|
Ngày 22 tháng 03 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Bộ NN&PTNT vừa chỉ đạo các tỉnh, TP đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Theo đó, Bộ yêu cầu các địa phương thành lập, kiện toàn nhân sự Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh, TP, mở tài khoản để tiếp nhận chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đồng thời, sớm hoàn thành công tác rà soát, xác định diện tích rừng đến từng chủ rừng phục vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Đối với những tỉnh, TP đã có nguồn thu dịch vụ môi trường rừng năm 2012, trong quý I/2013 phải hoàn thành giải ngân, chi trả đến từng chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân được giao khoán bảo vệ rừng.
Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, năm 2012, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng cả nước đạt gần 1.200 tỷ đồng. (Kinh Tế&Đô Thị 21/3; Thanh Tra 21/3)đầu trang(
Từ tháng 3/2013, sản phẩm gỗ xuất khẩu sang EU phải giải trình theo Luật FLEGT. Đây là điều bắt buộc mà DN chế biến gỗ không thể không thực hiện. Nếu không sản phẩm sẽ không thể có mặt tại EU, hơn nữa còn kém sức cạnh tranh ở thị trường các nước khác.
FLEGT là quy định cấm nhập khẩu gỗ, các sản phẩm gỗ có nguồn gốc bất hợp pháp vào thị trường EU và yêu cầu các nhà kinh doanh cung cấp gỗ phải thực hiện trách nhiệm giải trình. Theo giải trình này, muốn sản phẩm có mặt tại EU, DN phải có chứng thư giải trình nguồn gốc gỗ hợp pháp. Nếu gỗ từ rừng trồng do Nhà nước quản lý thì phải có xác nhận của Cục Kiểm lâm, nếu gỗ trồng trong dân phải có xác nhận của UBND xã, gỗ nhập phải có xác nhận từ nơi cung cấp chứng nhận là gỗ hợp pháp.
FLEGT không những áp dụng cho DN trong ngành chế biến gỗ mà còn áp dụng cho các các sản phẩm liên quan đến gỗ như ngành giấy, nguyên liệu giấy, đồ chơi trẻ em, bao bì, ván sàn, bút chì… Ngay cả các DN ngành thương mại mua sản phẩm về trữ trong kho rồi phân phối lại cũng bị FLEGT chi phôi.
Tuy nhiên, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) cho biết, FLEGT chỉ là một phương tiện giải trình, không là tuyệt đối đối với EU. EU sẽ không hoàn toàn tin tưởng vào các xác nhận giấy tờ mà họ đòi hỏi gỗ phải hợp pháp trên thực tế. Vì thế nếu DN gian lận trong các giấy xác nhận sẽ gặp rất nhiều rủi ro khi bị kiểm tra.
Ông Đoàn Văn Khải, Giám đốc TUV SUB PSB Vietnam cho biết thêm, do FLEGT chỉ có hiệu lực khi dây chuyền từ nơi cung cấp gỗ đến chế biến, đến thành phẩm lưu thông trên thị trường không được gián đoạn,vì thế nếu nguồn gỗ hợp pháp dôi dư rồi chuyển nhượng sang đơn vị khác cũng được xem là không hợp pháp. Do vậy, khi nhập gỗ có nguồn gốc về chế biến, DN phải cân đối với sản lượng đầu ra cho hợp lý. Khi giao cho bên ngoài gia công, DN cũng nên kiểm tra kỹ nguồn gỗ hợp pháp cung ứng cho ho. Vì nếu khâu gia công sử dụng gỗ không theo FLEGT cũng sẽ ảnh hưởng đến uy tín của DN.
Thống kê mới đây cho thấy, hiện có 146 triệu ha rừng được chứng nhận hợp pháp tại 82 quốc gia, 21.000 công ty có chứng nhận CoC với mức tăng trưởng hàng năm hàng chục %, hàng chục ngàn sản phẩm đạt chuẩn FSC (FSC-C0C: chuỗi hành trình sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp) đang lưu hành.
Điều này chứng tỏ các sản phẩm nâng cao nhận thức cộng đồng từ việc bảo vệ môi trường ngày càng được ưa chuộng trên thế giới và sức cạnh tranh của các sản phẩm này ngày càng mạnh.Việt Nam cũng đã có 314 công ty được chứng nhận CoC, 8 công ty được chứng nhận FM/CoC (quản lý rừng bền vững) và sản phẩm của họ đang có thị phần ổn định tại EU.
Tuy nhiên, theo HAWA thực tế vẫn đang còn rất nhiều DN chế biến gỗ, nhất là DN vừa và nhỏ, chưa triển khai sản xuất, chế biến theo quy trình FLEGT vì gặp không ít khó khăn, nhất là về phương thức quy trình thực hiện, về nguồn nhân lực. Khi thực hiện việc giải trình này, họ còn phải tốn thêm chi phí đánh giá quá trình thực hiện lệ thuộc vào quy mô sản xuất của DN. Ngoài ra DN còn thêm phí thẩm định khoảng 400 EUR/chứng chỉ/năm, phí công nhận theo quy định của FSC căn cứ theo doanh số bán hàng và phí đi lại ăn ở của các chuyên gia..
Vì thế để hỗ trợ DN, HAWA đang có nhiều chương trình đào tạo thực hành theo FLEGT, đặc biệt là trong đào tạo nguồn nhân lực. Ông Hạnh cho biết, DN trong và ngoài HAWA có thể liên hệ với HAWA để tham dự các khóa đào tạo này và các khóa đầu tiên sẽ được hỗ trợ nhiều mặt. (Kinh Tế Việt Nam 22/3)đầu trang(
UBND TPHCM vừa có văn bản chỉ đạo về Tăng cường quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán, tiêu thụ sản phẩm động vật hoang dã.
Theo đó, Thủ trưởng các Sở- ban ngành, Chủ tịch UBND quận-huyện; Các đơn vị có chức năng liên quan tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Trung ương và TP về vấn đề trên.
Các Sở-ngành, UBND quận-huyện chỉ đạo cán bộ công chức, viên chức, người lao động và toàn thể nhân dân nghiêm túc chấp hành các quy định của pháp luật về bảo tồn loài động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm; đặc biệt không mua, bán, sử dụng, cất giữ, tặng cho hay nhận quà biếu là các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm;
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật và hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến bảo tồn các loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm tới cộng đồng địa phương; khuyến cáo các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được tiêu thụ động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm và khuyến khích việc thông báo các hành vi vi phạm tới Chi cục Kiểm lâm TP. (Pháp Luật TPHCM 22/3; Hochiminhcity.gov.vn 22/3)đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Để bảo vệ tốt diện tích 143.300ha rừng, trong đó có 37.820,6ha rừng đặc dụng trên địa bàn, trong năm 2013, huyện Quế Phong tập trung tăng cường công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân, nâng cao ý thức tự giác bảo vệ rừng, từng bước công tác xã hội hóa công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Ủy ban nhân dân huyện, ủy ban nhân dân các xã thị trấn có rừng kiện toàn lại ban chỉ huy các vấn đề cấp bách bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng; xây dựng kế hoạch, tổ chức lực lượng, phương tiện để thực hiện tốt công tác chống chặt phá rừng và buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép.
Quế Phong là huyện miền núi với hơn 90,6% là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống còn nhiều khó khăn và sống dựa vào rừng. Tình trạng vi phạm lâm luật diễn biến phức tạp. Tính riêng năm 2012 và 3 tháng đầu năm 2013 Ủy ban nhân dân huyện đã xử lý 30 vụ vi phạm, phát hành chính 255 trệu đồng, tịch thu 218,7 m3 gỗ các loại. (Đài PT - TH Nghệ An 21/3) đầu trang(
Xã Bản Hồ (Sa Pa - Lào Cai) huy động quân dân khẩn cấp dập lửa tại đám cháy rừng thuộc Vườn quốc gia Hoàng Liên- Sa Pa) đêm 21/3.
Bước đầu xác định đám cháy rừng bắt đầu từ lúc 16 giờ chiều 21-3 từ thôn Giàng Tà Chải của xã Tả Van, sau đó lan sang thôn Séo Chong Hô của xã Bản Hồ. Ước tính có hàng chục ha rừng cây bụi và gỗ tái sinh tại đây đã bị cháy.
Do ở trên cao hàng nghìn mét (so với mực nước biển), gió thổi rất mạnh và địa hình hiểm trở nên đám cháy mạnh, tốc độ lan nhanh, rất khó khăn để dập lửa, do thiếu nguồn nước.
Đến 21 giờ ngày 21-3, ông Lý Láo Tả- Bí thư xã Bản Hồ cho biết lực lượng dân quân, công an và người dân tại thôn Séo Chong Hô (bao gồm 73 hộ dân tộc Mông và Dao) vẫn nỗ lực dập lửa, phát đường băng cản lửa để ngăn chặn đám cháy. (Tuổi Trẻ 22/3; Nhân Dân 22/3; VietnamPlus.vn 22/3)đầu trang(
Không có mưa, nắng nóng liên tục kéo dài, độ ẩm thấp, cấp độ báo nguy cơ cháy rừng liên tục tăng… đó là dự báo của các cơ quan chức năng về thời tiết và nguy cơ cháy rừng ở khu vực miền Trung. Người dân và chính quyền địa phương các tỉnh này lại đang nơm nớp lo sợ.
Mới tháng 3, chưa phải cao điểm của mùa khô. Vậy nhưng phía Tây các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam hay Quảng Ngãi đã cảm nhận cái nóng hầm hập, những đợt gió Lào bắt đầu xuất hiện ùa về khiến không khí càng oi nồng, ngột ngạt, nóng bức hơn. Dù vậy, lo lắng nhất có lẽ vẫn là Huế, Quảng Trị - hai địa phương có đường biên giới giáp nước bạn Lào, thường xuyên phải hứng chịu những đợt gió mang hơi nóng khô người.
Theo thống kê của ngành quản lý rừng của Huế, địa phương này có khoảng 600.000ha rừng phân bố chủ yếu ở các huyện phía Tây. Một nửa số đó là rừng trồng, người dân hay đi dọn thực bì, nấu ăn ngay ngay tại rừng nên tiềm ẩn nguy cơ cháy bất cứ lúc nào.
Ở Huế, một nguyên nhân gây cháy rừng khiến cơ quan chức năng biết đó mà đau đầu bao nhiêu năm nay không giải được là tình trạng người dân thắp hương, viếng mộ, ở những khu vực mồ mả sát các cánh rừng. “Năm 2012 đã có hàng chục vụ cháy rừng từ đó mà ra. Nhưng chúng tôi không thể cấm họ đến để thắp hương tri ân người đã khuất được” - Chi cục Kiểm lâm tỉnh này thừa nhận.
Cũng nằm giáp danh rìa phía Tây giáp Lào, tỉnh Quảng Bình cũng đang lo sốt vó với nguy cơ cháy rừng. Không lo sao được khi năm ngoái, địa phương này hứng chịu hàng chục vụ cháy rừng. Điển hình như tháng 8-2012, gần 10ha rừng khu vực Máy Bẩy xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch (thông và keo) của các hộ dân bị cháy rụi vô phương cứu chữa mà nguyên nhân lại cũng chính từ các hộ dân mà ra.
Dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh nhánh Tây từ Huế qua Quảng Nam, những quả đồi trọc, những mảng đen ken vào những mảng xanh của rừng. Ấy là hậu quả của những vụ cháy rừng từ năm trước do người dân đốt thực bì. Gần 500ha rừng nhưng đa số đất rừng nằm ở nơi địa hình hiểm trở, khó khăn.
“Năm ngoái, đã xảy ra 11 vụ cháy rừng làm thiệt hại hơn 60 ha rừng trồng. Qua điều tra xác minh nguyên nhân gây ra cháy rừng do thời tiết nắng nóng kéo dài làm khô nở thực bì cục bộ tại một số nơi; bất cẩn trong việc dùng lửa làm vệ sinh rừng sau khai thác, đốt nương rẫy không thực hiện đúng quy trình để cháy lan…” - Chi cục Kiểm lâm Quảng Ngãi cho biết.
