Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 12 năm 2013
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
TIN THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Cả nước hiện có hàng trăm ngàn ha rừng đang do cộng đồng quản lý. Mặc dù Luật đất đai, Luật bảo vệ và phát triển rừng đã ghi nhận cộng đồng được nhà nước giao đất, giao rừng để quản lý nhưng vẫn thiểu cơ sở pháp lý và hướng dẫn để thực hiện quyền quản lý, sử dụng rừng giao cho cộng đồng.
Theo Cục Kiểm lâm, tổng diện tích đất có rừng ở Việt Nam hiện nay là hơn 15,3 triệu ha, chiếm 40,8% tổng diện tích đất. Đến nay, diện tích rừng được chính thức giao cho cộng đồng quản lý chỉ chiếm khoảng 5,1% tổng diện tích rừng của cả nước. Tuy nhiên, trên thực tế, diện tích rừng giao cho cộng đồng quản lý lại lớn hơn rất nhiều, ước chiếm khoảng 20% tổng diện tích rừng ở Việt Nam. Cục Kiểm lâm lý giải, ngoài diện tích rừng giao trực tiếp cho cộng đồng quản lý thì còn có diện tích rừng tạm giao cho các xã quản lý và giao lại cho cộng đồng.
Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, phân thành 3 loại: Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền thống tự nhiên từ nhiều đời nay; Rừng và đất rừng được chính quyền địa phương giao cho cộng đồng; Rừng và đất rừng do các tổ chức, cơ quan nhà nước, các nông lâm trường giao cho cộng đồng.
Các tỉnh, thành phố trong cả nước có rừng đều khẳng định, giao rừng cho cộng đồng quản lý có vai trò nhất định trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Khảo sát ở nhiều địa phương cho thấy: rừng được cộng đồng quản lý thì số vi phạm cây gỗ và lâm sản ngoài gỗ là rất ít.
Cộng đồng còn bảo vệ được diện tích rừng đã giao không để xảy ra xâm lấn và hầu hết các vụ vi phạm cây lấy gỗ đều được phát hiện và xử lý, như ở các thôn: Lũng Vài, Lũng Các (Cao Bằng); Bản Lằn (Sơn la); Suối Lông (Lạng Sơn); thôn Vài (Hòa Bình)… Theo các chuyên gia, để bảo vệ rừng cộng đồng, dứt khoát phải dựa vào cộng đồng.
Lễ cúng rừng của người Mông ở Thái Niên (Bảo Thắng) được tổ chức thường niên trên địa bàn xã mỗi dịp đầu xuân, thể hiện sự biết ơn của nhân dân đối với các vị thần linh cai quản rừng, cũng là hình thức bảo vệ rừng hiệu quả.
Tuy nhiên, trong hoạt động chăm sóc và phát triển rừng thì ở hầu hết các cộng đồng đều chưa được chú trọng. Theo ý kiến của người dân, thì do hướng dẫn chăm sóc rừng còn rất chung chung nên không phù hợp với đặc thù của mỗi vùng miền. Kinh phí để hỗ trợ cho phát triển rừng ở cộng đồng cũng còn quá thấp, chỉ từ 10 nghìn - 20 nghìn đồng/ngày công.
Trong khi đó, theo TS Phạm Xuân Phương (Bộ NN&PTNT), rừng giao cho cộng đồng phần lớn là rừng nghèo, ở vùng sâu vùng xa, hạ tầng thấp nên nguồn thu từ rừng rất hạn chế.
“Trên thực tế, cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ, khai thác nguồn lợi từ rừng để trang trải các chi phí liên quan đến việc bảo vệ rừng, khi phí hỗ trợ của nhà nuowcs rất hạn hẹp. Thậm chí ở một số nơi do không có nguồn thu từ rừng nên hàng năm cộng đồng phải đóng góp tiền hoặc ngày công cho bảo vệ rừng”, ông Phương nói. Ở một số địa phương, từ năm 2010 đến nay, người dân vẫn chưa nhận được tiền hỗ trợ phát triển rừng nên không có động lực để tiếp tục chăm sóc rừng.
Tại các địa phương thực hiện việc giao rừng cho cộng đồng quản lý cũng đã đề xuất: Cần nhanh chóng rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện khung pháp lý quản lý rừng theo cộng đồng. Hình thức quản lý rừng theo nhóm hộ cần được chính thức công nhận trong các văn bản pháp quy để tạo cơ sở pháp lý triển khai trên thực tế.
Việc giao đất rừng cho cộng đồng cần tránh áp đặt, rập khuôn mà nên thiết lập theo quy trình cơ chế “mở” để cộng đồng và địa phương tự thảo luận, lựa chọn hình thức quản lý rừng. Cần nhanh chóng triển khai hoạt động chi trả dịch vụ môi trường rừng ở những nơi có lưu vực và tăng hỗ trợ bảo vệ phát triển rừng. Xây dựng và điều chỉnh quy ước quản lý rừng cộng đồng để tăng hiệu lực bảo vệ rừng; giao rừng gắn với hỗ trợ và giám sát.
TS Nguyễn Nghĩa Biên (Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng) đề nghị, nên mở rộng khái niệm về quản lý rừng cộng đồng theo hướng: Quản lý rừng của cộng đồng; Quản lý rừng dựa vào cộng đồng; Đồng quản lý rừng; Quản lý rừng theo nhóm hộ. Khái niệm về sử dụng rừng cũng cần được mở rộng, như: Khai thác lâm sản, các giá trị dịch vụ môi trường rừng (điều tiết nước, bảo vệ đất, kinh doanh du lịch sinh thái, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ khí thải carbon REDD+…), bảo tồn đa dạng sinh học.
Cộng đồng dân cư có rừng cộng đồng cũng phải được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về vốn theo chính sách của nhà nước; Được chuyển đổi rừng, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh trồng rừng; thếp chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng với các tổ chức, cá nhân để kinh doanh và dịch vụ lâm nghiệp. (Người Đưa Tin 19/12) đầu trang(
Ông Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Vườn Quốc gia Tràm Chim cho biết Vườn Quốc gia Tràm Chim hiện có thảm thực vật phong phú với hơn 130 loài thực vật bậc cao, 6 kiểu quần xã đặc trưng, gồm: Sen, lúa trời, năng, mồm mốc, cỏ ống, rừng tràm.
Quần xã lúa trời hay còn gọi là "lúa ma" (có tên khoa học là Oryza rufipogon) hiện được lưu giữ và bảo tồn tại Vườn Tràm Chim với diện tích hơn 800ha. Hiện nay, lúa đã chín, đang vào mùa thu hoạch và đã được Vườn Quốc gia thực hiện chương trình du lịch trải nghiệm thu hoạch lúa trời trên phạm vi khai thác là 134ha.
Được Vườn Quốc gia Tràm Chim bảo tồn cho đến ngày nay, lúa trời nằm rải rác trong các khu và nhiều nhất là ở khu vực trạm Phú Hiệp, Phú Đức và Phú Thành B. Giống lúa trời xen lẫn phổ biến các loài quần xã khác trong vườn đất ngập nước như: Lúa trời xen lẫn cỏ ống, cỏ bắc, cỏ chỉ.
Giống lúa trời thường trổ bông vào tháng 10 và bắt đầu chín rộ vào tháng 11, tháng 12. Bông lúa trời hạt chín với vỏ trấu màu vàng đen, có chiếc đuôi dài. Giống lúa này mỗi lần chỉ chín vài hạt chứ không chín cả bông như những giống lúa khác. Lúa trời chín vào mùa nước nổi nên muốn thu hoạch phải dùng xuồng và người dân khi thu hoạch chỉ dùng cây để đập.
Lúa trời cũng là loại lúa chịu phèn tốt, vượt nước rất tốt, có thể vượt nước có độ sâu 3-5 mét. Khi nước lũ dâng cao, lúa ngoi lên khỏi mặt nước, mỗi ngày lúa trời vươn cao từ 0,1-0,15 mét và tồn tại được trên dòng nước dữ, làm thức ăn cho nhiều loài. Nhờ có lúa trời, chuỗi cung cấp thức ăn cho hệ sinh thái ngập nước không bị đứt gãy ở Vườn Quốc gia Tràm Chim. Gạo của giống lúa trời tuy nhỏ nhưng rất thơm ngon, dẻo, có vị ngọt.
Ông Lê Hoàng Long, Giám đốc Trung tâm Du lịch và giáo dục môi trường Vườn Quốc gia Tràm Chim cho biết: Vào mùa này, Vườn thường tổ chức cho du khách trải nghiệm thu hoạch lúa trời. Vườn đã có 5 chiếc xuồng chuyên đập (thu hoạch) lúa trời, phạm vi khai thác 134ha ở khu vực trạm Phú Hiệp, Phú Đức, chiếm hơn 16% diện tích lúa trời có trong Vườn.
Việc khai thác lúa trời trong phạm vi Vườn Tràm Chim vẫn đảm bảo môi trường sinh thái và tạo điều kiện cho du khách được trải nghiệm cách thu hoạch lúa trời, hiểu hơn về sinh kế mùa nước nổi của cư dân Đồng Tháp Mười.
Về Tràm Chim mùa nước nổi, không chỉ du khách mà ngay cả cư dân miệt vườn Nam Bộ cũng cảm thấy hào hứng, có cảm giác vừa quen, vừa lạ với thiên nhiên vùng đất ngập nước.
Diện tích lúa trời được Vườn Quốc gia Tràm Chim bảo tồn đã tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu khảo sát, sưu tập quần thể lúa trời tại vùng ngập sâu và phèn nặng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long, làm cơ sở cho cán bộ kỹ thuật lai tạo những giống lúa thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. (VietnamPlus.vn 1/12) đầu trang(
Với vai trò là lực lượng nòng cốt trong quản lý, bảo vệ và phát triển vốn rừng, Hạt Kiểm lâm Lang Chánh đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, trong đó công tác tuyên truyền, giáo dục được coi là nhiệm vụ trọng tâm.
Hạt đã phối hợp với đài truyền thanh huyện, UBND các xã, các đoàn thể tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR); phổ biến các quy định trong chế biến, kinh doanh lâm sản và động vật rừng, quyền lợi, nghĩa vụ của chủ rừng đến đông đảo nhân dân.
Tham mưu cho UBND huyện tăng cường chỉ đạo các ngành chức năng, các xã kiện toàn ban chỉ đạo (BCĐ) về bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng (BV&PCCCR) theo Chỉ thị 12 của Thủ tướng ủ. Phối hợp với lực lượng quân đội, thanh niên, dân quân, chính quyền các xã chuẩn bị về lực lượng sẵn sàng tham gia BV&PCCCR, tuần tra, truy quét và xử lý nghiêm các đối tượng có hành vi vi phạm lâm luật. Nhờ đó, 11 tháng năm 2013 trên địa bàn huyện không xảy ra cháy rừng, diện tích rừng và đất rừng được bảo vệ và ít bị xâm hại.
Thực hiện công tác phát triển vốn rừng, trồng rừng sản xuất theo Dự án 147, Hạt Kiểm lâm Lang Chánh đã tham mưu cho UBND huyện thành lập BCĐ phát triển lâm nghiệp huyện, BCĐ thực hiện dự án huyện và ban quản lý dự án; xây dựng kế hoạch và tổ chức cho nhân dân các xã thuộc địa bàn quản lý trồng rừng.
Năm 2009 – năm đầu thực hiện dự án, do làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân và được sự ủng hộ của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, sự chỉ đạo, tạo điều kiện của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, đã có 883 hộ dân ở 10 xã tham gia trồng 822 ha rừng. Cán bộ kiểm lâm huyện cũng luôn nắm bắt chính xác tình hình biến động về diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn, làm cơ sở để xây dựng kế hoạch quản lý, bảo vệ, phát triển vốn rừng đạt hiệu quả.
Tăng cường hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn kỹ thuật tại hiện trường, trong đó tập trung chỉ đạo trồng rừng thâm canh, có chăm sóc, bón phân cho các hộ tham gia dự án. Để có nguồn giống bảo đảm chất lượng cung ứng cho các hộ trồng rừng, năm 2009, hạt đã xây dựng vườn ươm quy mô hơn 3.000 m2 tại xã Trí Nang, hàng năm tổ chức sản xuất, gieo ươm khoảng 50 vạn cây giống, đáp ứng 90% nhu cầu cây giống trồng rừng dự án trên địa bàn huyện, tạo việc làm cho 20 lao động thời vụ và tăng thu nhập cho cán bộ, nhân viên trong đơn vị.
Nhằm tạo điều kiện cho người dân sản xuất, thâm canh rừng thuận lợi, Hạt Kiểm lâm Lang Chánh đã làm mới 2 km đường lâm nghiệp; đồng thời phối hợp với Công ty CP Bắc miền Trung khảo sát, thiết kế và đưa vào quy hoạch 50 km đường lâm nghiệp. Hạt cũng là đơn vị đầu tiên trong tỉnh ứng dụng công nghệ GPS (công nghệ định vị toàn cầu) để đo đạc, thiết kế, nghiệm thu trồng rừng cho toàn bộ số hộ tham gia trồng rừng dự án...
Năm 2013, hạt đã vận động nhân dân trồng được 300 ha (chủ yếu là cây keo tai tượng Úc và xoan ta), đạt 100% kế hoạch năm, nâng diện tích rừng trồng theo Dự án 147 trong 5 năm (2009-2013) trên địa bàn huyện Lang Chánh lên 3.252,8 ha với 2.815 hộ tham gia. Nhờ vậy, nhiều diện tích đất trống, đồi trọc được phủ xanh, đem lại lợi ích về môi trường, hiệu quả kinh tế, xóa đói, giảm nghèo cho người dân địa phương, cũng như giảm áp lực khai thác rừng tự nhiên, nâng độ che phủ rừng trên địa bàn huyện lên 78,6%.
Để rừng trên địa bàn được bảo vệ tốt, Hạt Kiểm lâm Lang Chánh xác định tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về BV& PTR, tổ chức thực hiện tốt phương án phát triển rừng giai đoạn 2010– 2015. Tăng cường công tác kiểm tra ngăn chặn việc phát dọn rừng khi chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền, quản lý chặt việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng… (Báo Thanh Hóa 18/12) đầu trang(
Sau hơn 7 năm (từ tháng 11-2006) chuyển đổi từ lâm trường sang ban quản lý rừng phòng hộ, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành đã chủ động triển khai nhiều giải pháp bảo vệ, phát triển rừng gắn với phát triển kinh tế đồi rừng hiệu quả.
Điển hình như phối hợp với 11 xã, thị trấn thuộc 3 huyện: Thạch Thành, Hà Trung, Vĩnh Lộc tập trung tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng tự giác thực hiện các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. An ninh rừng trên địa bàn được giữ vững, độ che phủ của rừng do ban quản lý đạt gần 70%. Ban đã cung ứng cây giống lâm nghiệp; hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ trên địa bàn trồng mới được 993 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ; bảo vệ an toàn 4.035 ha rừng trên địa bàn; chăm sóc 3.282 ha rừng trồng.
Thực hiện chủ trương giao khoán rừng và đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài cho người dân, đến tháng 12-2013, toàn bộ 4.035 ha rừng và đất lâm nghiệp do ban quản lý đã được giao ổn định, lâu dài cho các hộ nhận khoán chăm sóc, bảo vệ và sản xuất.
Để tạo điều kiện cho các hộ nhận khoán bảo vệ, phát triển rừng có thu nhập cao từ rừng, Ban Quản lý rừng phòng hộ Thạch Thành đã quy hoạch, định hướng một số cây trồng phù hợp, cho hiệu quả cao như mắc ca, gió trầm,... tổ chức chăn nuôi gia súc, gia cầm dưới tán rừng; phát triển rừng gỗ lớn; cung ứng cây giống trồng rừng sản xuất có giá trị kinh tế cao; hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng; đấu mối với các đơn vị thu mua sản phẩm cho các trang trại... (Báo Thanh Hóa 18/12) đầu trang(
Cây Dã Hương nghìn năm tuổi thuộc xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang thuộc dòng họ long não, là loại cây quý, có thể sống hàng nghìn năm.
Thân cây rất to khoảng 8 người dang tay mới ôm hết, chiều cao của cây là 36m. Cây Dã Hương nghìn năm tuổi không chỉ mang dáng vẻ uy nghi, cổ kính mà còn có sức cuốn hút du khách bởi những giai thoại về sự kiện lịch sử đổi thay của đất nước gắn bó một cách lạ lùng với truyền tích về cây Dã Hương, do vậy nơi đây hàng năm đã cuốn hút hàng nghìn du khách tới thăm. (Báo Thái Bình 17/12) đầu trang(
Bước vào mùa hanh khô, những khu vực trọng điểm cháy như Đình Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, thành phố Lạng Sơn... đã chủ động công tác phòng, chống cháy rừng.
3 năm trở lại đây, ngoài việc hiện đại hóa thiết bị phòng cháy, chữa cháy cho cơ quan thường trực, ý thức bảo vệ rừng của người dân cũng được nâng lên một bước, qua đó góp phần quan trọng vào công tác phòng, chống lửa rừng từ xa.
Hiện nay, Lạng Sơn có khoảng 400 nghìn ha diện tích rừng. Trong đó có trên 140.000ha là rừng trồng. Trong số rừng trồng này hầu hết lại là rừng thuần với thông là cây trồng chủ yếu. Phân tích như vậy để thấy rằng, nguy cơ cháy rừng trên địa bàn tỉnh trong mùa hanh, khô là rất lớn.
Trong khi đó, những năm trước đây, khi trồng rừng hầu hết các chủ rừng chưa chú trọng tới việc tạo các đường băng cản lửa như băng xanh hoặc băng trắng theo đúng kỹ thuật vì vậy khả năng bắt cháy và lan rộng là rất lớn. Khả năng chữa cháy lại tỷ lệ nghịch với nguy cơ cháy, bởi hầu hết các khu rừng tập trung đều có đường giao thông rất khó khăn, việc phát triển các hệ thống đường nhánh lâm sinh lên rừng còn nhiều hạn chế. Mặt khác, trước đây trang bị chữa cháy cho lực lượng kiểm lâm còn rất sơ sài, chủ yếu dập lửa bằng công cụ thô sơ như cành cây, cuốc, xẻng...
Ông Hoàng Đình Sỹ, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm cho biết: để nâng cao hiệu quả phòng, chống cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm xác định tiến hành đồng thời các giải pháp, một mặt triển khai tốt dự án nâng cao năng lực phòng, chống cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm, tranh thủ nguồn vốn dự án để trang bị thêm phương tiện, thiết bị phòng, chống cháy rừng.
Mặt khác tiếp tục duy trì lực lượng kiểm lâm địa bàn tại các địa phương trọng điểm, tham mưu cho chính quyền địa xây dựng phương án phòng, chống cháy rừng sát thực, phù hợp với thực tiễn và tổ chức tuyên truyền, tập huấn cho chủ rừng, cộng đồng về phòng, chống lửa rừng. Vừa tranh thủ nguồn vốn từ dự án nâng cao năng lực phòng, chống cháy rừng, vừa huy động lồng ghép từ các nguồn khác, trong vòng 4 năm qua, trang bị cho lực lượng kiểm lâm đã được cải thiện rất nhiều.
Theo thống kê, hiện nay lực lượng kiểm lâm đã có 19 phương tiện, gồm ô tô và mô tô tuần tra, kết hợp với kiểm tra lửa rừng. Những thiết bị chuyên dụng như bàn dập lửa i-nox, quần áo chữa cháy được trang bị 400 bộ. Các trang bị hiện đại khác như ống nhòm, máy định vị, máy thổi gió... cũng cơ bản được trang bị đủ. Cơ sở vật chất và công trình phòng, chống cháy đã được trang bị ở các khu vực trong điểm với 3 chòi canh gác lửa rừng và 3 nhà trực tại các chòi gác lửa cùng với hệ thống trên 200 biển cấm lửa, bảng tương tuyên truyền và biển dự báo cấp cháy rừng.
Cùng với đó, công tác tuyên truyền được chú trọng. Hàng năm, vào các dịp cao điểm, cơ quan thường trực phòng, chống cháy rừng đã chủ động phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng trên địa bàn xây dựng các bản tin cảnh báo. Đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương mở các hội nghị xã, cụm xã.
Từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã mở được trên 300 cuộc tuyên truyền, tập huấn về phòng, chống cháy rừng cho người dân và các chủ rừng và tuyên truyền lưu động được 29 cuộc cho hơn 22 nghìn lượt người. Công tác ký cam kết và triển khai hợp đồng thuê gác lửa rừng đã trở thành nếp, là việc làm thường xuyên hàng năm. (Báo Lạng Sơn 19/12) đầu trang(
Mùa khô hanh là thời điểm dễ xảy ra cháy rừng, chính vì vậy với đặc thù là xã có diện tích rừng lớn nhất của huyện Lục Yên, từ nhiều năm qua đồng bào dân tộc Dao xã Tân Phượng không những bảo vệ rừng hiệu quả, mà còn không để cháy rừng xảy ra.
Là xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Lục Yên, với trên 90% dân số là đồng bào dân tộc Dao đỏ, hiện nay xã Tân Phượng có gần 3 nghìn ha diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ, là xã giáp ranh với 2 huyện Bảo Yên- Lào Cai và Quang Bình- Hà Giang, do vậy công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được xã đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu ở địa phương.
Trước đây, do trình độ hiểu biết của bà con về tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng còn thấp, nên nhiều người dân ở các thôn, bản đã tự ý phát rừng làm rẫy, do chủ quan đã để xảy ra cháy rừng, gây khó khăn trong việc chữa cháy rừng.
Là 1 trong 2 thôn có diện tích rừng lớn nhất của xã, cũng là một trong những thôn đi đầu trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thôn Lũng Cọ 2 được bao bọc bởi rừng tự nhiên lâu năm, với gần 100% là đồng bào Dao đỏ, đời sống chủ yếu phụ thuộc vào trồng trọt, chăn nuôi, từ nhiều năm trước đây do thiếu sự hiểu biết một số người dân thường tự ý khai thác rừng bừa bãi đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc bảo vệ “ là phổi xanh” của xã.
Được sự chỉ đạo của thôn, xã, đặc biệt là sự quan tâm của Hạt Kiểm lâm huyện thường xuyên tuyên truyền tới nhân dân ý nghĩa của việc bảo vệ, phòng chống cháy rừng trong mùa hanh khô, nên các hộ dân trong thôn đã nêu cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ rừng. Chị Triệu Thị Đanh, người dân thôn Lũng Cọ 2 tâm sự: “ Được cán bộ kiểm lâm tuyên truyền, vận động, nên chúng tôi ý thức được về ý nghĩa của việc bảo vệ rừng, do vậy chúng tôi đã không chặt phá, đốt nương tự ý nữa”.
Để công tác bảo vệ rừng được hiệu quả, ngoài công tác tuyên truyền, hàng tháng thôn cũng tích cực phối hợp với Cán bộ kiểm lâm huyện tiến hành tuần tra, kiểm soát những khu vực rừng trọng điểm, trong mùa khô này thường xuyên túc trực lực lượng sẵn sàng ứng phó nếu xảy ra cháy rừng. Anh Triệu Văn Thương, Trưởng thôn Lũng Cọ 2 cho biết: “ Thôn thường xuyên tuyên truyền tới các các hộ dân về việc bảo vệ rừng thông qua các hình thức khác nhau do vậy mấy năm nay bà con đã tự giác bảo và giữ rừng tốt nhất”.
Ông Bàn Hữu Phủ, Phó chủ tịch UBND xã Tân Phương cho biết: “Những năm qua, nhất là trong mùa khô hanh, Tân Phượng luôn nêu cao tình thần chủ động, cảnh giác với cháy rừng, thường xuyên tăng cường lực lượng sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống nhằm bảo vệ rừng một cách tốt nhất”. (Yenbai.gov.vn 19/12) đầu trang(
UBND tỉnh Tiền Giang vừa ban hành Chỉ thị 16 về việc phòng chống hạn, mặn và cháy rừng năm 2014 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu: Ban Chỉ huy phòng, chống lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh, các sở, ngành tỉnh, địa phương cần chủ động quán triệt thực hiện nhiệm vụ và tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến nhân dân về diễn biến phức tạp của tình hình thời tiết để chủ động đối phó với tinh thần tích cực, khẩn trương, cảnh giác cao, nhất là diễn biến của tình hình hạn, mặn và cháy rừng trong mùa khô năm 2014.
Đặc biệt các huyện phía Đông của tỉnh phải chủ động lập kế hoạch phòng, chống hạn, mặn, cháy rừng cho từng vùng, khu vực dự án, địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra… (Báo Ấp Bắc 19/12) đầu trang(
Tiến Xuân là xã có diện tích rừng lớn nhất trên địa bàn huyện Thạch Thất. Từ nhiều năm nay huyện đã tăng cường các biện pháp Phòng cháy - chữa cháy rừng (PCCCR) nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại cháy rừng gây ra.
Để ngăn chặn tình trạng đốt phá rừng, UBND huyện và Chi cục Kiểm lâm Sơn Tây đã tăng cường lực lượng kiểm lâm xuống cơ sở, đảm bảo các thôn có rừng trên địa bàn xã đều có lực lượng xung kích phòng cháy chữa cháy và kiểm lâm địa bàn, tham mưu giúp chính quyền địa phương làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản và PCCCR.
Thành lập Ban chỉ huy PCCCR với 127 thành viên, đội nhân dân bảo vệ rừng với 134 người tham gia. Ngoài ra chi cục còn cử 01 cán bộ kiểm lâm tthường xuyên tuần tra kiểm soát nhắc nhở các hộ có rùng làm tốt công tác phát dọn thực bì đảm bảo công tác phòng chữa cháy vào mùa khô vì vậy Mấy năm gần đây đã giảm đáng kể số vụ cháy rừng. Do tăng cường công tác PCCCR nên mùa khô 2013 trên địa bàn xã chỉ để xảy ra 1 vụ cháy nhỏ , diện tích rừng thiệt hại không đáng kể.
Bước vào mùa khô 2013-2014 với phương châm: Phòng là chính, Ban Chỉ huy PCCCR xã Tiến Xuân đã củng cố các tổ xung kích chữa cháy rừng với 214 người là dân quân, tự vệ, thanh niên và các chủ rừng để kịp thời ứng phó khi cháy rừng xảy ra.
Từ thực tế đó, mùa khô năm nay các trưởng thôn cùng với kiểm lâm địa bàn tổ chức kiểm soát, đồng thời ký cam kết với từng hộ có trâu bò chăn thả ở các bãi chăn thả không đốt cỏ phòng nguy cơ cháy rừng. Phối hợp với công an tổ chức điều tra các vụ xâm hại và đốt rừng để có biện pháp truyền truyền nhắc nhở. Với những việc làm tích cực đó, mùa khô 2013 Tiến Xuân chỉ để xảy ra 1 vụ cháy rừng trồng, diện tích bị thiệt hại không đáng kể.
Bên cạnh đó, cơ quan thường trực Ban Chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng xã Tiến Xuân và Hạt Kiểm lâm Sơn Tây đã mở 02 lớp tuyên truyền, vận động nhân dân sống gần rừng thuộc địa bàn các thôn trên địa bàn xã, tích cực tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng, ký cam kết an toàn lửa rừng với trưởng thôn, già làng và các hộ dân.
Thành lập các tổ công tác có sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, ban ngành của huyện… phổ biến các quy định trong công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô. Bố trí lực lượng tuần tra, canh gác 24/24 giờ, đặc biệt là kiểm tra chặt chẽ lượng người ra vào rừng gắn với hướng dẫn người dân sử dụng lửa trong rừng một cách an toàn. (Thachthat.gov.vn 19/12) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Năm 2012 xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 4,57 tỷ USD, dự kiến hết năm 2013 xuất khẩu trên 5,3 tỷ USD, tăng 12%.
Theo Hiệp hội Gỗ và Lâm sản, hiện Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới, thứ 2 châu Á và đứng đầu Đông Nam Á về kim ngạch xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ. Sản phẩm gỗ Việt Nam đã tạo dựng được lòng tin đối với người tiêu dùng nhiều nước kể cả các thị trường khó tính ở Mỹ, châu Âu.
Bà Phan Thị Thanh Minh, Cục trưởng Cục Công tác phía Nam của Bộ Công Thương cho biết, những năm gần đây, ngành chế biến và xuất khẩu gỗ đã và đang trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Sau nhiều năm bị ảnh hưởng bởi suy thoái kinh tế thế giới khiến tiêu dùng đồ gỗ giảm, sự phục hồi kinh tế đang diễn ra khiến nhu cầu tiêu thụ đồ gỗ của các thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật, EU tăng lên.
Nhiều DN sản xuất đồ gỗ nội thất cho rằng, Việt Nam sẽ đón nhận nhiều đơn hàng lớn từ nước ngoài trong thời gian tới. Ngoài nguyên nhân do nhu cầu thế giới tăng trưởng trở lại, còn bởi DN Việt Nam nhận được nhiều hợp đồng đặt hàng từ Trung Quốc chuyển qua.
Theo các DN xuất khẩu đồ gỗ nội thất, giá nhân công Trung Quốc tăng và các yếu tố chính sách khác của Trung Quốc làm phát sinh chi phí đầu vào cao hơn khiến các DN chế biến đồ gỗ đang đầu tư tại Trung Quốc phải chuyển sang các nước khác để gia công. Việt Nam là một trong các quốc gia được hưởng lợi do các khác hàng EU, Mỹ và Nhật có xu hướng chuyển từ đơn hàng sang Việt Nam.
Ông Lê Văn Hồng - Tổng giám đốc Tổng công ty Sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định (Bixico) cho biết thêm, nếu so sánh yếu tố chất lượng, có thể khẳng định sản phẩm đồ gỗ Việt Nam ngày càng có chỗ đứng trên thị trường và được người tiêu dùng ưa chuộng do đã đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại và nhân công có tay nghề cao.
Cũng theo ông Hồng, trước đây thế giới chỉ quan tâm đến đồ gỗ tại Thái Lan, Trung Quốc và các nước lân cận nhưng khi vào nước ta thấy sản phẩm của Việt Nam rất tốt và có sự cạnh tranh hơn so với nước bạn nên các đơn hàng có xu hướng dịch chuyển sang Việt Nam.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, mặc dù thị trường có nhiều tín hiệu khả quan nhưng các DN trong nước lại đang ở thế lúng túng. Trước hết, khi đơn đặt hàng tiếp tục tăng mạnh như hiện nay sẽ dẫn tới việc DN không đủ năng lực đáp ứng. Vấn đề tài chính là hạn chế lớn nhất đối với DN trong nước do phải phụ thuộc tới 70-80% vốn lưu động từ ngân hàng.
Ngoài ra, quy mô sản xuất nhỏ với công nghệ và thiết bị còn hạn chế, chưa có những mô hình tổ chức sản xuất liên doanh, liên kết thích hợp gắn kết nhà máy chế biến với sản xuất và cung ứng nguyên liệu đã làm cho các DN trong nước càng gặp khó khăn hơn.
Để giái quyết các vấn đề gặp phải, DN ngành chế biến gỗ xuất khẩu cần tổ chức lại mô hình sản xuất, lấy những DN mạnh làm đầu tàu liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực. Khi liên kết thành chuỗi, các DN trong nước không chỉ có sự phân công hợp lý để tiếp nhận các đơn đặt hàng lớn và còn tạo nên thế mạnh trong đàm phán các hợp đồng sản xuất và gia công cho khách hàng nước ngoài.
Ông Lê Văn Hồng - Tổng giám đốc Tổng công ty Sản xuất đầu tư dịch vụ xuất nhập khẩu Bình Định - cũng cho rằng, cần liên kết, xây dựng mô hình “Nhóm DN hỗ trợ trong sản xuất, gia công” có sự phân công chuyên môn hóa về chủng loại sản phẩm, chi tiết sản phẩm... Điều này sẽ giúp DN tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Những DN lớn, có tiềm năng, cần quan tâm hỗ trợ, chia sẻ đối với các DN bạn, nhất là chia sẻ về đơn hàng, kinh nghiệm quản lý, hỗ trợ vốn kinh doanh, liên kết sản xuất với các DN nhỏ hơn…
Các DN chế biến gỗ còn cần tập trung vào việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho sản xuất; tìm kiếm hệ thống máy móc và thiết bị chế biến gỗ phù hợp để sản xuất những sản phẩm được thị trường chấp nhận; tập trung phát triển sản phẩm có ưu thế cạnh tranh cao như: đồ gỗ nội thất, đồ gỗ ngoài trời, đồ mộc, mỹ nghệ….
Ngoài ra, các DN chế biến gỗ trong nước cần phải triển khai xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm có hiệu quả đối với thị trường trong và ngoài nước để phát huy tối đa năng lực sản xuất, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư mở rộng năng lực sản xuất mới trong thời gian tới. (Kinh Tế Việt Nam 19/12) đầu trang(
Để khuyến khích người dân tham gia tích cực vào việc quản lý tài nguyên rừng tự nhiên, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập và giảm nghèo cho những cộng đồng sống dựa vào rừng, từ tháng 5/2012 đến tháng 12/2013, tỉnh Sơn La thực hiện dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” tại 8 bản của đồng bào Mường, Thái Mông thuộc 4 xã vùng cao Nà Ớt, Phiêng Cằm (huyện Mai Sơn), Mường Do, Mường Lang (huyện Phù Yên).
Sau khi tham gia dự án “Tăng cường lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam” (gọi tắt là dự án KfW), nguồn vốn từ Quỹ ủy thác lâm nghiệp (Quỹ TFF) của Tổng cục Lâm nghiệp, đồng bào tại các địa phương đều được tập huấn kiến thức về quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, nuôi dưỡng rừng và trồng cây dược liệu, cây lâm sản; đồng thời được cung cấp thiết bị hỗ trợ cộng đồng như máy tính, máy in, máy FAX, loa truyền thanh, tủ sách cộng đồng và được tiếp cận với Internet...
Tỉnh Sơn La đã giải ngân cho 4 mô hình điểm với diện tích rừng cộng đồng là 570 ha, đồng thời xây dựng kế hoạch và triển khai 17 mô hình nhân rộng năm 2013. Công việc triển khai bao gồm điều tra tài nguyên rừng, tập huấn quản lý rừng cộng đồng hàng năm và 5 năm, phổ biến các quy ước và quy chế bảo vệ phát triển rừng cộng đồng.
Đến nay, Dự án KfW đã thực hiện ươm trên 1,2 triệu cây giống tại 19 vườn ươm tập trung và phân tán, cung ứng 282 tấn phân bón các loại, thực hiện trồng mới và khoanh nuôi tái sinh 2.420 ha. Bên cạnh đó còn hoàn thiện xây dựng bản đồ tuyến đường mòn, thiết kế xây dựng biển báo, biển tuyên truyền và cọc mốc ranh giới...
Ông Vũ Đức Thuận. Giám đốc Dự án KfW7 Sơn La, cho biết: Thực tế, mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng sống gần rừng rất phù hợp với tập quán của đông đảo đồng bào các dân tộc tại Sơn La. Dự án KfW đã nâng cao kiến thức của người dân về bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng và trồng rừng. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực của đồng bào dân tộc trong việc quản lý rừng cộng đồng và các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu.
Theo đánh giá của đại diện UBND tỉnh Sơn La, mặc dù mới thực hiện trong diện hẹp, thí điểm mô hình, song Dự án KfW đã góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xóa đói giảm nghèo, đáp ứng phần nào nhu cầu lâm sản cho đồng bào và các công trình chung của cộng đồng, như gỗ làm nhà, vật liệu gỗ làm các công trình phục vụ dân sinh. Hiện tại, lâm sản được khai thác từ rừng nhưng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tài nguyên rừng.
Trong kế hoạch năm 2014, tỉnh Sơn La sẽ tiếp tục triển khai Dự án KfW7 nhằm nhân rộng mô hình, triển khai chăm sóc, bảo vệ khoảng 10.200 ha rừng, thiết lập trồng mới 1.100 ha rừng, gieo ươm trên 1 triệu cây giống, cung ứng 200 tấn phân bón, triển khai 19 mô hình quản lý rừng cộng đồng với tổng diện tích khoảng 3.500 ha, hoàn thiện và bàn giao giai đoạn 1 công tác phát triển cộng đồng với 94 tiểu dự án, xây dựng các công trình giai đoạn 2 và 3, tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển cộng đồng giai đoạn 4 cho 2 xã thuộc huyện Bắc Yên, phấn đấu giải ngân trên 45 tỷ đồng. (Báo Nghệ An 18/12) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, nhờ thực hiện tích cực các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh nên công tác phòng chống phá rừng và bảo vệ, phát triển rừng năm 2013 của Bình Thuận có nhiều chuyển biến đáng kể.
Nổi bật là số vụ vi phạm lâm luật giảm 25,2% so với năm 2012, đã lập hồ sơ xử lý 805 vụ, trong đó khởi tố hình sự 12 vụ, xử phạt hành chính 763 vụ, tịch thu 1.050 m3 gỗ, nộp ngân sách trên 5,2 tỷ đồng. Trong năm qua, tỉnh cũng đẩy mạnh kiểm tra tình hình lấn chiếm đất lâm nghiệp, đã lập hồ sơ vi phạm lấn chiếm 117 vụ với tổng diện tích lấn chiếm 121,3ha.
Nhờ chủ động triển khai các phương án phòng cháy, chữa cháy rừng có hiệu quả, nên trong năm số vụ cháy rừng giảm 10% so năm trước, đáng chú ý không gây thiệt hại lớn về rừng. Công tác kiểm tra các vụ vi phạm lâm luật, cán bộ lâm nghiệp tiêu cực được xử lý nghiêm minh.
Trong năm 2013, Bình Thuận đã xử lý 8 cán bộ, công chức ngành Kiểm lâm và Ban quản lý rừng. Đồng thời để ngăn ngừa và phòng chống vi phạm, ngành đã chuyển đổi vị trí, địa bàn công tác đối với 282 cán bộ, công chức ngành Kiểm lâm và các Ban quản lý rừng.
Năm 2013 số vụ phá rừng, cháy rừng có giảm khá nhưng tình hình phá rừng, vi phạm lâm luật, lấn chiếm và tái lấn chiếm đất lâm nghiệp vẫn còn cao.
Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh, Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh cùng các ngành chức năng và chính quyền các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức; trong đó tập trung ở các địa bàn trọng điểm, các đối tượng có nguy cơ phá rừng, vận chuyển lâm sản và lấn chiếm đất lâm nghiệp, gắn với phát huy vai trò giám sát, phát hiện của nhân dân trong công tác này.
Bình Thuận cũng sẽ tăng cường trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương từ tỉnh đến cơ sở, cơ quan chức năng, các đơn vị chủ rừng trong phòng chống phá rừng, bảo vệ và phát triển rừng theo chức trách và thẩm quyền được phân công; tích cực, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, truy quét và xử lý chuyên ngành, liên ngành; từng địa phương phải xác định cho được các khu vực trọng điểm phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp để tập trung chỉ đạo, nhất là các khu vực giáp ranh phải làm tốt công tác phối hợp giữa hai địa phương liền kề… (Chinhphu.vn 19/12) đầu trang(
Để nâng cao nhận thức cho người dân trong việc bảo vệ rừng, làm giàu từ rừng, đặc biệt biết áp dụng phương pháp canh tác bền vững trên đất dốc, chống xói mòn, Trung tâm Khuyến Nông tỉnh phối hợp Trạm Khuyến nông huyện Phong Thổ, UBND thị trấn Phong thổ triển mô hình trồng thâm canh cây gỗ lớn giổi xanh tại bản Thẩm Bú, Vàng Khon, thôn 41, thị trấn Phong Thổ với diện tích 15ha.
15 hộ dân tham gia thực hiện mô hình được hỗ trợ 100% giống cây; vật tư phân bón trong thời gian 3 năm. Ngoài ra, các hộ còn được cán bộ kỹ thuât của Trạm Khuyến nông tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, cách chăm sóc và bảo vệ cây sau trồng như: làm cỏ kết hợp với xới gốc, bón phân cho cây theo đúng yêu cầu kỹ thuật...
Sau 2 năm thực hiện, các hộ dân đều thực hiện đúng theo quy trình, sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật, tích cực chăm sóc, bảo vệ cây trồng đến nay cây giổi sinh trưởng, phát triển tốt, không có biểu hiện của sâu bệnh; tỷ lệ cây sống đạt trên 85%; chiều cao cây từ 1,25m – 1,3m; đường kính cổ rễ 2,1 – 2,4cm; đường kính tán 70 – 80cm. Cây rất phù hợp với điều kiện tự nhiên địa phương (đất đai, khí hậu…) và trình độ canh tác của người dân.
Được biết, sau 6-8 năm trồng người dân được thu hoạch quả giổi và 30 năm được thu gỗ khoảng 1 mét khối/1 cây. So với việc trồng các loại cây lâm nghiệp khác thì cây giổi đem lại giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều. Hạt dổi được dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc làm gia vị.
Theo đánh giá của cán bộ Trạm khuyến nông huyện, dự kiến bình quân mỗi cây giổi sẽ cho khoảng 1kg hạt/1 năm. Những năm về sau khối lượng hạt càng tăng dần, cây giổi ở tuổi 50 có thể cho tới 10 kg hạt/1năm. Gỗ giổi có mùi thơm, thớ gỗ vàng, mịn, đẹp, bền, không bị mối mọt, cong vênh được dùng để đóng đồ dùng gia đình, đồ thủ công mỹ nghệ… (Báo Lai Châu 18/12) đầu trang(
Ngày 17/12, Đoàn công tác Bộ Tài nguyên và Môi trường do ông Phạm Xuân Anh, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường làm trưởng đoàn đã làm việc với UBND tỉnh, công bố quyết định việc thanh tra, kế hoạch thanh tra tại tỉnh.
Theo quyết định và kế hoạch của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đoàn sẽ thanh tra việc chấp hành pháp luật đất đai, bảo vệ và phát triển rừng đối với các nông, lâm trường trên địa bàn tỉnh. Cụ thể, Đoàn sẽ tiến hành thanh tra tại các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị có liên quan và các công ty nông lâm nghiệp, ban quản lý rừng.
Nội dung thanh tra tập trung vào việc xây dựng hoặc điều chỉnh chi tiết, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết của nông, lâm trường; diện tích đất đang cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khoán, cho thuê, mượn sử dụng để sản xuất kinh doanh; việc chuyển mục đích sử dụng đất sang mục đích phi nông nghiệp; đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
Nhất trí với kế hoạch thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lò Văn Tiến giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ban, ngành chuẩn bị nội dung báo cáo và làm việc với đoàn thanh tra; trong đó giao Sở Tài nguyên và Môi trường làm đơn vị đầu mối. (Báo Điên Biên 18/12; Tài Nguyên&Môi Trường 18/12) đầu trang(
Sau hơn 2 năm huy động các lực lượng vũ trang và đoàn viên thanh niên trồng lại rừng trên diện tích bị nhân dân phát rừng làm rẫy trong khu vực Ngục Đăk Glei (tức Ngục Tố Hữu), ở xã Đăk Choong, Huyện Đăk Glei, đến nay hơn 25 ha rừng thông 3 lá trong khu vực này đã phát triển xanh tốt, nhiều cây đã cao quá đầu người.
Hiện tại UBND huyện Đăk Glei đã giao cho Phòng Văn hóa và Thông tin chủ trì phối hợp các đơn vị liên quan thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ khu rừng thông đã trồng. Việc quyết tâm thực hiện trồng lại hơn 25 ha rừng thông nơi đây không những tạo được cảnh quan môi trường cho khu di tích mà còn góp phần nâng cao nhận thức của người dân, hạn chế tình trạng phát rừng làm rẫy. (Đài PT - TH Kon Tum 19/12) đầu trang(
Năm 2013, Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé triển khai chương trình hỗ trợ phát triển vùng đệm rừng đặc dụng với trên 1.300 hộ được thụ hưởng.
Các hộ được thụ hưởng chương trình này là dân số thuộc 26 bản ở các xã: Mường Toong, Mường Nhé, Chung Chải, Sín Thầu và Leng Su Sìn. Mức hỗ trợ của chương trình là: Mỗi bản được hỗ trợ 40 triệu đồng/năm.
Với số tiền này, các bản được hỗ trợ cây, con giống; thức ăn chăn nuôi; dụng cụ, thiết bị sản xuất, chế biến nông - lâm sản và vật liệu xây dựng một số công trình công cộng như: Đường giao thông nội bản, cầu qua suối, sân chơi, trường lớp học…
Thông qua sự hỗ trợ, đến nay, bà con thuộc vùng đệm các khu rừng đặc dụng Mường Nhé đã trồng thêm được gần 3.000 cây xoài và cà phê; nuôi được hơn 3.000 con gia cầm và được sử dụng hơn 100 dụng cụ, phương tiện sản xuất... (Đài PT - TH Điện Biên 18/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Hạt kiểm lâm huyện An Lão: Hiện nay, tòan huyện có tổng diện tích đất lâm nghiệp hơn 60.308ha, tăng hơn 521ha so với năm 2012.
Trong đó đất có rừng gần 50.968ha (bao gồm: 50.013ha nằm trong quy họach và 954ha ngòai quy họach 03 lọai rừng), rừng tự nhiên 46.041ha, rừng trồng 4.926ha, đất chưa có rừng 9.341ha; độ che phủ rừng tính đến cuối năm 2013 là 72,4%, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Hàng năm huyện An Lão đã trồng mới từ 500ha đến 750ha rừng, thực hiện giao khóan cho người dân quản lý và bảo vệ hơn 20.036,6ha rừng.
Trong năm, Hạt kiểm lâm huyện còn phối hợp với UBND các xã, thị trấn tổ chức cho 2.001 hộ gia đình ở 35 thôn ký cam kết bảo vệ rừng, nhờ vậy đã góp phần hạn chế được các hành vi xâm hại đến tài nguyên rừng ở địa phương. Đặc biệt, trong năm 2013 trên địa bàn huyện An Lão không để xảy ra vụ cháy rừng nào. (Binhdinh.gov.vn 19/12) đầu trang(
Ông Cái Dương Dũng - Trưởng trạm Kiểm lâm số 10 Núi Mang (Vườn quốc gia Bạch Mã - Huế) cho biết, Vườn quốc gia Bạch Mã vừa bàn giao kinh phí hỗ trợ phát triển sinh kế bền vững cho 5 thôn thuộc 4 xã của huyện Đông Giang, gồm: Sông Kôn, Tà Lu, A Ting và xã Tư.
Đây là các địa phương nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Bạch Mã, thuộc khu vực đồng quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng. Việc hỗ trợ nhằm nâng cao năng lực phát triển sản xuất trong lĩnh vực khuyến nông - khuyến lâm, giống cây trồng - vật nuôi, các thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ; hỗ trợ vật liệu xây dựng các công trình công cộng như: nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông nông thôn, nhà văn hóa cho người dân bản địa ở vùng đệm. Mức hỗ trợ cho mỗi thôn là 40 triệu đồng/năm.
Theo ông Dũng, chương trình nhằm thực hiện Quyết định 24 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011-2020. Trong đó, Vườn quốc gia Bạch Mã là một trong những địa điểm của hệ thống rừng đặc dụng đầu tiên thực hiện thí điểm dự án này. Ngoài 5 thôn của huyện Đông Giang, chương trình còn hỗ trợ tại các xã, thị trấn của các huyện Phú Lộc và Nam Đông (Thừa Thiên Huế). (Báo Quảng Nam 19/12) đầu trang(
Sự ra đời của doanh nghiệp khai thác vàng giữa rừng nguyên sinh ắt kéo theo hệ lụy hết sức nguy hại, đó là nhiều người ở giữa rừng, đường sá mở vào rừng, dứt khoát tình trạng phá rừng gia tăng.
Trước đây, khi đường ô-tô chưa mở vào rừng, đưa phách gỗ về đến thôn bản họ phải dùng trâu kéo hoặc bè dọc suối rất vất vả, nguy hiểm và tốn thời gian. Từ ngày đường mở ra, xe tải ben 2 cầu có thể vào tận nơi chở gỗ. Đã không ít lần, qua tuần tra truy quét, lực lượng kiểm lâm phát hiện nhiều gỗ lậu lâm tặc chưa kịp chuyển đi.
Có thể nói, việc Công ty TNHH MTV Trường Sơn mở đường từ thôn Giàn Bí, xã Hòa Bắc vào đến khu vực khai thác vàng đã tạo thuận lợi cho lâm tặc. Đây là nguyên nhân làm rừng nguyên sinh ở 2 tiểu khu 27, 29 bị tàn phá nghiêm trọng. Theo các cán bộ Kiểm lâm Hòa Bắc, thời kỳ cao điểm, khu vực khai thác vàng có hơn 300 nhân công làm việc suốt ngày đêm. Có giai đoạn họ thuê cả cảnh sát đến bảo vệ.
Nguyên nhân thứ hai là, mặc dù rất nỗ lực và vất vả, song việc bảo vệ rừng của lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương chưa mấy hiệu quả. Đường vận chuyển gỗ về xuôi chỉ có thể trên đường ĐT601 hoặc bè dọc sông Cu Đê, thế nhưng, gỗ lậu vẫn lọt về xuôi. Bên cạnh đó, lực lượng kiểm lâm quá mỏng. Trạm Kiểm lâm Hòa Bắc chỉ có 5 cán bộ, nhân viên, nhưng quản lý bảo vệ 5.500 ha rừng nguyên sinh tại các tiểu khu 25, 27, 29 nên không thể bao quát hết.
Được biết, thời điểm này, lực lượng kiểm lâm hùng hậu nhất kể từ trước đến nay: 100 người. Thế nhưng, bố trí lực lượng quản lý bảo vệ rừng nguyên sinh ở Hòa Bắc, nơi lâm tặc thường xuyên hoạt động lại quá mỏng. Rừng Hải Vân, chỉ hơn 2.000ha, trong đó trên 90% là rừng trồng và đồi núi trọc, nhưng Hạt Kiểm lâm Liên Chiểu có 14 người; hoặc như rừng Sơn Trà, sau khi bàn giao cho các đơn vị du lịch chỉ còn hơn 3.000ha phía trên chỏm, ít có sự xâm hại thế mà biên chế 13 cán bộ, nhân viên.
Nguyên nhân thứ ba làm cho rừng ít khi bình yên, đó là đời sống người dân các thôn vùng cận rừng, đặc biệt là hai thôn Tà Lang, Giàn Bí của xã Hòa Bắc vẫn còn khó khăn. Không có đất canh tác, chăn nuôi liên tục thất bát, đất rừng trồng ít, bị gãy đổ do bão, thu nhập của họ quá ít ỏi; vì vậy vào rừng chặt gỗ như là hoạt động tất yếu để mưu sinh. Hoạt động này được một số đầu nậu gỗ từ dưới phố cổ vũ, tiếp sức, bằng cách đầu tư tiền bạc cho người dân và mua lại gỗ họ đưa về. Trong lúc khó khăn về việc làm và thu nhập, không còn cách nào khác, nhiều người đành chấp nhận vào rừng đốn gỗ.
Nói thêm về doanh nghiệp được phép khai thác vàng giữa đại ngàn. Ngày 21-3-2008, UBND thành phố Đà Nẵng cấp Giấy phép khai thác khoáng sản số 2441/GP-UBND, cho phép Công ty TNHH MTV Trường Sơn được khai thác vàng gốc tại Khe Đương, thuộc xã Hòa Bắc, Hòa Vang, trên phạm vi 22ha, công suất khai thác 60kg vàng 98%/năm, thời hạn đến tháng 3-2013. Giấy phép yêu cầu doanh nghiệp này có trách nhiệm bảo vệ rừng và môi trường sinh thái, cũng như trồng cây sau khi hết hạn khai thác.
Đến ngày 22-6-2011, UBND thành phố ban hành tiếp Giấy phép khai thác khoáng sản số 5258/GP-UBND, cho phép Công ty TNHH MTV Trường Sơn tiếp tục khai thác vàng gốc tại Khe Đương, trên phạm vi 22ha. Theo giấy phép, trữ lượng vàng thành phẩm dự kiến còn lại 306kg, công suất khai thác dự kiến 60kg/năm. Giấy phép có hiệu lực 36 tháng kể từ ngày ký.
Sau hơn 5 năm khai thác vàng, số liệu từ Cục Thuế Đà Nẵng thể hiện doanh nghiệp này đã nộp vào ngân sách Nhà nước năm 2012: 292.066.372 đồng, năm 2013 (đến 28-11) là 255.112.302 đồng. Quả là con số quá khiêm tốn với hoạt động khai thác vàng tại khu vực giàu tài nguyên vàng nhất Đà Nẵng.
Hơn nửa tỷ đồng nộp vào ngân sách bao gồm các loại thuế giá trị gia tăng, môn bài, thu nhập doanh nghiệp, tài nguyên, phí bảo vệ môi trường… để rồi, 22ha rừng biến mất, nhiều diện tích xung quanh bị xâm hại, liệu có tương xứng?
Dư luận đang đặt ra câu hỏi: Ai chịu trách nhiệm trước thực trạng rừng nguyên sinh đầu nguồn bị xâm hại nghiêm trọng suốt mấy năm qua? Cho phép một doanh nghiệp khai thác vàng giữa đại ngàn có hợp lý? Toàn bộ số gỗ có trên diện tích 22ha giao cho Công ty TNHH MTV Trường Sơn quản lý đi đâu? Ai chịu trách nhiệm về sự tổn thất không nhỏ về tài nguyên và môi trường sinh thái này? 5 năm qua, tình trạng khai thác gỗ diễn ra rất nghiêm trọng tại các tiểu khu 27, 29 rừng Hòa Bắc, tại sao không có giải pháp khả thi để ngăn chặn?
Ông Phạm Tấn Dũng, Bí thư Đảng ủy xã Hòa Bắc nói ngay: Rừng tại các tiểu khu 27, 29 bị tàn phá đều do đường vào khu vực khai thác vàng mở ra. Trước đây, rừng hai bên đường dẫn vào bãi vàng, tài nguyên lâm sản rất phong phú, thế mà hiện giờ tan hoang, không còn cây gỗ lớn. Nói đúng hơn rừng đã hết gỗ. Chính quyền địa phương hoàn toàn không đồng tình với chủ trương cho phép khai thác vàng này, bởi đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới rừng bị tàn phá.
Ông Dũng còn cho biết thêm: Doanh nghiệp khai thác vàng hứa với địa phương sẽ xây cho hai thôn đồng bào dân tộc, mỗi thôn một công trình dân sinh, nhưng đến nay chẳng thấy tăm hơi gì. Chấm dứt việc khai thác vàng tại Khe Đương đã trở thành vấn đề vô cùng cấp bách… (Báo Đà Nẵng 17/12) đầu trang(
Năm 2013, lực lượng Kiểm lâm huyện Na Rỳ đã phối hợp với chính quyền địa phương, các ngành chức năm tuần tra, kiểm tra truy quyét 155 lượt, lập biên bản xử lý 139 vụ vi phạm Luật bảo vệ phát triển rừng giảm 105 vụ so với năm 2012.
Theo đó, thu giữ trên 77 m3 gỗ các loại, 10 xe ô tô, 32 xe mô tô, 10 cưa xăng, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 270 triệu đồng. Tổ chức 30 đợt truy quyét các đối tượng khai thác vàng trái phép tại 22 địa điểm thuộc các xã Kim Hỷ, Lương Thượng tiêu hủy 108 lán trại, 195 máy móc, 90 lít xăng, dầu; chặt đứt 22 nghìn mét vòi nước, trục xuất và yêu cầu ra khỏi rừng trên 400 lượt trường hợp; lập biên bản tạm giữ 04 xe mô tô chở 160 lít dầu; 04 giấy đăng ký xe ô tô chở 210 lít dầu, 90 lít nhớt và 30 lít xăng… (Công An Bắc Kạn 18/12) đầu trang(
Năm 1996, thực hiện chủ trương phủ xanh đất trống đồi trọc, hàng trăm hộ dân xã Thanh Hà phấn khởi viết đơn xin nhận đất và được UBND huyện Thanh Chương (Nghệ An) cấp sổ lâm bạ (bìa xanh). Sau khi nộp bìa xanh làm thủ tục cấp bìa đỏ, không hiểu vì sao, nhiều diện tích được giao trước đây bỗng dưng... “biến mất”.
Một số hộ, dù đã nộp lệ phí làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ, nhưng sau nhiều năm chờ đợi, đến nay vẫn “bặt vô âm tín”. Dư luận cho rằng, đằng sau những sự việc “tréo ngoe” trên hẳn phải có sự toan tính của một số “công bộc”, những người thực hiện giao đất rừng cho dân?
Ông Phạm Đức Thế trú xóm 13, xã Thanh Hà phản ánh, năm 1996, UBND xã Thanh Hà giao cho 3 gia đình tại xóm 13 gồm ông Phạm Đức Thế 7,6 ha; bà Hoàng Thị Hà 1,75 ha; ông Hoàng Văn Chuyên 9 ha đất lâm nghiệp tại vùng Cồn, Mũi Thuyền, Thung Nậy, Cơn Du, Táy (Cồn Lở). Cả 3 hộ gia đình trên đều được giao đất trên thực địa, được cấp bìa xanh. Sau đó, ông Chuyên, bà Hà viết đơn chuyển nhượng toàn bộ diện tích cho ông Thế.
Đến năm 1999, thực hiện chủ trương cấp đất làm trang trại, phát triển kinh tế, gia đình ông Thế tiếp tục được nhận 11,3 ha; ông Trần Ngọc Khoa được nhận 2,5 ha đất lâm nghiệp, có sổ giao nhận diện tích và hình thể. Sau đó, ông Khoa nhượng toàn bộ số đất này lại cho ông Thế. Như vậy, về lý thuyết, từ đất được cấp và đất nhận chuyển nhượng, ông Phạm Đức Thế sở hữu trên 32 ha đất lâm nghiệp. Các thửa đất đều liền kề, thuận tiện cho việc trồng và bảo vệ rừng, xây dựng trang trại. Từ năm 1999 đến nay, gia đình ông Thế trồng keo, chăn nuôi, phát triển kinh tế.
Thực hiện chuyển đổi từ bìa xanh sang bìa đỏ cho các hộ dân trồng rừng, UBND xã Thanh Hà thu toàn bộ bìa xanh (được xem là của ông Thế), sau đó cấp cho ông Thế 3 bìa đỏ, có tổng diện tích 20,2 ha. Theo ông Thế, diện tích được cấp hụt trên 10 ha so với diện tích gia đình ông xứng đáng được cấp bìa đỏ. Oái oăm hơn, vị trí được cấp bìa đỏ lần này lại nằm lệch vị trí so với đất trước đây hộ ông Thế, bà Hà, ông Chuyên, ông Khoa được cấp.
Sau đó, UBND xã Thanh Hà, UBND xã Võ Liệt và UBND huyện Thanh Chương tiến hành cắm mốc tăng dày và xác định, số diện tích lâu nay ông Thế canh tác được cấp bìa xanh, nhưng hiện nay không được cấp bìa đỏ thuộc địa phận xã Võ Liệt. Số diện tích này sau đó được UBND xã Võ Liệt làm thủ tục cấp bìa đỏ cho các ông Phan Duy Tịnh và Hoàng Văn Hợi có hộ khẩu tại xã Võ Liệt, chồng lấn lên diện tích 3 bìa xanh trước đây được cấp cho gia đình ông Thế, ông Chuyên và bà Hà (?).
“Rất may, tại thời điểm đó, thấy không yên tâm nên sau khi nộp bìa xanh để làm bìa đỏ, tôi đã lên UBND xã xin lại. Hiện nay, tôi vẫn giữ 3 bìa xanh trên, UBND xã cũng không đề nghị tôi nộp lại theo đúng quy định”.
Theo sổ giao nhận diện tích hình thể đất, ở thời điểm năm 1999, tại xã Thanh Hà có 18 tập thể, cá nhân được nhận đất (trong đó, UBND xã Thanh Hà nhận hơn 1,2 ha). Các hộ dân sau khi được giao nhận diện tích hình thể đều đã nộp lệ phí để làm các thủ tục, trích đo, cấp bìa. Tuy nhiên, đến thời điểm này, hầu hết các hộ dân đều rất bức xúc bởi diện tích thể hiện trong sổ đỏ đã bị bớt xén so với diện tích được giao ban đầu. Ông Phan Đại Huỳnh trú tại xóm 13 nộp 540.000 đồng để làm thủ tục xin cấp 297.205 m2 đất.
“Khi đó, xã “bắn” giấy báo nộp tiền về, tôi cầm 540.000 đồng lên nộp. Từ đó đến nay, gia đình tôi sử dụng ổn định, trồng cây, chăn nuôi, nhưng chờ mãi không thấy tăm hơi bìa đỏ đâu. Năm 2012, sau nhiều lần cùng các hộ dân lên UBND xã hỏi, chúng tôi mới được UBND xã giao bìa. Từ diện tích gần 30 ha được giao ban đầu, đến khi được cấp, tôi chỉ được chưa đầy 9 ha. Chẳng lẽ đất lại mọc cánh bay đi mất? Khi tôi thắc mắc, ông Luyện, địa chính xã trả lời là làm theo Nghị định 163 nên chỉ có chừng này.
Ông Phạm Hữu Bân (77 tuổi) trú tại xóm 6 cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự. Gia đình ông được cấp bìa xanh diện tích 7 ha ở vùng Hóc Giang. Đến khi cấp bìa đỏ chỉ còn lại 3 ha. Theo ông Bân, diện tích còn lại được làm thủ tục và giao cho 3 hộ dân tại xóm 12, 14 sử dụng (?). Năm 2003, ông Phạm Văn Thân trú tại xóm 4 cũng được giao 12 ha đất lâm nghiệp, nhưng đến khi cấp sổ đỏ cũng chỉ còn 7,6 ha.
Ông Thân cho biết, khi giao đất thực địa, đất gia đình ông giáp ranh với đất của các ông Hoàng Văn Tiến, Biện Cường (xóm 4). Giữa các thửa đất này không có đất của hộ dân nào khác. Nhưng khi làm sổ đỏ, gia đình ông bị mất một số diện tích. Ông Thân cho rằng, sau khi làm sổ đỏ thì giữa 3 hộ liền kề này bỗng xuất hiện một lô đất mới chồng lên đất của gia đình ông. Đó là đất mang tên ông Hoàng Văn Luyện, cán bộ địa chính xã (?).
Các hộ dân được đề cập trên, dù bỗng dưng mất đất, còn may mắn hơn 50 hộ dân đã làm đủ thủ tục nhưng chưa được cấp bìa của xã Thanh Hà. Theo ông Vương Đình Kỳ (77 tuổi) trú tại xóm 11, có khoảng 70 hộ dân được giao đất lâm nghiệp cùng một thời điểm, đã nộp tiền lệ phí, canh tác gần 10 năm nay trên các thửa đất được giao. Chờ lâu không nhận được sổ đỏ, các hộ dân nhiều lần lên hỏi, UBND xã Thanh Hà mới đem phát cho dân, lý do của sự chậm trễ không được giải thích rõ ràng.
Đến thời điểm này, vẫn còn 8 hộ chưa được nhận bìa. Điều đáng nói là, trên cùng một quả đồi, nửa bên này đã có bìa, nửa bên kia lại chưa có. Lên xã hỏi thì ông Nguyễn Sóng Hồng, cán bộ lâm nghiệp xã trả lời đại loại như: Chưa có rồi sẽ có, hoặc sẽ cấp vào đợt sau... Vì thế, các hộ dân này chỉ biết chờ đợi gần chục năm nay! (Công An Nghệ An 18/12). đầu trang(
Đã có bằng chứng, chứng minh cán bộ bảo vệ rừng bắt tay với “lâm tặc”. Thế nhưng, đã nhiều tháng trôi qua sự việc vẫn không được giải quyết. Rừng đã chảy máu, cán bộ biến chất, lâm tặc hoành hành, tổ chức, lãnh đạo làm ngơ, tại sao??
Đã nhiều tháng trôi qua, rất nhiều lần PV làm việc với UBND huyện Quảng Ninh cũng như lãnh đạo Ban QL RPH Long Đại để làm sáng tỏ vấn đề. Thế nhưng, các đơn vị này vẫn “tìm đủ cớ”, “viện mọi lý do” để thoái thác trách nhiệm trước việc làm vi phạm pháp luật của cấp dưới, thậm chí dư luận còn cho rằng có sự dung túng bao che, sợ lộ điều gì đó hay các vị lãnh đạo này cũng có một phần liên quan?
Để rộng đường dư luận và chứng minh file ghi âm PV thu thập được là có thật, Pháp Luật&Xã Hội xin trích một phần trong cuộc trò chuyện giữa một cán bộ bảo vệ rừng là ông có tên Viết khi giao dịch bất thành, toàn bộ số lượng gỗ đã bị Hạt Kiểm lâm Quảng Ninh thu giữ thì cũng là lúc hai người xảy ra mâu thuẫn. Ông Trần Quốc Viết (cán bộ bảo vệ rừng) đã “phủi” trách nhiệm khỏi mình, và lớn tiếng cho rằng, bản thân sẽ không phải chịu trách nhiệm gì trước pháp luật bởi hợp đồng mua bán gỗ giữa hai người chỉ là “hợp đồng bằng miệng, mà lời nói thì gió bay thôi”.
Để bạn đọc được rõ hơn về bản chất của vụ việc, Pháp Luật&Xã Hội xin đưa ra một số nghi vấn về sai phạm của ông Nguyễn Quốc Viết thông qua đoạn băng ghi âm.
- Anh Viết à! Khi nãy em nói gọi mà mắc nên giờ mới gọi lại đây. Chừ anh ở mô (giờ anh ở đâu - PV), ở Trạm à?
- Ừ! Ở Trạm. Vô gặp mấy ông nớ răng (vào gặp mấy ông đó thế nào? - PV)?.
- Dạ! Ông Trưởng trạm à?
- Ừ!
- Dạ em lúc nãy ra, gặp ông gần Thanh niên lập nghiệp (tên ngôi làng - PV). Cả ông Long, ông Cường, anh Nam đang đi lên…
Với cuộc trò chuyện này đã khẳng định được ông Viết là cán bộ làm công tác bảo vệ rừng. Hơn thế nưa ông Viết còn biết rất rõ về tên của các cán bộ cũng như lãnh đạo tại đơn vị mình và thừa nhận mình đang có mặt tại trạm… Tất cả những “bằng chứng” trên PV đã cho lãnh đạo UBND và lãnh đạo RPH nghe để có biện pháp xử lý triệt để. Thế nhưng, từ UBND xuống đến ban lãnh đạo RPH chỉ kiểm tra qua loa và “cho” cấp dưới viết báo cáo và bản cam kết mà thôi, tại sao? Dư luận nghi ngờ sự không minh bạch ở trong đó.
Ngay khi bắt đầu cuộc nói chuyện, ông Viết đã để lộ thân phận của mình là đang ở Trạm (ông Viết đang làm công tác bảo vệ rừng ở Trạm bảo vệ rừng Hang Chuồn, xã Trường Xuân). Đồng thời, trong cuộc hội thoại đó còn có nhắc đến tên hai người là ông Long – tức ông Nguyễn Thăng Long là Trưởng trạm bảo vệ rừng Hang Chuồn và ông Cường – là trưởng Trạm kiểm lâm Hang Chuồn. Đoạn hội thoại thể hiện rõ:
“…Hợp đồng bằng miệng thì gió bay thôi!... Nói rồi là rồi chứ có chi, có chứng cứ mô… Không có một giấy tờ thủ tục chi là anh không sợ. Đưa ra pháp lý là phải có chữ ký này kia…”. Lời nói này của ông Trần Quốc Viết thể hiện sự xem thường pháp luật, tỏ rõ sự khôn khéo và thủ đoạn lách luật thông minh của ông Viết. Ông Viết đã dọn sẵn con đường rút lui để không bị ảnh hưởng nếu sự việc bị vỡ lở, bởi hợp đồng mua bán, đặt gỗ chỉ được thực hiện bằng miệng, không có giấy tờ bằng chứng gì cả. Và nội dung này, ông Viết đã lặp đi lặp lại tới 4, 5 lần trong cuộc nói chuyện chỉ có hơn 9 phút.
Thân phận của ông Viết lại một lần nữa được khẳng định rõ khi người kia phản ứng lại rằng:
- …Anh Viết này! Tức là ý anh muốn nói là anh đặt em là anh không có chứng cớ phải không?
- Ừ!
- Em biết là chứng cớ không có rồi, nhưng mà anh phải thương em tí chứ. Săng (gỗ - PV) là anh lên coi rồi, anh đặt em làm. Mà anh là làm nơi Trạm, anh đặt em làm mà bên Hạt (Kiểm lâm) lại bắt nữa…
Để làm rõ sự việc báo Pháp Luật&Xã Hội đã có ít nhất hai lần làm vịêc với ông Nguyễn Ngọc Thụ – PCT huyện Quảng Ninh. Sau khi nghe được cuộc hội thoại ấy ông PCT cũng nói rằng: “Đây đúng là có cuộc giao dịch mua bán gỗ rồi. Nếu đúng ông Viết kia là người trong Ban quản lý RPH Long Đại thì cuộc giao dịch này có vấn đề. Nếu được làm rõ đó là ông Viết thì phải xử lý nghiêm”.
Cũng theo ông Thụ “sau khi biết sự việc chúng tôi đã yêu cầu ban QL RPH làm rõ vấn đề báo nêu và có báo cáo gửi UBND, nhưng đến thời điểm này vẫn chưa thể xác định được trong đoan băng ghi âm kia có phải là của anh Viết hay không nên về phía chúng tôi vẫn chưa thể đưa ra hình thức kỷ luật…” ông thụ cho biết.
Điều đáng nói ở đây bản thân ông phó chủ tịch cũng xác định nếu đây đúng là giọng nói của anh Viết thì phải xử lý nghiêm. Vây câu hỏi đặt ra ở đây cho UBND là đã có file ghi âm tại sao UBND không chuyển qua hoặc yêu cầu chuyển qua cơ quan CA để điều tra làm rõ mà cứ ngồi chờ báo cáo??
Khi được hỏi về trách nhiệm của đơn vị mình ông Nguyễn Văn Trị - GĐ ban QLRPH Long Đại cho biết: “sau khi tiếp nhận thông tin từ báo chúng tôi đã cho kiểm tra, đã xác minh và cho đ/c Viết làm bản cam kết… Đ/c Viết một mực không nhận đó là cuộc đàm thoại của mình nên chúng tôi cũng không biết giải quyết thế nào, chúng tôi không thể xử lý được…”.
Theo “ý tưởng” và cách trả lời của vị GĐ này thì cơ quan báo chí làm luôn phần việc điều tra thông tin của mình rồi cung cấp kết quả cho phía RPH để đơn vị có hướng giải quyết cấp dưới của mình sao?
Dư luận đặt ra câu hỏi: Liệu sự việc có bị chìm xuồng vì một lý do “đặc biệt” nào đó không? Vì đơn giản nếu họ muốn làm sáng tỏ mọi vấn đề thì chỉ cần chuyển tài liệu mà PV thu thập được và đề nghị CQĐT vào cuộc làm rõ mọi vấn đề, để trả lời dư luận và Pháp luật luôn được tôn vinh. (Pháp Luật&Xã Hội 19/12) đầu trang(
Người dân địa phương gọi cánh rừng thuộc địa bàn thôn Liên Sơn, xã Xuân Lẹ, huyện miền núi Thường Xuân (Thanh Hóa) là đồi Tỷ. Bởi những người đi đào đá quý (thạch anh) truyền tai nhau đây là cánh rừng đã mang lại tiền tỷ đổi phận cho nhiều người.
Được biết, Xuân Lẹ là một trong những nơi hiếm hoi có phân bố loại khoáng vật (đá quý) có giá trị. Trong số đó, loại đá có dáng hình lục lăng, màu xanh là một trong những loại đá quý có giá trị cao.
Giới đào đá quý truyền tai nhau chuyện có những người đào được viên đá xanh, đem bán cả tỷ đồng. Tuy nhiên, đến nay, những hình ảnh về các viên đá quý có nguồn gốc từ Xuân Lẹ xuất hiện nhiều trên thị trường, nhưng chủ nhân ban đầu của nó luôn ẩn thân.
Từ những tài liệu ít ỏi về phân bố khoáng vật trên lãnh thổ Việt Nam, thông tin vùng đá quý Xuân Lẹ cũng được giới chuyên đá quý biết từ hàng chục năm trước. Những người đào đá quý đầu tiên ở vùng đất này không phải là dân địa phương mà là giới chuyên tìm kiếm, đào đá quý.
Sau đó, thông tin về vùng đá quý cũng như giá trị của nó dần được người dân bản địa lan truyền nhau trong những lần đi rừng bắt gặp các đối tượng trên. Người dân bản địa bắt đầu tham gia đào đá, khi thì đào thuê, khi thì tự đào, tìm được đá thì đem bán cho người thu mua. Người thu mua đá cũng lộ diện, thậm chí xuất hiện ngay những cơ sở chế tác đá quý này để làm trang sức tại vùng lân cận huyện Thường Xuân.
Từ khi xuất hiện việc khai thác đá quý tại Xuân Lẹ, đến nay chưa có một giấy phép, quyết định nào của ngành chức năng cho phép cá nhân, tổ chức nào được phép khai thác. Những viên đá quý được buôn bán trên thị trường, có nguồn gốc Xuân Lẹ là đá quý khai thác trái phép. Tình trạng đào bới tìm đá quý tự phát này đã để lại hậu quả khu rừng rộng lớn ở đồi Tỷ còn trơ sỏi đá. Cứ hễ mưa xuống là gây sạt lở đồi rừng nghiêm trọng.
Giáp với rừng huyện Thường Xuân là cánh rừng của huyện Quế Phong (Nghệ An). Theo những người dân đào đá, chính quyền địa phương thì đối tượng đào đá, mua đá, thuê lao động đào đá chủ yếu là người dân các tỉnh ngoài.
Ở khu vực này hình thành nhóm đào, tùy theo kinh nghiệm, kỹ thuật “tăm” khu vực có đá mà những người này dựng lán, khoanh vùng, làm chủ khu vực đào của mình. Phần lớn các lều lán của người đào đá được trang bị đầy đủ các thiết bị, dụng cụ sinh hoạt cá nhân. Cứ một tuần, vài người trong nhóm lại xuống núi để mua lương thực, tiếp tế các vật dụng, hoặc rao bán, chuyển đá quý đã đào được.
Là người nhiều năm tham gia đội kiểm tra, giải tỏa tụ điểm đào đá quý trái phép, ông Hoàng Trọng Lưu- Phó chủ tịch UBND xã Xuân Lẹ cho biết: “Tháng 10/2008- thời điểm đối tượng khai thác đá tập trung nhiều, lên tới hàng trăm người. Ngành chức năng phối hợp với chính quyền địa phương đã đưa dân quân, công an, cán bộ xã, kiểm lâm canh gác cả một tháng, nhằm giải tỏa các điểm khai thác đá trái phép. Lúc này, việc khai thác đá trái phép tập trung được coi là điểm nóng.
Chúng tôi dựng lán ở hẳn trong rừng. Cứ một tuần, chúng tôi cắt cử người vượt rừng, xuống núi để tiếp tế lương thực. Quyết tâm giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn, nên chúng tôi không quản khó khăn, dù không có hỗ trợ chi phí. Ngày đó, có nhiều người trực, canh giữ rừng suýt gặp nạn vì bị bò cạp, côn trùng đốt...”.
Sau đợt ra quân quyết liệt của chính quyền địa phương, tình trạng khai thác đá quý trái phép ở khu vực này có lúc lắng xuống. Tuy nhiên, không lâu sau đó, sự việc lại tái diễn.
Các cuộc kiểm tra, tuần rừng định kỳ tiếp tục diễn ra, nhưng không thể chấm dứt hoàn toàn việc khai thác đá quý ở đây. Việc truy quét đối tượng khai thác đá quý trái phép như kiểu “bắt cóc bỏ đĩa”. Hàng trăm hố đào nông, sâu, lớn, nhỏ tiếp tục mọc lên trên đồi Tỷ và khu vực lân cận. Những thông tin về đào được đá quý tiền triệu, tiền tỷ truyền tai nhau, tạo nên sức hút với những người liều mạng tìm vận may.
Khó khăn trong công tác kiểm soát, giải tỏa điểm khai thác đá này nhân lên gấp bội khi các cuộc tuần rừng định kỳ hay bất ngờ của chính quyền địa phương cùng lực lượng kiểm lâm đều bị vô hiệu, bởi đồi Tỷ là nơi luôn có sóng điện thoại di động, nên thông tin lan truyền báo hiệu rất nhanh.
“Do địa hình khó có thể di chuyển nhanh, lại là khu vực có sóng điện thoại tốt, nên mỗi lần chúng tôi thành lập đoàn đi kiểm tra, giải tỏa lên đến nơi thì chẳng thấy một bóng người. Các đối tượng đều nhận được thông tin có đoàn kiểm tra, nên họ giấu các thiết bị đào đá, lương thực thực phẩm, rồi biến mất khỏi hiện trường. (Tiền Phong 19/12) đầu trang(
Mới đây, một vụ vận chuyển 2 container gỗ trên đường từ Bình Phước về TP.HCM đã bị tạm giữ, do có dấu hiệu nghi vấn quay vòng hóa đơn để hợp thức hàng lậu.
Theo nguồn tin từ người dân khu vực cửa khẩu Hoa Lư, tỉnh Bình Phước, thời gian qua tình hình buôn lậu gỗ từ Campuchia vào Việt Nam diễn ra khá mạnh. Ngay khi nhận được thông tin này, đội đặc nhiệm do Tổng cục Trưởng Tổng cục Hải quan trực tiếp chỉ đạo đã tiến hành điều tra xác minh. (VTV 18/12) đầu trang(
Cũng như Nam Phi, Việt Nam là một quốc gia có tê giác, là nơi cư trú của quần thể tê giác Java Rhinoceros sondaicus annamiticus cực kỳ nguy cấp duy nhất còn tồn tại trên lục địa châu Á. Tuy nhiên, vào đầu năm 2010, con tê giác cuối cùng đã bị săn bắn trộm để lấy sừng. Bất chấp điều này, hoạt động buôn bán sừng tê tại Việt Nam đã chuyển sang một nguồn cung mới là châu Phi.
Thói quen sử dụng sừng tê giác tại Việt Nam có lịch sử lâu đời, được kết nối một phần với nền y học cổ truyền của nước láng giềng phía Bắc là Trung Quốc. Tuy nhiên, thực chất giá trị y học của sừng tê giác rất gần với móng ngựa. Các quan chức Việt Nam tại một hội nghị quốc tế của Liên minh chống buôn lậu động vật hoang dã (CAWT) tổ chức ở Johannesburg tháng 9.2011 thừa nhận ở Việt Nam sừng tê giác được xem là phương thuốc chữa bách bệnh, kể cả ung thư.
Việc quảng cáo sừng tê giác làm thuốc chữa trị cho các bệnh ở giai đoạn cuối, thực tế là một âm mưu tiếp thị nhằm tăng khả năng sinh lời cho hoạt động buôn bán bất hợp pháp bằng cách nhắm vào những bệnh nhân tuyệt vọng, sắp chết. Bằng chứng về những tên “cò” sừng tê giác cố tình tìm kiếm bệnh nhân ung thư tại các bệnh viện đã tô đậm mặt tiêu cực của việc quảng bá sừng tê tại Việt Nam hiện nay.
Là một mặt hàng bất hợp pháp, sừng tê giác vẫn được buôn bán một cách bí mật tại nhiều thị trường thuốc đông y và thị trường động vật hoang dã trong nước. Sừng tê được bán ngày càng nhiều thông qua các cửa hàng bán lẻ không liên quan đến cộng đồng đông y. Buôn bán trên mạng thông qua các trang mạng xã hội và trang kinh doanh cũng khá phổ biến.
Trong khi đó việc mua bán phục vụ cho các cá nhân trong giới quan chức, kinh tế và xã hội lại được thực hiện thông qua các kênh không chính thức khác và các mối quan hệ cá nhân. Trong một số trường hợp, nhân viên bệnh viện hoặc các cá nhân khác có chức năng làm “cò” sừng tê, họ tích cực tìm kiếm khách hàng trong số những bệnh nhân mắc bệnh nan y giai đoạn cuối. Cùng lúc đó, có một số lượng lớn sừng tê giác giả lưu hành trên thị trường.
Những cuộc săn tê giác đầu tiên của công dân Việt Nam tại Nam Phi là vào năm 2003. Theo số liệu của Công ước buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), từ năm 2003 – 2010, 657 chiếc sừng tê giác đã được xuất khẩu hợp pháp từ Nam Phi vào Việt Nam dưới dạng chiến lợi phẩm, nhưng số liệu nhập khẩu của Việt Nam chỉ ghi nhận 170 chiếc, con số này cho thấy 74% của hoạt động buôn bán đã không được khai báo.
Sự thất bại trong việc hạch toán đầy đủ số lượng chiến lợi phẩm sừng tê hợp pháp không chỉ thúc đẩy buôn bán trái phép tràn lan, mà còn làm cho Việt Nam mất gần 2 triệu USD tiền thuế. Ngoài môn thể thao săn bắn, các mạng lưới buôn bán bất hợp pháp còn cung cấp cho Việt Nam hàng trăm chiếc sừng tê từ những nguồn bất hợp pháp khác ở Nam Phi, bao gồm săn bắt trộm, trộm cắp và sừng trong các kho không đăng ký ở khu vực tư nhân.
Sừng tê giác vẫn tiếp tục vào Việt Nam thông qua các kênh đa dạng, bao gồm đường hàng không nối Johannesburg với Hà Nội hoặc TP.HCM qua Hong Kong, Bangkok, Kuala Lumpur và Singapore. Thủ đô Maputo của Mozambique cũng đang nổi lên như một cơ sở mới cho việc vận chuyển sừng tê giác ra khỏi châu Phi vào Việt Nam. Hầu hết những kẻ buôn lậu là nam giới trẻ hoặc trung niên, một số kẻ còn được cho là đã thực hiện nhiều chuyến với tư cách người vận chuyển thường xuyên. Tuyến đường bộ từ nước láng giềng Lào cũng được sử dụng để buôn lậu sừng tê (có thể từ Thái Lan) vào Việt Nam.
Trên thực tế, Việt Nam thiếu một hệ thống đáng tin cậy theo dõi các chiến lợi phẩm săn bắn hợp pháp để đảm bảo rằng chúng không bị đem ra buôn bán. Hơn nữa, không vụ bắt giữ nào dẫn đến các cuộc điều tra trên diện rộng nhằm xác định các tổ chức tội phạm đứng đằng sau hoạt động buôn bán này.
Tính đến tháng 6.2012, không có vụ bắt giữ sừng tê nào được báo cáo tại Việt Nam kể từ năm 2008, trong khi số liệu tại Nam Phi cho thấy một câu chuyện hoàn toàn trái ngược về số lượng tê giác bị giết bất hợp pháp, số thợ săn Việt Nam đăng ký các cuộc săn bắn nhằm mục đích làm chiến lợi phẩm, và số công dân Việt Nam bị bắt cùng với những chiếc sừng tê lậu.
Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy một cách rõ ràng rằng Việt Nam là điểm đến và tiêu thụ sừng tê giác hàng đầu thế giới. Tình trạng này sẽ không thể thay đổi trong tương lai, trừ phi Việt Nam có các hành động sau:
Thể hiện ý chí chính trị mạnh mẽ để đưa tội phạm về sừng tê giác trở thành ưu tiên quốc gia. Xem xét và củng cố luật pháp và các hình phạt liên quan đến buôn bán bất hợp pháp sừng tê. Giải quyết các vi phạm liên quan đến chiến lợi phẩm sừng tê giác được nhập khẩu hợp pháp từ Nam Phi nhưng sau đó lại bị đem ra buôn bán thương mại. Chấm dứt quảng cáo và buôn bán sừng tê trên internet.
Giải quyết vấn đề sừng tê giác “giả” trên thị trường. Phát triển và thực hiện các hiệp định song phương nhằm thúc đẩy hợp tác thực thi pháp luật với Nam Phi và các quốc gia khác. Phát triển một cơ chế quy định chặt chẽ nhằm theo dõi các chiến lợi phẩm sừng tê hợp pháp.
Triển khai các chiến thuật thực thi pháp luật hiệu quả trên thị trường. Cam kết đủ nguồn tài chính và nhân lực để chiến đấu với tội phạm về sừng tê giác. Hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu và giám sát đang diễn ra. Tham gia thúc đẩy các hoạt động giảm nhu cầu và thực hiện các nghiên cứu đặc tính y học của sừng tê như một bước tiến tới khuyến khích sử dụng các chất thay thế. (Sài Gòn Tiếp Thị 18/12) đầu trang(
Vừa qua, Báo Quảng Bình nhận được ý kiến của bạn đọc phản ánh về việc Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại (thuộc UBND huyện Quảng Ninh) lợi dụng việc thực hiện dự án mở đường giao thông ở trong rừng phòng hộ ở tiểu khu 390 và 545 để khai thác nhiều cây gỗ quý; cùng đó lợi dụng việc thực hiện dự án trồng mới rừng đã khai thác nhiều cây gỗ quý tại 2 tiểu khu này...
Về thông tin bạn đọc phản ánh, Công an huyện Quảng Ninh cho biết: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã vào cuộc. Theo đó, ngày 12-12-2013, tổ công tác do trung tá Lê Thanh Liêm, Đội trưởng đội Cảnh sát kinh tế chỉ huy đã tiến hành việc xác minh, điều tra tại hiện trường khu vực rừng phòng hộ tại tiểu khu 390 và 545 thuộc quyền quản lý của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại. Đồng thời làm việc với Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại về vụ việc này.
Thông tin ban đầu cho biết, bước đầu qua kiểm tra đã phát hiện một số sai phạm trong việc thực hiện dự án mở đường và trồng mới rừng của Ban quản lý rừng phòng hộ Long Đại. (Báo Quảng Bình 19/12) đầu trang(
Báo Thanh tra năm 2012, 2013 đã có loạt bài phản ánh tranh chấp rừng và đất rừng ở xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh. Tuy nhiên, như Sở NN&PTNT tỉnh Hà Tĩnh thừa nhận, “tình hình thực tế quá phức tạp nên chưa giải quyết được dứt điểm...”. Và, đó cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự âm ỉ một nguy cơ xung đột mới!
Báo Thanh tra từng phản ánh: Ngày 17/1/2013, Chủ tịch UBND huyện Hương Khê tổ chức lực lượng hàng trăm người chặn các ngả đường vào Tiểu khu 226 thuộc xã Lộc Yên, bảo vệ cho một nhóm người dân xã Gia Phố khai thác hơn 80ha rừng trồng của người dân Lộc Yên, bị người dân Lộc Yên phản đối kịch liệt.
Sau vụ việc trên, UBND huyện Hương Khê có văn bản gửi UBND tỉnh Hà Tĩnh xin ý kiến chỉ đạo. UBND tỉnh đã giao Thanh tra tỉnh hướng dân trình tự giải quyết.
Ngày 14/6/2013, Thanh tra tỉnh có Công văn số 186 về việc “góp ý phương án hòa giải tranh chấp đất lâm nghiệp tại Tiểu khu 226 xã Lộc Yên” khẳng định: “Căn cứ vào Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, việc giải quyết tranh chấp đất đai có giấy tờ về quyền sử dụng đất và các tranh chấp đất đai gắn với tài sản trên đất... tại Tiểu khu 226 huyện Hương Khê thuộc thẩm quyền của TAND. Việc UBND huyện thụ lý giải quyết là trái thẩm quyền...”.
Theo quan điểm của Chánh án TAND huyện Hương Khê thì các hộ gia đình trồng rừng ở Lộc Yên không phải là chủ rừng mà họ là người ký hợp đồng nhận khoán với Lâm trường Hà Đông để trồng, chăm sóc bảo vệ rừng và được hưởng tiền công ở các giai đoạn theo các hợp đồng giao khoán. Trong khi đó, các hộ dân trồng rừng Lộc Yên lại cho rằng: Cách viện dẫn Luật Bảo vệ và Phát triển rừng từ năm 1992 của Chánh án TAND huyện Hương Khê hoàn toàn trái với Quyết định 147/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Sau “sự cố” ngày 17/1/2013 của UBND huyện Hương Khê, theo hướng dẫn của Thanh tra tỉnh, lẽ ra, UBND huyện đã chuyển hồ sơ sang TAND huyện. Tuy nhiên, UBND huyện đã không làm. Về phía mình, TAND huyện Hương Khê lẽ ra tiếp tục công tác hòa giải giữa người dân và chính quyền, nếu không đạt kết quả, sau đó mới tính đến phương án đưa ra xét xử theo luật định thì vụ việc không đến nỗi đẩy rừng Lộc Yên thành điểm nóng của tỉnh.
Trở lại rừng Lộc Yên những ngày qua, hơn 80ha đất rừng vẫn bị bỏ ngỏ. Có những vạt đất sau khi khai thác đã có một số hộ dân nhảy dù trồng lại cây rừng. Theo một số người dân của xã Lộc Yên, những người trồng rừng trên phần đất tranh chấp này là người dân xã Gia Phố.
Nhằm ngăn chặn nguy cơ xung đột mới giữa dân của 2 xã, ngày 28/10/2013, những người dân Lộc Yên đã có đơn phản ánh thực trạng chiếm đất nói trên. Cùng ngày, ông Đinh Hữu Tân, Chủ tịch UBND huyện Hương Khê đã có Công văn số 1157 gửi các cơ quan có thẩm quyền và xã Lộc Yên, xã Gia Phố yêu cầu ngăn chặn nạn trồng rừng tự phát của người dân Gia Phố. Thực tế, không ai ngăn chặn những người trồng rừng tự phát. Điều đó được thể hiện hàng chục ha đất tranh chấp tại Tiểu khu 226 đã được một số người dân Gia Phố trồng cây.
Mới đây, ngày 29/11/2013, các hộ dân Lộc Yên lại bức xúc có đơn gửi Chủ tịch UBND huyện Hương Khê đề nghị chỉ đạo các hộ dân Gia Phố nghiêm chỉnh thực hiện Công văn 1157 để chờ cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm tranh chấp và xung đột. (Thanh Tra 19/12) đầu trang(
Theo báo cáo của Sở NNPTNT tỉnh Bình Phước, tỉnh này để mất hơn 348.000ha đất rừng, chiếm 30% số diện tích đất lâm nghiệp và gần 50% số diện tích rừng phòng hộ của địa phương này.
Cụ thể: Giai đoạn trước năm 1997, mất 144.451ha. Giai đoạn 1997 - 2003 mất 12.059ha. Giai đoạn 2004 - 2006 mất 188.257ha. Giai đoạn 2007 - 2009 mất 2.419,12ha. Giai đoạn 2010 - 2012 mất 956,12ha.
Đáng chú ý, khoảng gần 50% rừng phòng hộ bị lấn chiếm, hủy hoại. Theo Sở NNPTNT tỉnh Bình Phước, quá trình kiểm tra xử lý trách nhiệm các tổ chức, cá nhân trong việc để mất rừng trong các dự án khoanh nuôi bảo vệ rừng, tính đến tháng 6.2013, có 68 dự án bị mất rừng với diện tích 935,35ha. Tuy nhiên, đến nay các cơ quan của tỉnh chỉ khởi tố hình sự được 11 vụ. (Lao Động 19/12) đầu trang(
Hiện nay, từ những cánh đồng thanh vắng đến phố phường đông đúc trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, đâu đâu cũng dễ dàng bắt gặp thợ bẫy chim.
Họ không còn sử dụng phương pháp bẫy sập lồng (chỉ bắt được từng con) như trước đây mà thay vào đó là những tấm lưới, cành “chông” phết keo để tóm cả đàn chim. Những loại bẫy mới này đang từng ngày tận diệt chim trời. (Báo Khánh Hòa 18/12) đầu trang(

BÌNH LUẬN - NHẬN ĐỊNH
Vụ phá rừng xảy ra tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau đang gây xôn xao dư luận cả nước. Không giống những vụ phá rừng thông thường xảy ra trong thời gian gần đây, mà vụ phá rừng ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có dấu hiệu cán bộ của vườn quốc gia này làm nội gián cho lâm tặc.
Hệ quả, có tới 18 ha rừng với trữ lượng 1.773 m3 gỗ đước của vườn quốc gia vốn được coi là khu Ramsar thế giới (vùng đất ngập nước có tầm quan trọng về bảo tồn, được Tổ chức Môi trường thế giới công nhận là khu Ramsar mới của thế giới) bị triệt hạ.
Đáng mừng là lãnh đạo tỉnh Cà Mau đã thể hiện thái độ làm rõ vụ việc, xử lý kiên quyết đối với đơn vị, cá nhân vi phạm, trước hết việc cách chức Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm Trại Xẻo - Trương Thanh Tâm và Trạm phó Trần Thái Sanh; Công an huyện Ngọc Hiển cũng tiến hành khởi tố vụ án. Tuy nhiên, dư luận đặt nhiều dấu hỏi về trách nhiệm của ban lãnh đạo vườn quốc gia này, khi để vụ việc xảy ra kéo dài, không phải một vụ, mà nhiều vụ rải đều trên toàn bộ lâm phần vườn quốc gia, mức độ nghiêm trọng vụ sau lớn hơn vụ trước...
Hậu quả từ những vụ tàn phá rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thật khôn lường, ấy vậy mà lãnh đạo vườn quốc gia này lại không báo cáo với UBND tỉnh và các ngành liên quan để có biện pháp truy quét, ngăn chặn.
Đã có rất nhiều bài học đau lòng về việc kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc phá rừng, gây hậu quả nghiêm trọng. Cách đây chưa lâu, các lực lượng chức năng tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện vụ phá rừng đặc biệt nghiêm trọng xảy ra tại rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc xã Sơn Hồng, huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh (gần biên giới Việt - Lào) với hàng chục đối tượng liên quan và gần 800 m3 gỗ bị tịch thu.
Sau khi vụ việc được đưa ra ánh sáng, đã lộ tẩy một số kiểm lâm, chủ rừng - những người được Nhà nước giao nhiệm vụ bảo vệ rừng, nhưng lại tối mắt vì đồng tiền mà tiếp tay cho lâm tặc... Rồi vụ cơ quan chức năng phát hiện cán bộ kiểm lâm trực tiếp áp tải xe chở gỗ lậu bị lật ở Pù Huột, xã Bình Chuẩn (Con Cuông, Nghệ An) khiến 10 người tử vong.
Theo thống kê của ngành kiểm lâm, trung bình mỗi năm cả nước mất gần 32.000 ha rừng, mà trên 90% trong số diện tích rừng bị mất mỗi năm xuất phát từ sự yếu kém trong công tác quản lý và bảo vệ rừng. Từ vụ vận chuyển gỗ lậu ở Pù Huột, vụ phá rừng ở Hương Sơn (Hà Tĩnh), đến vụ phá rừng xảy ra tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau..., có thể thấy hành động tiếp tay cho lâm tặc của một bộ phận cán bộ kiểm lâm đã gây những hậu quả khôn lường.
Lâm tặc đã biến họ thành lá chắn, là chỗ dựa để bòn khoét tài nguyên rừng một cách không thương tiếc. Lợi nhuận thu được từ những vụ khai thác rừng bất hợp pháp thì rơi vào túi một vài cá nhân, nhưng hệ lụy của nạn chặt phá rừng bừa bãi (môi trường bị phá hủy, lũ ống, lũ quét...) thì cả xã hội phải gánh chịu.
Không thể phủ nhận, thời gian qua, ngành chủ quản cùng các địa phương đã có nhiều nỗ lực ngăn ngừa tình trạng xâm hại tài nguyên rừng. Có không ít những tấm gương kiểm lâm đã dũng cảm hy sinh trong cuộc đấu tranh với lâm tặc để bảo vệ rừng. Tuy nhiên, cũng có không ít những kiểm lâm thoái hóa, biến chất, trở thành những lâm tặc nguy hiểm.
Tội phá rừng được cha ông liệt vào hàng số một “nhất phá sơn lâm, nhị đâm hà bá”, nhưng mức độ nguy hại có lẽ sẽ gấp trăm, gấp nghìn lần khi những kẻ phá rừng lại ẩn náu dưới danh nghĩa kiểm lâm. Đây là sự cảnh báo đối với chính quyền cơ sở và ngành Kiểm lâm về công tác quản lý đối với những người được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, một tài nguyên vô giá của đất nước. (Tin Tức 18/12) đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Bộ trưởng Công nhiệp cây trồng và hàng hóa Douglas Uggah Embas cho biết Chính phủ Malaysia đặt mục tiêu đạt 53 tỷ RM (hơn 16 tỷ USD) từ xuất khẩu các sản phẩm gỗ vào năm 2020, trong đó đồ nội thất đóng góp 16 tỷ RM.
Hiện chính phủ và ngành công nghiệp đang nghiên cứu chiến lược và các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu bằng cách tập trung hơn vào sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng.
Ông Douglas cho biết nhu cầu của thị trường thế giới về các sản phẩm gỗ cho hộ gia đình như cửa ra vào và các sản phẩm đồ gỗ ngày càng gia tăng do tăng trưởng dân số toàn cầu thúc đẩy nhu cầu về nhà ở.
Đến năm 2025, ước tính dân số toàn cầu sẽ đạt 8 tỷ người. Năm quốc gia đông dân nhất hiện nay là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Brazil và Mỹ, sẽ vẫn là năm quốc gia đông dân hàng đầu vào năm 2025.
Do vậy, Trung Quốc và Ấn Độ, với tỷ trọng 35% dân số toàn cầu, sẽ là thị trường tiềm năng và nhu cầu lớn đối với các sản phẩm giá trị gia tăng với thu nhập ngày càng tăng cao.
Ông Douglas kêu gọi các nhà sản xuất gỗ Malaysia chú ý đến các tiềm năng này và tiếp tục có các biện pháp để tăng cường thị trường ở hai quốc gia đông dân này.
Hiện Malaysia là nước xuất khẩu gỗ cây và gỗ xẻ lớn nhất thế giới. Ngành công nghiệp gỗ của Malaysia đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước này và là nguồn thu ngoại tệ quan trọng của đất nước, bên cạnh việc tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm.
Malaysia đặc biệt chú trọng tới việc phát triển ngành công nghiệp gỗ bằng cách thông qua các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và bảo tồn rừng.
Theo quyền Giám đốc điều hành Hội đồng gỗ Malaysia Yeo Heng Hau, kim ngạch xuất khẩu gỗ của Malaysia năm 2012 đạt 20,2 tỷ RM, tăng gấp đôi so với 10,5 tỷ RM năm 1992. (VietnamPlus.vn 19/12) đầu trang(
Hải quân Mỹ lên kế hoạch tăng cường các vụ thử nghiệm hệ thống định vị dưới nước bằng sóng âm trong 5 năm tới, bất chấp cảnh báo tiêu cực đối với cộng đồng cá voi và cá heo.
Những vụ dạt bờ của các voi ngày càng trở nên thường xuyên hơn trên toàn thế giới, kể từ khi quân đội các nước, cụ thể là Mỹ, bắt đầu sử dụng hệ thống định vị bằng sóng âm dưới nước cách đây khoảng nửa thế kỷ.
Giới khoa học cho rằng những âm thanh này làm động vật biển sợ hãi và đẩy chúng vào vùng nước cạn, khiến chúng trở nên mất phương hướng và cuối cùng là nằm phơi bờ. Tuy nhiên, công nghệ cho phép theo dõi những trường hợp này chỉ mới xuất hiện vào thập niên trước. Bên cạnh nguy cơ dạt bờ, cộng đồng động vật hữu nhũ tại các đại dương còn có thể bị stress kéo dài do phải đối mặt với những thay đổi do con người tạo ra.
Hai cuộc nghiên cứu gần đây được triển khai ngoài bờ biển tại miền nam California đã phát hiện nhiều cá voi xanh, cá voi mõm khoằm ngưng mọi hoạt động săn tìm thức ăn và chạy trốn trước những âm thanh tương tự như loại phát ra từ các thiết bị săn tàu ngầm của quân đội.
Trong đó, cá voi mõm khoằm đặc biệt nhạy cảm với âm thanh và chiếm số lượng lớn trong số các động vật biển dạt bờ gần những điểm diễn tập quân sự. Loài sinh vật rất nhút nhát này có thể lặn xuống độ sâu 900 m so với bề mặt, và phải mất nhiều năm để các chuyên gia của Đại học Stanford (Mỹ) tìm kiếm và theo dõi bằng cách gắn chip định vị lên từng cá thể, theo báo cáo đăng trên chuyên san Proceedings of the Royal Society B.
Thế nhưng, giới khoa học lại ngạc nhiên trước phản ứng của cá voi xanh, động vật lớn nhất thế giới vốn từ lâu được cho là có khả năng miễn dịch trước những âm thanh tần số cao. Vẫn chưa rõ sự thay đổi về hành vi của loài cá đang đứng trước bờ vực tuyệt chủng này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến số lượng vốn đã ít ỏi của chúng, ước tính từ 5.000 đến 12.000 con trên toàn thế giới.
Cả hai cuộc nghiên cứu trên đều là công trình do các nhà khoa học độc lập thực hiện theo dự án 5 năm được hải quân Mỹ tài trợ, nhằm tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của sóng âm phát ra từ thiết bị săn tàu ngầm đối với môi trường sống của động vật biển.
Theo đó, ước tính có đến 186 cá voi, cá heo đã thiệt mạng ở bờ Đông do hoạt động quân sự, trong khi con số này ở Hawaii và miền nam California là 155. Ít nhất 11.000 trường hợp bị thương nặng ở bờ Đông, 2.000 ở Hawaii và miền nam California; khoảng 2 triệu cá thể bị chấn thương nhẹ, chẳng hạn như mất thính giác tạm thời, ở bờ Đông và Tây. Các cuộc nghiên cứu cũng cho thấy động vật có vú ở biển có thể thay đổi hành vi, như bơi lạc đường (ước tính 27 triệu trường hợp).
Hiện quân đội Mỹ đang đối mặt với cáo buộc tìm cách đẩy mạnh hoạt động thử nghiệm thiết bị săn tàu ngầm trong lãnh hải nước này bất chấp các cuộc nghiên cứu đã chỉ rõ hậu quả tiêu cực.
“Gây điếc tạm thời đối với động vật biển cũng có nghĩa con người đang tác động đến khả năng sinh tồn của chúng”, theo chuyên gia Michael Jasny của Hội đồng Bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên.
Một thẩm phán liên bang Mỹ hồi tháng 9 đã tuyên bố rằng giới chức ngư nghiệp không cân nhắc dữ liệu được thu thập đầy đủ nhất trước khi cho phép hải quân Mỹ tiến hành các cuộc thử nghiệm quân sự kéo dài từ Bắc California đến biên giới Canada.
Trong khi đó, Ủy ban Bờ biển California cũng bác bỏ kế hoạch diễn tập hải quân trong 5 năm của quân đội nước này, với thời gian khởi động dự kiến vào tháng 1 năm sau tại vùng biển ngoài khơi Nam California. Tuy nhiên, cơ quan trên không có quyền cấm các cuộc tập trận và hải quân Mỹ cũng phớt lờ các yêu cầu ngưng sử dụng thiết bị săn tàu ngầm để bảo vệ cộng đồng sinh vật biển. (Thanh Niên 1/12) đầu trang(./.
Biên tập: Bùi Hoa