Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 21 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Sáng 20-7, tin từ Công an huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) cho biết đã tống đạt quyết định khởi tố bị can và bắt tạm giam thêm 11 đối tượng trong vụ phá rừng ở hồ thủy điện Đồng Nai 5, xã Lộc Bắc, huyện Bảo Lâm.
Qua đó, 11 đối tượng liên quan đến vụ phá rừng bị Công an huyện Bảo Lâm khởi tố, bắt tạm giam đều "dưới trướng" của Hà “đen”. Trong suốt 2 năm qua, dưới sự chỉ đạo của Hà “đen”, 11 đối tượng này thường xuyên vào rừng khai thác gỗ trái phép.
Theo kết quả điều tra sơ bộ, nhóm lâm tặc này đã dùng cưa, thuyền vỏ sắt để khai thác gỗ trái phép trên lòng hồ Thủy điện Đồng Nai 5 và các cánh rừng nguyên sinh giáp ranh lòng hồ. Sau đó, các đối tượng cùng nhau xẻ thành gỗ hộp rồi vận chuyển về bến thuyền và dùng các phương tiện đưa đi nhiều nơi tiêu thụ.
Trước đó, vào ngày 12-7, Công an tỉnh Lâm Đồng đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can 3 đối tượng chính vụ phá rừng này về tội “Vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng”, gồm: Lê Hồng Hà (48 tuổi, tức Hà “đen”, quê quán huyện Diễn Châu, Nghệ An, hiện ngụ thôn 9, xã Đạm Bri, TP Bảo Lộc); Nguyễn Văn Tuấn (40 tuổi, quê TP Hà Nội, là chủ ô tô tải chuyên vận chuyển gỗ trái phép cho Hà “đen”) và Nguyễn Văn Thành (49 tuổi, quê tỉnh Bình Dương, lái xe tải, hiện ngụ huyện Đăk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông).
Trong đó, Hà “đen” là đối tượng cầm đầu của vụ án phá rừng này suốt hơn 2 năm qua. Hiện, Hà “đen” đang bị truy nã trên toàn quốc.
Ngày 14-7, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có báo cáo về vụ khai thác rừng trái phép nói trên trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chỉ đạo. Báo cáo nêu rõ, sau khi bắt giữ các đối tượng, lực lượng Bộ Công an và cơ quan chức năng tỉnh Lâm Đồng đã kiểm tra hiện trường và phát hiện 37 cây gỗ dổi bị cưa hạ trái phép, với tổng khối lượng 111 m3 gỗ tròn; đồng thời, bắt giữ 21,9m3 gỗ xẻ trên xe ô tô.
Liên quan đến vụ án phá rừng này, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng đã chỉ đạo dừng ngay Dự án khai thác, tận thu lâm sản rừng nghèo để triển khai trồng rừng kinh tế, trồng cao su của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm).
Đồng thời, UBND tỉnh Lâm Đồng cũng chỉ đạo các ngành chức năng tiến hành kiểm tra một số cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ trên địa bàn TP Bảo Lộc, huyện Bảo Lâm và các địa phương lân cận. Đến thời điểm hiện tại đã có hơn 10 cơ sở kinh doanh, chế biến gỗ tại các địa phương nói trên được cơ quan chức năng kiểm tra.
Hiện, UBND tỉnh Lâm Đồng đang chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục điều tra làm rõ đối tượng vi phạm và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan đến vụ phá rừng để xử lý theo quy định của pháp luật. (Người Lao Động 20/7; Tiền Phong 20/7) đầu trang(
Ngày 19/7, Báo Thanh Niên nhận được Văn bản xố 5895-VPCP-VI của Văn phòng Chính phủ, truỳen đạt ý kiến của Phó thủ tướng Trương Hòa Bình, liên quan đến bài viết Bộ Công an điều quân đến Lâm Đồng phá án lâm tặc (Báo Thanh Niên số 191 ra ngày 9/7/2016).
Theo đó, Phó thủ tướng biểu dương Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B, cơ quan phía nam), Bộ Công an. Phó thủ tướng cũng yêu cầu Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan về việc để xảy ra vụ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp nêu trên, báo cáo Thủ tướng trước ngày 31/7/206. (Thanh Niên 20/7) đầu trang(
Mặc dù đã có quy định “bất khả xâm phạm” nhưng thời gian qua, di tích lịch sử cấp quốc gia rừng Khuôn Mánh (xã Tràng Xá, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên) vẫn bị xâm hại nghiêm trọng. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc quản lý rừng lỏng lẻo, chồng chéo của các cấp, các ngành từ tỉnh tới cơ sở.
Cách đây 45 năm (tháng 9/1941), tại vùng rừng Khuôn Mánh, Trung đội Cứu Quốc quân II (một trong những đơn vị tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) được thành lập. Năm 1994, rừng Khuôn Mánh được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia (DTLSCQG) theo Quyết định số 3211/QĐ/BT ngày 12/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch).
Khu di tích có diện tích l,7ha (thuộc các lô 13,17, tiểụ khu 107). Trong đó, khu vực bất khả xâm phạm là 1.962,5m2, khu Vực bảo vệ 15.700m2.
Trước khi được công nhận là DTLSCQG, rừng Khuôn Mánh cũng đã bị xâm hại nghiêm trọng. Theo ông Hà Văn Bắc (hơn 50 tuổi), Trưởng thôn Đồng Én (xã Tràng Xá), hậu duệ của cụ Hà Văn Sơn (1 trong 36 chiến sĩ đội Cứu Quốc quân II), khi còn nhỏ đi chăn trâu trong khu rừng già này, ông vẫn còn thấy những thân cây to mà 4 đứa trẻ con ôm không hết. Nhưng đầu những năm 1990, rừng Khuôn Mánh bị đốn hạ trơ trụi. Đến khi được công nhận là DTLSCQG, trên thực tế rừng Khuôn Mánh đã không còn có thế gọi là rừng.
Kể từ thời điểm được công nhận là DTLSCQG, rừng Khuôn Mánh được phủ xanh trở lại, trong đó có diện tích cây trồng từ dự án trồng mới 5 triệu cây rừng (Dự án 661). Nhưng gần đây, rừng lại tiếp tục bị chặt phá.
Ngày 15/6/2016, chúng tôi có mặt tại khu di tích rừng Khuôn Mánh. Gọi là rừng nhưng nơi đây chỉ là những đồi đất đen nhẻm ngổn ngang những thân cây bị cắt cụt và đốt cháy. Các công trình kiến trúc của di tích trơ trọi dưới cái nắng như đổ lửa.
Theo tìm hiểu của phóng viên, nguồn cơn của việc rừng di tích Khuôn Mánh bị xâm hại nghiêm trọng trong thời gian gần đây là do các hộ dân nhận khoán trồng rừng theo Dự án 661 xung quanh khu di tích tiến hành khai thác. Câu hỏi đặt ra là, vì sao với một DTLSCQG đã được khoanh vùng “bất khả xâm phạm, các cấp, ngành liên quan của tỉnh Thái Nguyên vẫn cấp phép để cá nhân, tổ chức “trồng và chặt rừng” khiến cho khu di tích này biến thành đồi núi trọc như hiện nay?
Từ năm 1994, để bảo vệ di tích, một phạm vi chuẩn đã được đưa ra. Phạm vi này được chia thành 2 khu, gồm: khu 1 (bất khả xâm phạm) lấy cột mốc trung tâm làm chuẩn quay một vòng tròn là 1.962,5m2; khu 2, khu bảo vệ (lấy ranh giới khu vực 1 làm chuẩn) là 15.700m2. Trong quyết định công nhận rừng Khuôn Manh là DTLSCQG có quy định: Nghiêm cấm mọi hoạt động xây dựng, khai thác trong khu vực bảo vệ của di tích đã được khoanh vùng.
Vậy nhưng, không hiểu tại sao, năm 2006, thực hiện Dự án 661, Sở Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên đã giao việc trồng rừng Khuôn Mánh cho Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Lâm nghiệp Võ Nhai thực hiện. Công ty này đã hợp đồng giao khoán với một số hộ dân trong vùng, triển khai trồng rừng 661 trong phạm vi đã được khoanh vùng của di tích.
Sau gần 10 năm, diện tích rừng trồng theo Dự án 661 ở đây đã đến kỳ phải khai thác. Do vậy, trong cuối năm 2015, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên đã cấp 2 giấy phép cho Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Lâm nghiệp Võ Nhai khai thác và tỉa thưa rừng đã trồng, tổng diện tích là 19,05 ha.
Ngoài ra, trên cơ sở đề xuất của UBND xã Tràng Xá, ngày 15/1/2016, UBND huyện Võ Nhai có Công văn số 128/UBND-NNPTNT, cho phép khai thác gỗ dự án 661 thuộc khu di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh. Mặc dù trong đề xuất của mình (Báo cáo số 120/BC-UBND, ngày 29/5/2015), UBND xã Tràng Xá cũng có nêu: diện tích khai thác tại lô 13,17 thuộc tiểu khu 107 nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của di tích lịch sử rừng Khuôn Mánh(!?).
Được sự cấp phép của cơ quan quản lý, các hộ dân nhận khoán trồng rừng đã tổ chức khai thác. Hậu quả là, chỉ trong một thời gian ngắn, cả một vùng rừng núi xanh ngút ngàn Khuôn Mánh đã biến thành những quả đồi trơ trọi, cháy sém dưới cái nắng như thiêu như đốt.
Trao đổi với phóng viên báo Dân tộc và Phát triển, ông Hạc Xuân Toán, Chánh Văn phòng UBND huyện Võ Nhai, cho biết, việc di tích rừng Khuôn Mánh bị chặt hạ là một bài học quá đắng cho chính quyền và người dân Võ Nhai.
“Sau khi sự việc xảy ra, Chủ tịch UBND huyện đã yêu cầu các cơ quan, đơn vị kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân đối với công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực Khuôn Mánh. Nếu phát hiện những sai phạm đến mức độ phải xử lý hình sự thì phải củng cố hồ sơ chuyển công an để xử lý theo quy định”, ông Hạc nói.
Một chi tiết cũng đáng lưu ý là, trước thực trạng rừng di tích Khuôn Mánh bị chặt phá trơ trọi, mới đây (ngày 11/6/2016), UBND huyện Võ Nhai đã tổ chức buổi lễ phát động... trồng lại rừng Khuôn Mánh. Ngay sau buổi lễ phát động các cơ quan đơn vị trên địa bàn đã trồng được trên 1.000 cây và dự kiến sẽ trồng lại khoảng 4,7 ha quanh khu di tích.
Việc triển khai trồng lại rừng Khuôn Mánh là việc phải làm. Nhưng quan trọng hơn, sự việc này không những là bài học đau lòng cho các cấp ngành tỉnh Thái -Nguyên mà cũng là bài học cho các địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ rừng nói chung, vùng rừng có di tích lịch sử nói riêng. (Dân Tộc Và Phát Triển 20/7) đầu trang(
Cơ quan điều tra Hình sự Binh đoàn 15 vừa có kết luận điều tra về vụ Trần Văn Khanh (nguyên Đại tá, Giám đốc Công ty Bình Dương, nay là Công ty TNHH MTV Bình Dương) thuộc Binh đoàn 15 có hành vi chỉ đạo cấp dưới và các chủ thầu san lấp trái phép gần hàng trăm ha rừng tại huyện Chư Prông (Gia Lai) để trồng cây cao su, gây thiệt hại tổng cộng hơn 18 tỷ đồng.
Theo đó, cơ quan chức năng quyết định chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Viện Kiểm sát Quân sự Quân khu 5 để đề nghị truy tố về những hành vi hủy hoại rừng đối với Trần Văn Khanh và Dương Công Tư (nguyên Thượng úy, Trợ lý phòng Kế hoạch Kinh doanh Công ty Bình Dương).
Trở lại vụ việc, năm 2005, ông Trần Văn Khanh được Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15 điều động về làm Giám đốc Công ty Bình Dương. Đến tháng 5/2012, ông Khanh chuyển đi khỏi đơn vị này. Trong thời gian làm lãnh đạo tại Công ty Bình Dương, ông Khanh biến công ty này thành đơn vị thua lỗ nợ nần, đời sống công nhân hết sức khó khăn, phá sản 500ha cà phê của đơn vị, tự ý phá hàng ngàn ha rừng không nằm trong giới hạn quy hoạch chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cao su.
Thực hiện chủ trương của Chính phủ cho phép chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây cao su, UBND tỉnh Gia Lai lần lượt thực hiện các thủ tục bàn giao hơn 2.400ha rừng ở các tiểu khu 896, 897, 898, 900, 091, 935, 936, 925, 932 thuộc địa bàn các xã Ia Me, Ia Púch và Ia Mơr (huyện Chư Prông) cho Công ty Bình Dương. Trong khi các DN khác cùng được giao đất thực hiện đúng chủ trương chuyển đổi đất lâm nghiệp để trồng cao su thì Công ty Bình Dương đã cố tình làm sai.
Đầu năm 2010, mặc dù chưa có quyết định giao đất chính thức nhưng ông Trần Văn Khanh chỉ đạo Dương Công Tư, Ngô Minh Quang (Đội trưởng Đội 11)... và hướng dẫn các DN thầu san lấp mặt bằng khẩn trương điều động người và tập kết các phương tiện hiện đại vào rừng san ủi mặt bằng các tiểu khu 896, 897, 898, 900, 091 thuộc địa bàn xã Ia Mơr và Ia Púch.
Tiếp đó, tháng 1/2011, ông Khanh tiếp tục chỉ đạo các ông Dương Công Tư, Lê Đức Cường (Đội trưởng Đội 15), Dương Đức Thịnh (Đội trưởng Đội 16), Lê Huy Cung (Đội trưởng Đội 18), Phạm Hiền Lương (Đội trưởng Đội 20) theo dõi tiến độ Công ty TNHH Hoàng Tùng, Công ty TNHH Hà Anh, DNTN Đức Quang, DNTN Bảo Trọng thực hiện việc san ủi mặt bằng các tiểu khu 935, 936 thuộc địa bàn xã Ia Púch.
Tháng 10/2011, ông Khanh lại tiếp tục chỉ đạo ông Tư dùng thiết bị định vị GPS xác định vị trí rồi giao mốc ranh giới đất dự án cho các DN san ủi các tiểu khu 925 và 932 thuộc địa bàn xã Ia Púch.
Cụ thể, vào các ngày 27/4/2010 và 7/7/2010, UBND tỉnh Gia Lai đã có 2 quyết định thu hồi 840,6ha đất của Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Púch cho Công ty Bình Dương thuê để trồng cao su tại xã Ia Me, huyện Chư Prông. Trong đó, có 80ha đất lâm nghiệp chưa có rừng, còn lại hơn 760ha đất lâm nghiệp có rừng nghèo.
Thế nhưng khi triển khai dự án, Công ty Bình Dương chỉ trồng 529ha cao su trong vùng dự án. Diện tích đất lâm nghiệp rộng khoảng 700ha lân cận vùng dự án không được chính quyền cho phép chuyển đổi từ đất lâm nghiệp sang đất trồng cao su đã bị DN này san lấp trái phép để trồng 474ha cao su ra ngoài ranh giới, địa phận được giao đất.
