|
Ngày 22 tháng 03 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Sau 5 ngày rừng cháy liên tục tại xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn (Nghệ An), đến nay cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đã cơ bản khống chế được đám cháy.
Ngày 21/3, trao đổi với báo Đời sống và Pháp luật, ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng hạt kiểm lâm Kỳ Sơn cho biết: “Đến thời điểm hiện tại, sau 5 ngày lực lượng chức năng tích cực chữa cháy, ngọn lửa đã cơ bản được không chế, không còn tình trạng cháy lan ra các vùng khác. Tuy nhiên, các cơ quan chức năng vẫn đang theo dõi sát sao vụ việc, tránh trường hợp ngọn lửa bùng phát trở lại do một số nơi còn cháy âm ỉ".
“Đến thời điểm này vẫn chưa thống kê được mức độ thiệt hại. Song, vụ cháy xảy ra đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến đời sống của nhân dân cũng như hàng chục hecta rừng bị thiệt hại", ông Minh thông tin thêm.
Như trước đó đã đưa tin, vào sáng ngày 16/3 một ngọn lửa đã bất ngờ bùng phát tại núi Pu Mô, bản Buộc Mú, xã Na Ngoi, huyện Kỳ Sơn. Phát hiện sự việc, người dân địa phương đã tiến hành dập lửa đồng thời báo cáo với các cơ quan chức năng.
Nhận được tin báo, lực lượng Hạt kiểm lâm Kỳ Sơn cùng chính quyền xã Na Ngoi và người dân đã có mặt tiến hành công tác dập lửa. Tuy nhiên, do rừng lau khô héo lâu ngày, ngọn lửa càng bùng phát dữ dội nên đám cháy đã lan sang cả bản Kẻo Bắc và bản Xiềng Xí của xã Na Ngoi.
Sự việc xảy ra, lực lượng chức năng đã phải chia 3 mũi để tiến hành dập lửa và ngăn chặn đám cháy lan sang các vùng khác. Có khoảng 500 – 600 người bao gồm lực lượng kiểm lâm, biên phòng, công an.. cùng người dân địa phương đang nỗ lực chữa cháy.
Nguyên nhân ban đầu của vụ cháy được xác định là do một số hộ dân vào rừng đốt nương làm rẫy và chăn nuôi. Trong khi đó cây cối, thảm thực vật tại khu vực này vốn đã bị khô héo sau đợt rét và băng giá lịch sử vừa qua. Bụi than đã bay khắp nơi nên dẫn đến cháy rừng. (Đời Sống Và Pháp Luật 21/3) đầu trang(
Đó là một trong những nội dung tại công văn về việc tăng cường thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) được Chủ tịch UBND tỉnh ký ban hành ngày 18/3.
Nhằm chủ động và đảm bảo hiệu quả trong công tác PCCCR; ngày 01/02/2016, UBND tỉnh Lào Cai đã ban hành Công điện số 03/CĐ-CT và Công điện số 04/CĐ-CT ngày 09/3/2016 về việc tăng cường các biện pháp PCCCR.
Tuy nhiên, qua kiểm tra một số địa phương, công tác chỉ đạo, kiểm soát ứng cứu trực PCCCR chưa đảm bảo, việc sử dụng lửa trong sản xuất nương rẫy chưa an toàn, chưa được kiểm soát chặt chẽ; nắm bắt thông tin cơ sở về cháy rừng còn hạn chế; do đó, những ngày đầu tháng 3/2016 đã xảy ra cháy rừng tại hầu hết các địa bàn trong tỉnh…
Dự báo thời tiết trong những ngày tới còn diễn biến hết sức phức tạp, để nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại các Công điện nêu trên, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
Bí thư Huyện ủy, Thành ủy, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố coi công tác PCCCR là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, cần đặc biệt quan tâm lãnh chỉ đạo tổ chức thực hiện hiệu quả trong tình hình hiện nay; nhất là công tác tuyên truyền PCCCR, cảnh báo nguy cơ cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng; chú trọng hoạt động tuần tra canh gác phát hiện sớm lửa rừng và đảm bảo lực lượng ứng trực, sẵn sàng huy động lực lượng đủ mạnh dập tắt lửa rừng khi có cháy rừng xảy ra.
Địa phương nào để xảy ra cháy rừng mà không làm rõ nguyên nhân, không báo cáo kịp thời và không tổ chức chữa cháy hiệu quả theo phương châm 4 tại chỗ thì Bí thư, Chủ tịch địa phương đó phải kiểm điểm và tùy theo mức độ sẽ chịu xử lý trách nhiệm trước Tỉnh ủy, UBND tỉnh theo quy định.
ở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tăng cường tối đa lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại các địa bàn trọng điểm nguy cơ cháy rừng cao. Vận động, hướng dẫn và kiểm soát việc đốt dọn nương rẫy trong nhân dân, khi đốt dọn nương rẫy phải ký cam kết với chính quyền địa phương và có sự giám sát của Kiểm lâm địa bàn; nghiêm cấm mọi người dân đốt dọn nương rẫy trong thời gian cảnh báo cháy rừng từ cấp III trở lên.
Công an tỉnh chỉ đạo Công an các huyện, thành phố phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương tổ chức điều tra làm rõ các vụ vi phạm gây cháy rừng và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật.
Công tác PCCCR là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách trong tình hình hiện nay; yêu cầu Bí thư, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố và thủ trưởng các sở, ngành liên quan tập trung chỉ đạo, quyết tâm không để cháy rừng xảy ra trên địa bàn được giao quản lý.Được biết, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh Lào Cai đã xẩy ra nhiều vụ cháy rừng nghiêm trọng. Chỉ tính riêng huyện Sa Pa, từ đầu năm đến nay đã xẩy ra hai vụ cháy lớn thiêu rụi trên 250 ha rừng các loại. (Thanh Tra 20/3) đầu trang(
Thời tiết đang diễn biến phức tạp, nắng hạn gay gắt, mực nước xuống thấp, lớp vỏ tràm và thực bì dày cháy khô… nên nguy cơ cháy rừng tràm ở khu Ramsar Vườn Quốc gia Tràm Chim (QGTC) đang ở mức cực kỳ nguy hiểm.
Ông Nguyễn Văn Khích - Phó Trưởng Hạt kiểm lâm Vường QGTC cho biết, hiện nay, nhiều khu vực rừng tràm của Vườn QGTC đang có nguy cơ cháy cấp từ cấp IV đến cấp V - cấp cực kỳ nguy hiểm.
Năm 2015, Vườn QGTC đã xảy ra 8 vụ cháy làm thiệt hại 89 ha đồng cỏ và 0,1 ha tràm. Nguyên nhân chủ yếu là do người dân xâm nhập trái phép sử dụng lửa để bắt ong và săn bắt động vật rừng. Cá biệt, có một vụ cháy rừng là do sét đánh xảy ra lần đầu tiên trên địa bàn huyện.
Ngay từ đầu năm 2016, Vườn QGTC đã có bước chủ động phòng chống cháy rừng mùa khô. Triển khai vệ sinh rừng, cắt băng-đốt cỏ chủ động. Trong công tác phòng cháy, về việc điều tiết nước, giữ lưu lượng nước và ngày đêm bơm nước vào trong Vườn.
Năm nay Vườn QGTC tiếp tục phát huy thế mạnh phối hợp giữa lực lượng bộ đội của tỉnh với lực lượng Kiểm lâm tỉnh tuần tra kiểm soát, ngăn chặn xâm nhập trái phép vào Vườn và phối hợp thường xuyên với lực lượng địa phương như: Huyện Đội, Công an huyện, Kiểm lâm… phòng chống xâm nhập Vườn quốc gia để hạn chế cháy xảy ra.
Hạt Kiểm lâm và UBND các xã-thị trấn lập kế hoạch, phương án cụ thể theo phương châm 4 tại chỗ; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức cán bộ quản lý và nhân dân về công tác phòng chống cháy rừng; đổi mới phương thức kiểm tra, chống xâm nhập trái phép vào Vườn QGTC.
Hiện tại, Hạt kiểm lâm đã đưa các trang thiết bị máy móc phòng cháy chữa cháy xuống 6 điểm trọng yếu có nguy cơ cháy cao trong Vườn. Đồng thời, tổ chức các đội phòng chống cháy rừng ở các xã-thị trấn thường xuyên tuần tra, bảo vệ rừng; chủ động kế hoạch bơm nước vào rừng để tăng độ ẩm và dự trữ, điều tiết nước hợp lý ở các phân khu, vệ sinh rừng, cày nhận cỏ làm ranh chủ động để tạo an toàn phòng tránh cháy lan; Các trạm bảo vệ, đài quan sát trong Vườn đã trang bị sẵn nhiều trang thiết bị máy móc, dụng cụ và phương tiện chuyên dụng phòng cháy chữa cháy để phục vụ cho công tác phòng chống cháy rừng… quyết tâm trong năm 2016 sẽ không để xảy ra cháy rừng.
Ông Nguyễn Văn Khích khuyến cáo: “Vào mùa khô này, yêu cầu người dân có ý thức trong việc giữ gìn Vườn QGTC, đồng thời, những gia đình nào có con em thường hay vào Vườn khai thác tài nguyên trái phép, đoàn thể địa phương-trong gia đình cũng nên tuyên truyền-giáo dục con em mình không nên vào Vườn Quốc gia vào mùa khô; nghiêm cấm hành vi vào rừng bắt ong”.
Ông Võ Văn Đạt - Chủ tịch UBND xã Phú Đức cho biết: “Chúng tôi sẽ tổ chức triển khai tới tận người dân, nhất là đối tượng thường xuyên xâm nhập trái phép vào rừng. Với các đối tượng lâu nay vào rừng săn bắt trái phép, địa phương sẽ tìm cách hỗ trợ để họ chuyển sang các nghề khác làm ăn sinh sống”.
Theo BQL Vườn QGTC cho biết, nhờ làm tốt các công tác tuyên truyền vận động người dân trong việc PCCCR, phát hoang cỏ khô, đảm bảo nguồn nước… nên từ đầu mùa khô đến nay Vườn QGTC chưa xảy ra vụ cháy rừng nào. (Dân Trí 21/3) đầu trang(
Chiều 17/3, UBND thị xã Hương Trà tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016.
Năm 2015, thị xã Hương Trà đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng như: làm tốt công tác tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng tại 45 cụm dân cư của 11 xã, phường có rừng với 2.310 người tham gia; xây dựng, bổ sung các phương án PCCCR sát với tình hình thực tế của địa phương; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư trang thiết bị và dụng cụ phục vụ chữa cháy rừng…
Nhờ đó, năm qua trên địa bàn thị xã Hương Trà không xảy ra vụ cháy rừng nào nghiêm trọng (trong năm chỉ xảy ra 03 vụ, thiệt hại 2,57 harừng, giảm 57% so với năm 2014).
Về nhiệm vụ năm 2016, thị xã Hương Trà tiếp tục phát huy hiệu quả tinh thần “phòng là chính, chữa kịp thời, dập tắt tại chỗ” theo phương châm 4 tại chỗ. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là tập trung thực hiện tốt công tác tuyên truyền, nắm bắt thông tin kịp thời; xây dựng phương án PCCCR sát với thực tế của từng địa phương và huy động nguồn lực đầu tư trang thiết bị, phương tiện phục vụ chữa cháy rừng.
Dịp này, UBND thị xã Hương Trà đã khen thưởng cho 3 tập thể và 3 cá nhân có thành tích cao trong công tác PCCCR (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thừa Thiên – Huế 18/3) đầu trang(
Đó là nội dung Công điện 06/CĐ-UBND của UBND tỉnh vừa ban hành nhằm chủ động phòng cháy, kịp thời chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra, giảm đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng trong mùa khô năm 2016.
Tại Công điện, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các phòng, ban chuyên môn, chính quyền các xã, thị trấn tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng; kiểm soát việc phát, dọn, đốt nương; bố trí lực lượng, chuẩn bị trang thiết bị, phương tiện tham gia chữa cháy rừng; vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và sẵn sàng tham gia chữa cháy khi có lệnh huy động.
Chi cục Kiểm lâm (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) bố trí cán bộ thường trực 24/24 giờ tại các vùng trọng điểm để theo dõi, nắm bắt tình hình, kịp thời xử lý khi cháy rừng xảy ra; tăng cường kiểm tra, kiểm soát người ra – vào rừng. Chi cục Lâm nghiệp giám sát các chủ rừng, các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng triển khai thực hiện các giải pháp phòng cháy rừng, đảm bảo an toàn tuyệt đối về phòng cháy, chữa cháy rừng.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh tăng cường phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền các cấp trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; chỉ đạo, điều tra xử lý thủ phạm gây cháy rừng, các đối tượng chống người thi hành công vụ.
Công ty Cổ phần Cao su Điện Biên, Công ty Cổ phần Cao su Mường Nhé chủ động thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, tổ chức lực lượng thường xuyên tuần tra diện tích rừng cao su của đơn vị để kịp thời phát hiện, tổ chức lực lượng chữa cháy rừng và thông báo ngay cho chính quyền, các lực lượng chức năng khi cháy rừng xảy ra. (Điện Biên Phủ 21/3) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, mùa khô năm nay thời tiết diễn biến bất thường. Nắng nóng kéo dài, khô hạn ở mức báo động đã đặt hàng trăm nghìn ha rừng ở tỉnh này trước nguy cơ xảy ra cháy bất cứ lúc nào.
Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai cho biết, nhiều tháng qua, công tác phòng chống cháy rừng đã được các ngành chức năng và địa phương trên địa bàn tỉnh quan tâm đặc biệt. Theo đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban Chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Đồng Nai đã thành lập đoàn kiểm tra công tác quản lý, bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng mùa khô 2016.
Công tác phòng chống cháy rừng đã được triển khai, tăng cường kiểm tra từ đầu năm 2016. Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã chỉ đạo hạt kiểm lâm các huyện tăng cường công tác phòng chống cháy rừng mùa khô, đồng thời phối hợp chính quyền các địa phương và các cơ quan chức năng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân, đặc biệt là những hộ cư trú trên phần đất có rừng thực hiện tốt các quy định về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã phối hợp với các huyện và các đơn vị chủ rừng tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân các huyện, xã, ấp, cụm dân cư sinh sống ven rừng và trong rừng thực hiện tốt các quy định về sử dụng lửa, hỗ trợ phương tiện, dụng cụ của gia đình và tham gia chữa cháy rừng khi xảy ra sự cố.
Cùng với công tác tuyên truyền, các đơn vị chủ rừng còn treo đặt 22 băng rôn, 160 biển báo cấm lửa và tổ chức cho 1.886 hộ dân sống ven rừng và trong rừng ký cam kết bảo vệ và tham gia phòng cháy, chữa cháy rừng .
Để ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất các mối nguy cơ cháy rừng và thiệt hại do cháy rừng gây ra, từ đầu mùa khô tỉnh Đồng Nai đã tập trung thực hiện tốt phương án “4 tại chỗ”, đó là lực lượng tại chỗ, chỉ huy tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Các địa phương cũng đã củng cố, kiện toàn và thành lập 58 Ban Chỉ huy phòng chống cháy rừng cấp huyện và cấp xã với 763 thành viên, thành lập 192 tổ, đội phòng chống, chữa cháy rừng với 1.821 đội viên; xây dựng 15 bản đồ tác chiến và 36 phương án tác chiến để kịp thời ứng phó khi xảy ra sự cố.