Không năm nào các tỉnh miền Trung không xảy ra cháy rừng. Vậy nhưng, mỗi khi xảy ra cháy là để cho cháy hết sẽ… hết cháy. Bởi hầu như các giải pháp vẫn như cũ, nhân lực như cũ và thiết bị… vẫn như cũ.
Ông Nguyễn Văn Hân, Chi cục trưởng Kiểm lâm Quảng Ngãi, cho biết thiết bị chữa cháy (cả đô thị và rừng) của nước ta còn rất hạn chế. Riêng về cháy rừng lại càng khó khăn hơn vì địa hình hiểm trở, xa khu dân cư nên thiết bị chữa cháy không vào đến tận nơi, nguồn nước chữa cháy cũng… ăn may, nơi nào gần nước còn được tiếp ứng, chứ xa sông suối, ao hồ thì khi đi lấy được nước về đã cháy hết trơn.
Khi đó, giải pháp hiệu quả nhất là lực lượng kiểm lâm phối hợp với quân đội, công an, người dân địa phương chặt phát tạo đường găng, khoanh vùng hạn chế lửa lan ra khu vực khác. Lúc đó, thiết bị chữa cháy là cành cây dập lửa và dao, rựa…
Phòng hơn chống, có lẽ vì vậy mà năm nào từ lãnh đạo các địa phương này văn bản phát đi tới tấp triển khai các biện pháp phòng chống cháy rừng. Thừa Thiên - Huế nghiêm cấm đốt lửa, sử dụng lửa trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rừng đặc dụng; Quảng Trị giao trực tiếp cho chủ tịch UBND các xã, huyện và tỉnh để trực tiếp chỉ huy, huy động các lực lượng như quân đội, công an, kiểm lâm và các lực lượng khác cùng tham gia dập lửa tùy vào mức độ, phạm vi khi cháy. Phương án 4 tại chỗ vẫn được ưu tiên duy trì thường xuyên, trực gác 24/24 giờ để kịp thời xử lý khi có cháy.
Trong các giải pháp phòng chống, có lẽ Quảng Ngãi đang áp dụng giải pháp mang tính chiều sâu nhất khi năm vừa qua, tổ chức phát động cuộc thi tìm hiểu pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng năm 2012 cho học sinh trong 19 trường THCS thuộc địa bàn 6 huyện vùng trọng điểm cháy rừng.
Theo ông Nguyễn Văn Hân, đây là sân chơi trí tuệ cho các em học sinh có điều kiện tìm hiểu, nghiên cứu về môi trường, tìm hiểu về vai trò, ý nghĩa của rừng, tác hại của cháy rừng… qua đó nâng cao kiến thức, ý thức trách nhiệm và tự giác đóng góp công sức của mình trong công cuộc bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng và môi trường sống nói chung. (Sài Gòn Giải Phóng 22/3)đầu trang(
Các cánh rừng ở Bảy Núi (An Giang) hiện đang ngả màu, rụng lá và đối mặt với nguy cơ cháy rất cao.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh An Giang đã xảy ra 6 vụ cháy rừng, tập trung tại các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn, với diện tích trên 2 ha. Các vụ cháy chủ yếu xảy ra ở lớp thực bì, cỏ, lướt nên không gây thiệt hại đến rừng.
Ông Trần Phú Hòa, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang cho biết, toàn tỉnh hiện có khoảng 10.500 ha rừng đang báo động cháy, tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và TX.Châu Đốc. Trong khi đó, các huyện miền núi lại đang vào tháng cao điểm du lịch, khách hành hương thường xuyên đốt nhang đèn tại các am cốc, miếu mạo nên rất dễ xảy ra cháy rừng.
Ngoài ra, trên các con đường nhỏ men theo triền đồi núi, khách hành hương chỉ cần lơ là trong việc hút thuốc hoặc đốt nhang thì lớp thực bì dưới tán rừng sẽ bắt lửa và bốc cháy dữ dội.
Do đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh An Giang đã nâng mức báo động cháy rừng lên cấp 5 (cấp cực kỳ nguy hiểm); đồng thời đề ra hàng loạt phương án, bố trí lực lượng, phương tiện chữa cháy để ứng trực 24/24 tại những khu rừng trọng điểm cháy. Hằng ngày, lãnh đạo ngành phải gọi điện nhắc nhở các hạt, chốt kiểm lâm đóng quân trên địa bàn trọng điểm đóng cửa tất cả các con đường mòn và triển khai nhiều phương án phòng cháy chữa cháy. (Thanh Niên 21/3)đầu trang(
Hiện nay đang là mùa khô hạn, nhưng tại Hậu Giang tình trạng người dân sau khi thu hoạch xong lúa đông xuân đã rải rơm đốt đồng để làm đất gieo cấy lại vụ lúa hè thu, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao.
Ông Nguyễn Vĩnh Phúc, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hậu Giang cho biết: do tình hình khô hạn rất dễ xảy ra các vụ cháy rừng. Đặc biệt nguy cơ cháy do người dân đốt đồng làm đất không kiểm soát được dẫn đến cháy lan. Nếu trước đây, hầu hết các vụ cháy rừng là do người dân lén lút vào rừng đốt tổ ong lấy mật gây cháy lan thì hiện nay tình trạng này đã được kiểm soát nhưng việc đốt đồng gây cháy thì chưa thể kiểm soát được.
Hiện toàn tỉnh Hậu Giang có trên 5.000 ha rừng chủ yếu là rừng tràm, bạch đàn và các loại cây tạp khác. Qua kiểm tra cho thấy tại khu vực Gò Lức (thuộc khu Bảo tồn Thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng- huyện Phụng Hiệp), nơi khô nhất trong khu vực khu bảo tồn có nguy cơ cháy rừng cấp 4, mức nguy hiểm, các khu vực còn lại còn giữ được độ ẩm trên mặt đất. Tuy nhiên nếu nắng nóng tiếp tục kéo dài thì nguy cơ cháy rừng năm nay sẽ tăng cao hơn nhiều so với các năm trước. (Đảng Cộng Sản VN 21/3)đầu trang(
Theo thông tin từ Ban Quản lý Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sa Pa (Lào Cai), 379 ha rừng trúc, nứa thuộc các xã: San Sả Hồ, Tả Van, Bản Hồ chết khô hàng loạt. Đây là nguồn chất liệu gây cháy rừng với số lượng rất lớn, nên tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, đặc biệt ở vị trí 2.800 m thuộc tuyến đường du lịch lên đỉnh Phan Xi Păng.
Để đảm bảo an toàn, PCCCR đối với toàn bộ diện tích rừng trúc, nứa chết khô, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã bố trí lực lượng tăng cường tuần tra, canh gác tại các điểm có diện tích rừng trúc, nứa bị chết khô. Đối với điểm 2.800 m thuộc xã San Sả Hồ, Vườn Quốc gia Hoàng Liên bố trí một chốt thường trực để kiểm soát và thực hiện công tác PCCCR.
Ngoài ra, Vườn Quốc gia Hoàng Liên đã triển khai 12 chốt trực BVR - PCCCR tại các khu vực trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng thuộc vùng lõi vườn quốc gia; củng cố các tổ ứng cứu nhanh, tổ, đội PCCCR ở thôn, xóm; tổ chức tuyên truyền về công tác PCCCR đến người dân trên địa bàn và yêu cầu người dân trồng thảo quả trong rừng ký cam kết bảo vệ rừng;
Vườn Quốc gia Hoàng Liên cũng kiến nghị với UBND tỉnh, đối với diện tích rừng nứa, trúc bị chết khô thuộc các xã Tả Van, Bản Hồ, trước mắt sẽ chọn giải pháp là dọn sạch khu vực rừng thường xuyên có mặt người dân; đồng thời, cần có giải pháp lâu dài như trồng rừng thay thế. (Tài Nguyên&Môi Trường 21/3) đầu trang(
Ngay từ đầu mùa khô, Ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng huyện đã kiển toàn lại ban chỉ huy bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng cấp huyện, các chủ rừng đến thôn bản, đồng thời tiến hành ký cam kết thực hiện các nhiệm vụ phòng chống cháy rừng.
Huyện Tương Dương có trên 169.000ha rừng, độ che phủ của rừng đạt 60,3%. Với địa hình đồi núi phức tạp, mùa khô và mùa nắng nóng kéo dài, nguy cơ xẩy ra cháy rừng cao, rất khó khăn trong công tác bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng. Phần lớn người dân sống dựa vào rừng và nghề đi rừng, tạo áp lực lớn đến công tác bảo vệ rừng. Việc khai thác lâm sản lén lút vấn còn xậy ra một số địa phương có rừng như xã Yên Thăng, Yên Tĩnh, Tam Đình...
Trước thực trạng này, ngay từ đầu mùa khô, ban chỉ huy các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng huyện đã kiển toàn lại ban chỉ huy bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng cấp huyện, các chủ rừng đến thôn bản, đồng thời tiến hành ký cam kết thực hiện các nhiệm vụ phòng chống cháy rừng.
Việc phối hợp chặt chẽ giữa Kiểm lâm với Công an, Quân đội, Biên phòng, các chủ rừng và cấp ủy chính quyền địa phương cũng tạo ra sức mạnh tổng hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng, không để xẩy ra điểm nóng về khai thác rừng trái phép cũng như cháy rừng. (Đài PT - TH Nghệ An 21/3)đầu trang(
Huyện Yên Thành vừa tổ chức hội nghị tổng kết công tác phòng chống cháy rừng năm 2012, triển khai nhiệm vụ năm 2013 và bổ cứu sản xuất vụ xuân năm 2013.
Để bảo vệ gần 21.000ha rừng trồng và rừng tự nhiên, năm qua, huyện Yên Thành đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và triển khai nhiều giải pháp đồng bộ trong bảo vệ rừng, PCCCR; Kiện toàn BCĐ và xây dựng được 28 phương án tác chiến PCCCR.
Ngoài ra, Hạt kiểm lâm huyện còn thường xuyên tuyên truyền lưu động đến các khu vực trung tâm, trường học, vùng rừng trọng điểm có nguy cơ cháy cao. Cấp phát, trang bị cho các địa phương trên 500 phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác PCCCR. Ban quản lý rừng phòng hộ huyện còn xây dựng 10km đường băng trắng, 4 chòi canh lửa; 15 xã có rừng thông và đã tổ chức tu sửa 67km đường băng trắng cản lửa và triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp, nhờ đó trên địa bàn huyện không xẩy ra cháy rừng.
Hội nghị cũng đã triển khai một số vấn đề cấp bách trong công tác PCCCR năm 2013, nhằm hạn chế tối đa lửa rừng xuất hiện trong mùa nắng nóng, bảo vệ an toàn diện tích rừng hiện có. (Đài PT - TH Nghệ An 20/3)đầu trang(
UBND huyện Quỳ Hợp vừa tổ chức tổng kết công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng năm 2012, triển khai nhiệm vụ năm 2013.
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác BVR, PCCCR trong năm 2013, đặc biệt là mùa hanh khô, huyện Quỳ Hợp đã tập trung chỉ đạo triển khai với những nhiệm vụ trọng tâm đó là xác định rõ 13 xã thuộc vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng để có các phương án bảo vệ nghiêm ngặt;
Tăng cường tuyên truyền pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức ký cam kết BVR-PCCCR đến tận các chủ rừng và hộ gia đình; Lực lượng chức năng tăng cường tuần tra kiểm soát các hành vi vi phạm về khai thác và chế biến lâm sản, hạn chế đến mức thấp nhất cháy rừng trong năm 2013. (Đài PT - TH Nghệ An 19/3)đầu trang(
21-3 tại tổ 17, phường Thái Bình, TP Hòa Bình (Hòa Bình) xảy ra vụ cháy đồi cây. Nhận được tin báo, lực lượng chức năng đã huy động hai xe chữa cháy nhằm ngăn không cho ngọn lửa lan rộng.
