|
Ngày 21 tháng 10 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Với rừng nhiệt đới gió mùa, đa dạng sinh học, Việt Nam có rất nhiều loại cây cỏ có thể dùng chữa bệnh, từng nổi tiếng là quốc gia dồi dào về nguồn nguyên liệu dược phẩm. Thế nhưng, hiện nay đến 90% nguồn dược liệu phục vụ bào chế, sản xuất thuốc tân dược, thực phẩm chức năng, thuốc Đông y phải nhập khẩu từ Trung Quốc.
Trong khi đó, nguồn dược liệu quý, hiếm trong nước thì bị khai thác theo kiểu tận diệt, bán giá rẻ cho thương lái Trung Quốc. Nghiêm trọng hơn là nguồn dược liệu nhập khẩu hiện không được kiểm soát cả về chất lượng, mức độ an toàn cho người tiêu dùng…
Rừng miền Trung, Tây Nguyên vốn có nhiều cây thuốc quý, từ xa xưa đã giúp đồng bào dân tộc thiểu số trên dãy Trường Sơn khỏe mạnh từ lúc chào đời đến khi thượng thọ. Nhưng nay, nhiều loại dược liệu quý đang bị khai thác cạn kiện, bán cho thương lái rẻ như rau, củi. Việc sử dụng cũng hết sức tùy tiện, chủ yếu theo… tin đồn, không những phản tác dụng mà người dùng có khi còn rước bệnh vào thân.
Đến hẹn lại lên, cứ vào mùa mưa là người dân các huyện Tu Mơ Rông, Kon Plông (Kon Tum) đổ xô vào rừng săn tìm lá kim cương. Tại cửa rừng xã Đắk Na huyện Tu Mơ Rông, nơi tiếp giáp chân núi Ngọc Linh có hàng chục thương lái chờ sẵn, thấy người dân nào trong rừng ra là họ chạy tới lục gùi, hỏi lá kim cương.
Bà Nguyễn Thị Bảy - một thương lái - cho biết: “Bây giờ lá kim cương khá hiếm, phải đón tận rừng mới mua được, nếu họ mang về làng thì các quán tạp hóa mua hết. Thậm chí chúng tôi phải lấy số điện thoại của những người đi rừng, gọi trước để biết ngày nào họ đi, tìm được bao nhiêu, khi nào về, để đón”.
Theo các thương lái này, hiện nay đã có một số đoàn thương lái nước ngoài vào tận làng, có người phiên dịch đi theo để mua lá kim cương - chủ yếu là thương lái người Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc. Hiệngiá mua lá kim cương tươi tại cửa rừng khoảng 1,5-1,7 triệu đồng/kg, nếu phơi khô thì bán được 16-17 triệu đồng/kg.
Một số thương lái tiết lộ, khi đưa qua biên giới Trung Quốc, lá kim cương bán được 3-4,5 triệu đồng/kg tươi. Nhưng không phải bây giờ, mà việc khai thác lá kim cương đã diễn ra từ 10 năm trước, lúc đó giá rất rẻ, chỉ vài chục nghìn đồng/kg. Ông A Linh (trú xã Đắk Na) cho biết: “Cây kim cương thường mọc trên thảm lá mục trong rừng sâu, ven suối, khe đá ẩm ướt…”.
Theo một số tài liệu trong nước, cây kim cương là dược liệu quý, có tác dụng chữa đau lưng, phong phấp, lao phổi… Nhưng cho đến nay, khi nguồn dược liệu này gần như tiệt chủng vẫn chưa có một nghiên cứu chuyên sâu, đầy đủ về dược tính của loại cây này để có phương án bảo tồn, phát triển. Với người dân nghèo ở gần rừng, một ngày kiếm được 500.000 - 700.000 đồng đã nhiều, do vậy lúc nông nhàn họ tập trung vào rừng săn lùng lá kim cương. Với tốc độ khai thác trong 10 năm qua, cây kim cương ở rừng bắc Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ xóa sổ.
Tại các xã Tê Xăng, Măng Ri, huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum), hiện nay người Xê Đăng bản địa vẫn ngang nhiên đào bới, săn tìm đẳng hồng sâm (hay còn gọi là sâm dây). Sau sâm Ngọc Linh mọc tự nhiên, sâm dây cũng đã đến thời kỳ cáo chung bởi nạn khai thác mà không hề có phương pháp trồng lại hay khoanh nuôi, phát triển. Cây sâm dây bày bán công khai, chất thành đống như củ mì. Giá sâm tươi chỉ 50.000 - 100.000 đồng/kg. Nếu phơi khô, đôi khi 300.000 - 500.000 đồng/kg tuỳ loại. Nhưng lạ lùng là chẳng ai, cơ quan nào cấm đoán, kiểm soát, quản lý, đóng thuế…?
Mới đây, vì tin đồn cây xáo tam phân là thần dược, có thể chữa bách bệnh. Đặc biệt là điều trị ức chế được 5 dòng tế bào ung thư, hàng trăm người đã đổ về Ninh Vân, huyện Ninh Hoà (tỉnh Khánh Hoà) để lên núi Hòn Hèo, đào lật cả rừng, bới tìm tận gốc rễ. Chưa biết thực hư giá trị thần dược hay không, nhưng giá thành của loại thảo dược này liên tục tăng từ vài trăm ngàn đồng/kg lên 1,5-1,8 triệu đồng/kg. Người dân lấy cả thân, cành, lá và thậm chí đào lấy rễ, băm nhỏ, chẻ vụn, phơi để sắc lấy nước uống ngay hoặc ngâm rượu dùng dần dần.
Trước đó, lời đồn đại tương tự cũng dành cho cây mật nhân. Hậu quả là loài cây này bị truy lùng, tận diệt ở khắp đồi nghèo đến rừng sâu, từ các huyện miền núi Quảng Nam, Quảng Ngãi, đến các tỉnh Tây Nguyên. Rộ lên nhiều nhất là tại tỉnh Đắk Nông. Cây mật nhân mọc hoang chẳng bao lâu đã thành thần dược quý hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Theo một nhóm gần 20 người từ Quảng Ngãi, ông Nguyễn Văn Sơn vác ba lô lội rừng Đắk Nông mấy ngày nay, vừa kiếm được 30kg rễ mật nhân đem ra thị xã Gia Nghĩa bán. Tại thị xã này, mật nhân dạng cây, rễ còn tươi được bán với giá 70.000 - 100.000 đồng/kg, loại xắt lát phơi khô thì đắt hơn nhưng cũng chỉ khoảng 200.000 đồng/kg.
Hỏi công dụng của mật nhân, ông Sơn bất tuyệt: “Đây là cây mà bệnh gì cũng chữa được hết. Thí dụ như đau lưng, đau bụng, khí huyết hư… Đặc biệt hơn các loại thảo dược khác, mật nhân ngâm rượu uống có tác dụng bổ thận, cường dương, một người khỏe hai người vui”.
Không chỉ những người bán mật nhân như ông Sơn, mà trên hàng loạt trang web đều quảng cáo mật nhân như thần dược, họ copy bài từ trang này sang trang khác, kèm số điện thoại để mua. Do người bán thổi phồng công dụng, số người mua mật nhân về dùng tăng nhanh, kích thích việc khai thác từ rừng tự nhiên.
Theo ông Trương Văn Minh - Chủ tịch Hội Đông y tỉnh Đắk Nông - do biết công dụng của mật nhân, thời gian gần đây có nhiều người đổ xô vào rừng khai thác, đem về bán rẻ như củi mục. Với đà khai thác này, cây mật nhân sẽ bị cạn kiệt trong nay mai.
Cây ươi, chỉ ra quả khi thân gỗ to cả chục mét, 2 năm mới cho quả một lần. Do thương lái Trung Quốc gom mua với giá cao, nên những năm gần đây rừng ươi ở Quảng Nam gần như bị hạ sát. Người đi đốn hạ cây ươi đông như trẩy hội, kiểm lâm quản không xuể. Quả ươi được cho là nguồn dược liệu quý dùng chữa bệnh đau lưng, thấp khớp, thoái hóa xương cột sống có nguy cơ không còn nguồn để dùng trong nước.
Điều đáng nói là những phong trào khai thác, tìm diệt tận cùng các loài thảo dược này xảy ra rầm rộ, phổ biến, công khai khắp các địa phương miền Trung và Tây Nguyên, tuy nhiên sự can thiệp từ chính quyền, ngành chức năng thì nửa vời, theo đuôi. (Lao Động 19/10) đầu trang(
Vùng đất nam Tây Nguyên - Lâm Đồng - được thiên nhiên ban tặng một “kho vàng” dược liệu vô cùng quý giá. Tuy nhiên, từ nhiều năm qua, cánh cửa của kho vàng dược liệu ấy cứ mở toang nên nguồn tài nguyên do thiên nhiên ban tặng cho Lâm Đồng cứ ngày một mai một, hao hụt... Có lẽ đã đến lúc cần nghiêm túc nhìn nhận lại vấn đề...
Ở Đà Lạt, khoảng 9 giờ sáng, chỉ cần rảo một vòng qua vài con phố là có thể mua được nhiều thứ từ “kho vàng” dược liệu tự nhiên như nấm linh chi, chuối rừng, dền cơm, sa nhân, thảo quả, đẳng sâm... Cill Ha Bol, một người đàn ông trung niên người Cil ở xã Đạ Sar (huyện Lạc Dương) vừa dựng chiếc xe máy chở mấy bao dớn và một bao nấm linh chi hồng tại chợ “cây rừng” ngã tư Phan Chu Trinh (phường 9, Đà Lạt) đã có ba, bốn người vây quanh.
Mấy người Kinh vây quanh Cill Ha Bol vừa đỡ bao nấm linh chi khỏi xe vừa hỏi dồn: “Nay chỉ có linh chi hồng thôi à?”, “Không có dương quy hay húc hắc... gì à?”... Cill Ha Bol trả lời trong hơi thở gấp: “Có! Có đủ hết! Húc hắc thì đầy! Nhưng còn ở trong Đạ Sar”.
Hỏi ra mới biết, hằng ngày, ngay tại khu chợ Phan Chu Trinh có đến 5 - 7 người dân tộc thiểu số ở Đạ Sar, Đạ Nhim, Đạ Chair (Lạc Dương) hoặc Tà Nung (Đà Lạt) mang “của rừng” ra bán. “Của rừng” gồm nhiều thứ: Các thứ củ, quả, rễ... là dược liệu tự nhiên lấy từ rừng (chủ yếu là khu rừng thuộc Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà), các loại phong lan, dớn, lan gấm...
Không có con số thống kê chính thức từ cơ quan chức năng là mỗi ngày có khoảng bao nhiêu dược liệu được khai thác mang đi bán nhưng theo số liệu được công bố gần đây của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà thì mức độ suy giảm và mất tiểu sinh cảnh của vườn do việc khai thác lâm sản ngoài gỗ hiện lên đến 41 - 60%. Hiện có khá nhiều hộ dân tộc thiểu số của ba xã Đạ Sar, Đạ Nhim và Đạ Chair của huyện Lạc Dương và một số hộ dân tộc thiểu số của xã Tà Nung thuộc TP. Đà Lạt gần như trở thành dân khai thác dược liệu chuyên nghiệp cho các đầu nậu.
Ông Hà Đời, một già làng rất có uy tín ở xã Đạ Sar từng là cán bộ của chính quyền và đoàn thể của xã than phiền: “Chính quyền và mặt trận cùng các đoàn thể trong xã, trong huyện nhiều lần tuyên truyền, vận động bà con nhưng hiệu quả mang lại không cao. Bởi, việc thương lái vào tận đây để “đặt hàng” bà con, thậm chí họ còn ứng trước tiền cho bà con khiến cho không ít người “hoa mắt”. Mà, nghe nói, họ thu mua tại chỗ chỉ một, ra Đà Lạt bán lên tới mười, còn chở sang Trung Quốc thì... vô giá”.
Nhiều hộ dân tộc thiểu số ở Đạ Chair cho biết, 1kg hồng chi được bán ngay tại chân rừng chỉ khoảng 60.000 - 80.000 đồng nhưng khi ra đến Đà Lạt, giá này tăng lên 220.000 - 250.000 đồng (nếu đóng sỉ mang ra biên giới phía bắc, giá còn khoảng 200.000 đồng/kg). Còn các thứ khác như sâm đất, nấm gỗ..., giá tại Đà Lạt khoảng 100.000 đồng/kg nhưng các đầu nậu thu mua của bà con ngay tại cửa rừng chỉ từ 18.000 - 20.000 đồng/kg. Ấy nhưng, nói như Cill Ha Bel: “Mỗi ngày một người vào rừng kiếm khoảng 5kg thì cũng được cả trăm ngàn đồng. Ở làng, biết làm gì ra chừng ấy tiền...”.
Theo dược sĩ chuyên khoa II Nguyễn Thọ Biên - Chủ tịch Hội Dược liệu Lâm Đồng, người cả đời nghiên cứu cây thuốc Lâm Đồng: “Nếu chúng ta chỉ biết “ăn” vào thiên nhiên mà không biết tái tạo như nhiều năm qua thì nguồn dược liệu của Nam Tây Nguyên cho dù có là vô tận thì không sớm thì muộn cũng phải đến ngày cạn kiệt”.
Còn thượng tọa Thích Huệ Đăng, nhà sư duy nhất ở Việt Nam được cấp bằng sáng chế độc quyền với công trình “Quy trình trồng cây sâm Ngọc Linh nuôi cấy mô”, GĐ Công ty TNHH xuất khẩu hoa lan Thanh Quan (hồ Tuyền Lâm, Đà Lạt), thì tỏ ra lo ngại: “Nạn khai thác nguồn dược liệu nói chung và sâm Ngọc Linh nói riêng như thế này thì chẳng mấy chốc chúng ta không còn gì. Và điều đó đã thôi thúc tôi cùng các đệ tử cộng sự di thực giống sâm Ngọc Linh về nghiên cứu và trồng tại vùng đất Nam Tây Nguyên và đã thành công...”.
Có lẽ những người tâm huyết và trăn trở với nguồn dược liệu Nam Tây Nguyên như dược sĩ Nguyễn Thọ Biên, nhà sư Thích Huệ Đăng... hiện không nhiều. Nguyên nhân khá đơn giản: Không ít người cho rằng với sự ưu đãi về tự nhiên, vùng đất Nam Tây Nguyên sở hữu được nguồn dược liệu hết sức phong phú, trong đó có không ít loài đặc hữu. Số liệu của Trung tâm Sâm và dược liệu TPHCM công bố cho thấy: Lâm Đồng có đến 2.170 loài dược liệu. Trong đó, 1.664 cây thuốc đã được đưa vào Danh lục Tài nguyên dược liệu tỉnh Lâm Đồng.
Về cây thuốc đặc trưng, Lâm Đồng có đến 16 loài; trong đó có nhiều loài quý hiếm và đặc hữu như thông đỏ, thiên niên kiện, sa nhân, trà mi, thông hai lá dẹt, liên ô rô, thổ phục linh...; cùng đó là 51 loài hiện có tên trong sách Đỏ Việt Nam. Một ví dụ khác về nguồn dược liệu “vô tận” của Nam Tây Nguyên: Trong 400 loài thuộc họ nhân sâm hiện có trên thế giới thì Việt Nam chiếm 80 loài; trong 80 loài nhân sâm ở Việt Nam, Lâm Đồng chiếm đến 50 loài!
Nguồn dược liệu tự nhiên của Lâm Đồng “vô tận” là vậy nhưng sẽ không là... vô tận nếu nạn khai thác ở đây tiếp tục diễn ra một cách rất... tự nhiên như nhiều năm qua! (Lao Động 21/10) đầu trang(
Ngày hôm nay, 4 trong tổng số 8 cá thể gấu bị nuôi nhốt sẽ được cứu hộ và di chuyển về khu nuôi dưỡng bán tự nhiên ở Tam Đảo.
Sáng nay 21/10, các cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh, phối hợp với tổ chức bảo ệ động vật hoang dã Animals Asia đã tiến hành cứu hộ 4 cá thể gấu đầu tiên, trong tổng số 8 cá thể bị các hộ dân nuôi nhốt phục vụ lấy mật.
Trước đó, nhằm lấy lại hình ảnh du lịch xanh và thân thiện, tỉnh Quảng Ninh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành vận động, thuyết phục các hộ dân nuôi nhốt gấu trao lại các cá thể gấu cho lực lượng Kiểm lâm để đưa trở lại môi trường bán hoang dã. Kết quả là đã thuyết phục được các hộ dân trao trả lại 8 cá thể gấu.
Chú gấu đầu tiên ở trong tình trạng khỏe mạnh và được chăm sóc tốt. Chú gấu được cho ăn để ổn định tâm lý, sau đó đưa vào lồng rồi chuyển lên xe.
Tính đến thời điểm hiện tại chú gấu đầu tiên đã được chuyển thành công và an toàn lên xe vận chuyển. Lực lượng chức năng đang gặp đôi chút khó khăn với chú gấu thứ 2. Chú gấu ở trong tình trạng khoẻ mạnh nhưng khó giải thoát vì bị nuôi nhốt trong không gian chật hẹp.
Phương án gây mê đã được tính tới. Đây là phương án tiềm ẩn nguy hiểm cho cả chú gấu và nhóm cứu hộ. Rất may cuối cùng chú gấu thứ 2 vẫn được cứu hộ mộ mà không cần phải gây mê. Đoàn đang tiến hành cứu hộ chú gấu thứ 3, là một cá thể đực to lớn, khỏe mạnh.
Được biết 2 cá thể đầu tiên được cứu hộ đều là gấu cái. Trong đó chú gấu thứ 2 được nuôi từ nhỏ. Bà chủ tên Xuân đã khóc khi phải chia tay chú gấu gắn bó với gia đình suốt 15 năm qua.
Sau khi được cứu hộ, các cá thể gấu sẽ được đưa về trung tâm nuôi dưỡng bán tự nhiên tại Tam Đảo. (Vn Tin Nhanh 21/10) đầu trang(
Theo Sở TN-MT, qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện khoảng 543.000m2 đất rừng phòng hộ ven biển, đất bãi bồi ven biển, ven sông… trong tỉnh bị lấn chiếm để làm hồ nuôi tôm.
Công tác xử lý thiếu kiên quyết nên số diện tích đất rừng bị lấn chiếm ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Trước tình hình này, UBND tỉnh vừa chỉ đạo các địa phương sớm xử lý dứt điểm các trường hợp vi phạm.
UBND tỉnh cho biết, thời gian qua, tại một số xã, thị trấn ven biển như xã Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Hiệp Trung (huyện Đông Hòa); An Ninh Đông, An Mỹ (huyện Tuy An) xảy ra tình trạng một số tổ chức, cá nhân tự ý chặt phá rừng phi lao (dương), chặt phá vườn cây, xây dựng hồ nuôi tôm trái phép, làm phá vỡ chức năng rừng phòng hộ ven biển, khiến nước biển dễ xâm thực sâu vào đất liền.
Ngoài ra, việc làm này còn gây ra hiện tượng mặn hóa nguồn nước ngọt ngầm và gây ô nhiễm môi trường. Qua thanh tra, kiểm tra, các ngành chức năng phát hiện khoảng 543.000m2đất rừng phòng hộ, đất bãi bồi ven biển, ven sông… bị lấn chiếm để làm hồ nuôi tôm. Để xảy ra tình trạng này, chứng tỏ chính quyền địa phương buông lỏng công tác quản lý đất đai.
Theo Sở NN-PTNT, hai địa phương để xảy ra tình trạng lấn chiếm đất rừng phòng hộ làm hồ nuôi tôm trái phép phức tạp nhất là xã An Ninh Đông (huyện Tuy An) và xã Hòa Hiệp Nam (huyện Đông Hòa). Theo ông Đinh Thuận, Chủ tịch UBND xã Hòa Hiệp Nam, từ năm 1990, khi nghề nuôi tôm phát triển, xã cho phép người dân địa phương tận dụng mặt nước khu vực sông Ngọn để làm hồ nuôi tôm (khoảng 30 hồ). Khu vực sông Ngọn chưa được quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nhưng đến năm 2010, khu vực này đã phát sinh thêm 101 hồ, với diện tích khoảng 66ha.
Ngoài ra, từ đầu năm 2014 đến đầu năm 2015, một số hộ nuôi tôm ở đây tự ý dùng máy hút cát ven bãi bồi và lấn chiếm đất rừng phòng hộ để nâng cao đáy hồ lên thành hồ nuôi tôm cao triều với diện tích hơn 97.440m2… Còn ông Nguyễn Kim Thanh, Chủ tịch UBND xã An Ninh Đông, cho biết: “Từ năm 1992 đến nay có 48 trường hợp lấn chiếm đất nông - lâm nghiệp và sử dụng sai mục đích để làm 54 hồ nuôi tôm trái phép tại tiểu khu 228 rừng phòng hộ ven biển của xã với diện tích hơn 67.620m2…”.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh về việc xử lý đối với các trường hợp lấn chiếm đất rừng phòng hộ để nuôi tôm trái phép, ông Phạm Ngọc Thanh, Phó chủ tịch UBND huyện Tuy An, cho biết: Đối với các trường hợp lấn chiếm đất rừng phòng hộ ở xã An Ninh Đông, huyện đã ra quyết định xử phạt 32 trường hợp, trong đó 17 trường hợp xử phạt hành chính, 15 trường hợp buộc khắc phục hậu quả.
Ngoài ra, UBND xã An Ninh Đông cũng ra quyết định xử phạt 22 trường hợp, trong đó 12 trường hợp lấn đất và 8 trường hợp chiếm đất. Đến nay có 31 trường hợp chưa chấp hành quyết định xử phạt, tám hồ nuôi tôm đã tháo dỡ bạt và san lấp mặt bằng nhưng chưa khôi phục lại nguyên trạng như ban đầu, 18 trường hợp đã khắc phục nhưng chưa đúng diện tích và 26 trường hợp chưa khắc phục…
Còn ông Nguyễn Phi Hổ, Phó chủ tịch UBND huyện Đông Hòa, cho biết: “UBND huyện và Ban Thường vụ Huyện ủy đã ban hành hai chỉ thị nghiêm cấm việc tự ý nạo vét, nuôi trồng thủy sản, khai thác cát trái phép tại khu vực sông Ngọn, xã Hòa Hiệp Nam. UBND xã Hòa Hiệp Nam đã lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt 30 trường hợp (37 hồ), nhưng đến nay chỉ có 15 trường hợp (17 hồ) chấp hành nộp phạt với số tiền 42 triệu đồng, còn lại 15 trường hợp (20 hồ) chưa chấp hành nộp phạt với số tiền 53 triệu đồng.
Các trường hợp vi phạm đến nay chưa khôi phục lại đất, rừng phòng hộ… UBND huyện sẽ kiên quyết giải tỏa triệt để các hồ nuôi tôm khu vực phía đông sông Ngọn; đồng thời trình UBND tỉnh bổ sung quy hoạch diện tích mặt nước phía tây sông Ngọn (khoảng 17ha) để nuôi tôm. Nếu được quy hoạch, các hộ dân sẽ làm thủ tục thuê đất và tự chịu kinh phí xây kè nhằm hạn chế sạt lở đất rừng phòng hộ.
Ông Nguyễn Lý Nguyên, Phó giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: “Đối với diện tích đã lấn chiếm làm hồ nuôi tôm trái phép, đề nghị các địa phương rà soát cụ thể và kiên quyết xử lý. Các trường hợp phá rừng phòng hộ, cần xử lý nghiêm, sau xử lý buộc phải phục hồi nguyên hiện trạng ban đầu và trồng lại diện tích rừng đã mất. Việc UBND huyện Đông Hòa đề nghị bổ sung quy hoạch diện tích mặt nước phía tây sông Ngọn để nuôi tôm, Sở NN-PTNT phối hợp với các sở, ngành liên quan đã kiểm tra thực địa, đang chờ báo cáo của huyện Đông Hòa về thực trạng đất lấn chiếm rừng tại khu vực này và hiệu chỉnh lại bản đồ cho phù hợp, sau đó báo cáo để UBND tỉnh quyết định”. (Báo Phú Yên 20/10) đầu trang(
UBND TP HCM vừa chấp thuận chủ trương cho Công ty cổ phần đô thị du lịch Cần Giờ được nghiên cứu lập phương án đầu tư Dự án lấn biển Cần Giờ với diện tích mở rộng thêm 480 héc ta so với dự án cũ, lên 1.080 héc ta.
Yêu cầu của chính quyền thành phố đặt ra trong quy hoạch này là phải đề xuất được phương án giao thông đường bộ phù hợp trên cơ sở bảo vệ nghiêm ngặt Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ.
Mới đây, hồi tháng 6-2015, chính quyền TP HCM đã đồng ý cho Công ty cổ phần Tập đoàn Vingroup tham gia làm đối tác chiến lược để thực hiện dự án này. Với việc Vingroup tham gia đầu tư, thành phố kỳ vọng dự án sẽ được thực hiện nhanh, tạo động lực phát triển cho Cần Giờ.
Với hơn 70.000 héc ta rừng đước, dừa nước, sông và kênh rạch, Cần Giờ được xem như một lá phổi của TP HCM, trong đó, một nửa diện tích là khu dự trữ sinh quyển được UNESCO công nhận vào năm 2000 với hệ động, thực vật đa dạng, độc đáo điển hình của vùng ngập mặn. (Người Lao Động 20/10) đầu trang(
Chủ tịch huyện gửi công văn đến công an tỉnh “xin cứu xét” trả lại 7m3 gỗ quý, bị nhà chức trách tịch thu, cho một hộ dân vì gia cảnh khó khăn.
Ngày 20/10, đại tá Lê Văn Hồng, Trưởng Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (PC 46, Công an tỉnh Quảng Nam), cho biết đơn vị này đã hồi đáp UBND huyện Phước Sơn về nội dung lá đơn xin trả lại gỗ vi phạm.
“Làm như vậy là sai nguyên tắc, không có cơ sở để trả lại gỗ. Chúng tôi không thể chấp nhận đề nghị đó của chủ tịch huyện vì quá vô lý và sẽ tạo tiền lệ xấu cho việc phá rừng ”, đại tá Hồng nói.
Theo hồ sơ vụ việc, ngày 12/8 tổ công tác của PC46 phối hợp với nhiều đơn vị phát hiện số lượng lớn gỗ trái phép cất giấu ở bãi đất gần nhà ông Tân Tấn Thìn (53 tuổi, xã Phước Đức, Phước Sơn). 57 phách gỗ được xác định có khối lượng gần 7m3 gồm các loại từ nhóm VI đến nhóm IIA.
Lúc nhà chức trách kiểm tra, ông Thìn chỉ nhận 30 phách gỗ được giấu phía sau nhà là của mình, còn số gỗ giấu ở bãi đất trống cạnh nhà không có người nhận. Tuy nhiên, khi PC 46 lập biên bản, ông Thìn không nhận là chủ số gỗ trên. Tổ công tác quyết định tịch thu toàn bộ số gỗ quý và gửi tại trụ sở Kiểm lâm Phước Sơn chờ xử lý.
Sau đó, công an tỉnh Quảng Nam nhận được công văn của ông Nguyễn Mạnh Hà, Chủ tịch huyện Phước Sơn với nội dung “đề nghị quan tâm giải quyết đơn xin cứu xét của công dân”. Công văn này cho rằng, ông Thìn là hộ cận nghèo, gia đình có công với cách mạng, số gỗ bị thu giữ là của gia đình ông này mua lại của người dân để làm nhà. “Ông Thìn không có dấu hiệu mua bán, kinh doanh gỗ nên đề nghị công an tỉnh xem xét, tạo điều kiện cho ông này nhận lại số gỗ đã bị tịch thu”, công văn trình bày.
“Điều này quá vô lý, gần 7m3 gỗ quý chứ không phải ít. Đại gia muốn mua số gỗ này làm nhà còn khó, một hộ cận nghèo mà làm nhà toàn gỗ quý thế này thì không thể tin được”, một điều tra viên của PC 46 nói.
Lý giải về công văn này, lãnh đạo huyện Phước Sơn thừa nhận ông Thìn mua gỗ không rõ nguồn gốc là sai. “Tuy nhiên, do ông Thìn làm đơn gửi huyện nên chủ tịch huyện mới đề nghị Công an tỉnh xem xét, trả lại gỗ. Còn ai làm sai thì người đó chịu, huyện không liên quan”, vị này nói.
Người đứng đầu PC 46 cho hay, đây là lần đầu tiên huyện gửi công văn đề nghị công an trả lại gỗ bị tịch thu. “Lúc đầu ông Thìn phủ nhận số gỗ đó là của mình nên chúng tôi chỉ tịch thu mà không xử phạt. Bây giờ ông lại nhận thì khác gì ‘lạy ông tôi ở bụi này’, tự nhận mình là lâm tặc nên sẽ phải xử phạt”, đại tá Hồng nói và cho hay sau căn cứ vào nội dung công văn của huyện, đã đủ cơ sở để xác định gỗ là của ông Thìn.
Không những không trả lại gỗ, đơn vị này còn chuyển hồ sơ cho kiểm lâm để xử phạt về hành vi Tàng trữ, mua bán và vận chuyển lâm sản trái phép đối với ông Thìn. (VnExpress 20/10) đầu trang(
9 tháng đầu năm, lực lượng Kiểm lâm huyện Trùng Khánh xử lý 12 vụ vi phạm khai thác, vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép và 6 vụ vi phạm khác; xử phạt, thu nộp ngân sách nhà nước trên 52 triệu đồng.
Kiểm tra, giám sát các tổ chức, cá nhân khai thác gỗ rừng, tổng sản lượng khai thác 979,1 m3. Trong đó, khai thác tận thu gỗ rừng tự nhiên 9,79 m3, khai thác gỗ rừng trồng tập trung 754,61 m3, khai thác gỗ vườn rừng cây trồng phân tán 214,7 m3.
Do thời tiết nắng, nóng, khô hanh kéo dài, người dân chưa thật sự chủ động trong công tác bảo vệ, phòng chống cháy rừng, toàn huyện xảy ra 8 vụ cháy rừng, tổng diện tích 24,48 ha (trong đó, diện tích có rừng 10,03 ha, diện tích trảng cỏ, cây bụi 14,45 ha) tại các xã: Ngọc Khê, Chí Viễn, Đình Minh, Phong Châu, Trung Phúc. (Báo Cao Bằng 20/10) đầu trang(
Huyện miền núi An Lão (Bình Định) có gần 60.000 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp, trong đó có 46.100 ha rừng tự nhiên, 4.800 ha rừng trồng và hơn 8.500 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng.
Rừng mênh mông là vậy, nhưng nhờ triển khai tốt công tác phòng chát chữa cháy rừng (PCCCR) hàng năm nên đã hơn 10 năm qua, những cánh rừng ở nơi đây chưa một lần xảy ra cháy.
Ông Nguyễn Thanh Sinh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện An Lão cho hay: “Do diện tích rừng trên địa bàn khá lớn, nên công tác PCCCR luôn được chính quyền địa phương và các ngành chức năng đặt lên làm nhiệm vụ hàng đầu. Nhờ đó, hơn 10 năm qua, chưa lần nào xảy ra cháy rừng nghiêm trọng, chỉ một vài vụ cháy nhỏ nhưng nhờ chủ động phòng chống nên được dập tắt kịp thời”.
Theo ông Sinh, từ đầu mỗi năm, UBND huyện An Lão sớm ban hành kế hoạch PCCCR cho năm đó. Kế hoạch được xây dựng rất chi tiết, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị, đoàn thể, địa phương trong công tác tuyên truyền, nắm vững cách thức chỉ huy, huy động lực lượng, phương tiện và các biện pháp chữa cháy rừng khi có đám cháy xảy ra. Trong đó, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức PCCCR cho người dân là biện pháp chủ chốt trong phòng cháy rừng hiệu quả.
“Hầu hết những vụ cháy rừng bắt nguồn từ nguyên nhân đốt rừng làm rẫy gây cháy lan, hoặc những người chăn thả gia súc trên rừng sử dụng lửa bất cẩn làm cháy rừng…Do đó, UBND huyện chỉ đạo cho ngành chức năng phối hợp với các địa phương thường xuyên tổ chức họp thôn, tuyên truyền các văn bản của Nhà nước về PCCCR, thực hiện cam kết về PCCCR đến từng hộ gia đình, thực hiện nếp sống văn hóa khu dân cư gắn liền với hương ước bảo vệ rừng ở thôn, làng, bản”, ông Sinh cho biết.
Từ tháng 3 đến tháng 8 (DL) hàng năm là mùa khô hanh, thời điểm dễ xảy ra cháy rừng, ngành chức năng ở An Lão thường xuyên thành lập tổ công tác đi tuần tra các vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng, nhất là những khu rừng gần khu dân cư, gần nơi chăn thả gia súc, vùng rừng gần nương rẫy đang SX.
Đặc biệt, tại huyện An Lão, khi thiết kế trồng rừng tập trung, các chủ rừng phải xây dựng hệ thống PCCCR như: Đường băng cản lửa, chòi canh lửa, bảng dự báo cấp nguy cơ cháy rừng, hồ chứa nước dùng để chữa cháy rừng.
Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ, Ban Quản lý rừng đặc dụng huyện An Lão hàng năm phải rà soát, bổ sung, điều chỉnh vùng trọng điểm cháy rừng vào bản đồ PCCCR trên địa bàn. Cán bộ được giao nhiệm vụ theo dõi công tác PCCCR trên mỗi địa bàn phải thường xuyên kiểm tra, theo dõi phát hiện lửa rừng, khi giao ca trực phải mở sổ theo dõi thời gian cụ thể...
Thường xuyên hàng năm, huyện củng cố, kiện toàn 10 BCH PCCCR; gần 100 tổ, đội quần chúng tham gia PCCCR với gần 1.000 thành viên nòng cốt. Xây dựng các công trình PCCCR tại địa bàn trọng điểm như: Các bảng tuyên truyền; đường ranh cản lửa; biển báo cấm lửa; quy trình trồng rừng; khuyến cáo giảm vật liệu dẫn lửa trong việc chăm sóc, vệ sinh rừng trồng sau khai thác đúng quy trình kỹ thuật. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/10) đầu trang(
Sau khi liên tiếp tấn công nhiều người dân trọng thương, con heo rừng đột nhiên “biến mất” bí ẩn.
Thông tin mới nhất PV báo Người Đưa Tin nhận được cho đến trưa ngày 20/10, tức là sau 2 ngày kể từ vụ heo rừng xuất hiện tấn công hàng loạt ở xã Tam Lãnh (huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam), người dân địa phương vẫn chưa hết lo lắng.
Xã Tam Lãnh mặc dù là một trong những xã miền núi hẻo lánh bậc nhất của huyện Phú Ninh, tuy nhiên, đã nhiều năm nay việc thú rừng xuất hiện ở nơi đây là rất hiếm.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Văn Thanh (Trưởng Công an xã Tam Lãnh) cho biết: “Nếu cách đây khoảng chục năm thì việc heo rừng xuất hiện là điều bình thường, bởi khi ấy bà con còn trồng nhiều khoai sắn nên heo hay ra kiếm ăn. Còn bây giờ, những cánh rừng ngô, khoai đều được thay thế bằng cây lâm nghiệp như keo, cao su nên heo rừng đã không còn xuất hiện rất lâu rồi.
Sự việc heo đột nhiên ngày 18/10 vừa qua là bất bình thường”.
Cũng theo ông Thanh, ngay sau khi nhận được tin heo rừng xuất hiện “tác quái”, lực lượng Công an xã, thanh niên địa phương cùng chó săn đã được huy động tối đa nhằm truy lùng con heo rừng với mục đích tránh để con heo tiếp tục tấn công người.
PV báo Người Đưa Tin đã có những liên hệ với các “thợ rừng” tham gia vào cuộc truy tìm trên, qua đó, nắm bắt những bí ẩn về sự xuất hiện “quậy phá” của con heo rừng trên.
Ông Nguyễn Đình Thọ (46 tuổi, nạn nhân đầu tiên giáp mặt con heo rừng) cho hay: “Tôi và con trai đang làm việc ở vườn keo thì con heo rừng bất ngờ xuất hiện ở Hố Ông Đăm (ngọn núi sau thôn – PV) cách chúng tôi chừng chục mét. Thấy nó hung dữ tôi hô hoán rồi leo nhanh lên cây trốn”.
Tuy nhiên, khi ông Thọ chỉ vừa kịp leo lên cây thì đã bị con heo cắn vào chân. Nghe cha mình hô hoán, anh Nguyễn Thành Tín (22 tuổi, con trai ông Thọ) xông đến cứu cha cũng bị con heo tấn công khiến xây sát nhẹ.
Bấy giờ, khi cả hai nạn nhân đều đã trèo được lên cây trốn, con heo tiếp tục men theo con suối nhỏ từ Hố Ông Đăm xông thẳng về làng.
Trên đường, nó tấn công bà Phạm Thị Hanh (đang cắt cỏ). Bà Trần Thị Lý (56 tuổi, trú xã Đại Lãnh), nhân chứng duy nhất chứng kiến cuộc tấn công trên vẫn chưa hết bàng hoàng cho hay: “Nghe tiếng la thất thanh của bà Hanh ở sau nhà, tôi nháo nhào lao ra thì thấy cảnh tượng khủng khiếp. Con heo to lớn cứ húc tới tấp bà Hanh. Tôi cố gắng la hét, tri hô để mọi người cùng tới cứu bà ấy… Hồi lâu, con heo quay sang trước mặt tôi, nhưng nó không tấn công mà đi thẳng ra đường cái”.
Cũng theo lời một số người dân nơi đây, con heo di chuyển rất nhanh. Sau khi tấn công bà Hanh, ông Thọ, con heo tiếp tục tấn công thêm 2 người dân nữa. Bấy giờ, lực lượng chức năng và thanh niên địa phương nhanh chóng được tập hợp truy lùng con heo rừng. Theo những dấu vết con heo để lại, người dân nơi đây xác định được con heo sẽ băng qua con suối nhỏ, sang đường cái và lên thẳng thôn 10 (xã Tam Lãnh) nên tin báo được loan nhanh lên thôn 10.
“Chúng tôi theo dấu vết nó để lại lên đến thôn 10 thì nhận được thêm thông tin con heo tiếp tục tấn công chị Phạm Thị Đường khiến chị này hoảng loạn. Anh em nhanh chóng lên thôn 10, bám sát dấu vết nó băng qua mấy cánh rừng đến sát Thác Trắng (khu vực sát rừng già – PV) thì hoàn toàn mất dấu, kể cả chó săn cũng không lần tìm ra”, ông Nguyễn Văn Thanh, Trưởng Công an xã Tam Lãnh cho biết.
Theo nhiều người dân nơi đây, khu vực rừng Thác Trắng đồi núi cực kỳ hiểm trở có thể là nơi con heo rừng trú ngụ cuối cùng.
Liên quan đến vấn đề vì sao con heo rừng đột nhiên xuất hiện, ông Nguyễn Văn Thanh hoài nghi: “Không biết có ai săn bắn gì không làm con heo hoảng loạn chạy ra đây. Tôi sẽ tìm hiểu về vấn đề này”. (Người Đưa Tin 20/10) đầu trang(
Những năm gần đây, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, tình trạng “chảy máu rừng” vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi và không ít khu rừng tự nhiên, rừng gỗ quý đã bị lâm tặc xâm hại.
Thật kỳ lạ, hàng chục năm nay, tại vùng miền tây huyện Tuyên Hoá vẫn tồn tại 2 vườn lim tự nhiên và lim trồng ngay sát khu dân cư đông đúc với quy mô mỗi vườn lên tới hàng trăm cây (trong đó có những cây lim đường kính một người lớn ôm không xuể), được chính người dân bảo vệ rất nghiêm ngặt...
Lên huyện miền núi Tuyên Hóa ghé xã Lâm Hóa, Bí thư Đảng uỷ xã Nguyễn Tư Thoan mời chúng tôi về nhà chơi và nói ra chiều bí mật: “Các chú cứ theo tui ra đằng này thì mới hiểu...”. Nói rồi Bí thư Thoan đi trước kéo chúng tôi hì hục bám theo sau. Dẫn chúng tôi đến địa điểm một cây cổ thụ cao ngất, anh nói: “Hai chú nắm tay nhau thử xem có ôm xuể cái cây này không?”.
Quả thật, dù đã rướn hết mình nhưng cả hai chúng tôi không thể dùng vòng tay để đo hết thân cây. Anh Thoan giải thích: Đây là cây gỗ lim lớn nhất ở khu vườn này. Để có được đường kính như thế này thì chí ít cây cũng cần tới cả vài trăm năm phát triển. Ngoài cây lim này thì khu vườn còn có cả chục cây lim khác với đường kính chừng 0,5 mét. Nếu tính những cây lim to bằng cổ tay thì toàn khu vườn (rộng chừng 3 ha) này có gần cả trăm cây, đó là chưa kể số lượng lim con mới trồng và nhiều cây gỗ quý khác như vàng tâm, sến...
“Bán đi thì dễ, bảo vệ được thì mới khó các chú à. Nhờ có khu vườn này, không khí ở đây trong lành hẳn ra. Chim chóc, sóc, chồn, gà rừng... kéo nhau về khu vườn này trú ngụ nhiều lắm. Tui đã bỏ công mấy chục năm trời mới có thể bảo vệ và gây dựng nên khu vườn gỗ quý này đó...” - anh Thoan tâm sự thêm.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, trong “cơn lốc” của quá trình đô thị hóa và sự “tàn phá” thiên nhiên của không ít bộ phận người dân thiếu ý thức nói chung, thì ngay cạnh trung tâm xã miền núi Lâm Hoá, vẫn sừng sững hiện hữu một khu rừng gỗ lim tương đối nguyên sinh, rất quý giá. Đây chính là một điều hiếm ở nơi nào làm được.
Hang Lèn Hà nằm ngay dưới chân núi Lèn Hà, thuộc bản Hà, xã Thanh Hóa (Tuyên Hóa). Nhắc tới địa danh này, nhiều người sẽ nhớ ngay tới sự kiện bi hùng, đó là vào ngày 2.7.1972 máy bay Mỹ bất ngờ ném bom vào khu vực hang Lèn Hà làm 13 chiến sĩ Trạm Cơ vụ A69, Đại đội 9, Trung đoàn 134, Binh chủng Thông tin hy sinh cùng một lúc. Đến ngày 7.5.2009, hang Lèn Hà đã được Bộ VHTTDL công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia, trở thành một địa chỉ được nhiều người biết đến như một chứng tích hào hùng về những cống hiến, hy sinh của các chiến sĩ bộ đội thông tin trước bom đạn của giặc Mỹ...
Những năm gần đây, có rất nhiều người từng đến tham quan, tìm hiểu về Di tích lịch sử cấp Quốc gia hang Lèn Hà. Thế nhưng, ít ai biết được xung quanh núi Lèn Hà còn có một khu vườn rừng “độc nhất vô nhị” dày đặc gỗ lim tự nhiên và lim trồng của cựu binh Đinh Xuân Niệm.
Với diện tích đất rừng khai ho¬ang được chừng 5 ha, gần 30 năm qua, ông Niệm đã dày công bảo vệ và trồng xen vào đó được khoảng 1.500 cây gỗ lim, trên 2.000 cây trầm gió, hơn 500 cây mít, hàng ngàn cây dẻ cùng nhiều loại cây gỗ quý khác như vàng tâm, sến, hương, ngát, trám...
Ông Niệm cho biết: Có một thời gian dài, cha con tui đều nhờ làm lâm tặc mà sinh sống qua ngày đoạn tháng. Khoảng năm 1990, khi rừng ở khu vực bản Hà dần đi vào nghèo kiệt, đó cũng là quãng thời gian mà tui được Nhà nước tạo điều kiện cho hưởng chế độ bệnh binh. Chính nhờ có đồng ra đồng vào, tui bắt đầu từ bỏ nghiệp “lâm tặc” để nghĩ ngay tới việc trả nợ cho rừng, trả nợ màu xanh cho đất...
Ông Niệm cho biết: Gia đình hiện có cả trăm cây lim to bằng chừng ni, chúng đều trên dưới 30 năm tuổi cả. Lim mọc tự nhiên có, trồng thêm có. Riêng những cây lim mới trồng to bằng bắp chân trở lên thì nhà có gần cả ngàn cây. Tiếp tục dẫn chúng tôi đến một khu rừng dày đặc cây trầm dó, ông Niệm kể, nhà có khoảng 2.000 cây trầm dó, hầu hết chúng đều trên 20 năm tuổi, kích cỡ cây lớn nhất cũng gấp hai đến ba lần cái phích nước.
Cách đây tròn 2 năm, nhờ việc bán đi chừng 1.000 cây dó, gia đình đã thu về hơn 200 triệu đồng tiền mặt. Có tiền, tui lại tiếp tục đầu tư vào việc trồng, bảo vệ khu vườn này ngày một tốt hơn. Ông kể tiếp, buổi đầu mới xây dựng khu vườn này, có người cười mỉa mai: “Trong rừng sâu thiếu gì cây lim cổ thụ, vào đó mà chặt cho đỡ tốn công, tốn của. Ông trồng cây lim con như thế thì đến đời cháu, đời chắt mỗi cây cũng chưa thể cho gỗ đóng đủ cái giường mà nằm, huống hồ...”.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, cách đây gần 30 năm, trong những lần vào núi tìm mật ong rừng, ông Niệm đã cất công nhổ các cây lim con đưa về khu vườn nhà trồng, chăm sóc, bảo vệ. Lúc đầu, không ít người cho rằng ông bị điên khùng nên mới làm thế. Mãi đến một thời gian dài, nhiều người mới “ngộ” ra được giá trị của việc trồng cây gây rừng của ông. (Văn Hóa 21/10) đầu trang(
Thực hiện chương trình phối hợp giữa Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa với Sở Nông lâm tỉnh Hủa Phăn (Lào) về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) giai đoạn 2013-2015, ngay từ đầu năm chi cục kiểm lâm đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tham mưu cho UBND 5 huyện biên giới ký kết với 3 huyện Viêng Xay, Sầm Tớ, Xốp Bâu (tỉnh Hủa Phăn) xây dựng phương án PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”; tập trung huy động lực lượng 12.000 người, 85 xe ô tô, 3.200 xe máy, 11.000 dụng cụ CCR.
Bên cạnh đó, chỉ đạo kiểm lâm viên địa bàn dùng thiết bị GPS và công cụ hỗ trợ điều tra, khảo sát, khoanh vẽ 6.410 ha đất canh tác khu vực giáp biên giới để xây dựng bản đồ phục vụ công tác PCCCR; xác định 9.610 ha vùng trọng điểm cháy rừng; xây dựng 22,2 km đường băng cản lửa dọc biên giới hai tỉnh.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm Mường Lát đã giúp phòng nông nghiệp 2 huyện Viêng Xay và Sầm Tớ điều tra, khảo sát xây dựng bộ bản đồ quản lý 70.000 ha vùng trọng điểm cháy rừng và quản lý nương rẫy.
Do làm tốt công tác phối hợp PCCCR nên từ đầu năm 2015 đến nay, an ninh rừng khu vực biên giới luôn bảo đảm, 2 vụ cháy rừng ở huyện Viêng Xay, Xốp Bâu có nguy cơ lan sang huyện Mường Lát đều được thông tin và dập tắt kịp thời. (Báo Thanh Hóa 21/10) đầu trang(
Ngày 20-10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắc Nông, cho biết: Từ đầu năm 2015 đến nay, lực lượng Kiểm lâm và các đơn vị chủ rừng đã phối hợp kiểm tra, phát hiện và lập biên bản xử lý 285 vụ phá rừng trái pháp luật với tổng diện tích 267,5 ha.
So với năm 2014, số vụ phá rừng tăng 35 vụ (14%), diện tích rừng bị mất tăng gấp 2,4 lần. Các địa phương bị mất rừng nhiều là thị xã Gia Nghĩa, H. Đắc Song và H. Đắc Glong.
Cụ thể, thị xã Gia Nghĩa mất 130 ha, H. Đắc Glong mất 65,8 ha, H. Đắc Song mất 35,8 ha, các huyện khác mất từ 0,1 ha đến 22,3 ha. Những điểm nóng phá rừng bao gồm: khu vực rừng thông thuộc Bản Đắc Lép, xã Nâm N'Jang, H. Đắc Song; các tiểu khu thuộc Cty TNHH Gia Nghĩa quản lý: 1705, 1691 (xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa), tiểu khu 1685, 1697 (xã Đắc Ha, H. Đắc Glong)... Đối với các vụ phá rừng, lực lượng Kiểm lâm các huyện, thị xã đã lập hồ sơ xử lý. Đến nay, các cơ quan chức năng đã xử lý hành chính 157 vụ/40,2 ha, xử lý hình sự 60 vụ/134,6 ha.
Theo đánh giá của lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắc Nông, tình hình phá rừng năm nay diễn biến phức tạp, gia tăng đột biến, đặc biệt là tại thị xã Gia Nghĩa. Tình trạng phá rừng năm nay khác những năm trước, lâm tặc phá rừng có tổ chức, nhiều người tham gia và phá rừng với diện tích lớn; các đối tượng phá rừng rất manh động, sẵn sàng chống người thi hành công vụ, xô xát gây thương tích cho cán bộ quản lý, bảo vệ rừng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Tài, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắc Nông: nguyên nhân do chủ rừng không đủ năng lực bảo vệ rừng, buông lỏng quản lý, chưa có sự chủ động phối hợp với lực lượng chức năng của địa phương trong công tác bảo vệ rừng dẫn đến việc rừng bị phá với diện tích lớn mà không có biện pháp ngăn chặn. Các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng chưa nghiêm, hiệu quả chưa cao; chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe. Ngoài ra, một bộ phận cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng có biểu hiện tiêu cực, thoái hóa biến chất, ngại va chạm hoặc bao che, tiếp tay cho các đối tượng chặt phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, ông Tài cho biết thêm.
Cũng theo ông Tài, thời gian tới, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Đắc Nông sẽ phối hợp chặt chẽ với UBND huyện và các ngành chức năng giải tỏa, thu hồi triệt để diện tích đất do phá rừng mà có, giao lại cho các đơn vị chủ rừng khắc phục hậu quả không để tái chiếm.
Lực lượng Kiểm lâm sẽ phối hợp với Công an, Quân đội bố trí lực lượng tăng cường kiểm tra, truy quét, kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn tình trạng phá rừng trái pháp luật. Tại các khu vực điểm nóng, các ngành chức năng sẽ cắm chốt, trực trạm 24/24 giờ, tuần tra, kiểm tra để ngăn chặn kịp thời các hành vi phá rừng. (Công An TP.Đà Nẵng 21/10) đầu trang(
Trong 9 tháng đầu năm 2015, tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh ta nhìn chung được hạn chế, số vụ vi phạm bị phát hiện và xử lý giảm giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước.
Đặc biệt đã tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các địa phương và người dân về trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng (QLBVR).
Kết quả nổi bật của công tác QLBVR ở trên địa bàn là thực hiện có hiệu quả các giải pháp ngăn chặn khai thác gỗ trái phép, ổn định tình hình hình tại khu vực giáp biên giới Việt- Lào và giáp ranh giới 2 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị. Lực lượng kiểm lâm đã tăng cường công tác giám sát các hoạt động của các cơ sở cưa xẻ gỗ, các cơ sở nuôi, chế biến, vận chuyển động vật hoang dã.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng đã được tăng cường. Chính quyền các cấp, các tổ chức, đơn vị chủ rừng đã quan tâm thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về QLBVR, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật. Các cơ quan chức năng đã hướng dẫn các thôn, bản có rừng xây dựng quy ước, nhân dân tham gia ký cam kết bảo vệ rừng.
Đến nay đã có trên 800 thôn, bản xây dựng quy ước bảo vệ rừng. Nhờ vậy, nhận thức pháp luật của nhân dân từng bước được nâng cao, ý thức chấp hành pháp luật có bước chuyển biến đáng kể.
Chi cục và các đơn vị trực thuộc đã phối hợp với các địa phương, đơn vị có liên quan tổ chức 122 cuộc tuyên truyền trực tiếp các chính sách, pháp luật của nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường tại cộng đồng dân cư thôn, bản và các trường học trên địa bàn tỉnh. Kiểm lâm địa bàn tại một số địa phương đã tham mưu chính quyền cấp xã lồng ghép công tác tuyên truyền QLBVR vào các cuộc họp ở xã và thôn, bản. Thường xuyên nhắc nhở người dân có ý thức bảo vệ rừng và PCCCR trong mùa khô trên hệ thống loa phóng thanh cơ sở.
Trong 9 tháng đầu năm số vụ phá rừng, buôn bán vận chuyển lâm sản trái phép giảm nhiều so với cùng kỳ các năm trước. Các vụ vi phạm chủ yếu lấn chiếm đất lâm nghiệp với 287 vụ, 257 vụ vi phạm mua bán, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép, 31 vụ phá rừng, 18 vụ vi phạm quy định chung về bảo vệ rừng và các loại vi phạm khác... Lực lượng chức năng đã thu giữ 1.013 m3 gỗ trái phép, 2 ô tô, 62 xe gắn máy, 7 cưa xăng xách tay... Số tiền xử lý vi phạm và bán đấu giá lâm sản tịch thu nộp ngân sách nhà nước hơn gần 9 tỷ đồng.
Do phối hợp tốt trong bảo vệ rừng nên thời gian qua tình hình khai thác rừng trái phép, mua, bán, vận chuyển lâm sản, phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật giảm so với các năm trước, các điểm nóng khai thác gỗ trái phép đã được hạn chế. Tuy nhiên một số nơi thuộc địa bàn giáp ranh các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh và một số vùng còn giàu tài nguyên trong tỉnh tình hình xâm hại rừng phức tạp vẫn còn xảy ra.
Trong 9 tháng đầu năm, Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu chính quyền các cấp tổ chức 1 đoàn liên ngành cấp tỉnh, 8 đoàn liên ngành cấp huyện triển khai 55 đợt truy quét ngăn chặn tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực còn giàu tài nguyên thuộc lâm phận của các Ban quản lý rừng phòng hộ Động Châu, Long Đại, Tuyên Hóa, Minh Hóa và các chi nhánh lâm trường Trường Sơn, Minh Hóa, Bồng Lai... Thường xuyên kiểm tra rừng cộng đồng để ngăn chặn khai thác gỗ trái phép và đẩy đuổi các đối tượng vi phạm ra khỏi rừng.
Thời gian qua, thời tiết khí hậu trên địa bàn tỉnh diễn biến phức tạp. Nắng nóng khô hạn kéo dài kèm theo gió phơn tây- nam thổi mạnh, nguy cơ cháy rừng luôn ở cấp 5, cấp cực kỳ nguy hiểm, đặc biệt là thời gian từ tháng 5 đến đầu tháng 7 năm 2015. Chi cục Kiểm lâm đã tham mưu UBND tỉnh triển khai nhiều biện pháp tăng cường công tác PCCCR, củng cố 741 tổ, đội xung kích bảo vệ rừng và PCCCR ở cơ sở, với hơn 7.500 lượt người tham gia.
Mặc dù các địa phương trong tỉnh đã tăng cường thực hiện các biện pháp PCCCR, tuy nhiên thời tiết các tháng mùa khô năm nay rất phức tạp nên từ đầu năm đến nay diện tích thiệt hại do cháy rừng gây ra tăng 77,3% so với cùng kỳ năm 2014. Ngoài nguyên nhân khách quan thời tiết khí hậu diễn biết phức tạp do hiện tượng El Nino, còn có nguyên nhân một số địa phương chưa thực hiện tốt công tác phòng cháy rừng, huy động lực lượng tại chỗ tham gia chữa cháy rừng còn lúng túng, hiệu quả chữa cháy rừng chưa cao. Một số chính quyền cấp xã chưa có phương án giao rừng cho người dân quản lý, đặc biệt là diện tích rừng thông của các dự án trên địa bàn tỉnh.
Tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp trái pháp luật xảy ra trên địa bàn huyện Minh Hóa và một số địa phương trong mùa khô do cơ quan chức năng và chính quyền địa phương chủ quan chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác sử dụng rừng, trồng rừng ngoài thực địa để phát hiện kịp thời, tổ chức ngăn chặn và xử lý ngay khi vụ việc mới phát sinh. (Báo Quảng Bình 20/10) đầu trang(
Chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng được Chính phủ ban hành với mục tiêu nâng cao nhận thức của cộng đồng thông qua việc hỗ trợ phát triển kinh tế cho người dân, đồng thời tạo cơ chế có lợi cho cộng đồng dân cư trong bản tham gia bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, từ đó giảm bớt sự đầu tư của Ngân sách Nhà nước cho việc quản lý bảo vệ rừng.
Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong hệ thống rừng đặc dụng của cả nước, có tổng diện tích tự nhiên là 15.048 ha, tổng số 29 thôn vùng đệm với 2.535 nhân khẩu sinh sống. Cuộc sống của người dân thuộc các thôn bản vùng đệm còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao, trình độ nhận thức chưa đồng đều,... gây nhiều khó khăn trong công quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Từ năm 2012 đến nay, được sự quan tâm của các cấp, các ngành , Vườn quốc gia Xuân Sơn đã triển khai chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng đến 29 thôn thuộc vùng đệm với mục tiêu nâng cao hiệu quả, chất lượng trong công tác quản lý bảo vệ rừng; Cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của cộng đồng địa phương với nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng.
Việc triển khai thực hiện đầu tư được thực hiện đến từng thôn bản, từng người dân và được vận dụng linh hoạt các nội dung đầu tư để phù hợp với từng địa phương, từng khu vực và quan trong hơn cả là đều xuất phát từ nguyện vọng và nhu cầu thiết thực của bà con nhân dân trong thôn, xã. Trong quá trình thực hiện, Vườn quốc gia đã kết hợp chặt chẽ giữa công tác quản lý bảo vệ rừng với việc hỗ trợ phát triển cộng đồng, trong đó:
Đối với công tác quản lý bảo vệ rừng: Tổ chức giao khoán bảo vệ rừng, ký cam kết quản lý bảo vệ rừng Vườn quốc gia với các cộng đồng và hàng năm tổ chức đánh giá việc thực hiện cam kết của cộng đồng làm cơ sở để quyết định tiếp tục đầu tư, hỗ trợ cho cộng đồng những năm tiếp theo.
Đối với công tác hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm: Đã triển khai thực hiện hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng thôn theo định mức hỗ trợ hàng năm, trong đó: Thực hiện hỗ trợ đầu tư mua sắm trang thiết bị; Sửa chữa, xây mới nhà văn hóa để phục vụ sinh hoạt văn hóa công đồng kết hợp với công tác tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh; Làm đường giao thông nông thôn; Hỗ trợ phát triển xản xuất nông nghiệp về cây, con giống, xây dựng kênh mương, ống dẫn nước cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp.
Mặc dù nguồn vốn hỗ trợ đầu tư của Nhà nước hàng năm còn hạn chế nhưng Vườn quốc gia Xuân Sơn đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương thực hiện tốt công tác dân vận tại cơ sở theo phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Vì vậy sơ kết qua 3 năm triển khai thực hiện, việc hỗ trợ đầu tư đã góp phần không nhỏ trong việc quản lý bảo vệ rừng và cải thiện, nâng cao điều kiện sinh hoạt, điều kiện sản xuất nông nghiệp của người dân, cụ thể: Đã thực hiện giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên cho các cộng đồng quản lý; Hỗ trợ đầu tư xây dựng được 1.750m đường bê tông nông thôn, 150 m kênh mương dẫn nước phục vụ tưới tiêu cho lúa, 400 m ống dẫn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp; 500 con lợn giống, hơn 1.000 con vịt bầu đất,….
Từ nguồn vốn hỗ trợ kết hợp sự đóng góp bằng kinh phí và công lao động của bà con trong thôn, gần 1 ha lúa 1 vụ/năm bấp bênh đã chuyển thành 2 vụ/năm ăn chắc với năng suất cao. Với hơn 1.000 con vịt bầu đất giống, hơn 30 hộ nhận nuôi (30 con/hộ), sau 3-4 tháng đã cho thu nhập từ 3-4 triệu đồng/hộ,...
Từ kết quả phát triển kinh tế đã hỗ trợ đắc lực trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và nâng cao ý thức, gắn chặt quyền lợi, trách nhiệm của cộng đồng đối với quản lý tài nguyên rừng một cách hiệu quả, bền vững. (Sở NN&PTNT Tỉnh Phú Thọ 20/10) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng chặt phá, vận chuyển gỗ trái phép tại khu vực biên giới, đặc biệt tại Vườn Quốc gia Yok Đôn có dấu hiệu gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp.
Trong buổi làm việc giữa Tổng cục Lâm nghiệp và UBND tỉnh Đắk Lắk mới đây, Tổng cục đã thông tin, từ đầu năm đến nay tại Vườn Quốc gia Yok Đôn có gần 600 gốc cây bị đốn hạ; nạn chặt phá, vận chuyển và chống người thi hành công vụ có chiều hướng “bùng phát” như các năm trước đây.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên, như Giám đốc Vườn Quốc gia Yok Đôn Đỗ Quang Tùng cho hay, theo quy định, trong khuôn viên Vườn nghiêm cấm mọi hoạt động khai thác lâm sản phụ, chăn nuôi gia súc và canh tác nương rẫy, nhưng hiện nay có khoảng 1 nghìn con trâu, bò đang được chăn thả trong vườn. Mỗi ngày có khoảng 500 người ra vào rừng, trong vùng lõi còn có buôn Đrăng Phốk với hàng trăm hộ sinh sống.
Đó là điều kiện cho những người khai thác gỗ, lâm tặc, đầu nậu trà trộn ra vào rừng khai thác, vận chuyển gỗ ra ngoài khiến tình hình khu vực này vô cùng phức tạp. Một nguyên nhân quan trọng khác là từ năm 2013 đến nay, Nhà nước có chủ trương cho phép trục vớt gỗ trôi dạt theo suối Đắk Đam, thuộc khu vực vành đai biên giới do Đồn biên phòng 747 (thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Đắk Lắk) quản lý.
Tuy nhiên, thời gian gần đây xuất hiện tình trạng trục vớt, tận thu gỗ trôi dạt không đúng quy trình, quy định, có biểu hiện lợi dụng việc trục vớt gỗ để hợp thức hóa gỗ khai thác, vận chuyển trái phép ra ngoài…
Theo Phó Cục trưởng Cục kiểm lâm Nguyễn Hữu Thiện, đầu tháng 9-2015, Vườn Quốc gia Yok Đôn và Chi cục kiểm lâm vùng 4 đã phát hiện điểm tập kết gỗ dưới lòng suối cạn phía bờ Việt Nam, cách đồn biên phòng 747 khoảng 1 km, qua đó cho thấy đã và đang xuất hiện nhiều điểm, tụ điểm hoạt động vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng nghiêm trọng tại khu vực cần được ngăn chặn sớm.
Cũng tại buổi làm việc trên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Y Dhăm Ênuôl cho rằng, chủ trương cho trục vớt gỗ trôi dạt là kẽ hở để lâm tặc, đầu nậu lợi dụng. Đây là “bùa hộ mệnh” để lâm tặc hợp thức hóa gỗ khai thác trái phép khu vực biên giới đưa ra ngoài tiêu thụ, càng khiến nạn phá rừng tại Vườn Quốc gia Yok Đôn và giáp biên giới nhiều năm nay không giảm.
Ngoài ra còn có nguyên nhân do sự thiếu trách nhiệm của cơ quan chức năng, bởi “Cây gỗ chứ đâu phải cây kim sợi chỉ mà dễ giấu, dễ lọt, muốn đưa gỗ từ rừng ra phải đi qua nhiều trạm kiểm lâm, đồn biên phòng vậy mà xe gỗ vẫn ào ào chạy ra tỉnh lộ, quốc lộ là cớ làm sao” – ông Y Dhăm Ênuôl thắc mắc!
Chính vì sự buông lỏng quản lý nên dẫn đến hàng nghìn mét khối gỗ được khai thác, vận chuyển, tập kết tại địa phương mà địa phương không hay biết(!). Đơn cử như vừa qua, Bộ Công an đã bắt một xưởng gỗ chứa hàng nghìn khối gỗ ngay tại TP. Buôn Ma Thuột mà địa phương cũng chẳng hay.
Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi cho rằng, để công tác bảo vệ rừng khu vực dọc biên giới đạt hiệu quả thì giữa lực lượng Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Công an, chính quyền địa phương các cấp cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa, đồng thời cần có chính sách bảo đảm sinh kế cho người dân khu vực này thì mới có thể hạn chế nạn chặt phá rừng.
Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Y Dhăm Ênuôl, lực lượng kiểm lâm, công an phải lên được danh sách những “đầu nậu” để tuyên truyền, vận động hoặc bằng các biện pháp mạnh để ngăn chặn từ ban đầu.
“Gỗ đã chở ra đến đường rồi mới bắt thì rừng đã tan hoang rồi. Phải gắn trách nhiệm kiểm lâm địa bàn với rừng, nếu để xảy ra những vụ phá, vận chuyển gỗ lớn thì phải kiểm điểm, kỷ luật. Không thể đổ qua đổ lại cho nguyên nhân khách quan, chủ quan gì nữa” – ông Y Dhăm Ênuôl nói. (Báo Đắk Lắk 20/10) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ Tài chính vừa có công văn trả lời kiến nghị của Công ty TNHH Kim Phượng Hoàng (có địa chỉ tại 54 Nguyễn Lương Bằng, phường Quán Bàu, TP. Vinh, Nghệ An) về việc hoàn thuế, không thu thuế XK đối với hàng hóa XK có nguồn gốc NK.
Phân tích trường hợp này của DN, Bộ Tài chính cho biết, Khoản 8, Điều 15 Nghị định 87/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Hàng hóa NK nhưng phải tái xuất trả lại chủ hàng hoặc tái xuất sang nước thứ ba hoặc tái xuất vào khu phi thuế quan được xét hoàn lại thuế NK đã nộp tương ứng với số lượng hàng hóa thực xuất và không phải nộp thuế XK”.
Căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 8, Điều 114 Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định: “Trường hợp các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gỗ NK sau đó tái xuất, cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng khi XK để kiểm tra sự phù hợp của hàng hóa XK với hàng hóa đã NK trước đây”.
Do vậy, đối với trường hợp mà DN nêu, Bộ Tài chính cho biết, để được không thu thuế đối với hàng hóa có nguồn gốc NK, toàn bộ hàng hóa NK dự kiến XK sang nước thứ ba phải được phân loại riêng. DN liên hệ với cơ quan Kiểm lâm có biên bản xác nhận kèm danh mục chi tiết từng, cây gỗ bao gồm cả những cây nguyên trạng và những cây cắt ngắn.
Khi làm thủ tục XK, DN khai báo rõ ràng hàng XK có nguồn gốc NK. Cơ quan Hải quan kiểm tra thực tế toàn bộ lô hàng khi XK để kiểm tra sự phù hợp của hàng hóa XK với hàng hóa NK trước đây.
Đồng thời, tiến hành kiểm tra hồ sơ NK, sổ sách, chứng từ kế toán, phiếu nhập kho, chứng từ thanh toán của lô hàng NK; kiểm tra hồ sơ nguồn gốc lâm sản theo quy định tại Thông tư 42/2012/TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT. Kết quả kiểm tra nếu xác định toàn bộ lô hàng XK có nguồn gốc NK phù hợp với xác nhận của cơ quan Kiểm lâm và hồ sơ chứng từ có liên quan thì thực hiện không thu thuế XK đối với lô hàng XK này. (Hải Quan 19/10) đầu trang(
Sau đợt chi trả gần 1,375 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) đầu tiên cho các chủ rừng ở xã Nhâm, Hồng Kim, Hồng Thượng, thị trấn A Lưới, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Thừa Thiên Huế tiếp tục chi trả ủy thác tiền DVMTR đợt 2 tại 4 xã: Bắc Sơn, Hồng Trung, Hồng Quảng, Hồng Thái thuộc lưu vực thủy điện A Lưới với số tiền hơn 734 triệu đồng cho 59 hộ gia đình, 17 nhóm hộ và 6 cộng đồng trên tổng diện tích 1.277 ha.
A Lưới là địa phương có diện tích cung ứng DVMTR lớn nhất tỉnh với hơn 70.000 ha, chiếm 60% diện tích cung ứng DVMTR toàn tỉnh. Thời gian tới, Quỹ BV&PTR sẽ tiếp tục chi trả tiền DVMTR năm 2014 và 2015 cho các chủ rừng và các xã còn lại trên địa bàn huyện A Lưới. (Báo Thừa Thiên - Huế 20/10) đầu trang(
Theo thống kê của Chi cục Lâm nghiệp, toàn tỉnh hiện có 57 dự án chuyển đổi rừng sang mục đích khác và phải trồng rừng thay thế với diện tích 2.253,4 ha, trong đó, diện tích rừng chuyển đổi để xây dựng các công trình thủy điện 263,5 ha, chuyển đổi xây dựng các công trình mang tính chất kinh doanh 286,8 ha và các công trình công cộng 1.703 ha.
Tính đến nay, các đơn vị và địa phương đã trồng thay thế được 367,5 ha/2.253,4 ha, trong đó, trồng rừng thay thế của các công trình thủy điện đã cơ bản hoàn thành với 260ha/263,5 ha; các công trình kinh doanh trồng được 107,8ha/286,8 ha; những diện tích trồng rừng thay thế của các công trình công vẫn chưa triển khai được.
Ông Nguyễn Đức Việt, Phó Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Bộ NN-PTNT về rà soát các dự án đã triển khai chuyển đổi rừng sang mục đích khác cần phải trồng rừng thay thế, giai đoạn 2006 – 2013, các ngành chức năng của tỉnh đã tiến hành rà soát, thống kê lại tất cả những diện tích rừng này và làm việc với các đơn vị là đối tượng phải trồng rừng thay thế để hoàn chỉnh các hồ sơ, thủ tục để triển khai việc trồng rừng.
Đồng thời UBND tỉnh cũng ban hành quyết định về giá trồng rừng thay thế để những đơn vị, tổ chức trồng rừng thay thế có thể nộp tiền (bù trồng rừng) vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh, theo đó, cơ quan chức năng sẽ phân bổ nguồn tiền này cho các chủ rừng đủ điều kiện để trồng rừng thay thế. Nhờ vậy mà sau 2 năm triển khai, đến nay các dự án thủy điện phải trồng rừng thay thế đã cơ bản trồng bù đủ diện tích, và gần ½ diện tích rừng thay thế được trồng thuộc các công trình kinh doanh.
Tuy nhiên, so với tổng diện tích phải trồng thì kết quả vẫn chưa cao, nguyên do một số dự án có chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đều triển khai trước khi Thông tư 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 6-5-2013 của Bộ NN-PTNT có hiệu lực nên không đưa hạng mục trồng rừng thay thế vào dự án hoặc đã hoàn thành và chuyển giao cho đơn vị khác quản lý, do đó rất khó cho cơ quan chức năng khi tiến hành đốc thúc việc trồng rừng thay thế.
Ngoài ra, một số chủ dự án kinh doanh phải trồng rừng thay thế không thực hiện đúng trách nhiệm xây dựng phương án trồng rừng, có biểu hiện chây ì, trốn tránh không hợp tác để kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ trồng rừng. Đối với những diện tích này trong năm 2016, Sở NN-PTNT sẽ tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các Quyết định phê duyệt diện tích, giá trị trồng rừng thay thế để các chủ dự án nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.
Những đơn vị nào chây ì không thực hiện sẽ kiên quyết xử lý theo Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý, phát triển, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản…
Được biết, Sở NN-PTNT đang tổng hợp danh sách, diện tích trồng rừng thay thế của các chủ dự án chuyển mục đích sử dụng rừng xây dựng các công trình công cộng để xây dựng phương án trồng rừng thay thế chung cho toàn tỉnh, dự kiến năm 2018 sẽ hoàn thành.
Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất để “cán đích” kế hoạch trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng chuyển sang mục đích công cộng chính là nguồn vốn, bởi đang phải chờ Trung ương bố trí theo kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 9-1-2012 của Thủ tướng Chính phủ.
Ngoài ra, một khó khăn nữa là theo quy định tại Thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT ngày 29-7-2015 của Bộ NN-PTNT, số tiền nộp vào Quỹ bảo vệ phát triển rừng để trồng rừng thay thế chỉ được bố trí trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, tuy nhiên, hiện nay quỹ đất để trồng rừng phòng hộ, đặc dụng phân bố nhỏ lẻ, manh mún, địa hình dốc và đi lại khó khăn, trong khi quỹ đất quy hoạch trồng rừng sản xuất lớn, phân bố tập trung, hiệu quả đầu tư về kinh tế, xã hội cao hơn.
Sở NN-PTNT đã kiến nghị với Bộ NN-PTNT việc bố trí nguồn vốn này cho trồng trên 3 loại rừng: sản xuất, phòng hộ, đặc dụng, trong đó ưu tiên trồng rừng phòng hộ, đặc dụng. Cùng với đó, các bộ, ngành liên quan cần sớm bố trí nguồn vốn trồng rừng thay thế đối với những diện tích rừng chuyển đổi để xây dựng các công trình công cộng giúp địa phương sớm triển khai, bảo đảm hoàn thành kế hoạch trồng rừng thay thế”. (Báo Đắk Lắk 20/10) đầu trang(
Đến hết tháng 9-2015, huyện Mường Lát đã hoàn thành trồng mới 3.500 ha rừng sản xuất, đạt 100% kế hoạch trồng rừng năm 2015.
Để hoàn thành tốt kế hoạch trồng mới rừng năm 2015 trên địa bàn, Ban chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội huyện Mường Lát đã phối hợp với UBND huyện Mường Lát tổ chức triển khai công tác trồng mới, chăm sóc rừng. 10 đơn vị là Ban Quản lý rừng phòng hộ Mường Lát, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý trồng rừng 147 của huyện, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, các đồn biên phòng trên địa bàn, vv... được giao nhiệm vụ trực tiếp tham gia vận động các hộ gia đình trồng mới rừng.
Ban chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội huyện Mường Lát đã chỉ đạo các chủ vườn ươm trong và ngoài huyện sản xuất và chăm sóc hơn 6 triệu cây giống lâm nghiệp, chủ yếu là xoan, lát, luồng, keo cung cấp đủ cây giống cho bà con trồng rừng trong vụ xuân và vụ thu. Các đơn vị được giao nhiệm vụ trồng rừng đã phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức họp thôn, bản, vận động các hộ dân chủ động đăng ký diện tích trồng mới rừng.
Đồng thời, công tác thiết kế kỹ thuật các công trình lâm sinh; chuẩn bị tốt hiện trường như: Phát dọn thực bì, đào hố, lấp hố, vv... đã được các đơn vị tập trung chỉ đạo thực hiện đúng yêu cầu. Nét nổi bật là nhằm nâng cao chất lượng cây giống lâm nghiệp và hiệu quả rừng trồng, cùng với chỉ đạo, đôn đốc công tác sản xuất, chăm sóc cây giống, các ngành chức năng đã kiểm tra cây giống xuất vườn và cấp giấy chứng nhận lô giống đủ tiêu chuẩn, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đạt tiêu chuẩn về chiều cao, đường kính, vv... mới được xuất vườn đưa ra trồng rừng. (Báo Thanh Hóa 20/10) đầu trang(
Ba Chẽ có trên 55.000ha đất rừng, chiếm trên 90% diện tích đất tự nhiên, trong đó trên 42.000ha là đất có rừng.
Trong chiến lược phát triển của mình, Ba Chẽ cũng khẳng định lấy lâm nghiệp làm ngành kinh tế chủ đạo. Đây là những lý do hết sức hấp dẫn để các nhà đầu tư chú ý, quyết định đặt vấn đề đầu tư vào lâm nghiệp của Ba Chẽ.
Cuối năm 2013, huyện Ba Chẽ đã nhất trí giao trên 1.500ha diện tích rừng thông tại các xã Lương Mông, Minh cầm, Đạp Thanh cho 2 doanh nghiệp Công ty CP thông Quảng Ninh và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ lập phương án đầu tư. Những tưởng đây là dự án sẽ sớm được triển khai, bởi toàn bộ diện tích rừng thông này đang do các xã quản lý; 2 nhà đầu tư đều có tiềm lực và thiện chí cao, thế nhưng trong quá trình thực hiện lại gặp không ít trở ngại, khó khăn.
Nguyên nhân bởi phần lớn diện tích thông trên bị người dân lén lút khai thác nhựa khi cây thông còn non, dẫn đến sức sống của cây yếu; khó hơn nữa là sự sai lệch lớn về diện tích, quy mô, mật độ cây giữa thực tế và sổ sách giấy tờ. Với thực trạng này cần phải tiến hành kiểm kê, đo đạc lại cụ thể để xác định giá trị rừng trước khi giao cho chủ đầu tư, tuy nhiên kinh phí thực hiện việc này không nhỏ, theo ước tính khoảng 6 tỷ đồng.
Về nguyên tắc, đơn vị thực hiện việc này là cơ quan quản lý nhà nước, tức huyện Ba Chẽ, song đến thời điểm này Ba Chẽ chưa có nguồn để thực hiện, trong khi đó nếu huy động nhà đầu tư ứng trước thì lại chưa có cơ chế. Chính từ khó khăn trên, nên hiện nay tiến độ triển khai dự án đầu tư vào 1.500ha rừng thông của Công ty CP Thông Quảng Ninh và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ba Chẽ hiện rất chậm. 2 đơn vị mới triển khai phương án đầu tư quản lý bảo vệ ở một phần nhỏ diện tích rừng thông từ 3 năm đến 5 năm, còn lại đối với trên 1.000ha rừng thông từ 7 đến 10 tuổi gần như “dậm chân tại chỗ”…
Cũng trong năm 2013, Ba Chẽ vui mừng khi Công ty TNHH Thanh Lâm sau một thời gian nghiên cứu đã nhanh chóng đầu tư dự án nhà máy chế biến viên nén. Doanh nghiệp này đã triển khai một số hạng mục phụ để xây dựng trụ sở nhà máy như hàng rào, một phần điện, nước…
Tuy nhiên, khi các bước đầu tư mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu thì do những vấn đề của doanh nghiệp nên tiến độ chậm lại. Đến thời điểm này, sau 3 năm đầu tư, dự án nhà máy chế biến viên nén của Công ty TNHH MTV Thanh Lâm vẫn chưa có gì tiến triển thêm.
Hiện nay, huyện Ba Chẽ còn có một dự án đầu tư vào lĩnh vựa lâm nghiệp khác được đánh giá tính khả thi cao, đó là dự án trồng dược liệu trên địa bàn xã Minh Cầm của Công ty CP Dược - Vật tư y tế Quảng Ninh. Tuy nhiên, hiện Công ty vẫn đang trong quá trình hoàn tất các thủ tục để phê duyệt đầu tư, và quá trình này cũng đã diễn ra khá lâu đến nay chưa đạt được kết quả cụ thể.
Sau lễ công bố quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch chiến lược của Ba Chẽ vào trung tuần tháng 8 vừa qua, lâm nghiệp Ba Chẽ có thêm nhiều nhà đầu tư mới có tiềm lực với các dự án có tính khả thi cao. Đơn cử như Công ty Tập đoàn Hoàng Thái đặt vấn đề đầu tư nhà máy chế biến gỗ và viên nén tại Khu công nghiệp Nam Sơn; dự án phát triển cây dược liệu trà hoa vàng ở 2 xã Thanh Lâm và Thanh Sơn; dự án mở Trung tâm giới thiệu các sản phẩm ngành lâm nghiệp Ba Chẽ tại thị trấn.
Theo ông Nguyễn Công Quyền, Phó Chủ tịch UBND huyện Ba Chẽ, cả 3 ý tưởng đầu tư trên đều có điều kiện thuận lợi để sớm triển khai, đẩy mạnh tiến độ đầu tư. Đối với dự án nhà máy chế biến gỗ và viên nén tại Khu công nghiệp Nam Sơn, hiện nay huyện có thể sớm bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư. Trên địa bàn hiện cũng chưa có dự án nào tương tự dự án trên về tính chất và quy mô, trong khi đó nguyên liệu gỗ rừng trồng tại chỗ của Ba Chẽ khá dồi dào và giá thành thấp hơn mức chung thị trường.
Dự án trà hoa vàng cũng có tính khả thi cao, bởi địa bàn 2 xã Thanh Lâm, Thanh Sơn vốn trước đây là vùng phát triển cây trà hoa vàng tự nhiên, hiện nay trên địa bàn xã còn có nhiều cội trà hoa vàng lớn, là nguồn để có thể nhân giống cây trà hoa vàng. Đồng thời, điều kiện về thổ nhưỡng, khí hậu tại vùng này hiện vẫn rất phù hợp với loại cây quý hiếm trà hoa vàng.
Riêng đối với Trung tâm giới thiệu các sản phẩm lâm nghiệp tại thị trấn Ba Chẽ, ông Quyền khẳng định, huyện có thể hỗ trợ ngay về quỹ đất, nhà đầu tư có thể triển khai được ngay. Dự án này còn có tính khả thi cao, bởi ngoài giới thiệu sản phẩm lâm nghiệp, nhà đầu tư còn có ý tưởng kết hợp dịch vụ ăn nghỉ có quy mô, hạng mục mà hiện Ba Chẽ đang thiếu và yếu.
Có thể khẳng định, với những ưu thế và nỗ lực của huyện Ba Chẽ, việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp Ba Chẽ đang có những khởi sắc nhất định, tuy nhiên chưa tương xứng. Việc này cho thấy cần sự nỗ lực, thiện chí hơn nữa ở cả phía huyện Ba Chẽ cũng như các nhà đầu tư. (Báo Quảng Ninh 20/10) đầu trang(
Thời hạn cho vay từ khi trồng cho đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Nhằm hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số một cách thiết thực, hiệu quả, bên cạnh những chính sách hỗ trợ được nêu rõ trong Nghị định 75/2015 NĐ-CP về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020, Chính phủ còn đặc biệt quan tâm đến chính sách tín dụng ưu đãi dành cho người trồng rừng.
Theo đó, ngoài số tiền 5 - 10 triệu đồng/ha để mua cây giống, phân bón và chi phí một phần nhân công bằng tiền để trồng rừng SX phát triển lâm sản ngoài gỗ, hộ gia đình còn được Ngân hàng Chính sách xã hội hoặc Ngân hàng NN-PTNT cho vay không có tài sản đảm bảo lên đến mức 15 triệu đồng/ha, lãi suất 1,2% năm.
Thời hạn cho vay từ khi trồng cho đến khi khai thác chính theo chu kỳ kinh doanh của loài cây trồng nhưng không quá 20 năm.
Không chỉ cho vay để trồng rừng mà những hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình người Kinh nghèo đang sinh sống ổn định tại các xã có điều kiện KT-XH khó khăn (khu vực II và III) thuộc vùng dân tộc và miền núi theo tiêu chí Thủ tướng Chính phủ quy định, có thực hiện một trong các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng (bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên; trồng rừng, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất; nhận khoán bảo vệ rừng) còn được vay vốn để phát triển chăn nuôi nhằm đảm bảo cuộc sống.
Theo đó, mỗi hộ gia đình sẽ được vay tối đa 50 triệu đồng với lãi suất 1,2% không quá 10 năm.
Hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng SX và phát triển lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng phòng hộ thì được cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị 15 kg gạo/khẩu/tháng tại thời điểm trợ cấp trong thời gian chưa tự túc lương thực. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định mức và thời gian trợ cấp nhưng tối đa không quá 7 năm.
Với những chính sách tín dụng ưu đãi, người trồng rừng có thể phần nào yên tâm ổn định cuộc sống. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/10) đầu trang(
Để tạo điểu kiện cho các hộ dân bán gỗ keo nguyên liệu được thuận tiện, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã thống nhất chủ trương cho phép Công tỵTNHH MTV Hào Hưng Quảng Ngãi lập trạm thu mua keo nguyên liệu trên các huyện. Thế nhưng, chủ trương trên lại bị tắc ở huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi do UBND huyện "không thông".
Được biết, hiện trên địa bàn các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, việc vận chuyển, khai thác gỗ keo của nguời dân chủ yếu dựa vào các loại xe bị cấm lưu hành như: Xe tự chế, xe công nông, máy cày. Do đó, cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ngãi đã và đang siết chặt công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các xe tải chở quá khổ, quá tải. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiêu thụ gỗ keo nguyên liệu của người dân và làm ảnh hưởng đến nguồn cung cấp nguyên liệu sản xuất đối với các doanh nghiệp, trong đó có Công ty TNHH MTV Hào Hưng Quảng Ngãi (Công ty Hào Hưng).
Để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên, ngày 8/6/2015, Công ty Hào Hưng đã có Văn bản số 08.06/2015/HHQN về việc “Lập trạm thu mua nguyên liệu” gửi UBND tỉnh Quảng Ngãi.Theo đó, Công ty Hào Hưng xin phép UBND tỉnh Quảng Ngãi được lập các trạm thu mua gỗ keo nguyên liệu tại các huyện miền núi như: Trà Bồng, Ba Tơ, Sơn Hà, Minh Long... và cam kết sẽ thực hiện đúng các quy định trong việc sử dụng phương tiên vận chuyển gỗ keo nguyên liệu.
Ngày 9/6/2015, UBND tỉnh Quảng Ngãi có Công văn số 2709/UBND đồng ý về chủ trương việc Công ty Hào Hưng được lập trạm thu mua keo nguyên liệu trên địa bàn các huyện của tỉnh.
Ngay sau đó, Công ty Hào Hưng đã tiến hành tìm kiếm địa điểm để làm trạm thu mua gỗ keo tại thôn Bình Đông, xã Trà Binh, huyện Trà Bồng. Ngày 28/6/2015, Công ty Hào Hưng đã có Công văn số 11/CVĐN về việc “xin phép lập Trạm thu mua gỗ keo nguyên liệu” gửi UBND huyện Trà Bồng. Tại Công văn này, Công ty Hào Hưng đã trình bày cụ thể mục đích, phương án thu mua, hình thức thanh toán và các cam kết thực hiện khác...
Tưởng rằng sẽ được chấp thuận theo chủ trương của UBND tỉnh, nào ngờ, Công ty Hào Hưng “ngã ngửa” khi nhận được Công văn trả lời số 1473/UBND-KT ngày 8/9/2015 của UBND huyện Trà Bồng. Theo đó, UBND huyện Trà Bồng đã đưa ra nhiều lý do không chấp thuận như: Tại địa phương này đã có 1 nhà máy sản xuất và chế biến gỗ dăm hoạt động; việc lập trạm thu mua của Công ty Hào Hưng là chồng lấn với hoạt động thu mua của Công ty TNHH Nhất Hưng, dẫn đến hệ quả cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường...
Ông Lê Văn Lý, Phó Giám đốc Công ty Hào Hưng cho chính các ông đang là nạn nhân của việc cạnh tranh không lành mạnh. Bằng chứng là UBND huyện không cho Công ty Hào Hưng lập trạm mà chỉ cho Công ty Nhất Hưng độc quyền việc thu mua gỗ keo nguyên liệu. Do đó, theo ông Lý thì lý do mà UBND huyện Trà Bồng đưa ra là không thỏa đáng.
Làm việc với phóng viên, ông Nguyễn Xuân Bắc, chủ tịch UBND huyện Trà Bồng cho biết: UBND huyện không chấp thuận cho Công ty Hào Hưng lập trạm mua gỗ keo là do Công ty chưa có phương án thu mua, chưa thông qua chủ trương của huyện...
Trước những vấn đề mà chúng tôi đề cập như có hay không việc chính quyền huyện bảo hộ doanh nghiệp trên địa bàn và lý do UBND huyện đưa ra là hiện nguồn nguyên liệu chỉ đáp ứng 70% nhu cầu, trong khi đó, được biết, bà con không chỉ bán gỗ keo cho Công ty Nhất Hưng mà còn đem bán cho các nhà máy khác ở huyện khác, tỉnh khác thì ông Bắc vẫn bảo lưu ý kiến của mình và cho rằng, nguồn nguyên liệu trên địa bàn huyện vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu.
Tại buổi làm việc, ông Bắc chỉ trả lời chung chung là chủ trương của UBND huyện là không cho Công ty Hào Hưng đặt trạm thu mua. Ông Bắc cho biết thêm, trước khi trả lời không cho Công ty Hào Hưng lập trạm thu mua gỗ keo, ngay 8/7/2015 UBND huyện Trà Bồng đã gửi văn bản cho đơn vị này đề nghị cung cấp tài liệu hồ sơ lập trạm thu mua nguyên liệu nhưng đến nay, Công ty Hào Hưng đã không thực hiện theo đúng yêu cầu. Tuy nhiên, Công ty Hào Hưng khẳng định, chưa nhận được văn bản nào như ông Bắc nêu.
Như vậy, liệu việc UBND huyện Trà Bồng không thống nhất cho Công ty Hào Hưng lập trạm mua gỗ keo trên địa bàn huyện có khách quan và đúng quy định? (Công Lý 21/10) đầu trang(
Chủ tịch UBND thành phố vừa ký Quyết định số 7720/QĐ-UBND quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn.
Theo Quyết định này, mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng tính bằng 1,5% doanh thu thực hiện trong kỳ và bắt đầu áp dụng từ ngày 1-1-2016.
Trước đó, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 5803/QĐ-UBND phê duyệt danh sách 8 doanh nghiệp đang kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch. 2 đơn vị khác sản xuất, cung cấp nước sạch phải chi trả tiền dịch vụ về điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất. (Công An TP.Đà Nẵng 21/10) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Hà Tĩnh.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu công ty TNHH một thành viên Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nhiệm vụ sản xuất và cung ứng dịch vụ công ích đối với Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn,
UBND tỉnh Hà Tĩnh thực hiện việc sắp xếp, đổi mới các công ty lâm nghiệp Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ theo quy định hiện hành.
Đồng thời, UBND tỉnh Hà Tĩnh tiếp tục rà soát lại đất rừng, xử lý dứt điểm các trường hợp quản lý sử dụng đất không đúng quy định; xây dựng và phê duyệt phương án sử đụng đất theo quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP. (Tài Chính Điện Tử 21/10) đầu trang(
Trong suốt 10 năm qua, chưa bao giờ giá gỗ rừng trồng cao ngất ngưởng như hiện nay, gần 1,4 triệu đồng/tấn...
Ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định, cho biết: Hiện nay, các nhà máy chế biến dăm gỗ XK trên địa bàn Bình Định đang thu mua gỗ rừng trồng với giá từ 1.330.000 -1.370.000đ/tấn. Mọi năm, vào cuối vụ khai thác thường thì giá gỗ rừng trồng giảm dần, năm nay ngược lại, nếu đầu vụ giá chỉ có 1.250.000đ/tấn sau đó tăng dần, đến nay là gần 1,4 triệu đồng/tấn.
“Trong năm 2014, giá gỗ rừng trồng có thời điểm hạ xuống chỉ còn dưới 1,2 triệu đồng/tấn. Bước sang đầu năm 2015 tăng nhẹ, rồi tăng dần cho đến thời điểm cuối vụ và vẫn còn tăng tiếp. Chưa khi nào giá gỗ rừng trồng tăng cao như thời điểm này”, ông Dũng nhận định.
Mức giá này đã mang đến cho người trồng rừng ở Bình Định niềm vui khôn tả. Theo tính toán, hiện nay suất đầu tư cho rừng trồng suốt chu kỳ, từ khi trồng đến chăm sóc, bảo vệ, chi phí tất tần tật khoảng hơn 30 triệu đồng/ha.
Nếu 5 năm sau khai thác, sẽ đạt sản lượng 100 tấn/ha, hộ nào để đến 7 năm mới khai thác thì sản lượng sẽ đạt đến từ 120-140 tấn/ha. Chỉ tính rừng 5 năm khai thác, cứ cho năng suất bình quân mỗi ha đạt 100 tấn gỗ, với giá bình quân 1.350.000đ/tấn, người trồng rừng sẽ cầm chắc trong tay hơn 135 triệu đồng.
Trừ chi phí đầu tư suốt chu kỳ hơn 30 triệu đồng, cộng thêm chi phí khai thác, vận chuyển đến nhà máy khoảng 300 ngàn đồng/tấn (30 triệu đồng/100 tấn gỗ) thì mỗi ha rừng người trồng vẫn còn bỏ vào “hầu bao” gần 40 triệu đồng tiền lãi ròng.
Vui nhất là những hộ có nhiều diện tích rừng trồng như ông Cù Văn Mẫn ở thôn Bình An 1, xã Phước Thành (huyện Tuy Phước, Bình Định). Với thâm niên gần 15 năm trồng rừng, hiện nay ông Mẫn đang sở hữu trên 100 ha rừng keo lai có nhiều độ tuổi khác nhau, được trồng tại xã Phước Thành và nhiều xã khác trong huyện Tuy Phước. Bình quân mỗi năm ông Mẫn khai thác hơn 10 ha. Với giá gỗ rừng trồng cao như hiện nay, khai thác xong, trừ chi phí ông còn lãi ròng trên 500 triệu đồng là cái chắc.
Bình Định là tỉnh có diện tích rừng trồng nhiều nhất miền Trung với 111.000 ha. Theo ông Nguyễn Thế Dũng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Bình Định, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tại tỉnh này tăng lên từng năm. Riêng năm 2014, sản lượng khai thác gỗ rừng trồng đạt trên 600.000 tấn.
“Trong 111.000 ha rừng trồng ở Bình Định, trong đó có đến hơn 55.000 ha do hộ nông dân tự đầu tư trồng. Gía gỗ rừng trồng chạm đỉnh như thế này, người trồng rừng có lãi lớn. Năm nay chắc hẳn những hộ trồng rừng ở Bình Định sẽ ăn cái tết hoành tráng”, ông Dũng phấn khởi nói.
Cũng theo ông Nguyễn Thế Dũng, hiện trên địa bàn tỉnh Bình Định có 19 nhà máy chế biến dăm gỗ, tổng công suất khoảng trên 1,2 triệu tấn/năm.
Nếu sản lượng khai thác rừng trồng hàng năm chỉ cung ứng cho các nhà máy chế biến dăm trên địa bàn tỉnh thôi cũng đã thiếu 50% nguyên liệu, chưa nói đến những cánh rừng có sinh khối lớn, chủ rừng không bán cho những nhà máy băm dăm mà bán cho những cơ sở chế biến đồ gỗ XK kiếm lợi nhuận cao hơn.
“Các nhà máy chế biến dăm gỗ ở Bình Định lâm vào tình trạng thiếu nguyên liệu triền miên. Hiện lượng gỗ rừng trồng khai thác hàng năm chỉ đủ đáp ứng khoảng 55% nhu cầu nguyên liệu của 19 nhà máy chế biến dăm gỗ trên địa bàn”, ông Dũng bộc bạch.
Ông Cái Minh Tùng, GĐ Cty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh, minh họa tình trạng sốt gỗ rừng trồng hiện nay: “Chắc chắn hiện nay thị trường Trung Quốc đang hút gỗ dăm, nên đang có DN Hào Hưng của Trung Quốc đứng chân trên địa bàn xã Canh Hiệp (huyện Vân Canh) mua đón đầu gỗ rừng trồng với giá cao về tự băm dăm, tự chở xuống cảng và đưa về nước bằng tàu của họ.
Do tất cả các khâu chế biến, vận chuyển đều chủ động nên chi phí đầu vào giảm, họ nâng giá mua gỗ nguyên liệu khiến các nhà máy băm dăm trong tỉnh chạy theo mà vẫn không mua nổi nguyên liệu”.
Cty TNHH Sông Kôn chuyên băm dăm gỗ XK ở Khu công nghiệp Phú Tài (TP Quy Nhơn), dù đã chủ động được nguồn nguyên liệu từ rừng trồng của công ty mẹ là Cty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (huyện Vĩnh Thạnh), nhưng hiện vẫn đang thiếu nguyên liệu trầm trọng.
Ông Võ Vạn Toàn, Phó GĐ Cty TNHH Sông Kôn, cho biết: “Công suất của nhà máy chúng tôi SX 70.000 tấn khô/năm, nguồn nguyên liệu chủ động chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu, chúng tôi phải chạy mướt mồ hôi để mua nguyên liệu nhưng chỉ đáp ứng được khoảng 30% nữa, nhà máy luôn thiếu đến 40% so với nhu cầu”.
Tình hình sốt gỗ rừng trồng hiện nay khiến các nhà máy chế biến dăm gỗ ở Bình Định gặp khó tứ bề. Khó khăn vì phải tăng giá để tranh mua nguyên liệu đã đành, càng khó hơn khi phải “bấm bụng” mua gỗ non (rừng trồng 3-4 năm dân đã khai thác đón giá cao). Không mua thì không có nguyên liệu để SX, mua gỗ non thì sản phẩm kém chất lượng, thị trường NK chê ỏng chê eo, đòi giảm giá mới mua thì chẳng những đã không có lời mà còn chịu lỗ. (Nông Nghiệp Việt Nam 21/10) đầu trang(
Theo Chi cục Lâm nghiệp Quảng Nam, đến hết năm 2014, tổng diện tích trồng rừng thay thế (TRTT) trên địa bàn tỉnh mới chỉ thực hiện hơn 50% kế hoạch, khoảng hơn 837ha, chủ yếu tập trung ở các công trình thủy điện.
