Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 24 tháng 09 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Văn phòng UBND tỉnh Kiên Giang vừa có văn bản thông báo chỉ đạo của chủ tịch UBND tỉnh về việc thu hồi 95 dự án đầu tư ở đảo Phú Quốc theo kết luận trước đó của Thanh tra Chính phủ. Cụ thể, Ban quản lý đầu tư phát triển đảo Phú Quốc được giao thu hồi chủ trương đầu tư 54 dự án với tổng diện tích hơn 3.300ha.
Đối với 17 dự án liên quan đến đất rừng và cho thuê môi trường rừng, UBND tỉnh Kiên Giang giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với Ban quản lý đầu tư phát triển đảo Phú Quốc thu hồi các dự án chưa thực hiện, trừ các dự án cho thuê môi trường rừng đã được Ban thường vụ Tỉnh ủy chấp thuận chủ trương. (Tuổi Trẻ 23/9)đầu trang(
Sở NN&PTNT vừa báo cáo thành phố về dự thảo Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng Hà Nội, giai đoạn 2011 - 2020. Hiện, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp của Hà Nội vào khoảng 29.171,3ha, trong đó, rừng sản xuất 13.982,9ha, rừng phòng hộ 5.034,2ha và rừng đặc dụng 10.154,2ha.
Quy hoạch nhằm bảo vệ toàn bộ diện tích rừng tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao từ trồng rừng, phát triển du lịch sinh thái, nâng mức thu nhập trên 1ha đất lâm nghiệp từ 10 - 15 triệu đồng/ha/năm hiện nay lên 40 - 60 triệu đồng/ha/năm vào năm 2020, giải quyết việc làm cho 10 - 15.000 lao động. (Kinh Tế&Đô Thị 21/9)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên Phạm Đình Cự vừa yêu cầu Công ty TNHH Cây Xanh (Mỹ) tại KCN An Phú (TP Tuy Hòa, Phú Yên) nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu cây dó tại xã Phú Mỡ (huyện Đồng Xuân, Phú Yên).
Theo đó, trong khi chưa hoàn tất các thủ tục, chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án nhưng công ty đã tự ý trồng 20ha cây dó và xây dựng một số hạng mục phục vụ việc trồng rừng là sai quy định. (Tuổi Trẻ 22/9)đầu trang(
Thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), tỉnh Yên Bái đã triển khai thực hiện các bước theo đúng quy trình và đến nay đã cơ bản hoàn thành theo đúng kế hoạch.
Đặc biệt, Yên Bái đã xây dựng 2 đề án để triển khai thực hiện theo Nghị định 99 của Chính phủ là: Đề án Giao đất, giao rừng và khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài giai đoạn 2012-2015; Đề án Phân loại, thống kê đối tượng sử dụng, cung cấp DVMTR và cơ chế quản lý, sử dụng tiền chi trả DVMTR. Đây là hai đề án quan trọng góp phần quản lý và bảo vệ rừng bền vững, nâng cao thu nhập cho người trồng, bảo vệ rừng.
Rừng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong việc bảo vệ đất, chống xói mòn, bồi lấp sông, hồ, hấp thụ Cacbon và duy trì nguồn sinh thủy.
Như vậy, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) cũng là bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững của quốc gia. Tuy nhiên, để BV&PTR bền vững cần có sự vào cuộc tích cực của toàn xã hội, đặc biệt các ngành, đơn vị có liên quan phải chi trả DVMTR. Đến nay, tỉnh đã thành lập Quỹ BV&PTR, xác định được các đối tượng sử dụng DVMTR, đối tượng cung ứng DVMTR.
Tuy mới được thành lập chưa lâu nhưng Quỹ BV&PTR tỉnh đã khẩn trương thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, nhất là việc thương thảo ký kết hợp đồng ủy thác với các đơn vị sử dụng DVMTR. Đã ký hợp đồng ủy thác với Nhà máy Thủy điện Hưng Khánh, Nhà máy Thủy điện Nậm Tục và Công ty TNHH một thành viên Cấp thoát nước Nghĩa Lộ.
Quỹ đang thương thảo với các đơn vị sử dụng DVMTR nhưng vẫn chưa ký kết hợp đồng do các doanh nghiệp thủy điện chưa lấy được ý kiến chấp thuận của hội đồng quản trị. Đối với các đơn vị kinh doanh nước sinh hoạt thì lại cho rằng số tiền phải chi trả cho năm 2011 đã thực hiện xong quyết toán, báo cáo tài chính do vậy không xác định được nguồn chi trả; giá bán nước năm 2011, 2012 chưa được kết cấu tiền DVMTR.
Hiện các đơn vị đang xây dựng giá nước mới theo Thông tư 88/2012/TT-BTC ngày 28/5/2012 của Bộ Tài chính trình HĐND thông qua, trên cơ sở đó mới xác định được tiền chi trả DVMTR trong giá bán nước sinh hoạt làm cơ sở nộp tiền DVMTR...
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 24, Nghị định 99/2010/NĐ-CP thì chính sách chi trả DVMTR có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011. Như vậy, các đơn vị thuộc đối tượng sử dụng DVMTR hoạt động sản xuất, kinh doanh trước ngày 1/1/2011 sẽ có trách nhiệm thực hiện theo quy định. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp ngoài tỉnh chưa thực hiện nghiêm túc trong thực hiện chính sách chi trả DVMTR.
Để việc thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR, thiết nghĩ UBND tỉnh cần chỉ đạo các đơn vị sử dụng DVMTR trên địa bàn phối hợp chặt chẽ với Quỹ BV&PTR ký kết hợp đồng ủy thác, kê khai kế hoạch nộp tiền và thực hiện tốt chính sách chi trả DVMTR; các doanh nghiệp điện làm việc với các ngành liên quan để xác định lại giá mua điện nhằm đảm bảo lợi ích doanh nghiệp và thực hiện nghĩa vụ chi trả DVMTR theo quy định; ngành tài chính, công thương, Cục Thuế hướng dẫn các doanh nghiệp nộp tiền và hạch toán tiền DVMTR trong sản xuất, kinh doanh của đơn vị trong năm 2011-2012; Quỹ BV&PTR Việt Nam chuyển trả cho Yên Bái nốt số tiền DVMTR năm 2011, 2012 được sử dụng theo diện tích lưu vực cung ứng DVMTR cho các nhà máy thủy điện Sơn La, Hoà Bình và Thác Bà. (Báo Phú Yên 21/9)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Rừng ngập mặn Cần Giờ (TP HCM) là một trong những khu rừng được bảo vệ tốt nhất ở nước ta. Trong đó, có đóng góp không nhỏ của những hộ dân nhận khoán bảo vệ rừng. So với trước đây, đời sống của những hộ giữ rừng Cần Giờ đang được cải thiện khá nhiều khi họ đã có nhà cửa đàng hoàng, có điện...
Tôi đi thăm rừng Cần Giờ đã nhiều lần, nhưng trước đây chỉ đi trên đường bộ. Đây là lần đầu tiên, tôi đi sâu vào trong rừng bằng ghe máy. Đi trên đường bộ, đã thấy rừng Cần Giờ rất đẹp. Nhưng phải tới khi đi trên các con sông nhỏ len lỏi vào sâu trong rừng Cần Giờ, mới thấy được hết cái xanh, cái đẹp, cái mênh mông của rừng ngập mặn này.
Trong cái màu xanh thẫm miên man ấy của rừng ngập mặn, thỉnh thoảng lại thấy sáng lên màu xanh nhạt của một ngôi nhà nhỏ, chừng như mới được xây chưa lâu. Những ngôi nhà này có thiết kế rất giống nhau: nhà xây theo kiểu nhà sàn, nền nhà cách mặt đất đến hơn 1m, trên lợp mái tôn màu trắng … “Nhà của mấy hộ nhận khoán giữ rừng đấy, vừa là nhà vừa là chốt canh rừng”, đó là lời của anh bạn đồng hành - Phạm Hữu Huỳnh, nhân viên tổ kiểm lâm cơ động thuộc Hạt Kiểm lâm Cần Giờ.
Anh Huỳnh làm kiểm lâm ở Cần Giờ đã 19 năm nay, tuần nào cũng vài bận đi tuần rừng trên sông rạch, nên thuộc luồng lạch các con sông, các khu rừng và từng hộ giữ rừng ở đây như trong lòng bàn tay. Huỳnh bảo: “Người giữ rừng Cần Giờ bây giờ hết khổ rồi, không phải ở trong nhà lá tạm bợ như trước nữa mà đã được Nhà nước xây nhà gạch vững chắc, được cấp pin năng lượng mặt trời để lấy điện sinh hoạt, được cấp tẹc trữ nước mưa”.
Qua vài khúc cua trên sông Lò Vôi, anh Huỳnh cho ghe ghé vào một ngôi nhà đồng thời là chốt canh rừng. Đó là chốt số 3 thuộc tiểu khu 21, phân khu 6. Do nước đang xuống mạnh, ghe không thể cặp sát vào bờ sông mà phải cặp vào bên cạnh một chiếc ghe khác đã đậu sát bờ từ trước.
Chúng tôi phải trèo qua chiếc ghe ấy rồi đi qua một cái “cầu tàu” mà mặt cầu giống như một cái thang dây được gá lên 4 cây tre làm 2 đầu cầu, để đặt chân lên bờ sông. Độ an toàn của “cầu tàu” này xem ra còn kém xa mấy cây cầu khỉ ở đồng bằng Tây Nam Bộ, vì cầu khỉ còn còn có tay vịn, còn “cầu tàu” này thì không.
Trái ngược với sự mong manh của cái “cầu tàu”, ngôi nhà đồng thời là chốt canh rừng số 3 ấy lại khá vững chãi và còn rất mới. Anh Nguyễn Văn Dũng, chủ nhà, ra tận bờ sông đón chúng tôi. Nhà mới, nhưng đồ đạc, vật dụng trong nhà như ti vi, quạt điện…, đều khá cũ.
Anh Dũng bộc bạch: “Mười mấy năm cả gia đình sống tạm bợ trong mái lá để bám rừng, giữ rừng, giờ có được cái nhà gạch cao ráo, vững vàng mà mát mẻ như thế này để ở và canh rừng, là tốt lắm rồi. Nhà nước cũng vừa cấp cho tôi bộ pin mặt trời để lấy điện. Mấy ngày nữa cán bộ kỹ thuật sẽ vào để lắp pin. Cuộc sống vậy là ổn rồi. Đồ đạc cũ thì từ từ sắm mới”.
Gia đình anh Dũng vốn ở ấp An Nghĩa, xã An Thới Đông, huyện Cần Giờ. Cả gia đình gồm mấy thế hệ đã gắn bó với rừng ngập mặn Cần Giờ từ những năm 80 của thế kỷ trước. Năm 1996, cha của anh Dũng bắt đầu nhận khoán bảo vệ rừng. 10 năm trước, cha anh qua đời, anh thế vào chỗ ấy. Hiện tại, gia đình anh đang được giao khoán bảo vệ trên 50ha rừng, công khoán là 700.000 đ/ha/năm. Tính ra mỗi tháng tiền công bảo vệ rừng mà anh nhận về tròm trèm 3 triệu đồng.
Tôi hỏi: “Tiền công như vậy có đủ sống không?”. Anh Dũng lại cười: “Nói đủ thì bao nhiêu cho đủ? Nhưng có khoản tiền đó thì không phải lo đói rồi. Ngoài thời gian đi coi rừng, vợ chồng, con cái đều tranh thủ làm kinh tế phụ như bắt tôm, cá trên sông. Khéo tính thì đời sống cũng ổn. Nhờ đó, mình cũng yên tâm bám trụ ở đây để canh rừng”.
Gia đình anh Dũng vẫn giữ ngôi nhà ở An Nghĩa. Thằng út đang tuổi học hành, được anh chị cho về đó ở để tiện việc đi học. Còn 2 vợ chồng và những đứa con lớn, đều kéo nhau vào ở trong chốt canh rừng số 3. Vợ anh và các con còn chạy đi chạy lại, khi thì về An Nghĩa thăm thằng út, lúc lên Bình Khánh mua gạo, thực phẩm, hay đi đánh bắt cá trên các con sông nhỏ gần đó. Riêng anh Dũng hầu như toàn bộ thời gian trong ngày đều “trực chiến” ở rừng nhận khoán.
Rời nhà anh Dũng, chúng tôi xuống ghe đi tới một khúc sông khác, ghé vô nhà ông Phạm Văn Nhàn ở chốt số 10 (tiểu khu 18, phân khu 6). Nhà ở kiêm chốt canh rừng của ông Nhàn cũng đã được Nhà nước đầu tư xây dựng kiên cố từ trước Tết Nhâm Thìn. Cách không xa là cái mái lá cũ nát mà vợ chồng ông đã ở để giữ rừng suốt hơn 20 năm qua. Nhà mới đã được lắp pin năng lượng mặt trời. Ông Nhàn bảo mùa nắng, điện mặt trời dư xài cho sinh hoạt trong nhà, nên có thể xạc bình để chạy ghe máy. Mùa mưa, nắng ít hơn, cũng đủ điện để thắp sáng trong nhà.
Nhà ông Nhàn được khoán giữ 63ha rừng, công khoán 750.000đ/ha/năm. Mỗi tháng tiền công khoán xấp xỉ 4 triệu đồng. Vợ chồng ông Nhàn cũng tranh thủ làm thêm bằng nghề đánh bắt thủy sản trên sông, nhờ đó, không chỉ đủ cho sinh hoạt của cả gia đình mà còn nuôi 2 đứa con ăn học đàng hoàng. Con gái lớn hiện đang học nghề y tá, con trai nhỏ đang học lớp 11 trên An Phú Đông. Bà vợ thì đi đi về về giữa 2 nơi. Chỉ có mình ông ngày nào cũng gắn chặt với khu rừng nhận khoán, mà nhìn khắp xung quanh, chỉ thấy cây xanh, nước bạc.
Thường ngày chỉ có cây rừng làm bầu bạn, nhưng ông Nhàn bảo gần 30 năm gắn bó với rừng ngặp mặn, rừng đã trở thành chốn thân thiết, nhờ canh rừng mà nuôi được cả nhà, nên một mình ở đây cũng chẳng thấy buồn gì cả.
Từ khi được Nhà nước đầu tư xây dựng nhà ở kiêm chốt canh rừng kiên cố, lại lắp đặt pin năng lượng mặt trời…, gia đình ông Nhàn, anh Dũng cũng như nhiều hộ canh rừng khác ở Cần Giờ, đều đã thực sự an tâm, muốn gắn bó với rừng ngập mặn Cần Giờ thật lâu dài.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, hàng loạt nông trường ở Cần Giờ do các quận nội thành lập ra và quản lý, đã lần lượt bị giải thể. Trước đó, những nông trường này đã từng tham gia vào việc trồng lại và bảo vệ rừng ngập mặn Cần Giờ. Vì thế, khi những nông trường đó không còn tồn tại, đã để lại một khoảng trống trong công tác bảo vệ rừng ở nhiều tiểu khu.
Trước tình thế đó, Giám đốc Lâm trường Duyên Hải khi ấy là ông Nguyễn Đình Cương (nay là Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP HCM) đã mạnh dạn đề nghị TP HCM thí điểm giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ dân sở tại. TP đã đồng ý và 10 hộ đầu tiên đã được giao khoán bảo vệ rừng ở các tiểu khu 4b và 6b.
Đến nay, số hộ nhận khoán giữ rừng đã trên 170 hộ, với tổng diện tích giao khoán khoảng 14.000ha. Hộ được giao khoán nhiều nhất là hộ Nguyễn Thị Kim Hoàng, được giao bảo vệ trên 200 ha rừng ở tiểu khu 4b. Hộ ít nhất được giao khoán 40ha.
Ông Lê Văn Sinh, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ cho hay tiền khoán giữ rừng đang ở mức bình quân 725.000đ/ha/năm. BQL Rừng phòng hộ Cần Giờ đang đề nghị TP nâng mức tiền khoán lên 1,1 triệu đ/ha/năm. Nếu mức khoán mới được thông qua, những hộ giữ rừng Cần Giờ sẽ càng thêm yên tâm với việc giữ rừng vì khi ấy, với những hộ đang nhận giữ 40-50ha rừng, mỗi năm cũng đã có tiền công giữ rừng trên dưới 50 triệu đồng. Còn với những hộ đang giữ trên dưới 200ha rừng, tiền giữ rừng hàng năm lên tới trên dưới 200 triệu đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/9)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Việt Nam là quốc gia may mắn sở hữu nhiều loại dược liệu quý. Trong 12 nghìn loài cây đến nay đã xác định được 7.000 loài, trong đó có hơn 3.000 cây thuốc. Trước nguy cơ môi trường sinh thái bị ảnh hưởng do chặt phá rừng, chất lượng dược liệu đang bị đe doạ nghiêm trọng, việc xuất hiện nhiều mô hình trồng dược liệu và nhất là dược liệu sạch đang là giải pháp để bảo vệ độ phì nhiêu lâu dài của đất và hơn nữa, đóng góp vào bảo vệ môi trường.
