Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 22 tháng 08 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
21-8, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hai tỉnh Thanh Hóa (Việt Nam) và Hủa phăn (CHDC Nhân Dân Lào) tổ chức hội nghị sơ kết chương trình phối hợp bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (BVR, PCCCR) vùng biên giới.
Với 192 km đường biên giới, tiếp giáp với ba huyện của tỉnh Hủa Phăn, nước CHDC Nhân dân Lào, từ nhiều năm nay ngành lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa thường xuyên trao đổi tình hình; hỗ trợ tập huấn, trao đổi kỹ thuật; phối hợp xử lý các vụ việc đột xuất, khẩn cấp về cháy rừng, phá rừng, khai thác, buôn bán lâm sản, động vật rừng.
Nhờ vậy khu vực biên giới hai tỉnh không xảy ra các vụ cháy rừng lớn, môi trường rừng ổn định, góp phần bảo vệ an ninh chính trị, thắt chặt quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa cấp ủy, chính quyền, nhân dân, kiểm lâm, lực lượng vũ trang hai tỉnh. (Nhân Dân 22/8, tr8) đầu trang(
Để hơn 10 triệu người dân TP. HCM có được “lá phổi xanh” rộng hơn 34 ngàn hécta như hôm nay, ngoài công sức của hàng vạn người, không thể không nhắc đến công lao của người trụ cột.
Người đã tham gia từ ngày đầu đến khi những cánh rừng ở Cần Giờ đã lên xanh. Ông là Nguyễn Đình Cương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP. HCM.
"Trong lịch sử, Việt Nam từng làm được những việc khiến thế giới phải sửng sốt, thán phục. Rừng Cần Giờ là một ví dụ. Tôi nhớ khoảng 10 năm trước, một nhà sinh thái học nổi tiếng của Mỹ đến Cần Giờ, đã tròn mắt ngạc nhiên.
Vì sau năm 1975, ông là một trong những nhà khoa học từng đến và nhận định, rừng Cần Giờ bị hủy diệt phần lớn do chất khai quang, muốn phục hồi như cũ, phải mất ít nhất 100 năm. Vậy mà ta làm chỉ trong vòng 10 năm”, ông Nguyễn Đình Cương mở đầu câu chuyện.
Để đạt kỳ tích này, ngoài công sức của hàng vạn người, vai trò “thủ lĩnh” của ông Cương khó có thể kể hết. Năm 1982, với vai trò Phó Giám đốc Lâm trường Duyên Hải (nay là Cần Giờ), ông Cương được giao nhiệm vụ phụ trách chiến dịch trồng rừng Cần Giờ.
Suốt 10 năm sau đó, ông không ngơi nghỉ, luôn sát cánh, chia sẻ những vất vả, gian khổ và cả hiểm nguy với mọi người. “Hồi đó chưa có đường, về Duyên Hải phải đi bằng đò gỗ. Xuất phát từ bến Bạch Đằng lúc 3 giờ sáng, 3 giờ chiều mới đến trung tâm huyện”, ông Cương nhớ lại.
Theo kế hoạch, mỗi năm phải trồng khoảng 4 ngàn ha rừng, tương đương với 1.500 tấn trái giống. Sau khi có đủ nhân lực từ 22 nông trường (khi ấy, mỗi quận, huyện có một nông trường) và người dân 7 xã của Cần Giờ, ông lại cùng anh em giong ghe về 5 nông trường ở Minh Hải để mua trái giống.
Ông kể: “Khó khăn nhất là thời gian vận chuyển từ Minh Hải về thành phố hết cả nửa tháng, trái đước bị hư khoảng 30 - 40% vì những bao nằm trên thì khô, còn dưới đáy ghe thì hư vì nhiệt độ. Sau này, tôi mới rút kinh nghiệm, không nên chở quá nhiều, phần để rút ngắn thời gian, phần những trái nằm dưới không bị nhiệt độ nóng làm chín”. Ngừng một lát, ông cười nói tiếp: “5 nông trường ở Minh Hải và 34 ngàn ha rừng ở Cần Giờ, chỗ nào cũng có dấu chân tôi rồi”.
Nói về những khó khăn, nguy hiểm, ông Cương kể: “Cần Giờ là vùng bán ngập, thủy triều lên là nhấn chìm tất tả. Nhiều lần, làm mệt quá nên mọi người ngủ say, đến sáng tỉnh dậy mới biết mọi thứ đã bị nước cuốn sạch trơn, chỉ còn mỗi chiếc giường.
Nhưng có một thứ khiến mọi người ai cũng sợ, đó là những con bù mắc, nhỏ hơn cả đầu tăm, có thể chui qua màn và cắn rất ngứa.
Một chuyện khiến tâm lý mọi người nhiều lúc không tốt nữa là những năm 1980, người dân còn đi vượt biên bằng đường biển rất nhiều. Không ít thuyền bị đắm vì bão hoặc cướp biển. Đa số những người chết dạt vào biển Cần Giờ. Chúng tôi lại phải báo chính quyền rồi chôn cất cho họ”.
Ông Cương bảo, nguy hiểm thì nhiều, nhưng ông nhớ nhất là một lần đi cùng đoàn cán bộ của thành phố xuống nghiệm thu rừng.
“Lần đó, chúng tôi đi vào mùa gió chướng, thuyền còn đang lênh đênh trên biển, cách Cần Giờ hơn hải lý thì sóng gió nổi lên. Nước tràn vào thuyền. Chúng tôi phải đổ mấy can dầu xuống biển, cắt ngang thân can để múc nước ra. Buồn cười là sau đó, ai cũng nói về phương án sẽ làm gì nếu đắm thuyền”.
Trò chuyện với những người đang chăm sóc, bảo vệ rừng như bà Hồng, bà Hoàng, ông Tám, ông Thu, vợ chồng bà Tư Chưởng…và cả những người trong BQL Rừng phòng hộ, tôi thấy họ dành rất nhiều tình cảm cho ông Cương.
“Hồi đầu đi trồng rừng, cực khổ không thể nào tả hết. Nếu không có người như anh Cương, khó khăn còn nhiều gấp bội. Anh Cương là người chỉ huy có tâm, có tầm. Ảnh không chỉ đưa ra những sáng kiến, cải tiến kỹ thuật trồng rừng để mọi người bớt khổ, mà còn tham gia làm như tất cả mọi người.
Nhiều lần, nước ngọt sắp hết mà chưa mua được, ảnh chỉ tắm nước mặn chứ không dùng nước ngọt để nhường cho mọi người. Nhờ có ảnh mà khó khăn, cực khổ vơi bớt. Sau này, khi rừng đã lên xanh, ảnh qua kiểm lâm, tính cách vẫn vậy, chẳng thay đổi gì”, bà Ba Hồng nói.
Năm 1990, với cương vị là Giám đốc Lâm trường Duyên Hải, ông Cương tiếp tục đóng góp công cuộc bảo vệ rừng bằng phương án giao rừng cho các hộ dân.
“Tôi nghĩ, trồng rừng đã khó, giữ được rừng còn khó hơn. Lực lượng mỏng, nếu không dựa vào dân thì không thể nào làm nổi”, ông Cương nói.
Nhưng, tìm được người chấp nhận sống cuộc sống “người rừng” là không dễ. Và lúc này, uy tín, tình cảm của những người dân nhiều năm gắn bó trong công cuộc trồng rừng với ông đã giúp ông tìm được những người dám đi tiên phong.
“Chúng tôi quyết tâm vào nhận khoán, chăm sóc rừng một phần vì không nỡ nhìn thấy những cây rừng do mình gieo hạt bị hủy hoại, phần vì tin tưởng, quí mến anh Cương”, bà Tư Hoàng, một trong người đi tiên phong vào rừng nói.
Trả lời câu hỏi: “Theo anh, những yếu tố nào tạo nên thành công trong việc trồng và bảo vệ rừng Cần Giờ?”, ông Cương nói ngay: Hồi đó, nhận thức rõ tầm quan trọng của rừng Cần Giờ, nên lãnh đạo thành phố và các sở, ban ngành rất quan tâm, luôn theo dõi và chỉ đạo sát sao, hỗ trợ tối đa cho người trồng và giữ rừng trong khả năng có thể.
Khi rừng đã trồng, công tác bảo vệ, chăm sóc được cả hệ thống tham gia, từ xã, huyện, các đơn vị như kiểm lâm, công an, bộ đội… đến người dân. Hồi đó, có ban gọi là Ban chỉ huy thống nhất, mỗi tháng đều tổ chức họp giao ban về tình hình bảo vệ rừng của từng tiểu khu, xem chỗ nào làm chưa tốt thì chấn chỉnh, khắc phục, chỗ nào làm tốt thì động viên, biểu dương.
Riêng với các hộ giữ rừng thì được quan tâm tối đa. Thời gian đầu, khi kinh tế thành phố còn khó khăn, 10 hộ dân đầu tiên vào nhận khoán chưa có tiền lương, chỉ được hỗ trợ dựng một căn nhà gỗ, xuồng, lu dựng nước, được phép tỉa thưa và hưởng 35% số cây tỉa này.
Ngoài ra, bà con thả lưới trên sông, đào ao nuôi cá thêm. Khi đó, lãnh đạo thành phố, huyện, xã, và anh em kiểm lâm, ban quản lý rừng vào thăm liên tục, khi có khó khăn gì, chúng tôi hỗ trợ ngay. Chính vì thế, ngay từ những ngày đầu, dù điều kiện sống trong rừng khổ gấp ngàn lần bây giờ, nhưng người dân vẫn quyết tâm bám rừng và bảo vệ rất tốt. Sau đó, nhiều hộ khác theo vào nhận khoán. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/8, tr5) đầu trang(
Bất chấp địa hình rừng sâu, dốc đứng và sự chốt chặn, truy quét của ngành chức năng, lâm tặc vẫn tuồn gỗ quý ở vùng rừng giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng - Bình Thuận về xuôi tiêu thụ.
Cùng với những chiêu thức hoạt động tinh vi và chuyên nghiệp, các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ lậu còn hết sức liều lĩnh, manh động, sẵn sàng đụng độ lực lượng bảo vệ rừng.
Vùng giáp ranh giữa hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận dài khoảng 200km từ lâu vốn phức tạp về phá rừng và vận chuyển gỗ trái phép. Nếu vài năm trước, “nóng” nhất là tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ lậu và chống người thi hành công vụ ở khu vực giáp ranh giữa huyện Đạ Huoai (tỉnh Lâm Đồng) với huyện Tánh Linh (tỉnh Bình Thuận), thì thời gian gần đây, điểm nóng “dời” lên khu vực giáp ranh giữa huyện Di Linh, Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) với huyện Bắc Bình (tỉnh Bình Thuận). Đây là vùng địa hình hiểm trở nhưng có nhiều loại gỗ quý như: giáng hương, gụ, trắc, lim xanh, sao, căm xe… nên luôn là mục tiêu mà lâm tặc nhắm đến.
Ông Đinh Tiến Hùng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh, cho biết, đơn vị xác định 3 điểm nóng phá rừng là Gia Bắc - Sơn Điền (giáp Hàm Thuận Bắc), Bảo Thuận và Tam Bố (giáp Bắc Bình). Sau khi đặt chốt chặn trên quốc lộ 28 thì tình hình tại Gia Bắc - Sơn Điền và Bảo Thuận đã tạm ổn. Hiện “đau đầu” nhất là điểm nóng Tam Bố. Khu vực này núi non hiểm trở, lâm tặc phải cắt đường băng rừng hàng chục cây số từ huyện Đức Trọng vòng về Bình Thuận để vào khai thác gỗ, khiến việc tuần tra, xử lý gặp nhiều khó khăn.
Theo tìm hiểu của PV, để đưa được gỗ quý ra khỏi rừng, các đối tượng khai thác gỗ trái phép phải sử dụng loại xe “khủng” mà các loại xe chuyên dụng của kiểm lâm cũng không thể sánh được. Loại xe này được “độ chế” gồm 2 cầu, khung xe bằng thép chịu lực, bánh xe quấn dây xích, đầu và đuôi xe đều có hệ thống dây tời để có thể vượt qua những con dốc dựng đứng. Hầu hết số xe này đều của các “trùm” gỗ lậu ở khu vực các xã Vùng Loan (huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng).
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, trong năm 2013, ngành chức năng huyện Đức Trọng đã bắt được 5 xe, nhưng hiện vẫn còn 4 - 5 xe vẫn đang hoạt động.
Giá gỗ mỗi năm một tăng, nhất là các loại gỗ quý hiếm hiện gần như chỉ còn tại các vùng rừng giáp ranh, nên lâm tặc dùng mọi chiêu thức để xâm nhập, khai thác và buôn bán trái phép. Cùng với việc bỏ tiền để đầu tư xe “độ chế” (khoảng 500 triệu đồng/chiếc), các đầu nậu gỗ còn lập “mạng lưới” tai mắt để cảnh giới, canh me lực lượng chức năng. Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Di Linh Đinh Tiến Hùng bức xúc: “Cứ mỗi lần anh em chúng tôi xuất quân là có đối tượng canh me, gọi điện báo cho nhau. Vì vậy, khi kiểm lâm đến nơi là chúng tẩu tán hết, mặc dù ở đó vẫn còn vết xe mới rợi”.
Không dừng lại ở đó, các đối tượng khai thác, vận chuyển gỗ ở vùng giáp ranh còn hết sức manh động, sẵn sàng đụng độ với lực lượng bảo vệ rừng khi bị chặn bắt. Còn nhớ vụ lâm tặc bao vây ở Tiểu khu 666 (gần xã Tam Bố), ông Nguyễn Văn Tập, cán bộ Đội Kiểm lâm cơ động - Hạt Kiểm lâm Di Linh, vẫn chưa hết “ớn”.
Thời điểm đó, lực lượng kiểm lâm tuần tra và bắt giữ đối tượng đang vận chuyển gỗ sao tại Tiểu khu 702, khi đưa đối tượng và tang vật vi phạm ra đến khu vực Cầu Cháy thì hàng chục côn đồ “đằng đằng sát khí” chờ sẵn. Một số xông vào nằm ngang bánh xe của kiểm lâm để cản đường, các đối tượng khác, tay lăm lăm mã tấu, xông vào giật súng của kiểm lâm và “cướp sống” tang vật cùng người vi phạm.
Để ngăn chặn tình trạng vi phạm lâm luật xảy ra phức tạp tại khu vực giáp ranh Di Linh, Đức Trọng với Bắc Bình, UBND hai tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận đã thống nhất xây dựng 2 trạm bảo vệ rừng giáp ranh tại xã Tà Năng (huyện Đức Trọng) và khu vực Cà Tường (huyện Di Linh). Hiện trạm Tà Năng đã đi vào hoạt động. (Sài Gòn Giải Phóng 22/8, tr7) đầu trang(
Chiều 21.8, HĐXX TAND tỉnh tuyên hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ lâm sản của Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng đối với một cá nhân.
Bên khởi kiện là ông Nguyễn Văn Toàn (nhân viên Trạm Y tế xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch) và bên bị kiện là ông Đinh Huy Trí (Phó giám đốc Ban quản lý Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, Hạt phó Hạt Kiểm lâm vườn).
Ông Đoàn Thanh Bình - cán bộ pháp chế của Hạt Kiểm lâm vườn, được ông Đinh Huy Trí ủy quyền làm đại diện tại tòa.
Theo hồ sơ, ngày 26.2.2014, ông Toàn bị lực lượng kiểm lâm của vườn phát hiện vận chuyển 4 kg thịt sơn dương trái phép bằng xe máy trên đường 20 - Quyết Thắng. Sau đó, ông Toàn bị xử phạt số tiền 15 triệu đồng.
Trong biên bản tại hiện trường, ông Toàn cũng đã ký với lý do... vì gấp công việc phải đi. Sau khi nhận quyết định xử phạt, ông Toàn khởi kiện vì cho rằng mình chở thịt bò.
Tại phiên tòa, HĐXX cho rằng quy trình xử phạt của Hạt Kiểm lâm thiếu chặt chẽ, chưa đủ cơ sở như: biên bản không ghi rõ thời hạn xử lý và quyền hạn của người vi phạm; không ghi rõ việc Hạt phó được giao quyền trong quyết định xử phạt; không giám định thịt gì mà khẳng định thịt sơn dương bằng trực quan và kinh nghiệm của kiểm lâm viên; không lập hội đồng thẩm định giá trong khi thịt sơn dương không có giá thị trường vì bị cấm buôn bán; không niêm phong tang vật. (Thanh Niên 21/8, tr3) đầu trang(
Hồ Ba Bể nằm trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, có diện tích mặt nước rộng khoảng 500ha; trong đó có 11 loài nằm trong "sách đỏ Việt Nam”, trú ngụ sinh sản. Năm 1995, Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới, tổ chức tại Hoa Kỳ đã công nhận hồ Ba Bể là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của nhân loại cần được bảo vệ.
Năm 2009, vườn Quốc gia Ba Bể được công nhận là di sản ASEAN, năm 2011, được Ban thư ký công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế) thứ 1.938 của thế giới và là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều năm nay, các nhà khoa học và giới chuyên môn đã nhiều lần đưa ra những "luận cứ” cảnh báo tiềm ẩn, nguy cơ hồ Ba Bể… bị "giết”.
Cụ thể, khi rừng phòng hộ đầu nguồn xã Đồng Phú, rộng 3.100ha được ví là "áo giáp xanh” che chở cho hồ Ba Bể tồn tại, phát triển bị tuyệt diệt thì, 3 dòng sông, suối (sông Năng, bắt nguồn từ Tây Bắc tỉnh Cao Bằng chảy qua các khu vực huyện Pác Năm; Ba Bể (Bắc Kạn); sông Chợ Lèng, bắt nguồn từ dãy Phja Bjooc, chảy qua rừng phòng hộ đầu nguồn xã Đồng Phú (huyện Ba Bể) và suối Bó Lù chảy từ Tây Nam), trước khi đổ dòng nước trong xanh vào hồ Ba Bể), trở thành hiểm họa. Hiểm họa này đe dọa sự ngụ trú của nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm như voọc mũi hếch, cá cóc Tam Đảo, ếch vàng và hàng trăm loài thủy sinh trong hồ..
Từ nhiều năm trước Báo Đại Đoàn Kết đã có những bài viết nêu về vấn đề bảo vệ Hồ Ba Bể. Trên báo ĐĐK số 144, ra ngày 14/9/2008, từng đã đăng bài "Quan” huyện có tiếp tay lâm tặc tuyệt diệt rừng phòng hộ đầu nguồn?”; phản ánh nạn phá rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Ba Bể là một trong hiểm họa… "giết” hồ Ba Bể.
Trong khi đó, cũng vào năm 2008, chính quyền tỉnh Bắc Kạn đồng ý cho một doanh nghiệp lập dự án chặn dòng sông Năng, con sông chủ đạo điều tiết "chở” nước đổ vào hồ Ba Bể, bằng một bờ đập cao 33m, để xây dựng thủy điện, với công suất…5MW tại thôn Nà Nộc, xã Bành Trạch (huyện Ba Bể).
Theo giới chuyên môn, việc xây dựng thủy điện sông Năng tạo ra nguy cơ cạn kiệt nguồn nước vào hồ Ba Bể và "kéo” 7 xã vùng hạ lưu của huyện Ba Bể lâm cảnh khô hạn. Bởi vậy dự án đã bị cán bộ, nhân dân phản ứng mạnh mẽ, nên tạm thời lắng dịu.
Mới đây, ngày 10-7, Sở TN&MT tỉnh Bắc Kạn đã có công văn số 635, gửi các Bộ, ngành Trung ương, xin ý kiến chấp thuận cho Doanh nghiệp được phép xây dựng thủy điện sông Năng ở xã Bành Trạch (huyện Ba Bể), lập tức làm nóng dư luận xã hội về việc… "ăn chia” các đoạn sông Năng nằm trong dự án chặn dòng xây đập thủy điện, được cho là ẩn chứa kho vàng sa khoáng với trữ lượng rất lớn (?).
Tìm hiểu, được nhiều người dân ở đây cho biết: Dòng sông Năng, đoạn chảy qua các xã Bằng Thành; An Thắng (huyện Pác Nặm) và xã Bành Trạch (huyện Ba Bể) từ những năm 1970, người dân tứ xứ đã đổ về đây dùng máng gỗ, dầm mình trên đoạn sông này đãi cát lấy những hạt vàng; làm xáo trộn cuộc sống của cư dân bản địa. Hàng ngày, nơi đây phải chứng kiến bao cảnh hỗn loạn chỉ vì… vàng. Năm 1997, tỉnh Bắc Kạn được tái lập, việc siết chặt quản lý Nhà nước về khoáng sản được tăng cường nhưng, đoạn sông qua xã Bành Trạch vẫn luôn là điểm nóng của nạn vàng tặc…
Có thể nói, hồ Ba Bể luôn phải đối mặt với những tiềm ẩn nguy cơ … bị "giết”. Dư luận ủng hộ quan điểm của bà Đỗ Thị Minh Hoa - Bí thư Huyện ủy Ba Bể, đã từng thẳng thắn trước giới truyền thông: Chúng tôi không nhất trí xây dựng thủy điện sông Năng tại xã Bành Trạch. Nếu thủy điện này được xây dựng, đưa vào sử dụng chỉ tạo việc làm cho khoảng 30 người, trong khi dọc sông Năng có hàng trăm ha đất trồng hai vụ lúa, một vụ màu, nuôi sống hàng nghìn hộ gia đình từ nhiều đời nay… Chúng tôi không bao giờ bỏ rơi lợi ích của số đông người nghèo để ủng hộ lợi ích của một nhóm người”. (Đại Đoàn Kết 22/8) đầu trang(
Chiều 21-8, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai đã quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối tượng Lê Xuân Xanh (45 tuổi), ngụ tỉnh Nghệ An để điều tra về hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm.
Theo điều tra ban đầu, khoảng 21 giờ 30 phút ngày 11-8, Lê Xuân Xanh sử dụng xe ô-tô loại 12 chỗ ngồi, biển số 30M-2454 vận chuyển một cá thể hổ (đã bị mổ lấy thịt chỉ còn lại xương và da) có chiều dài khoảng 2 m, trọng lượng 69 kg và một bộ xương hổ khác có trọng lượng khoảng 11 kg đến quán thịt cầy Ninh Bình, phường Thống Nhất, TP Biên Hòa (Đồng Nai) thì bị lực được chức năng phát hiện và bắt giữ.
Các cơ quan chức năng xác định, cá thể hổ trên thuộc nhóm hổ Đông Dương, được một đối tượng chưa rõ lai lịch thuê vận chuyển từ tỉnh Hà Tĩnh vào Đồng Nai nấu cao hổ.
Để thực hiện hành vi này, bị can Xanh cùng một số đối tượng dùng xe cứu thương vận chuyển từ phía bắc vào đến khu vực ngã ba Dầu Giây, huyện Thống Nhất (Đồng Nai). Tiếp đó, các đối tượng trên chuyển sang xe ô-tô 12 chỗ ngồi được thiết kế đặc biệt, dấu số hổ trên dưới gầm xe để qua mặt các cơ quan chức năng chuyển đến TP Biên Hòa.
Hiện, Công an tỉnh Đồng Nai đang tiếp tục điều tra, truy bắt đối tượng cầm đầu để xử lý theo quy định của pháp luật. (Nhân Dân 22/8, tr7) đầu trang(
Mượn danh là cháu của phó chủ tịch huyện, đầu nậu tên T. (biệt danh T. “điếc”) đã thâu tóm cả cánh rừng phòng hộ, khi bị “bại lộ” T. còn đe dọa người dân và thách thức cả chính quyền, kiểm lâm.
Nguồn tin riêng mà báo VietNamNet có được, T. “điếc” - người thâu tóm toàn bộ gỗ mà lâm tặc chặt phá được tại thôn Cụt Ạc, xã Xuân Chinh với giá từ 70.000đ đến 120.000đ/khúc - là cháu bà Lê Thị Hường, Phó chủ tịch UBND huyện Thường Xuân (Thanh Hóa).
Với kiểu thâu tóm này, T. ngang nhiên hoạt động công khai và thường xuyên có mặt tại thôn bản để chở gỗ mà không bị cơ quan chức năng nào “sờ gáy”.
Ông Cầm Bá Nhang, Chủ tịch UBND xã Xuân Chinh cho biết, việc khai thác và thâu tóm gỗ lậu của T. tại thôn Cụt Ạc là đúng. Ở đây từ dân bản cho đến chính quyền ai cũng biết tới T. với biệt danh T. “điếc”.
Mới đây, vào đầu tháng 8 lâm tặc khai thác gỗ quá nhiều, chính quyền xã phối hợp với kiểm lâm đã vào tận hiện trường để kéo gỗ ra và lập biên bản. “Đầu nậu này ngông nghênh đến nỗi khi đoàn xuống kiểm tra và lập biên bản số gỗ bọn chúng vừa khai thác thì vẫn có T. ở đó. Khi hỏi đến khúc gỗ nào thì T. đều nhận là của mình, song khi lập biên bản hắn lại nhất quyết không ký nên tổ công tác đành phải lập biên bản gỗ vô chủ”, ông Nhang cho biết.
Chưa dừng lại ở đó, “dựa thế” có người làm to nên khi xã thuê ô tô chở gỗ vừa bắt giữ tại bãi tập kết về UBND xã thì T. lại đe dọa người lái xe, bắt tài xế phải đổ gỗ xuống cho hắn.
Được biết, T. là người xã Bái Thượng, huyện Thọ Xuân, đã làm gỗ từ năm 18 tuổi. Với hàng chục năm kinh nghiệm làm “nghề” nên T. trở nên rất khôn ngoan.
Một kiểm lâm cho biết, thời gian qua lực lượng kiểm lâm bắt và kiểm tra gắt gao xe chở gỗ lậu trong đó có xe ô tô chở gỗ của T. Sau đó, T. liên tục đe dọa, thách thức kiểm lâm và lớn tiếng nói “sẽ điều chỉnh cán bộ”.
Trao đổi với PV, bà Lê Thị Hường, Phó chủ tịch UBND huyện Thường Xuân thừa nhận “T. điếc” chính là cháu bà. Tuy nhiên, bà Hường cho biết, không dung túng, “bảo kê” cho cháu mình làm những việc trái pháp luật như vậy(?). Nếu đúng T. làm điều đó, thì dù là cháu bà cũng phải xử đúng theo quy định của pháp luật.
Liên quan tới việc trách nhiệm, ông Cầm Bá Nhang, chủ tịch xã thừa nhận mình đã ký cho một số hộ dân khai thác, sau đó lâm tặc lợi dụng vào đó để phá rừng.
Ông Nhang cho biết, trách nhiệm chính vẫn là ông và chủ rừng. Vì theo quy định khi nhà nước đã giao rừng thì hộ dân phải có trách nhiệm bảo vệ, nếu xảy ra chặt phá nghiêm trọng thì các chủ hộ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
“Bản thân tôi cũng phải chịu trách nhiệm, xã cũng có thành lập tổ bảo vệ rừng, nhưng do kinh phí không có nên các thành viên trong tổ chẳng ai mặn mà”, ông Nhang phân trần.
Song, ông Nhang cũng cho biết thêm, việc để xảy ra phá rừng trên địa bàn cũng không thể đổ lỗi cho ông và chủ rừng được, bởi thực tế còn có kiểm lâm. Mọi vấn đề kiểm tra, tham mưu, kiểm kê số cây, số lượng, vị trí… đều do kiểm lâm phối hợp để làm thì chủ rừng và UBND xã mới có thể thực hiện được.
Liên quan đến vụ việc, ông Lê Phú Vẽ, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Thường Xuân cho biết, hiện xã Xuân Chinh có gần 10.000ha rừng, trong đó lực lượng kiểm lâm mỏng, chỉ có một kiểm lâm viên địa bàn nên không thể kiểm tra nổi!?. Do vậy, trách nhiệm phải là ở địa phương là chính, kiểm lâm không thể giữ từng gốc cây cho các hộ được!.
“Để rừng không còn bị phá chỉ còn cách cấp ủy chính quyền xã phải vào cuộc thực sự, và chỉ khi đó rừng mới được giữ. Ngược lại nơi nào họ chưa vào cuộc thì nơi đó rừng sẽ còn bị phá”, ông Vẽ nói như đổ lỗi hoàn toàn cho chính quyền địa phương, còn kiểm lâm… “vô can”.
Trao đổi với VietNamNet, ông Nguyễn Văn Vân, Trưởng phòng Thanh tra Pháp chế (Chi cục kiểm lâm Thanh Hóa) cho biết, chi cục chưa nhận được thông tin hay báo cáo gì từ Hạt kiểm lâm huyện Thường Xuân.
"Sau khi nắm bắt thông tin qua phóng viên, chúng tôi sẽ cử người lên kiểm tra. Nếu đúng thực trạng trên, chúng tôi sẽ phối hợp để xử lý nghiêm những người liên quan như chủ rừng, lãnh đạo xã, cán bộ kiểm lâm địa bàn và những người đứng đầu đơn vị theo đúng quy định của pháp luật", ông Vân thẳng thắn. (VietnamNet 22/8) đầu trang(
Trong khi hàng trăm hộ dân thôn Xuân Lai, xã Hải Vân (Như Thanh) lo lắng trước tình trạng 50 héc ta rừng đầu nguồn đứng trước nguy cơ bị chặt phá để chuyển đổi sang mục đích khác, thì người được giao rừng lại tìm cách “triệt hạ” rừng.
Theo phản ánh của nhiều người dân thôn Xuân Lai, xã Hải Vân, thời gian gần đây, một số hộ gia đình được giao khoán bảo vệ rừng đầu nguồn trên địa bàn thôn đã tự ý thuê người vào phát rừng, phá rừng để tìm cách chuyển đổi rừng tự nhiên sang mục đích khác. Người dân đã nhiều lần có ý kiến lên cơ quan cấp trên nhưng tình trạng trên vẫn tái diễn. Hiện thôn Xuân Lai có hơn 150 hộ dân với 650 nhân khẩu ngày đêm mất ăn mất ngủ vì lo mất rừng.
Ông Nguyễn Hữu Tư, Trưởng thôn Xuân Lai, bức xúc: “Cánh rừng đầu nguồn khoảng 50 ha của thôn chúng tôi rất quan trọng, nó không những tạo ra nguồn sinh thủy cung cấp nguồn nước sinh hoạt và đặc biệt là nguồn nước tưới cho 17 ha lúa nước của cả thôn, mà nó còn là khu vùng đệm bảo vệ Vườn quốc gia Bến En, nên người dân chúng tôi kiên quyết giữ bằng được”.
Nhưng khoảng hơn 1 năm trở lại đây, một số hộ dân được giao đất rừng ở khu vực trên đã tự ý vào chặt phá rừng để chuyển đổi sang trồng keo, dứa… Trong đó có hộ gia đình ông Lê Đăng Toàn đã nhiều lần tự ý vào chặt phá rừng. Người dân đã báo cáo sự việc lên cơ quan cấp trên; kiểm lâm, lâm trường và chính quyền địa phương cũng đã xử phạt gia đình ông Toàn 2 lần với số tiền phạt hơn 7 triệu đồng.
Theo ông Nguyễn Hữu Tư, ông Toàn là người được giao rừng nhưng thực chất người đang quản lý bảo vệ khoảng 12 ha rừng trên lại là ông Dùng, một cán bộ huyện Như Thanh. “Nhiều lần ông Dùng thuê người vào chặt cây, chúng tôi vào ngăn cản nhưng ông ấy vẫn cứ làm, đến khi bà con báo cáo lên cấp trên về lập biên bản xử lý thì ông này mới chịu dừng lại” - ông Tư bức xúc.
Cũng theo ông Tư và Bí thư chi bộ thôn Xuân Lai Bùi Văn Xuyến, diện tích 50 ha rừng đầu nguồn của thôn chủ yếu giao cho những người ở nơi khác chứ người dân không được hưởng. Trong số đó có rất nhiều cán bộ lâm trường, UBND xã và thậm chí cả cán bộ huyện như hộ ông Lê Đăng Toàn - cán bộ Ban quản lý Rừng phòng hộ Như Xuân 12,5 ha.
Ông Nguyễn Trọng Thiện - Bí thư Đảng ủy xã Hải Vân 5 ha. Ông Nguyễn Ngọc Thuật - cán bộ BQL Rừng phòng hộ Như Xuân (có vợ là Phó giám đốc) 5,6 ha. Ông Nguyễn Viết Sơn - Phó Chủ tịch UBND xã 3 ha. Ông Phạm Ngọc Nam - Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Như Xuân 5ha...
“Chính vì rừng không được giao cho người dân chăm sóc bảo vệ nên bà con ngay ngáy lo mất rừng. Đã nhiều lần Ban quan lý Rừng phòng hộ Như Xuân có ý định chuyển đổi diện tích rừng tự nhiên trên sang mục đích khác, nhưng bà con chúng tôi không đồng ý, kiên quyết bảo vệ đến cùng. Nguyện vọng của bà con chúng tôi là giữ lại số rừng trên để tạo nguồn sinh thủy cung cấp nước cho 2 đập Khe Bai để đảm bảo nguồn nước cho cánh đồng 17 ha của thôn” – bà Nguyễn Thị Xuân, thôn Xuân Lai cho biết.
Bà Bùi Thị Hoa, Phó Giám đốc Ban quản lý Rừng phòng hộ Như Xuân, cho biết: “Rừng ở thôn xuân lai là rừng tự nhiên nghèo kiệt, chúng tôi đã giao khoán cho các hộ dân theo Nghị định 35 của Chính phủ. Hiện diện tích rừng trên đã có chủ, việc người dân phán ảnh hộ gia đình ông Toàn vào phát rừng là có, gia đình ông ấy chỉ phát luông cho quang rừng. Tuy nhiên chưa báo cáo Ban quản lý, kiểm lâm là sai, chúng tôi đã cho người vào kiểm tra vào có phạt gia đình anh 2 lần với tổng số tiền là 7,6 triệu đồng.
Cũng theo bà Hoa thì diện tích rừng ở thôn Xuân Lai cũng giao cho bà con địa phương và cán bộ Ban quan lý khoang nuôi bảo vệ. “Tuy nhiên diện tích rừng trên đã nghèo kiệt, BQL cũng đang có ý định chuyển đổi, nhưng hiện nay chưa làm phương án, nên chúng tôi chưa làm gì cả” – bà Hoa cho hay.
Còn ông Lê Thanh Ngợi, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Như Thanh, cho biết BQL rừng phòng hộ Như Xuân cũng đã nhiều lần xin chuyển đổi diện tích đất rừng ở thôn Xuân Lai. “Khu vực rừng trên tuy không còn giá trị về mặt kinh tế, nhưng về mặt sinh thái thì nó rất quan trọng tạo nguồn sinh thủy và đảm bảo môi trường cho bà con trong khu vực. Ngoài ra nó còn là “tấm lá chắn” bảo vệ vùng lõi Vườn quốc gia Bến En” - ông Ngợi nhận định.
Bên cạnh đó, theo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Như Thanh, ông rất đồng tình với việc giữ rừng của người dân thôn Xuân Lai, nên nhiều lần báo cáo ra Chi cục và Sở NN-PTNT Thanh Hóa, ông cũng có ý kiến không nên chuyển đổi số rừng trên. “Đã có một số cán bộ lớn ở huyện xuống “xin” kiểm lâm cho họ chuyển đổi sang trồng cây khác nhưng chúng tôi kiên quyết không đồng ý” – ông Ngợi cho biết thêm. (Dân Trí 20/8) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn TP đã xảy ra 10 vụ cháy rừng với khoảng 9,35ha. Mặc dù số vụ cháy rừng đã giảm gần 60% so với cùng kỳ năm trước, song, do thời tiết diễn biến phức tạp nên không thể chủ quan trước các nguy cơ cháy rừng.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn TP đã xảy ra 10 vụ cháy rừng với khoảng 9,35ha. Mặc dù số vụ cháy rừng đã giảm gần 60% so với cùng kỳ năm trước, song, do thời tiết diễn biến phức tạp nên không thể chủ quan trước các nguy cơ cháy rừng. Do vậy, chủ động xây dựng các phương án bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) được TP coi là nhiệm vụ cấp bách.
Hà Nội hiện có hơn 23.000ha rừng, phân bố ở 7 huyện, thị xã là Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức, Sóc Sơn và thị xã Sơn Tây với 62 xã có rừng, trong đó có 45 xã có diện tích trên 100ha. Rừng của Hà Nội chủ yếu là rừng trồng (thông, keo, bạch đàn, tre, luồng...) và có thảm thực bì dưới tán dày nên rất dễ cháy.
Mặt khác, rừng Hà Nội gắn liền với các công trình văn hóa lịch sử có lễ hội và xen kẽ các khu dân cư, cơ quan, đơn vị nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao. Tuy nhiên, khi xảy ra cháy rừng, việc huy động các lực lượng phối hợp tham gia chữa cháy (kiểm lâm, bộ đội, người dân...) còn lỏng lẻo.
Cùng với đó là trang thiết bị phục vụ công tác PCCCR vừa thiếu, vừa yếu nên hiệu quả chữa cháy không cao. Hiện tại, các địa phương có rừng mới xây dựng được đường băng trắng (đường băng cản lửa), còn đường lâm nghiệp kết hợp với đường PCCCR để đảm bảo khi xảy ra cháy rừng, xe cơ giới có thể đi được vẫn ở mức ít ỏi.
Tính đến thời điểm này, TP mới xây dựng được 26km đường lâm nghiệp kết hợp đường PCCCR với tổng số vốn 127 tỷ đồng, bao gồm: 20km tại 2 xã Minh Trí và Bắc Sơn (Sóc Sơn); 6km ở xã Tuy Lai (Mỹ Đức). Bên cạnh đó, việc xây dựng phương án dự phòng như bể nước phục vụ PCCCR vẫn còn bỏ ngỏ. Trong khi đó, nhiệm vụ trực chòi canh rừng hiện nay lại giao hoàn toàn cho các địa phương quản lý.
Theo lãnh đạo Sở NN&PTNT Hà Nội, việc tổ chức lực lượng bảo vệ, PCCCR được coi là nhiệm vụ cấp bách cần được thực hiện một cách đồng bộ từ TP đến huyện, xã. Sở sẽ xây dựng Đề án Phát triển và bảo vệ rừng sớm để trình TP phê duyệt; bố trí kinh phí đầu tư trang, thiết bị phục vụ PCCCR cần lấy trọng tâm là công tác phòng cháy.
Chỉ đạo về công tác PCCCR, lãnh đạo TP cho rằng, để chủ động PCCCR, trước  hết phải chú trọng xây dựng lực lượng PCCCR. Ngoài ra, đối với các xã có 100ha rừng trở lên cần có cán bộ phụ trách lâm nghiệp. Đồng thời, Sở NN&PTNT cần xem xét lại việc giao trách nhiệm quản lý bể nước PCCCR cho huyện, xã đảm bảo việc giữ gìn, bảo vệ tài sản, tránh lãng phí.
Đối với các hạt kiểm lâm, thường xuyên phối hợp với cơ quan chức năng kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng điện của người dân, quản lý kho bom, đạn của các doanh trại quân đội đóng trong rừng và ven rừng; chú trọng việc phát hiện, cảnh báo, loan báo cháy rừng; tăng cường tuyên truyền về công tác PCCCR cho cán bộ và người dân. (Kinh Tế & Đô Thị 22/8) đầu trang(
Trong thời gian qua tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh Quảng Trị diễn biến phức tạp, khí hậu nắng nóng kéo dài, kèm theo gió Tây Nam thổi mạnh, nên nguy cơ cháy rừng xảy ra rất cao.
Từ đầu mùa khô đến nay, địa bàn đã xảy ra 3 điểm cháy rừng.Theo đó công tác chủ động phòng chống cháy rừng phải được đặt trong tình trạng cấp thiết. Khoảng 12 giờ 30 ngày 10.7 sau khi phát hiện có điểm cháy, Trạm Kiểm lâm Đông Hà đã điều động lực lượng phối hợp với dân quân cùng với xã viên HTX khống chế đám cháy.
Sau 1 giờ đồng hồ, đám cháy đã được dập tắt, thiệt hại về rừng là không đáng kể. Tuy nhiên điều đáng nói ở đây đó là nguyên nhân vụ cháy ban đầu được xác định  do sự vô ý của người dân .Vụ việc một lần nữa cảnh báo ý thức của người dân trong việc bảo vệ rừng.
Thành phố Đông Hà có hơn 2000 ha diện tích rừng. Hầu hết diện tích rừng đều gần khu dân cư và trên các trục đường giao thông . Dưới tán từng là nghĩa trang và rải rác có nhiều lăng mộ nên việc viếng thăm thắp hương, đốt vàng mã, dẫn đến nguy cơ cháy cao.Để hạn chế cháy rùng Trạm Kiểm lâm thành phố đã tổ chức nhiều cuộc kiểm tra công tác PCCCR trên địa bàn.
Kiện toàn lại 5 Ban chỉ huy PCCC các phường và thành lập 8 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng. Tổ chức trực 24/24 tại đơn vị để tiếp nhận thông tin…Đặc biệt thường xuyên tổ chức họp dân, tuyên truyền ý thức trong công tác bảo vệ rừng.  Từ đầu mùa khô đến nay, đặc biệt là trong tháng 7 vừa qua, trên địa bàn  liên tiếp xảy ra 3 điểm cháy rừng trên tổng diện tích 0,5 ha,nhờ phát hiện và huy động lực lượng và phương tiện kịp thời nên không gây thiệt hại về rừng.
Theo thống kê những năm gần đây cao điểm xảy ra cháy rừng trên địa bàn tập trung vào tháng 7 và 8. Nhiều biện pháp cấp bách đang được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cơ quan ban ngành và các chủ rừng trên địa bàn thành phố Đông Hà tăng triển khai nhằm hạn chế tối đa những sự cố cháy rừng trên địa bàn. (VTV Huế 20/8) đầu trang(
Do ảnh hưởng của nắng nóng kéo dài, nhiều diện tích rừng trồng ở huyện Đồng Xuân bị khô, chết và nhiều vụ cháy rừng đã xảy ra, gây thiệt hại hàng ngàn hécta. Trong khi đó, theo Cục Kiểm lâm (Bộ NN-PTNT), toàn tỉnh đang ở trong tình trạng nguy cơ cháy rừng cấp IV.
Thống kê của Sở NN-PTNT cho biết, đến cuối tháng 7, toàn tỉnh có khoảng 1.460ha rừng bị chết do khô hạn, gần 250ha bị cháy. Tuy nhiên, theo Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân đến ngày 19/8, trên địa bàn huyện đã có tới 1.816ha rừng bị chết khô.
Trong đó, Công ty TNHH Bình Nam có 40ha rừng bị cháy; Công ty Trường Thành Xanh có 250ha bị khô, cháy và 766ha rừng của các tổ chức và người dân bị khô và cháy. Diện tích rừng bị khô và cháy tập trung ở các xã Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3, Xuân Long, Xuân Sơn Bắc, Xuân Sơn Nam và thị trấn La Hai.
Vụ cháy rừng xảy ra gần đây nhất vào trưa 9/8 tại tiểu khu 113 thuộc địa bàn xã Xuân Quang 1. Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với Công ty TNHH Bình Nam và chính quyền địa phương huy động hơn 50 người cùng phương tiện tham gia khống chế. Đến 17 giờ 40 cùng ngày ngọn lửa mới được dập tắt, thiệt hại hơn 7ha rừng keo trồng từ năm 2009 đến năm 2012.
Theo các ngành chức năng, nguyên nhân xảy ra cháy rừng chủ yếu là do người dân đốt thực bì rừng hoặc rẫy và dùng lửa đốt tổ ong lấy mật. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có vụ cháy rừng nào xác định được đối tượng gây cháy.
Ông Vũ Công Tâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Xuân, cho biết: Không chỉ kiểm soát thực trạng cháy rừng liên tục xảy ra, từ đầu năm đến nay, chúng tôi còn thường xuyên phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Đồng Xuân và UBND xã Phú Mỡ vận động, tuyên truyền người dân về công tác bảo vệ rừng; đồng thời ngăn chặn nạn khai thác, thu hái hạt ươi, xay, trâm và đào bới đất rừng tìm trầm trái phép; phối hợp với lực lượng kiểm lâm các huyện giáp ranh tổ chức truy bắt các đối tượng vận chuyển lâm sản trái phép.
“Hiện nạn đào bới đất rừng để tìm trầm, vận chuyển cây hoành tử và than hầm giảm so với trước đây. Tuy nhiên, nạn khai thác, vận chuyển, mua bán các loại lâm sản trái phép phân tán, nhỏ lẻ còn diễn ra phức tạp, nguy cơ cháy rừng vẫn tiềm ẩn cao”, ông Tâm nói.
Ông Hoàng Trung Sơn, Giám đốc Công ty TNHH Bình Nam chi nhánh tại Phú Yên, cho biết: Công ty trồng gần 2.900ha rừng tại huyện Đồng Xuân, chỉ trong 1 tháng qua đã có ít nhất 400ha bị khô và chết, chủ yếu là keo từ 3 đến hơn 6 năm tuổi, ước thiệt hại hơn 30 tỉ đồng. Công ty phải huy động hàng trăm nhân công túc trực 24/24 giờ tại các khu vực rừng dễ xảy ra cháy và dùng xe tải vận chuyển nước tưới các đường băng cản lửa để có thể dập tắt kịp thời nếu xảy ra cháy.
Trung bình, chi phí cho công tác phòng cháy chữa cháy cho 1ha rừng khoảng 1 triệu đồng. Theo ông Sơn, trong vài ngày tới nếu trời có mưa thì cũng chỉ cứu được những diện tích keo rụng lá, vỏ còn tươi, còn những cây vỏ bị khô và bóc dộp thì không thể cứu được.
“Hạt Kiểm lâm huyện liên tục thông tin nhanh cấp dự báo cháy rừng đến chính quyền địa phương và các chủ rừng. Phân công cán bộ trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24 giờ, kể cả ngày thứ 7, chủ nhật và thường xuyên tuần tra tại các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy cao để chủ động triển khai phương án phòng cháy chữa cháy rừng”, ông Tâm cho biết.
Theo Cục Kiểm lâm, toàn tỉnh Phú Yên đang ở trong tình trạng nguy cơ cháy rừng cấp IV (cấp nguy hiểm). Nếu để xảy ra cháy rừng thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan rất nhanh. Riêng trong ngày 18/8, vệ tinh phát hiện Phú Yên có tới 10 điểm cháy, cao nhất nước.
Trong đó, huyện Đồng Xuân 3 điểm tại xã Xuân Lãnh và Phú Mỡ; huyện Tuy An 3 điểm tại xã An Xuân và An Thọ; TX Sông Cầu có 2 điểm tại xã Xuân Hải và Xuân Lộc; huyện Sơn Hòa có 1 điểm tại xã Sơn Hội và huyện Phú Hòa có 1 điểm tại xã Hòa Quang Bắc. (Báo Phú Yên 21/8) đầu trang(
Trong 8 tháng đầu năm, các lực lượng liên ngành của huyện Đông Giang đã mở 9 đợt truy quét các đối tượng khai thác lâm, khoảng sản trên địa bàn, trong đó trọng điểm là tại xã Tư.
Theo đó, lực lượng chức năng đã phá hủy 73 máy nổ Đông Phong, 42 lán trại, 3 máy xay đá, 22 máy bơm nước…; đồng thời đẩy đuổi hàng trăm đối tượng cư trú trái phép ra khỏi địa bàn, buộc 11 hộ ký cam kết không tái diễn vi phạm.
Ngoài ra, địa phương còn xử lý 45 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 4 vụ phá rừng, 32 vụ khai thác rừng trái phép, bắt giữ 8 vụ vận chuyển lâm sản trái phép, chuyển hồ sơ đề nghị khởi tố 3 vụ. Tổng thu nộp vào ngân sách nhà nước huyện hơn 435 triệu đồng. (Báo Quảng Nam 20/8) đầu trang(
Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm cho biết: Từ đầu năm 2014 đến nay, trên địa bàn huyện đã xảy ra 142 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tăng 8 vụ so với cùng kỳ năm 2013. Trong đó, phá rừng, khai thác rừng trái phép là 68 vụ; mua bán, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép 50 vụ và vi phạm khác 24 vụ.
Nguyên nhân dẫn đến các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng tăng là do một số doanh nghiệp sau khi được cấp phép cho thuê rừng, đất rừng đã chậm triển khai dự án và không tổ chức thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng. Trong số các vụ vi phạm nêu trên, đến nay các cơ quan chức năng ở huyện Bảo Lâm đã xử lý 110 vụ, thu nộp ngân sách nhà nước trên 3 tỷ đồng.
Để thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, cùng với việc tuyên truyền, vận động, tuần tra kiểm soát, huyện Bảo Lâm đang đề nghị UBND tỉnh thu hồi đối với những dự án cho thuê rừng, đất rừng không triển khai thực hiện theo đúng cam kết. (Báo Lâm Đồng 20/8) đầu trang(
Đó là lời khẳng định của K’Vâng - người K’Ho, là Tổ trưởng Tổ diễn giải môi trường của Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường, thuộc VQG Bidoup - Núi Bà.
“Đi rừng thường gặp ruồi vàng, vắt… Trong rừng thông không có vắt đâu, nhưng ruồi vàng thì có. Đó là con ruồi nhỏ màu vàng, chích vào người sẽ để lại vết máu, sần ngứa mất 3-4 ngày. Nên trước khi vào rừng, bôi thuốc này để ngăn ruồi chích”, K’Vâng vừa giới thiệu cung đường sắp đi, vừa dặn dò trước khi cả đoàn bước vào hành trình khám phá tuyến du lịch thác Thiên Thai.
Con đường đất nhỏ ngoằn ngoèo, ban đầu là xuyên qua rừng thông, tiếp đến là rừng cây lá tạp, rừng dương xỉ... Thỉnh thoảng, K’Vâng dừng lại chờ mọi người rồi chỉ vào những cái cây: Đây là cây lá ngón, rất giống lá bép bà con hay ăn, nhưng lá ngón cực độc, còn lá bép lại rất ngon…
Cây dẻ lấy quả có thể dùng nhựa tươi để chữa đau bụng… Cây kê huyết đằng là một vị thuốc… Cây cỏ roi ngựa có hoa màu tím rất đẹp là thức ăn của chim… Cây sóng rắn làm tượng trong lễ hội của đồng bào… Anh cũng pha trò rất hóm hỉnh: Đây là cây hồng sâm, có tay, nên mình đặt tên là “vấn vương Đà Lạt”… Cây này các bà, các chị lấy về làm đẹp…
Chẳng mấy chốc, đoạn đường 3km đã đi qua. Tiếng thác reo rì rầm, rồi ầm ào rất rõ. K’Vâng dừng lại: “Mình không còn gì để nói nữa, hãy để thiên nhiên lên tiếng!”... Chưa vào tâm điểm mùa mưa, nên con thác Thiên Thai hiền hòa lắm. Trong khi du khách háo hức chụp cảnh hoang sơ, mượt mà của dòng thác, hay thích thú đùa nghịch làn nước trong vắt và mát rượi… thì K’Vâng lặng lẽ dùng chính đôi tay trần của mình thu lượm các loại rác, như: khăn giấy, vỏ bánh kẹo, lon nước ngọt…cất vào túi nilon mang sẵn trong ba lô.
Rồi cũng rất lặng lẽ, khi đoàn trở về sau chuyến đi, anh lấy bịch rác từ trong ba lô bỏ vào thùng rác của Trung tâm. Anh cười khi bị phát hiện và giải thích: Đây cũng chính là một phần trong hoạt động diễn giải môi trường tại đây. Trên toàn tuyến du lịch không đặt một thùng rác nào, để du khách ý thức việc giữ gìn và bảo vệ môi trường, mang những thứ mình không sử dụng nữa ra khỏi rừng rồi mới bỏ vào 3 thùng rác đã được phân loại là rác hữu cơ, rác thải vô cơ và rác có thể tái chế. Nếu có rác trên toàn tour tuyến thì hướng dẫn viên sẽ nhặt về để giữ gìn vệ sinh cho các đoàn khách sau… Đó cũng là cách bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường sinh thái.
Ông Nguyễn Lương Minh - Giám đốc Trung tâm cho biết: K’Vâng là người bản địa, gắn bó với đồng bào địa phương, nhiệt tình và trách nhiệm, vui vẻ và hòa đồng, được du khách rất thích. K’Vâng học hỏi và nắm bắt nhiều kỹ năng sống cũng như phong tục, truyền thống của đồng bào; anh hiểu nhiều về đa dạng sinh học trong rừng, biết các cây truyền thống được sử dụng để làm thuốc, trang điểm, làm đẹp, cây độc…
K’Vâng là người được đào tạo bài bản, sử dụng ngoại ngữ tốt, đã được tập huấn ở Nhật, nên kỹ năng hướng dẫn và diễn giải tốt, có nhiều kinh nghiệm tổ chức tour... Hiện, đội của K’Vâng có khoảng 20 em là người đồng bào địa phương được trang bị kiến thức và có thể tham gia hướng dẫn, diễn giải môi trường khi Trung tâm yêu cầu.
K’Vâng là người Liên Đầm (Di Linh), nhưng lấy vợ và theo về định cư ở xã Lát (Lạc Dương) - nằm trong vùng đệm của VQG Bidoup - Núi Bà và vào làm việc ở Trung tâm từ ngày thành lập (2011). Trước đó, anh làm việc ở Khu du lịch Đankia - Suối Vàng, nên công việc cũng như cuộc sống của anh, giống như của đồng bào anh, ông cha anh từ ngàn xưa; chỉ khác là anh có thêm sứ mệnh truyền bá văn hóa và ý thức giữ gìn môi trường rừng đến cộng đồng và du khách, lại vừa giới thiệu được bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình…
Anh tường tận các loại hoa văn như: mắt chim, hàng rào, cây cối… trên các sản phẩm thổ cẩm của người Cil, K’Ho và sự khác biệt với hoa văn của các dân tộc khác. K’Vâng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ và khuyến khích du khách chơi thử. Anh cho rằng, cần để du khách được trải nghiệm thực sự đời sống âm nhạc của đồng bào qua các loại nhạc cụ, để giúp họ hiểu biết hơn đời sống âm nhạc của các tộc người thiểu số Nam Tây Nguyên…
Có nhiều điểm đến của du lịch sinh thái, nhưng phối hợp hoạt động thế nào để có đóng góp cho địa phương và tạo điều kiện để cộng đồng cùng tham gia không đơn giản. Việt Nam mới ở giai đoạn đầu tiếp cận du lịch sinh thái nên còn liên quan đến nhiều vấn đề.
Nhưng, những người như K’Vâng chính là nhân tố để thúc đẩy hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng phát triển, đem lại lợi ích cho cộng đồng, bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường tự nhiên…(Báo Lâm Đồng 21/8) đầu trang(
Là địa phương có diện tích đất đỏ bazan màu mỡ, khí hậu ôn hòa, có nhiều tiềm năng phát triển nông nghiệp, đặc biệt là các loại cây có giá trị kinh tế cao nên từ nhiều năm nay, Đắk Lắk thu hút ngày càng đông đồng bào các tỉnh, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư đến ngoài kế hoạch vào làm ăn sinh sống.
Tuy nhiên đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch đã kéo theo tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tự nhiên để sản xuất.
Theo đánh giá của UBND tỉnh Đắk Lắk, đồng bào di cư từ nơi khác đến ngoài kế hoạch cùng với đồng bào di cư đến trong kế hoạch có nhiều yếu tố tích cực trong việc phân bổ lại dân cư, bổ sung cho các địa phương trong tỉnh lực lượng lao động dồi dào để phát triển kinh tế, đồng thời, đồng bào di cư đến cũng mang đến nhiều bản sắc văn hoá vùng miền làm tăng thêm vốn văn hoá đa dạng, phong phú góp phần phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.
Tuy nhiên, tình trạng dân di cư đến ngoài kế hoạch cũng mang lại cho Đắk Lắk nhiều bất cập, hệ luỵ, nhất là gây xáo trộn, phá vỡ quy hoạch, kế hoạch mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, tăng nhanh tỷ lệ hộ nghèo (đồng bào nghèo đói mới di cư đến ngoài kế hoạch), gia tăng các nhu cầu về y tế, giáo dục, giao thông...
Nghiêm trọng hơn, đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch luôn đi liền với tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tự nhiên để sản xuất. Chỉ riêng từ năm 2008 đến nay, đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch đã chặt phá, lấn chiếm trên 14.159 ha rừng tự nhiên để lập các khu sản xuất, khu dân cư trái phép. Thậm chí, đồng bào còn tự ý phá các cánh rừng tự nhiên để sang nhượng đất trái phép, xâm canh, lấn chiếm, tranh chấp đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, tổ chức săn bắn, đưa các tệ nạn xã hội vào ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Tại thôn Ea Bra, xã vùng sâu Ea Trang (huyện Ma Đ’rắk) được hình thành từ năm 2010, với 169 hộ, 841 khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông của 2 tỉnh Lào Cai và Hà Giang di cư đến ngoài kế hoạch. Xã đã hai lần tổ chức đưa đồng bào ra khỏi rừng để hình thành khu dân cư mới nhưng đồng bào vẫn vào sâu trong rừng phá rừng tự nhiên trái phép lấy đất làm nương rẫy.
Ông Thào A Tờ, 65 tuổi ở thôn Ea Bra cho biết, năm 2004, gia đình ông gồm 8 người từ Lào Cai di cư vào đây, vẫn biết phá rừng là sai, là vi phạm pháp luật nhưng không phá thì không có đất để sản xuất lúa, màu, không có cái ăn. Ông mong chính quyền địa phương sớm cho nhận rừng tự nhiên quản lý, bảo vệ để tăng thêm thu nhập không phá rừng trái phép nữa…
Còn tại huyện Ea Súp, đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc di cư đến ngoài kế hoạch ồ ạt đổ vào đây làm cho hàng ngàn ha rừng nguyên sinh bị san bằng trái phép chuyển thành các khu sản xuất, các khu dân cư. Không chỉ diện tích rừng của các địa phương, các công ty lâm nghiệp bị chặt phá, lấn chiếm trái phép mà ngay cả rừng, đất rừng ở các khu bảo tồn thiên, vườn quốc gia cũng bị người di cư đến ngang nhiên lấn chiếm, chặt phá trái phép để lấy đất sản xuất.
Ông Huỳnh Bài, Chủ tịch UBND huyện Krông Bông cho biết, hiện nay vẫn còn trên 120 hộ dân là đồng bào Mông di cư đến ngoài kế hoạch ở các xã vùng sâu Cư Pui, Cư Drăm đang sinh sống bất hợp pháp trong các vùng rừng cấm, vùng rừng quy hoạch nhưng huyện không biết phải di dời đồng bào về đâu vì huyện không có điều kiện, không có nguồn lực để mở ra các dự án mới, đành chịu “lực bất tòng tâm”…
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, từ năm 1976 đến năm 2013, tỉnh Đắk Lắk có gần 60.000 hộ, với 289.808 khẩu của trên 60 tỉnh, thành phố trong cả nước di cư đến ngoài kế hoạch đến cư trú ở 15 huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, trong đó, di cư đến ngoài kế hoạch nhiều nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở các tỉnh phía Bắc.
Từ năm 2005 đến nay, số hộ đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch ngày càng giảm. Cụ thể, từ năm 2005 đến nay chỉ có 1.503 hộ, với 7.578 khẩu của các tỉnh, thành di cư đến ngoài kế hoạch, bình quân mỗi năm chỉ còn 167 hộ di cư đến, trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số của các tỉnh phía Bắc di cư đến giai đoạn này chỉ còn 1.437 hộ, 7.377 khẩu.
Tỉnh Đắk Lắk xác định, ổn định dân di cư đến ngoài kế hoạch là vấn đề cấp bách trong chiến lược ổn định và phát triển bền vững vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng cần phải có sự tham gia của tất cả các cấp từ Trung ương đến chính quyền cơ sở.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, đối với các hộ dân di cư đến ngoài kế hoạch giai đoạn 1976 – 1995 cơ bản đã ổn định đời sống, chỉ còn giai đoạn từ 1996 đến nay chưa ổn định đời sống. Tỉnh Đắk Lắk đã quyết định phê duyệt 15/17 dự án quy hoạch đầu tư, bố trí, sắp xếp ổn định dân cư cho 5.762 hộ, với 25.927 khẩu, tổng kinh phí trên 670 tỷ đồng, trong đó, Trung ương đầu tư trên 490 tỷ đồng, địa phương trên 179 tỷ đồng.
Còn lại 765 hộ, với 3.442 khẩu tỉnh đã lập 2 dự án có tổng vốn đầu tư trên 141 tỷ đồng nhưng chưa được thẩm định, phê duyệt. Hiện nay, do thiếu vốn nên tỉnh Đắk Lắk chỉ mới triển khai 11/15 dự án.
Tuy chưa hoàn thành, nhưng theo đánh giá của UBND tỉnh Đắk Lắk, đời sống đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch vào sinh sống trong các vùng dự án đã có nhiều chuyển biến tích cực, bình quân mỗi hộ gia đình được cấp 400 m2 đất sản xuất, 40% số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh, 100% hộ nghèo được chăm lo khám chữa bệnh miễn phí đa số các em trong độ tuổi đều được đến trường.
Tại các vùng nông thôn thực hiện 11 dự án ổn định đồng bào di cư đến ngoài kế hoạch, tỉnh cũng đầu tư xây dựng được gần 225 km đường giao thông nông thôn, hàng chục cầu cống các loại, hàng trăm phòng học các cấp, 6 công trình thủy lợi, trạm xá, điện chiếu sáng… từng bước phục vụ tốt yêu cầu sản xuất, sinh hoạt cho đồng bào.
Có một thực tế là ở các tỉnh Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng, càng thực hiện tốt công tác sắp xếp, ổn định dân di cư đến ngoài kế hoạch thì càng tạo nên sức hút đối với một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số từ các tỉnh miền núi phía Bắc tiếp tục di cư đến ngoài kế hoạch.
Tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các địa phương kịp thời phát hiện số dân di cư đến ngoài kế hoạch mới đến địa phương, lâm phần thuộc đơn vị quản lý và có biện pháp ngăn chặn, kiên quyết xử lý triệt để đối với các đối tượng cố tình vi phạm chặt phá rừng, lấn chiếm đất rừng, xâm canh, mua bán sang nhượng đất đai trái pháp luật.
Tỉnh cũng chỉ đạo các sở, ngành chức năng, các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện dự án rà soát, bổ sung quy hoạch bố trí, ổn định dân cư trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2013- 2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó có các dự án quy hoạch bố trí, ổn định dân di cư đến ngoài kế hoạch.
Đồng thời, chỉ đạo các địa phương nắm chắc tình hình phát triển sản xuất, đời sống của đồng bào ở các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động cộng đồng dân cư chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những quy định của địa phương.
Tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo thực hiện tốt việc lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên cùng địa bàn, bố trí vốn phù hợp với tiến độ của dự án đã được phê duyệt để giải quyết cơ bản kịp thời nhu cầu về hạ tầng thiết yếu cho sản xuất và đời sống nhân dân như: giao thông, khai hoang xây dựng cánh đồng ruộng nước, điện, nước sinh hoạt, các công trình y tế, giáo dục… theo định hướng xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện cho đồng bào các dân tộc yên tâm định cư, sớm ổn định đời sống, phát triển sản xuất tại các vùng quy hoạch.
Đắk Lắk cũng kiến Chính phủ cùng các Bộ, ngành Trung ương cần tăng ngân sách đầu tư cho chương trình bố trí, sắp xếp dân di cư đến ngoài kế hoạch ở Tây Nguyên nói chung, Đắk Lắk nói riêng, xem xét cho tỉnh được chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp sang đất nông nghiệp và đất thổ cư ở những nơi dân di cư đến ngoài kế hoạch đã ổn định nơi ở và sản xuất.
Hạn chế không cấp đất ở, đất sản xuất (tiến đến cấp đất có thu tiền), hỗ trợ các chính sách an sinh xã hội đối với dân di cư đến ngoài kế hoạch sau thời điểm 31/12/2013 nhằm tránh những so bì giữa các nhóm dân tộc, cũng như không tạo “động cơ”cho dân di cư đến ngoài kế hoạch di cư nội vùng và lợi dụng chính sách để trục lợi.
Các tỉnh có dân di cư đến ngoài kế hoạch phải có biện pháp, đồng bộ tuyên truyền phổ biến và các biện pháp cụ thể để ngăn chặn kịp thời tình trạng dân di cư đến ngoài kế hoạch. Những vùng đồng bào có nguyện vọng ra đi, thì tỉnh đó phải xây dựng kế hoạch báo cáo Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương để có kế hoạch bố trí và kế hoạch hàng năm của Nhà nước...(Tin Tức 22/8) đầu trang(
Thông tin từ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết: Đơn vị vừa tổ chức tiêu hủy một cá thể gấu nuôi của hộ gia đình ông Cao Quốc Tuấn (TP. Pleiku).
Đây là con gấu có nguồn gốc hợp pháp được gia đình ông nuôi từ năm 2005 đến nay. Gấu được Cục Kiểm lâm gắn chíp điện tử quản lý từ nhiều năm nay.
Tuy nhiên, từ ngày 18-8, con gấu có các biểu hiện bị bệnh và chết. Chi cục đã tổ chức xác minh nguyên nhân gấu chết là do già (11 năm tuổi), đồng thời sử dụng máy đọc chíp để xác định mã số chíp của con gấu để báo về Cục Kiểm lâm.
Toàn tỉnh Gia Lai hiện còn 9 cá thể gấu nuôi của hộ gia đình gắn chíp điện tử được cơ quan chuyên môn quản lý khá chặt chẽ, an toàn. (InfoNet 21/8) đầu trang(
21/8, Phòng NNPTNT huyện Cam Lộ cho biết, gần 1.000ha rừng thông đang trong thời kỳ thu hoạch nằm trên địa bàn huyện đang bị sâu róm ăn trụi lá.
Trong đó, Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9 có 900ha bị phá hoại. Toàn bộ diện tích nói trên đều phải ngừng khai thác, nhiều diện tích có nguy cơ chết. (Nông Thôn Ngày Nay 22/8, tr2) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Ông Đặng Kim Vui, Giám đốc ĐH Thái Nguyên cho biết: Ngay sau khi nhận được thông tin về những biểu hiện tiêu cực của PGS Đàm Khải Hoàn (Trưởng bộ môn Y học Cộng đồng, ĐH Y Dược Thái Nguyên, trực thuộc ĐH Thái Nguyên), nhà trường đã ra một chỉ đạo nóng.
Theo đó, nhà trường yêu cầu Ban Giám hiệu ĐH Y Dược Thái Nguyên tạm đình chỉ công tác với PGS Đàm Khải Hoàn để xác minh các thông tin do báo chí phản ánh.
Cùng với đó, ĐH Thái Nguyên sẽ thành lập tổ công tác để chuyên trách việc điều tra này. Trước đó, báo chí đã có bài viết phản ánh việc ông Hoàn 'đàm phán' với một lâm tặc đã từng tốt nghiệp Cử nhân Y khoa (do phóng viên nhập vai).
Nội dung của cuộc đàm phán, ông Hoàn cho biết sẽ lo hướng dẫn cho lâm tặc này bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành Y tế Cộng đồng với chi phí 200 triệu đồng cùng một số gợi ý về vật chất khác.
Vụ việc đã khiến dư luận chú ý. Bộ GD - ĐT sau đó yêu cầu ĐH Thái Nguyên vào cuộc để làm rõ. (Gia Đình VN 21/8) đầu trang(
Giữa năm 2013, Nông trường Cao su Quế Phong đã ngang nhiên đưa máy móc vào phá khu rừng đầu nguồn của bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch (Quế Phong, Nghệ An)...
Bản Pỏm Om, xã Hạnh Dịch có 71 hộ đồng bào dân tộc người Thái. Từ lâu, cả bản được bao bọc bởi khu “rừng thiêng”, vốn được người dân bảo vệ nghiêm ngặt. Ông Lô Cẩm Xuyên-Bí thư chi bộ thôn Pỏm Om cho biết: “Rừng ở Pỏm Om là rừng đầu nguồn, cung cấp nước sinh hoạt cho 5/11 bản của xã Hạnh Dịch và 1 đồn biên phòng”.
Với ý nghĩa như vậy, ngày 19.6.2012, thực hiện Thông tư liên tịch số 07 về việc thí điểm giao rừng cho cộng đồng quản lý, huyện Quế Phong đã giao 426,52ha đất, thuộc tiểu khu 85 cho cộng đồng bản Pỏm Om sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Thời gian sử dụng là 50 năm. Thế nhưng, tháng 5.2013, Nông trường Cao su Quế Phòng, thuộc Công ty cổ phần đầu tư phát triển (CPĐTPT) Cao su Nghệ An đã ngang nhiên cho máy san ủi khu rừng của bản để trồng cao su.
Ông Xuyên cho biết: “Lợi dụng lúc không ai để ý, nông trường cho máy lên san ủi. Lúc chúng tôi phát hiện, đã có 1,17ha rừng bị san lấp”. Sự việc được báo lên xã, huyện và đến ngày 29.5.2013, một cuộc họp giữa các bên liên quan diễn ra tại trụ sở Nông trường Cao su Quế Phong nhằm giải quyết vụ việc. Tại buổi làm việc này, ông Hồ Văn Mười, khi đó là Giám đốc Nông trường Cao su Quế Phong đã thừa nhận việc san ủi vào phần đất rừng của bản Pỏm Om 1,17ha.
Trước sự việc này, ông Lang Văn Minh- Phó Chủ tịch UBND huyện Quế Phong đã có công văn gửi Nông trường Cao su Quế Phong yêu cầu, không được tiếp tục san ủi, khai hoang trồng cây lấn sang phần đất đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om… Thế nhưng không những không trả lại đất cho dân, mà ông Mười tiếp tục chỉ đạo cho máy san ủi nhằm… chiếm thêm đất của dân với diện tích hiện đã lên 7,6ha.
Trước tình hình trên, ngày 19.2.2014, UBND huyện Quế Phong thêm một lần nữa phải ra công văn yêu cầu: “Nông trường Cao su Quế Phong chấm dứt ngay việc san ủi và trồng cây cao su trên phần đất đã giao và cấp sổ đỏ cho bản”. Phúc đáp lại nội dung công văn của huyện Quế Phong, Công ty CPĐTPT Cao su Nghệ An đã có Công văn số 157 do ông Trần Ngọc Thắng - Tổng Giám đốc ký với nội dung được coi là rất “trịch thượng”.
Theo đó, không những không thừa nhận sai phạm, công ty này còn… yêu cầu huyện Quế Phong ra quyết định thu hồi sổ đỏ đã giao cho cộng đồng bản Pỏm Om. Lý do, theo họ là: Dự án đầu tư phát triển nông – lâm nghiệp tại huyện Quế Phong giai đoạn 2001 – 2010 được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 3192 ngày 14.9.2001 do Tổng đội Thanh niên xung xong P7-XDKT (tiền thân của Nông trường Cao su Quế Phong) làm chủ đầu tư. Địa điểm tại xã Hạnh Dịch gồm 5 tiểu khu: 78, 81, 82, 84 và 85 với diện tích là 6.136,3ha”.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Lâm - Trưởng Phòng TNMT huyện Quế Phong cho biết, UBND huyện đã có công văn trả lời do Phó Chủ tịch Lang Văn Minh ký. Theo đó, quy hoạch trồng cao su được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Quyết định số 4081 ngày 13.9.2013 thì trên địa bàn xã Hạnh Dịch chỉ có 48,9ha tại tiểu khu 82, không quy hoạch trồng cao su tại tiểu khu 85.
Việc cấp sổ đỏ cho bản Pỏm Om cũng hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Công ty Cao su Nghệ An mới là bên vi phạm pháp luật, bởi: Thậm chí “rắn” hơn, ông Lang Văn Minh còn khẳng định: “Nếu Công ty Cao su Nghệ An thấy quyền lợi bị xâm hại từ những quyết định của huyện Quế Phong, công ty có thể gửi khiến nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa đối với cá nhân theo quy định của pháp luật”.
Tại buổi tiếp xúc với PV, từ Trưởng bản, ông Bí thư và cả người dân bản Pỏm Om đều tỏ ra vô cùng bức xúc. Ông Lương Tiến Lê- Chủ tịch UBND xã Hạnh Dịch nói: “Việc lấn chiếm đất của nông trường là hoàn toàn sai trái. Chúng tôi rất mong, cơ quan cấp trên sớm đòi lại đất cho cộng đồng để người dân bảo vệ, sản xuất rừng”. (Dân Việt 21/8) đầu trang(
Bình Định là tỉnh có phong trào trồng rừng SX khá mạnh, hiện trên địa bàn tỉnh này có đến 105.000 ha rừng trồng, hằng năm khai thác từ 8.000-10.000 ha.
Tuy nhiên, do hầu hết người trồng đều khai thác rừng non (trước khu kỳ) nên sản lượng đạt kém, giá bán cũng thấp.
Về huyện miền núi Vân Canh trong những ngày này, PV chứng kiến không khí rộn rã ở từng cánh rừng trồng. Nơi thu hoạch, nơi đốt thực bì chờ có mưa là bắt tay vào trồng mới. Nhìn thấy nhiều diện tích rừng keo trông còn rất non nhưng vẫn đang được khai thác, tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao cây rừng còn bé tẹo thế mà đã khai thác?”.
Người đàn ông đang cầm chiếc cưa lia gọn từng cây keo chỉ to bằng cổ tay, nói: “Mới trồng hơn 4 năm thì làm gì có cây to. Còn vì sao cây nhỏ mà vẫn khai thác thì chỉ chủ rừng mới biết, tui chỉ là người làm công”.
Chị Liễu, 1 chủ hộ trồng rừng ở xã Canh Vinh (Vân Canh), bộc bạch: “Chu kỳ rừng trồng là 7 năm mới đến tuổi khai thác, thế nhưng hầu hết những cánh rừng ở đây trồng chỉ 4, 5 năm là khai thác hết”.
Tìm hiểu vì sao rừng bị khai thác non, PV được hầu hết những hộ trồng rừng ở Vân Canh cho biết nhiều nguyên nhân: Người bảo thiếu vốn đầu tư, cần tiền để chi tiêu; người thì bảo thị trường tiêu thụ bây giờ ớn lắm, nay được giá không bán biết đâu mai mốt hạ thấp chỉ có toi.
Có người lo sợ mùa nắng nóng, cháy rừng đang xảy ra khắp nơi, để ráng đúng chu kỳ nếu bắt phải 1 mồi lửa thì công cốc; cũng có người cho rằng giống cây lâm nghiệp bây giờ trôi nổi lắm, do mua phải giống rởm nên rừng không có khả năng kéo dài chu kỳ, phải khai thác sớm…
Ông Trần Lê Huy, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định cho biết, theo nghiên cứu của ngành lâm nghiệp Việt Nam, không chỉ ở Bình Định, mà hiện nay đang có đến 80% chủ rừng trong cả nước, đặc biệt là các hộ gia đình bán rừng non, mặc dù họ biết rất rõ về lợi ích kinh tế mà rừng trồng có thể mang lại nếu kéo dài chu kỳ.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định, cho biết thêm: Rừng trồng mới 4-5 tuổi mà đã khai thác thì chỉ có bán dăm. Hiện nay nhà máy dăm đang mọc đầy trong khu vực.
Riêng khu vực Nam Trung bộ chỉ có trên 500 nghìn ha rừng trồng mà mỗi năm lượng dăm gỗ xuất khẩu quy gỗ tròn lên đến 5,3 triệu m3, điều này cho thấy các nhà máy dăm trong khu vực luôn đói nguyên liệu, nên các chủ rừng trồng hiện chỉ chú tâm bán gỗ cho các nhà máy dăm nên vô tư khai thác rừng non.
“Có chủ rừng còn chủ động trồng rừng bán gỗ dăm nên không tuân thủ quy cách trồng rừng từ 1.600-2.000 cây/ha mà trồng rất dày, từ 2.500-3.000 cây/ha, sau đó chỉ 4-5 năm là khai thác cây non bán cho các nhà máy dăm”, ông Dũng nói.
Hiện nay, các nhà máy dăm trong tỉnh Bình Định thu mua gỗ rừng trồng với giá 1,1 triệu đồng/tấn. Để bán được gỗ rừng, người trồng phải tốn các khoản chi phí: công khai thác 140.000đ/tấn, tiền công vận chuyển 120.000đ/tấn. Theo các chủ hộ rừng trồng, với giá này người trồng có lãi không đáng kể.
Trong khi đó, cũng là gỗ rừng trồng, nhưng khai thác đúng chu kỳ, rừng cho cây gỗ to từ 15cm trở lên được các doanh nghiệp chế biến lâm sản xuất khẩu trên địa bàn Bình Định thu mua đến 1,5 triệu đồng/tấn để làm nguyên liệu.
Thế nhưng do hầu hết rừng trồng đều bị khai thác non bán cho các nhà máy dăm nên chẳng có để thu mua, nguyên liệu đành trông chờ vào nguồn nhập khẩu. So sánh 2 mức giá trên cho thấy, mỗi tấn sản phẩm, các chủ rừng đã phải chịu thất thu 400.000đ.
Không chỉ vậy, khai thác non, rừng bị mất sản lượng rất nhiều. Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản Bình Định, ông Trần Lê Huy, cho biết thêm: “Tại Bình Định hiện nay cũng có diện tích rừng trồng cho năng suất 120 tấn/ha, nhưng đó là cánh rừng đẹp, ở nơi đất bằng, hầu hết do những công ty lâm nghiệp trồng và đầu tư.
Những diện tích rừng do hộ gia đình trồng, nếu khai thác đúng chu kỳ 7 năm thì năng suất đạt được từ 80-85 tấn/ha. Còn nếu mới 4-5 năm đã khai thác thì năng suất chỉ chừng 60-65 tấn/ha”.
Vấn đề các chủ rừng khai thác rừng non bán cho các nhà máy dăm đã khiến lãnh đạo tỉnh Bình Định “đau đầu”, vì bán rừng non giá đã thấp, lại mất sản lượng, bên cạnh đó mất đi nguồn nguyên liệu lớn cho ngành chế biến lâm sản của tỉnh với gần 170 doanh nghiệp đang hoạt động.
Thế nhưng hiện nay, để khuyến khích người trồng kéo dài chu kỳ cho những cánh rừng để sản lượng được tăng cao, bán được giá cao hơn vẫn đang còn là vấn đề nan giải! (Nông Nghiệp Việt Nam 22/8, tr6) đầu trang(
Cty của Minh “sâm” lập trạm cân tải trái phép chỉ cách UBND xã chưa đầy 500m, song chính quyền xã nói không nắm được Cty thu phí, xử phạt các xe gỗ thế nào.
Xã cũng cho rằng Cty của Minh chưa từng va chạm với dân, song CQĐT khẳng định đây là băng nhóm manh động, liều lĩnh, thường dùng vũ khí, công cụ hỗ trợ để đe dọa người dân...
Trao đổi với PV ngày 19/8, ông Đỗ Tuấn Khanh, Phó Chủ tịch UBND xã Phù Khê (thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh) cho biết, trạm cân tải của Minh “sâm” được lắp đặt khoảng hơn một năm nay tại khu vực cầu Bèo, thôn Đông, xã Phù Khê. Tất cả xe tải cỡ lớn chở gỗ đều phải qua trạm cân của Minh “sâm”.
Sau khi các xe gỗ cân tải xong, phải hạ tải chuyển gỗ sang các xe nhỏ, hoặc đảm bảo trọng tải theo “quy định” của Minh “sâm” mới được lưu thông tiếp tới các ki ốt mua bán gỗ tại chợ gỗ Phù Khê. Khi hỏi về việc nhân viên của Cty Đại An thu tiền và xử phạt xe quá tải ra sao thì ông Đỗ Tuấn Khanh nói... không nắm được (?!).
Trong khi đó, theo quan sát của PV ngày 19/8, trạm cân tải của Minh “sâm” chỉ cách trụ sở UBND xã Phù Khê chưa đầy 500m, cách trụ sở UBND và Công an thị xã Từ Sơn chưa đầy 2km. Trạm cân đã hoạt động hơn một năm nay, song ông Phó Chủ tịch xã nói không nắm được Cty Đại An thu tiền và xử phạt xe quá tải thế nào? Dư luận hoàn toàn có thể đặt dấu hỏi về vai trò quản lý của chính quyền địa phương ở đâu?
Liên quan đến việc lập trạm cân thu tiền, Cơ quan CSĐT (Bộ Công an) làm rõ, Minh “sâm”, Hưng “sóc” luôn cắt cử 2 đối tượng ngồi chặn ở khu vực cầu Tấn Bào để kiểm soát các xe đi qua. Nếu là xe chở gỗ quen (đóng phí tháng) thì bọn chúng cho đi qua luôn, còn nếu xe chở gỗ lạ thì chúng ép, đưa về kho riêng trong khu vực chợ, sau đó, ép buộc các tài xế hoặc chủ hàng nộp tiền lệ phí.
Tùy theo tải trọng của xe, đàn em của Minh “sâm”, Hưng “sóc” bắt các lái xe hoặc chủ hàng, nộp các mức lệ phí 1,2 triệu đồng đến 3 triệu đồng/xe.
Ông Đỗ Tuấn Khanh cho biết thêm, con đường dài 2,2km, rộng 32m chạy từ Quốc lộ 1A cũ khu vực thị xã Từ Sơn vào tới thôn Phù Khê Thượng được Cty TNHH Đại An của Nguyễn Ngọc Minh (SN 1960), tức Minh “sâm”, làm chủ đầu tư. Ngoài việc thi công con đường vào thôn Phù Khê, Minh “sâm” còn làm toàn bộ hệ thống kênh mương ven con đường này.
Tiếp chuyện với PV về con đường dài 2,2km, nhiều người dân sinh sống tại địa bàn xã Phù Khê kể, khi Minh “sâm” được giao nhận thầu làm con đường này, việc giải phóng mặt bằng nhanh kỷ lục, chỉ... 2 ngày là xong. Theo một số người xin giấu tên, “bí quyết” của Minh “sâm” khi giải phóng mặt bằng là dẫn theo một nhóm xã hội đen, tay lăm lăm hung khí nên người dân không ai dám “trái lệnh”, răm rắp nhận tiền bồi thường mà không dám nói nửa lời.
Thực hư việc này thế nào, đang được cơ quan điều tra mở rộng làm rõ. Đáng chú ý, chiều 20/8, Trung tướng Đỗ Kim Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát PCTP - Bộ Công an, cho biết, băng nhóm tội phạm của Minh “sâm”, Hưng “sóc” hoạt động rất manh động, liều lĩnh, các đối tượng thường đem theo vũ khí, công cụ hỗ trợ để đe dọa người dân gây ra tình hình rất phức tạp trên địa bàn…
Điều khó hiểu là, trái ngược với những thông tin trên, Phó Chủ tịch xã Phù Khê Đỗ Tuấn Khanh lại cho rằng, từ khi Cty Đại An hoạt động trên địa bàn chưa có lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc va chạm với người dân. Ngoài việc đầu tư đường sá, kênh mương, Cty Đại An cũng đóng góp vào các hoạt động của xã để trao quà cho các hộ dân thuộc diện giải phóng mặt bằng...
Về quan hệ giữa Minh “sâm” và Nguyễn Thành Hưng (tức Hưng “sóc”, SN 1953), Giám đốc Cty TNHH Thành Hưng Bắc Ninh, được biết, vào những năm 1970 - 1990, Hưng “sóc” nổi tiếng là một gã giang hồ ra tù vào tội, với tổng mức án 23 năm tù.
Hưng “sóc” nhanh chóng trở thành một trong những đàn anh ở trại giam. Sau này, khi Minh “sâm” vào tù vì tội sử dụng vũ khí quân dụng, Hưng hết mực che chở, bao bọc cho tay đàn em đồng hương.
Người nhà Hưng “sóc” kể, khi ra tù, Minh nhận Hưng là anh kết nghĩa. Sau khi tạo dựng được số mối làm ăn, Minh “sâm” thành lập Cty Đại An và nhanh chóng phất nhanh, trong khi Hưng “sóc” vẫn đang là một “đại ca rửa tay gác kiếm”, cuộc sống khó khăn.
Đến năm 2004, Minh “sâm” có cơ hội trả ơn đại ca, giúp Hưng “sóc” thành lập Cty Thành Hưng Bắc Ninh để làm ăn. Cũng năm 2004, Hưng “sóc” được bầu làm trưởng thôn Phù Khê Thượng. Đến năm 2012, Minh “sâm” và Hưng “sóc” đầu tư dự án chợ gỗ Phù Khê với quy mô 500 gian hàng do Hưng quản lý trông coi. Mỗi hộ kinh doanh sẽ phải nộp phí cho Hưng 1 triệu đồng/tháng tiền thuê ki ốt.
Một vỏ bọc hoàn hảo của hai kẻ giang hồ dưới áo giám đốc doanh nghiệp. Nhưng bất ngờ, ngày 13/8, Minh “sâm” cùng với người anh kết nghĩa và đám đàn em sa lưới pháp luật. Chiều 20/8, Trung tướng Đỗ Kim Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát PCTP- Bộ Công an, khẳng định, băng nhóm tội phạm của Minh “sâm” - Hưng “sóc” lộng hành với nhiều hành vi phạm tội: Cưỡng đoạt tài sản, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, cố ý gây thương tích và có dấu hiệu của tội buôn lậu, trốn thuế…
Theo tìm hiểu của PV, Minh “sâm” thành lập Cty Đại An từ năm 2000, với số vốn kinh doanh ban đầu chỉ 400 triệu đồng. Sau 14 năm, đến nay Cty Đại An có số vốn hơn 500 tỷ đồng, trở thành nhà cung cấp hàng đầu về gỗ nguyên liệu cao cấp cho toàn bộ khu vực làng nghề sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ.
Ngoài ra, Cty Đại An còn đầu tư vào lĩnh vực xây dựng và kinh doanh bất động sản. Nhiều dự án giao thông (theo hình thức BT), xây dựng bất động sản, chợ đồ gỗ… do Cty của Minh “sâm” thực hiện. Từ khi Cty Đại An đi vào hoạt động tới nay đã nhận được rất nhiều bằng khen, giấy khen của cơ quan chức năng từ T.Ư tới địa phương.
Ông Nguyễn Văn Cường (SN 1955, em trai trưởng thôn Hưng “sóc”) cho biết, lò luyện võ của Minh “sâm” được mở được mấy năm trở lại đây và nằm trong khuôn viên của Cty Đại An (Khu Công nghiệp Dốc Sặt, Từ Sơn - Bắc Ninh, “nhưng vì không hợp tính nên tôi không tham gia câu chuyện làm ăn của hai ông ấy”, ông Cường nói.
Ông Đỗ Tuấn Khanh, Phó Chủ tịch xã Phù Khê cho biết thêm, lò võ của Minh hoạt động khoảng 7 năm trở lại đây, thu hút nhiều học viên trong, ngoài tỉnh. Dư luận cho rằng, lò võ này cũng là một địa điểm để Minh thu nạp đàn em, phục vụ những công việc bất minh. (Tiền Phong 22/8, tr11) đầu trang(
Điều gì đã làm nên sức mạnh nguy hiểm và giúp “tập đoàn mafia” này tồn tại “hùng mạnh” trong một thời gian khá dài? Nhà nghiên cứu xã hội học, PGS.TS Hoàng Văn Chức phân tích:
Việc băng nhóm “xã hội đen” tại Bắc Ninh gồm 10 đối tượng do Minh “sâm” cầm đầu vừa bị khởi tố, tạm giam để điều tra về tội "Cưỡng đoạt tài sản" có tổ chức và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” và nhiều tội danh khác đang là điểm nóng dư luận.
Đây là một ổ nhóm tội phạm lớn trên địa bàn, có nhiều mối quan hệ phức tạp và những thành tích lẫy lừng như mở võ đường để thu nạp đàn em, lập khu xưởng gỗ để hoạt động bảo kê, lập kỳ tích giải phóng mặt bằng trong hai ngày… Cơ quan điều tra đã phải mất một thời gian dài kỳ công làm công tác trinh sát, theo dõi mới có thể triệt phá. Trong số các đối tượng bị bắt, có vợ chồng con gái của ông trùm Minh “sâm” và con nuôi của Hưng “sóc”.
Phân hóa giàu - nghèo, mại dâm, ma túy, tội phạm là sản phẩm thuộc mặt trái của nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường đem lại cho đời sống xã hội nhiều ưu điểm, nhiều mặt tốt; song nó cũng đem lại cho xã hội, cho mỗi gia đình, mỗi con người những mặt trái mà hậu quả nhiều khi rất tàn khốc.
Theo những nghiên cứu gần đây của các cơ quan chức năng, tình hình tội phạm của nước ta có xu hướng gia tăng về số lượng vụ việc, mức độ nguy hiểm  và cơ cấu tội phạm đang có sự thay đổi. Sự thay đổi trong cơ cấu tội phạm là: tội phạm có tổ chức, tội phạm là người có vị trí trong xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng. Cụ thể với việc phá băng xã hội đen ở Từ Sơn, Bắc Ninh như mô tả ở trên là minh chứng cho nhận định trên.
Thứ nhất, đây là một tổ chức tội phạm có tổ chức núp dưới danh nghĩa là các tổ chức kinh doanh; “Công ty TNHH Đại An” và “Công ty TNHH Thành Hưng”. Việc thành lập công ty trong nền kinh tế thị trường được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện. Bởi vậy, tổ chức tội phạm này đã tạo được vỏ bọc “Tin cậy” và “Hợp pháp” dưới danh nghĩa “Công ty” để hợp thức hóa các hoạt động phạm tội dưới vỏ bọc “Bảo vệ”.
Thứ hai, là tổ chức tội phạm có sự liên kết trên cơ sở dòng máu, gia đình: Trần Thái Sơn, con rể của Minh “sâm”; Nguyễn Thu Hằng, con gái Minh “sâm”, vợ của Sơn; Quách Văn Lộc, con nuôi Hưng “Sóc”. Ngay sự liên kết của hai ông trùm cũng trên nền tảng của tình cảm “anh em kết nghĩa”. (Theo tài liệu cơ quan điều tra, Hưng “sóc” nổi tiếng là một gã giang hồ cộm cán, ra tù vào tội từ những năm 1973, với tổng cộng ba án kéo dài hơn 20 năm, Hưng trở thành một trong những đàn anh ở trại giam cũng như tại địa phương.
Năm 20 tuổi, Minh “nhúng chàm” trong một vụ án dùng vũ khí quân dụng giết người, tuổi trẻ của Minh cũng được gắn bó sau song sắt. Vào trại, Minh chỉ là “dân đen”, thường bị các bạn tù bắt nạt, may mắn gặp Hưng là một đàn anh ở lâu lên lão làng, đã có số má trong trại, lại cùng đồng hương Bắc Ninh nên Minh được Hưng che chở, bao bọc để sau đó Minh cũng trở thành một đàn anh có số má trong trại. Từ đó, Hưng “sóc” và Minh “sâm” trở thành đôi bạn thân. Mối quan hệ giang hồ ấy đã kết dính khi Minh “sâm” nhận Hưng “sóc” làm anh em kết nghĩa).
Bởi vậy, các băng, nhóm xã hội đen thường được hình thành trên nền tảng tình cảm, họ hàng, ruột thịt và tạo một vỏ bọc hợp pháp đang là xu hướng phổ biến không chỉ ở tổ chức tội phạm này mà còn ở nhiều tổ chức tội phạm khác. (Để duy trì được những phi vụ làm ăn phi pháp, tất nhiên các ông trùm nhất thiết cần phải có những cánh tay tin cậy bên mình và ở đây, Hưng “sóc” và hai con của ông trùm – máu mủ ruột thịt là những người đáng tin cậy nhất).
Thứ ba, để che giấu tội ác của mình, các tổ chức tội phạm ngoài việc tạo vỏ bọc “hợp pháp”, chúng còn tạo ra các vỏ bọc chắc chắn khác dưới các danh nghĩa: hoạt động từ thiện, hoạt động bảo trợ, cứu giúp người nghèo, người khó khăn như hoạt động của hai ông trùm Minh “sâm” và Hưng “sóc” ở Từ Sơn.
Thứ tư, để tạo vỏ bọc, ngoài các thủ đoạn trên, các tổ chức tội phạm còn cố tạo ra các danh hiệu mà không do năng lực của mình mà do từ tính côn đồ, tính tàn bạo để qua mặt các cơ quan quản lý nhà nước và dư luận, rồi được tặng danh hiêu, khen thưởng. Cụ thể như: Theo thông tin báo chí đưa, năm 2011, UBND tỉnh Bắc Ninh giao cho Công ty TNHH Đại An thi công Tỉnh lộ 277 (đoạn từ cầu Tấn Bào đến khu lưu niệm ở xã Phù Khê) dài 2,2 km, mặt cắt đường rộng 33-35 m theo tiêu chuẩn đường đô thị, với vốn đầu tư gần 500 tỉ đồng.
Công trình này đi qua khu dân cư làng nghề với nhiều cửa hàng với giá đất được ví là “tấc đất tấc vàng” nên rất khó khăn trong giải phóng mặt bằng. Nhưng chỉ sau 2 ngày nhóm của Minh” sâm” ra tay, các hộ dân đã răm rắp đến nhận tiền và tháo dỡ phần diện tích giải tỏa, không có khiếu kiện gì. “Bí quyết” của chúng là khi triển khai giải phóng mặt bằng, Minh “sâm”, Hưng “sóc” dẫn theo một nhóm côn đồ, tay lăm lăm hung khí nên người dân không ai dám “trái lệnh”, đành ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn ký nhận và bàn giao mặt bằng).
Thứ năm, với các ông trùm “có số” như Minh “sâm”, Hưng “sóc”, việc hoàn lương là rất khó. Trong một khắc nào đó có thể họ hoàn lương, tỏ vẻ nhân đức. Nhưng khi thời cơ, điều kiện đến là “ngựa quen đường cũ”. Cái vỏ bọc hoàn lương “làm trưởng thôn” của Hưng “sóc” là minh chứng.
Thông tin từ báo chí cho thấy, nhiều người dân nhận xét: dưới sự quản lý của trưởng thôn Hưng “sóc”, người dân thôn Phù Khê Thượng (xã Phù Khê, huyện Tiên Sơn) được sinh con và đốt pháo nhân các dịp lễ hội thoải mái (bất chấp các quy định cấm của chính quyền).
Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua trách nhiệm của chính quyền địa phương. Việc để các tổ chức xã hội đen có tổ chức lộng hành thời gian dài, trên một địa bàn sát cạnh Thủ đô và có truyền thống cách mạng; thể hiện sự yếu kém trong quản lý của chính quyền địa phương.
Chính quyền địa phương qua các thời kỳ trên địa bàn huyện Từ Sơn không thể không có trách nhiệm trong việc để cho các ông trùm Minh “sâm” và Hưng “sóc” lộng hành nhiều năm trên địa bàn huyện như vậy. (Pháp Luật VN 21/8, tr12) đầu trang(
21/08, Tổng cục Lâm nghiệp, Tổ chức Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) đã khởi động Dự án “Tiếp cận chung tới tiến trình VPA tại Việt Nam và Lào”.
Dự án nhằm hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong tiến trình đàm phán và thực hiện Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) với Liên minh châu Âu trong khuôn khổ sáng kiến tăng cường thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (FLEGT). Mục tiêu đưa ngành chế biến XK gỗ Việt Nam phát triển bền vững và phù hợp với quy định quốc tế.
Dự án được Hội đồng châu Âu và Tổ chức hợp tác phát triển quốc tế Thụy Điển (SIDA) tài trợ, hỗ trợ Chính phủ, các DN chế biến gỗ vừa và nhỏ, các tổ chức dân sự xã hội và các cộng đồng sống gần rừng ở các tỉnh biên giới với Lào hiểu biết và tuân thủ Quy định về gỗ của EU có hiệu lực từ 3/3/2013.
Theo Quy định này, mọi sản phẩm gỗ XK vào thị trường EU đều phải chứng minh được có nguồn gốc hợp pháp.
Việt Nam là nước nhập khẩu khoảng 40% nguyên liệu gỗ cho chế biến XK từ nhiều nước trên thế giới. Việc kiểm soát gỗ nhập khẩu, đảm bảo đó là gỗ hợp pháp được khai thác hợp pháp theo quy định của nước XK, là một yếu tố quan trọng trong hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam.
Dự án có hợp phần tăng cường đối thoại chính sách với Lào, tăng cường các biện pháp kiểm soát từ khâu khai thác đến vận chuyển và buôn bán gỗ qua đường biên giới. Đây là hoạt động rất cần thiết trong bối cảnh cả 2 nước đều đang đàm phán Hiệp định Đối tác tự nguyện và đã ký Biên bản ghi nhớ hợp tác song phương về lâm nghiệp.
Ông Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp chia sẻ, Việt Nam có hàng triệu hộ nông dân tham gia trồng rừng nguyên liệu, hơn 3.500 DN chủ yếu là DN nhỏ và vừa tham gia chế biến và XK. Để các lô hàng đồ gỗ của Việt Nam XK vào EU không phải khai báo nguồn gốc gỗ, Việt Nam phải cam kết thiết lập và vận hành được hệ thống kiểm soát, xác minh và cấp phép FLEGT một cách hiệu quả và tin cậy.
Dự án có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đàm phán Hiệp định VPA giữa Việt Nam với EU đang đi vào giai đoạn cuối để kết thúc trong vào cuối năm nay.
“Thông qua dự án, WWF sẽ thúc đẩy sự tham gia đầy đủ của các bên liên quan vào việc xây dựng, thực hiện và giám sát Hiệp định Đối tác tự nguyện, đảm bảo Hiệp định khi được ký kết sẽ hoạt động hiệu quả, khả thi và phù hợp với các yêu cầu của hiệp định về tính minh bạch, công bằng, bền vững và trách nhiệm xã hội”, ông Lê Công Uẩn, WWF Việt Nam nói.
Dự án sẽ kéo dài 4 năm (2014 – 2018), được thực hiện tại Việt Nam và Lào. (Nông Nghiệp Việt Nam 22/8, tr7; Hải Quan 21/8) đầu trang(
Bao năm nay, các DN trong ngành gỗ cứ mải miết "đem chuông đi đánh xứ người", đưa kim ngạch XK gỗ không ngừng tăng lên, nhưng lại "bỏ rơi" thị trường nội địa đầy tiềm năng.
Thực tế này dẫn tới tình trạng DN thắng trên "đất khách" song lại bại thảm hại trên chính "sân nhà". Yếu tứ bề Theo đánh giá của ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng phòng Chế biến- Cục Chế biến Nông, lâm, thủy sản và nghề muối (Bộ NN&PTNT): Trong lúc kim ngạch XK gỗ đang có những bước thành công vượt bậc thì tại thị trường trong nước, ngành gỗ Việt Nam lại đang bị lấn át bởi hàng gỗ NK hoặc có mẫu mã NK từ nước ngoài.
Nói cách khác, DN sản xuất đồ gỗ Việt Nam chưa quan tâm đúng mức thị trường nội địa và đang bị "thua trên sân nhà". Hiện nay, nhóm đồ gỗ nội thất, đồ gỗ mỹ nghệ và đồ gỗ dùng trong xây dựng đang là những nhóm sản phẩm có sức tiêu thụ mạnh trên thị trường nội địa.
Tuy nhiên, số lượng các đơn vị chế biến gỗ có quy mô vừa và lớn thực hiện đầu tư khai thác thị trường nội này chiếm tỷ lệ rất thấp, hầu như chỉ có các DN quy mô nhỏ và siêu nhỏ, cũng như các hộ chế biến thuộc các làng nghề. Trong bối cảnh khó khăn của thị trường quốc tế, một số DN chế biến gỗ XK đã quay lại thị trường trong nước bằng hình thức mở các cửa hàng, siêu thị nội thất hay xây dựng mạng lưới đại lý bán lẻ nhằm khai thác lợi thế.
Tuy nhiên, khi hướng vào thị trường nội địa, hầu hết DN đều vướng phải một số khó khăn như chưa tạo được thương hiệu sản phẩm để người tiêu dùng biết tới cũng như những sản phẩm có thiết kế phù hợp thị hiếu thị trường; chưa có hệ thống phân phối và giá bán hợp lý,...
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho rằng: Rất nhiều sản phẩm gỗ cảa các cơ sở sản xuất nhỏ không có sự kiểm soát về chất lượng. Một khảo sát mới đây cho thấy, có tới 50% người tiêu dùng cho rằng đồ gỗ ngoại nhập sẽ được ưu tiên lựa chọn hơn đồ gỗ nội địa bởi sự yên tâm về mặt chất lượng. Các làng nghề có khả năng sẽ mất dần thị phần nếu như không có sự cải tiến về chất lượng đối với các sản phẩm tiêu dùng trong nước.
Còn theo ông Trịnh Quốc Đạt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam: Việt Nam hiện nay có khoảng 1.000 làng nghề chế biến gỗ. Trong khi khâu sản xuất tại một số làng nghề bước đầu đã hình thành được sự liên kết, chuyên môn hóa thì ngược lại việc tiêu thụ sản phẩm đồ gỗ phần lớn độc lập, khép kín, tự san tự tiêu.
Các DN, làng nghề, hộ sản xuất chưa có sự liên kết với nhau, thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh. "Đặc biệt, công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm trong các làng nghề gỗ còn khá yếu kém. Ngoài một số DN làng nghề gỗ có thương hiệu quan tâm sử dụng công cụ thương mại điện tử thì hầu hết các hộ sản xuất trong các làng nghề gỗ không tiếp thị trên mạng", ông Đạt nói.
Cũng theo ông Trịnh Quốc Đạt, để đẩv mạnh tiêu thụ sản phẩm gỗ ở thị trường nội địa, các DN, cơ sở sản xuất cần khắc phục tư duy làm ăn nhỏ lẻ, để tăng cường hợp tác, chia sẻ lẫn nhau đảm bảo chữ tín trong kinh doanh. Cần liên kết chặt chẽ giữa các làng nghề gỗ, các DN sản xuất cùng loại sản phẩm, chia sẻ thông tin thị trường.
Ngoài ra, có thể chọn một làng nghề gỗ hay một DN đủ năng lực chịu trách nhiệm "đầu đàn" tổ chức, hợp tác sản xuất tạo những lô hàng lớn đảm bảo chất lượng, tìm kiếm thị trường phù hợp. Bên cạnh đó, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, cùng chia sẻ lợi nhuận cũng là yếu tố khá quan trọng mà các DN cần lưu ý tới. Liên quan tới vấn đề này, ông Nguyễn Mạnh Dũng khẳng định: Thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chíinh sách nhằm phát triển mạnh mẽ và ổn định hơn nữa đối với các thị trường gỗ truyền thống, đồng thời xúc tiến mở rộng các thị trường mới.
Tuy nhiên, thị trường nội địa đối với các sản phẩm gỗ chế biến mà chủ yếu là sản phẩm gỗ chế biến của các làng nghề vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Bộ NN&PTNT định hướng phát triển thị trường nội địa đối với đồ gỗ chế biến nhằm đạt mức 4 tỷ USD vào năm 2020.
Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi các làng nghề chế biến gỗ nói riêng và các DN ngành chế biến gỗ nói chung phải đẩy mạnh đổi mới nguyên liệu phục vụ sản xuất, đổi mới mẫu mã, thiết kế để sản phẩm làm ra ngày càng phù hợp hơn với thị hiếu người tiêu dùng.
Cùng với đó, DN cần đẩy mạnh cải tiến hình thức phương pháp xúc tiến thương mại, cung cấp ngày càng nhiều thông tin về sản phẩm hơn đến người sử dụng; đồng thời cùng nhau chung tay, góp sức xây dựng được hệ thống phân phối sản phẩm đủ mạnh trên phạm vi cả nước. (Hải Quan 19/8, tr9) đầu trang(
Việt Nam hiện đang là nước xuất khẩu đồ gỗ gia dụng lớn thứ 2 châu Á, tuy nhiên, ngành công nghiệp này hiện đang phải đối diện với nhiều thách thức khi đón nhận Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (gọi tắt là TPP) với cơ chế mở cửa thị trường.
Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương sẽ đem lại nhiều cơ hội lớn cho nhiều ngành nghề của nền kinh tế Việt Nam, nhưng sẽ đặt ngành chế biến và xuất khẩu gỗ vào thách thức lớn.
Thách thức trước tiên của ngành chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam: trong Hiệp định TPP có quy định về hàm lượng giá trị khu vực. Cụ thể là sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên; doanh nghiệp chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra một sản phẩm, kể cả chi phí gia công.
Tuy nhiên, hiện nay cơ cấu thành phần của sản phẩm đồ gỗ Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này. Trên 80% gỗ súc dùng để sản xuất sản phẩm gỗ ở Việt Nam đều phải nhập khẩu. Tính trung bình, Việt Nam nhập khẩu gần 3,5 triệu m3 gỗ/năm và trong đó, nhập khẩu gỗ xẻ phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ chiếm 65%.
Nguyên nhân thứ hai nằm ở trình độ lao động. Để nâng cao chất lượng các sản phẩm đồ gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ của Việt Nam theo tiêu chuẩn của TPP cần đòi hỏi một đội ngũ lao động tay nghề cao; Nhưng năng suất lao động trung bình của một nhân công Việt Nam chỉ là 1,9 sản phẩm ghế/ngày, ít hơn nhiều so với năng suất 4,5 sản phẩm ghế/ngày của nhân công làm việc tại Trung Quốc.
Ngoài ra, vấn đề môi trường cũng cần được các doanh nghiệp ngành chế biến gỗ quan tâm nhiều để có thể tận dụng tối đa lợi thế từ hiệp định TPP mang lại.
Ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TPHCM bày tỏ quan điểm: "Chúng tôi thấy rằng, TPP sẽ đóng góp cho doanh nghiệp tốt hơn, nếu có những ràng buộc khi VN vào TPP như là vấn đề bảo đảm môi trường hay các vấn đề khác thì đó cũng tốt cho các doanh nghiệp giúp họ nâng cao hơn nữa môi trường làm việc cũng như quy mô của một doanh nghiệp sản xuất và chế biến gỗ. Các doanh nghiệp hiện đang tập trung sản xuất các đơn hàng từ đây đến cuối năm. Theo tôi, ngành gỗ không phải là ngành có lợi nhuận cao nhưng là trung bình cao so với các ngành khác".
Hiện các doanh nghiệp trong ngành vẫn còn có những hạn chế nhất định như: mẫu mã thiết kế đơn điệu, nhân công rẻ nhưng năng suất thấp, năng lực quản lý lao động chưa được nâng cao… Do đó, công tác xúc tiến thương mại, marketing, tạo thương hiệu quốc gia và chuỗi giá trị quốc gia trong ngành này đang còn gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, nâng sức cạnh tranh. Tuy vậy, với những chuyển biến tích cực trong thời gian gần đây triển vọng phát triển của ngành chế biến và xuất khẩu gỗ của Việt Nam vẫn có dấu hiệu tốt.
Tiến sĩ Phạm Thị Thu Hằng - Tổng thư kí Phòng Thương mại và Công nghiệp Viêt Nam (VCCI) nhận định: "Trong đàm phán thì vấn đề xuất xứ nguyên liệu là vấn đề luôn được quan tâm, đặc biệt là ngoài vấn đề về tiêu chuẩn xuất xứ còn có vấn đề về tiêu chuẩn môi trường. Ngành đồ gỗ là ngành có tác động rất lớn đến môi trường. Đây cũng là một thông điệp quan trọng để các doanh nghiệp đồ gỗ quan tâm. Các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một tiêu chuẩn trong doanh nghiệp để  làm sao đảm bảo rằng nguồn gốc gỗ là nguồn gốc đạt tiêu chuẩn".
Như vậy, đối với các doanh nghiệp, giải bài toán cho việc đảm bảo tiêu chuẩn xuất xứ, tiêu chuẩn sản phẩm chất lượng cao thì đáp án vẫn là nguồn vốn. Lãi suất ngân hàng hiện đã giảm nhưng vẫn còn rất cao so với các nước lân cận, doanh nghiệp muốn tiếp cận các nguồn vốn vay dài hạn vẫn còn khó, hạn chế vốn dẫn đến việc máy móc thiết bị sản xuất không được cải tiến, chất lượng và giá thành sản phẩm thấp, sức cạnh tranh yếu. Vòng lẩn quẩn này cần được tháo gỡ để doanh nghiệp tiếp cận hiệu quả một thị trường rộng lớn hơn, yêu cầu cao hơn.
Ông Nguyễn Chiến Thắng, Giám đốc công ty đồ gỗ Scansia Paciffic cho hay: "Máy móc của nghề gỗ rất hiện đại, năng suất nâng lên 10 tỷ, 20 tỷ không có nghĩa là chúng ta cần lượng lao động mấy lần, tuy nhiên chúng ta cần phải có lao động, nhưng lao động không chỉ riêng trong nhà máy, vận chuyển và cả những ngành phụ trợ đi theo nữa, ngành gỗ tạo lợi thế rất nhiều ngành phụ trợ kéo theo để hỗ trợ. Còn việc tiếp cận vốn trung và dài hạn để đâu tư thì gần như các ngân hàng hiện ít cho vay hoặc cho vay với lãi suất rất cao".
Mặc dù vậy, một số ngân hàng cũng đã có phương án hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết vấn đề về vốn. Có những chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vay trung và dài hạn đầu tư trang thiết bị máy móc. Việc còn lại là làm sao để doanh nghiệp biết và tiếp cận nguồn vốn vay phù hợp cho mình.
Ông Doãn Anh Tuấn, Giám đốc Phát triển Kinh doanh khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chia sẻ: "Chương trình Smeep là một chương trình chúng tôi hợp tác với tổ chức quốc tế Nhật Bản, chương trình này đặc biệt dùng cho đầu tư máy móc thiết bị, nhà xưởng là các khoảng đầu tư dài hạn, nguồn vốn của chương trình là nguốn vốn quốc tế nên không hạn chế, lãi suát cũng giảm 2% so với lãi suất trung và dài hạn hiện nay. Đây là chương trình tôi nghĩ rất phù hợp đối với các doanh nghiệp ngành gỗ khi mà chúng ta đang tìm cách để đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm".
Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay vẫn là Mỹ và dự báo đây vẫn sẽ tiếp tục là thị trường nhiều tiềm năng cho sản phẩm gỗ Việt Nam. Tuy nhiên, ngành gỗ cũng như tất cả các ngành khác, sẽ tìm kiếm và khai thác đa dạng nhiều thị trường trên thế giới.
Để đà phát triển này được tiếp sức mạnh mẽ hơn, Nhà nước cần nhanh chóng xây dựng quy hoạch phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ và vùng nguyên liệu để làm tiền đề cho các doanh nghiệp có định hướng trong đầu tư phát triển; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh được tiếp cận với nguồn vốn vay đầu tư thiết bị; đầu tư trồng cây gỗ lớn với thời gian vay và trả nợ phù hợp với thời gian sinh trưởng của cây; có biện pháp để giảm chi phí cho các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất và xuất nhập khẩu.
Có như thế, ngành chế biến và xuất khẩu gỗ mới tiếp tục khẳng định thế mạnh là một trong những ngành đóng góp lớn cho GDP cả nước khi thời gian đón nhận Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương đã cận kề. (VOH 21/8) đầu trang(
Chủ trương xã hội hóa nghề rừng từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Gia Lai đã và đang phát huy vai trò là nguồn lực mới phục vụ hiệu quả nhu cầu cấp thiết của ngành lâm nghiệp trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đó, chính sách này không chỉ góp phần từng bước nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ rừng trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng các đối tượng được hưởng lợi từ rừng, từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống đặc biệt là người đồng bào dân tộc thiểu số làm nghề rừng.
Trong 3 năm qua, Gia Lai đã thu được hơn 133 tỷ đồng nguồn thu dịch vụ môi trường rừng từ hai đối tượng, gồm các cơ sở sản xuất thủy điện với mức 20 đồng/kWh điện thương phẩm và cơ sở sản xuất, cung cấp nước sạch với mức 40 đồng/m 3 nước thương phẩm.
Từ nguồn thu này, tỉnh đã chi trả hơn 103 tỷ đồng cho 37 chủ rừng là tổ chức nhà nước, 90 xã và 7 cộng đồng dân cư thôn. Đây là động lực to lớn hỗ trợ tích cực cho các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, bổ sung thêm nguồn lực quan trọng cho cấp xã tăng cường tổ chức giám sát các diện tích rừng trên địa bàn mình quản lý.
Đặc biệt chính sách này còn góp phần tạo thêm nguồn thu giúp ổn định đời sống cho các hộ nhận khoán bảo vệ rừng và các cộng đồng dân cư thôn, làng tạo được sự đồng tình ủng hộ sâu rộng trong nhân dân. (Đại Biểu Nhân Dân 21/8) đầu trang(
UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 441 dự án thuê đất, thuê rừng đang triển khai thực hiện dự án liên quan đến rừng với tổng diện tích trên 47 ngàn ha.
Trong đó, có 118 dự án du lịch sinh thái với diện tích gần 11 ha, 62 dự án trồng cao su với diện tích trên 13 ngàn ha, 154 dự án trồng rừng kinh tế với diện tích 14 ngàn ha. Ngoài ra, có 14 dự án nuôi cá nước lạnh, 54 dự án nông lâm kết hợp và 39 dự án khác.
Nhìn chung thời gian qua các dự án đầu tư liên quan đến rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã được các chủ đầu tư đẩy mạnh tiến độ, nhiều dự án đã được triển khai và hoạt động có hiệu quả, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội địa phương. (Báo Lâm Đồng 20/8) đầu trang(
Thực hiện Dự án phát triển giống cây lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008 – 2015, năm 2014, tỉnh Bắc Kạn tiếp tục thực hiện các hạng mục chuyển tiếp chăm sóc rừng giống năm thứ 3 và năm thứ 4, chuyển hóa rừng giống năm thứ 4.
Khi được UBND tỉnh phê duyệt kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bắc Kan đã lựa chọn nhà thầu và ký hợp đồng thực hiện các hạng mục chăm sóc giống cây lâm nghiệp với tổng diện tích gần 44ha gồm: Chăm sóc rừng giống năm thứ 3 với gần 15ha gồm thông Mã Vĩ 5ha, tông dù 9,6ha;  chăm sóc rừng giống năm  thứ 4 là 16ha với keo 5ha, giổi 5ha, mỡ 6ha;  bảo vệ rừng giống chuyển hoá Thông Mã Vĩ năm thứ 4 gần 6 ha tại các huyện Chợ Mới, Bạch Thông, Ngân Sơn…
Việc xây dựng các bộ giống bố mẹ là bước đệm nhằm xây dựng ngành giống lâm nghiệp hiện đại, đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng cao phục vụ nhu cầu trồng rừng; áp dụng khoa học công nghệ mới theo hướng sử dụng ưu thế lai, áp dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống. (Đài PTTH Bắc Kạn 20/8) đầu trang(
Văn Bàn hiện có 91.192 ha đất lâm nghiệp, chiếm trên 60% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, đất rừng đặc dụng chiếm 23.525 ha, đất rừng phòng hộ 29.665 ha và đất rừng sản xuất 38.000 ha.
Trước đây, trong một thời gian dài, huyện Văn Bàn chưa thực sự quan tâm đến việc trồng rừng, kinh tế lâm nghiệp chỉ dựa vào việc khai thác và chế biến lâm sản ở các cánh rừng tự nhiên, nhưng nay đã thay đổi, hoạt động trồng rừng sản xuất đang trở thành phong trào, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Nằm cách trung tâm xã Hòa Mạc hơn 10 km, mô hình kinh tế trang trại tổng hợp của hộ ông Hà Đình Dung từ nhiều năm nay đã mang lại nguồn thu nhập lớn cho gia đình. Sớm nhận thức được ý nghĩa và lợi ích từ rừng sản xuất, ông Dung đã trồng 10 ha rừng với những loại cây keo, mỡ, lát.
Tương tự, đi đầu trong phong trào trồng rừng kinh tế tại thôn Trường 4, xã Võ Lao phải kể đến hộ ông Nguyễn Quyết Tiến. Ông xác định, trồng rừng mới có thể làm giàu, nên trong nhiều năm nay ông đã trồng tới 30 ha rừng sản xuất với loại cây chính là trẩu và bồ đề.
Đứng trước cánh rừng đang độ phát triển mạnh, ông Tiến nhẩm tính, chỉ 2 năm nữa thôi là có thể thu hoạch tỉa thưa hoặc khai thác cục bộ từng điểm của khu rừng. Cho dù theo hình thức nào thì mỗi năm rừng cũng sẽ mang lại cho gia đình tôi nguồn thu 500 - 600 triệu đồng. Ông Tiến đang có kế hoạch trồng thêm 10 ha cây bồ đề và kháo trong tháng 8.
Tiềm năng phát triển kinh tế lâm nghiệp là rất lớn, nên huyện Văn Bàn đã xây dựng và thực hiện Đề án phát triển, nâng cao hiệu quả kinh tế lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010. Trong giai đoạn này, toàn huyện đã trồng 3.724 ha rừng, đạt 177% mục tiêu của Đề án, trong đó, diện tích rừng kinh tế là 3.154 ha, chiếm 84%.
Cùng với đó, công tác xã hội hóa lâm nghiệp đã có chuyển biến tích cực, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển kinh tế lâm nghiệp, nhất là các hộ gia đình. Nhiều hộ dân ở vùng cao của huyện từ chỗ chỉ sản xuất lương thực, nay đã quan tâm và thực sự làm giàu từ rừng, chuyển diện tích đất nương kém hiệu quả sang trồng rừng có tính chất bền vững. Theo rà soát, ngành lâm nghiệp đang thu hút và tạo việc làm ổn định cho khoảng 30.000 lao động.
Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Văn Bàn (Công ty Lâm nghiệp Văn Bàn), đơn vị trước đây chủ yếu tập trung vào khai thác, chế biến gỗ rừng tự nhiên, việc bảo vệ và trồng rừng vốn là thứ yếu dù được giao hơn 15.000 ha đất lâm nghiệp. Sau khi tỉnh quyết định đóng cửa rừng tự nhiên tại Văn Bàn vào năm 2012, năm 2013, Công ty Lâm nghiệp Văn Bàn đã hoàn thành trồng 400 ha rừng sản xuất.
Thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2014, ngay từ quý IV/2013, Công ty đã triển khai gieo cây giống, vận động nhân dân đăng ký trồng rừng. Đến nay, diện tích trồng rừng đã đạt 150 ha, đơn vị đang phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng 350 ha rừng trước ngày 15/9.
Trong hoạt động chế biến lâm sản, hiện nay Công ty Lâm nghiệp Văn Bàn đã ký hợp đồng lắp đặt thiết bị và xây dựng hệ thống xử lý nước thải tại Xí nghiệp sản xuất giấy đế Sơn Thủy. Đầu tư mới dây chuyền sản xuất công suất giai đoạn 1 là 1.200 tấn giấy đế/năm.
Ngoài việc duy trì dây chuyền sản xuất ván bóc, giấy đế, Công ty Lâm nghiệp Văn Bàn dự kiến đầu tư thêm 1 dây chuyền ép ván công suất mỗi tháng từ 400 - 500 m3 vào cuối năm 2014.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp của huyện Văn Bàn là đạt sản lượng khai thác gỗ toàn kỳ khoảng 10.000 m3 (bình quân mỗi năm 2.000 m3) và có 80% nguồn nguyên liệu được chế biến, sản xuất các sản phẩm hàng hoá đạt chất lượng cao.
Về mục tiêu chung, phấn đấu nâng cao giá trị kinh tế từ sản xuất lâm nghiệp lên 1,2 - 1,5 lần so với năm 2010, năng suất rừng trồng đạt trên 15 m3/ha/năm, giá trị thu nhập lâm sản đạt 15 triệu đồng/ha/năm, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân 13% - 15%/năm. (Báo Lào Cai 21/8) đầu trang(
Huyện An Lão đã thành lập Đòan công tác tiến hành kiểm tra các cơ sở, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện theo quy định tại Quyết định số 89/2005/QĐ-BNN ngày 29/10/2005 của Bộ NN&PTNT về việc ban hành Quy chế quản lý giống cây lâm nghiệp.
Theo kế họach, từ ngày 18-27/8 Đòan kiểm tra giống cây lâm nghiệp của huyện sẽ tiến hành kiểm tra, xử lý, chấn chỉnh các cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp tại các xã An Hòa, An Tân và thị trấn An Lão, nhằm nâng cao chất lượng cây giống cung ứng cho người trồng rừng, tránh thiệt hại về kinh tế do sử dụng các giống cây lâm nghiệp kém chất lượng và không rõ nguồn gốc.
Được biết, hiện nay trên địa bàn huyện An Lão có 08 cơ sở được ngành chức năng cấp Giấy phép sản xuất, kinh doanh giống cây lâm nghiệp. Hàng năm các cơ sở này đã cung cấp ra thị trường trong và ngòai huyện hơn 5 triệu cây giống lâm nghiệp các lọai. (UBND Huyện An Lão 20/8)  đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Tính đến 20/8, hơn 500 ha rừng đã bị thiêu rụi sau một trận cháy rừng dữ dội tại công viên quốc gia Yosemite (bang California, Mỹ).
Theo AFP, chính quyền địa phương phải ra lệnh sơ tán hàng ngàn người dân sống quanh đó. Hiện chưa có trường hợp thương vong nào được ghi nhận. Khu vực tây nam công viên Yosemite là hạt Madera đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp và đóng cửa một số tuyến đường để tập trung cho công tác cứu hỏa.
Theo điều tra ban đầu, nguyên nhân gây cháy rừng có thể do vùng này vừa trải qua hạn hán nghiêm trọng. (Thanh Niên 21/8, tr19) đầu trang(
Từ lâu đã có những giải pháp nhằm ngăn chặn chim trời va chạm với máy bay nhưng nguy cơ này vẫn chưa được khắc phục triệt để. Nay, có thêm một "vũ khí" chống lại chim là cỏ thảo nguyên thân cao.
Sân bay quốc tế Dayton đã bắt đầu trồng cỏ thảo nguyên với diện tích 122 ha quanh sân bay. Va chạm giữa máy bay và động vật hoang dã rất phổ biến ở Mỹ, đặc biệt nguy hiểm là những con ngỗng Canada, và Dayton là một trong số vài sân bay áp dụng giải pháp tự nhiên để chống động vật xâm lấn.
Đàn ngỗng thường tụ tập quanh các bãi cỏ ngắn giáp đường băng sân bay và xuất phát hàng đàn dễ gây va chạm với những máy bay cất hoặc hạ cánh. Vì vậy người ta chuyển qua trồng cỏ thảo nguyên thân cao, điều này làm ngỗng nói riêng và loài chim nói chung có cảm giác về nguy cơ động vật ăn thịt ẩn nấp trong đó nên chúng phải dời đi.
Theo cơ quan quản lý hàng không liên bang (FAA) thì từ năm 1988 - 2013 có đến 11.315 động vật hoang dã (trong đó loài chim chiếm đến 97%) va chạm với máy bay, hậu quả là 255 hành khách tử vong. Hãng tin UPI cho biết hiện nay không chỉ Dayton mà nhiều sân bay khác cũng trồng cỏ thảo nguyên thân cao để xua đuổi chim, ví dụ như sân bay quốc tế Baltimore, Rochester, Portland...(Thanh Niên 22/8) đầu trang(
Khi đang đi ngang qua đường, cô Kim Hunter ở Australia đã tình cờ trông thấy một con Wombat (gấu túi) sơ sinh run rẩy bên xác của người mẹ.
Ngay lập tức, Kim đã gọi điện cho trung tâm hỗ trợ động vật hoang dã ở Kinglake, bang Victoria để xin được đưa chú gấu túi sơ sinh về nhà chăm sóc.
Mặc dù chú gấu túi con rất yếu và cận kề với cái chết nhưng với nỗ lực chăm sóc của Kim, chú gấu túi tội nghiệp đã dần khỏe lại. Kim đã đặt tên cho chú gấu túi là Leah.
"Khi đó Leah chỉ nặng khoảng 300g. Mặc dù nó không bị thương nhưng cơ thể nó khi đó lạnh ngắt. Mẹ của Leah có lẽ đã bị xe tải tông vào người khi đang gặm cỏ bên đường. Leah còn quá bé và chưa mọc lông nên tôi đã cho nó nằm trên những tấm thảm đã được sưởi ấm. Tôi cho nó ăn liên tục và mỗi bữa cách nhau bốn tiếng. Tôi còn thức suốt đêm để chăm sóc cho nó. Thật tuyệt khi Leah đã khỏe trở lại" - Kim chia sẻ với tờ Mirror Online. (VietnamPlus 22/8) đầu trang(
Nhà máy điện mặt trời lớn nhất thế giới Ivanpah gây ấn tượng với thành tích giảm được 400 nghìn tấn khí carbon dioxide mỗi năm, nhưng là trở thành mối đe dọa sinh thái khó lường khi trở thành lò nướng hàng nghìn con chim.
Số lượng các loài chim bị đốt cháy, chết khi bay qua tháp nhà máy gia tăng đến mức báo động, thậm chí trở thành cảnh tượng phổ biến trên bầu trời khu vực này.
Những con chim vô tình đi lạc vào vùng nhiệt màu trắng (nơi chứa hơn 300.000 tấm pin năng lượng mặt trời trải rộng trên diện tích gần 13 km2, có thể tạo ra nhiệt độ cao tới 1,000 độ Fahrenheit) đều phải chấp nhận cái chết đau đớn.
Các thanh tra viên động vật hoang dã cho rằng các loài chim bị thu hút vào những chiếc gương phản chiếu ánh sáng, tò mò bay vào khu vực đó và gặp cái chết bất ngờ.
Nhà máy điện mặt trời Ivanpah là kết quả hợp tác của hai công ty năng lượng NRG và BrighSource cùng với Google. Đại diện nhà máy, cho rằng vấn đề này được thổi phồng và tuyên bố chỉ có khoảng 1.000 sinh vật chết trong một năm. Nhưng Trung tâm Đa dạng sinh học cho rằng con số thực tế đáng báo động hơn, khoảng gần 28.000 con chim.
Các thanh tra động vật hoang dã đang thúc đẩy điều tra để biết thêm thông tin và tính toán chính xác số chim chết trước khi chính quyền bang California, Mỹ cấp cho nhà máy năng lượng mặt trời thêm bất kỳ giấy phép nào. (Kiến Thức 21/8) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng