Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 09 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát vừa ký quyết định, giao nhiệm vụ quản lý và tổ chức thực hiện dự án “Tổng điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016” cho các cơ quan liên quan.
Theo đó, Tổng cục Lâm nghiệp làm chủ dự án quản lý và tổ chức thực hiện dự án được phê duyệt tại Quyết định 594/2013 của Thủ tướng. Việc điều tra kiểm kê rừng trên phạm vi toàn quốc được triển khai theo địa bàn từng tỉnh, lập hồ sơ quản lý theo mẫu của Bộ NN&PTNT. Đồng thời kết quả điều tra, kiểm kê rừng, lập báo cáo kết quả… phải được trình lên Bộ NN&PTNT để báo cáo Thủ tướng trước ngày 31/12/2016. (Pháp Luật TPHCM 24/9) đầu trang(
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo Nghị định 99/2010 của Chính phủ được kỳ vọng sẽ góp phần quan trọng, tiếp sức cho công tác bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên, đồng thời nâng cao sinh kế, cải thiện thu nhập cho người làm nghề rừng. Tuy nhiên, sau gần ba năm Nghị định ra đời, việc thực thi chính sách ở khu vực này vẫn còn nhiều vướng mắc, cần được chỉ đạo, giải quyết kịp thời.
Rừng phòng hộ (RPH) Ia Ly, tỉnh Gia Lai hiện có 11.718 ha, diện tích giao khoán bảo vệ rừng vào khoảng hơn một nghìn ha với hơn 60 hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số. Mức giao khoán hiện nay là không quá 30 ha/hộ, kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước cho bảo vệ rừng là 200 nghìn đồng/ha/năm. Như vậy với hộ gia đình có mức khoán cao nhất thì mỗi năm thu nhập từ nghề rừng cũng chỉ đạt sáu triệu đồng.
Trưởng ban quản lý Tưởng Phúc cho biết: Với mức thu nhập như thế người dân chắc chắn không thể sống được bằng nghề rừng. Chính vì vậy khi chính sách chi trả DVMTR ra đời, chúng tôi mừng lắm. Theo tính toán, trong năm 2013, số tiền thu được từ DVMTR của RPH Ia Ly là 3,8 tỷ đồng, dự kiến mức chi trả sẽ vào khoảng gần 300 nghìn đồng/ha/năm. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này chúng tôi vẫn chưa thực hiện chi trả được tới các hộ gia đình mặc dù quỹ hiện có 1,8 tỷ đồng từ tạm ứng năm 2012.
Thực tế giải ngân chậm tại các đơn vị chủ rừng là tổ chức không chỉ diễn ra ở Gia Lai mà tỉnh Kon Tum cũng rơi vào tình trạng này.
Năm 2013, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kon Rẫy đã nhận số tiền tạm ứng DVMTR là hơn 4,1 tỷ đồng nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện chi trả được cho bất kỳ một hộ nhận giao khoán nào. Hơn thế, mặc dù chính sách chi trả DVMTR được coi là "cứu cánh" cho các doanh nghiệp lâm nghiệp trong thời điểm khó khăn về kinh phí hoạt động hiện nay, nhưng Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Kon Rẫy hiện cũng chưa biết cách sử dụng nguồn tiền từ DVMTR vào việc gì cho hợp lý và đúng quy định.
Hệ quả của sự lúng túng này là tính đến hết ngày 15-5-2013, tổng số tiền tạm ứng cho các đơn vị chủ rừng là tổ chức trên địa bàn toàn tỉnh Kon Tum là hơn 34 tỷ đồng nhưng số tiền được sử dụng mới chỉ đạt con số khoảng 10 tỷ đồng.
Tuy nhiên, điểm sáng ở Kon Tum trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR chính là việc chi trả cho các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn, bản. Tổng diện tích cung ứng DVMTR của các đơn vị này là hơn 17 nghìn ha rừng, đơn giá tạm ứng 150 nghìn đồng/ ha/năm, tương ứng số tiền tạm ứng DVMTR (lần 1) năm 2012 đã giải ngân đạt gần 2,6 tỷ đồng. Hiện Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đang đề nghị UBND tỉnh cho chi tạm ứng năm 2012 (lần 2) số tiền hơn 3,5 tỷ đồng. Trong đó, huyện Tu Mơ Rông có diện tích rừng cung ứng lớn nhất, đạt 7.562 ha.
Khác với cách làm của Gia Lai, Kon Tum, trong quá trình thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Đắk Lắk lấy tổng số tiền có trong quỹ chia cho diện tích rừng cung ứng, tính ra đơn giá cho một ha, từ đó chi trả tạm ứng cho các đơn vị.
Hiện nay, với tổng quỹ hơn 35 tỷ đồng, năm 2013, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã giải ngân xuống các đơn vị chủ rừng được hơn 22 tỷ đồng với đơn giá chi trả 150 nghìn đồng/ha. Tuy nhiên, cũng giống Gia Lai và Kon Tum, tỷ lệ giải ngân của các đơn vị chủ rừng là tổ chức vẫn ở mức hạn chế, nhất là công tác chi trả tiền cho các hộ dân nhận giao khoán quản lý, bảo vệ rừng.
Với các tỉnh miền núi Tây Bắc, khó khăn của việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR chủ yếu nằm ở khâu rà soát, xác định ranh giới diện tích rừng đến từng chủ rừng. Còn tại Tây Nguyên, sự lúng túng lại phát sinh liên quan tới việc chưa hoàn toàn hiểu rõ các quy định, hướng dẫn về cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả DVMTR và chậm phê duyệt kế hoạch thu - chi. Nguyên nhân là do đơn vị chủ rừng hầu hết là các tổ chức như Ban quản lý RPH, Vườn quốc gia, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp...
Những đơn vị này từ trước tới nay hoạt động dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước với các chương trình, dự án bảo vệ và phát triển rừng. Chính vì vậy, các khoản chi cho cán bộ và các hộ giao khoán trong năm 2011, năm 2012 đều đã thực hiện trong khoản kinh phí ngân sách Nhà nước cấp. Khi có thêm khoản tiền từ DVMTR thì tất cả các đơn vị đều lúng túng trong việc lập kế hoạch thu - chi. Kết quả là tiền dịch vụ đã nhận về nhưng các chủ rừng lại không giải ngân được. Tình trạng này đang diễn ra ở cả ba tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai, Kon Tum và Đắk Lắk.
Trước thực trạng này, Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Phạm Hồng Lượng cho rằng: Các chủ rừng là tổ chức hiện chưa hiểu rõ cơ chế quản lý sử dụng nguồn tiền từ chính sách chi trả DVMTR. Bởi lẽ, mức trả 200 nghìn đồng/ha/năm theo các dự án từ ngân sách Nhà nước hiện nay là mức hỗ trợ. Còn chính sách chi trả DVMTR là thể hiện mối quan hệ kinh tế, đơn vị nhận dịch vụ cung ứng phải trả tiền cho đơn vị cung ứng.
Do đó, nguồn tiền DVMTR là nguồn bổ sung cho các hoạt động phục vụ quản lý, bảo vệ rừng nhằm cải thiện chất lượng cung ứng dịch vụ chứ không thay thế nguồn ngân sách Nhà nước. Ðây là cơ sở để các chủ rừng là tổ chức chủ động lập kế hoạch và thực hiện chi trả tiền cho các hộ gia đình nhận giao khoán đồng thời có kế hoạch chi quản lý, bảo vệ rừng cho đơn vị mình.
Ông Lượng nhấn mạnh: Việc nắm rõ cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả và khẩn trương lập và trình phê duyệt kế hoạch thu chi hợp lý để đẩy mạnh tốc độ giải ngân tới các đối tượng được thụ hưởng chính sách là việc làm vô cùng quan trọng. Bởi nếu không giải ngân được, các đơn vị sử dụng dịch vụ sẽ có cớ trì hoãn, thoái thác không tiếp tục trả tiền dịch vụ. Như thế nguy cơ tác động xấu tới quá trình triển khai chính sách là điều rất dễ xảy ra.
Vì vậy yêu cầu đặt ra hiện nay là cần sự quyết liệt vào cuộc của chính quyền các địa phương trong công tác triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR. Trách nhiệm đó không chỉ thuộc về đơn vị hoạt động trực tiếp trong lĩnh vực này là Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng địa phương mà còn là trách nhiệm chỉ đạo của UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các sở, ban, ngành trong tỉnh.
Không chỉ vướng trong giải ngân, hiện một số tỉnh Tây Nguyên như Gia Lai, Đắk Lắk còn gặp khó khăn trong vấn đề thu tiền DVMTR đối với các cơ sở thủy điện nội tỉnh.
Tại Gia Lai, năm 2011, 2012, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh mới thu được tiền dịch vụ từ ba nhà máy thủy điện (chiếm 46%), các nhà máy thủy điện còn lại (không thuộc EVN) vẫn chưa thu được (chiếm tới 54%). Năm 2013, quỹ tỉnh cũng mới thu được tiền từ 14/19 cơ sở thủy điện. Các địa phương đề nghị Bộ, ngành T.Ư có hướng chỉ đạo, giải quyết cụ thể việc các cơ sở thủy điện chậm chi trả tiền DVMTR. Ðồng thời có hướng dẫn về trách nhiệm chi trả thuộc về ai trong trường hợp các cơ sở thủy điện bán điện cho điện lực miền trung theo giá thỏa thuận?
Theo Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Đắk Lắk Kiều Thanh Hà thì cần nâng mức xử phạt đối với các nhà máy thủy điện nộp chậm, cụ thể là xử phạt theo lãi suất vay cơ bản tại thời điểm ngân hàng Nhà nước công bố. Có như thế mới "thúc" các nhà máy thủy điện chấp hành nghiêm túc chính sách chi trả DVMTR. Ngoài ra, trong quá trình thực thi chính sách còn xuất hiện thực trạng chênh lệch tiền chi trả cho các chủ rừng giữa các lưu vực tương đối lớn.
Ðể giải quyết vấn đề này, Kon Tum và Đắk Lắk đang thực hiện cơ chế chi trả bình quân cho các chủ rừng. Còn Gia Lai có cách làm khác là đối với lưu vực có mức chi trả dưới 200 nghìn đồng/ha/năm, UBND tỉnh cho phép sử dụng nguồn quỹ dự phòng của quỹ tỉnh để hỗ trợ cho hộ nhận khoán đạt mức 200 nghìn đồng/ha/năm. Tuy nhiên với cách này, về lâu dài có một điểm khó là làm sao để bảo đảm nguồn kinh phí bổ sung nếu mở rộng diện tích khoán tại những lưu vực có mức chi trả thấp?
Theo Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam Phạm Hồng Lượng thì: Giải quyết theo cách chi trả bình quân cho các chủ rừng trong các lưu vực sông chính hay sử dụng nguồn quỹ dự phòng chi trả bổ sung bảo đảm không thấp hơn 200 nghìn đồng/ha đều là những cách làm sáng tạo và phù hợp trong từng điều kiện, từng hoàn cảnh đối với mỗi địa phương.
Nhưng về lâu dài, cũng cần phải đặt vấn đề đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân hiểu rõ chính sách chi trả DVMTR được vận hành theo cơ chế thị trường giữa các đơn vị khai thác thủy điện, nước sinh hoạt, kinh doanh du lịch với các chủ rừng, người trồng và chăm sóc bảo vệ rừng. Tổ chức, cá nhân nào cung ứng nhiều dịch vụ sẽ được nhận chi trả nhiều và ngược lại. Có như thế chính sách mới lâu dài và bền vững được… (Nhân Dân 24/9) đầu trang(
Lào Cai hiện có 27 nhà máy thủy điện hoạt động với tổng công suất 373MW còn nợ đọng số tiền dịch vụ môi trường rừng trên 13 tỷ đồng (tương đương với 225.000 ha), chưa kể các đối tượng phải nộp khác theo quy định với số tiền cũng không nhỏ.
Theo ông Mai Xuân Hạ - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai, việc thu phí sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với các tổ chức, cá nhân có sử dụng nguồn lợi từ rừng để chi trả cho các chủ rừng của Chính phủ là một chính sách đúng đắn liên quan đến phát triển bền vững môi trường rừng, tạo nguồn kinh phí hỗ trợ chủ yếu cho đồng bào các dân tộc miền núi, biên giới góp phần bảo vệ và phát triển rừng dài lâu.
Ngày 21/9, chính quyền huyện Sa Pa đã có buổi làm việc với các đơn vị sản xuất, kinh doanh trên địa bàn về việc triển khai thực hiện chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Qua đó, hầu hết các đơn vị đều viện ra lý do để không thực hiện trích nộp quỹ dịch vụ môi trường rừng theo quy định.
