|
Ngày 20 tháng 12 năm 2013
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
Theo thống kê của Tổng cục Quản lý Đất đai (Bộ TN&MT), tính đến hết tháng 11, Tổng cục đã rà soát và gửi lấy ý kiến Bộ NN&PTNT về 5.106 dự án, công trình có sử dụng 14.971 ha đất trồng lúa, 6.246 ha đất rừng phòng hộ, 344 ha đất rừng đặc dụng.
Theo đó, Thủ tướng đã cho phép các địa phương được thực hiện chuyển mục đích 5.828 ha đất trồng lúa, 2.131 ha đất rừng phòng hộ, 3 ha đất rừng đặc dụng. (Kinh Tế&Đô Thị 20/12) đầu trang(
Ngày 19-12, Quỹ Bảo vệ phát triển rừng phối hợp Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Hà và UBND xã Cốc Ly tiến hành chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cho các hộ dân là người dân tộc thiểu số ở xã Cốc Ly, huyện Bắc Hà (Lào Cai).
Tổng số có 105 hộ gia đình được nhận tiền, với hơn 530 ha rừng thuộc lưu vực Nhà máy thủy điện Cốc Ly (Bắc Hà, Lào Cai), công suất 70MW, đã phát điện từ vài năm nay.
Cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Hà và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng, Ban quản lý dự án 661 Bắc Hà đã mang tiền đến tận UBND xã Cốc Ly để phát tận tay cho bà con là chủ rừng thuộc khu vực được chi trả theo quy định của Nhà nước. Ông Bàn Văn Liền, dân tộc Dao ở thôn Làng Mới, có 4,5 ha rừng, được nhận số tiền nhiều nhất trong xã, phấn khởi nói: “Có tiền của Nhà nước chi trả cho công nuôi giữ và bảo vệ rừng như thế này, gia đình tôi sẽ tái đầu tư trồng thêm rừng mới và bảo vệ rừng cũ tốt hơn”.
Để bảo đảm chính xác, công bằng, các ngành chức năng và chính quyền xã Cốc Ly đã thực hiện rà soát, thẩm tra diện tích rừng của từng hộ gia đình; đồng thời niêm yết công khai diện tích rừng và số tiền được nhận của từng hộ.
Ông Trần Xuân Hạ, Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng Lào Cai cho biết: Trong năm 2013 sẽ tiến hành chi trả khoảng gần bảy tỷ đồng cho các tổ chức, cá nhân quản lý, bảo vệ rừng thuộc diện được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng. (Nhân Dân 19/12; Báo Lào Cai 20/12) đầu trang(
BẢO VỆ RỪNG
Nhằm thực hiện tốt việc bảo vệ rừng trong mùa khô 2013-2014, Ban Chỉ đạo công tác quản lý và phát triển rừng tỉnh Kon Tum yêu cầu 20 đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh chủ động phòng, chống cháy rừng.
Tỉnh yêu cầu các đơn vị chủ rừng khẩn trương rà soát, tu sửa, làm mới các công trình phòng cháy như đường ranh cản lửa, cầu ngầm, chòi canh, các biển tuyên truyền…đảm bảo đúng yêu cầu, đưa vào sử dụng có hiệu quả. Đối với khu vực rừng trồng đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, các chủ rừng phải có kế hoạch phát dọn thực bì trước mùa khô, làm đường băng cản lửa đảm bảo khi xảy cháy có thể ngăn cách được đám cháy, tránh cháy lan ra diện rộng.
Đối với các khu vực xác định là trọng điểm cháy rừng, đơn vị phải bố trí người canh gác lửa thường xuyên; kiểm tra người ra- vào rừng; kiểm tra việc sản xuất nương rẫy của nhân dân, kiểm soát các nguồn lửa cháy lan rừng. Ngoài ra, các chủ rừng cần chuẩn bị sẵn phương tiện, dụng cụ, nhân lực ứng cứu kịp thời các vụ cháy rừng khi xảy ra…
Hiện, tỉnh Kon Tum có 20 Ban Chỉ huy và 73 tổ, đội phòng cháy chữa cháy rừng tại 20 đơn vị chủ rừng. Các chủ rừng quản lý gần 1.600 km đường ranh cản lửa, 79 chòi canh lửa cùng hàng nghìn dụng cụ phòng chống cháy rừng.
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Kon Tum, mùa khô 2013-2014 trên địa bàn tỉnh thời tiết diễn biến phức tạp, tình trạng nắng nóng sẽ kéo dài, nguy cơ dẫn đến cháy rừng là rất lớn, nhất là với diện tích rừng trồng của các chủ rừng. Hiện nay, mặc dù mới vào đầu mùa khô nhưng tại một số nơi, tình trạng xâm canh, phát rừng làm rẫy trái phép đã diễn ra và có dấu hiệu phức tạp. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng cháy rừng hàng năm. (Dangcongsan.vn 19/12; Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện Krông Pa đã không để xảy ra một vụ cháy rừng nào. Đây là một trong những thành tích đáng ghi nhận, thể hiện nỗ lực của Hạt Kiểm lâm, các cấp chính quyền và người dân trong công tác phòng-chống cháy rừng.
Krông Pa hiện có diện tích rừng và đất lâm nghiệp tương đối lớn (khoảng 105.583,84 ha). Trong đó, có nhiều khu vực rừng rậm rạp, các tầng cây cùng sinh sống, tập trung ở khu vực núi cao, đường đi lại khó khăn. Người dân tại chỗ còn thói quen đốt rừng làm rẫy… Những yếu tố trên khiến nguy cơ cháy rừng rất cao.
Trước tình hình đó, Hạt Kiểm lâm huyện Krông pa phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai nhiều biện pháp để thực hiện tốt công tác phòng-chống cháy rừng. Theo ông Bùi Đức Việt-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Krông Pa thì ngay từ đầu mùa khô năm 2012-2013, Hạt Kiểm Lâm huyện Krông Pa tham mưu đề xuất cho UBND huyện ban hành một số văn bản chỉ đạo, tập trung vào việc củng cố, kiện toàn Ban Chỉ huy (BCH) phòng cháy chữa cháy rừng (BCH PCCCR) cấp huyện và xã.
Sau đó, BCH tổ chức triển khai nhiều phương án phòng-chống cháy rừng. Xây dựng và củng cố 87 tổ, đội là lực lượng xung kích chữa cháy rừng tại các thôn buôn và 13 xã có rừng, với 1.292 người. Phân công trực 24/24 giờ tại các khu vực trọng điểm tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao. Hạt Kiểm lâm Krông Pa xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thực hiện công tác PCCCR tại 3 đơn vị chủ rừng đứng chân trên địa bàn và chỉ đạo các đơn vị này thành lập 3 BCH PCCCR và 6 tổ xung kích chữa cháy rừng với 75 con người.
Nhằm chủ động kiểm tra, xác minh và triển khai các biện pháp PCCCR kịp thời tại các điểm báo địa bàn huyện, Hạt kiểm lâm liên tục cập nhật thông tin điểm cháy hằng ngày tại mục “Điểm cháy từ vệ tinh” trên trang Web: http://www.kiemlam.org.vn/; và kịp thời báo cáo tình hình PCCCR trên địa bàn huyện theo từng ngày cho Chi cục Kiểm lâm tỉnh.
Bên cạnh đó, Hạt kiểm lâm Krông Pa phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức các buổi tuyên truyền chính sách đến nhân dân những chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước về công tác bảo vệ và phát triển rừng. Chú trọng việc tuyên truyền các hộ dân ở các thôn, buôn vùng sâu vùng xa, vận động nhân dân không đốt rừng… (Báo Gia Lai 19/12) đầu trang(
Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2-2006, gần 8 năm qua, Trung tâm Cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình) đã tiếp nhận, cứu hộ gần 900 cá thể động vật hoang dã thuộc 46 loài.
Trong đó có 20 loài trong Sách đỏ Việt Nam, 25 loài trong danh mục Nghị định 32/NĐ-CP như rùa hộp trán vàng, voọc, cầy vằn bắc, chim công, gấu ngựa. (Biên Phòng 18/12) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Nước ta có hơn 15,3 triệu ha rừng. Mặc dù giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ và phát triển rừng nhưng cộng đồng dân cư thôn mới được giao gần 280.000 ha đất lâm nghiệp và giao để quản lý hơn 513.000 ha.
Tương lai, diện tích rừng cộng đồng sẽ tăng lên do thực hiện chủ trương tiếp tục giao đất, giao rừng. Để phát triển rừng bền vững, rất cần có những cơ chế chính sách đặc thù tạo thuận lợi cho rừng cộng đồng phát triển.
Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, phân thành 3 loại: Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống tự nhiên từ nhiều đời nay; Rừng và đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng; Rừng và đất rừng do các tổ chức, cơ quan nhà nước, các nông lâm trường giao cho cộng đồng.
Các tỉnh, thành phố có rừng đều khẳng định, giao rừng cho cộng đồng quản lý có vai trò nhất định trong việc BV&PTR. Khảo sát ở nhiều địa phương cho thấy, rừng được cộng đồng quản lý thì số vi phạm cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ là rất ít.
Cộng đồng còn bảo vệ được diện tích rừng đã giao không để xảy ra xâm lấn và hầu hết các vụ vi phạm cây lấy gỗ đều được phát hiện và xử lý, như ở các thôn: Lũng Vài, Lũng Các (Cao Bằng); Bản Lằn (Sơn La); Suối Lông (Lạng Sơn); thôn Vài (Hòa Bình)…
Theo các chuyên gia, để bảo vệ rừng cộng đồng, dứt khoát phải dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, từ thực tế, các địa phương cho rằng, hiện nay địa vị pháp lý của cộng đồng còn chưa rõ ràng, chính sách hỗ trợ còn hạn chế.
TS Nguyễn Nghĩa Biên, Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng, GĐ Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN phân tích: Luật Đất đai, Luật BV&PTR đã quy định cộng đồng dân cư là đối tượng được Nhà nước giao đất, rừng để quản lý, sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Các văn bản hướng dẫn luật cũng đã có, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế hoặc còn thiếu các quy định cần thiết, như đối tượng rừng giao cho cộng đồng, điều kiện được giao rừng; thời hạn, hạn mức giao rừng, khai thác gỗ với mục đích thương mại; cơ chế hưởng lợi, tiêu thụ sản phẩm; cơ chế nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ đầu tư để tạo thuận lợi cho các cộng đồng QVBVR được giao.
“Hiện đang tồn tại 2 loại hình xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng cộng đồng. Đó là quyền do Nhà nước công nhận và quyền cộng đồng tự công nhận. Quyền do Nhà nước công nhận thông qua chính sách giao đất, giao rừng…
Nhưng trên thực tế lại chưa xác lập quyền hưởng lợi rõ ràng với cộng đồng, chưa có cơ chế, chính sách cho cộng đồng được sử dụng rừng theo nguyên tắc bền vững. Quyền do cộng đồng tự công nhận thông qua quy ước, hương ước thì thiếu tính pháp lý, cộng đồng không yên tâm trong quản lý, sử dụng.
Cộng đồng tham gia quản lý rừng chủ yếu là các cộng đồng dân tộc thiểu số. Rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp nên nguồn thu từ rừng rất hạn chế, nguy cơ rừng cộng đồng bị suy giảm là thực tế", ông Biên phân tích.
Là cơ quan chủ trì thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN”, Viện Điều tra quy hoạch rừng đề xuất, cần thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng; huy động nguồn lực của xã hội vào việc BV&PTR, gắn với xóa đói giảm nghèo; nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào nghèo miền núi.
Đồng thời, bảo đảm thống nhất về mặt pháp lý giữa những quy định về cơ chế chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn với các quy định khác về QLBVR, Luật Đất đai, pháp luật về đầu tư, tài chính…
Theo TS Nguyễn Nghĩa Biên, nên mở rộng khái niệm về quản lý rừng cộng đồng theo hướng: Quản lý rừng của cộng đồng; Quản lý rừng dựa vào cộng đồng; Đồng quản lý rừng; Quản lý rừng theo nhóm hộ.
Khái niệm về sử dụng rừng cũng cần được mở rộng như khai thác lâm sản, các giá trị dịch vụ môi trường rừng (điều tiết nước, bảo vệ đất, kinh doanh du lịch sinh thái, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ khí thải carbon REDD+…), bảo tồn đa dạng sinh học.
Cộng đồng dân cư có rừng cộng đồng cũng phải được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước; Được chuyển đổi rừng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh trồng rừng; thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất (SX) là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân để kinh doanh và dịch vụ lâm nghiệp.
Dự án tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở VN cũng đang tham mưu giúp các cơ quan chức năng xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách quản lý và sử dụng rừng cộng đồng dân cư thôn. Dự thảo dự kiến đưa ra nhiều chính sách mang tính đột phá.
Chẳng hạn, rừng phòng hộ nằm trong phạm vi một xã, thôn hoặc nhiều xã, có diện tích dưới 1.000 ha; rừng SX phân tán gần cộng đồng dân cư thuộc ban quản lý rừng, lâm trường quốc doanh…, sẽ được giao cộng đồng dân cư quản lý. Trong đó, sẽ giao cả rừng tự nhiên giàu và trung bình cho cộng đồng dân cư thôn quản lý chứ không chỉ là giao đất trống, rừng nghèo kiệt như hiện nay.
Với các khu rừng tự nhiên là rừng phòng hộ, khi đạt tiêu chuẩn về phòng hộ thì được khai thác gỗ theo phương thức chặt chọn độ tàn che của rừng sau khi khai thác phải lớn hơn 0,6. Toàn bộ giá trị sản phẩm gỗ khai thác sau khi trừ chi phí, cộng đồng phải nộp 10% để xây dựng quỹ BV&PTR cấp xã, 90% thuộc quyền quản lý của cộng đồng, do cộng đồng tự quyết định phân chia theo quy chế, hương ước.
Với rừng SX là rừng tự nhiên, ngoài việc tận dụng, tận thu lâm sản ngoài gỗ, trừ động thực vật quý hiếm theo quy định, hằng năm cộng đồng được chặt chọn với cường độ dưới 15% trữ lượng. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/12) đầu trang(
Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 – 2020 vừa được kiện toàn tại nội dung Quyết định số 1998 ngày 16/12/2013 của UBND tỉnh.
Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ giúp Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, điều hành tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng về việc phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2020.
Kiểm tra, hướng dẫn, đôn đốc các ngành, các cấp thực hiện kế hoạch, dự án bảo vệ và phát triển rừng trung hạn và hằng năm; giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện; tổ chức sơ kết, tổng kết; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ, đột xuất theo quy định. (Langson.gov.vn 19/12) đầu trang(
UBND TPHCM vừa tổ chức hội thảo “Thích nghi và giảm nhẹ biến đổi khí hậu - Các vấn đề và giải pháp cho TPHCM”.
Theo các chuyên gia, biến đổi khí hậu (BĐKH) sẽ ảnh hưởng bất lợi đến TPHCM trong những thập kỷ tới. Nhiệt độ trung bình được dự báo sẽ tăng 10°C vào năm 2050 và 2,6°C năm 2100. Mực nước biển dự kiến sẽ tăng 30cm vào năm 2050; 65 - 100cm vào năm 2100.
Phát biểu tại hội thảo, Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Hữu Tín cho biết, BĐKH đã, đang và sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học, năng lượng, nguồn nước. Từ năm 2009 đến nay, TP đã ban hành và triển khai các kế hoạch về hành động ứng phó với BĐKH và đẩy mạnh các biện pháp nâng cao năng lực nhận thức và ứng phó với BĐKH. TPHCM cũng đã chủ động gia nhập các tổ chức C40; đẩy mạnh hợp tác với Chính phủ Hà Lan trong lĩnh vực quản lý nước và thích ứng với BĐKH; hợp tác với TP Osaka (Nhật Bản) xây dựng dự án phát triển TP thải ít carbon. (Sài Gòn Giải Phóng 20/12) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk đã chỉ đạo các địa phương, các chủ rừng tổ chức kiểm tra, rà soát, thống kê lại diện tích rừng, đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép để thu hồi, có kế hoạch trồng lại rừng.
Theo Sở NN&PTNT tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2008 trở lại đây, tỉnh Đắk Lắk đã có trên 14.159 ha rừng, đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép. Trong đó, các Công ty TNHH Một thành viên lâm nghiệp, các doanh nghiệp nhận rừng, đất rừng để chuyển đổi trồng cao su, trồng rừng, thường để rừng, đất rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép nhiều nhất. Diện tích rừng bị phá, bị lấn chiếm trái phép chủ yếu nằm trên địa bàn các huyện Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M’gar, Ea H’Leo…
Tỉnh Đắk Lắk đã có chủ trương: Đối với diện tích rừng, đất rừng bị phá, lấn chiếm trái phép từ năm 2008 trở lại đây thì cương quyết thu hồi, phá bỏ cây trồng trái phép để có kế hoạch trồng lại rừng. Chủ trương thu hồi đất để trồng lại rừng, tỉnh cũng thông báo công khai, rộng rãi đến các hộ dân, kể cả các doanh nghiệp để tránh sự tranh chấp. Ngoài việc tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tự giác giao trả lại đất rừng lấn chiếm trái phép, tỉnh Đắk Lắk cũng kiên quyết giải tỏa, xử lý nghiêm, đúng pháp luật đối với các đối tượng chây ì, cố tình lấn chiếm đất rừng trái phép.
Một số doanh nghiệp như Hợp tác xã Công nghiệp và sản xuất Rạng Đông, Công ty cổ phần Thủy lợi và Phát triển nông thôn, Công ty TNHH xây dựng cầu đường và chế biến gỗ Thái Dương (Ea Súp) lợi dụng chủ trương nhận đất để trồng lại rừng, nhưng thực tế trồng loài cây không theo thiết kế, trồng rừng không đúng kỹ thuật.
Qua kiểm tra, các đơn vị chức năng đã yêu cầu các doanh nghiệp này nhổ bỏ và trồng lại rừng theo đúng hồ sơ thiết kế đã được thẩm định. Tỉnh cũng đình chỉ hoạt động dự án trồng rừng của Công ty TNHH Lộc Phát tại xã Ea Hiao (huyện Ea H’Leo) do tự ý chuyển đổi đất trồng rừng sang trồng 42 ha cà phê…
Đối với diện tích rừng, đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép từ trước năm 2008, tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo các đơn vị chức năng, các chủ rừng thống kê, rà soát, lập kế hoạch từng bước xử lý theo hướng người dân với chủ rừng cùng liên kết trồng lại rừng, trong đó người dân được hưởng lợi nhiều hơn từ rừng cũng như các loại cây trồng xen khác.
Tuy nhiên, theo báo cáo của các địa phương, chủ rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, việc thu hồi và trồng lại rừng trên diện tích rừng, đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm trái phép, vẫn chưa được nhiều so với yêu cầu. (Nhân Dân 20/12; Tài Nguyên&Môi Trường 19/12) đầu trang(
Từ 18- 19/12, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư tỉnh phối hợp với Ban Quản lý Dự án JICA2 Trung ương tổ chức lớp tập huấn Định hướng Dự án phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ (JICA2) cho 73 học viên là cán bộ thuộc Ban Quản lý Dự án; Ban Quản lý Rừng phòng hộ; Trung tâm Khuyến nông; các xã mục tiêu vùng Dự án trong và ngoài tỉnh.
Theo đó, các học viên được giới thiệu, tìm hiểu các chính sách, quy định, cơ chế tổ chức và thực hiện dự án gồm 6 hợp phần: Tổng quát, khảo sát và quy hoạch chi tiết, tăng cường năng lực cho cán bộ nhà nước, phát triển và nâng cấp rừng phòng hộ, phát triển sinh kế, kiểm soát cháy rừng.
Lớp tập huấn nhằm giúp các học viên nắm vững cơ cấu tổ chức dự án, vai trò, chức năng, mối liên hệ giữa các bộ phận dự án, các bên tham gia thực hiện dự án; chia sẻ thông tin về một số vấn đề quản lý rừng phòng hộ; chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và định hướng chính sách cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ áp dụng cho Dự án JICA2. (Báo Ninh Thuận 19/12) đầu trang(
Nghiên cứu do tác giả Nguyễn Đức Hải thực hiện nhằm đánh giá kết quả nghiên cứu xây dựng mô hình khuyến lâm tại tình Phú Thọ.
Xây dựng mô hình khuyến lâm gồm 4 chương trình: Trồng thâm canh cây lâm sản ngoài gỗ, trồng rừng thâm canh cây gỗ lớn, canh tác lâm nông kết họp trên đất sau nương rãy, trồng rừng thâm canh cây nguyên liệu; cải tiến và cập nhật nội dung, phương pháp khuyến lâm để phù hợp với trình độ của nông dân, đặc biệt hộ nghèo và dân tộc ít người; xây dựng mối liên kết giữa hệ thống khuyến lâm và đào tạo với các chủ rừng và doanh nghiệp chế biến lâm sản.
Các mô hình khuyến lâm được triển khai xây dựng tại 4 huyện trên địa bàn tình Phú Thọ: Đoan Hùng, Yên Lập, Thanh Sơn và Thanh Ba với các loài cây Keo tai tượng, Tre điềm trúc, Mây nếp và Trám trắng. Kết quả xây dựng các mô hình:, Keo tai tượng sinh trường và phát triển tốt trên các điều kiện lập địa khác nhau (cây ở tuổi 6 đạt các chỉ tiêu Hvn = 12 m, D; 3 = 16,5 cm, năng suất đạt 27,7 m3/ha/năm).
Ở mô hình Mây nếp sau 4 năm trồng tỷ lệ sống đạt 75% và mỗi khóm có trung bình 6 cây/bụi với chiều dài trung bình là 2,8 m. Đối với mô hình tre Điềm trúc trung bình mỗi khóm có 6 cây, chiều cao bình quân Hm= 8 m, D 1.3 = 8,5 cm. Mô hình Trám trắng cho thấy cây Trám mới trồng sinh trưởng, phát triển rất tốt trong 3 năm đầu, chiều cao bình quân 4,5 m, đường kính D, 3 = 5 cm. Khoảng 20% số cây đã cho quả (năm 2011) nhưng tỉ lệ quá ít.
Các mô hình này đều cho kết quả sinh trưởng, phát triển tốt hơn rất nhiều so với mô hình trồng rừng đại trà và có tác động tốt đến nâng cao thu nhập, nhận thức của người dân địa phương. (Theo Sở KH&CN Cần Thơ 19/12) đầu trang(
Ngày 18/12, Trung tâm Khuyến nông Hòa Bình phối hợp với UBND xã Hiền Lương (huyện Đà Bắc) tổng kết dự án mô hình “Phục hồi rừng luồng thoái hóa” tại xóm Dưng.
Được sự hỗ trợ của Viện Khoa học Lâm nghiệp VN, Trung tâm Khuyến nông Hòa Bình đã chuyển giao quy trình kỹ thuật phục hồi rừng luồng thoái hóa, trồng và chăm sóc cây luồng cho nông dân.
Tham gia mô hình có 29 hộ dân thuộc diện khó khăn, được hỗ trợ cây giống, vật tư phân bón và kỹ thuật. Ngoài ra, dự án còn hỗ trợ trồng mới thêm 15 ha luồng, tỷ lệ sống đạt trên 93%, cây sinh trưởng và phát triển tốt. Sau 9 tháng triển khai, dự án đạt được hiệu quả cao, tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích trồng luồng, tạo cơ hội cho bà con được tiếp cận, làm quen với tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. (Nông Nghiệp Việt Nam 20/12; Báo Hòa Bình 19/12) đầu trang(
Sáng 18/12, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Cà Mau Dương Tiến Dũng chủ trì cuộc họp bàn việc thực hiện đầu tư hệ thống giao thông, thủy lợi trong lâm phần rừng tràm và phương án hợp tác đầu tư trồng rừng tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ.
Nhiều năm qua, tỉnh Cà Mau luôn quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế lâm nghiệp nhưng lĩnh vực này đến nay vẫn chưa phát triển, đời sống người dân vùng rừng vẫn còn nhiều khó khăn. Hiện tại tỉnh đang từng bước chuyển đổi cây trồng, phương thức canh tác điều kiện kỹ thuật cho người dân trồng rừng và bước đầu cây keo lai đã mang lại hiệu quả.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là việc vận chuyển hàng hóa phải qua nhiều cống, đập giữ nước trong rừng, làm tăng chi phí, dẫn đến người trồng rừng không có lãi. Cuộc họp bàn hướng giải quyết vấn đề này theo cách quy hoạch và đầu tư lại hệ thống giao thông thủy lợi theo từng đầu mối vận chuyển, kết hợp với áp dụng khoa học công nghệ, giảm thiểu lao động thủ công làm tăng hiệu quả, giá trị sản xuất cho người dân.
Cuộc họp còn bàn về phương án hợp tác đầu tư trồng rừng tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ, trong đó chú trọng về phương thức hợp tác ăn chia tỷ lệ theo hướng bình đẳng và có lợi nhất cho người dân. Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Cà Mau Dương Tiến Dũng nhấn mạnh doanh nghiệp phải là người đỡ đầu để người dân cùng phát triển kinh tế, ổn định đời sống lâu dài. (Đài PT - TH Cà Mau 19/12) đầu trang(
Tỉnh Tuyên Quang có thế mạnh về lâm nghiệp, 5 năm qua (2008-2012), tỉnh đã trồng mới được 36.628ha rừng, bình quân mỗi năm tăng trên 7.300 ha. Tuy niên, công tác trồng rừng của tỉnh Tuyên Quang vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
Cụ thể: Các doanh nghiệp lâm nghiệp của tỉnh thiếu vốn sản xuất, ngân sách địa phương hàng năm chỉ đáp ứng được 20% tổng chi ngân sách của toàn tỉnh. Trồng rừng nguyên liệu có chu kỳ kinh doanh dài, hiệu quả kinh tế thu được sau đầu tư thấp hơn các cây trồng khác nên chưa khuyến khích được các thành phần kinh tế, nhân dân tự giác đầu tư trồng rừng theo vùng quy hoạch.
Do các doanh nghiệp lâm nghiệp của tỉnh đều ở quy mô nhỏ, khi chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên có mức vốn điều lệ thấp, nhưng chưa được cấp bổ sung đủ vốn điều lệ theo quy định. Công tác rà soát, quy hoạch và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các lâm trường tuy có chỉ đạo của tỉnh, nhưng việc tổ chức thực hiện chậm. Việc chậm được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gây khó khăn cho doanh nghiệp lâm nghiệp tiếp cận nguồn vốn của các ngân hàng thương mại.
Điều đáng quan tâm là các lâm trường do tỉnh quản lý, trước khi chuyển đổi có tổng số 33.554,7 ha đất lâm nghiệp, sau khi chuyển đổi giữ lại 23.797 ha, còn lại đã bàn giao về các xã. Tuy vậy tình trạng tranh chấp đất lâm nghiệp của hộ dân với doanh nghiệp lâm nghiệp vẫn diễn ra. Hiện nay có tổng số 1.192 ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm, nhưng các doanh nghiệp chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên thiếu cơ sở xử lý theo pháp luật.
Bên cạnh khó khăn trên, một số doanh nghiệp còn trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ nhà nước; chưa chủ động xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển vùng nguyên liệu bền vững, chưa quyết liệt trong chỉ đạo và thực hiện trồng rừng thâm canh, áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới; chưa tập trung đầu tư nguồn lực để xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu.
Cùng với đó, nhân dân tham gia trồng rừng đời sống, thu nhập còn khó khăn, chưa có cơ chế chính sách cho vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước để các hộ có vốn đầu tư thâm canh rừng trồng. Việc trồng rừng sản xuất của nhân dân trong vùng quy hoạch còn thiếu vốn, chưa chú trọng áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh để tăng năng suất, chất lượng rừng trồng.
Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm hiện vẫn còn quá mỏng và thiếu chế tài, chính sách (theo quy định của Chính phủ, cứ 500 ha rừng đặc dụng thì biên chế một kiểm lâm). Tại Tuyên Quang, diện tích rừng đặc dụng mà kiểm lâm phải bảo vệ ở nhiều nơi còn gấp hai, gấp ba lần con số qui định. Vì vậy, tỉnh đã chú trọng vào công tác tuyên truyền để khuyến khích, hỗ trợ người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng, đồng thời tìm cách nâng cao đời sống cho người dân, đưa khoa học kỹ thuật, giống mới vào nhằm tăng năng suất, sản lượng để người dân không phá rừng vẫn đủ ăn.
Bình quân mỗi hộ dân Tuyên Quang có từ 1-3 ha đất lâm nghiệp, quản lý 3-5 ha. Ngành lâm nghiệp đã tính toán, trồng rừng chỉ chiếm 30-40% lợi ích về kinh tế, còn lại là lợi ích về môi trường. Trong khi đó, một chu kỳ trồng rừng khá dài, vốn đầu tư lớn nên Chính phủ cần có chính sách cho vay không lãi đối với người dân tham gia trồng rừng. Đặc biệt, với chính sách trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đặc dụng, Nhà nước cần thay đổi, nâng mức hỗ trợ lên giúp người dân ổn định cuộc sống, yên tâm gắn bó với rừng.
Để khắc phục những khó khăn trên, các ngành, đơn vị liên quan theo chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển vùng nguyên liệu giấy của tỉnh đến năm 2015; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách phát triển trồng rừng sản xuất và thực hiện chính sách phát triển vùng nguyên liệu và thu mua nguyên liệu do các doanh nghiệp ban hành. Các ngành chức năng quản lý chặt chẽ quỹ đất lâm nghiệp theo quy định; tổ chức giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân quản lý, sử dụng theo đúng quy hoạch; xử lý tranh chấp, vi phạm sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích theo quy định.
Các doanh nghiệp lâm nghiệp cần chủ động mở rộng địa bàn dịch vụ về cây giống, kỹ thuật trồng rừng cho các hộ gia đình, cá nhân đầu tư trồng rừng. Cùng với đó, thực hiện cơ chế liên doanh, liên kết đầu tư trồng rừng với các hộ gia đình, cá nhân thông qua hợp đồng kinh tế, bao tiêu sản phẩm cho các hộ. Các nhà máy chế biến cần đầu tư nguồn vốn phát triển rừng nguyên liệu giấy và tổ chức khai thác diện tích rừng trồng đủ tuổi khai thác… (Hội Nông dân VN 20/12) đầu trang(
Nghiên cứu do nhóm tác giả Nguyễn Tuấn Hưng, Trần Hữu Viên và Đỗ Anh Tuấn thực hiện nhằm nghiên cứu đặc điểm tăng trưởng rừng và xác định lượng gỗ khai thác bền vững tại Công ty lâm nghiệp Đắk Tô.
Việc xác định lượng táng trưởng của rừng là điều kiện bắt buộc trong nội dung của phương án quản lý rừng bền vững, cũng như theo tiêu chuẩn, tiêu chí của FSC, nhằm khai thác gỗ bền vững không lạm vào vốn rừng.
Đặc điểm rừng tự nhiên lá rộng thường xanh, các cá thể của mỗi loài phân bố phân tán, ở mọi cấp tuổi, tính phức họp của rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi không những thể hiện ở sự khác biệt về loài mà còn thể hiện ngay trong từng loài do các cá thể được sinh ra và phát triển trong những điều kiện ngoại cảnh khác nhau. Chỉ khi biết chính xác lượng tàng trưởng cùa rừng, mới tính toán được lượng khai thác cho phép để bảo đảm tính bền vững.
Kết quả triển khai thí điểm mô hình khai thác tác động thấp cho thấy, hệ số đổ vỡ là 3,7% thấp hơn nhiều so với phương pháp truyền thống (khoảng 8 -10%), an toàn cho người lao động, đảm bảo tái sinh và ít tác động đến môi trường. Từ số liệu đo đếm sinh trưởng tại hai thời điểm năm 2007 và năm 2012 trên các ô tiêu chuẩn định vị của 1.194 cây.
Đề tài đã xác định được lượng tăng trưởng đường kính bình quân hàng năm của 1.194 cây là: 1.976/5 = 0,395 cm/năm. Tăng trưởng hàng năm của trạng thái rừng giàu 5,8 m3/năm/ha (1,77%/năm), trạng thái rừng trung bình 3,7 m3/năm/ha (2,3%/năm), trạng thái rừng nghèo 2,5 m3/năm/ha (3,296/năm). Đã xác định được sản lượng khai thác bền vững hàng năm của Công ty Lâm nghiệp Đắc Tô là 15.801 m3/năm, diện tích khai thác hàng năm 176,5 ha. (Theo Sở KH&CN Cần Thơ 19/12) đầu trang(
Đà Nẵng vinh dự nhận Giải thưởng “Thành phố bền vững về môi trường ASEAN năm 2011”, “Thành phố có hàm lượng cacbon trong khí thải ra môi trường thấp nhất thế giới 2012” và mới đây là “Thành phố phong cảnh Châu Á”. Để xứng đáng là “Thành phố môi trường và đáng sống”, TP. Đà Nẵng cần nhanh chóng tìm ra giải pháp phát triển cây xanh đô thị theo hướng bền vững.
Lợi ích mà cây xanh đô thị mang lại cho cuộc sống là điều không thể bàn cãi. Đối với Đà Nẵng, hệ thống cây xanh làm tăng thẩm mỹ cảnh quan đô thị, tạo ra cảm giác êm dịu về màu sắc và khí hậu, tôn cao giá trị thẩm mỹ của công trình kiến trúc. Các vườn hoa, công viên, không gian xanh và mặt nước là một thành tố không thể thiếu tạo nên sức thu hút của thành phố.
Mặc dù, đã có chuyển biến tích cực nhưng hệ thống cây xanh đô thị của TP. Đà Nẵng hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về môi trường cảnh quan, tỷ lệ diện tích cây xanh, cơ cấu cây trồng chưa hợp lý và vẫn còn thiếu một số giải pháp đồng bộ cho việc phát triển hệ thống cây xanh đô thị.
Bên cạnh những nguyên nhân yếu tố thiên nhiên, một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc phát triển cây xanh là kinh phí cho công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh. Đồng thời, công tác quản lý về cây xanh còn lỏng lẻo, tình trạng chặt phá cây, tỉa cành… một cách tùy tiện làm giảm mật độ che phủ và khả năng sinh tồn của cây. Việc trồng cây xanh ở những nơi công cộng vẫn còn mang tính tự phát, manh múm, thiếu quy hoạch về lựa chọn, bố trí loại cây trồng phù hợp ở từng công trình.
Được biết, cây xanh phát triển luôn gắn với đất đai, khí hậu, không gian sống, song hiện cây xanh đường phố được trồng chưa được quan tâm đúng mức, làm xung đột môi trường sống với hạ tầng kỹ thuật đô thị. Câu chuyện cây xanh được trồng xuống rồi đào bới đem đi diễn ra thường xuyên.
Tại tuyến đường Nguyễn Hữu Thọ, cây xanh được trồng dưới đường dây diện, gần hệ thống cấp nước, thoát nước, cáp thông tin nên làm cho cây nghiêng ngã. Nhiều nghịch lý khác cũng diễn ra khi những tuyến đường Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng, 30 tháng 4 có vỉa hè rộng, không vướng dây điện lại quy hoạch trồng cây sao đen, chẹo, viết. Đây lại là những loại cây có tán hẹp, sinh trưởng chậm nên nhìn thấy đôi hàng cây dong dỏng.
Ngược lại, đường Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Nguyễn Văn Cừ lại trồng cây đại mộc như xà cừ, muồng tím có khả năng sinh trưởng nhanh bỗng chốc chọc thẳng vào đường dây trung và hạ thế. Thiết kế quy hoạch trồng cây xanh quá đơn điệu, cứng nhắc, rập khuôn với việc trồng cây xanh chỉ 1 hàng, khoảng cách 6 - 10 mét/cây.
Để tăng cường việc quản lý, bảo vệ và phát triển cây xanh đô thị Đà Nẵng khi thiết kế quy hoạch xây dựng phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về quỹ đất cây xanh đô thị theo quy định trong quy chuẩn xây dựng và các tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch xây dựng hiện hành; trồng, duy trì và bảo vệ cây xanh; việc chặt hạ và dịch chuyển cây xanh đô thị phải đảm bảo đầy đủ thủ tục theo quy định và dành quỹ đất phát triển vườn ươm cây xanh; đồng thời khuyến khích xã hội hóa công tác quản lý, trồng, chăm sóc, bảo vệ cây xanh đô thị...
Theo kinh nghiệm của người dân, với những tuyến đường có lề hẹp không thể trồng cây lớn phải sử dụng khung thép tạo thành vòm bắc qua đường rồi trồng cây dây leo. Tùy theo vị trí cụ thể để bố trí từ 1 đến 2 khung liên tiếp để thay đổi không gian, làm phong phú thêm cho cảnh quan của trục đường. Ngoài ra, để bổ sung thêm cây xanh cho đô thị thì cần có thêm các bức tường cây xanh hay còn gọi là vườn thẳng đứng ở các nơi, như: cổng chào, dải phân cách, sẽ làm dịu bớt căng thẳng và về mặt mỹ quan cũng sinh động hơn.
Sở Xây dựng đã có văn bản hướng dẫn trồng cây xanh trên các tuyến đường, cách trồng cây đã được UBND thành phố quy định chi tiết. Cần lưu ý, khi trồng cây phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật; phải cắt dây buộc bầu rễ; loại bỏ tất cả xà bần, phế liệu xây dựng, bê tông, nhựa đường, cát, đá khỏi hố; Cây mới trồng phải được chống giữ chắc chắn, ngay thẳng...
Đối với công tác giám sát, nghiệm thu, Phó Chủ tịch UBND TP. Đà Nẵng kiêm Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam Nguyễn Ngọc Tuấn yêu cầu: Hội đồng nghiệm thu phối hợp với chính quyền địa phương cùng tham dự giám sát trong quá trình thi công (lưu ý hố trồng cây). Đồng thời cho phép đào ngẫu nhiên để kiểm tra chất lượng hố, hỗn hợp đất trồng cây, bầu rễ… khi nghiệm thu bàn giao công trình.
Ngoài những giải pháp về kỹ thuật, tổ chức quản lý, thi công, giám sát, nghiệm thu, cần phải tích cực tuyên truyền, vận động trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh. Duy trì phong trào “Ngày chủ nhật Xanh - Sạch - Đẹp”, “Tết trồng cây”, “Khuyến xanh”… Mặt khác, chính quyền các cấp cần có biện pháp chế tài mạnh để xử lý người vi phạm xâm hại đến cây xanh, hoa, kiểng. Để cải thiện hệ thống cây xanh trên địa bàn thành phố nhất là cây xanh ngã đổ sau bão số 11, UBND TP. Đà Nẵng đã có Thông báo số 378/2013 của về giải pháp quản lý, trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh.
Tại Kỳ họp thứ 8, HĐND Thành phố khóa VIII diễn ra ngày 12/12/2013 các đại biểu HĐND đề nghị thành phố cần có chủ trường xã hội hoá về trồng và bảo vệ cây xanh. Việc xã hội hóa để vận động nhân dân, từng hộ gia đình trồng và bảo vệ tốt hơn, ý thức trách nhiệm cao hơn thông qua việc phân bổ cây cho các hộ gia đình trồng và tự chăm sóc. Đồng thời, các đại biểu cho rằng lượng lớn cây xanh ngã đổ trong bão số 11 cho thấy công tác trồng, chăm sóc cây xanh đô thị còn bất cập và đề nghị xử lý công khai trách nhiệm của tập thể, cá nhân để xảy ra tình trạng này. (Tài Nguyên&Môi Trường 18/12) đầu trang(
Là người dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên tại thôn Tân Thủy, xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa giờ đã ở tuổi 82 nhưng cụ Vi Tiến Bộ vẫn ngày ngày miệt mài cùng con cháu trồng rừng làm kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Nhớ lại khi Nhà nước có chính sách giao đất, giao rừng cho người dân để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, cụ đã mạnh dạn nhận về 12ha đồi, cùng gia đình bắt tay vào khai hoang, vay vốn ngân hàng, thuê nhân công trồng luồng, vải thiều. Thời gian đầu, do điều kiện thời tiết không thuận lợi lại chưa có kinh nghiệm trồng cây vải, năng suất chưa cao. Dần dà, cụ nhờ con cháu tìm tòi nhiều phương pháp kĩ thuật hay trên sách báo, học hỏi từ cán bộ chuyên ngành và tự rút kinh nghiệm bản thân, nên cây trồng ít sâu bệnh hơn, hằng năm cho thu nhập năng suất cao.
Khi có trong tay số vốn đáng kể từ nguồn thu vải thiều, cụ cùng gia đình mua thêm rừng của các hộ khác, nâng tổng số diện tích rừng của gia đình lên gần 20ha. Vài năm trở lại đây, thấy cây keo mang lại giá trị kinh tế cao, cụ phá bỏ vải thiều chuyển sang trồng keo.
Hiện tại, trên diện tích rừng của mình, cụ Bộ đang có 14ha luồng và gần 6ha các loại cây khác. Tất cả đều xanh tốt và cho thu hoạch với thu nhập ổn định đều đặn hằng năm. Ngoài trồng rừng, cụ và gia đình còn đào ao thả cá và nuôi gia súc, gia cầm. Mỗi năm, nguồn thu nhập gia đình từ trồng rừng và chăn nuôi ước tính đạt khoảng trên một 100 triệu đồng. (Người Cao Tuổi 20/12) đầu trang(
Đây là tình trạng chung của rất nhiều cơ sở chăn nuôi động vật hoang dã tại tỉnh Bình Phước.
Do chạy theo thị trường, tình trạng nuôi nhiều loại động vật hoang dã như nhím, heo rừng đang tự phát tràn lan ở các địa phương trong tỉnh Bình Phước. Theo thống kê, toàn tỉnh hiện có hơn 320 cơ sở được cấp giấy chứng nhận đăng ký nuôi nhốt động vật hoang dã, với hơn 10.000 cá thể.
Tuy nhiên, theo ghi nhận của nhóm phóng viên VTV, hiện nay nhiều hộ nuôi nhím đang gặp khó về vấn đề đầu ra. Với số vốn ban đầu người dân bỏ ra khá cao, nhưng đến lúc xuất chuồng lại không có thương lái đến mua, nếu có mua giá lại rất thấp.
Thêm vào đó, các hộ nuôi động vật hoang dã lại gặp rủi ro khi chưa được trang bị kiến thức, kỹ thuật chăm sóc, phòng chữa bệnh. Theo các chuyên gia Thú y, động vật hoang dã dễ nuôi nhưng không hẳn là không mắc bệnh, đặc biệt là khi nuôi với số lượng lớn, đại trà cũng dễ nhiễm dịch như một số vật nuôi thông thường khác. (VTV 20/12) đầu trang(
Ông Lý Vinh Quang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn vừa giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Sở Công Thương và các cơ quan liên quan chỉ đạo các chủ dự án xây dựng công trình thủy điện thực hiện kế hoạch trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang xây dựng công trình thủy điện.
Hằng năm dự thảo báo cáo của UBND tỉnh về tình hình thực hiện trồng rừng thay thế để báo cáo Bộ NN&PTNT. (Langson.gov.vn 20/12) đầu trang(
16/12, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông 1-7 ( thuộc phòng CSGT Nghệ An ) đã bắt vụ vận chuyển chim hoang dã và vịt, gà con và da, nội tạng động vật không có giấy tờ hợp lệ
Trong lúc tuần tra tại km 04+500 Quốc lộ 7, Tổ tuần tra kiểm soát giao thông 1-7 đã tiến hành kiểm tra xe khách mang biển kiểm soát 76M-4127 do anh Lê Văn Liệu, thường trú tại tỉnh Quảng Ngãi điều khiển, đã phát hiện trong xe có 09 thùng giấy xe vận chuyển 450 cá thể chim cảnh chào mào không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc xuất xứ. Ngoài ra, trên xe khách này còn chở gần 5000 con vịt, gà con và hơn 600 kg da, nội tạng động vật sai với qui định.
Tổ tuần tra kiểm soát giao thông 1-7 đã lập biên bản tạm giữ xe ô tô cùng số chim trên và gia cầm nói trên. Đồng thời bàn giao cho Đội kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng số 1 Nghệ An và Trạm Thú y Diễn Châu xử lý theo quy định của Pháp luật. (Nghean.gov.vn 19/12) đầu trang(
Trong năm 2013, tình hình lấn chiếm, sang nhượng đất rừng trái phép để trồng các loại cây ngắn ngày, dài ngày trên địa bàn huyện Hàm Thuận Nam xảy ra hết sức phức tạp và tràn lan.
Tại khu vực rừng phòng hộ của Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Móng - Ca Pét đã có 127 trường hợp lấn chiếm, sang nhượng 167,2 ha đất rừng trái phép. Mục đích phá rừng, lấn chiếm, sang nhượng đất rừng trái phép để trục lợi, chứ không phải do bức xúc về đất sản xuất. (Nông Thôn Ngày Nay 19/12) đầu trang(
Ngày 18/12, lực lượng CSGT Công an tỉnh Quảng Bình đã bàn giao tang vật và phương tiện vận chuyển gỗ trái phép cho Kiểm lâm Quảng Bình tiếp tục xử lý.
Trước đó, ngày 17/12, trên quốc lộ 1A đoạn qua xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tổ tuần tra của CSGT Công an Quảng Bình đã phát hiện xe ôtô khách mang BKS 98B-002.95 do Nguyễn Văn Thanh (33 tuổi), trú ở huyện Yên Dũng, Bắc Giang điều khiển đang vận chuyển 0,4m3 gỗ hương và gần 2m3 gỗ mít.
Đến 5h sáng cùng ngày trên quốc lộ 1A, lực lượng CSGT Công an Quảng Bình tiếp tục phát hiện xe ôtô BKS 73C-014.02 do Lê Xuân Hồng, trú ở xã Hóa Tiến, huyện Minh Hóa điều khiển vận chuyển 4m3 gỗ táu.
Tại thời điểm bị bắt giữ, tất cả số gỗ 2 xe vận chuyển nói trên đều không chứng minh được giấy tờ nguồn gốc xuất xứ. (Công An Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Qua kiểm tra hàng chục khối gỗ quý nghi nhập lậu bị tạm giữ tại cửa khẩu Hoa Lư (Bình Phước).
Cơ quan hải quan đã bước đầu phát hiện phần lớn lượng gỗ này thuộc loại không được phép quá cảnh qua Campuchia hay không được đi qua cửa khẩu quốc tế Hoa Lư. Điều này đã phần nào hé mở cho những bất thường của nhiều lô hàng gỗ khi nhập khẩu từ Campuchia vào Việt Nam tại khu vực cửa khẩu này. (VTV 19/12) đầu trang(
Như đã đưa tin, Cục Hải quan Hải Phòng vừa triệt phá thành công chuyên án đấu tranh chống vận chuyển trái phép khoảng 80 tấn gỗ quý hiếm, chứa trong 8 container chủ yếu là gỗ Giáng hương đỏ Ấn Độ và 1 container gỗ Tếch Nam Phi. Lô gỗ này có trị giá bao nhiêu? Vì sao Hải quan Hải Phòng có thể cất được “mẻ lưới” lớn này?
Theo quan sát của phóng viên tại hiện trường, các thân gỗ trong lô gỗ quý hiếm trên đã được lọc bỏ hết phần thịt bên ngoài chỉ còn lại phần lõi, có chiều dài trên dưới 3 mét, đường kính trên dưới 30 cm, một số cây đường kính trên 40 cm. Các lô gỗ có màu đỏ sẫm, có hương thơm. Các thân gỗ này có trọng lượng riêng rất nặng, chỉ một đoạn mẫu vật ngắn khoảng 30cm được Hải quan Hải Phòng cắt ra phục vụ công tác điều tra mà tôi phải dùng hai tay mới có thể bê lên được.
Tiến sĩ Đặng Tất Thế (Viên Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: Theo kết quả giám định của Viện, các lô gỗ màu đỏ do Hải quan Hải Phòng bắt giữ là Giáng hương santa Ấn Độ (tên khoa học là Pterocarpus santalinus, thuộc chi Giáng hương). Tiến sĩ Thế cho biết, do loài gỗ này có mầu đỏ và có hương thơm nên ở Việt Nam nhiều người lầm tưởng là gỗ Sưa đỏ. Nhưng thực chất gỗ Sưa thuộc chi khác (Chi Dalbergia, cùng chi với gỗ Trắc, Cẩm lai…).
Tuy nhiên, gỗ Giáng hương đỏ vẫn hết sức quy hiếm vì công dụng và những giá trị có tính chất tâm linh của nó. Ở Ấn Độ, loài gỗ này được dùng để làm các đồ tâm linh, đồ thủ công mĩ nghệ, hoặc dùng chiết xuất tinh dầu làm hương liệu, nghiền thành bột thơm phục vụ việc làm đẹp (chủ yếu cho phụ nữ).
Tại Trung Quốc, thời nhà Minh, nhà Thanh vua, chúa rất thích dùng đồ làm từ gỗ Giáng hương đỏ. Đến nay, nhiều gia đình giàu có ở quốc gia này cũng rất chuộng các sản phẩm làm từ gỗ Giáng hương để thể hiện sự quyền quý.
Theo Tiến sĩ Thế, để hạn chế khai thác gỗ Giáng hương đỏ, từ lâu Ấn Độ đã đưa mặt hàng này vào Phụ lục 2 của Công ước CITES (Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp). Theo đó, khi buôn bán, vận chuyển loại gỗ này phải có giấy phép của cơ quan quản lí CITES. Từ nhiều năm nay Ấn Độ gần như không cấp phép XK gỗ Giáng hương.
Tiến sĩ Thế cho biết thêm, chi Giáng hương có hàng trăm loài như Giáng hương Lào, Giáng hương Campuchia…. Nhưng đây là những loài gỗ khác loài (với Giáng hương đỏ Ấn Độ) và là gỗ bình thường, nên không thể so sánh (về mức độ quý giá) với Giáng hương đỏ Ấn Độ.
Ông Đỗ Quang Tùng- Giám đốc cơ quan quản lí CITES Việt Nam cho biết, tại Việt Nam gỗ Giáng hướng đỏ nằm trong Phụ lục 2 của Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của Công ước CITES ban hành kèm theo Thông tư 40/2013/TT-BNNPTNT.
Việc buôn bán, vận chuyển qua biên giới các mặt hàng thuộc Phụ lục 2 (như gỗ Giáng hương) bắt buộc phải có giấy phép của cơ quan quản lí CITES nước XK cấp và phải có giấy phép đồng ý NK của cơ quan quản lí CITES nước NK.
Việc vận chuyển gỗ Giáng hương mà không có các giấy tờ liên quan trên (như vụ việc do Hải quan Hải Phòng phát hiện, bắt giữ) đã vi phạm quy định Công ước CITES mà Việt Nam là thành viên cũng như vi phạm quy định Nghị định 82/2006/NĐ-CP về quản lí hoạt động XNK, tái XK, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, gỗ Giáng hương đỏ hiện nay chủ yếu được rao bán theo kg. Mỗi kg có giá từ vài trăm nghìn đồng đến vài triệu đồng. Như vậy, có thể khẳng định lô gỗ bị bắt giữ ở Hải Phòng có giá lên đến nhiều tỉ đồng.
Để thu được mẻ lưới lớn trên là thành quả của một kế hoạch đánh án tỉ mỉ, bí mật và có sự kết hợp của các trang thiết bị phục vụ công tác tại Hải quan Hải Phòng. Theo Hải quan Hải Phòng, từ tháng 9, đầu tháng 10-2013, trinh sát của Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng đã có thông tin về đường dây vận chuyển trái phép lượng lớn gỗ quý hiếm từ Ấn Độ và một số quốc gia khác về cảng Hải Phòng.
Tuy nhiên, số hàng trên được xuất đi từ một số quốc gia khác nhau, trên những chuyến tàu khác nhau về nhiều cảng khác nhau ở Hải Phòng và vào nhiều thời điểm khác nhau. Do đó, việc đánh án không khéo sẽ dễ “rút dây động rừng”. Chính vì vậy, những lô hàng nghi vấn, khi cập cảng Hải Phòng, lực lượng Hải quan tổ chức trinh sát xác minh thông tin và sử dụng các phương tiện kĩ thuật để bí mật kiểm tra container.
Khi xác định được những container chứa hàng vi phạm đầu tiên (vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11-2013), lực lượng Hải quan chưa mở container để kiểm đếm tang vật mà tiếp tục theo dõi, giám sát chặt chẽ để không đánh động đối tượng đang có kế hoạch chuyển tiếp các lô hàng khác về. Đến tháng 12-2013, Hải quan Hải Phòng tiếp tục phát hiện, bắt giữ 2 lô gỗ quý hiếm (1 container gỗ Giáng hương Ấn Độ, 1 container gỗ Tếch Nam Phi).
Lãnh đạo Cục Hải quan Hải Phòng cho biết, nhờ yếu tố bí mật nên dù đối tượng tìm cách chia lẻ lô hàng để đưa về nhiều địa điểm, nhiều thời điểm khác nhau nhưng đơn vị đã kịp thời phát hiện và liên tiếp bắt giữ 8 container trong tháng 10, tháng 11 và tháng 12. Vấn đề sử dụng phương tiện kĩ thuật (đặc biệt máy soi container) để kiểm tra cũng góp phần quan trọng đảm bảo yếu tố bí mật, thành công của chuyên án. (Hải Quan 20/12) đầu trang(
Ngày 19/12, UBND tỉnh Quảng Nam cũng quyết định xử phạt 20 triệu đồng đối với ông Đinh Văn Liếu (40 tuổi, trú tại thôn Phước Lâm, xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc) về hành vi chở gỗ lậu; đồng thời tịch thu sung công quỹ 12 hộp gỗ xẻ, chủng loại gõ mật, thuộc nhóm IIA, khối lượng 1,071 m3.
Đây là số gỗ không có giấy tờ hợp lệ do ông Liếu chở trên ôtô tải BKS 92K-7940 và bị lực lượng kiểm lâm Quảng Nam bắt giữ trước đó. (Công An Nhân Dân 20/12; Thanh Niên 19/12) đầu trang(
Chiều 19/12, UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết, lãnh đạo tỉnh vừa ký quyết định xử phạt 40 triệu đồng đối với ông Cao Khả Hùng (51 tuổi, trú quận Hải Châu, TP Đà Nẵng) về hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Trước đó, ngày 9/12, ông Hùng điều khiển xe ôtô đầu kéo BKS 43C-028.69 kéo theo container BKS 43R-003.46 chở 24 thanh gỗ cẩm lai (thuộc nhóm 2a) có khối lượng trên 1,6m3 và bị Hạt Kiểm lâm thị xã Hương Thủy phát hiện bắt giữ.
Số gỗ quý trên đã bị tịch thu và xử lý theo quy định pháp luật. (Tiền Phong 20/12; Công An Nhân Dân 19/12) đầu trang(
Vừa qua một số thông tin cho rằng một lô gỗ trắc gần 50 m3 NK qua cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị) có hành vi vi phạm vì không có giấy phép NK của cơ quan quản lí CITES. Tuy nhiên, qua trao đổi với một số cơ quan chức năng và đối chiếu với văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành, lô gỗ trắc này không nằm trong nhóm phải có giấy phép của CITES khi NK.
Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo (Cục Hải quan Quảng Trị), lô gỗ trắc trên do Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp (trụ sở tại Nghệ An) mở tờ khai NK số 2786 ngày 3-12-2013. Hàng hóa NK là gỗ trắc lai (tên khoa học: Dalbergia Oliveri), số lượng gần 50 m3 gồm: 10,265 m3 gỗ xẻ; 11,114 m3 gỗ tròn; 25,3 m3 gỗ tận dụng dạng cành, ngọn.
Trước khi mở tờ khai NK, ngày 1-12-2013, Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp có công văn số 05/TTCT do Giám đốc Nguyễn Trung Quý kí đề nghị được lấy mẫu đi giám định trước khi mở tờ khai. Theo đại diện Công ty, số gỗ trắc trên được DN thu mua từ Lào.
Tuy nhiên, để việc khai báo chính xác, Công ty đề nghị được xem trước hàng hóa và lấy mẫu giám định, tránh trường hợp khai báo sai mặt hàng và để xác minh mặt hàng NK có thuộc hàng hóa XNK có điều kiện hay không (bởi thực tế gỗ trắc có hơn 150 loại khác nhau, trong đó một số ít loài phải có giấy phép của cơ quan quản lí CITES- Công ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp khi NK - PV).
Căn cứ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 17, Thông tư 128/2013/TT-BTC ngày 10-9-2013 của Bộ Tài chính, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đồng ý cho DN lấy mẫu đi giám định. Hồi 16 giờ 15 phút, ngày 1-12-2013, cán bộ giám sát của Chi cục là Nguyễn Văn Tư và đại diện DN là bà Võ Thị Thu Thảo đã hoàn tất việc lấy mẫu, lập Biên bản chứng nhận ghi nhận nội dung lấy mẫu theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 3-12-2013, Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp đăng kí tờ khai số 2786 NK. Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo, ngoài bộ chứng từ thông thường (tờ khai, Hợp đồng, Invoice, Packinglist, tờ khai trị giá, Bill of truck…) DN còn xuất trình thông báo kết quả giám định của Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường thuộc Đại học quốc gia Hà Nội (gọi tắt là Trung tâm).
Đây là một trong bốn Cơ quan khoa học CITES của Việt Nam được quy định tại Điều 14 Nghị định 82/2006/NĐ-CP của Chính phủ, có chức năng, nhiệm vụ tư vấn, giám định mẫu thực vật.
Theo Biên bản mở niêm phong do Trung tâm lập ghi nhận: Dấu niêm phong (hải quan) còn nguyên vẹn (niêm phong hải quan số AA/12-426162; AA/12-426163; AA/12-426164); tổng số mẫu trong hộp niêm phong là 2 mẫu gỗ. Kết quả giám định của Trung tâm các mẫu gỗ trong lô hàng của Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp có tên “trắc lai”, tên Latin là Dalbergia Oliveri.
Từ kết quả giám định và kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa NK của DN không có dấu hiệu vi phạm, Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đã tiến hành thông quan cho lô hàng theo quy định.
Trao đổi về việc phân nhóm và quy định về giấy tờ NK đối với mặt hàng gỗ trắc, Tiến sĩ Đặng Tất Thế (Viên Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam) cho biết, gỗ trắc thuộc họ đậu, có trên 150 loài khác nhau. Phần lớn các loài gỗ trắc không nằm trong các phụ lục của Công ước CITES, trong đó có gỗ trắc có tên khoa học Dalbergia Oliveri (như lô gỗ Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp nhập về).
Theo Tiến sĩ Thế, hiện nay chỉ có khoảng 4-5 loài nằm trong phụ lục II của Công ước CITES (gỗ nằm trong phụ lục II khi XNK phải có giấy phép của cơ quan quản lí CITES).
Trong Phụ lục II của Danh mục các loại động thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của Công ước CITES ban hành kèm theo Thông tư 40/2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng không có gỗ trắc lai (Dalbergia Oliveri).
Mặt khác, theo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Công văn 10600/VPCP-KTN ngày 13-12-2013 của Văn phòng Chính phủ: Trường hợp tên khoa học của gỗ trắc có nguồn gốc từ Lào không trùng với tên khoa học ghi trong phụ lục Công ước CITES, các DN được phép NK như các loài gỗ thông thường. Trường hợp tên khoa học của gỗ trắc có nguồn gốc từ Lào trùng với tên khoa học ghi trong phụ lục Công ước CITES, thực hiện cấp phép theo quy định.
Như vậy, theo kết quả giám định của Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội) lô gỗ trắc của Công ty TNHH Sơn Đại Hiệp NK tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo không nằm trong nhóm phải có giấy phép của CITES và Chi cục Hải quan cửa khẩu Lao Bảo đã giải quyết thủ tục hải quan cho DN đúng quy định. (Hải Quan 19/12) đầu trang(
Nhiều hộ trồng rừng xã Thanh Hà, Thanh Chương (Nghệ An) chỉ dám đầu tư cầm chừng và hoang mang về quyền sở hữu diện tích đất đã được cấp lâu nay. Còn cán bộ xã giải thích rằng, ngày trước xã cấp nhầm sang địa giới hành chính của xã khác, nay phải cắt trả lại. Trong khi UBND huyện Thanh Chương có công văn yêu cầu các xã liên quan phối hợp giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho người dân thì các xã chỉ làm lấy lệ...
Theo ông Hoàng Văn Luyện, cán bộ địa chính, Thanh Hà hiện có hơn 2.800 ha đất lâm nghiệp, đã cấp được 393 bìa đỏ cho các hộ dân. Còn 50 hộ đã làm thủ tục xin cấp đất lâm nghiệp và thực tế đã sử dụng nhưng chưa làm được bìa đỏ vì “chưa có chủ trương”(?).
Ông Hoàng Văn Phơn - Chủ tịch UBND xã, ông Nguyễn Sóng Hồng, cán bộ lâm nghiệp xã Thanh Hà đều xác nhận, thực trạng xâm canh đất nông - lâm nghiệp giữa công dân các xã Thanh Hà, Võ Liệt, Thanh Thủy, Thanh Tùng đã tồn tại từ lâu nhưng chính quyền các xã không để ý. Khi đất rừng chưa có “giá”, việc nhận đất rừng không mấy ai quan tâm nên theo lời ông Hồng thì “Là cán bộ, đảng viên, một số cán bộ xã đã tiên phong nhận.
Theo NĐ 02/CP, đất đó (một số đất rừng của xóm 11 - PV) không phải của dân mà do cán bộ nhượng lại cho họ (?). Sau khi cấp đất lâm nghiệp, có bìa xanh, UBND xã Thanh Hà lại cấp đất trang trại, trùng lên đất lâm nghiệp đã được giao trước đây cho các hộ dân với điều kiện họ phải có từ 10 ha/hộ trở lên”. Lời ông Nguyễn Sóng Hồng đã thể hiện sự mâu thuẫn bởi trên thực tế, tại xã Thanh Hà, ngoài hộ ông Phan Đại Huỳnh còn một số hộ khác có diện tích chưa đầy 9 ha lại được cấp bìa với mục đích làm trang trại?
Những sai lệch “lởm khởm” trên, cán bộ xã Thanh Hà giải thích rằng, trước đây việc giao đất, đo đạc hoàn toàn thủ công, đứng từ núi này chỉ sang núi kia để giao đất. Sau này, phương tiện đo đạc hiện đại, chính xác nên diện tích có biến động nhưng không nhiều, hình thể không thay đổi. Tuy nhiên, khi phóng viên dẫn một vài ví dụ có chênh lệch lớn về diện tích, thay đổi hoàn toàn hình thể thì cán bộ xã Thanh Hà biện giải là do lúc trước vẽ bằng tay không chính xác; đoàn khảo sát giao đất không đem bản đồ 364 ra đối chiếu nên một số diện tích cấp nhầm sang đất của xã khác nên phải cắt ra khỏi sổ đỏ để đem trả.
Nhưng các vị “công bộc” xã Thanh Hà quên rằng, chính các hộ dân đã nộp sổ lâm bạ yêu cầu làm bìa đỏ cho toàn bộ diện tích được giao trên thực địa đang sử dụng, họ có quyền được biết và chứng minh quyền sở hữu đối với diện tích đất rừng mà UBND huyện Thanh Chương đã cấp cho họ.
Tuy nhiên, thay vì trao đổi một cách thẳng thắn, minh bạch, việc cấp bìa cho các hộ trồng rừng tại Thanh Hà lại được thực hiện khi mà các hộ dân còn nhiều thắc mắc về diện tích, hình thể được cấp ban đầu, thời gian cấp bìa kéo dài (5 -6 năm), chỉ đến khi người dân đến hỏi thì UBND xã Thanh Hà mới chịu giao bìa. Dư luận có quyền đặt câu hỏi, liệu có điều gì khuất tất, mờ ám sau tất cả những sự việc nêu trên (?).
Về thông tin cho rằng, ông Hoàng Văn Luyện, cán bộ địa chính xã có đất được cấp xen vào giữa đất của 3 hộ dân thuộc xóm 4 gồm ông Phạm Văn Thân, Hoàng Văn Tiến, Biện Cường, ông Luyện xác nhận thông tin trên là chính xác nhưng không phải là “dắm” thêm một bìa đỏ sau khi thu hồi bìa xanh mà chính ông Luyện cùng các hộ trên đã làm hồ sơ, thủ tục xin cấp đất lâm nghiệp cùng một thời điểm (?).
Băn khoăn lớn nhất hiện nay của các hộ dân có đất trồng rừng nhưng một phần diện tích đã bị cắt xén do “giao nhầm” địa giới hành chính là đất đai, tài sản trên đất sẽ được giải quyết thế nào để họ yên tâm đầu tư sản xuất? Sau nhiều lần tiếp dân, UBND huyện Thanh Chương đã ra các văn bản yêu cầu các xã liên quan phối hợp giải quyết. Ngày 23/6/2006, UBND huyện Thanh Chương ra Thông báo số 754/TB-UBND giải quyết những tồn tại vướng mắc về đất đai tại tuyến địa giới hành chính giữa 2 xã Võ Liệt và Thanh Hà.
Trong đó có đoạn: “Đối với các hộ đã được giao đất lâm nghiệp và cấp sổ lâm bạ, nếu có xâm canh trên địa bàn 2 xã thì chấp nhận việc xâm canh đó và các hộ đang xâm canh phải chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi theo đúng quy định của pháp luật”.
Văn bản này ra trước ngày ký quyết định cấp bìa đỏ cho các hộ dân xã Thanh Hà. Vì vậy, có thể hiểu, mục đích văn bản hướng tới là giữ nguyên hiện trạng trên thực địa và trên giấy tờ sổ sách (bìa xanh) cho các hộ dân đã xâm canh. Với cách hiểu như thế, thực địa được giao theo bìa xanh sẽ được giữ nguyên nhưng không hiểu vì sao sau đó bìa đỏ được ký, nhiều hộ dân bị cắt xén diện tích, thay đổi hình thể ban đầu?
Tiếp theo là nhiều công văn với nội dung tương tự, đề nghị các xã liên quan phối hợp giải quyết. Ngày 4/9/2012, UBND huyện Thanh Chương ra Công văn số 175/UBND.TNMT, trong đó có đoạn: “Diện tích đất của 5 hộ là công dân của xã Thanh Hà được UBND huyện giao đất, mặc dù thuộc địa giới hành chính của xã Võ Liệt nhưng quyền lợi của các hộ vẫn được Nhà nước đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật....
Việc 5 công dân xã Thanh Hà được UBND huyện giao đất lâm nghiệp nay thuộc địa phận hành chính xã Võ Liệt thì các hộ đã được giao đất vẫn tiếp tục sử dụng đất và hưởng thành quả trên đất được giao theo pháp luật quy định, đồng thời người sử dụng đất phải chấp hành sự quản lý về đất đai của chính quyền xã Võ Liệt”.
“UBND xã Võ Liệt phải chủ trì phối hợp với UBND xã Thanh Hà xác định chính xác diện tích đất lâm nghiệp theo sổ lâm bạ của 5 hộ công dân xã Thanh Hà xâm canh sang địa giới hành chính của xã Võ Liệt... để các hộ nói trên biết rõ ranh giới đất đã được giao tại thực địa của hộ mình, từ đó các hộ được tiếp tục sử dụng đất với hình thức xâm canh”- trích Công văn số 2068/UBND.CT của UBND huyện Thanh Chương ngày 9/10/2012.
Ông Trần Xuân Ngân - Trưởng phòng TNMT huyện Thanh Chương cho rằng: Thẩm quyền cấp bìa đất lâm nghiệp thuộc UBND huyện, trên cơ sở đề xuất, đồng ý của các xã. Trong trường hợp này, bìa đỏ đã được cấp, để lấy lại diện tích đất xâm canh trước đây đã được cấp, nay bị cắt xén, chủ sở hữu các vườn rừng trên phải gặp UBND các xã, là đơn vị quản lý về mặt Nhà nước diện tích đất trên để xin đồng ý làm thủ tục cấp đất. Tuy nhiên, ông Ngân cũng nhận định, để các xã này đồng ý cấp đất cho công dân xã khác là điều không dễ.
Chính vì thế, phương án cuối cùng, muốn lấy lại được đất, theo ông Phan Đình Hà - Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Chương thì chỉ còn cách “khởi kiện lên Tòa án giải quyết. Thẩm quyền lúc đó không thuộc UBND huyện”. Từ chỗ sai sót của cán bộ xã, “quả bóng” trách nhiệm đã được đẩy sang phía Tòa án, chẳng khác nào đem con bỏ chợ.
Trong khi chờ đợi sự phán xét công minh của các ban ngành hữu quan huyện Thanh Chương, nhiều hộ dân trồng rừng xã Thanh Hà vẫn canh cánh nỗi lo mất đất hiện hữu. Việc cấp đất và sau đó thay đổi diện tích, hình thể đất rừng của nhiều hộ dân, hàng chục sổ đỏ “bặt vô âm tín” đương nhiên không phải lỗi tại người dân nhưng đến nay họ đang phải gánh chịu hậu quả. (Báo Nghệ An 29/12) đầu trang(
Ngày 19/12, ông Tạ Tự Bình - Phó Trưởng ban Ban Pháp chế HĐND TP Đà Nẵng cho biết, Thành ủy đang theo sát từng bước xử lý “chuyện kỳ quặc” trong công tác quản lý và tình trạng phá rừng phòng hộ tại bán đảo Sơn Trà.
Ông Bình cho hay, tại phiên họp chất vấn ngày 13/12, Bí thư Thành ủy Đà Nẵng Trần Thọ có ý kiến: “Được cơ quan nhà nước giao quản lý và bảo vệ rừng nhưng rồi cho thuê rừng thì Giám đốc Sở NN-PTNT không biết. Chỉ có ông Giám đốc Sở Xây dựng biết. Như thế chứng tỏ một điều rất kỳ quặc!".
Ông Bí thư sau đó đã có quyết định giao UBND thành phố xử lý vụ việc đồng thời trả lời rõ những câu hỏi: “Tại sao rừng phòng hộ của Đà Nẵng lại đem cắt đi bán? Ai cho bán? Thứ nữa là kiểm lâm ở đâu mà để người ta chặt phá rừng đặc dụng như thế? Và khi nào trồng lại?", ông Bình cho biết thêm.
Dù đã trả lời việc cắt 5ha rừng phòng hộ quốc gia để lập dự án là do UBND TP giao cho Sở Xây dựng cùng Cty Bamboo thực hiện. Khi phát hiện sai phạm UBND TP quyết định xử phạt 50 triệu đồng, Sở NN-PTNT không biết việc này.
Câu trả lời của Giám đốc Sở NN-PTNT Đà Nẵng, ông Trần Đình Quỳnh chưa làm các đại biểu hài lòng. Bởi lẽ, Sở NN-PTNT là người chủ quản lý rừng mà lại không biết việc cấp phép này thì đúng là “điều kỳ quặc”.
Tuy nhiên, chuyện kỳ quặc này không chỉ xảy ra ở riêng Đà Nẵng mà còn là tình trạng chung của cả nước. Rất nhiều địa phương đã vào cuộc quyết liệt, yêu cầu công an điều tra, trong khi đó các đại biểu, chuyên gia cũng gay gắt lên tiếng yêu cầu phải rà soát lại toàn bộ. (Đất Việt 20/12) đầu trang(
Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Nam Nung hiện đang chịu nhiều tác động bất lợi bởi những khu rừng vùng giáp ranh bị xâm hại, trong khi lực lượng quản lý, bảo vệ lại mỏng.
Khu BTTN Nam Nung có tổng diện tích tự nhiên hơn 12.300 ha, trong đó 12.100 ha đất rừng tự nhiên, nằm trên địa bàn các xã Nâm Nung, Nâm N’đir, Đức Xuyên (Krông Nô), Quảng Sơn (Đắk Glong), Đắk Hòa (Đắk Song) và được chia thành 12 tiểu khu với nhiều hệ động, thực vật quý hiếm.
Đến điểm giáp ranh giữa Khu BTTN Nam Nung với lâm phần quản lý của Công ty TNHH MTV Nam Nung, trên địa bàn xã Nâm N’đir đã thấy rẫy, nhà dân áp sát rừng đặc dụng. Dọc con suối Đắk Rí, rừng ở phần đất của công ty lâm nghiệp đã phải nhường chỗ cho cà phê, hồ tiêu xanh tốt. Xuống sát mép suối, dưới những vùng đất thấp, người dân đã trồng đậu, ngô xanh tốt.
“May mắn là có con suối ngăn cách khu rừng đặc dụng, chứ nếu không, người dân ra vào nơi đây rất dễ dàng”, ông Huỳnh Công Cẩn, Giám đốc Khu BTTN Nam Nung nói.
Tuy nhiên, bất chấp là có con suối Đắk Rí ngăn cách, ở nhiều điểm, người dân còn làm cầu vững chắc để đi vào rừng. Cũng ở đây, ngay khi thấy xuất hiện một chiếc xe máy cày chở một tốp người, các kiểm lâm viên của Khu bảo tồn đã yêu cầu chiếc xe ra khỏi khu rừng, cho dù người điều khiển phương tiện lý giải, bà con đi tìm củi?!. Các kiểm lâm viên cho rằng, ở đây mọi người chỉ cần bước ra khỏi nhà là đầy củi rồi, chứ không nhất thiết phải vào rừng đặc dụng. Từ tiểu khu 1297 đến tiểu khu 1303, hay xuống xã Đức Xuyên, rồi vòng về xã Đắk Hòa thì nhiều nơi, đường sá đã áp sát bìa rừng.
Nhìn cảnh trơ trọi của các khu rừng sản xuất bao quanh Khu BTTN Nam Nung, ông Cẩn không khỏi lo lắng: “Đến nay, nhiều diện tích rừng sản xuất giống như “áo giáp” bảo vệ đã không còn nên khu rừng đặc dụng này rất dễ bị những tác động bất lợi. Cũng vì có hàng trăm lối mòn vào rừng, nên đã tạo áp lực lên khu rừng đặc dụng rất lớn...
AnhNgân Văn Thảo, Phó Trạm quản lý bảo vệ rừng xã Nâm N'đir, thuộc Khu BTTN Nam Nung cho biết: “Rất may, thời gian qua, cơ quan đã tăng cường thêm lực lượng hợp đồng hỗ trợ cùng với anh em kiểm lâm chuyên trách. Chứ nếu không, chỉ vài cán bộ kiểm lâm ở trạm này thì phải tuần tra rừng liên tục và không biết khi nào mới có thời gian rảnh để về nhà”.
Mặc dù Khu BTTN Nam Nung có tổng diện tích hơn 12.000 ha rừng, nhưng đến nay đơn vị này mới có 12 cán bộ kiểm lâm. Trong khi theo quy định, cứ 500 ha rừng đặc dụng có một kiểm lâm viên thì ở đây, phải 1.000 ha mới có một người. Cũng theo ông Huỳnh Công Cẩn, chính vì số lượng kiểm lâm viên hạn chế nên đơn vị không thể bố trí lực lượng chia thành nhiều trạm để quản lý ở khu vực xung yếu như xã Đắk Hòa được.
Còn để hợp đồng thêm lực lượng bảo vệ rừng, cố lắm cũng chỉ được một vài người. Ngay đến việc dời trạm quản lý rừng ở vùng khó khăn nhất là xã Nâm N’đir (đã ở cách quá xa khu rừng) vào gần với bìa rừng cũng đã là một bài toán khó rồi. Vì vậy, với việc nhiều diện tích rừng sản xuất của các “chủ rừng” đã bị xâm hại thì Khu Bảo tồn cần phải xây dựng trạm quản lý rừng kiên cố ở gần bìa rừng, cũng như có thêm biên chế thì mới có thể đảm đương được công tác quản lý, bảo vệ rừng… (Báo Đăk Nông 18/12) đầu trang(
TIN THẾ GIỚI
Vào đúng thời điểm Giáng sinh sắp đến, một số báo cáo đáng báo động về tình trạng loài cá chình được phát hành. Không chỉ bị đe dọa bởi khai thác quá mức, các nhà máy thủy điện đang giết chết hàng trăm ngàn con cá chình mỗi năm.
Các báo cáo mới được công bố bởi cả các nhà khoa học biển tại ICES , cũng như HELCOM, phân loại tình trạng của loài cá chình là cực kỳ nguy cấp.
Ở châu Âu số lượng cá chình đã giảm ít nhất 95% trong 30 năm qua. Tất cả các hoạt động của con người đang ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của cá chình cần phải được xóa bỏ hoàn toàn nếu muốn loài này có bất kỳ cơ hội sống sót nào.
"Hầu hết mọi người hiện nay đều biết rằng cá chình là một loài bị đe dọa, nhưng tôi không chắc mọi người đều biết đến nó ở mức độ nào. Toàn bộ giới khoa học đều nói rằng cá chình có nguy cơ bị tuyệt chủng rất cao nếu không có giải pháp ngăn chặn. Dân số hoang dã gần như đã biến mất ", Hanna Paulomäki, Giám đốc dự án của Oceana ở biển Baltic cho biết.
Tuy nhiên, khai thác thủy sản không phải là nguyên nhân duy nhất đe dọa cá chình. Các rào cản di cư là một vấn đề lớn. Các con đập hỗ trợ sản xuất thủy điện đã cản trở sự di cư của cá ở phần lớn các dòng nước của Thụy Điển.
Hàng ngàn con đập là rào cản di cư vĩnh viễn đã lấy đi sự sống của quần thể cá chình và buộc loài này ra khỏi dòng của chúngi. Và mặc dù EU đã ra một chỉ thị yêu cầu các nước đang thay đổi và tăng cường các tuyến đường di cư của cá, nhưng vẫn có được bất kỳ hành động đầy đủ nào.
Cá chình là một trong những loài bị ảnh hưởng nhất khi nói đến các rào cản di cư. Cơ quan Khoa học nông nghiệp của Thụy Điển ước tính có khoảng 300.000 con cá chình chết mỗi năm do bị cán thành nhiều mảnh trong tua-bin thủy điện hoặc bị mắc kẹt ở cửa lấy nước vào.
Ở biển Baltic, một trong những biện pháp đối phó với sự suy giảm đáng kinh ngạc là bắt những con cá chình nhỏ và sau đó thả chúng dọc bờ biển Baltic.
"Nhưng đó không phải là một cách bền vững do cá chình con nên được đánh bắt từ một nơi nào đó và chúng đang bị đe dọa ở khắp châu Âu. Hơn nữa, có rất ít bằng chứng cho thấy những con cá chình này sẽ quay trở lại vùng biển Sargasso để đẻ trứng và sinh sản. Vì vậy, về cơ bản, nuôi cá chình là cách duy nhất để bảo tồn nghề cá không bền vững này", Magnus Eckeskog - chuyên gia thủy sản của Oceana cho biết. (Agroviet 20/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa
|
|||