Không dừng lại ở đó, tại tiểu khu 935, 936 xã Ia Púch (huyện Chư Prông) UBND tỉnh Gia Lai giao cho DN thuê hơn 927ha nhưng chỉ 692ha trong phạm vi cho thuê và 184ha ngoài khu vực đất dự án. Tương tự, tại tiểu khu 925, 932 xã Ia Púch, diện tích cho thuê đất 571ha, DN trồng cao su trong dự án 533ha, trồng ngoài khu vực cho phép 71ha…
Trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư phát triển cây cao su trên đất lâm nghiệp, ông Khanh quyết liệt chỉ đạo cấp dưới, các nhà thầu san lấp phải đẩy nhanh tiến độ san ủi mặt bằng các khu rừng, không ngừng mở rộng diện tích, bất chấp việc san ủi quá giới hạn dự án, sai quy định.
Thậm chí, việc san ủi trái phép vào rừng tự nhiên thuộc tiểu khu 936 đã bị Ban Quản lý rừng phòng hộ Ia Púch phát hiện và lập biên bản xử lý vi phạm. Thế nhưng Trần Văn Khanh vẫn ngang nhiên chỉ đạo thuộc cấp dọn những xác cây rừng, đào hố, bỏ phân và trồng mới cây cao su.
Kết luận điều tra của cơ quan chức năng xác định: Tại các tiểu khu 896, 897, 898, 900 và 091, ông Trần Văn Khanh đã chỉ đạo khai hoang ra ngoài ranh giới dự án gần 494ha. Tại các tiểu khu 935 và 936, đã khai hoang ra ngoài ranh giới dự án hơn 202ha, trong đó có gần 10ha đất rừng phòng hộ...
Ngoài việc lấn chiếm sang diện tích rừng không được phép chuyển đổi, trong quá trình chuyển đổi rừng nghèo sang trồng cây cao su, ông Trần Văn Khanh nhiều lần chỉ đạo cấp dưới lập khống khối lượng, giá trị đầu tư các hạng mục tiền lương, cây giống, phân bón, cố tình trồng trái phép cây cao su trên đất lâm nghiệp để chiếm đoạt và làm thất thoát của Nhà nước hơn 35 tỷ đồng.
Những hành vi sai phạm này, các cơ quan chức năng đã kiểm tra, thanh tra, điều tra làm rõ vào tháng 4/2014, Quân ủy Trung ương đã có quyết định xử lý kỷ luật ông Trần Văn Khanh bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng và giáng cấp bậc quân hàm từ Đại tá xuống Trung tá.
Qua vụ việc cho thấy, vấn đề ở đây là để DN này khai hoang vượt giới hạn gần 1.000 ha rừng nhưng không được các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương phát hiện, kịp thời chấn chỉnh, yêu cầu DN thực hiện đúng chủ trương như việc giao đất tại các quyết định của chính quyền.
Do đó, dư luận đặt câu hỏi: liệu có sự buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng trong công tác quản lý, giám sát tài nguyên của Nhà nước? Việc không kiểm soát chặt chẽ đã vô tình tiếp tay cho DN đi ngược lại chủ trương, gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài nguyên của quốc gia.
Vậy nên, không những xử lý, kỷ luật đối với DN làm sai mà cần xử lý trách nhiệm đối với những cơ quan, cán bộ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này đã buông lỏng, tạo kẽ hở cho DN làm liều. (Thời Báo Ngân Hàng 21/7) đầu trang(
Sáng nay 21.7, Chi cục kiểm lâm Quảng Nam xử lý công văn gửi Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Quảng Nam để đăng ký cho đoàn công tác của Cục Kiểm lâm được tiếp cận hiện trường vụ phá rừng Pơmu tại tiểu khu 351 thuộc khu vực rừng phòng hộ Nam Sông Bung (H.Nam Giang).
Sau những thông tin dồn dập về vụ phá rừng đang nóng bỏng tại Quảng Nam, dự kiến trong ngày hôm nay, đoàn công tác của Cục Kiểm lâm cùng với Chi cục kiểm lâm Quảng Nam, đại diện Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung, Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh… sẽ lại vào hiện trường, vị trí mà đoàn công tác của tỉnh vừa tiếp cận trong ngày hôm qua.
Các thủ tục về trao đổi công văn, đăng ký danh sách để Cục Kiểm lâm được vào khu vực vùng biên cho thấy đây là vùng bảo vệ nghiêm ngặt theo đúng quy chế biên giới.
Trong chuyến thị sát hôm qua (20.7) do Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh dẫn đầu, danh sách của đoàn, trong đó có các nhà báo, cũng được UBND H.Nam Giang lập đầy đủ để được “cấp phép” vào hiện trường.
Chính vì vậy, việc để xảy ra vụ án phá rừng quy mô lớn cùng với nhiều điểm tập kết ngay trong khu vực bảo vệ nghiêm ngặt này đã khiến dư luận đặt dấu hỏi về trách nhiệm của lực lượng biên phòng quản lý địa bàn. Ông Lê Trí Thanh yêu cầu lực lượng biên phòng “phải suy nghĩ về vấn đề này”.
“Địa điểm phá rừng cách không xa vị trí mà biên phòng đóng quân. Có 2 điểm giấu gỗ rất nhạy cảm. Ngay sau lưng biên phòng, để tập kết 27m3 gỗ thì chỉ có một lối đi vào và muốn kéo gỗ ra cũng phải phát tuyến đường khác. Rồi bãi gỗ ngay khuôn viên cơ quan Chi cục hải quan cửa khẩu Nam Giang nữa. Bao nhiêu tai mắt, bao nhiêu lực lượng mà sao chúng (lâm tặc - PV) vận chuyển gỗ đi được?”, ông Thanh bức xúc.
Trách nhiệm của lực lượng biên phòng được “truy” gắt gao sau khi để “lọt” khối lượng gỗ lớn sau khi xẻ thành phách từ tiểu khu 351.
Tại buổi họp kiểm điểm trách nhiệm các bên liên quan vào chiều tối qua (20.7), đại tá Nguyễn Đắc Chung, Phó chỉ huy trưởng BĐBP Quảng Nam “xin nhận trách nhiệm về quản lý để xảy ra vụ việc như vậy tại biên giới”. Đây là lần thứ 2 đại tá Chung nhận trách nhiệm trong lần tham gia đoàn công tác của tỉnh đi kiểm tra hiện trường vụ phá rừng.
Ngược lại, nguồn gốc 115 phách gỗ Pơmu (và một số phách gỗ dỗi) tại khuôn viên Chi cục hải quan cửa khẩu Nam Giang hiện đang rất mù mờ. Theo giải trình của ông Lê Trung Thịnh, người vừa bị đình chỉ chức vụ Chi cục trưởng Chi cục hải quan cửa khẩu Nam Giang, gỗ này được “tích hợp” từ nhiều nguồn: “Lâu lâu các bạn Lào cho vài cục. Hoặc anh em của chi cục mua. Bản thân tôi xót xa, vì điều này gây ảnh hưởng đến cơ quan đơn vị”.
Chính quyền H.Nam Giang đã lên tiếng về sự thiếu hỗ trợ phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng của lực lượng biên phòng địa bàn.
Ông Alăng Mai, Chủ tịch UBND H.Nam Giang, phản ứng rất mạnh: “Nam Giang có 6 xã biên giới. Nhiều xã bất bình về chuyện biên phòng gây khó khăn, mỗi khi muốn kiểm soát rừng trong khu vực biên giới thì biên phòng không cho vào tuần tra và yêu cầu các văn bản liên quan. Không giúp được cho địa phương mà còn gây khó khăn”.
Ông Alăng Mai cho biết tại hội nghị quốc phòng địa phương vừa tổ chức tại H.Nam Giang, ông đã chất vấn lực lượng biên phòng: Với địa phương thì kỹ càng như vậy, còn lâm tặc vác gỗ cả khối đi như thế sao không kiểm soát chặt?. “Chúng ta ngồi đây cứ nghĩ mọi chuyện đều tốt đẹp hết. Nhưng vụ phá rừng tại La Dêê vừa xảy ra được ai phát hiện? Nhân dân”, ông Mai tự trả lời câu hỏi của mình.
Ông Chủ tịch UBND H.Nam Giang nhận trách nhiệm cá nhân trong việc quản lý địa bàn để xảy ra vụ phá rừng và sẽ có báo cáo chính thức gửi UBND tỉnh, nhưng bức xúc: “Chuyện tốt đẹp không được bao nhiêu và không ai khen ngợi. Còn toàn những việc ở đâu đâu lại rơi xuống đầu mình”.
Ông Đỗ Tuấn, Giám đốc Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung (chủ rừng bị chặt phá trong vụ án) cũng bức xúc vì mỗi lần đi tuần tra phải có giấy giới thiệu của BĐBP, và đến thời điểm này vẫn chưa có quy chế phối hợp. Ông Đỗ Tuấn khiến nhiều người ngỡ ngàng khi cho hay dự thảo quy chế phối hợp đã gửi cho biên phòng từ tháng 8.2015, nhưng đến nay chưa thấy hồi âm. “Phía Đồn biên phòng La Dêê bảo chờ ý kiến chỉ đạo cấp trên”, ông Tuấn giải thích.
Ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN-PTNT, thốt lên: “Phải khẩn trương có quy chế phối hợp, bổ sung chính quyền địa phương cấp xã ở những vùng “nóng”. Phải tổng rà soát vùng này, chắc gì chỉ dừng lại ở con số 60 cây Pơmu bị chặt? Đây là bài học cực kỳ hay để phát huy được trách nhiệm cộng đồng được giao giữ rừng. Phải xử lý sớm, làm gương để đồng bào tin mình, và mình cũng tin họ. Tôi đã nghe chuyện đồng bào phàn nàn rằng “mình vô rừng của mình mà biên phòng cũng không cho” rồi đấy!”.
Hàng loạt vướng mắc phát sinh ngay tại vùng biên khi xuất hiện vụ án phá rừng Pơmu. Ngay sự hiện diện của các xưởng cưa ở cả 2 phía Lào, Việt Nam cũng được xem là “khác nào tiếp tay cho lâm tặc” và nhiều ý kiến thúc giục phải dẹp. Phó chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh chỉ đạo nếu cần thiết thì BĐBP Quảng Nam báo cáo Bộ Tư lệnh BĐBP có cơ chế đặc biệt dành cho công tác điều tra.
“Phải tạo cơ chế đặc biệt để nhanh chóng phá án và chấn chỉnh nội bộ. Biên phòng, hải quan, kiểm lâm phải khẩn trương xử lý nội bộ, yêu cầu tường trình báo cáo và chịu trách nhiệm trước nhân dân, trước công luận. Tôi đề nghị báo chí sát cánh, đưa thông tin trung thực, có thể tiếp nhận và cung cấp thêm thông tin cho CQĐT”, ông Lê Trí Thanh nói. (Thanh Niên 21/7) đầu trang(
Hai triệu rưỡi đồng là giá mà đối tượng cầm đầu trả cho công việc vận chuyển một khối gỗ pơmu ra khỏi hiện trường nơi đốn hạ.
Cách Trạm kiểm soát cửa khẩu Nam Giang và Cột mốc 717 nơi phân định ranh giới với huyện Đắk Chưng, tỉnh Sê Kông (Lào) khoảng 500m xuất hiện một đường độc đạo nhỏ ngay bìa rừng với địa hình đồi dốc, uống lượn nguy hiểm dài hơn 6km vào đến rừng pơmu bị tàn phá.
Theo kiểm lâm viên thì đây là con đường độc đạo duy nhất mà các đối tượng đã xâm nhập vào đốn hạ rừng pơmu và vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Để vượt qua được hơn 6km đường gian nan, có nhiều đoạn phía dưới là vực sâu không may trượt chết liền nên thành viên đoàn công tác tỉnh Quảng Nam phải đi bằng “3 chân” với một cây gậy gỗ trên tay để chống dò mò đường đi.
Để lên đến được hiện trường nơi rừng pơmu với hàng nghìn cây cổ thụ 100 năm tuổi bị đốn hạ không thương tiếc, đoàn công tác phải nghỉ chân nhiều lần. Có phóng viên đi không nổi phải “rớt” lại dọc đường đành quay trở ra.
Dẫn đầu đoàn đi là ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Quảng Nam nói khó khăn mấy, gian nan mấy cũng phải cố leo trèo đến cho bằng được hiện trường nơi rừng pơmu cổ thụ bị tàn phá, nhanh chóng lôi ra ánh sáng vụ án phá rừng có tổ chức này để trừng trị nghiêm. Là người đứng đầu ngành nông nghiệp để xảy ra phá rừng phải nhận trách nhiệm phê bình, kiểm điểm của tổ chức nhưng chúng ta không được chùn bước trước đối tượng phá rừng.
Khi đi đến điểm khoảnh 5 thuộc Tiểu khu 351 ngay rừng pơmu cổ thụ hàng nghìn cây to, có nhiều cây pơmu 2-3 người ôm không hết cao thẳng tắp hàng chục mét rất đẹp. Nhìn những hàng cây pơmu cổ thụ chọc trời như vương quốc pơmu giữa rừng xanh cần phải gìn giữ mãi mãi.
Có những cây pơmu cổ thụ với khối lượng lên đến 5-6 khối gỗ bị đốn hạ nhựa cây vẫn còn tươi rói chảy bám vào dấu vết răng cưa của “lâm tặc” mà ai cũng đau xót lòng. Những phách gỗ pơmu trắng vừa được “lâm tặc” xẻ ra đúng quy cách chưa vận chuyển nằm lăn lóc, chồng lên nhau với những đoạn gỗ pơmu tròn đã được cưa dài 2,5m chưa kịp xẻ thành tứng phách cũng nằm la liệt.
Ngoài ra qua quan sát hiện trường cho thấy vụ việc chắc chắn là có gần 20 cây pơmu cổ thụ vừa mới bị đội quân “lâm tặc” dùng cưa máy cầm tay cưa sát gốc cả hai bên gần liền khớp khoảng vài ngày trở lại đây. Nhận định được sự nguy hiểm về tính mạng cho các thành viên đoàn công tác và anh em báo chí nên Đại tá Nguyễn Viết Lợi – Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam đã kêu mọi người nhanh chân tập trung lên khu vực an toàn để tránh những cây pơmu bị đốn hạ giữa chừng có thể đổ ngã bất cứ lúc nào.
Một kiểm lâm viên nói những cây pơmu bị “lâm tặc” cưa hạ giữa chừng này không ngã xuống cũng sẽ chết vì lâu ngày sẽ mục vì vết cưa ăn gần đứt thân cây. Nếu tính số lượng cây pơmu đứng chờ chết này thì khối lượng gần 20m3 nữa.
Tại hiện trường phóng viên Báo Đất Việt hỏi về giá trị tiền mỗi mét khối gỗ pơmu thì một kiểm lâm viên trong đoàn cho biết một mét khối gỗ pơmu ở đây có giá khoảng 20 triệu đồng nhưng với nguồn gốc gỗ pơmu trăm năm tuổi như ở khu rừng pơmu này nếu chuyển ra đến Hà Nội, Sài Gòn nơi mà giới đại gia chuyên sưu tầm loại gỗ quý này trang trí nhà cửa thì giá 40 triệu đồng là bình thường.
Với số lượng 60 cây pơmu cổ thụ bị đốn hạ có khối lượng lên đến hơn 100m3. Theo tính toán, mỗi phách gỗ pơmu mà “lâm tặc” xẻ theo quy cách chiều dài 2,5m, bề ngang 30cm, độ dày 20cm có trọng lượng 60 ký. 8 phách là một mét khối. Để vận chuyển được một mét khối gỗ pơmu ra được con đường hơn 6m thì đối tượng cầm đầu phải bỏ ra 2,5 triệu đồng để thuê người vác.
Một người vác một phách mà để vác hết gần 900 phách gỗ pơmu thì cần phải có một đội quân chuyên vác hàng chục người. Và chỉ có người dân bản địa chuyên đi rừng, leo dốc mới vác nổi. Phách gỗ pơmu được buộc chặt thẳng đứng trên lưng một người cứ thế vượt con dài hơn 6m vác ra cất giấu ở sát Trạm kiểm soát biên phòng cửa khẩu Đắk Ốc có nơi chỉ cất giấu chỉ cách Trạm này có chừng 15m mà không bị phát hiện là điều đáng phải lưu ý (!?). (Đất Việt 21/7) đầu trang(
Quá trình điều tra vụ phá rừng ở Quảng Nam, cảnh sát điều tra tố cán bộ đồn biên phòng ngăn cản kiểm tra nhà kho nghi chứa hàng trăm phách gỗ lậu. Sau một đêm, phó chủ tịch tỉnh đích thân đến thì toàn bộ tang vật đã bị tẩu tán.
Ngày 20/7, ông Lê Trí Thanh, Phó Chủ tịch UBND Quảng Nam cùng nhiều lãnh đạo công an tỉnh, sở nông nghiệp, kiểm lâm, hải quan, bộ đội biên phòng… trực tiếp đến hiện trường vụ phá rừng pơ mu xảy ra tại khu vực biên giới thuộc xã La Dêê (huyện Nam Giang).
Tại đây, có ít nhất 60 cây pơ mu vừa bị chặt hạ, hàng chục cây khác bị cưa dở đang chờ ngã. Khu rừng quý hiếm hàng trăm tuổi như bãi chiến trường, gỗ đã được cưa xẻ nằm ngổn ngang.
Sau nhiều tiếng băng rừng vào hiện trường, Phó Chủ tịch tỉnh đánh giá vụ việc “cực kỳ nghiêm trọng”. Một cuộc họp sau đó diễn ra ngay tại cửa khẩu giữa các lãnh đạo. Tuy nhiên, phiên họp lập tức trở thành nơi để nhiều cán bộ “đấu tố” lực lượng biên phòng.
Theo Thượng tá Nguyễn Trung, Phó phòng Cảnh sát kinh tế (PC 46, Công an tỉnh Quảng Nam), trưa 19/7 thông tin trinh sát báo về có một nhà kho thuộc vùng đệm cách trạm biên phòng không xa chứa khoảng 20 khối gỗ pơ mu. Các điều tra viên sau đó liên hệ với trạm biên phòng để được vào đây kiểm tra nhưng bị từ chối.
Toàn bộ khu vực rừng bị phá và các nơi giấu gỗ đều thuộc sự quản lý của biên phòng, mọi ra vào đều phải xin phép nên công an cho rằng, phía biên phòng không ít lần gây khó dễ trong quá trình điều tra.
“Đích thân tôi và trưởng phòng đã lên đó, cử trinh sát liên hệ biên phòng nhưng họ nói đây là vùng cấm, không được vào. Nhà kho này là của một người Việt Nam và gỗ pơ mu trong đó cũng từ nước mình tuồn qua, thông tin này là hoàn toàn chính xác”, Thượng tá Trung nói với thái độ bức xúc.
Đến sáng 20/7, ông Lê Trí Thanh cùng đoàn lãnh đạo bất ngờ tới kiểm tra nhà kho này, tuy nhiên toàn bộ số gỗ đã được tẩu tán.
“Phía trong nhà kho, dấu vết xe vận chuyển ra vào rồi dấu gỗ tập kết in dưới nền đất vẫn còn rất mới. Tìm kiếm xung quanh, chúng tôi chỉ phát hiện được lượng nhỏ khoảng 20 phách, giấu ngay bên đường. Do khu vực này đã thuộc đất Lào nên trinh sát không dám mở rộng tìm kiếm. Nếu hôm qua, biên phòng để chúng tôi vào nhà kho này thì chắc chắn gỗ đã được thu giữ, sẽ thuận lợi cho việc điều tra”, Thượng tá Trung nói.
Ông A Lăng Mai, Chủ tịch UBND huyện Nam Giang, cho hay thời gian vừa qua các đồn biên phòng gây không ít khó khăn cho địa phương.
“Khi Bí thư xã La Dêê đề nghị tổ chức truy quét lâm tặc thì lúc nào đồn biên phòng cũng gây khó khăn, không cho lực lượng của xã vào, cho rằng đây là vùng biên giới, vùng cấm, xã rất bất bình. Hội nghị sơ kết quốc phòng 6 tháng của huyện nhưng 3 đồn biên phòng không dự”, ông Mai bức xúc.
Theo Chủ tịch huyện, hiện tại các xã biên giới được tăng cường Phó Bí thư là biên phòng nhằm giúp người dân đồng bào phát triển.
“Làm như vậy để giúp địa phương nhưng giúp thì không mà gây khó khăn thì nhiều. Đại hội vừa rồi có 8 xã biên giới, 6 Phó Bí thư là biên phòng điều về tăng cường đều bị rớt, tại sao?. Nó có nhiều vấn đề trong đó, chúng ta đừng ngồi nghĩ mọi việc tốt đẹp hết”, ông Mai nói.
“Chính quyền vào vùng biên giới để kiểm tra, truy quét thì biên phòng đưa ra hàng loạt quy định, quy chế để ngăn cản, tôi đồng ý nhưng tôi hỏi ngược lại các anh, lâm tặc vào đây vác gỗ nhiều, to như thế các anh có biết không? Mình vào thì không được sao họ vào được. Ma túy nhỏ xí nhét trong người còn bắt được sao gỗ khai thác rầm rộ, ầm ầm như vậy mà biên phòng không biết”, ông Mai nói và đề nghị chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh nên quản lý chặt các đồn vì lâu nay lãnh đạo biên phòng chỉ biết mặt tốt mà không rõ mặt xấu của cấp dưới.
Kết luận tại cuộc họp, ông Lê Trí Thanh đề nghị biên phòng phải chủ động phối hợp với công an để phục vụ công tác điều tra.
“Phải có một cơ chế đặc biệt, cần thiết thì làm việc với Bộ tư lệnh để cho các điều tra viên ra vào khu vực biên giới nhằm phá vụ án lớn này. Các lãnh đạo biên phòng, hải quan cũng nên xử lý cá nhân, tập thể liên quan vụ việc sau đó chờ kết luận điều tra để xử lý tiếp, sai đến đâu sửa đến đó”, ông Thanh nói.
Phó Chủ tịch tỉnh cho hay, các điều tra viên tinh nhuệ nhất đã được điều động để tham gia phá án.
“Công an nên quyết liệt điều tra, chúng ta phải làm tới nơi tới chốn. Không chỉ để báo cáo với tỉnh mà còn có trách nhiệm báo cáo kết quả vụ việc với nhân dân, với dư luận. Các điều tra viên không vì áp lực, không để bất kỳ ai can thiệp vào. Vụ án này không có vùng cấm”, ông Thanh nói và cho hay, Chủ tịch Quảng Nam đã có văn bản gửi Tỉnh trưởng Sê Kông (Lào), để phối hợp điều tra vụ việc.
Trước đó ngày 9/7, trong lúc đi rừng, người dân xã La Dêê phát hiện 280 phách gỗ pơ mu (28 khối) đã được cưa xẻ, giấu gần Trạm Biên phòng Cửa khẩu Đắc Ốc (thuộc Đồn Biên phòng La Dêê), nên trình báo chính quyền. Khu vực này thuộc vùng cấm, bất khả xâm phạm, cách Lào khoảng 100 m.
Sau khi khởi tố vụ án, công an liên tiếp phát hiện nhiều bãi tập kết gỗ pơ mu, trong đó 115 phách được tìm thấy trong khuôn viên chi cục hải quan. Nhiều bãi ngay sát trạm biên phòng. Lực lượng biên phòng cho rằng, “không hề hay biết vụ phá rừng cũng như số gỗ bị giấu gần đó”. Đến nay, cơ quan điều tra đã thu giữ hơn 600 phách gỗ, tuy nhiên nhà chức trách nhận định còn rất nhiều gỗ đã bị tẩu tán. (VnExpress/ Đại Đoàn Kết 20/7; Đất Việt 20/7, Tiền Phong 21/7) đầu trang(
Theo dự kiến, đoàn liên ngành số 3 sẽ đi kiểm tra các nguồn lâm sản còn tồn trong các xưởng kinh doanh, chế biến gỗ của tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn huyện Ngọc Hồi từ ngày 21-29/7.
Tuy nhiên, khi phóng viên đến liên lạc đăng kí để cùng phối hợp đưa tin thì không hiểu lý do gì, phía Sở TN-MT tỉnh Kon Tum và Chi cục kiểm lâm tỉnh Kon Tum đều thoái thác và “đá bóng” cho nhau.
Thực hiện Chỉ thị của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc về việc “đóng cửa rừng” tại 5 tỉnh Tây Nguyên. Mới đây nhất, phóng viên báo Pháp luật Việt Nam nhận được thông tin UBND tỉnh Kon Tum thành lập 3 đoàn liên ngành  có nhiệm vụ rà soát, kiểm tra tất cả nguồn lâm sản còn tồn trong kho của các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến gỗ trên toàn tỉnh.
Theo dự kiến, đoàn liên ngành số 3 do đồng chí Phạm Đức Hạnh, Giám đốc sở TN-MT Kon Tum làm trưởng đoàn; đồng chí Nguyễn Hoài Tâm-Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm Kon Tum làm Phó đoàn sẽ kiểm tra các xưởng kinh doanh, chế biến gỗ trên địa bàn huyện Ngọc Hồi từ ngày 21-29/7.
Sau khi nhận được thông tin trên, sáng 18/7, phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam đã đến trụ sở làm việc của Sở TN-MT tỉnh Kon Tum đăng kí phối hợp cùng đoàn liên ngành số 3 để đưa tin. Phóng viên được một cán bộ văn phòng Sở xác nhận là đúng và hướng dẫn liên hệ cùng đồng chí Trần Công Hậu-Chánh thanh tra Sở (người được Giám đốc Sở TN-MT ủy quyền đi cùng đoàn liên ngành số 3).
Khi phóng viên gọi điện cho đồng chí Trần Công Hậu thì được vị này cho biết, hiện tại đang kiểm tra một huyện khác (huyện Đăk Glei-PV). Khi chúng tôi đặt vấn đề muốn được phối hợp đi cùng đoàn liên ngành số 3 thì vị này trả lời: “Chúng tôi là đơn vị thành viên phối hợp, các anh liên hệ cùng Chi cục kiểm lâm hoặc Sở NN-PT NT để đăng kí”. Ngay sau đó, phóng viên đã liên lạc lại với cán bộ của Sở TN-MT thì được xác nhận: “Bên Sở TN-MT được giao làm trưởng đoàn để đi kiểm tra, không có chuyện bên Sở lại là đơn vị tham gia phối hợp”.
Sau đó, chúng tôi tiếp tục liên lạc theo số điện thoại của đồng chí Nguyễn Hoài Tâm-Phó chi cục trưởng Chi cục kiểm lâm, là Phó đoàn của đoàn liên ngành số 3. Thật bất ngờ, vị này cho hay: “Chi cục kiểm lâm là đơn vị phối hợp, không có quyền quyết định. Các anh gọi điện cho Sở TN-MT”.
Khi phóng viên thắc mắc, tại sao khi gọi cho Sở TN-MT thì Sở lại phải liên lạc với Chi cục kiểm lâm để đăng kí. Còn khi gọi cho Chi cục kiểm lâm thì đơn vị này lại “đá bóng” qua cho Sở. Sau một lúc nói chuyện, đồng chí Nguyễn Hoài Tâm, cho hay: “Về việc này, để ngày mai chúng tôi sẽ báo cáo với UBND tỉnh Kon Tum để xin ý kiến và sẽ gọi lại cho anh sau”.
Chờ hết buổi sáng hôm sau, chúng tôi vẫn không nhận được cuộc gọi nào từ vị này, nên bắt buộc chúng tôi phải nhấc máy gọi điện. Qua điện thoại, vị này lại tiếp tục: “Tôi là Phó đoàn nhưng các anh phải qua làm việc bên Văn phòng ủy ban Tỉnh, lúc nào có giấy giới thiệu của Ủy ban tỉnh thì mới được”.
Thiết nghĩ, đây là buổi kiểm tra nguồn lâm sản công khai của Đoàn liên ngành, nhưng không hiểu sao Đoàn liên ngành số 3 lại không muốn có sự tham dự của phóng viên? Dư luận đặt câu hỏi: “Có hay không việc đoàn liên ngành đang cố tình “cấm cửa” báo chí?”. (Pháp Luật Việt Nam 20/7) đầu trang(
Để dễ qua mắt các lực lượng chức năng, thời gian gần đây, các đối tượng chở lậu lâm sản tại Quảng Nam đã sử dụng các loại xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh…, thậm chí cả xe bồn chở dầu để vận chuyển lâm sản đi tiêu thụ.
ó là khẳng định của đại diện nhiều đơn vị chức năng như công an, kiểm lâm… tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam khi nói về phương thức mới để vận chuyển lâm sản của “lâm tặc” tại địa phương trong thời gian gần đây.
Theo các đơn vị này, với sự vào cuộc quyết liệt nhằm tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản của các lực lượng liên ngành: công an, kiểm lâm và chính quyền địa phương dọc các tuyến quốc lộ, liên tỉnh, liên huyện từ Tây Nguyên về, từ miền núi xuống miền xuôi đi qua địa bàn tỉnh Quảng Nam đã giúp tỉnh này từng bước kiểm soát, hạn chế nạn khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép các mặt hàng lâm sản.
Tuy nhiên, để đối phó lại, các đối tượng “lâm tặc” đã có các hình thức, phương thức mới để vận chuyển lâm sản. Trong đó, đáng chú ý là việc sử dụng những loại xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh… và thậm chí cải hoán cả xe bồn chở dầu để vận chuyển gỗ lậu với khối lượng nhỏ để dễ qua mắt lực lượng chức năng; đồng thời nếu bị phát hiện thì cũng chỉ bị xử phạt hành chính chứ không bị tịch thu phương tiện.
Theo ông Từ Văn Khánh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, các đối tượng dùng xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh và cả xe bồn để vận chuyển lâm sản trái phép, ngoài việc khiến lực lượng chức năng khó phát hiện, họ còn lách qua các quy định của Nghị định 157/NĐ-CP năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt các hành vi vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo Quy định này, các phương tiện vận chuyển gỗ thông thường trái phép với khối lượng từ 1,5m3 trở lên sẽ bị tịch thu gỗ, xử phạt hành chính, đồng thời bị tịch thu phương tiện vận chuyển nếu là do chính chủ xe điều khiển. Các đối tượng dùng xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh, xe bồn… để vận chuyển gỗ lậu thường chở dưới số lượng này nhằm tránh bị tịch thu phương tiện khi cơ quan chức năng phát hiện.
Để tìm hiểu về phương thức, thủ đoạn các đối tượng “lâm tặc” sử dụng trong vận chuyển lâm sản trái phép, vừa qua chúng tôi đã liên hệ với các lực lượng tuần tra, kiểm soát việc vận chuyển lâm sản tại một số huyện miền núi tỉnh Quảng Nam như Đại Lộc, Nam Giang, Phước Sơn và được biết, tình trạng sử dụng các xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh… chở gỗ lậu tại các huyện này khá phổ biến.
Theo đại diện Trạm Kiểm lâm Đại Hồng (huyện Đại Lộc), trong 6 tháng đầu năm 2016, đơn vị đã phát hiện và bắt giữ nhiều loại xe thùng kín chở gỗ lậu. Đa phần các xe tải thùng này đều xuất phát từ các tỉnh Tây Nguyên hay huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam và điểm đến là TP Đà Nẵng hoặc TP Tam Kỳ.
Chia sẻ về công việc của trạm thời gian gần đây, ông Nguyễn Văn Thanh, Trạm trưởng Trạm kiểm lâm Đại Hồng cho biết thêm: Quảng Nam là địa phương có hơn 3/4 địa hình là đồi núi, nhiều cánh rừng bạt ngàn nên trữ lượng lâm sản ở đây khá dồi dào. Nhiều năm qua, tình trạng khai thác trái phép lâm sản diễn ra rất phức tạp.
Do đó, các lực lượng chức năng tỉnh Quảng Nam, trong đó có lực lượng kiểm lâm Trạm kiểm lâm Đại Hồng thường xuyên phối hợp với công an huyện, xã tổ chức tuần tra kiểm soát, chốt chặn nhằm ngăn chặn tình trạng vận chuyển trái phép gỗ lậu về đồng bằng tiêu thụ.
Trước tình hình đó, các đối tượng lâm tặc đã chuyển phương thức vận chuyển gỗ lậu từ chỗ vận chuyển ồ ạt sang vận chuyển nhỏ lẻ, theo kiểu “kiến tha lâu cũng đầy tổ” với các loại xe khách, xe thùng kín, thùng lạnh, thậm chí cải hoán cả xe bồn chở dầu… nên rất khó phát hiện.
“Gần đây nhất, vào cuối tháng 6 vừa qua, Tổ công tác của Trạm kiểm lâm Đại Hồng đã phát hiện và tạm giữ xe tải mang BKS 47C-016.98 vận chuyển hơn 1,3m3 gỗ mít nài. Theo lời khai của tài xế, số gỗ này được vận chuyển từ Đắk Lắk xuống để mang đi tiêu thụ. Trước đó, vào ngày 20/5, Trạm kiểm lâm Đại Hồng phát hiện và bắt giữ ô tô tải thùng BKS 92C-085.83 vận chuyển 13 hộp gỗ nhóm VI, quy tròn có khối lượng khoảng 1,5m3. Theo lời khai của lái xe Nguyễn Văn Chương (SN 1988, trú huyện Thăng Bình, Quảng Nam), số gỗ trên được vận chuyển từ huyện Phước Sơn về Đà Nẵng tiêu thụ. Đây là 2 trong số hàng chục vụ vận chuyển gỗ lậu của “lâm tặc” mà các lực lượng tại Trạm kiểm lâm Đại Hồng phát hiện trong thời gian gần đây. Riêng từ đầu năm đến nay, Trạm cũng đã bắt giữ hàng chục vụ vận chuyển lâm sản trái phép; thu giữ gần 50m3 gỗ các loại, 8 ô tô và 2 mô tô dùng để vận chuyển gỗ lậu” - ông Thanh cho biết.
Trong khi đó, tại huyện Nam Giang, theo ông Đinh Anh Tuấn, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện này cho hay, do đơn vị này không có trạm barie kiểm soát lâm sản nên việc phát hiện, bắt giữ xe tải thùng, xe khách vận chuyển lâm sản lậu rất khó khăn. Theo ông, thông thường Hạt muốn kiểm tra phương tiện vận chuyển lâm sản vận chuyển trên đường thì phải có nguồn tin báo trước chính xác.
Khi nắm thông tin chính xác đối tượng sử dụng phương tiện gì để vận chuyển thì mới có thể cho lực lượng ra tiến hành chặn xe để kiểm tra. Nhờ các tin báo của cơ sở mà ngày 16/6 vừa qua, lực lượng kiểm lâm của huyện đã chặn bắt được xe tải thùng kín BKS 92C-085.83 đang vận chuyển hơn 0,3m3 gỗ giổi từ Phước Sơn về Đà Nẵng tiêu thụ.
Ngược lại, nếu không có tin báo trước chính xác, với việc sử dụng phương tiện xe thùng kín, lực lượng kiểm lâm rất khó khăn để xác định hay chặn xe kiểm tra bởi mỗi ngày có hàng trăm xe đi qua…
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các kiểm lâm tại huyện Phước Sơn, có một điểm chung dễ nhận biết là nhiều xe tải thùng kín, xe khách vận chuyển gỗ lậu có xuất phát điểm từ huyện Phước Sơn rồi vận chuyển về Đà Nẵng hay TP Tam Kỳ tiêu thụ. Do đó, công tác tuần tra, kiểm soát nhằm phát hiện gỗ lậu cũng được lực lượng Công an huyện Phước Sơn thực hiện khá triệt để. Nhờ đó đã giảm thiểu được số vụ phá rừng xảy ra trên địa bàn.
Cùng chung nhận định trên, Đại tá Nguyễn Giới, Trưởng Công an huyện Phước Sơn cho biết: Thời gian qua, theo chỉ đạo của UBND huyện, lực lượng công an, trong đó có cảnh sát giao thông đã tích cực phối hợp với kiểm lâm trong đội liên ngành của huyện thường xuyên tuần tra, kiểm soát, chốt chặn các phương tiện vận chuyển lâm sản để kiểm tra, xử phạt các vi phạm, nhờ đó hạn chế đáng kể tình trạng gỗ lậu từ địa phương đưa về tiêu thụ dưới đồng bằng. Đặc biệt, trong 6 tháng đầu năm, Công an huyện Phước Sơn đã bắt giữ 14 xe khách, xe tải thùng chở gỗ lậu.
“Lãnh đạo Công an huyện rất quan tâm đến việc này nên đã chỉ đạo lực lượng cảnh sát giao thông thường xuyên tuần tra, kiểm soát nhằm kịp thời phát hiện các xe tải thùng, xe khách vận chuyển gỗ lậu. Ngoài ra còn chỉ đạo lực lượng Cảnh sát kinh tế nắm tình hình, thực hiện kiểm tra trinh sát, từ đó có sự phối hợp nhịp nhàng với các đội nghiệp vụ xử lý nghiêm tình trạng xe tải thùng, xe khách vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn huyện” - Đại tá Nguyễn Giới cho biết.
Khẳng định quyết tâm của đơn vị nhằm hạn chế tối đa các đối trượng lợi dụng kẽ hở của các quy định luật để vận chuyển lâm sản trái phép, theo đại diện ngành công an, kiểm lâm các huyện miền núi Quảng Nam như Phước Sơn, Nam Giang, Đại Lộc đều cho rằng: Quan điểm của lãnh đạo và ngành chức năng tại các địa phương là xử lý nghiêm tất cả các phương tiện vận chuyển gỗ lậu.
Khi phát hiện phương tiện vận chuyển gỗ lậu, lực lượng chức năng sẽ xử phạt về 2 hành vi là mua bán và vận chuyển trái phép lâm sản theo đúng tinh thần của Nghị định 157 của Chính phủ. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 20/7) đầu trang(
“Không ai bảo vệ rừng tốt bằng người dân. Họ gắn bó nhiều đời với rừng nên hày trao cho họ những nhận thức đầy đủ nhất, khi ấy họ sẽ sống-chết với rừng” - ông Nguyễn Hạnh Minh - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP.Sơn La nói.
Chiềng Cọ là một trong những xã có nguồn thu nhập chủ yếu từ kinh tế trang trại cây ăn quả, cây công nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia cầm ở TP.Sơn La. Bà Tòng Thị Bó - Bí thư Đảng ủy xã, cho hay: Trong khoảng 5 năm trở lại đây, đất đai ở Chiềng Cọ trở nên có giá hơn trước rất nhiều. Không chỉ với đất ở tại nơi trung tâm xã mà ngay cả những khe núi, lũng sâu có thể gieo trồng được đều tăng giá.
Người dân Chiềng Cọ bây giờ đã biết nhiều cách để làm giàu từ nông nghiệp rồi. Chỉ trong 6 tháng qua, hàng trăm hộ đã có nguồn thu từ vài ba trăm triệu đồng trở lên nhờ kinh tế trang trại. Chỉ tính riêng quả mận hậu, giá năm nay gấp tới 4 lần những năm trước nên có những hộ thu tới 600-700 triệu đồng.
Hạt trưởng Nguyễn Hạnh Minh tâm sự: Chiềng Cọ vốn là xã nhiều khó khăn nhất của thành phố. Nhưng mấy năm trở lại đây, giao thông phát triển, nhu cầu nông sản nội địa gắn chất lượng ngon – sạch thì kinh tế ở Chiềng Cọ lên ngôi bởi ở đây vốn là nơi hội tụ của nhiều vườn cây ăn trái.
Việc người dân được mùa thì vui lớn nhưng lại là nỗi lo cho lực lượng kiểm lâm bởi nhu cầu mở rộng đất sản xuất của nông dân càng trở nên cấp thiết. Nếu không tuyên truyền tốt thì nông dân rất dễ xâm phạm đất rừng bởi mỗi ha đất ở đây có thể cho thu nhập từ 200 – 400 triệu đồng/năm.
“Vì thế, mỗi năm chúng tôi phải tổ chức hàng chục buổi tuyên truyền về bảo vệ rừng ở cấp xã, bản với hàng ngàn lượt nông dân tham gia. Ngoài ra, còn phải tranh thủ sự ủng hộ của các già làng, trưởng bản, người có uy tín trong dòng họ cùng tham gia bảo vệ rừng. Nhiều khi chúng tôi tạo ra những cuộc viếng thăm người dân tại nhà, qua trò chuyện cũng tuyên truyền về công tác bảo vệ rừng. Những cuộc giao lưu nặng về tình cảm ấy lại có sức mạnh tuyên truyền rất tốt” - ông Minh nói.
Đến bản Pát (xã Chiềng Ngần, TP.Sơn La), thấy bà con đang tranh thủ cấy lúa mùa sau những trận mưa. Những ruộng lúa nằm sát ngay bên chân rừng, chỉ nhỏ bằng mấy mảnh chiếu. Chị Quàng Thị Liên dừng tay cấy, giải thích: Nếu cứ lấn vào đất rừng thì ruộng sẽ nhiều lên, trước đây cũng nhiều người lấn rừng để làm nương, làm ruộng. Nhưng bây giờ thì không ai lấn rừng nữa bởi ai cũng hiểu nếu lấn rừng thì mình sẽ không còn nước để cấy lúa, không còn nước sạch để ăn; không còn rừng để làm rừng ma; bão lũ sẽ về hại chính nhà mình.
Bên bản Nậm Tròn, bản Phường – nơi cư trú của đồng bào Mông, Thái, những cánh rừng được bảo vệ tốt nên rất xanh tươi. Anh Thào A Dia -Trưởng bản Nậm Tròn, khoe: Sắp tới, chúng tôi  trồng thêm 50ha rừng. Tuy số tiền Nhà nước đầu tư cũng chỉ đạt vài triệu đồng một năm cho 1ha rừng trồng nhưng người dân chúng tôi hưởng ứng tích cực bởi chúng tôi đã hiểu: Mình chính là chủ rừng! (Dân Việt 20/7) đầu trang(
Người dân thôn Thanh Mạc, xã Thanh Đa (huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội) đang vô cùng bất an và bức xúc khi phát hiện hai chiếc vì kèo làm bằng gỗ sưa nặng hàng tạ trong đình cổ của làng bỗng “không cánh mà bay”.
Qua đường dây nóng của Báo Lao Động, bà con thôn Thanh Mạc đã cung cấp thông tin về việc sáng 19.7, nhiều người dân phát hiện hai vì kèo trong nội đình làng đã biến mất và có dấu hiệu của một vụ trộm cắp tài sản. Đây cũng chính là ngôi đình mà trước đó, báo Lao Động đã có loạt bài phản ánh có chiếc đỉnh cổ rất quý giá nghi bị đánh tráo. Đến nay, lại thêm sự việc mất trộm hai thanh vì kèo bằng gỗ sưa quý giá, càng khiến dư luận địa phương thêm hoang mang, lo lắng.
Được cho là người trực tiếp nhìn thấy “kẻ trộm giữa ban ngày” nhưng không biết, cụ Lê Thị Bút (83 tuổi) bức xúc cho biết: “Khoảng 5h chiều ngày hôm kia (17.7), khi đi qua khu vực đường sau đình làng thì nhìn thấy một chiếc xe ôtô tải nhỏ đậu cạnh bờ tường sát cột điện. Ban đầu chỉ nhìn thấy khoảng 2 - 3 người đứng đó như vận chuyển củi, gỗ khô từ trong đình ra rồi xếp lên xe. Tôi cũng không để ý, nếu biết là trộm thì tôi đã tri hô bà con bắt rồi”.
Đồng thời, nhiều người dân cũng tỏ ra hối tiếc vì cũng nhìn thấy chiếc xe ôtô đỗ ở ven bờ tường sau đình nhưng cứ nghĩ là xe chở củi, xe sửa chữa điện nên không ai mảy may ngăn chặn. Điều đáng nói là, dù kích thước và khối lượng hai chiếc vì kèo này không phải quá lớn, nhưng nó được làm bằng gỗ sưa nên theo nhiều người dân nhận định, giá trị lên tới cả tỉ đồng. Bên cạnh đó, giá trị văn hóa của chúng là điều không gì có thể đong đếm được.
Cũng giống như cụ Bút, cụ Hoàng Đình Chính (82 tuổi) cũng tỏ ra vô cùng tiếc nuối trước những gì vừa xảy đến và dồn nhiều nghi vấn vào chiếc xe ôtô tải kia. “Để lấy được hai cái vì kèo nặng tới cả tạ như vậy chắc chắn không phải chỉ một chốc, một lát là xong. Tôi nghi ngờ có “tay trong”. Tại sao nó lại không trộm vào buổi tối mà lại là ban ngày, điều này công an cần phải điều tra thật kỹ”, cụ Chính đặt nghi vấn.