Vì thế tại cuộc họp trực tuyến mới đây, Quảng Nam là một trong những địa phương mà Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã nhắc nhở trong việc chậm TRTT theo kế hoạch.
Theo Tổng cục Lâm nghiệp, tính đến hết tháng 9/2015, 23/50 địa phương có kế hoạch TRTT với diện tích 8.089ha, chỉ đạt 36% kế hoạch năm; ước cả năm thực hiện 11.660ha, cũng chỉ đạt 52,3% kế hoạch năm. Các địa phương có công trình thủy điện (CTTĐ) phải TRTT với diện tích lớn nhưng chưa trồng, hoặc trồng rất ì ạch trong đó có Thừa Thiên- Huế, Cao Bằng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Phú Yên, Lạng Sơn, Bình Phước, Kon Tum và Quảng Nam.
Quảng Nam dự kiến năm 2015, sẽ trồng bù hoàn rừng 631ha. Trong đó, CTTĐ Sông Bung 2: 444,66ha, Sông Tranh 3: 1,76ha, Sông Tranh: 259,8ha, Sông Côn: 70ha, Tr’Hy: 20,22ha, Sông Bung 5: hơn 6ha, Đăk Mi 2: hơn 28ha. Lũy kế TRTT ước đến năm 2015 triển khai 1.468,76ha, (đạt 88,58% kế hoạch). Thế nhưng hiện nay việc “trả nợ rừng” trên địa bàn tỉnh này vẫn gặp một số khó khăn.
Thứ nhất, do mùa trồng rừng chỉ diễn ra từ tháng 9-12 nên từ đầu năm đến nay chỉ mới hoàn tất công tác lập, phê duyệt hồ sơ thiết kế, chuẩn bị cây giống, phát dọn thực bì.
Thứ hai, là vướng vào đất nương rẫy cũ của đồng bào, khiến nhiều nhà máy thủy điện không thực hiện TRTT theo đúng theo kế hoạch của phương án đã được phê duyệt. Điển hình, thủy điện Sông Tranh 2 có khoảng 60 ha TRTT thuộc quy hoạch rừng phòng hộ, nhưng vướng vào đất nương rẫy cũ của đồng bào.
Thứ ba, do không có nguồn kinh phí hỗ trợ cho người dân, làm ảnh hưởng đến việc thu hồi đất nên chậm triển khai trồng rừng. Các Nhà máy thủy điện Geruco Sông Côn, Tr’Hy dù đã được phê duyệt phương án từ năm 2010 nhưng đến nay vẫn còn nợ TRTT hơn 90ha. Theo giải thích của chủ đầu tư 2 nhà máy thủy điện này, thời điểm phê duyệt phương án, đơn vị gặp khó khăn về tài chính, chưa triển khai. Hiện tại, quỹ đất cho TRTT bị biến động không thực hiện được.
Một nguyên nhân khác, theo giải thích của ngành lâm nghiệp, năm 2014 việc TRTT tổ chức thực hiện theo Quyết định 73 của Thủ tướng Chính phủ, đơn vị thi công được chỉ định thầu. Nhưng hiện nay, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2014 quy định, đối với các công trình có tổng vốn đầu tư trên 1 tỷ đồng phải tổ chức đấu thầu. Do đó việc tổ chức đấu thầu lần đầu tiên thực hiện trong lĩnh vực trồng rừng gặp khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ thời gian.
Thực tế nhiều chủ đầu tư không nghiêm túc thực hiện các quy định của luật pháp, chưa có phương án trồng, chứ chưa nói đến việc trồng cây gì, ở đâu, vốn ra sao,… Không ít chủ dự án không chủ động trong xây dựng phương án cũng như thực hiện nộp tiền để TRTT. Mặt khác, một số dự án đã nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng, song vẫn còn tình trạng để vốn tồn đọng.
Trước tình hình trên, Sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết, nhằm tháo gỡ khó khăn, từ đầu năm đến nay, ngành nông nghiệp tỉnh xây dựng nhiều giải pháp, nhất là đôn đốc các chủ đầu tư, đơn vị có diện tích rừng chuyển đổi mục đích sử dụng khẩn trương lập phương án để ngành chức năng phê duyệt.
Đối với các dự án dưới 10ha, thống nhất chủ trương trực tiếp trả nợ rừng mà không cần xây dựng phương án. Kiến nghị Trung ương ban hành cơ chế, chính sách về hỗ trợ trồng rừng sản xuất giai đoạn 2016 - 2020 kịp thời, để có thể triển khai vào đầu năm 2016.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cho rằng, các địa phương, trong đó có Quảng Nam khi phê duyệt dự án mới phải tính đến TRTT theo Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường quản lý và yêu cầu các chủ đầu tư khi làm dự án phải tính phương án trồng bù lại rừng. Năm 2015 phải hoàn thành kế hoạch TRTT cho các công trình thủy điện.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ NN&PTNT giúp đỡ các địa phương về nhiệm vụ TRTT như hướng dẫn đơn giá trồng rừng; mô hình trồng bù rừng nhưng ở ngoài rừng phòng hộ, rừng đặc dụng… Các dự án thủy điện mà trước đây chưa có phương án TRTT bắt buộc chủ đầu tư nộp tiền vào Qũy Phát triển rừng theo lộ trình cụ thể hằng năm.
“Bộ Công thương phối hợp với Bộ NN&PTNT theo dõi việc TRTT của các công trình thủy điện; nếu chủ đầu tư nào không thực hiện trồng bù lại rừng, kiên quyết thu hồi giấy phép và dừng hoạt động dự án”- Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lưu ý.
Sở NN&PTNT Quảng Nam cũng đã kiến nghị, Trung ương cần hướng dẫn quản lý và thủ tục giải ngân đối với phần kinh phí nộp tiền về QPTR tỉnh. Cho phép các công trình TRTT được chỉ định thầu như Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 16/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ để thuận tiện cho việc triển khai thực hiện. Đặc biệt đối với các diện tích thực hiện trong năm 2015.
Lãnh đạo Sở NN&PTNT cho biết, quan điểm của ngành nông nghiệp tỉnh, từ nay đến cuối năm là chỉ đạo, giải quyết dứt điểm việc TRTT. Đối với các dự án thủy điện đã nộp tiền về Quỹ Phát triển rừng, phải gấp rút trồng rừng. Thế nhưng xem ra việc “trả nợ rừng” vẫn còn là vấn đề dai dẳng. (Đại Đoàn Kết 21/10) đầu trang(
Theo Quyết định số 1310/QĐ-UBND, ngày 27/8/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt danh sách các chủ dự án thủy điện tự tổ chức trồng rừng và không tự tổ chức trồng rừng thay thế mà nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh (Quyết định 1310) thì trong năm 2015, toàn tỉnh có 6 chủ dự án thủy điện phải thực hiện nghĩa vụ tài chính để trồng rừng thay thế với tổng số tiền hơn 132 tỷ đồng.
Thời hạn nộp tiền được chia ra 2 đợt, kết thúc chậm nhất là đến ngày 15/9/2015. Mặc dù đã rất nỗ lực trong việc đôn đốc, phối hợp nhưng đến nay, do nhiều nguyên nhân mà số tiền thu được từ các chủ dự án chưa đạt 50% so với kế hoạch.
Trong số 6 đơn vị đã nêu thì Công ty Thủy điện Đồng Nai (chủ đầu tư dự án các công trình thủy điện Đồng Nai 3 và 4) phải nộp số tiền nhiều nhất với gần 103 tỷ đồng để trồng hơn 2.753 ha rừng thay thế. Trong số đó, UBND tỉnh đã phê duyệt kế hoạch trồng hơn 1.379 ha rừng.
Do không có chuyên môn trồng rừng nên chủ đầu tư chỉ nhận trồng hơn 28 ha, số còn lại là nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh để thuê tổ chức, cá nhân trồng rừng. Đến nay, Công ty Thủy điện Đồng Nai mới nộp được hơn 51 tỷ đồng. Các chủ dự án khác trong danh sách nộp tiền theo Quyết định 1310 vẫn chưa có đơn vị nào hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Cụ thể, đến nay, các đơn vị như Công ty Thủy điện Đắk R’tíh mới nộp hơn 3 tỷ đồng; Ban Quản lý Dự án Thủy điện Đồng Nai 5 nộp gần 3 tỷ đồng và Ban Quản lý Dự án thủy điện miền Trung nộp gần 800 triệu đồng. Những đơn vị còn lại hiện vẫn chưa nộp. Như vậy, mặc dù đã quá thời hạn nhưng đến nay, 6 đơn vị cũng mới chỉ nộp được tổng số tiền hơn 57/132 tỷ đồng, mới đạt hơn 43% so với kế hoạch.
Theo Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng của tỉnh thì sau khi có quyết định của UBND tỉnh phê duyệt về danh sách, số tiền của các chủ đầu tư đã nêu, đơn vị đã sớm triển khai kế hoạch tiếp nhận, quản lý số tiền khi chủ đầu tư nộp vào để sớm giải ngân cho các đơn vị được giao kế hoạch trồng rừng thay thế theo phương án đã phê duyệt.
Nhìn chung, phần lớn chủ đầu tư các dự án thủy điện đều đồng thuận và có trách nhiệm trong việc trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, do số tiền phải nộp là khá lớn, thời gian thực hiện lại rất ngắn, chỉ chưa đầy 20 ngày kể từ khi UBND tỉnh ban hành quyết định nên các đơn vị gặp khó khăn trong việc cân đối, bố trí nguồn tài chính.
Theo các chủ đầu tư dự án thủy điện thì chính sách trồng rừng thay thế của Nhà nước ban hành sau khi các dự án thủy điện đã hoàn thành hoặc xây dựng, phê duyệt xong dự án nên kinh phí trồng rừng thay thế không có trong danh mục dự án phê duyệt. Vì vậy, để nộp khoản tiền này, chủ đầu tư phải lấy từ nguồn thu vận hành, hoạt động của nhà máy nên không thể một lúc cân đối được số tiền lớn.
Chưa kể đến, một số công trình thủy điện đã hoàn thành và đưa vào danh danh sách nộp tiền nhưng lại chưa đi vào hoạt động nên không có nguồn thu để trích nộp. Vì vậy, các chủ đầu tư đều mong muốn tỉnh gia hạn thêm thời gian để bố trí đủ kinh phí thực hiện.
Hiện Sở Nông nghiệp-PTNT đang tiếp tục phối hợp với Sở Công thương hướng dẫn, đôn đốc các chủ dự án thủy điện sớm hoàn thành việc nộp tiền theo quyết định UBND tỉnh đã ban hành, cũng như rà soát, xem xét những đơn vị cố tình chây ỳ, thiếu tinh thần tự giác để tham mưu, đề xuất biện pháp giải quyết. (Báo Đắk Nông 20/10) đầu trang(
Nhờ biết khai thác tốt tiềm năng, lợi thế đất đai, nhiều bà con ở xã Chiềng Cang, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, đã vươn lên thoát nghèo. Mô hình trồng rừng kết hợp với chăn nuôi đã tạo ra cách nghĩ, cách làm mới trong việc thoát nghèo bền vững đối với người dân nơi đây.
Điển hình là gia đình ông Lò Văn E, dân tộc Thái, ở bản Bó Lạ, huyện Sông Mã. Năm 1992, khi thấy những mảnh rừng của xã Chiềng Can bị tàn phá nghiêm trọng, đất đai xói mòn vì người dân ồ ạt khai thác gỗ làm nhà, anh Lò Văn E bàn với vợ cùng trồng rừng để cải tạo đời sống gia đình. Anh bảo nếu phá rừng trồng ngô thì cũng chỉ được 1 – 2 vụ, hoặc được mùa lại mất giá, tài nguyên lại không được giữ. Trồng cây lâu năm, vừa có thể giữ môi sinh, lại hiệu quả kinh tế lâu dài.
Tuy nhiên, suy nghĩ là vậy, khi bắt tay vào làm anh mới gặp nhiều cái khó. Đất đai không tập trung, nằm rải rác, manh mún vì lúc đó bản đã chia cho từng hộ gia đình quản lý. Để có quỹ đất thuận lợi gieo trồng, anh đã phải đến từng hộ gia đình trong bản, gặp từng người để dồn điền, đổi thửa với nhau, may mắn đổi được 8ha đất thành một khu tập trung có thể trồng rừng.
Nhưng có đất rồi thì giống ở đâu với anh cũng là bài toán khó. Gia đình nghèo không có vốn, hai vợ chồng bèn lên rừng mót từng hạt lát về ươm. Rồi nhớ lại những năm tháng đóng quân ở Phú Thọ, Tuyên Quang, thấy bà con trồng nhiều rừng, để có giống cây keo, cây mỡ anh đã đến tận nơi tìm giống, học hỏi kinh nghiệm ươm và mang hạt về, và đã trồng thành công. Đến nay, 8ha rừng của gia đình anh đã có 13.000 cây các loại như lát, keo, mỡ, bạch đàn, thổ lộ, xoan, sưa và 6.000 gốc mây nếp, đem lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Cùng với trồng cây lâu năm, tranh thủ đất thừa tại các gốc, gia đình anh trồng thêm đậu tương, sắn tăng thêm thu nhập. Thấy công việc trồng rừng thuận lợi, anh bèn vận động bà con trong bản cùng làm. Anh đến từng vườn hướng dẫn tỉ mỉ kỹ thuật chăm sóc, ươm giống, thậm chí cho giống nếu bà con cần.
“Mình trồng cây, mình trồng đậu tương phần của mình, còn thừa bao nhiêu mình không trồng đến thì cho bà con trồng. Vận động bà con xóa đói giảm nghèo thì trồng đậu tương, trồng cây lâu năm. Sau này đỡ phải trồng cây khác. Trồng cây khác không đảm bảo kinh tế, cây lâu năm chặt khai thác bán đi sẽ được, không bán thì sẽ để thành rừng. Bà con cũng trồng theo. Đậu tương thì bà con lúc bấy giờ nhiều lắm, có gia đình phải 2 – 3 tấn. Bà con trong bản trồng cây lát thôi. Dân bản tưởng không có ai mua. Sau thì bây giờ không có cây lát mà bán. Như ông Quàng Văn Tun, bản Tre, thu hoạch 20 triệu; Lò Văn Khôm, bản Tre, thu hoạch 10 triệu. Qua mùa các anh ấy thích, bảo biết thế trồng nhiều”.
Ngoài trồng rừng, thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài, gia đình anh kết hợp đào ao, thả cá, chăn nuôi trâu bò, trồng ngô, lúa nước, mỗi năm cho thu nhập trên 40 triệu đồng. Thị trường, nguyên liệu mở rộng, gia đình anh đầu tư chiếc xe ô tô chuyên chở nông, lâm sản cho bà con trong vùng. Anh bảo có được thu nhập ổn định, lại giúp được bà con trong bản, vậy là anh mãn nguyện lắm.
“Bây giờ cuộc sống đủ ăn đủ mặc rồi, ngày xưa thì nghèo lắm. Dựng được ngôi nhà sàn 4 gian. Cảm thấy mãn nguyện rồi. Trồng ngô chắc chắn không bằng rồi. Bây giờ lúc nào thích tiền tỷ sẽ có tiền tỷ. Nhưng mà chưa cần bán, để nó lớn đã”.
Ông Lường Văn Toán, Phó Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Sơn La, cho biết, không chỉ gia đình ông Lò Văn E, hiện nay, ở Sơn La nhiều hộ gia đình cũng đi lên từ kinh tế rừng, tỷ lệ hộ nghèo do đó đã giảm đáng kể.
Diện tích rừng bao phủ của tỉnh Sơn La hiện nay là 52%. Có được diện tích rừng đáng kể này, theo ông Lường Văn Toán, một phần cũng là nhờ phát triển kinh tế vườn rừng, bà con trồng cây ăn quả, góp phần tăng thu nhập kinh tế và bảo vệ môi trường.
“Hiện nay, sống về trồng cây ăn quả cũng đáp ứng cho bà con đói nghèo. Đặc biệt, một số huyện tập trung như huyện Sông Mã, huyện Yên Châu, Mộc Châu, Mai Sơn, thành phố trồng cây ăn quả tương đối tốt. Từ những cây ăn quả, cà phê hoặc một số cây công nghiệp khác, vừa phủ rừng, vừa có thu nhập cho dân. Tỷ lệ hộ nghèo của Sơn La giảm tương đối tốt, năm 2011 là 38%, hiện nay còn 23,9%. Tỷ lệ giảm từ 3 – 4% là tương đối lớn”.
Ngoài các giống cây như na, thanh long, nhãn cũng chính là cây ăn quả tiềm năng giúp dân làm giàu. Dọc sông Mã có trên 1000 ha nhãn. Có nhiều nhà thu từ 200 – 600 triệu đồng/vụ.
Đặc biệt, tỉnh Sơn La cũng đang tiến hành trồng thử nghiệm cây mắc ca tại một số địa phương trong tỉnh và kết quả khả quan là cây sinh trưởng, phát triển tốt, sai quả. Mắc ca được đưa vào trồng thử nghiệm tại Sơn La từ năm 2000, đến nay, tổng diện tích cây mắc ca hiện có khoảng 100ha tại các huyện Vân Hồ, Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu và TP. Sơn La. Hướng đi trồng mắc ca cũng đang hứa hẹn mùa bội thu cho bà con nông dân tỉnh Sơn La. (VOV4 19/10) đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) chính thức phát động cuộc thi thiết kế mẫu cho hàng nội ngoại thất gỗ - Giải Hoa Mai 2015-2016
Cuộc thi nhận được sự tài trợ chính của Hội đồng Xuất khẩu Gỗ cứng Hoa Kỳ (AHEC). Mục đích nhằm tìm kiếm, bồi dưỡng, tôn vinh các tài năng thiết kế trẻ Việt Nam; đào tạo đội ngũ thiết trẻ, tiếp tục theo đuổi niềm đam mê thiết kế đồ gỗ; tạo mối liên kết giữa các thiết kế với doanh nghiệp; tạo đầu mối liên kết giữa đạo tạo thực tiễn và chung tay xây dựng nền công nghiệp cho ngành gỗ nước nhà.
Đối tượng tham gia cuộc thi là các bạn trẻ đam mê thiết kế đồ gỗ, không giới hạn ngành nghề, độ tuổi trên mọi miền đất nước. Tác phẩm dự thi phải có tính ứng dụng, có tính thương mại, có tính sáng tạo, kỹ thuật cao…
Thời gian diễn ra từ nay đến ngày 8/3/2016. Giải nhất cuộc thi thí sinh được nhận 20 triệu đồng, giải nhì 15 triệu đồng, giải ba 10 triệu đồng và giải khuyến khích 5 triệu đồng.
Ban tổ chức cho biết, ở mùa giải trước, Giải Hoa Mai đã thu hút được 288 tác phẩm của 244 thí sinh trên cả nước tham gia. Đặc biệt vào tháng 3/2015, có 8 tác phẩm đoạt giải Hoa Mai đã được giới thiệu tại Hội chợ nội thất quốc tế Singapore. (Dân Sinh 20/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Bằng nguyên liệu gỗ thải, những người thợ chế tạo đồng hồ tại Indonesia đã tạo ra những chiếc đồng hồ tiện dụng mà không kém phần tinh xảo.
Với bàn tay tài hoa và óc thẩm mĩ tinh tế, những người thợ tại Công ty sản xuất đồng hồ Matoa đã chế tác những miếng gỗ phế thải, thu thập từ các công ty sản xuất đồ nội thất, thành những chiếc đồng hồ đẹp mắt, có giá từ 75 đến 120 USD.
Tên “Matoa” lấy cảm hứng từ tên một loài cây cao có thân to, vững vàng và chắc khỏe sống trên vùng đất thuộc tỉnh Papua, miền đông Indonesia.
Ông Agianda Merzeindhy - Giám đốc phụ trách mảng tiếp thị của Công ty Matoa cho biết: “Chúng tôi tận dụng tối đa gỗ phế thải từ các cơ sở sản xuất đồ nội thất. Khi nhà sản xuất sử dụng gỗ từ thân cây để làm đồ đạc, những phần bỏ đi của tấm gỗ sẽ trở thành nguyên liệu thô giúp chúng tôi chế tạo đồng hồ. Chúng tôi chỉ cần một miếng gỗ nhỏ để tạo ra một chiếc đồng hồ ưng ý”.
Nhờ máy móc và sức lao động của 25 thợ thủ công, Công ty Matoa có thể sản xuất được 25 chiếc đồng hồ mỗi ngày. Ý tưởng này cũng nhận được sự ủng hộ của chính quyền địa phương khu vực Bandung – nơi Công ty đặt trụ sở.
Chính quyền nơi đây đã thành lập một Ủy ban phụ trách ngành công nghiệp sáng tạo nhằm hỗ trợ các nghệ nhân trẻ, giúp họ phát huy tài năng thông qua việc tổ chức các buổi biểu diễn và các cuộc triển lãm trưng bày hàng thủ công.
Cô Sally, một khách mua đồng hồ cho biết: “Thường chúng ta hay mua những chiếc đồng hồ bằng kim loại hoặc có dây đeo bằng da. Tuy nhiên, những chiếc đồng hồ ở đây rất khác biệt về chất liệu vì được làm từ những miếng gỗ thải. Do đó chúng rất độc, lạ và rất nhẹ khi đeo”.
Hiện sản phẩm của Công ty đã được xuất khẩu sang nhiều quốc gia, trong đó có Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Phi, Đức và Mỹ. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 20/10) đầu trang(
Sau 5 năm với 19 vòng đàm phán chính thức, Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TTP) đã được Bộ trưởng Thương mại của 12 nước thành viên thông qua vào ngày 5/10/2015 tại thành phố Atlanta, bang Georgia (Mỹ).
Do tầm quan trọng của vấn đề môi trường nên mặc dù đây là hiệp định thương mại nhưng các bên tham gia đã dành riêng một chương trong tổng số 30 chương để cam kết các vấn đề về môi trường.
Ông Michael Froman, Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã nói: “Môi trường phải được coi là phần then chốt trong các đàm phán thương mại và phải là đối tượng của các quy định về giải quyết tranh chấp như các vi phạm thương mại. Bởi lẽ, mở rộng thương mại, nếu không được thực hiện một cách chính xác, có thể gây tổn hại đến môi trường. Ví dụ, loại bỏ thuế quan và các rào cản thương mại đối với gỗ và sản phẩm từ gỗ có thể khuyến khích khai thác gỗ bất hợp pháp.
Hiện nay các nước tham gia vào TPP giao dịch thương mại các sản phẩm gỗ chiếm tỷ lệ đáng kể. Trong số này có gỗ khai thác bất hợp pháp, bao gồm cả các loại gỗ quý cần được bảo vệ. Điều đó gây nguy hại cho các khu rừng nguyên sinh và giảm đáng kể nguồn thu của chính phủ (ước tính vào khoảng 6 tỷ đô mỗi năm). Ngoài ra, có tới 8 trong số 20 quốc gia có nguồn thủy sản hàng đầu thế giới tham gia vào TPP.
Việc khai thác quá mức dẫn đến một số loài cá đang bị đe dọa và các hoạt động đánh bắt bất hợp pháp làm giảm đáng kể nguồn lợi thu được thủy sản. Bởi thế, 12 nước tham gia TPP gồm: Brunei, Chile, New Zealand, Singapore, Hoa Kỳ, Úc, Peru, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản hy vọng hiệp định này sẽ giảm vấn nạn vận chuyển trái phép các loài động vật gặp nguy hiểm, cũng như tình trạng đánh bắt thủy hải sản quá mức .
Các chuyên gia cho biết, để tìm được tiếngnói chung về vấn đề này là điều không dễ. Trong các cuộc đàm phán về Hiệp định này Chương môi trường được bàn thảo rất kỹ lưỡng và luôn có các ý kiến bất đồng. Các bên tham gia xem các quy định môi trường là một trong bốn lĩnh vực khó khăn nhất trong đàm phán TPP, cùng với tiếp cận thị trường, sở hữu trí tuệ và quản lý doanh nghiệp nhà nước.
Đã có lúc đàm phán rơi vào bế tắc khi Hoa Kỳ đề xuất giải quyết các tranh chấp về môi trường phải tuân theo cơ chế như giải quyết các tranh chấp về thương mại. Tất cả 11 quốc gia tham gia đàm phán TPP đều phản đối đề xuất này của Hoa Kỳ. Thay vào đó, các nước này chỉ muốn thực hiện tham vấn trong trường hợp tranh chấp xảy ra hơn là áp dụng các biện pháp trừng phạt cố định như trong tranh chấp thương mại... Tuy nhiên, đến nay vấn đề đã được giải quyết với việc thông qua bản hiệp định TTP.
Với bản ký kết này, 12 nước tham gia TPP đã nhất trí thực thi có hiệu quả pháp luật về môi trường của nước mình và không đi ngược lại với hệ thống pháp luật về môi trường để khuyến khích thương mại và đầu tư. Minh bạch khi đưa ra, thực thi và thúc đẩy các quyết định về môi trường. Các thách thức về môi trường như ô nhiễm môi trường, buôn bán động vật hoang dã, khai thác, đánh bắt trái phép và bảo vệ môi trường được các nước cam kết giải quyết mạnh mẽ.
Các bên cũng nhất trí thực thi các nghĩa vụ theo Công ước về Thương mại quốc tế đối với các loài động thực vật nguy cấp (CITES) và thực hiện các biện pháp nhằm đấu tranh và tăng cường hợp tác để ngăn chặn thương mại về động thực vật hoang dã được tiến hành một cách bất hợp pháp. Ngoài ra, đồng ý thúc đẩy quản lý phát triển rừng bền vững, bảo vệ và bảo tồn các loài động vật và giống cây hoang đã được xác định là nguy cấp trong lãnh thổ của nước mình.
Các nước TPP cũng thỏa thuận bảo vệ môi trường biển từ ô nhiễm tàu thủy và bảo vệ tầng ô zôn khỏi các chất phá hủy ozone. Các nước xác nhận lại cam kết của mình trong việc thực hiện các Hiệp định đa phương về môi trường (MEAs) mà mình gia nhập. Các nước cam kết minh bạch trong việc đưa ra quyết định, thực hiện và thi hành các quyết định về môi trường.
Bên cạnh đó, các nước thỏa thuận tạo cơ hội cho cộng đồng đóng góp vào việc thực hiện chương về Môi trường, kể cả thông qua việc đệ trình và các buổi họp công khai của Ủy ban Môi trường để giám sát việc thực hiện của nội dung chương này. Chương này cũng phải tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp trong chương Giải quyết tranh chấp. Các nước cũng nhất trí khuyến khích các sáng kiến môi trường tự nguyện, chẳng hạn như các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Trong nỗ lực bảo vệ vùng đại dương chung, các Thành viên TPP nhất trí đối với quản lý bền vững nghề cá, thúc đẩy việc bảo tồn các loài sinh vật biển quan trọng như cá mập, đấu tranh chống đánh bắt trái phép, cũng như nghiêm cấm một số hình thức trợ cấp nghề cá có tác động tiêu cực nhất đến khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên cá.
Để giám sát việc thực các cam kết trên, các Thành viên còn đã thống nhất thành lập Ủy ban về Môi trường, khuyến khích các sáng kiến tự nguyện về môi trường (ví dụ như các chương trình hợp tác về trách nhiệm xã hội). Cuối cùng, các bên cam kết hợp tác và giải quyết các vấn đề thuộc mối quan tâm chung, trong đó bao gồm các khu vực bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, và thời gian chuyển đổi sang các nền kinh tế có mức khí thải thấp và phát triển bền vững.
Việc thực hiện các cam kết trong Hiệp định TPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Việt Nam tuy nhiên xét một cách kỹ lưỡng một số tiêu chuẩn trong hiệp định sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam làm tốt hơn vấn đề bảo vệ môi trường (đặc biệt trong đầu tư từ các nước đối tác TPP). (Tài Nguyên Và Môi Trường 20/10) đầu trang(
Khói mù dày đặc đang bao phủ gần hết các thành phố lớn tại Đông Nam Á, từ Singapore, Kuala Lumpur cho tới TP.HCM, được cho rằng bắt nguồn từ nguyên nhân cháy rừng tại Indonesia.
Khói mù từ cháy rừng tại Indonesia là nguyên nhân trực tiếp khiến chính quyền Singapore phải ra thông báo yêu cầu người già và trẻ em nước này hạn chế ra đường, cũng như cảnh báo công dân không nên tham gia vào các hoạt động nặng ngoài trời.
Tại Kuala Lumpur, chính phủ Malaysia đã phải đóng cửa sân bay, đóng cửa trường học vì những tòa nhà chọc trời của thành phố biến mất trong đám khói dày đặc tạo ra từ vụ cháy rừng không thể kiểm soát ở Indonesia.
Những "đám mây" này được tạo ra từ việc người dân trên đảo Sumatra của Indonesia phá rừng và đốt rẫy để trồng cọ hoặc keo. Nhưng các đám cháy như vậy thường vượt ra ngoài sự kiểm soát của những người gây ra nó và "tự do" lan tràn.
Và khi những đám cháy này vượt ngoài tầm kiểm soát, chúng bắt đầu cháy âm ỉ (bởi tầng đất nền của rừng ở Sumatra là than bùn), đám cháy gần như không thể bị dập bằng sức lực con người. Khi cháy than bùn sẽ tạo nên đám khói khổng lồ tràn ngập cả Đông Nam Á.
Theo một giáo sư tại Đại học VU Amsterdam (Hà Lan), ước tính đám cháy rừng tại Indonesia năm nay (mọi năm vẫn cháy, nhưng không lớn bằng) sẽ tạo ra lượng khí thải vượt xa lượng khí thải nhà kính của Đức- một nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới thải ra mỗi năm, điều này sẽ khiến hiện tượng El Nino kéo dài thêm.
Nhưng tại sao một đám cháy lớn như vậy lại tiếp tục xảy ra bất chấp những cảnh báo của cả thế giới từ nhiều năm nay?
Theo ông Iain Marlow, một người đang sống tại Jakarta đã từng đến đảo Sumatra hồi năm ngoái để điều tra về vụ cháy rừng này, thì nguyên nhân sâu xa của vấn đề là từ sự quản lý lỏng lẻo của chính quyền Indonesia cùng với việc giao đất chồng chéo, nạn tham nhũng... đã tạo điều kiện cho việc đốt trừng gây cháy cứ lặp đi lặp lại năm này sang năm khác.
Những chủ đồn điền nhỏ trồng cọ trên đảo Sumatra lại cho rằng những đám cháy là "âm mưu" của 3 công ty lớn chuyên trồng cọ quy mô công nghiệp nhằm chiếm đoạt đất sản xuất của những hộ dân có đồn điền nhỏ trên đảo (vốn được chính phủ cấp nhằm khuyến khích di dân từ đảo Java sang Sumatra).
Nhưng dù là nguyên nhân gì đi chăng nữa, đám cháy tại Sumatra vẫn sẽ tiếp tục, ít nhất là vài tuần nữa khi hòn đảo này chưa có mưa lớn. (Một Thế Giới 20/10) đầu trang(
Ngày 20/10, cảnh sát Indonesia công bố tên bảy doanh nghiệp nước ngoài và một số lãnh đạo của các công ty này bị tình nghi liên quan đến tình trạng cháy rừng hiện nay tại các tỉnh ở Sumatra và Kalimantan.
Theo người đứng đầu cơ quan điều tra của cảnh sát Indonesia Anang Iskandar, số nghi phạm trên nằm trong tổng số 243 cá nhân có liên quan đến nạn cháy rừng. Trong đó, 88 người đã bị bắt giữ với năm người đến từ các doanh nghiệp.
Quá trình điều tra đang được tiến hành nhằm làm sáng tỏ việc các doanh nghiệp bị tình nghi có cố tình ra lệnh gây cháy rừng hay không.
Nguồn tin cho biết những đối tượng bị bắt giữ đến từ các doanh nghiệp bị tình nghi đều là công dân Indonesia, trong đó có các cổ đông và những nhà quản lý cấp cao.
Cháy rừng tại Sumatra và Kalimantan đã phá hủy 1,7 triệu ha rừng, gây ra khói mù ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân. Khói mù dày đặc đã buộc các trường học phải đóng cửa, hơn 300.000 người gặp các vấn đề về hô hấp và nhiều vụ tai nạn giao thông xảy ra.
Tình trạng khói bụi đã lan sang Singapore và Malaysia, làm giảm chất lượng không khí nghiêm trọng tại các nước láng giềng này. (Vietnam + 21/10) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||