Sau gần hai giờ đồng hồ, đám cháy đã được dập tắt. Theo thống kê, diện tích cháy khoảng hơn 1.000 m2. Nguyên nhân vụ cháy ban đầu được xác định là do bất cẩn trong việc đốt dọn cây. (Nhân Dân 22/3)đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La, toàn tỉnh hiện có 252.800 ha rừng trọng điểm dễ cháy, tập trung chủ yếu ở bốn khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ các công trình thủy điện vừa và nhỏ, thủy điện Sơn La, rừng phòng hộ dọc lưu vực sông Ðà, nhất là các khu rừng nguyên sinh có thảm thực vật dày khô "dễ cháy, khó chữa".
Ðể phòng cháy rừng, tỉnh đã kiện toàn 215 đơn vị (Ban Chỉ huy BVR và PCCCR) từ huyện đến xã nhằm tăng cường vai trò của lực lượng chuyên trách và bán chuyên trách PCCCR của các cấp, các ngành, lực lượng vũ trang và các địa phương. Hiện tỉnh Cà Mau có gần 36 nghìn ha rừng tràm đang ở cấp báo động cháy nguy hiểm và cực kỳ nguy hiểm.
Hạt Kiểm lâm huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời huy động gần 2.000 người là lực lượng tại chỗ, chuẩn bị đầy đủ các tổ máy bơm công suất lớn và thiết bị phục vụ chữa cháy rừng phủ đều ở khắp các chốt, khu vực có nguy cơ cháy rừng cao; bố trí lực lượng thường xuyên tuần tra, túc trực canh lửa 24/24 giờ để kịp thời phát hiện và dập tắt nhanh đám cháy, không để xảy ra cháy rừng lớn. (Nhân Dân 22/3)đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 16/6/2003 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh, chúng ta đã thu được nhiều kết quả tích cực, khẳng định tính đúng đắn chủ trương này.
Nghị quyết đặt ra mục tiêu đổi mới nông, lâm trường quốc doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm và cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có; hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản hàng hoá tập trung, chuyên canh, thâm canh quy mô lớn gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ; nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh; tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và góp phần xoá đói, giảm nghèo.
Thời gian qua, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 28 dẫn đầu đoàn công tác của Chính phủ đi khảo sát tại các công ty nông, lâm nghiệp ở nhiều địa phương trên cả nước để tìm hiểu, nghiên cứu những mô hình hiệu quả, những cách làm hay.
Nhân dịp tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 28, ông Phạm Quốc Doanh, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 28-NQ/TW đã dành cho phóng viên Báo Điện tử Chính phủ cuộc trao đổi về các chuyến khảo sát này.
Theo ông Doanh: Sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị, chúng ta đã thu được những kết quả: Đối với nông trường quốc doanh, chúng ta đã hoàn thành việc rà soát chức năng nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, sắp xếp, chuyển đổi thành các công ty nông nghiệp và nay là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nông nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, giải thể những doanh nghiệp do làm ăn thua lỗ kéo dài hoặc chỉ có nguồn thu là cho thuê lại đất.
Các lâm trường quốc doanh quản lý chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đã chuyển đổi thành các Ban Quản lý rừng. Các lâm trường thua lỗ kéo dài, không cần thiết giữ lại thì cho giải thể. Các lâm trường quản lý chủ yếu là rừng trồng sản xuất, rừng sản xuất, đất quy hoạch để trồng rừng sản xuất được chuyển đổi thành công ty lâm nghiệp. Thực hiện Nghị định số 25/2010/NĐ-CP, các công ty này đã chuyển đổi thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước.
Đến nay, các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp đã tiến hành rà soát trên sổ sách và bản đồ, làm rõ thêm một bước về hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai, tài sản trên đất, lập quy hoạch sử dụng đất gắn với phương án sản xuất kinh doanh. Một phần diện tích đất và cơ sở hạ tầng đã được bàn giao về cho địa phương, việc quản lý sử dụng đất hiệu quả hơn, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động.
Một số doanh nghiệp thực hiện thí điểm cổ phần hóa đã đổi mới cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp; tạo quyền chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh, đa dạng hóa các nguồn vốn huy động; vốn nhà nước được bảo toàn và phát triển, sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thu nhập và đời sống của nhân dân được nâng lên.
Vậy đâu là những hạn chế cần tập trung khắc phục trong thời gian tới? ông Phạm Quốc Doanh thừa nhận: Đúng là có tình trạng nhiều doanh nghiệp mới chỉ đổi tên, mô hình, hay nói cách khác là mới chỉ đổi mới mà chưa thực hiện được vế sau của Nghị quyết là nâng cao hiệu quả hoạt động. Thực tế này có ở nhiều địa phương, ở cả công ty nông nghiệp và công ty lâm nghiệp. Tuy nhiên sau Hội nghị này, với việc đưa ra được những mô hình mới, hiệu quả, cùng với đó sẽ tiến hành “gỡ” những nút thắt về cơ chế, tôi tin chắc số lượng doanh nghiệp nông, lâm nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ giảm nhanh.
Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng mới chỉ rà soát đất đai trên bản đồ mà chưa thực hiện trên thực địa; chưa xử lý, giải quyết dứt điểm những tồn tại kéo dài về đất đai; hiệu quả giao khoán đất, giao khoán vườn cây còn thấp. Kết quả sản xuất kinh doanh ở một số công ty chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được giao, chẳng hạn như ở một số công ty thuộc Tổng công ty Cà phê Việt Nam hay một số công ty chè, rau quả, sản xuất cây ngắn ngày.
Cũng theo ông Doanh: Thực tế đã cho thấy, những công ty nông, lâm nghiệp nếu đổi mới nhiệm vụ sản xuất kinh doanh theo hướng tổng hợp, gắn sản xuất với chế biến và thị trường sẽ đem lại thành công. Theo tôi điểm mấu chốt chính là việc doanh nghiệp phải có hoặc gắn kết được với cơ sở chế biến.
Những công ty nông nghiệp nhưng hoạt động không hiệu quả, không quản lý được đất đai sẽ cho giải thể, đất đai được bàn giao về cho địa phương quản lý. Vấn đề quan trọng là hài hòa lợi ích, đảm bảo công bằng cho những cán bộ, công nhân viên trong nông trường, người dân địa phương khi chuyển đổi mô hình nông lâm trường.
Đối với những cán bộ của công ty đang trong độ tuổi lao động, có nhu cầu tiếp tục sản xuất nhưng do chuyển đổi mô hình, sau khi đã giải quyết chế độ lao động dôi dư, sẽ được giao đất theo mức bình quân của người dân trên địa bàn, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thu tiền như đối với nông dân. Với diện tích còn lại hoặc đối với những đối tượng không phải diện nêu trên sẽ phải chuyển sang thuê hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định.
Đối với những công ty được cổ phần hóa, nhất thiết Nhà nước phải nắm cổ phần chi phối, có thể ít nhất từ 65% trở lên. Bên cạnh đó, đất phải thực hiện theo hình thức thuê của nhà nước, đồng thời phải bảo đảm việc làm, thu nhập cho người lao động đang làm việc hoặc giao khoán đất trồng cây.
Đối với công ty lâm nghiệp quản lý rừng trồng, cách làm cũng tương tự như các công ty nông nghiệp.
Sau khi đã đi khảo sát ở nhiều mô hình, nhiều địa phương trên cả nước, chúng tôi nhận ra rằng việc chuyển tất cả các công ty lâm nghiệp quản lý rừng tự nhiên là rừng sản xuất thành các Ban Quản lý rừng là chưa thực sự hợp lý.
Vướng về mặt cơ chế đối với các công ty lâm nghiệp quản lý rừng tự nhiên là việc hàng năm được giao chỉ khai thác rừng được phân bổ, sau đó phải tiến hành đấu thầu quyền khai thác định mức đó. Sau khi đấu thầu, tiền được thu về ngân sách, để rồi trích lại một phần chỉ đủ để duy trì hoạt động. Những doanh nghiệp này do vậy không hề có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn phải nhờ hỗ trợ từ ngân sách địa phương để trả lương, thậm chí có nơi còn phải cho người lao động thôi việc hoặc chuyển công tác khác.
Mô hình thí điểm chương trình quản lý rừng bền vững có thể giải quyết vấn đề này. Các doanh nghiệp này hàng năm sẽ được khai thác một diện tích rừng nào đó theo tiêu chuẩn của các chứng chỉ quản lý rừng quốc tế được cấp mà không phải chờ chỉ tiêu và không cần qua đấu thầu nữa.
Đối với các công ty lâm nghiệp quản lý rừng nghèo kiệt, cần có quy định phù hợp cho phép họ được chuyển sang trồng rừng nguyên liệu, rừng cao su.
Các công ty lâm nghiệp quản lý rừng khoanh nuôi tái sinh, không có phương án quản lý rừng tự nhiên, sẽ không chuyển thành các ban quản lý mà chuyển thành doanh nghiệp công ích, nhà nước đặt hàng, ký hợp đồng giao khoán với nhà nước.
Như vậy họ vẫn là doanh nghiệp, phần trông coi rừng cho nhà nước thì nhà nước thanh toán chi phí trên cơ sở hợp đồng. Ngoài nhiệm vụ đó, họ được chủ động đăng ký thêm ngành nghề sản xuất kinh doanh theo luật doanh nghiệp, có thể là du lịch, dịch vụ, khai thác các nông lâm sản dưới tán cây.
Nếu chuyển thành Ban quản lý rừng sẽ biến thành cơ quan quản lý hành chính, thụ động hoàn toàn, chỉ trông chờ nhà nước cấp kinh phí để hoạt động, như vậy sẽ rất bó buộc. Thực tế đã chứng minh việc trông giữ rừng cũng không hiệu quả, và hoạt động của doanh nghiệp thì rất hạn chế, đời sống người lao động vô cùng khó khăn. (Chinhphu.vn 21/3)đầu trang(
Để Đề án thực sự có hiệu quả, thời gian tới, Yên Bái đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó sẽ tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các địa phương hoàn chỉnh Đề án giao rừng, cho thuê rừng cấp huyện, thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt trong quý I năm 2013.
Ngay sau khi Đề án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2012 - 2015 được phê duyệt cụ thể, tỉnh Yên Bái phấn đấu đến năm 2015 hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng đối với 88.574ha đất rừng được chuyển từ rừng phòng hộ ít xung yếu sang sản xuất và diện tích đất lâm nghiệp của các lâm trường quốc doanh (sau chuyển đổi) cho hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, cộng đồng dân cư, thôn bản để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên rừng.
Với mục tiêu này, tỉnh đã ban hành thông báo, văn bản và các quyết định chỉ đạo sát sao các cấp, các ngành có liên quan nhanh chóng vào cuộc. Theo đó, các sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã, thành phố sẽ thực hiện kiểm tra, rà soát thực trạng diện tích 181.604,3ha đất rừng chưa giao, cho thuê trong Đề án hiện nay đang được Nhà nước quản lý.
Tỉnh đã thành lập đoàn công tác tiến hành kiểm tra, rà soát quỹ đất rừng chưa giao, chưa cho thuê. Hiện nay, 9/9 huyện, thị xã, thành phố đã thành lập ban chỉ đạo thực hiện Đề án giao rừng, cho thuê rừng; tại cấp xã, đã có 65/131 xã, phường, thị trấn thành lập hội đồng giao rừng, cho thuê rừng. Có 4 doanh nghiệp đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh phối hợp với các ngành của tỉnh thẩm định và cấp giấy chứng nhận đầu tư thuê đất, thuê rừng.