Theo chỉ dẫn của một người dân tham gia vào quá trình khám nghiệm hiện trường vụ trộm sáng nay, PV được dẫn ra khu vực tường bao phía sau đình - nơi được cho là điểm trung chuyển của kẻ gian khi lấy mất hai chiếc vì kèo.
Vị trí vì kèo là ở khu hậu cung của đình, phải đi qua một lối cỏ mọc trong vườn cây dài chừng 20 - 30 mét thì ra tới bờ tường bao, phía ngoài đã có sẵn một chiếc ôtô tải chờ.
Khi chúng tôi theo chân ra quan sát, phát hiện trên tường bao được xây gạch trát ximăng này vẫn còn vương một vết nhỏ mùn gỗ màu nâu đặc, nghi là của chiếc vì kèo bằng gỗ sưa đã bị đánh cắp. Trong lúc vận chuyển, có thể nhóm trộm táo tợn này đã vô tình để cây vì kèo đó chà sát mạnh vào tường và khiến bong tróc một vết nhỏ.
Theo như lời kể của các cụ cao niên trong làng, hai thanh vì kèo bị mất có kích thước khoảng 2,5 mét chiều dài, hình hộp vuông dày khoảng 15 - 18cm. Nặng áng chừng trên dưới 1 tạ. Nếu theo giá thị trường, số gỗ sưa này giá có thể lên tới nhiều tỉ đồng.
Theo ông Nguyễn Văn Sinh - Bí thư chi bộ thôn Thanh Mạc, sau khi người dân phản ánh, chính quyền địa phương đã báo cáo lãnh đạo UBND xã xuống hiện trường xác minh.
Chia sẻ với PV, ông Đỗ Bá Khang - Trưởng Công an xã Thanh Đa cho hay: “Chúng tôi đã báo cáo lãnh đạo Công an huyện Phúc Thọ”.
Theo trung tá Nguyễn Hữu Quyết - Phó Trưởng Công an huyện Phúc Thọ, ngay sau khi nhận được tin báo, cơ quan công an đã cử các cán bộ điều tra về hiện trường để phối hợp làm việc.
Nói về tài sản bị mất, vị lãnh đạo công an huyện cho hay chưa thể định giá được ngay giá trị bởi muốn biết chính xác, cần phải có cơ quan chuyên môn thẩm định. Còn chỉ căn cứ vào giá thị trường thì cũng rất khó. Hiện vụ việc vẫn đang trong quá trình điều tra, làm rõ. (Lao Động 20/7) đầu trang(
Quảng Nam thời gian gần đây không những bị thất thoát nguồn tài nguyên khoáng sản do 2 công ty vàng lớn nhất nước nợ gần 500 tỷ đồng tiền thuế, mà còn hiển hiện nỗi lo kép là công tác môi trường, phục hồi môi trường, hoàn thổ hiện trạng sau khi 2 công ty vàng bị “treo giò” và nạn khai thác vàng trái phép hoành hành dai dẳng ở khắp các đồi núi.
Những hố sâu để lại sau khi các mỏ đất, đá, vàng... khai thác, những vạt rừng bị đốn hạ nham nhở không biết bao giờ được trả lại màu xanh. Lời hứa hoàn thổ sau khai khoáng bấy lâu nay vẫn là những “lời nói gió bay”, để lại hậu quả  đặc biệt tai hại về môi trường, đời sống của người dân. Bao giờ công tác hoàn thổ mới được đôn đốc giải quyết một cách rốt ráo, quyết liệt? Câu hỏi vẫn đang bị bỏ ngỏ.
Những ngày giữa tháng 7, theo ghi nhận của PV NTNN, tình trạng lén lút khai thác trái phép tài nguyên, hủy hoại môi trường sinh thái tại địa bàn tỉnh Quảng Nam vẫn không có dấu hiệu giảm sút. Nhiều nơi dai dẳng “cơn sốt vàng” như: Huyện Phước Sơn, Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Hiệp Đức, Phú Ninh; thiếc ở Bắc Trà My; băm nát cát sỏi lòng sông Vu Gia, Thu Bồn… Sự thật là có bao nhiêu vùng cấm là có bấy nhiêu điểm “vàng tặc”.
Không những bị thất thoát tài nguyên khoáng sản, 2 doanh nghiệp khai thác vàng lớn nhất nước còn nợ tiền thuế nhà nước gần 500 tỷ đồng, đó là Công ty Vàng Bồng Miêu và Công ty Vàng Phước Sơn. Từ đó, kéo theo công tác phục hồi môi trường, hoàn thổ đối với những khu vực đã khai thác vẫn còn là bài toán “khó giải” của các ngành chức năng tỉnh Quảng Nam khi các doanh nghiệp lớn này đang bị “treo giò”, trong số đó có một công ty hết thời gian hoạt động, một công ty bị thu hồi giấy phép do nợ thuế.
Có mặt tại khu vực Núi Kẽm, Hố Gần thuộc địa phận Công ty Vàng Bồng Miêu khai thác, các hang, hầm sâu mà đơn vị và nạn khai thác vàng trái phép để lại như một “địa đạo” đánh trận. Những căn hầm sâu hàng trăm mét như những “hố bom” đang rình mò tính mạng người dân và gia súc nếu lỡ chân trượt xuống.
Còn quan sát, bên cạnh cổng vào khu vực núi Kẽm của Công ty Vàng Bồng Miêu, những cây sao đen mà công ty trồng được gọi là phục hồi môi trường đang đánh cược với đất, đá để tìm nguồn dinh dưỡng vươn mình sống được ngày nào hay ngày đó.
Ông Nguyễn Văn Thanh - Trưởng Công an xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh cho biết: Công ty đâu có hoàn thổ chi đâu, làm xong thì sang mặt bằng lại thôi, rồi giao cho công nhân lên trồng vài ba cây chi đó. “Ổng (Công ty Vàng Bồng Miêu) có phục hồi môi trường chi mô. Ổng chỉ trồng chút cây sao đen ở chỗ cổng đường lên núi Kẽm thôi, nhưng chừ dân phá sạch để trồng keo rồi. Báo cáo là trồng, nhưng chỉ trồng lấy lệ thôi, vì cây sao đen làm sao thích hợp với thổ nhưỡng ở vùng đất này được. Đất toàn đá khô cằn, ổng trồng rồi bỏ đại đó chứ có chăm sóc chi đâu...” - ông Thanh nói.
Ông Nguyễn Phi Thạnh - Chủ tịch UBND huyện Phú Ninh nhấn mạnh trong một báo cáo gửi UBND tỉnh: “Trong thời gian hoạt động khai thác, chế biến vàng của Công ty Vàng Bồng Miêu còn để xảy ra nhiều tồn tại, vướng mắc như: Chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, hiện vẫn còn nợ gần 100 tỷ đồng, quản lý khu vực đất được bàn giao là 380ha thiếu chặt chẽ, dẫn đến một số hộ ở xã Tam Lãnh tự ý lấn chiếm hơn 100ha để trồng rừng và hàng trăm đối tượng ngang nhiên vào hoạt động khai thác vàng trái phép. Đặc biệt, công ty không có biện pháp quản lý hiệu quả khu vực được nhà nước giao quản lý và đến nay đã để xảy ra 13 vụ sập hầm vàng làm 23 người chết, 5 người bị thương. Chú ý nhất là công tác hoàn thổ phục hồi môi trường không được quan tâm, đến nay còn trên 22ha công ty chưa phục hồi môi trường và 0,77ha chưa hoàn thổ”.
Còn ông Huỳnh Đức Tin - Phó Trưởng phòng TNMT huyện Phú Ninh cho biết: “Nguyên tắc, bất kỳ công ty, doanh nghiệp nào khai thác khoáng sản đều nộp quỹ phục hồi môi trường trước, còn gọi là “đặt cược”. Còn Công ty Vàng Bồng Miêu nói đã hoàn thổ, khắc phục môi trường, nhưng mấy lần tôi cùng đoàn đi kiểm tra thấy việc hoàn thổ họ chỉ làm cho có, mục đích là để lách.
Còn việc trồng cây sao đen hoàn rừng vẫn còn thưa thớt, thấy trồng toàn trên đá là chính, vì họ hoàn thổ toàn lấy đất ngay tại chỗ nên khó nắm hết được việc hoàn thổ. Ngoài ra, công ty chưa bàn giao cho huyện quản lý nên khó xác định được việc hoàn thổ một cách đàng hoàng. Từ đó sẽ kéo theo việc thất thoát tài nguyên khoáng sản và ảnh hưởng môi trường và tạo cho “vàng tặc” lợi dụng cơ hội hoành hành…”.
Phản hồi lại, Sở TNMT tỉnh Quảng Nam cho biết, Công ty Vàng Bồng Miêu đã ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường tại khu vực Hố Gần với tổng số tiền 320.580 USD và khu vực núi Kẽm với tổn số tiền tính đến năm 2015 là 748.350.000 đồng theo đúng số tiền đã được UBND tỉnh phê duyệt.
Đến nay, về công tác hoàn thổ, cải tạo, phục hồi môi trường tại khu Hố Gần là 93.725m2 (trong 230ha cấp phép); diện tích đã khai thác và hoàn thổ nhưng chưa trồng cây là 226.27m2; diện tích đã khai thác nhưng chưa hoàn thổ, chưa trồng cây là 7.685m2. Còn khu núi Kẽm có diện tích 100ha, công ty đang khai thác nên chưa thực hiện hoàn thổ, cải tạo, phục hồi môi trường.
“Đối với các diện tích đã khai thác nhưng chưa hoàn thổ, tất cả là do phần dưới sâu vẫn còn lại một số trữ lượng nhưng hàm lượng thấp nên công ty vẫn đang lên kế hoạch chờ thời điểm thích hợp để khai thác tiếp trong tương lai, tránh thất thoát tài nguyên. Sau đó, công ty sẽ thực hiện việc hoàn thổ và trồng cây cho khu vực này theo báo cáo đánh giá tác động môi trường đã phê duyệt cũng như theo quy định của Luật Môi trường, còn nếu không chúng ta trích quỹ môi trường ra để hoàn thổ, phục hồi môi trường…” - một cán bộ Sở TNMT tỉnh cho biết. (Dân Việt 21/7) đầu trang(
Ngày 20/7, tại thành phố Đông Hà, Nhà Thiếu nhi tỉnh Quảng Trị phối hợp với Dự án FLEGT Khu vực miền Trung tổ chức liên hoan vẽ tranh với chủ đề “Rừng xanh ước mơ” năm 2016 cho các em thiếu nhi và học sinh trong tỉnh Quảng Trị.
Các em được tập trung vẽ tranh tại Nhà Thiếu nhi tỉnh.Có hơn 100 em tham dự cuộc thi vẽ tranh với các chủ đề phong phú, như hoạt động trồng trừng phủ xanh đồi núi trọc, tuyên truyền vận động cộng đồng và người dân địa phương thực hiện tốt công tác quản lý và bảo vệ rừng, hoạt động bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái bền vững, lên án nạn chặt phá rừng, đốt rừng…
Ông Nguyễn Thế Hùng- Giám đốc Nhà Thiếu nhi tỉnh Quảng Trị, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi cho biết các tác phẩm dự thi của các em đã thể hiện được thông điệp cùng nhau bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sống. Liên hoan lần này đã tạo ra được một sân chơi lành mạnh, thiết thực và bổ ích cho các em thiếu nhi và học sinh phát triển năng khiếu hội họa cũng như phát đi một thông điệp mạnh cho cộng đồng là bảo vệ môi trường sống là vấn đề cấp thiết nhất.
Ban tổ chức đã trao cho 30 tác phẩm đạt giải, trong đó có 4 giải A, 6 giải B, 6 giải C và 14 giải khuyến khích. Có 50 bức tranh trong tổng số hơn 100 bức tranh của các em dự thi được Ban tổ chức chọn để triễn lãm. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/7) đầu trang(
Triển lãm “Sải cánh hoang dã” của hai nhiếp ảnh gia gốc Việt là Andy Nguyễn và Đặng Mỹ sẽ được diễn ra từ ngày 4 đến 7-8 tới tại Hanoi Creative City, số 1 Lương Yên, Hà Nội.
Andy Nguyễn, nhiếp ảnh gia động vật hoang dã chuyên nghiệp với kinh nghiệm 30 năm, ông đã từng trực tiếp giảng dạy trong nhiều khóa học về nhiếp ảnh hàng đầu thế giới.
Andy là nhiếp ảnh gia nghệ thuật gốc Việt đầu tiên được vinh danh với tước hiệu BBC Wildlife Photographer of the Year vào năm 2009. Nhiều tác phẩm của ông đã được đăng trên tạp chí National Geographic và trưng bày tại Viện Bảo tàng Quốc gia Anh và Mỹ.
Trong khi đó, Đặng Mỹ Hạnh là một nữ nhiếp ảnh gia gốc Việt duy nhất, chuyên nghiệp về thể loại nghệ thuật wildlife trên toàn thế giới. Một nữ nhiếp ảnh gia được nhận xét là đầy nhạy bén, tinh tế trong nghệ thuật Nhiếp ảnh và Văn chương.
“Sải cánh hoang dã”, kể lại cuộc hành trình của hai nhiếp ảnh gia nghệ thuật gốc Việt trong các cuộc phiêu lưu ở khắp miền thế giới hoang dã sẽ lần đầu tiên được triển lãm tại Việt Nam.
Những tác phẩm được hai nhiếp ảnh gia đưa vào triển lãm lần này không ít lần đoạt các giải thưởng quốc tế uy tín từ BBC Wildlife, PSA (Photographic Society of America), FIAP, NANPA (North American Nature Photography Association). Đó là những tác phẩm của về thế giới hoang dã cực kỳ sống động.
Andy Nguyễn chia sẻ, để có được những tác phẩm về thiên nhiên hoang dã, Andy Nguyễn & Đặng Mỹ Hạnh phải tuân theo những "quy luật" giành riêng cho wildlife photographers. Ví dụ như: Đối tượng trong ảnh phải là động vật hoang, sống tự do trong thiên nhiên hoang dã; Ảnh được chụp dưới ánh sáng tự nhiên; Không dùng cảnh hoặc những yếu tố trang trí giả, hoặc setup (dàn cảnh); Không chứa những yếu tố "nhân tạo" trong ảnh (những gì được tạo bởi con người hoặc của con người); Không thêm hoặc bớt (xoá) bất cứ yếu tố nào (bằng Photoshop). Ảnh phải thật 100%.
Đây cũng là những quy luật căn bản của các cuộc thi nhiếp ảnh thú hoang dã lừng danh trên thế giới. (Công An Nhân Dân 20/7) đầu trang(
Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, trong 6 tháng đầu năm 2016, các cơ quan chức năng tỉnh đã phát hiện, tịch thu 45 cá thể động vật rừng bị giết hại, với tổng trọng lượng gần 80kg.
Song song với việc xử phạt, cơ quan chức năng cũng yêu cầu các cá nhân, tập thể vi phạm ký cam kết không tái phạm. Cũng theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trên địa bàn tỉnh hiện có hơn 330 trang trại được cấp phép đăng ký nuôi, nhốt gần 9.000 cá thể với hơn 30 loài động vật các loại. Trong đó, chủng loại được người dân nuôi nhốt nhiều nhất là hươu sao, heo rừng lai, dúi, nhím, các giống chồn, chim tri, rùa, ba ba, rắn và gà rừng...
Cùng với việc kiểm tra, tuyên truyền để người dân thực hiện tốt việc nuôi, nhốt động vật hoang dã thì ngành kiểm lâm tỉnh đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát để đối phó với các thủ đoạn tinh vi của các đối tượng săn bắt, buôn bán thú rừng; đồng thời, tổ chức bám sát địa bàn cùng phối hợp chặt chẽ với các lực lượng liên quan để có giải pháp ngăn chặn kịp thời. (Dân Tộc Và Phát Triển 20/7) đầu trang(
Nhằm ngăn chặn tình trạng dùng súng tự chế săn bắn thú rừng và những rủi ro do súng tự chế gây ra.
Ngày 19 tháng 7, Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn tổ chức tiêu hủy số vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ trái phép mà các lực lượng chức năng đã thu giữ trên địa bàn trong thời gian qua.
Trước sự chứng kiến của các cơ quan chức năng, Công an huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đã  tiêu hủy số vũ khí thô sơ và công cụ hỗ trợ trái phép gồm: hơn 90 khẩu súng các loại; thuốc súng;  hạt kích nổ;  diêm sinh dùng để chế tạo thuốc súng và công cụ săn bắt động vật hoang dã, kích điện...
Toàn bộ số vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ trái phép này được lực lượng công an huyện và các đoàn thể  địa phương  vận động nhân dân tự nguyện giao nộp trong từ năm 2012 đến nay. Việc thu gom và tiêu hủy số vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ trái phép đã góp phần bảo đảm tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện. (Công An Bắc Kạn 19/7) đầu trang(
Mới đây, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học (GreenViet) hợp tác với Vườn thú San Diego (Mỹ) và các Ban quản lý Khu Bảo  tồn thiên nhiên Bà Nà - Núi Chúa triển khai thí điểm chương trình giám sát động vật hoang dã bằng bẫy ảnh.
Theo đó, 20 thiết bị bẫy ảnh do Vườn thú San Diego tài trợ, được lắp đặt ở nhiều nơi nhằm  ghi lại những chuyển động của các loài có khả năng bị đe dọa trong khu bảo tồn Bà Nà - Núi Chúa và cung cấp bằng chứng cho nghiên cứu và bảo vệ đa dạng sinh học.
Các nhà sinh học lên kế hoạch kiểm tra bẫy ảnh mỗi tháng để theo dõi tình trạng của các loài động vật.
Ở độ cao 1,487m so với mực nước biển, Bà Nà Núi Chúa đang là một sự lựa chọn hấp dẫn cho du khách tham quan khu du lịch Bà Nà Hills Mountain bằng sử dụng các tuyến cáp treo.
Bên cạnh đó, Bà Nà Núi Chúa còn là ngôi nhà của 626 loài động vật và 793 loài thực vật, trong đó có nhiều loài linh trưởng nguy cấp như vooc Chà vá chân đỏ, vượn bạc má và gà lôi, những loài động thực vật hiếm thấy trong tự nhiên.
Tuy nhiên, việc đô thị hóa, bê tông hóa Bà Nà quá nhiều cộng với việc khai thác rừng đã khiến môi trường sống hoang dã nơi đây bị đe dọa. Vườn thú San Diego tài trợ lắp đặt hệ thống 20 bẫy ảnh bao phủ trên 28,000ha sẽ góp phần giám sát các loài nguy cấp đồng thời phục vụ cho công tác nghiên cứu và bảo vệ đa dạng sinh học của khu bảo tồn này.
Đây là hoạt động giám sát động vật hoang dã bằng bẫy ảnh lần đầu tiên được thí điểm tại Đà Nẵng. Trước đó, Quỹ Thiên nhiên thế giới đã thiết lập bẫy ảnh ghi lại cuộc sống của Sao la, những động vật có vú lớn hiếm nhất thế giới, ở Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang (năm 1999) và ở tỉnh Quảng Nam (năm 2013). (Trí Thức Và Công Luận 20/7) đầu trang(
Ngày 20/7, ông Tạ Văn Đáo, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh, cho biết đơn vị đã ngừng cấp phép cho các cơ sở gây nuôi thương mại loài tê tê trên toàn địa bàn tỉnh.
Đối với những trường hợp đã cấp phép từ trước, Chi cục Kiểm lâm đã vận động người dân mang đến các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã nuôi dưỡng, bảo vệ loài động vật quý hiếm này.
Trước đó, Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) thuộc Liên hiệp các hội KH và KT Việt Nam đã có công văn phản ứng quyết liệt trước việc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tây Ninh cấp phép cho một số hộ dân trong tỉnh nuôi thương mại hai loài tê tê Java và tê tê vàng.
Theo ENV, tê tê Java và tê tê vàng là hai loài nằm trong danh mục động vật hoang dã quý hiếm, nguy cấp và phải được bảo vệ nghiêm ngặt.
EVN khẳng định một trong các điều kiện tiên quyết để đăng ký thành lập các trang trại nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm là phải được cơ quan CITES Việt Nam xác nhận bằng văn bản là có khả năng sinh sản liên tiếp qua nhiều thế hệ qua môi trường có kiểm soát; không ảnh hưởng tới việc bảo tồn loài đó trong tự nhiên.
Tuy nhiên, việc cấp phép cho các hộ dân nuôi loài tê tê của Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh chưa có xác nhận từ CITES Việt Nam; đồng thời đơn vị chưa ghi nhận được trường hợp cụ thể nào tại các cơ sở gây nuôi tê tê nhiều năm qua trong tỉnh là có sinh sản.
Theo ENV, tê tê là loài cực kỳ khó nuôi nhốt hoặc sinh sản trong môi trường có kiểm soát và thực tế đã có nhiều trường hợp thất bại trong việc nuôi loài tê tê.
ENV cho biết thêm qua tìm hiểu tại trang trại của ông Nguyễn Văn Mỹ, một trong những cơ sở đã được Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cấp giấy phép gây nuôi thương mại tê tê tại xã Thành Long, huyện Châu Thành, chủ cơ sở này đã thừa nhận thường xuyên mua tê tê con bất hợp pháp để khai báo tăng đàn.
ENV còn phát hiện cơ sở này chuyên khai khống số lượng tê tê trên giấy tờ để tuồn các cá thể từ tự nhiên vào, bán trái phép cho các đối tượng có nhu cầu.
Theo ông Trần Văn Trạch, Trưởng phòng Thanh tra, pháp chế-Chi cục Kiểm lâm tỉnh, do thời điểm trước đây, cụ thể là Nghị định 160/2013/NĐ-CP chưa ban hành về tiêu chí xác định chế độ quản lý thuộc danh mục loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Vì vậy, những hộ xin giấy phép nuôi đều có giấy tờ chứng nhận nguồn gốc rõ ràng nên trách nhiệm của đơn vị là phải cấp phép theo quy định.
Ông Trạch cho biết thêm sau khi Nghị định 160/2013/NĐ-CP có hiệu lực, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh đã ngưng cấp phép cho các hộ dân nuôi loài tê tê và một số loài khác, nhưng hiện tại chưa có các văn bản hướng dẫn việc xử lý vấn đề này. Ví dụ như thu mua lại tê tê đã gây nuôi để trả về môi trường tự nhiên, trước khi thu hồi lại giấy phép.
Ông Trạch cũng thừa nhận rằng việc nuôi tê tê mục đích thương mại tại địa phương không mang lại hiệu quả kinh tế và đã có nhiều trường hợp đóng cửa trang trại.
Hiện, trên địa bàn tỉnh chỉ còn trường hợp duy nhất là trang trại của ông Nguyễn Văn Mỹ ở xã Thành Long, huyện Long Thành mà Chi cục Kiểm lâm đã cấp phép nuôi tê tê, nhưng cũng đã được Chi cục Kiểm lâm vận động chuyển giao toàn bộ gồm 15 cá thể tê tê cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên khu vui chơi Trương Trần tại huyện Hóc Môn (Thành phố Hồ Chí Minh) nuôi dưỡng theo khuyến cáo của ENV. (Vietnam + 20/7) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính phủ Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã cơ bản đàm phán xong các nội dung quan trọng của Hiệp định Đối tác tự nguyện (VPA) về Thực thi Lâm luật, Quản trị rừng và Thương mại lâm sản (FLEGT), và dự tính kết thúc đàm phán vào tháng 11/2016. Từ đây mở ra nhiều cơ hội về phát triển, bảo vệ và phát triển thương mại cho Việt Nam.
Việc đàm phán VPA/FLEGT được bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2010. Bên cạnh khối lượng lớn các nội dung cần đàm phán, tiến trình này bị kéo dài do tồn tại những khác biệt giữa Việt Nam và EU trong một số vấn đề liên quan đến việc xác minh nguồn gốc gỗ nhập khẩu và quy trình cấp phép FLEGT. Tuy vậy, với quyết tâm và nỗ lực của các bên tham gia, Việt Nam và EU, đến thời điểm này, đã có những giải pháp cho những khác biệt để đi đến thống nhất các nội dung trên.
Ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Trưởng đoàn đàm phán cấp cao của Việt Nam cho biết, kết thúc phiên đàm phán cấp cao lần thứ 5, hai bên cơ bản đã đạt được tiến triển quan trọng nhất đối với các vấn đề mấu chốt của Hiệp định. “Phiên đàm phán cấp cao lần thứ 5 cũng đã chuẩn bị cơ sở nền tảng cho việc kết thúc đàm phán Hiệp định theo tinh thần mà lãnh đạo cao cấp hai bên đã tuyên bố”.
Về quy trình cấp phép FLEGT, hai bên nhất trí áp dụng phương pháp xác minh cấp phép FLEGT cho các doanh nghiệp gỗ có đủ điều kiện xuất khẩu vào thị trường EU dựa trên hệ thống phân loại doanh nghiệp. Nếu cấp phép theo lô hàng sẽ mất nhiều thời gian, chi phí tốn kém và đòi hỏi nguồn lực lớn để thực hiện. Trong khi đó, hệ thống phân loại doanh nghiệp sẽ khuyến kích các doanh nghiệp làm ăn chân chính, và hạn chế các doanh nghiệp không tuân thủ.
Khi hệ thống này được xây dựng và vận hành, tiến trình cấp phép sẽ trở nên thuận lợi, giảm thời gian và chi phí..Cách tiếp cận này sẽ giúp cơ quan chức năng tiến hành cấp phép cho doanh nghiệp được thuận lợi, đáp ứng được tiêu chí đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp.
Để thực hiện việc này, Dự án sẽ hỗ trợ Tổng cục Lâm nghiệp xây dựng đề án phân loại doanh nghiệp, tập huấn về hệ thống phân loại doanh nghiệp cho các hiệp hội và các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Dự án đã tổ chức các hội thảo tham vấn, diễn đàn để tập hợp các ý kiến đóng góp từ các bên liên quan như cộng đồng, doanh nghiệp. Các ý kiến đã được gửi cho đoàn đàm phán của Việt Nam sử dụng trong quá trình đàm phán.
Trong thời gian vừa qua, Dự án đã tích cực hỗ trợ Tổng cục Lâm nghiệp trong tiến trình đàm phán đưa ra các giải pháp, các khuyến nghị nhằm xác minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ từ các nguồn khác nhau cũng như các giải pháp cho quy trình cấp phép FLEGT. Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho phiên đàm phán cấp cao mà tại đó lãnh đạo của hai bên sẽ xem xét để đi đến thống nhất và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong lần đàm phán cuối cùng này.
Bên cạnh đó, Dự án đã tổ chức các hội thảo tham vấn, diễn đàn để tập hợp các ý kiến đóng góp từ các bên liên quan như cộng đồng, doanh nghiệp. Các ý kiến đã được gửi cho đoàn đàm phán của Việt Nam sử dụng trong quá trình đàm phán.
Trong thời gian vừa qua, Dự án đã tích cực hỗ trợ Tổng cục Lâm  nghiệp  trong  tiến  trình đàm phán đưa ra các giải pháp, các khuyến nghị nhằm xác minh tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ từ các nguồn khác nhau cũng như các giải pháp cho quy trình cấp phép FLEGT. Đây là bước chuẩn bị cần thiết cho phiên đàm phán cấp cao mà tại đó lãnh đạo của hai bên sẽ xem xét để đi đến thống nhất và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong lần đàm phán cuối cùng này.
Từ một hộ trồng rừng chỉ biết đến việc trồng gỗ keo phục vụ cho sản xuất dăm gỗ, chủ hộ Lê Đức Thân cư trú tại xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh đã thay đổi cách nghĩ kể từ khi tham gia lớp tập huấn nâng cao nhận thức về trồng rừng và quản lý rừng có trách nhiệm.
“Lớp tập huấn đã giúp chúng tôi liên kết được với các doanh nghiệp chế biến gỗ, tìm hiểu được các yêu cầu của họ về nguyên liệu gỗ và hiểu được giá trị của gỗ rừng trồng. Ngoài ra, các hộ gia đình  còn được cung cấp thông tin về pháp luật trong khai thác lâm sản hợp pháp. Thông tin bổ ích từ lớp tập huấn phần nào đã giúp chúng tôi thay đổi cách thức làm nghề rừng để nâng giá trị rừng trồng của mình hơn”, ông Thân cho biết.
Hộ gia đình ông Thân là một trong những đối tượng được xác định dễ bị tổn thương do năng lực và nguồn lực tài chính hạn chế. Vì thế, việc hỗ trợ các đối tượng này có đủ năng lực sản xuất và có đủ thông tin để đáp ứng với những yêu cầu của thị trường về gỗ nguyên liệu, về chất lượng nguồn nguyên liệu và đáp ứng những quy định mới về chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ là thực sự cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu trên, từ tháng 4/2014, Trung tâm Con người và Thiên nhiên - PanNature đã tham gia cùng WWF và Tổng cục Lâm nghiệp thực hiện Dự án "Hỗ trợ Triến trình Đàm phán VPA”. Dự ándo Liên minh Châu Âu và Quỹ Môi trường Thụy Điển (SIDA) tài trợ trong thời gian 4 năm.
Từ tháng 9 - 12/ 2015, nhiều hoạt động nổi bật đã được dự án thực hiện, trong đó có:
Ngày 29-30/09/2015,  hội thảo “Thiết lập mạng lưới Tổ chức Cộng đồng tham gia vào quá  trình  thực  thi  lâm  luật quản trị rừng và thương mại lâm sản” được tổ chức thành công tại thành phố Huế. Hội thảo  bao  gồm 02  nội  dung chính: Thành lập mạng lưới tổ chức cộng đồng; và góp ý sửa đổi thông tư 35/2011/ TT-BNNPTNT  và  thông  tư 01/2012/TT-BNTPTNT của Chính  phủ.
Kết  quả  của  hội thảo là một mạng lưới tổ chức cộng đồng được thiết lập với kế hoach triển khai thực hiện hoạt động về FLEGT trong thời gian tới. Bên cạnh đó, 01 biên bản  thảo  luận  bổ  sung  đóng góp cho việc chỉnh sửa thông tư 35/2011/TT-BNNPTNT đã được các bên tham gia nhất trí và sẽ được hoàn thiện gửi cho Tổng cục Lâm nghiệp đóng góp ý kiến.
