|
Ngày 20 tháng 07 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
BẢO VỆ RỪNG
Khoảng 19 giờ tối 19-7, hai vụ cháy rừng đã xảy ra trên địa bàn huyện Tĩnh Gia và huyện Như Thanh.
Theo đó, vào khoảng thời gian trên, xảy ra vụ cháy rừng thông, tại xã Tùng Lâm, huyện Tĩnh Gia. Nhận được tin báo, Phòng Cảnh sát PCCC số 2 đã huy động 3 lượt xe chữa cháy cùng hơn 80 cán bộ, chiến sỹ và sinh viên thực tập có mặt tại hiện trường phối hợp với lực lượng kiểm lâm, công an, dân phòng và người dân sử dụng máy thổi gió, cành cây dập tắt đám cháy và phát quang làm đường băng cản lửa. Sau 3 giờ đồng hồ, đám cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Vụ cháy thiêu rụi gần 10 ha thông.
Cùng thời điểm trên, tại xã Xuân Du, huyện Như Thanh cũng xảy ra vụ cháy rừng. Đám cháy được người dân phát hiện sớm và tổ chức dập tắt kịp thời, không để chảy ra cháy lan, cháy lớn, thiệt hại vụ cháy gây ra không đáng kể. Nguyên nhân 2 vụ cháy đang được phối hợp điều tra làm rõ. (Báo Thanh Hóa 20/7) đầu trang(
Sáng ngày 20/7, UBND tỉnh Quảng Nam có cuộc làm việc nhanh với Công an huyện Nam Giang để nghe báo cáo ban đầu về vụ án phá rừng pơmu.
7 giờ 30 phút sáng cùng ngày, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh (phụ trách mảng nông nghiệp) làm trưởng đoàn công tác của tỉnh lên làm việc nhanh với Cơ quan Cảnh sát điều tra của Công an huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam để nghe báo cáo ban đầu về tiến trình điều tra của vụ án phá rừng pơmu quy mô lớn nhất từ trước đến nay giáp biên với nước Lào do lực lượng Biên phòng tỉnh Quảng Nam quản lý.
Điều đáng nói khu vực rừng pơmu bị tàn phá nằm giáp biên với nước Lào. Đây là khu vực bất khả năng phạm về quốc phòng an ninh được giao cho lực lượng Biên phòng tỉnh Quảng Nam quản lý, khu vực này chỉ có lệnh đồng ý bằng văn bản của Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam mới được đặt chân vào.
Tham dự buổi làm việc nhanh còn có Đại tá Nguyễn Viết Lợi, Giám đốc Công an tỉnh, ông Huỳnh Tấn Đức – Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh, lãnh đạo Công an huyện Nam Giang, lãnh đạo Chi cục Hải quan cửa khẩu Nam Giang, đặc biệt có Thượng tá Nguyễn Tấn Lạc – Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu Nam Giang, Đại tá Nguyễn Đăng Chung- Phó Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Nam, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam…
Tại buổi làm việc nhanh, ông Lê Trí Thanh cho biết: "Đây là vụ phá rừng pơmu lớn, nghiêm trọng được cơ quan báo chí phản ánh. Tinh thần là chúng ta tập trung khẩn trương làm rõ vụ việc, sai đến đâu sửa đến đó, tổ chức, cá nhân liên quan phải được xem xét nghiêm túc".
Báo cáo tóm tắc với đoàn công tác, Đại tá Lê Quang Vịnh - Trưởng Công an huyện Nam Giang cho biết là Công an huyện nhận được tin báo của nhân dân về vụ phá rừng pơmu, xác định đây là vụ án hết sức nghiêm trọng. Cơ quan Công an đã mời Viện kiểm sát nhân dân huyện phối hợp, chỉ đạo cơ quan Kiểm lâm khởi tố vụ án hình sự và chuyển cho Công an huyện để thụ lý điều tra theo đúng thẩm quyền. Công an huyện tổ chức hai Tổ trinh sát xuống địa bàn và xác định được các đối tượng nghi vấn bảo kê, bao che cho các đối tượng khai thác trái phép gỗ pơmu, xác định nghi vấn các đối tượng trực tiếp chặt phá gỗ pơmu. Công an huyện xác định ngay sát điểm biên giới tập kết rất nhiều gỗ pơmu.
Sau khi Đại tá Lê Quang Vịnh báo cáo nhanh thì ông Lê Trí Thanh cho biết càng điều tra thì càng tiếp tục phát hiện thêm gỗ pơmu. Đây là vụ án quy mô, không loại trừ là có tổ chức.
Trung tá Hà Kế Xuyên, Phó trưởng Công an huyện Nam Giang cho biết do quy định về nghiệp vụ điều nên Công an huyện không thể cung cấp tại buổi họp nhanh này được nhưng ông cam kết là sẽ sớm đưa được các đối tượng bao che, phá rừng pơmu ra trước pháp luật để xét xử.
Đại tá Nguyễn Viết Lợi, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Nam nhận định, đây là vụ đặc biệt nghiêm trọng. Đây là vụ việc không mong muốn, vụ việc gần biên giới nên khó cho công tác điều tra nhưng phải xác định đây là vụ án cần phải điều tra chặt chẽ, nhanh chóng vì vụ án sẽ được xử lý bằng hình sự nên cần phải điều tra chặt chẽ để chứng minh cho được có phải như vậy nên vô cùng gian nan.
"Bây giờ chúng ta phải quay lại dựng lại hiện trường mà các đối tượng đã khai thác trái phép cách đây thời gian khá lâu" - ông Lợi nói.
Đại tá Nguyễn Viết Lợi cũng đề nghị Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam giúp như thế nào để có một cơ chế giúp cho cơ quan Công an xâm nhập được vào khu vực giáp biên để điều tra, xác minh cụ thể vì đây là khu vực về quốc phòng an ninh do lực lượng Biên phòng quản lý chặt chẽ theo quy định của Đảng và Nhà nước.
“Cơ quan kiểm lâm phải giúp cho cơ quan điều tra giám định được tang vật là gỗ pơmu vì hồ sơ là một chuyện nhưng phải có chứng cứ tài liệu mới chứng minh được đối tượng vi phạm pháp luật. Quyết tâm của Công an, kiểm lâm và Biên phòng làm phải làm cho rõ vụ việc để lấy đây làm tấm gương sáng để quán triệt trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nói sao thì nói nhưng phải làm cho thật nhanh sớm vụ việc này”, Đại tá Nguyễn Viết Lợi nhấn mạnh.
Ông A Lăng Mai – Chủ tịch UBND huyện Nam Giang cho rằng với tư cách người đứng đầu UBND huyện nên ông rất buồn vì trên địa bàn để xảy ra vụ việc nghiêm trọng gây ảnh hưởng xấu dư luận như thế này. Tính đến nay là tổng khối lượng gỗ pơmu được Công an phát hiện là 44,3m3, khối lượng điều tra được tăng lên từng ngày. (Đất Việt 20/7, Giao Thông 20/7) đầu trang(
Xã thì bảo do lãnh đạo huyện nhiều lần điện thoại đề nghị giao trả gỗ, còn huyện lại nói chỉ đạo làm rõ chứ không can thiệp
Liên quan đến vụ “Ban quản lý rừng tiếp tay lâm tặc?” (Báo Người Lao Động ngày 15-7), ngày 19-7, UBND xã EaTrol đã có công văn gửi UBND huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên báo cáo về việc giải quyết vụ vận chuyển gỗ mà xã này đã bắt vào ngày 12-7.
Theo báo cáo của xã EaTrol, chiều 12-7, lực lượng chức năng của xã đã mật phục và bắt 1 xe tải đang vận chuyển gần 8 m3 gỗ nhưng không có giấy tờ. Sau khoảng 15 phút thì ông Phan Kế An, Trưởng Trạm Quản lý bảo vệ rừng Hòn Cồ (thuộc Ban Quản lý - BQL - Rừng phòng hộ Sông Hinh) đến nhận số gỗ này là do trạm bắt trước đó và đang thuê xe chở về BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh để xử lý. Tuy nhiên, ông An không đưa ra được giấy tờ nào chứng minh số gỗ này là của trạm, chỉ nhận sơ suất không báo cho xã. Vì thế, xã này đã đưa xe chở gỗ nói trên về trụ sở và lập biên bản.
Đến sáng 13-7, ông Phạm Ngọc Minh, Giám đốc BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh, tiếp tục vào xã EaTrol và cũng nhận số gỗ này của ban nhưng không có giấy tờ gì để chứng minh nên xã vẫn quyết không giao.
Cũng theo công văn xã EaTrol, chiều 13-7, ông Đinh Ngọc Dạn, Phó Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, gọi điện thoại cho Chủ tịch UBND xã EaTrol La O Y Thanh đề nghị trả gỗ và phương tiện cho BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh để xử lý vì đây là gỗ do BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh bắt trước đó. Tuy nhiên, lãnh đạo xã đã họp với Hạt Kiểm lâm huyện và thống nhất không trả lại. “Khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Dạn tiếp tục gọi điện hỏi giải quyết tới đâu rồi và chỉ đạo cứ giao trả số gỗ và phương tiện cho BQL” - công văn xã EaTrol nêu. Đến lúc này thì xã EaTrol mới chấp nhận lập thủ tục để giao số gỗ về BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh.
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động chiều 19-7, ông Đinh Ngọc Dạn cho rằng hôm đó ông đang họp HĐND tỉnh và có nghe ông Nguyễn Trọng Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) Phú Yên (Cơ quan chủ quản của BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh), nói gỗ này do BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh bắt trước đó.
“Nên tôi có chỉ đạo anh Minh (ông Phạm Ngọc Minh - PV) vào xã làm cho cụ thể, chứ ai đâu can thiệp vào chuyện đó. Gỗ lậu thì phải tịch thu một cách nghiêm túc chớ” - ông Dạn nói.
Theo công văn của xã EaTrol, sau chỉ đạo của ông Dạn thì Hạt Kiểm lâm Sông Hinh và lãnh đạo xã thống nhất không giao gỗ cho BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh. Trong khi đó, theo ông Đặng Đình Toại, Chủ tịch UBND huyện Sông Hinh, khi mời Hạt Kiểm lâm và BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh làm việc thì cả 2 đều cho rằng đây là gỗ do BQL Rừng phòng hộ Sông Hinh bắt trước đó. Trả lời về điều này, ông Võ Thành Lâm, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Sông Hinh, nói: “Nghe cán bộ kiểm lâm ở địa bàn báo lại vậy thôi”.
Ông Ksor Y Ron, Phó Công an xã EaTrol, khẳng định: “Ở đây, chẳng qua là các ông trạm tiếp tay, áp tải đưa về. Nếu không bắt ở đây là về TP Tuy Hòa luôn, chứ không phải chở về trạm đâu. Rõ ràng là có a, b, c, d trong đó”. Cũng theo ông Ksor Y Ron, trước lần bắt giữ này, xã đã nhiều lần theo dõi các xe gỗ và nhận thấy có nhiều sự bất thường.
Ông Ksor Y Lơn, cán bộ lâm nghiệp xã EaTrol, cho rằng không có chuyện bắt gỗ mà không lập biên bản, không ghi số lóng gỗ, vận chuyển qua địa bàn xã mà không báo trước như thế. Rõ ràng, trong việc này có nhiều điều nghi vấn. “Dân phát hiện, báo chúng tôi. Họ bảo như thế này mà không bắt thì làm cán bộ làm gì. Cứ thế thì họ không tin cán bộ mình nữa” - ông Ksor Y Lơn nói.
Vị cán bộ lâm nghiệp này cho biết huyện Sông Hinh hiện chỉ còn 2 xã Sông Hinh và EaTrol là nhiều rừng. Thế nhưng, giờ nhìn bên ngoài thấy xanh nhưng bên trong rỗng ruột. “Thủ tướng chỉ đạo đóng cửa rừng nhưng đóng ở nơi nào đó chứ đây có đóng đâu. Mấy ổng đứng ở cửa rừng vậy mà rừng vẫn chảy máu” - ông Ksor Y Lơn bức xúc.
Ông Phạm Ngọc Minh cho biết trong công văn gửi UBND xã EaTrol để nhận lại gỗ vào ngày 13-7, thừa nhận thủ tục vận chuyển số gỗ trên từ rừng Hòn Cồ ra ngoài của Trạm Quản lý bảo vệ rừng Hòn Cồ chưa đầy đủ, chưa thực hiện hết chức năng phối hợp với UBND xã. “BQL sẽ có hình thức kiểm điểm tập thể, cá nhân liên quan”. Riêng số gỗ bị bắt giữ ngày 12-7, Hạt Kiểm lâm Sông Hinh đang lập thủ tục xử lý. (Người Lao Động 19/7) đầu trang(
Công ty lâm nghiệp Đăk Glei đã cách chức ông Nguyễn Thanh Thuỷ - Giám đốc Lâm trường Đăk Ba do để xảy ra vụ khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trong phạm vi quản lí.
Liên quan đến bài viết “Cào cào sắt” phá rừng Đăk Glei mà Thông tấn xã Việt Nam đã phản ánh, Văn phòng Chính phủ vừa có công văn số 5757/VPCP-KTN truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục làm rõ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật tại huyện Đăk Glei và các địa phương khác (nếu có); đồng thời chỉ đạo kiểm điểm, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan vụ việc, có giải pháp cụ thể không để xảy ra tình trạng tương tự.
Liên quan đến vụ việc, Công ty lâm nghiệp Đăk Glei đã cách chức ông Nguyễn Thanh Thuỷ - Giám đốc Lâm trường Đăk Ba, nơi để xảy ra vụ việc vì có khuyết điểm trong việc phân công trực trạm; chưa có biện pháp thực sự hữu hiệu trong công tác quản lý bảo vệ rừng; để cán bộ thuộc quyền quản lý không bám vị trí nhiệm vụ được giao dẫn tới việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép.
Việc thực hiện chỉ đạo của Giám đốc công ty trong thời gian gần đây còn chậm triển khai dẫn đến không có người trực trạm, trực địa bàn làm cho "lâm tặc" lợi dụng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên lâm phần quản lý.
Ngoài ra, Công ty lâm nghiệp Đăk Glei cũng đã có hình thức kỷ luật với ông A Tim - Tổ trưởng tổ quản lý bảo vệ rừng xã Đăk Roong là kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng; khiển trách ông Vũ Văn Hợp, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 107; khiển trách ông Đinh Văn Đức, nhân viên quản lý bảo vệ rừng tại tiểu khu 120. Riêng với ông Nguyễn Thanh Hải - Giám đốc Công ty lâm nghiệp Đăk Glei tự nhận hình thức kỷ luật cảnh cáo.
Ông Nguyễn Văn Hòa - Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum cho biết: Hiện tại Hội đồng kỷ luật tỉnh đang xem xét hình thức kỷ luật đối với Giám đốc công ty. Qua kiểm tra phát hiện đối tượng khai thác trái phép đã chặt phá 6 cây gỗ các loại với khối lượng hơn 7,8 mét khối. Lực lượng chức năng đã thu giữ được 5 xe máy độ chế, 0,2 mét khối gỗ.
Trước đó, vào ngày 21/6, Thông tấn xã Việt Nam đã có bài viết “Cào cào sắt” phá rừng Đăk Glei, phản ánh tình trạng phá rừng, khai thác và vận chuyển gỗ trái phép tại huyện Đăk Glei. Sau bài viết trên, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 5176 (ngày 25/6) yêu cầu UBND tỉnh Kon Tum kiểm tra, làm rõ vấn đề và báo cáo Thủ tướng trước ngày 20/7. (Tin Tức 19/7) đầu trang(
Đà Bắc là một trong những huyện dẫn đầu tỉnh về công tác phát triển rừng với độ che phủ đến năm 2015 đạt 63,9%.
Nhờ đẩy mạnh quản lý, bảo vệ kết hợp tuyên truyền nên diện tích rừng phòng hộ ổn định. Bình quân hàng năm, nhân dân các xã trồng mới đạt và vượt kế hoạch 800 ha rừng.
Đồng chí Nguyễn Viết Thành, Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện cho biết: Gần như không phải làm đường băng xanh, đường băng trắng cản lửa đề phòng sự cố cháy lan tại các khu vực rừng trồng bởi hiện các diện tích lau lách nguy cơ xảy cháy đều được hộ dân và chủ rừng quan tâm phát dọn thường xuyên, đồng thời trồng cây thay thế.
Ý thức giữ rừng, phát triển rừng trong nhân dân ngày càng được tăng cường thông qua các cuộc tuyên truyền, hướng dẫn, đôn đốc trực tiếp từng hộ hoặc lồng ghép trong các cuộc họp ở khu dân cư. Hàng năm, cán bộ kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền các xã, xóm mở ít nhất 1 hội nghị giới thiệu các văn bản pháp luật có nội dung về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại xóm có rừng với bình quân 14.000 lượt người được nghe phổ biến /năm.
Bên cạnh việc kiện toàn BCĐ bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng (BVR & PCCCR) các cấp, xây dựng và triển khai phương án hàng năm, các tổ, đội quần chúng BVR & PCCCR thường xuyên được củng cố có nhiệm vụ tuần tra, phát hiện, kịp thời xử lý những sự cố cháy rừng tại cơ sở, 20/20 xã đều đã có cán bộ kiểm lâm phụ trách. Phong trào cộng đồng bảo vệ rừng phát động rộng khắp.
Đến nay, 163 thôn, bản đã xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng, đạt tỷ lệ 100%. 163/163 thôn, bản có tổ, đội quần chúng BVR & PCCCR với 1.649 thành viên. Các dụng cụ, thiết bị chữa cháy rừng luôn đảm bảo cơ số và quản lý gồm 2 máy thổi gió, 2 bình chữa cháy đeo vai, 2 máy cắt thực bì, 1 cưa xăng, 1 bình xịt chữa cháy, 1 máy định vị, 1 ống nhòm, 2 loa pin cầm tay, 1 bộ quần áo chuyên dụng chữa cháy, 20 bàn dập lửa, 2 dao cán dài.
Cùng với lực lượng bảo vệ rừng ở cơ sở và lực lượng chức năng khác, lực lượng kiểm lâm đã tăng cường tuần tra bảo vệ rừng, phát hiện và ngăn chặn các hành vi phá rừng, khai thác rừng trái phép, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép… Số vụ vi phạm Luật Bảo vệ, phát triển rừng trong những năm qua ngày càng giảm. Huyện không còn là điểm nóng khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn không phát hiện trường hợp vi phạm trong khi cùng kỳ năm 2015 xảy ra 4 vụ.
Cũng theo đồng chí Hạt phó Hạt kiểm lâm huyện, nhờ thực hiện các biện pháp, phương án BVR & PCCCR mà 5 năm qua, trên địa bàn không xảy ra các vụ cháy rừng, không có diện tích rừng bị sâu bệnh hại. Cùng với việc phát triển rừng trồng gắn với quản lý, bảo vệ tốt, thu nhập từ nghề rừng của người dân được nâng lên. Trong 6 tháng đầu năm, thu nhập từ rừng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đạt trên 11 tỷ đồng, trong đó, thu từ rừng tự nhiên 4 tỷ đồng, thu từ rừng trồng khoảng trên 7 tỷ đồng. (Báo Hòa Bình 20/7) đầu trang(
Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đang tạm giữ xe tải BKS: 14C - 15284 về hành vi vận chuyển lâm sản (gỗ lim xanh) không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc.
Qua nguồn tin báo của quần chúng, khoảng 3 giờ ngày 18/7, trên đường tỉnh 293, đoạn qua xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, Đội Kiểm lâm cơ động (Chi cục Kiểm lâm) phát hiện phương tiện trên đang vận chuyển gỗ lưu thông theo hướng Sơn Động - Bắc Giang.
Tại thời điểm kiểm tra, lái xe là Lưu Văn Tấn, trú tại phường Cẩm Phú, TP Cẩm Phả (Quảng Ninh) khai nhận số lâm sản trên do mình vận chuyển thuê cho người tên Hải, ở Sơn Động về Hải Dương tiêu thụ.
Tuy nhiên, sau đó tài xế này tự ý rời khỏi trụ sở Chi cục Kiểm lâm gây khó khăn cho việc xác minh, xử lý. Hiện, Chi cục Kiểm lâm Bắc Giang đang tạm giữ phương tiện và số gỗ trên. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/7) đầu trang(
Phó trạm trưởng Trạm CSGT QL1 Thanh Hóa, Thiếu tá Nguyễn Hải Nam kể, lúc 10h sáng 9/6, tại Km 359+900 trên tuyến QL1 (đoạn qua địa phận xã Hải Lĩnh, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hóa), Tổ TTKS do Thiếu tá Nam làm Tổ trưởng đã phát hiện xe container BKS 51C-664.04 kéo theo rơ-moóc BKS 79R-0245 do tài xế Dương Văn Kết (ngụ ở Hướng Đạo, Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc) điều khiển theo hướng Nam - Bắc vi phạm Luật GTĐB, nên đã ra tín hiệu dừng xe kiểm tra.
Quá trình kiểm tra hành chính, lái xe Dương Văn Kết có nhiều biểu hiện bất thường nên Thiếu tá Nam thấy nghi vấn. Lúc cầm gậy gõ vào phía thùng xe container, Thiếu tá Nam nghe âm thanh phát ra khác lạ so với những thùng xe chở hàng khác. Phía hai cánh cửa sau của chiếc container có kẹp chì của công ty nhưng lại xuất hiện các mối hàn ở ốc vít khiến Thiếu tá Nam càng nghi ngờ hơn.
Thiếu tá Nam hỏi lái xe Kết: “Trên xe chở hàng gì vậy?”, lái xe trả lời: “Em lái thuê, hàng công ty đã kẹp chì nên cũng không biết bên trong là gì”. Đúng lúc này, Tổ TTKS nhận được tin báo của quần chúng về chiếc xe này chở gỗ lậu từ phía Nam đi ra nên đã yêu cầu cho kiểm tra, đồng thời thông báo tới lực lượng Kiểm lâm, Chi cục QLTT Thanh Hóa và Công an Kinh tế biết.
“Dù tài xế luôn miệng khẳng định container đã kẹp chì, nhưng qua dấu vết hàn tại cánh cửa chốt được kẹp chì và thông tin từ quần chúng báo đến, chúng tôi quyết định mở container và phát hiện bên trong chứa 9,533m3 gỗ tấm xẻ không có giấy phép, nguồn gốc. Lúc này lái xe mới thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép số gỗ trên xe”, Thiếu tá Nam kể.
Sau đó, lái xe Kết tường trình là toàn bộ số gỗ trên được nhận chở thuê dọc đường, công ty chủ quản xe không hề hay biết. Mối hàn bên cạnh phần kẹp chì là “kỹ xảo” mở cửa thùng container sau khi đưa hàng hóa ra - vào vẫn giữ nguyên được kẹp chì nhằm qua mặt lực lượng chức năng. Vụ việc đang được các cơ quan chức năng Thanh Hóa tiếp tục xử lý theo thẩm quyền. (Giao Thông 19/7) đầu trang(
Với một địa phương nửa đồng, nửa núi như xã Cù Vân (Đại Từ) thì diện tích đất lúa và trồng cây hàng năm chiếm chủ yếu, thế nên khi biết thông tin xã có khoảng 800ha rừng, trong đó hơn 400ha là rừng phòng hộ được bảo vệ nghiêm ngặt thì tôi hoàn toàn bất ngờ.
Sau nhiều lần hẹn, tôi có một buổi thực tế tuần rừng hồ Phượng Hoàng cùng các thành viên của tổ bảo vệ rừng xóm 12, xã Cù Vân. Tổ trưởng là bà Nguyễn Thị Thắm nói: Chúng tôi chọn ngày nắng nóng để cho phóng viên đi cùng, tuy có mệt hơn chút nhưng bù lại sẽ ít muỗi và vắt. Nắng nóng cũng dễ phát sinh cháy rừng nên cần tăng cường kiểm tra.
Đoàn xuất phát từ chân hồ Phượng Hoàng, ngược dốc rồi đi theo các sống núi Vũng Đa, Bãi Đá, núi Nhọn, Cầu Sâu, Bãi Gỗ rồi qua Khe Hóp. Khu vực này nằm giáp ranh với rừng phòng hộ thuộc xã Hà Thượng, Tân Thái (Đại Từ) và Phúc Xuân (T.P Thái Nguyên) nhưng tôi nhận thấy có sự khác biệt rất lớn.
Nếu như phía bên kia chủ yếu là keo mới trồng thì toàn bộ khu vực hồ Phượng Hoàng là rừng tự nhiên, với nhiều cây gỗ lớn có chu vi gốc bằng 2-3 vòng tay người lớn. Bà Thắm cho biết: Tổ chúng tôi có 9 người, phân thành hai nhóm mỗi tuần đi kiểm tra rừng một lần. Để đi hết hơn 200ha rừng được giao quản lý, tổ thường phải đi mất một buổi với hành trình quãng đường khoảng 10km.
Ông Hà Văn Dũng, thành viên của tổ bảo vệ rừng xóm 12 kể: Khu vực rừng hồ Phượng Hoàng đã từng bị chặt trắng toàn bộ. Đó là thời điểm năm 1983, khi đời sống của người dân đói kém đã phá rừng để lấy đất trồng ngô và đỗ, lạc. Do mất rừng nên những năm sau đó, hồ Phượng Hoàng gần như cạn kiệt nước vào mùa khô. Nhận thấy tầm quan trọng của rừng, từ năm 1987, Hợp tác xã Nông nghiệp Cù Vân bắt đầu thực hiện việc tái tạo, khoanh nuôi phát triển rừng tại khu vực này.
Các tổ chuyên trách tại xóm được thành lập với nhiệm vụ trông coi, bảo vệ rừng. Hợp tác xã trích nguồn quỹ chung bằng thóc để trả thù lao cho tổ. Mấy năm trở lại đây, khi khu vực rừng hồ Phượng Hoàng được thiết kế là rừng phòng hộ (với diện tích khoảng 220ha) thì tổ bảo vệ rừng được nhận thù lao trông coi của Nhà nước với định mức là 200 nghìn đồng/ha/năm.
Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch UBND, kiêm Trưởng ban lâm nghiệp xã Cù Vân cho biết: Ngoài tổ bảo vệ rừng xóm 12, xã còn thành lập các tổ xung kích phòng cháy, chữa cháy rừng ở các xóm 1, 3, 10, 12, 13 (những nơi có rừng), mỗi tổ gồm 9 thành viên. Đồng thời xác định 2 khu vực rừng trọng điểm cần được bảo vệ gồm: Hồ Phượng Hoàng - Chéo Vành - Đèo Cao (diện tích khoảng 300ha) và Đèo Cao - Bò Đái (diện tích gần 100ha thuộc xóm 3).
Khi có tình huống bất ngờ xảy ra, các tổ xung kích phòng cháy, chữa cháy có nhiệm vụ huy động lực lượng và phương tiện để kịp thời ứng cứu. Vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn xã vào đầu năm 2014 là một ví dụ điển hình. Ông Nguyễn Xuân Sáng, Trưởng xóm 13 kể: Thời điểm đó đang là mùa hanh khô, khi phát hiện có đám cháy từ phía xã Phúc Xuân (T.P Thái Nguyên), chúng tôi đã nhanh chóng báo động bằng kẻng và hệ thống loa truyền thanh ở các xóm giáp ranh rừng hồ Phượng Hoàng.
Mặc dù trời tối nhưng tất cả thành viên các tổ phòng cháy, chữa cháy rừng cùng hàng trăm người dân đã bơi thuyền qua hồ rồi ngược núi để tham gia chữa cháy. Nhờ kịp thời phát dọn đường băng, khoanh vùng nên đám cháy đã được không chế kịp thời. Diện tịch rừng bị thiệt hại trên địa bàn chỉ khoảng 0,5ha.
Một điều đáng ghi nhận nữa ở Cù Vân là việc quản lý, bảo vệ rừng có sự tham gia của toàn dân. Ở tất cả các xóm có rừng của xã đều tổ chức cho người dân ký cam kết không chặt phá, khai thác diện tích rừng phòng hộ. Ông Nguyễn Xuân Sáng, Trưởng xóm 13 cho rằng: Khi người dân ý thức được vai trò quan trọng của rừng thì họ sẽ là những người chủ động bảo vệ rừng tích cực nhất.
Người dân, nhất là những gia đình thường xuyên chăn thả trâu bò trong vùng rừng phòng hộ đều có ý thức phát dọn hành lang đề phòng cháy rừng, đồng thời nhanh chóng thông báo cho lực lượng chức năng khi có đối tượng xâm hại đến rừng.
Theo báo cáo của lực lượng kiểm lâm huyện, từ nhiều năm nay khu vực rừng phòng hộ hồ Phượng Hoàng thuộc địa phận xã Cù Vân không để xảy ra tình trạng vi phạm lâm luật. Rừng ở đây cũng được đánh giá có trữ lượng gỗ lớn và đa dạng sinh học.
Điều này đã giúp điều tiết tốt mực nước của hồ thủy lợi Phượng Hoàng (có khả năng cung cấp nước tưới cho khoảng 260ha đất nông nghiệp) và khu vực hạ du. Kinh nghiệm ở xã Cù Vân cho thấy, khi toàn dân nâng cao ý thức và tích cực tham gia bảo vệ thì diện tích rừng chắc chắn sẽ duy trì và phát triển. (Báo Thái Nguyên 19/7) đầu trang(
Theo Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 51/2012/TT-BNNPTNT ngày 19/10/2012 của Bộ NN-PTNT, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được Nhà nước đầu tư kinh phí bảo vệ 200.000 đồng/ha/năm.
Đây là nguồn chính để các đơn vị BQL rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nông-lâm trường ở Nghệ An chi trả lương, đóng bảo hiểm và nâng cao đời sống cho lao động hợp đồng.
Tuy nhiên, từ nhiều năm nay, nguồn đầu tư này chi trả muộn khiến các đơn vị gặp rất nhiều khó khăn, gần 400 lao động sống lay lắt. Một số đơn vị nợ lương, nợ bảo hiểm hoặc vay tiền ngân hàng để trang trải…
BQL Rừng phòng hộ Thanh Chương tiền thân là Lâm trường Thanh Chương hiện có 62 cán bộ, công nhân viên, trong đó có 14 định biên hưởng lương từ ngân sách. Số còn lại do đơn vị tự trang trải lương, bảo hiểm xã hội. Số lao động hợp đồng này có thâm niên công tác cao do chuyển từ công nhân lâm trường sang.
Tuy nhiên, nguồn chính để chi trả chế độ từ nhiều năm nay lại chỉ phụ thuộc vào tiền bảo vệ trên 16.500ha rừng. Ngoài ra, có trên 5.000ha rừng tự nhiên là rừng SX chưa được giao cho các đối tượng cũng do lực lượng lao động hợp đồng này bảo vệ nhưng không có kinh phí từ hàng chục năm nay.
Ông Lê Phùng Thiều, Trưởng BQL rừng phòng hộ Thanh Chương cho biết: “Đây là những lao động hợp đồng nằm trong chỉ tiêu của UBND tỉnh, lại có thâm niên công tác, hệ số lương cao hơn ở các đơn vị khác. Dù khó khăn đến đâu cũng phải bằng mọi cách đảm bảo lương, đời sống cho anh chị em. Những năm trước, khoảng tháng 3 - 4 là đã có nguồn kinh phí BVR "rót" về.
Nhưng năm nay, đến giữa tháng 7, nguồn này vẫn chưa có nên đời sống anh em công nhân rất khó khăn. Với tổng kinh phí bảo vệ rừng được duyệt khoảng trên 3,2 tỷ đồng, chi cho lương, bảo hiểm, đời sống anh chị em hợp đồng cũng tạm đủ. Nhưng nay chưa có nguồn, ban đã phải vay trên 600 triệu đồng tại ngân hàng để trang trải. Lãi suất được trả từ nguồn tiền lãi SX cây giống nhưng cũng không ăn thua; tiền gốc thì đang chờ ngân sách rót về. Nếu tình trạng này kéo dài thêm vài tháng thì đời sống công nhân sẽ rất khó khăn”.
Theo tính toán của ông Thiều, nếu tính lương bình quân của lao động hợp đồng 5 triệu đồng/người thì mỗi tháng, đơn vị phải trả cho người lao động trên 200 triệu đồng bao gồm tiền lương, bảo hiểm, hỗ trợ đời sống. Vì vậy, số tiền vay từ ngân hàng chưa đủ trả tiền lương 3 tháng cho lao động hợp đồng.
Tình cảnh tại BQL rừng phòng hộ Anh Sơn cũng không kém phần bi đát. Trong số 30 lao động hợp đồng thì chỉ có 5 lao động phụ trách vườn ươm là có thể tự trang trải từ nguồn thu này. Còn lại 25 lao động, từ đầu năm đến nay chưa được nhận một đồng lương nào.
Ông Nguyễn Tất Hòa, Trưởng BQL rừng phòng hộ Anh Sơn cho biết: “Tổng số tiền nợ lương, bảo hiểm đã lên đến trên 800 triệu đồng. Biết là anh em đang rất cơ cực nhưng không có tiền thì đành chịu. Nếu vay ngân hàng không biết sẽ lấy gì để chi trả tiền lãi suất. Chẳng lẽ, đến khi nhận tiền BVR lại bắt anh em trích lương ra để trả? Chúng tôi thường xuyên làm công tác tư tưởng, ổn định tinh thần cho lao động nhưng không biết còn cầm cự được đến khi nào? Hy vọng sẽ sớm được cấp tiền ngân sách”.
Theo Sở NN-PTNT Nghệ An, toàn tỉnh có trên 91.000ha rừng được đầu tư kinh phí BVR theo Quyết định 57 và Thông tư 51. Diện tích này phân bố ở hầu khăp các huyện với tổng kinh phí BVR tương đương gần 20 tỷ đồng/năm. Với những đơn vị có nguồn thu khác như dịch vụ môi trường rừng hay nguồn thu từ khai thác nhựa thông thì đời sống của lao động hợp đồng còn được đảm bảo, còn những đơn vị chỉ có tiền BVR thì đời sống rất chật vật. (Nông Nghiệp Việt Nam 19/7) đầu trang(
Chiều 19-7, Liên hiệp các tổ chức Khoa học và kỹ thuật TP Đà Nẵng tổ chức hội thảo Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái bán đảo Sơn Trà.
Theo thống kê, bán đảo Sơn Trà lưu giữ nguồn tài nguyên đa dạng sinh học vô cùng quý giá, với gần 1.000 loài thực vật và gần 300 loài động vật hoang dã, trong đó có 37 loài quý hiếm, được xếp vào loại nguy cấp, cần được bảo vệ. Đặc biệt, bán đảo Sơn Trà là nơi sinh sống của hơn 300 cá thể Voọc Chà vá chân nâu.
Để bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái bán đảo Sơn Trà các nhà nghiên cứu tại hội thảo cho rằng, cần nghiên cứu tổng thể về sự phát triển của các loài vật nguy cấp, quý hiếm tại Sơn Trà, đặc biệt là Voọc Chà vá chân nâu, xây dựng mô hình bảo vệ và đồng quản lý tài nguyên, bảo tồn loài dựa vào cộng đồng, đồng thời kiểm soát du khách lên bán đảo Sơn Trà… (Công An TP.Đà Nẵng 20/7) đầu trang(
Hệ thực vật ở Yên Bái có khoảng 1.035 loài thực vật bậc cao. Về động vật rừng, có khoảng 72 loài thú, 240 loài chim, 48 loài bò sát…
Trong thời gian qua, tình trạng săn bắt, buôn bán và tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng, đe dọa trực tiếp đến sự đa dạng sinh học và phát triển bền vững của hệ sinh thái. Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần tăng cường các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học, xử lý mạnh tay hơn nữa với các vi phạm, đặc biệt vi phạm có tổ chức nhằm từng bước khôi phục cân bằng sinh thái, góp phần phục vụ cho sức khoẻ con người.
Hiện nay, diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên toàn địa bàn tỉnh là 418.495 ha. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm 238.976 ha, rừng trồng chiếm 179.519 ha... Rừng Yên Bái được Tổ chức Bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI), Quỹ Bảo tồn thiên nhiên Việt Nam (VCF) đánh giá có độ đa dạng sinh học phong phú, đa dạng về chủng loại. Bên cạnh đó, hệ thực vật ở Yên Bái có khoảng 1.035 loài thực vật bậc cao thuộc 161 họ, 561 chi, trong đó có nhiều loài quý hiếm như: pơ mu, lim, sến, táu, gù hương, lan kim tuyến, củ rắn cắn…
Về động vật rừng, có khoảng 72 loài thú, 240 loài chim, 48 loài bò sát… Vẫn có sự xuất hiện của nhiều loài thú có giá trị, được ghi trong sách Đỏ Việt Nam như: sơn dương, gấu, vượn đen tuyền, gà lôi tím, voọc xám... Các loài này hiện đang tập trung chủ yếu ở các khu rừng tự nhiên tại các huyện còn nhiều tài nguyên rừng như: Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Văn Yên, Lục Yên, Trấn Yên.
Đặc biệt, Khu Bảo tồn loài - sinh cảnh Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải và Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, huyện Văn Yên là hai địa điểm còn tồn tại rất nhiều loại động, thực vật quý hiếm.
Tuy nhiên, hệ sinh thái động thực vật đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi tác động của con người, tình trạng sử dụng động vật hoang dã làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, trưng bày… đang có xu hướng gia tăng, kéo theo đó là tình trạng săn bắt, buôn bán và tiêu thụ bất hợp pháp; việc chặt cây về làm nhà, làm đồ mỹ nghệ, làm thuốc… vẫn còn là vấn đề khó giải quyết ở vùng cao, vùng sâu.
Hơn nữa, một vấn đề không thể không đề cập đến là trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án thủy điện lớn nhỏ, ít nhiều gây mất cân bằng sinh thái, thậm chí thay đổi một phần đặc điểm khí hậu ở các vùng lân cận.
Điều này cũng dẫn đến việc đa dạng sinh học bị xáo trộn, sự tồn tại của các loài động, thực vật bị ảnh hưởng. Đó là còn chưa kể đến tập quán đốt nương làm rẫy của bà con dân tộc rất dễ gây cháy rừng, dẫn đến sự suy giảm loài, nguy cơ tuyệt chủng những loài động, thực vật quý hiếm...
Theo báo cáo của Công an tỉnh Yên Bái, từ năm 2010 đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện, điều tra, xử lý tổng số 32 vụ (33 đối tượng) vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã. Trong đó, khởi tố hình sự 1 vụ (2 bị can), xử phạt vi phạm hành chính 31 vụ (31 đối tượng) với tổng số tiền là 155 triệu đồng, tiến hành cứu hộ và thả lại về rừng nhiều động vật hoang dã, quý hiếm...
Về thực vật (lâm sản), đã xử lý 98 vụ với 61 đối tượng vi phạm trong lĩnh vực lâm sản, thu giữ 74,79 m3 gỗ pơ mu; 7,71 m3 gỗ đinh trắc; 52,44 m3 gỗ rừng khác; xử phạt vi phạm hành chính 604 triệu đồng, tịch thu hàng có giá trị 1,289 tỷ đồng; khởi tố hình sự, chuyển truy tố 2 vụ (2 bị can) về tội hủy hoại rừng gây thiệt hại 5,1 ha rừng phòng hộ và 4,55 ha rừng sản xuất...
Để nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học, thiết nghĩ, các cấp, các ngành cần tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền về bảo vệ rừng, lợi ích của rừng mang lại nhằm nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là người dân vùng có rừng, các khu rừng đặc dụng.
Đại tá Phạm Ngọc Thắng - Phó giám đốc Công an tỉnh cho biết: “Trong thời gian tới, lực lượng công an sẽ tăng cường phối hợp với các cơ quan chức năng khác để kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm minh các vụ vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Bằng thực tiễn và rà soát, lực lượng công an sẽ có những tham mưu, đề xuất với các cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, kiện toàn khung pháp lý và chính sách về quản lý và bảo vệ các loài động thực vật hoang dã. Đảm bảo tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật đối với các vi phạm. (Báo Yên Bái 20/7) đầu trang(
Ngày 19-7, Công an huyện Thanh Trì, Hà Nội cho biết đã bàn giao trên 50kg động vật hoang dã gồm 23 cá thể rùa đến Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn để phục vụ công tác giám định.
Trước đó, Đội Cảnh sát kinh tế - Công an huyện Thanh Trì làm nhiệm vụ tại quốc lộ 1 B địa bàn xã Liên Ninh đã phát hiện một xe ô tô khách mang BKS 12B-003.80 có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra.
Tại đây, tổ công tác đã phát hiện trong cốp xe có chứa 23 cá thể rùa và 33 bao nấm trúc không có giấy tờ hợp pháp. Chủ xe là Triệu Thị Duyên (SN 1971), trú tại huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước nói không rõ chủ nhân số hàng hóa nói trên. Cơ quan Công an đã lập hồ sơ tạm giữ và bàn giao cho cơ quan chức năng để phục vụ công tác điều tra. (An Ninh Thủ Đô 19/7) đầu trang(
Một cá thể đồi mồi có trọng lượng hơn 1,3 kg thuộc dạng quý hiếm vừa được các ngành chức năng tỉnh Bạc Liêu cho thả về biển.
Trước đó, chiều ngày 17/7, lực lượng chức năng tỉnh Bạc Liêu phát hiện đối tượng Huỳnh Vũ Trang (ngụ huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu) vận chuyển đi tiêu thụ một cá thể đồi mồi tại khu vực phường 1 (TP Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu).
Theo đối tượng Trang khai nhận, Trang đã mua cá thể đồi mồi từ một người khác ở huyện Hòa Bình để bán lại. Ngành chức năng đã lập biên bản và xử phạt hành chính đối với Trang về hành vi “Vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã quí hiếm”.
Chiều ngày 19/7, các ngành chức năng tỉnh Bạc Liêu đã cho thả cá thể đồi mồi này về lại vùng biển tại khu vực phường Nhà Mát, TP Bạc Liêu.
Được biết, cá thể đồi mồi trên có trọng lượng hơn 1,3 kg, là một loài rùa biển hoang dã, quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng cao, cần được bảo vệ. (Dân Trí 19/7) đầu trang(
Ngày 19/7, Cơ quan điều tra, Công an huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa cho biết cơ quan này đang tiến hành trưng cầu, giám định 9 cá thể động vật hoang dã nghi là voọc chà vá chân đen, bị 6 đối tượng trú tại tỉnh Đắk Lắk giết hại trước đó.
Theo cơ quan điều tra, 6 đối tượng này trú ở xã Cư San, huyện M'drăk, tỉnh Đắk Lắk. Trước đó, các đối tượng này khi đi vào tiểu khu rừng 203, thuộc khoảnh 4, địa bàn xã Khánh Thành, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, mang theo 1 khẩu súng kíp tự chế để phòng thân.
Đến hiện trường, nhóm đối tượng phát hiện một số cá thể động vật hoang dã và đã bắn chết 9 con. Sau đó, các đối tượng mổ bụng, sấy khô số cá thể động vật trên để mang về với mục đích nấu cao.
Khi Tổ tuần tra Công an huyện Khánh Vĩnh đi tuần tra trên địa bàn xã Liên Sang phát hiện nhóm đối tượng đi xe máy chở theo các bao tải có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu các đối tượng dừng xe, tiến hành kiểm tra và phát hiện vụ việc trên.
Sau điều tra bước đầu, Cơ quan điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh đã cho 6 đối tượng trên về địa phương, đồng thời tiếp tục xác minh, làm rõ lai lịch của từng đối tượng. Sau khi có kết quả trưng cầu, giám định các vật chứng, cơ quan điều tra sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Voọc chà vá chân đen (tên khoa học là Pygathrix nigripes) thuộc nhóm IB trong danh mục các loài động vật quý hiếm, đang bị nguy cấp cần được bảo vệ, nằm trong sách Đỏ Việt Nam. (Vietnam + 20/7) đầu trang(
Theo tin tức trên báo VietNamNet, chiều 19/7, Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất cho biết, đơn vị này vừa phối hợp với lực lượng liên nghành gồm: Đội Kiểm soát Cục Hải quan TP. HCM, Cục Điều tra chống buôn lậu, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lýkinh tế và chức vụ (PC46), Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu (C74) ngăn chặn lô hàng ngà voi nhập lậu vào Việt Nam.
Lô hàng được vận chuyển trên đường hàng không từ Cộng Hòa Séc về sân bay Tân Sơn Nhất. Bằng các biện pháp nghiệp vụ, cơ quan chức năng đã kiểm tra và phát hiện 15 kg ngà voi Châu Phi đã cắt thành 31 khúc nhỏ, cất giấu trong hàng hoá nhập khẩu nhằm mục đích che dấu, qua mặt cơ quan chức năng. Số ngà voi trên tính theo giá thị trường tự do ước tính khoảng 1 tỷ đồng.
Người đứng tên nhận hàng là đối tượng nam khoảng 23 tuổi, quốc tịch Việt Nam, ngụ tại tỉnh Long An. Khi làm thủ tục nhập khẩu lô hàng trên, đối tượng đã không xuất trình được giấy tờ hợp pháp có liên quan.
Được biết, ngà voi thuộc danh mục động vật hoang dã cấm nhập khẩu,xuất khẩu theo Công ước quốc tế và quy định của Thủ tướng Chính phủ, theo báo Công An TP. HCM. Hiện các lực lượng chức năng đang tiến hành mở rộng điều tra. (Doanh Nghiệp Việt Nam 20/7, Hải Quan 20/7) đầu trang(
Gần đây, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh đã cấp phép cho một số hộ dân tỉnh này gây nuôi thương mại tê tê - loài động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ theo Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
Tuy nhiên, thông tin từ Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) cho thấy các cơ quan khoa học CITES (Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp) chưa hề xác nhận việc nuôi sinh trưởng tê tê không ảnh hưởng tới việc bảo tồn loài này trong tự nhiên.
Ở góc độ pháp luật, Nghị định 82/2006/NĐ-CP quy định xác nhận bằng văn bản này của cơ quan khoa học CITES chính là một trong những điều kiện tiên quyết để đăng ký gây nuôi các loài động vật hoang dã (ĐVHD) nguy cấp, quý hiếm như tê tê. Mặt khác, trong thực tế hiện nay chưa có ví dụ thực tiễn về việc tê tê phù hợp với môi trường sống nuôi nhốt phục vụ phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, quan điểm phía Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cho rằng cấp phép cho các trang trại gây nuôi ĐVHD nguy cấp, quý hiếm là việc của Kiểm lâm, còn loài vật đó có sống tốt, sinh sản được trong môi trường nuôi nhốt hay không thì cơ quan CITES phải tự xem xét và chủ động xác nhận.
Nói về vấn đề này, bà Bùi Thị Hà – Phó Giám đốc phụ trách Chương trình Chính sách và Pháp luật của ENV cho rằng, Chi cục Kiểm lâm Tây Ninh cần dừng việc cấp phép mới và thu hồi lại những giấy ghép đã cấp cho các cơ sở gây nuôi thương mại tê tê để ngăn chặn được nạn săn bắt, buôn bán, hợp pháp hóa tê tê qua các trang trại và bảo vệ loài ĐVHD bị buôn lậu nhiều nhất trên thế giới khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Được biết, liên quan đến những nguy cơ từ việc gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD tới quần thể ĐVHD trong tự nhiên, ngày 27/7 tới, ENV sẽ tổ chức họp báo “Gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD nguy cấp quý hiếm - Con đường dẫn đến sự tuyệt chủng.”
Đây là kết quả của một cuộc khảo sát trên quy mô lớn về tình trạng gây nuôi thương mại ĐVHD ở Việt Nam đã được ENV tiến hành nghiên cứu từ năm 2014, với hy vọng sẽ là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách cân nhắc sửa đổi một cách hợp lý những thể chế, chính sách về gây nuôi thương mại và buôn bán ĐVHD. (Pháp Luật Việt Nam 20/7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Bộ NN-PTNT vừa công bố 133 thủ tục hành chính được chuẩn hóa trong lĩnh vực lâm nghiệp thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.
Kết quả công bố dựa trên quá trình đơn giản hóa gộp 18 TTHC thành 4 TTHC, trong đó có 05 TTHC về lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp và 13 TTHC về cấp giấy phép, chứng chỉ CITES.
Đưa ra khỏi danh mục 08 TTHC, trong đó có 07 TTHC về thu hồi rừng, 01 TTHC về trợ cấp gạo cho đồng bào dân tộc. Bổ sung 02 TTHC mới. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/7) đầu trang(
UBND TP Đà Nẵng giao Sở NN-PTNT làm cơ quan thường trực thực hiện kế hoạch kiểm kê rừng trên địa bàn TP trong năm 2016 nhằm xác định chính xác toàn bộ diện tích rừng; trữ lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng theo trạng thái rừng...
Ngày 19/7, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho hay, lãnh đạo UBND TP vừa ban hành kế hoạch kiểm kê rừng trên địa bàn TP, thực hiện trong năm 2016, nhằm xác định chính xác toàn bộ diện tích rừng; trữ lượng rừng và diện tích đất chưa có rừng theo trạng thái rừng, nguồn gốc rừng và mục đích sử dụng của từng chủ rừng, đơn vị hành chính và đơn vị quản lý rừng được quy hoạch.
Theo đó, Sở NN-PTNT được giao làm cơ quan thường trực, có rách nhiệm phối hợp ban hành các văn bản chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác kiểm kê rừng trên địa bàn toàn TP, bao gồm cả chủ rừng nhóm 1 và chủ rừng nhóm 2. Lập kế hoạch kiểm tra, giám sát công tác kiểm kê rừng, quản lý hoạt động kiểm kê rừng, nghiệm thu, đánh giá chất lượng kiểm kê rừng trên địa bàn TP; phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện tổ chức tuyên truyền, tập huấn cho các chủ rừng, hộ gia đình về nội dung của phương án kiểm kê rừng.
Đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động điều tra, kiểm kê rừng. Nghiêm cấm việc lợi dụng điều tra, kiểm kê rừng để chiếm đoạt vốn rừng và khai thác trái phép tài nguyên rừng, chuyển đổi, chuyển nhượng bất hợp pháp. Xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm.
Theo UBND TP Đà Nẵng, kết quả của dự án là cơ sở để thực hiện theo dõi diễn biến rừng, đất rừng hàng năm và việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng từ TƯ đến địa phương; đồng thời là thông tin phục vụ cho công tác giao rừng gắn với giao đất lâm nghiệp và làm căn cứ thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
UBND TP Đà Nẵng cũng đề nghị các đơn vị truyền thông phối hợp với Sở NN-PTNT, UBND các quận,huyện, xã, phường làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, chủ rừng phối hợp, thực hiện tốt việc điều tra, kiểm kê rừng trên địa bàn TP.
Trước đó, ngày 8/7, UBND TP Đà Nẵng đã ban hành Quyết định 4434/QĐ-UBND quy định mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng với thời gian áp dụng thực hiện từ ngày 1/1/2016.
Theo đó, mức chi trả này được tính bằng 1,5% doanh thu của các sản phẩm du lịch lữ hành, lưu trú, vé tham quan, vé cáp treo tại các khu du lịch có xác nhận của cơ quan thuế. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết định 7720/QĐ-UBND đã được UBND TP Đà Nẵng ban hành ngày 19/10/2015. (Infonet 19/7) đầu trang(
Huyện Bảo Lâm có hơn 79.000 ha rừng và đất rừng, trong đó, rừng được chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) gần 50.000 ha.
Từ năm 2011, diện tích này đã được giao khoán cho các doanh nghiệp, tập thể cộng đồng và người dân nhận khoán quản lý, bảo vệ. Mức chi trả nhận khoán quản lý, bảo vệ theo DVMTR hàng năm khoảng 20 tỷ đồng.
Theo đánh giá của UBND huyện Bảo Lâm tại hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện chính sách chi trả DVMTR mới đây, việc giao khoán và chi trả DVMTR đã tạo cho người dân có thêm công ăn, việc làm và tăng thêm thu nhập. Từ đó, bà con ý thức được quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng. Mặt khác, người dân nhận khoán QLBVR theo chính sách chi trả DVMTR hầu hết là người dân sinh sống tại địa phương, nên các vụ việc phá rừng, khai thác rừng trái phép được phát hiện kịp thời.
Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn để xảy ra tình trạng phá rừng; nạn phá rừng, xâm hại tài nguyên rừng tuy có hạn chế, nhưng còn ở mức độ cao. Do vậy, UBND huyện yêu cầu các đơn vị chủ rừng và người nhận khoán phải có trách nhiệm trong việc giữ rừng; Hạt kiểm lâm, cán bộ Kiểm lâm địa bàn, Ban Lâm nghiệp các xã kiểm tra để đôn đốc, nhắc nhở chủ rừng và người nhận khoán cần có ý thức trong việc quản lý, bảo vệ diện tích được cung ứng DVMTR và kịp thời xác minh, xử lý các vụ việc vi phạm. (Báo Lâm Đồng 19/7) đầu trang(
Chi trả dịch vụ môi trường rừng được coi là chính sách hiệu quả trong công tác bảo vệ và phát triển rừng hiện nay - theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Nhận thức được điều đó, tỉnh Quảng Ngãi đang đẩy mạnh thực hiện chính sách này, tập trung vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, qua đó vừa giúp họ có thêm thu nhập vừa gìn giữ được tài nguyên rừng khu vực đầu nguồn.
Năm 2015, Ban quản lý bảo vệ rừng phòng hộ Sơn Tây, huyện Sơn Tây được giao khoán bảo vệ 8.200 ha rừng, trong đó có 1.900ha thuộc diện chi trả dịch vụ môi trường rừng với hơn 120 hộ dân tham gia', tập trung ở 4 xã Sơn Liêu, Sơn Long, Sơn Bua và Sơn Dung.
Theo thống kê của Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tinh Quảng Ngãi, trong năm 2015, tỉnh Quảng Ngãi đã phê duyệt 6 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng thuộc các lưu vực thủy điện: Nước Trong, Cà Đú, Sông Riềng, Hà Nang, Định Bình và Đắkđrinh, với diện tích được quy hoạch là trên 35.000ha đất lâm nghiệp. Trong đó, diện tích đủ điều kiện được chi trả dịch vụ môi trường rừng là gần 19.000ha, thuộc phạm vi quản lý của 5 Ban Quản lý rừng phòng hộ, 1 công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp. Quỹ cũng đã chi trả cho các chủ rừng với số tiền lên tới hơn 1 tỷ đồng.
Có thể khẳng định, chính sách chi trả dịch vụ bảo vệ rừng đã góp phần giảm gánh nặng ngân sách đối với công tác bảo vệ và phát triển rừng tại các địa phương; tạo sinh kế lâu dài cho người dân tại những khu vực có rừng và duy trì ổn định lực lượng giữ rừng ở cơ sở, hướng đến phát triển diện tích rừng nguyên sinh. (Công An Nhân Dân 18/7) đầu trang(
Những năm gần đây, nhờ triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ về chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, đồng bào dân tộc thiểu số vùng biên giới ven sông Đà, tỉnh Lai Châu đã có thêm thu nhập, góp phần ổn định cuộc sống. Người dân đã gắn quyền lợi của bản thân với bảo vệ và phát triển rừng.
Bản Tó Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu có 46 hộ với 100% là đồng bào dân tộc Hà Nhì. Người dân ý thức được rằng trách nhiệm của việc bảo vệ rừng là bảo vệ quyền lợi của chính mình. Vì thế, cứ 3 - 5 ngày lại có một nhóm gồm 5 người thay phiên nhau kiểm tra rừng, phát đường băng cản lửa, kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều hộ trong bản đã tham gia trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc.
Ông Lỳ Vù Xá, Trưởng bản Tó Khò, xã Mù Cả, huyện Mường Tè cho biết: Riêng bản Tó Khò mấy năm trở lại đây không xảy ra các vụ cháy rừng. Năm 2015, mỗi hộ được trả trên 20 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Người dân trong bản ý thức được rằng, rừng phát triển thì Nhà nước mới hỗ trợ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng.
Đối với người dân bản vùng sâu Mé Gióng, xã biên giới Ka Lăng, huyện Mường Tè, kinh tế rừng đã giúp họ có cuộc sống bớt khó khăn hơn. Trước đây, gia đình anh Pờ Lâm Sơn ở bản Mé Gióng cùng với các hộ người dân tộc Hà Nhì trong bản thường đi rừng xẻ gỗ bán lấy tiền, phá rừng làm nương.
Nhưng từ khi được Nhà nước hỗ trợ chi trả dịch vụ môi trường rừng, cuộc sống của gia đình anh Sơn và nhiều hộ đã thay đổi rõ nét, việc chặt phá rừng làm nương rẫy không còn. Anh Sơn và các hộ dân đã tham gia vào tổ bảo vệ rừng.
Có tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, cuộc sống gia đình anh cũng ổn định hơn. Với số tiền từ trồng rừng và dịch vụ môi trường rừng mang lại mỗi năm, gia đình anh và nhiều hộ khác đã có điều kiện mua sắm thêm vật dụng sinh hoạt, phụ nuôi con ăn học.
Ông Tống Văn Dương, Phó Chủ tịch UBND huyện Mường Tè cho biết: Nghị định 99 của Chính phủ về việc chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai ở huyện Mường Tè đã nâng cao được ý thức, trách nhiệm của các cấp ủy chính quyền ở địa phương và người dân về bảo vệ rừng. Hàng năm vi phạm về bảo vệ phát triển rừng đã giảm rất nhiều. Ý thức trách nhiệm của nhân dân cũng như các cán bộ, cấp ủy chính quyền được nâng lên. (Tin Tức 20/7) đầu trang(
Thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã tích cực giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để bà con trên dãy Trường Sơn ổn định đời sống và thoát nghèo bền vững. Tuy nhiên, để phát huy tốt hiệu quả đất lâm nghiệp, bà con rất cần Nhà nước hỗ trợ làm đường phục vụ đi lại sản xuất.
Tại xã biên giới Trường Sơn, huyện Quảng Ninh, trước đây 96% diện tích đất lâm nghiệp của xã do Công ty Lâm công nghiệp Long Đại quản lý, khai thác. Với sự nỗ lực từ phía chính quyền và doanh nghiệp, đến nay gần 3.000 ha rừng tự nhiên đã được bóc tách và giao lại cho người dân quản lý, bảo vệ.
Theo Phó Chủ tịch UBND huyện Quảng Ninh Nguyễn Ngọc Thụ, sau khi bà con nhận rừng và đất rừng, huyện Quảng Ninh hỗ trợ cây giống, hướng dẫn các thôn, bản xây dựng quy ước bảo vệ rừng, lấy cộng đồng dân cư làm nòng cốt. Đất rừng giao đến từng hộ dân, bà con trồng keo, tràm xen với cây sắn, đậu xanh để lấy ngắn nuôi dài.
Bản Cổ Tràng, xã Trường Sơn được giao gần 210 ha rừng tự nhiên có trữ lượng gần 33.000m3 gỗ để quản lý, bảo vệ theo mô hình rừng cộng đồng. Được giao rừng, bản thành lập ban quản lý rừng cộng đồng gồm 7 thành viên, đứng đầu là trưởng bản.
Ban quản lý có nhiệm vụ vừa tuyên truyền, vận động dân bản không chặt phá rừng trái phép, vừa tuần tra bảo vệ rừng. Số tiền bảo vệ rừng 200 nghìn đồng/ha (hỗ trợ trong 6 năm) được ban quản lý rừng cộng đồng bản chi trả cho hoạt động bảo vệ rừng. Mỗi chuyến tuần tra rừng, mỗi thành viên được trả 100-200 nghìn đồng.
Trưởng bản Cổ Tràng Hồ Văn Bền phấn khởi nói: “Nhận rừng Nhà nước giao cho cộng đồng, cả bản vui lắm. Dân bản thay nhau canh rừng để không bị kẻ xấu chặt phá”.
Khi trao đổi về vấn đề giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng chí Phan Mạnh Hùng, Bí thư Huyện ủy Quảng Ninh cho rằng, đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở những nơi đất đai rộng lớn nhưng lại thiếu đất sản xuất, cuộc sống khó khăn, trong khi các công ty lâm nghiệp, các lâm trường lại chiếm phần lớn diện tích đất rừng và nhiều nơi sử dụng không hiệu quả.
Vì thế, việc điều chỉnh lại diện tích đất rừng và rừng để giao một phần cho hộ dân quản lý, sản xuất là vấn đề luôn được địa phương quan tâm. Nhiệm kỳ vừa qua, Đảng bộ Quảng Ninh đã xây dựng nghị quyết chuyên đề về ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2011-2015; trong đó chú trọng công tác giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hộ gia đình.
Theo đồng chí Bí thư Huyện ủy Quảng Ninh, đến nay, huyện đã giao gần 2.905 ha rừng tại hai xã miền núi là Trường Sơn và Trường Xuân. Được giao đất, giao rừng, đồng bào yên tâm sản xuất, bảo vệ, ổn định cuộc sống, tình trạng phá rừng như trước đây giảm hẳn.
Gần 10 năm trước, gia đình chị Hồ Thị Thế, bản Cây Bông, xã Kim Thuỷ, huyện Lệ Thủy là hộ nghèo; nguyên nhân là do thiếu đất sản xuất. Được địa phương khuyến khích, gia đình chị khai hoang được gần 4 ha đất để trồng keo, mua trâu về nuôi. Có kinh nghiệm và tích lũy được vốn, chị tiếp tục được ưu tiên nhận đất để trồng rừng. Đến nay, gia đình chị Hồ Thị Thế có 20 ha rừng keo, 2 ha cao-su, nuôi 7 con trâu, một ao cá và làm 0,5 ha lúa nước... Bình quân mỗi năm gia đình chị thu nhập gần 160 triệu đồng, vươn lên trở thành hộ khá của bản.
Cũng như gia đình chị Thế, gia đình anh Hồ A Lai là một trong những hộ trồng rừng nhiều nhất xã Kim Thủy, với 50 ha. Hiện anh đang khai thác dần 25 ha keo lai với giá 50 triệu đồng/ha, thu về hàng trăm triệu đồng. Anh Hồ A Lai cho biết, từ tiền lãi thu hoạch rừng trồng, anh đầu tư xây dựng mô hình trang trại tổng hợp để phát huy tiềm năng vùng đất bán sơn địa này.
Phó Chủ tịch UBND xã Kim Thủy Hồ Văn Xoan cho biết, toàn xã đã trồng được hơn 3.000 ha keo tràm. Nhờ trồng rừng, hàng chục hộ dân ở các bản như Cây Khế, Cây Bông, Cầu Kiềng...thoát đói nghèo. “Thời gian tới, xã Kim Thủy tiếp tục tạo điều kiện để người dân mở rộng diện tích trồng rừng, kết hợp chăn nuôi để xóa đói giảm nghèo”- ông Hồ Văn Xoan khẳng định.
Theo lãnh đạo Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết, từ năm 2012 đến cuối năm 2015, tỉnh Quảng Bình đã thu hồi 8.326 ha đất của các nông, lâm trường giao về các huyện quản lý và xét giao đất ổn định cho các hộ dân, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Các huyện lập phương án, làm thủ tục giao đất cho các hộ dân trên tinh thần khu vực dễ giao trước, khó giao sau; khu vực khó khăn không có kinh phí đo đạc thì giao đất thực địa cho người dân ổn định sản xuất trước, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau.
Ngoài ra, Dự án bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng, đã hỗ trợ thủ tục giao đất, giao rừng cho cộng đồng và các hộ gia đình quản lý tại 10 xã vùng đệm Phong Nha. Đến cuối năm 2015, dự án đã giao gần 6.300 ha rừng và đất rừng cho 21 cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ. Thực tế cho thấy, rừng giao cho cộng đồng được bảo vệ, quản lý tốt và người dân cũng có thu nhập từ hoạt động bảo vệ rừng.
Bên cạnh kết quả đạt được thì vẫn còn số ít hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất hoặc đất đã làm thủ tục nhưng chưa giao được trên thực địa. Trao đổi về vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND huyện Lệ Thủy Võ Văn Sơn cho biết, nguyên nhân của việc chậm trễ trong vấn đề cấp đất sản xuất cho đồng bào là do nhiều diện tích bóc tách từ các lâm trường chủ yếu là rừng tự nhiên nằm ở vùng có khe suối, núi đá, không có đường đi.
Ngoài ra, một số diện tích rừng đang trong thời gian hợp đồng giữa các lâm trường với các hộ dân hoặc tài sản trên đất chưa giải quyết nên việc giao đất sản xuất cho người dân gặp khó khăn. Bên cạnh đó, cán bộ lãnh đạo một số xã chưa vào cuộc quyết liệt cũng là nguyên nhân làm chậm tiến độ cấp đất sản xuất cho hộ dân.
Mặt khác, qua tìm hiểu chúng tôi được biết, diện tích sau bóc tách để giao cho người dân nằm xen kẽ trong diện tích rừng phòng hộ, hoặc rừng sản xuất do Nhà nước và các công ty lâm công nghiệp quản lý, vì vậy việc tổ chức sản xuất gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nhân làm tiến độ giao đất sản xuất cho người dân chậm là do việc xử lý tài sản trên đất sau thu hồi của các doanh nghiệp và điều tra hiện trạng, chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng tự nhiên sang rừng trồng còn chậm. Mặt khác có nhiều khu đất được giao chưa có đường đi. Nguyện vọng của người dân là mong muốn Nhà nước hỗ trợ đầu tư mở đường cho bà con đi lại sản xuất thuận tiện.
Để giải quyết các vướng mắc trên, UBND tỉnh đã chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân ổn định sản xuất, đồng thời kiểm tra các diện tích đất đã giao nhưng chưa sử dụng để chấn chỉnh; kịp thời giải quyết phần chi phí đầu tư trên đất đối với diện tích thu hồi có rừng trồng của các doanh nghiệp để sớm giao đất cho các hộ dân còn thiếu.
Mặc dù ngân sách địa phương rất khó khăn nhưng năm 2015, UBND tỉnh đã quyết định chi trả gần 500 triệu đồng cho một doanh nghiệp thuê đất trồng cao su để thu hồi hơn 12ha đất lâm nghiệp giao lại cho 12 hộ đồng bào Vân Kiều ở bản Nà Lâm, xã Trường Xuân (huyện Quảng Ninh), nhằm chấm dứt cơn “khát” đất sản xuất nhiều năm nay của bà con.
Có thể nói, đến nay việc giao đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trong tỉnh về cơ bản được giải quyết theo nhu cầu, đã góp phần quan trọng giúp bà con vươn lên thoát đói nghèo. (Báo Quảng Bình 18/7) đầu trang(
Tin từ Phòng NN&PTNT huyện Phù Mỹ, để phục vụ nhu cầu trồng rừng Thu Đông 2016, các cơ sở sản xuất cây giống lâm nghiệp trên địa bàn huyện đã và đang chuẩn bị gần 55 triệu cây giống, tăng 10% so với năm 2015, chủ yếu là keo lai giâm hom, phấn đấu đảm bảo chất lượng xuất vườn khi thời vụ đến, phục vụ nhu cầu trồng rừng trong và ngoài huyện.
Được biết, hiện nay trên địa bàn huyện Phù Mỹ có 14 cơ sở sản xuất, kinh doanh cây giống lâm nghiệp, nhiều hơn so với năm trước. Các cơ sở đều có đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh cây giống lâm nghiệp được Sở NN&PTNT ra quyết định công nhận về chất lượng nguồn giống. (Báo Bình Định 19/7) đầu trang(
Theo Sở NN-PTNT, hiện trên địa bàn tỉnh đang triển khai dự án Trồng rừng phòng hộ ven biển tỉnh giai đoạn 2015-2020 thuộc Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu, với tổng mức đầu tư hơn 51,3 tỉ đồng; trong đó vốn Chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu là 47 tỉ đồng, còn lại là vốn đối ứng từ ngân sách tỉnh.
Dự án này được triển khai trên địa bàn các huyện Đông Hòa, Tuy An và TX Sông Cầu. Sau khi kết thúc dự án, các địa phương có trách nhiệm xây dựng phương án giao rừng, cho thuê rừng cho hộ gia đình quản lý, bảo vệ và hưởng lợi theo quy chế quản lý rừng hiện hành. Đối với diện tích rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ quản lý cũng được phép giao khoán cho hộ gia đình, cá nhân tại chỗ, cộng đồng thôn, buôn (kể cả rừng phòng hộ và rừng sản xuất) để quản lý bảo vệ và hưởng lợi theo quy định.
Đến nay, Sở NN-PTNT đã thẩm định được 10 hồ sơ thiết kế trồng rừng với diện tích hơn 440ha, trong đó Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Cầu hơn 286,8ha, diện tích của địa phương khác quản lý khoảng 153,2ha. (Báo Phú Yên 20/7) đầu trang(
Với diện tích vùng gò đồi rộng lớn, Bố Trạch là địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế từ rừng trồng.
Trong những năm gần đây, từ các chính sách khuyến lâm, giao đất, giao rừng... hiệu quả kinh tế từ rừng trồng trên địa bàn huyện Bố Trạch đã được khẳng định, đời sống của người dân từng bước được nâng cao.
Theo số liệu từ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bố Trạch, toàn huyện hiện có 171.485 ha đất lâm nghiệp, trong đó diện tích rừng sản xuất 60.301 ha. Nhận thấy vai trò quan trọng của rừng trong đời sống của người dân và hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng đem lại, những năm gần đây, huyện Bố Trạch đã không ngừng phát triển diện tích rừng trồng; chú trọng giao đất, giao rừng về cho địa phương để giao về cho hộ gia đình quản lý, sử dụng. Huyện đã hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng ở xã Xuân Trạch (phần diện tích 501 ha cắt từ Chi nhánh lâm trường Bố Trạch) và đã giao được 597,3 ha cho người dân tại 5 bản của xã Thượng Trạch.
Cùng với đó, công tác giao rừng cộng đồng được đẩy nhanh tiến độ... Nhờ đó đến nay, diện tích rừng trồng trên địa bàn huyện đạt trên 21.706 ha với các loại cây trồng chủ lực như thông nhựa 5.476 ha, keo 14.755 ha, số còn lại là các loại cây khác...
Trong số 30 xã, thị trấn trên địa bàn, nói đến tiềm năng rừng trồng của huyện Bố Trạch phải kể đến 2 xã Lâm Trạch và Liên Trạch, bởi đây là 2 xã nằm khá tách biệt, không thuộc hệ thống các xã vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; người dân nơi đây chủ yếu canh tác nông nghiệp và sống nhờ vào rừng.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Sỹ Phúc, Chủ tịch UBND xã Lâm Trạch cho biết: Lâm Trạch là xã miền núi đặc biệt khó khăn với trên 85% số hộ gia đình sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, với đặc thù địa hình vùng đồi núi, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn. Hạn hán vào mùa khô khiến người dân địa phương không thể tiến hành gieo cấy vụ hè-thu, trồng trọt chỉ bảo đảm được an ninh lương thực cho bà con trong vòng 8 tháng đầu năm.
Hiện nay, lợi thế duy nhất của địa phương là có diện tích đất lâm nghiệp lớn với trên 2.200 ha rừng trồng; trong đó có 600 ha thông nhựa, phần còn lại là keo và bạch đàn. Với mức thu nhập từ 25 triệu – 30 triệu/ha keo và 19 triệu đồng/tấn nhựa thông, trồng rừng đã và đang góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập đáng kể cho người dân địa phương. Cũng vì lẽ đó, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng và cũng là yếu tố quyết định để xã Lâm Trạch từng bước giảm nghèo bền vững.
Sau Lâm Trạch, xã Liên Trạch là địa phương đứng thứ 2 toàn huyện với 1.949 ha rừng trồng. Toàn xã có 5 thôn, trong đó có 3 thôn gồm Phú Hữu, Tân Hội và Phú Kinh phát triển mạnh diện tích rừng trồng với loại cây chủ yếu là thông nhựa. Hiện diện tích thông nhựa trên địa bàn đang vào vụ khai thác, với giá bán 1,9 triệu đồng/tạ nhựa thông, mỗi tuần người dân có thể thu lãi từ 1,5 đến 2 triệu đồng từ loại cây này.
Từ rừng trồng, nhiều hộ dân đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng. Tiêu biểu như hộ gia đình anh Nguyễn Văn Tiến (thôn 2) và anh Đinh Văn Hà (thôn 6) xã Lâm Trạch; anh Hoàng Trọng Bằng, thôn Phú Kinh, xã Liên Trạch...
Cùng với các địa phương, các doanh nghiệp lâm nghiệp cũng tích cực đầu tư trồng rừng. Lâm trường Bố Trạch hiện đang sở hữu 618,54 ha rừng trồng. Trong những năm gần đây, nhận thấy những ưu thế vượt trội của cây keo như thời gian sinh trưởng nhanh, có tác dụng cải tạo đất, hiệu quả kinh tế cao lại thích hợp với mọi địa hình, kể cả địa hình có độ dốc lớn, đất xấu..., lâm trường đã mạnh dạn chuyển đổi cơ cấu rừng trồng, tập trung chủ yếu vào cây keo.
Trung bình 1 ha keo khai thác sẽ thu về trên dưới 30 triệu đồng, chưa kể lượng dăm gỗ tận dụng từ việc khai thác keo có thể xuất ra thị trường với giá gần 1 triệu đồng/tấn. Hiện nay, thị trường có nhu cầu thu mua keo khá lớn, giá cả lại ổn định nên trồng keo được coi là hướng đi đem lại nhiều hiệu quả kinh tế.
Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Cẩm Long, Phó trưởng Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bố Trạch cho biết: Từ đầu năm đến nay, khai thác gỗ rừng trồng trên địa bàn huyện đạt 248,9 ha với sản lượng gỗ, củi đạt 8.194 ster; ước tính giá trị thu được trên 6,3 tỷ đồng. Không chỉ có giá trị kinh tế, rừng trồng còn góp phần cải thiện đáng kể môi trường sinh thái. Với mục tiêu phát triển rừng bền vững, phấn đấu đưa độ che phủ rừng đạt tỷ lệ 82% (năm 2016), huyện Bố Trạch đề ra chỉ tiêu mỗi năm trồng mới 400 ha rừng tập trung.
Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm nay, diện tích trồng mới tập trung trên địa bàn huyện Bố Trạch đạt 300,25 ha; trồng cây phân tán các loại đạt 30.000 cây. Để khai thác tiềm năng đất đai, lao động, phát huy cao hơn nữa giá trị của rừng, thời gian tới, huyện Bố Trạch chủ trương kiểm soát tốt chất lượng cây giống lâm nghiệp; định hướng các doanh nghiệp, hộ gia đình cải tiến kỹ thuật, đầu tư trồng rừng gỗ lớn, tăng năng suất, hiệu quả kinh tế. Đồng thời tiếp tục thu hút đầu tư các dự án chế biến gỗ gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu, bảo đảm phát triển bền vững...
Hiện huyện Bố Trạch đang tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai hỗ trợ giống keo lai nuôi cấy mô cho các địa phương theo chính sách của tỉnh, dự kiến năm nay toàn huyện sẽ hỗ trợ trồng mới được hơn 16.000 cây keo lai nuôi cấy mô.
Với những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và thế mạnh về diện tích đất rừng, trồng rừng đã và đang là hướng đi bền vững, nhiều tiềm năng cho huyện Bố Trạch. (Báo Quảng Bình 19/7) đầu trang(
UBND TP Hà Nội đã ban hành Quyết định số 3906/QĐ-XPVPHC về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đối với ông Nguyễn Minh Dương, thôn Cổ Châu, xã Vân Hà, huyện Đông Anh.
Theo đó, UBND TP Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Minh Dương đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Cất giữ trái quy định của pháp luật 5 hộp gỗ gụ lau xẻ khối lượng 3,216 m3 gỗ xẻ (5,150 m3 gỗ quy tròn) thuộc nhóm gỗ nguy cấp, quý hiếm (nhóm gỗ IIA).
Qua xác minh không có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp; bị Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 3 (Chi cục Kiểm lâm Hà Nội) phối hợp với Phòng 3 - Cục Cảnh sát môi trường PC49 (Bộ Công an) tạm giữ, ngày 12/6/2016, tại bãi gỗ thôn Cổ Châu, xã Vân Hà, huyện Đông Anh. Hành vi trên đã vi phạm quy định tại Điểm đ, Khoản 6, Điều 23, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ ban hành “Quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản”.
Cụ thể, phạt tiền: 75 triệu đồng về hành vi vi phạm hành chính cất giữ trái quy định của pháp luật 5 hộp gỗ gụ lau xẻ khối lượng 3,216 m3 gỗ xẻ (5,150 m3 gỗ quy tròn) nêu trên theo quy định tại Điểm đ, Khoản 6, Điều 23, Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ. Tịch thu toàn bộ 5 hộp gỗ gụ lau xẻ khối lượng 3,216 m3 gỗ xẻ (5,150 m3 gỗ quy tròn) nêu trên, sung công quỹ Nhà nước theo quy định.
Ông Nguyễn Minh Dương phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử phạt này; nếu không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành. Ông Nguyễn Minh Dương nộp đủ số tiền phạt vào Kho bạc nhà nước Hà Nội trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt. Ông Nguyễn Minh Dương có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính đối với quyết định này theo quy định của pháp luật. (Kinh Tế Và Đô Thị 19/7) đầu trang(
Phát hiện của C49B Bộ Công an về việc núp bóng tận thu lâm sản rừng nghèo để khai thác gỗ ở huyện Bảo Lâm (Lâm Đồng) đã khiến tỉnh này phải dừng toàn bộ các dự án tận thu lâm sản rừng tự nhiên để kiểm tra.
Ngày 19/7, UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết đã có văn bản chỉ đạo Sở NN&PTNT: đối với các dự án trên diện tích rừng tự nhiên, nếu chưa cấp phép khai thác rừng để tận thu, tận dụng gỗ thì tạm dừng cấp phép; nếu đã cấp phép mà chưa thực hiện thì dừng các nội dung đã ghi trong giấy phép; nếu đã cấp phép và đang thực hiện thì dừng khai thác để kiểm tra, xem xét từng trường hợp cụ thể.
Đặc biệt phải dừng ngay việc khai thác tận dụng lâm sản trong cải tạo rừng nghèo kiệt để trồng rừng kinh tế, trồng rừng cao su của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm) để Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C49B) Bộ Công an và các cơ quan chức năng của tỉnh Lâm Đồng tiến hành điều tra.
Trước đó, C49B trinh sát phát hiện tại vùng lõi của khu rừng tự nhiên xã Lộc Bắc có một diện tích lớn rừng bị khai thác gỗ nên đã lập kế hoạch điều tra. Ngày 10/7, tổ công tác thuộc C49B và Công an tỉnh Lâm Đồng đi xuyên qua rừng nguyên sinh phát hiện bãi tập kết gỗ lớn ở tiểu khu 398. Hàng trăm cây gỗ lớn nhỏ nằm la liệt, trong đó có những cây hiếm nhiều năm tuổi. Xen lẫn giữa số cây có dấu búa của kiểm lâm có nhiều cây gỗ không rõ nguồn gốc, không được xác nhận về chủng loại.
Theo điều tra ban đầu của các cơ quan chức năng, Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Lộc Bắc (đơn vị quản lý rừng) đã giao cho Công ty TNHH Thành Chí tại thành phố Bảo Lộc khai thác tận thu lâm sản từ rừng tự nhiên (rừng nghèo) để trồng cây cao su. Thế nhưng thực tế có vùng rừng đã bị khai thác không phải rừng nghèo; đó là chưa kể việc tiến hành khai thác mà chưa có báo cáo tác động môi trường. Một cán bộ Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng cho biết đã từng trả hồ sơ cho đơn vị này vì trong đó không có đánh giá tác động môi trường rồi sau đó họ vẫn làm được.
Giám đốc Sở NN&PTNT Nguyễn Văn Sơn nhận định trường hợp đã và đang diễn ra ở Cty TNHH MTVLN Lộc Bắc có dấu hiệu nghiêm trọng. C49B đang chủ trì cùng các cơ quan chức năng của địa phương kiểm tra hiện trường 2 quyết định cấp phép khai thác rừng, xác minh làm rõ những sai phạm để xử lý theo quy định pháp luật. (Tiền Phong 19/7) đầu trang(
“Chưa có đầu ra, nhận thức về phát triển rừng từ người dân chưa cao, mâu thuẫn giữa phát triển lâm nghiệp và nông nghiệp, là 3 cái khó lớn nhất trong phát triển lâm nghiệp ở Si Ma Cai hiện nay”, ông Lê Xuân Hợp, Trưởng Ban Quản lư rừng pḥng hộ huyện Si Ma Cai chia sẻ.
Những năm gần đây, việc đầu tư sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện Si Ma Cai được quan tâm nhiều hơn, được người dân hưởng ứng mạnh mẽ; nhận thức của một bộ phận nhân dân về kinh tế lâm nghiệp thay đổi theo chiều tích cực. Tỷ lệ che phủ rừng ở huyện Si Ma Cai tăng từ 27% (năm 2010) lên 35,5% (năm 2016). Tuy nhiên, so với toàn tỉnh, tỷ lệ che phủ rừng của Si Ma Cai vẫn ở mức thấp.
Huyện Si Ma Cai có diện tích tự nhiên hơn 200 km², đồng bào các dân tộc trên địa bàn chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, phần lớn diện tích đất dành cho trồng cây lương thực, nên đất lâm nghiệp không c̣n nhiều.
Theo quy hoạch, diện tích đất có độ dốc lớn hơn 25o sẽ dành cho lâm nghiệp, nhưng do thiếu đất sản xuất nên nhiều hộ dân trong huyện vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc lớn hơn 25o với đặc tính là xói ṃn mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn (thường chỉ gieo trồng được 2 - 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, th́ chất lượng đất đă giảm mạnh).
Ngoài ra, huyện Si Ma Cai c̣n là địa phương có t́nh h́nh phát triển chăn nuôi gia súc rất khả quan (hiện, mức b́nh quân gia súc/người dân tại Si Ma Cai đang cao nhất so với các huyện, thành phố, với 2,5 gia súc/người dân). Số lượng gia súc lớn, diện tích trồng cỏ thấp, nhiều hộ vẫn duy tŕ thói quen thả rông trâu, ḅ, ngựa đă kéo theo mâu thuẫn giữa phát triển chăn nuôi và trồng rừng.
Ông Lê Xuân Hợp cho biết thêm: “Về phát triển lâm nghiệp, hiện trên địa bàn huyện chưa có cơ sở chế biến gỗ rừng trồng, sản phẩm gỗ chủ yếu phục vụ nhu cầu nhỏ lẻ của người dân, hoặc tiêu thụ ở địa phương khác, nên lợi nhuận không cao. Ví dụ đơn giản nhất, vận chuyển 10 m³ gỗ từ Si Ma Cai đến thành phố Lào Cai để tiêu thụ, th́ giá trị sản phẩm có thể tăng đến 2 lần, điều này dẫn đến mất đi lợi thế cạnh tranh”. Vậy nên, người dân Si Ma Cai vẫn chưa thực sự mặn mà với nghề rừng.
Để hoàn thành mục tiêu phát triển lâm nghiệp, ngành lâm nghiệp huyện Si Ma Cai đă tích cực phối hợp với các cấp chính quyền đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Nhờ đó, những năm gần đây, ý thức của người dân đối với việc trồng rừng và bảo vệ rừng đã dần được nâng cao.
Thay vì phá rừng để lấy đất canh tác, thả rông gia súc, nhiều hộ dân đã trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc, trồng cỏ và thiết lập thói quen nuôi nhốt, hạn chế thả rông gia súc gây ảnh hưởng đến cây rừng. Do đó, hằng năm diện tích rừng trồng của huyện Si Ma Cai đều vượt kế hoạch đề ra.
Là một trong những hộ dân mạnh dạn chuyển đổi đất đồi sang trồng rừng, anh Vàng Seo Phừ, thôn Say Sán Phìn, xã Mản Thẩn cho biết: “Trồng ngô năm được năm mất, cũng chỉ đủ ăn qua mỗi vụ, gia đ́nh tôi xác định, muốn phát triển kinh tế lâu dài thì không thể dựa vào trồng ngô. Những năm trước gia đình tôi trồng cây trẩu, cây sơn tra xen với nương ngô, năm vừa qua, những cây trồng này đă cho thu hoạch quả, thu nhập tăng thêm mỗi năm gần 10 triệu đồng”.
Cũng như gia đ́nh anh Phừ, những cây trồng cho thu lâm sản phụ, có thể bán quả, hạt để tăng thu nhập đang được nhiều người dân trên địa bàn lựa chọn đưa vào trồng. Theo tính toán, ngoài sản phẩm gỗ, hằng năm một cây sơn tra hoặc cây trẩu 5 năm tuổi có thể cho thu hoạch khoảng 50 kg quả, với mức giá trung bình 10.000 đồng/kg, người dân có thể thu về vài chục triệu đồng mỗi năm từ 1 ha cây lâm nghiệp.
Việc phát triển cây lâm nghiệp gắn với những cây trồng cho thu lâm sản phụ cũng chính là định hướng cho việc trồng rừng những năm tới của huyện Si Ma Cai. Qua rà soát thiết kế hồ sơ trồng rừng, bên cạnh những cây trồng như quế, sa mộc, xoan ta, thì trẩu và sơn tra là những cây trồng được nhiều hộ dân đăng ký giống. Để phục vụ nhu cầu trồng rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện đã chủ động ươm bầu cây con, dự trữ hạt giống theo nhu cầu của người dân. (Báo Lào Cai 20/7) đầu trang(
Ngành gỗ Việt Nam đang đối mặt với nhiều khó khăn, cùng việc Anh rời khỏi EU được dự báo sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới xuất khẩu gỗ của ngành này.
Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu dăm gỗ cũng đang sụt giảm mạnh. Trong 2 ngày 14 và 15.7, liên tiếp 2 cuộc hội thảo và tọa đàm “Brexit và tác động tới ngành gỗ Việt Nam” và “Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ: Những thách thức mới” được tổ chức tại Hà Nội đã nói lên thực trạng ngành gỗ.
Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, Việt Nam là một trong ba quốc gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ nhiều nhất vào Anh (bên cạnh Indonesia và Malaysia). Trong EU, Anh là thị trường lớn nhất nhập khẩu các sản phẩm gỗ của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm khoảng 35-36% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU.
Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam sang EU đạt khoảng 900 triệu USD; trong đó riêng sang Anh 270 triệu USD (chiếm 4% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam).
Đối với thị trường Anh, ông Trần Huy Lê - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định - đánh giá, đây là thị trường quan trọng thứ hai sau Đức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ Bình Định. Hiện là thời điểm quan trọng để doanh nghiệp chào bán hàng. Việc Anh rời khỏi EU đã có tác động tới các đơn hàng của các doanh nghiệp. Đã có những khách hàng yêu cầu giảm giá từ 5-7%, đáng sợ hơn là có khách hàng đòi giảm đơn hàng.
Theo ông Tô Xuân Phúc - chuyên gia phân tích chính sách Tổ chức Forest Trends, sự kiện Brexit gây mất giá đồng bảng Anh, tác động tiêu cực đến thị trường tài chính của Anh cũng như của các nước khác trong khu vực EU. Điều này gây tác động tiêu cực đến giá xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam.
Giảm sức mua từ Anh cũng như các nước khác trong khối EU nói chung và sự sụt giảm nhu cầu trong ngành công nghiệp xây dựng nhà cửa tại Anh sẽ có tác động trực tiếp đến ngành gỗ của Việt Nam.
“Nói cách khác, nhu cầu đối với các sản phẩm gỗ nhập khẩu vào Anh, bao gồm cả các sản phẩm gỗ nhập khẩu từ Việt Nam, chắc chắn sẽ giảm trong tương lai”, ông Tô Xuân Phúc nói.
Theo ông Tô Xuân Phúc, các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần cập nhật thông tin và có những giải pháp ứng phó với các kịch bản thị trường khác nhau. Bởi trong tương lai có thể sẽ có những thay đổi về thuế, những biến động về tỉ giá, thay đổi về thủ tục và phí hải quan, cũng như các thay đổi quy định và các tiêu chuẩn hiện đang được EU áp dụng.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), kim ngạch và lượng xuất khẩu dăm gỗ của năm 2016 suy giảm nghiêm trọng, và điều này đang làm phát sinh những lo ngại, đặc biệt trong khối các doanh nghiệp dăm và các cơ quan quản lý.
“Điều đáng chú ý là, xuất khẩu dăm những tháng đầu năm nay không chỉ giảm về lượng và giá trị mà còn giảm về số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường xuất khẩu. Cụ thể, trong 5 tháng qua, chỉ có 64 doanh nghiệp tham gia thị trường xuất khẩu, giảm sâu từ con số 101 doanh nghiệp trước đó”, ông Đặng Việt Quang - Tổ chức Forest Trends - cho biết.
“Nếu từ nay đến cuối năm, xu hướng này không thay đổi, ngành chế biến và xuất khẩu dăm của Việt Nam tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn và kim ngạch xuất khẩu cả năm 2016 chỉ đạt trên dưới 600 triệu đôla Mỹ, bằng khoảng 1/2 kim ngạch của năm 2015”, theo báo cáo của Vifores.
Cũng theo ông Tô Xuân Phúc, hiện lượng dăm tồn, không xuất khẩu được tại Việt Nam đang rất lớn. Sự sụt giảm nghiêm trọng lượng dăm gỗ xuất khẩu đang và sẽ tiếp tục tác động tiêu cực, không chỉ với các doanh nghiệp xuất khẩu, mà còn tác động đến hàng trăm nghìn hộ gia đình, bao gồm nhiều hộ dân nghèo, là nguồn cung nguyên liệu đầu vào cho ngành dăm và hàng trăm nghìn lao động khác tham gia các khâu của chuỗi cung ứng.
Các doanh nghiệp và chuyên gia trong ngành nhận định, nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự sụt giảm nghiêm trọng kim ngạch xuất khẩu dăm là do yếu tố thị trường. Nhu cầu mặt hàng bột giấy trên thế giới, đặc biệt tại thị trường Trung Quốc giảm mạnh.
Trung Quốc là thị trường nhập khẩu dăm gỗ lớn nhất của Việt Nam, nhu cầu của Trung Quốc giảm dẫn đến tụt giảm cả về giá và lượng xuất khẩu dăm của Việt Nam trong năm 2016. Hiện xu hướng giảm này chưa có dấu hiệu chững lại. Bên cạnh đó, nguồn cung nguyên liệu từ Thái Lan đang tăng mạnh do cây đến chu kỳ khai thác. (Lao Động 20/7) đầu trang(
Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ giảm sút mà nguồn cung lại tăng lên, hầu hết DN dăm gỗ đánh giá, mặc dù không phải nguyên nhân mấu chốt, song việc thuế XK dăm gỗ được điều chỉnh lên 2% từ đầu năm nay cũng là một trong những yếu tố làm cho các DN thêm khó khăn.
Đa phần DN mong muốn, thời gian tới cơ quan chức năng sẽ xem xét lại, miễn hoặc trì hoãn việc áp thuế.
Theo ông Bùi Phi Yển, Tổng giám đốc Công ty TNHH Liên doanh nguyên liệu giấy Huế: Thuế suất 2% được áp dụng kể từ ngày 1-1-2016 đối với mặt hàng dăm gỗ XK đã gây thiệt hại khá lớn cho các DN trong ngành chế biến, XK dăm gỗ, đặc biệt là đối với lượng hàng tồn kho chưa kịp giải phóng hết.
“Ước tính, đến thời điểm áp thuế, bình quân mỗi DN XK dăm gỗ có lượng tồn kho khoảng 10.000-15.000 BDMT (khối lượng dăm gỗ khô). Khi bị áp thuế XK 2%, các DN mất đi khoảng 2-3 USD/một đơn vị sản phẩm, tương đương thiệt hại từ 30.000-45.000 USD. Tính riêng khu vực miền Trung, với tổng lượng tồn kho của các DN tại thời điểm áp thuế có thể lên đến hàng trăm nghìn BDMT thì thiệt hại sẽ lên tới hàng trăm nghìn USD”, ông Yển nói.
Cũng theo ông Yển, cùng thời điểm tăng thuế XK, nhu cầu thị trường giảm sút, giảm giá nên DN rơi vào cảnh thiệt đơn thiệt kép. Các DN ngành dăm khá chật vật khi đàm phán các hợp đồng mua bán với khách hàng do giá thành trong nước cao mà chất lượng ngày càng giảm. Khách hàng có xu hướng chuyển dịch sang mua dăm gỗ tại các nước khác như Australia, Indonesia…
Xung quanh vấn đề này, ông Lưu Văn Chánh, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Liên doanh Cát Phú Nha Trang cho biết: Là DN hoạt động trong lĩnh vực trồng và chế biến cây nguyên liệu giấy XK gần 20 năm, hiện nay DN đã đầu tư trồng tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ 4.000 ha rừng.
Suốt thời gian dài, DN nhận thấy ngành dăm gỗ đã góp phần làm thay đổi diện mạo của khu vực nông thôn, miền núi, giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho hàng vạn lao động nông nhàn, nâng cao độ che phủ rừng. Tuy nhiên, từ đầu năm 2016, thuế suất XK mặt hàng dăm gỗ được điều chỉnh từ 0% lên 2% đã gây khó khăn trực tiếp cho khoảng 130 DN chế biến dăm gỗ, mà xét tới cùng chính là gây khó khăn cho các hộ gia đình, đồng bào dân tộc thiểu số tham gia trồng rừng.
“Hạn chế sự phát triển của ngành dăm với mục đích tạo giá trị gia tăng cho các sản phẩm gỗ rừng trồng là định hướng hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, thời điểm nào áp thuế XK dăm và mức thuế bao nhiêu cho phù hợp, trước khi áp dụng thuế XK cần phải có đánh giá chi tiết và khách quan về thực trạng của ngành dăm như thế nào… là các câu hỏi quan trọng cần phải đặt ra”, ông Chánh bày tỏ quan điểm.
Để hỗ trợ cho các DN ngành dăm trong bối cảnh khó đơn, khó kép, ông Yển kiến nghị: Thời gian tới, các cơ quan chức năng xem xét bỏ thuế XK 2% đối với mặt hàng dăm gỗ. Liên quan tới vấn đề này, ông Nguyễn Như Xuân, Phó Tổng giám đốc Công ty Liên doanh sản xuất nguyên liệu giấy Việt Nhật Cái Lân đưa ra đề xuất: Nhà nước có thể áp dụng miễn hoặc hoãn việc áp thuế đối với dăm gỗ XK trong khoảng thời gian 5 năm tới.
“Ví dụ, cơ quan quản lý Nhà nước đưa ra quy định cụ thể, từ nay tới năm 2020 không áp thuế XK dăm gỗ. Tuy nhiên từ năm 2020 trở đi áp thuế XK khoảng 3%. Sau đó chu kỳ 5 năm, đến năm 2025 áp thuế 5% và xa hơn nữa nâng mức thuế lên 10%... Động thái này sẽ giúp DN chế biến, XK dăm gỗ đủ thời gian để chuẩn bị và các nhà đầu tư có sự tính toán kỹ lưỡng hơn, tránh tình trạng phát triển quá nóng. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng dần tiến tới mục tiêu hạn chế phát triển ngành dăm ở mức nhất định để tăng cường chế biến sâu”, ông Xuân nói.
Nói về giải pháp quản lý phát triển rừng trồng cũng như ngành chế biến gỗ, dăm gỗ XK trong thời gian tới, ông Chánh đề xuất Chính phủ có cơ chế chính sách phù hợp trong việc giao đất giao rừng dựa trên các quy hoạch chính sách của từng loại cây trồng theo khu vực, đồng thời quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư có khả năng về vốn, công nghệ và kinh nghiệm tổ chức triển khai các dự án rừng trồng, đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sản phẩm gỗ rừng trồng có trình độ công nghệ cao nhằm nâng cao năng lực, khả năng chế biến sâu…
Phản hồi lại quan điểm, đề xuất của các DN, ông Hà Công Tuấn, Thứ trưởng Bộ NN&PNTT cho rằng: Việt Nam XK dăm gỗ lớn nhất thế giới nhưng ngành dăm phát triển không bền vững. Chủ trương nhất quán của Nhà nước không phải là dùng biện pháp hành chính để “bóp nghẹt” ngành dăm mà là từng bước giảm tỷ trọng dăm trong cơ cấu XNK.
Riêng việc áp thuế XK 2% với dăm gỗ, chính sách đã bàn suốt 5 năm qua. Thời điểm đầu, dự kiến mức thuế sẽ là 10%, tính đi tính lại Bộ NN&PTNT lại đề nghị áp 5% và cuối cùng dừng ở mức 2%. Do đó, việc áp thuế này không có gì gây bất ngờ cho DN. Nhà nước lắng nghe DN nhưng cũng phải đánh giá rất khách quan mới tìm ra hướng giải quyết vấn đề.
“Quan điểm của Bộ NNPTNT là ngành dăm quan trọng nhưng ngành công nghiệp chế biến gỗ còn quan trọng hơn. Để tháo gỡ khó khăn cho DN, thời gian tới chính sách cho ngành dăm sẽ được ưu tiên xem xét. Bộ NN&PTNT giao Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục nghiên cứu, đề xuất trong thời gian tới chứ không thể nói ngay là sẽ đề xuất như thế nào. Quan trọng nhất là nội tại ngành dăm cũng phải thay đổi, không thể tiếp tục phát triển nóng, mạnh ai nấy làm, tranh mua tranh bán”, ông Tuấn nhấn mạnh. (Hải Quan 19/7) đầu trang(./.
|
|||