Về việc xây dựng phương án giao rừng cấp xã, đến thời điểm này, trên địa bàn tỉnh, đã có 07 xã đang tiến hành xây dựng phương án cụ thể theo các nội dung của Đề án.
Việc triển khai Đề án đến thời điểm này cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn còn khá nhiều những khó khăn, tồn tại. Việc xây dựng Đề án cấp huyện, cấp xã còn chậm, kinh phí thực hiện Đề án và kinh phí rà soát diện tích 181.604,3ha đất rừng đến nay chưa được cấp nên ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ Đề án. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã chưa vào cuộc, còn nghe ngóng, né tránh, sợ trách nhiệm.
Để Đề án thực sự có hiệu quả, thời gian tới, tỉnh đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bên cạnh đó sẽ tiếp tục hướng dẫn, đôn đốc các địa phương hoàn chỉnh Đề án giao rừng, cho thuê rừng cấp huyện, thẩm định và trình UBND tỉnh phê duyệt trong quý I năm 2013;
Kiểm tra tiến độ xây dựng Đề án cấp huyện, phương án các xã điểm và kết quả thực hiện công tác rà soát diện tích đất rừng chưa giao, cho thuê trong Đề án; chỉ đạo, giám sát xã Vũ Linh, xã Y Can hoàn thiện phương án giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong quý I năm 2013 và tiến hành thực hiện trong năm 2013 theo kế hoạch. (Báo Yên Bái 22/3)đầu trang(
Theo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, từ năm 2008 đến nay, các tỉnh vùng Tây Nguyên đã trồng mới trên 72.280ha cao su, chủ yếu trên đất lâm nghiệp, đưa tổng diện tích cao su toàn vùng tăng lên trên 242.810ha, trong đó tỉnh Gia Lai là địa phương có diện tích cao su nhiều nhất với 102.993ha, kế đến là tỉnh Kon Tum có 67.598ha.
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đang tiếp tục rà soát lại toàn bộ quy hoạch phát triển cao su, tình hình thực hiện các dự án trồng cao su theo Quyết định số 750 của Thủ tướng Chính phủ về Quy hoạch phát triển cao su đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020.
Đặc biệt, các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục thực hiện theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là rà soát, điều chỉnh lại quy hoạch trồng cao su theo hướng ưu tiên phát triển cao su trên đất trống chưa sử dụng, đất nông nghiệp sử dụng kém hiệu quả, giảm bớt quy hoạch phát triển cao su trên đất lâm nghiệp, nhất là đất lâm nghiệp có rừng. (VietnamPlus.vn 21/3)đầu trang(
20/3, tại xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, Trạm kiểm soát biên phòng Đồng Hồ (Đồn biên phòng Quan Lạn) phối hợp với Trung tâm Bảo tồn Vịnh Bái Tử Long, Vườn quốc gia Bái Tử Long thả một con đồi mồi về với tự nhiên (ảnh).
Đây là con đồi mồi được ông Lê Văn Cự, trú tại phường Hồng Hà, TP Hạ Long bắt được khi đang đánh lưới tại khu vực gần đảo Quan Lạn.
Con đồi mồi nặng 5kg, là một trong những loài rùa biển quý hiếm nằm trong sách đỏ của Việt Nam. (Báo Quảng Ninh 21/3)đầu trang(
Trong hai ngày 20 và 21/3, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát đã có chuyến thăm và làm việc với tỉnh Điện Biên nhằm thảo luận và tìm kiếm những giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa sản xuất nông nghiệp của địa phương vùng Tây Bắc này.
Là một tỉnh chủ yếu là núi, nhưng tỉ lệ che phủ rừng của Điện Biên hiện nay chỉ hơn 40%. Đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp cũng cho thấy, công tác bảo vệ, phát triển rừng của Điện Biên thời gian qua là chưa được như mong muốn. Tiến độ giao rừng còn chậm, chính sách cho thuê rừng, thu hút đầu tư khai thác chế biến gỗ chưa đủ mạnh mẽ và hấp dẫn để khuyến khích DN...
Trước khó khăn đó, từ năm 2011 đến nay, những tín hiệu sáng về trồng rừng và chế biến gỗ cũng đang mở ra cho Điện Biên những tiềm năng và cơ hội lớn. Hiện tại, đã có 2 DN đầu tư xây dựng 2 nhà máy (NM) chế biến gỗ và tre, đi kèm với phát triển rừng nguyên liệu có công suất khá lớn tại 2 huyện Điện Biên và Tuần Gíao. Cả 2 NM này hiện đã đi vào hoạt động rất hiệu quả, thu mua nguyên liệu gỗ và tre với giá cao cho người dân địa phương, sản phẩm chủ yếu được XK qua nhiều nước trên thế giới...
Với phương châm chọn ra lĩnh vực có mũi nhọn nhất trong sản xuất (SX) lâm nghiệp, Bộ trưởng Cao Đức Phát đề nghị thời gian tới, Điện Biên cần rà soát lại các nguồn lực đầu tư phát triển rừng, chú trọng theo hướng SX gỗ lớn, trước hết ưu tiên ở diện tích rừng cận các tuyến giao thông thuận lợi vận chuyển khai thác.
Trước mắt, Bộ trưởng cho rằng Điện Biên nên tập trung tạo vùng tre nguyên liệu vững chắc phục vụ cho 2 NM chế biến sản phẩm gỗ, tre lớn trong tỉnh. Bộ trưởng cũng cho biết, sẽ có báo cáo kiến nghị Chính phủ giảm thuế cho ngành chế biến gỗ, tre, đồng thời tăng thuế đối với các sản phẩm gỗ NK nhằm tạo điều kiện cho SX trong nước... (Nông Nghiệp VN 22/3)đầu trang(
20/3, tại Ban quản lý rừng phòng hộ Nghi Lộc, Sở NN&PTNT, Chi cục Lâm nghiệp tổ chức giao ban Lâm nghiệp 3 tháng đầu năm 2013, cụm 1 gồm 9 đơn vị: Quỳnh Lưu, Yên hành, Diễn Châu, thị xã Cửa Lò, Nghi Lộc, TP Vinh, Hưng Nguyên, Nam Đàn và Công ty lâm nghiệp Đô Lương.
Ba tháng đầu năm 2013, nhiệm vụ bảo vệ, khoanh nuôi rừng đang được các đơn vị, chủ rừng thực hiện tốt, thông qua việc thường xuyên tổ chức tuần tra, đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tuyên truyền nâng cao ý thức cho người dân trong việc tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sâu bệnh hại.
Do điều kiện trồng rừng của các huyện phần lớn tập trung vào dự án WB3 nên việc triển khai thực hiện còn gặp nhiều khó khăn do vướng mắc trong việc cấp sổ đỏ. Trong tổng số 3.430 ha kế hoạch năm 2013 thì mới có 1/3 diện tích được cấp sổ đỏ, 2/3 diện tích còn lại Ban quản lý dự án tỉnh đang phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường làm thủ tục cấp sổ đỏ kịp thời để Dự án triển khai kịp thời vụ.
Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm 9 tháng cuối năm: tập trung bảo vệ tốt 884.240 ha rừng hiện có, khoanh nuôi thành rừng 85.280 ha; Tiếp tục tuyên truyền nâng cao ý thức của người dân về công tác quản lý bảo vệ rừng, PCCCR, phòng trừ sâu bệnh hại; Tập trung sản xuất cây giống đáp ứng đủ trồng và chăm sóc rừng; Chỉ đạo các dự án thực hiện kế hoạch trồng rừng, hoàn thành 1.500 ha rừng trồng theo kế hoạch được giao; Kiểm tra công tác bảo vệ rừng, giao khoán rừng, PCCCR, phòng trừ sâu bệnh hại và các hoạt động tổ chức khai thác lâm sản. . (Đài PT - TH Nghệ An 21/3) đầu trang(
Trong đó, có 35 ha đất rừng tạp, rừng hiệu quả kinh tế thấp được chuyển đổi sang trồng keo tai tượng và 21ha rừng trồng cây nhân giống.
Năm 2013, cùng với việc tập trung khoanh nuôi bảo vệ 4.200ha rừng tự nhiên, chăm sóc gần 2000 ha rừng trồng sản xuất, 280 ha rừng phòng hộ, Tổng đội thanh niên xung phong 3 Quỳ Hợp đã triển khai kế hoạch trồng mới 250ha rừng nguyên liệu, trong đó có 35ha đất rừng tạp, rừng hiệu quả kinh tế thấp được chuyển đổi sang trồng keo tai tượng và 21ha rừng trồng cây nhân giống.
Để thực hiện tốt kế hoạch này, Ban chỉ huy Tổng đội thanh niên xung phong 3 Quỳ Hợp đã chủ động liên hệ, phối hợp với các đơn vị lâm nghiệp trên địa bàn và Trạm vật tư nông nghiệp huyện để cung ứng 4,5 vạn cây giống, 60 tấn phân bón cho các hộ gia đình hội viên, đồng thời phân công cán bộ kỹ thuật đến từng hộ gia đình hội viên để hướng dẫn kỹ thuật phát quang, đào hố, bón phân trước khi trồng cây. (Đài PT - TH Nghệ An 21/3) đầu trang(
Thương vụ Việt Nam tại Singapore cho biết, tại Hội chợ Quốc tế Nội thất Singapore 2013, đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã ký được hợp đồng với kim ngạch ước tính gần 2 triệu USD.
Hội chợ Quốc tế Nội thất Singapore 2013 diễn ra từ ngày 9 - 12/3, có sự tham gia của 27 doanh nghiệp, trong đó có 7 doanh nghiệp tham gia lần đầu tiên. Có khoảng 2/3 số doanh nghiệp Việt Nam tham gia trưng bày sản phẩm tại Hội chợ Quốc tế Nội thất Singapore 2013 vừa qua đã ký được hợp đồng ngay tại hội chợ.
Việt Nam là nước xuất khẩu đồ gỗ lớn nhất ASEAN, lớn thứ nhì tại châu Á và thứ 10 trên thế giới. Năm 2012, xuất khẩu đồ gỗ đạt giá trị 4,5 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2011. (Đại Biểu Nhân Dân 20/3)đầu trang(
Năm 2013, huyện có kế hoạch phấn đấu trồng mới 4.000ha rừng sản xuất. Theo đó, Ban chỉ đạo phát triển KT – XH huyện đã phối hợp với UBND huyện tổ chức triển khai công tác trồng mới, chăm sóc rừng.
Các đơn vị được giao nhiệm vụ trồng rừng đã phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức họp thôn, bản, vận động các hộ dân chủ động đăng ký diện tích trồng mới rừng. Đồng thời, công tác thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh; chuẩn bị tốt hiện trường như: phát dọn thực bì, đào hố, lấp hố được các đơn vị tập trung chỉ đạo thực hiện đúng yêu cầu.
Ngoài ra, các ngành chức năng đã kiểm tra cây giống xuất vườn và cấp giấy chứng nhận lô giống đủ tiêu chuẩn, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng đưa vào trồng rừng. (Đại Biểu Nhân Dân 22/3)đầu trang(
Trong những năm qua, Lào Cai luôn chú trọng việc sử dụng hợp lý và bền vững các nguồn tài nguyên, trong đó có tài nguyên nước. Nhiều phương án được triển khai đồng bộ và phát triển lâm nghiệp là hướng hiệu quả và bền vững nhất cho việc bảo vệ, phát triển nguồn sinh thủy tự nhiên phục vụ đời sống và sản xuất.
Với điều kiện tự nhiên khá đặc thù, là tiềm năng, lợi thế để Lào Cai phát triển lâm nghiệp với các loại hình rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất. Mục tiêu phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn luôn được quan tâm hàng đầu bởi sứ mệnh điều tiết nguồn nước, hạn chế lũ lụt, cải thiện môi trường, phát triển kinh tế - xã hội... cho địa bàn dân cư rộng lớn thuộc lưu vực sông Hồng, sông Chảy và rộng hơn là các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Rừng phòng hộ của Lào Cai hầu hết nằm ở địa tầng 600m so với mực nước biển trở lên, độ tuổi thực vật cao, ít bị xâm hại nên thảm thực bì và lớp mùn khá dầy. Bộ rễ cây của rừng phòng hộ bám sâu, là những "hộ sĩ" công tác giữ nước trong mùa mưa, nhả nước vào mùa khô.
Ông Nguyễn Đức Lâm, Phó Chi cục trưởng Chi cục lâm nghiệp tỉnh cho biết: Diện tích rừng, nhất là rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đã và đang góp phần lớn trong bảo vệ nguồn nước sinh hoạt, nước sản xuất cho khu vực dân cư đầu nguồn sông Hồng. Diện tích rừng được mở rộng sẽ làm chậm tốc độ bồi lắng của các sông, suối, điều tiết nguồn nước sản xuất nông nghiệp.
Thực hiện Đề án Phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 toàn tỉnh đã trồng được 5.700 ha rừng phòng hộ, rừng cảnh quan môi trường, rừng phòng hộ biên giới. Đề án còn thành công khác là tiếp tục bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt. Việc khoanh nuôi, tái sinh rừng phòng hộ, rừng cảnh quan vượt gần 2 lần mức đề án giao. (Báo Lào Cai 21/3)đầu trang(
Ninh Thuận: Triển khai nhiệm vụ trồng rừng phòng hộ năm 2013
UBND tỉnh vừa tổ chức cuộc họp Ban chỉ đạo chương trình bảo vệ và phát triển rừng.
Trong năm qua, Ban quản lý dự án Bảo vệ rừng và phát triển rừng tỉnh đã chỉ đạo cho 9 Ban quản lý dự án bảo vệ và phát triển rừng cơ sở trên toàn tỉnh hoàn thành việc nghiệm thu các chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, đặc dụng theo đúng qui định và hoàn chỉnh các hồ sơ dự toán các công trình đã hoàn thành.
Hiện nay, diện tích rừng trồng thay thế nương rẫy của 5 Ban quản lý dự án phát triển tương đối tốt; trồng rừng phòng hộ, đặc dụng với diện tích 110ha đạt 100% kế hoạch; trồng cây nhân dân tại các huyện Thuận Bắc, Thuận Nam và Ninh Hải 150.000 cây đạt kế hoạch giao. Năm 2013, toàn tỉnh trồng rừng phòng hộ, đặc dụng tập trung với diện tích 118ha; chăm sóc rừng trồng 607,46ha; khuyến lâm 1ha; trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy 360, 2 tấn...
Ông Trần Xuân Hòa, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn nghiên cứu các giải pháp khả thi trong việc trồng rừng, điều chỉnh cân đối dự toán tăng định suất trồng rừng với sự hợp tác bảo vệ, chăm sóc rừng của người dân. Ban quản lý dự án cơ sở chủ động giao rừng theo phương thức cộng đồng quản lý góp phần nâng cao mật độ phủ xanh rừng trồng trên địa bàn tỉnh. (Báo Ninh Thuận 21/3)đầu trang(
Là đơn vị thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, khai thác, bảo vệ và phát triển rừng, Công ty Lâm nghiệp Bến Hải đã góp phần gây dựng lại những cánh rừng, nhanh chóng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, đưa độ che phủ rừng ngày càng cao, làm giàu thêm nguồn tài nguyên quý giá của rừng.
Nhờ xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của mình nên công ty đã hoàn thành việc khoanh nuôi, bảo vệ vốn rừng hiện có, trồng mới rừng tập trung, rừng phòng hộ, trồng cây phân tán; khai thác rừng có kế hoạch và hiệu quả. Bên cạnh đó, công ty còn phối hợp với Hạt kiểm lâm Vĩnh Linh (Quảng Trị) kiên quyết ngăn chặn, phòng chống nạn phá rừng, khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép các loại lâm sản. Đặc biệt là sự nỗ lực trong việc làm thay đổi tập quán du canh, du cư đốt rừng làm nương rẫy của đồng bào dân tộc miền núi, xóa bỏ tập quán lạc hậu trong sản xuất, khai thác rừng một cách bừa bãi làm cho tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt.
Trên cơ sở bảo tồn và phát triển vốn rừng hiện có, công ty không ngừng phát triển trồng rừng mới tập trung, rừng phòng hộ và phân tán. Với những quyết sách và giải pháp đồng bộ như thành lập Đội thanh niên lập nghiệp, làm đường giao thông ở các xã miền núi, giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình trong công ty và hộ đồng bào dân tộc bảo vệ.
Ngoài lực lượng công nhân lao động hiện có, Công ty Lâm nghiệp Bến Hải đã thu hút thêm từ 500-600 lao động, đặc biệt là con em đồng bào dân tộc Vân Kiều ở các xã miền núi huyện Vĩnh Linh, tạo việc làm và thu nhập ổn định, góp phần nâng cao đời sống cho người dân, hạn chế nạn phá rừng và nâng cao ý thức bảo vệ, phát triển rừng.
Để từng bước hội nhập và cạnh tranh một cách bình đẳng, công ty đã chủ động tham gia hội viên Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam.
Đặc biệt đã chủ động xây dựng chương trình quản lý rừng bền vững FSC, tiêu chuẩn CoC và mạng lưới kinh doanh lâm sản toàn cầu VFTN. Trong đó phải kể đến dự án đào tạo nâng cao năng lực quản lý lâm nghiệp bền vững đã được triển khai theo thoả thuận hợp tác giữa UBND tỉnh Quảng Trị và Công ty Tài chính lâm nghiệp Đức.
Mục đích của dự án là đào tạo, nâng cao năng lực cho giảng viên và công nhân kỹ thuật lâm nghiệp về các kỹ năng quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Dự án được xây dựng với nhiều đối tác khác nhau, trong đó Công ty Tài chính lâm nghiệp Đức và các đối tác khác hỗ trợ tài chính, Công ty Lâm nghiệp Bến Hải là đơn vị thụ hưởng. Đây là kết quả thực hiện chủ trương của nhà nước và của tỉnh Quảng Trị trong quá trình doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế.
Theo đó, hai bên cùng nhau hợp tác đầu tư trồng rừng thâm canh kỹ thuật cao, khoanh nuôi xúc tiến làm giàu rừng tự nhiên nghèo kiệt với diện 1.000 ha; phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững, tạo sản phẩm lâm nghiệp chất lượng cao, sản xuất chế biến gỗ đạt tiêu chuẩn FSC cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước. Việc hợp tác đầu tư giữa hai công ty sẽ tạo thêm nhiều việc làm ổn định và tăng thu nhập cho lao động địa phương, tăng nhanh độ che phủ của rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học.
Qua hơn 1 năm triển khai thực hiện hợp tác, các chuyên gia kỹ thuật của Công ty ForestFinance GmbH, Germany đã hỗ trợ Công ty Lâm nghiệp Bến Hải trong khâu kỹ thuật giống, cây trồng, chăm sóc rừng (tỉa cành, tỉa thưa), hỗ trợ về các lớp tập huấn nâng cao năng lực quản lý lâm nghiệp bền vững. (Báo Quảng Trị 20/3)đầu trang(
Câu chuyện già làng Hồ Xừn, Hồ Khằm ở Hướng Lập (Hướng Hóa, Quảng Trị) dù đã bước qua tuổi 80 vẫn hăng hái trồng cây gây rừng, chuyển đổi phương thức canh tác đã có tác động sâu sắc đến lớp trẻ.
Theo gương các già làng, năm qua, đã có hàng chục gia đình đồng bào dân tộc Vân Kiều ở xã Hướng Lập tự nguyên đưa giống cây lâm nghiệp về trồng, lợp lại màu xanh cho những quả đồi bị bào mòn qua bao mùa nương rẫy.
Cho đến nay, Hướng Lập là một trong những xã có đông bà con dân tộc ở huyện miền núi Hướng Hóa có phong trào trồng rừng mạnh mẽ, với diện tích bình quân mỗi năm trên 100 ha. Dựa vào rừng để phát triển rừng là một lựa chọn sáng suốt của người dân nơi đây mà không phải địa phương nào cũng làm được.
Theo số liệu thống kê hiện nay toàn xã đang quản lý 8.815 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 7.500 ha và 1.315 ha rừng trồng nằm xen kẽ với nương rẫy của bà con, mật độ che phủ rừng của Hướng Hiệp là khá cao, gần 67% diện tích tự nhiên. Với một xã miền núi có trên 75% là đồng bào dân tộc ít người, phương thức canh tác tương đối lạc hậu thì việc đầu tư để phát triển rừng là một sự đổi thay quan trọng. (Báo Quảng Trị 22/3)đầu trang(
Với diện tích 1,2ha trang trại mà chủ yếu là chăn nuôi lợn rừng, mỗi năm gia đình anh Trần Văn Hoan (khu dân cư Mật Sơn, phường Chí Minh, huyện Chí Linh, Hải Dương) thu 550 - 600 triệu đồng.
Trước khi mở trang trại nuôi lợn rừng, gia đình anh Hoan làm kinh doanh. Đi nhiều nơi, thấy nhiều người nuôi lợn rừng hiệu quả, năm 2007 anh quyết định làm trang trại. Số tiền anh đầu tư xây chuồng trại lên tới 1 tỷ đồng. Từ 16 con nái và 2 con đực giống ban đầu, đến nay trang trại của anh có 45 lợn rừng nái và 3 con lợn đực giống. Mỗi năm anh xuất chuồng 2 lứa, trong đó 2/3 số lợn bán giống (400 con) và gần 250 con lợn thịt. Thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của anh không chỉ ở Hải Dương mà cả Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Nội.
Anh Hoan nhớ lại: “Năm đầu tiên, do chưa có kỹ thuật, kinh nghiệm, lợn mẹ đẻ 7-8 con thì chết một nửa”. Theo anh Hoan, nuôi lợn rừng muốn thành công, quan trọng là phải áp dụng khoa học kỹ thuật kết hợp với kinh nghiệm; khu nuôi rộng rãi, thoáng mát và phải có nhiều cây xanh. Trong trang trại, anh trồng 300 gốc xoài, vừa cho đàn lợn rừng có bóng mát, vừa có quả bán.
Ngoài lợn rừng, anh còn nuôi nhím, dúi, cá. Với cá, anh chủ yếu nuôi các loại cá truyền thống như trắm, trôi, mè, chép. Với diện tích 2.000m2 ao, mỗi năm anh thu khoảng 7-8 tấn cá. Ngoài ra, anh còn nuôi gần 100 con vịt. Thành công trong nuôi lợn rừng, anh sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm, bí quyết của mình với mọi người. Nhiều người đến mua lợn giống đều được anh chỉ bảo tận tình cách chăm sóc, phòng bệnh và kỹ thuật.
Trang trại của anh Hoan đã tạo việc làm ổn định cho 2 lao động địa phương, với lương 4,5 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, anh còn thuê một cán bộ thú ý (lương 5 triệu đồng/tháng) để chăm sóc, phòng bệnh cho đàn lợn rừng.
Từ năm 2008 đến nay, anh Hoan liên tục được Hội nông dân tỉnh khen thưởng về thành tích sản xuất kinh doanh giỏi giỏi; được UBND tỉnh tặng bằng khen về thành tích sản xuất cây, con mới. Năm 2011, anh được T.Ư Đoàn trao tặng Giải thưởng Lương Định Của. (Nông Thôn Ngày Nay 22/3)đầu trang(
Những năm gần đây, nghề nuôi rắn đã làm “thay da đổi thịt” cho rất nhiều hộ gia đình ở tỉnh Tây Ninh. Tuy nhiên, do phong trào mang tính tự phát nên không phải ai cũng thành công với “kinh tế rắn”. Đến với nghề này, cần nhất là lòng kiên trì và một mô hình chăn nuôi khoa học khép kín mới hy vọng thành công.
Phong trào nuôi rắn manh nha từ cuối năm 2007 đầu năm 2008, bắt đầu từ xã Truông Mít, huyện Dương Minh Châu, Tây Ninh. Theo ông Nguyễn Thanh Giang – Trưởng Công an xã cho biết thì dân số xã khoảng 20.000 người thì có đến 25% số người làm kinh tế nuôi rắn. Nghề nuôi rắn bắt đầu lan dần sang các xã khác cùng huyện như Phước Minh, Lộc Ninh, Suối Đá… và hiện nay là toàn tỉnh.
Hiện tại, xã Truông Mít cũng đã thành lập Hợp tác xã Dịch vụ chăn nuôi rắn Tây Ninh từ giữa năm ngoái với hơn 80 hộ là xã viên, tổng số rắn nuôi ước tính lên đến 6.000 con. Hoạt động chính của HTX là cung cấp con giống, tổ chức các dịch vụ thương mại thương phẩm, tư vấn chăn nuôi và bao tiêu sản phẩm. Giống nuôi chủ yếu là một loại rắn không có nọc độc, cắn không chết người, tùy theo mỗi vùng miền mà có tên gọi khác nhau như hổ trâu, ráo trâu, hổ hèo… nhưng ở Tây Ninh người ta thường gọi là rắn hổ vện hay long thừa.
Ông Bùi Thanh Hồng ngụ tại ấp Thuận Hòa, xã Truông Mít, hiện đang là chủ nhiệm HTX rắn Tây Ninh lúc đầu cũng từ hai bàn tay trắng. Đầu năm 2010 được bạn bè đồng cảm giúp đỡ mỗi người cho vài con nuôi thử. Tổng số vốn ban đầu được bạn bè giúp đỡ là 53 con rắn, đến nay trang trại rắn của ông đã lên đến con số là 2.647 con các loại lớn nhỏ, đủ trang trải kinh tế gia đình và nuôi bốn người con học đại học. (Nhà Báo&Công Luận 22/3)đầu trang(
Từng là lâm tặc khét tiếng những năm 1980 với khối tài sản lớn nhưng chỉ sau một thời gian ngắn rừng già cạn kiệt, Nguyễn Văn Hạnh mới nhận ra cái giá phải trả.
Những năm tháng “thất nghiệp” bôn ba đó đây đã đưa Hạnh đến với khu đảo hoang giữa sông Đà để rồi sau đó anh “biến” nó thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng trong vùng.
Sinh ra ở vùng chiêm trũng Đan Phượng (Hà Nội) chỉ có lúa và hoa màu, cuộc sống nghèo khổ không giữ nổi đôi chân Hạnh. Mang theo tư tưởng “làm ít ăn nhiều”, “ngồi mát ăn bát vàng”, Hạnh bỏ quê đi về phía Tây tìm lên miền sơn cước Hoà Bình. Vào thời điểm những năm 1980, Hòa Bình đất rộng, người thưa, đặc biệt những cánh rừng già ngút ngàn tầm mắt.
Lúc mới lên, gia đình Hạnh nghèo lắm bởi ngoài túp lều với mấy thước ruộng trồng ngô, sắn..., Hạnh chẳng sở hữu cái gì đáng giá. Cái nghèo cứ đeo bám lấy anh. Thấy thương tâm, một người bạn rủ anh lên rừng khai thác gỗ để mang về xuôi bán kiếm lời. Như chất gây nghiện cứ gặm nhấm cuộc sống của Hạnh, anh lệ thuộc vào... rừng lúc nào chẳng hay. Chỉ sau một thời gian ngắn tham gia khai thác gỗ trái phép, Hạnh quyết định tách ra làm riêng. Không những vậy, anh còn đứng ra thu mua gỗ từ các đầu nậu khác rồi vận chuyển về xuôi bán cho khách hàng kiếm lời.
Lợi nhuận cao khiến Hạnh không chần chừ lao mình như con thiêu thân vào khai phá rừng điên cuồng. Hạnh tâm sự: “Năm 1986, gia đình tôi có tới gần 60kg tiền, nếu tính theo tỷ giá thời đó, tôi có thể mua được 1/3 diện tích thành phố Hòa Bình”.
Cuối những năm 1980 đầu năm 1990 được coi là thời kỳ làm ăn “hưng thịnh” nhất của gia đình Hạnh, khắp các cánh rừng từ Hòa Bình đến Sơn La… đều có dấu chân của Hạnh và gỗ được chuyển theo sông Đà về xuôi bằng bè. Để vận chuyển gỗ nhanh và thuận tiện hơn, Hạnh còn bỏ ra cả đống tiền “tậu” hẳn con tàu đưa gỗ từ những bãi tập kết mang đi giao cho khách.
Tuy nhiên, thời gian sau việc “làm ăn” của Hạnh không được thuận lợi, bởi gỗ rừng có hạn còn lòng tham thì vô đáy, cùng với đó là sự vào cuộc quyết liệt của các ngành chức năng nhằm ngăn chặn tình trạng khai thác gỗ trái phép. “Khi gia đình tôi mới bỏ số tiền lớn để mua tàu về vận chuyển gỗ, trong một lần chở gỗ về xuôi thì bị các cơ quan chức năng kiểm tra, phải bỏ của, chạy lấy người”, Hạnh nhớ lại.
Ngoài phá rừng, Hạnh không còn nghề khác, cũng chính vì thế, khi đến thời “mạt vận” cũng là lúc anh nợ nần chồng chất, dẫn đến “tán gia bại sản”.
Sau bao ngày miệt mài tìm kiếm, Hạnh cũng chọn được một khu đất khá phẳng và cao ráo nằm sát vùng lòng hồ sông Đà mà xưa kia chính là thị trấn Đà Bắc. Khi Nhà máy Thủy điện Hòa Bình tích nước, nơi Hạnh ở trở thành vùng sông nước bốn bên đều là đồi núi. Ngay sau khi chọn được “đất lành”, Hạnh bắt tay vào khai hoang và tiến hành chặt những cây gỗ tạp không có giá trị để trồng một số loại cây ngắn ngày như: ngô, sắn, keo… nhằm phục vụ cuộc sống hàng ngày
Sau đó, UBND tỉnh Hòa Bình quy hoạch vùng sông Đà thành địa điểm tham quan du lịch với nhiều cảnh quan nổi tiếng như: đền Thác Bờ, động Thác Bờ, chợ nổi trên sông… Cảng Thung Nai cũng được đầu tư xây dựng nên thuận tiện cho việc đi lại, tham quan. Hạnh nhận ra tiềm năng lớn về phát triển du lịch, quyết định biến khu đảo của mình thành một trong những điểm du lịch sinh thái nổi tiếng.
Để có tiền đầu tư, anh phải huy động, vay mượn từ anh em, bạn bè và một phần từ ngân hàng. Anh mua cây ăn quả về trồng, mua một ngôi nhà sàn làm nơi ăn uống, nghỉ ngơi cho khách. Với phương châm “vừa làm, vừa đầu tư” nên khi dành dụm được ít vốn, anh rất cẩn trọng trong việc đầu tư nhằm sử dụng nguồn vốn sao cho hiệu quả.
Lúc đầu, du khách về đảo Dừa chỉ lác đác vài người. Nhưng với phong cảnh hữu tình cùng thái độ phục vụ chu đáo, nhiệt tình, dần dần đảo thu hút khá đông du khách gần xa về tham quan, nghỉ dưỡng. “Đảo Dừa được tôi xây dựng theo phong cách của người bản địa với những ngôi nhà sàn cùng khu đốt lửa trại riêng biệt nhưng vẫn giữ được vẻ hoang sơ vốn có. Du khách đến đảo đều có thể tham quan một số phong cảnh tại đây như đền, động Thác Bờ, đi chợ nổi trên sông…”, anh Hạnh giới thiệu.
Hiện, mỗi tháng khu du lịch đảo Dừa đón tiếp hàng trăm lượt khách đến từ khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Tuy nhiên, do nguồn kinh phí còn hạn hẹp nên khu du lịch đảo Dừa chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống của du khách.
Hiện, trong tổng diện tích hơn 11ha của đảo Dừa, Hạnh đã trồng nhiều loại cây ăn quả, cây gỗ quý, cùng một số loại cây có thời gian sinh trưởng nhanh như keo... Hạnh hy vọng, khi những cây gỗ quý này phát triển sẽ giúp anh trả món nợ với rừng xanh. (Kinh tế Nông thôn 21/3)đầu trang(
Trong khi báo chí hân hoan đưa tin, còn các nhà bảo vệ động vật hoang dã khấp khởi mừng về “lệnh” đóng cửa các nhà hàng treo bán thịt động vật hoang dã ở chùa Hương thì trên thực tế, tình trạng này vẫn tiếp tục tái diễn…
Như đã đưa tin, nhờ sự vào cuộc nhiệt tình của báo chí, mới đây Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Văn Sửu đã yêu cầu các cơ quan chức năng địa phương nơi diễn ra lễ hội Chùa Hương phải có biện pháp xử lý triệt để tình trạng treo móc động vật một cách phản cảm nơi cửa Phật, bao gồm cả việc tịch thu giấy phép kinh doanh nếu cần thiết.
Động thái này của Lãnh đạo thành phố nhận được sự hưởng ứng nhiệt liệt từ công chúng cũng như các nhà hoạt động môi trường, bảo vệ các loài ĐVHD.
Ngay sau khi thông tin về chỉ thị trên được công bố, Cán bộ và tình nguyện viên của Trung tâm Bảo vệ Thiên nhiên (ENV) đã tiến hành khảo sát tình hình tại khu vực lễ hội Chùa Hương.
“Đáng buồn thay, chỉ trong một ngày khảo sát (19/3/2013) đối với toàn bộ 59 nhà hàng đã từng phát hiện vi phạm liên quan tới bảo vệ ĐVHD trong thời gian từ khi Lễ hội bắt đầu tới nay, cán bộ hiện trường của chúng tôi đã ghi nhận 33 nhà hàng vẫn tiếp tục có hành vi trưng bày, quảng cáo các sản phẩm động vật một cách phản cảm, bao gồm cả các hành vi vi phạm liên quan tới ĐVHD” - ông Trần Việt Hưng, Phó Giám đốc Trung tâm ENV cho biết.
Ông Hưng cũng cho biết, khu vực Bến Yến được ghi nhận đã có nhiều chuyển biến tích cực khi đa số các nhà hàng ở đây đã không trưng bày động vật trước cửa. Tuy nhiên, ông Hưng vẫn chưa thực sự yên tâm bởi “đây không phải là thời kỳ cao điểm của Lễ hội nên cũng chưa thể khẳng định được gì nhiều”. Hơn thế nữa, tình trạng trưng bày ĐVHD một cách phản cảm vẫn diễn ra công khai và phổ biến tại khu vực trước cửa chùa Thiên Trù.
Theo danh sách mà ENV cung cấp cho VnMedia, buổi “thâm nhập” hôm 19/3 của cán bộ VNV cho thấy, phổ biến là các nhà hàng trưng bày nhím trong tủ mát (28 nhà hàng), một số nhà hàng khác có biển quảng cáo mật gấu hoặc có bình rượu ngâm rắn hổ mang chúa; quảng cáo thịt cầy, nai, lợn rừng trên bảng… (Vnmedia 22/3)đầu trang(
Khi tìm hiểu về những khó khăn, bất cập trong việc quản lý cưa xăng (cưa lốc) ở Bắc Kạn và Hà Giang, đến đâu cũng nhận được thông tin "chúng tôi đi học hỏi kinh nghiệm ở tận tỉnh Hòa Bình".
Ông Nguyễn Ngọc Thanh, cán bộ Hạt kiểm lâm Mai Châu là người có nhiều năm nghiên cứu cách áp dụng quy chế quản lý cưa xăng bộc bạch tâm trạng về những ngày đầu suy nghĩ cách đối phó với cưa xăng: “Rừng tự nhiên còn gỗ quý hiếm lại ở gần dân cư, gỗ cứng kiểu gì nhưng nếu gặp cưa xăng thì chỉ loáng một cái đã đổ, những chiếc cưa xăng phá rừng nhanh như vậy, lại giá rẻ sẽ là phương tiện chủ lực tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Nếu chúng ta không quản lý, thu giữ cưa như thu súng thì kiểm lâm sẽ rất vất vả".
Với những câu hỏi đặt ra trong suy nghĩ cũng như tại các cuộc họp như vậy, anh đã cùng đồng nghiệp quyết tâm tham mưu cho Hạt kiểm lâm huyện Mai Châu (Hòa Bình), để rồi đề xuất với HĐND, UBND huyện Mai Châu để có được một quy chế quản lý cưa xăng.
Cấp ủy, chính quyền huyện Mai Châu cũng rất quan tâm đến việc quản lý loại cưa này nên việc ban hành quy chế quản lý cưa xăng nhanh chóng được triển khai đến từng hộ dân.
Quy chế được ban hành đầu năm 2009 và thực thi đầu tiên ở các hộ dân của xã Cun Pheo (Mai Châu). Do có giải thích cụ thể, nên rất nhiều hộ dân đã hiểu rõ nội dung, ý nghĩa của quy chế, họ đã tự nguyện giao nộp những chiếc cưa xăng cho UBND xã quản lý. Để đáp lại mong muốn của bà con là sợ mất cưa khi ký gửi, UBND xã Cun Pheo đã dành riêng một phòng làm việc tại trụ sở ủy ban xã, làm nơi “nhốt” những chiếc cưa đó, đồng thời cắt cử người trông coi riêng và chịu trách nhiệm nếu như cưa bị mất.
Tuy nhiên, cưa là tài sản của người dân, họ cần lúc nào là làm đơn và có xác nhận của Trưởng thôn rồi lên xã lấy cưa về dùng. Do đó, ngày nghỉ thì ủy ban xã cũng phải cử người trực nếu dân có đến mượn cưa đi cắt gỗ hợp pháp và đã có xác nhận của trưởng thôn về mục đích dùng cưa, vị trí dùng cưa, thời gian dùng cưa, số người dùng cưa...
Nói về kết quả sau mấy năm thực hiện quy chế quản lý cưa xăng, ông Hà Văn Thoan, Chủ tịch xã Cun Pheo vui vẻ cho biết: “Cun Pheo chỉ có mấy chục chiếc cưa xăng, chúng tôi suy tính mãi, cuối cùng lấy ý kiến của một số bô lão các thôn, mọi người đều ủng hộ cách làm quyết liệt để bảo vệ rừng, đa phần ủng hộ cách "nhốt" tất cả cưa vào kho ủy ban xã, nhờ vậy rừng tự nhiên tại xã này đã được bảo vệ tốt hơn, số vụ phá rừng đã giảm hẳn rồi".
Tuy nhiên, do chưa quen kiểu "hành chính" này, ban đầu các gia đình dùng cưa nghiêm túc cũng bị bức xúc vì họ cho rằng, cái cưa đó là của mình mua chỉ để cắt củi, sao lại phải đi "xin" mới được dùng, vì sao kiểm lâm không lên rừng bắt hết bọn lâm tặc để những người ngay không bị chung cám cảnh "nhốt" cưa.
Theo tìm hiểu thì các xã: Pà Cò, Hang Kia, Piềng Vế của huyện Mai Châu, thì việc quản lý cưa xăng gặp muôn vàn khó khăn, có thôn ở xa trung tâm xã, nếu giữ cưa xăng của dân tại ủy ban xã, đồng nghĩa với việc gây khó khăn cho dân. Cho nên có xã vẫn cho các chủ cưa xăng tự quản lý tài sản tại nhà, nhưng phải ký vào bản cam kết. Đến khi cán bộ đến kiểm tra mà cưa không có tại nhà, tự ý đem vào rừng tự nhiên là vi phạm pháp luật.
Theo đánh giá của Kiểm lâm huyện Mai Châu, từ khi có quy chế quản lý cưa xăng, các vụ phá rừng tự nhiên đã giảm trên 80%. Còn theo một số hộ dân cửa rừng lại có mong muốn nhà nước có thêm cơ chế khuyến khích và đảm bảo an toàn cho người dân tố giác các hành vi dùng cưa xăng phá rừng tự nhiên, thì chắc chắn số vụ phá rừng sẽ ngày càng giảm. (Nông Nghiệp VN 21/3)đầu trang(
192 ha là số liệu báo cáo diện tích rừng ở tỉnh Đắk Lắk bị tàn phá trong năm 2012. Trong khi đó, từ năm 2008 đến 2011, trung bình mỗi năm ở tỉnh này có hơn 3.000 ha rừng biến mất. Vậy con số 192 ha có thật sự đúng?
Trong báo cáo năm 2012, UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, các ngành chức năng đã phát hiện tổng số 2.060 vụ vi phạm lâm luật, trong đó khởi tố hình sự 27 vụ, tịch thu hơn 4.000 m3 gỗ các loại, tịch thu 682 phương tiện; thu nộp ngân sách 26,6 tỷ đồng. Diện tích rừng bị chặt phá trái phép trong năm 2012 là 192 ha, giảm nhiều so các năm trước (trước đó, từ năm 2008 đến 2011, trung bình mỗi năm có hơn 3.000 ha rừng bị phá). Vì sao lại thấp như vậy?
Khi đề cập đến con số đó, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk Ðinh Văn Khiết đã không tin vào các con số báo cáo này, bởi trước đây bình quân mỗi năm trên địa bàn tỉnh bị phá hơn 3.500 ha, vậy mà năm nay chỉ bị phá hơn 192 ha thôi. Vậy thì vì sao mà chúng ta làm được kết quả này, vì sao bốn năm trước bình quân mỗi năm bị phá là 3.500 ha mà nay chỉ có 192 ha?
Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Ðôn Nguyễn Văn Xuân cho biết: Chỉ riêng con số này là đã thấy không đúng. Về số gỗ quý hiếm bị tịch thu, như trong báo cáo là 165 m3, nhưng thực tế thì riêng Vườn Quốc gia của chúng tôi đã là hơn 200 m3 rồi. Về tổng số vụ vi phạm năm 2012, chỉ riêng tại Vườn Quốc gia đã là 592 vụ (năm 2011 chỉ 510 vụ) và toàn bộ số gỗ tịch thu là 500 m3.
Theo số liệu thống kê, sau gần bốn năm thực hiện giao đất trồng các dự án nông, lâm nghiệp, đến nay các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chỉ mới trồng hơn 7.235 ha cao-su và gần 8.000 ha rừng. Tiến độ trồng cao-su, trồng rừng thì diễn ra theo kiểu "rùa bò" so với kế hoạch, còn việc tận thu gỗ trên diện tích rừng được phép chuyển đổi lại được các doanh nghiệp triển khai rất nhanh chóng. Với ngần ấy thời gian, hơn 44.000 m3 gỗ trên diện tích 7.343 ha rừng đã bị khai thác. (Nhân Dân 21/3)đầu trang(
Ngoài việc để mất rừng với diện tích lớn và không hoàn thành nhiệm vụ thì doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Phạm Quốc (có trụ sở đóng tại thôn 3, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) còn có nhiều biểu hiện vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng.
Năm 2008, DNTN Phạm Quốc do ông Phạm Quốc Chiến làm Giám đốc (có trụ sở đóng tại thôn 3, xã Đắk Som, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông) được UBND tỉnh Đắk Nông cho thuê hơn 318ha đất lâm nghiệp ở các tiểu khu 1536, 1527, 1537, 1538 và 1521 thuộc địa giới hành chính xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức để thực hiện nhiệm vụ trồng rừng, trồng cao su và khoanh nuôi bảo vệ rừng. Thế nhưng, ngoài việc để mất rừng với diện tích lớn và không hoàn thành nhiệm vụ thì DN này còn có nhiều biểu hiện vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng…
Còn nhớ vào đầu năm 2010, chúng tôi có dịp theo Đoàn công tác 12 của huyện Tuy Đức vào các tiểu khu 1536, 1527, 1537, 1538 và 1521 thuộc lâm phận quản lý của DNTN Phạm Quốc, để truy quét “lâm tặc”. Khi chứng kiến những cánh rừng tự nhiên bạt ngàn nơi đây, đích thân ông Lê Văn Quang, nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Tuy Đức, Trưởng Đoàn công tác khi đó đã phải thốt lên rằng: “Rừng thuộc lâm phận của DNTN Phạm Quốc có mật độ che phủ rất dày, trữ lượng gỗ rất lớn, nếu không quản lý, bảo vệ được thì không chỉ lãng phí nguồn tài nguyên mà còn có lỗi lớn với thiên nhiên”.
Thế nhưng, mới đây, khi cùng một số cán bộ thuộc lực lượng Kiểm lâm huyện Tuy Đức trở lại các tiểu khu trên chúng tôi đã không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh tượng rừng bị “cạo trọc” một cách “hoàn hảo”. Các khu rừng giờ đây chỉ còn là những khu đồi trọc và những rẫy mì bạt ngàn. Hiện trạng rừng thay đổi đến mức, khi được một cán bộ kiểm lâm Tuy Đức giới thiệu chúng tôi đã không thể tin đó là sự thực, vì nơi đây không hề còn một mẫu rừng. Tại những khu vực rừng bị phá đã xuất hiện một số diện tích cao su và rừng trồng có độ tuổi khoảng từ 2 đến 3 năm, nhưng thân hình èo uột, bị cỏ cây mọc kín, không được chăm sóc.
Theo Báo cáo số 382/BC-SNN ngày 22/4/2011 của Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Nông cho thấy: “…DNTN Phạm Quốc được UBND tỉnh Đắk Nông giao nhiệm vụ khoanh nuôi, bảo vệ hơn 234ha rừng tự nhiên, nhưng đã để người dân chặt phá hơn 224ha. Đăng ký trồng 29ha rừng, 30ha tre Bát bộ và 23ha cao su nhưng khối lượng thực hiện là không đáng kể, không hiệu quả và chất lượng rất thấp”.
Ngoài việc không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì trong thời gian qua, DNTN Phạm Quốc còn bị nhiều hộ dân trú ở huyện Tuy Đức (Đắk Nông) và huyện Bù Đăng (Bình Phước) gửi đơn đến các cơ quan chức năng để tố cáo về các hành vi như: “phá hoại tài sản công dân, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, dùng “xã hội đen” để bảo vệ rừng…”.
Theo xác định của cơ quan điều tra Công an tỉnh Đắk Nông cho thấy, trong thời gian qua, DNTN Phạm Quốc đã thuê nhiều thanh niên là thành phần bất hảo, luôn ăn mặc hầm hố, xăm mình và sử dụng các loại hung khí như súng, dao, kiếm, mã tấu, lựu đạn, bình xịt hơi cay… để làm “nhiệm vụ” bảo vệ rừng. Lực lượng bảo vệ của DNTN Phạm Quốc thường hoạt động một cách ngang tàng, xem thường luật pháp, nhiều lần đánh đập người dân vô cớ trên địa bàn.
Điển hình là vào tháng 10/2011, anh Tráng A Minh và Tráng A Lứa (cùng trú ở thôn Đoàn Kết, xã Đắk Ngo, huyện Tuy Đức) trong khi đi tìm ong lấy mật đã bị lạc vào tiểu khu 1536 và bị một nhóm bảo vệ của DNTN Phạm Quốc dùng súng uy hiếp, bắt giữ rồi đánh trọng thương.
Tiếp đến, ngày 12/11/2011, “đội quân” bảo vệ của DNTN Phạm Quốc lại xảy ra xô xát, đánh nhau với người dân địa phương. Trong đó, đối tượng Dương Viết Hoài (26 tuổi, trú xã Minh Hưng, huyện Chơn Thành, Bình Phước), một trong những tên côn đồ mà DNTN Phạm Quốc thuê làm “bảo vệ” đã dùng súng M16 bắn liên tiếp 3 phát về phía người dân địa phương, khiến anh Điểu MRú (30 tuổi, trú tại thôn Đắk La, xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước) trúng đạn và tử vong sau đó…
Cũng theo xác định của cơ quan chức năng, ngoài việc hành xử theo kiểu “xã hội đen” thì DNTN Phạm Quốc cũng không chấp hành các quy định của UBND tỉnh Đắk Nông về việc đền bù, hỗ trợ khi thu hồi đất của người dân.
Theo đó, tại Quyết định số 1150/QĐ-UBND ngày 29/8/2008 của UBND tỉnh Đắk Nông có quy định: “Đối với các hộ dân đang xâm canh trong khu vực dự án, DNTN Phạm Quốc phải thực hiện hỗ trợ thiệt hại theo những phương án đã trình duyệt trước đó. Trong trường hợp các hộ dân không đồng ý nhận tiền hỗ trợ, bàn giao mặt bằng thì DNTN Phạm Quốc phải căn cứ theo ý kiến chỉ đạo tại Thông báo số 66/TB-UBND ngày 13/8/2008 của UBND tỉnh Đắk Nông để thực hiện vận động di dời hoặc cưỡng chế”.
Thế nhưng, khi tiến hành giải phóng mặt bằng, thu hồi đất của những hộ dân xâm canh, DNTN Phạm Quốc đã ngang nhiên phá hoại nhà cửa, cây trồng, vật nuôi của dân mà không thương lượng, đền bù. Thậm chí, năm 2012, ông Phạm Hùng Quang, người góp vốn và ông Phạm Quốc Chiến, Chủ DNTN Phạm Quốc, đã tự ý bán tổng cộng 126ha mì của người dân xâm canh trồng tại tiểu khu 1536, thu về hơn 3,1 tỷ đồng để chia nhau mà trước đó không hề thương lượng, đền bù, hỗ trợ cho dân theo như quy định.
Theo xác định của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Nông thì, việc làm của ông Chiến và ông Quang đã đủ yếu tố để cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đã được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đồng ý khởi tố vụ án hình sự…
Thời gian qua, việc tỉnh Đắk Nông có chủ trương giao đất, giao rừng cho các DN để thực hiện các dự án phát triển nông - lâm nghiệp là hết sức đúng đắn, phù hợp với thực tế khách quan và góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ tài nguyên rừng, giải quyết việc làm, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Trong khi đó, DNTN Phạm Quốc không những không đáp ứng được các chủ trương, quy định chung của tỉnh mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. (Công An Nhân Dân 22/3; Công an TPHCM 22/3)đầu trang(
21/3, Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định tạm giữ phương tiện đối với xe container mang biển kiểm soát 81C – 022.77 để xử lý về hành vi chở quá tải trọng cho phép.
Cùng ngày, Công an tỉnh Đồng Tháp đang làm nhiệm vụ trên tuyến QL30 (đoạn qua phường 1, TP Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp) thì phát hiện xe container nói trên do tài xế Châu Hữu Hồng Sơn (38 tuổi, ngụ Gia Lai) điều khiển lưu thông từ ngã ba An Thái Trung (Tiền Giang) vào TP Cao Lãnh.
Qua kiểm tra, phát hiện trên xe container chở trên 77 tấn gỗ, quá tải trọng cho phép từ Gia Lai về Đồng Tháp. Tổ tuần tra đã lập biên bản vi phạm và tiến hành tạm giữ phương tiện để xử lý. (Công An Nhân Dân 21/3)đầu trang(
Người đi đường nhiều lúc giật mình khi thấy những động vật quý hiếm như: Cá mập, trăn khổng lồ hay ngựa bạch được xẻ thịt công khai.
Cách đây ít ngày, trên đường Tôn Đức Thắng gần ngã tư Nguyễn Thái Học, Hà Nội một chủ nhà hàng đã dùng chiêu tiếp thị con cá mập gần 100 kg ngay trên vỉa hè trước cửa hàng, khiến không ít người dùng xe lại vì tò mò.
Con cá mập dài 1,5m, có trọng lượng gần 100 kg được mua của những ngư dân vùng biển Hải Hậu (Nam Định). Theo chủ nhà hàng, nó sẽ được "xẻ" thịt bán cho thực khách trong hai ngày cuối tuần. Mỗi suất dành cho 6 người ăn có giá hơn 1,3 triệu đồng.
Trước Tết, trên đoạn đường Kim Giang (Thanh Xuân - Hà Nội) xuất hiện một nhóm người đem hàng chục con cá sấu đổ ra ven đường rồi tiến hành giết mổ, lột da... khiến hàng trăm người dân đi đường hiếu kỳ dừng lại xem.
"Đặc sản thịt cá sấu" lại thu hút nhiều người đàn ông, thanh niên tò mò đứng xem, rồi mua thịt làm tắc cả một đoạn đường. Sau khi giết mổ phần thịt cá sấu được nhóm người này chặt từng khúc bán cho người tiêu dùng với giá bán từ 180.000 đồng đến
Trước đó không lâu, một con ngựa bạch nặng hơn 2 tạ, bị cắt đầu, xẻ thịt bầy bán trên hè phố Lê Duẩn. Nhiều người đi đường thấy đám đông túm năm, tụm ba đã dừng lại xem, sau khi biết là giết thịt ngựa bạch đã vào mua thịt mang về. Giá thịt bán tại chỗ là 200.000 đồng/kg. Đến trưa cùng ngày, phần thịt con ngựa đã bán gần hết, phần xương được gia đình người giết mổ mang về nấu cao.
Không chỉ Hà Nội mà ngay tại nhiều thành phố khác, hiện tượng bán đặc sản vỉa hè cũng xuất hiện, đáng chú ý những loại động vật này lại nàm trong danh sách động vật quý cần được bảo vệ.
Tại Quy Nhơn (Bình Định), nhiều người dân đi đường không khỏi ngạc nhiên khi thấy 2 người đàn ông trạc tuổi trên 40 đang bày bán "thịt heo rừng" ngay bên đường Hùng Vương, đoạn thuộc phường Nhơn Bình, TP. Quy Nhơn.
Bày bán heo rừng giữa phố, người thanh niên dùng bình gas mini làm lông ngay tại vỉa hè để bán cho khách. Theo ghi nhận, thịt heo đã được xẻ ra từng miếng nhỏ vẫn còn nguyên bộ lông đen dài, được giao bán với giá 250.000/kg. Không ít người thấy lạ nên tấp vào bên đường xem, trong số đó có người thấy thịt heo tươi ngon, sau khi hỏi han người bán về nguồn gốc đã không ngần ngại rút tiền ra mua.
Tại TP HCM, tuyến đường Xuyên Á đoạn đi qua địa phận huyện Hóc Môn và Củ Chi xuất hiện nhiều người rao bán trăn rừng tươi sống lẫn trăn đã được xẻ thịt. Dọc dài tuyến đường này, người ta bày những lồng trăn lộ thiên mời gọi kẻ lại người qua bằng tấm bảng tô đậm dòng chữ "bán trăn", "bán thịt trăn"...
Qua tìm hiểu được biết, những con trăn tươi sống lẫn trăn bị xẻ thịt được rao bán trên tuyến đường Xuyên Á có nguồn gốc từ các hộ nuôi trăn ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt tại 2 tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau.
Đây là những con trăn già yếu, bị mắc những chứng bệnh khó chữa mà thương lái từ chối mua hoặc nếu có mua thì trả giá vô cùng rẻ nên các đầu nậu đã nảy sinh sáng kiến mang lên thành phố lớp xẻ thịt, lớp nhốt lồng phô giữa phố xá, rồi đơm đặt những tính năng chữa bệnh, làm đẹp nhiệm mầu để bán với giá cao cho những vị khách đi đường cả tin.
Ngay cả những động vật vào danh sách cấm cũng được bán trên vỉa hè. Chiều ngày 4/9/2012, tại chợ Cột 5, phường Hồng Hà, TP.Hạ Long (Quảng Ninh), cơ quan chức năng đã phát hiện và bắt quả tang vụ bán thịt khỉ một cách công khai.
Tại cơ quan công an, người bán khai nhận đã mua 1 con khỉ đã chết có trọng lượng khoảng 9kg của một người đàn ông không rõ danh tính mang lên TP.Hạ Long bán thì bị phát hiện, thu giữ. Bà Síu cũng khai nhận đã nhiều lần mang thịt khỉ lên Hạ Long bán.
Dịp trước tết tại Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắk Lắk), xuất hiện một số nhóm người công khai bày bán thịt động vật với lời quảng cáo là thịt heo rừng, thịt nai rừng... thu hút nhiều người ghé mua. Thịt heo rừng, thịt nai rừng; giá mỗi loại dao động từ 200.000 đồng - 220.000 đồng/kg. (Theo Vef 22/3)đầu trang(
Thông tin nhanh qua đường dây nóng báo Nhân Dân phản ánh: Nhiều hộ dân ở TP Cà Mau tận dụng ao đầm, chuồng trại trong vườn nhà để nuôi động vật hoang dã quý hiếm. (Nhân Dân 22/3) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Chú rùa biển tên Y-u, 25 tuổi, cư dân của Thủy cung Thành phố Kobe đã có một bộ phận giả lắp trên mình. Đó là chiếc vây trước bị cá mập - hung thần của biển cả tấn công và đớp cụt mất.
Năm 2008, chú mắc vào lưới của những ngư dân, số phận chẳng biết ra sao. Thật may, các nhà sinh học biết tin bèn đến “giải cứu” và đưa vào Thuỷ cung Kobe, nơi trưng bầy động vật biển.
Các bác sĩ thú y nhận thấy Y-u bị thương khá nặng. Toàn bộ vây trái và một phần vây phải bị mất và đang tiếp tục bị huỷ hoại. Họ đã chữa cho chú và cố gắng trả lại khả năng vận động cho “ông bạn” nặng 96kg này.
Chú rùa Y-u được lắp hai chiếc vây giả bằng cao su đặt riêng. Từ đó đến nay, các chuyên gia ở thuỷ cung đã thay thế cho chú cặp vây giả tới 26 lần, vì những chiếc vây nhân tạo ghép vào chi không chặt lại làm chú bị đau, và bị hỏng theo thời gian do cao su bị lão hoá phải thay mới. Đã thế chú chỉ bơi với tốc độ bằng 60% tốc độ trước kia.
Đầu năm 2013, các chuyên gia đã nghiên cứu chế tạo cho Y-u chiếc vây có thiết kế đặc biệt: trên thân rùa có một “chiếc áo gilê” may bằng vật liệu rất nhẹ và đàn hồi, gắn liền với vây giả.
Cải tiến mới này làm Y-u rất hài lòng. Với vẻ thoả mãn không che giấu, chú bơi tung tăng trước sự chiêm ngưỡng của người xem trong khoảng không gian quen thuộc với tốc độ nhanh hơn trước nhiều.
Rùa biển đầu tròn thuộc loài đang bị tuyệt chủng. Trong môi trường sống tự nhiên, chúng có thể bơi với tốc độ 24 km/h, tuổi thọ trung bình là 50 năm.
Trường hợp tương tự xảy ra với chú cá vàng tên Dick đã 17 năm sống ở Thuỷ cung trong một Nhà hàng tại New York (Mỹ). Chú bị chẩn đoán là viêm bong bóng. Để chú có thể nổi lên mặt nước để ăn, người ta nghĩ cho chú một chiếc ghế đặc biệt cho kẻ tàn tật lắp từ một chiếc ống vừa hợp với kích thước của chú, phao và vải băng (gạc). (Vietnamnet 19/3) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||