Tăng cường năng lực truyền thông cho tổ nhóm cộng đồng thông qua khoá tập huấn “Kỹ năng và  hương pháp truyền thông cộng đồng hiệu quả” tổ chức tại thành phố Đà Nẵng từ ngày 25-28/11/2015. Các  học viên được trang bị các kỹ năng truyền thông cơ bản để thực hiện  truyền  thông  về  VPA/ FLEGT, từ đó xây dựng nội dung và kế hoạch truyền thông cho 07 Ban Lâm nghiệp Cộng đồng tại địa bàn dự án từ tháng 12/2015 – 6/2016.
Ngày 19/12/2015, PanNature đã phối hợp với Ban Vận động thành lập Hội Chủ rừng Việt Nam tổ chức “Hội nghị xúc tiến thành lập Hội chủ rừng Việt Nam: Cơ hội duy trì và nhân rộng mô hình Ban Lâm nghiệp Cộng đồng”.
Hội nghị tập trung vào thảo luận quy định và nội dung hoạt động Hội Chủ rừng Việt Nam; đánh giá thực trạng quản lý rừng và nhu cầu của các chủ rừng sau khi được giao rừng, đất lâm nghiệp, từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ; và thảo luận về tính phù hợp, khả năng nhân rộng và thể chế hóa mô hình Ban Lâm nghiệp Cộng đồng tham gia vào tiến trình thực thi VPA/FLEGT tại Việt Nam.
Nâng cao năng lực tiếp cận thị trường cho các ban lâm nghiệp cộng đồng. Ngày 21-24/12/2015, PanNature phối hợp với WWF- Việt Nam và Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định tổ chức Diễn đàn “Tiếp cận thị trường cho sản phẩm gỗ rừng trồng tại khu vực Miền Trung và Tây Nguyên” tại thành phố Quy Nhơn. Diễn đàn nhằm cung cấp cho các đại biểu các thông tin, kỹ năng về phân tích thị trường và đàm phán với doanh nghiệp thu mua gỗ nhằm tối đa hoá lợi ích. Đồng thời, tạo cơ hội chia sẻ thông tin về các yêu cầu của thị trường gỗ trong nước và quốc tế và khả năng đáp ứng các yêu cầu đó của các bên liên quan.
Nhằm tiếp tục hỗ trợ nâng cao năng  lực  cho  các  thành  viên nhóm, trong thời gian tới dự án sẽ tập trung vào các hoạt động sau: Hỗ trợ trang thiết bị truyền thông và xây dựngchương  trình  phát hanh,  tổ chức tập huấn về phát thanh cho 07 nhóm tại 07 tỉnh; Tổ chức 07 lớp tập huấn về PCCCR tại 07 tỉnh của dự án; và Tổ chức các cuộc mạng lưới cho 07 tại các tỉnh để trao đổi/chia sẻ thông tin, ý tưởng, học hỏi và xây dựng các mối quan hệ với các bên liên quan
Tiếp tục hỗ trợ TCLN trong tiến trình đàm phán thông qua việc tổ chức các cuộc họp kỹ thuật giữa Việt
Nam và Liên minh Châu âu; Tổ chức tập huấn về kỹ năng truyền thông, vận động chính sách cho các tổ chức xã hội dân sự; Tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các doanh nghiệp về báo cáo đánh giá chuỗi cung của các doanh nghiệp; Tập huấn cho các doanh nghiệp về hệ thống đảm bảo tính hợp pháp của gỗ, VNTLAS; Tập huấn cho các nhóm CBFC về phòng chống cháy rừng. (Tài Nguyên Và Môi Trường 19/7) đầu trang(
Tình trạng thua lỗ, tranh chấp về đất đai, hoạt động kém hiệu quả, tâm lý ngại thay đổi… đang làm chậm quá trình đổi mới, tái cơ cấu hàng loạt công ty nông - lâm nghiệp. Việc tìm đối tác chiến lược tại những công ty nông - lâm nghiệp muốn lột xác bằng cổ phần hóa cũng không dễ.
Thực tế cho thấy, qua hơn 2 năm triển khai sắp xếp các công ty nông - lâm nghiệp theo tinh thần Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, việc đổi mới các công ty này chưa có sự thay đổi về chất. Minh chứng là tại phần lớn địa phương, công ty mới tập trung vào công việc như đổi mới, sắp xếp công ty 100% vốn nhà nước hoặc chuyển nông, lâm trường thành công ty TNHH 1 thành viên.
Trong khi đó, việc chuyển đổi các công ty nông lâm nghiệp sang mô hình công ty TNHH 2 thành viên hoặc cổ phần hóa diễn ra rất chậm, hoặc có chuyển đổi thì theo kiểu “bình mới, rượu cũ”. Điều đáng quan tâm nữa là ngay cả với những doanh nghiệp, địa phương muốn chuyển đổi mạnh mô hình các công ty nông - lâm nghiệp sang mô hình công ty cổ phần hoặc công ty TNHH 2 thành viên, việc kêu gọi nhà đầu tư chiến lược là rất khó khăn.
Nguyên nhân hiện có nhiều, song hiện nổi lên 3 vấn đề lớn:
Thứ nhất, đa phần các công ty nông - lâm nghiệp đều chìm trong thua lỗ, nợ xấu, hiệu quả thấp. Tính đến cuối năm 2015, giá trị tài sản theo sổ sách của các công ty nông - lâm nghiệp là 40.517 tỷ đồng, lợi nhuận bình quân 3 năm gần đây chỉ vỏn vẹn gần 3.000 tỷ đồng. Tổng số lỗ luỹ kế của các công ty nông - lâm nghiệp là 1.071 tỷ đồng, ăn mòn 4% vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận thấp, lỗ lũy kế cao cũng chính là lý do đầu tiên khiến nhà đầu tư ngại rót vốn.
Thứ hai, tài sản được nhà đầu tư “thèm muốn” nhất của các công ty nông - lâm nghiệp là quỹ đất. Song khi ngỏ ý góp vốn, nhà đầu tư lại yêu cầu quỹ đất sạch, tập trung. Trong khi đó, hầu hết diện tích đất của các công ty nông - lâm nghiệp tại các địa phương lại được giao khoán cho các hộ gia đình trong tình trạng khá manh mún, không có hạ tầng, thậm chí vẫn còn xảy ra tranh chấp.
Thứ ba, do các công ty lâm nghiệp không được phép tính giá trị diện tích đất lâm nghiệp đang quản lý vào giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa, nên phần vốn góp sau cổ phần hóa rất nhỏ (chỉ khoảng 2-3%). Chính vì vậy, vai trò của đại diện phần vốn góp của các công ty này sau cổ phần hóa thường không cao, trong khi bên hưởng lợi phần diện tích đất lại chính là đối tác góp vốn.
Với những vướng mắc này, việc thực hiện phương án sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp đã được phê duyệt phải cơ bản hoàn thành trong năm 2017 - như chỉ đạo của Chính phủ, sẽ là thách thức không nhỏ.
Mới đây, chính Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã yêu cầu, cần tạo chuyển biến căn bản về phương thức tổ chức quản lý và quản trị doanh nghiệp; sản xuất nông, lâm nghiệp phải gắn với công nghiệp chế biến và thị trường theo chuỗi giá trị hàng hóa; mục đích của việc sắp xếp, đổi mới là nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả kinh doanh, chứ không phải đổi mới về mặt hình thức.
Như vậy, để có thể đẩy nhanh quá trình sắp xếp, đổi mới công ty nông - lâm nghiệp, Chính phủ cần ban hành thêm cơ chế đặc thù cho các công ty này. Đồng thời, khẩn trương hoàn thiện cơ sở pháp lý cho đổi mới, sắp xếp hoạt động tại các công ty nông - lâm nghiệp, nhanh chóng giải quyết những vướng măc về đất đai, có chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng nhằm khuyến khích nhà đầu tư mạnh dạn rót vốn. Ngoài ra, để xử lý số công ty nông - lâm nghiệp yếu kém, Chính phủ cần xe xét bổ sung hình thức phá sản và hình thức sáp nhập, hợp nhất các công ty nông  - lâm nghiệp cùng chủ sở hữu.
Rõ ràng, chỉ khi nào chuyển đổi mạnh về chất, thì các công ty nông lâm nghiệp mới có thể nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, trở thành trung tâm liên kết sản xuất nông - lâm nghiệp, trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ với người dân địa phương. Khi đó, lợi ích nhà nước, doanh nghiệp và người dân mới được đảm bảo hài hòa. (Đầu Tư 20/7) đầu trang(
Sáng 20-7, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND tỉnh cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có buổi khảo sát các loại rừng phòng hộ tại xã Định Thành, huyện Dầu Tiếng.
Rừng phòng hộ đầu nguồn Núi Cậu Dầu Tiếng có tổng diện tích 3.652 ha, được quy hoạch là rừng phòng hộ rất xung yếu và xung yếu. Mục tiêu là xây dựng và phát triển rừng bền vững, nâng cao độ che phủ, tạo môi trường sinh thái, chống xói mòn, giảm nhẹ thiên tai, điều hòa khí hậu, điều hòa nguồn nước, tạo nguồn sinh thủy đầu nguồn cho hồ thủy lợi Dầu Tiếng. Ngoài ra, hồ Dầu Tiếng còn có tác dụng xả nước rửa chua, đẩy mặn khi có nước biển tràn vào ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
Hơn nữa đây là khu vực có diện tích rừng tự nhiên còn lại duy nhất của tỉnh Bình Dương với nhiều phong cảnh đẹp đã được phê duyệt quy hoạch là khu rừng du lịch sinh thái nên nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng và sử dụng đất rừng là rất cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế đối với rừng phòng hộ Núi Cậu. Ông Nguyễn Tầm Dương, Trưởng ban Kinh tế- Ngân sách HĐND tỉnh cho biết, mục đích của buổi khảo sát là chuẩn bị cho kỳ họp thứ II của HĐND tỉnh để giải quyết tờ trình của UBND tỉnh về việc quy định bảng giá các loại rừng thuộc rừng phòng hộ tại xã Định Thành, huyện Dầu Tiếng.
Xác định các mục tiêu và biện pháp quản lý sử dụng chính của rừng và đất rừng, phù hợp với đặc thù của các hệ sinh thái rừng để bảo đảm phát triển bền vững rừng và hệ sinh thái rừng. (Báo Bình Dương 21/7) đầu trang(
Nhiều năm trở lại đây, nhờ triển khai thực hiện các văn bản về chính sách về Chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, nhận thức các chủ rừng, hộ nhận khoán trong công tác quản lý rừng, bảo vệ và phát triển rừng từng bước được nâng cao.
Đặc biệt, chính sách này đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Bản Tó Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu có 46 hộ dân 100% là đồng bào dân tộc Hà Nhì đều tham gia bảo vệ, phát triển rừng và được nhận chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Số tiền được nhận từ chi trả dịch vụ môi trường của các hộ trong bản trung bình mỗi năm là 27 triệu đồng - đó là một số tiền lớn đối với đồng bào vùng khó khăn này.
Trước đây, công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ở bản còn gặp nhiều khó khăn do người dân chưa có ý thức bảo vệ rừng, còn tư tưởng trông chờ ỷ lại. Từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, rừng đã có chủ, người dân đã gắn cuộc sống của mình với rừng, tự giác hơn trong công tác bảo vệ rừng, tuần tra bảo vệ rừng thường xuyên.
Được nhận tiền chi trả từ việc bảo vệ rừng đã giúp người dân ý thức được rằng trách nhiệm của việc bảo vệ rừng là bảo vệ quyền lợi của chính mình. Không phá rừng họ vẫn có được tiền từ việc phát triển rừng, thậm chí số tiền được nhận còn cao hơn, cuộc sống bớt khó khăn hơn.
Chính vì thế, ở bản thành lập các tổ giữ rừng, mỗi tổ có 5 người, các tổ thay phiên nhau đi kiểm tra rừng, phát đường băng cản lửa, qua đó kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm luật bảo vệ phát triển rừng; nhiều hộ trong bản đã tham gia trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, nhận giao khoán bảo vệ rừng.
Ông Lỳ Vù Xá, trưởng bản Tó Khó, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cho biết: "Tất cả bà con trong bản đều được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Năm 2015, mỗi hộ dân được trên 20 triệu đồng. Có tiền bảo vệ rừng đã giúp bà con mình xóa đói giảm nghèo; dân bản mình đã ý thức được là khi rừng phát triển tốt lên thì Nhà nước mới hỗ trợ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. Riêng bản chúng tôi thì mấy năm trở lại đây, rừng không cháy, ít phá rừng vì ai cũng có ý thức giữ rừng. Khi được nhận tiền chi trả dịch vụ môi trường thì bà con rất phấn khởi".
Đối với người dân bản Mé Gióng, xã biên giới Ka Lăng, huyện Mường Tè thì kinh tế rừng đã cho họ một cuộc sống bớt khó khăn hơn. Trong câu chuyện của mình, anh Pờ Lâm Sơn, bản Mé Gióng kể lại: Trước đây, tôi cùng nhiều hộ dân trong bản thường hay đi rừng xẻ gỗ bán lấy tiền, phá rừng làm nương để sinh sống.
Đối với người dân bản mình thì rừng chính là sự sống, cứ hết tiền là mọi người lại vào rừng xẻ gỗ. Mọi việc thay đổi khi gia đình mình cùng tất cả bà con trong bản được Nhà nước hỗ trợ chi trả dịch vụ môi trường rừng, rồi được tuyên truyền về giữ rừng, bảo vệ rừng để được nhận tiền từ công việc đó.
Đến nay thì việc chặt phá rừng làm nương rẫy ở bản Mé Gióng đã không còn. Anh Sơn và các hộ dân đã tham gia vào tổ bảo vệ rừng của bản, thường xuyên tuần tra, kiểm soát để giữ rừng. Có tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, cuộc sống gia đình anh Sơn và nhiều hộ trong bản cũng ổn định hơn. Với số tiền từ trồng rừng và dịch vụ môi trường rừng mang lại mỗi năm, gia đình anh và nhiều hộ khác đã có điều kiện mua sắm thêm vật dụng sinh hoạt và nuôi con ăn học.
Được biết huyện Mường Tè có diện tích rừng phòng hộ lớn nhất tỉnh Lai Châu. Theo thống kê, bình quân năm 2015, tiền chi trả tiền dịch vụ môi trường bình quân cho các hộ dân trong huyện là trên 7 triệu đồng/hộ. Nguồn thu này tuy không lớn nhưng đã góp phần trong việc cải thiện đời sống của Nhân dân các dân tộc, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Hầu hết ở các bản có rừng của huyện Mường Tè đều đã thành lập các tổ chuyên trách. Để hoạt động hiệu quả thì các tổ chuyên trách thôn bản đều có quy chế hoạt động cụ thể trong đó nhấn mạnh Tổ trưởng chuyên trách phải là Trưởng bản; các thành viên trong tổ là đại diện các hộ gia đình trong bản được hưởng dịch vụ môi trường rừng, mỗi hộ phải có 1 thành viên tham gia để bảo vệ diện tích rừng chung.
Nhiệm vụ của tổ sẽ là tuyên truyền và vận động Nhân dân trong bản ký kết thực hiện các quy định về bảo vệ phát triển rừng, phòng cháy rừng và thực hiện các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng; xây dựng kế hoạch tuần tra, phân công ứng trực 24/24 trong thời gian cao điểm mùa hanh khô....
Đặc biệt, kinh phí duy trì hoạt động của tổ chuyên trách bảo vệ và phát triển rừng được trích từ số tiền dịch vụ môi trường rừng hàng năm của thôn bản; cụ thể số tiền trích tùy thuộc theo thống nhất của từng thôn bản. Chi phí ấy sẽ dùng để hỗ trợ cho các thành viên khi tham gia tuần tra, canh gác bảo vệ rừng, chữa cháy rừng, mua sắm dụng cụ cần thiết cho công tác quản lý bảo vệ rừng...
Ông Tống Văn Dương, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Tè cho biết: Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai ở huyện Mường Tè là vô cùng phù hợp với tập quán sinh hoạt của người dân hiện nay.
Từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã nâng cao được ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy chính quyền, người dân ở địa phương. Hàng năm, việc vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã được giảm thiểu rất nhiều; ý thức, trách nhiệm của tập thể, cá nhân được nâng lên trong đó đặc biệt là vai trò của các xã, bản trong việc quản lý, bảo vệ, phát triển rừng.
Theo thống kê, năm 2015 tỉnh Lai Châu có trên 412 nghìn ha rừng, chủ yếu là rừng phòng hộ; Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã chi trả cho tỉnh Lai Châu hơn 160 tỷ đồng/năm. Số tiền này phần lớn được chi trả trực tiếp cho các hộ dân tham gia giữ rừng.
Cuộc sống của họ được cải thiện nhờ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nên ý thức bảo vệ rừng được nâng lên, các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, số vụ cháy rừng giảm qua các năm, phong tục tập quán phá rừng đốt nương làm rẫy của vùng đồng bào dân tộc đã được hạn chế. Nhờ đó đến nay, tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh đã tăng lên trên 47%. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lai Châu 20/7) đầu trang(
Tại tỉnh Đăk Lăk, tình trạng lấn chiếm rừng nghèo, biến đất rừng thành nương rẫy đang thực sự báo động.
Chỉ trong 2 năm qua, hàng trăm hecta rừng ở lâm trường buôn Ja Wầm (huyện Cư M'gar, tỉnh Đăk Lăk) đã trở thành nương rẫy của bà con. Theo những người quản lý ở đây, nếu tình trạng lấn chiếm đất rừng để làm đất canh tác không được ngăn chặn triệt để, những cánh rừng ở xa cũng sẽ trở thành nương rẫy trong thời gian gần. Những vụ việc lấn chiếm đất rừng đều được lâm trường lập biên bản để báo cơ quan chức năng giải quyết. Tuy nhiên, chẳng có vụ việc nào được giải quyết đến cùng, đủ sức răn đe.
Tình trạng biến rừng nghèo thành nương rẫy đang thực sự báo động. Người dân cần đất sản xuất thì “vô tư” khai phá, chủ rừng chỉ có cách xua đuổi trong khi các cơ quan chuyên trách không quyết liệt phối hợp và xử lý khiến tình trạng lấn chiếm đất rừng gần như mất kiểm soát. (Đài Truyền Hình Việt Nam 20/7) đầu trang(
Tại tỉnh Bôlykhămxay (Lào), Sở NN&PTNT Hà Tĩnh, BQL Chương trình UN-REDD Việt Nam giai đoạn II tỉnh Hà Tĩnh vừa phối hợp với Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Bôlykhămxay tổ chức “Hội thảo nâng cao năng lực về pháp luật lâm nghiệp cho lực lượng thanh tra lâm nghiệp tỉnh Bôlykhămxay”.
Trong thời gian 2 ngày (18-19/7), các học viên được phổ biến, thảo luận về các nội dung quan trọng trong Luật Lâm nghiệp, Luật Bảo tồn đa dạng sinh học, động vật hoang dã của nước CHDCND Lào; Luật Bảo vệ và phát triển rừng của nước CHXHCN Việt Nam.
Các nội dung chương trình hội thảo giúp lực lượng Thanh tra Lâm nghiệp tỉnh Bôlykhămxay (Lào) nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn, tăng cường sự hiểu biết pháp luật lâm nghiệp của mỗi nước, đẩy mạnh hơn nữa công tác phối kết hợp giữa Kiểm lâm Hà Tĩnh với Thanh tra Lâm nghiệp tỉnh Bôlykhămxay trong việc trao đổi thông tin, kiểm soát xuất nhập khẩu gỗ và động vật hoang dã qua cửa khẩu mỗi tỉnh trong thời gian tới.
Qua đó, góp phần bảo vệ và phát triển diện tích rừng tự nhiên khu vực giáp ranh; không ngừng vun đắp mối quan hệ gắn bó truyền thống đặc biệt Việt Nam – Lào nói chung, giữa tỉnh Hà Tĩnh với tỉnh Bôlykhămxay nói riêng. (Báo Hà Tĩnh 20/7) đầu trang(
Liên quan đến bài viết đăng tải trên Lao Động ngày 24.6 về việc gần 60 DN tại Quảng Ninh và Hải Phòng đồng loạt kiến nghị gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ GTVT và Cục Đăng kiểm, nhằm tháo gỡ khó khăn liên quan đến áp dụng quy chuẩn an toàn trên phương tiện thuỷ nội địa vận chuyển mặt hàng dăm gỗ, gây khó khăn cho những đơn vị xuất khẩu.
Ngày 15.7, Bộ GTVT đã có văn bản số 8160 do Thứ trưởng Lê Đình Thọ - ký với nội dung: “Đồng ý với đề xuất của các DN về việc phủ bạt kín nước và chằng buộc thay cho đóng nắp hầm hàng cứng xếp hàng trên boong theo quy phạm, đảm bảo tầm nhìn của lái tàu, trọng lượng vận tải hàng hóa không vượt quá tải trọng đăng kiểm đối với phương tiện thủy nội địa mang cấp VR-Sl, VR- S2”...
Ngoài quy định cho tàu chở dăm gỗ, Bộ GTVT cũng hướng dẫn đối với phương tiện đường bộ vận chuyển dăm gỗ. Trước đó, văn bản 3306/ĐKVN-TS của Cục Đăng kiểm VN đưa quy định vận chuyển dăm gỗ khiến các DN cho rằng, không một phương tiện nào đáp ứng được quy định này. (Lao Động 21/7) đầu trang(
Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp (Sở Công thương) vừa phối hợp với Công ty TNHH Đồ gỗ Nguyễn Ngọc (TX.Tân Uyên) tiến hành nghiệm thu đề án “Hỗ trợ đầu tư máy ghép gỗ cao tần trong chế biến sản phẩm gỗ xuất khẩu”.
Tổng kinh phí thực hiện đề án này là 583 triệu đồng đồng, trong đó kinh phí khuyến công hỗ trợ 100 triệu đồng. Qua báo cáo của Công ty TNHH Đồ gỗ Nguyễn Ngọc và xem xét máy móc thiết bị công ty đầu tư so với đề án và quy định, đoàn nghiệm thu đã thống nhất về kết quả và hiệu quả đề án mang lại.
Theo lãnh đạo Công ty TNHH Đồ gỗ Nguyễn Ngọc, việc đầu tư máy móc hiện đại vào sản xuất của công ty đã thay thế cho các phương pháp sản xuất thủ công trước đây; máy hoạt động trên dây chuyền tự động hoàn toàn nên năng suất và chất lượng sản phẩm được nâng cao, ổn định, từ đó tiết kiệm vật tư sản xuất cũng như hạn chế sản phẩm hỏng. Qua đó giúp công ty hoàn thiện hơn quy trình sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và doanh thu cho công ty... (Báo Bình Dương 21/7) đầu trang(
Tương tự như ngành Dược, Gỗ là một trong những ngành được cho sẽ bị chịu nhiều ảnh hưởng từ TPP. Nhưng cái hay lại nằm ở chỗ dòng tiền đầu tư dài hạn vẫn tìm đến các DN gỗ  triển vọng.
Giữa tháng 6 năm 2016, Vina Capital Vietnam Opportunity Fund (“VOF”) đã công bố thương vụ hợp tác liên doanh rót vốn vào CTCP Gỗ An Cường (“An Cường”).
30 triệu USD của thương vụ này, tính theo số bình quân các thương vụ mà VinaCapital, đại diện liên danh, đã và đang thực thi, không phải là con số thấp. Bởi trước đó, VinaCapital công bố một số các thương vụ đầu tư, xét giá trị khởi điểm/thương vụ, không quá cao như chỉ 7,5 triệu đô la Mỹ cho Yến Việt hay 9 triệu USD cho Bệnh viện Thái Hòa, 15 triệu USD cho cho Novaland, một ông lớn ngành bất động sản…
Ông Don Lam, CEO Tập đoàn VinaCapital cho biết để có được thương vụ này, họ đã tìm hiểu An Cường trong một thời gian khá dài. Nói như vậy để thấy thương vụ liên danh rót vốn 30 triệu USD cho một DN ngành gỗ, cụ thể là An Cường, và nhiều DN khác, đều cùng đi đến một một điều là trong mắt các nhà đầu tư, nhiều các DN gỗ Việt rất “sáng giá”.
Thực tế, ngoài An Cường, một số DN gỗ cũng đã nhận được những nguồn vốn góp khác nhau. Một thương vụ điển hình, giá trị lớn và rất bất ngờ là vụ đầu tư – M&A domestic giữa Tân Liên Phát – Cty con của Tập đoàn Vingroup, với kế hoạch nắm 69% cổ phần của Gỗ Trường Thành (TFF), DN gỗ lớn nhất trên sàn niêm yết xét theo ngành, dự kiến sẽ hoàn tất năm nay.
Dù không công bố chi tiết suất đầu tư, nhưng nhiều thông tin cho rằng, đây là một vụ thâu tóm có giá trị rất lớn và ngạc nhiên hơn là phía “bị thâu tóm” khá hân hoan. Ông Võ Trường Thành, nhà sáng lập kiêm Chủ tịch HĐQT TFF khẳng định là họ “được thâu tóm” mới chính xác!
Tất nhiên, để có được những đồng tiền đầu tư xứng đáng, các DN không hề là những “tay mơ”.
Cụ thể, An Cường là một trong những DN hàng đầu tại VN trong ngành vật liệu gỗ nội thất. Ngoài sản xuất và xuất khẩu cho nhiều thương hiệu nội thất nổi tiếng tại Nhật Bản, Đông Nam Á, Mỹ và Châu Âu, các dòng sản phẩm của An Cường đều đạt chuẩn quốc tế về thiết kế và chất lượng. Đặc biệt, các tiêu chí hoạt động nhằm bảo vệ sự phát triển bền vững về môi trường và xã hội của An Cường được công nhận thông qua chứng chỉ ISO 14001:2004, đồng thời nhiều dòng sản phẩm đã đạt chứng nhận Green Label của Singapore… Đây chính là lợi thế của An Cường khi các EVFTA và TPP có hiệu lực.
Đại diện của An Cường, ông Lê Đức Nghĩa cũng cho biết An Cường đang có gần 1,300 lao động, 10 phòng trưng bày trên khắp cả nước và các văn phòng đại diện tại Malaysia, Nhật Bản, Mỹ, Canada và Úc. Phía DEG, đơn vị rót vốn trong liên danh từ Đức đã rất chú trọng những ưu điểm này bởi các tiêu chí môi trường, nhân công, nguồn lực mà họ đề ra, nhiều DN dễ dàng để đáp ứng.
Nhân công, nhìn chung có thể ví một trong những “gót Achilles” của DN gỗ VN với đại đa số hợp đồng lao động ngắn hạn, một chuyên gia trong ngành cho biết. Ông này cũng nói rằng hiện tại phần lớn các nhà sản xuất gỗ đều chỉ quan tâm đến việc đáp ứng truy xuất nguồn gốc (Đạo luật Lacey của Mỹ hay Hiệp định VN – EU đều quy định rõ điều này) hay đảm bảo tỷ lệ gỗ nhập ngoài nội khối ( 45%, theo TPP), nhưng rất ít DN chú trọng đến các yêu cầu khác của thị trường xuất khẩu như liên quan đến chất lượng lao động, thời gian, độ tuổi, môi trường lao động, tính đại diện của người lao động.
Theo đó, việc áp dụng hình thức hợp đồng lao động ngắn hạn có thể gây ra nhiều khó khăn rủi ro cho DN nhưng DN chưa thực sự sẵn sàng để thay đổi. Do đó những DN có nguồn nhân công ổn định, lớn, chính sách ưu đãi, bảo hộ người lao động, tương xứng năng lực tăng trưởng và quy mô doanh thu của họ, sẽ có cơ hội cạnh tranh trong thu hút đầu tư.
Ở trường hợp Gỗ Trường Thành, lợi thế hoàn toàn thuộc về tương lai gần khi ngoài việc xuất khẩu lớn ở những thị trường phát triển, DN này còn đáp ứng được một tiêu chuẩn cơ bản về truy xuất nguồn gốc gỗ. Song song là khả năng thực hiện được tỷ lệ 55% gỗ nội địa.
Nếu như An Cường hay Gỗ Trường Thành đều có những thế mạnh, hấp dẫn dòng tiền đầu tư thì theo một báo cáo uy tín mới đây cho kết quả có đến 70% DN ngành gỗ đang tham gia xuất khẩu đồ gỗ vào Hoa Kỳ vẫn chưa áp dụng hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, 20% DN xuất vào EU và 10% cũng tương tự.
Bên cạnh đó, xét quy mô doanh thu, các DN trong ngành cũng khó có thể so sánh với các DN đầu ngành. An Cường, trong lĩnh vực gỗ ván ép công nghiệp, có doanh thu 70 triệu USD/ năm. CTCP Nguyễn Hoàng, Cty được Bambo Capital chi phối 90% cổ phần có thị trường lớn về đồ nội thất ngoài trời ở Mỹ và Châu Âu, hiện cũng chỉ có doanh thu khoảng 200 tỷ đồng/năm. Ngay như Gỗ Thuận An, một DN niêm yết, doanh thu năm 2016 cũng chỉ đặt mục tiêu dưới 500 tỷ đồng.
Như vậy, những thương vụ đầu tư triệu đô của ngoại hay nội dành cho DN gỗ, cơ bản chỉ dành cho những DN có doanh thu xấp xỉ cả trăm triệu đô/ năm. Mà số lượng các DN đầu ngành này chỉ đếm chưa đủ một bàn tay. Vả lại, cũng không có nhiều ông chủ DN có cái nhìn “cởi mở” như ông Võ Trường Thành khi hân hoan “được” thâu tóm để lớn hơn và hơn nữa, dù mình có phải… về nghỉ ngơi hoặc lui lại phía sau. Cạnh tranh hút vốn ở ngành gỗ, không… có cửa cho các DN “chiếu dưới”. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 21/7) đầu trang(./.