Đồng thời, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai đã hợp đồng với Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Đồng Nai thường xuyên cung cấp các yếu tố khí tượng quan trắc hằng ngày thông qua email và đưa vào website của đơn vị để các địa phương, các hạt kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng truy cập nắm thông tin cấp dự báo cháy rừng để triển khai thực hiện các biện pháp phòng chống cháy rừng.
Các đơn vị chủ rừng đã kiện toàn, thành lập 9/9 ban chỉ huy cấp chủ rừng, 5/5 tiểu ban phòng cháy, chữa cháy rừng và 76 tổ, đội phòng cháy, chữa cháy rừng với 620 đội viên; lập 17 phương án tác chiến, 41 bản đồ tác chiến chữa cháy rừng tại các khu vực rừng thuộc phạm vi mình quản lý.
Tại những khu vực rừng có nguy cơ xảy ra cháy cao, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các đơn vị chủ rừng xây dựng các công trình phòng cháy, như: thi công đường băng cản lửa cho trên 635 ha rừng tự nhiên, trên 4.578 ha rừng trồng, trên 7 ha rừng trảng cỏ; xây dựng, gia cố các đập giữ nước kiên cố, đập tạm thời, các bể chứa nước, chòi canh tạm thời, giếng khoan và mua sắm nhiều trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, như: máy bơm nước, máy cắt cỏ, máy thổi gió, bình xịt đeo vai có động cơ…
Hiện, cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Do vậy, Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai và các địa phương đã tổ chức kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng đợt 2 tại các huyện, xã và các cấp chủ rừng có nguy cơ xảy ra cháy cao, trong đó sẽ tập trung kiểm tra các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, điểm tích nước chữa cháy và tiếp tục duy trì công tác trực gác 24/24 giờ để nhận tin dự báo, cảnh báo cháy rừng; phát hiện các điểm cháy; sẵn sàng tham gia chữa cháy, cũng như duy trì các chốt, trạm kiểm soát để quản lý chặt các đối tượng ra vào rừng, góp phần hạn chế những nguyên nhân phát sinh ra cháy.
Trước nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn, Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai đã yêu cầu các sở, ngành, địa phương và chủ rừng, cùng các đơn vị liên quan chủ động triển khai và thực hiện các biện pháp hữu hiệu, nhằm bảo vệ chặt chẽ, phòng chống cháy an toàn trên diện tích rừng hiện còn trên địa bàn tỉnh.
Các lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy tỉnh, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, với các cơ quan chức năng trong công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương trong công tác kiểm tra, giám sát, sẵn sàng tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng chống cháy rừng rừng một cách kịp thời và sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện tham gia chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ khi có sự cố cháy rừng lớn, vượt khả năng chữa cháy của đơn vị cơ sở.
Liên quan đến khô hanh, hạn hán, nguy cơ xảy ra cháy các diện tích mía được trồng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là rất lớn, trước tình hình này, tỉnh đã vừa có biện pháp cứu hơn 600 ha mía khỏi nguy cơ mất trắng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đồng Nai đã cho nước vào đập Ông Kèo (huyện Nhơn Trạch) để người dân vận chuyển mía ra ngoài đường lớn.
Theo đó, để giảm thiệt hại cho bà con trồng mía vùng Nhơn Trạch, đơn vị quản lý công trình đập Ông Kèo đã căn độ mặn thường xuyên và khi thấy độ mặn trên sông giảm xuống ngưỡng cho phép đã kịp thời mở cống cho nước vào trong vài giờ liền để cho bà con thu hoạch vận chuyển mía. Việc cho nước vào kịp thời đã giúp cho nhiều hộ dân trồng mía giảm được thiệt hại và thu hồi lại được vài tỷ đồng đang có nguy cơ mất trắng. Mùa khô năm nay, mặn vào sâu trong đất liền và nặng nhất từ trước đến nay.
Sau khi nước vào đầy các con kênh rạch, người dân trồng mía các xã Phú Hữu, Phú Đông, Phước Khánh của huyện Nhơn Trạch đã kịp thời thu hoạch mía để vận chuyển ra đường lớn bán cho các nhà máy đường. Bởi nếu không kịp thu hoạch và vận chuyển, diện tích mía trên có nguy cơ bị cháy bất cứ lúc nào và thiệt hại cho người dân là khá lớn.
Được biết, chỉ trong vòng hơn nửa tháng của tháng 2/2016, nông dân trồng mía tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã bị thiệt hại nặng vì hàng trăm ha mía bị lửa thiêu rụi, tập trung nhiều nhất là tại các xã Trung Hòa, Hưng Thịnh, Hưng Lộc...Do tình trạng mía cháy diễn ra liên tục với diện tích lớn nên nông dân càng gặp khó khăn trong việc tổ chức thu hoạch, nhiều đồng mía cháy hiện đang dần khô trên đồng.
Mía cháy chậm thu hoạch, nông dân càng thiệt hại vì mía càng khô, trọng lượng và chữ đường càng giảm. Nguyên nhân cháy đang được các ngành chức năng điều tra, có thể là do bất cẩn của con người khi dùng lửa gần khu vực canh tác mía, cũng có thể do kẻ gian phá hoại. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 19/3) đầu trang(
Nhằm tăng cường các biện pháp cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô, hanh năm nay, UBND huyện Tuy Phước vừa ban hành kế hoạch PCCCR năm 2016 trên địa bàn huyện giao cho Hạt Kiểm lâm liên huyện Tuy Phước – thành phố Quy Nhơn chủ trì, phối hợp với UBND các xã, thị trấn (có rừng) và các chủ Rừng triển khai thực hiện.
Theo đó, trong công tác phòng cháy rừng, thực hiện tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ rừng và PCCCR đến toàn thể cán bộ và nhân dân, đặc biệt là người dân sống gần rừng; Củng cố, kiện toàn và tăng cường hoạt động của Ban Chỉ huy Bảo vệ rừng và Phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR & PCCCR) và các đơn vị chủ rừng; Xác định chính xác các vùng trọng điểm dễ cháy để có cơ sở chủ động trong việc huy động, tập trung lực lượng, phương tiện, dụng cụ, xây dựng bản đồ, các công trình PCCCR…
Qua đó, đưa ra các giải pháp PCCCR hiệu quả, phù hợp với địa phương, khu vực. Đồng thời, thường xuyên theo dõi, rà soát, bổ sung kịp thời những vùng trọng điểm dễ cháy như các khu mới trồng, khu rừng gần nương rẫy, khu vực chăn nuôi gia súc, sinh hoạt của người dân.
Bên cạnh đó, Ban Chỉ huy BVR & PCCCR cần cử cán bộ thường xuyên theo dõi cấp dự báo cháy rừng; báo cáo kịp thời cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh khi cấp dự báo cháy rừng từ cấp độ IV (nguy hiểm) lên cấp độ V (cực kỳ nguy hiểm).
Với phương châm “lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ và chỉ huy tại chỗ”, các tổ, đội chữa cháy cần xem xét tùy theo tính chất, quy mô đám cháy địa hình, tốc độ gió mà huy động lực lượng, phương tiện chữa cháy thích hợp. Đặc biệt, thành lập các tổ cơ động thường xuyên tuần tra, canh gác, theo dõi phát hiện lửa rừng 24/24 giờ để kịp thời cứu chữa khi có cháy rừng xảy ra.
Từ ngày 16/3 đến ngày 16/5/2016, Hạt Kiểm lâm liên huyện tổ chức kiểm tra tình hình hoạt động của Ban Chỉ huy BVR & PCCCR ở cơ sở và các chủ rừng, kiểm tra dụng cụ PCCCR, đảm bảo giảm thiểu thiệt hại đến mức thấp nhất khi có cháy rừng xảy ra nhất là trong mùa khô, góp phần bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học bền vững. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bình Định 18/3) đầu trang(
Bước vào mùa nắng nóng năm nay, thời tiết diễn biến bất thường, không khí khô hanh là “chất xúc tác” dễ gây ra cháy rừng, vì thế công tác chủ động phòng, chống cháy rừng đang được huyện Vĩnh Thạnh tập trung triển khai.
Ông Nguyễn Sơn Tùng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm (KL) huyện Vĩnh Thạnh, cho biết: “Toàn huyện có diện tích đất lâm nghiệp 58.946 ha, chiếm 81,5% tổng diện tích tự nhiên; trong đó, diện tích đất có rừng 47.479 ha, gồm 360 ha rừng đặc dụng, 29.707 ha rừng phòng hộ, 17.413 ha rừng sản xuất; đất không có rừng đã được quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp là 11.466 ha; độ che phủ rừng hiện nay là 66%... Vào mùa khô, dưới các tán rừng có thảm thực bì khô rất dễ bén lửa, nếu không có các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tích cực thì khả năng bùng phát cháy rừng rất cao. Trong điều kiện địa hình phân bố phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, xa nguồn nước, nếu để xảy ra cháy rừng thì hậu quả sẽ khó lường”.
Để chủ động bảo vệ tài nguyên rừng, huyện đã triển khai đồng bộ các biện pháp PCCCR. Đặc biệt, khi bước vào mùa hanh khô, công tác này luôn được đặt lên hàng đầu với sự tham mưu chặt chẽ của cơ quan thường trực là Hạt KL huyện. Đội ngũ cán bộ KL và KL địa bàn cũng đã phát huy tốt vai trò trách nhiệm của mình.
Với nhiệm vụ bám rừng, bám dân và bám chính quyền cơ sở, lực lượng KL thường xuyên phối hợp với các lực lượng chức năng của địa phương, tổ chức tuyên truyền, tuần tra phát hiện và xử lý nghiêm các vụ phá rừng làm nương rẫy, vận chuyển lâm sản trái phép, nên đã hạn chế được tối đa các vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV-PTR).
Tại xã Vĩnh Kim, nơi có diện tích rừng khá lớn, công tác PCCCR vào mùa khô luôn được chính quyền quan tâm. Sau khi mùa mưa kết thúc, Ban chỉ huy PCCCR xã đã bắt đầu xây dựng phương án phòng, chống cháy rừng cho mùa khô.
Ông Đinh Khư, Phó Chủ tịch UBND xã Vĩnh Kim, cho biết: “Ở địa phương có diện tích nương rẫy khá lớn nên việc đốt thực bì mỗi vụ sản xuất cũng dễ dẫn đến nguy cơ cháy rừng. Để PCCCR hiệu quả, xã chú trọng mở các đợt tuyên truyền để bà con biết cách dập tắt lửa khi phát hiện cháy... Hiện nay, bà con đã có ý thức rất cao trong việc bảo vệ và PCCCR nên từ nhiều năm nay trên địa bàn xã chưa xảy ra bất kỳ vụ cháy nào”.
Gia đình ông Đinh Văn Thấu, làng Kon Trú, xã Vĩnh Kim sống gần khu vực rừng đã lâu nên ông hiểu rõ hơn ai hết về công tác PCCCR, ông Thấu cho biết: “Mùa khô năm nay thời tiết nóng hơn mọi năm vì thế mà cháy rừng rất dễ xảy ra. Vừa qua, UBND xã cũng đã mở các đợt tuyên truyền giúp cho bà con biết được cách PCCCR, bà con chúng tôi cũng ý thức được rằng rừng cũng là nguồn lợi nuôi sống bà con nên việc BV-PTR là cần thiết”.
Cũng như gia đình ông Đinh Văn Thấu, nhiều gia đình ở huyện Vĩnh Thạnh sinh sống và sản xuất gần rừng đều đã ký cam kết theo quy ước bảo vệ rừng của thôn và công tác PCCCR vào mùa khô của xã, bà con cho rằng mình sống được cũng nhờ có rừng, chính vì thế mà bảo vệ rừng cũng như bảo vệ chính cuộc sống của mình vậy.
Ban chỉ huy PCCCR huyện cũng đã kiểm tra các diện tích rừng có nguy cơ cháy cao nhằm hướng dẫn các chủ rừng về công tác vệ sinh, chăm sóc rừng trồng và mang các vật liệu dễ cháy ra khỏi phạm vi rừng. UBND các địa phương có rừng phối hợp với đơn vị chủ rừng cảnh giới cao việc sử dụng lửa trong mùa khô hanh; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đến đông đảo người dân; tổ chức cho các cơ sở kinh doanh chế biến lâm sản trên địa bàn ký cam kết BV-PTR trong cộng đồng dân cư. Với những biện pháp đồng bộ, công tác PCCCR trong năm 2015 và những tháng đầu năm 2016 ở Vĩnh Thạnh đã có được những kết quả tốt.
Việc chủ động, triển khai các biện pháp PCCCR hợp lý, cụ thể và cấp bách sẽ hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng xảy ra. Về lâu dài, công tác PCCCR chỉ thực sự có hiệu quả khi mọi người dân đều coi đó là nghĩa vụ và trách nhiệm của mình; các cấp, ngành chức năng phải vào cuộc và xử phạt nghiêm minh đối tượng gây ra cháy rừng. Có như vậy, rừng mới được bảo vệ và phục vụ cho nhu cầu sống của chính người dân - ông Nguyễn Sơn Tùng khẳng định. (Báo Bình Định 18/3) đầu trang(
Như báo Đài Tiếng Nói Việt Nam đã đề cập, tại huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tình trạng phá rừng đang diễn biến ở mức báo động. Hàng nghìn hécta rừng đã “không cánh mà bay”. Vậy đâu là nguyên nhân dẫn đến thực trạng này? Giải pháp trước mắt và lâu dài nhằm ngăn chặn, hạn chế tình trạng này là gì?
Mường Nhé là huyện vùng cao, biên giới của tỉnh Điện Biên, tiếp giáp với 2 nước Trung Quốc và Lào. Khu vực A Pa Chải của huyện được mệnh danh là “ngã ba Đông Dương – 1 con gà gáy 3 nước cùng nghe”. Mường Nhé có 11 xã, 95 bản, chủ yếu dân tộc Mông, Thái, Hà Nhì sinh sống. Theo thống kê, diện tích đất có rừng của huyện trên 72.000ha, độ che phủ rừng là 45,8%…
Ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé cho biết: Những năm gần đây, tình hình dân di cư tự do về sinh sống ở huyện diễn biến phức tạp. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến những cánh rừng Mường Nhé “không cánh mà bay”. Hiện nay trên địa bàn huyện có hàng nghìn hộ di cư tự do đến sinh sống; con số này vẫn chưa dừng lại.
Với mục tiêu bố trí sắp xếp, ổn định đời sống cho các hộ dân trên địa bàn, hạn chế phá rừng làm nương, ngày 31/1/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án 141 “Sắp xếp, ổn định dân di cư tự do huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên giai đoạn 2008 - 2012”.
Tiếp đó ngày 12/1/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án số 79 “Sắp xếp, ổn định dân cư, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên đến năm 2015”. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai, đến nay huyện mới thực hiện hoàn thành trên 20% kế hoạch của Đề án.
Ông Lù Văn Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Mường Nhé thừa nhận việc sắp xếp chậm cũng đồng nghĩa với việc rừng tiếp tục bị xâm lấn: “Dân di cư tự do vào kéo theo hệ lụy rất nhiều đến phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Nhằm giải quyết tình trạng này, huyện đã tập trung thực hiện Đề án số 79 của Thủ tướng Chính phủ. Song song với đó, chúng tôi cũng tổ chức vận động, tuyên truyền cho các hộ dân mới vào sau thời điểm của Đề án. Tuy nhiên, hiệu quả công tác vận động này chưa cao. Một số hộ dân sau khi đã được trả về vẫn quay lại huyện tiếp tục việc di dịch cư tự do trong địa bàn”.
Còn ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé, người hàng ngày phải dàn quân ra giữ rừng, hơn ai hết thấy rõ tình trạng di dịch cư tự do là một trong những thủ phạm chính gây ra tình trạng mất rừng. Với lý do không có đất sản xuất, một số người đã ngang nhiên phá rừng, bất chấp sự ngăn cản của ngành chức năng và chính quyền địa phương.
Chỉ tính từ đầu năm nay, lực lượng đã phát hiện 54 điểm vi phạm về phá rừng trái pháp luật, gây thiệt hại gần 60ha rừng. Mặc dù những cán bộ kiểm lâm ở đây có khi quên ăn, quên ngủ và không đơn độc, nhưng xem ra vẫn không thể ngăn được tình trạng phá rừng một khi di dịch cư tự do vẫn còn diễn ra và việc sắp xếp, ổn định đời sống cho họ không sớm được thực hiện hiệu quả.
“Đối với người dân trên này, người ta chỉ cần đất sản xuất chứ không cần bố trí đất ở. Việc sắp xếp dân cư theo Đề án 79 thời gian qua, các chủ đầu tư mới bố trí được đất ở, chưa bố trí được đất sản xuất. Trong khi đó, phương án của Đề án đưa ra là mỗi hộ được bố trí đất sản xuất 2ha. Thời gian qua, các bản đã được sắp xếp ổn định về nơi ở, tuy nhiên họ không có đất sản xuất. Vì vậy, họ đã viện lý do không có đất sản xuất vào phá rừng” – ông Lò Văn Thành nói.
Trả lời phóng viên VOV về giải pháp ngăn chặn tình trạng xâm hại rừng ở Mường Nhé, ông Lò Văn Tiến, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cho rằng, việc cần làm lúc này là phải kiểm soát được tình trạng dân di cư tự do đến Mường Nhé. Cùng với tăng cường các biện pháp nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các trường hợp mới phát sinh, tỉnh đã chỉ đạo chính quyền địa phương và ngành chức năng tổ chức rà soát, thống kê toàn hộ số hộ di cư tự do đến địa bàn; lập danh sách đầy đủ để đưa trả về nơi xuất cư.
Ông Lò Văn Tiến cho biết: “Tỉnh đã tiến hành rà soát lại toàn bộ số hộ di dịch cư tự do. Theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, địa phương nào có dân di cư đến Mường Nhé từ 30/11/2011 trở về đây sẽ có trách nhiệm đến đón dân của địa phương mình. Việc này tỉnh đã có đề nghị với Chính phủ, nhưng đến nay vẫn chưa thấy Chính phủ chỉ đạo nội dung này. Còn đối với Đề án 79, trong quá trình tổ chức triển khai cũng có những vướng mắc. Nhưng quan điểm của tỉnh thì tỉnh vẫn đề nghị Chính phủ tiếp tục cho triển khai Đề án này kéo dài đến năm 2020”.
Nỗ lực bao nhiêu của địa phương cũng khó có thể ngăn chặn được nạn phá rừng làm nương, nếu các hộ dân cứ ồ ạt di cư về Mường Nhé như thời gian qua. Và cũng không có đề án sắp xếp, ổn định dân cư nào có thể đáp ứng được chỗ ở, cũng như đất sản xuất cho bà con khi tình trạng di dân vẫn diễn phức tạp. Và như vậy, bài toán giữ rừng sẽ không có lời giải.
Mong muốn lớn nhất của Điện Biên lúc này là các tỉnh, thành phố trong cả nước thắt chặt việc quản lý dân số của địa phương mình, không để di cư tự đến Mường Nhé. Chỉ như vậy, Mường Nhé mới có thể ổn định, phát triển; rừng Mường Nhé mới không bị tàn phá, cạo trọc. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 21/3) đầu trang(
Chuyên san khoa học Science Advances số tháng 3 đăng báo cáo mới của một nhóm chuyên gia thuộc Đại học bang Michigan (Mỹ) về vấn đề tài nguyên rừng của Trung Quốc.
Đây vốn là một báo cáo khoa học đơn thuần nhưng nếu đọc kỹ nội dung sẽ không khỏi giật mình về nguy cơ “nhập khẩu” phá rừng đang hiển hiện tại nhiều nước, nhất là VN.
Cụ thể, sau thời gian bị tàn phá cực kỳ nghiêm trọng để phục vụ cho giai đoạn “phát triển nóng” của Trung Quốc, diện tích rừng nước này đang dần phục hồi khá ổn định. Số liệu về giai đoạn 2000 - 2010 cho thấy khoảng 1,2% diện tích Trung Quốc đã được phủ xanh trở lại. Điều đáng nói là ngoài các chính sách như mạnh tay với phá rừng và quyết liệt triệt phá khai thác gỗ lậu, Bắc Kinh còn giải quyết bài toán rừng của mình bằng biện pháp ồ ạt nhập khẩu gỗ nguyên liệu từ nhiều nước.
Theo báo cáo, hiện nước này là một trong những nhà nhập khẩu gỗ lớn nhất thế giới. Số liệu từ Tổ chức Lương nông LHQ (FAO) cho thấy trong giai đoạn nói trên, VN đứng thứ ba trong các nước xuất khẩu gỗ cho Trung Quốc thu về 695 triệu USD, sau Nga (887 triệu USD) và Indonesia (880 triệu USD).
Trong khi đó, từ năm 2014, Bộ Công thương VN đã ra thông tư về việc tạm ngưng tạm nhập tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia sang nước thứ ba nhưng giai đoạn tháng 1-6.2015, xuất khẩu gỗ từ VN sang Trung Quốc vẫn đạt 425 triệu USD, chủ yếu là nguyên liệu và sản phẩm thô, theo Tổ chức Forest Trends cũng như Hiệp hội Gỗ và lâm sản VN.
Phần lớn gỗ nhập được Trung Quốc chế biến ra thành phẩm bán sang các thị trường phát triển như Mỹ và EU. Từ đó, không thể không có ấn tượng rằng để vừa phục hồi rừng của chính mình vừa tiếp tục thu lợi từ lâm sản, Trung Quốc đã “chuyển” phá rừng (cả khai thác hợp pháp lẫn chặt phá lậu) sang nước khác và xu hướng này vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại.
Trong khi đó, nhờ chính sách quyết liệt của Chính phủ và nỗ lực của nhiều phía, độ che phủ rừng ở VN đang tăng ổn định. Tuy nhiên, chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm, phần lớn chỉ còn lại rừng nghèo. Đặc biệt năm 2005, tức nằm trong giai đoạn phục hồi rừng của Trung Quốc, FAO xếp VN là nước có tỷ lệ phá rừng nguyên sinh đứng thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Nigeria.
Hậu quả của phá rừng thì ai cũng rõ khi đa dạng sinh học bị ảnh hưởng nặng nề, nguồn tài nguyên gỗ quý hiếm “chảy máu” nghiêm trọng, hậu quả của bão tố, lũ lụt ngày càng khủng khiếp. Mất rừng cũng có nghĩa là “tấm bọt” hấp thu khí CO2, một trong những tác nhân gây khí thải nhà kính dẫn đến biến đổi khí hậu, bị teo tóp lại.
Trong khi đó, VN nằm trong số những nước sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Ngoài ra, những con số nói trên là thống kê chính thức còn lợi nhuận phi pháp từ buôn lậu thì khó mà đo đếm được. Phải chăng tình trạng lâm tặc ngày càng lộng hành hung hăng đến mức liên tục tấn công kiểm lâm thời gian qua một phần cũng xuất phát từ đây?
Theo kế hoạch của Bộ NN-PTNT, đến năm 2020 nước ta sẽ phấn đấu nâng độ che phủ rừng lên 44 - 45%. Thiết nghĩ để đạt mục tiêu này, có lẽ các nhà hoạch định chính sách và giới hữu quan cũng cần cảnh giác để VN không trở thành “thị trường thân thiết” cho chính sách “xuất khẩu” phá rừng của Trung Quốc. (Thanh Niên 21/3) đầu trang(
Sáng 21-3, cho biết, phía Hạt Kiểm lâm Thường Xuân đã chính thức khởi tố vụ án hình sự "Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng" như thông tin báo PL&XH đã phản ánh.
Trong những ngày gần đây, báo PL&XH đã có loạt bài viết phản ánh về hiện tượng người dân vào rừng thuộc địa bàn các thôn Ruộng, Cạn, Vịn, Đục, xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép.
Việc làm này gây ảnh hưởng tới môi trường, làm thất thoát tài nguyên rừng, gây xáo trộn địa bàn dân cư, khiến tình hình an ninh rừng tại khu vực trên trở nên phức tạp.
Ngay sau khi sự việc được PV báo PL&XH thu thập thông tin phản ánh, phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các phòng nghiệp vụ, phối hợp với UBND huyện Thường Xuân, cùng CA, VKS ND, chính quyền xã Bát Mọt cử đoàn công tác xác minh trên địa bàn toàn huyện.
Qua kiểm tra cho thấy, hiện tượng phá rừng vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng. Điều này đúng với sự phản ánh của báo PL&XH đã thông tin trước đó. Cơ quan CSĐT CA huyện, VKS ND huyện cùng lực lượng Kiểm lâm đã tích cực điều tra, nắm bắt tình hình vụ việc.
Báo cáo từ Hạt Kiểm lâm Thường Xuân cho thấy, tại tuyến Yên Nhân - Bát Mọt kiểm tra Tiểu khu 471, khoảnh 3A,3B đã phát hiện 4 cây gỗ đã bị khai thác, gỗ còn lại tại rừng đo được là 1,3m3. Kiểm tra tuyến thứ 2 thuộc khoảnh 4A và 6B thuộc Tiểu khu 473 thì phát hiện 3 gốc cây đã chặt, gỗ còn tại rừng là 3,24m3.
Kiểm tra tại Tiểu khu 482, ở thôn Vịn, xã Bát Mọt phát hiện 10 cây gỗ dẻ, thuộc rừng của ông Lang Thanh Huyền với trữ lượng còn lại tại rừng 5,8m3, hiện đã tạm giữ. Ngoài ra, tại lô 1, lô 2, khoảnh 9, Tiểu khu 484A thuộc rừng của ông Lang Văn Toản phát hiện 31 cây gỗ bị khai thác với trữ lượng gỗ còn lại rừng là 17,9m3, nhà ông Vi Văn Khăm ở lô 2, khoảnh 11 Tiểu khu 484A bị khai thác 4 cây với trữ lượng gỗ còn lại tại rừng thu được 3,8m3.
Trong quá trình điều tra truy quét lâm sản, tối ngày 1-3-2016, phía Kiểm lâm địa bàn huyện Thường Xuân đã phối hợp với chính quyền xã Bát Mọt bắt giữ xe ô tô BKS 36C-012.59 do ông Nguyễn Văn Chung, SN 1983, ở xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa vận chuyển 55 hộp gỗ xẻ nhóm VI với khối lượng 4m3.
Nhận thấy vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Phía Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Thường Xuân khởi tố vụ án hình sự, chuyển hồ sơ vụ việc tới VKS ND, giao hồ sơ, tang vật vụ án tới cơ quan CSĐT CA huyện Thường Xuân điều tra, khởi tố hình sự vụ án.
Bà Lê Thị Hường, phó Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân cho biết, phía UBND huyện sẽ chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm tham mưu để huyện xử lý, ngăn chặn tất cả các hành vi vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép trên địa bàn.
Sáng ngày 21-3, trao đổi với PV, ông Nguyễn Ngọc Thảo, Hạt trưởng Kiểm lâm huyện Thường Xuân cho biết, liên quan đến việc khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trên địa bàn huyện Thường Xuân mà báo PL&XH phản ánh.
Căn cứ Điều 100, 104, 111 Bộ luật tố tụng hình sự nước CHXH CN Việt Nam, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Thường Xuân đã Quyết định khởi tố vụ án hình sự "Vi phạm các quy định khai thác và bảo vệ rừng", xảy ra tại Lô 1,2 khoảng 9 và Lô 2 khoảnh 11, Tiểu khu 484A rừng sản xuất, thuộc thôn Đục, xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân, Thanh Hóa.
Cũng theo ông Nguyễn Ngọc Thảo, Quyết định khởi tố vụ án trên đã chuyển tới Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Xuân. Vụ việc vẫn đang được điều tra mở rộng, truy xét các đối tượng buôn bán, khai thác và vận chuyển lâm sản trái quy định phát luật. (Pháp Luật Và Xã Hội 21/3) đầu trang(
Thời gian gần đây, một số người dân sống trên địa bàn huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (khu vực gần vườn quốc gia Chư Yang Sin) phản ánh về việc lâm tặc vào rừng, chặt hạ và xẻ gỗ những cây cổ thụ lớn và quý hiếm như dổi, thông… chúng ngang nhiên chặt và vận chuyển gỗ ra bên ngoài như chốn không người.
Để ghi nhận tình hình trên, nhóm phóng viên (PV), trong đó có báoNgười Đưa tin đã quyết định xâm nhập bằng cách theo chân một người thường xuyên đi rừng để tiếp cận với nơi mà lâm tặc đang ‘xẻ thịt’ những cây cổ thụ lớn.
Để đảm bảo an toàn cho tất cả mọi người, PV và người dẫn đường phải hóa trang giống như những người đi rừng và phải đề phòng cảnh giác vì lâm tặc rất dị ứng với người lạ. Nếu như để chúng phát hiện thì sẽ vô cùng nguy hiểm.
Từ điểm hẹn, chúng tôi điều khiển xe máy dọc tuyến đường nhựa tới xã (Cư Drăm, huyện krông Bông) nơi mà đang có nạn lâm tặc hoành hành phá rừng.
Người dẫn đường đưa chúng tôi vào những con đường đá lởm chởm, sâu hút bên trong cánh rừng già. Khi không thể đi xe nữa, chúng tôi bỏ lại ở bụi rậm, ngụy trang và giấu thật kỹ xe. Chúng tôi bắt đầu cuốc bộ qua sườn đồi dốc đứng.
Sau khi băng qua được khu vực cây cối rậm rạp, trước mắt chúng tôi là những con đường mòn, được phát rộng rãi, thuận tiện cho người đi bộ di chuyển. Hai bên đường mòn là cây cối rậm rạp, vừa có thể không bị phát hiện, lại có thể làm nơi che giấu những miếng gỗ “khổng lồ” đã được xẻ.
Đang chăm chú con đường mòn, người dẫn đường bắt đầu nói với chúng tôi cần để ý xung quanh vì sắp tới hang ổ nơi lâm tặc cắt gỗ. Chúng tôi không biết đã đi thêm bao nhiêu cây số, nhưng khi vừa qua con đường mòn, trước mắt chúng tôi là khung cảnh hoang tàn đến đau lòng.
Những cây gỗ cổ thụ thân to đường kính hai ba người ôm không xuể bị đốn hạ nằm ngổn ngang. Trải dài khắp nơi trên mặt đất một màu vàng óng. Những miếng gỗ lớn được cắt tỉa vuông thành sắc cạnh kích thước bằng hai sải tay người lớn nằm la liệt trên nền đất.
Theo người dẫn đường tiết lộ: “Đám lâm tặc chúng chỉ nhằm vào những cây gỗ dổi (loài cây cho gỗ tốt, rất dễ tiêu thụ trên thị trường. Hiện nay gỗ dổi có giá thị trường khoảng 18 – 20 triệu đồng/m3. Ở nước ta, loại gỗ này đang dần trở nên khan hiếm do mức độ khai thác quá mức - PV), hoặc thông có kích thước lớn, tuổi đời hàng trăm năm. Những loại gỗ này dùng đóng sập, phản chất lượng rất tốt, nhìn rất bắt mắt được nhiều người chuộng giá thành cao. Nhìn những cây rừng to lớn vậy đấy, mà gặp chúng (ý nói lâm tặc) chỉ cần trong nháy mắt là trơ trọi hết”.
Như để chứng minh cho những điều mình nói, người này tiếp tục đưa chúng đi tôi thẳng về phía trước và chỉ cho chúng tôi thấy những gốc gỗ lớn đang nằm trơ trọi.
Một người trong đoàn chúng tôi, nhanh chóng leo lên một gốc cây cổ thụ để đo đường kính thì bỗng nghe thấy tiếng cưa máy, tiếng rắc rắc của cây gỗ khiến chúng tôi hoảng sợ và phải nép vào một bên đề phòng bất trắc.
Vừa nghe tiếng máy cưa rên âm ỉ, tiếng xẻ gỗ ầm ầm trong khu rừng yên tĩnh và nhìn những gốc cây gỗ trăm năm tuổi bị ‘xẻ thịt’ nằm trơ trọi. Không còn cảnh tượng nào đau lòng hơn.
Điều đang quan tâm hơn, khi cả khu rừng yên tĩnh, tiếng máy cưa gầm thét nhưng vẫn chưa thấy lực lượng chức năng tới xử lý. Họ ở đâu khi cây rừng đang dần bị đốn hạ?
Sau khi ghi nhận và chứng kiến những hình ảnh trên, chúng tôi đã liên lạc với lực lượng quản lý Vườn quốc gia Chư Yang Sin.
Làm việc với PV, ông Lương Hữu Thạnh - Phó giám đốc Vườn quốc gia Chư Yang Sin nói “Trước tiên chúng tôi cảm ơn, ghi nhận những thông tin đóng góp của PV. Tuy nhiên, sau khi xem qua những tài liệu PV cung cấp ông này quả quyết, khu vực mà đám lâm tặc đang cắt gỗ không nằm trong phạm vi quản lý của Vườn quốc qua Chư Yang Sin, khu vực này đã chuyển đổi thành khu rừng thuộc quyền quản lí cộng đồng. Về đơn vị quản lí nhà nước trách nhiệm thuộc về hạt kiểm lâm huyện Krông Bông”.
Ngay sau đó PV tìm đến hạt kiểm lâm huyện Krông Bông để làm rõ sự việc. Tại đây, ông Nguyễn Thanh Dũng (hạt phó hạt kiểm lâm huyện Krông Bông) khẳng định chắc nịch với PV rằng “Căn cứ vào hình ảnh vừa xem tôi nhận định gỗ mà “lâm tặc” đốn hạ đó là gỗ dổi. Tuy nhiên, gỗ dổi thuộc loại cổ thụ, kích thước lớn như thế thì chỉ có ở vườn quốc Chư Yang Sin. Khu vực rừng địa bàn chúng tôi quản lí làm gì có gỗ dổi cỡ vậy”.
Khi cả hai nơi trực tiếp quản lý khu vực rừng trên “đá bóng” trách nhiệm, chúng tôi tiếp tục tìm và liên lạc với ông Nguyễn Lân – phó chủ tịch UBND huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lắk để phán ánh tình hình.
Sau khi trao đổi với PV, ông Lân đã chỉ đạo cho hạt kiểm lâm huyện phải kết hợp với ban quản lí vườn quốc gia, cùng sự tham gia của PV trực tiếp vào rừng xác định tọa độ, địa điểm xem thuộc quyền quản lí của đơn vị nào, trách nhiệm thuộc về ai lúc đó hết chối cãi.
Ông Lân cũng khẳng định với PV rằng “Chúng tôi tuyệt đối không bao che, xử lí nghiêm những cá nhân nào có hành vi sâm hại tài nguyên rừng”. Tuy nhiên, cái khó diện tích rừng rất lớn trong đó được phân chia nhiều đơn vị quản lí khác nhau. Sau khi thống nhất nội dung giữa hai bên, đích thân tôi sẽ đi cùng với các anh, em vào hiện trường xem xét cụ thể nếu thuộc quyền quản lí của đơn vị nào thì đơn vị đó phải chịu trách nhiệm”.
“Đối với lực lượng phá rừng chúng có tay trong, tay ngoài hành động rất liều lĩnh. Nếu không cẩn thận để lộ thông tin đám “lâm tặc” sẽ phát hiện giở chiêu trò để đối phó, thậm chí tay đôi rất nguy hiểm. Tôi đã chỉ đạo lực lượng hạt kiểm lâm lập kết hoạch cụ thể xuất quân bất ngờ truy quét triệt để trong thời gian ngắn nhất, đông thời xác định được sự việc để lâm tặc phá rừng thuộc tránh nhiệm quản lí của đơn vị nào", Ông Nguyễn Lân - Phó chủ tịch UBND huyện Krông Bông cho biết. (Người Đưa Tin 21/3) đầu trang(
Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô (xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk) có tổng diện tích hơn 27.000 ha, trong đó phân khu rừng bảo vệ nghiêm ngặt hơn 15.000 ha, phân khu phục hồi sinh thái trên 9.000 ha, phân khu dịch vụ hành chính là 2.000ha.
Ở đây, có rất nhiều loại gỗ quý hiếm như: Hương, Cẩm Lai, Cà chít,… Thời gian gần đây dư luận xôn xao khu rừng này đang bị xâm hại cực kỳ nghiêm trọng, hàng loạt cây gỗ quý bị đốn hạ chỉ cách đường QL 29 vài trăm mét.
Từ thông tin dư luận địa phương, trung tuần tháng 3/2016, Phóng viên Báo Tầm Nhìn đã có chuyến“ đột nhập” khu bảo tồn này để tìm hiểu thực hư sự việc. Xuất phát từ Buôn Ma Thuột đi theo hướng huyện Krông Năng chạy đến khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô mất chừng gần 100km, dọc theo QL29 nối Đắk Lắk và Phú Yên, 2 bên đường là những cánh rừng bạt ngàn ai cũng thấy rừng vẫn còn y nguyên hiện trạng, không thấy một dấu tích của sự xâm hại nào.
Tuy nhiên, chỉ cần dừng xe bên đường QL29(thuộc Khu bảo tồn này quản lý) đi bộ vào rừng khoảng 30m, chúng tôi hết sức bàng hoàng vì cảnh tượng hàng chục cây gỗ Hương có đường kính trên 30cm bị đốn hạ, chỉ còn trơ lại gốc, phần ngọn bị bỏ lại nằm ngổn ngang, nhiều chỗ còn nguyên cả khúc gỗ bị cắt ngọn mà chưa được lấy đi.
Hiện trường ngỗn ngang này là những cây gỗ Hương bị cưa xẻ ngay tại chỗ, các cây to bị rọc bớt phần vỏ để thuận tiện cho việc vận chuyển ra khỏi rừng. Những tấm gỗ bị xẻ ra, nằm la liệt xếp chồng tại khu vực này. Điều đáng nói những cây gỗ bị “làm thịt” chỉ cách trạm Kiểm Lâm số 1 khu Bảo tồn thiên nhiên Ea Sô chừng 500m.
Tiếp tục men theo những lối mòn chỉ dành cho người đi bộ vào sâu bên trong, chúng tôi lại một lần nữa ngỡ ngàng vì trong những cánh rừng có hàng loạt lối nhỏ dẫn vào sâu bên trong. Mang tiếng là phân khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng gỗ ở đây bị đốn hạ ngổn ngang, rừng chỉ còn thưa thớt, sót lại đa phần là cây gỗ tạp, có đường kính vừa và nhỏ.
Theo ghi nhận, những cây gỗ bị đốn hạ đa phần tập trung vào gỗ Hương, đây là loại gỗ có giá trị kinh tế, được biết trên thị trường loại gỗ này có giá thành rất cao, đặc biệt sử dụng để trang trí nội thất, làm bàn ghế, giường tủ,…
Được biết khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô là nơi cư ngụ của những loài động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới như: Bò Tót, Bò rừng,…Trước thực trạng rừng bị xâm hại, “xẻ thịt” nó sẽ trực tiếp phá hoại môi trường sống của các loại động vật hoang dã, làm mất cân bằng hệ sinh thái trong khu bảo tồn. Đặc biệt sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình biến đổi khí hậu của địa phương nói riêng và Việt Nam nói chung. (Tầm Nhìn 21/3) đầu trang(
Cục Phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng vừa phối hợp Bộ đội Biên phòng Đắk Nông phát hiện, thu giữ một khối lượng gỗ lớn.
Qua kiểm tra tại khu vực biên giới thuộc địa bàn đồn Biên phòng Đăk Đam quản lý, bảo vệ (tại tọa độ 96091-80398 thuộc xã Đăk Lao, huyện Đắc Min, tỉnh Đắk Nông), lực lượng chức năng phát hiện bãi gỗ tập kết gồm 30 khúc gỗ hộp, khối lượng 30,4m3 chưa xác định chủng loại, không có dấu kiểm lâm, không có người trông coi, quản lý.
Hiện vụ việc đang được Cục phòng chống ma túy tội phạm, lực lượng chức năng mở rộng điều tra, xử lý. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 21/3) đầu trang(
Ngày 19/3, UBND tỉnh Kon Tum đã có quyết định xử phạt hành chính đối với ông Lâm Văn Diện (46 tuổi, phường Trần Hưng Đạo, TP Kon Tum, Kon Tum) vì hành vi vận chuyển, mua bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh trái phép 9,031m3 gỗ các loại với tổng số tiền 180 triệu đồng.
Ngoài ra, cơ quan chức năng còn tịch thu 9,031m3 gỗ xẻ để bổ sung công quỹ nhà nước. Riêng xe ô tô biển kiểm sát 82K-5077 dùng vận chuyển số gỗ trên sẽ được trả cho người sử dụng hợp pháp sau khi người vi phạm chấp hành xong hình thức xử phạt hành chính. Thời gian ông Diện phải chấp hành quyết định xử phạt trong 10 ngày, sau khi Quyết định được ban hành.
Trước đó, ngày 15/2, Hạt kiểm lâm huyện Sa Thầy (Kon Tum) đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lâm Văn Diện. Sau đó Chi cục Kiểm lâm tỉnh này đã có văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Diện trong lĩnh vực quản lý, phát triển bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. (Dân Trí 20/3) đầu trang(
Sáng 21/3, huyện Yên Thành tổ chức tổng kết công tác bảo vệ, phát triển rừng và PCCCR năm 2015, triển khai nhiệm vụ năm 2016.
Năm 2015, cùng với kiện toàn lại BCĐ các cấp, xây dựng triển khai sớm các phương án bảo vệ, phát triển rừng, PCCCR, 296 thôn xóm, hơn 6.400 hộ gia đình trên địa bàn Yên Thành đã ký cam kết về công tác PCCCR. Hạt kiểm lâm huyện cũng đã trang bị thêm 4 máy thổi, xây dựng mới và duy tu sửa chữa 12 bảng tường tuyên truyền, hàng trăm dụng cụ như dao, rạ, mũ, can nhựa, vỉ dập lửa, cào sắt... cấp phát cho các địa phương phục vụ công tác chữa cháy rừng.
Trong năm, toàn huyện trồng được hơn 1.400 ha rừng, trong đó có hơn 100 ha rừng phòng hộ, triển khai thực hiện 2 mô hình bảo vệ rừng dẻ tự nhiên, khoanh nuôi hơn 3.000 ha trong lâm phần quản lý…
Tuy nhiên, do nắng nóng kéo dài, trong năm trên địa bàn huyện đã xảy ra 2 vụ cháy, làm thiệt hại gần 4ha rừng thông. Qua kiểm tra, kiểm soát, Hạt Kiểm lâm huyện phát hiện và xử lý 5 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 1,443m3 gỗ xẻ và 1,342m3 gỗ tròn các loại, tiền phạt nộp Kho bạc Nhà nước hơn 16 triệu đồng.
Năm 2016, huyện Yên Thành tiếp tục chủ động, tăng cường đồng bộ các giải pháp, nhất là nâng cao ý thức tự giác cho mọi người dân, bảo vệ bền vững diện tích rừng hiện có, làm tốt công tác phát triển rừng, chống chặt phá rừng, hạn chế tối đa nguy cơ cháy rừng xảy ra trên địa bàn.
Tại lễ tổng kết, 8 tập thể và cá nhân được Chủ tịch UBND huyện Yên Thành tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, phát triển và PCCCR năm 2015. (Báo Nghệ An 21/3) đầu trang(
Hai cây đa có tuổi đời hơn 700 năm vừa được công nhận Cây Di sản là chứng nhân cho sự đoàn kết của đồng bào Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam
Tháng 7-2015, cùng với quần thể 725 cây pơ mu mà nhiều người thường gọi với cái tên mỹ miều “Vương quốc pơ mu”, tại xã A Xan (huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam) còn có 2 cây đa sộp được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường công nhận là Cây Di sản Việt Nam. Tuy nhiên, ít ai biết đằng sau 2 cây đa này chứa đựng câu chuyện ly kỳ, gắn với hủ tục “săn máu” mà khi nhắc đến, nhiều người không khỏi khiếp sợ.
Xã A Xan giáp biên giới với Lào. Dù đường từ trung tâm huyện Tây Giang vào UBND xã này được thảm nhựa, đổ bê tông gần hoàn thành nhưng chúng tôi phải mất khoảng 2 giờ đi xe máy mới đến nơi.
Khác với những thôn, nóc của người Ca Dong, Giẻ Triêng, người Cơ Tu ở A Xan sống khá tập trung. Nhà cửa vẫn giữ nếp truyền thống nhưng khang trang, sạch sẽ. Có lẽ khắp các huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam không nơi nào có những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn như ở Tây Giang. Nơi đây, người dân sinh sống với rừng, dựa vào rừng nhưng tuyệt nhiên không phá chúng.
Ông Pơ Loong Đội, trưởng thôn A Rầng 1 (xã A Xan), cho biết người dân trong thôn rất yêu quý và luôn có tâm nguyện giữ rừng. Khi đặt vấn đề tìm hiểu về 2 cây đa sộp, chúng tôi phải đợi rất lâu để ông Đội đi mời già làng Pơ Loong Jim đến nói chuyện. Dù ở tuổi 72 nhưng già Jim rất minh mẫn. Già nói từ khi ông biết nhận thức thì đã thấy 2 cây đa này rất to lớn, mỗi cây 4 người ôm không xuể. Ngày xưa, mỗi lần đi rẫy, ông đều ghé qua 2 cây đa này hóng mát. Các già làng trước đó kể rằng cây đa này đã trải qua 8-9 đời người và nhắc nhở ông cùng người dân trong làng phải ra sức bảo vệ, yêu quý như mạng sống con người bởi nó gắn với sự sinh tồn của bản làng.
Nhấp ngụm nước, già Jim kể rằng cách đây hàng trăm năm, giữa thôn A Rầng (nay là A Rầng 1) với thôn A Bíp (xã Lăng, huyện Tây Giang) ở bên kia ngọn núi xảy ra mâu thuẫn dẫn đến những cuộc giao chiến, chém giết lẫn nhau. Mâu thuẫn xuất phát từ tục “săn máu” của người Cơ Tu. Tập tục này diễn ra trong một thời kỳ dài, gây nên bao nhiêu cuộc đâm chém, giết người đẫm máu. Những cuộc chiến do hận thù “săn máu - nợ đầu” trong tộc người này cũng gây nên bao nỗi kinh hoàng cho những thương lái người Kinh khi đến buôn bán ở mảnh đất thần bí này.
Theo giải thích, tục “săn máu”, “săn đầu” vốn là dạng nghi lễ gắn với tín ngưỡng nông nghiệp nguyên thủy, khá phổ biến trong lịch sử nhiều tộc người. Trong loại hình tín ngưỡng sơ khai này, máu đóng vai trò cực kỳ quan trọng, làm dẫn chất kết nối âm dương, trời đất - nhân tố cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, tiền đề của sự no ấm.
Với quan niệm như vậy nên khi bắt đầu mùa vụ, người Cơ Tu tiến hành nghi thức “săn máu”, đâm người bằng những mũi lao dài, sau đó mang về cắm trên khu đất sản xuất, làm lễ cúng Giàng với mong ước mùa sau thóc đầy kho, rượu đầy ché, không bị đói, bị lạt do không có muối. “Đó là thời kỳ mà người Cơ Tu sống trong vòng luẩn quẩn của hủ tục, bị chi phối bởi thần linh, chưa có Đảng, chưa có cách mạng. Nay khác nhiều rồi, không còn hủ tục ghê rợn ấy nữa” - già Jim bộc bạch.
Tiếp câu chuyện, già Jim nói cuộc chiến của 2 làng kéo dài từ năm này sang năm khác, nợ máu ngày một chất cao như núi. Đến một lúc, người dân trong 2 làng nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục giết nhau thì không bao giờ trả hết nợ mà người trong làng sẽ chết hết, e rằng người sinh ra không kịp để chết trong những cuộc trả thù.
Chính vì thế, 2 làng cử người đi thương lượng. Tuy nhiên, già Jim nghe kể những cuộc thương lượng đã diễn ra trong không khí vô cùng căng thẳng và phải mất một thời gian dài mới đi đến thống nhất, kết thúc vòng luẩn quẩn trả nợ máu. Hai làng không còn đâm chém nhau mà kết nghĩa anh em. Trai gái 2 làng có thể tự do đi lại, yêu đương và 2 làng cũng không đòi hỏi của hồi môn như tục lệ nếu gia đình họ quá nghèo.
Để nêu cao tinh thần đoàn kết cũng như muốn nhắc nhở cho người dân trong làng và các thế hệ sau ghi nhớ, người dân 2 làng đã tìm 2 cây đa con, tráo đổi cho nhau trồng ở 2 thôn và gọi là “cây đa đoàn kết”.
Hiện tại, ngoài 2 cây đa vừa được công nhận là cây di sản, còn 2 cây đa lớn ở làng A Bíp nhưng nằm giữa rừng sâu, do dân làng A Bíp đã dời đi nơi khác định cư.
Dẫn chúng tôi đến 2 cây đa sộp cách thôn A Rầng 1 chừng 2 km, ông Đội chỉ cho chúng tôi dấu vết nền móng cho thấy nơi đây từng có người dân sinh sống. Ông nói ngày trước, 2 cây đa được trồng cách xa nhau khoảng 5 m, như một cổng làng, người dân 2 thôn khi đi thăm nhau thì qua cổng này.
Đến nay, 2 cây đa ngày một to lớn và dường như đã bít luôn cổng. Năm 2014, khi lập hồ sơ để công nhận di sản, cùng sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, người dân đã đóng góp xây dựng miếu thờ ở gần 2 cây đa để làm nơi thắp hương, thờ cúng.
Già làng Pơ Loong Jim cho biết trải qua nhiều thế hệ, dân làng A Rầng 1 luôn xem trọng 2 cây đa này. Trong làng cũng có những hình phạt rất nghiêm khắc đối với những người xâm hại cây nên người dân đều rất sợ và không dám bẻ dù chỉ một cành nhỏ.
Theo ông Bríu Liếc, Bí thư Huyện ủy Tây Giang, năm 2013, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường đến khảo sát 2 cây đa ở làng A Bíp và khoan đo thì xác định 703 tuổi. Độ tuổi này so với lời kể của các bậc cao niên rằng 2 cây đa đã trải qua 8-9 đời người là rất phù hợp. Ông Liếc cho biết huyện đã phát quang đường đến 2 cây đa này để sắp tới làm thêm hồ sơ đề nghị công nhận Cây Di sản. Hai cây đa này gần “con đường muối” ngày trước nhưng từ năm 1982, dân tìm ra con đường khác nên không đi con đường này nữa. “Trước năm 1982, tôi vẫn thường ngang qua và nghỉ ngơi ở đó” - ông Liếc kể.
Ông Bríu Liếc cho biết huyện Tây Giang đang vận động các xã tìm xem có thêm những cây gì quý để sắp tới mời Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường vào khảo sát, lập hồ sơ công nhận. Hiện huyện có 727 cây và đang phấn đấu làm sao có trên 1.000 Cây Di sản. Việc công nhận 2 cây đa sộp thành Cây Di sản rất có ý nghĩa trong việc giữ rừng ở địa phương.
“Ngày xưa, ông bà trồng rừng để giữ cây, giữ rừng nên cây nhiều chứ không ít như bây giờ. Khi tách huyện, chúng tôi tuyên truyền về bảo vệ phát triển rừng, từ đó mới có khẩu hiệu “Rừng còn, Tây Giang phát triển; rừng mất, Tây Giang suy vong” (khẩu hiệu đặt ở đầu huyện - PV)” - ông Liếc chia sẻ.
Theo già làng Pơ Loong Jim, chuyện về 2 cây đa di sản được những người lớn tuổi kể cho con cháu nghe nhằm giáo dục sự đoàn kết, không gây thù chuốc oán mà hãy biết tha thứ, thêm bạn bớt thù. Hai cây đa này rất linh thiêng. Mỗi lần có việc lớn, các gia đình đều ra miếu thờ thắp hương, cúng Giàng, cầu bình an. Thương lái đi ngang cũng thường dừng lại thắp hương cầu sự may mắn. Hằng năm, thôn A Rầng 1 lấy ngày 18 tháng giêng tổ chức lễ cúng với hy vọng xóm làng yên bình, không có “chết xấu” xảy ra.
“Tôi cũng không biết tại sao lấy ngày này làm lễ. Cái ngày tổ chức cúng này đã có từ bao đời. Có lẽ đây là ngày 2 làng kết nghĩa hoặc 2 làng tổ chức trồng cây đa nên lấy làm lễ để ghi nhớ” - già Jim suy đoán. (Người Lao Động 20/3) đầu trang(
Họ phục gần nửa tháng trời trong rừng sâu cứu voi bị bẫy cụt chân. Họ truy tìm tung tích thú bị bẫy trộm rồi bỏ tiền chuộc về để cùng nhau chăm sóc vết thương, nuôi nấng chúng như nuôi con mọn.
Bốn con voi ở Vườn quốc gia (VQG) Yok Don đã hy sinh cả tuổi xuân và hạnh phúc riêng để phục vụ con người trong suốt chiều dài tuổi thọ dài hơn đời người. Nhìn cách những nhân viên của vườn chăm sóc thú không khác chăm bầy trẻ nhỏ, những kẻ săn trộm hẳn mới thấy hết tội ác của chúng.
Mùng 2 tết năm ngoái, đội kiểm lâm rừng Yok Don cấp báo đến giám đốc VQG Yok Don, họ vừa phát hiện một con voi rừng bị những kẻ săn trộm bẫy ở khu vực buôn 6. Tình trạng của nó hiện rất trầm trọng: bị cụt mất một bàn chân, đứt mất một mảng vòi, vết thương chi chít khắp thân thể. Giám đốc lệnh ngay cho Y Mưh Byă, vốn là người chăm voi có thâm niên nhất trong vườn, tức tốc lên kế hoạch vào rừng đem cho được con voi bị thương về vườn.
Được kiểm lâm dọn đường, Y Mưh cùng với voi Bun Khăm băng rừng đến gần nơi voi rừng bị thương. Con voi này chỉ khoảng ba tuổi nhưng đã có cặp ngà nhọn và rất hung dữ. Do vậy, Y Mưh và voi Bun Khăm chỉ có thể tiếp cận nó từ xa, rồi rút dần khoảng cách mỗi ngày. Một “thầy”, một “trò” cứ lấy lều làm nhà, nhận đồ ăn tiếp tế cầm cự qua ngày.
Muỗi, vắt, nguy cơ bị thú dữ tấn công là chuyện nhỏ. Đến ngày thứ 11 thì người và voi của vườn đã có thể giao tiếp với voi rừng ở cự ly gần nhất. Y Mưh lúc này có thể cho nó ăn mía, ăn chuối để lấy lại sức. Bun Khăm cũng có thể hất thức ăn hay phun bùn cho voi bị thương.
Nhưng phải đợi đến ngày thứ 14 thì voi rừng mới hoàn toàn bị thu phục. Y Mưh lấy dây chằng vào cổ voi rừng để Bun Khăm kéo đi. Đi mới được một quãng, có lẽ do chiếc chân cụt bị đau mà voi rừng bất ngờ giở chứng, lồng lên đâm ngà vào Bun Khăm.
Y Mưh phải vội ra tay, cầm gậy đập mạnh voi rừng một cái, từ đó nó mới ngoan ngoãn theo Bun Khăm. Y Mưh kể: “Nhìn cảnh Bun Khăm nương cho voi con đi sao cho chân đỡ đau, giống hệt mẹ tập đi cho con, tôi thấy thương lắm. Khi biết voi con mệt, Bun Khăm cố ý đi chậm lại hoặc dừng lại. Đi chục cây số đường rừng như vậy mới về được đến vườn, vất vả vô cùng”.
Trong vườn thú ở Vườn quốc gia VQG Yok Don, bốn con voi phục vụ khách du lịch được cưng chiều đặc biệt vì nhiều lẽ. Lẽ dễ thấy nhất là chúng khôn ngoan, “người” nhất và nhiều hy sinh mà chúng dành cho con người. Bốn tên riêng được đặt theo tiếng Lào cho chúng đủ nói lên điều đó: Bun Khăm - cô gái vàng, Bun Khum - cô gái may mắn, Thon Khăm - chàng trai vàng và Thon Ngân - chàng trai bạc. Bốn con voi được giao cho bốn người gồm Y Mưh “lớn”, Y Mưt “nhỏ”, Y Vi và Y Xiên chăm nom.
Y Xiên kể tháng 4 và tháng 5 là mùa voi đòi hỏi bạn tình. Đàn voi cũng được thả vào rừng tìm bạn tình nhưng bao bận, chúng trở về mà vẫn… còn nguyên. Bun Khum 60 tuổi chưa một lần mang thai, “đời riêng” chẳng may mắn như tên gọi mà trải qua câu chuyện đau lòng. Năm đó, Bun Khum cũng được thả vào rừng tìm bạn tình. Có một voi rừng yêu “nàng” và tấn công nhưng bị “nàng” từ chối quyết liệt. Vậy là “chàng” voi kia nổi điên trả đũa bằng trận đòn tơi tả.
Y Xiên kể mọi người đón Bun Khum về mà ứa nước mắt. Đuôi nó bị cắn cụt, thân thể đầy vết ngà đâm rỉ máu. Cho đến bây giờ Bun Khum vẫn chịu thương tật với chiếc đuôi cụt lủn, kỳ quặc. Bun Khăm, năm nay 38 tuổi, vẫn chưa qua mối tình nào trong đời. Hai “chàng trai” Thon Khăm và Thon Ngân tháng 5 năm ngoái cũng được thả vào rừng tìm bạn tình mà vẫn chẳng thấy dắt về được “nàng” voi rừng nào.
Y Mưh lý giải một nguyên nhân rất thực tế của tình trạng những con voi vườn thú suốt đời độc thân này. Đó là chúng đã quá mệt với nhiệm vụ phục vụ con người, chẳng còn mấy hơi sức làm chuyện yêu đương. Thêm nữa, khi được thả vào rừng, hai chân chúng vẫn phải mang theo chiếc còng số 8, nhằm giảm tốc độ đi xa, đi nhanh và đi lạc mất. Trong khi đó, tập quán “yêu” của voi rất kín đáo, chúng chỉ giao phối ở nơi càng hoang vắng càng tốt.
Bốn con voi vườn thú hiền lành, tận tụy phục vụ du khách hằng ngày. Bốn con voi với bốn đôi mắt buồn vời vợi. Chẳng trách một nữ du khách đến vườn, ngắm đàn voi đi đã bật lên thảng thốt: “Sao bước đi của chúng vừa kín đáo vừa kiêu kỳ đến vậy. Đi kiểu này thì chỉ có những con voi… còn trinh”.
Sự hy sinh của voi, cái tình của voi dành cho người là vậy. Cho nên, với mọi người trong VQG, đặc biệt với bốn nhân viên được giao việc chăm voi thì chúng không chỉ là người thân mà còn là ân nhân của họ. Y Mưh nói: “Nhờ Bun Khăm mà tôi được làm cán bộ”.
Hôm nào thấy voi mình có vẻ “non hơi”, họ sốt sắng đốn thêm chuối, thêm mía cho voi ăn, trưa dắt voi ra sông tắm nếu voi không bận chở khách, nhìn mặt biết voi “khó ở” trong người thì thả voi vào rừng sớm để chúng tự ăn lá thuốc chữa bệnh… Mỗi năm, vào cuối tháng 3, họ đưa voi về nhà riêng, rước thầy cúng, cúng và khấn cho voi mạnh khỏe.
Ngoài voi, còn có nhiều loại thú rừng quây quần trong vườn thú của VQG Yok Don như ngựa, nai, heo rừng, công, rùa, nhím… Đằng sau khung cảnh thanh bình và chan hòa của muông thú nơi đây lắm khi là một số phận thú rừng ngàn cân treo sợi tóc. Chẳng hạn, con công bị cụt chân đang nhảy lò cò thoăn thoắt kia, cách đây bốn tháng, bị dân vùng ngoài vào săn trộm.
Một nhân viên của vườn đã bỏ tiền túi chuộc lại nó khi thấy nó nằm trong thúng của một người dân vừa mua nó định mang về nhà làm thịt. Hay như Y Danh Niê, ngày vắng khách làm nhân viên cây cảnh của khu vườn nhưng hễ vào rừng, gặp heo rừng hoặc khỉ con lạc mẹ, anh đều bồng chúng về vườn hoặc về nhà riêng đắp lá, mớm thuốc, cho ăn… Đến khi chúng khỏe mạnh thì anh mang cho người nào muốn nuôi hoặc đem thả vào rừng.
Ở VQG, bầy thú như đàn con chung của mọi người. Từ ông giám đốc vườn, anh nhân viên phòng kỹ thuật, chị bếp, cô tiếp tân, anh bảo vệ… đều tường tận lai lịch của từng con thú, đều biết cách chăm sóc chúng và cùng chia sẻ trách nhiệm này. Rất tự nhiên, họ cho ăn rồi cưng nựng gọi chúng là “em”, là “con”. Vài người trong số họ có thể leo cây như sóc nhưng tuyệt nhiên chưa ai biết cầm đến cây súng săn hay giết thịt một con thú rừng.
“Mình coi chúng nó như người thì chúng nó quý mình thôi. Như em này nè, bệnh mà không than thở được, tội chưa!” - Thu Hoàng, hướng dẫn viên của vườn, vừa đút nước cơm pha đường cho con heo rừng bị bệnh, vừa nói nựng. (Pháp Luật TP.HCM 20/3) đầu trang(
Ngày 19/3, tại bờ biển thôn An Cường, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi), Đồn Biên phòng Bình Hải phối hợp với Chi cục Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi tiến hành thả 4 cá thể rùa biển (gồm 1 cá thể đồi mồi và 3 cá thể vích) về môi trường tự nhiên. Đây là lần thả rùa về biển với số lượng lớn nhất từ trước đến nay.
4 cá thể rùa biển có tổng trọng lượng 31kg, với kích thước mai từ 430-500mm; thuộc loại Bò sát nằm trong danh sách các loài có nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ lớn (CR).
Trước đó, vào khoảng 16 giờ ngày 18/3, trong quá trình tuần tra địa bàn, cán bộ đồn Biên phòng Bình Hải phát hiện và bắt giữ đối tượng Phạm Chăm (1961) trú thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn đang vận chuyển trái phép 4 cá thể rùa biển còn sống.
Theo lời khai của đối tượng này thì ông nhận rùa từ một người tên Nghĩa để vận chuyển về chợ bờ Định Tân, xã Bình Châu để tiêu thụ. (Vietnam + 19/3) đầu trang(
Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam vừa nhận được đề nghị từ cơ quan quản lý của Mỹ, phối hợp xây dựng và đưa loài ốc Anh vũ – loại động việt biển có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới vào danh mục quản lý của Cites.
Trong công văn gửi Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan), Cơ quản lý Công ước về buôn bán quốc tế về các loại động thực vật hoang dã nguy cấp Việt Nam (Cites Việt Nam, Bộ NN&PTNT) đề nghị, cung cấp các số liệu về tình hình hoạt động xuất, nhập khẩu loại ốc Anh vũ (cả hợp pháp, bất hợp pháp) trong giai đoạn 2011-2015.
Đây là một trong những cơ sở để Cites Việt Nam kiểm soát và đưa ốc Anh vũ vào phụ lục Cites và bảo vệ nguồn tài nguyên biển Việt Nam, góp phần thực thi Cites và các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ động vật hoang dã.
Ốc Anh vũ là loại động vật biển, phân bố ở khu vực Thái Bình Dương và số lượng còn ít, bị đe dọa tuyệt chủng. Tại Việt Nam, dù dữ liệu khoa học còn thiếu, nhưng số lượng ước tính còn rất ít.
Theo Quyết định 82 (năm 2008) của Bộ NN&PTNT, về việc công bố Danh mục các loại thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển, ốc Anh vũ năm trong Bảng 2- là loài có nguy cơ tuyệt chủng cực kỳ lớn. Loại ốc này được phân bố ở khu vực Khánh Hòa, Bà Rịa-Vũng Tàu. (Tiền Phong 21/3) đầu trang(
Khi mà chúng ta vẫn đang ra sức tuyên truyền, giáo dục, kêu gọi bảo tồn các loài động vật quý hiếm, thì trên mạng xã hội cũng như một số nơi lại diễn ra công khai việc rao bán động vật quý hiếm.
Thời gian gần đây, không ít người đã hưởng ứng một trào lưu nuôi thú cưng “mới và độc”, đó là các loài động vật hoang dã, quý hiếm để khẳng định sở thích, cá tính và đẳng cấp của mình.
Tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, phóng viên đã liên hệ với một trong những đầu mối có tiếng trên thị trường về động vật hoang dã theo số điện thoại 01207.809.xxx. Chủ hàng tên A. K cho biết có thể cung cấp các loài động vật hoang dã, để làm “thú cưng” theo đơn đặt hàng của khách hàng. Thậm chí, trên tài khoản mạng xã hội của A.K, một loạt hình ảnh về động vật quý hiếm đã được đăng tải lên, nhận được sự quan tâm của rất nhiều người.
Chẳng hạn lời quảng cáo từ chủ hàng như “Sóc lửa Việt Nam baby đang bú sữa và tập ăn, tặng dây xích và túi đi chơi nhé. Giá: 3 triệu đồng /bé” đã ngay lập tức thu hút được sự chú ý và theo dõi của hàng trăm người. Chưa kể, cách thức rao bán công khai và tinh thần hào hứng từ người mua hàng đã khiến thị trường ”nhạy cảm" này chẳng khác nào một thị trường hàng hóa thông thường, bất chấp nhiều của quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm.
Đáng chú ý, nhiều loại động vật có nguy cơ tuyệt chủng cao như cá sấu đá, khỉ lùn Nam Mỹ… đang được rất nhiều người săn tìm. Cụ thể, khỉ lùn Nam Mỹ (tên khoa học là khỉ Marmoset) được rao bán với giá từ 8.000 USD/con. Đây là loài khỉ, thuộc bộ linh trưởng nhỏ bé nhất. Chiều dài của một con Marmoset trưởng thành chỉ 12 cm, với trọng lượng khoảng 170 gr.
Khỉ Marmoset thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Theo người bán, khỉ này chỉ sống trong khu rừng nhiệt đới Amazon, với từng bầy nhỏ, khoảng 5-6 con. Do vậy, khi nuôi nhốt, khỉ Marmoset có thể sẽ trở nên rất dữ tợn, thậm chí khi bước vào thời kỳ giao phối và chúng có thể trở nên nguy hiểm khi tấn công cả chủ nuôi. Tuy nhiên, bất chấp nhiều nguy hiểm, nhiều khách hàng vẫn “săn tìm” mua loài khỉ này.
Bên cạnh đó, một số loài được trong Danh mục động vật hoang dã thông thường, ít nguy cấp hơn cũng được rao bán công khai như Sóc đỏ (tên khoa học là Callosciurus finlaysoni), Sóc bay lông tai (tên khoa học Belomys pearsonii) với mức giá từ 1-3 triệu đồng/con. Cá sấu đá Tam Đảo, lứa từ 5-7 kg được rao bán với mức giá chỉ hơn 1 triệu đồng/con, kỳ nhông có giá từ 3-5 triệu đồng/con (kỳ nhông nếu đang có bầu, giá sẽ cao hơn), cầy Mangut có giá khoảng 2 triệu đồng/con, sóc hồng Thái Lan có giá 1,5 triệu đồng/con.
Tại Hà Nội, từ nhiều năm nay, những chợ chim cảnh như Yên Phúc (Hà Đông) hay chợ chim phố Hoàng Hoa Thám đã trở thành địa điểm ưa thích của nhiều người chơi chim. Chim được bán ở đây có tới vài chục loài khác nhau, giá cũng đa dạng từ mức vài trăm ngàn cho tới cả chục triệu đồng. Ngay cả đối với phóng viên, sau khi tìm hiểu Công ước CITES về các loài động vật hoang dã cũng không thể phân biệt được bằng mắt thường đâu là loài bị cấm mua bán, đâu là loài vật thông thường.
Để đánh giá được chính xác, phóng viên đã tìm hiểu qua Tổ pháp lý của Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS Việt Nam) thì cơ quan này cũng yêu cầu phải đưa ra được tên khoa học của con vật. Trong khi, đối với đại đa số người dân, những con vật vốn được gọi theo tên dân dã, giờ nếu tìm được tên khoa học của chúng trong bảng tra cứu có tới hàng triệu mục thì đúng là khó như... lên trời!
Theo đánh giá từ WCS Việt Nam, chim Sâm Cầm (tên khoa học là Fulica atra) là một loài chim thuộc họ Gà nước (Rallidae), hiện đang bị săn bắt rất nhiều tại Hà Nội. “Mặc dù, việc rao bán Sâm Cầm chưa bị chịu chế tài nào theo các quy định của pháp luật, nhưng nếu trong trường hợp một người bị bắt quả tang khi đang săn, bắt Sâm Cầm từ trong rừng đặc dụng ra, thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật - Luật Bảo vệ phát triển rừng theo Điều 15- Nghị định 157/2013/NĐ-CP”, đại diện WCS Việt Nam nhấn mạnh. Điều này cho thấy, việc bắt, mua bán, nuôi nhốt động vật cảnh quý hiếm thật "mong manh" bởi việc xác định loài, tìm hiểu quy định pháp luật là rất khó.
Nếu như trước đây, các hành vi phạm pháp về mua bán động vật hoang dã diễn ra một cách lén lút, cả người mua lẫn kẻ bán đều phải ẩn mình thì nay việc buôn bán đã xảy ra công khai trên mạng, song việc phát hiện và xử lý các trường hợp như vậy lại không hề dễ dàng. Thực tế, nhiều chủ hàng đã sử dụng một số công cụ như Facebook, Viber, Zalo, Kakaotalk… có tính “ẩn danh” rất cao.
Khi bị phát hiện, đối tượng có thể thay đổi tài khoản và tạo lập một tài khoản khác để tiếp tục các hành vi mua bán của mình. Thậm chí, việc sử dụng tên ảo, thay đổi liên tục số điện thoại và địa chỉ hộp thư điện tử, còn có thể gây nhiễu loạn thông tin, đặt nhiều thách thức cho các cơ quan thi hành luật pháp.
Hiện nay, có một thực tế là đại đa số người dân không thể nắm rõ được liệu rằng những con vật đang bán trên thị trường có nằm trong quy định cấm hay không. Trả lời về vấn đề này, đại diện WCS Việt Nam cho hay: “Ngoài cách cho xem giấy phép, thì rất khó phân biệt (hình thức bên ngoài) đâu là động vật quý hay động vật thông thường được phép mua bán. Tốt nhất, để tránh những phiền phức không đáng có với cơ quan thực thi pháp luật, người dân nên tránh tham gia mua bán, săn bắt”. (Hải Quan 21/3) đầu trang(
Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) tổ chức khai giảng khóa tập huấn “Kỹ năng thu thập, quản lý và phân tích thông tin về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã” cho cán bộ, chiến sỹ của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và Công an TP Hà Nội.
Ngày 21-3, tại Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu Tội phạm học và Điều tra tội phạm, Học viện CSND đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn động vật hoang dã (WCS) tổ chức khai giảng khóa tập huấn “Kỹ năng thu thập, quản lý và phân tích thông tin về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã” cho cán bộ, chiến sỹ chuyên trách về phòng chống tội phạm môi trường của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường và Công an TP Hà Nội.
Khóa tập huấn được tổ chức với mục đích nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường nói chung, các loại tội phạm buôn bán động vật hoang dã trái phép nói riêng, đồng thời đào tạo, nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng thu thập, quản lý và phân tích thông tin về tội phạm liên quan đến động vật hoang dã cho cán bộ thực thi pháp luật trong lĩnh vực này.
Khóa tập huấn sẽ diễn ra trong 2 ngày 21 và 22-3, các học viên sẽ được các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực này cung cấp những kiến thức phong phú cả về lý thuyết lẫn thực hành. (Công An Nhân Dân 22/3; Kinh Tế Và Đô Thị 21/3) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thông qua các chủ rừng và dự án bảo vệ, phát triển rừng, trồng rừng sản xuất theo Quyết định 147, dự án ODA... Nghệ An có 47.500 hộ gia đình (trong đó có 16.500 hộ nghèo ở vùng núi cao) với 201.879 lao động tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện Nghị quyết 30a/CP, thời gian qua, Nghệ An đã tiến hành cấp hơn 1.337 tấn gạo cho đồng bào dân tộc các huyện nghèo để hỗ trợ công tác bảo vệ rừng.
Việc thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ rừng và phát triển rừng không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn có ý nghĩa lớn về môi trường ứng phó với biến đổi khí hậu. (Báo Nghệ An 21/3) đầu trang(
Sáng ngày 19/3, hơn 500 tình nguyện viên đã tham gia chương trình trồng rừng do Quỹ môi trường Aeon, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, ĐH Quốc gia Hà Nội và Vườn quốc gia Ba Vì phối hợp tổ chức, nâng số cây xanh do Quỹ này trồng mới tại Việt Nam lên tới 8,5 vạn cây…
Đến dự Lễ khai mạc có ông Jun Yanagi, Công sứ Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam; ông Okada Takuya, Chủ tịch Tập đoàn Aeon, Chủ tịch Quỹ môi trường Aeon; đại diện lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội.
Phát biểu tại buổi lễ, ông Okada Takuya cho biết: Phát động trồng cây tại Vườn quốc gia Ba Vì đã khởi đầu từ năm 2012. Tổng số lượng cây trồng trong 2 năm qua do Quỹ môi trường Aeon tài trợ tại Vườn quốc gia Ba Vì đã lên đến 10 nghìn cây và lần trồng này thêm 5.000 cây.
Quỹ môi trường Aeon bắt đầu trồng cây tại Việt Nam vào năm 2010 và trong 3 năm (2010-2012) đã trồng tại Huế là 70 nghìn cây. Như vậy tổng số cây mà Quỹ phát động trồng tại Hà Nội và Huế là 85 nghìn cây. “Quỹ môi trường của chúng tôi mục đích vì hòa bình, tôn trọng con người và đóng góp cho xã hội. Quỹ được thành lập từ năm 1990 và đã kỷ niệm 25 năm thành lập”, ông Okada Takuya nói.
Ông Hoàng Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định: Rừng nói chung và rừng đặc dụng của Việt Nam nói riêng có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng đối với môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, rừng Việt Nam đang phải đối mặt với sự suy thoái do áp lực tăng dân số và phát triển kinh tế; khai thác quá mức tài nguyên, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phát triển đô thị, khai thác khoáng sản, ô nhiễm.
Trong bối cảnh đó, Chương trình hợp tác trồng rừng là có ý nghĩa nhằm thúc đẩy và khuyến khích các hành động chung sức bảo vệ môi trường, quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Chương trình hợp tác giữa Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, ĐH Quốc gia Hà Nội và Vườn quốc gia Ba Vì là một chương trình hợp tác nhiều năm nhằm trồng và chăm sóc bảo vệ 35ha các loài cây bản địa có ở Ba Vì để làm giàu thêm rừng của Vườn quốc gia hùng vỹ và linh thiêng.
Những đóng góp thiết thực của nhân dân địa phương, các cán bộ, nhân viên Vườn quốc gia Ba Vì và đặc biệt là của các bạn Nhật Bản, các tình nguyện viên của Aeon, của ĐH Quốc gia Hà Nội trong chương trình giao lưu này là vô cùng có ý nghĩa.
“Chương trình trồng rừng ngày hôm nay là tiếp nối các hoạt động đã triển khai năm 2014 và 2015. Chúng tôi hy vọng sự hợp tác của chúng ta sẽ thức đẩy hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt là phục hồi hệ sinh thái rừng để đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển bền vững, giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu”, ông Thắng nhấn mạnh.
Trước đó, Tập đoàn Aeon đã tổ chức trồng hàng nghìn cây quanh Trung tâm thương mại Aeon Mall Long Biên; tổ chức nhặt rác quanh khu vực Hồ Gươm… thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên, người nước ngoài tại Hà Nội góp phần tuyên truyền bảo vệ môi trường. (Tiền Phong 20/3) đầu trang(
Hiện nay tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã Minh Tiến có 1.575 ha, trong đó rừng kinh tế có 622 ha, riêng năm 2016 này xã được giao trồng mới 80 ha. Đến thời điểm này bà con nhân dân đã trồng được 63ha với các loại cây chủ yếu là quế, keo và cây bản địa.
Có 5,5 ha rừng, những năm trước đây gia đình ông Hứa Kim Mùi ở thôn Khau Nghiềm xã Minh Tiến huyện Lục Yên chỉ trồng cây keo, cuối năm 2014 thu hoạch nhưng vì không thuận tiện cho việc vận chuyển và khai thác nên ông chỉ thu được 90 triệu đồng. Đến đầu năm 2015 ông chuyển sang trồng cây quế nhưng do thời tiết quá nóng nên cây chết nhiều, lúc ấy ông Mùi bị thiệt hại khoảng 20 triệu đồng.
Năm nay ông chuyển sang trồng quế vì theo ông cây quế hiện nay có giá trị cao hơn cây keo và càng để lâu giá trị lại càng lớn, cộng thêm chủ trương của nhà nước cũng đang vận động nhân dân tập trung trồng cây quế vì vậy tất cả diện tích rừng của gia đình đã được phủ xanh bởi gần 24.000 cây quế.
Tiếp tục phát huy lợi thế về lâm nghiệp, đẩy mạnh trồng rừng vụ xuân 2016, ngay từ cuối năm 2015, xã Minh Tiến đã tăng cường chỉ đạo trồng rừng sản xuất theo hướng khai thác đến đâu, trồng mới đến đó; kết hợp trồng rừng với khoanh nuôi, chăm sóc, bảo vệ rừng.
Các cán bộ được phân công phụ trách thôn đã tích cực vận động, hướng dẫn nhân dân trồng các loại cây vừa có hiệu quả, vừa nhanh chóng phủ xanh đất trống, đồi trọc như keo, quế, trồng cây gỗ lớn, kéo dài thời gian trồng rừng để có hiệu quả kinh tế cao hơn trên một diện tích. Theo tổng hợp của xã, năm 2015 bà con toàn xã đã khai thác 3.050 m3 gỗ rừng trồng, thu về 305 triệu đồng.
Năm 2016 huyện Lục yên có kế hoạch trồng mới 2.700 ha rừng sản xuất, tăng 400 ha so với năm 2015, trong đó riêng vụ xuân huyện phấn đấu hoàn thành 1.700 ha. Các loại cây được khuyến cáo nhân dân trồng chủ yếu là quế, keo và một số cây bản địa khác.
Để đẩy mạnh công tác trồng rừng, huyện đã tổ chức kiểm tra, rà soát các vườn ươm cây giống để đánh giá khả năng cung ứng giống tại địa bàn, hiện nay toàn huyện có 5 vườn ươm cây lâm nghiệp chủ lực với lượng cây giống ước tính khoảng 1,7 triệu cây, đáp ứng khoảng 1.000 ha rừng trồng.
Ngoài ra huyện chỉ đạo các xã gieo ươm tại các hộ dân đạt khoảng 700 ha. Trước đó Phòng nông nghiệp huyện cũng đã tổ chức một số mô hình trồng thử nghiệm giống cây mới, tổ chức hội thảo để nhân dân được trực tiếp đánh giá hiệu quả mang lại. Bên cạnh đó quy hoạch thành khu vực trồng tập trung như: cây tre mai tại các xã Lâm Thượng, Tân Phượng, Mai Sơn, Khánh Thiện; cây măng Bát độ tại xã Động Quan; cây quế tập trung tại các xã dọc quốc lộ 70.
Để khuyến khích phát triển kinh tế đồi rừng, bà con nông dân Lục Yên còn nhận được sự hỗ trợ từ nhà nước như: Đề án phát triển tre măng Bát độ được hỗ trợ 50 ha và hỗ trợ trồng 100 ha cây quế, mức hỗ trợ 3 triệu đồng/ha. Trên cơ sở hỗ trợ này, huyện đã phân bổ về các địa phương, phù hợp với điều kiện, khả năng và nhu cầu của người dân.
Đến nay toàn huyện đã trồng được khoảng 50% diện tích, sau khi kết thúc trồng lúa, ngô và các cây màu vụ xuân, thời điểm này bà con ở hầu hết các nơi đều đang dồn sức cho việc trồng rừng vụ xuân, phấn đấu hoàn thành kế hoạch đề ra trong tháng 4. Với cách chỉ đạo quyết liệt, sự nhập cuộc của các cấp, các ngành và người dân, công tác trồng rừng năm 2016 của huyện Lục Yên chắc chắn sẽ hoàn thành tốt kế hoạch, phấn đấu tăng diện tích che phủ rừng lên 67%. (Hội Nông Dân Việt Nam 18/3) đầu trang(
Ban quản lý đường sắt đô thị Hà Nội cho biết, để phục vụ việc thi công nhà ga số 6 và số 7 dự án tuyến đường sắt đô thị đoạn Nhổn - ga Hà Nội, đơn vị thi công sẽ thực hiện dịch chuyển, cắt tỉa một số cây xanh trên đường Xuân Thủy (quận Cầu Giấy).
Ông Lê Huy Hoàng, Phó trưởng Ban Quản lý Đường sắt đô thị Hà Nội cho hay, kế hoạch dịch chuyển, cắt tỉa cây đã được Sở Xây dựng thông qua và cấp phép, thực hiện từ ngày 22-3 đến ngày 10-4. Theo đó, đơn vị thi công sẽ dịch chuyển, cắt tỉa 64 cây.
Cụ thể, trên vỉa hè đường Xuân Thủy, đoạn tòa nhà Indochina có 22 cây; đoạn trước cửa Đại học quốc gia có 18 cây; đoạn đối diện tòa nhà FLC có 11 cây; trước tòa nhà FLC có 13 cây. (An Ninh Thủ Đô 19/3) đầu trang(
Giải quyết vụ việc tranh chấp về đất đai nhưng TAND Thanh Sơn lại không đề cập đến nguồn gốc đất, thời điểm xác định sử dụng đất chưa rõ ràng...
Càng bất ngờ hơn khi tòa tuyên bố hủy cả ba giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSNĐ) của người dân.
Theo trình bày của bà Đinh Thị Vịnh (SN 1957, trú tại khu 4, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ), năm 1998, gia đình bà được UBND huyện Thanh Sơn cấp GCNQSDĐ tại tờ bản đồ số 6051, số thửa 24, diện tích 37,8 ha đất lâm nghiệp, mục đích khoanh nuôi tại Khu Đá Giã, xã Yên Lương, huyện Thanh Sơn. Giấy chứng nhận mang tên Hà Ngọc Yên (chồng bà Vịnh).
Năm 2005, gia đình bà Vịnh phát hiện ông Đinh Văn Cởi (SN 1965, trú tại khu 5, xã Yên Lương) vào phát cây trồng keo trên phần đất của gia đình bà. “Thời điểm đó, tôi có lên báo với ông Đinh Hữu Ý, khi đó là cán bộ kiểm lâm xã Yên Lương đồng thời có lên tận nhà nói với gia đình ông Cởi. Do là chỗ họ hàng nên tôi không làm lớn chuyện và thống nhất đến cuối mùa khi thu cây, ông Cởi sẽ trả lại đất”, bà Vịnh kể.
Trong khi ông Cởi chưa trả đất thì đến năm 2008, gia đình bà lại bất ngờ phát hiện ông Hồ Ngọc Thái (SN 1966, trú tại TT Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn) vào phát cây trong diện tích đất lâm nghiệp của gia đình bà được giao khoanh nuôi. Qua tìm hiểu, gia đình bà Vịnh mới biết diện tích đất này do hộ ông Nguyễn Anh Bảo (SN 1945, trú tại Khu 5, xã Yên Lương) chuyển nhượng cho ông Thái vào năm 2007.
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện nay, toàn bộ thửa đất số 24 chỉ có 28,6 ha. Trong đó, hộ bà Vịnh chỉ còn đang sử dụng 5,2 ha. Hộ ông Bảo sử dụng vào phần đất nhà bà Vịnh 13,2 ha (sau đó chuyển nhượng cho ông Thái); còn lại 10,2 ha do hộ ông Cởi sử dụng.
Những tưởng yêu cầu đòi đất của bà Vịnh sẽ được các cơ quan đại diện pháp luật xem xét công bằng, khách quan. Thế nhưng, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm tranh chấp về quyền sử dụng đất ngày 31/12/2015, TAND huyện Thanh Sơn lại bất ngờ tuyên bố bác đơn yêu cầu khởi kiện của bà Vịnh, giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất mà các hộ đã lấn chiếm của gia đình bà.
HĐXX xác định, cả ba hộ dân đều được UBND huyện Thanh Sơn cấp GCNQSDĐ, tuy nhiên ông Bảo, ông Cởi không làm vào phần đất đã được cấp GCNQSDĐ (hộ ông Bảo thửa số 21, hộ ông Cởi thửa số 22) mà làm vào phần đất nhà bà Vịnh (thửa số 24). Nhưng không biết căn cứ vào đâu, tòa lại cho ông Bảo, ông Cởi đều đã sử dụng phần diện tích tranh chấp (nằm trong GCNQSDĐ của gia đình bà Vịnh) ngay từ năm 1990 (?).
Chính vì thế, tòa sơ thẩm cho rằng khi giao đất cho hộ gia đình bà Vịnh, UBND huyện Thanh Sơn không thu hồi diện tích đất mà hộ gia đình ông Bảo, ông Cởi đang canh tác là vi phạm vào điều 21, Luật Đất đai 1993: “Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó”.
Qua phần dẫn giải ở trên có thể thấy rằng, căn cứ mấu chốt để TAND huyện Thanh Sơn tuyên bác yêu cầu đòi đất của hộ bà Vịnh là do các hộ ông Bảo, ông Cởi đã sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1990. Thế nhưng, thực tế xác minh, điều tra của phóng viên lại hoàn toàn không phải như vậy.
Theo tìm hiểu của PV, toàn bộ các thửa đất số 21,22,24 (cấp cho các hộ ông Bảo, ông Cởi, bà Vịnh) trước năm 1994 đều thuộc quản lý của đội 8 lâm nghiệp (còn gọi là lâm trường Tam Thắng). Sau đó lâm trường mới bàn giao cho UBND xã Yên Lương quản lý. Như vậy, không thể có chuyện ông Bảo, ông Cởi vào sử dụng đất từ năm 1990 theo kết luận của tòa.
Điều này cũng được ông Đinh Lương Bàn (cán bộ địa chính xã Yên Lương từ năm 1990-2005) cùng nhiều công nhân lâm trường hiện đang sinh sống ngay tại xã Yên Lương xác nhận. “Sau khi bàn giao cho xã quản lý, do chưa có chủ trương chính sách của nhà nước nên xã cũng không có quyền và cũng chưa giao đất cho bất kỳ hộ dân nào”, ông Bàn khẳng định.
Điều 6 Luật đất đai năm 1993 cũng quy định rất rõ: “Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích giao, hủy hoại đất”.
Đến năm 1994, khi Chính phủ ban hành Nghị định 02/NĐ-CP tổ chức giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân, UBND các xã của huyện Thanh Sơn phối hợp với Hạt kiểm lâm, phòng địa chính mới tiến hành các thủ tục để giao đất cho dân.
Cũng theo tìm hiểu và đối chiếu với bản đồ thì, năm 1997, ông Bảo có trồng keo nhưng là trồng ở thửa đất số 21 (nhà ông Cởi) chứ không phải ở phần đất nhà bà Vịnh. Ngoài ra, trên hồ sơ giao đất lâm nghiệp cho ba hộ dân cũng thể hiện địa điểm giao đất nằm ở vị trí khác nhau. Cụ thể, hộ bà Vịnh tại khu Đá Giã, hộ ông Bảo tại khu Bù Dụ và hộ ông Cởi tại khu Gốc Mít. Điểm khác biệt nữa là, phần đất giao cho hộ bà Vịnh là đất khoanh nuôi, trong khi đó, đất giao cho hộ ông Bảo lại là đất trống.
Bản thân đơn xin đề nghị cấp đất (ngày 20/4/1996) và đơn đề nghị xác định lại ranh giới đất đồi rừng do chính ông Bảo viết gửi UBND huyện Thanh Sơn cũng một lần nữa xác nhận, đất mà ông được giao là “đất trống đồi trọc” tại đồi Bù Dụ.
Theo ông Nguyễn Tiến Hiếu, hạt trưởng hạt kiểm lâm Thanh Sơn thì: “Chỉ có đất trống đồi trọc, người dân mới được phép trồng rừng tái sinh còn khu vực khoanh nuôi bảo vệ chủ yếu là giữ nguyên hiện trạng. Nếu trong trường hợp trên đất người dân đang trồng keo thì không ai đưa vào khoanh nuôi”. Như vậy, không thể có việc ông Bảo trồng keo trên phần đất hiện đang tranh chấp từ trước thời điểm giao đất được.
Có thể thấy, việc ông Bảo, ông Cởi sử dụng đất không đúng mục đích, không đúng phần đất được nhà nước giao là vi phạm các quy định về đất đai. Việc ông Thái tiếp tục cải tạo, đào ao trên phần đất đang tranh chấp càng khiến cho sự việc trở nên phức tạp.
Thiết nghĩ, các cơ quan chức năng, tòa án cấp trên cần điều tra, xác minh, làm rõ việc tranh chấp đất giữa các hộ dân nói trên, đảm bảo việc xét xử công bằng, khách quan, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Trong quá trình tìm hiểu, xác minh làm rõ vụ việc, để có thông tin chính xác, khách quan, phóng viên đã liên hệ, đặt lịch làm việc với UBND huyện Thanh Sơn, phòng TNMT huyện Thanh Sơn. Thế nhưng, cơ quan chuyên môn của huyện lại lấy lý do: “Vụ việc đang được tòa án giải quyết nên không cung cấp thông tin cho báo chí ?”.
Điều này khiến cho người dân đặt thêm nghi vấn, phải chăng do ông Thái có người thân là cán bộ tòa án huyện Thanh Sơn, phòng TNMT huyện Thanh Sơn nên vụ việc mới chưa được làm sáng tỏ?
Theo quy định của Luật Đất Đai 2013 thì: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất... là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất”. Đây không phải là quyết định hành chính nên việc TAND huyện Thanh Sơn tuyên hủy GCNQSDĐ của 3 hộ dân là không đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền của tòa án. (Pháp Luật + 19/3) đầu trang(
Đất lâm nghiệp của 98 hộ dân xóm 16, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An đã sinh sống và sản xuất từ năm 1993 đến nay bỗng nhiên đột ngột nhận được quyết định thu hồi mà không có phương án kiểm đếm giải phóng mặt bằng khiến người dân lo lắng khi đột ngột mất đất.
Theo kiến nghị của hàng 98 hộ dân tại xóm 16, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An thì từ năm 1980 đến những năm 1994 nghe theo tiếng gọi của địa phương về việc xây dựng vùng kinh tế mới nên 98 hộ dân này từ nhiều địa phương. Trong đó, chủ yếu quê tại xã Quỳnh Liên, huyện Quỳnh Lưu lên vùng này để xây dựng vùng kinh tế mới. Sau hàng chục năm các hộ dân đã bỏ sức, bỏ tiền để cải tạo vùng đất cằn cỗi đầy sỏi đá này thành nơi sinh sống và đất trồng cây nông nghiệp, ao hồ chăn nuôi.
Ông Nguyễn Văn Phì lo lắng khi toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp của gia đình mình bị thu hồi mặc dù đã ổn định sản xuất hàng chục năm nay.
Để ghi nhận công sức của người dân nêm năm 2005, chính quyền địa phương đã lập danh sách để người dân đăng ký quyền sở diện tích đất của gia đình mình tại đây. Các hộ dân cũng đã nhanh chóng làm các thủ tục theo đúng yêu cầu và một số đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng tại đây.
Người dân đang sản xuất ổn định nên năm 2014 chính quyền địa phương xã và huyện còn làm tờ trình cùng danh sách cụ thể các hộ dân để cấp trên đồng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ dân tại xóm 16, xã Quỳnh Lâm. Nhưng khi mọi người đang khấp khởi vui mừng vì được chứng nhận nơi ở và đất sản xuất ổn định lâu dài thì ngày 16/10/2015 bất ngờ nhận được văn bản số: 249/UBND xã Quỳnh Lâm về việc thu hồi đất khu vực Hòn Đầm và Hòn Phượng bàn giao đất quốc phòng của Lữ đoàn 16 đang quản lý, sử dụng giao cho Ban CHQS huyện Quỳnh Lưu quản lý, sử dụng.
Bản đồ quy hoạch 3 loại đất rừng theo Quyết định của UBND tỉnh Nghệ An ngày 15/08/2014 vẫn thể hiện rõ diện tích đất tại khu vực Hòn Phượng và Hòn Đầm, xóm 16, xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu thuộc diện tích đất lâm nghiệp mà không thể hiện là đất quốc phòng.
“Năm 1982 gia đình tôi lên đây xây dựng vùng kinh tế mới theo tiếng gọi của địa phương. Lúc đó đúng là đang có một đơn vị quân đội ở đây nhưng sau đó họ chuyển đi dần ra Thanh Hóa nhường lại đất cho người dân sản xuất. Đến năm 1993 thì đơn vị này chuyển đi hết và từ đó đến nay không hề có đơn vị nào vào đây xây dựng hay sử dụng gì cả mà nay văn bản lại nói đang do Lữ đoàn 16 quản lý và sử dụng thì vô lý quá. Trên diện tích đó hàng chục hộ dân xóm tôi phải đổ bao mồ hôi, tiền của cải tạo đất mới trồng được cây. Nay cần cho quốc phòng chúng tôi sẵn sàng nhường nhưng ít nhiều phải lo nơi tái định cư, đất sản xuất cho chúng tôi không thì chúng tôi biết sản xuất ở đâu”, ông Nguyễn Văn Phì (SN 1939, trú tại xóm 16, xã Quỳnh Châu) nói.
Chung nỗi lo lắng anh Nguyễn Đình Tuần (SN 1980, xóm trưởng xóm 16) cho biết: “Nói thu hồi đất cho quốc phòng nhưng khi gửi văn bản xuống chỉ có mỗi duy nhất mỗi văn bản của xã mà không hề có văn bản đính kèm nào của cấp trên hay của đơn vị quốc phòng nào. Ngoài diện tích thu hồi là đất lâm nghiệp và diện tích đất nghĩa trang, hồ cấp nước cho gần 40ha đất sản xuất nông nghiệp cho người dân. Nếu đúng quốc phòng cần lấy đất thật cũng phải có biện pháp bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người dân chứ. Nếu nay chuyển đi thì chúng tôi biết di dời mồ mả ông bà tổ tiên của chúng tôi đi đâu, đập nước không có chúng tôi lấy nước đâu để sản xuất với diện tích đất nông nghiệp còn lại. Hơn nữa trên bản đồ hiện trạng đất sử dụng của xã Quỳnh Lâm cũng không thấy thể hiện đất quốc phòng trên tổng toàn bộ diện tích đất xóm 16. Chỉ mong cấp chính quyền có biện pháp hợp lý cho người dân chúng tôi yên tâm sản xuất”.
Theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất của xóm 16, xã Quỳnh Lâm dựa theo Bản đồ quy hoạch 3 loại đất rừng theo quyết định của UBND tỉnh Nghệ An ngày 15/08/2014 cho thấy diện tích đất lâm nghiệp tại Hòn Phượng, Hòn Đầm của xóm 16 nơi được cho là đất quốc phòng không thể hiện là đất quốc phòng.
Diện tích thu hồi được đưa ra đó chiếm đến hơn 1/3 tổng diện tích đất của xóm 16, xã Quỳnh Lâm. Số diện tích trên chủ yếu là đất lâm nghiệp và đất ao hồ. Trong đó, chiếm đến hơn 80% tổng toàn bộ diện tích đất sản xuất lâm nghiệp của xóm 16, xã Quỳnh Lâm.
“Đất của gia đình tôi lên đây từ năm 1993 và cải tạo được 2681 m2 đất lâm nghiệp tại khu vực hòn Phượng. Năm 2006, UBND huyện khi đó là ông Hồ Phúc Hợp làm Chủ tịch huyện đã ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích trên cho gia đình tôi. Nay đột ngột có quyết định thu hồi toàn bộ diện tích trên mà chưa đền bù nên gia đình tôi đang rất lo lắng. Toàn bộ thu nhập gia đình chủ yếu dựa vào diện tích đất lâm nghiệp trên nên nếu bị thu hồi gia đình tôi không biết sản xuất ở đâu”, anh Đậu Văn Triều (trú tại xóm 16, xã Quỳnh Lâm) nói.
Trong khi người dân xóm 16 đang bất ngờ về quyết định thu hồi này thì tháng 9/2015, BCH huyện đội Quỳnh Lưu đã cho máy về thi công đào hào trên diện tích được cho là đất quốc phòng. Người dân thấy vậy vẫn để cho đơn vị trên làm việc nhưng gửi đơn kiến nghị khắp các cơ quan chức năng. Trong khi các cơ quan chức năng vẫn chưa có câu trả lời cụ thể thì đơn vị trên vẫn thi công.
Vấn đề đất quốc phòng, an ninh ít nhất phải có sự quyết định của UBND tỉnh nhưng kỳ lạ thay vẫn đề này tại xóm 16 việc thu hồi lại do UBND xã ra quyết định.
Theo người dân cho biết thì chỉ đến ngày 23/9/2015, khi máy thi công do BCH quân sự huyện Quỳnh Lưu thi công tại khu vực nghĩa trang xóm 16 thì đào trúng một mộ sơ sinh và đào vào sát các ngôi mộ mới chôn chỉ cách 2m nên người dân đã nhất quyết phản đối. Đến lúc này đơn vị thi công mới dừng lại việc thi công nhưng người dân vẫn không đồng ý việc thu hồi diện tích đất này vì cho rằng đây không phải là đất quốc phòng.
“Mộ mẹ tôi mới an táng được hơn một năm mà họ đã đào hào chỉ cách chưa đầy 2m, mộ mẹ tôi còn bị cần gạt của máy múc xâm phạm trực tiếp lên nóc mộ. Còn một mộ sơ sinh cũng đã bị họ múc lên và hai ngôi mộ khác trong xóm mới chôn cất chưa đầy 2 năm cũng bị đào hào cách chỉ khoảng 2m. Họ thi công chúng tôi chưa nói gì nhưng đã mấy chục năm nay có đơn vị nào đóng và ở đây đâu. Nay về nói đất quốc phòng rồi thu hồi khi dân chưa kịp trở tay hiểu chuyện gì đã thi công rồi còn xâm phạm vào mồ mả người dân thì chúng tôi không đồng ý”, ông Hồ Văn Sinh (SN 1969, trú tại xóm 16) bức xúc nói.
Làm việc với phóng viên các hộ dân tại xóm 16, xã Quỳnh Lâm đang lo lắng khi quyết định thu hồi đất đột ngột này đang ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của họ.
Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề trên chúng tôi đã tìm gặp lãnh đạo xã Quỳnh Lâm. Nhưng khi gặp chúng tôi chủ tịch xã Quỳnh Lâm viện lý do đang bận chưa thể gặp được lúc đó và hẹn lúc khác. Tiếp tục tìm hiểu qua UBND huyện Quỳnh Lưu, ông Hoàng Danh Lai, chủ tịch huyện cho biết, đã thành lập đoàn kiểm tra để làm rõ các vấn đề người dân nêu. Sẽ có biện pháp xử lý hợp tình hợp lý và đúng theo quy định. (Doanh Nghiệp Việt Nam 22/3) đầu trang(
Hàng loạt xưởng gỗ dăm trái phép mọc lên ở hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hóa. Tuy nhiên, bất chấp chính quyền địa phương, “ông chủ” của những nhà máy này vẫn xây dựng, đưa vào vận hành bất chấp pháp luật.
Liên quan đến tình trạng khai thác, lập xưởng gỗ dăm trái phép này, ANTT.VN đã có cuộc phỏng vấn ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT).
Ông Công cho biết: Văn bản 2775 (hướng dẫn thực hiện thẩm định điều kiện hình thành các dự án mới về sản xuất dăm gỗ) ngày 6/4/2015 của Bộ NN&PTNT đã hướng dẫn rất chi tiết về việc thẩm định các cơ sở sản xuất dăm gỗ trong đó có 2 điểm rất cơ bản.
Thứ nhất, đối với các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng Sông Cửu Long, Đông Nam Bộ sẽ không hình thành các cơ sở sản xuất dăm mới. Theo tôi được biết và các tỉnh báocáo đến giờ phút này các vùng đó không có các cơ sở sản xuất mới.
Thứ hai, đối với vùng Bắc Trung bộ (Thanh Hóa, Nghệ An) và Đông Bắc thì sẽ không hình thành các cơ sở dăm mới mà chỉ có sản xuất dăm, nếu có hình thành các cơ sở mới thì trong dây chuyền của nó là phải có đầu tư chế biến sâu. Ví dụ, cơ sở mới hình thành ngoài việc chế biến dăm lấy từ cành, ngọn, bìa, bắp, thì gỗ dăm đó phải để chế biến thành các sản phẩm như: Mộc, ván dăm, bột giấy… thì mới được phép.
Nếu các cơ sở được phép phải đảm bảo 4 yêu cầu: Phù hợp với quy hoạch chế biến gỗ theo quyết định 2728 của Bộ NN&PTNT ban hành ngày 21/10/2012. Phải chủ động được nguồn nguyên liệu tối thiểu 50%. Phải được Bộ NN&PTNT chấp thuận. Cuối cùng là phải có chế biến sâu.
Đến hiện tại, chưa có đơn vị nào có văn bản đề nghị xây dựng cơ sở sản xuất mới có sản xuất dăm đáp ứng được đủ các yêu cầu của Bộ NN&PTNT và cũng chưa có đơn vị nào có đề nghị xây dựng xưởng với Bộ.
Theo khảo sát của phóng viên, hiện nay ở các huyện Thanh Chương, Quỳ hợp (Nghệ An) và các huyện Như Xuân, Tĩnh Gia, Triệu Sơn, Như Thanh (tỉnh Thanh Hóa) có nhiều nhà máy sản xuất gỗ dăm mọc lên trái phép.
Đặc biệt, ở huyện Thanh Chương có xưởng gỗ dăm của công ty Thành Phát chưa được cấp phép sử dụng đất và xây dựng xưởng nhưng nhưng hoạt động công khai thậm chí có dấu hiệu bảo kê, ông đánh cho biết nếu xưởng Thành Phát ở huyện Thanh Chương hoạt động sai phép đúng như phóng viên phản ánh, thì cơ sở này không thực hiện theo đúng hướng dẫn của Bộ NN&PTNT cả văn bản 2775 này.
Đây là văn bản hướng dẫn các địa phương việc thẩm định và cấp phép. Việc địa phương không cấp phép, chưa thẩm định mà doanh nghiệp đã tự động làm thì đó là làm trái với quy định thì việc này các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm. Còn địa phương phải xử lý, còn trong trường hợp địa phương cấp phép mà chưa có văn bản thỏa thuận của Bộ NN&PTNT thì chưa theo đúng hướng dẫn này.
Hiện nay Tổng cục Lâm nghiệp cũng đang tiến hành cử đoàn kiểm tra do Phó Vụ trưởng làm trưởng đoàn thanh tra tại các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Hết tuần này sẽ về báo cáo.
Thông tư 182 ngày 16/11/2015 của Bộ Tài chính quy định, việc áp dụng thuế suất từ 0 – 2% khi xuất khẩu dăm gỗ. Nhưng như bạn nói các đơn vị này không phải là đơn vị xuất khẩu mà chỉ thu mua nguyên liệu hoặc người ta sử dụng nguyên liệu của người ta, người ta băm dăm ra rồi bán cho các đầu mối xuất khẩu thì các đầu mối xuất khẩu kia phải đóng thuế, tức là ai xuất khẩu mà không đóng thuế mới gọi là thất thu ngân sách.
Báo chí cũng đã phản ánh về tình trạng các xưởng sản xuất gỗ dăm trái phép ở Nghệ An và Thanh Hóa, song các xưởng gỗ dăm này vẫn ngang nhiên hoạt động trong thời gian dài và công khai nhưng không bị xử lý, liệu có chuyện bảo kê cho các xưởng gỗ dăm này không? Có lợi ích nhóm ở đây không?.
Về vấn đề này, ông nói: “Như tôi nói ban đầu, bây giờ đoàn đang đi kiểm tra, phải biết như thế nào mới gọi là xưởng? Việc có lợi ích nhóm ở đây hay không thì tôi chưa thể trả lời được. Hiện đang có đoàn đi kiểm tra, chúng tôi kiểm tra nhiều vấn đề, trong đó có việc sản xuất dăm ở các địa phương cụ thể là Nghệ An, Thanh Hóa. Sau khi có báo cáo tôi sẽ cung cấp.”
Việc các xưởng gỗ dăm mọc lên trái phép, bừa bãi gây ảnh hưởng đến các vùng nguyên liệu, và tài nguyên rừng, nếu các cơ sở sản xuất chỉ tận dụng cành, bắp, nguyên liệu đã chế biến xong, ví dụ mộc xuất khẩu hoặc ván ép, bột giấy… đã chế biến sâu thì nó không ảnh hưởng gì đến nguyên liệu mà cái đó là tốt cho người dân. Trừ trường hợp tranh mua tranh bán, trả giá cao hơn để mua gỗ hoặc đưa gỗ cây để nghiền gỗ dăm, trong khi những loại này có lợi cho việc khác tốt hơn thì lúc đó mới ảnh hưởng đến vùng nguyên liệu.
Khi được hỏi về trách nhiệm của cơ quan chức năng ở địa phương như và hướng xử lý các xưởng gỗ dăm trái phép này, ông cho biết: “Trách nhiệm của địa phương là đã để tự phát là đã vi phạm quy hoạch chế biến gỗ số 2728 được Bộ NN&PTNT phê duyệt ngày 31/10/2012. Trước tiên trách nhiệm thuộc UBND cấp huyện và các sở ban ngành và UBND tỉnh. Bộ NN&PTNT không phải cái gì cũng xử lý được Bộ chỉ có hướng dẫn, phê duyệt quy hoạch đó. UBND cấp xã phải chịu trách nhiệm trước UBND cấp huyện, UBND cấp huyện phải chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh, còn UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ.Còn các xưởng gỗ dăm, nếu vi phạm về mặt chế biến gỗ thì phải xử lý theo luật, tùy theo mức độ, xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ, phát triển rừng.”
Nếu trái phép sẽ phải dẹp bỏ, nhưng cái đó tùy theo mức độ, nó trái phép như thế nào, có nằm trong quy hoạch hay không.
Trường hợp ở Thanh Chương, Quỳ Hợp (Nghệ An), Tĩnh Gia, Như Thanh, Nông Cống (Thanh Hóa)… chưa có phép sử dụng đất và cũng chưa có phép xây dựng xưởng thì đầu tiên người sử dụng đất bất hợp pháp thì chắc chắn phải giải tỏa, đất của anh đâu mà anh ở đó, nếu xây dựng trái phép thì rõ ràng phải dẹp bỏ. (An Ninh Tiền Tệ Và Truyền Thông 21/3) đầu trang(./.
|
|||