Điển hình như Công ty Liên doanh Topas Ecolodge, Công ty TNHH MTV khách sạn Victoria và Hiệp hội du lịch Sa Pa với những yêu cầu: "Cần điều chỉnh mức thu thấp hơn; giảm mức thu từ 1,5% xuống 1% tổng doanh thu của đơn vị" hay "Việc thu phí cần tránh trùng lặp với các loại phí và thu đồng đều giữa các đơn vị kinh doanh trên địa bàn"...
Riêng Hiệp hội du lịch Sa Pa có ý kiến xin lùi lại thời gian thu bắt đầu từ năm 2014 cho một số doanh nghiệp nhỏ và đề nghị khoản thu phí lữ hành cần rõ ràng hơn. Sau khi xem xét các điều kiện cụ thể mà doanh nghiệp đưa ra là không xác đáng, UBND huyện Sa Pa quyết định việc thu quỹ phát triển bảo vệ môi trường rừng vẫn theo mức 1,5 % tổng doanh thu của đơn vị, bắt đầu từ 1/1/2013.
Trước đó, ông Đỗ Anh Tuấn - Phó giám đốc Công ty cổ phần phát triển năng lượng Đông Nam Á cũng nêu lý do còn một số vướng mắc “chưa thông” với Quỹ bảo vệ phát triển rừng Lào Cai nên chưa ký hợp đồng ủy thác chi trả và chưa nộp tiền vào Quỹ. Được biết, doanh nghiệp này đã bán cho EVN 61,732 triệu KW điện thương phẩm và số tiền phải nộp phí dịch vụ môi trường rừng là 1,234 tỷ đồng nhưng vẫn không nộp tiền phí dịch vụ theo quy định của pháp luật.
Đến nay, Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai vẫn tồn đọng hơn 10 tỷ đồng chưa giải ngân được, trong khi đời sống của người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn còn nhiều khó khăn.
Hiện nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh đang tích cực hối thúc Trung tâm thông tin lâm nghiệp thuộc Viện điều tra rừng (Bộ NN&PTNT) sớm hoàn thành và bàn giao dự án “Rà soát hiện trạng, xác định phạm vi ranh giới chủ rừng, phân loại thống kê đối tượng được chi trả dịch vụ môi trường". Trên cơ sở kết quả điều tra này, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng mới chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các chủ rừng.
Theo ông Mai Xuân Hạ, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lào Cai, trong số hàng nghìn chủ rừng là hộ gia đình và tổ chức được thụ hưởng tiền dịch vụ môi trường rừng theo Quyết định 2284 của Chính phủ, mới chỉ có duy nhất Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp huyện Bảo Yên là được nhận 500 triệu đồng, còn lại vẫn đang chờ đợi. Nguyên nhân là cho đến nay Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh chưa có trong tay danh sách chủ rừng để chi trả tiền. (Tài Nguyên&Môi Trường 23/9) đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Thị đoàn Phước Long (tỉnh Bình Phước) phối hợp với Hạt kiểm lâm thị xã Bình Long tổ chức hội thi “Thanh niên xung kích tuyên truyền bảo vệ rừng”.
Hội thi được tổ chức dưới hình thức rung chuông vàng với những câu hỏi có nội dung về kiến thức luật Bảo vệ và phát triển rừng, luật Phòng cháy và chữa cháy; các văn bản pháp quy về công tác phát triển, bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy rừng... (Thanh Niên 24/9; Đài PT - TH Bình Phước 23/9) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Tại Việt Nam, một trong những lý do khiến sừng tê giác trở thành “hàng nóng” là người dân quá tin vào những rỉ tai về công dụng sừng tê, bất chấp những cái hại có thể chuốc vào mình.
Hơn mười năm trước, người nhà của bà T. (Nam Định) có nhờ người đi theo các đoàn săn thú, mua được một mẩu bằng đốt tay sừng tê giác. “Mấy triệu đồng mới được chừng đó, trong khi 1 chỉ vàng chỉ vài trăm ngàn” - con gái bà T. cho biết. Sừng được mài ra để uống, quý như (thậm chí) hơn vàng.
“Tôi thấy mẹ cũng có béo lên được một thời gian, không biết có phải do sừng tê giác hay không”, con gái bà T nói. Bà T. chống chọi được với căn bệnh ung thu vài năm, giờ bà đã qua đời. “Nay thì dù có tin là sừng tê có công dụng thật, nhà tôi cũng không dám mua. Một phần vì quá đắt, phần khác vì thị trường nhan nhản sừng giả”.
Cũng giống như trường hợp gia đình bà T, những lời thêu dệt về công dụng chữa bệnh của sừng tê giác đã làm cho một số người tin rằng đây là liều thuốc chữa bách bệnh hoặc giảm sốt. Rất nhiều người có người thân bị ung thư đã tìm mua sừng tê giác với hy vọng gặp “thuốc tiên”.
Bà Nguyễn Thanh Huyền (Trưởng phòng Tài nguyên dược liệu) - Viện Dược liệu cho biết: Trong dân gian, cũng đã có những thông tin về sử dụng sừng tê giác để chữa bệnh. Trên ấn phẩm “Sức khỏe và đời sống” (báo của Bộ Y tế), lương y Huyên Thảo, cũng từng cho biết: Về tính năng, sừng tê giác là vị thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết và chỉ huyết mạnh... Trên lâm sàng, sừng tê giác có thể sử dụng phối hợp với nhiều vị thuốc khác...
Có lẽ đây là những căn cứ để nhiều người đồn đoán về khả năng như “thần dược” của sừng tê. Đến nỗi, “có những bà mẹ, con ốm, thay vì đưa đi khám bác sĩ thì lại... mài sừng tê giác cho con uống” - TS Teresa Telecky, Giám đốc Bộ phận loài hoang dã của Human Society International (HSI), nói.
Trong giới nam nhi, có không ít lời rỉ tai về “công dụng đàn ông” của nước mài sừng tê giác. Một số khác thì cho rằng sừng tê giác có thể giúp giải rượu.
Vì tin rằng “thuốc” quý, và thực tế đúng là sừng tê giác đang là mặt hàng rất hiếm, rất đắt, nên sừng tê dần trở thành quà biếu, tặng cao cấp. Nhiều người trưng sừng tê, hoặc uống nước mài sừng tê như muốn “khoe” đẳng cấp của mình.
Dù cho biết trong dân gian, cũng đã có những thông tin về sử dụng sừng tê giác để chữa bệnh nhưng bà Nguyễn Thanh Huyền (Trưởng phòng Tài nguyên dược liệu) - Viện Dược liệu khẳng định: Thực tế chưa hề có công trình nghiên cứu khoa học nào công bố về tác dụng của sừng tê một cách chính thống. Bản thân Viện Dược liệu là viện nghiên cứu toàn diện về lĩnh vực dược liệu ở Việt Nam cũng chưa có những nghiên cứu đánh giá về tác dụng của sừng tê giác.
Còn theo HSI, kết quả của nhiều nghiên cứu áp dụng công nghệ cao đã cho thấy: Sừng tê giác không có tác dụng chữa bệnh và chỉ có chất keratin cùng các thành tố khác có hại cho sức khỏe con người.
Còn lương y Huyên Thảo cũng cho biết: Theo kết quả nghiên cứu tiến hành tại hàng loạt cơ sở ở Thượng Hải, Bắc Kinh và một số thành phố khác của Trung Quốc, thành phần các chất hữu cơ và vô cơ trong sừng tê giác và sừng trâu cơ bản tương đồng.
Trong khi đó, một số sừng tê giác bị cắt trộm từ các viện bảo tàng, nhà trưng bày.. (đã qua ngâm tẩm chất bảo quản) có thể chứa trong nó những hoạt chất không tốt đối với sức khỏe con người, thậm chí là độc hại. “Vì vậy, khi người mẹ dùng sừng tê để chữa sốt cho con, vô tình đã đưa cho con chất độc”, TS Teresa Telecky phân tích.
Còn một nguy cơ nữa. Theo CITES Việt Nam, đa số sừng tê giác rao bán trên thị trường Việt Nam hiện nay là sừng giả. CITES dẫn số liệu của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật Việt Nam, nơi chuyên giám định mẫu vật: 70% mẫu vật sừng tê giác ở Việt Nam là giả. Các sừng này thường được làm từ nhựa cứng, từ sừng các loài gia súc hoặc từ tóc người với phương pháp rất tinh vi, khó nhận biết nên người sử dụng ngày càng đứng trước nguy cơ tự đưa chất độc vào cơ thể.
Đại diện Bộ NN&PTNT phát biểu tại Hội thảo Chia sẻ thông tin và nâng cao nhận thức giảm cầu sử dụng sừng tê giác cũng cho biết: “Đã có người sau khi sử dụng sừng tê thì phải đi chạy thận”!
Bỏ ra những khoản tiền khổng lồ (tới 50.000USD/1lạng sừng tê) để mua vào mối nguy, xem ra giá của “niềm tin” dựa trên những đồn đoán chưa được kiểm chứng khoa học, quả là quá đắt.
Chính vì vậy, một nghiên cứu khoa học đầy đủ và chính xác về công dụng của sừng tê là điều nhiều người dân, giới khoa học và những nhà làm công tác môi trường đang đặc biệt mong chờ.
Nhưng cho dù sừng tê có công dụng ra sao, thì quyền sống của một loài trong hệ sinh thái của trái đất cũng là điều mà con người cần phải trân trọng, nói như GS Đặng Huy Hùng, Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam, bảo vệ tê giác cũng chính là bảo vệ sự đa dạng sinh học và nền văn minh của con người. (Tin Tức 23/9) đầu trang(
Vài ngày qua, có hơn 1.000 con cò nhạn từ Campuchia và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã bay về trú ngụ tại trảng Tà Nốt của Vườn quốc gia (VQG) Lò Gò - Xa Mát (Tây Ninh).
Đây là đàn cò nhạn có số lượng lớn nhất từ trước đến nay di trú về VQG, phá kỷ lục đàn 600 con của năm 2012.
Theo Ban Quản lý VQG, việc xuất hiện một số lượng lớn cá thể cò nhạn tại đây là một tín hiệu tốt cho thấy môi trường sinh sống của cò nhạn đã được cải thiện đáng kể.
Ông Nguyễn Đình Xuân - Giám đốc VQG cho biết: “Chúng tôi có kế hoạch sử dụng một phần diện tích bàu trảng, vườn tràm làm một vườn chim nhỏ trong lòng VQG để tạo môi trường sống tốt nhất cho cò nhạn và các loài chim di trú”. Hiện Ban Quản lý VQG đang tăng cường lực lượng tuần tra, canh gác nhằm bảo vệ đàn chim khỏi nạn săn bắt. Cò nhạn, còn gọi là cò ốc, hiện có tên trong Sách đỏ Việt Nam, thuộc loài chim quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng. (Pháp Luật TPHCM 24/9) đầu trang(
Ngày 23/9, ông Phùng Mỹ Trung, chuyên gia sinh vật học, người sáng lập cổng thông tin Sinh vật rừng Việt Nam (RVN) cho biết, nhóm các nhà khoa học của Mỹ, Canada, Singapore và Việt Nam đã phát hiện một loài ễnh ương mới phân bố tại tỉnh Đồng Nai và tỉnh Gia Lai.
Nhóm nghiên cứu đã đặt tên loài mới này là ễnh ương Đông Dương (tên khoa học là Kaloula indochinensis), dựa theo tên vùng phân bố của loài ở khu vực Đông Dương (Indochina) gồm ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia.
Phát hiện mới về loài ễnh ương Đông Dương cũng đã được công bố trên tạp chí Herpetologica (tạp chí khoa học quốc tế chuyên về lưỡng cư và bò sát) trong tháng 9/2013.
Loài ễnh ương Đông Dương có các đặc điểm như chiều dài mút từ miệng đến lỗ huyệt khoảng từ 44-54mm ở con đực và từ 39-54mm ở con cái; đầu ngón tay phình rộng thành đĩa bám; dưới ngón chân thứ tư thường có hai củ khớp ngón; củ bàn trong khá dài; có đốm màu cam ở vùng cổ ngay phía sau mắt, vùng nách và gốc tay.
Loài ễnh ương Đông Dương khác với loài ễnh ương nâu ở chỗ có đĩa bám ở ngón tay thứ ba lớn hơn, chiều dài củ bàn trong ngắn hơn, chỉ có hai củ khớp ngón so với ba củ khớp ngón trên ngón chân thứ tư ở loài ễnh ương nâu.
Ông Phùng Mỹ Trung cho biết, đây là loài ễnh ương thứ ba ghi nhận ở Việt Nam. Trước đó các nhà khoa học cũng đã phát hiện loài ễnh ương thường và ễnh ương vạch. (VietnamPlus.vn 23/9; Vnexpress.net 23/9) đầu trang(
Từ đầu tháng 8/2013, không khí sản xuất của doanh nghiệp (DN) ngành gỗ sôi động do đơn hàng tăng mạnh so với cùng kỳ, nhiều DN đã ký được đơn hàng đến hết năm. Ngoài sự gia tăng của một số thị trường thì đang có một luồng đơn hàng chuyển từ Trung Quốc về Việt Nam…
Số liệu từ Bộ Công Thương cho thấy, tháng 8/2013 gỗ tiếp tục nằm trong nhóm có kim ngạch xuất khẩu cao của nhóm ngành công nghiệp chế biến với 460 triệu USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ. Tám tháng đầu năm, ngành gỗ cũng giữ được mức tăng trưởng xuất khẩu 12,2% so với năm 2012, đạt 3,368 tỷ USD, trong đó, sản phẩm gỗ vẫn chiếm ưu thế với 2,314 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ.
Mỹ là thị trường Việt Nam xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ lớn nhất với kim ngạch 7 tháng đạt trên 1,052 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ. Ghế, giường bằng gỗ thông, gỗ xà cừ, bàn , tủ… là các sản phẩm chính xuất khẩu sang Mỹ. Tiếp đến là thị trường Trung Quốc với 491,3 triệu USD, tăng 14,7%; Nhật Bản 441 triệu USD, tăng 23,3%;
Ngoài ba thị trường xuất khẩu chính kể trên, còn một số thị trường có quy mô nhỏ hơn nhưng tốc độ tăng tưởng lại đạt rất cao so với cùng kỳ. Cụ thể, thị trường Hàn Quốc đạt 181,7 triệu USD, tăng 48%; Singapore đạt 14,48 triệu USD, tăng 41,28%, đặc biệt thị trường Campuchia đạt 5,035 triệu USD và tăng tới 346,3% so với cùng kỳ.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, ngoài yếu tố thị trường hồi phục, nhu cầu từ các nhà nhập khẩu tăng thì luồng đơn hàng chuyển dịch từ Trung Quốc về Việt Nam cũng là nguyên nhân khiến lượng đơn hàng của DN ngành gỗ ngày một nhiều. Sự chuyển dịch diễn ra rải rác một vài năm trở lại đây, nhưng sang đầu năm nay đã xuất hiện rất rõ nét.
So với cùng kỳ năm ngoái, lượng đơn đặt hàng tăng 20 -30%, nhiều DN đã ký được đơn hàng đến hết năm với quy mô lớn về cả lượng hàng và giá trị. Với tình hình thị trường, đơn hàng khả quan như hiện nay ngành gỗ sẽ đạt mức tăng trưởng xuất khẩu cả năm khoảng 10-15% và mục tiêu đạt 5,5 tỷ USD kim ngạch là hoàn toàn khả thi.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền,dòng đơn hàng chuyển dịch từ Trung Quốc sang Việt Nam không còn là xu hướng nữa mà đã trở thành thực tế. Hơn nữa, đơn hàng từ các thị trường, nhất là thị trường Mỹ dự kiến sẽ tăng, do đó các DN trong ngành phải chủ động mở rộng nhà xưởng, chuẩn bị nhân lực, thực hiện tốt các quy định về tiền lương, an toàn cho người lao động... sẵn sàng đón nhận cơ hội từ các nhà nhập khẩu.
Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TPHCM cũng khuyến cáo, sắp tới có thể sẽ có sự dịch chuyển các đơn đặt hàng lớn tới Việt Nam vì vậy các DN cần tăng cường năng lực sản xuất, nhân công lành nghề.... Hiện hội đang giúp các DN thành viên chuyển đổi từ sản xuất đồ gỗ ngoài trời sang đồ trong nhà, là xu hướng sản phẩm đang được ưa chuộng trên thị trường thế giới hiện nay.
Có thể nói, gỗ và sản phẩm gỗ là ngành hàng rất quan trọng, đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên, ngành gỗ vẫn phải phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, do đó không chủ động được trong sản xuất, giá trị gia tăng của sản phấm thấp.
Tại hội nghị lấy ý kiến về Đề án “Ưu tiên phát triển DN thuộc các lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh cao giai đoạn 2013-2020” do Bộ Công Thương xây dựng, ông Lê Văn Khoa, Phó Giám đốc Sở Công Thương TPHCM cho rằng: “Việt Nam hiện đang giữ vị trí thứ 6 trên thế giới và thứ 2 khu vực châu Á về xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ, vì vậy nên đưa ngành chế biến gỗ vào diện được ưu tiên phát triển. Với những chính sách ưu đãi thì vấn đề thiếu nguyên liệu của ngành gỗ có thể được khắc phục”. (Kinh Tế Việt Nam 23/9) đầu trang(
Từ ngày 25 – 28/9, tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn (SECC) sẽ diễn ra Triển lãm Quốc tế lần thứ 10 về máy và thiết bị công nghiệp chế biến gỗ.
260 đơn vị đến từ 19 quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ trưng bày hơn 500 gian hàng giới thiệu các sản phẩm công nghiệp, công nghệ đẳng cấp thế giới. Vietnam Wood 2013 sẽ là nơi trưng bày chuỗi những sản phẩm có giá trị, từ các vật liệu phủ đến các hệ thống sản xuất, vật liệu phụ trợ và dịch vụ.
Triển lãm là nơi để các đơn vị tham gia tiếp cận khách hàng mục tiêu, tăng cường các mối quan hệ kinh doanh và nâng cao công nghệ mới. Sự tham gia của các nhà triển lãm quốc tế danh tiếng và các phái đoàn quan trọng sẽ góp phần củng cố vị trí của Việt Nam như một trung tâm sản xuất, kinh doanh, phân phối khu vực toàn cầu cho các ngành công nghiệp liên quan đến gỗ ở ASEAN. (Nông Thôn Ngày Nay 23/9) đầu trang(
Đến nay, toàn huyện An Lão đã trồng hơn 450 ha rừng, chủ yếu là cây keo lai giâm hom. Các xã có tiến độ trồng rừng nhanh là An Hòa, An Tân, An Quang, An Vinh.
Theo Phòng NN&PTNT huyện, năm nay diện tích rừng trồng sẽ tăng từ 200 đến 300 ha do một số hộ dân đã nhận đất rừng phòng hộ chuyển sang đất rừng sản xuất để trồng rừng kinh tế và một số hộ khai thác rừng keo trước tuổi bán và trồng lại rừng do giá cây keo nguyên liệu đang tăng mạnh. (Báo Bình Định 23/9) đầu trang(
Theo kế hoạch, năm nay, toàn tỉnh sẽ trồng trên 8.500 ha rừng, trong đó có 371 ha rừng phòng hộ và 8.160 ha rừng nguyên liệu giấy. Theo Chi cục Lâm nghiệp (thuộc Sở NN-PTNT), hiện các địa phương trong tỉnh đã tổ chức xử lý thực bì được 6.000 ha/8.500 ha.
Từ đầu tháng 9 đến nay, tranh thủ thời tiết có mưa trên diện rộng, các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình trên địa bàn toàn tỉnh đã tiến hành cuốc hố được 1.800 ha và trồng được 1.600 ha rừng sản xuất, rừng phòng hộ. Các địa phương có tiến độ trồng rừng khá nhanh là Vân Canh, An Lão, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân, Phù Mỹ…
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, cho biết: Nhờ thời tiết năm nay khá thuận lợi, thời điểm này thường xuyên có mưa vào buổi chiều và ban đêm, người dân trên địa bàn tỉnh đã tổ chức trồng được hơn 1.600 ha rừng, cao gần gấp đôi so với cùng kỳ các năm trước.
Chi cục đã phối hợp với các địa phương tiến hành hướng dẫn, tư vấn kỹ thuật trồng rừng cho người dân, nhất là bà con ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh; đồng thời đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp, hộ gia đình tập trung triển khai nhanh công tác trồng rừng đảm bảo kế hoạch đề ra, dự kiến đến cuối tháng 11 sẽ kết thúc vụ trồng rừng với diện tích trên 8.500 ha. (Báo Bình Định 23/9) đầu trang(
Thực hiện phương châm gắn bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc, Ban quản lý rừng đặc dụng huyện Nguyên Bình triển khai nhiều giải pháp, tích cực tuyên truyền cho đồng bào dân tộc bảo vệ, trồng mới rừng; nay rừng đã được bà con tham gia bảo vệ, tích cực trồng mới phủ xanh những phần đất trống xưa kia tàn phá, đổi mới bản làng từ dịch vụ bảo vệ, chăm sóc rừng trồng.
Ông Long Văn Bằng, Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng cho biết, Ban quản lý rừng đặc dụng đã thực hiện giao khoán diện tích đất rừng cho từng thôn bản, đồng thời thành lập mỗi thôn bản một tổ bảo vệ rừng, tổ bảo vệ rừng có trách nhiệm bảo vệ khu rừng được giao cho thôn bản, có hiện tượng chặt phá, khai thác khoáng sản trái phép trong đất rừng phải chịu trách nhiệm, và báo cáo ngay cho cơ quan quản lý. Hiện tại đã thành lập được 25 tổ bảo vệ tại các thôn bản xung quanh khu rừng, tiến hành hỗ trợ kinh phí 100.000 đồng/ ha/năm cho bảo về rừng...
Ông Nông Văn Dù, Trưởng thôn Phja Đén, xã Thành Công cho biết, thôn được giao nhiệm vụ bảo vệ 200 ha rừng, với nguồn tiền hỗ trợ thôn dùng làm quỹ chung để hỗ trợ các hộ nghèo vay làm kinh tế, và để chi phí xây dựng các công trình công cộng của thôn. Nguồn tiền hỗ trợ tuy không nhiều nhưng đã khích lệ động viên được tinh thần của bà con trong công tác bảo vệ rừng, người dân ngày càng có trách nhiệm hơn, không còn tình trạng chặt phá rừng làm rẫy hay nghe lời xúi giục của kẻ xấu vào rừng đào bới khoáng sản bán cho chúng nữa.
Để người dân hăng hái trồng rừng, tỉnh Cao Bằng còn hỗ trợ bà con cây giống để trồng trên diện tích rừng sản xuất được giao, cũng từ đó người dân có trách nhiệm hơn trong việc chăm sóc và bảo vệ chính đất rừng mà họ bỏ công ra trồng. Ngoài ra, theo ông Long Văn Bằng, với địa hình đất đồi, núi đá khô hạn, tới đây Ban quản lý rừng sẽ tiến hành đưa vào trồng các loại cây trồng có khả năng chịu hạn, có giá trị kinh tế để phủ xanh nốt những ngọn đồi núi đá vôi lâu nay vẫn để cây bụi hoang dại mọc tự nhiên. (Quân Đội Nhân Dân 24/9) đầu trang(
Với những thế mạnh về rừng và đất rừng, việc xây dựng phát triển các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp để chế biến nông lâm sản đang là vấn đề được huyện Chợ Đồn quan tâm bởi không chỉ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động mà còn góp phần đảm bảo đầu ra bền vững cho các loại nông lâm sản.
Xã Bình Trung là một trong những xã khó khăn nhất tại huyện Chợ Đồn với trên 80% diện tích là rừng và đất rừng. Trước đây người dân vẫn thường xuyên đốt nương làm rẫy, việc vận động bà con bảo vệ và trồng rừng là một việc làm rất khó khăn. Thế nhưng hiện nay, hơn 40% diện tích đất trống đồi núi trọc của xã Bình Trung được phủ xanh bằng những diện tích rừng có giá trị về kinh tế đã thể hiện rất rõ việc thay đổi tư duy phát triển kinh tế của người dân. Cũng tại đây, các nhà máy chế chiến gỗ được xây dựng đã góp phần quan trọng giúp người dân yên tâm về đầu ra cho các loại rừng trồng.
Doanh nghiệp tư nhân Trường Thành là một điển hỉnh. Được thành lập từ năm 2011, doanh nghiệp này chuyên sản xuất đũa công nghiệp. Trung bình 1 tháng, nhà máy tiêu thụ hết từ 150 đến 200m3gỗ, chủ yếu là gỗ bồ đề và gỗ mỡ. Do tận dụng tốt nguồn nguyên liệu, nhà máy luôn đảm bảo giá thu mua bằng và cao hơn thị trường. Trung bình 1m3gỗ mỡ được mua vào là 1,2 triệu đồng. Giá thu mua ổn định, góp phần làm cho người dân xã Bình Trung thực hiện rất tốt việc trồng rừng nhiều năm nay .
Với quy mô sản xuất như hiện nay, Doanh nghiệp tư nhân Trường Thành luôn đảm bảo việc làm cho 30 lao động với thu nhập từ 3,5 triệu đồng đến 4 triệu đồng/1 tháng. Không chỉ vậy, hàng năm doanh nghiệp này cũng đóng góp ngân sách nhà nước hơn 500 triệu đồng. Lợi ích từ việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gắn với chế biến nông, lâm sản là rất rõ. Thế nhưng, việc mở rộng quy mô sản xuất hiện nay cũng gặp nhiều khó khăn, cần có những chính sách ưu đãi, hỗ trợ nhiều hơn từ các cấp, các ngành chức năng.
Đối với toàn xã Bình Trung, hiện có 4 cơ sở, nhà máy chế biến gỗ và dong riềng, hàng năm giải quyết việc làm cho trên 100 lao động địa phương. Nếu như ở lĩnh vực chế biến dong riềng có thể theo mùa vụ thì việc chế biến gỗ là quanh năm, với nguyên liệu chính là gỗ rừng trồng. Như vậy, với tất cả các diện tích rừng trồng ở Bình Trung từ các dự án PAM, 327 đã cho thu hoạch đều được đảm bảo về đầu ra khi các nhà máy, cơ sở chế biến được xây dựng ở địa phương. (Đài PT - TH Bắc Kạn 21/9) đầu trang(
Theo đánh giá của ngành chức năng, năm nay, hầu hết các cơ sở, đơn vị sản xuất giống cây lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định đã đăng ký sản xuất lượng cây giống khá lớn, không những đáp ứng đủ nhu cầu của người trồng rừng trong tỉnh mà còn xuất bán ra các tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
Dù nguồn cây giống phục vụ trồng rừng năm nay được đánh giá khá dồi dào so với mọi năm, nhưng qua kiểm tra của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, một số người dân không đủ điều kiện vẫn tham gia sản xuất, kinh doanh giống và sử dụng nguồn giống không được công nhận để cung ứng cho người trồng rừng. Một số hộ trồng rừng vì ham rẻ nên mua cây giống trôi nổi để trồng rừng, gây ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng và hiệu quả kinh tế trồng rừng sau này.
Bên cạnh đó, hiện nay, vẫn còn nhiều hộ gia đình ở thị trấn Ngô Mây, xã Cát Hanh, Cát Hiệp…thuộc huyện Phù Cát tổ chức nhân giống cây lâm nghiệp bằng hạt kém chất lượng để bán cho các hộ trồng rừng. Tuy đã được ngành chức năng và chính quyền địa phương nhắc nhở, yêu cầu dừng sản xuất, nhưng nhiều hộ vẫn không chấp hành. Một số địa phương chưa thực sự quan tâm đến công tác quản lý sản xuất, kinh doanh giống lâm nghiệp.
Cán bộ phụ trách công tác quản lý giống ở một số huyện chưa chủ động hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị, cá nhân sản xuất và kinh doanh giống, chưa làm tốt công tác tham mưu, đề xuất cho lãnh đạo UBND huyện xử lý những vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống lâm nghiệp, nhất là các cơ sở chưa đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh.
Nhằm chấn chỉnh tình trạng trên, Sở NN-PTNT đã phối hợp với chính quyền các địa phương tăng cường kiểm tra các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Ngành chức năng cũng đã khuyến cáo người trồng rừng không nên mua, sử dụng các giống cây lâm nghiệp không rõ nguồn gốc, xuất xứ để trồng rừng nhằm tránh thiệt hại về kinh tế. (Báo Bình Định 23/9) đầu trang(
Chiều 23/9, ông Vũ Gia Huấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) cho biết, hai cá thể báo hoa mai xuất hiện tại địa phương vào ban đêm chuyên bắt gia cầm, uy hiếp người dân đã bỏ đi đâu không rõ.
Suốt 3 ngày qua, Hạt kiểm lâm huyện Đức Trọng đã phối hợp với chính quyền địa phương rà soát, truy tìm dấu vết của hai cá thể báo hoa mai này nhưng không phát hiện thêm dấu chân nào mới. Người dân vùng báo thường xuyên xuất hiện bắt gà, vịt, ngan, ngỗng vào ban đêm trong thời gian qua cũng không bị mất thêm con nào.
Theo nhận định của ông Vũ Gia Huân, có thể sau khi từ khu vực thôn Nghĩa Hiệp, xã Liên Hiệp, di chuyển sang tổ 59, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, hai cá thể báo hoa mai này đã bỏ lên rừng thông kề đó.
Liên tục trong thời quan gần đây, hai cá thể báo hoa mai bỗng từ đâu xuất hiện vào những lúc đêm khuya tại thôn Nghĩa Hiệp, xã Liên Hiệp, huyện Đức Trọng tàn sát gia cầm khiến cư dân một phen hoang mang. (Kienthuc.net 24/9) đầu trang(
Huyện ủy Đức Trọng vừa tổ chức hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 17 của Ban Thường vụ Huyện ủy về “Quản lý bảo vệ và phát triển rừng đến năm 2010 và các năm tiếp theo”.
Trong thời gian qua, mặc dù các ngành chức năng của huyện, các địa phương đã thường xuyên kiểm tra, xử lý nhưng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại một số nơi trong huyện vẫn còn xảy ra và chưa xử lý dứt điểm như xã Liên Hiệp, xã Hiệp An, Phú Hội và có khả năng lan rộng đến các địa bàn khác. Tỷ lệ độ che phủ rừng chỉ đạt 48% (kế hoạch đề ra là 50%).
Cạnh đó, tình trạng mua bán lâm sản vùng giáp ranh vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ diễn biến phức tạp; tình trạng vận chuyển lâm sản bằng xe mô tô, ngựa thồ vẫn còn xảy ra; nhiều vụ phá rừng, lấn chiếm đất rừng không phát hiện được thủ phạm; tiến độ thực hiện của hầu hết các dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp còn chậm, không hiệu quả, còn để xảy ra tình trạng cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp, nhưng không có biện pháp xử lý… (Báo Lâm Đồng 23/9) đầu trang(
Dù đã qua cải tổ, thực tế cho thấy tình trạng lấn chiếm đất đai tại các lâm trường (đã đổi tên thành công ty lâm nghiệp) đang đặc biệt nghiêm trọng. Cơ chế giao khoán đất rừng đang bộc lộ những yếu kém bất cập khó giải quyết.
Thôn Cốt Cối, xã Tân Thành (huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn) hiện được xem là một điểm nóng về lấn chiếm, tranh chấp đất.
Xã Tân Thành có diện tích tự nhiên khoảng 4.300 ha, trong đó có 3.700 ha đất rừng và toàn bộ đất rừng này là của Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc. Công ty Đông Bắc giao khoán đất kèm phân bón, cây giống cho các hộ dân để trồng bạch đàn và keo, chu kỳ khoảng sáu năm sẽ thu hoạch. Bên nhận khoán và công ty sẽ chia sản phẩm với nhau theo một tỉ lệ do công ty ấn định. Tuy nhiên, câu chuyện không diễn ra êm đẹp như thế. Từ năm 2005 đến nay, hễ công ty khai thác bạch đàn và keo đến đâu là người dân vào chiếm đất đến đó.
Ông Phùng Văn Quang, Phó Chủ tịch xã Tân Thành, ước đoán hiện lâm trường chỉ còn quản lý được tối đa 1.000 ha và “chừng hai năm nữa sẽ không còn mét vuông nào do người dân vào chiếm hết”.
Thừa nhận mình là một trong những người đi chiếm đất, bà Bùi Thị Thúy (ngụ thôn Cốt Cối) bày tỏ: “Cả nhà tôi có hơn sáu nhân khẩu, không có công việc gì ngoài trồng rừng. Đói quá nên phải đi lấn chiếm, cả làng cùng đi chiếm chứ không phải mình tôi!”.
Bà Thúy cho biết, trước đây là công nhân của lâm trường, sau đó mất việc do sắp xếp lại lâm trường quốc doanh. Một người dân khác của thôn này là bà Nguyễn Thị Hương cũng cho hay gia đình bà được 0,3 ha đất nhận khoán và 1 ha đất do “khai phá” (thực tế là chiếm đất của lâm trường). Bà cho hay lúc đầu công ty thông báo mỗi hộ sẽ được nhận khoán 1,5 ha. Tuy nhiên, công ty không làm được vì gần như toàn bộ đất đã bị người dân lấn chiếm canh tác.
Trưởng thôn Cốt Cối - bà Lý Thị Hưng cho biết bức xúc về đất đai trầm trọng nhất bắt đầu từ năm 2007. “Năm 2010, dân ngoài xã bắt đầu tiến vào thôn chúng tôi lấn chiếm và giành đất. Khi người lấn chiếm đến tranh chấp với người được nhận khoán, cây cối của người nhận khoán bị chặt phá mà lâm trường không bảo vệ họ” - bà kể.
Tại Công ty Lâm nghiệp Yên Bình (tỉnh Yên Bái), Giám đốc Phạm Đăng Hưng thừa nhận công ty được giao 1.400 ha đất nhưng chỉ giữ được 600 ha. Tuy nhiên, các hộ dân ở đây đều nghĩ rằng đất này là do họ tự khai phá.
Ông Lương Hồng Tráng (ngụ thôn Hồng Bàng, xã Đại Đồng, huyện Yên Bình) đã phản đối dữ dội khi bị gọi là “lấn chiếm đất của lâm trường” với diện tích 6-7 ha. Ông cho biết đây là đất do ông khai hoang từ trước Luật Đất đai năm 1993 và sử dụng từ đó đến nay nên phải là đất của ông. Chỉ vì phía “lâm trường đi tranh chấp đất” nên thủ tục bị neo lại, ông chưa được chính quyền cấp giấy đỏ.
Theo ông Bùi Xuân Ứng - Trưởng thôn Hồng Bàng, lâm trường không đủ sức làm, để đất bị hoang hóa nên người dân đến khai phá, trồng rừng để nâng cao đời sống. Người dân lấn chiếm đất chỉ chưa được thừa nhận về mặt pháp lý, còn trong thực tế họ vẫn canh tác ổn định và không thấy lâm trường hay ai đến đòi lại.
Tuy bị lấn chiếm gần hết diện tích đất được giao nhưng giám đốc Công ty Lâm nghiệp Đông Bắc thừa nhận công ty không thể làm gì được để ngăn chặn. “Việc lấn chiếm diễn ra thường xuyên, có tổ chức, do vậy khó xác định được đối tượng cụ thể, đồng thời cũng chưa có chế tài xử phạt những đối tượng này” - ông lý giải.
Đội trưởng Đội sản xuất lâm nghiệp Cốt Cối - ông Phạm Đăng Khoa cho hay, đội của ông chỉ có ba người để quản lý 675 ha đất rừng tại thôn này. Kể về vai trò của mình, ông Khoa nói: “Khi dân báo có người đến tranh chấp lấn chiếm thì chúng tôi chỉ xuống ghi nhận tình hình, báo cho xã và công ty biết. Chúng tôi xuống tuyên truyền vận động người dân còn bị họ rượt đuổi, anh đội trưởng cũ còn bị chém”. Toàn Công ty Lâm nghiệp Yên Bình chỉ có tám người để quản lý gần 1.400 ha, vừa không đủ người vừa không đủ lực nên lâm trường đã để đất hoang hóa và dân đến lấn chiếm, canh tác.
Phó Chủ tịch UBND xã Tân Thành - ông Phùng Văn Quang cho biết tập hồ sơ tranh chấp đất trên bàn làm việc của ông đang ngày một dày thêm. “Theo quy định, xã chỉ có chức năng hòa giải. Khi được báo có tình trạng lấn chiếm hay tranh chấp giữa các hộ dân thì xã chỉ mời hai bên lên làm việc, vận động hòa giải và lập hồ sơ để đó” - ông cho hay.
Trong khi đó, UBND huyện có vai trò lớn hơn xã nhưng thiếu cơ sở và nguồn lực để giải quyết nên các tranh chấp đến cấp này cũng rơi vào bế tắc. Về mặt quản lý, lâm trường trực thuộc Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, không trực thuộc chính quyền địa phương. Do đó, UBND cấp tỉnh cũng không ưu tiên phân bổ tài chính nhằm giúp công ty giải quyết tranh chấp như kinh phí thực hiện việc rà soát, đo đạc, chia đất cho các huyện.
Không có một cơ chế hiệu quả để giải quyết tình trạng mâu thuẫn, lấn chiếm đất đai nên dân thì cứ lấn chiếm còn lâm trường thì gần như chỉ biết khoanh tay đứng nhìn. (Pháp Luật TPHCM 23/9) đầu trang(
Gia Lai hiện có hơn 700 ngàn ha rừng các loại, trong đó chủ yếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ (RPH), đóng vai trò quan trọng bảo vệ môi trường sinh thái, cung ứng nguồn nước thủy lợi, thủy điện và tưới tiêu vùng đồng bằng, vùng xuôi. Do vậy, không thể xem nhẹ công tác quản lý, bảo vệ vốn rừng.
Ngành kiểm lâm tỉnh chỉ có 418 người, trong đó 207 cán bộ phụ trách địa bàn. Chừng ấy con người phải giữ hơn 700 ngàn ha rừng, quả là một gánh nặng. Theo báo cáo hàng năm toàn tỉnh mất từ 30 - 40 ha rừng tự nhiên, phòng hộ đầu nguồn, rừng trồng; còn việc lấn chiếm rừng, tranh chấp rừng có chủ... do áp lực nhu cầu sử dụng đất sản xuất của người dân khá lớn, nên vốn rừng vẫn bị xâm hại và đối tượng chủ yếu gây ra là người địa phương, đồng bào các dân tộc, việc xử lý không thể cứng rắn và kịp thời được, dẫn đến tình trạng “lờn luật”. Cụ thể như việc, người dân ồ ạt chiếm đất của Công ty Cao su Chư Păh vì cho rằng đây là đất của đồng bào khai phá trước đây.
7 tháng đầu năm, toàn tỉnh có 434 ha rừng trồng phòng hộ, rừng sản bị thiệt hại do cháy. Nạn phá rừng trái phép lấy đất làm nương rẫy, trồng cà phê, hồ tiêu cũng gây thiệt hại gần 23 ha.
Lực lượng kiểm lâm và các cơ quan chức năng đã phát hiện 743 vụ vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ rừng, trong đó phá rừng trái phép 16 vụ, mua bán, vận chuyển, cất giấu lâm sản trái phép 649 vụ..., chủ yếu là hộ gia đình, cá nhân đã gây ra 417 vụ.
Tổng số vụ vi phạm bị xử lý là 616 vụ, trong đó xử phạt vi phạm hành chính 307 vụ, chuyển điều tra xử lý hình sự 11 vụ và Tòa đã đưa ra xét xử 01 vụ phá rừng nghiêm trọng. Tịch thu hơn 656m3 gỗ tròn, gỗ xẻ các loại là 1.018m3. Tổng số tiền xử phạt vi phạm và bán thanh lý tang vật thu nộp ngân sách hơn 16 tỷ đồng. Tịch thu tiêu hủy 15 ô tô, máy kéo, 6 xe trâu bò kéo, 87 chiếc xe máy cùng nhiều phương tiện khác...
Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Gia Lai Nguyễn Nhĩ cho biết: Về “điểm nóng” tàn phá rừng không xảy ra nhiều và dần được hạn chế hết mức. Năm 2012, nhiều vụ phá rừng quy mô và phức tạp diễn ra ở huyện Chư Prông, Đắk Pơ..., bước sang năm nay chỉ xảy ra tại huyện Đức Cơ với quy mô nhỏ lẻ. Trách nhiệm phối hợp giữa chính quyền địa phương với lực lượng kiểm lâm cũng chưa thực sự đồng bộ, gắn kết để tăng cường quản lý, bảo vệ rừng.
Chẳng hạn như muốn xử lý triệt để vụ phá rừng thông lấy đất sản xuất, hoặc chuyển nhượng trái phép tại xã Đắk D’Jrăng (Mang Yang), kiểm lâm có văn bản đề nghị nhổ bỏ hết cây trồng trái phép, lấy đất trồng lại rừng, nhưng vẫn không có hồi âm. BQLRPH, các công ty lâm nghiệp và địa phương còn buông lỏng, lơ là trách nhiệm trong việc quản lý, bảo vệ rừng, đất rừng đã được Nhà nước giao phó.
Khi xảy ra sự vụ tàn phá rừng thì không cấp báo kịp thời, đầy đủ cho cơ quan hữu trách; thậm chí có nơi cán bộ ban còn thông đồng, tiếp tay với người ngoài phá rừng, lấy đất chia nhau hoặc chuyển nhượng cho người khác...
Điển hình, như ông Phạm Đức Linh, Kế toán trưởng BQLRPH Đắk Đoa, Hồ Văn Tư, Nguyễn Văn Yên, cán bộ ban đã bàn bạc rồi thuê người phá hơn 1 ha rừng thông, sau đó trồng tiêu, xây nhà ở và chuyển nhượng bằng hình thức sang tay cho người khác với giá 300 triệu đồng.
Cũng tại đây, Chủ tịch UBND xã Đắk D’Jrăng Trương Văn Biện, vào năm 1999 đã mua lô đất 5x50m tại thôn Tân Phú, thuộc đất rừng trồng thông, đến năm 2011 chuyển nhượng lại cho người khác. Khi được hỏi có biết là đất rừng thông hay không? Ông Biện liền trả lời là việc mua bán đất có xác nhận của UBND xã, còn thuộc đất rừng không thì ông không hề biết.
Mới đây, Cơ quan điều tra Công an huyện K’bang ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Nguyễn Đăng Hướng, Đội phó quản lý, bảo vệ rừng và Nguyễn Đình Hạnh, cán bộ bảo vệ rừng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa, do thiếu trách nhiệm để lâm tặc khai thác hơn 60m3 gỗ tại khoảnh 3, 4, Tiểu khu 3 thuộc xã Đắk Roong, K’bang.
Một tác nhân dễ dẫn đến nạn phá rừng là khi thi công thủy điện, thủy lợi, trong phương án quy hoạch tái định cư chỉ nhất thời, chưa tính đến kế hoạch dự phòng quỹ đất lâu dài để đáp ứng nhu cầu dân số tăng, việc tách hộ nhiều, chắc chắn sẽ thiếu đất ở, đất sản xuất, đương nhiên người dân phá rừng lấy đất, vì không còn con đường nào khác.
Minh chứng gần đây nhất là người dân làng tái định cư Kon Won 1 và Kon Lanh Te, Đắk Roong, huyện K’bang nhường đất cho công trình thủy điện Vĩnh Sơn từ 10 năm trước, ban đầu chỉ có hơn 30 hộ vào khu tái định cư nay tăng lên gần 70 hộ, mà quỹ đất tái định cư không được điều chỉnh mở rộng; do vậy, họ đã phá rừng nguyên sinh lấy đất sản xuất và sinh hoạt.
Nguyên nhân dẫn đến phá rừng ở Gia Lai còn tiềm ẩn khá nhiều. Không chỉ riêng ngành Kiểm lâm đóng vai trò then chốt trong quản lý, bảo vệ rừng, mà cần có sự chỉ đạo xuyên suốt, kịp thời của cấp ủy, chính quyền từ tỉnh xuống, huyện, xã và sự phối hợp của các ngành hữu quan... Có như vậy, mới giữ vững tài nguyên về rừng Tây Nguyên, luôn được xem là “vốn quý” của cả nước.
Để tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, Gia Lai đã thành lập 311 tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng. Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng được thành lập ở cấp tỉnh, 16 ban cấp huyện, thành phố và 165 Ban chỉ huy ở cấp xã, buôn, làng.
Đến nay, toàn tỉnh có 220 xã có cán bộ kiểm lâm phụ trách, nhờ đẩy mạnh tuyên truyền nên 39 thôn, bản đã xây dựng và ký Hương ước bảo vệ rừng. Phong trào này đang được chú trọng mở rộng ra các địa bàn xa xôi, hẻo lánh, tập hợp những người có uy tín trong thôn, bản nhằm thu hút đông đảo người dân cùng tham gia bảo vệ rừng. (Thanh Tra 23/9) đầu trang(
Trên địa bàn tỉnh hiện có 15 Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp, được giao quản lý khoảng 198.000 ha. Đến tháng 1-2013, chỉ tính riêng trên diện tích rừng do các công ty này quản lý có đến 9.679 ha bị người dân chặt phá, lấn chiếm và hơn 878 ha đất đang bị tranh chấp.
Ông Bùi Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Bông cho biết: Những năm gần đây, tình trạng người dân xâm lấn đất rừng trên địa bàn đơn vị quản lý diễn ra khá phức tạp. Ngay từ đầu mùa mưa năm 2013, khi tiến hành triển khai phát dọn thực bì, vệ sinh rừng để chuẩn bị kế hoạch trồng rừng thì một số hộ dân người dân tộc Mông tự ý vào xâm lấn đất để canh tác với tổng diện tích khoảng 8 ha rừng trồng tại khu vực Ea T’long (xã Cư Pui), giáp với thôn Yang Hanh (xã Cư D’răm).
Dù đây là diện tích nằm trong số trên 19 nghìn ha được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty năm 2008, nhưng việc giải quyết số đất bị lấn chiếm này đang gặp khá nhiều trở ngại. Công ty đã báo cáo với UBND xã Cư D’răm để hỗ trợ giải quyết, nhưng cả 2 lần triệu tập người dân vào ngày 21-5-2013 và 6-6-2013 tại UBND xã Cư D’răm đều không thành vì các hộ dân không chấp hành.
Trước tính chất vụ việc căng thẳng và với chiều hướng lan rộng, gia tăng về mức độ, quy mô diện tích đất bị lấn chiếm, Công ty đã báo cáo tình hình với UBND huyện Krông Bông để xin ý kiến chỉ đạo. Để hạn chế tình trạng trên tiếp diễn, đơn vị đã lập thêm 1 trạm chốt chặn tại Ea T’long cũng là để góp phần tăng cường bảo vệ rừng tự nhiên, phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. Bên cạnh đó, cử 6 cán bộ tại trạm tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân sống gần rừng và các khu vực lân cận.
Tương tự, trên tổng số diện tích 8.890ha rừng và đất rừng nằm trên địa bàn hai xã Ea Kuêh và Ea Kiết (huyện Cư M'gar) do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm được Nhà nước giao quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất kinh doanh, hiện đã có khoảng 460ha bị người dân lấn chiếm trồng cà phê, điều, hồ tiêu, bắp. Ngay tại tiểu khu 547A đang có 19 ngôi nhà người dân địa phương tự cất lên và lấn chiếm hơn 34ha để trồng hoa màu.
Mặc dù Công ty đã phối hợp với chính quyền địa phương nhiều lần vào giải tỏa toàn bộ hoa màu và nhà cửa, tiến hành trồng lại rừng, nhưng chỉ chờ cán bộ rút đi, người dân lại vào nhổ bỏ cây rừng mới trồng để lấn chiếm đất tiếp tục canh tác. Chính vì vậy, xung đột giữa người dân với lực lượng quản lý bảo vệ rừng ở đây luôn diễn ra gay gắt.
Cùng hoàn cảnh trên, Công ty TNHH MTV M’Drak cũng đang gần như bế tắc trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp, lấn chiếm đất rừng thuộc địa bàn quản lý. Mặc dù đơn vị đã triển khai khá nhiều biện pháp ngăn chặn, nhưng tình trạng phá, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy vẫn liên tục xảy ra trên các xã Ea Trang, Cư San, Krông Á, Krông Jing. Nhất là vào những tháng cuối năm 2012, luôn xảy ra các vụ lấn chiếm đất rừng ở các khu vực giáp ranh giữa 2 xã Ea Trang và Cư San, khu vực Ea Krông và Sông Chò.
Đáng chú ý là trên địa bàn xã Krông Jing, từ năm 2012 đến nay, luôn xảy ra các vụ lấn chiếm đất rừng đang khai thác để làm nương rẫy. Hiện nay, khoảng 200 ha rừng trồng sau khi khai thác của Công ty đã bị người dân lấn chiếm trồng tỉa hoa màu nên không thể trồng lại rừng. Mặc dù Công ty đã tạo điều kiện cho người dân ký kết hợp đồng trồng rừng, hoặc có thể thực hiện mô hình nông - lâm kết hợp trên diện tích đất bị lấn chiếm, nhưng người dân vẫn không hợp tác.
Ở địa bàn Ea Súp, Công ty TNHH MTV Chư M’Lanh được giao quản lý hơn 14.700ha rừng, đất rừng, nhưng đến nay có khoảng 6.000ha bị người dân lấn chiếm để trồng cao su, các loại cây hoa màu. Tranh chấp đất đai giữa Công ty Chư M’Lanh và người dân gay gắt đến nỗi một số dự án liên doanh liên kết của tỉnh đề ra không thể thực hiện được.
Đơn cử như Dự án của Công ty Cổ phần Vinamit, tháng 7-2012, được UBND tỉnh ra quyết định thu hồi hơn 900ha đất tại tiểu khu 294 và 295 do Công ty Chư M’Lanh quản lý để giao cho Công ty thuê với dạng đất rừng sản xuất để trồng các loại cây công nghiệp, nông nghiệp. Thế nhưng, Vinamit đã phải rút dự án, trả lại phần diện tích đất mà UBND tỉnh đã giao vì tất cả diện tích đất trên đã bị người dân lấn chiếm để canh tác hoa màu.
Báo cáo tổng kết về việc thực hiện Nghị quyết 28-TW của Bộ Chính trị về sắp xếp đổi và phát triển nông, lâm trường quốc doanh, UBND tỉnh thừa nhận: việc tranh chấp, lấn chiếm đất đai vẫn tiếp tục kéo dài và khó có thể giải quyết dứt điểm; nguyên nhân đầu tiên xuất phát từ việc quản lý sử dụng đất của các công ty lâm nghiệp sau chuyển đổi trong thời gian dài thiếu chặt chẽ, được giao quản lý diện tích đất lớn nhưng không có vốn đầu tư, năng lực tự tổ chức sản xuất kém nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng đất.
Kế đến là do phần lớn đất đai giao cho các nông, lâm trường trước đây chỉ bằng việc ra các quyết định mà không thực hiện giao đất trên thực địa; còn các chương trình giao đất, giao rừng thì chỉ thực hiện trên bản đồ nên trên thực tế diện tích bị chồng lấn rất nhiều. Theo yêu cầu, diện tích bàn giao cho địa phương phải được thống kê chi tiết từng loại đất và hồ sơ địa chính, tuy nhiên do không có kinh phí đo đạc lập bản đồ địa chính, nên khi bàn giao quỹ đất này địa phương quản lý vẫn chưa cấp GCNQSDĐ cho người dân theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, áp lực dân di cư tự do trong những năm qua cùng với tác động của kinh tế thị trường, giá cả của một số mặt hàng nông sản, công nghiệp như sắn, mía, cao su… tăng cao nên người dân xâm canh vào đất đai của Công ty để trồng các loại cây trên.
Để giải quyết dứt điểm tình trạng trên, UBND tỉnh Đắk Lắk cũng đã đề ra giải pháp: Rà soát lại thực trạng hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp hiện nay, tổ chức đánh giá lại tình hình đất đai sản xuất và cuộc sống người dân ở vùng có các công ty này đang quản lý để trên cơ sở đó bố trí lại đất đai phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Thực hiện quản lý chặt chẽ về đất đai, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên đất gắn với việc giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng thường xuyên xảy ra xung đột, tranh chấp giữa người dân với doanh nghiệp.
UBND tỉnh cũng đã kiến nghị Chính phủ hỗ trợ kinh phí để triển khai Đề án đo đạc địa chính và cắm mốc ranh giới các nông, lâm trường nhằm từng bước loại bỏ tình trạng tranh chấp, lấn chiếm, qua đó thống kê thực trạng sử dụng đất của các nông, lâm trường được chính xác theo từng loại hình sử dụng. Mục đích của công tác thống kê là làm rõ được từng loại: đất giao khoán, cho thuê, mượn, đất liên doanh, liên kết; việc chuyển nhượng đất đai; diện tích đất chuyển giao về lại địa phương quản lý… (Báo Đắk Lắk 23/9) đầu trang(
Ngày 17/9, Hạt Kiểm lâm huyện Mường Nhé đã phát hiện và thu giữ gần 6,7 m3 gỗ thuộc nhóm V và nhóm VI.
Số gỗ này bị các đối tượng lâm tặc khai thác tại khoảnh 17, tiểu khu 131 thuộc khu vực rừng sản xuất bản Nậm Là, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé gồm gần 200 thanh xà dài từ 4-6m, dày từ 10-17cm, rộng từ 12-15cm với tổng khối lượng gần 6,7 m3 thuộc nhóm V và nhóm VI. Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm huyện còn thu giữ 1 cưa máy.
Hiện tại, các đối tượng khai thác đã bỏ trốn không rõ danh tính, cơ quan chức năng đang tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng để xử lý theo quy định của pháp luật. (Đài PT - TH Điện Biên 21/9) đầu trang(
Ngày 23-9, ô tô 16 chỗ do tài xế Nguyễn Văn Đoàn (ngụ phường 2, TP Tuy Hòa, Phú Yên) điều khiển đã lao vào khu vực đang thi công trên đường Độc Lập, TP Tuy Hòa.
Vụ tai nạn làm tài xế Nguyễn Văn Đoàn và người ngồi trên xe là Huỳnh Ngọc Trọng (ngụ thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa) chết tại chỗ.
Kiểm tra chiếc xe trên, cơ quan chức năng phát hiện tất cả ghế phía sau đã bị tháo bỏ, bên trong chở khoảng 2 m3 gỗ hộp. Hiện Công an TP Tuy Hòa đang tạm giữ xe và gỗ trên để làm rõ nguồn gốc. (Thanh Niên 23/9; Lao Động 23/9; Tin Tức 23/9; Công An Nhân Dân 24/9; Pháp Luật TPHCM 24/9; Tiền Phong 24/9) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện Hàm Thuận Bắc đã phát hiện 66 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, so với thời điểm năm ngoái giảm 24 vụ.
Trong đó, vi phạm nhiều nhất là phá rừng trái phép với 19 vụ, kế đến mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép với 11 vụ.
Lực lượng chức năng đã tịch thu trên 52,46 mét khối gỗ và 23 phương tiện. Hạt đã xử phạt hành chính 59 vụ, khởi tố hình sự 7 vụ và bán tang vật tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước trên 800 triệu đồng. (Đài PT - TH Bình Thuận 20/9) đầu trang(
Theo ông Lê Văn Hoàng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ðắk Mil, ngày 12/8, qua kiểm tra xe ô tô do Nguyễn Mạnh Chiến ở thôn Hòa Phong, xã Ðắk Sắk (Ðắk Mil) điều khiển, đơn vị thấy có xuất trình giấy tờ vận chuyển 6,08 m3 gỗ kiền kiền (nhóm 2) của Doanh nghiệp Tư nhân Hoàng Thiên Triệu, địa chỉ thôn 3, xã Ðắk Búk So (Tuy Ðức).
Tuy nhiên, khi đo đếm thực tế số gỗ trên xe thì phát hiện có tới 24 hộp gỗ, với khối lượng 7,4 m3. Toàn bộ số gỗ này đều được cắt bằng cưa máy cầm tay. Trước sự việc bất thường này, đơn vị đã tạm giữ phương tiện và tang vật để tiếp tục điều tra làm rõ.
Qua quá trình xác minh ở Hạt Kiểm lâm Tuy Ðức, nơi mà Doanh nghiệp Hoàng Thiên Triệu xuất trình hóa đơn và bảng kê xuất lâm sản có con dấu, chữ ký của lãnh đạo đơn vị này thì phát hiện toàn bộ con dấu, chữ ký đều là… giả.
Cụ thể, con dấu kiểm lâm huyện và chữ ký của ông Vũ Văn Trọng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm Tuy Ðức không trùng khớp như giấy tờ của doanh nghiệp dùng vận chuyển gỗ. Tiếp tục kiểm tra nguồn gốc xuất nhập lâm sản tại Doanh nghiệp Hoàng Thiên Triệu và Hạt Kiểm lâm Tuy Ðức thì số gỗ tồn trong xưởng của doanh nghiệp này đến ngày 25/7 chỉ còn gỗ từ nhóm 4-7, chứ không có nhóm 2. Và theo khẳng định của Hạt Kiểm lâm Tuy Ðức, vào ngày 12/8, đơn vị này cũng không xác nhận vận chuyển lâm sản cho Doanh nghiệp Hoàng Thiên Triệu…
Hạt Kiểm lâm Ðắk Mil đã hoàn tất hồ sơ để chuyển cơ quan Công an huyện Ðắk Mil xử lý theo luật định. (Báo Đăk Nông 23/9) đầu trang(
Thông tin từ đường dây nóng Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Nhiều diện tích rừng ở xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức bị chặt phá bừa bãi. (Quân Đội Nhân Dân 23/9) đầu trang(
Ngày 23-9, CA huyện Hiệp Đức cho biết, đang củng cố hồ sơ khởi tố vụ án chiếm đoạt tài sản tại BQL bảo vệ rừng 661 huyện Hiệp Đức.
Theo điều tra ban đầu, 3 năm qua, BQL bảo vệ rừng 661 huyện Hiệp Đức bằng nhiều thủ đoạn như lập khống chứng từ thanh toán, lập khống các hạng mục chi trả... chiếm đoạt hàng trăm triệu đồng của Nhà nước. Trong quá trình điều tra, ông Trần Văn Nam- thủ quỹ BQL đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan CA hơn 270 triệu đồng.
Trước đó, ngày 17-3, ông Nguyễn Trường Kiều- Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện Hiệp Đức treo cổ tự sát trước cửa phòng làm việc. Nhiều người cho biết, nguyên nhân cái chết của ông Kiều liên quan đến vụ việc trên. (Công an TP Đà Nẵng 24/9) đầu trang(
Từ đầu tháng 8 đến nay, hàng trăm người dân ở 2 xã Phú Gia và Hương Vinh, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh kéo nhau vào các tiểu khu 229 và 236A do Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ Sông Tiêm quản lý chặt phá cây rừng để chiếm đất.
Theo tìm hiểu, việc người dân ồ ạt kéo nhau đi phá rừng là do thiếu đất sản xuất. “Đất người dân không có để sản xuất trong khi đất rừng giao cho BQL rừng phòng hộ thì không sử dụng. Không có đất sản xuất, cực chẳng đã chúng tôi mới phải vào chặt phá rừng” - ông H. - một hộ dân ở xã Phú Gia tham gia phá rừng, chiếm đất - giải thích.
Ông Nguyễn Hữu Thinh, Phó BQL Rừng phòng hộ Sông Tiêm, cho biết hiện đã xác định được 40 hộ dân tham gia chặt phá rừng, chiếm đất với tổng diện tích rừng bị chặt phá hơn 75 ha (thuộc đối tượng rừng 1C và đất lâm nghiệp). BQL Rừng phòng hộ Sông Tiêm đã lập biên bản báo cáo sự việc với UBND huyện Hương Khê, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh để có phương án xử lý.
Theo ông Nguyễn Sỹ Lương, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Hương Khê, hiện hạt kiểm lâm đang phối hợp với các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương có phương án kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi lấn chiếm rừng, đất lâm nghiệp trái phép. Kiên quyết không để tái diễn tình trạng người dân kéo nhau vào chặt phá rừng ồ ạt như thời gian qua.
Ông Nguyễn Xuân Quyền, Phó Phòng NN&PTNT huyện Hương Khê, cho biết: “Nguyện vọng được cấp đất của các hộ dân ở 2 xã Hương Vinh và Phú Gia là chính đáng. Thời gian tới, phòng sẽ kiến nghị huyện, tỉnh có phương án cấp đất cho các hộ dân thiếu đất sản xuất”.
Liên quan đến việc người dân ồ ạt vào chặt phá rừng chiếm đất, ông Quyền cho rằng như thế là vi phạm và sẽ tạo nên tiền lệ xấu trong công tác quản lý. “Người dân muốn xin đất sản xuất thì phải làm theo quy trình, không thể cứ thiếu đất là tự ý kéo nhau vào chặt phá rừng và chiếm đất một cách trái phép như vậy” - ông Quyền nói. (Người Lao Động 24/9) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm, Cảnh sát Giao thông và Cảnh sát Môi trường tỉnh Sóc Trăng vừa phối hợp kiểm tra và thu giữ một lượng lớn da cá sấu và cá sấu con vận chuyển không có giấy phép kinh doanh và không rõ nguồn gốc.
Tiến hành kiểm tra bên trong cho thấy có tới 316 bộ da cá sấu có độ dài đo được từ 0,4 đến 1,2 mét, bề ngang từ 0,2 đến 0,5 mét, ngoài ra còn có 112 con cá sấu nhỏ nguyên con đã chết, có trọng lượng từ vài trăm gram đến 2 ký. Đây là vụ vận chuyển động vật hoang dã trái phép lớn nhất mà lực lượng chức năng Sóc Trăng bắt được từ trước đến nay. (Chinhphu.vn 23/9) đầu trang(
Trong vòng nửa tháng trở lại đây, những cánh rừng trên đèo Mang Yang, thuộc địa bàn huyện Đắk Pơ, bị cày xới vô tội vạ.
Thanh niên, người lớn tuổi và cả phụ nữ người dân tộc thiểu số ở các làng Chơ Rơn 1, Chơ Rơn 2 (xã Đắk Ta Ley) và làng Ch'Ra (xã Hà Ra, huyện Mang Yang) ùn ùn kéo nhau lên khu vực rừng trên đèo Mang Yang tìm gỗ huỳnh đàn. Không biết có tìm được nhiều huỳnh đàn không, chỉ biết rừng phòng hộ đèo Mang Yang tan hoang, mùa màng của bà con bị bỏ bê.
Ban Quản lý Rừng phòng hộ Bắc An Khê cho biết, dù đã tổ chức tuyên truyền, thu xe máy, đẩy đuổi người khai thác ra khỏi rừng nhưng vẫn không thể ngăn chặn được "cơn lốc" săn huỳnh đàn.
Không dừng lại ở đó, ở địa bàn huyện vùng sâu Krông Pa, trong gần 1 tháng qua, do thương lái lại tiếp tục thu mua gỗ trắc, khiến cơn sốt này âm thầm trở lại. Theo lời những người Ja Rai đi đào bới gốc trắc, tùy theo đường kính của gốc trắc tìm được, giá bán từ vài chục ngàn đồng cho đến 200.000 đồng/kg. Giá thu mua cao ngất khiến những cánh rừng già còn sót lại ở huyện Krông Pa thật sự bị động.
Những thương lái hay những kẻ săn lùng gỗ trắc không chỉ thu mua từ những thanh niên dân tộc thiểu số len lỏi vào rừng tìm mót lại mà còn nhắm đến những ngôi nhà rông truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số. Tại làng Kon Pơ Ram, xã Hà Đông, huyện Đắk Đoa, 8 cột gỗ trắc được dựng từ rất lâu trong ngôi nhà sàn của làng, khiến dân buôn gỗ trắc thèm thuồng dạm hỏi nhiều lần và ra giá hơn tỷ đồng, suýt đã được tháo tung để bán.
Theo ghi nhận, cơn sốt gỗ huỳnh đàn, gỗ trắc đang nóng lên ở Gia Lai. Không chỉ gây mất an ninh trật tự, việc ngày ngày hàng trăm thanh niên, phụ nữ người dân tộc thiểu số băng rừng tìm những gì quý giá còn sót lại khiến tình hình ngày càng diễn biến phức tạp. (Thanh Tra 24/9) đầu trang(
7 hộ dân xã Sủ Ngòi, TP Hòa Bình đã sử dụng khu đất Thung Cả, Tạng Bưởi hơn 20 năm nay, không có tranh chấp, bỗng dưng bị "mất" đất mà không hề biết. 7 hộ dân này đã làm đơn gửi Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình đề nghị làm rõ vụ việc.
7 hộ gồm: Đinh Văn Hợp (xóm 1), Nguyễn Văn Sỹ, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Thị Bản, Nguyễn Thị Thập (xóm 2) và Nguyễn Văn Chiến (xóm 4), xã Sủ Ngòi. Còn 4 cán bộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) trên diện tích 7 hộ đang canh tác là: Nguyễn Văn Bảo, Phó Chủ tịch HĐND xã; Nguyễn Xuân Việt, nguyên Trưởng Ban Lâm nghiệp xã; Đinh Văn Thỉnh, nguyên Chủ tịch UBND xã Sủ Ngòi và ông Nguyễn Văn Hồi, cán bộ Nông - Lâm thị xã Hòa Bình (nay là TP Hòa Bình).
Tổng diện tích đất của 7 hộ dân bị "mất" và diện tích đất của 4 cán bộ được cấp ghi trên GCNQSDĐ không biết chính xác là bao nhiêu ha. Vì, như ông Đoàn Xuân Hợi, Chủ tịch UBND xã Sủ Ngòi nói với PV là: "Khu đất ở xa nên lúc giao đất theo Nghị định 02 của Chính phủ, xã chỉ ước tính khoảnh, áng chừng diện tích". Còn về nguồn gốc đất, ông Hợi cho biết: "Khu Thung Cả, Tạng Bưởi lúc đó chỉ có cỏ lau lách, nơi bà con chăn thả trâu bò. Vì đồi ở xa, không ai nhận nên xã đã giao cho cán bộ xã".
ồi Thung Cả và đồi Tạng Bưởi cách khu dân cư xóm Sủ Ngòi (nay là xóm 1, xóm 2), gần 5km đường núi. Hai khu đất trên liền kề nhau, rộng khoảng 50ha, khá bằng phẳng. Những năm 1980 về trước, do đường đi khó khăn, dốc đứng lại xa xóm nên không hộ nào lên canh tác.
Ông Đinh Văn Hợp cho biết: Năm 1982, vì nhà đông con, hoàn cảnh đói nghèo, bố ông Hợp là Đinh Công Y đã dắt díu vợ con lên đồi Tạng Bưởi dựng lều để ở, ngày đêm nai lưng bới đất lật cỏ, khai phá từng m2 đất làm nương trồng ngô, sắn, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đất đồi Tạng Bưởi không phụ công người nghèo khó. Sau mấy năm làm lụng, gia đình ông Y đã hết đói nghèo, có của ăn, của để. Năm 1990, do tuổi già sức yếu, ông Đinh Công Y đã giao lại khu đất hơn 10ha cho con trai là Đinh Văn Hợp quản lý, canh tác. Ông Hợp tiếp tục đầu tư vốn lập trang trại trồng rừng, chăn nuôi trâu, bò, đào ao nuôi cá.
Năm 1990, các hộ Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Sỹ, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Thị Bản, Nguyễn Thị Thập (xóm 2) và hộ ông Nguyễn Văn Chiến (xóm 4), xã Sủ Ngòi, đều là những gia đình nghèo, cùng nhau lên khu đồi Tạng Bưởi, Thung Cả khai phá đất hoang làm nương trồng lúa, ngô, sắn, dong giềng.
Ông Nguyễn Văn Tiện cho biết: Gia đình khai phá được hơn 3ha. Mấy năm đầu vụ thì trồng lúa nương, vụ trồng ngô, trồng sắn, sau chuyển sang trồng gừng, trồng mía đường và chăn nuôi trâu bò. Năm 1995, gia đình bỏ vốn đầu tư trồng cây lâu năm và cây ăn quả, gồm lát, keo, luồng, nhãn, vải, xen canh là ngô, gừng, khoai sọ. Đến nay, rừng cây phát triển tốt, cây lát đã có đường kính từ 60 - 80cm. Trong suốt thời gian hơn 22 năm qua không có tranh chấp với bất cứ hộ nào.
Cũng như hộ ông Hợp, ông Tiện, các hộ ông Phong, ông Sỹ, ông Chiến và hộ bà Bản, bà Thập đã bỏ công sức, tiền của, ngày đêm đánh vật với mưa rừng, vắt núi để khai phá đất hoang, làm nương dựng lều đã mấy chục năm, sinh con đẻ cái trên đất Tạng Bưởi.
Xét theo Luật Đất đai, 7 hộ trên chưa phải là "chủ đất", vì họ chưa được cấp GCNQSDĐ. Nhưng họ có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được ưu tiên khi chính quyền xét cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 của Chính phủ và Kế hoạch triển khai giao đất, giao rừng, khoán rừng của UBND tỉnh Hòa Bình. Vậy vì sao 7 hộ dân trên lại không được Hội đồng Giao đất, giao rừng, khoán rừng xã Sủ Ngòi xét cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp? Để rồi sau hơn hàng chục năm khai phá đất hoang, nay họ bị "mất" đất, tài sản gắn liền trên đất bị chặt phá, hủy hoại…
Đang yên ổn sản xuất, tháng 8/2000, các hộ Đinh Văn Hợp, Nguyễn Văn Phong, Nguyễn Văn Tiện, Nguyễn Văn Sỹ, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Thị Thập và Nguyễn Thị Bản bị chính quyền xã Sủ Ngòi đến lập biên bản đình chỉ sản xuất để chính quyền thu hồi đất giao cho Lâm trường Sông Đà triển khai "Dự án 661".
Ông Hợp, ông Phong, ông Tiện cho biết: “Người đại diện cho UBND xã lập biên bản đình chỉ các hộ chúng tôi là ông Nguyễn Xuân Việt, cán bộ lâm nghiệp xã và ông Nguyễn Văn Sắng, Công an xã. Dân chúng tôi nghĩ rằng, Nhà nước thu hồi đất để giao cho Lâm trường Sông Đà nên đồng ý giao đất cho UBND xã ngay, không ai thắc mắc một câu hay đòi hỏi tiền hỗ trợ công khai phá đất. Dân là thế, chấp hành rất nghiêm…”.
Gần 2 năm sau (4/2002), "Dự án 661" thất bại, lúc này người dân mới biết "Dự án 661" Lâm trường Sông Đà là dự án "ma" do ông Nguyễn Tiến Tý, xóm Tân Lập, xã Dân Chủ, TP Hòa Bình, lấy danh nghĩa Lâm trường Sông Đà dựng lên "bằng miệng" nhằm chiếm đất của các hộ dân đang canh tác ở khu đồi Tạng Bưởi, Thung Cả.
Bản "Hợp đồng khoán sử dụng đất lâm nghiệp" (không số) ngày 20/2/2000 giữa đại diện bên A (bên giao đất): Ông Đinh Văn Thỉnh, Chủ tịch UBND xã; ông Nguyễn Xuân Việt, Trưởng Ban Lâm nghiệp xã Sủ Ngòi với đại diện bên B (bên nhận khoán): Ông Nguyễn Tiến Tý, cán bộ kỹ thuật (địa chỉ xóm Tân Lập, xã Dân Chủ, thị xã Hòa Bình); ông Nguyễn Văn Dũng, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái môi trường rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (không ghi địa chỉ) đã lộ rõ nhiều khuất tất, nghi vấn.
Ông Đinh Văn Thỉnh và ông Nguyễn Xuân Việt có phải là người đại diện cho UBND xã Sủ Ngòi? Hai ông này có đủ thẩm quyền để giao đất với diện tích lớn (53ha), thời gian dài (50 năm)? Ông Nguyễn Tiến Tý là cán bộ kỹ thuật thuộc đơn vị nào? Ông Nguyễn Văn Dũng có phải người đại diện cho Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái môi trường rừng? Tại Điều I của Hợp đồng: Bên A giao khoán cho bên B diện tích đất trống là 37ha, diện tích núi đá có cây tái sinh là 16ha. Điều này vô lý, bởi thời điểm này 37ha đất khu Thung Cả, Tạng Bưởi đang được 7 hộ dân trồng cây keo, lát, nhãn, luồng và hoa màu...
Sau khi ông Nguyễn Tiến Tý phá hợp đồng với UBND xã Sủ Ngòi, các hộ đã trở lại tiếp tục canh tác trên phần đất của mình trước đây. Tuy nhiên, ông Đinh Văn Hợp cho biết: Ngày 29/5/2013, một số người lạ đưa máy xúc, máy ủi ngang nhiên tiến vào khu vườn gia đình san ủi đất, chặt phá cây keo, xoan, cây sưa. Ông Đinh Văn Thỉnh, nguyên Chủ tịch UBND xã và ông Nguyễn Xuân Việt, nguyên cán bộ Ban Lâm nghiệp xã cũng có mặt tại khu đất Tạng Bưởi lúc đó.
Ông Hợp có hỏi ông Thỉnh, ông Việt: “Các anh có bảo máy vào san đất vườn cây nhà tôi không?” thì hai ông này trả lời: "Không". Ông Hợp gọi điện về UBND xã gặp ông Đoàn Xuân Hợi, chủ tịch, hỏi: “Ông có ra lệnh cho người ta đem máy vào phá vườn rừng tôi không?”. Ông Hợi cũng trả lời: "Không".
Thấy quá lạ, sáng hôm sau 30/5/2013, ông Hợp đã mời Trưởng xóm 1, công an viên xóm 1, cùng một số hộ có nương liền kề lên chứng kiến, kiểm đếm thiệt hại. Đồng thời, gửi đơn kiến nghị lên các cấp chính quyền TP Hòa Bình và tỉnh Hòa Bình mong được chính quyền bảo vệ quyền lợi chính đáng của gia đình cũng như các hộ đang canh tác trên khu đồi Tạng Bưởi, Thung Cả. Lúc này, 7 hộ dân mới biết mình đã bị “mất” đất. Đất họ đang sử dụng đã được UBND thị xã Hòa Bình cấp GCNQSDĐ từ tháng 1/1998 cho 4 người khác… (Thanh Tra 24/9) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định, 9 tháng đầu năm 2013, các Hạt Kiểm lâm và Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 433 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tăng 82 vụ so với cùng kỳ năm ngoái.
Qua đó, lập biên bản xử phạt hành chính 335 vụ, tịch thu 729,6 m3 gỗ các loại, 240 kg động vật rừng, 3.570 kg gỗ trắc, 84 mô tô, 5 ô tô, 1 xe độ chế, 4 máy cưa xăng cầm tay; xử phạt, nộp ngân sách nhà nước hơn 3,2 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, các Hạt Kiểm lâm địa phương cũng đã tổ chức 695 đợt tuần tra, kiểm tra truy quét trong rừng với 3.077 lượt người tham gia; đã tạm giữ hơn 27 m3 gỗ các loại, 285 kg than hầm, 16 mô tô; hủy tại rừng hơn 9 m3 gỗ các loại, 267 lò than hầm, 386 bẫy động vật rừng và 30 lán trại cất, dựng trái phép. (Báo Bình Định 24/9) đầu trang(
Liên quan đến vụ việc thu gom hàng trăm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp tại huyện Thường Xuân, Phòng CSĐT tội phạm về TTXH, Công an tỉnh Thanh Hóa đã tiếp nhận điều tra, làm rõ những cá nhân, tổ chức có dấu hiệu lừa đảo.
Theo tài liệu điều tra, vào khoảng tháng 1/2010, anh Đỗ Văn Bằng - giáo viên Trường THPT Cầm Bá Thước, trú tại tiểu khu 4, thị trấn Thường Xuân, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa đến gặp lãnh đạo xã Xuân Cẩm, đặt vấn đề có quan hệ với Công ty cổ phần chuyển giao công nghệ quốc tế ASEAN (có địa chỉ tại số 263, Âu Cơ, P. Quảng Bá, Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội) có thể “chạy” được dự án “đầu tư phát triển rừng đầu nguồn các tỉnh miền Trung”, với kinh phí hỗ trợ là 200.000đ/ha/năm của một tổ chức phi Chính phủ cho người dân.
Để làm được điều đó, anh Bằng yêu cầu UBND xã Xuân Cẩm phô tô công chứng toàn bộ 298 GCNQSDĐ lâm nghiệp với tổng diện tích là 1.320,19ha, thời hạn sử dụng 50 năm để có cơ sở đi giao dịch. Đến ngày 30/12/2010, anh Bằng yêu cầu phải nộp GCNQSDĐ bản gốc để cho công ty đối chiếu, triển khai “dự án”. UBND xã Xuân Cẩm đã huy động bà con nộp GCNQSDĐ lâm nghiệp bản gốc và giao toàn bộ cho anh Bằng.
Sau khi đã gom được GCNQSDĐ lâm nghiệp bản gốc của người dân, anh Bằng đem hai bản “hợp đồng hợp tác đầu tư, phát triển rừng” đã soạn sẵn giữa công ty nêu trên với UBND xã Xuân Cẩm (chưa ký tên, đóng dấu), yêu cầu chủ tịch UBND xã ký tên, đóng dấu.
Tuy nhiên, đã gần ba năm trôi qua, “dự án” mà anh Bằng đề cập vẫn chưa thấy triển khai, UBND xã Xuân Cẩm đã nhiều lần mời anh Bằng đến làm việc để đòi lại GCNQSDĐ trả cho người dân, nhưng anh Bằng nói “dự án” vẫn đang chờ phê duyệt vốn để thực hiện. Toàn bộ GCNQSDĐ lâm nghiệp của người dân xã Xuân Cẩm đang được công ty trên giữ.
Đồng thời, người dân địa phương cũng đã nhiều lần yêu cầu chính quyền xã đòi lại GCNQSDĐ lâm nghiệp cho họ. Trước sự việc trên, UBND xã Xuân Cẩm đã báo cáo vụ việc với UBND huyện và Công an huyện Thường Xuân để giải quyết.
Sau một thời gian xác minh, làm rõ, xét thấy đât là vụ việc mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, có dấu hiệu lừa đảo tài sản với số lượng lớn GCNQSDĐ lâm nghiệp của nhiều hộ dân nghèo, nên Công an huyện Thường Xuân đã báo Giám đốc Công an tỉnh và bàn giao hồ sơ cho Phòng CSĐT tội phạm về TTXH, Công an tỉnh Thanh Hóa tiếp tục điều tra, làm rõ.
Được biết, ngoài huyện Thường Xuân, còn hàng trăm GCNQSDĐ lâm nghiệp của người dân một số địa phương miền núi cũng bị thu gom trái phép để chạy dự án, tuy nhiên đến nay người dân chưa biết được những tài sản này của mình nằm ở đâu. UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đã có văn bản yêu cầu các ngành và các địa phương liên quan kịp thời phát hiện và ngăn chặn và có biện pháp xử lý hiện tượng này. (Dân Trí 23/9) đầu trang(
Hơn 8 tháng, ngành kiểm lâm trên địa bàn toàn tỉnh Lào Cai đã điều tra, phát hiện và xử lý 210 vụ việc vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng.
Trong đó, có 13 vụ phá rừng, 24 vụ khai thác rừng trái phép, 76 vụ việc mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, vi phạm về chế biến gỗ và lâm sản khác là 67 vụ việc, 6 vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ động vật hoang dã.
Số lâm sản bị tịch thu là 145 m3 gỗ các loại, số động vật hoang dã bị tịch thu 16,7 kg, tịch thu 1 ô tô, 7 xe máy, tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước do xử lý vi phạm hành chính là 1,107 tỷ đồng. (Báo Lào Cai 24/9) đầu trang(
Ngày 22/9, ông Nguyễn Thanh Tùng, 42 tuổi, ở ấp Tắc Thủ, xã Hồ Thị Kỷ (Thới Bình, Cà Mau) cho biết, con cá sấu khoảng 5 kg phát ra tiếng như chó sủa.
Ông Tùng cho biết , con cá sấu mua của chủ vuông tôm ở xã Khánh An (U Minh), nhiều người đến xem cá sấu sủa nên phải mang giấu sau nhà mẹ vợ, nhờ trông nom, cho cá ăn. Theo người chủ của cá sấu, con sấu có tiếng kêu giống như chó sủa từ trước. (Tiền Phong 23/9) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Báo cáo mang tên Demand-side interventions to reduce deforestation and forest degradation (Tạm dịch: Điều tiết nhu cầu để giảm mất rừng và suy thoái rừng) của Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED) sẽ cho độc giả hiểu rõ hơn về loại giải pháp điều tiết nhu cầu tiêu dùng để thúc đẩy tính hợp pháp, bền vững môi trường
Giải pháp điều tiết nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm có ảnh hưởng đến rừng thực tế đã được triển khai cách đây đôi chục năm, khởi đầu từ Mỹ và các nước Liên minh Châu Âu (EU). Việc triển khai được tiến hành trên bốn cấp độ (chính phủ, khu vực công, khối tư nhân và người tiêu dùng) thông qua nhiều hình thức khác nhau từ pháp luật, chính sách, hệ thống chứng nhận tự nguyện đến các chiến dịch tiêu dùng…
Không trực tiếp củng cố, cải thiện công tác quản trị rừng, song những giải pháp này lại tác động gián tiếp tới nhu cầu của người tiêu dùng, từ đó góp phần hạn chế việc thu hoạch, sản xuất hay buôn bán các sản phẩm gây hại tới rừng và trong một chừng mực nhất định cũng có tác dụng hỗ trợ hoặc tạo động lực thúc đẩy cải cách quản trị rừng.
Trong bối cảnh các nước chưa tìm ra phương hướng hiệu quả hơn để bảo vệ rừng, trong khi thương mại ngày càng phát triển, cùng lúc vai trò của các doanh nghiệp và các nhà bán lẻ đa quốc gia ngày càng cao, việc đầu tư nghiêm túc vào giải pháp điều tiết nhu cầu được đánh giá là khả thi và cần thiết đẩy mạnh.
Ở cấp độ chính phủ, những can thiệp nhu cầu tồn tại dưới hình thức chính sách, văn bản luật nhằm tạo ra một hiệp định ràng buộc về mặt pháp lý giữa các nước và ngay trong một nước, có khả năng điều chỉnh trực tiếp hoạt động buôn bán lâm sản hợp pháp cũng như các sản phẩm khác gây nguy hại đến rừng.
Đạo luật Lacey của Mỹ, Đạo luật cấm gỗ khai thác trái phép của Úc và Quy chế về gỗ của EU quy định gỗ và lâm sản xuất sang các nước này phải chứng minh được nguồn gốc xuất xứ là những ví dụ điển hình cho giải pháp điều tiết ở cấp độ chính phủ.
Khu vực công cũng đón nhận nhiều giải pháp điều tiết liên quan tới gỗ và nhiên liệu sinh học, trong đó phải kể đến Kế hoạch hành động thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản (FLEGT) với một trong những nội dung quan trọng cần nhấn mạnh là Hiệp định song phương giữa EU với các quốc gia xuất khẩu gỗ vào thị trường này (VPA) và Chỉ thị năng lượng tái tạo (RED) cũng của EU.
Hai công cụ trên mặc dù đóng vai trò lôi kéo sự tham gia của khu vực công ở cả trong và ngoài Liên minh, tiến tới xây dựng một môi trường tài chính vững mạnh cho đầu tư và các quyết định kinh doanh, nhưng vì còn mới, thêm nữa tiến trình đàm phán, thực thi kéo dài nên chưa thể hỗ trợ ngay và có tác dụng trên diện rộng đối với mục tiêu cứu rừng.
Khối tư nhân có cơ hội áp dụng những giải pháp trên cả năm sản phẩm chính gây nguy hại tới rừng là gỗ, đậu tương, dầu cọ, thịt bò/da và nhiên liệu sinh học.
Loạt giải pháp này bao gồm những tiêu chuẩn bền vững do các bên đưa ra, việc xanh hóa chuỗi cung ứng từ nguồn, nỗ lực rút ngắn chuỗi cung ứng sản phẩm, các sáng kiến công khai tự nguyện những thông tin liên quan đến chuỗi cung ứng, cải thiện hiệu suất hoạt động và hiệu quả của các hội nghị cũng như các hệ thống thương mại.
Sau cùng là bộ giải pháp nhắm vào chính người tiêu dùng nhằm thay đổi tâm lý, thị hiếu, nhu cầu của họ đối với hàng hóa thông qua những chiến dịch nâng cao nhận thức, kêu gọi người tiêu dùng hướng tới các sản phẩm vừa tốt cho sức khỏe, vừa thân thiện với môi trường; qua hoạt động tẩy chay sản phẩm hoặc nhãn hiệu gây nguy hại đến rừng; hoặc thông qua các phương tiện truyền thông xã hội như kênh Facebook, Youtube hay Twitter…
Tuy được đặt nhiều kỳ vọng nhưng mức độ thành công của các giải pháp điều tiết nhu cầu còn phụ thuộc nhiều vào phạm vi và cơ chế xử lý hàng hóa trái phép, chi phí, bản chất của chuỗi cung ứng và khả năng phát sinh nhu cầu từ thị trường, đặc biệt là trong bối cảnh nhu cầu về các sản phẩm dạng này đang không ngừng tăng như hiện nay.
Các giải pháp trên cũng sẽ thất bại nếu không kết hợp với các sáng kiến điều tiết nguồn cung.
Do đa phần là những chiến lược dài hơi, phải trải qua nhiều quy trình như thẩm định, đàm phán, ký kết, thực thi… nên thường phải mất nhiều năm, các giải pháp điều tiết nhu cầu mới đi vào thực tiễn. Ngay cả khi đã đi vào thực thi, nếu không có cơ chế giám sát chặt chẽ thì cũng khó tránh khỏi những kẽ hở.
Một thách thức nữa có thể gặp là nhiều thị trường chưa sẵn sàng trả thêm khoản chi phí cho việc bổ sung các tiêu chuẩn xã hội và môi trường vào quy trình sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường.
Vậy nên trước khi thị trường “hào phóng” hơn, các nhà sản xuất chỉ còn cách nỗ lực tiết giảm chi phí không cần thiết, đơn giản hóa chuỗi cung ứng và tăng hiệu quả hoạt động để có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm thân thiện mà không bị sụt giảm doanh thu.
Chưa hết, việc tập trung vào những khu vực sản xuất hay thị trường cụ thể dễ tạo kẽ hở cho những khu vực khác, dẫn tới hoàn cảnh trớ trêu là rừng ở khu vực này được cứu nhưng ở khu vực kia lại mất. Do đó, các giải pháp điều tiết nên được nhân rộng trên toàn thế giới, song vẫn cần tập trung vào những thị trường trọng điểm với sức mua khổng lồ như châu Á chẳng hạn, có thế mới mong nhanh chóng hạn chế được tình trạng mất rừng và suy thoái rừng.
Ngoài ra, những rào cản về mặt ngôn ngữ, văn hóa và đội ngũ nhân lực trong quá trình thực thi loại giải pháp này cũng đòi hỏi phải được hóa giải nếu muốn chúng sớm được áp dụng thành công. (Theo Infonet 23/9) đầu trang(
Một nhóm các nhà động vật học thuộc Bảo tàng Zoologicum Bogoriense của Indonesia và Trung tâm Khí hậu, Sinh thái vĩ mô và Tiến hóa của Đại học Copenhagen, Đan Mạch vừa phát hiện ra một giống chuột mới trên đảo Halmahera (tỉnh Bắc Maluku, Indonesia).
Người đứng đầu nhóm các nhà động vật học nói trên, tiến sỹ Pierre-Henri Fabre cho biết giống chuột mới được phát hiện có một loạt đặc điểm nổi bật như có chùm lông gai trên lưng, đốm trắng trên đuôi và ba cặp núm vú.
Nhóm nghiên cứu đã rất ngạc nhiên khi phát hiện thấy loài gặm nhấm mới này ở Boki Mekot, một khu vực miền núi đang bị đe dọa nghiêm trọng về sinh thái do khai thác và phá rừng, và đã đặt tên cho chúng là Halmaheramys bokimekot.
Theo ông Pierre-Henri Fabre, phân tích di truyền cho thấy Halmaheramys bokimekot có nguồn gốc từ phía Đông, và điều này phản ánh quá trình biến đổi tại các vùng chuyển tiếp đặc biệt ở châu Á-Thái Bình Dương, đòi hỏi một sự nghiên cứu khoa học chuyên sâu hơn. (VietnamPlus.vn 23/9) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa