|
Ngày 25 tháng 08 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Chỉ trong một đêm, gần 2 ha rừng nguyên sinh ở xã Trường Xuân, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông đã bị phá trắng.
Từ tin báo của người dân, phóng viên đã về địa bàn thôn 9, xã Trường Xuân, huyện Đắk Song để ghi nhận tình trạng phá rừng. Tại đây, cả một vạt rừng nguyên sinh ở tiểu khu 1676 đã bị triệt hạ ngổn ngang, nhiều thân cây gỗ có đường kính lớn khoảng 60cm bị cưa ngang gần gốc. Các cây gỗ bị cưa hạ chủ yếu là de, trâm, chò xót… Lá cây vẫn còn xanh, mùn cưa còn mới, ở nhiều gốc cây nhựa ứa ra, đỏ quạch như máu.
Theo người dân sinh sống gần khu vực này, diện tích rừng bị phá khoảng 2 ha, chủ yếu bị cưa hạ vào tối ngày 19/8. Mục đích của các đối tượng phá rừng là lấy gỗ, trụ tiêu, sau đó dọn dẹp chiếm đất để trồng cây công nghiệp hoặc bán đất.
Ông Trần Đức Việt, Trưởng thôn 9, xã Trường Xuân cho biết: Nhà tôi ở sát bìa rừng nên khi thấy nhiều cây rừng bị tàn phá, tôi rất xót xa, tiếc nuối trước cảnh tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt. Khi phát hiện rừng bị phá, tôi đã gọi điện thoại cho kiểm lâm địa bàn. Tuy nhiên, người này lại nói đang bận công việc khác, bảo tôi báo thẳng lên Hạt Kiểm lâm huyện.
Được biết, năm 2010, UBND tỉnh Đắk Nông có quyết định cho Công ty cổ phần kỹ nghệ gỗ MDF Long Việt (địa chỉ xã Thuận Hạnh, huyện Đắk Song) thuê diện tích đất rừng ở tiểu khu 1676 để thực hiện dự án sản xuất nông lâm nghiệp. Thế nhưng đơn vị này quản lý, bảo vệ không nổi nên đã trả lại cho tỉnh và tỉnh giao cho địa phương quản lý.
Sau khi khoanh vẽ lại, từ cuối năm 2015, UBND xã Trường Xuân đã làm hợp đồng giao khoán 60 ha rừng cho 3 hộ dân thôn 9 quản lý, bảo vệ trong thời hạn 1 năm. Đến cuối năm 2016 là hết thời hạn giao khoán cho các hộ dân. Tuy nhiên, đến nay xã Trường Xuân vẫn chưa thanh lý hợp đồng hoặc tiếp tục giao khoán cho các hộ dân quản lý, bảo vệ. Nguyện vọng của bà con là tiếp tục được nhận giao khoán chăm sóc, quản lý và bảo vệ số diện tích rừng còn lại tại tiểu khu 1676.Trong 2 ngày 21 và 22/8, phóng viên đã làm việc với UBND xã Trường Xuân (đơn vị chủ rừng) và Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song để tìm hiểu về vụ phá rừng trên, tuy nhiên những người đứng đầu 2 đơn vị này nói là không biết, không có việc phá rừng trên địa bàn. Sau khi được cung cấp những hình ảnh tại hiện trường thì họ mới cho cấp dưới xác minh, báo cáo vụ việc.
Khi được hỏi về trách nhiệm của địa phương và đơn vị chuyên trách bảo vệ rừng khi để tình trạng phá rừng, chiếm đất ở khu vực này diễn ra phức tạp trong nhiều năm, Chủ tịch UBND xã Trường Xuân và Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song nêu ra “đủ thứ khó”, đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.
Ông Phạm Quốc Thụy - Chủ tịch UBND xã Trường Xuân cho hay, do Ban Lâm nghiệp xã ít người, phần lớn lại kiêm nhiệm nên việc quản lý, bảo vệ rừng gặp rất nhiều khó khăn. Các đối tượng lại lại thường tổ chức phá rừng vào ban đêm và những ngày cuối tuần, là thời gian mà cán bộ Ban Lâm nghiệp xã nghỉ ngơi nên càng khó phát hiện.
Về việc tại sao không thực hiện thanh lý hợp đồng và tiếp tục gia hạn hợp đồng quản lý, bảo vệ diện tích rừng ở đây, ông Thụy lý giải là do xã không có kinh phí để tổ chức đo đạc, thống kê lại diện tích, trữ lượng rừng ở tiểu khu này để giao khoán lâu dài cho các hộ dân. UBND xã đã đề nghị Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song hỗ trợ nhưng đến nay vẫn chưa tiến hành được.
Còn ông Nguyễn Đình Dân - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Song lúc đầu quả quyết thời gian gần đây trên địa bàn xã Trường Xuân không xảy ra tình trạng phá rừng nào. Tuy nhiên, khi phóng viên đưa ra thông tin, hình ảnh rừng nguyên sinh tại tiểu khu 1676 bị tàn phá nghiêm trọng, với diện tích khoảng 2 ha thì ông Dân lại tỏ ra lúng túng. Sau khi gọi điện cho cấp dưới để hỏi sự việc thì mới biết là có vụ việc phá rừng xảy ra và cán bộ Hạt đang lập biên bản hiện trường. Cụ thể, trong ngày 19/8, diện tích rừng bị phá ở tiểu khu này là 1,67 ha. Trước đó, ngày 16/8, tại đây cũng xảy ra một vụ phá rừng với diện tích khoảng 0,4 ha.
Về vấn đề hỗ trợ UBND xã Trường Xuân trong việc đo đạc, thống kê lại diện tích rừng còn lại tại tiểu khu này, ông Dân cho hay, UBND xã Trường Xuân chỉ mới đề nghị bằng miệng chứ chưa có văn bản chính thức. Đối với một số thôn, bon khác trong xã, Hạt đã có văn bản hướng dẫn cụ thể việc giao khoán rừng cho các hộ dân. Còn rừng tại tiểu khu 1676, UBND xã Trường Xuân phải trình đơn của các hộ dân xin quản lý, bảo vệ rừng cùng với phương án giao khoán để Hạt Kiểm lâm có kế hoạch hỗ trợ.
“Chúng tôi mong muốn rừng được giao khoán về cho các hộ dân để được quản lý, bảo vệ tốt hơn, bởi những hộ dân sinh sống và canh tác ở gần khu vực có rừng nên họ sẽ tham gia quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn. Còn chính quyền địa phương không thể thực hiện tốt được việc quản lý, bảo vệ rừng”, ông Dân nói.
Thủ tướng Chính phủ đã ra lệnh đóng cửa rừng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Đắk Nông đã có chỉ đạo và những hành động quyết liệt để lập lại công tác quản lý bảo vệ rừng, thế những rừng nguyên sinh ở xã Trường Xuân vẫn bị tàn phá ngang nhiên trước sự bất lực của chính quyền địa phương và cơ quan chức năng. (Tin Tức 24/8) đầu trang(
Hội thảo khoa học "Giá trị và các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà", do Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tổ chức (trong khuôn khổ Sáng kiến Liên minh Hạ Long - Cát Bà do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ - USAID tài trợ), đã diễn ra ngày 24/8, tại TP Hải Phòng, ngày 24/8.
Hội thảo là cơ hội để xác định các giá trị nổi bật toàn cầu (OUV) của Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; cập nhật dữ liệu và thông tin đa dạng sinh học tập trung vào nhóm sinh vật ít được nghiên cứu; thảo luận các biện pháp quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học khu vực Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà.
Tháng 6/2017, theo đề nghị của thành phố Hải Phòng, một nhóm ba chuyên gia hàng đầu thế giới đã đến Cát Bà khảo sát và đánh giá hiện trạng của OUV, đặc biệt tập trung vào các giá trị địa chất và đa dạng sinh học tại khu vực này. Đây là một phần trong quá trình chuẩn bị hồ sơ đề cử mở rộng Vịnh Hạ Long bao gồm Quần đảo Cát Bà. Kết quả của khảo sát nói trên đã được trình bày tại hội thảo.
Khảo sát của các chuyên gia đã cho thấy sự phức tạp của quá trình biển tiến không ngừng trên thềm đá vôi từ lúc là vùng đất liền đến khi hoàn toàn trở thành vùng biển tại khu vực Quần đảo Cát Bà - Vịnh Hạ Long cần được công nhận là một giá trị nổi bật toàn cầu.
Tại hội thảo, các nhà khoa học trong nước cũng đã đưa ra những nghiên cứu về đa dạng sinh học trong các hang ngầm và hồ nước mặn tại Hạ Long - Cát Bà, điểm tạo nên sự đặc trưng của Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; trình bày về nhóm loài như: lưỡng cư, bò sát, dơi, và các loài ít được nghiên cứu khác cũng như các vấn đề quản lý... Đây sẽ là một cơ hội tốt để các đại biểu thảo luận và tái khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn các OUV tại Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà.
Với nguồn vốn hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Phát triển Hoa Kỳ (USAID), Sáng kiến Liên minh Hạ Long - Cát Bà được khởi xướng vào năm 2014 nhằm xây dựng cơ chế hợp tác đối tác giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng địa phương, từ đó thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, bảo vệ môi trường tại Vịnh Hạ Long và Quần đảo Cát Bà. Năm 2015, Liên minh thành lập Ban lãnh đạo với định hướng tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, giải quyết một số vấn đề môi trường liên quan đến các doanh nghiệp du thuyền, hỗ trợ kỹ thuật cho UNESCO trong công tác quản lý Vịnh Hạ Long cũng như đề xuất mở rộng Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long bao gồm cả Quần đảo Cát Bà.
Giai đoạn một của dự án, Chính phủ Hoa Kỳ đã cung cấp tài chính cho Liên minh Hạ Long - Cát Bà thông qua USAID với hai khoản tài trợ cho một tổ chức môi trường quốc tế là Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), và một tổ chức phi chính phủ của Việt Nam là Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD).
Trong giai đoạn hai, USAID sẽ tiếp tục cung cấp tài chính cho IUCN, trước hết, để tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vào Liên minh nhằm thúc đẩy các hoạt động bảo tồn và bảo vệ Di sản; hỗ trợ nhà nước ban hành các quy định chính sách để thúc đẩy các hoạt động này. Thứ hai, là hỗ trợ tái đề cử Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long mở rộng nhằm tăng thêm uy tín cho Việt Nam trên trường quốc tế, từ đó tác động đến công tác quản lý môi trường của Khu di sản mới được tái đề cử. (Tin Tức 24/8) đầu trang(
Để phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Long An đã và đang cố gắng bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các nguồn gene quý, điển hình là ở Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen và Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười.
Quá trình khai phá vùng Đồng Tháp Mười đã mang lại cho Long An những kết quả nổi bật về kinh tế - xã hội, nhưng một số diện tích đất ngập nước tự nhiên quan trọng có tính đa dạng sinh học cao, nhiều nguồn gene quý hiếm đã bị suy thoái và mất đi, nhất là các loài cây dược liệu.
Để phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Long An đã và đang cố gắng bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các nguồn gene quý, điển hình là ở Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen và Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười.
Trước đây, Long An có hàng ngàn hécta tràm gió tại nhiều khu vực nhưng diện tích cây này thu hẹp dần, có nơi mất hẳn. Hiện ngoài Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen rộng 5.030ha, chỉ duy nhất Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười tại Bình Phong Thạnh có 965ha tràm gió.
Ngoài thành tích trên, các nhiệm vụ bảo tồn từ năm 2011 đến nay tại Long An cũng đạt nhiều thành tựu như: Theo dõi, chăm sóc, tu bổ định kỳ những dược liệu đã có; nghiên cứu thực vật học và các đặc tính sinh thái để xây dựng bộ ảnh và tiêu bản; hoàn chỉnh các phương pháp nhân giống những cây thuốc đã sàng lọc và bảo tồn, xây dựng quy trình và vườn ươm giống; nghiên cứu thành phần hóa học của các cây thuốc đã sàng lọc; xây dựng bản đồ bảo tồn gene đầy đủ, rõ ràng và chính xác; thương mại hóa một số mẫu dược liệu và tinh dầu; sưu tầm và trồng mới các loại cây dược liệu như vối, nhàu...
Tại hội thảo "Bảo tồn đa dạng sinh học - nguồn gene cây dược liệu vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An" do Sở KH&CN Long An và Công ty CP nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười tổ chức ngày 8/8, nhiều nhà quản lý, nhà khoa học đã đưa ra ý kiến đóng góp thiết thực về công tác này. UBND tỉnh đã tiếp thu và chỉ đạo các sở, ngành tham mưu đề xuất, hoàn thiện kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gene trong tỉnh.
Đối với Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười, nhiều công việc sẽ được tập trung thực hiện trong thời gian tới như: Xây dựng và thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quy chế về bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học các loài và nguồn gene; sưu tầm, phục hồi các loài cây dược liệu bản địa và trồng thêm các loài mới có nguồn gene quý hiếm; phối hợp với các viện, trường thực hiện các đề tài nghiên cứu ứng dụng, đáp ứng yêu cầu chế biến thêm nhiều loại dược phẩm, tinh dầu, thực phẩm chức năng có giá trị cao; gắn bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp phát triển du lịch cảnh quan tự nhiên, du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh theo y học cổ truyền, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân và phát triển du lịch sinh thai. (Khoa Học & Phát Triển 24/8) đầu trang(
Từ năm 2012 đến nay, hàng chục héc-ta rừng phòng hộ đã được UBND tỉnh Phú Yên chuyển đổi mục đích sử dụng để phục vụ phát triển các dự án trái với quy định. Những sai phạm này mới đây đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) chỉ rõ trong kết luận thanh tra.
Ngày 14-7-2017, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT ban hành Kết luận thanh tra số 1083/KL-TCLN-KL về việc thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng và đất lâm nghiệp sang mục đích khác trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Theo kết luận, trên địa bàn tỉnh Phú Yên (giai đoạn từ ngày 1-1-2012 đến 31-3-2017) có 41 dự án đã thực hiện hoặc có nhu cầu phải thực hiện chuyển mục đích sử dụng rừng, với tổng diện tích đất cần thu hồi là 1.341,55ha. Hiện có 4 dự án chưa triển khai, 37 dự án đã và đang triển khai thu hồi, chuyển mục đích sử dụng 725ha rừng (rừng đặc dụng 53,34ha; rừng phòng hộ 201,57ha; rừng sản xuất 470,09ha).
Theo Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Quốc Trị, việc chấp hành quy định pháp luật đất đai về chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở Phú Yên sang thực hiện dự án tồn tại nhiều sai phạm. Tại thời điểm thanh tra, một số dự án chưa được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang thực hiện dự án.
Ví như, Dự án hầm đường bộ Đèo Cả chưa có quyết định thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, nhưng trên thực tế, nhà đầu tư đã chuyển hơn 37ha rừng đặc dụng. “Như vậy, UBND tỉnh Phú Yên chưa chấp hành chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 178/TTg-KTN ngày 28-1-2013”-ông Nguyễn Quốc Trị khẳng định.
Hoặc vụ việc khiến dư luận đang bức xúc và chưa được giải quyết dứt điểm là Dự án Khu du lịch cao cấp New City Việt Nam do Công ty TNHH New City Việt Nam triển khai tại xã An Phú, TP Tuy Hòa. Dự án này đã được UBND tỉnh Phú Yên cấp giấy chứng nhận đầu tư ngày 9-9-2014 với tổng diện tích 122,5ha, trong đó, đất rừng phòng hộ khoảng 115ha. Tuy nhiên, khi triển khai dự án, chủ đầu tư đã khai thác rừng phòng hộ phi lao ven biển (khoảng 2,7ha) để xây dựng sân golf khi chưa có văn bản chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
Theo Kết luận thanh tra số 1083/KL-TCLN-KL, trong 37 dự án đã triển khai trên địa bàn tỉnh Phú Yên thì có 28 dự án chưa chấp hành nghĩa vụ trồng rừng thay thế với tổng diện tích là hơn 171ha nhưng vẫn thực hiện thu hồi đất, cho thuê đất, giao đất và chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác. Các đơn vị không chấp hành quy định trồng rừng thay thế, nổi bật là Công ty Cổ phần Tập đoàn Hải Thạch có địa chỉ tại 44 Trần Hưng Đạo, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, không thực hiện hoàn thổ đúng thời hạn để trồng lại rừng trên diện tích sau khai thác khoáng sản. Công ty này cũng chậm trễ trồng rừng thay thế trên diện tích đã khai thác khoáng sản theo quyết định của UBND tỉnh. Mặc dù tình trạng nêu trên đã kéo dài, nhưng chưa được các cơ quan chức năng của tỉnh Phú Yên phát hiện và xử lý.
Liên quan tới việc phê duyệt dự án nhưng UBND tỉnh Phú Yên “bỏ qua” việc trồng rừng thay thế, qua thanh tra, Bộ NN&PTNT còn chỉ rõ sai phạm của dự án chăn nuôi bò thịt chất lượng cao của Công ty Cổ phần Chăn nuôi Thảo Nguyên Phú Yên. Kết luận nêu rõ: "Địa điểm thực hiện dự án “ôm trọn” vành đai bán ngập bảo vệ lòng hồ thủy điện Sông Hinh. Vì vậy, việc thực hiện dự án sẽ có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến bảo đảm an toàn, an ninh hồ thủy điện Sông Hinh, nhưng UBND tỉnh Phú Yên chưa rà soát, đánh giá hiệu quả thực hiện và báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bên cạnh đó, UBND tỉnh còn “phớt lờ” chỉ thị của Thủ tướng khi thẩm định, phê duyệt dự án cho công ty khi chưa có phương án trồng rừng thay thế được phê duyệt".
Trước những sai phạm trên, Bộ NN&PTNT đã có nhiều kiến nghị gửi UBND tỉnh Phú Yên, trong đó nêu rõ UBND tỉnh và Sở NN&PTNT Phú Yên phải tổ chức kiểm điểm làm rõ trách nhiệm cũng như xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân để xảy ra những sai phạm, đồng thời thực hiện nghiêm túc kết luận.
Để tìm hiểu rõ những sai phạm và việc khắc phục các khuyết điểm, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã liên hệ với ông Đào Mỹ, Chánh văn phòng UBND tỉnh Phú Yên. Tuy nhiên, ông Đào Mỹ lấy lý do bận họp và không hề có hồi âm lại. Phóng viên lại tiếp tục liên hệ với ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở NN&PTNT Phú Yên. Sau khi vừa giới thiệu là phóng viên thì ông Tùng vội vàng lấy lý do... đang họp rồi lập tức tắt máy.
Xác định phát triển kinh tế là trung tâm, nhưng không vì thế mà đánh đổi môi trường. Đó chính là quyết tâm và hành động của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Song, UBND tỉnh Phú Yên và các cơ quan chức năng lại thực hiện chưa nghiêm túc chủ trương này khi cho phép các công ty chặt phá hàng chục héc-ta rừng để phát triển các dự án kinh tế. (Quân Đội Nhân Dân 24/8) đầu trang(
Rừng Tây Nguyên- “Lá phổi xanh” đặc biệt quý giá xưa nay đã góp phần điều hòa nguồn nước, cân bằng sinh thái và môi trường không chỉ trên cao nguyên mà còn cho các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ và toàn bộ vùng hạ lưu sông Mê Kông. Thực trạng rừng Tây Nguyên bị tàn phá, nhanh chóng suy giảm, khiến việc tìm kiếm và triển khai các giải pháp quản lý rừng bền vững trở nên cấp bách hơn bao giờ hết!
Số liệu từ Tổng cục Thống kê và tổng hợp từ Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho thấy: Năm 1975 dân số Tây Nguyên khoảng 1,2 triệu người, 18 dân tộc. Tới nay, Tây Nguyên đã có đến 5,6 triệu người, gần như đủ cả 64 dân tộc anh em, là khu vực có tỉ lệ tăng dân số cơ học cao nhất cả nước.
Tuyệt đại đa số dân di cư tự do (DCTD) lên Tây Nguyên suốt nhiều thập kỷ qua là nông dân nghèo, cần đất canh tác. Vậy nên, riêng phần diện tích rừng tự nhiên biến thành nương rẫy lên con số khổng lồ. Đây là lý do cơ bản nhất, trong các nguyên nhân làm mất rừng tự nhiên. Cái vòng đói nghèo luẩn quẩn ở những vùng dân DCTD thiếu đất canh tác, ít học, con đông dẫn đến tiếp tục phá rừng.
Hồi âm qua email cho Tiền Phong về hiện trạng rừng trên phạm vi quốc gia của ông Nguyễn Quốc Trị- Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm, cho thấy: so với cả nước, rừng Tây Nguyên suy giảm nhanh hơn hẳn cả về số lượng lẫn chất lượng.
Theo quyết định công bố hiện trạng rừng đến ngày 31/12/2016 của Bộ NN&PTNT, ký ngày 16/5/2017, thì Tây Nguyên, có tổng diện tích có rừng 2.558.646 ha, giảm 3.170 ha so với năm 2015. Trong đó: Rừng tự nhiên 2.234.441 ha, chiếm 87,33%, giảm 11.473ha; Rừng trồng: 324.204 ha, chiếm 12,67%, tăng 8.304 ha so với năm 2015; Độ che phủ rừng đạt 46,01%, giảm 0,07% so với năm 2015.
Ai từng gắn bó với rừng đều hiểu: rừng tự nhiên vốn đa dạng, phong phú các giống loài động thực vật, có giá trị cân bằng sinh học, điều hòa khí hậu và môi trường hơn hẳn so với rừng trồng nghèo nàn đơn điệu. Vì rừng trồng có chu kỳ thu hoạch nhanh, các loại cây như tràm hoa vàng, keo tai tượng chỉ vài ba năm cắm xuống đã có thể chặt, bán.
Nhằm ngăn chặn tốc độ đẩy lùi rừng tự nhiên, gần 20 năm qua nhiều mô hình giao khoán quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) cho cộng đồng, doanh nghiệp, cá nhân… được triển khai trên khắp địa bàn Tây Nguyên. Nhưng thực tế phũ phàng ai cũng thấy, là đa số các mô hình QLBVR này đều lần lượt thất bại. Nếu không vì chính những người được giao QLBVR lại đi phá rừng để lấy đất canh tác hoặc bán đất, bán gỗ, thì cũng vì họ bất lực trước đủ loại thủ đoạn phá rừng tinh vi khác nhau.
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tổng diện tích rừng, đất rừng các tỉnh Tây Nguyên đã giao quản lý, sử dụng tới nay lên đến gần 2,9 triệu hécta, chiếm hơn 87,8% tổng diện tích đất quy hoạch cho lâm nghiệp. Trong đó, giao cho các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khoảng 1,2 triệu hécta (chiếm 40%), giao cho các tổ chức là 1,24 triệu hecta (chiếm 37,3%) và giao cho các UBND xã gần 368.000ha (chiếm 20,7%).
Riêng tại Đắk Lắk, tỉnh giao khoán gần 36.056 ha rừng, đất rừng cho 5.026 gia đình, cộng đồng quản lý và bảo vệ. Qua kiểm tra, thấy hơn 10.610 ha rừng trong số này đã bị phá, bị lấn chiếm trái phép.
Hỏi chuyện các hộ nhận khoán QLBVR nhưng lại để rừng bị phá nát, hầu như ai cũng nói khi họ được giao, thì nơi này đã là rừng nghèo sau khai thác cạn kiệt, không còn trữ lượng gỗ. Yêu cầu dân nghèo không có nguồn thu nhập ổn định phải ôm bụng đói để bảo vệ, chờ rừng tái sinh, là điều không thể !
Theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện nghèo, người nhận khoán rừng được hưởng lợi toàn bộ sản phẩm trên diện tích rừng được giao, ngoài ra còn được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp theo chính sách khuyến lâm, khuyến nông, hỗ trợ lương thực, cấp năm triệu đồng làm nhà ở, năm triệu đồng để khai hoang diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 400 nghìn đồng xây dựng bể nước sinh hoạt, cùng nhiều chính sách ưu đãi khác.
Lợi dụng chính sách này, không ít nơi trên Tây Nguyên đã giao hàng chục hécta rừng và đất rừng cho... cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện để họ thuê người khai hoang, bán gỗ, canh tác, sử dụng. Nhiều cán bộ nhận đất rừng rồi bán lại, thu lợi cá nhân.
Trên đoạn đường khoảng 9 km từ trạm bảo vệ rừng đầu tiên của xí nghiệp Lâm nghiệp Nghĩa Tín (trực thuộc Công ty TNHH Gia Nghĩa), càng đi sâu vào tiểu khu 1691, chúng tôi càng thấy nhiều cây gỗ mới bị cưa xẻ ngổn ngang. Còn tại tiểu khu 1684, tự bao giờ rừng đã bị cạo gọt nham nhở để trồng bơ, tiêu, cà phê… Đi càng sâu vào lâm phần QLBVR của xí nghiệp, chúng tôi gặp càng nhiều hộ dân làm rẫy trên đất nhận khoán trồng rừng.
Chị Phạm Thị Hường từ huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng mới đến lập nghiệp tại xã Quảng Thành từ năm 2015. Chưa có hộ khẩu tại đây, gia đình chị Hường vẫn được xí nghiệp cấp cho hơn 1 ha đất rừng với giá nhận khoán 2 triệu đồng để trồng rừng theo Chương trình 135. Thực tế, chị đã trồng muồng xen tiêu và cà phê. Những vạt rừng cạnh rẫy nhà chị Hường đã bị chặt phá để trồng nhiều loại cây khác.
Theo Thanh tra tỉnh Đắk Nông, việc giao khoán trồng rừng theo Nghị định 135 ở Cty TNHH Gia Nghĩa chưa đúng đối tượng theo quy định, chưa ưu tiên giải quyết đất cho các hộ là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Trong 90 hộ nhận khoán, có 21 hộ không có hộ khẩu thường trú như đã khai nhưng vẫn được giao khoán hơn 83 ha đất rừng. Thậm chí, công ty còn giao khoán hơn 204 ha đất có nguồn gốc từ phá rừng trái phép cho 67 hộ dân khác, dù chưa xử lý xong, chưa được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Theo chủ trương của Chính phủ, từ năm 2009- 2020, Tây Nguyên trồng mới 100.000 ha cao su. Chạy theo mối lợi trước mắt, nhiều địa phương khoanh cả rừng giàu vào diện “rừng nghèo” để được phép chuyển sang trồng cao su. Chỉ đến cuối năm 2016, diện tích cao su toàn vùng đã lên tới hơn 180.000 ha.
Năm 2011, một chủ doanh nghiệp (DN) quê ở Tây Ninh tiết lộ với Tiền Phong chuyện nhờ quan hệ tốt, ông được cấp tới gần 2.000 ha rừng và đất rừng tại huyện Ea H’Leo (tỉnh Đắk Lắk) để thực hiện dự án trồng cao su. Nhằm lách khỏi quy định chuyển đổi mục đích sử dụng quá 500 ha rừng phải trình qua Quốc hội theo Nghị quyết 49/2010, có sếp đã bày ông cách huy động cả con cháu, dâu rể trong gia đình lập 4 công ty khác nhau để triển khai dự án.
Những chiêu bài lách luật tương tự được triệt để vận dụng trong giai đoạn này làm bốc hơi nhiều vạn hecta rừng tự nhiên Tây Nguyên, để lại phía sau bạt ngàn rừng cao su non mới trồng.
Một thực trạng đau lòng khi nhiều cánh rừng khộp rất quý giá về đa dạng sinh học lại bị hai tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cho phép DN ủi phá để trồng cao su. Kết quả, những mảng rừng một mùa rụng lá, đổi màu, tạo phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp bị xóa sổ. Còn cây cao su trồng đi, dặm lại vẫn chẳng lớn nổi vì không phù hợp thổ nhưỡng nơi này. Rừng hết, vốn DN cũng teo!
Mười năm qua, Tây Nguyên đã chuyển đổi hơn 80.000 ha đất rừng các loại để xây dựng khoảng 50 công trình thủy điện. Nhiều DN dù không đủ năng lực tài chính, kỹ thuật nhưng vẫn trình dự án thủy điện nhằm mục đích khai thác khoáng sản, lâm sản. Một số dự án vận hành thành công thì không chịu trồng phục nguyên quỹ rừng thay thế hoặc chây ì chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Sau khi có chủ trương của Chính phủ về quy hoạch phát triển cao su tại Tây Nguyên vào năm 2009, các tỉnh Tây Nguyên đã cấp phép đầu tư cho 700 dự án trồng rừng, cải tạo, trồng cao su…trên đất lâm nghiệp với diện tích hơn 215.720 ha. Một tỉ lệ lớn rừng tự nhiên vì thế cũng đã không còn. Một số cá nhân và “nhóm lợi ích” giàu lên, còn thiệt hại thì cộng đồng xã hội cùng chịu…
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Kiêm Cục trưởng Cục Kiểm lâm Nguyễn Quốc Trị nhận định: Hiện tượng lượng mưa thiếu hụt từ 30-50% so với trung bình nhiều năm; hàng trăm hồ chứa ở các tỉnh Tây Nguyên chỉ còn dưới 30-40% so với dung tích thiết kế; mực nước ngầm giảm sâu từ 3-4m khiến hơn 100.000 hộ dân thiếu nước, diện tích cây trồng bị hạn trên 170.000 ha trong năm 2016, có nguyên nhân từ rừng Tây Nguyên đã suy giảm cả về diện tích và chất lượng. (Tiền Phong 25/8) đầu trang(
Như đã thông tin, lâm tặc lộng hành, manh động tàn phá rừng, vận chuyển gỗ trái phép như thách đố chính quyền, dư luận bức xúc. Trong quá trình điều tra, phóng viên còn phát hiện một loại đối tượng tham gia phá rừng, nhưng không phải để lấy gỗ mà nhằm “cạo trọc” rừng, rồi san ủi, phân lô lấy đất sản xuất nông nghiệp để sản xuất hoặc bán.
Một ngày trung tuần tháng 7, nhóm phóng viên Thương hiệu & Công luận có dịp tiếp cận khu vực rừng thông tại nơi giáp ranh giữa địa phận phường 5 và phường 7, phường 11, xã Xuân Thọ... TP. Đà Lạt, chúng tôi phát hiện nhiều gốc thông hàng chục năm tuổi bị đầu độc bằng hóa chất khô héo đến chết; nhiều cây bị ken gốc, nhiều cây bị đốn hạ còn trơ gốc...
Quanh các khu vực trên, nhiều quả đồi thuộc đất rừng thông vừa bị “tùng xẻo”. Đất rừng thông được đào múc, san ủi tới đâu, nhà kính, nhà lưới mọc lên tới đó.
Tình trạng “gặm nhấm” rừng thông còn xảy ra ngay tại nhiều khu vực gần trung tâm TP. Đà Lạt. Cụ thể, trên đường Khe Sanh, lối vào khu chung cư Đỏ, thuộc phường 10 (TP. Đà Lạt), một số gia đình đã lấn chiếm bằng cách trồng bắp, chăn nuôi trên rừng thông. Cùng với đó là những cây thông lớn hàng chục năm tuổi, cao tới 20 m chết khô một cách bất thường. Thậm chí, đất rừng tại đây đã được “phân lô”, xây bờ rào bằng gạch hoặc giăng dưới thép gai để “xí phần”.
Trao đổi với phóng viên, ông Võ Thanh Sơn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Đà Lạt cho biết, mặc dù đơn vị đã hết sức nỗ lực trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nhưng tình trạng “gặm nhấm” rừng thông vẫn xảy ra. Đây là vấn đề nan giải nhất trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại Đà Lạt hiện nay.
Các đối tượng không hủy hoại rừng ồ ạt, mà tiến hàng đầu độc với số lượng lẻ tẻ, mấy tháng sau, cây thông trúng độc mới chết. Mục đích không phải là lấy gỗ, mà lấn chiếm đất rừng để canh tác nông nghiệp hoặc xây dựng nhà tạm.
Ngày 26/6, phóng viên có mặt tại Tiểu khu 543 thuộc địa bàn Thôn K’Long, xã Đạ Pal. Trước mắt chúng tôi, hàng trăm cây gỗ rừng không kể lớn nhỏ, đường kính từ 10 - 80 cm, nằm la liệt trên 2 quả đồi. Con đường mòn độc đạo từ đường lớn rẽ vào Tiểu khu 543 bị các đối tượng lâm tặc bít chặn bởi chính cây rừng để dễ bề tẩu thoát khi bị lực lượng chức năng phát hiện, truy đuổi.
Nhiều người dân cho biết, tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất làm nông nghiệp nơi đây diễn ra thường xuyên như "cơm bữa". Trước đây, chỉ dừng lại ở mức độ lẻ tẻ như cưa gỗ làm chòi canh vườn hoặc ken cây lấn chiếm đất nông nghiệp trái phép..., chứ không triệt hạ rừng với số lượng lớn như thế này.
Nguyên nhân do có tin đồn trục đường cao tốc Long Thành - Đà Lạt sẽ cắt ngang qua đây kèm theo nhiều dự án của các doanh nghiệp đầu tư đan xen nên đã mở rất nhiều đường sá xuyên rừng. Điều đó, kéo theo giá đất khu vực này sốt lên hơn bao giờ hết, tình trạng phá rừng diễn ra rầm rộ, công khai.
Con đường mòn đi sâu vào rừng, mùa mưa trơn trượt, chúng tôi hết sức vất vả mới lên được quả đồi thứ 2, khoảnh 8 thuộc Tiểu khu 543. Khi thấy chúng tôi chụp lại cảnh tàn phá rừng, người dẫn đường dặn dò: "Các anh chụp hình, đừng để anh em tụi tôi dính vào, không khéo lâm tặc sẽ gây khó dễ. Ở đây, có người bị đánh phải nhập viện vì bị cho rằng đã chỉ điểm cho các nhà báo đến tác nghiệp".
Điều đặc biệt, hàng trăm cây gỗ nằm la liệt, nhưng tất cả vẫn còn nguyên vẹn, lâm tặc để cây chết khô, chứ không xẻ thành phách lấy gỗ tuồn đi tiêu thụ như những cánh rừng khác.
"Chủ đích của lâm tặc triệt hạ rừng Tiểu khu 543 là để lấy đất sản xuất, bởi nơi đây không còn gỗ quý thuộc các nhóm 1, 2, 3... Nếu lực lượng chức năng không phát hiện, lâu ngày sẽ thành đất trống thì mặc nhiên biến thành đất nông nghiệp và dần dần cây trồng như cà phê, hồ tiêu, điều sẽ mọc lên...", một người dân cho biết.
Vụ việc này, được Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Lâm Đồng đã chính thức khởi tố vụ án hình sự để điều tra, làm rõ vụ chặt phá 7 ha rừng tự nhiên, gây thiệt hại khoảng 1.400 cây gỗ với hơn 440 m3 các loại, do Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Đạ Tẻh quản lý bị chặt phá. (Thương Hiệu & Công Luận 24/8) đầu trang(
Nếu ai có thú chiêm ngưỡng những cây cổ thụ đẹp của Việt Nam mà chưa đến cây đa ở Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà (TP. Đà Nẵng) thì là điều khiếm khuyết. Đến rồi, bạn sẽ tận mắt thấy hết vẻ đẹp của cây. Cây đa cổ thụ, vóc dáng cao lớn, sừng sững uy nghiêm. Cây có tấm thân lực lưỡng trăm cành hiên ngang và tán lá quanh năm xanh ngát là những gì mà du khách vẫn tự hào khi nói về cây đa đã có hàng trăm năm tuổi này nhằm bảo vệ môi trường sinh thái nơi đây.
Dù đã nhiều lần hay chỉ là lần đầu tiên bước chân vào Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà, du khách đều cảm nhận được cái đẹp đơn sơ thuần khiết của cây đa. Trong không gian êm ả trong trẻo chỉ có tiếng chim lắt lay rất thanh từ vòm lá và tiếng xào xạc rất nhẹ của chính bước chân mình trên phiến lá giòn khô, chúng ta sẽ thấy tâm hồn lâng lâng thanh thản, những muộn phiền của cuộc sống sôi động ồn ào dường như tan biến. Hãy ngắm một cành đa đang vươn mình trong nắng hoàng hôn dìu dịu… khách sẽ cảm nhận cái đẹp không lời, cái duyên rất riêng của cây đa. Bởi thế, giá trị tinh thần của cây đa thật lớn.
Với tiềm năng đa dạng sinh học và giá trị môi trường rừng đã được khẳng định, cây đa Sơn Trà là nơi để bạn trải nghiệm du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng, đưa con người lắng đọng trong không gian yên bình vốn cách biệt phố thị xa hoa, náo nhiệt khiến con người cảm thấy tâm hồn thật thư thái, quên hết mệt nhọc sau những căng thẳng của đời thường, nhẩn nha chiêm ngắm cỏ cây, hít thở không khí đặc trưng của rừng Việt Nam.
Cây đa Sơn Trà ngày nay đã trở thành cây di sản, đây không chỉ là niềm tự hào của người dân thành phố Đà Nẵng mà còn là niềm tự hào cả nước. Để cây đa Sơn Trà trở thành điểm đến du lịch thì công tác tuyên truyền phải thường xuyên sâu, rộng đến nhiều đối tượng khác nhau trong cộng đồng bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm tạo ra một sức lan tỏa lớn trong quần chúng nhân dân về nâng cao nhận thức của việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cây di sản. Đồng thời, xây dựng các sản phẩm du lịch cho các loại hình du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa cộng đồng, du lịch thám hiểm… được quảng bá rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. (Khoa Học Phổ Thông 24/8) đầu trang(
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong cuộc chiến chống nạn săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã (ĐVHD). Nhiều nỗ lực đã được triển khai nhằm khắc phục những lỗ hổng pháp lý, nâng cao khung hình phạt để bảo vệ những loài nguy cấp, quý, hiếm. Tuy nhiên, tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép vẫn diễn biến phức tạp.
Theo báo cáo của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV), từ năm 2010 đến cuối năm 2016, đơn vị này đã ghi nhận 36 vụ buôn bán, vận chuyển hổ và xương hổ. Trong đó, 28 vụ đã bị khởi tố và đưa ra xét xử, nhưng chỉ có 7 vụ có mức án phạt tù giam. Ngoài ra, ENV cũng đã ghi nhận 67 vụ buôn bán, vận chuyển ngà voi hoặc sừng tê giác trong giai đoạn này. Tuy nhiên, cũng chỉ 10 vụ có hình phạt tù giam trong tổng số 23 vụ án về ngà voi và sừng tê giác được đưa ra xét xử. Tình trạng này lại diễn ra trầm trọng hơn trong những tháng đầu năm 2017.
Cụ thể, ngày 9/1/2017, tại An Giang, Hạt Kiểm lâm huyện Tri Tôn đã bắt giữ một đối tượng vận chuyển trái phép 26 kg rắn, trong đó bao gồm 3 kg rắn hổ mang thường (Naja atra), trị giá 5 triệu đồng. Đối tượng khai nhận đã mua rắn từ một người bán rong. Đối tượng bị xử phạt 7,5 triệu đồng và các cá thể rắn đã được thả về Vườn quốc gia U Minh Thượng.
Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 6/4/2017, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Côn Đảo và Công an huyện Côn Đảo đã bắt giữ một đối tượng vận chuyển trái phép 30 quả trứng vích (Chelonia mydas). Từ lời khai của đối tượng, cả hai đối tượng cung cấp trứng cũng đã bị bắt. Ba đối tượng hiện đã bị khởi tố, vụ việc đang trong quá trình điều tra.
Còn tại Bắc Giang, ngày 28/3/2017, lực lượng cảnh sát giao thông tỉnh Bắc Giang đã kiểm tra một chiếc xe tải trên Quốc lộ 1A đoạn đi qua huyện Lạng Giang và phát hiện trên xe có 3 kg rắn ráo (Ptyas korros), 5 cá thể rùa đất lớn (Heosemys grandis), 2 cá thể rùa núi viền (Manouria impressa), 4 cá thể rùa đầu to (Platysternon megacephalum), và 15 cá thể rùa cổ sọc (Mauremys sinensis). Đối tượng vận chuyển đã bị xử phạt 22 triệu đồng và các cá thể ĐVHD được chuyển giao về Trung tâm Bảo tồn Rùa thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương...
Đặc biệt, các vụ việc nuôi nhốt khỉ làm cảnh vẫn tiếp tục là một vấn đề nan giải. Trong bốn tháng đầu năm 2017, ENV đã tiếp nhận 68 vụ việc nuôi nhốt khỉ, trong đó các cơ quan chức năng đã tịch thu thành công 42 cá thể khỉ để chuyển giao đến trung tâm cứu hộ hoặc thả về tự nhiên.
Ngoài ra, một vụ việc được đánh giá là nghiêm trọng trong hoạt động vận chuyển, buôn bán trái phép ĐVHD vừa được các cơ quan bảo vệ pháp luật xử lý nghiêm. Đó là vụ đối tượng Nguyễn Mậu Chiến cùng đồng bọn vận chuyển, buôn bán sừng tê giác và một số sản phẩm từ ĐVHD. Ngày 27/4/2017, Phòng 2, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về buôn lậu (C74), phối hợp cùng Công an quận Hoàn Kiếm và Công an quận Hà Đông, đã bắt giữ Nguyễn Mậu Chiến. Sau khi bắt quả tang đối tượng trong đường dây của Chiến vận chuyển trái phép 33 kg sừng tê giác tại Ga Hà Nội, các cơ quan chức năng đã khám xét khẩn cấp nơi ở của Chiến tại Hà Nội và tịch thu thêm ngà voi, sừng tê giác, 2 cá thể hổ con đông lạnh, một số sản phẩm chế tác từ ngà voi và nhiều sản phẩm khác từ ĐVHD.
Đánh giá về những vụ án buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD, Phó Giám đốc ENV Bùi Thị Hà khẳng định, thời gian gần đây, nhiều vụ án được khám phá là một bước đột phá quan trọng trong nỗ lực điều tra triệt phá các mạng lưới tội phạm lớn buôn bán, vận chuyển trái phép ngà voi, sừng tê giác và các loài ĐVHD quý, hiếm khác theo tinh thần Chỉ thị số 28/CT-TTg ngày 12/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ. Qua đó cũng cho thấy, loại tội phạm này ngày càng tinh vi, xảo quyệt, cần thiết áp dụng các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, quyết liệt hơn nữa trong thời gian tới.
Cũng theo ENV, mặc dù đơn vị này đã thường xuyên triển khai những hoạt động nâng cao nhận thức và phối hợp với các cơ quan chức năng để xử lý vi phạm. Tuy nhiên, tình trạng này vẫn chưa được giải quyết triệt để.
ENV cho rằng cần phải tăng cường hơn nữa các hoạt động giáo dục cộng đồng về vấn đề này. Cùng với đó, các cơ quan chức năng phải giữ vững quan điểm “không khoan nhượng” đối với các hành vi nuôi nhốt ĐVHD làm cảnh. Thay đổi nhận thức không thể thành công một sớm một chiều; việc đó đòi hỏi quyết tâm cao và bền bỉ của các cơ quan chức năng cũng như cộng đồng trong nỗ lực nhằm giảm thiểu tình trạng tiêu thụ ĐVHD dưới mọi hình thức.
Nhận định về nguyên nhân tình trạng tội phạm mua bán trái phép ĐVHD gia tăng, các chuyên gia trong nước và quốc tế cho rằng, việc buôn bán ĐVHD đã đem lại lợi nhuận khổng lồ, ước tính chỉ sau buôn bán trái phép chất ma túy. Vì thế, việc buôn bán, vận chuyển trái phép ĐVHD vẫn là vấn nạn không của riêng quốc gia nào, nhất là những nước có nguồn sinh học đa dạng như ở Việt Nam. Các chuyên gia cũng cho rằng, khi đời sống của người dân ngày một nâng cao, nhu cầu nuôi thú cảnh cũng ngày càng phát triển. Do còn thiếu hiểu biết, nhiều người thường mua ĐVHD, trong đó có các loài khỉ về làm cảnh…
Bởi vậy, để ngăn chặn các tội phạm về ĐVHD, các cơ quan chức năng cần nỗ lực điều tra và truy bắt các đối tượng cầm đầu những đường dây buôn bán ĐVHD. Nếu các cơ quan chức năng chỉ tập trung bắt giữ các đối tượng được thuê vận chuyển, các đối tượng trung gian hoặc buôn bán nhỏ (cấp thấp), những đường dây tội phạm này vẫn sẽ tiếp tục hoạt động và phát triển. Ví dụ, việc phát hiện và thu giữ một khối lượng lớn ngà voi hoặc vẩy tê tê có thể gây ra một chút thiệt hại về tài chính cho các đường dây buôn bán ĐVHD.
Thế nhưng, chỉ khi các cơ quan chức năng tiếp tục quyết liệt điều tra, bắt giữ và xử lý nghiêm kẻ đứng đằng sau những vụ buôn bán, vận chuyển ĐVHD bất hợp pháp thì mới hy vọng triệt tiêu hoàn toàn các đường dây tội phạm và giảm thiểu tình trạng buôn bán ĐVHD trái phép tại Việt Nam. (Đảng Cộng Sản VN 24/8) đầu trang(
22/8, tại Hội thảo tham vấn dự thảo văn kiện cho dự án “Lồng ghép quản lý tài nguyên thiên nhiên và các mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản lý các khu dự trữ sinh quyển”, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Nguyễn Thế Đồng cho biết, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chọn các khu dự trữ sinh quyển để thử nghiệm những công cụ, giải pháp về hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời thí điểm các chính sách này cũng như phát triển các mô hình sinh kế gắn với bảo tồn tại 3 khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, Cù Lao Chàm - Hội An và Tây Nghệ An.
Việt Nam đã có 9 khu dự trữ sinh quyển được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc công nhận. Đây là cơ hội thuận lợi để phát huy các giá trị vốn có, tăng cường hiệu quả quản lý tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học ở các địa phương. Tuy vậy, Việt Nam chưa vận dụng được cơ hội này. Nguyên nhân chính do hệ thống pháp luật về đa dạng sinh học còn thiếu tính nhất quán, hệ thống hạn chế hiệu quả bảo tồn như sự chồng chéo trong quy định pháp luật, phân công, phối hợp trong bảo tồn đa dạng sinh học; chưa xác định được vị trí và chế độ quản lý khu dự trữ sinh quyển trong hệ thống pháp luật theo hướng tiếp cận cảnh quan và liên ngành. Khung chính sách chưa hỗ trợ cho việc quản lý các khu dự trữ sinh quyển, giúp kết hợp giữa bảo tồn và phát triển, thực hiện quản lý tổng thể ở cấp độ cảnh quan; thiếu các công cụ, phương thức để gắn kết giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống của người dân.
Theo thạc sĩ Trần Huyền Trang, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Dự án tập trung nghiên cứu, giải quyết các vấn đề ở 2 cấp độ quốc gia và khu dự trữ sinh quyển. Các hoạt động ở cấp quốc gia chủ yếu là xây dựng, hoàn thiện chính sách, tạo môi trường pháp lý nhằm quản lý tổng hợp sinh thái tại các khu dự trữ sinh quyển cũng như lồng ghép quản lý tài nguyên thiên nhiên và các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản lý các khu dự trữ sinh quyển ở Việt Nam; nâng cao năng lực để thực thi chính sách. Ở khu dự trữ sinh quyển, hoạt động cụ thể nhằm thí điểm các chính sách xây dựng ở cấp độ quốc gia và các hoạt động cụ thể nhằm sử dụng bền vững tài nguyên, quản lý khu bảo tồn và các phương thức phát triển thân thiện với đa dạng sinh học.
Ông Harald Leummens, Cố vấn kỹ thuật cao cấp của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam đang thiếu nguồn lực, chưa đồng bộ trong công tác quản lý các khu dự trữ sinh quyển, chưa có sự phối hợp giữa cấp quốc gia và địa phương, khai thác quá mức dẫn đến suy thoái đa dạng sinh học. Dự án sẽ xây dựng cơ chế phối hợp để đảm bảo các hoạt động của các cơ quan liên quan, các hướng dẫn để hỗ trợ, tăng cường năng lực cho các khu dự trữ sinh quyển, cải thiện về mặt thông tin để thúc đẩy các hoạt động tiếp cận khu dự trữ sinh quyển…
Các chuyên gia trong nước khuyến nghị cần đánh giá tính khả thi của dự án về thời gian, nguồn lực, tổ chức thực hiện, tránh nhiều hoạt động dàn trải, làm rõ quy mô của các hoạt động trên hiện trường của các điểm trình diễn, lưu ý sự cam kết tham gia của các bên liên quan ngay từ khi thiết kế dự án…
Giáo sư Trương Quang Học, Đại học Quốc gia Hà Nội nhấn mạnh, việc lồng ghép bảo tồn để phát triển kinh tế sinh thái trong các khu dự trữ sinh quyển, lồng ghép bảo tồn vào kế hoạch phát triển địa phương, ngành, các dự án khác và quan trọng phải xây dựng hệ thống đánh giá, giám sát hiệu quả thực hiện. (Thanh Tra VN 24/8) đầu trang(
Để phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Long An đã và đang cố gắng bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các nguồn gene quý, điển hình là ở Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen và Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười.
Quá trình khai phá vùng Đồng Tháp Mười đã mang lại cho Long An những kết quả nổi bật về kinh tế - xã hội, nhưng một số diện tích đất ngập nước tự nhiên quan trọng có tính đa dạng sinh học cao, nhiều nguồn gene quý hiếm đã bị suy thoái và mất đi, nhất là các loài cây dược liệu.
Để phát triển bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Long An đã và đang cố gắng bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học và các nguồn gene quý, điển hình là ở Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen và Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười.
Trước đây, Long An có hàng ngàn hécta tràm gió tại nhiều khu vực nhưng diện tích cây này thu hẹp dần, có nơi mất hẳn. Hiện ngoài Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen rộng 5.030ha, chỉ duy nhất Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười tại Bình Phong Thạnh có 965ha tràm gió.
Ngoài thành tích trên, các nhiệm vụ bảo tồn từ năm 2011 đến nay tại Long An cũng đạt nhiều thành tựu như: Theo dõi, chăm sóc, tu bổ định kỳ những dược liệu đã có; nghiên cứu thực vật học và các đặc tính sinh thái để xây dựng bộ ảnh và tiêu bản; hoàn chỉnh các phương pháp nhân giống những cây thuốc đã sàng lọc và bảo tồn, xây dựng quy trình và vườn ươm giống; nghiên cứu thành phần hóa học của các cây thuốc đã sàng lọc; xây dựng bản đồ bảo tồn gene đầy đủ, rõ ràng và chính xác; thương mại hóa một số mẫu dược liệu và tinh dầu; sưu tầm và trồng mới các loại cây dược liệu như vối, nhàu...
Tại hội thảo "Bảo tồn đa dạng sinh học - nguồn gene cây dược liệu vùng Đồng Tháp Mười, tỉnh Long An" do Sở KH&CN Long An và Công ty CP nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười tổ chức ngày 8/8, nhiều nhà quản lý, nhà khoa học đã đưa ra ý kiến đóng góp thiết thực về công tác này. UBND tỉnh đã tiếp thu và chỉ đạo các sở, ngành tham mưu đề xuất, hoàn thiện kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gene trong tỉnh.
Đối với Khu bảo tồn dược liệu Đồng Tháp Mười, nhiều công việc sẽ được tập trung thực hiện trong thời gian tới như: Xây dựng và thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ, quy chế về bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học các loài và nguồn gene; sưu tầm, phục hồi các loài cây dược liệu bản địa và trồng thêm các loài mới có nguồn gene quý hiếm; phối hợp với các viện, trường thực hiện các đề tài nghiên cứu ứng dụng, đáp ứng yêu cầu chế biến thêm nhiều loại dược phẩm, tinh dầu, thực phẩm chức năng có giá trị cao; gắn bảo tồn với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp phát triển du lịch cảnh quan tự nhiên, du lịch nghỉ dưỡng và chữa bệnh theo y học cổ truyền, góp phần chăm sóc sức khỏe nhân dân và phát triển du lịch sinh thai. (Khoa Học & Phát Triển 24/8) đầu trang(
Bảo vệ 'lá phổi xanh' của thành phố
Đóng quân ở rừng ngập mặn Cần Giờ, ngoài nhiệm vụ chuyên môn, cán bộ chiến sĩ hải đội 2 - Bộ đội biên phòng TP.HCM cùng Ban quản lý rừng phòng hộ Cần Giờ ngày đêm bảo vệ “lá phổi xanh” cho TP.HCM.
Những ngày này, Sài Gòn đang mùa mưa và cũng là giai đoạn vất vả nhất đối với những người lính giữ rừng ở hải đội 2.
Ngày ngày trên chiếc xuồng máy nhỏ, cán bộ, chiến sĩ biên phòng len lỏi qua những cánh rừng ngập mặn Cần Giờ (được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới) mênh mông với các nhánh sông, kênh rạch chằng chịt để tuần tra bảo vệ rừng. Khi con xuồng không thể vào sâu được nữa, họ lội bùn mà đi.
“Xuồng không vô được thì anh em xắn quần lội bộ vô kiểm tra. Bùn sình ngập trên đầu gối, có chỗ gần thắt lưng mà còn dính cứng ngắc rút chân lên không nổi, muốn lăn luôn” - thiếu tá Nguyễn Thành Tâm, người đã hơn 10 năm gắn bó với rừng ngập mặn Cần Giờ, cho biết.
Thiếu tá Tâm hiện là thuyền trưởng của tàu BP 14-04-02 thuộc hải đội 2. Anh cho biết nhiệm vụ chính của người lính biên phòng hải đội là tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên biển, kiểm tra các loại phương tiện ra vào khu vực biên giới. Cùng đó, một nhiệm vụ không kém phần quan trọng nữa là tuần tra bảo vệ gần 200ha rừng mà đơn vị nhận khoán.
Các kíp tàu luân phiên nhau làm nhiệm vụ. Cùng đó, đơn vị có một tổ bảo vệ rừng gồm cán bộ chiến sĩ biên phòng túc trực 24/24 giờ. “Anh em cắm chốt trong rừng. Hằng ngày dùng xuồng đi tuần tra bảo vệ rừng, tối về nghỉ ngơi ngay tại chốt trong rừng. Tùy nhiệm vụ mà mỗi chuyến anh em ở hẳn trong rừng từ 3-6 tháng mới về lại đơn vị. Lúc ấy tổ khác lại lên thay” - thiếu tá Nguyễn Thành Tâm cho biết.
Những người lính nói ngoài việc xa nhà, xa gia đình ròng rã mấy tháng trời thì cuộc sống cũng nhiều khó khăn hơn. “Ở trên rừng thì cuộc sống vất vả hơn rồi, nước nôi thiếu thốn. Mùa mưa cực hơn vì đường đất, đi vào rừng là lội bì bõm. Anh em đi chợ ăn uống cũng khó khăn hơn, phải chạy xuồng vào trong khu dân cư để mua nên thường 2-3 ngày mới đi chợ một lần” - một người lính giữ rừng kể lại.
Nói về tầm quan trọng của rừng ngập mặn Cần Giờ, hải đội trưởng hải đội 2, thượng tá Nguyễn Văn Ngọc với hơn 30 năm gắn với nghiệp quân ngũ, cho biết rừng ngập mặn Cần Giờ chính là lá phổi, đồng thời là quả thận có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp thượng nguồn sông Đồng Nai, sông Sài Gòn đổ ra biển.
“Chặt một cây đước bắt được là phạt nặng lắm, phải giam giữ luôn vì đây là rừng phòng hộ có vai trò rất quan trọng trong điều hòa khí hậu khi Bà Rịa - Vũng Tàu, TP.HCM, Tiền Giang, Long An, Đồng Nai đều có các nhà máy” - thượng tá Ngọc nói. Và đặc biệt, đây là khu dự trữ sinh quyển của thế giới nên việc bảo vệ, bảo tồn rừng ngập mặn Cần Giờ còn là uy tín của Việt Nam với thế giới.
“Có khi nhận lệnh lúc 24h anh em vẫn đi. Đi bất chợt, không kể giờ nào, cứ nghi vấn là đi. Tổ đi tuần, kiểm tra tùy theo nhiệm vụ, có khi đi qua đêm” - thiếu tá Nguyễn Thành Tâm nhớ lại. Anh cũng cho biết song song với tuần tra, kiểm tra, kiểm soát bảo vệ rừng thì phải tuyên truyền cho người dân nắm luật, hiểu luật, cụ thể là không chặt phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản, không đào bắt địa sâm gây sạt lở làm mất cây, mất rừng.
Theo thượng tá Nguyễn Văn Ngọc, tình trạng khai thác cát trái phép thời gian gần đây chính là nguyên nhân gây sạt lở, mất rừng.
“Cát tặc rất manh động, sẵn sàng chống trả khi bị bắt giữ nên cán bộ, chiến sĩ biên phòng cũng như các lực lượng chức năng rất vất vả. Cát tặc ở đây thường lợi dụng thời điểm khó khăn nhất khi anh em không thể đi tuần tra để khai thác cát. Anh em phải đánh lạc hướng bằng cách đi đường khác và nằm phục lại 2-3 ngày rồi mới quay ra bắt được” - thượng tá Ngọc cho biết.
Ngoài bảo vệ rừng, cán bộ, chiến sĩ hải đội 2 còn đứng lớp tập huấn, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn cho những người nhận khoán ở rừng phòng hộ để có kiến thức bảo vệ rừng, các lớp phòng chống đuối nước, cứu hộ cứu nạn. (Tuổi Trẻ 24/8) đầu trang(
Nhiều diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng trồng, rừng ngập mặn trên khắp địa bàn Hà Tĩnh đang có nguy cơ suy kiệt vì... thiếu vốn. Trong đó, do không có kinh phí để hợp đồng khoán cho người dân địa phương chăm sóc, 850 ha rừng phòng hộ đã trồng ở nhiều địa phương trên toàn tỉnh hiện đang bị thực bì, dây leo, cây bụi... lấn át, phủ kín, có nguy cơ mất rừng.
Mặc cho tiết trời tháng 8 “đỏng đảnh” chợt mưa, chợt nắng, tôi vẫn cố bám 2 cán bộ Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kẻ Gỗ đi “tìm” diện tích rừng phòng hộ đã trồng của đơn vị. Ngược núi mải miết đi, cuối cùng tôi cũng tới được lô A7, khoảnh 3, tiểu khu 299A (thuộc địa phận xã Thạch Điền, Thạch Hà). Quá ngạc nhiên vì chẳng thấy bất kỳ cây lim xanh (cây bản địa) nào trên 10 ha rừng phòng hộ đã trồng như anh Nguyễn Tiến Dũng - cán bộ Ban Quản lý KBTTN đi cùng nói với tôi trước đó. Trước mặt là cây bụi, sim, mua, tiến vọt... điệp trùng.
Anh Nguyễn Đình Chiến - cán bộ bảo vệ rừng Trạm số 5, đi cùng, giải thích: “Anh không thấy cũng phải vì hiện diện tích rừng trồng phòng hộ ở đây đã bị cây dại chèn lấn, phủ kín, có nguy cơ chết nếu không được phát dọn dây leo, bụi rậm, mở tán... đúng quy trình kỹ thuật”.
Tại lô A6, khoảnh 1, tiểu khu 299C, đơn vị này cũng đã trồng 17 ha rừng phòng hộ là cây lim xanh cũng cơ bản chung tình cảnh tương tự: Cây bụi phủ kín, chèn ép cây phòng hộ. Nói cơ bản vì tại lô này có một số diện tích đã được người dân nhận khoán chăm sóc đã phát dọn thực bì, vun gốc được một lần sau tết. Dù số diện tích này cũng đang bị cây bụi dần lấn át nhưng nó vẫn phát triển xanh tốt và khỏe mạnh hơn rất nhiều so với diện tích chưa được phát dọn lần nào trong năm.
Theo anh Nguyễn Tiến Dũng: “Những tháng đầu năm, khi chưa được bố trí kinh phí, đơn vị đã vận động các hộ nhận khoán thực hiện kế hoạch chăm sóc năm 2017 để giúp cây trồng phòng hộ phát triển tốt... Nhưng mãi đến tháng 8 vẫn chưa được bố trí kinh phí năm 2017 thì “năn nỉ” cũng không hộ nào nghe nữa. Họ đồng loạt bỏ đó, không làm nữa, mặc cây bụi lấn át cây chính...”.
Theo văn bản đơn vị này trình Sở NN&PTNT, hiện tại, rừng mới trồng của đơn vị qua các năm cần được chăm sóc năm 2017 là 210 ha. Trong đó, chăm sóc năm 1 (rừng trồng năm 2016) là 30 ha; chăm sóc năm 2 là 50 ha; chăm sóc năm 3 là 130 ha.
Cũng theo văn bản trên, 210 ha rừng mới trồng đến nay hầu hết đang bị các loại cây tự nhiên mọc nhanh, dây leo lấn át. Đặc biệt, đối với diện tích cây bản địa nếu không được phát dây leo bụi rậm, mở tán đúng theo quy trình kỹ thuật và thực hiện 1 năm 2 - 3 lần chăm sóc thì nguy cơ sẽ bị chèn ép, còi cọc hoặc chết. Song hiện tại, đơn vị không có nguồn kinh phí để thực hiện.
Không chỉ Ban quản lý KBTTN Kẻ Gỗ, hiện toàn tỉnh có 835 ha rừng phòng hộ đã trồng trong 3 năm qua cần có kinh phí chăm sóc trong năm 2017 của các đơn vị chủ rừng nhà nước đều có chung số phận. Các chủ rừng này đã có kiến nghị hoặc gửi văn bản lên Sở NN&PTNT tỉnh nói rõ nguy cơ mất rừng, gây lãng phí lớn, đồng thời, xin bố trí kinh phí chăm sóc rừng năm 2017.
Theo các chủ rừng, mỗi ha từ trồng đến chăm sóc hết khoảng 20 triệu đồng. Trước tình hình trên, Sở NN&PTNT đã có Văn bản số 1045, ngày 8/6/2017 gửi UBND tỉnh. Văn bản có đoạn: “...Trường hợp chưa cân đối đủ nguồn vốn, đề nghị Trung ương bố trí trước mắt 2.430 triệu đồng để thực hiện chăm sóc 835 ha rừng đã trồng, cần chăm sóc năm 2017... Nếu không được Trung ương bố trí kinh phí, đề nghị UBND tỉnh xem xét, bố trí 2.430 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh để thực hiện chăm sóc 835 ha rừng nói trên”.
Được biết, theo kế hoạch, vốn đầu tư phát triển thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2016 - 2020 được giao là 59 tỷ đồng. Tuy nhiên, đến nay, tỉnh chưa được bố trí kinh phí từ nguồn vốn đầu tư phát triển năm 2017 để thực hiện các nhiệm vụ lâm sinh như: Trồng rừng phòng hộ, đặc dụng theo nghị quyết của Quốc hội, chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng đã trồng trong năm 2014, 2015, 2016. Gần 1.000 ha rừng phòng hộ đã trồng đang có nguy cơ chết, gây lãng phí lớn, nếu còn tiếp tục chậm trễ trong công tác chăm sóc, bảo vệ! (Báo Hà Tĩnh 24/8) đầu trang(
Xung quanh đề án quy hoạch khu du lịch sinh thái tâm linh và nghỉ dưỡng trong vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã, đã có nhiều ý kiến quan ngại và cho rằng không nên đánh đổi môi trường lấy kinh tế.
Trao đổi với PV Người Đưa Tin, GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh, Phó Chủ tịch hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam bày tỏ không đồng tình và lo ngại có tác động xấu đến môi trường.
PV: Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh Thừa Thiên - Huế vừa trình lên bộ Xây dựng đề án quy hoạch khu du lịch sinh thái tâm linh và nghỉ dưỡng, trong đó có hạng mục cáp treo tại VQG Bạch Mã. Ông đánh giá như thế nào về đề xuất này?
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh: VQG Bạch Mã có giá trị kinh tế cao, ban Giám đốc VQG này đã làm hồ hơ đăng ký với bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đề cử trở thành vườn Di sản ASEAN. Tôi cũng nằm trong hội đồng tư vấn và góp ý với bộ TN&MT về những tiêu chí để VQG Bạch Mã được chấp nhận là Di sản ASEAN. Ở góc độ nhà khoa học, tôi không đồng tình với đề xuất này.
Nhưng thưa ông, phía đại diện tỉnh Thừa Thiên - Huế hứa rằng, tuyến cáp treo không can thiệp vào diện tích rừng tự nhiên. Vậy, điều gì khiến ông lo ngại?
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh: Tôi chưa nắm được đề án cụ thể, tuy nhiên rất nhiều vấn đề phát sinh khác trong quá trình xây dựng cáp treo mà chúng ta không lường trước được. Theo tôi, Thừa Thiên - Huế phải xem xét một cách thận trọng, hài hòa nhất.
PV: Gần đây, hàng loạt địa phương trong cả nước bày tỏ mong muốn xây dựng cáp treo tại các khu vực rừng, VQG để đẩy mạnh du lịch. Đây có phải là xu hướng tất yếu, thưa ông?
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh: Thời gian qua, những người đứng đầu Chính phủ cũng đưa ra thông điệp, chúng ta không thể đánh đổi môi trường vì phát triển kinh tế. Hiện nay, trong tình hình biến đổi khí hậu, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt... việc bảo tồn, giữ vững hệ sinh thái VQG nói chung và VQG Bạch Mã nói riêng là cần thiết, giữ đúng chuẩn mực đạo đức về môi trường.
Thực tế, đây không phải là dự án đầu tiên khiến dư luận lo ngại. Nhiều dự án sau khi đánh giá tác động môi trường, lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, người dân và các giới đều không nhận được sự đồng thuận.
Hơn nữa, chúng ta đã có quá nhiều bài học về môi trường trong thời gian qua. Sự cố ô nhiễm môi trường tại Formosa (Hà Tĩnh) ảnh hưởng rất lớn đến 4 tỉnh miền Trung là một điển hình. Tất nhiên, các nhà lãnh đạo muốn làm việc này cũng vì nền kinh tế chung của tỉnh, nhưng dù thế nào đi nữa phải ưu tiên bảo vệ, bảo tồn.
PV: Như ông đề cập ở trên, chúng ta đang hướng đến việc đưa VQG Bạch Mã trở thành Di sản ASEAN. Liệu đề cử này có bị “phá sản” bởi việc xây dựng khu du lịch sinh thái tại VQG Bạch Mã?
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh: Một trong những tiêu chí quan trọng nhất để hướng tới vườn Di sản ASEAN là giữ nguyên hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học... Do vậy, muốn thuận lợi cho đề cử vườn Di sản ASEAN, tỉnh Thừa Thiên - Huế không nên làm cáp treo. Hệ thống các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên khi đã được Chính phủ phê duyệt nằm trong chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học thì nên giữ lại.
Xây dựng khu nghỉ dưỡng với mục đích đưa du khách đến gần hơn khu tâm linh là chưa thỏa đáng. Rừng Bạch Mã có những vị trí cao hơn 1.000m, tôi nghĩ đây cũng là cách để thu hút du khách trong nước và quốc tế khám phá về khu rừng này. Dọc đường đi lên, khách sẽ quan sát, thưởng ngoạn đa dạng sinh thái, từ đó giữ chân khách lâu hơn.
Còn đi cáp treo, rút ngắn thời gian nhưng ấn tượng đọng lại không nhiều. Ngồi trên đó, chúng ta chỉ thấy rừng mà không khám phá được vẻ nguyên sơ xung quanh. Sau khi lên tham quan vài phút đi xuống sẽ không giữ được ấn tượng gì về khu rừng này, nhất là với các vị khách nước ngoài.
PV: Vậy theo ông, tỉnh Thừa Thiên - Huế cần làm gì vào thời điểm này?
GS.TSKH Đặng Huy Huỳnh: Theo quan điểm của tôi, trước khi đưa ra ý tưởng cần có nghiên cứu kỹ lưỡng về đánh giá tác động môi trường, lấy ý kiến của các nhà khoa học, không thể nôn nóng. Với mỗi dự án, cần đánh giá về môi trường chiến lược - hệ lụy của dự án ảnh hưởng đến môi trường, xã hội, dư luận xã hội như thế nào? Ở đây, tỉnh phải có những đánh giá cụ thể, tham khảo đầy đủ ý kiến của các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực: Môi trường, nông nghiệp, kinh tế, văn hóa để có được những ý kiến đồng thuận của người dân. (Người Đưa Tin 25/8) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Dự án chuyển đổi rừng thông sang trồng mắc ca được triển khai khi tỉnh Kon Tum chưa có quy hoạch phát triển chi tiết loại cây này. Ngoài trồng mắc ca, còn có nhiều dự án khác đang triển khai đã nuốt hàng trăm hécta rừng thông.
Liên quan việc tỉnh Kon Tum cho Công ty TNHH Đăng Vinh chuyển đổi 198ha rừng và đất lâm nghiệp sang trồng mắc ca tại tiểu khu 481, xã Đắk Long (huyện Kon Plông), ông Trần Việt Cường, Trưởng phòng Kế hoạch tài chính, Sở NN-PTNT khẳng định, hiện nay tỉnh Kon Tum chưa có quy hoạch chi tiết trồng cây mắc ca. Theo tìm hiểu, dự án trồng mắc ca của Công ty Đăng Vinh được chấp thuận trong lúc tỉnh vẫn còn nghi ngại về loại cây này. Tại văn bản 754/UBND-KTN ngày 21-4-2015, UBND tỉnh Kon Tum nêu rõ: Cây mắc ca là loại cây trồng mới, hiện đang được trồng khảo nghiệm trên cả nước và Bộ NN-PTNT chưa có quy hoạch phát triển.
Do đó, để phát triển mắc ca hiệu quả, tránh hiện tượng trồng tự phát tại các vùng không thích hợp gây ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mắc ca và hạn chế các rủi ro kinh tế, đời sống người dân, đề nghị Sở NN-PTNT triển khai một số nội dung, trong đó phối hợp với UBND huyện, TP tuyên truyền, khuyến cáo người dân về các yêu cầu, đặc tính của dòng cây mắc ca để người dân hiểu, có định hướng phát triển phù hợp; không trồng tự phát cây mắc ca khi chưa có quy hoạch chi tiết về phát triển mắc ca hoặc ý kiến của UBND tỉnh.
Tuy nhiên, 4 tháng sau khi ra văn bản 754, chính UBND tỉnh Kon Tum lại ra Quyết định 607/QĐ-UBND về chấp thuận nhà đầu tư là Công ty Đăng Vinh với dự án đầu tư trồng cây mắc ca. Tháng 1-2017, tỉnh ra quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất và cho công ty này thuê đất để thực hiện dự án. Rõ ràng dự án trồng mắc ca của Công ty Đăng Vinh được chấp thuận và triển khai khi chưa có quy hoạch chi tiết phát triển mắc ca, đi ngược một phần nội dung của văn bản 754.
Thêm một luận cứ chứng minh sự lo ngại của các chuyên gia về dự án, đó là Báo cáo 187/BC-SNN ngày 30-5-2017 của Sở NN-PTNT Kon Tum nêu rõ, tổng diện tích mắc ca trên địa bàn là hơn 146ha, theo kết quả kiểm tra của Đoàn công tác Tổng cục Lâm nghiệp vào năm 2016 cho thấy, cây mắc ca sinh trưởng, phát triển kém đến trung bình. Từ thực tế trên, sở chưa thể đánh giá hiệu quả của cây với các cây trồng khác của tỉnh. Sở NN-PTNT Kon Tum đề nghị Bộ NN-PTNT xem xét chưa thực nhân rộng sản xuất mắc ca trên địa bàn tỉnh Kon Tum trong giai đoạn năm 2017 - 2020, cần có sự đánh giá và kết luận chắc chắn về khả năng phát triển cây mắc ca ở tỉnh Kon Tum để phát triển giai đoạn từ năm 2030.
Theo đại diện của Sở NN-PTNT Kon Tum, diện tích rừng thông trên địa bàn Kon Plông là trên 2.000ha. Trong đó, tỉnh có chủ trương định hướng khai thác 800ha rừng thông, phần còn lại để tạo cảnh quan. Hiện tỉnh đã cho chuyển đổi 312/800ha rừng thông. Ngoài dự án trồng mắc ca của Công ty Đăng Vinh, các dự án “nuốt” rừng thông đã cho chuyển đổi là dự án bảo tồn sim rừng và xây dựng nhà máy chế biến rượu vang sim của Công ty TNHH MTV Sim Thiên Sơn; dự án trồng rau, hoa, cây ăn quả, dược liệu dưới tán rừng của Hợp tác xã nông nghiệp Tuyết Sơn Kon Plông; dự án bảo vệ rừng, kinh doanh du lịch và nhân giống trồng, phát triển dược liệu kết hợp chăn nuôi dê sữa công nghệ cao của Công ty CP dược liệu và thực phẩm Măng Đen.
Diện tích rừng thông chuyển đổi không nằm tập trung mà trải dài. Có dự án nằm dọc quốc lộ 24 đi Quảng Ngãi, cách thị trấn Măng Đen (huyện Kon Plông) khoảng 14km, cũng có dự án nằm “sát nách” thị trấn Măng Đen. Từ Khách sạn Hoa Sim (trung tâm thị trấn Măng Đen) di chuyển khoảng 3km theo hướng vào Khu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 2 bên đường rừng thông bị phá trắng xóa. Còn phía bên phải con đường là một số vạt rừng thông đã bị đốn hạ, một số khoảnh còn chừa lại nhưng thông đã chết đứng. Phía bên trái đường cũng là khu vực rừng thông đã bị “cạo trọc”, chủ đầu tư cho máy vào đào bới gốc thông, san ủi trắng một vùng.
Việc rừng thông bị phá khiến nhiều người tiếc nuối, nhất là những người làm du lịch.
Ông Phạm Phúc, hướng dẫn viên du lịch ở Gia Lai cho biết, ông hay dẫn nhiều đoàn khách từ TPHCM và Hà Nội lên huyện Kon Plông tham quan. Sở dĩ vùng Măng Đen (Kon Plông) được mệnh danh là Đà Lạt thứ hai bởi có nhiều nét na ná: độ cao tương đương, khí hậu mát mẻ và những cánh rừng thông đẹp. “Du lịch Măng Đen không phải là điểm vui chơi, giải trí như Đà Lạt, Nha Trang. Măng Đen không có sản phẩm du lịch gì nổi bật. Khách đến Măng Đen là để tìm hiểu vùng đất, tận hưởng khí hậu mát mẻ. Phá rừng thông sẽ làm mất cảnh quan, khách du lịch sẽ không còn đến vùng đất này nữa”, ông Phúc nói. (Sài Gòn Giải Phóng 25/8) đầu trang(
Đã hoàn thành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) nhưng sau mấy năm mòn mỏi chờ nhận GCN, hai hộ dân ở huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) lại “nhận về” một vụ tranh chấp đất vì chính quyền đã cấp đất cho các hộ khác.
Phản ánh tới Báo PLVN, ông Nguyễn Thiêm, ông Phan Quốc Vũ (đều trú tại xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ) cho biết: thực hiện chính sách khuyến khích của Nhà nước, năm 2000, gia đình các ông đến vùng đất Núi Sang, thôn Diên Trường, xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ khai hoang phục hóa.
Đến năm 2005, gia đình các ông cùng các lao động được thuê hoàn thành việc khai hoang và trồng keo trên diện tích 40ha. Năm 2012, sau khi thu hoạch keo, các ông đã trồng lại loại cây này.
Ngày 24/10/2014, hai hộ cùng nộp đơn đăng ký cấp GCN quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất gửi UBND huyện Đức Phổ. Đơn có xác nhận của UBND xã Phổ Khánh ngày 16/12/2014 và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đức Phổ ngày 18/12/2014 là đủ điều kiện cấp GCN theo Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Kèm theo đơn là đầy đủ bộ hồ sơ, như: trích lục bản đồ địa chính; mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất; tờ khai mốc thời gian sử dụng đất và hồ sơ khác liên quan (có những giấy tờ còn được thực hiện từ năm 2013). “Ngày 03/04/2015, chúng tôi được UBND xã Phổ Khánh mời lên họp về việc xét duyệt đơn đề nghị cấp GCN lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn.
Hội đồng xét duyệt gồm tất cả các ban ngành đoàn thể thôn, xã xác định gia đình chúng tôi đủ điều kiện được cấp GCN, được UBND xã ký, đóng dấu và niêm yết công khai”, ông Thiêm cho biết.
Sau đó, ông Thiêm, ông Vũ thực hiện đúng trình tự và nộp thuế trước bạ; thậm chí còn nhìn thấy phôi GCN được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đức Phổ in ra (GCN quyền sử dụng đất số BY 261626 và GCN quyền sử dụng đất số BY 261625).
Tuy nhiên, đến nay không hiểu sao hai ông vẫn chưa nhận được GCN của mình? Gia đình ông Thiêm, ông Vũ tiếp tục trồng trọt, quản lý và khai thác rừng keo trên diện tích nói trên. Nhưng đến ngày 24/3/2017, có khoảng 30 người đến chặt phá cây keo nói trên.
Dù các ông đã ngăn cản nhưng việc chặt phá cây đã kéo dài đến ngày 1/6/2017 (diện tích khoảng 06ha, thiệt hại khoảng 600 triệu đồng).
“Nhóm người chặt phá rừng của chúng tôi là do ông Đường Ngọc Cảnh và bà Nguyễn Thị Thừa (trú tại xã Phổ Khánh, huyện Đức Phổ) điều động đến. Khi đó, họ đưa ra lý do là có GCN do UBND huyện Đức Phổ cấp từ ngày 6/01/2014”, ông Thiêm cho biết thêm.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Thiêm và ông Vũ đã gửi nhiều đơn thư tố cáo, đồng thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và thu hồi GCN đã cấp sai, chồng lấn vào diện tích đất rừng các ông đang quản lý cho hộ gia đình ông Đường Ngọc Hải (con ông Cảnh), Đường Thị Hoàng (chị ông Cảnh) và bà Nguyễn Thị Thừa.
“Việc cấp GCN chồng lấn là do UBND huyện Đức Phổ nhưng khi chúng tôi gửi đơn thì cơ quan này đã đùn đẩy trách nhiệm, né tránh và chuyển đơn cho cơ quan khác. Điều này dẫn đến việc tài sản của chúng tôi bị hủy hoại, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chúng tôi, kéo dài tình trạng tranh chấp, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương” — ông Nguyễn Thiêm bức xúc nói.
Được biết, đến đầu tháng 6/2017, UBND huyện Đức Phổ mới có những động thái đầu tiên nhằm giải quyết tranh chấp. Giữa tháng 7/2017, Chủ tịch UBND huyện Đức Phổ đã quyết định thành lập Tổ kiểm tra, rà soát hồ sơ cấp GCN lâm nghiệp đối với hộ bà Nguyễn Thị Thừa và các trường hợp khác có liên quan đến vụ tranh chấp giữa hộ ông Thiêm và hộ bà Thừa.
“Chúng tôi đề nghị xác minh, điều tra làm rõ việc chậm trễ giải quyết việc cấp GCN cho 2 hộ gia đình chúng tôi, cũng như việc cấp GCN chồng lấn lên diện tích đất rừng mà chúng tôi đang quản lý sử dụng dẫn đến một số đối tượng có hành vi đe dọa dùng vũ lực chiếm đoạt tài sản hợp pháp của gia đình chúng tôi”, ông Thiêm, ông Vũ bày tỏ.
Vụ việc khiến dư luận địa phương vô cùng bức xúc. Được biết, cùng với việc Tổ liên ngành của huyện Đức Phổ đang kiểm tra, rà soát thì hiện Ban Nội chính Tỉnh ủy Quảng Ngãi cũng đã vào cuộc xem xét khiếu nại của người dân. Báo PLVN sẽ tiếp tục thông tin về sự việc này. (Pháp Luật+ 25/8) đầu trang(
Tính đến 31/12/2016, tổng diện tích đất rừng của tỉnh Lai Châu khoảng 680 nghìn ha. Giai đoạn 2006 - 2016, Lai Châu đã giao trên 32.303ha đất rừng cho 121 thôn bản và gần 14.900ha cho 3.325 hộ gia đình.
24/8, ông Hà Ngọc Chiến, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Trưởng đoàn giám giám sát đã có buổi làm việc với tỉnh Lai Châu về tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng DTTS, miền núi giai đoạn 2006 - 2016.
Tính đến 31/12/2016, tổng diện tích đất rừng của tỉnh Lai Châu khoảng 680 nghìn ha. Giai đoạn 2006 - 2016, Lai Châu đã giao trên 32.303ha đất rừng cho 121 thôn bản và gần 14.900ha cho 3.325 hộ gia đình.
Đối với diện tích rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống, tỉnh Lai Châu chưa thực hiện giao rừng, chỉ hợp đồng khoán, bảo vệ rừng. Hiện tại đã hợp đồng khoán, bảo vệ rừng cho 72.164 hộ với gần 500 nghìn ha.
Sau khi được giao đất, giao rừng, ý thức quản lý và bảo vệ rừng của cộng đồng và hộ gia đình được nâng lên, hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác rừng bừa bãi. Tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Lai Châu được nâng lên nhanh chóng, từ 37,7% năm 2006 lên 46,8% năm 2016…
Ông Hà Ngọc Chiến đánh giá cao tầm nhìn quy hoạch, xác định tiềm năng và nhiệm vụ bảo vệ rừng của Lai Châu. Ông đề nghị tỉnh Lai Châu ngoài tập trung giao khoán, bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư cần thực hiện cả việc trồng và chăm sóc rừng. Đồng thời, quyết liệt hơn nữa trong việc giao rừng cho các hộ gia đình quản lý, nâng cao năng lực của chính quyền cấp cơ sở trong việc xây dựng kế hoạch giao và bảo vệ rừng. (Nông Nghiệp VN 25/8) đầu trang(
Theo quy định, tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nếu xảy ra những sự cố về rừng như hoả hoạn, lấn chiếm, bao chiếm rừng, mất cắp lâm sản, lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm. Do vậy, chính quyền địa phương nơi đây đang kiến nghị về bất cập trong việc quản lý khu rừng này.
Ở xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu hiện có 220 ha rừng đặc dụng, khu rừng này do Ban quản lý Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen quản lý. Theo quy định, tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nếu xảy ra những sự cố về rừng như hoả hoạn, lấn chiếm, bao chiếm rừng, mất cắp lâm sản, lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm. Do vậy, chính quyền địa phương nơi đây đang kiến nghị về bất cập trong việc quản lý khu rừng này.
Rừng ở xã Phước Ninh có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. Ông Phạm Văn Công, nguyên Trưởng Phòng Văn hoá và Thông tin huyện Dương Minh Châu cho biết: “Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi đây từng là căn cứ cách mạng của Huyện uỷ Dương Minh Châu, trong đó có Chi bộ Phước Hiệp (xã Phước Ninh), và là nơi đóng quân của nhiều lực lượng tham gia kháng chiến như Công an huyện, Dân y huyện v.v…”.
Khu rừng đã che chở cho biết bao cán bộ, chiến sĩ cách mạng trong những năm chiến tranh ác liệt. Đây cũng là nơi diễn ra nhiều trận đánh lớn, nhỏ, góp phần quan trọng vào việc giải phóng Tây Ninh nói riêng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước nói chung. Sau khi hoà bình lập lại, lãnh đạo huyện quyết định chọn khu rừng này làm Khu di tích lịch sử văn hoá Căn cứ Dương Minh Châu.
Tại đây, có mô hình súng AK dài nhất đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VIETKINGS) công nhận kỷ lục và là nơi sinh hoạt truyền thống tập thể của địa phương.
Hằng năm, vào những dịp hè, lễ, tết, tiễn thanh niên nhập ngũ, dưới tán cây rừng thường xuyên diễn ra các hoạt động về nguồn của học sinh, đoàn viên thanh niên, cựu chiến binh, hoặc lễ hội, giao lưu văn nghệ, hội trại tòng quân v.v…
Mới đây, huyện cũng chọn khu di tích này làm nơi tổ chức mít tinh kỷ niệm 65 năm thành lập huyện Dương Minh Châu- tháng 2.2016.
Rừng ở xã Phước Ninh thuộc tiểu khu 65. Năm 1984 trồng 20 ha rừng dầu rái. Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp quyết định phê duyệt “Dự án về giống và vườn ươm phục vụ trồng rừng của tỉnh”. Năm 1998, UBND tỉnh quyết định bổ sung thêm vào khu vực này 197 ha rừng khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng mới.
Theo kết quả rà soát hiện trạng quỹ đất, cắm mốc ranh giới đất các nông, lâm trường quốc doanh năm 2010, rừng Phước Ninh có tổng diện tích 220 ha. Riêng số rừng dầu rái thuần được Cục Phát triển lâm nghiệp đánh giá là một trong những khu rừng trồng tập trung đẹp nhất vùng Đông Nam bộ, và đã chọn 5 ha để đầu tư xây dựng thành rừng giống chuyển hoá.
Giai đoạn 2011- 2015, tiến hành di dời 36 hộ dân sinh sống trái phép trong đất lâm nghiệp ra khu dân cư tập trung, đồng thời trồng bổ sung cây lâm nghiệp trên diện tích đất đã trồng cây cao su theo mô hình DCs1 (1 hàng dầu xen kẽ 1 hàng cây cao su) và trồng mô hình dầu + sao thuần trên diện tích đất trống, trảng cỏ.
Trước đây, rừng ở xã Phước Ninh do Ban Quản lý khu rừng lịch sử - văn hoá núi Bà, thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
Tháng 11.2016, Sở chủ trì cuộc họp đề xuất UBND tỉnh đổi tên chủ đầu tư Dự án bảo vệ và phát triển rừng khu rừng lịch sử - văn hoá núi Bà do đã giải thể và chuyển quyền quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp tại tiểu khu 65 xã Phước Ninh cho Ban Quản lý Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen với lý do Ban Quản lý khu rừng lịch sử - văn hoá núi Bà được sáp nhập vào Ban Quản lý Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen và trở thành Phòng Quản lý bảo vệ rừng, trực thuộc Ban Quản lý mới.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy còn có những điều chưa thể yên tâm về việc quản lý, bảo vệ khu rừng trồng tập trung đẹp nhất vùng Đông Nam bộ này.
Cụ thể, 220 ha rừng ở xã Phước Ninh không tập trung thành một khu mà có nhiều cụm rải rác trên khắp địa bàn trong xã. Mặt khác, tiểu khu 65 nằm cách xa Ban Quản lý Khu du lịch quốc gia núi Bà Đen hơn 20km. Nếu xảy ra sự cố cháy rừng, Ban Quản lý không thể kịp thời ứng cứu.
Đã vậy, từ nhiều năm qua, toàn bộ diện tích rừng ở xã Phước Ninh chỉ giao trách nhiệm quản lý, giữ gìn cho gia đình ông Nguyễn Văn Khương, ở thị trấn Dương Minh Châu. Ông Khương không phải là người dân địa phương nên khó nắm bắt kịp thời những diễn biến liên quan tới toàn bộ khu rừng.
Dễ nhận thấy trong việc buông lỏng quản lý là hiện nay có một số người dân vào rừng chăn nuôi gia súc. Ngày 17.8.2017, khi chúng tôi đến rừng Phước Ninh, thấy một phụ nữ đang cào phơi một đống phân trâu khá lớn. Cạnh đó là một chiếc lều dựng dưới tán cây rừng.
Trong lều có đầy đủ dụng cụ sinh hoạt, phương tiện đi lại. Cạnh lều có hai con trâu mẹ đang cho nghé bú sữa. Người phụ nữ này cho biết tên là Gái, ngụ ở xã Phước Minh. Hai vợ chồng chị ở đây đã được khoảng một tháng để nuôi trâu mướn cho người khác. Đàn trâu có tới 50 con, đang được chồng chị lùa đi ăn cỏ bên bờ hồ Dầu Tiếng.
Nuôi thả trong khu rừng, những chú trâu này giẫm đạp lên gốc rễ cây rừng, cọ sừng lên thân cây, dễ làm chết cây rừng. Trên thực tế, ở một nơi trước đây từng nhốt trâu đã có nhiều cây rừng bị chết khô hoặc còi cọc.
Cạnh nơi chị Gái ở còn có một chuồng nuôi heo rừng khá lớn của ông Lợi. Chuồng heo khá kiên cố, vách chuồng được xây tường gạch, rào lưới B40, lợp mái tôn. Trong chuồng, hàng chục con heo lớn, nhỏ thi nhau ủi phá gốc cây rừng. Nếu để tình trạng này kéo dài, đàn heo sinh sôi nảy nở ngày càng nhiều, đe doạ tới sự sinh trưởng, phát triển cây rừng.
Ông Lợi cho biết, ông vào đây xây chuồng nuôi heo đã được hơn một năm nay. Việc chăn nuôi gia súc trong rừng sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sinh thái, hoạt động tham quan, du lịch, sinh hoạt truyền thống của người dân địa phương.
Theo Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng thì trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có rừng rất nặng nề và quan trọng. Trong đó có nhiều phần việc thuộc trách nhiệm của UBND xã như: quản lý diện tích, ranh giới các khu rừng; các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn.
Tổ chức việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phương án bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Tiếp và xác nhận hồ sơ xin giao rừng, thuê rừng và giao đất, thuê đất lâm nghiệp đối với các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư theo thẩm quyền.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ cũng yêu cầu địa phương chỉ đạo cộng đồng dân cư xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn phù hợp với quy định của pháp luật; hướng dẫn thực hiện sản xuất lâm nghiệp; canh tác nương rẫy và chăn thả gia súc theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt.
Tổ chức hoạt động của các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với nòng cốt là lực lượng dân quân tự vệ; huy động các lực lượng trên địa bàn kịp thời ngăn chặn các hành vi phá rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng theo phương án bốn tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần); kịp thời báo cáo lên cấp trên khi vượt quá tầm kiểm soát của xã; giám sát hoạt động của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản.
Bên cạnh đó, UBND xã còn có trách nhiệm xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng, đất lâm nghiệp. Theo dõi, cập nhật diễn biến rừng, đất lâm nghiệp; thường xuyên kiểm tra việc sử dụng rừng, đất lâm nghiệp của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn xã.
Tổ chức quản lý, bảo vệ diện tích rừng Nhà nước chưa giao, chưa cho thuê và xây dựng phương án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để giao lại cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê diện tích rừng này để rừng thực sự có chủ cụ thể. Hoà giải các tranh chấp về rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn.
Đặc biệt, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ nêu rõ: địa phương nào để xảy ra tình trạng phá rừng, chuyển đổi mục đích sử dụng, giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp trái quy định pháp luật, cháy rừng nghiêm trọng, kéo dài mà trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để, lãnh đạo địa phương đó phải kiểm điểm và bị xử lý trách nhiệm quản lý theo quy định của pháp luật.
Với những yêu cầu trên, UBND xã Phước Ninh thường xuyên chỉ đạo lực lượng dân quân tự vệ bảo vệ khu rừng lịch sử có ý nghĩa quan trọng này. Trong khi đó, kinh phí để có thể bảo đảm công tác và trang cấp các thiết bị cần thiết gần như bằng không, có chăng chỉ là kinh phí hỗ trợ cho công tác phòng chống cháy rừng từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh với số tiền hơn 10 triệu đồng/năm. Điều đó dẫn đến việc chính quyền địa phương phải “gồng mình” để bảo vệ rừng. (Báo Tây Ninh 25/8) đầu trang(
Chiều 22/8, tại UBND xã Liên Hà, huyện Lâm Hà (Lâm Đồng), lễ ký kết hợp tác cho vay đầu tư phát triển cây mắc ca trên đất giao khoán đã diễn ra giữa các hộ nông dân với Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) – Ban quản lý rừng Lán Tranh (huyện Lâm Hà) và đại diện Công ty cổ phần Him Lam mắc ca.
Ban quả lý rừng Lan Tranh và UBND xã Liên Hà có trách nhiệm hỗ trợ, kiểm tra việc sử dụng vốn, thu hồi nợ. Công ty cổ phần Him Lam mắc ca cam kết chịu trách nhiệm về chất lượng, kỹ thuật trồng chăm sóc, bao tiêu sản phẩm...
Trong khuôn khổ đề án 04 của UBND huyện Lâm Hà về việc “phát triển rừng trên diện tích lâm nghiệp do người dân lấn chiếm, sản xuất nông nghiệp” và lồng ghép với kế hoạch phát triển cây mắc ca từ nguồn vốn vay của LienVietPostBank mỗi hộ dân được vay tín chấp từ 50 - 80 triệu đồng. Tại buổi lễ, 6 hộ nông dân đầu tiên của xã Tân Thanh ký hợp đồng với LienVietPostBank. Từ nay đến hết tháng 8/2017, việc cung cấp giống và trồng cây sẽ được diễn ra. Theo UBND huyện Lâm Hà kế hoạch trồng rừng năm 2017 triển khai 1.000 ha; trong đó có 300 ha cây mắc ca. (Nông Nghiệp VN 23/8) đầu trang(
Bằng việc nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, bình quân mỗi năm, mỗi hộ nhận khoán có thêm nguồn thu nhập từ 7 đến 8 triệu đồng
Đến nay, các đơn vị chủ rừng tại huyện Bảo Lâm đã giữ mức ổn định việc giao khoán để quản lý, bảo vệ (kể cả việc giao khoán được chi trả theo dịch vụ môi trường rừng) gần 50.000 ha cho gần 3.000 hộ quản lý, bảo vệ.Trong đó, có 2.600 hộ đồng bào dân tộc thiểu số và giao cho tập thể cộng đồng tại các xã Lộc Bảo, Lộc Nam, Lộc Phú quản lý bảo vệ khoảng 1.000 ha. Tổng mức chi trả tiền quản lý, bảo vệ rừng hàng năm hơn 20 tỷ đồng.
Bằng việc nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng, bình quân mỗi năm, mỗi hộ nhận khoán có thêm nguồn thu nhập từ 7 đến 8 triệu đồng. Tư những nguồn lợi thiết thực từ rừng mang lại, đã góp phần nâng cao trách nhiệm cho các tổ chức, cá nhân và cộng đồng dân cư trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. (Đài PTTH Lâm Đồng 24/8) đầu trang(
Đó là một trong những đề nghị của đồng chí Hà Ngọc Chiến - Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Trưởng đoàn giám sát của Hội đồng Dân tộc Quốc hội sau khi tiến hành giám sát kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016 tại huyện Phong Thổ hôm 23/8.
Tham gia Đoàn giám sát, về phía tỉnh ta có đồng chí Vũ Văn Hoàn - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; đại diện lãnh đạo Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, một số sở, ngành tỉnh, huyện Phong Thổ.
Đoàn giám sát kiểm tra thực hiện chính sách pháp luật của nhà nước về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư, hộ gia đình trên địa bàn xã Dào San, Hoang Thèn và làm việc với UBND huyện Phong Thổ. Theo đó, đến hết năm 2016, tổng diện tích đất rừng đã giao khoán của xã Dào San là 3.081,6ha, bình quân 2,1ha/hộ. Trong đó, giao khoán rừng phòng hộ 2.411,6ha, giao khoán rừng sản xuất 670ha cho 15 bản với 1.435 hộ dân. Tiền dịch vụ môi trường rừng được hưởng là 969,5 triệu đồng, bình quân mỗi hộ dân nhận được 676.000 đồng/năm.
Hiện nay, xã Hoang Thèn có tổng diện tích tự nhiên là 6.379,91ha, gồm 9 bản với 714 hộ dân. Hết năm 2016, xã có tổng diện tích rừng đã giao khoán đạt 1.554,34ha, diện tích giao khoán bình quân 2,2ha/hộ. Tiền dịch vụ môi trường rừng được hưởng 489 triệu đồng, trung bình các hộ nhận được 690.000 đồng/hộ/năm.
Đối với huyện Phong Thổ, việc giao đất, giao rừng được thực hiện theo Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã được UBND huyện triển khai từ năm 2001-2003. Từ năm 2006-2016, trên địa bàn huyện chưa có chủ trương giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, cá nhân mà chỉ thực hiện việc giao khoán đất rừng do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý cho các hộ gia đình chăm sóc, bảo vệ.
Từ khi thực hiện việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư quản lý, chăm sóc và bảo vệ đã có những chuyển biến tích cực. Chính sách khoán bảo vệ rừng gắn với trách nhiệm, quyền lợi của cộng đồng dân cư nên hạn chế tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng; chất lượng rừng không ngừng cải thiện, độ che phủ rừng nâng lên; tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện; bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn đất và đảm bảo môi trường sống cho Nhân dân…
Đoàn Giám sát đề nghị huyện làm rõ một số nội dung: diện tích cây cao su đã thành rừng thuộc đơn vị nào quản lý; chưa phân loại rõ ràng, cụ thể các loại rừng đã giao; hiệu quả của việc giao khoán rừng cho cộng đồng dân cư và các hộ gia đình trên địa bàn; làm rõ việc giao rừng chưa phù hợp với phong tục tập quán.
Các xã: Dào San, Hoang Thèn, huyện Phong Thổ kiến nghị, đề xuất trong quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch bảo vệ rừng tránh tình trạng quy hoạch chồng quy hoạch hoặc quy hoạch không phù hợp với các loại rừng của thôn bản; cơ chế, chính sách về giao đất, giao rừng cần sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế hiện nay; cần có những hướng dẫn cụ thể hơn, nhất là đối với nguồn kinh phí thực hiện các chính sách về giao đất, giao rừng; có chính sách tăng kinh phí cho việc trồng rừng cũng như chi trả dịch vụ môi trường rừng…
Kết luận buổi giám sát, đồng chí Hà Ngọc Chiến - Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội, Trưởng Đoàn giám sát đề nghị: Thời gian tới, huyện đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, vận động cộng đồng dân cư và các hộ gia đình hiểu rõ mục đích, ý nghĩa của công tác giao khoán rừng và việc người dân được hưởng lợi từ rừng để từ đó nâng cao trách nhiện bảo vệ rừng. Huyện quan tâm thực hiện tốt hơn nữa đối với thực hiện các chính sách pháp luật của nhà nước về giao đất, giao rừng; chỉ đạo, có giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong bảo vệ và phát triển rừng.
Đồng chí Vũ Văn Hoàn - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh cũng đề nghị huyện tích cực chỉ đạo các xã nâng cao việc quản lý và bảo vệ rừng cũng như thực hiện tốt các chính sách bảo vệ rừng đối với cộng đồng, dân cư được giao khoán; không mở rộng diện tích trồng thảo quả làm ảnh hưởng đến chất lượng rừng, nhất là đối với rừng tự nhiên; hướng dẫn người dân khai thác các nguồn lợi từ rừng một cách hợp lý, vừa đem lại lợi ích kinh tế vừa giữ được rừng.
Nhân dịp này, Đoàn giám sát tặng quà một số hộ gia đình chính sách trên địa bàn, thăm cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Dào San. (Báo Lai Châu 24/8) đầu trang(
Sáng 23-8, Huyện đoàn Hớn Quản phối hợp với Hạt kiểm lâm Bình Long - Hớn Quản tổ chức hội thi tìm hiểu Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Hội thi có 5 đội tham gia, trải qua 3 phần thi với các nội dung tìm hiểu về Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2014. Phần thi thứ nhất có tên “Tôi giới thiệu về tôi”, các đội lần lượt giới thiệu về đội của mình bằng nhiều hình thức sáng tạo khác nhau (kịch, ca, hò, vè...). Phần thi thứ 2, các đội tìm hiểu kiến thức về bảo vệ và phát triển rừng theo hình thức trắc nghiệm. Cuối cùng là phần thi “Tiểu phẩm tuyên truyền”, các đội thể hiện tiểu phẩm với chủ đề: Đoàn viên thanh niên với công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Kết thúc hội thi, đội thi xã Đồng Nơ xuất sắc đoạt giải nhất, xã Minh Tâm giải nhì, xã Tân Hiệp giải ba và giải khuyến khích thuộc về 2 xã Minh Đức và An Phú.
Hội thi nhằm tuyên truyền, nâng cao nhận thức của đoàn viên thanh niên huyện Hớn Quản về công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương, từ đó góp phần tích cực nâng cao ý thức, hành động bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sống. (Báo Bình Phước 24/8) đầu trang(
Phải có một cuộc cách mạng trồng rừng". Đó là ý kiến của ông Vũ Hồng Điệp, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lào Cai về việc bảo vệ, phát triển rừng tại địa phương này.
"Rừng đang đem lại hiệu quả kinh tế, giúp người dân xóa đói giảm nghèo. Chính vì vậy, việc nâng cao nhận thức của người dân cũng như chính quyền địa phương về vai trò của rừng là hết sức cần thiết và liên tục", ông Điệp nói.
Năm 2017, UBND tỉnh Lào Cai đã giao cho ngành lâm nghiệp phát triển và trồng mới trên 7.100ha rừng. Trong đó, rừng phòng hộ phải đạt 600ha, còn lại là rừng SX.
6 tháng đầu năm, Lào Cai đã đôn đốc các địa phương tích cực tham gia trồng rừng. Tổng diện tích rừng trồng được trong 6 tháng là 3.308ha, đạt 46,3% kế hoạch năm, bằng 236% cùng kỳ năm 2016. Trong đó, hai huyện trồng rừng vượt tiến độ và kế hoạch đề ra là Bảo Thắng và Bảo Yên.
Về công tác sử dụng rừng, tổng doanh thu lũy kế của việc khai thác, chế biến cũng như tiêu thụ sản phẩm toàn tỉnh Lào Cai đạt gần 44 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy chữa cháy rừng được chú trọng, các tổ tuần tra, ứng trực luôn bố trí 24/7 tại các chốt, trạm kiểm lâm. Chính vì vậy, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra vụ cháy rừng nào gây thiệt hại lớn.
Ông Vũ Hồng Điệp đánh giá, qua công tác vận động, tuyên truyền thường xuyên, tới nay, đa phần người dân đã có ý thức, tích cực tham gia công tác trồng cũng như bảo vệ rừng. Tuy nhiên, về lâu dài phải nâng cao giá trị của rừng trồng, có thể bằng việc tăng cường chăm sóc, thâm canh. Nói tầm vĩ mô, đó là phải có một cuộc cách mạng về trồng rừng thực sự.
Tại huyện Bảo Yên hiện có 50% diện tích tự nhiên là rừng và đất lâm nghiệp, tương đương khoảng hơn 48.000ha. Vài năm trở lại đây, diện tích rừng ở Bảo Yên đã và đang được đầu tư phát triển những cây trồng có giá trị, nhu cầu thị trường cao, góp phần xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu bền vững cho nhiều hộ dân.
Theo Phòng NN-PTNT huyện Bảo Yên, đến thời điểm này, tỷ lệ che phủ rừng trên địa bàn huyện đạt 57%. Từ năm 2011 đến nay, toàn huyện đã trồng mới được trên 11.000 ha rừng SX. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, huyện này đã trồng mới được hơn 1.200ha rừng.
Ông Hà Văn Quang, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Bảo Yên cho biết, với tiềm năng thế mạnh của địa phương, huyện xác định phát triển kinh tế lâm nghiệp là một trong những mũi nhọn. Hầu hết người dân đều nhận thức được tầm quan trọng của việc trồng cây, trồng rừng. Không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen và đa dạng sinh học, trồng rừng còn tạo việc làm, tăng thêm thu nhập giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế. Giá trị SX đạt trên 55 triệu đồng/ha.
Cách đây hơn 20 năm, ông Hoàng Văn Chức, dân tộc Tày ở bản Vắc, xã Xuân Hòa mạnh dạn chuyển đổi khoảng 2ha sắn, ngô và cây tạp sang trồng cây quế. Rồi cứ lấy ngắn nuôi dài, đến nay toàn bộ diện tích đất của gia đình ông Chức chuyển sang trồng loại cây này.
Theo ông Chức, trồng quế nhàn hơn các loại cây trồng khác, nhu cầu thị trường cao, sản phẩm bà con trong bản, trong xã làm ra không đủ cũng ứng cho tư thương. Năm 2015, ông đã bán một đồi quế thu về gần 150 triệu đồng. Tháng 5/2017, ông vừa bán thêm một đồi quế thu về hơn trăm triệu. Hiện ông còn hơn 4ha quế 7 – 10 năm tuổi, trị giá cũng cả tỷ đồng.
“Trồng quế tuy thời gian cho thu dài (khoảng 10 – 15 năm), tuy nhiên, thời gian từ 4 năm tuổi trở nên chúng tôi cũng đã bắt đầu có thu nhập từ việc tỉa cành bán lá cho các cơ sở chế biến tinh dầu. Gia đình tôi thu nhập từ 70 – 100 triệu đồng từ bán lá quế. Tôi đang tiếp tục triển khai mua giống, làm đất trồng tiếp những diện tích đất còn trống cũng như diện tích đã chặt bán”, ông Chức tâm sự.
Chủ tịch UBND xã Xuân Hòa, ông Hoàng Thanh Bình cho biết, toàn xã hiện có 3.400ha đất rừng. Trong đó, người dân chủ yếu trồng quế, một trong những cây có giá trị kinh tế cao, dễ trồng và chăm sóc.
“Thực tế cho thấy việc trồng rừng nói chung và trồng quế nói riêng đã cho người dân thu nhập cao hơn nhiều lần trồng các loại cây truyền thống như ngô, sắn… Từ trồng rừng, nhiều hộ có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm”, ông Bình khẳng định.
Còn ông Hà Văn Quang cho biết thêm, để giải quyết đầu ra cho các sản phẩm từ lâm nghiệp, hiện nay trên địa bàn huyện đã có hai nhà máy (một nhà máy SX chế biến tinh dầu quế, một nhà máy chế biến gỗ). Trên thực tế, các sản phẩm từ lâm nghiệp của người dân SX mới chỉ đáp ứng được khoảng 50% công suất của các nhà máy này. (Nông Nghiệp VN 24/8) đầu trang(
Không chỉ gần 1.000 ha rừng phòng hộ đã trồng có nguy cơ mất, thiếu kinh phí cũng khiến các hoạt động lâm sinh trên địa bàn Hà Tĩnh như: Bảo vệ, trồng, chăm sóc các loại rừng... ở cơ sở đều bị đình trệ, ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thực hiện. Có hay không trách nhiệm của các ngành liên quan?
Trước khối lượng, chỉ tiêu được giao thực hiện trong năm 2017 nhưng chưa được bố trí kinh phí để triển khai, các BQL rừng phòng hộ, rừng đặc dụng (chủ rừng nhà nước) trong tỉnh đều hết sức lúng túng. Nhiều ngại ngần không muốn nói ra nhưng mặt “ông chủ” nào cũng ẩn chứa âu lo, chán nản...
Qua tìm hiểu, nhìn chung, các chủ rừng đều cố gắng tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) năm 2017, dù chưa được bố trí kinh phí. Tuy nhiên, khó nói về chất lượng, tiến độ... thực hiện.
Đơn cử như cây giống lâm nghiệp - một trong rất nhiều hạng mục trong thực hiện chỉ tiêu kế hoạch lâm sinh năm - cũng đủ thấy các chủ rừng phải đối diện với khó khăn như thế nào khi thiếu vốn. “Đầu năm, đơn vị đã đưa vào kế hoạch số lượng cây giống phục vụ trồng rừng phòng hộ, trồng dặm, trồng rừng thay thế... Đùng một cái không có kinh phí thì lấy gì lo hiện trường, thiết kế trồng... Hàng vạn cây giống cũng ế, không tiêu thụ được đành bỏ đó vì hết vụ... Đó là chưa kể lấy tiền đâu để hợp đồng bảo vệ, chăm sóc rừng. Không tiền nói chẳng ai nghe...” - một chủ rừng nhà nước (xin giấu tên), ngao ngán nói.
Năm 2017, Hà Tĩnh được Bộ NN&PTNT giao: Bảo vệ rừng phòng hộ 30.700 ha, bảo vệ rừng đặc dụng 51.571 ha; trồng rừng phòng hộ, đặc dụng 300 ha; trồng rừng thay thế 642 ha; trồng rừng sản xuất 6.000 ha; trồng rừng ngập mặn 90 ha; trồng rừng chắn gió, chắn cát 40 ha; chăm sóc 12.020 ha rừng; trồng phân tán 2 triệu cây. Theo định mức quy định tại Quyết định 38/QĐ-TTg ngày 14/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ, để thực hiện được các chỉ tiêu nhiệm vụ trên cần 228 tỷ đồng. Trong đó, nguồn kinh phí huy động từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và các chương trình dự án khác đầu tư: 153,5 tỷ đồng. Số kinh phí còn lại cần hỗ trợ từ nguồn ngân sách: 74,5 tỷ đồng (nguồn kinh phí sự nghiệp là 30,8 tỷ đồng, vốn đầu tư phát triển là 43,7 tỷ đồng). Nhưng, đến nay, nguồn ngân sách chỉ mới cấp được 12,1 tỷ đồng (nguồn kinh phí sự nghiệp từ ngân sách trung ương: 9,6 tỷ đồng, ngân sách tỉnh 2,5 tỷ đồng), còn thiếu 62,4 tỷ đồng.
Nguyên nhân Hà Tĩnh chưa được bố trí vốn đầu tư phát triển thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 được Sở NN&PTNT báo cáo UBND tỉnh tại Văn bản số 1085 ngày 8/6/2017. Theo đó, sở đã xây dựng kế hoạch và nhu cầu vốn thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 tại Văn bản 1329/SNN-KHTC ngày 22/7/2016. Tuy nhiên, tại thời điểm xây dựng kế hoạch, thực hiện Nghị quyết 60 của Thủ tướng Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công năm 2016, trong đó có quy định: “Các dự án đến ngày 30/9 giải ngân dưới 30% kế hoạch vốn năm 2016, không bố trí kế hoạch vốn năm 2017 để thực hiện hết số vốn năm 2016 kéo dài thực hiện sang năm 2017”.
Tại thời điểm 30/9/2016, kế hoạch vốn BV&PTR của Hà Tĩnh giải ngân dưới 30%, vì vậy, Sở Kế hoạch & Đầu tư chưa tổng hợp đưa vào nhu cầu kế hoạch vốn chung của tỉnh năm 2017, trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính.
Lý giải về sự chậm trễ này, theo lãnh đạo Sở NN&PTNT Hà Tĩnh là do đặc thù sản xuất lâm nghiệp, từ khâu chuẩn bị hiện trường, xây dựng, thẩm định, phê duyệt hồ sơ thiết kế, chuẩn bị cây giống... cần nhiều thời gian để thực hiện. Hơn nữa, mùa vụ trồng rừng ở các tỉnh miền Trung chủ yếu tập trung vào tháng 11, tháng 12 của năm kế hoạch. Thời gian nghiệm thu, phúc tra, giải ngân phải kéo dài đến hết quý I của năm sau kế hoạch...
Lý giải này không được nhiều nhà chuyên môn đồng thuận. Nhiều câu hỏi được đặt ra cho các ngành, các cấp liên quan đối với việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện chỉ tiêu, kế hoạch BV&PTR hằng năm nói chung và năm 2016 nói riêng. Thêm vào đó, cùng điều kiện thời tiết, vậy các tỉnh miền Trung có bị cắt kế hoạch vốn BV&PTR như Hà Tĩnh...
Trước tình hình trên, UBND tỉnh đã có Văn bản số 4095, ngày 4/7/2017 gửi: Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Tài chính và Bộ NN&PTNT, đề nghị xem xét, bố trí nguồn vốn đầu tư phát triển thực hiện kế hoạch BV&PTR năm 2017 hoặc trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung tối thiểu 50% nhu cầu, với kinh phí 20 tỷ đồng từ nguồn vốn đầu tư phát triển (nhu cầu 43,7 tỷ đồng).
Mọi hoạt động lâm sinh tại các chủ rừng nhà nước trên địa bàn tỉnh đang bị ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tiến độ... do chưa được bố trí ngân sách BV&PTR năm 2017, dù chỉ còn hơn 4 tháng nữa là hết năm. (Báo Hà Tĩnh 25/8) đầu trang(
24/8, Đoàn giám sát Hội đồng Dân tộc của Quốc hội có buổi làm việc với tỉnh Lai Châu về tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016.
Theo UBND tỉnh Lai Châu, thời gian qua, công tác phổ biến, tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng; các văn bản dưới luật đã được tỉnh quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, qua đó nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư, hộ gia đình đã được nâng lên. UBND tỉnh Lai Châu đã thành lập Ban chỉ đạo kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng và thực hiện các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng các cấp. Tổng số diện tích đất rừng trên địa bàn tính đến tháng 12/2016 là hơn 680.664 ha. Giai đoạn 2006 - 2016, tỉnh đã giao trên 32.303 ha đất rừng cho 121 thôn bản; giao gần 14.900 ha cho 3.325 hộ gia đình.
Thực hiện hợp đồng khoán bảo vệ và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, giai đoạn 2012 - 2016, tỉnh Lai Châu chi trên 948 tỷ đồng cho các cộng đồng dân cư và hộ gia đình được giao rừng. Sau khi được giao đất, giao rừng, ý thức quản lý và bảo vệ rừng của cộng đồng và hộ gia đình được nâng lên, hạn chế tình trạng phá rừng, khai thác rừng bừa bãi; tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh Lai Châu được nâng lên nhanh chóng, từ 37,7% năm 2006 lên 46,8% năm 2016…
Tỉnh Lai Châu kiến nghị với Trung ương, ngoài việc rà soát lại các chính sách liên quan đến giao đất, giao rừng, cần thiết phải tăng phí chi trả dịch vụ môi trường rừng và phí trồng rừng để người dân mặn mà hơn trong bảo vệ rừng.
Tại buổi làm việc, các thành viên trong đoàn giám sát đã có những ý kiến trao đổi thẳng thắn xoay quanh các vấn đề đặc thù của tỉnh như: giao đất rừng cho từng hộ dân và giao cho cộng đồng dân cư; trách nhiệm và quyền lợi quản lý rừng của cá nhân và đơn vị đăng ký nhận bảo vệ rừng; tính hiệu quả giao rừng cho các tổ chức kinh tế; quan điểm về kinh phí hỗ trợ, quản lý bảo vệ rừng tại địa bàn…
Kết luận buổi làm việc, ông Hà Ngọc Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Trưởng đoàn giám sát đánh giá cao tầm nhìn quy hoạch, xác định tiềm năng và nhiệm vụ bảo vệ rừng của Lai Châu. Tỉnh đã triển khai nghiêm túc khảo sát, đánh giá việc giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp, qua đó hạn chế được thiên tai cũng như tình trạng di dân ngoài kế hoạch. Các chính sách được triển khai đã khuyến khích người dân là đồng bào dân tộc thiểu số tham gia tích cực trong khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng. Từ đó, góp phần nâng độ che phủ rừng, bảo vệ an toàn và tích nước cho các công trình thủy điện, thủy lợi, nguồn nước sinh hoạt cho đồng bào.
Ông Hà Ngọc Chiến đề nghị tỉnh Lai Châu ngoài tập trung giao khoán, bảo vệ rừng cho cộng đồng dân cư cần thực hiện cả việc trồng và chăm sóc rừng. Đồng thời, quyết liệt hơn nữa trong việc giao rừng cho các hộ gia đình quản lý; nâng cao năng lực của chính quyền cấp cơ sở trong việc xây dựng kế hoạch giao và bảo vệ rừng; quan tâm bố trí nguồn kinh phí, đầu tư hạ tầng để việc bảo vệ và phát triển rừng thuận lợi hơn ...
Trước đó, Đoàn giám sát đã đi kiểm tra thực địa tình hình, kết quả thực hiện chính sách pháp luật về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình vùng dân tộc thiểu số, miền núi giai đoạn 2006 - 2016 tại 4 xã và 2 huyện của tỉnh Lai Châu. (Tin Tức 24/8) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Với sự phát triển của các động cơ, xe máy giá rẻ và công nghệ phục vụ săn bắt như súng săn, lưới và bẫy thòng lọng, con người ngày càng dễ dàng vào rừng săn bắt mà không cần kỹ năng. Trong khi đó, nhu cầu thịt thú rừng, động vật hoang dã làm cảnh và làm thuốc cũng không ngừng tăng, gây ra cuộc khủng hoảng trong thế giới động vật hoang dã ở nhiều vùng trên thế giới, đặc biệt là tại các vùng rừng nhiệt đới.
Một nghiên cứu được thực hiện năm 2016 đã chỉ ra rằng không phải mất môi trường sống hay phá rừng, săn bắt chính là mối đe dọa lớn nhất đến đa dạng sinh học ở Đông Nam Á. Nhận thấy hiện chưa có ước tính quy mô lớn, mang tính hệ thống nào về sự suy giảm số lượng động vật hoang dã do săn bắt, nhóm các nhà sinh thái học và môi trường Đại học Radboud (Hà Lan) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề này. Nghiên cứu được xuất bản trên Tạp chí Science hồi giữa tháng này.
Nhóm các nhà khoa học đã thực hiện 176 nghiên cứu, trong đó có nhiều nghiên cứu ở cấp địa phương, để có cái nhìn tổng thể về mức độ suy giảm các quần thể các loài động vật có vú và chim do nạn săn bắt ở các vùng rừng nhiệt đới.
Ana Benítez-López, nhà môi trường học, Đại học Radboud (Hà Lan), trưởng nhóm nghiên cứu chia sẻ rằng nạn phá rừng hay mất môi trường sống còn có thể được giám sát bằng viễn thám, nhưng hoạt động săn bắt chỉ có thể theo dõi trên mặt đất. Do vậy, cần có một phương pháp có hệ thống và nhất quán để ước tính tác động của nạn săn bắt ở các khu rừng nhiệt đới.
Trong nghiên cứu này, TS. Ana Benítez-López và các cộng sự đưa ra giả thuyết rằng nạn săn bắt diễn ra nghiêm trọng hơn ở các khu vực gần làng mạc và các địa điểm dễ tiếp cận như đường xá và lựa chọn các điểm này là điểm xuất phát tiến hành nghiên cứu.
Song trên thực tế, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng, càng đi xa các điểm dễ tiếp cận, mật độ loài ưa thích của các thợ săn sẽ tăng theo và tới các khu vực không bị tác động của săn bắt nữa. TS. Ana Benítez-López gọi đây là các khoảng cách suy giảm loài (species depletion distances) và cùng các đồng nghiệp của mình định lượng các khoảng cách. Xác định được khoảng cách suy giảm loài sẽ dễ dàng xây dựng bản đồ về suy giảm động vật do săn bắt tại các vùng nhiệt đới.
Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng các quần thể chim và thú chịu tác động từ nạn săn bắt lớn hơn so với dự đoán, đặc biệt tại các vùng nhiệt đới ở châu Phi, châu Á, Trung và Nam Mỹ. Nghiên cứu cho hay, độ phong phú của các loài chim đã giảm trung bình 58%, quần thể thú giảm trung bình 83% tại các vùng bị do săn bắt so với những khu vực không bị tác động.
Nghiên cứu chỉ ra rằng các quần thể chim và thú sẽ bị suy giảm trong bán kính 7 đến 40km từ các điểm dễ tiếp cận (đường xá và hay các khu dân cư). Hơn nữa, áp lực săn bắt tại các khu vực dễ tiếp cận là các thị trấn lớn thường cao hơn do hoạt động buôn bán thịt thú rừng.
Benítez-López cho hay sự khác nhau trong khoảng cách suy giảm loài giữa chim và thú – cụ thể là 7km từ các điểm tiếp cận với chim, còn với các loài thú là 40km – chủ yếu do các loài thú có kích thước lớn hơn, cho nhiều thịt hơn nên chúng trở thành đối tượng đáng giá bỏ công sức săn lùng hơn. Con thú càng lớn, thợ săn sẽ càng cố đi xa để bắt được chúng. Khi nhu cầu thịt thú rừng tại các vùng nông thôn và đô thị tăng lên, các loài lớn hơn bị săn bắt tới mức sắp tuyệt chủng tại các vùng gần các làng mạc. Các cuộc khảo sát gần đây cho thấy thậm chí người dân còn mang một số lượng thịt thú rừng đáng kể từ châu Phi tới châu Âu để tiêu thụ.
Cũng theo nghiên cứu, các thợ săn với mục đích thương mại thường tác động lớn hơn tới động vật hoang dã so với các thợ săn vì mục đích sinh tồn, săn bắt chỉ để phục vụ nhu cầu gia đình. Mật độ quần thể thú bên ngoài khu bảo tồn giảm xuống thấp hơn so với bên trong có nguyên nhân chính từ các hoạt động săn bắt nhằm mục đích thương mại này. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa rằng chỉ cần thành lập các khu bảo tồn thì động vật hoang dã nghiễm nhiên sẽ được an toàn. Thực tế, nghiên cứu cho hay quần thể chim thú trong các khu bảo tồn cũng bị suy giảm.
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, hiện chỉ còn 17% loài thú và 42% loài chim so với ban đầu còn lại trong các khu vực bị săn bắt. Do đó, nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần có các chiến lược quản lý hoạt động săn bắt thú rừng bền vững cho cả các hệ sinh thái nhiệt đới được bảo tồn và không được bảo tồn.(Thiennhien.net 25/8) đầu trang(./.
|
|||