc hiện đại, giữ được màu sắc tự nhiên của vân gỗ, thiết kế mới lạ, sang trọng, phù hợp với nhu cầu của khách hàng.
Hiện công ty có 100 chủng loại sản phẩm đồ gỗ, mẫu mã thiết kế hiện đại, phong phú, được bảo hành từ 5 - 10 năm và hàng năm đều tổ chức chương trình chăm sóc khách hàng đến tận công trình, nhà dân. Chiến lược phát triển sản phẩm đồ gỗ của công ty phù hợp với cuộc vận động “Người Việt dùng hàng Việt”. (Báo Bình Thuận 25/9) đầu trang(
Ngày 19/9, tỉnh Hà Giang đã ban hành Quyết định số 1980 phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Giang giai đoạn 2011 - 2020.
Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011- 2020 là 5.441,5 tỷ đồng. Quy hoạch cũng đưa ra các dự báo về hiệu quả kinh tế trên các mặt: môi trường, kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng.
Nội dung của quy hoạch gồm: Phân vùng sản xuất nguyên liệu chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ; lâm sinh và xây dựng kết cấu hạ tầng lâm nghiệp. Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 566.561 ha, trong đó: rừng đặc dụng là 55.782 ha; rừng phòng hộ là 249.676 ha; rừng sản xuất: 261.103 ha.
Các giải pháp thực hiện gồm: Giải pháp về tổ chức quản lý tổ chức sản xuất; giải pháp về khoa học và công nghệ và môi trường; giải pháp về phát triển nguồn nhân lực; giải pháp về chính sách; giải pháp về nguồn lực đầu tư; giải pháp về phát triển rừng. (Hagiang.gov.vn 25/9) đầu trang(
Nghị quyết 28 của Bộ Chính trị về rà soát, sắp xếp đổi mới nông lâm trường quốc doanh yêu cầu “đất của nông, lâm trường bị lấn chiếm thì phải thu hồi”. Các lâm trường quốc doanh được yêu cầu phải rà soát nhu cầu và khả năng quản lý sử dụng đất để giao trả một phần diện tích đất cho địa phương để cân đối nhu cầu của người dân. Nhưng thực tế nhiều nơi không thực hiện được việc này.
Ông Đoàn Quốc Anh, Bí thư chi bộ thôn Cốt Cối (xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, Lạng Sơn), cho rằng người dân lấn chiếm đất chỉ vì mưu sinh: “Thôn chủ yếu là dân di cư hoặc công nhân nghỉ việc nên ai cũng tay trắng. Dân kiến nghị chính quyền phải cấp đất cho dân, dân ở rừng thì phải có đất rừng để sinh sống. Lúc đầu lâm trường hứa giao mỗi hộ 1,5 ha nhưng do lâm trường không thể thu hồi đất đã bị lấn chiếm và xã, huyện cũng đành chịu. Do đó người dân phải quay lại lấn chiếm đất rừng vừa được công ty khai thác dẫu biết rằng sai pháp luật”.
Theo phó chủ tịch xã Tân Thành, trung bình mỗi hộ ở xã chỉ được nhận khoán 0,5-0,7 ha đất để trồng rừng, con số này quá ít không đủ nuôi sống cả gia đình. Giám đốc Công ty Đông Bắc - ông Nguyễn Tân Việt cũng đồng ý nguyên nhân sâu xa dẫn đến lấn chiếm tranh chấp đất là do “sức ép về gia tăng dân số trên địa bàn trong khi các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chưa phát triển, ruộng nương ít, người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nên nhu cầu về đất là có thật và ngày càng tăng”. Trong khi đó, lâm nghiệp ngày càng chứng minh là một ngành thu nhập cao và ổn định nên tình hình lấn chiếm tranh chấp ngày một gay gắt.
Nhu cầu về đất bức thiết nhưng cơ chế khoán hiện có những bất hợp lý khó giải quyết được. Định mức khoán do một bên áp đặt nên người nhận khoán bị lỗ là một vấn đề. “Lâm trường bỏ ra rất ít nhưng lại thu đến 40%-50% sản lượng thu hoạch là không hợp lý, dân không đồng ý” - đại diện xã Tân Thành góp ý. Việc giao khoán không công bằng giữa các đối tượng nhận khoán cũng là một bất cập. Chẳng hạn tại thôn Cốt Cối, trong khi người dân chỉ được nhận khoán trung bình 0,5-0,7 ha thì Công ty Đông Bắc giao cho người ngoài thôn, ngoài xã đến hàng trăm hecta dẫn đến khiếu nại gay gắt.
Theo báo cáo tổng kết Nghị quyết 28, các lâm trường quốc doanh sau khi sắp xếp đã giao lại cho địa phương hơn 504.000 ha (chiếm 14% diện tích). Tuy nhiên, nhiều nơi việc trả lại đất cho địa phương chỉ mới là dự kiến hoặc thực hiện trên giấy. Vị trí đất dự kiến trả lại cho địa phương hoặc là thuộc khu vực đã bị lấn chiếm tranh chấp hoặc thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa, khó khăn nên lâm trường không sử dụng được.
Đơn cử tại Công ty Đông Bắc (tỉnh Lạng Sơn), đơn vị cho hay dự kiến trả lại địa phương hơn 12.700 ha, trong đó huyện Hữu Lũng được hơn 11.200 ha thế nhưng đến nay vẫn chưa làm được. Theo giám đốc công ty, lý do là “chưa có kinh phí đo đạc cắm mốc ranh giới”.
Tương tự, Công ty Long Đại (tỉnh Quảng Bình) thu hồi 1.500 ha giao cho dân nhưng dân không nhận bởi vị trí quá xa khu dân cư, đất rất xấu không canh tác được. Ngoài ra, công ty này còn hơn 11.600 ha chưa thu hồi do chưa có kinh phí rà soát, đo đạc. Tại tỉnh Đắk Lắk, Công ty M’Đrak có 3.000 ha chưa tổ chức giao cho dân, bởi phần lớn diện tích này đang bị lấn chiếm, chưa có giải pháp để giải quyết mâu thuẫn và cũng chưa có kinh phí đo đạc.
“Lâm trường hiện nay không còn sinh khí, cấp thiết phải xem xét tính toán lại về vai trò và phương thức hoạt động của các đơn vị này” - GS-TS Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ TN&MT, nhận xét về thực trạng các công ty lâm nghiệp hiện nay sau 10 năm sắp xếp đổi mới. Theo ông, cơ chế khoán được hy vọng sẽ làm dịu nhu cầu của người dân về sinh kế.
“Lâm trường báo cáo cơ chế khoán rất hiệu quả nhưng thực chất đã biến thành cơ chế địa chủ kiểu mới, phát canh thu tô, lâm trường chia đất rồi hưởng lợi” - ông nhận xét. Ông cho rằng dứt khoát phải đổi mới phương thức của các công ty lâm nghiệp vì đây cũng là “bình mới rượu cũ” của lâm trường quốc doanh.
Một chuyên gia đang là cán bộ Ban đổi mới doanh nghiệp quốc doanh (thuộc Bộ NN&PTNT) cho rằng, lâm trường quốc doanh đã hết sứ mệnh lịch sử, cần phải xem xét lại phương án quy hoạch sử dụng đất của các đơn vị này. Một giải pháp ông đưa ra là đấu giá công khai quỹ đất cho thuê sau khi thu hồi lại đất lâm trường không sử dụng hiệu quả. Muốn vậy thì phải giải quyết các tranh chấp, cắm mốc trên phương án mới đã được xem xét. Kinh phí thực hiện có thể thực hiện bằng hai nguồn: Dùng ngân sách Nhà nước hoặc vận động những doanh nghiệp có khả năng.
Ông Phạm Quang Tú, Viện trưởng Viện Tư vấn Phát triển (Viện CODE), kiến nghị phải có một cuộc tổng điều tra đánh giá nghiêm túc, kỹ lưỡng về đất đai và giải quyết tranh chấp lấn chiếm của các nông lâm trường hiện nay. Theo ông, diện tích giữ lại cho các công ty là tối thiểu, số còn lại giao cho hộ dân và cộng đồng.
“Cần tiếp tục rà soát, thu hồi một số diện tích đất đai của nông lâm trường trả lại cho địa phương để tổ chức giao cho các hộ thiếu đất. Việc thu hồi đất phải có tiêu chí rõ ràng như loại đất gì, ở đâu… để đảm bảo khi đất giao lại là dân có thể sử dụng được” - ông kiến nghị.
Ông Tú cũng đồng tình, Nhà nước cần đầu tư kinh phí để rà soát, đo đạc, tổ chức giao đất cho dân trên thực tế, tránh giao trên giấy tờ. Việc chia lại đất cho các hộ cứ theo bình quân trên địa bàn xã để đảm bảo công bằng, nếu vượt mức bình quân thì phải chuyển sang thuê đất. (Pháp Luật TPHCM 24/9) đầu trang(
Ngày 24/9, ông Nguyễn Văn Thật, Trưởng phòng Bảo vệ động vật hoang dã, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Phước cho biết, toàn tỉnh hiện có 324 cơ sở được chi cục cấp giấy chứng nhận đăng ký nuôi nhốt động vật hoang dã, với hơn 10.000 cá thể.
Các cơ sở nuôi tập trung nhiều ở các huyện: Bù Đăng 92 trại, Bù Đốp 48, Đồng Phú 44, Hớn Quản 31. Các loài động vật hoang dã quý hiếm được các cơ sở gây nuôi như: gấu chó, khỉ đuôi dài, cầy giông, rùa răng, rùa núi vàng, trĩ đỏ.
Ngoài ra, các loài động vật hoang dã thông thường khác cũng được nuôi là: nhím, rắn ráo trâu, ba ba trơn. (Công An Nhân Dân 25/9) đầu trang(
Theo Sở NN&PTNT Bắc Giang, công tác trồng rừng đã cơ bản hoàn thành, đến nay toàn tỉnh đã trồng được 6.707 ha, bằng 176,5% kế hoạch năm, tăng 55,3% so cùng kỳ.
Trong đó, trồng rừng sản xuất 6.601 ha, trồng rừng phòng hộ 106 ha; thực hiện công tác khoán bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng 41.985 ha, bằng 131,2% kế hoạch.
Tổng số gỗ khai thác từ đầu năm đến nay được 91.477 m3 gỗ các loại, bằng 136,2% so với cùng kỳ; 25.008 ste củi bằng 97% so với cùng kỳ; 84.100 cây tre nứa và 158.670 kg lâm sản khác.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thiện hồ sơ giao 1.554,3 ha rừng cho 701 hộ gia đình, cá nhân (huyện Yên Dũng giao 700 ha cho 318 hộ, Việt Yên giao 314,3 ha cho 195 hộ, Sơn Động giao 540 ha cho 188 hộ) đạt 44% so với kế hoạch giao. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân được 1.344 giấy với diện tích 2.539 ha (huyện Sơn Động cấp 852 giấy với diện tích 2.175 ha; Yên Thế cấp 285 giấy với diện tích 154 ha; Lục Nam cấp 207 giấy với diện tích 210 ha).
Ngoài ra, đã thực giao đất, giao rừng cho Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Phân ban Khe Rỗ) tại xã An Lạc, huyện Sơn Động với diện tích đất 5.319 ha, diện tích rừng 4.762 ha. (Bacgiang.gov.vn 24/9) đầu trang(
Từ nguồn vốn của Nhà nước cộng với nguồn lực đầu tư của nhân dân, kinh tế rừng ở Quảng Nam đã có những bước đột phá.
Theo Phòng NN&PTNT huyện Bắc Trà My, hầu hết các dự án trồng rừng diện tài trợ nước ngoài, chương trình 661 kết thúc đã lấp gần đầy diện tích; nhân dân đang đầu tư trồng trên diện tích bỏ hoang hoặc đã thu hoạch xong. Năm nay, nguồn cung giống cây trồng tại Bắc Trà My khá dồi dào, dự kiến đủ đáp ứng diện tích phủ xanh hơn 100ha rừng.
Tại huyện Hiệp Đức, dọc theo quốc lộ 14E xuất hiện hàng chục cơ sở sản xuất cung cấp cây giống quy mô lớn, đặc biệt vườn ươm cây giống cao su. Dọc hai bên đường, không khí mua bán cây giống tấp nập.
Ông Huỳnh Năm - Trưởng phòng NN&PTNT huyện Hiệp Đức thông tin, năm nay, ngành chọn 146 hộ để hỗ trợ giống trồng cao su tiểu điền với gần 120ha; tổ chức kiểm tra, nghiệm thu hỗ trợ hàng trăm triệu đồng cho người dân trồng cao su tiểu điền. Kế hoạch phát triển rừng năm 2013 theo dự án 661 là tiếp tục chăm sóc 124ha; khoanh nuôi, quản lý, bảo vệ gần 4.000ha. Ngoài ra, hơn 6.000ha trồng rừng dự án KFW6 và WB3 sẽ được các xã trên địa bàn huyện chăm sóc, khoanh nuôi, chú trọng đến chất lượng chứ không mở rộng thêm diện tích.
Trong khi đó, theo Sở NN&PTNT, trong 10 năm (2003-2013), dự án WB3 trồng 11.281ha rừng sản xuất, dự án PACSA phủ xanh 1.855ha rừng phòng hộ ven biển, dự án JBIC trồng 2.709ha rừng phòng hộ các hồ chứa nước và hơn 1.000 héc ta rừng sản xuất từ dự án KFW6.
Ngoài ra, các mô hình nông - lâm kết hợp trồng rừng chất lượng cao do Chính phủ Ý tài trợ không hoàn lại, vốn từ thuế tài nguyên, tái tạo rừng. Ước tính sơ bộ, đến nay cả tỉnh có hơn 53 nghìn héc ta rừng sản xuất, dự kiến mỗi năm khai thác ít nhất 5.000ha. Tính theo thời giá hiện nay, mỗi héc ta thu nhập ít nhất là 40 triệu đồng, thì mỗi năm kinh tế từ rừng đem lại hàng trăm tỷ đồng.
Tại các huyện Tây Giang, Đông Giang, Bắc Trà My, Phước Sơn… bước đầu đã áp dụng mô hình canh tác bền vững trên đất dốc, mô hình trồng rừng thâm canh, nông - lâm kết hợp. Thành công nổi bật của ngành lâm nghiệp thời gian qua là nuôi cấy mô thành công các giống dó bầu, keo và khảo nghiệm nhiều giống cây mới như tre lấy măng, mao trúc, xoan chịu hạn, ngân hoa.
Ngoài ra, sản xuất đại trà thành công các loại giống bằng phương pháp giâm hom là phi lao Trung Quốc 601, 602, keo lai… Hình thành vùng cây nguyên liệu bản địa tập trung hứa hẹn cho kinh tế cao như sao đen, thông nhựa, lim xanh, dầu rái, huỳnh đàn, phi lao.
Các huyện Hiệp Đức, Tiên Phước đang đề nghị cấp chứng chỉ rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế (FSC) cho 2.500ha rừng. Hiện nay, Công ty Xuất khẩu lâm sản Quảng Nam đã tiếp cận 4.000ha rừng trồng của mình được cấp chứng chỉ rừng đạt FSC. Năm ngoái, công ty này có 1.500ha rừng được công nhận FSC. Theo lý giải của nhiều chủ rừng, lẽ ra số diện tích rừng trồng ở Quảng Nam đạt tiêu chuẩn FSC sẽ cao hơn thực tế rất nhiều, nhưng vì một số nơi do gặp phải khó khăn trong xác định lại quyền sử dụng đất, rà soát các tiêu chí.
Theo Công ty Xuất khẩu lâm sản Quảng Nam, năm 2013 đơn vị sẽ mở rộng diện tích rừng đạt tiêu chuẩn FSC, tập trung vào đối tượng các hộ dân vay vốn của công ty và các hộ dân có rừng giáp ranh với công ty, nhằm mục đích nâng cao giá trị kinh tế rừng cho nông dân. Sở NN&PTNT đã cấp chứng nhận đăng ký sản xuất kinh doanh cho 15 vườn ươm, cấp chứng chỉ công nhận nguồn giống cây trồng lâm nghiệp hàng năm.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Nguyễn Ngọc Quang khẳng định, từ nay đến hết năm 2015, một trong những nhiệm vụ phát triển kinh tế rừng của tỉnh là nâng cao giá trị của gỗ rừng trồng thông qua thực hiện các tiêu chí quản lý rừng bền vững và công nghiệp chế biến đồ gỗ nội, ngoại thất phục vụ xuất khẩu; thông qua các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng, tạo thêm việc làm cho người dân, góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo tại địa phương. (Báo Quảng Nam 25/9) đầu trang(
Ở xã Liễu Đô (huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) hầu như người dân nào cũng biết đến anh Hoàng Kim Sơn, một nông dân sáng tạo đã biết thâm canh trồng sắn xen lẫn keo mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Mô hình này đã giúp gia đình anh Sơn thoát nghèo, vươn lên làm giàu bền vững và tạo công ăn việc làm với thu nhập ổn định cho gần 50 lao động trong xã.
Cụ thể là, năm 1989, anh Sơn mạnh dạn nhận 5ha đồi trồng keo, cùng với đó anh đầu tư xây dựng hệ thống đập thủy lợi để nuôi cá, tập trung hình thành mô hình trang trại tổng hợp. Cuối năm 2009, anh tiếp tục nhận thêm 8ha đồi, đến nay anh có tổng số 13ha.
Qua tìm hiểu học hỏi nhiều nơi, anh quyết định chọn cây ngắn ngày để quay vòng vốn nhanh. Ban đầu anh Sơn mua hơn một vạn cây sắn cao sản và thuê nhân công trồng và chăm sóc, làm cỏ với thu nhập ổn định. Được biết, trung bình mỗi năm thu hoạch gần 200 tấn sắn tươi, với giá bán như hiện nay khoảng 150.000 đồng/tạ, trừ các khoản chi phí mỗi năm gia đình anh Sơn thu về khoảng 100 triệu đồng. (Quân Đội Nhân Dân 25/9) đầu trang(
Tuy đạt sản lượng cao nhưng hầu hết lượng gỗ rừng trồng khai thác được của tỉnh Quảng Ninh không được chế biến thành hàng hóa có giá trị cao mà chủ yếu là băm dăm, dùng chống lò và làm củi rất lãng phí.... Đề án hỗ trợ dây chuyền sản xuất gỗ ghép thanh cho các doanh nghiệp (DN) do Trung tâm Khuyến công tỉnh Quảng Ninh triển khai đã khắc phục được sự lãng phí trên.
Số liệu từ Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cho thấy, trên địa bàn tỉnh hiện có 136.954ha diện tích rừng trồng, phân bố đều khắp các huyện trên địa bàn. Diện tích rừng trồng của Quảng Ninh tăng hàng năm, chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm đã trồng mới được 9.000ha rừng, chủ yếu là rừng cây keo tượng. Sản lượng khai thác gỗ bình quân đạt khoảng 2 triệu m3/năm.
Tuy nhiên, theo ông Hoàng Đức Khá, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp tỉnh Quảng Ninh, dù sản lượng khai thác gỗ rừng trồng của tỉnh cao nhưng hầu hết gỗ được sử dụng “thô” rất lãng phí. Phần thân cây dùng làm gỗ chèn lò và băm dăm mảnh, phần thừa còn lại thường làm củi hoặc bỏ đi. Trong khi đó, “phần bỏ đi” này lại có đường kính từ 16-17cm, đủ tiêu chuẩn để làm ra những tấm ván ghép thanh dài từ 70-100cm.
Mặt khác, nhu cầu ván ghép thanh trên thị trường, nhất là ván ghép dùng sản xuất đồ nội thất hiện đang rất lớn, bởi có nhiều tính năng ưu việt như không bị mối mọt, không co ngót cong vênh, mẫu mã đa dạng phong phú, bề mặt được xử lý nên có độ bền màu tốt, có khả năng chịu va đập và chống xước cao. Thế nhưng, nổi trội hơn cả là ván ghép thanh được sản xuất chủ yếu từ gỗ khai thác rừng trồng, gỗ tận dụng, giá cả hợp lý, là sự thay thế tốt cho gỗ tự nhiên ngày càng khan hiếm.
Nhận thấy rõ sự lãng phí và nắm bắt nhu cầu thị trường, nên trong quá trình thực hiện kế hoạch khuyến công năm 2013, Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh đã tích cực hỗ trợ các DN chế biến gỗ trên địa bàn đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm nhằm tận dụng lợi thế nguồn nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Cụ thể, trung tâm đã phối hợp với Công ty TNHH xây dựng Đông Triều xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật sản xuất gỗ ván ghép thanh từ gỗ keo phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu với công suất 1.650m3/năm. Mô hình có tổng vốn đầu tư 5 tỷ đồng, nguồn kinh phí khuyến công địa phương hỗ trợ 200 triệu đồng. Từ sự giúp sức này, Công ty TNHH Xây dựng Đông Triều đã đầu tư mở rộng xưởng sản xuất, xây dựng kho chứa gỗ. Công ty cũng đầu tư dây chuyền sản xuất tự động và máy móc hiện đại như: Máy bào bốn mặt, máy chà nhám 1,2m, máy ghép dọc dài 1,5m, máy ghép ngang và máy cưa rong....
Theo hạch toán của DN, sau khi mô hình hoàn thành và đi vào sản xuất sẽ tiêu thụ khoảng 6.000m3 gỗ rừng trồng/năm, giúp DN đạt mức doanh thu hơn 15,675 tỷ đồng mỗi năm. Mô hình cũng sẽ tạo việc làm mới cho 13 lao động, nâng số lao động đang làm việc tại DN lên 40 người và đạt mức thu nhập trung bình 3-4 triệu đồng/người/tháng.
Trong năm 2013, Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp Quảng Ninh cũng hỗ trợ Công ty CP chế biến lâm sản Quảng Ninh đầu tư dây chuyền sản xuất gỗ ghép thanh xuất khẩu. Mô hình có công suất 1.500m3 sản phẩm/năm, tổng vốn đầu tư khoảng 10 tỷ đồng.
Bà Trần Thị Lan, Giám đốc Công ty CP chế biến lâm sản Quảng Ninh cho biết, được sự hỗ trợ từ nguồn vốn khuyến công, DN đã lắp đặt hệ thống sản xuất mới theo công nghệ của Nhật Bản bao gồm: Hệ thống nồi hơi, hệ thống lò sấy, dây chuyền sản xuất ván ghép, máy phay mộng Finger.... Hiện mô hình đã hoàn thành và đang vận hành thử nghiệm.
Dự kiến, sau khi đạt 100% công suất, dây chuyền sẽ giúp DN đủ năng lực sản xuất 2.000m3 sản phẩm gỗ ghép thanh xuất khẩu và đạt doanh thu 21,750 tỷ đồng mỗi năm. Dây chuyền cũng tạo việc làm cho 57 lao động nông thôn địa phương với thu nhập khoảng 3,5 triệu đồng/người/tháng. (Kinh Tế Việt Nam 25/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm (Sở NN-PTNT) cho biết từ đầu mùa khô 2012-2013 tới nay (9 tháng đầu năm 2013), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 92 vụ cháy rừng và đất rừng (tăng 61 vụ), làm cháy 198,37 ha (tăng 133,15 ha).
Trong 92 vụ cháy này có 20 vụ cháy rừng (tăng 8 vụ) làm cháy 37,54 ha rừng (tăng 9,57 ha) và 72 vụ (tăng 52 vụ) cháy thảm cỏ, cây bụi với diện tích 160,83 ha (tăng 123,58 ha).
Theo Sở NN-PTNT thì hầu hết các vụ cháy đều đã được phát hiện và tổ chức chữa cháy kịp thời nên đã hạn chế được thấp nhất thiệt hại tuy số vụ cháy và diện tích cháy có tăng so với cùng kỳ năm trước. (Báo Lâm Đồng 25/9) đầu trang(
Tính đến năm 2013, trong tổng số 40.000 ha rừng trên toàn quốc được tổ chức quốc tế cấp chứng chỉ FSC (chứng chỉ công nhận về quản lý rừng bền vững), tỉnh Quảng Trị chiếm hơn 10.000 ha.
Số nhóm hộ sở hữu diện tích rừng được cấp chứng chỉ là 861,8 ha; Công ty lâm nghiệp Bến Hải có 9.444 ha. Dự kiến cuối năm 2013 sẽ tiến hành đánh giá và cấp chứng chỉ gỗ có kiểm soát (CW) cho Công ty lâm nghiệp Triệu Hải khoảng 4.000 ha.
Từ đây đến năm 2015, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh phấn đấu vận động và mở rộng chứng chỉ rừng trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 15.000 ha. Đối với mô hình cấp chứng chỉ rừng cho nhóm hộ gia đình sẽ tiếp tục vận động mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ đạt khoảng 2.000 - 3.000 ha. (Báo Quảng Trị 24/9; Nông Thôn Ngày Nay 24/9) đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Bình Thuận vừa đề nghị UBND huyện Bắc Bình chỉ đạo các cơ quan chức năng của huyện phối hợp với BQL rừng phòng hộ Sông Lũy kiểm tra hiện trường các vụ khai thác lâm sản trái phép ở xã Phan Sơn để xử lý.
Trong năm 2012, có đến 42 cây dầu cổ thụ và hai cây bằng lăng với trữ lượng hơn 500 m3 bị triệt hạ. Theo quy định, với khối lượng gỗ bị thiệt hại như trên, BQL rừng phải lập hồ sơ chuyển xử lý hình sự nhưng BQL không làm việc này. (Pháp Luật TPHCM 25/9) đầu trang(
Tính từ cuối tháng 8 tới nay, ngành kiểm lâm Lào Cai đã kiểm tra, phát hiện xử lý 39 vụ vụ vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng.
Số lâm sản bị tịch thu là 25,4 m3 gỗ các loại và 13,5 kg động vật hoang dã, số tiền nộp ngân sách nhà nước thu từ xử lý hành chính là 117 triệu đồng.
Đây cũng là thời điểm số vụ vi phạm pháp luật về quản lý và bảo vệ rừng bị phát hiện, xử lý cao nhất tính từ đầu năm. (Báo Lào Cai 24/9) đầu trang(
Sau một thời gian được khống chế, đến thời điểm này, sâu ong đã bùng phát trở lại gây thiệt hại nặng nề trên diện tích hơn 1.000ha rừng mỡ tại Bắc Kạn.
Theo Sở NN&PTNT Bắc Kạn, trong số diện tích rừng mỡ bị sâu ong phá hoại, huyện Chợ Đồn có hơn 580ha, huyện Pác Nặm khoảng hơn 400ha, huyện Chợ Mới hơn 20ha và huyện Bạch Thông trên 10ha.
Ngay khi sâu ong xuất hiện trở lại, Sở NN&PTNT Bắc Kạn đã chỉ đạo các địa phương cùng với bà con tích cực phát dọn, xử lý thực bì sạch sẽ để tránh sâu có điều kiện thuận lợi phát triển, đồng thời tập trung diệt trừ sâu ong bằng cách dùng cuốc, xẻng xới đều và rắc thuốc trừ sâu lên mặt đất, tiến hành ngắt bỏ ổ trứng đem tiêu hủy.
Tuy nhiên, ở một số nơi, nhân dân vẫn còn chủ quan với tình hình phát triển của loại sâu hại này nên đã tạo điều kiện cho sâu phát triển diện rộng. Trong khi đó, nông dân hiện vẫn chưa có phương thuốc hữu hiệu để diệt trừ loài sâu này.
Thu bắt sâu ong bằng tay là biện pháp hữu hiệu nhất đang được nhiều địa phương huy động các đoàn thể cùng vào cuộc. Tuy nhiên, do rừng mỡ phân tán, cây cao, địa hình núi cao hiểm trở nên việc phòng trừ vẫn hết sức khó khăn. (VietnamPlus.vn 24/9) đầu trang(
Ngày 23/9, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Lê Văn Thành (trú tại thị xã Hương Thủy) 25 triệu đồng vì đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Đồng thời, tịch thu nhập kho Nhà nước toàn bộ số lâm sản là tang vật vụ vi phạm.
Trước đó, ngày 13/9, ông Thành điều khiển ôtô vận chuyển trái phép 11 phách gỗ gõ lau (nhóm IIA), bị Cảnh sát môi trường Công an TP Huế bắt giữ. (Công An Nhân Dân 24/9) đầu trang(
Ngày 23.9, ông Nguyễn Văn Sĩ - Chủ tịch UBND xã Trường Sơn (H.Quảng Ninh, Quảng Bình), cho biết đang tiếp tục vận động người dân giao nộp nếu còn cất giữ gỗ huê.
Trước đó, ngày 20.9, dư luận trong vùng rộ lên tin một nhóm người dân địa phương đi dò tìm gỗ trên các triền sông sau lũ thì phát hiện một số gỗ huê khá lớn nằm dưới bùn đất và cưa mang về cất giấu.
Sau khi nhận thông tin, công an và lực lượng kiểm lâm huyện, Đội kiểm lâm cơ động tỉnh phối hợp với chính quyền địa phương vận động người dân giao nộp gỗ. Sau nhiều giờ thuyết phục, nhóm tìm thấy gỗ đã nộp một khúc gỗ nặng 69 kg. (Thanh Niên 24/9) đầu trang(
24.9, TAND tỉnh Quảng Nam mở phiên phúc thẩm xét xử vụ phá rừng phòng hộ ở H.Nam Trà My, tuyên y án 48 tháng tù đối với Huỳnh Hào Hùng (trú ở huyện Bắc Trà My) và 30 tháng tù đối với Nguyễn Thanh Sỹ (quê gốc Quảng Ngãi, em vợ của Hùng) cùng về tội vi phạm các qui định về khai thác, bảo vệ rừng.
Do các bị cáo chỉ kháng cáo nội dung về mức án, nên tòa phúc thẩm không đặt vấn đề về bồi thường dân sự với mức “khủng” gần 1,2 tỉ đồng, được tuyên tại tòa sơ thẩm.
Theo cáo trạng sơ thẩm, khoảng tháng 11.2012, Hùng xuống Tam Kỳ mua máy cưa, lương thực… chuyên chở lên xã Trà Leng (H.Nam Trà My) để khai thác gỗ trái phép. Đồng thời, Hùng cũng thuê Sỹ và 2 người khác khai thác gỗ.
Ngày 12.12.2012, khi cả nhóm đang khai thác gỗ rừng phòng hộ tại tiểu khu 790 thuộc thôn 3 xã Trà Leng thì bị lực lượng kiểm lâm H.Nam Trà My phát hiện.
Tại hiện trường, đã có 10 cây gỗ xoan đào, gõ đỏ, sơn tuyết bị đốn hạ với khối lượng hơn 43m3 gỗ, thiệt hại về lâm sản và môi trường do nhóm Hùng gây ra gần 1,2 tỉ đồng.
Đinh Văn In (trú tại xã Trà Tân, H.Bắc Trà My) bị lực lượng kiểm lâm bắt quả tang, nhưng đến ngày 6.2 đã chết do bệnh tim sau khi được gia đình bảo lãnh. Ba người còn lại kịp tẩu thoát. Sau đó Hùng, Sỹ đầu thú, còn người thứ 4 tên Nhựt (quê Quảng Ngãi) hiện chưa rõ lai lịch. (Thanh Niên 25/9) đầu trang(
Kiểm lâm Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát (huyện Tân Biên, Tây Ninh) vừa phát hiện một con vượn đen má trắng bị điện giật chết trên đường dây trung thế 22 kV chạy ngang qua vườn.
Đường dây điện trung thế này không được cách điện nên năm nào cũng có một vài con vật quý hiếm trong vườn quốc gia bị điện giật chết. Các loài leo trèo như vượn, khỉ… thường bị chết do đường dây này. Hiện số lượng vượn còn lại trong Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát rất ít. Vượn đen má trắng có trong Sách đỏ Việt Nam, thuộc loài nguy cấp (thuộc Nhóm IB).
Ông Nguyễn Đình Xuân, Giám đốc Vườn Quốc Gia, cho biết lãnh đạo vườn đã nhiều lần bàn bạc với ngành điện thay đổi đường dây nhằm đảm bảo an toàn cho các loài động vật nhưng chưa làm được vì thiếu kinh phí. Theo tính toán, với khoảng 3 km đường dây trung thế chạy qua vườn, nếu bọc nhựa tốn khoảng 3 tỉ đồng. (VietnamPlus.vn 25/9; Pháp Luật TPHCM 25/9) đầu trang(
Vài tháng trở lại đây, trên địa bàn huyện Ngọc Hồi và Đăk Hà mỗi ngày có hàng chục người dân lặn lội men theo các con suối, bờ ruộng ngập nước để tìm kiếm gỗ trắc với mong muốn đổi đời.
Nguyên nhân khiến người dân đổ xô đi tìm gỗ trắc bắt nguồn từ việc mới đây, ông A Phúc, Chủ tịch UBND xã Bờ Y (huyện Ngọc Hồi) trong một lần đi ra con suối cạnh nhà bắt cá đã phát hiện một cây gỗ trắc dài khoảng 8m bị vùi sâu dưới lòng suối lâu năm. Cây gỗ trắc này được ông A Phúc bán cho tư thương với giá 120 triệu đồng. Nhiều người dân của thôn Đăk Năng (xã Đăk Sú, huyện Ngọc Hồi) trong lúc đi tìm gỗ trắc cũng phát hiện dưới lòng suối Đăk Hniêng một gốc gỗ trắc, bán được 60 triệu đồng.
Trước đó, vào tháng 3/2011, ông Nguyễn Ngọc Thanh (53 tuổi, trú xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà) trong lúc đào hố trồng chuối ở cuối vườn nhà phát hiện cây trắc lõi lâu năm, chiều dài 21m, nằm sâu dưới lòng đất bùn 0,5m, bán được 1,12 tỷ đồng…
Được biết, vùng đất thuộc huyện Đăk Hà và Ngọc Hồi trước đây là “vùng rốn” của gỗ trắc. Sau năm 1975, để trồng cây cà phê, các nông trường đã khai thác rừng trắc lấy đất canh tác, chỉ thu gom một số gỗ trắc lớn, số còn lại (cây nhỏ, gốc, rễ, cành…) họ dùng xe ủi lùa xuống các ao hồ, khe suối...
Hiện nay, trên địa bàn huyện Đăk Hà còn tồn tại khu rừng đặc dụng Đăk Uy do Nhà nước quản lý với trữ lượng gỗ trắc tương đối nhiều. Đây cũng là bài toán nan giải cho chính quyền sở tại khi thực thi nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng trắc quý hiếm trước nạn lâm tặc đang ngày đêm nhòm ngó. (Dân Trí 25/9) đầu trang(
Qua phản ánh của nhiều hộ dân ở xã Lộc Trì, từ ngày 21 - 23/9, khu rừng thông già phía Bắc đèo Phước Tượng do chính quyền địa phương quản lý đang bị chặt phá nghiêm trọng. Điều đáng nói, rừng thông bị tàn phá chỉ cách UBND xã Lộc Trì 1-2km và đội ngũ phá rừng vẫn ngang nhiên xẻ khúc, phân thành đống và đưa ô tô vào tận nơi để chở gỗ ra khỏi rừng.
Ông Trần Xuân Diệu - Chủ tịch UBND xã Lộc Trì cho biết, không rõ ai đang đốn hạ rừng thông. Khi hỏi thêm và nói rõ vị trí khu vực rừng thông đang bị đốn hạ, ông Diệu chỉ nói qua loa là đơn vị đang thi công hầm đường bộ Phước Tượng đốn hạ một số cây vì họ đã hỗ trợ kinh phí đền bù ?!. Tuy nhiên, qua khảo sát, từ điểm triển khai xây dựng hầm Phước Tượng đến khu vực đội công nhân đang đốn hạ rừng thông là không dưới 1 km. Điều này cũng có nghĩa, sự tồn tại rừng thông chẳng ảnh hưởng gì đến việc thi công hầm đường bộ Phước Tượng.
Trước vấn đề này, PV liên lạc để trao đổi thêm thì ông Diệu từ chối với lý do bận họp. Và lúc đến trụ sở UBND xã Lộc Trì để chờ đợi thì ông Diệu tiếp tục từ chối qua điện thoại với lý do: Tôi ra ngoài rồi! (Báo TT - Huế 25/9) đầu trang(
Ngay sau khi nhận được báo cáo của Chi cục kiểm lâm và Hạt kiểm lâm huyện Thanh Sơn, Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ đã có văn bản gửi UBND huyện Thanh Sơn về việc điều tra, xử lý hành vi tự ý giết chết gấu nuôi tại xã Cự Thắng (Thanh Sơn - Phú Thọ).
Văn bản đề nghị UBND huyện Thanh Sơn chỉ đạo cơ quan công an huyện, Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với các cơ quan chức năng trong huyện nhanh chóng điều tra, xác minh làm rõ hành vi, mức độ vi phạm xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo đó, Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ nhận thấy việc gia đình ông Tăng Đức nuôi gấu do bất cẩn, không tuân thủ các quy định về gấu nuôi để xảy ra vụ việc đáng tiếc (gấu nuôi cắn đứt hai tay cháu bé). Trách nhiệm thuộc về chủ hộ nuôi gấu (ông Tăng Đức).
Thêm nữa, việc ông Đức tự ý giết chết cá thể gấu là hành vi bị phạm luật nghiêm cấm theo qui định tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ về việc quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và các văn bản hiện hành.
Cũng theo văn bản trên, Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ nhận thấy hành vi trên cần phải được điều tra, làm rõ và xử lý theo qui định của pháp luật. Sở này cũng cho biết, từ thực tế trên, để chị đạo, quản lý chặt chẽ, việc gây nuôi, buôn bán động vật hoang dã quý, hiếm trên địa bàn theo qui định của pháp luật.
Ngay sau khi nhận được văn bản của Sở NN&PTNT tỉnh Phú Thọ, Công an huyện Thanh Sơn đã vào cuộc điều tra, Hạt kiểm lâm Thanh Sơn ngày 20.9 cũng tiến hành lập biên bản xử lý vi phạm hành chính về việc ông Đức vi phạm quản lý động vật rừng nhưng chưa ghi rõ là mức phạt bao nhiêu.
Ông Trần Quốc Toản, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thanh Sơn cho biết: “Chúng tôi nhận trách nhiệm về việc buông lỏng quản lý, sắp tới UBND huyện sẽ tiến hành họp để tìm giải pháp xử lý vụ việc. Nếu đúng như quy định của pháp luật hiện hành thì việc tự ý giết gấu nuôi trái phép bị xử lý hình sự”. (Lao Động 25/9) đầu trang(
Ngày 24.9, tại trụ sở TAND TP.Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng đã mở phiên toà xét xử phúc thẩm vụ án lợi dụng chức vụ, quyền hạn... xảy ra tại Cty Công nghiệp rừng Tây Nguyên thuộc TCty Lâm nghiệp VN.
Sau phần khai mạc, HĐXX đã quyết định hoãn phiên tòa do luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Quốc Trí - nguyên GĐ Cty CNR Tây Nguyên - vắng mặt có lý do. (Lao Động 25/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Gấu trúc là loài đang gặp nguy hiểm và rất khó để nuôi dưỡng. Vì vậy hình ảnh của 14 chú gấu trúc con tại Trung Quốc mới đây đã khiến nhiều người yêu quý động vật thấy vô cùng thích thú.
Mới đây, cộng đồng tại thành phố Thành Đô, Trung Quốc đã được chiêm ngưỡng 14 chú gấu trúc này tại cơ sở chăm sóc với những nhà nghiên cứu vây quanh chúng.
Vào thời điểm sau sơ sinh, những chú gấu trúc con còn rất bé và thị lực của chúng vẫn còn rất yếu nên cần được chăm bẵm chu đáo. (Tin Tức 25/9) đầu trang(
Chính quyền Hồng Kông vừa thông báo sẽ ngừng cung cấp mặt hàng vây cá mập và cá ngừ lớn theo kêu gọi của Tổ chức bảo vệ thiên nhiên quốc tế (WWF).
Hồng Kông - một trong những thị trường lớn nhất thế giới về vây cá mập cho biết, nhập khẩu các mặt hàng trên đã giảm, một phần nhờ chiến dịch kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các cơ quan thuộc đặc khu hành chính này của Trung Quốc.
Theo WWF, nhu cầu về vây cá và các sản phẩm khác từ cá mập đã giảm mạnh khoảng 60-70% tính về số lượng.
Theo báo cáo của tổ chức Korean Air Lines Co đưa ra ngày 20/6, hàng năm trên thế giới có hơn 73 triệu vây cá mập được đem cắt nhỏ và sử dụng trong khi phần còn lại của cá bị bỏ đi.
Kể từ những năm 1950, lượng cá ngừ lớn tại Thái Bình Dương đã giảm khoảng 96%.
Giám đốc điều hành tổ chức bảo tồn đại dương MyOcean, Alex Hofford cho biết, Hồng-Kông là điểm trung chuyển tới một nửa tổng số vây cá mập trên thế giới và chủ yếu được đưa tới thị trường Trung Quốc.
Trước đó hồi tháng 7/2012, Trung Quốc cho biết sẽ ban hành lệnh cấm các quan chức tiêu thụ vây cá mập bằng chi phí của nhà nước trong vòng ba năm. (Khuyến Nông VN 25/9) đầu trang(
Khoảng 30 con cá heo lớn đã bị mắc cạn ở đông bắc Brazil cuối tuần qua. Tin cho biết đến hôm 23-9, ít nhất 7 con trong số này đã chết.
Theo AP, đàn cá trên - còn được gọi là cá voi sát thủ giả hiệu (có hình dáng giống cá voi sát thủ nhưng thực chất là cá heo chứ không phải cá voi) bị mắc cạn từ sáng 22-9 (giờ địa phương) ở bãi Upanema, Areia Branca (cách thủ phủ Natal của bang Rio Grande do Norte khoảng 330km).
Các nhân viên môi trường và người đi biển đã nỗ lực giúp chúng trở về biển, tuy nhiên ít nhất 7 con đã chết, trong đó có 6 con chết trên bãi biển và 1 con bị cá mập tấn công sau khi quay lại đại dương.
Hiện chưa rõ lý do đàn cá này bị mắc cạn, nhưng các nhà sinh vật học đang kiểm tra giả thuyết một con cá trong đàn có thể bị bệnh hoặc bị thương phải bơi vào vùng nước nông và những con cá khác đã bơi theo nó (cá heo là loài có tính xã hội rất cao, thường chúng không bỏ rơi một thành viên trong đàn bị bệnh hay bị thương).
Một giả thuyết khác là chúng đang đuổi theo một đàn cá và rồi bị kẹt lại bãi cát cao ở Upanema.
Đây là một trong những vụ cá heo/cá voi mắc cạn lớn nhất ở Bazil trong mấy chục năm qua. Vào năm 1991, khoảng 19 con cá voi cũng bị mắc cạn gần thị trấn Sao Miguel do Gostoso. (Tuổi Trẻ 24/9; Người Lao Động 24/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa