|
Ngày 20 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo dự báo của Ðài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ, từ ngày 18 đến 22-6 trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời tiết tiếp tục nắng nóng, kết hợp hiệu ứng phơn tây nam nên dễ xảy ra cháy rừng tại một số nơi. Tỉnh chỉ đạo các địa phương và chủ rừng chủ động phòng chống cháy rừng, không để xảy ra đột xuất, bất ngờ.
Còn tại khu vực miền trung, Cục Kiểm lâm cho biết, hiện có bốn địa phương có nguy cơ cháy rừng cao, gồm: TP Ðà Nẵng; khu vực các thị xã Hương Trà, Hương Thủy (Thừa Thiên - Huế); khu vực các huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn (Bình Ðịnh); khu vực huyện Khánh Sơn, TX Cam Ranh (Khánh Hòa)...
Nguyên nhân do ở các địa phương trên đã nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng. Ban Chỉ đạo nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng đã yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng. (Nhân Dân 20/6) đầu trang(
Sáng 19-6, phiên tòa sơ thẩm TAND huyện Khánh Sơn (tỉnh Khánh Hòa) xét xử các bị cáo phạm các tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tiếp tục với phần thẩm vấn các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thành Trung (46 tuổi, nguyên trưởng Công an huyện Khánh Sơn, nguyên phó trưởng Trại tạm giam Công an tỉnh Khánh Hòa) bị truy tố tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đã kêu oan.
Ông Trung nói ông không biết gì, không liên quan gì đến vụ việc các công an huyện Khánh Sơn giữ trầm kỳ của phu trầm, không tham gia bàn bạc tỉ lệ ăn chia, không bán trầm kỳ rồi đưa tiền cho những người khác như cáo trạng truy tố.
Cáo trạng nêu khoảng 20g30 ngày 27-9-2012, ông Thành Trung có mặt tại quán cà phê Góc Núi (thị trấn Tô Hạp, huyện Khánh Sơn) và bàn bạc cùng Trần Văn Khánh (là người đào trúng trầm) với các bị cáo Vũ Anh Trung, Nguyễn Hồng Hà về tỉ lệ ăn chia và chính Thành Trung là người mang trầm đi bán. Số tiền bán được 3,8 tỉ đồng đã được chính Trung chia cho ba nhóm vào chiều 28-9-2012.
Tuy nhiên, tại tòa, Thành Trung nói ông có bằng chứng ngoại phạm. “Từ gần 19g đến gần 22g tối 27-9-2012, tôi nhậu tại quán Q.H. ở TP Cam Ranh (tỉnh Khánh Hòa) cùng năm anh em, bạn bè từ huyện Khánh Sơn đến. Tôi phát hiện ra điều này sau khi nhận được bản kết luận điều tra và đề nghị cho đối chất nhưng cơ quan điều tra không đồng ý. Hiện nay đã có ba người cùng nhậu chung với tôi tối 27-9-2012 ở quán Quê Hương xác nhận điều này cho tôi” - ông Thành Trung nói và giao nộp cho Hội đồng xét xử ba bản tường trình của những người nhậu chung với ông.
Tuy nhiên, chủ tọa phiên tòa nói rằng cần phải xem xét, chưa thể khẳng định đây là chứng cứ vụ án bởi các bản tường trình, xác nhận do gia đình ông Thành Trung thu thập, không phải chính những người viết nộp cho tòa.
Ông Trung cũng phủ nhận toàn bộ cáo buộc ông hai lần đem bán trầm kỳ, chở tiền trong ôtô để chia cho các bị cáo và những người khác, không bàn bạc với các bị cáo khác để khai có lợi cho ông… Ông Trung cũng cho rằng trầm kỳ do người dân đào được thì họ có quyền định đoạt tài sản đó, do vậy nếu người dân có bán trầm kỳ đi nữa thì cũng không xảy ra tội phạm.
Trước đó, trong phần trả lời thẩm vấn tại tòa, bị cáo Luân Văn Nam cũng phản cung. Nam nói tối 26-9-2012, bị cáo này có mặt tại bãi trầm định tham gia đào trầm, nhưng được bị cáo Trần Lệ Kiên (công an huyện Khánh Sơn) giao nhiệm vụ tham gia giữ trật tự. Khi nhận một đoạn trầm từ người dân gởi, Nam đem xuống đưa cho bị cáo Nguyễn Hồng Hà. “Bị cáo chỉ khai là bị cáo Hà nói: “Mày cứ giữ giùm cho người ta, khi họ hỏi thì trả lại cho họ” chứ không nghe Hà nói: “Cục hàng này là của riêng chú cháu mình chia nhau” như cáo trạng đã nêu” - Nam phản cung.
Nam cũng nói cáo trạng có nội dung Nam và những người trong nhóm đưa cục trầm cho Nguyễn Thành Trung tại quán cà phê Điểm Hẹn vào chiều 30-9-2012 để Trung đem bán là không có, mà Trung chỉ giao lại cho một phu trầm nói tiếng xứ Quảng tại nhà của Lê Anh Luân; còn việc Nam gặp Thành Trung ở quán cà phê Điểm Hẹn chỉ là chào nhau xã giao.
Khi tòa công bố các bút lục hỏi đáp giữa Nam với điều tra viên có các nội dung như trong cáo trạng truy tố, Nam cho rằng cơ quan điều tra đã ghi không chính xác lời khai của bị cáo, nhưng thuyết phục cứ nhận rồi ra tòa khai lại nên Nam đã ký. Tòa tiếp tục công bố văn bản lời khai do chính Nam viết và ký tên tại cơ quan điều tra phù hợp với những nội dung trong cáo trạng, thì Nam nói khi bị bắt hoảng loạn nên có thể khai không chính xác, lời khai tại tòa mới là đúng. (Người Lao Động + Sài Gòn Giải Phóng + Tiền Phong + Thanh Niên 20/6) đầu trang(
Tranh chấp trong quá trình phá rừng trái phép, giữa hai nhóm xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau. Hậu quả, 1 lâm tặc bị chém vào cổ, chết trên đường đi cấp cứu.
Liên quan đến vụ án 2 nhóm lâm tặc khai thác gỗ trái phép dẫn đến mâu thuẫn chém chết người, ngày 19/6, Công an huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định cho biết vừa bắt thêm 2 đồng bọn của Nguyễn Thanh Hải (24 tuổi, ở huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình) là Nguyễn Văn Dũng (21 tuổi) và Nguyễn Văn Thành (33 tuổi) cùng ở tỉnh Quảng Bình.
Trước đó, chiều 16/6, do mâu thuẫn khi khai thác gỗ trái phép tại khu vực rừng đầu nguồn sông Kôn thuộc làng O2, xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh,nơi giáp ranh giữa ba huyện Vĩnh Thạnh, An Lão (Bình Định) và huyện Kbang (Gia Lai), sau khi uống rượu xong, Hải cùng 3 đối tượng mang hung khí tìm đến lán trại của nhóm anh Nguyễn Ngọc Hà (32 tuổi, ở huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh) để thanh toán. Trong lúc hỗn chiến, Hải đã dùng dao phát rừng chém vào cổ anh Hà làm nạn nhân tử vong trên đường đi cấp cứu.
Sau khi gây án, cả nhóm bỏ trốn vào rừng sâu, tuy nhiên Hải bị lực lượng chức năng bắt ngay sau đó.
Tại cơ quan chức năng, bước đầu Hải khai nhận, do có mâu thuẫn với nạn nhân trong một lần nhậu trước đó. Trước khi gây ra án mạng, nhóm của Hải đã ngồi nhậu rồi mang hung khi tìm đến lán của Hà để giải quyết. (Dân Trí + Pháp Luật TPHCM 19/6) đầu trang(
Những cánh rừng tự nhiên thuộc xã An Lạc (huyện Sơn Động, Bắc Giang) thời gian qua bị “tàn sát” nghiêm trọng. Nhiều nguyên nhân đuợc đặt ra như do quản lý lỏng lẻo của ngành chức năng và một nguyên nhân được cho là sâu xa nữa là do dân nơi đây... quá nghèo. Điều đáng nói, những hộ đi đầu trong “phong trào” phá rừng ấy lại đều là những "công bộc”, cán bộ, đảng viên trong thôn, xã...
Nằm trong vùng lõi Khu bảo tồn Tây Yên Tử, xã An Lạc vốn được mệnh danh là "lá phổi xanh" của cả vùng. Nhưng đến đây những ngày này, nhiều người không khỏi ngạc nhiên, xót xa trước cảnh hoang tàn của nhiều cánh rừng bị chặt phá, cây cối khô héo nằm ngổn ngang. Hàng chục héc ta rừng tự nhiên - niềm tự hào của cả vùng nay chỉ còn là những bãi đất trống, rừng tại đây đang ngày đêm âm ỉ “chảy máu”.
Trao đổi với PV báo Người Đưa Tin, ông Trần Dìn (Chủ tịch UBND xã An Lạc) xác nhận, do cuộc sống người dân tại đây quá nghèo khổ, trong khi tiền trợ cấp giữ rừng Nhà nước chi trả cho dân lai thấp nên hầu hết các hộ đều không còn muốn giữ rừng. Đảng ủy, UBND xã cũng nhiều lần giúp người dân kiến nghị các cơ quan chức năng cho cải tạo rừng làm kinh tế nhưng đều không được duyệt nên người dân mới đi phá rừng như vậy.
Khi được hỏi về vấn đề quản lý của xã trong việc bảo vệ rừng, ông Dìn cho biết, sau khi phát hiện sự việc, xã cũng đã tích cực cử lực lượng vào cuộc ngăn chặn ngay từ đầu nhưng không làm gì được?! Tuy nhiên, khi nghe PV đặt vấn đề hỏi về việc có thông tin cho rằng, con trai của ông Dìn là anh Trần Văn Chung và em trai là ông Dìn cũng tham gia phá rừng thì ông Chủ tịch xã này lảng sang chuyên khác.
Khi đặt câu hỏi với con trai ông Dìn, vì sao lại chặt phá rừng, anh Chung nói: “Do chúng tôi không có đất để sản xuất, rừng được giao trông giữ không mang lại kinh tế, vì rừng chù yếu là những cây bụi, cây cối thì cằn cỗi, không phát triển nên không mang lại thu nhập. Trong khi đó, mỗi năm Nhà nước chỉ hỗ trợ cho chúng tôi 100.000 đồng/ha. Đất sản xuất nông nghiệp quá ít, chúng tôi đói nghèo quanh năm, nên chúng tôi muốn phát rừng trồng keo làm kinh tế”.
Cùng câu hỏi này, tiếp xúc với PV, anh Lê Văn Vinh bức xúc nói: “Chúng tôi thấy các cán bộ đảng viên thôn, xã; thậm chí con cháu nhà ông Chủ tịch xã phá rừng, nên chúng tôi mới bắt chước làm theo. Cuộc sống nghèo khổ thật, nhung nếu không có người làm trước thì sao chúng tôi tự ý mà phá rừng...”.
Được biết, thời gian đầu, chỉ một số hộ dân lợi dụng những ngày nghỉ trước Tết Nguyên đán 2014 đi chặt những khoảnh rừng được cho là nghèo kiệt, cây rừng bị hạ gục, đốt cháy không thương tiếc, nhiều cánh rừng bị xóa sổ. Theo đó, sau tết, “phong trào” phá rừng ngày càng mạnh hơn. Hàng chục hộ khác đua nhau “xẻ thịt” rừng để trồng keo làm kinh tế. Hiện, toàn xã An Lạc có 41 hộ vi phạm với tổng diện tích 30,27ha rừng tự nhiên đang được kiểm lâm huyện lập hồ sơ, xử lý theo quy định.
Làm việc với PV, ông Nguyễn Văn Thủy (Hạt phó hạt Kiểm lam Sơn Động) cho biết: “Rừng trên địa bàn xã An Lạc đã giao và cấp sổ đỏ cho người dân. Khu rừng tại địa bàn là rừng tự nhiên, không phải rừng đặc dụng hay rừng phòng hộ. Tuy nhiên, người dân muốn phát rừng để trồng keo thì phải làm tờ trình và được cư quan chức năng cấp phép”.
Cũng cùng ý kiến như Chủ tịch xã An Lạc, khi lý giải nguyên nhân dẫn đến hàng chục héc ta rừng bị “xẻ thịt” nghiêm trọng, ông Thủy nói: “Cuộc sống người dân tại xã An Lạc quá khó khăn. Đất sản xuất không có, trong khi tiền hỗ trợ chăm sóc rừng của mỗi hộ mỗi năm chỉ được 100.000 đồng/ha, mấy năm trờ lại đây mới được nâng lên 200.000 đồng/ha. Nên khi thấy các địa phương xung quanh trông keo có hiệu qủa, ngươi dân đã tự ý phát rừng”.
Được biết, hạt Kiểm lâm Sơn Động đã điều tra làm rõ, công khai danh tính 7 cán bộ, đảng viên thôn, xã vi phạm để xử lý, làm gương. Bên cạnh đó, Hạt cũng quyết định xử phạt hành chính 16 hộ, bàn giao UBND xã An Lạc xử phạt 6 hộ khác với tổng số tiền gần 300 triệu đồng về hành vi phá rừng trái pháp luật. Đặc biệt, đơn vị này đang hoàn thành hồ sơ đối với 4 đối tượng vi phạm nghiêm trọng để đề nghị Công an huyện Sơn Động khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại rừng.
Trò chuyện với PV, anh Lâm Văn Vinh (thôn Đồng Bây) - đối tượng phá rừng - bức xúc nói: “Biết là vi phạm thì sẽ bị xử phạt, chúng tôi đồng ý. Tuy nhiên tại sao các cán bộ thôn, xã cũng vi phạm thì chỉ bị phạt hành chính với mức rất thấp. Cùng một loại rừng, diện tích như nhau mà tôi bị phạt 20 triệu đồng, nay lại sắp bị khởi tổ, trong khi nhà khác phát 3 ha chỉ bị phạt 12 triệu đồng, có nhà chỉ bị phạt 7 triệu đồng... Đã xử thì phải công bằng”.
Cùng ý kiến này, anh Châu Văn Định, Châu Văn Chung thôn Biểng chua chát nói: “Đúng là nhất bên trọng, nhất bên khinh. Chúng tôi không khâm phục khi cùng diện tích phá như nhau, người thì chỉ bị “kều nhẹ” để cho có, còn những người dân nghèo khổ như chúng tôi thì bị xử phạt nặng. Mà cán bộ còn là những người phá rừng trước, chúng tôi chỉ học theo...”.
Lý giải những thắc mắc này của người dân, ông Thủy nói: “Rừng tự nhiên được giao cho các hộ chủ yếu là gỗ tạp và cây bụi, gỗ lim, trám có rất ít và phân bố không đều. Không phải nhà nào cũng giống nhau, do vậy cùng một diện tích khai phá nhưng mức xử phạt lại khác nhau. Chúng tôi xử phạt theo hiện trạng rừng, diện tích rừng bị phá và cả thái độ hợp tác. Với những trường hợp bị đề nghị khởi tố, chúng tôi đã phải cân nhắc rất kỹ. Chúng tôi cũng thương họ, nhưng khi lên làm việc thì họ lại không có thái độ hợp tác, thậm chí hung hăng thách thức, phá rừng càng nghiêm trọng hơn. Xã có bốn trường họp bị khởi tố hình sự là có sự phối hợp của nhiều cơ quan cùng vào cuộc, chứ không phải riêng Hạt Kiểm lâm quyết định vấn đề này”.
Để người dân tâm phục, khẩu phục, ngoài việc giải thích những nguy cơ có thể xảy ra nếu phá rừng, còn phải tuyên truyền phổ biến kiến thức rõ ràng về các quy định về bảo vệ rừng, cơ quan hữu quan tại huyện Sơn Động và tỉnh Bắc Giang cần thượng tôn tinh thần “luật pháp bất vị thân”. (Người Đưa Tin 18/6) đầu trang(
Rừng phòng hộ đầu nguồn Mường La (Sơn La) hiện đang lưu giữ một phần vùng rừng á nhiệt đới cuối cùng ở Việt Nam. Nơi đây có 20-30 cá thể vượn đen tuyền, loài linh trưởng đang bị đe dọa tuyệt chủng cao, hiện chỉ có ở Việt Nam và Trung Qụốc. Bởi vậy, rừng nơi đây đang nắm giữ một tài sản quí giá của toàn cầu. Đây còn là nơi cư trú của các quần thể voọc xám, niệc cổ hung, gà lôi hồng tía và beo lửa (tuy nhiên đang ở mức độ nguy cấp cần phải bảo vệ).
Theo ông Đỗ Văn Ánh, Trưởng Phòng Bảo tồn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay một số khu vực của rừng phòng hộ Mường La đã bị suy thoái bởi nạn khai thác và phá rừng trước đó. Rừng nơi dây đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho cac hồ chứa ở Mường La, các nhà máy thủy điện và việc canh tác nông nghiệp khu vực xung quanh. Do vậy, rất nhiều người dân sống quanh khu vực đã có tác động ảnh hưởng tới hệ sinh cảnh của rừng, đe dọa sự sinh tồn của các loài động, thực vật quý hiếm, nhất là loài vượn đen tuyền.
Thời gian qua, lực lượng kiểm lâm đã và đang cùng nhóm giám sát cộng đồng tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác lâm sản trái phép, nhưng nỗ lực đó vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đủ để đảm bảo an toàn cho các loài động, thực vật và tính đa dạng sinh học trong vùng. Nếu tình trạng phá rừng vẫn diễn ra theo tốc độ hiện nay thì rừng nơi đây sẽ bị suy thoái nghiêm trọng, một số loài, nhất là vượn đen tuyền sẽ biến mất trong vài năm tới.
Qua quan sát, thì rừng nơi đây còn bị xâm lấn bởi tình trạng khai thác lâm sản, phá rừng trồng thảo quả, thu nhặt củi, phát triển thủy điện... Ngoài ra, việc khuyến khích người dần tham gia công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở địa phương còn nhiều han chế. Phần lớn người dân không nắm rõ về các kế hoạch sử dụng đất ở xã, bản.
Qua thực tế cho thấy, người dân địa phương tự quyết định việc sử dụng rừng, xác định nơi nào để chăn thả gia súc, cây nào có thể khai thác mà không có sự phối hợp với chính quyền, kiểm lâm. Do vậy, rừng nơi đâv đứng trước nguy cơ suy thoái là khó tránh khỏi.
Trước thực trạng này, mới đây UBND tỉnh Sơn La có quyết định cho cơ quan chuyên môn lập đề án xác lập để tiến tới thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên Mường La”. Đây là một chủ trương đúng đắn, nhận được sự ủng hộ cao của các nhà nghiên cứu chuyên gia trong lĩnh vực không chỉ ở cấp quốc gia mà cả quốc tế. Bởi lẽ, ngoài giá trị đa dạng sinh học cao thì chủ trương này còn góp phần vào bảo vệ và phát triển quần thể vượn đen tuyền tại Khu Bảo tồn loài và Sinh cảnh Mù Cang Chải (Yên Bái) giáp với rừng phòng hộ đầu nguồn Mường La (sau này sẽ là Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường La).
Hiện tại, cách thức quản lý rừng, lịch sử bảo tồn và điều kiện KT-XH giữa hai khu vực tương đối khác nhau. Tại Khu Bảo tồn loài và Sinh cảnh Mù Cang Chải, các nỗ lực bảo tồn được thực hiện liên tục từ năm 2001 và kế hoạch quản lý điều hành cho khu rừng đặc dụng này được triển khai rất hiệu quả. Ngược lại, có rất ít hoạt động bảo tồn và thông tin cơ sở từ vùng rừng Mường La. Do đó, cần thiết phải có những hành động bảo tồn vùng rừng đầu nguồn Mường La cũng như các loài linh trưởng cùng các giá trị đa dạng sinh học khác...
Bên cạnh đó, việc thành lập “Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường La” còn góp phần cùng địa phương đưa ra được kế hoạch phù hợp trong việc tái định cư, sử dụng rừng hay vấn đề sinh kế của người dân sống quanh khu vực này. Đồng thời, đưa ra được giải pháp hữu hiệu trong việc ngăn chặn những tác động ảnh hưởng tới rừng, gìn giữ được những giả trị nguyên sinh của vùng rừng nơi đây. (Dân Tộc & Phát Triển 13/6) đầu trang(
19/6, Ban Chỉ đạo kiểm tra, truy quét, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản tỉnh Đồng Nai, cho biết: Đã tổ chức Hội nghị tổng kết 1 năm thực hiện công tác kiểm tra, truy quét, bảo vệ rừng trên địa bàn.
Thông qua công tác tuyên truyền vận động bảo vệ rừng, người dân đã giao nộp cho cơ quan chức năng 2 khẩu súng, hơn 700 bẫy thú, 270 mét lưới và một số động vật quý hiếm. Bên cạnh đó, lực lượng Công an đã đẩy mạnh phối hợp với các ngành có liên quan kiểm tra phát hiện, bắt giữ 115 vụ, 135 đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thu giữ 39 khẩu súng các loại, 2 quả lựu đạn, gần 200 viên đạn, hơn 800 bẫy thú, gần 3.000m3 gỗ các loại cùng nhiều động vật quý hiếm khác.
Dịp này, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã tặng bằng khen cho 8 tập thể và cá nhân; Giám đốc Công an tỉnh tặng giấy khen cho 27 tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác kiểm tra, truy quét bảo vệ rừng năm 2014. (Công An Nhân Dân 19/6) đầu trang(
Sáng 18.6, đoàn giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh có buổi làm việc với Sở NN&PTNT về tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Kim Hùng đến dự.
Theo báo cáo của Sở NN&PTNT, trong 4 năm qua (2011 - 2014), tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng để lấy đất sản xuất, lấy đất trồng rừng vẫn còn xảy ra ở một số địa phương và chưa có giải pháp ngăn chặn triệt để; nhiều nhất là ở khu tái định cư các công trình thủy điện và khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh.
Trong đó, toàn tỉnh có 4.247 vụ vi phạm với hơn 331ha diện tích rừng bị thiệt hại, chủ yếu là ở các huyện Đông Giang, Tiên Phước, Núi Thành,… Riêng 5 tháng đầu năm 2014, toàn tỉnh có 8 vụ phá rừng trái phép, gây thiệt hại tổng diện tích hơn 7ha.
Đến nay, ngành chức năng đã phát hiện, tịch thu hơn 7.000m3 gỗ các loại; gần 300 phương tiện xe các loại; 37 cưa máy cùng nhiều tang vật, phương tiện khác. Qua đó, đã khởi tố 79 vụ án hình sự vi phạm các quy định về công tác quản lý, bảo vệ rừng và thu nộp ngân sách nhà nước 37 tỷ đồng.
Liên quan đến công tác phát triển rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và trồng rừng thay thế, đến nay đã thực hiện khá đồng bộ với độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh từ 48,3% (năm 2011) lên 49,4% năm 2013. Trong khi đó, tổng diện tích cung ứng chi trả dịch vụ môi trường rừng hơn 287.221ha; phê duyệt 7 đề án chi trả dịch vụ môi trường rừng với tổng diện tích gần 202.206ha; kết quả triển khai trồng rừng thay thế đạt 35%...
Phát biểu tại buổi làm việc, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Trần Kim Hùng ghi nhận và đánh giá cao những nỗ lực của ngành chức năng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Đồng thời nhấn mạnh, việc thực hiện tốt công tác chỉ đạo quản lý, bảo vệ rừng của các ngành chức năng đã đem lại kết quả đáng mừng cho quá trình phát triển rừng tại địa phương. Tuy nhiên, do địa hình phức tạp, việc tuyên truyền nhận thức đến với người dân chưa sâu,… khiến công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn.
Trong khi đó, khoáng sản phân bổ rải rác ở các vùng miền núi, dẫn đến tiềm ẩn những “điểm nóng” về tình trạng phá rừng, khai thác khoáng sản trái phép. Đồng chí Trần Kim Hùng đề nghị các cơ quan chức năng liên quan cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác bảo vệ và quản lý rừng, thực hiện việc phân cấp, phân quyền cũng như đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho từng địa phương và thường xuyên vận động tuyên truyền đến với người dân. (Báo Quảng Nam 19/6) đầu trang(
Để lấy gỗ và đất sản xuất, lâm tặc và người dân đã tàn phá hàng loạt cánh rừng ở xung quanh Khu du lịch sinh thái Măng Đen (H.Kon Plông, Kon Tum).
Dọc tỉnh lộ 626 và quốc lộ 24B, đoạn qua Măng Đen, hàng trăm ha rừng bạt ngàn ngày trước đã bị phá làm nương rẫy, trồng mì, cà phê. Ở xã Măng Cành (H.Kon Plông), chúng tôi chứng kiến nhiều cánh rừng tan hoang, trong đó có cánh rừng vừa mới bị chặt phá, đốt, cây cháy nham nhở, ngổn ngang khắp nơi. Nằm xen dưới những than cây gỗ cháy đen là cây mì đã lên xanh.
Theo vết xe “bò vàng” (xe tải kéo gỗ) đi sâu vào những cánh rừng tự nhiên thuộc các thôn Tu Rằng và Tu Mạ, xã Măng Cành, chúng tôi chứng kiến lâm tặc ở đây chọn những cây gỗ lớn để khai thác. Có nơi, lâm tặc dùng cưa hạ cây xuống rồi để đó, nhưng có nhiều điểm, cây gỗ bị hạ xuống và xẻ gỗ ngay tại chỗ, hiện trường còn vương vãi lại bột cưa, ván gỗ bìa, các khúc gỗ tròn ngắn…
Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Nguyễn Văn Lân, Chủ tịch UBND H.Kon Plông (Kon Tum) xác nhận có việc phá rừng để làm nương rẫy. “Những cánh rừng vừa mới bị phá ở xã Măng Cành, chúng tôi đã lập biên bản xử phạt. Trong năm 2014 này, chúng tôi sẽ trồng lại 100 ha rừng thông trên những cánh rừng bị người dân phá để trồng mì và hoa màu các loại”, ông Lân nói. Riêng về việc lâm tặc khai thác lén lút ở những cánh rừng tự nhiên ở xã Măng Cành, ông Lân cho biết chưa nghe ngành chức năng của huyện báo cáo lại và sẽ chỉ đạo ngành chức năng kiểm tra cụ thể. (Thanh Niên 20/6) đầu trang(
Mới hơn 7h sáng nhóm PV từ ngã tư Hạ Vàng đi vào khu nghĩa trang liệt sĩ Thiên Lộc, đã thấy anh Thông phó trưởng trạm báo vệ rừng Thiên Lộc cỏ mặt trên chòi canh lửa rừng.
Đặt chân vào trạm PV chỉ thấy có vài công nhân, sau mấy câu hỏi PV đi thẳng vào phía đường lên Chùa Hương thì gặp anh Thuận trưởng trạm, trạm bảo vệ rừng Thiên Lộc đang đảm nhận điểm trực đường lên Chùa Hương. Đứng ở vị trí đó có thể quan sát toàn cảnh của gần hai nghìn héc ta rừng phòng hộ mà trạm bảo vệ rừng Thiên Lộc, hạt kiểm lâm Can Lộc, xã Thiên Lộc phổi kết hợp quản lý và bảo vệ.
Vừa quan sát các điểm nóng anh Thuận vừa trao đổi: “Năm 2013 nguồn bảo vệ rừng không có, vì vậy việc bảo vệ rừng nhất là nhiệm vụ PCCCR gặp rất nhiều khó khăn. Tuy thế sang đầu năm 2014 trạm đã chuẩn bị đầy đủ phương án để có thể kịp thời phản ứng nhanh khi có lửa rừng. Trạm và xã Thiên lộc đã thành lập một đội phản ứng nhanh, làm ba chòi canh tại các điểm xung yếu, bố trí mười một điểm trực cháy, dọn sạch thực bì ở những vùng dễ cháy, xây mới và tu sửa ba biển tường, viết gần một trăm câu khẩu hiệu có nội dung tuyên truyền việc PCCCR. Ngoài ra, trạm còn sắm sửa các dụng cụ như: dao, dày đi rừng, đèn pin, bi đông đựng nước, túi thuốc sơ cứu, máy thối lửa. Mỗi tháng trạm bảo vệ rừng, hạt kiểm lâm và xã tổ chức giao ban hai lần đế rút kinh nghiệm, tổ chức các cuộc họp vận động tuyên truyền nhiệm vụ PCCCR cho toàn dân.”
Tuy nhiên, hiện nay PV thấy điểm nóng bỏng nhất là đường đi lên Chùa Hương lại đúng vào dịp nghỉ hè người các nơi đổ về như “trẩy hội”. Đi một đoạn là bắt gặp một điểm thắp hương, kể cả những phiến đá đọc đường cũng có khói hương nghi ngút.
Tiễn nhóm PV ra về anh Thuận lo lắng tâm sự thêm: “Chúng tôi đã làm hết sức mình nhưng ý thức bảo vệ rừng của người dân là cơ bản, với nhiệt độ này chỉ cần sơ hở một tí lửa nhỏ là có thể thiêu trụi hàng trăm ha rừng”.
Trên đường về PV suy nghĩ ở vùng Chùa Hương nếu có nhiều lực lượng bảo vệ rừng hay có hàng trăm các chiến sĩ kiểm lâm cũng có thể không làm nổi với ý thức của những người lên chùa thắp hương. Vì vậy, kính đề nghị các ngành hữu quan, đặc biệt là ban quản lý Chùa Hương cần phải có những giải pháp cụ thể nhất là cậc điểm thắp hương không cần thiết, đừng vì hạn chế việc hiêu biêt về tâm linh mà làm ảnh hưởng lớn đến nhiệm vụ PCCCR. (Kinh Doanh & Pháp Luật 18/6) đầu trang(
Hàng trăm người dân đổ về huyện Sơn Hà, Tây Trà và Sơn Tây (Quảng Ngãi) triệt hạ cây rừng phòng hộ để thu hoạch ươi đang còn tươi, non.
Trao đổi với VnExpress.net, ông Tạ Tiến, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Sơn Hà cho biết, nhiều ngày qua, hàng trăm người dân đổ xô về các khu rừng phòng hộ ở các xã Sơn Kỳ, Sơn Thượng, Sơn Bao, Sơn Nham (huyện Sơn Hà) và các xã Trà Thọ, Trà Xinh (huyện Tây Trà) triệt hạ cây ươi để lấy hạt bán cho thương lái.
"Hạt kiểm lâm huyện phối hợp với Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Thạch Nham kiểm tra, phát hiện 13 cây ươi cổ thụ ở khu vực rừng đầu nguồn xã Sơn Trung và Sơn Kỳ bị chặt hạ", ông Tiến lo ngại.
Theo người dân địa phương, do hạt ươi thu hoạch bán cho thương lái có giá cao nên nhiều người đã bỏ nương rẫy, đổ xô vào rừng phòng hộ thu hoạch ươi. Mỗi kg hạt ươi tươi bán tại rừng khoảng 50.000 đồng, hạt ươi khô bán với giá hơn 200.000 đồng.
"Những năm trước, đến mùa thu hoạch người dân chỉ thu lượm hạt rơi dưới gốc mang về bán. Giờ đây do thương lái Trung Quốc mua cả hạt non với giá cao nên một số người đã mang cưa máy hạ cây để thu hoạch", ông Hà, người dân xã Sơn Kỳ thu hoạch ươi cho biết.
Ông Đặng Ngọc Dũng, Bí thư Huyện ủy Sơn Hà cũng lo ngại thương lái mua cả quả ươi non với giá cao khiến người dân vào rừng thu hoạch theo kiểu triệt hạ cây. Huyện đã ban hành văn bản nghiêm cấm mọi hành vi khai thác, vận chuyển, mua bán, tiêu thụ trái phép nhằm ngăn chặn tình trạng xâm hại tài nguyên rừng.
Tại huyện miền núi Sơn Tây, trung bình mỗi ngày có 200 đến 300 người dân đến từ nhiều địa phương vào các khu rừng phòng hộ xã Sơn Tân, Sơn Màu, Sơn Tinh và Sơn Lập đốn hạ cây ươi để thu hoạch lấy hạt.
Thượng tá Trần Minh Thành, Phó Công an huyện Sơn Tây cho biết thêm, mặc dù Công an huyện phối hợp với lực lượng kiểm lâm nhiều lần tổ chức truy quét thế nhưng tình trạng phá rừng phòng hộ thu hoạch ươi vẫn diễn ra. "Qua điều tra, chúng tôi xác định nguyên nhân người dân phá rừng phòng hộ để thu hoạch ươi do thương lái Trung Quốc thu mua quả ươi non với giá cao hơn", ông Thành cho hay.
Cây ươi có tên khoa học là Sterclia lyhnophora, chỉ mọc chủ yếu ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Theo y học cổ truyền, quả ươi có vị ngọt, tính mát, thông độc, đi vào kinh phế, tác dụng làm trong tiếng.
Quả ươi dùng chữa trị các trường hợp bị đau họng, ho khan, chảy máu cam, khàn tiếng, mất tiếng, họng sưng đỏ và đau. Cách dùng thường là ngâm quả vào nước sôi cho nở ra rồi dùng. (VnExpress 19/6) đầu trang(
Năm 2013, Hạt Kiểm lâm huyện Than Uyên (Lai Châu) và Văn Bàn (Lào Cai) đã thành lập các đội kiểm soát lâm sản nhằm tăng cường công tác bảo vệ rừng ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn thuộc các khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh.
Trong 6 tháng đầu năm 2014, các tổ công tác liên ngành đã phát hiện 11 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng ở khu vực giáp ranh Lào Cai – Lai Châu, trong đó có 7 vụ vi phạm đã xác định được đối tượng, thu giữ trên 3,2m3gỗ xẻ nhóm I, nhóm III, xử phạt vi phạm 28,5 triệu đồng, thu giữ một cưa xăng.
Theo nhận định của các cơ quan chức năng, các vụ vi phạm bị phát hiện đều là người dân của huyện Than Uyên xâm nhập trái phép vào khu vực rừng của Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn để khai thác trái phép gỗ pơ mu. Do địa hình hiểm trở nên công tác thu giữ tang vật gặp khó khăn, vì vậy khi phát hiện các vụ chặt phá rừng trái phép lực lượng kiểm lâm chỉ có thể tổ chức tiêu hủy tang vật ngay tại rừng.
Được biết, hiện nay, nạn chặt phá rừng thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn tại khu vực giáp ranh 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu vẫn xảy ra. Trước tình hình trên, Chi cục Kiểm Lâm Lào Cai đã tham mưu với UBND tỉnh thành lập Hạt Kiểm lâm Khu Bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên Văn Bàn để tăng cường hơn nữa công tác bảo vệ rừng. (Báo Lào Cai 20/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Hạt kiểm lâm huyện Thông Nông phát hiện 13 vụ vi phạm các quy định quản lý, bảo vệ rừng.
Trong đó, 5 vụ mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép, thu 2,08 m3 gỗ tròn; 2,74 m3 gỗ xẻ các loại; 4 vụ vi phạm quy định về khai thác gỗ và lâm sản, 2 vụ vi phạm các quy định về phòng, chống cháy rừng, làm thiệt hại 3,61 ha rừng tự nhiên và rừng trồng.
Đến nay, Hạt Kiểm lâm huyện đã xử lý được 3 vụ, 10 vụ còn lại đang tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật. Tổng số tiền phạt các đối tượng nộp ngân sách nhà nước hơn 45 triệu đồng. (Báo Cao Bằng 19/6) đầu trang(
19.6, CA TP Đà Nẵng cho biết đã ra quyết định truy nã Trần Thị Ngọc Hương và Nguyễn Thị Ánh (cùng trú TP.HCM) vế hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo điều tra, 2 người này cùng Lê Bá Toàn (40 tuổi, trú Q.12), Đinh Văn Hiện (40 tuổi, trú QTân Phú, TP.HCM) và Mai Văn Búk, Đắk Lắk) đã lừa ông Pu Sheng Yong (quốc tịch Trung Quốc) đặt cọc 3,2 tỉ đổng để mua 323 m3 gỗ cẩm lai rổi chiếm đoạt số tiền này.
Vụ việc bắt đẩu vào tháng 10.2013 khi ông Yong đến H.Ngọc Hồi (Kon Tum) tìm mua gỗ quý, Lê Bá Toàn tự xưng là Nguyễn Đình Tuấn, phó giám đốc một "công ty ở H.Hóc Môn (TPTHCM) rồi cùng đổng bọn nêu trên đưa ông Yong đi xem gỗ cẩm lai ở Lào và Quảng Trị. Sau đó, hai bên thỏa thuận mua số gỗ trên, Toàn nhận 3,2 tỉ đổng tiển cọc rồi biến mất.
Đến tháng 3, Toàn bị bắt giữ. (Thanh Niên 20/6) đầu trang(
Huyện Quảng Điền có khoảng 1.500 ha rừng phòng hộ ở vùng rú cát nội đồng và ven biển. Để chủ động phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2014, UBND huyện đã chỉ đạo các địa phương có rừng trồng tăng cường công tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng chống cháy rừng; đồng thời tổ chức cho các chủ rừng ký cam kết về bảo vệ rừng trồng nhằm hạn chế cháy rừng xảy ra.
Xã Quảng Lợi là địa phương có diện tích rừng trồng khá lớn ở vùng rú cát nội đồng của huyện, với hơn 350 ha, trong đó có 100 ha rừng được trồng theo chương trình 661 và 250 ha rừng người dân tự trồng, chủ yếu là keo lưỡi liềm và keo lai, với 34 hộ tham gia. Để chủ động phòng chống cháy rừng trong mùa nắng nóng năm 2014, xã Quảng Lợi đã giao 100 ha rừng khoảng 1 năm tuổi được trồng theo chương trình 661 cho Hội nông dân và Xã đoàn của xã quản lý, chăm sóc và bảo vệ. Đồng thời tổ chức cho các hộ dân có rừng trồng ký cam kết về bảo vệ rừng, chỉ đạo các tổ, đội rừng trồng thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện và dập tắt khi có đám cháy xảy ra.
Rừng ở vùng rú cát nội đồng và vùng ven biển của huyện Quảng Điền tập trung ở 5 xã gồm: Quảng Vinh, Quảng Lợi, Quảng Thái, Quảng Công và Quảng Ngạn. Rừng ở đây có vai trò to lớn trong việc chắn cát, giữ nguồn nước về mùa khô, giảm thiểu ảnh hưởng do biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường sinh thái và các công trình hạ tầng trong vùng; đồng thời tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân. Vì vậy, trong những năm gần đây, các địa phương trên đã tăng cường vận động nhân dân tích cực tham gia trồng rừng nhằm phủ xanh đất trống và cân bằng môi trường sinh thái.
Để chủ động phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo các địa phương có diện tích rừng trồng triển khai các biện pháp cụ thể về phòng chống cháy rừng như: Củng cố lại Ban huy phòng chống cháy rừng, vận động các chủ rừng không khai thác rừng trong mùa nắng nóng. Đồng thời, các địa phương cũng đã tiến hành giao rừng cho các tổ, đội quản lý và hơn 400 hộ dân có rừng trồng ký cam kết và họp các cụm dân cư về bảo vệ rừng.
Hiệu quả kinh tế từ việc trồng rừng ở huyện Quảng Điền mang lại không cao như các địa phương khác trong tỉnh, bình quân 1 ha rừng thu hoạch chỉ đạt từ 30 đến 40 triệu đồng. Tuy nhiên, rừng đã góp phần chống cát bay, cân bằng môi trường sinh thái, giúp bà con nông dân vừa phát triển rừng trồng kết hợp với phát triển trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản trên vùng rú cát và ven biển để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế. (Quangdien.hue.gov.vn 19/6) đầu trang(
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Buôn Ja Wầm (Đắc Lắc) quản lý, bảo vệ và tổ chức sản xuất kinh doanh 8.891 ha rừng, đất lâm nghiệp, rừng giáp ranh với nhiều huyện, gần với nhiều khu dân cư. Trước tình trạng phá rừng làm nương rẫy ngày càng diễn biến hết sức phức tạp, Công ty đã kết hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương mở nhiều đợt truy bắt lâm tặc, nhờ vậy diện tích rừng và đất rừng do Công ty quản lý đã hạn chế dược tình trạng chặt phá, lấn chiếm, mua bán, sang nhượng đất rừng trái phép.
Nhằm ngăn chặn tình trạng phá rừng và lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, đồng thời khai thác quỹ đất một cách có hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên đất, phục hồi lại rừng đã bị khai phá, đảm bảo diện tích rừng, tăng mật độ che phủ của rừng, năm 2013, Công ty đã triển khai trồng 37,7ha cao su, 20ha keo lai. Đa số diện tích rừng trồng đều sinh trưởng và phát triến tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 70%.
Hiện nay, Công ty đang quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh với diện tích gần 400ha cà phê quốc doanh và số hộ nhận khoán 460 hộ. Năm 2013, Công ty đã tổ chức đo đạc xong toàn bộ diện tích cà phê quốc doanh do đơn vị quản lý để nhằm bố sung, củng cố lại toàn bộ hồ sơ liên quan tới diện tích giao khoán cho người dân, chỉ đạo quy trình trồng và chăm sóc cà phê. Nhờ vậy chất lượng vườn cây cà phê chủ yếu đạt loại A và B.
Tích cực chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nhận khoán, tạo công ăn việc làm cho gần 1.000 lao động địa phương. Kết quả niên vụ cà phê 2013-2014, sản lượng cà phê thu nộp được 850 tấn cà phê, đạt 98% sản lượng phải nộp hàng năm, thu sản lượng nợ cũ gần 200 tấn cà phê, cao hơn so với các năm trước. Nhìn chung năm nay năng suất giảm, giá cà phê giảm so với năm trước, nhưng tinh thần chấp hành giao nộp sản phẩm cùa các hộ nhận khoán ngày càng tốt hơn.
Nhờ có sự tập trung chỉ đạo, sự cố gắng vươn lên của CBCNV, người lao động, năm 2013, Công ty có tổng doanh thu 10 tỷ đồng; nộp ngân sách 400 triệu đồng, thu nhập bình quân 6.000.000 đồng/người/tháng.
Ông Dương Văn Son - Giám đốc Công ty cho biết: “Xác định năm 2014 là năm đang còn khó khăn, đặc biệt là dân di cư tự do, dân tộc Mông từ các tỉnh phía Bắc vào ngày càng đông nên tình trạng người dân vào rừng chặt phá, lấn chiếm, mua bán, sang nhượng đất rừng trái phép diễn ra phức tạp, khó lường. Ngay từ đầu năm, Lãnh đạo Công ty cũng đã đề ra nhiều giải pháp, bố trí lực lượng tuần tra canh gác, có lịch trực, thay ca trực đảm bảo lực lượng thường xuyên, liên tục tuần tra trong rừng nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các đối tượng phá rừng, xâm chiếm đất rừng, khai thác vận chuyến lâm sản trái phép.
Đối với diện tích rừng bị phá, bị lấn chiếm để trồng cây hoa màu, cây công nghiệp trái phép từ năm 2008 đến nay, phối hợp với chính quyền địa phương thành lập đoàn tiến hành nhổ bỏ để trồng lại rừng. Tiếp tục củng cố, sửa sang lại các trạm QLBVR để các trạm phát huy hết vai trò nhiệm vụ, ngăn chặn tình trạng người dân phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép, tuần tra, giám sát diễn biến tài nguyên rừng và đất rừng. Rà soát lại các diện tích đất trống và diện tích đất rừng bị người dân chặt phá từ những năm trước đây đế đưa vào dự án trồng rừng.
Dự kiến công tác trồng rừng trong năm 2014: Dự án Flic 50ha, trồng rừng thay thế đuờng dây điện 550 KW 50ha. Khảo sát diện tích rừng để chuyển đổi sang trồng cao su theo Quyết định số 399/QĐ-UBND ngày 26/2/2014 của UBND tỉnh về việc phê duyệt đề cương - Dự toán điều chinh bố sung Quy hoạch phát triển cây cao su tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2014 - 2020 với diện tích là 3.500ha; Lập dự án trình UBND tỉnh xin trồng bơ với diện tích là 30ha và trồng tiêu với diện tích là 20ha”.
Phòng chống cháy rừng là nhiệm vụ quan trọng trong mùa khô, đây là nhiệm vụ hàng đầu quyết định đến sự thành bại trong việc thực hiện trồng rừng và giữ được vốn rừng hiện có. Yêu cầu lãnh đạo các đơn vị đề ra phương án PCCC rừng, cử lực lượng phát dọn thực bì, phun thuốc diệt cỏ để phòng chống cháy rừng. Đồng thời tuyên truyền giác ngộ ý thức QLBVR của người dân trong khu vực: không đốt phá rừng bừa bãi, không mang lửa vào rừng, không đốt rừng làm nương rẫy... làm cho người dân thấy được tầm quan trọng của rừng đối với môi trường và tác hại của việc đốt, chặt phá rừng xảy ra bằng các nguồn thông tin đại chúng.
Tiếp tục chỉ chỉ đạo lực lượng quản lý bảo vệ rừng thường xuyên tuần tra, phát hiện những đám cháy nhỏ lẻ để dập tắt kịp thời, phấn đấu năm 2014, trên toàn bộ lâm phần do cỏng ty qủan lý không để cháy rừng xáy ra. Chăm sóc và quản lý tốt trên diện tích 240ha đã được Sở NN&PTNT thẩm định và phê duyệt từ năm 2008 - 2011. Đàm bảo diện lích rừng trồng đều sinh trường và phát triển tốt, tỷ lệ cây sống đạt trên 70%, không để xảy ra tình trạng người dân ken, chặt hoặc đốt cháy rừng trồng.
Tiếp tục quản lý, chăm sóc vườn cây đúng quy trình, thường xuyên cử cán hộ đến các hộ dân nhận khoán đế nắm bắt tình hình sinh trưởng của vườn cây, quan tâm công tác tưới tiêu và giái quyết những tồn lại, thắc mắc cho các hộ dân nhận khoán, tiến hành ký kết lại hợp đồng giao khoán vườn cây cà phê quốc doanh. Tích cực chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nhận khoán, tạo công ăn việc làm cho người dân tại địa phương; Phấn đấu niên vụ cà phê 2014-2015 thu sản lượng đạt trên 900 tấn cà phê, nâng tỷ lệ việc thu sản lượng cà phê hàng năm đạt 100% kế hoạch đề ra. (Bảo Vệ Pháp Luật 3/6) đầu trang(
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Nghị quyết số 06 của Bộ Chính trị ngày 10/11/1998 về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đã ghi rõ “ưu tiên đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng giống mới”. Trong Quyết định 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 5/2/2007 về phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 cũng đã chỉ rõ phải “Nghiên cứu phát triển rừng theo 2 hướng chính là cải tạo giống cây rừng và thực hiện các biện pháp lâm sinh”.
Nâng cao chất lượng giống cây trồng rừng là một trong những giải pháp quan trọng để thục hiện Đề án tái cơ cấu ngành lâm nghiệp theo Quyết định 1565/QĐ-BNN- TCLN ngày 8/7/2014 của Bộ trưởng Bộ NN-PTNT.
Để nâng cao giá trị gia tăng của ngành, 2 nhiệm vụ cơ bản được đặt ra là: i) Nâng cao năng suất rừng đạt bình quân 15 m3/ha/năm và đến năm 2020 diện tích rừng trồng SX đạt khoảng 3,84 triệu ha; ii) Đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới được công nhận vào SX lên 60-70% vào năm 2020, đảm bảo cung cấp đủ giống có chất lượng, góp phần đưa năng suất rừng trồng tăng 10% vào năm 2015 và tăng 20% vào năm 2020 so với năm 2011.
Để thực hiện được hai nhiệm vụ cơ bản trên, việc ứng dụng KHCN trong lâm nghiệp và tăng cường công tác quản lỷ cần được đẩy mạnh, đặc biệt đối với lĩnh vục giống cây lâm nghiệp.
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam mới được tổ chức và sắp xếp lại theo Quyết định số 2099/QĐ-TTg ngay 25/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ. Hiện nay, cơ cấu tổ chức của Viện gồm 7 Viện và Trung tâm nghiên cứu chuyên đề; 6 Viện và Trung tâm vùng.
Trải qua 53 năm xây dựng và phát triển, đến nay Viện đã đạt đuợc nhiều thành tựu khoa học đáng kể về công tác cải thiện giống như đã tạo lập được một mạng luới nghiên cứu giống cây lâm nghiệp rộng khắp trong cả nước. Đội ngũ cán bộ chủ chốt làm công tác giống được đào tạo bài bản và chuyên sâu từ các nước tiên tiến như Thụy Điển, Australia, Đúc, Hungary...
Các cán bộ này có kiến thức, kỹ năng và trình độ ngoại ngữ tốt để hòa nhập vói các nước trong khu vực, tạo lập được vị thế và uy tín đối với các tổ chức nghiên cứu và SX lâm nghiệp trong và ngoài nuớc.
Đối với nhóm cây trồng rừng chủ lực như keo, bạch đàn, thông, ngoài việc cải thiện theo năng suất và tính thích ứng, Viện đã và đang tập trung nghiên cứu các chỉ tiêu về chất luợng phù hợp cho từng mục đích sử dụng gỗ khác nhau và khả năng kháng sâu bệnh.
Trên cơ sở đánh giá các chỉ tiêu về tính chất cơ, vật lý của gỗ, hàm luợng cellulose và hiệu suất bột giấy theo từng gia đình và cá thể cây trội trong các khảo nghiệm giống trên nhiều vùng sinh thái khác nhau, Viện đã được Bộ NN- PTNT công nhận 146 giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia, chiếm hơn 90% số giống cây lâm nghiệp đã được Bộ công nhận.
Trong 146 giống này, có 19 giống quốc gia và 127 giống tiến bộ kỹ thuật. Các giống được công nhận đều có năng suất cao, biến động từ 20 - 40 m3/ha/năm.
Cụ thể giống tràm lá dài xuất xứ 18960 trồng ở Long An đạt 40,0 m3/ha/năm; giống bạch đàn trắng kháng bệnh SM16 trồng ở Đồng Nai đạt 35,4m3/ha/năm; các giống keo lai mới AH7 trồng ở Bình Dương đạt 34,9m3/ha/năm. Các giống keo lá tràm AA9 và AA15 trồng ở Đồng Nai đạt 32-33,6m3/ha/năm.
Viện cũng đã hoạch định được chiến lược cải thiện giống dài hạn cho nhóm các loài cây trồng rừng chủ lực này và xây dựng được các rừng giống, vuờn giống, vườn tập hợp giống công tác, vườn cây bố mẹ cố định và di động phục vụ lai tạo giống msơi và cung cấp hạt giống chất lượng cao cho SX.
Kết quả là nhiều tổ hợp lai trong loài và khác loài đã đuợc lai tạo, từ đó chọn lọc được nhiều dòng vô tính có sinh trưởng tốt và chất lượng gỗ phù hợp vói các mục đích sử dụng gỗ giấy và gỗ xẻ.
Hiện nay, các dòng này đang khảo nghiệm đánh giá tại nhiều vùng sinh thái khác nhau. Việc đánh giá các khảo nghiệm này trong 2-3 năm sắp tới sẽ giúp chúng ta có thêm nhiều sự lựa chọn cho trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy hoặc gỗ xẻ.
Các hoạt động nghiên cứu, phát triển và SX giống cây lâm nghiệp trong thời gian tới sẽ được thực hiện theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu chọn giống truyền thống với ứng dụng công nghệ sinh học, khoa học gỗ, lâm sinh và sâu bệnh rừng; nghiên cứu ứng dụng với công tác khuyến lâm.
Các lĩnh vục ưu tiên tạo bước đột phá trong công tác giống cây lâm nghiệp là chọn lọc, lai tạo giống có định hướng, tạo đa bội và con lai tam bội bất thụ cho các loài cây trồng rừng chủ lực có diện tích trồng rừng lớn, tập trung vào chọn tạo giống phù hợp cho từng vùng trọng điểm, theo từng mục tiêu sử dụng và sức chống chịu cho từng loài nghiên cứu.
Áp dụng một số công nghệ mới như chọn giống bằng các chỉ thị phân tử, biến nạp gene, tạo phôi nhân tạo, kích thích ra hoa sớm và mini-cutting... vào các chương trình cải thiện giống truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả và rút ngắn chu kỳ chọn tạo giống.
Công tác nghiên cứu sẽ được tiến hành đồng bộ từ chọn tạo giống, nhân giống và biện pháp lâm sinh phù hợp trong kinh doanh rừng bền vững cho các loài cây trồng rừng chủ lực cung cấp gỗ lớn, gỗ giấy hoặc tăng sức chống chịu sâu bệnh và hạn hán.
Bên cạnh đó, việc khảo nghiệm mở rộng và xây dựng các mô hình trình diễn có hệ thống cho các giống mới được công nhận cũng sẽ được tăng cường thông qua thực hiện các dự án SX thử nghiệm và dự án khuyến lâm.
Các hoạt động nghiên cứu về nhân giống, đặc biệt là kỹ thuật nhân giống hàng loạt bằng công nghệ mô, hom, phục tráng và trẻ hóa chất lượng sinh lý của giống, vi ghép để dẫn dòng và xây dựng vườn giống... cũng sẽ được quan tâm đưa nhanh các giống được công nhận tới người trồng rừng.
Ngoài ra, cần tiếp tục chọn giống, nhân giống cho một số loài cây bản địa có tiềm năng gây trồng và cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị cao.
Các dự án giống phải tập trung SX và cung ứng giống gốc, giống có chất lượng cao. Viện đang đẩy mạnh xây dựng các vườn giống, rừng giống chất lượng cao, thiết lập ngân hàng hạt giống và cơ sở dữ liệu về nguồn gốc, chất luợng di truyền và khả năng thích nghi của các nguồn hạt và các dòng vô tính đang sử dụng nhằm cung cấp vật liệu giống tốt cho SX và cho mục đích nghiên cứu, bảo tồn và trao đổi giống quốc tế.
Viện đã phát triển một hệ thống thông tin quảng bá các giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc gia đã được công nhận trên các ấn phẩm, trên các trang website của Viện và Tổng cục Lâm nghiệp. Tích cực tham gia các hội chợ giống và hội thảo trên toàn quốc cũng như quốc tế nhằm quảng bá các giống mới và tiến bộ kỹ thuật lâm sinh tới người trồng rừng.
Viện đã và đang chỉ đạo các viện và trung tâm trực thuộc xây dựng các khu khảo nghiệm lâu dài tại các vùng, phối hợp chặt chẽ vói Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh và các Cty lâm nghiệp địa phương để xây dựng các mô hình trình diễn giống mới và các tiến bộ kỹ thuật mới để người trồng rừng có thể tham quan và học tập. (Nông Nghiệp VN 19+20/6) đầu trang(
FSC (Forest Stewardship Council) là tên của Hội đống quản trị rừng quốc tế và cũng là một loại chứng chỉ rừng do chính hội đồông này quản lý. FSC là chương trình toàn cầu kiểm định chuỗi hành trình sản phẩm từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm.
FSC trong ngành chế biến gỗ giống như chứng chỉ ISO, hệ thống quản lý chất lượng quốc tế áp dụng cho các ngành nghề hoặc như HACCP, tiêu chuẩn chất lượng của ngành thủy sản, GMP đối với ngành dược, hoặc SA 8000 tiêu chuẩn về sử dụng lao động và trách nhiệm xã hội trong ngành giày da và dệt may...
Yếu tố quyết định để ngừời tiêu dùng ở các nước lựa chọn một sản phẩm gỗ chế biến không chỉ là chất lượng hay mẫu mã mà còn là xuất xứ của nguồn nguyên liệu tạo ra sản phẩm đó. Ðây là xu hướng của người tiêu dùng thế giới, đối tượng chính của sản phẩm gỗ Việt Nam và cũng là mối quan tâm hàng đầu hiện nay của nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ...
FSC ngày càng trở nên quan trọng đối với sản phẩm gỗ chế biến xuất khẩu, nhất là những sản phẩm gỗ ngoài trời. Khác với những sản phẩm nội thất thường được chế biến từ nguyên liệu tổng hợp, các sản phẩm ngoại thất phần lớn sử dụng nguyên liệu gỗ khai thác từ rừng thiên nhiên.
Theo nhận xét của nhiều doanh nghiệp XK đồ gỗ thì những vân đề tự nhiên thường dễ ảnh hưởng đến môi trường trong khi người tiêu dùng các nước phương Tây lại không muốn lựa chọn sản phẩm hủy hoại môi trường sống. Muôn tồn tại và phát triển bền vững, doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn nguyên liệu gỗ rõ ràng, có chứng chỉ. Ðó không chỉ tạo lợi thế cạnh tranh cho các công ty xuất khấu gỗ mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp chế biến gỗ trong tương lai.
Theo Hội đồng quản trị rừng quôc tế, hiện nay đã có trên 3.000 đơn vị, tổ chức có chứng chỉ FSC, bao gồm công ty chế biến, chủ rừng, doanh nghiệp thương mại... Trong số này 84 doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam có chứng chỉ FSC trong tổng số hơn 1.200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Cũng theo hội đồng này, khảo sát trên 250 công ty có chứng chỉ trên thê giới cho thấy nhờ có FSC mà doanh thu của các công ty gia tãng đáng kể và tính chung cả thị trường gỗ thế giới tãng thêm 5 tỷ USD trong năm qua. (Khoa Học Phổ Thông 30/5) đầu trang(
18/6, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT đã ký kết chương trình phối hợp hoạt động KH&CN giai đoạn 2014 – 2020.
Sự hợp tác này giúp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, tham mưu, đề xuất xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nói chung và chính sách phát triển kinh tế - xã hội lĩnh vực lâm nghiệp nói riêng; tập hợp và phát huy tối đa đội ngũ trí thức KH&CN trong các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ về lĩnh vực lâm nghiệp.
Hai bên đã tiến hành ký kết với các nội dung như hợp tác nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách về lâm nghiệp; phối hợp xây dựng, triển khai các đề tài, dự án về lâm nghiệp... (Khoa Học & Đời Sống 20/6) đầu trang(
Chiều ngày 16.6, Ban Dân tộc HĐND tỉnh làm việc với UBND huyện Đông Giang về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội từ đầu năm 2014 đến nay; kết quả triển khai thực hiện một số chính sách trên địa bàn huyện.
Ông Nguyễn Đức, Trưởng ban Dân tộc HĐND tỉnh chủ trì buổi làm việc. Tham dự làm việc có ông Nguyễn Đình Tâm, Ủy viên thường trực HĐND tỉnh.
Trong 6 tháng vẫn còn xảy ra nhiều vụ khai thác trái phép rừng, khoáng sản, nhất là tại xã Ba, xã Tư, xảy ra 45 vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển trái phép lâm sản, đã phát hiện 37 vụ phá rừng, xâm hại đất rừng trái pháp luật với diện tích rừng bị thiệt hại 128.220m2. Đến nay còn 70ha đất rừng ở lưu vực thủy điện Sông Kôn chưa thực hiện trồng bù.
Tại buổi làm việc, huyện Đông Giang tiếp tục đề nghị sớm có chủ trương cho thanh lý phần diện tích đất theo Chương trình 327, 661 không có hiệu quả và thu hồi diện tích đất của các hộ dân trước đây vào sinh sống ở Làng Thanh niên lập nghiệp A Sờ nay đã chuyển đi nơi khác để giao lại cho người dân địa phương sản xuất, canh tác để giảm tình trạng xâm lấn đất rừng trái phép do thiếu đất; khẩn trương làm việc với thành phố Đà Nẵng để giải quyết tình trạng xâm lấn đất ở khu vực giáp ranh giữa xã Tư với xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang nhằm ổn định đời sống cho người dân và đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn.
Sáng cùng ngày, Ban Dân tộc HĐND tỉnh làm việc với UBND xã Mà Cooih, huyện Đông Giang. Theo báo cáo của UBND xã, tổng diện tích rừng người dân được nhận giao khoán, bảo vệ theo nghị định 99 là 9.123,9ha với 414 hộ, đơn giá chi trả 273.500 đồng/ha/năm. Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) theo nghị định 99 của Chính phủ vừa giúp người dân có rừng xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vừa buộc các đối tượng hưởng lợi từ rừng có nghĩa vụ tái tạo diện tích rừng đã mất. Mặt khác, chính sách này đã tác động tích cực đến nhận thức của người dân về việc giữ rừng, bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, ở xã Mà Cooih, huyện Đông Giang thời hạn chi trả DVMTR cho các đối tượng hưởng lợi còn chậm, đến nay mới chi trả đến tháng 10/2013, điều này ảnh hưởng đến công tác bảo vệ và quản lý rừng trên địa bàn. Trong khi đó, đơn giá giao khoán bảo vệ rừng các lưu vực thủy điện lại chênh lệch nhau (mức chi trả phụ thuộc vào công suất hoạt động của từng nhà máy thủy điện) nên thu nhập của các hộ dân sẽ không được công bằng, khiến tâm lý người nhận giao khoán so bì quyền lợi.
UBND xã Mà Cooih đề nghị thời hạn chi trả tiền DVMTR cho người dân phải đảm bảo thực hiện đúng tiến độ, mức giá chi trả cần được nâng lên nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn. Mặt khác, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định lâu dài. Sớm thu hồi diện tích đất của các hộ dân trước đây vào sinh sống ở Làng Thanh niên lập nghiệp A Sờ nay đã chuyển đi nơi khác để giao lại cho người dân địa phương sản xuất, canh tác. (Đoàn ĐBQH & HĐND Tỉnh Quảng Nam 18/6) đầu trang(
Tại Liên tiểu khu U Minh I thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ, 3 ha rừng keo lai được trồng mới tại phần đất quốc doanh do Công ty quản lý với mật độ 3.300 cây/ha, nguồn cây giống do công ty tự sản xuất đáp ứng đủ tiêu chuẩn, mặt bằng trồng rừng cũng được chuẩn bị chu đáo.
Đây là lần thứ 2 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh hạ huy động công nhân viên chức và người lao động tham gia trồng rừng. Trước đó, ngày 3/6 công ty cũng đã tổ chức trồng mới 7 ha keo lai trên lâm phần.
Trồng rừng kinh tế không chỉ phủ xanh lại diện tích đất trống mà còn tăng thu nhập kinh tế cho chủ rừng và hộ dân. Trong tình hình biến đổi khí hậu và nước biển dâng như hiện nay thì trồng rừng cũng là một trong những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. (Đài PTTH Cà Mau 19/6) đầu trang(
Theo báo cáo, mỗi năm tỉnh Bắc Cạn trồng hàng chục nghìn ha rừng, nhưng trên thực tế chất lượng rừng như thế nào thì cả người dân và các cấp chính quyền, cơ quan quản lý chưa quan tâm đúng mức. Điều này gây lãng phí cho ngân sách và tài nguyên đất đai.
Dù nông dân được hưởng lợi toàn bộ rừng trồng đến khi được khai thác, nhưng để khuyến khích người trồng, tỉnh Bắc Cạn còn ban hành cơ chế hỗ trợ toàn bộ tiền thiết kế, tiền giống, công trồng, chăm sóc với mức 4,5 triệu đổng/ha rừng trồng cho nông dân ở các xã đặc biệt khó khăn, các địa bàn khác thì được hỗ trợ bằng 50% số đó. Tuy nhiên, người dân vẫn chưa tích cực trồng rừng, trồng xong chưa coi trọng chăm sóc nên chất lượng rừng chưa đạt yêu cầu đề ra.
Theo quy trình, sau khi có thiết kế, nông dân phải phát, đốt cây tạp, cuốc hố với quy cách rộng 30 cm, sâu 30 cm, sau một thời gian đủ ải thì lấp hố, chờ đến khi có mưa mới đưa cây lên trồng. Trên thực tế, hầu hết người dân không tuân thù quy trình này, có khi vừa phát cây tạp xong đã cuốc hố và trồng rừng ngay, thậm chí còn "làm tắt", "đối phó" bằng cách dùng khúc gỗ đẽo nhọn đầu rồi chọc xuông đất, sau đó đưa cây vào, coi như đã trồng. Đến cuối năm, tỷ lệ cây sống đạt từ 85% trở lên là được nghiệm thu, thanh toán tiền công trồng.
Sau khi trổng một, hai năm, rất ít nơi người dân vun gốc, phát dọn cây tạp để rừng trồng phát triển theo quy định. Việc kiểm tra, nghiệm thu công chăm sóc của các ban phát triển rừng ở huyện (do Hạt Kiểm lâm kiêm nhiệm) chưa rộng khắp do thiếu người, chỉ kiểm tra một vài điểm trên địa bàn mỗi xã; nhiều ban phát triển rừng thôn, bản nể nang bà con hàng xóm, người thân nên đồng loạt ký vào biên bản xác nhận để được thanh toán tiền công chăm sóc vì thế chất lượng rừng trồng rất thấp, ở nhiều nơi rừng trồng và cây tạp chen nhau mọc.
Đánh giá về công tác trổng rừng ở địa phương, Chi cục trưởng Lâm nghiệp Đàm Văn Chiến thừa nhận: "Mỗi năm ít nhất có hàng trăm ha sau khi trồng không thành rừng”.
Trên địa bàn tỉnh, hệ thống đường lâm nghiệp để vận chuyên gỗ từ rừng ra nơi tập kết không có, chủ yếu là dùng sức người mang vác khiến giá thành tăng cao. Ở xã Hà Hiệu, huyện Ba Bể có nhiều vạt rừng đã đến kỳ thu hoạch, nhưng người dân bỏ không khai thác, vì giá thuê vác, kéo gỗ từ rừng ra đường quá cao, tiền bán gỗ chỉ đủ trả tiền công vận chuyển. Giá bán gỗ cũng chưa tương xứng công sức trồng, chăm sóc cây rừng, nên người dân chưa mặn mà với nghề rừng.
Khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp là một trong những hướng chủ yếu để xóa đói, giảm nghèo bền vững cho nông dân, phát triển kinh tế cho tỉnh, thể hiện bằng việc mỗi năm Bắc Cạn trồng ít nhất mười nghìn ha rừng. Để hoàn thành chỉ tiêu "pháp lệnh" mà tỉnh đưa ra, các địa phương rất tích cực đôn đốc, vận động người dân trồng rừng sao cho đạt chỉ tiêu tỉnh giao. Còn sau khi được nghiệm thu, chất lượng rừng thế nào thì cả người dân và cơ quan quản lý chưa thật sự quan tâm.
Chất lượng rừng thấp thể hiện ở chỗ, năng suất rừng trồng của người dân chỉ đạt 50 đến 70 khối gỗ/ha, bằng 50% so rừng do Công ty Lâm nghiệp Bắc Cạn trồng, gây lãng phí tài nguyên đất đai. Ông Đàm Văn Chiến trần tình: "Tại Sở Nông nghiêp và Phát triển nông thôn có các Phó Giám đốc chuyên theo dõi, chi đạo các lĩnh vực chăn nuôi, nông nghiệp, thủy lợi, không có Phó Giám đốc phụ trách phát triển rừng (lĩnh vực rộng lớn, liên quan đên hầu hết các hộ nông dân) là chưa quan tâm đúng tầm. Phát triến rừng có “nhiều vấn đề" cần quan tâm giai quyết, Chi cục Lâm nghiệp là cơ quan tham mưu cho Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, ý kiến của chúng tôi không có "sức nặng", nhiều khi không được lắng nghe, giải quyết".
Cơ quan quản lý, người dân chưa quan tâm phát triển rừng "có chiều sâu" nên dẫn đến tình trạng, khi đơn vị cung ứng chở cây giống đến thì người dân không nhận, bảo... chở về, có nơi nhận cây giống mang về... bỏ đấy không trồng. Điều đó làm cho ba doanh nghiệp làm nghề thiết kế diện tích trồng rừng, chín doanh nghiệp và đầu mối hợp đồng cung ứng cây giống "méo mặt". Quy định sau khi trồng, tỷ lệ cây sống đạt từ 85% trở lên thì doanh nghiệp thiết kế, cung ứng cây giống mới được thanh toán tiền đã làm cho nhiều doanh nghiêp bức xúc vì mất công thiết kế, mất vốn và công sức gieo ươm cây giống mà không được thanh toán tiền.
Mát khác, sau khi được giao chỉ tiêu trồng rừng mỗi năm, các địa phương đều chỉ đạo đơn vị thiết kế diện tích trồng rừng cao hơn 10%; tương tự như vậy, các doanh nghiệp củng phải gieo ươm số' lượng cây giống tăng 10% để trừ đi diện tích, cây con do người dân không trồng là vừa đủ diện tích trên giao. Số diện tích thiết kế và gieo ươm cây giống 10% không dùng đến, bỏ đi gây lãng phí.
Đến nay, tỉnh còn nợ các đơn vị làm dịch vụ trồng rừng, tiền hỗ trợ người dân trồng, chăm sóc rừng hơn 30 tỷ đồng mà không biết lấy nguồn đâu chi trả. Vấn đề này cũng ảnh hưởng đến chất lượng rừng trồng trên địa bàn. (Thời Nay 19/6) đầu trang(
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thanh Hóa đã tham mưu cho Sở NN - PTNT chỉ đạo kịp thời các đơn vị thực hiện kế hoạch trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đạt nhiều kết quả tốt.
Kế hoạch trồng rừng chủ yếu tập trang trên địa bàn các huyện vùng cao, đặc biệt là huyện Mường Lát (chiếm 40% kế hoạch toàn tỉnh), thời vụ trồng rừng tập trung chủ yếu vào vụ hè-thu (bắt đầu từ tháng 6-9 dương lịch).
Hiện trường trồng rừng ngày một cao, xa, diện tích nhỏ lẻ, điều kiện lập địa khó khăn và tập trung ở những vùng có dân trí thấp, cơ sở hạ tầng còn yếu kém nên công tác chỉ đạo, điều hành, triển khai thực hiện gặp rất nhiều khó khăn.
Chi cục cũng đã chủ động tham mưu trong việc triển khai thực hiện các dự án lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh như dự án phát triển ngành lâm nghiệp (WB3), dự án khôi phục và phát triển rừng phòng hộ, dự án JICA, dự án rừng và đồng bằng. Xây dựng đề cương, nhiệm vụ lập quy hoạch vùng nguyên liệu cho nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 được Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, UBND tỉnh phê duyệt thực hiện.
Đề cập đến dự án phát triển ngành lâm nghiệp WB3, ông Lê Văn Mơn -Trưởng BQL Dự án cho biết: Dự án góp phần giải quyết việc làm cho lao động ở 6 huyện, thực hiện xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương, bảo vệ môi trường. Cái khó khăn đối với việc đẩy nhanh tiến độ dự án chính là vì hiện trạng quản lý đất đai của các hộ dân trong vùng dự án đa phần ở nhóm hộ. Trong khi đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ dân là điều kiện để Ngân hàng Chính sách Xã hội cho hộ dân vay vốn. Các đơn vị được giao thực hiện đang tích cực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ tham gia dự án; tranh thủ thời tiết thuận lợi đẩy mạnh trồng mơi rừng trong vụ thu; tiếp tục lập đề án giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích trồng rừng năm 2015. (Nông Nghiệp VN 19+20/6) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
18-19/6, tại Cape Town, Nam Phi, diễn ra Hội nghị thượng đỉnh thường niên Cây trồng thế hệ mới (NGP) nhằm giải quyết những thách thức mà ngành lâm nghiệp thế giới đang đối mặt, đặc biệt tập trung vào hai vấn đề quan trọng nhất hiện nay là sử dụng đất và lâm nghiệp xã hội.
Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) cho biết mục tiêu của NGP là nhằm mở rộng và chia sẻ kinh nghiệm cũng như học hỏi về các lĩnh vực nông nghiệp trong cách tiếp cận để phục hồi khu vực cây trồng.
Điều này được củng cố bởi nguyên lý quản lý cây trồng tốt và đúng nơi có thể giảm bớt gánh nặng cho các cánh rừng tự nhiên và hệ thống sinh thái, đồng thời cải thiện cuộc sống của cộng đồng địa phương.
Được biết, lâm nghiệp và nông nghiệp là 2 nhân tố quan trọng tạo năng suất, song cần phải trồng những loài cây đem lại lợi ích lớn cho người dân địa phương.
Theo đó, chỉ trồng các loài cây để cung cấp thực phẩm và gỗ là không đủ mà còn phải có tác dụng tạo ra nước, hấp thụ carbon và nuôi dưỡng hệ sinh thái, kiểm soát sâu bọ và thụ phấn cho mùa màng.
Trong hội nghị kéo dài 2 ngày, hơn 100 người tham dự đến từ 20 quốc gia sẽ cùng nhau đưa ra ý tưởng để cho phép những người dân có kỹ năng và nhiệt tình có thể điều hành doanh nghiệp trồng rừng thành công, giảm thiểu nguy cơ và đem lại lợi ích cho cộng đồng lẫn người đầu tư.
NGP được thành lập bởi WWF năm 2007, thu hút các công ty, cơ quan lâm nghiệp chính phủ và các nhà bảo tồn trên khắp thế giới nhằm khám phá, chia sẻ và thúc đẩy phương thức trồng và quản lý cây trồng tốt hơn. (Vietnam+ 19/6) đầu trang(
Dãy núi Alps và rừng Tadami được vào Danh sách Khu bảo tồn sinh quyển
Để bảo tồn vẻ đẹp và sự đa dạng của tự nhiên, mới đây, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc Unesco đã đưa dãy núi Alps và khu rừng Tadami của Nhật Bản vào Danh sách Khu bảo tồn sinh quyển thế giới.
Mục đích của việc này là nâng cao nhận thức của người dân về việc sống chan hòa cùng với thiên nhiên, bảo tồn môi trường, trong khi vẫn duy trì sự phát triển. (Đài PTTH Vĩnh Long 19/6) đầu trang(
Nạn đốn gỗ bất hợp pháp đang là vấn đề lớn ở vùng Balkans. Năm 2013, ITRSV - Ủy ban Giám sát của Bộ Môi trường và Biến đổi khí hậu Romania - phát hiện khoảng hơn 600 triệu m3 gỗ bị đốn hạ bất hợp pháp trong khu vực Thung lũng Sebes thuộc dãy núi hùng vĩ Sureanu miền Trung Romania. Con số tương đương với 15.000 chiếc xe tải lớn chất đầy gỗ trị giá 45 triệu USD.
Nhưng thảm họa không chỉ xảy đến cho Romania mà còn cho cả các quốc gia khác trong vùng Balkans - theo tiếng Thổ Nhĩ Kỳ có nghĩa là “những dãy núi cây cối rậm rạp”. Đốn gỗ bất hợp pháp đang đe dọa các công viên quốc gia, gây nguy cơ tuyệt chủng cho các loài và tạo điều kiện thuận lợi cho các thảm họa tự nhiên ngày càng phổ biến hơn.
Ngoài vấn đề khai thác gỗ được chính quyền cấp phép do tình trạng thiếu nhiên liệu, tội phạm có tổ chức cũng đang chuyển hướng hoạt động sang thị trường béo bở này.
Tại ngôi làng Curmaturi trong thung lũng Sebes, mức độ thảm họa đốn gỗ trái phép hiện ra rõ mồn một với nhiều vạt rừng rộng lớn bị xóa sổ! Gheorghe Feneser, lãnh đạo khu phụ cận hạt Alba, cho biết ông đã tuyên chiến với bọn "mafia gỗ" cũng như công ty khai thác gỗ địa phương gọi là Trans Monica mà theo ông cũng tham gia với bọn tội phạm loại này. Fenesr báo cáo có hơn 600 triệu m3 gỗ bị đốn hạ trái phép tại Thung lũng Sebes và dãy núi Apuseni lân cận trong vòng 4 năm qua.
Trong khi đó, chính quyền Romania gặp thất bại khi phải truy tố hoạt động phi pháp của Tans Monica hay bất cứ công ty khai thác gỗ nào khác. Theo số liệu thu thập từ Mạng Báo cáo điều tra Balkans (BIRN), ngành kinh doanh gỗ lậu ở Romania trị giá 350 triệu USD. Ở Albania về phía tây, một khu vực rừng rậm rộng hơn diện tích thủ đô Tirana nước này bị khai thác gỗ lậu đến cạn kiệt vào năm 2011. Ở quốc gia láng giềng Macedonia, số liệu thống kê chính thức năm 2012 cho thấy mức độ đốn gỗ lậu khiêm tốn hơn song vẫn tăng gấp 3 lần kể từ năm 2008.
Theo ITRSV, cán bộ kiểm lâm chỉ được trả lương 270 USD/tháng mà phải quản lý đến 95 hecta rừng trong khi không có ô tô, vũ khí hệ thống GPS, thậm chí không có hay quyền bắt giữ hay phạt tiền kẻ phạm tội. Khoảng 400 cán bộ kiểm lâm có trách nhiệm giám sát hoạt động của hơn 5.000 công ty đốn gỗ trong khi trong tay không có thiết bị đo lường chuyên dụng nào để kiểm tra số gỗ vận chuyển có trùng khớp với số liệu trên giấy phép hay không.
Ở Albania, cán bộ kiểm lâm thường nhắm mắt làm ngơ trước hàng loạt hoạt động đốn gỗ trái phép của bọn tội phạm có tổ chức. Một cán bộ kiểm lâm giấu tên vì lý do an toàn cá nhân thừa nhận họ bị buộc phải tuần tra kiểm soát hàng trăm ngàn hecta rừng rậm mà còn phải luôn đối mặt với bọn tội phạm vũ trang đầy mình trong khi trong tay chẳng có công cụ hỗ trợ nào. Người này nói thật: "Tôi còn con cái ở nhà, chúng cần có cha và miếng cơm manh áo để sống. Đôi khi chúng tôi phải hành xử khác đi, không vì đồng lương ít ỏi mà do mạng sống chúng tôi bị đe dọa".
Ví dụ, trong công viên quốc gia Lura của Albania, 2 cán bộ kiểm lâm phải kiểm soát 10.000 hecta rừng rậm. Khu vực bị phá hoại dữ dội nhất là vùng hồ Flowers hẻo lánh của Albania, nơi rất nhiều cánh rừng đã biến mất hoàn toàn. Các hình ảnh vệ tinh đã cho thấy mức độ tàn phá khủng khiếp do bọn đốn gỗ lậu gây ra trong suốt 20 năm qua.
Trước mức độ trầm trọng của vấn đề, tân Bộ trưởng Môi trường Albania, Lefter Koka, đã ra lệnh cấm xuất khẩu than củi đồng thời tạm ngưng hoạt động đốn gỗ trong vòng 5 năm.
Còn ở Macedonia, lực lượng kiểm lâm thường phải đấu súng với bọn đốn gỗ lậu. Tháng 10/2013, bạo lực nổ ra tại khu làng Ljuboten phía bắc thủ đô Skopje nước này khi bọn tội phạm nổ súng vào cán bộ kiểm lâm do bị tra vấn giấy tờ. Sau đó, tình hình bắt đầu yên ổn trở lại nhưng những chiếc xe tải chở gỗ lậu vẫn lăn bánh suốt đêm. Một số sĩ quan tuần tra biên giới còn tiếp tay cho bọn tội phạm vận chuyễn gỗ lậu.
Ở Romania, không có vụ đốn gỗ lậu nào bị bắt giữ. Để giải quyết vấn nạn này, chính quyền Romania đang có nỗ lực thay đổi luật quản lý loại gỗ đốn, vận chuyển và kinh doanh gỗ. Hiện nay, sau khi một đối tượng tranh thủ được giấy phép để biến gỗ đốn lậu thành hợp pháp thì hắn chỉ cần 72 giờ để vận chuyển hàng đến nơi nhận.
Nenad Kocik, Chủ tịch tổ chức môi trường Vila Zora của Macedonia, cho biết các hoạt động của cảnh sát và lực lượng kiểm lâm còn rất yếu kém và phân tán. Ông giải thích: "Hàng chục ngọn đồi xanh mướt cây cối ngày xưa giờ đã biến mất hoàn toàn và chúng tôi nghĩ rằng giới chức chính quyền nên ngay lập tức thay đổi luật bởi vì những biện pháp trừng phạt hiện nay còn quá nhẹ tay". (Công An Nhân Dân 19/6) đầu trang(
Ông Yury Fedotov - Phó Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ) kiêm Giám đốc điều hành Cơ quan Phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC)- đã thúc giục cộng đồng quốc tế đồng thuận với nhau nhằm ngăn chặn sự leo thang của loại tội phạm giết hại động vật hoang dã và tàn phá rừng. Theo UNODC, các tổ chức tội phạm hàng năm đã thu được một khoản lợi nhuận từ 8 tới 10 tỉ USD từ các hoạt động trên.
“Tỷ lệ săn bắt các loại động vật thú hiếm ngày một cao và khiến cho một số loài biểu tượng cho hệ sinh thái Trái Đất được bảo vệ đặc biệt trong sách Đỏ có khả năng bị xóa sổ trong thập kỷ tiếp theo và chính con người sẽ phải chịu trách nhiệm trước sự rủi ro trên”.
Ông Yury Fedotov đưa ra cảnh báo trên tại Vienna, bên lề phiên họp lần thứ 23 của ủy ban phòng chống tội phạm và tư pháp hình sự.
Ông Fedotov còn nhấn mạnh, buôn bán trái phép động vật hoang dã cũng như săn bắn và khai thác bất hợp pháp khác trong hệ thực vật và động vật hoang dã trên thế giới đang diễn ra hàng ngày với mức độ và quy mô ngày càng đáng lo ngại. Để ngăn chặn nạn dịch trên, cộng đồng quốc tế phải xem đây là loại tội phạm xuyên quốc gia và từ đó đòi hỏi cho sự ra đời của một hệ thống hiệu quả về tư pháp hình sự. “Ngay từ bây giờ chúng ta phải chuyển kiến nghị này lên Đại hội đồng LHQ,” ông Fedoto kết luận.
Theo người đứng đầu UNODC, LHQ phải có kế hoạch hành động với các chính phủ và các tổ chức quốc tế như Hiệp hội quốc tế về chống tội phạm sát hại động vật hoang dã (ICCWC) nhằm cải thiện luật pháp, tăng cường thực thi pháp luật và hệ thống tư pháp hình sự để từ đó có thể điều tra, truy tố và dẫn độ tội phạm ở bất cứ đâu ra tòa án. Ngoài ra, việc kiểm soát thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như cuộc chiến đấu liên quan vấn đề rửa tiền và tham nhũng có liên quan tới lĩnh vực trên phải tiến hành song song với nỗ lực tạo ra sinh kế mới cho cộng đồng bị ảnh hưởng bởi các biện pháp chống loại tội phạm này.
Trước đó, UNODC đã có sáng kiến mờ chiến dịch “Du lịch có trách nhiệm” cùng với Tổ chức Du lịch thế giới cùa LHQ (UNWTO) đế kiềm chế nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm từ động vật hoang dã, các sản phẩm thực vật lấy từ rừng nguvên sinh...
Theo ông Fedotov, UNODC sẽ sớm cho ra mắt “Chương trình toàn cầu của thế giới về đấu tranh chống tội phạm động vật hoang dã và rừng”. Theo đó, một phần quan trọng của mục tiêu là: “Giáo dục và nâng cao nhận thức công chúng để giảm nhu cầu về các loài động vật và thực vật được bảo vệ cùng với nỗ lực để thúc đẩy sinh kế bền vững nguồn cho các cộng đồng trong nước. Nghèo đói và thiếu cơ hội cài thiện kinh tế là động lực khiến người dân tham gia vào các hoạt động phi pháp”. (Bảo Vệ Pháp Luật 13/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||