Tại hội nghị Phát triển Dược liệu và Sản phẩm thuốc quốc gia cách đây chưa lâu - Thứ trưởng Bộ Y tế Cao Minh Quang cho biết, sản phẩm dược liệu Việt Nam rất đa dạng từng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu hàng ngàn tấn quế, hồi, thảo quả, hòe, địa liền, hương nhu, ích mẫu, atisô, đương quy, địa hoàng, bạch chỉ, bạch truật, bạc hà... Song nạn phá rừng, khai thác tràn lan đang làm cạn kiệt nguồn dược liệu quý hiếm, trong khi đó chất lượng dược liệu nhập khẩu rất đáng ngờ, có hiện tượng dược liệu nhập về bị chiết xuất bớt dược chất, chỉ còn "xác”.
Theo Viện Dược liệu - Bộ Y tế, trong tổng số 3.948 loài cây thuốc, gần 90% là cây thuốc mọc tự nhiên tập trung chủ yếu trong rừng, chỉ có gần 10% là cây thuốc trồng. Để hạn chế sự lệ thuộc vào nguồn dược liệu thu hái tự nhiên và nhập khẩu, các công ty dược Việt Nam đã và đang gây dựng lại những vùng nguyên liệu. Ngân hàng Bắc Á tư vấn đầu tư dự án thành lập Viện Nghiên cứu và Phát triển Giống dược liệu như một nơi có thể triển khai các kết quả nghiên cứu của các viện, trường, các nhà khoa học trong và ngoài nước trong lĩnh vực dược liệu.
Đi kèm với việc thành lập Viện là mô hình trồng dược liệu ở vùng đệm của Vườn Quốc gia Pù Mát và xã Mường Lống, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An), sáp nhập một số nông lâm trường ở đây cùng trồng vùng cây thuốc tập trung và xen canh dưới tán rừng. Đây là một nỗ lực nhằm gia tăng giá trị cho dược liệu, bảo tồn các cây thuốc quý hiếm, bảo vệ rừng và môi trường sống.
Vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang) có gần 8.000ha rừng trồng, rừng phòng hộ, có độ cao nhất trên 700m, chêch lệch vùng đồng bằng trên 40m, độ ẩm trung bình là 80%, khí hậu ôn đới. Các nhà nghiên cứu đã xác định được 893 cá thể thuộc 103 loài dược liệu, trong đó có 6 loài nằm trong sách đỏ cây thuốc Việt Nam đã có mặt tại vùng Bảy Núi. Được trồng trong môi trường trong lành không có nguy cơ ô nhiễm, thảo dược ở đây không chỉ là thuốc của người nghèo như trước. Khá nhiều doanh nghiệp, viện, trường, nghiên cứu triển khai ký kết hợp đồng với nhân dân nuôi trồng, bảo vệ và bảo tồn nguồn giống dược thảo quí.
Hiện ĐH Cần Thơ tiến hành phân tích cơ bản để tiến tới quy hoạch vùng nuôi trồng theo tiêu chuẩn GAP - WHO. Trung tâm Sâm và Dược liệu (TP. Hồ Chí Minh) đào tạo 4 cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện Tri Tôn về phương pháp nhân giống, trồng và thu hoạch cây chùm ngây theo hướng Viet GAP và GACP – WHO, nhằm tăng giá trị cho cây thảo dược và thu nhập cho người trồng, chủ động bảo tồn làm phong phú sản lượng và chủng loại cây thuốc quý hiếm của vùng Bảy Núi.
Công ty dược Domesco (Đồng Tháp) cùng với huyện Tịnh Biên quy hoạch vùng trồng 500ha với 10 loài thảo dược quý như Đinh lăng, Xuyên Tâm Liên, Hà thủ ô, ngải... tại Núi Cấm, bao tiêu sản phẩm với giá thỏa thuận vào quý 1 hàng năm. Công ty Du lịch An Giang cũng tranh thủ quy hoạch vùng trồng 20 ha để kết hợp phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với điều trị bằng thảo dược.
Sa Pa từng là quê hương của các loại cây dược liệu quý vào những năm 60 của thế kỷ trước, toàn bộ thị trấn Sa Pa và các vùng lân cận đều trồng và sinh sống bằng nguồn thu từ cây dược liệu, diện tích có thời điểm lên tới hàng nghìn ha. Công ty TNHH một thành viên TraphacoSaPa mới đây đã đầu tư 8 tỷ đồng xây dựng nhà máy chế biến cao Atisô mềm công suất 23.000kg/năm tại thị trấn Sa Pa (Lào Cai). Với công suất này, một năm nhà máy có thể tiêu thụ được 100.000 tấn cây nguyên liệu Atisô, cơ hội tốt để khôi phục và mở rộng diện tích trồng cây dược liệu nói chung và Atisô nói riêng tại Sa Pa.
Về lâu dài, trồng dược liệu sạch ở ta phải được coi là giải pháp sinh thái học an toàn, bền vững, chất lượng và sản lượng cao. Theo DS Tạ Ngọc Dũng, Tổng thư ký Hội Dược liệu Việt Nam, triển khai việc sản xuất dược liệu sạch đòi hỏi sự áp dụng lồng ghép kiến thức bản địa và công nghệ tiên tiến. Cần thúc đẩy tiêu chuẩn hoá chất lượng sản phẩm, thiết lập hệ thống thanh tra, hệ thống giám sát với sự tham gia của cộng đồng để không lâu nữa nước ta có được một nền sản xuất dược liệu sạch, đáp ứng nhu cầu phát triển và môi trường bền vững. (Đại Đoàn Kết 24/9)đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk vừa xây dựng dự án bảo tồn voi với tổng nguồn vốn đầu tư 60 tỉ đồng, triển khai từ nay đến năm 2014.
Dự án nhằm quản lý quần thể voi rừng và đàn voi nhà sau khi trên địa bàn tỉnh xảy ra nhiều vụ voi bị sát hại. Trong năm 2012, tỉnh Đắk Lắk có năm con voi rừng bị sát hại. Như vậy, từ năm 2009 đến nay, Đắk Lắk có 19 con voi bị sát hại.
Theo dự án, các cơ quan chức năng kiến nghị tỉnh Đắk Lắk cần sớm chuyển các công ty lâm nghiệp phía bắc huyện Ea Súp thành khu bảo tồn voi hoặc quản lý rừng có tác động thấp nhất để đảm bảo sinh cảnh cho các đàn voi rừng sinh sống với tổng diện tích gần 140.000 ha. Đồng thời, xử lý thích đáng các đối tượng săn trộm voi.
Theo các cơ quan chức năng, tỉnh Đắk Lắk hiện có 10 đàn voi hoang dã với khoảng 83-110 cá thể. Về đàn voi nhà, năm 1985 cả tỉnh có 502 con, đến năm 2.000 còn 84 con và nay chỉ còn 51 con. (Pháp Luật TPHCM 23/9)đầu trang(
Ngày 21/9, tại thành phố Pleiku (Gia Lai), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tổ chức Hội nghị quản lý, bảo vệ và phát triển rừng khu vực Tây Nguyên.
Hội nghị tập trung thảo luận và đề ra các giải pháp phù hợp, đồng bộ đảm bảo giữ tốt vốn rừng trong thời gian tới.
Năm giải pháp được các đại biểu thống nhất cao là tăng cường quản lý Nhà nước về lâm nghiệp tại địa phương; quản lý lâm trường quốc doanh và công ty lâm nghiệp; quản lý khai thác rừng; quản lý các cơ sở chế biến gỗ và nghiên cứu chính sách khôi phục-phát triển lâm nghiệp.
Từ các giải pháp trên, các địa phương sẽ nghiêm túc thực hiện việc dừng các dự án chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích phi lâm nghiệp, nhất là khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở khu vực Tây Nguyên; tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng theo hướng bảo vệ chặt chẽ rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là rừng tự nhiên; diện tích đất quy hoạch phòng hộ chưa có rừng ở những nơi chưa thật sự xung yếu thì chuyển sang phát triển rừng sản xuất gắn với giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc tại chỗ.
Bên cạnh đó, các tỉnh trong khu vực tập trung giải quyết dứt điểm tình trạng tranh chấp, lấn chiếm đất lâm nghiệp giữa người dân tại chỗ với các chủ rừng, chủ đầu tư xây dựng dự án, không để tạo tra "điểm nóng" khiếu kiện đông người.
Từ năm 2013, các tỉnh tạm dừng kế hoạch khai thác gỗ tự nhiên của 49 lâm trường, công ty lâm nghiệp, chỉ cho phép tiến hành khai thác ở 7 công ty đang thực hiện phương án quản lý rừng bền vững; tiến hành rà soát và quản lý chặt chẽ đối với các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm như không đảm bảo nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc địa điểm chế biến gỗ không phù hợp với quy hoạch trên từng địa bàn.
Từ nhiều năm nay, các địa phương ở khu vực Tây Nguyên đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, dẫn đến thực trạng tài nguyên rừng có chiều hướng suy thoái dần, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội ở từng địa phương.
Theo báo cáo của các tỉnh, từ năm 2007-2011, diện tích rừng ở khu vực Tây Nguyên đã bị mất khoảng 130.000ha, trong đó rừng tự nhiên mất hơn 100.000ha và rừng trồng giảm 22.000ha.
Hiện tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực còn chưa đến 5,5 triệu ha, diện tích rừng để tính độ che phủ là 2,8 triệu ha (tương ứng 51,3%), rừng có trữ lượng gần 1,8 triệu ha. Nguyên nhân chủ yếu là do chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác và tình trạng xâm lấn, khai thác, chặt phá rừng trái phép diễn ra khá phổ biến.
Tại hội nghị, ông Hà Công Tuấn - Thứ trưởng Bộ NN&PTNT chỉ đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm các tỉnh Tây Nguyên trong thời gian tới phải quản lý chặt chẽ, kết hợp kiểm tra thường xuyên, đột xuất các cơ sở chế biến gỗ; xử lý nghiêm và có thể đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở vi phạm. (Pháp Luật TPHCM 22/9; VietnamPlus.vn 22/9; Vov.vn 21/9; Lao Động 24/9)đầu trang(
Quảng Nam thiết kế trồng rừng theo lô đến hộ gia đình, triển khai tại 32 xã, thị trấn thuộc 4 huyện (Bắc Trà My, Tiên Phước, Hiệp Đức, Quế Sơn) với tổng diện tích 2.400ha trong năm 2012, thuộc dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) từ nguồn viện trợ của Ngân hàng thế giới (WB).
Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Trung Trung bộ tiến hành khảo sát, lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật với chi phí hơn 1,4 tỉ đồng. (Thanh Niên 21/9) đầu trang(
Năm 2012, tiếp tục thực hiện trồng rừng theo các chương trình, dự án 661 chuyển tiếp, phát triển lâm nghiệp (KFW7) và chương trình 30a đối với 5 huyện nghèo trong tỉnh… Nhưng kết thúc vụ trồng rừng năm nay, Sơn La chỉ đạt 70% kế hoạch (gần 3.000 ha).
Theo đó, những nguyên nhân khiến tỉnh này không đạt chỉ tiêu đặt ra gồm: chỉ tiêu, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng năm 2012 giao muộn; nguồn vốn dự án đầu tư từ ngân sách Trung ương chưa được cấp đủ; khó khăn trong công tác vận động người dân tham gia thực hiện trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng…
Được biết, vốn đầu tư giao cho kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của Sơn La năm 2012 là 30 tỷ đồng. Đây là năm thứ 2 liên tiếp việc trồng rừng trên địa bàn Sơn La không đạt kế hoạch giao. (Đại Đoàn Kết 23/9)đầu trang(
​Thực hiện việc gieo trồng trên 35 ha rừng trong năm 2012 theo Dự án trồng rừng phòng hộ kết hợp cảnh quan môi trường trên đảo Lý Sơn, Ban Chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn đã ươm thành công 8.000 cây giống (chủ yếu là sanh, sộp, bồ đề, bàn phiễu) để phục vụ cho công tác trồng rừng trên đảo.
Để đảm trồng mới 8.000 cây giống và khoảng 2.000 cây dương liễu, Ban Chỉ huy quân sự huyện Lý Sơn đã tiến hành đào được 1.000/10.000 hố trồng tại các địa điểm như núi Thới Lới, Hòn Sỏi, Giếng Tiền,…
Dự án trồng rừng phòng hộ kết hợp cảnh quan môi trường trên đảo Lý Sơn, giai đoạn 2012-2015 do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh làm chủ đầu tư, đến thời điểm này đã trồng được 19 ha rừng phòng hộ và 600 cây cảnh quan quanh đảo. (Theo Quangngai.gov.vn 23/9)đầu trang(
21.9, UBND tỉnh Bình Phước đã ký quyết định phê duyệt đánh giá tác động môi trường 2 nhà máy chế biến gỗ với công suất lớn.
Đó là dự án nhà máy sản xuất gỗ gia dụng xuất khẩu, công suất 200.000 sản phẩm/năm, do Công ty TNHH Công nghiệp King Jade BP Việt Nam làm chủ đầu tư (đóng tại KCN Chơn Thành II). Dự án thứ hai là mở rộng và nâng công suất nhà máy chế biến gỗ quy mô từ 1.000 m3 lên 15.000 m3 gỗ sơ chế/năm, do Công ty CP SX-TM-DV Phúc Thịnh làm chủ đầu tư (đóng tại KCN Đồng Xoài I). (Thanh Niên 22/9)đầu trang(
Bộ NN&PTNT cho biết, hiện cả nước có trên 3.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó có 95% doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân nên quy mô nhỏ cả về số lượng lao động và nguồn vốn đầu tư.
Nếu tính mức độ sử dụng lao động thì có đến 46% tổng số doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô siêu nhỏ; 49% là quy mô nhỏ; 1,7% là quy mô vừa; 2,5% là quy mô lớn. Về vốn đầu tư, có đến 93% số doanh nghiệp chế biến gỗ ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho rằng, đây là hạn chế mà doanh nghiệp Việt Nam cần khắc phục để phát triển ngành chế biến gỗ trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn như mục tiêu mà Bộ NN&PTNT đề ra. (Hà Nội Mới 24/9)đầu trang(
Nếu rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng bị phá, hàng triệu người ở Bình Dương, TP.HCM, Long An sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Những cây cổ thụ, những tán rừng dày với thảm thực vật phong phú của 365 ha rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng sẽ bị triệt hạ để giao cho Công ty Xi măng Fico Tây Ninh thực hiện giai đoạn 2 Nhà máy xi măng Fico Tây Ninh (dù giai đoạn 1 chưa kết thúc). Nội dung nêu trên trong tờ trình của UBND tỉnh Tây Ninh được HĐND tỉnh này thông qua tại kỳ họp tháng 7-2012 đang làm các chuyên gia về môi trường và nhiều người lo lắng.
Trước đó (tháng 10-2011), tại cuộc hội thảo do Hội Khoa học thủy lợi TP.HCM tổ chức, ông Trần Duy Tiến - Phó Cục trưởng Cục Quản lý Xây dựng công trình (Bộ NN&PTNT) lưu ý phải ưu tiên trồng lại rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng. Tờ trình quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 của UBND tỉnhTây Ninh lại nêu: Đề nghị loại khỏi quy hoạch rừng đối với 365 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng để giao cho Công ty Xi măng Fico Tây Ninh thực hiện giai đoạn 2 Nhà máy xi măng Fico Tây Ninh (gồm khu khai thác mỏ, bãi chứa sét…).
Trao đổi với chúng tôi, một đại biểu HĐND tỉnh Tây Ninh nói: “Tôi kiên quyết phản đối việc loại khỏi quy hoạch 365 ha rừng phòng hộ đầu nguồn. Trong khi giai đoạn 1 của nhà máy xi măng này còn 10 năm nữa mới khai thác xong, tại sao chúng ta phải triệt hạ một cánh rừng mấy chục năm tuổi? Không hiểu sao tỉnh lại sốt sắng với một dự án làm mất rừng phòng hộ và nguy cơ gây thiếu hụt nước, ô nhiễm môi trường như vậy. Công ty Xi măng Fico chỉ là một công ty cổ phần. Nếu đem ra cân đo thì số tiền đóng thuế của họ chẳng thấm vào đâu so với việc rừng bị mất. Tôi sẽ phản đối đến cùng”.
Theo ghi nhận của chúng tôi, khu rừng phòng hộ sắp bị “trảm” có mật độ cây rừng dày, thảm thực vật phong phú, nhiều cây gỗ có đường kính cả mét. Một cán bộ rừng quốc gia Lò Gò Xa Mát nhận xét: Khu rừng phòng hộ hồ Dầu Tiếng có ý nghĩa quan trọng đến mực nước hồ Dầu Tiếng. Việc loại cánh rừng này khỏi quy hoạch là việc làm cần phải cân nhắc chứ không thể vội vã…
Với thông tin cắt rừng phòng hộ đầu nguồn để làm dự án xi măng, GS-TSKH Nguyễn Ân Niên - Chủ tịch Hội Khoa học thủy lợi TP.HCM nói: “Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Dầu Tiếng là bảo vệ an nguy cho hồ Dầu Tiếng. Việc ăn cả rừng phòng hộ đầu nguồn dù dưới bất kỳ hình thức nào là hành vi tàn hại môi trường và gây hậu quả lớn cho hàng triệu người dân ở nhiều tỉnh sử dụng nước lòng hồ này. Trong khi lượng xi măng trong nước đang tồn đọng do quá nhiều nhà máy xi măng hoạt động thì việc cắt thêm rừng để làm dự án cần phải được đánh giá và trình các cơ quan chức năng trung ương, các chuyên gia thẩm định”.
Cùng quan điểm, TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm Phát triển bền vững tài nguyên nước và thích nghi với biến đổi khí hậu, thành viên Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), phản đối: Việc cắt hơn 300 ha rừng phòng hộ đầu nguồn Dầu Tiếng sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mực nước hồ Dầu Tiếng. Một khi rừng đầu nguồn đã bị triệt hạ thì khả năng tích nước, giữ nước của rừng không còn, lâu dài lòng hồ này sẽ kiệt dần nước.
Hàng triệu dân ở Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM, Long An sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Việc phát triển kinh tế địa phương cần phải đi đôi với bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên, không gây tổn thất cho môi trường và sinh kế của người dân. Nếu vì một dự án mà cắt đi hàng trăm hecta rừng đầu nguồn là việc làm nguy hiểm cho môi trường và đánh đổi quá lớn” - TS Tứ lo lắng.
Chúng tôi mang những lo lắng trên đến trao đổi với bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh. bà Thủy nói: Việc đưa 365 ha rừng ra khỏi đất lâm nghiệp mới chỉ là quy hoạch. Khi triển khai giai đoạn 2 của Nhà máy Fico, tỉnh sẽ xin ý kiến HĐND, Chính phủ. Khi kết thúc giai đoạn 1 của nhà máy, tỉnh sẽ đánh giá toàn diện với sự tham gia của HĐND và ngành chức năng. Sau đó UBND sẽ xin ý kiến Chính phủ, HĐND mới tiếp tục triển khai giai đoạn 2. Đây là dự án xi măng đã được Chính phủ phê duyệt vào năm 2008. Đối với giai đoạn 2 của nhà máy này, mọi việc chỉ mới là trong giai đoạn quy hoạch, khi triển khai tỉnh sẽ giám sát chặt chẽ việc bảo vệ môi trường của dự án này… (Pháp Luật TPHCM 24/9)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Đình Cự đã yêu cầu Công ty TNHH Cây Xanh do ông Bạch Đông, quốc tịch Hoa Kỳ làm Tổng giám đốc (Trụ sở tại Khu công nghiệp An Phú, TP Tuy Hòa) nghiêm túc rút kinh nghiệp trong việc chậm triển khai dự án trồng rừng nguyên liệu cây dó tại xã Phú Mỡ, huyện Đồng Xuân.
Công ty TNHH Cây Xanh được giao thực hiện dự án này từ năm 2007; tuy chưa có quyết định giao, cho thuê đất, ký hợp đồng thuê đất và chưa cắm mốc giao đất ngoài thực địa; chưa có thiết kế cơ sở và ý kiến thẩm định của các ngành chức năng; chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án nhưng đã triển khai trồng 20ha cây Dó tại khu vực Suối Lạnh, xã Phú Mỡ và xây dựng một số hạng mục khác phục vụ cho việc trồng rừng. Giấy chứng nhận đầu tư của dự án đã hết hạn từ năm 2009 nhưng đến nay vẫn chưa được điều chỉnh.
Việc Công ty TNHH Cây Xanh xây dựng kho chứa công cụ sản xuất; làm lán trại cho công nhân và hệ thống đường nội bộ; xây dựng vườn ươm cây giống và các bảng báo… vi phạm điều 15 của Luật Đất đai năm 2003. (Báo Phú Yên 22/9)đầu trang(
Để tìm hiểu việc tồn tại hay không tồn tại loại Sao La đặc biệt quý hiếm, ngay trong những ngày đầu tháng 9, PV Người đưa tin đã có chuyến công tác dài ngày tại Vườn Quốc gia Vũ Quang (huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh)...
Sau sự biến mất của loài tê giác Java - động vật đặc biệt quý hiếm từng được phát hiện tại Việt Nam - dư luận trong và ngoài nước đặt câu hỏi, có bao nhiêu loài thú quý hiếm khác ở nước ta đã và đang nằm trong diện nguy cơ tuyệt chủng? Chúng tôi chợt nhớ tới Sao La (được phát hiện tại Vũ Quang - Hà Tĩnh năm 1992), đang bị nghi là đã tuyệt chủng ở nơi từng tìm ra chính nó.
Vũ Quang một ngày vào Thu, trời mát nhưng phải đến gần nửa đêm chúng tôi mới chợp mắt được, dù biết rằng, phải nghỉ sớm để bảo đảm sức khỏe cho chuyến đi có một không hai: Xuyên rừng tìm Sao La. Tửng bưng sáng, Hùng - thợ săn thú trong vùng đã lao xe máy chạy đến nhà anh bạn tôi mới quen (trú tại Hương Điền - Vũ Quang) để đánh thức mọi người. Thấy tôi vẫn còn ngái ngủ, Hùng gắt: "Dậy nhanh lên chú mày. Giờ mà không đi, thì còn săn, với bắn cái gì nữa!".
Một lúc tỉnh hẳn, tôi có ý muốn thuê mấy người dân sơn trang nơi đây đi cùng vào vườn rừng tìm manh mối có hay không tồn tại loại thú bị nghi đã tuyệt chủng ở trên. Chí ít, họ cũng am hiểu vùng rừng rú Vũ Quang này hơn tôi, chứ không phải đi săn thú gì cả. Bất giác, tất cả mọi người cười ngất: "Nếu làm thuê thì bọn này đi theo mấy ông tiếng eng, tiếng em gì đó, kiếm bội xèng. Làm đếch gì đến lượt các ông. Nhưng thôi, với anh chỉ cần bỏ mấy đồng mua vài chai rượu quê là ổn. Còn tụi này vào rừng gặp thú vẫn bắn không thì xót của rừng...". Thấy tôi nhắc đến cánh kiểm lâm, thì Hùng giơ tay lên hất. Vẻ cóc cần.
Sau một hồi hành trình vào rừng bằng xe gắn máy, chúng tôi nghỉ lại triền dốc. Cách thành cụ Phan chừng 500m, khi ấy, trời vẫn mới 5h sáng. Sau đó, chúng tôi bỏ xe, cuốc bộ vào vườn rừng đi tìm vận may đúng như lời mấy tay sơn tràng thường nhắc: "Ăn được của rừng, rưng rưng nước mắt". Những bước chân thất thểu của tôi khi phải leo lên núi, đám ng?ời đi cùng nhìn thấy cười ngất ngưởng.
Do vào vườn rừng không được sự đồng ý của cán bộ Vườn Quốc gia Vũ Quang và Bộ đội biên phòng nên chúng tôi phải men theo đường tắt, đi một mạch vào trong rừng sâu. Hai bên đường vào rừng vẫn cơ man là cây,xanh ngút ngát. Tuy nhiên, theo mấy tay sơn tràng dẫn đường thì hầu như số đó là cây dại, không cho gỗ tốt và số cây cho gỗ tốt thì chưa thể khai thác được. Vì thế, dân sơn tràng lành nghề không đốn cây này để lấy gỗ. Còn muốn săn bắt được thú, nhất là loại thú quý hiếm thì khác gì… tìm đường đi lên trời. Bởi bây giờ, thú rừng ở Vườn Quốc gia Vũ Quang hầu như đã bị cạn kiệt. Muốn săn bắn thì phải sang bên kia rừng Lào.
Hùng tâm sự: "Ngày xưa, chỉ cần vào khu rừng này, những địa danh như Mạn Chạng, Hói Trùng, xa xa hơn là đỉnh Giàng Màn... cắm mấy cái bẫy thú thì tha hồ mà bắt khỉ, heo rừng và hoẵng, thậm chí, nhiều loại chim thú quý hiếm như chim trĩ, hổ, báo... cũng bị dân sơn tràng vùng này bắt tuốt. Nhưng bây giờ khó lắm, một chuyến may ra được một vài con thú nhỏ là ổn!".
Thấy chủ ý của tôi toàn đề cập đến chuyện Sao La, bất ngờ Hùng phá lên cười, hai hàm răng vàng khoét nhô ra trông như răng con thú dữ, đến nỗi người quen biết Hùng như tôi vẫn thấy ớn. Hùng kể: "Tôi biết đi săn bắn từ thuở tóc để chỏm. Tuy nhiên, Sao La cũng chỉ nghe người ta kể lại là có thôi, chứ chưa từng nhìn thấy bao giờ? Mà khu bảo tồn này không còn, thì các khu rừng khác cũng đừng mong mà có được".
Cường - anh bạn đi cùng chúng tôi bất ngờ lên tiếng phản pháo: "Thằng Hùng chỉ biết săn bắn ba con thú cỏn con về bán cho các nhà hàng ngoài phố lấy tiền nuôi mấy con cụt đọt, chứ làm răng mà biết đến sao, với la". Nói rồi, Cường khoái trá chế giễu bạn như muốn khoe vốn hiểu biết của mình về khu rừng đại ngàn đặc biệt này: "Sao La vùng này, ngày xưa nhiều vô kể. Ngay cả trong nhà tôi, giờ vẫn còn bộ sừng của nó do bố để lại nhưng do lâu ngày đã bị bào mòn, lốm đốm trông như sừng con bò nhà mà thôi".
Cường kể, cách đây mấy năm có một con thú bị sa bẫy nhưng do cánh thợ săn vào chậm nên bị chết. Khi đưa về phố tiêu thụ mới phát hiện Sao La. Thậm chí, có người còn mua bộ sừng của nó để đưa về nhà cất giấu. Nghe đâu đã bán rồi, còn giá bao nhiêu thì không rõ.
Mấy ngày trời trong vườn rừng Vũ Quang (dù là đêm về ở nhà dân sống gần bìa rừng), quả thật là vô cùng khắc nghiệt đối với chúng tôi. Trong khi, mỗi lần đi vào rừng tôi đã được cánh sơn tràng mang hết đồ đạåc, còn mình không cầm gì ngoài cái máy ảnh du lịch. Từ hướng Đông sang Tây, từ Nam sang Bắc, gần như xuyên suốt Vườn rừng Quốc gia Vũ Quang, nhóm chúng tôi cũng chỉ bắt gặp một vài ba con thú hoang nho nhỏ như chồn, gà rừng và khỉ... Tuy nhiên, nhìn thấy là một chuyện còn để bắt được nó phải cần thời gian và sự khôn khéo như dân phường săn thú.
Năm 2007, khi nghe tin ở Vườn Quốc gia Vũ Quang có loài Sao La, cô Santini, một nghiên cứu sinh người Ấn Độ đã bỏ gần hai năm trời lên rừng xuống suối vào đây để nghiên cứu loài động vật này. Không biết kết quả nghiên cứu của cô ta thế nào nhưng không thấy báo lại với ban quản lý, và lúc đó Ban cũng chưa đủ khả năng để kiểm tra kết quả nghiên cứu của cô.
Ông Dương Tri T. (trú tại thị trấn huyện Vũ Quang) cho biết: "Sở dĩ Sao La giờ chỉ còn là huyền thoại là vì nguồn thức ăn chính của nó là cây môn thục mọc ở các khe suối bị thu hẹp, đặc biệt, nạn săn bắt thú rừng ngày càng một tinh vi. Trong khi các dự án bảo tồn phi chính phủ đầu tư vào chưa đạt hiệu quả và còn mang tính manh mún. Do vậy, Sao La bị tuyệt chủng là không ngoài dự đoán của người dân như chúng tôi. Nó mong manh như chính tên gọi của... chính nó".
Còn một cán bộ bảo vệ rừng ở đây (xin được giấu tên) buồn bã tâm sự: "Giờ thì loài Sao La đã tuyệt chủng chính nơi đã từng được tìm ra!". Ông Đào Duy Phiên - Giám đốc Vườn Quốc gia Vũ Quang cho biết: "Chúng tôi làm đây cũng đã lâu năm rồi, nhưng thông tin về loài Sao La có rất ít, thậm chí cán bộ của khu bảo tồn vẫn chưa từng gặp nó. Tuy nhiên, có một thực tế, ngay cả các loại thú dễ kiếm như nai, hoẵng, lợn rừng... còn khó kiểm soát, chứ đừng nói đến loại thú thú quý hiếm như: Sao La, voi và hổ... Vì thế, để khẳng định Vườn Quốc gia này có hay không loài Sao La là điều tôi không thể dám chắc!" (Người Đưa Tin 23/9)đầu trang(
Tin từ UBND tỉnh Cà Mau ngày 23.9 cho biết, Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết định thành lập đoàn thanh tra do Chánh Thanh tra Nhà nước tỉnh làm trưởng đoàn.
Nội dung thanh tra nhằm làm rõ việc sử dụng tiền hỗ trợ trồng rừng theo quy định Chính phủ; các khoản thu phí, khoán và thuế đối với người dân trồng, giữ, bảo vệ rừng; dấu hiệu lợi dụng việc bồi hoàn giá trị đầu tư trên đất rừng để né đấu thầu, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước… Đoàn thanh tra chính thức làm việc vào ngày 24.9 và báo cáo kết quả cho UBND tỉnh trước ngày 2.11. Trước đó, Cty TNHH MTV U Minh Hạ đã có báo cáo giải trình nhưng không được UBND chấp thuận xung quanh nội dung mà Báo Lao Động đã phản ánh. (Lao Động 23/9)đầu trang(
Nhu cầu sử dụng sừng tê giác làm thuốc ở châu Á, nhất là ở Việt Nam đã làm tăng nạn săn bắn trộm tê giác ở Nam Phi lên mức chóng mặt. Và với đà này, 15 năm nữa, con tê giác cuối cùng ở châu Phi sẽ chịu chung số phận như tê giác Vườn Quốc gia Cát Tiên.
Đó là nhận định của một số chuyên gia bảo tồn tham gia cuộc tọa đàm hưởng ứng Ngày Tê giác thế giới do Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, phối hợp với WWF-Việt Nam và Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam tổ chức ngày 20-9.
Theo PGS, TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự kiện cá thể tê giác được cho là cuối cùng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên bị giết hại vào năm 2010, là một bài học về bảo tồn các loài hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.
Ông Nguyễn Bá Ngãi khẳng định, nhu cầu sử dụng sừng tê giác là nguyên nhân chính dẫn đến tê giác đang ngày đêm bị săn lùng và buôn bán trái phép xuyên quốc gia với sự tham gia của các tổ chức tội phạm quốc tế.
Tại Nam Phi trước năm 2008, số lượng tê giác bị săn bắn trái phép chỉ ở mức trên dưới 10 cá thể, nhưng từ năm 2008 tới nay, số lượng tê giác bị chết do săn bắn trái phép đã tăng lên từ vài chục đến vài trăm cá thể một năm. Theo số liệu báo cáo, chỉ tính riêng trong năm 2011, Nam Phi đã mất 448 cá thể tê giác. Nửa đầu năm nay, con số này đã là 251cá thể. Và mới nhất, tính đến ngày 12-9, có 381 cá thể tê giác bị săn trộm ở Nam Phi.
Theo ông Văn Ngọc Thịnh, Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF), số lượng tê giác ở Nam Phi bị săn trộm tăng chóng mặt (đến 3.000%), và con số này vẫn tăng lên hàng ngày. Số lượng tê giác ở châu Phi còn khoảng 20.000 cá thể. Với tốc độ săn trộm này, theo ông Thịnh, chỉ khoảng 15-20 năm nữa, tê giác ở đây cũng sẽ bị tuyệt chủng như con tê giác cuối cùng ở Cát Tiên.
Theo TS A. Christy Williams, Chuyên gia về tê giác và voi của WWF, loài tê giác trên thế giới đang bị những kẻ săn trộm, thương nhân và người tiêu dùng tấn công để lấy sừng. Hiện chỉ còn lại một vài quần thể nhỏ tê giác Java và Sumatra, loài động vật thời tiền sử này có nguy cơ biến mất vĩnh viễn nếu như không có các biện pháp để gia tăng số lượng các cá thể, ngăn chặn việc săn bắn trộm và buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác.
Theo ông Văn Ngọc Thịnh, buôn bán động vật hoang dã, trong đó có tê giác là tội phạm buôn lậu lớn thứ năm, chỉ đứng sau ma túy, vũ khí, buôn người và dầu mỏ. Đây là nghề kinh doanh mang lại lợi nhuận “khủng”, mỗi năm tổng lợi nhuận từ buôn bán động vật hoang dã mang lại là 7,8 đến 10 tỷ USD.
Tuy nhiên, đây lại là một nghề buôn bán ít rủi ro hơn những nghề buôn bán phạm pháp khác. Nếu buôn bán ma túy bị bắt thì người phạm tội đứng trước nguy cơ bị tử hình. Trong khi nếu buôn bán động vật hoang dã thì chỉ bị xử phạt rất nhẹ, nó không mang tình răn đe cho những người có ý định phạm tội.
Bởi thế, nhu cầu của người sử dụng và mức lợi nhuận lớn lại ít rủi ro khiến việc buôn bán động vật hoang dã gia tăng, nạn săn bắn trái phép cũng nhờ đó mà tăng theo, dẫn đến sự nguy cấp của các loài bị buôn bán.
Trước tình hình săn trộm tê giác gia tăng, Chính phủ Nam Phi phản ứng rất mạnh mẽ, nhưng các kẽ hở vẫn còn. Và nhiều tổ chức bảo tồn xác định, một nguyên nhân chính khiến nạn săn trộm tê giác ở Nam Phi gia tăng đó là do nhu cầu sử dụng sừng tê giác lớn ở Việt Nam, trong khi việc thực thi pháp luật còn lỏng lẻo.
Phó Giám đốc Cơ quan CITES tại Việt Nam Đỗ Quang Tùng cho rằng, sừng tê giác không dễ dàng được mua bán ở Việt Nam như nhiều người nghĩ. Nam Phi mất gần 450 con tê giác do săn bắn trộm năm 2011, nếu “đổ lỗi” hoàn toàn do Việt Nam buôn bán là không có căn cứ. Bởi với giá sừng tê giác là 5.000 USD/lượng, và số sừng tê giác bị săn trộm ước tính khoảng 4 tấn, thì việc tiêu thụ sừng tê giác ở Việt Nam sẽ ngốn khoảng vài trăm triệu USD, đó là điều không thể. Hơn nữa, theo ông Tùng, không thể có một tổ chức nào có thể vận chuyển lậu được khối lượng khổng lồ 4 tấn sừng tê giác về Việt Nam để bán.
Mặt khác, theo ông Tùng, năm 2012, chỉ có hai vụ buôn bán sừng tê giác về Việt Nam được phát hiện. Và trên thực tế, chưa hề có vụ người Việt Nam săn trộm tê giác nào được phát hiện ở Nam Phi.
Ông Nguyễn Văn Bản, Phó Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam đã kể ra khá nhiều công dụng của sừng tê giác trong việc chữa trị các chứng bệnh theo y học cổ truyền của Việt Nam. Sừng tê giác trong các bài thuốc y học cổ truyền để chữa sốt, mụn nhọt đã có từ lâu đời. Sừng tê giác là vị thuốc có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, thường dùng chữa các bệnh ôn nhiệt sốt cao, hôn mê nói nhảm, co giật… Ông Bản điểm ra 50 bài thuốc theo sử sách có sử dụng sừng tê giác.
Tuy nhiên, trước tình trạng tuyệt chủng của tê giác, mấy năm gần đây, Hội Y học cổ truyền đã kêu gọi các hội viên không sử dụng sừng tê giác và các sản phẩm từ tê giác trong việc kê đơn bốc thuốc. Tuy nhiên, trong dân chúng vẫn còn lưu truyền tác dụng chữa bệnh của sừng tê giác, nên nhiều người vẫn mua để sử dụng. Vì thế, theo ông Bản, cần phải tuyên truyền cho người dân về việc không sử dụng sừng tê giác.
Về công dụng của sừng tê giác, ông Bản cho rằng, từ trước tới nay chưa có một nghiên cứu khoa học nào. Theo ông, rất cần có một nghiên cứu để kết luận chính xác về điều này, nhưng phía hội lại không có kinh phí để làm việc đó. Tại cuộc tọa đàm, ông Tùng cho biết, nếu phía Hội Y học cổ truyền có đề xuất cụ thể và đề án rõ ràng, thì CITES sẽ hỗ trợ kinh phí để nghiên cứu về vấn đề này.
Trước câu hỏi nếu nghiên cứu này kết luận rằng sừng tê giác có công dụng tốt trong việc chữa bệnh, thì giới y học cổ truyền Việt Nam có sử dụng sừng trong việc kê đơn, bốc thuốc nữa không, ông Bản cho rằng, lúc đó, sẽ có một cuộc bàn thảo tiếp theo về việc lựa chọn giữa giá trị sống còn của con người và sự tồn tại của loài tê giác. Theo ông, nên chăng, khi đó, các nước cần tìm cách nhân giống tê giác để có số lượng lớn hơn phục vụ cho con người. Còn hiện tại, đứng trước tình trạng tuyệt chủng của loài này, ông Bản vẫn kêu gọi các thầy thuốc đông y không kê tê giác như một vị thuốc trong khi chữa bệnh cứu người. (Nhân Dân 22/9)đầu trang(
Số lượng tê giác bị giết trên thế giới tăng đột biến trong những năm qua, trung bình cứ 12 đến 15 tiếng lại có một con tê giác mất mạng.
“Việt Nam từng có tê giác sinh sống. Sự kiện tê giác được cho là cuối cùng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên bị giết hại năm 2010 là một bài học về bảo tồn các loài hoang dã nguy cơ tuyệt chủng", tiến sĩ Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục Trưởng Tổng cục Lâm nghiệp phát biểu trong một sự kiện nhân "Ngày tê giác thế giới" 22/9.
Trong những năm qua Việt Nam có nhiều nỗ lực trong việc phối hợp với cơ quan tăng cường bảo vệ động vật hoang dã.
“10 năm qua, Việt Nam bắt giữ 17 nghìn vụ liên quan động vật hoang dã. Riêng sừng tê giác lực lượng chức năng thu giữ trên 100 kg, đây là con số không nhỏ”, ông Đỗ Quang Tùng, Phó Giám đốc Cơ quan quản lý động vật hoang dã CITES Việt Nam cho hay.
Các chuyên gia cảnh báo, Nam Phi - nơi chiếm tới 95% số lượng tê giác toàn thế giới có thể có “số phận” giống Việt Nam nếu không có biện pháp tích cực để bảo vệ loài động vật quý hiếm này.
Theo công bố của Nam Phi, trước năm 2008, nước này mất trên dưới 10 con tê giác mỗi năm, nhưng số lượng tê giác bị săn trộm đột biến cũng từ năm 2008 khi có trên 50 vụ bị bắt giữ; năm 2010 là 333 con bị bắn chết, năm 2011 là 448 con bị giết. Trong 8 tháng đầu năm nay con số tê giác bị giết hại là 381 con.
“Như vậy, trung bình cứ 12 đến 15 tiếng, một con tê giác bị săn bắn trái phép ở Nam Phi. Theo dự đoán của nhiều giới chuyên gia, năm nay Nam Phi có trên 500 con sẽ bị săn bắt”, ông Tùng cho biết.
Bà Nontatu Skolo, Tham tán Chính trị Đại sứ quán Nam Phi tại Việt Nam lo lắng. “Ngành du lịch của chúng tôi phụ thuộc vào năm loài thú lớn mà tê giác là một trong số đó. Do vậy, săn bắn tê giác trái phép đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến ngành du lịch của đất nước chúng tôi” .
Nguyên nhân khiến tê giác bị tiêu diệt do mức giá cao ngất ngưởng của sừng tê giác ở châu Á. Nhiều người châu Á tin rằng sừng tê giác là một phương thuốc hữu hiệu. Sở thích của con người muốn treo sừng tê giác trên tường làm chiến lợi phẩm cũng là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Tê giác Nam Phi.
“Sừng tê giác không phải là để treo trên tường hay để làm dược phẩm như suy nghĩ của nhiều người, mà chúng thuộc về các con tê giác khỏe mạnh sinh sống trong sinh cảnh tự nhiên của chúng. Ngày Tê giác thế giới là một cơ hội tuyệt vời để xua tan câu chuyện hoang đường về sừng tê giác", bà Laura Stone, Tham tán Kinh tế, Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, nói.
Stone kể về nỗ lực bảo tồn con đại bàng đầu hói - biểu tượng của nước Mỹ. Bà cho biết, bà chỉ nhìn thấy những con đại bàng đầu hói khi nó còn bé. Do bị thợ săn và thuốc trừ sâu nên chúng đã gần tuyệt chủng. "Nước Mỹ đã vào cuộc vào giờ tôi đã thấy nó bay trên nóc nhà người dân ở Mỹ, đến nay có khoảng 10.000 đại bàng đầu hói ở Mỹ”, bà Stone nói.
Tiến sĩ A. Christy Williams, chuyên gia về tê giác và voi của WWF nói: “Chỉ còn lại một vài quần thể nhỏ tê giác Java và Sumatra. Loài động vật thời tiền sử này có nguy cơ biến mất vĩnh viễn nếu như không có các biện pháp để gia tăng số lượng các cá thể, ngăn chặn việc săn bắn trộm và buôn bán bất hợp pháp sừng tê giác".
Một biên bản Hợp tác về Bảo tồn đa dạng sinh học với nội dung chính là ngăn chặn, kiểm soát buôn bán trái phép mẫu vật tê giác giữa Việt Nam và Nam Phi đã được Chính phủ hai nước thông qua và dự kiến sẽ được ký kết trong năm nay. (Vnexpress.net 22/9)đầu trang(
Hoa hồi là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của tỉnh Lạng Sơn. Tổng diện tích rừng hồi của tỉnh hiện có hơn 33.400 ha, chiếm 71% tổng diện tích rừng hồi cả nước; sản lượng quả hồi (hoa hồi) khô đạt hơn 6.500 tấn/năm, đem lại giá trị xuất khẩu ước khoảng từ 600 đến 700 tỷ đồng/năm. Nhưng gần đây, cây hồi đang có nguy cơ bị tàn lụi do một loại sâu lạ "tiến công", mà hiện chưa có cách diệt trừ hiệu quả.
Ðầu tháng 8, chúng tôi mới có dịp trở lại huyện Văn Quan, nơi được coi là "vương quốc" hồi Xứ Lạng. Dẫn đi xem vườn hồi, anh Hoàng Văn Hưởng, Trưởng thôn Bản Nầng, Tân Ðoàn (Văn Quan), vẫn chưa khỏi bàng hoàng, tay chỉ vào một số cây hồi chết khô héo, tàn lụi hết lá, xót xa nói: Gia đình có hơn sáu ha hồi, mỗi năm thu hơn sáu tấn quả, bán được giá hơn 100 triệu đồng. Năm nay, hoa hồi được mùa, nhưng lại gặp phải sâu lạ ăn hết lá, không ra quả được. Loại sâu này rất tàn độc thường ăn về đêm, sau một đêm là sâu ăn trụi hết lá hồi, rồi lại bò sang cây khác. Sâu phát triển nhiều nhất từ tháng 3 đến tháng 4, mật độ sâu từ hàng trăm đến hàng nghìn con/cây. Con sâu rất khó phát hiện, lúc đầu loại sâu này làm tổ ở dưới mặt đất ẩm ướt của tán rừng hồi.
Khi trưởng thành chúng leo lên cây ăn lá hồi, chúng ăn trụi cả hoa cuống quả, chỉ trong thời gian ngắn, khiến cây hồi chỉ còn trơ cành. Ở giai đoạn nhộng, con sâu to bằng đầu móng tay, ban ngày ẩn dưới lá mục, nhìn có ánh kim óng ánh, nên bà con gọi là sâu ánh kim, hay gọi là bọ ánh kim... Sau hai tháng ăn lá hồi, nay sâu tự nhiên biến mất, đi lần từng gốc hồi, vén từng lá hồi lên, chẳng thấy con sâu, hay trứng để lại.
Anh Hưởng thở dài ngao ngán: Chẳng biết lũ sâu đã chui xuống đất hay bay đi đâu, nếu sang năm chúng lại trở về thì thật là thảm họa... Bí thư Ðảng ủy xã Tân Ðoàn Hoàng Hữu Nghị lo lắng nói: Mối họa này mà không diệt được vài năm nữa rừng hồi sẽ không còn. Năm nay, cả xã có hơn 179 ha rừng hồi bị sâu hại và hầu hết diện tích rừng hồi còn lại hơn 200 ha đều bị nhiễm sâu, với tỷ lệ sâu thấp hơn, nhưng cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng hoa hồi.
Xã đã đề nghị các cơ quan chức năng của huyện đến tìm hiểu, hướng dẫn bà con phun thuốc diệt sâu, nhưng chưa đem lại hiệu quả cao. Vì cây hồi thường cao từ 5 đến 15 m, lá hồi lại nhỏ mỏng manh, con sâu nhỏ bám ngay dưới lá, rất khó diệt... Nếu không phòng, trừ kịp thời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của cây hồi...
Tiếp giáp với xã Tân Ðoàn là xã Yên Phúc, nơi được coi là "rốn" hồi của Văn Quan, anh Lăng Văn Tiến, ở chợ Bãi cho biết: Nhà có hơn ba ha rừng hồi, nhưng bị sâu ăn lá gần hết. Loại sâu bọ này chỉ thích ăn lá, búp lá, đọt lá cây hồi, gia đình cùng với nhiều hộ khác trong thôn đã đi mua thuốc bảo vệ thực vật về phun, nhưng vẫn không hề hấn gì, nó cứ ăn hết từ cây này sang cây khác, nên bà con rất hoang mang. Ngoài sâu ánh kim, hiện rừng hồi còn bị hai loài sâu khác gây hại gồm bọ rẹt và Nòn Cháp... cũng ăn lá, gặm vỏ và hại quả hồi.
Chi cục Trưởng Bảo vệ thực vật tỉnh Lạng Sơn Hoàng Văn Ðảy cho biết: Từ tháng 3 đến tháng 7, trên địa bàn tỉnh đã có hơn 500 ha rừng hồi bị nhiễm sâu ánh kim, trong đó có hơn 420 ha rừng hồi bị nhiễm nặng, có cây mật độ sâu từ hàng nghìn con, mỗi lá hồi có từ ba đến bốn con, sâu ăn trụi hết.
Các huyện: Văn Quan, Bình Gia, Cao Lộc... bị sâu phá hại nặng nề. Loại sâu này đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ trước, tuy nhiên lúc đó mật độ gây hại diện tích hồi không đáng kể, đến nay mới bùng phát mạnh. Hiện vẫn chưa xác định được tên khoa học cũng như đặc tính, vòng đời sinh trưởng của loài sâu này.
Vì vậy, Chi cục Bảo vệ thực vật chưa xác định được loại thuốc diệt trừ hiệu quả, trong thời gian tới Chi cục sẽ xây dựng đề án nghiên cứu để diệt trừ loại sâu này... Do bị sâu gây hại, vụ hồi năm nay, sản lượng và chất lượng hoa hồi bị giảm nên ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người trồng hồi... trong khi đó, các ngành chức năng đang lúng túng, chưa tìm ra phác đồ điều trị, tìm giải pháp diệt trừ sâu lạ. (Nhân Dân 22/9)đầu trang(
Phát triển kinh tế rừng được Đảng bô xã Văn Hán, Đồng Hỷ xác định là hướng đi triển vọng, không chỉ tạo được việc làm cho nông dân, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc mà còn góp phần trong việc xóa đói giảm nghèo.
Ông Lưu Quang Đảng, Phó Chủ tịch UBND xã Văn Hán cho biết: Toàn xã hiện có trên 2.500 hộ dân, sinh sống tại 17 xóm thì có gần 2.000 hộ có đất trồng rừng. Phần lớn diện tích rừng của xã là rừng sản xuất với 3 loại cây chủ yếu là keo, mỡ và bạch đàn. Trước năm 2003, trong xã chỉ có vài chục hộ tham gia trồng rừng, còn phần lớn người dân vẫn chủ yếu có thu nhập chính từ cây ngô, cây lúa.
Nguyên nhân là do bà con chưa thấy hết được lợi ích mà nghề rừng mang lại, trong khi đó, chính quyền địa phương cũng chưa có những giải pháp hữu hiệu để khuyến khích người dân phát triển kinh tế rừng. Sau khi một số hộ tiên phong về trồng rừng được thu hoạch và cho giá trị kinh tế cao thì bà con mới bắt đầu thay đổi tư duy.
Cùng với đó, Dự án trồng rừng 661 (giai đoạn 1999-2010) của Chính phủ được triển khai đã góp phần đẩy mạnh phong trào phát triển kinh tế rừng của nhân dân trong xã. Năm 2010, chính quyền địa phương còn tiếp tục triển khai việc đăng ký trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147 của Chính phủ đến bà con.
Tham gia Dự án này, người nông dân được hỗ trợ 2 triệu đồng/ha, mua giống và công chăm sóc. Đến nay, diện tích rừng của Văn Hán tập trung nhiều ở các xóm: Vân Hòa, La Đùm, Cầu Mai, Đoàn Lâm, Hòa Khê 1, Hòa Khê 2… với giá bán bình quân từ 600 nghìn đồng đến 700 nghìn đồng/m3 gỗ, mỗi năm rừng đem lại nguồn thu khoảng 10 tỷ đồng cho nhân dân trong xã. Tại địa phương hiện có hơn 100 hộ tham gia trồng rừng với diện tích từ 10ha trở lên, mỗi đợt thu hoạch gỗ cho thu nhập hàng trăm triệu đồng như gia đình ông Phạm Văn Lân ở xóm Vân Hán, anh Lý Công Hào, anh Nguyễn Quốc Cường ở xóm Thịnh Đức 1...
Đến thăm gia đình ông Phạm Văn Long, ở xóm Vân Hán, hiện đang “sở hữu” diện tích rừng nhiều nhất xã với 30ha. Cách đây khoảng chục năm, toàn bộ đất đồi của gia đình ông chủ yếu là trồng sắn nhưng giá trị kinh tế không cao. Khi Dự án 661 được triển khai ở xã thì ông bắt đầu chuyển đổi một phần diện tích sang trồng cây keo và cây mỡ. Sau một thời gian chăm sóc thấy cây phát triển tốt, hợp với vùng đất cằn, ông đã huy động nhân lực của gia đình vào việc trồng rừng. Làm đất xong đến đâu, ông mua cây về trồng đến đó, diện tích rừng nhà ông cứ thế được nhân rộng theo từng năm.
Để việc phát triển kinh tế rừng đạt hiệu quả, xã Văn Hán đã thực hiện nhiều biện pháp như: Giao diện tích đất lâm nghiệp cho các hộ nông dân quản lý và canh tác; khai thác triệt để các chương trình, dự án trồng rừng của tỉnh, của huyện đưa vào triển khai thực hiện ở địa phương; vận động nhân dân phủ xanh đất trống, đồi núi trọc; tích cực trồng rừng sản xuất kết hợp với khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng; chủ động phối hợp với trạm khuyến nông huyện cung ứng cây con giống, phân bón và tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ươm trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; thành lập Ban chỉ đạo, các tổ đội làm công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy và phát triển rừng... Trung bình mỗi năm, xã trồng mới khoảng 300ha rừng. Năm 2012, toàn xã đã trồng mới được 470ha, đạt trên 115% kế hoạch.
Có thể thấy, phát triển kinh tế rừng ở xã Văn Hán đã góp phần nâng cao đời sống của bà con nhân dân, làm cho bức tranh kinh tế nơi đây ngày càng khởi sắc. Từ một xã còn nghèo nàn, lạc hậu, đến nay nhà nào cũng có xe gắn máy tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hóa, nông sản được dễ dàng. Xã có Trạm Y tế và 2/4 trường học đạt chuẩn Quốc gia. Trung bình mỗi năm xã giảm được 70 hộ nghèo, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 11 triệu đồng/năm (tăng 4 triệu đồng/người/năm so với năm 2009)... (Báo Thái Nguyên 22/9)đầu trang(
Trên con đường nối biển Nha Trang và thành phố hoa Đà Lạt, những cây thông bị chặt phá không thương tiếc, rừng chỉ còn trơ màu đất đỏ.
Đường tỉnh 723 nối thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa với thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng, được mệnh danh là "con đường nối biển và hoa". Nhưng đứng trước hiện trạng này, có thể du khách sẽ chỉ tìm thấy những cánh rừng thông bạt ngàn trong dĩ vãng. (Vnexpress.net 21/9)đầu trang(
Dọc tuyến đường Trường Sơn Đông, đoạn qua xã Đưng K’Nớ, H.Lạc Dương (Lâm Đồng), nhiều cánh rừng đang bị đốn hạ; có những khu rừng đang được thay thế bằng rẫy cà phê. (Thanh Niên 24/9)đầu trang(
Dù kinh tế thế giới suy thoái nhưng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm vẫn tăng 22% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, có một nghịch lý là các DN có vốn đầu tư nước ngoài, tuy chỉ chiếm 16% trong tổng số gần 4.000 DN chế biến, xuất khẩu gỗ nhưng lại đóng góp đến 50% giá trị xuất khẩu.
Bên cạnh đó, tuy đã trở thành nước xuất khẩu gỗ dăm lớn nhất thế giới nhưng ngành công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam đang phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gỗ của nước ngoài, khi phải nhập đến 80% nguyên liệu.
Tại hội thảo "Giải pháp cho ngành chế biến gỗ trong giai đoạn suy thoái" do Bộ NN&PTNT và Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh (Hawa) tổ chức mới đây, thống kê của Bộ NN&PTNT cho biết, tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ 7 tháng đầu năm đạt 2,7 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ. Trong đó kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ chiếm 2,6 tỷ USD (tăng 22% so với cùng kỳ năm 2011).
Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT kiêm Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Hà Công Tuấn, trong hơn một thập niên qua, kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ luôn tăng trưởng cao ở mức 14-15%/năm. Năm 2011, khi gần như tất cả các mặt hàng xuất khẩu đều giảm thì xuất khẩu của ngành này vẫn thu về gần 4,2 tỷ USD (tăng gần 12% so với năm 2010). Tuy nhiên, dù kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng, nhưng điều đáng lo là DN có vốn đầu tư nước ngoài dù chỉ chiếm có 16% trong tổng số gần 4.000 DN chế biến và xuất khẩu gỗ nhưng đóng góp đến 50% giá trị kim ngạch xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là phần lớn DN Việt Nam chỉ gia công chứ chưa tiếp cận được thị trường, chưa có thương hiệu.
Hiện sản phẩm gỗ của Việt Nam có mặt ở khoảng 120 thị trường trên thế giới, nhưng tập trung nhiều vào các thị trường chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật, Trung Quốc. Theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, việc tập trung quá nhiều vào các thị trường lớn này tạo ra sức tiêu thụ lớn nhưng cũng đầy rủi ro nếu có biến động, nhất là thị trường Trung Quốc vốn rất khó lường và không bền vững. Trên thực tế, năm 2011 Trung Quốc đã nổi lên như thị trường lớn thứ hai của xuất khẩu gỗ Việt Nam, tuy nhiên chỉ là gỗ dăm, gỗ hộp và gỗ xẻ vốn không mang lại giá trị cao và rất dễ thay thế khi nước này cũng đang đẩy mạnh diện tích rừng trồng.
Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Hawa, xuất khẩu khó khăn nên hiện nhiều DN đã tập trung chiến lược khai thác thị trường nội địa. Theo ước tính, doanh số thị trường nội địa mỗi năm đạt khoảng 2,5 tỷ USD. Kết quả khảo sát tại 96 DN hội viên Hawa cho thấy, doanh số nội địa của các DN này trong năm 2011 là hơn 101 triệu USD, một con số không hề nhỏ. Còn theo Thứ trưởng Hà Công Tuấn, tiềm năng thị trường nội địa từ nay đến năm 2015 có thể tăng gấp đôi, từ 1 tỷ USD lên 2 tỷ USD. Vì vậy các DN nên tập trung khai thác thị trường này, tránh bị lấn át bởi đồ gỗ nhập khẩu.
Theo thống kê của Tổ chức Wood Resources International LLC, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gỗ dăm lớn nhất thế giới với 5,4 triệu tấn dăm xuất khẩu trong năm 2011 (chiếm khoảng 20% lượng gỗ dăm xuất khẩu trên toàn thế giới). Dăm gỗ Việt Nam chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc và tăng rất nhanh. Năm 2008 lượng dăm xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc là hơn 1 triệu mét khối quy gỗ tròn, năm 2009 tăng gấp đôi lên 2,2 triệu mét khối và năm 2010 là 4,5 triệu mét khối.
Ông Nguyễn Tuấn Hưng, Vụ Sử dụng rừng (thuộc Tổng cục Lâm nghiệp) cho biết, Việt Nam đang có khoảng 2 triệu héc ta rừng trồng. Năm năm trở lại đây, gỗ trồng rừng chủ yếu để sản xuất dăm gỗ xuất khẩu nên giá trị kim ngạch thu được thấp hơn nhiều so với các mặt hàng được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu.
Năm 2011 xuất khẩu 3,5 triệu tấn dăm nhưng chỉ thu về khoảng 500.000 USD (bình quân 1,5 triệu đồng/m3 nguyên liệu), trong khi xuất khẩu 6 triệu mét khối gỗ nguyên liệu đã thu về được 3,4 tỷ USD (bình quân 7 triệu đồng/m3 nguyên liệu). Trong khi đó, ngành công nghiệp chế biến gỗ đang phải lệ thuộc rất nhiều vào nguồn gỗ nhập khẩu vì phải nhập đến 80% nguyên liệu, chiếm khoảng 60% giá thành sản phẩm. Năm 2011 Việt Nam nhập 1,3 tỷ USD, 7 tháng đầu năm 2012 nhập khoảng 700 triệu USD.
Tuy nhiên, do khó khăn về nguồn vốn đầu tư nên tuổi rừng trồng khai thác chủ yếu trong khoảng 4-6 năm nên cây có đường kính nhỏ, chất lượng thấp. Với thực tế này, nếu không tiêu thụ gỗ dăm thì rất khó khăn cho người trồng rừng.
Theo ông Nguyễn Chiến Thắng, ngân hàng cho vay trồng rừng chỉ 3 năm nên rất khó khăn để phát triển rừng trồng chất lượng. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách ưu đãi giá thuê đất, ưu đãi tín dụng đối với trồng rừng kinh doanh gỗ lớn và nâng cao chất lượng gỗ rừng trồng để từng bước thay thế gỗ nguyên liệu nhập khẩu.
Thứ trưởng Hà Công Tuấn cho biết, Bộ NN&PTNT đang nghiên cứu đề xuất chính sách đặc thù về tài chính đối với ngành lâm nghiệp, nhất là trồng rừng. Một trong những giải pháp đó là sử dụng vốn vay ODA với lãi suất ưu đãi để phù hợp với chu kỳ trồng rừng, nhằm nâng cao chất lượng rừng trồng, từng bước đáp ứng nguồn nguyên liệu cho ngành gỗ. (Hà Nội Mới 22/9)đầu trang(
Đã nhiều năm nay, Khu du lịch sinh thái Vedana Lagoon (thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh TT- Huế) của Cty TNHH Du lịch và Thương mại Á Đông (Cty Á Đông) xây dựng ở khu vực tây bắc đèo Mũi Né đi vào hoạt động đã “bít” lối đi của hàng chục hộ dân lên trồng, chăm sóc và thu hoạch rừng.
Những cánh rừng keo, bạch đàn được người dân ở các khu vực 1, 2, 3, 5 của thị trấn Phú Lộc trồng từ những năm 1980, từng mang lại giá trị kinh tế cao cho cư dân ven vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Qua nhiều năm thu hoạch, trồng mới lại rừng, đến nay, còn 11ha rừng keo của 17 hộ dân bị “mắc kẹt” lại trên đèo Mũi Né khi Cty Á Đông tiến hành xây dựng khu du lịch sinh thái.
Theo đó, năm 2008, UBND tỉnh TT- Huế đã giao đất 27ha (gồm 23ha ở đèo Mũi Né và 4ha mặt nước) cho Cty Á Đông xây dựng dự án du lịch Vedana Lagoon. Ông Nguyễn Ngọc Lợi, một hộ dân có rừng trồng trong khu vực này, cho biết: "Khi dự án được triển khai, người dân nằm trong khu vực rất phấn khởi bởi họ tin sẽ được giải quyết việc làm, kinh doanh buôn bán nên sẵn sàng giao đất. Thế nhưng, từ khi khu du lịch được xây dựng lên, tuyến đường quen thuộc dẫn lên đèo để chúng tôi trồng, chăm sóc và thu hoạch rừng lại bị “bít lối”. Nay rừng đã đến tuổi khai thác mà chỉ biết ngồi nhìn thôi, không có cách gì thu hoạch được".
Ông Lợi còn khoảng hơn 1ha rừng keo đã hơn 6 năm tuổi đang bị “mắc kẹt” lại trên đèo. Để trồng được diện tích rừng trên, ông phải vay ngân hàng 10 triệu đồng mua giống và bỏ công chăm sóc trong nhiều năm liền. Theo người dân trồng rừng ở gần khu du lịch cho biết, tuyến đường để người dân lên chăm sóc, khai thác rừng là tuyến "độc đạo", vì phía bên kia đèo Mũi Né là lâm trường Phú Lộc, không thể mở thêm đường được.
Ông Huỳnh Xuân Diệu, một hộ dân có 3ha rừng nằm trong khu vực này, cho hay: “Điều khiến người dân chúng tôi bức xúc là khi phía Cty tiến hành mua lại rừng thì phải mua hết từ bờ phá lên chân núi chứ, ai dè họ chỉ lấy phần dưới. Nhưng khi lấy xong lại rào chắn lại, bít lối đi của người dân trồng rừng. Trong khi đó, những diện tích đất mà bà con trồng rừng, sử dụng bấy lâu nay đều có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hẳn hoi".
Không chỉ bị “cấm cửa” rừng, phần diện tích mặt nước được giao của khu du lịch Vedana Lagoon ban đêm không có phao sáng để xác định ranh giới trên đầm phá gây khó khăn, nguy hiểm cho việc đi lại, đánh bắt của ngư dân trên đầm phá.
Khu du lịch sinh thái Vedana Lagoon nằm ở phía tây bắc đèo Mũi Né, rộng 27ha, được bao quanh bởi vùng đồi núi và mặt nước đầm phá. Dự án với tổng mức đầu tư 6 triệu USD, bao gồm 55 phòng ngủ cao cấp, khu nhà hàng, khu thể thao và bể bơi, khu Spa, khu thủ công mỹ nghệ và các công trình khác. Khu du lịch được hoàn thành và đi vào hoạt động vào tháng 11/2010.
Ông Trương Ngọc Thảo, Phó chủ tịch UBND thị trấn Phú Lộc, thừa nhận: “Việc bị “bít” lối đi, không thể lên đèo chăm sóc, khai thác rừng đã gây bức xúc cho người dân trong nhiều năm qua. Trong khi các cuộc họp HĐND chúng tôi đều kiến nghị cấp trên có phương án giải quyết dứt điểm cho người dân nhưng đến nay vẫn chưa được đáp ứng".
Trước kiến nghị của người dân, lãnh đạo UBND thị trấn Phú Lộc đã hai lần mời đại diện phía Cty đến làm việc với hai phương án được đưa ra: Đề nghị phía Cty tạo điều kiện mở đường cho người dân vào chăm sóc, thu hoạch vì cây rừng đã đến tuổi khai thác; hoặc phía Cty có thể mua lại phần diện tích đất rừng còn lại của các hộ dân.
“Tuy nhiên, cả hai phương án trên đưa ra đều bị phía Cty từ chối bởi họ đưa ra lý do mua lại diện tích rừng thì phía Cty không có nhu cầu, còn mở đường cho dân lên khai thác thì không thể bởi đây là đơn vị kinh doanh độc lập, là khu lịch không thể để người dân vào... quấy nhiễu”, ông Thảo cho biết thêm. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/9)đầu trang(
Tình trạng này xảy ra từ đầu tháng 9/2012 đến nay, một số người dân ở 2 xã Nguyễn Huệ, Ngũ Lão (Hòa An) rủ nhau kéo vào khu rừng đặc dụng hồ Thang Hen, xóm Lũng Táo, xã Quốc Toản (Trà Lĩnh) phá rừng để đốt than.
Tại Lũng Táo, xã Quốc Toản (Trà Lĩnh) và Lũng Cà, xã Ngũ Lão (Hòa An) xuất hiện gần 50 hố đốt than. Bình quân mỗi hố 1 mẻ đốt khoảng 2 m3 gỗ, như vậy đã có hàng trăm m3 gỗ bị “than” tặc đốt; chưa kể những cây gỗ tạp bị đốn hạ để tạo khoảng trống đốt than. Tại hiện trường, chúng tôi ghi nhận cây to 2 người ôm, một số cây Nghiến, gỗ Đinh đường kính trên 20 – 30 cm bị đốn hạ.
Theo người dân địa phương, thời gian qua, bình quân mỗi ngày có 20 – 30 người, lúc cao điểm có 50 – 60 người vào khu vực này dùng cưa máy, hạ đổ cây cối để đốt than đốt than. Mặc dù Đội bảo vệ Ban quản lý rừng đặc dụng hồ Thang Hen hàng ngày tổ chức kiểm tra, kiểm soát nhưng các đối tượng khai thác gỗ cử người trông coi, khi lực lượng chức năng đến thì thông báo cho nhau qua điện thoại di động để lẩn trốn, khi lực lượng bảo vệ rút, lại ra tiếp tục phá rừng, đốt than.
Giữa tháng 9/2012, Đội bảo vệ Ban quản lý rừng đặc dụng hồ Thang Hen đã bắt quả tang 2 đối tượng ở xã Ngũ Lão và Nguyễn Huệ (Hòa An) đang phá rừng, tang vật thu được 1 máy cưa. Ban quản lý rừng đặc dụng hồ Thang Hen đã lập biên bản 2 đối tượng, gửi văn bản về 2 xã để địa phương xử lý. Tuy nhiên tình trạng phá rừng vẫn diễn ra.
Ngày 22/9/2012, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp Ban quản lý rừng đặc dụng hồ Thang Hen đã đi kiểm tra thực tế, chặn bắt đối tượng phá rừng. Lực lượng kiểm lâm bắt 2 đối tượng, thu giữ 1 máy cưa, 3 bao than tại xã Ngũ Lão (Hòa An).
Để ngăn chặn tình trạng trên, Chi cục Kiểm lâm tỉnh chỉ đạo Hạt kiểm lâm 2 huyện Trà Lĩnh, Hòa An phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương, Ban quản lý rừng đặc dụng hồ Thang Hen rà soát, triệu tập các đối tượng phá rừng, gia đình tập kết than làm cam kết không vi phạm. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý các đối tượng phá rừng, thu giữ tang vật, bảo vệ rừng. (Báo Cao Bằng 23/9)đầu trang(
Từ tin đồn một số người trúng vài chục ký trầm tại vùng rừng nguyên sinh ở thung lũng Ô Kha (Khánh Sơn), hàng trăm người dân tỉnh Quảng Nam và các huyện trong tỉnh Khánh Hòa đã đổ xô đến vùng núi này để tìm trầm.
Ngày 21.9, ông Trần Mạnh Dũng - Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn, cho biết từ sáng 20.9, người dân tỉnh Quảng Nam và các huyện trong tỉnh Khánh Hòa đổ xô đến vùng rừng nguyên sinh ở thung lũng Ô Kha (Khánh Sơn) để tìm trầm.
Lúc cao điểm, có hơn 700 người tập trung tại xã Sơn Trung. Sáng 21.9, UBND huyện Khánh Sơn đã thành lập một tổ công tác liên ngành vận động người dân trở về nhà. Đã có khoảng 300 người quay về nhưng hàng trăm người khác vẫn đang tiếp tục vượt đèo tìm đến. Việc người dân ồ ạt vào khu vực thung lũng Ô Kha tìm trầm xuất phát từ tin đồn một số người Quảng Nam đã trúng vài chục ký trầm tại vùng núi này. (Nông Thôn Ngày Nay 22/9; Pháp Luật TPHCM 22/9; VietnamPlus.vn 22/9; Vietnamnet 22/9; Người Lao Động 23/9)đầu trang(
Như ngày 22-9 đã thông tin, hàng ngàn người đang đổ xô vào khu vực rừng nguyên sinh Gộp Ngà, xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn, Khánh Hòa để tìm trầm.
Theo người dân, những lời đồn đại về trầm xuất hiện từ ngày 19-9. Lúc đó mọi người kháo nhau có một nhóm từ Quảng Nam vào tìm thấy mấy chục ký trầm và bán được nhiều tỉ đồng. Ngay trong đêm 19-9, hàng trăm người từ các nơi đổ về Khánh Sơn. Anh Việt, một người tìm trầm đến từ Phú Yên, cho biết đã vào đây hai ngày nhưng chưa tìm thấy chút trầm nào.
Theo ghi nhận ngày 23-9, tại bãi đào trầm khu vực rừng Gộp Ngà tập trung chủ yếu là người từ huyện Đại Lộc (Quảng Nam). Cảnh tượng tại đây như một đại công trường, từ thanh niên đến người lớn tuổi đều hì hục đào bới tìm vận may. Các tảng đá lớn bị bật tung, những gốc cây cổ thụ cũng bị đào bật gốc nhưng trầm thì chẳng thấy đâu. “Chắc chỉ cầm cự vài hôm nữa, nếu không trúng thì phải quay về, tiền mang theo sắp hết rồi” - một người trong nhóm cho biết.
Hiện tại bãi đào trầm đã xuất hiện các nhóm người đứng ra chia vùng, tranh giành các bãi đào. Một số nhóm cử hẳn một người đứng ra quản lý. Đáng chú ý, người dân địa phương sau vài ngày “án binh bất động” cũng đã thành lập từng nhóm vào rừng tranh giành đào bới.
Thượng tá Phạm Hồng Sơn, Phó Trưởng Công an huyện Khánh Sơn, xác nhận thông tin hàng trăm người đã ồ ạt kéo vào địa bàn huyện trong đêm 19-9. Ngày 22-9, công an huyện đã tổ chức truy quét, đẩy đuổi được khoảng 200 người và lập trạm kiểm soát ngay đầu ngõ đường vào huyện. Tuy nhiên, chiều 23-9, ông Trần Mạnh Dũng, Chủ tịch UBND huyện Khánh Sơn, thừa nhận hiện vẫn còn hàng trăm người tụ tập tại khu vực rừng Gộp Ngà để đào bới.
“Trước mắt, huyện tổ chức vận động họ về nhà chứ chưa thể trục xuất ngay ra khỏi địa bàn. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cử lực lượng giám sát, nếu thấy cần thiết sẽ cho kiểm tra hết giấy tờ tùy thân và trục xuất. Ngày 24-9, tôi sẽ lên kiểm tra tình hình, sau đó huyện sẽ có giải pháp xử lý cụ thể” - ông Dũng nói. (Pháp Luật TPHCM 24/9)đầu trang(
21-9, ông Nguyễn Viết Ánh, Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh (Quảng Bình), đã chỉ đạo đánh sập hai cung đường do lâm tặc mở trong rừng phòng hộ Long Đại.
Lâm tặc đã mở hai con đường vào khu vực rừng Trạng Rộng của rừng phòng hộ Long Đại, sau đó chúng dùng xe công nông, trâu kéo hàng ngàn cây gỗ lớn ra khỏi rừng. Đối tượng mở đường là Nguyễn Hữu Hiếu (ngụ xã Xuân Ninh) đã bị khởi tố nhưng tình hình phá rừng vẫn không lắng xuống.
Do đó, UBND huyện đã giao Huyện đội Quảng Ninh xây dựng quy trình đánh mìn làm sập vách đá nhằm ngăn chặn lâm tặc vào khai thác gỗ lậu, bảo vệ rừng đầu nguồn. Đây cũng là kết quả của loạt bài phá rừng Long Đại mà báo Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh. (Pháp Luật TPHCM 22/9; Sài Gòn Giải Phóng 22/9)đầu trang(
Ngày 21-9, Ban Phòng chống lụt bão tỉnh Bình Phước cho biết, sau hơn một ngày ngập lụt, nước lũ trên địa bàn thị xã Đồng Xoài đã rút gần như hoàn toàn và người dân đã bắt đầu trở về nhà để tiếp tục làm ăn sinh sống.
Như đã đưa tin, trong những ngày qua, trên địa bàn thị xã Đồng Xoài liên tục có mưa vừa và mưa to, kết hợp với lượng nước từ thượng nguồn đổ về đã gây nên lũ lụt tại khu dân cư vùng ven suối Rạt thuộc địa phận các phường Tân Đồng, Tân Thiện, Tân Xuân. Chỉ trong vòng 1 tuần, các hộ dân đã phải hứng chịu 2 đợt lũ về khiến gần 300ha bị ngập lụt. Ước tính thiệt hại ban đầu hơn 3 tỷ đồng.
Ngay sau khi lũ tràn về, Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh Bình Phước đã kịp thời phối hợp với các địa phương di tản người dân đến những nơi an toàn. Đồng thời có những biện pháp hỗ trợ kịp thời về vật dụng sinh hoạt và lương thực cho những hộ gia đình bị cô lập bởi nước lũ.
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Bình Phước, tình hình thời tiết vẫn phức tạp, mưa còn tiếp tục xảy ra trên diện rộng. Hiện nay giữa mùa mưa, hầu hết hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên địa bàn tỉnh mực nước đã cao hơn cao trình mực nước dâng bình thường (trừ hồ thủy điện Thác Mơ); mực nước tại các sông, suối vùng trũng, ven sông, suối đều ở mức cao, đất đã bão hòa nước, hồ thủy điện Cần Đơn và Srok Phu Miêng đang xả lũ, nên khi có mưa lớn kéo dài sẽ gây ra lũ và ngập lụt ở những vùng trũng thấp, ven sông, suối và hạ lưu các hồ thủy lợi, thủy điện.
Theo ông Vũ Bá Trung, một người dân sinh sống ở đây nói rằng mình chưa bao giờ thấy nước lũ về làm ngập Đồng Xoài như thời gian gần đây. Chính quyền nhận định là do biến đổi khí hậu toàn cầu gây mưa to làm lũ lụt. Nhưng theo ông Trung thì thị xã Đồng Xoài nằm trên vùng cao như tỉnh Bình Phước mà bị ngập do mưa to là chuyện lạ. Trước đây, do tỉnh Bình Phước còn rừng nguyên sinh trên thượng nguồn huyện Bù Đăng, Bù Gia Mập và rừng trồng xung quanh thị xã Đồng Xoài nên mỗi khi có mưa to mặc dù nước chảy mạnh nhưng vì thảm thực vật của rừng ngăn cản nên dưới hạ nguồn không bị áp lực ngập nặng đột ngột như bây giờ.
Trước tình hình mưa lũ thất thường và gây nguy hiểm nói trên, nhằm chủ động trong công tác PCLB và TKCN, đảm bảo tính mạng, tài sản của nhân dân trong vùng lũ; tỉnh Bình Phước chỉ đạo các cơ quan, đơn vị quản lý hồ chứa thủy lợi tổ chức trực 24/24 giờ tại công trình, thực hiện phương án đảm bảo an toàn hồ chứa đã được phê duyệt. Các nhà máy thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn và Srok Phu Miêng và Công ty TNHH MTV Khai thác thủy lợi Dầu Tiếng - Phước Hòa thực hiện việc điều tiết vận hành xả lũ theo đúng quy định về việc vận hành liên hồ chứa thủy lợi, thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phu Miêng và hồ Phước Hòa trong mùa mưa lũ 2012... (Sài Gòn Giải Phóng 22/9)đầu trang(
Sạt lở bờ biển Tây (Cà Mau) đã lên mức báo động khi rừng phòng hộ - lá chắn bảo vệ thân đê - đang bị bào mòn theo từng con sóng dữ và thủy triều lên...
Cả tuần nay, ông Tám Tuyết (Lê Văn Tuyết, ấp Mỹ Bình, xã Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau) luôn thấp thỏm mỗi khi nhìn về phía đầu vàm Mỹ Bình hướng về biển Tây. Cách đây mấy hôm, hàng xóm của ông - anh Hai Đậm - phải bỏ nhà tháo chạy trong đêm vì sóng biển tấn công.
“Từ huyện Năm Căn về đây cất nhà ở cách bờ biển tới 20m. Nhưng chỉ ở được khoảng năm tháng thì đất lở tới trước mặt nhà. Nhiều lúc biển động, sóng dập vào bờ nước văng cao tới nóc nhà. Chịu không nổi nên anh Đậm dọn nhà bỏ xứ đi luôn. Còn tôi, chắc cũng nay mai...” - chỉ tay về vàm Mỹ Bình, ông Tuyết bỏ lửng câu nói.
Tại khu vực sạt lở, đất cặp bờ biển khoét sâu như hình răng cưa, những cây mắm, đước hơn một năm tuổi bị sóng bứng bật gốc nằm la liệt. Phần đê biển phía bên ngoài lở mất chỉ còn lại những bụi cây ngã xiêu vẹo trơ gốc. Còn bên trong - ngay mũi đầu doi vàm Mỹ Bình - đất nhô ra khoét sâu hàm ếch và bị sóng biển bào mòn theo từng giờ. Người dân khu vực này khẳng định không lâu nữa phần đất này sẽ bị sóng nuốt chửng, kéo luôn ra biển...
Ngược về phía vàm Cái Cám (xã Tân Hải, huyện Phú Tân) hơn 6km, nạn sạt lở diễn ra nghiêm trọng hơn. Chị Trần Vân Bảy - nhà ngay vàm Cái Cám - buồn bã nói: “Đất lở đã sát bên hông nhà tôi nhưng giờ tôi chẳng biết đi đâu vì gia đình không có đất. Về đây sống gần chục năm tới giờ đã dời nhà đến bốn lần. Ngày trước nhà cất phía ngoài kênh Lô Ba cách đây cả trăm mét. Lở tới đâu dời vô tới đó, giờ lở nữa hổng biết dời đi đâu”.
Người dân sống tại khu vực vàm Cái Cám cho hay những con sóng dữ “ăn rừng, ăn đất” ít nhất 5m về hướng bờ vào mùa biển động hằng năm. Vô hình trung nhà dân bị “đuổi” dần vào sâu trong bờ và hiện nhiều người chẳng còn đất để di dời. Trong khi đó, gần khu vực này có chủ trương xây dựng khu tái định cư để di dời người dân vào nhưng đến nay vẫn còn trên giấy.
Chuyến khảo sát thực tế mới đây trên toàn tuyến đê biển Tây thuộc các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân..., ngành chức năng tỉnh Cà Mau phát hiện ba điểm sạt lở nghiêm trọng tại ba khu vực xung yếu là: Nam Đá Bạc, Nam Lung Ranh và Cái Cám. Những điểm nêu trên, sóng biển gây lở một đoạn dài gần 1.500m bờ biển, cuốn mất rừng phòng hộ, có đoạn rừng chỉ còn khoảng 20m là tới chân đê, đe dọa vỡ đê bất cứ lúc nào.
Ông Nguyễn Long Hoai - chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi Cà Mau - lo lắng nói tỉnh đang tranh thủ xin thêm nguồn vốn xử lý khẩn bằng giải pháp kè ngầm tạo bãi ba đoạn trên. Trong khi chờ vốn đã vận động đơn vị thi công bỏ vốn làm trước nhưng rất khó thi công vì sóng to, gió mạnh. “Mới đây, họ điều hai sà lan chở kè ly tâm dự ứng lực nhưng chưa tới nơi thì sà lan bị sóng biển nhấn chìm, hiện chưa trục vớt được” - ông Hoai cho hay.
Theo ông Hoai, để chống lở đê biển, Bộ NN&PTNT đưa ra giải pháp làm đê mới cách đê hiện hữu 100m. Song làm theo cách ấy chỉ mang tính “chạy lở”, mất nhiều đất đai, tiêu tốn thêm tiền tỉ để di dời và tái định cư cho hàng ngàn hộ dân, trong khi đê mới cũng sẽ tiếp tục bị sóng biển xói mòn.
Phương án làm đê mới không khả thi, ngành chức năng Cà Mau nhận ra việc chống lở tốt nhất là phải giữ được rừng, mà muốn giữ rừng phải tìm cách hạn chế tác động trực diện của sóng biển. Năm 2009, giải pháp thi công kè ngầm tạo bãi được thí điểm trên đoạn dài 300m tại vùng biển Tây (huyện U Minh). Kể từ ngày kè này hoàn thành đến nay, ngoài giảm áp lực của sóng biển, ngành chức năng quan sát mé trong của đoạn kè đã có cây rừng tái sinh.
Ông Tô Quốc Nam - phó giám đốc Sở NN&PTNT Cà Mau - cho biết theo giải pháp này, tại những điểm sạt lở sẽ đầu tư xây dựng hai hàng cọc bêtông ly tâm dự ứng lực hướng ra biển, cách bờ 50-100m. Cọc bêtông loại tròn, dài 6m đóng liền kề hai dãy, mỗi dãy có khoảng cách 1,5m. Phần rỗng giữa hai hàng bêtông sẽ bỏ đá vào để bảo vệ. Khi sóng biển dội, kè sẽ làm giảm áp lực của sóng nhưng khi nước rút, lượng phù sa sẽ đọng lại phía trong bờ do vướng đá, lâu ngày sẽ bồi lắng tạo thành bãi, gầy lại rừng, bảo vệ đê.
“Loại kè này tuổi thọ thấp nhất cũng 15 năm. Sau chu kỳ năm năm làm tròn sứ mệnh tạo bãi và cây rừng đã lớn, những cọc bêtông và số đá ấy sẽ được nhổ lên, tiếp tục cắm xa ra biển 50m nữa. Theo đó, rừng và đất đai dần dần lấn xa ra biển” - ông Nam nói.
Tỉnh Cà Mau đã có tờ trình gửi bộ, ngành trung ương, xin kinh phí hỗ trợ để thực hiện đại trà dự án nâng cấp toàn tuyến đê biển Tây, trong đó có xây dựng kè chống sạt lở những đoạn xung yếu với chiều dài 6,4km bằng phương pháp này, ước kinh phí đầu tư trên 3.000 tỉ đồng, gần bằng tổng số thu ngân sách của Cà Mau trong một năm. (Tuổi Trẻ 24/9)đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, công tác tuần tra, kiểm tra quản lý bảo vệ rừng đã được các đơn vị duy trì thực hiện thường xuyên, tập trung kiểm tra các khu vực tuyến rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ Đất Mũi, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau.
Tuy nhiên, tình hình phá rừng, hầm than trái phép vẫn còn xảy ra, mặc dù lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra ngăn chặn, tháo dỡ các lò than trái phép.
Theo báo cáo của UBND tỉnh, từ đầu năm đến nay phát hiện và xử lý 280 vụ vi phạm về quản lý và bảo vệ rừng, tăng 84 vụ so với cùng kỳ, thu phạt 455 triệu đồng. Chỉ tính riêng tháng 8, lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 25 vụ, thu phạt trên 55 triệu đồng. (Báo Cà Mau 22/9)đầu trang(
Chiều 23-9, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Nghệ An cho biết sau năm ngày ra quân truy quét gỗ lậu, các đồn biên phòng đã phát hiện, tịch thu gần 7 m3 gỗ rừng quý hiếm.
Đồn biên phòng Châu Khê (huyện miền núi Con Cuông) phối hợp cơ quan chức năng phát hiện và tịch thu 3,1 m3 gỗ tại khu vực khe Choăng, đoạn chảy qua bản Nà thuộc Vườn quốc gia Pù Mát. Đồn biên phòng Thanh Thủy (xã miền núi Thanh Thủy, huyện thanh Chương) phối hợp với Tổng đội TNXP phát hiện 0,5 m3 gỗ vô chủ ở khu vực khe Trạng. Đồn biên phòng Thông Thụ (huyện miền núi Quế Phong) tổ chức tuần tra dọc sông Chu (giáp ranh giữa tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa) phát hiện và tịch thu 3,3 m3 gỗ vô chủ.
Hiện Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng phối hợp Chi cục Kiểm lâm tỉnh tiếp tục điều tra làm rõ các vụ gỗ lậu trên. (Pháp Luật TPHCM 24/9)đầu trang(
Ngày 23.9, tin từ Công an H.Minh Hóa (tỉnh Quảng Bình) cho biết đang tiếp tục điều tra xử lý vụ 1 người dùng súng và mìn thanh toán nhóm trộm gỗ trong rừng Hung Bộp, thuộc thôn Thanh Liêm 2, xã Trung Hóa.
Theo thông tin ban đầu, ngày 17.9, Cao Bình Định (38 tuổi, ở thôn Tiền Phong 2, xã Trung Hóa) phát hiện một nhóm người lấy trộm gỗ của mình tại Hung Bộp, gồm: Cao Xuân Tiến, Đinh Anh Tuấn, Đinh Xuân Báo, Đinh Xuân Luân, Đinh Xuân Hân (đều ở thôn 1 Bình Minh, xã Trung Hóa) nên đã bám theo vào nơi tập kết gỗ.
Sau đó, Định viết 1 tờ giấy và lấy 1 viên đạn bỏ lên đống gỗ với nội dung đe dọa, cảnh báo không được lấy gỗ. Tuy nhiên, nhóm người kia vẫn liều lĩnh gùi gỗ về. Ngày 18.9, Định tiếp tục bám theo vào rừng và viết thêm giấy đe dọa; đồng thời dùng mìn tự tạo gài bẫy quanh đống gỗ. Một lần nữa nhóm của Tiến không chịu dừng bước. Tức giận, Định dùng súng CKC bắn liên tục 4 phát vào nhóm Cao Xuân Tiến, nhưng nhóm người này chạy thoát; chỉ có Đinh Xuân Hân bị vướng mìn phát nổ gây thương tích nặng phải đi cấp cứu tại bệnh viện.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, xác định đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng, Cơ quan điều tra Công an H.Minh Hóa đã phối hợp với các phòng nghiệp vụ công an tỉnh tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ 1 khẩu súng CKC, 8 viên đạn và hai mảnh giấy có nội dung đe dọa; đồng thời ra lệnh khám xét nơi ở và bắt khẩn cấp Cao Bình Định, để mở rộng điều tra vụ án. (Thanh Niên 24/9; Đại Đoàn Kết 24/9)đầu trang(
Ban Phòng chống tham nhũng tỉnh Cà Mau đã đề nghị làm rõ dấu hiệu vi phạm, làm thất thoát tiền tỉ của nhà nước trong vụ Công ty Khánh Linh (TP.Cà Mau) khai thác rừng khi chưa được cấp phép.
Trước đó, ngày 16.7, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp U Minh Hạ (Công ty U Minh Hạ) bắt quả tang Công ty Khánh Linh (đơn vị được tạm giao gần 1.000 ha đất để trồng rừng) khai thác rừng trái phép. Công ty Khánh Linh cho rằng mình đã được giao đất, đã bồi hoàn giá trị đầu tư trên đất cho Công ty U Minh Hạ nên phải khai thác rừng để có mặt bằng trồng mới rừng keo lai.
Trong khi đó, Công ty U Minh Hạ lại cho rằng, nguyên tắc khai thác rừng là phải có giấy phép khai thác của Sở NN-PTNT. Bởi theo quy định, các công ty xin thuê đất phải thuê đơn vị tư vấn có chức năng, lập phương án bồi hoàn giá trị đầu tư trên đất, trình sở NN-PTNT phê duyệt, sau đó mới được quyền khai thác giá trị trên đất được giao. (Thanh Niên 24/9)đầu trang(
Huyện Cư M’Gar cùng Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Buôn Za Wầm (Đắk Lắk) đã thống nhất quy hoạch chuyển đổi 358 ha đất rừng sang thành đất nông nghiệp để cấp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số di cư đến ngoài kế hoạch.
Mặc dù huyện đã tiến hành cấp đất sản xuất nhưng một số hộ đồng bào ở buôn H’Mông vẫn lén lút vào rừng chặt phá, lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn.
Đến nay, đồng bào buôn H’Mông đã phá trên 35 ha rừng tại các tiểu khu 540 và 544 để sản xuất nông nghiệp, có gia đình phá, lấn chiếm trái phép từ 1 đến 3 ha đất rừng để trồng hoa màu, cà phê. Huyện đã chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp cùng với Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Buôn Za Wầm giải tỏa, xử lý nghiêm các đối tượng cố tình phá rừng trái phép. (Tin Tức 23/9)đầu trang(
Nguồn tin của Trung tâm Giáo dục thiên nhiên (ENV) cho hay, mới đây Ban Quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng VQG Bù Gia Mập phối hợp với Trạm Kiểm lâm số 5 – Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng VQG Bù Gia Mập (Bình Phước) đã phát hiện và bắt quả tang một đối tượng xâm nhập rừng trái phép.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện đối tượng này mang theo một cá thể rắn hổ mang chúa nặng hơn 1,5kg được đựng trong túi lưới.
Đối tượng (trú tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước) khai nhận, đã bắt được cá thể rắn này tại VQG Bù Gia Mập và định mang đi tiêu thụ. Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra làm rõ.
Rắn hổ mang chúa (Ophiphagus hannah) thuộc nhóm 1B của Nghị định 32/2006/NĐ-CP, là nhóm các loài ĐVHD nguy cấp, quý, hiếm nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại. (Hà Nội Mới 23/9)đầu trang(
Những ngày qua, trên các tuyến đại lộ Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và một số tuyến quốc lộ chạy qua TP. Pleiku (tỉnh Gia Lai), nhiều người dân đã đưa các gốc gỗ được đào bới trong rừng sâu bày bán ngang nhiên trên lề đường, khung cảnh nhộn nhịp như... họp chợ.
Các gốc gỗ thuộc những chủng loại gỗ quý như hương, cà te, cẩm lai... (gỗ nhóm I), được “khai thác” từ những cánh rừng thuộc các huyện Chư Sê, Chư Prông, Đăk Đoa, Phú Thiện, Chư Pah... (tỉnh Gia Lai). Các “chủ vựa” chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số đã trực tiếp vào rừng đào và mang các gốc gỗ này về. Hàng ngày, họ lập thành những nhóm nhỏ, mang theo đồ nghề vào rừng đào những hố thật sâu, rộng để lấy được những gốc gỗ to, sau đó đưa về cho người thân mang ra trung tâm TP. Pleiku bày bán.
Đây là mặt hàng được các chủ cửa hàng mỹ nghệ ưa chuộng. Bởi từ những gốc gỗ này, các tượng Phật, độc bình, ghế kiểu... được chế tác, trị giá lên đến hàng chục triệu đồng. Tại Gia Lai, nhiều người đã bỏ bê việc đồng áng, đổ xô vào rừng đào gốc gỗ quý. (Phụ Nữ TPHCM 23/9)đầu trang(
Thời gian gần đây, nhiều loại vật nuôi đặc sản (động vật quý hiếm) bị “tắc” đầu ra. Nhiều hộ nông dân rơi vào cảnh nợ nần, thậm chí phá sản vì nuôi những loại vật nuôi này.
Anh Nguyễn Văn Thành hiện là hộ nuôi nhím quy mô nhất xã Lâm Giang (huyện Văn Yên, Yên Bái) với 50 ô chuồng và gần 100 nhím con, nhím bố mẹ. Cách đây 3 năm, khi phong trào nuôi nhím phát triển rầm rộ ở khắp các tỉnh, thành như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương…, anh Thành đầu tư gần 200 triệu để nuôi. Những tưởng sau vài năm anh sẽ hốt bạc, nhưng bây giờ anh không bán được nhím.
“Nhím mấy chục triệu một đôi chỉ là bán nhím giống gây nuôi thôi; còn mua để ăn, chẳng ai dám bó từng ấy tiền để ăn cả. Giờ muốn bán 300.000 - 400.000 đồng/kg nhím cũng không có khách” – anh Thành chán nản.
Bắc Giang đã có hàng trăm mô hình, trang trại nuôi con đặc sản, với số lượng hàng chục, thậm chí cả trăm con mỗi trang trại. Tuy nhiên, hiện đầu ra của hầu hét các con đặc sản đang tắc nghẽn. Hầu hết các chủ trang trại nuôi con đặc sản bán con giống là chính, số lượng bán thịt thương phẩm rất hạn chế. Từ đó dẫn tới tình trạng, những người đi đầu nuôi con đặc sản, thì có được một nguồn thu đáng kể do bán con giống, còn những người nuôi sau thì lâm vào cảnh không bán được thịt thương phẩm.
Không riêng nhím, nhiều loại đặc sản khác cũng đang lâm vào cảnh tắc đầu ra. Anh Nguyễn Văn Đề (thôn Quất, xã Hợp Đức, huyện Tân Yên, Bắc Giang), năm 2010 mua 400 con chim trĩ giống, với giá 120.000 đồng/con về nuôi. Là người đầu tiên nuôi trĩ nên anh trở thành đầu mối cung cấp chim giống chính ở đây. Nhưng hiện nay khi chim giống bão hòa, hàng trăm con chim đến kỳ xuất chuồng, nhưng anh vẫn phải nuôi tiếp, vì không bán được. “Giá chim trĩ thịt khoảng 400.000 đồng/kg, nên rất ít người mua” – anh Đề cho biết.
Đối với lợn rừng, nếu cách đây 2 năm, người nuôi còn bán được giá xấp xỉ 1 triệu đồng/kg, thì hiện giá nhiều chủ trại đưa ra chỉ còn chưa đến 300.000 đồng/kg. Anh Nguyễn Thành Trung (thôn Lý 2, xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên, Bắc Giang) là một trong những người đi đầu nuôi lợn rừng ở Tân Yên. Trang trại của anh lúc nhiều có tới 100 con lợn rừng/lứa. “Trong nhiều tháng trở lại đây, giá thịt lợn rừng đã liên tục giảm nhưng vẫn không thể bán được”- anh Trung nói.
“Cay đắng” nhất có lẽ là “bài học kinh nghiệm” từ con dế. Anh Nguyễn Văn Tuyên - chủ “nông trang kinh dị” tại xã Đông Kỳ (huyện Tứ Kỳ, Hải Dương) nuôi từ kỳ đà, kỳ nhông, ốc sên, kiến đen, rết, bò cạp đến dế, chán nản nói: “Khi dế bắt đầu được nhân rộng, các đầu nậu đánh ô tô đi bán giống dế thu về tiền tỷ từ nông dân. Còn nông dân sau một thời gian nuôi, không bán đi đâu được. Dế đổ cho lợn, lợn cũng không ăn phải đốt, phải đào hố chôn”.
Theo anh Tuyên, đặc thù vật nuôi đặc sản là thị trường tiêu thụ rất hẹp. Như dế chỉ dành cho một số quán nhậu chuyên về món côn trùng; bò cạp hay rết chủ yếu bán cho các hiệu thuốc Đông y hay những người có thú ngâm rượu động vật. Vì thế, khi nhiều hộ nông dân nuôi sẽ khiến cung vượt cầu, từ đó dẫn đến dư thừa, thua lỗ. “Nuôi các con đặc sản quý hiếm là để tạo ra những mặt hàng độc, có thế mạnh khi cạnh tranh. Nếu nhiều hộ nuôi thì không còn tính cạnh tranh nữa”– anh Tuyên nói.
PGS - TS Hoàng Văn Tiệu - nguyên Viện trưởng Viện Chăn nuôi cho rằng: “ Bộ NNPTNT cần khảo sát nhu cầu tiêu thụ các vật nuôi này của thị trường, từ đó đưa ra những dự báo, khuyến cáo cho nông dân”.
Ông Nguyễn Thế Huy – Trưởng phòng NNPTNT huyện Tân Yên (Bắc Giang) cho rằng: “Một trong những nguyên nhân dẫn đến các mô hình nuôi con đặc sản đang có nguy cơ “chết yểu” là do người dân nuôi theo kiểu tự phát. Bên cạnh đó, do giá con giống bị một số đối tượng cơ hội đẩy giá lên quá cao, dẫn đến giá thành tăng gây khó khăn cho đầu ra”.
Vì thế, theo ông Huy, để phát triển ổn định con đặc sản, trước hết chúng ta phải “khống chế” được giá con giống, đồng thời cần nghiên cứu kỹ thị trường và đẩy mạnh tuyên truyền, quảng cáo các sản phẩm từ con đặc sản. Trong đó phải đặc biệt chú ý đến sự hợp tác sản xuất và tiêu thụ giữa doanh nghiệp và người dân.
Theo ông Đỗ Quang Tùng - Phó Giám đốc phụ trách Cơ quan quản lý Cites Việt Nam, Nhà nước cần có những công cụ quản lý, điều tiết việc nuôi động vật hoang dã đặc sản này. “Bởi ngay như chúng tôi, hiện cũng không thể nắm được số lượng những con đặc sản là bao nhiêu để có các giải pháp hỗ trợ người dân” - ông Tùng nói. (Nông Thôn Ngày Nay 21/9)đầu trang(
Theo TS Võ Văn Sự - Chủ tịch Hiệp hội Bảo tồn Động vật quý hiếm Việt Nam, để khắc phục tình trạng thua lỗ trong chăn nuôi các loài vật đặc sản, bà con cần tìm hiểu thật kỹ thị trường, cảnh giác trước “chiêu thức” thổi giá của đầu nậu khi mua giống.
Về thực trạng thua lỗ của các hộ nông dân trong việc chăn nuôi các vật nuôi đặc sản trong thời gian vừa qua, TS Võ Văn Sự nhận định: Đây là thực trạng đã được cảnh báo nhiều lần, nhưng vẫn lặp đi lặp lại. Thực tế cho thấy, việc nuôi trồng cây, con nào đó cũng có một thời sôi động. Chưa nói đến các loài vật quá quý hiếm mà ngay cả những con đơn giản như chim cút hay cá trê phi, trước đây cũng có một giai đoạn gây “sốc” cho thị trường và người nuôi.
Tuy nhiên, sau đó các vật nuôi đặc sản này đều phát triển tốt. Hiện nay, với con nhím, nếu giá hạ thấp còn 2 - 3 triệu đồng/đôi giống thì người chăn nuôi đúng cách sẽ vẫn có lãi. Nguyên nhân lỗ ở đây là do hiện tượng “sốc” về giá con giống. Các đầu nậu hoặc các chủ trang trại làm trước bán giống giá cao cho người làm sau. Khi nuôi được nhiều, giá giống xuống thấp hoặc không bán được giống mà chỉ bán thịt thì người đi sau bị lỗ.
Ông Sự cho hay: Thực tế, chúng ta không có số liệu để dự báo. Hiện dự báo của chúng ta mang tính định tính nhiều hơn định lượng, mức độ chính xác không cao. Ngay cả bản thân tôi cũng rất ngỡ ngàng khi thấy con nhím phát triển mạnh như hiện nay. Với các nước phát triển, họ có thông tin số liệu rất cụ thể nên dễ dự báo. Việc này không cần đến Nhà nước làm trực tiếp, mà Nhà nước chỉ hướng dẫn, định hướng cho các hội, hiệp hội tư nhân thu thập số liệu, từ đó đưa ra dự báo cho nông dân.
Ông Sự khuyến cáo: Nông dân cần phải nghe ngóng xem giới khoa học họ nói gì; sau đó tham khảo thêm các tài liệu trên Internet, sách báo. Thứ nữa là cần giảm giá thành vật nuôi bằng cách áp dụng công nghệ chăn nuôi tốt hoặc cải thiện bằng thức ăn. Mỗi gia đình cần xem điều kiện chăn nuôi của mình có phù hợp hay không. Chẳng hạn như với lợn rừng, hộ nông dân muốn nuôi phải xem có sẵn các nguồn thức ăn khô, xanh hay không, còn nếu cứ đổ cám ra nuôi thì sẽ không có lãi.
Một điểm nữa cần chú ý là đặc sản chỉ bán được cho người ăn ngon, có điều kiện kinh tế và tiêu thụ mạnh vào dịp đặc biệt nào đó như lễ hội chẳng hạn. Vì vậy, nông dân không nên nuôi phổ biến, ồ ạt. (Nông Thôn Ngày Nay 22/9)đầu trang(
Hàng loạt hộ nuôi nhím ở Đắk Lắk đang gặp khó do không tiêu thụ được sản phẩm động vật có nguồn gốc hoang dã này. Cách đây không lâu, nuôi nhím trở thành phong trào rầm rộ khi hàng trăm hộ đầu tư xây chuồng trại, mua con giống, đẩy giá nhím giống lên trên 10 triệu đồng/đôi.
Tuy nhiên, giá nhím giống và nhím thịt hiện đều rớt thảm hại; nhím giống chỉ còn từ 2-3 triệu đồng/đôi; nhím thịt thương phẩm chủ yếu tiêu thụ ở các nhà hàng trước đây có giá trên 500.000 đồng/kg, nay còn khoảng 150.000 đồng/kg.
Theo các hộ nuôi, thị trường thịt nhím hiện cung đã vượt cầu nên tiêu thụ khó khăn; có hộ tồn đọng hàng trăm con nhím thịt, không thu hồi được vốn đầu tư. (Thanh Niên 24/9)đầu trang(
20 năm bước vào nghề trồng rừng và làm gỗ, ông Hồ Sơn Tư, Giám đốc Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hồ Sơn Tư ở xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc đã tạo cho mình những bước đi khá vững chắc. Sản phẩm của doanh nghiệp (DN) ông đã đáp ứng khá tốt cho người tiêu dùng khá giả.
Năm 1992, ông Tư mở cơ sở mộc, tổng cộng chỉ có 5 người làm. Ngày đó, cơ sở của ông chủ yếu làm hàng nội thất, như: bàn, tủ, giường, ghế phục vụ nhu cầu của người dân trong huyện Xuân Lộc. Khi các chủ cơ sở mộc khác còn đang để tâm nhiều vào việc chất lượng sản phẩm thì ông đã nghĩ đến việc cần liên tục thay đổi mẫu mã. Nhờ đó, cơ sở của ông khá đông khách. Vào những dịp cuối năm, khách phải đến đặt trước mới có hàng.
Cơ sở ngày được mở rộng, đến năm 2008 ông quyết định “đóng thuyền lớn” để đi xa hơn, vậy là Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Hồ Sơn Tư được thành lập. Cũng năm đó, tình hình kinh tế bắt đầu gặp phải khó khăn do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế thế giới. Nhiều DN ngành gỗ cũng bị tác động mạnh không bán được hàng, thế nhưng công ty của ông vẫn làm không hết việc. Tất cả là nhờ DN đã chuẩn bị nhiều phương án để đáp ứng với thị trường. Khi hàng mộc gia dụng (các sản phẩm nội thất, ngoại thất) bị chựng lại do thị trường tiêu thụ yếu thì ông Tư phát triển mạnh lĩnh vực mộc công trình, rồi nhận thi công nhà gỗ. Tất cả công việc đều được công ty đáp ứng tốt.
Thị trường liên tục được mở rộng, DN đã trúng thầu cung cấp đồ nội thất cũng như thực hiện trang trí nội thất cho nhiều công trình lớn, như: ở TP.Hồ Chí Minh có khu biệt thự Thảo Điền (quận 2), khu biệt thự Phú Mỹ Hưng (quận 7); Bệnh viện đa khoa tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; khu resort nghỉ dưỡng Bờ Biển Vàng Tiến Thành, TP.Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận... DN cũng tham gia khá tích cực vào cả những công trình vốn ngân sách của tỉnh: trường học, trụ sở, hội trường của các sở, ngành. Doanh thu hàng năm của DN tăng liên tục từ hơn 10 tỷ đồng năm 2008 lên 25 tỷ đồng năm 2011.
Ông Tư chia sẻ: “Quan trọng nhất là phải đáp ứng được hai yêu cầu: chất lượng và giá. Càng lúc khó khăn thì chất lượng công trình cũng như chất lượng sản phẩm phải được quan tâm nhiều hơn để giữ uy tín. Không ít công trình công ty phải chấp nhận hòa vốn để tạo công việc cho công nhân. Kinh tế khó khăn DN cũng cần tạo ra nhiều sự lựa chọn để cùng chia sẻ với khách hàng”.
Cái tên Hồ Sơn Tư ở Xuân Lộc được nhiều người biết đến trước đây còn do gắn với hình ảnh một ông chủ rừng. Từ những năm đầu của thập niên 90 của thế kỷ trước, ông Tư đã phát triển trồng rừng. Ông được xem là người tiên phong trong phong trào làm kinh tế rừng ở vùng đất này. Từ 5 hécta đất ban đầu, ông Tư đã mua gom phát triển dần lên hàng chục hécta, hiện nay diện tích rừng của ông có tới gần 300 hécta, trong đó phần lớn rừng đã cho khai thác.
Rừng của ông chủ yếu là xà cừ, một nguồn gỗ thời gian gần đây được các DN chế biến hàng mộc trong nước và xuất khẩu sử dụng mạnh. Cũng nhờ vào một phần nguồn gỗ nguyên liệu tự sản xuất được nên ông đã hạ được giá thành sản phẩm và các công trình góp phần cạnh tranh tốt trên thị trường. Ông Tư còn cho biết thêm, ông đang chuyển dần diện tích rừng này sang trồng cây cao su để tăng thêm nguồn lợi nhuận. (Báo Đồng Nai 23/9)đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Bộ NN-PTNT kỳ vọng phát triển ngành chế biến gỗ là một ngành mũi nhọn. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp và chuyên gia cho rằng, với thực lực của ngành này hiện nay thì dự định này như chiếc áo quá rộng.
Muốn trở thành ngành mũi nhọn đòi hỏi ngành phải chủ động về nguyên liệu, doanh nghiệp đủ mạnh, sản phẩm có giá trị cạnh tranh cao, có thế đứng trên thị trường... Tuy vậy, phần lớn các doanh nhiêp nội hiện còn loay hoay gia công. Hiện cả nước có trên 3.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó 95% thuộc sở hữu tư nhân, còn lại thuộc nhà nước. Song, nhìn chung các doanh nghiệp chế biến gỗ đều là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ cả về số lượng lao động cũng như nguồn vốn đầu tư.
Theo số liệu từ Cục chế biến Thương mại Nông Lâm sản và Nghề muối (Bộ NN-PTNT), nếu tính trên mức độ sử dụng lao động thì có đến 46% tổng số doanh nghiệp chế biến gỗ có quy mô siêu nhỏ; 49% là quy mô nhỏ; 1,7% là quy mô vừa; 2,5% là quy mô lớn. Còn nếu xét về vốn đầu tư, có đến 93% số doanh nghiệp chế biến gỗ ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ.
Nhiều cơ sở chế biến nhỏ và siêu nhỏ, nhất là ở các khu vực làng nghề người lao động hầu như không được đào tạo cơ bản nên khả năng làm chủ công nghệ, thiết bị sản xuất không cao. Đây cũng chính là nguyên nhân tại sao các doanh nghiệp Việt Nam không thể đưa ra được những sản phẩm cao cấp để cạnh tranh với sản phẩm của các nước mà chấp nhận gia công cho nhều doanh nghiệp nước ngoài hoặc doanh nghiệp FDI.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, cho biết: "Hiện doanh nghiệp FDI đang chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ. Trong khi đó, tổng số doanh nghiệp FDI chế biến gỗ chỉ chiếm 16%. Nhờ có dây chuyền hiện đại và tự động hóa cao nên các doanh nghiệp FDI này luôn đưa ra thị trường những sản phẩm cao cấp, có giá trị cao. Đây là điểm mà doanh nghiệp Việt Nam tỏ ra thất thế".
Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu vì vậy sức mua trên thị trường giảm hẳn. Cụ thể, thị trường thế giới giảm 30% nhu cầu sản phẩm chế biến đồ gỗ, còn tại thị trường nội địa ngành gỗ Việt Nam đang bị lấn át bởi hàng gỗ nhập khẩu. Vì thế, để gượng dậy trong thời điểm khủng hoảng vẫn là điều khó với các doanh nghiệp trong ngành.
Ông Võ Trường Thành, Tổng giám đốc Công ty CP tập đoàn kỹ nghệ gỗ Trường Thành, cho hay: "Trong tình hình sức mua của thị trường nước ngoài giảm đáng kể, một số doanh nghiệp đã quay về chiến đấu tại thị trường nội địa. Tuy nhiên, họ vẫn loay hoay do chưa tạo ra được những sản phẩm có thiết kế phù hợp, thiếu hệ thống phân phối và giá bán bất hợp lý. Ngoài ra, doanh nghiệp còn vướng nhiều thuế quan cộng với gian lận thương mại khiến cạnh tranh không hề dễ dàng".
Trong khi Bộ NN-PTNT muốn phát triển ngành chế biến gỗ là một ngành mũi nhọn thì nhiều doanh nghiệp cho rằng rất khó thực hiện bởi Việt Nam chưa chủ động về nguyên liệu. Thậm chí, nguyên liệu còn đang thiếu trầm trọng. Hàng năm, các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu trên 80% nguyên liệu gỗ, chiếm khoảng 60% giá thành sản phẩm.
Năm 2011, chúng ta nhập 1,3 tỷ USD nguyên liệu chế biến gỗ; 7 tháng đầu năm 2012, con số này là 700 triệu USD. Như vậy, nguồn nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ đang phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu nên các doanh nghiệp chế biến luôn bị động trong sản xuất và kinh doanh. Chưa kể, ngành còn khó phát triển bền vững, tính cạnh tranh thấp.
Ông Nguyễn Mạnh Dũng, Cục trưởng Cục Chế biến, Thương mại Nông lâm sản và Nghề muối, khẳng định: "Chúng ta đang xuất khẩu nguyên liệu thô quá nhiều. Hơn nữa, thiếu nguyên liệu gỗ một phần do chưa gắn kết chặt chẽ giữa các công ty lâm nghiệp với các doanh nghiệp chế biến gỗ. Sự thiếu gắn kết này là một mặt khiến cho hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên rừng chưa cao, giá trị gia tăng của lâm sản chưa được như mong muốn. Mặt khác, làm hạn chế sự cạnh tranh công bằng giữa các cơ sở chế biến, kinh doanh gỗ".
Nhằm đạt mục tiêu xuất khẩu sản phẩm gỗ đến năm 2020 đạt 7 tỷ USD như chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, cần tập trung trồng rừng theo phương thức thâm canh để giảm 50% ván nhập khẩu vào năm 2020; thỏa thuận với các nước có nguồn nguyên liệu gỗ dồi dào, cung cấp dài hạn cho Việt Nam. Cần có sự hỗ trợ từ doanh nghiệp và nhà nước để người trồng rừng có điều kiện phát triển kinh doanh gỗ lớn.
"Còn nhiều vấn đề đặt ra khi đưa chế biến gỗ trở thành ngành công nghệ mũi nhọn. Để thực hiện được mục tiêu này, đòi hỏi chúng ta phải phát triển đúng định hướng, có quy hoạch và chính sách cụ thể. Cần có hướng đi đúng tạo nguyên liệu. Trong đó, phấn đấu đến 2020 cung cấp 60% nguyên liệu cho ngành chế biến gỗ, năm 2030 cung cấp được khoảng 75% nguyên liệu", ông Dũng nhấn mạnh. (Vietnamnet 23/9)đầu trang(
Voi rừng kéo về phá hoa màu của dân đã không còn là chuyện lạ. Voi quấy nhiễu, voi chết liên tiếp mà dự án bảo tồn voi vẫn trên giấy cũng là chuyện của nhiều năm qua.
Đồng Nai là một trong số ít địa phương của cả nước còn tồn tại voi rừng. Mới đây Hạt kiểm lâm huyện Định Quán (Đồng Nai) cho biết sáng 20-9 một con voi khoảng 6 tấn xuất hiện trong rẫy của người dân ở khu vực ấp 4, xã Thanh Sơn. Đây chính là con voi có cặp ngà lệch mà người dân trong khu vực vẫn thường gọi là "ông ngà lệch” trong đàn voi khoảng hơn 10 con gần đây vẫn thường kéo về rẫy phá hoa màu, nhà cửa của dân. Khoảng 10 giờ cùng ngày, con voi này chịu rút vào rừng.
Gần đây sinh cảnh sống của đàn voi bị thu hẹp, nguồn thức ăn khan hiếm nên tình trạng xung đột giữa voi và người ngày càng gay gắt. Voi thường xuyên vào các khu vườn của dân sống ở vùng đệm khu bảo tồn phá hoa màu, cây cối. Ba năm qua trên các cánh rừng của Đồng Nai, 9 voi đã chết. Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai đang triển khai đề án xây dựng hàng rào điện tử có chiều dài 30 km để bảo vệ đàn voi rừng, đến hết năm 2014 hàng rào điện tử bảo vệ voi mới hoàn thành. Và trong khi chờ hàng rào để bảo vệ thì voi quý tại Đồng Nai cứ thay nhau… nổi loạn, hoặc chết dần.
Đàn voi hoang dã Đắk Lắk cũng đang suy giảm nhanh chóng về số lượng, theo thống kê hiện chỉ còn trên 100 cá thể. Chỉ tính từ đầu năm 2012 đến nay, gần 10 cá thể voi rừng ở đây liên tiếp chết hoặc bị sát hại dã man để lấy ngà, lấy lông, đuôi. Mới tháng trước, 2 con voi rừng trưởng thành bị kẻ xấu hạ sát được phát hiện tại VQG lớn nhất nước - Yok Đôn. Vụ việc khiến nhiều người không khỏi đau lòng và lo lắng đàn voi rừng sẽ tuyệt chủng trong nay mai. Trong khi đó, dự án bảo tồn voi Đắk Lắk giai đoạn 2010 – 2015 với tổng kinh phí 61 tỷ đồng đã được phê duyệt, đi hơn nửa chặng đường, nhưng công tác bảo tồn vẫn dậm chân tại chỗ.
Các chuyên gia bảo tồn lo ngại, với đà suy giảm như hiện nay thì nguy cơ tuyệt chủng đàn voi rừng rất cao. Có người đã ví, mạng voi như "chỉ mành treo chuông”! (Đại Đoàn Kết 22/9)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Vườn thú Novosibirsk tại Nga vừa công bố bức ảnh "sản phẩm" đầu tiên giữa một con sư tử hổ cái với sư tử đực.
Mọi người đã biết sư tử hổ (liger) là con vật lai giữa sư tử đực và hổ cái. Nhưng có lẽ ít người tưởng tượng được diện mạo của đứa con giữa một con sư tử hổ cái với một con sư tử đực. Người ta gọi những con vật như vậy là "liliger".
Con liliger đầu tiên đã ra đời tại vườn thú Novosibirsk. Nhân viên vườn thú gọi nó là Kiara, National Geographic đưa tin.
Craig Packer, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Sư tử của Đại học Minnesota tại Mỹ, nhận định rằng đây là con lilger đầu tiên trên hành tinh, song ông không cảm thấy ngạc nhiên về sự ra đời của nó. Theo ông, mọi sư tử hổ đều được sinh ra trong môi trường nuôi nhốt vì chúng không thể sống sót trong môi trường hoang dã. Các đàn hổ và sư tử hiếm sống trong những khu vực hoàn toàn khác nhau nên chúng không thể giao phối. Giả sử hai loài cùng sống trong một vùng địa lý, chúng cũng không thể làm "chuyện ấy".
"Nếu một con hổ đực tìm cách giao phối với một con sư tử cái, một con sư tử đực sẽ tấn công hổ. Ngược lại, nếu một con sư tử đực tới gần một hổ cái, một con hổ đực cũng sẽ tìm cách xua đuổi kẻ khác loài", Packer giải thích.
Nhưng trong môi trường nuôi nhốt, hổ và sư tử có thể giao phối nếu chúng không còn lựa chọn nào khác.
"Hổ và sư tử từng có tổ tiên chung, song chúng bắt đầu tách thành hai loài riêng biệt từ khoảng 7 triệu năm trước. Mặc dù vậy, ngày nay chúng vẫn có thể giao phối với nhau để sinh con", Packer phát biểu.
Packer nói thêm rằng, nếu sống trong môi trường hoang dã, những con liliger như Kiara sẽ thể hiện hành vi của cả sư tử và hổ.
"Sư tử sống theo bầy đàn và hay hợp tác với nhau. Hổ thường sống đơn độc và cố định ở một khu vực", ông cho biết. (Vnexpress.net 24/9) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa