Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 06 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Theo tin từ Cục Kiểm lâm, tính đến ngày 17/06/2014, cả nước đang có 4 địa phương có nguy cơ cháy rừng ở cấp IV (cấp nguy hiểm) và V (cấp cực kỳ nguy hiểm).
Nguyên nhân do nhiều khu vực ở các địa phương trên đã có nhiều ngày không mưa, thời tiết khô hanh kéo dài, có nguy cơ xảy ra cháy rừng.
Cụ thể, 3 địa phương đang ở cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Nếu cháy rừng xảy ra thì hầu hết các kiểu rừng đều dễ bắt lửa với tốc độ lan tràn rất nhanh gồm: Bình Định (Khu vực An Lão, Vĩnh Thạnh, Phù Mỹ, Hoài Ân, Hoài Nhơn); Khánh Hoà (Khu vực Khánh Sơn, TX. Cam Ranh); TP. Đà Nẵng. Còn 1 địa phương ở cấp IV, cấp nguy hiểm là Thừa Thiên - Huế (Khu vực Hương Trà, Hương Thủy).
Đáng chú ý, trong cấp IV này, Bình Định và Khánh Hòa cũng có thêm một số khu vực khác gồm: Bình Định (Khu vực Phù Cát, An Nhơn, Vân Canh, Tuy Phước, Tây Sơn, TP. Quy Nhơn); Khánh Hoà (Khu vực Diên Khánh, Ninh Hòa, Vạn Ninh, Khánh Vĩnh).
Ban chỉ đạo Nhà nước về KHBV&PTR giai đoạn 2011-2020 đã yêu cầu UBND các cấp và chủ rừng thuộc các địa phương trên thực hiện ngay các biện pháp PCCCR.
Đánh giá chung về hoạt động những tháng đầu 2014, Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm Đỗ Trọng Kim cho biết, đơn vị đã tập trung thực hiện nhiệm vụ được Tổng cục Lâm nghiệp giao; bám sát chương trình công tác của Cục và các nhiệm vụ của Văn phòng Ban chỉ đạo Nhà nước (BCĐNN) về kế hoạch bảo vệ, phát triển rừng (BV-PTR) để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả.
Bên cạnh đó, Cục đã thực hiện việc xây dựng các đề án, văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) trình cấp có thẩm quyền đúng tiến độ được giao; xử lý văn bản theo đúng thời gian quy định, đảm bảo chất lượng và các nhiệm vụ được phân công theo kế hoạch.
Ngoài ra, tập trung chỉ đạo quyết liệt các giải pháp chống chặt phá rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) tại các trọng điểm; thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn các địa phương thực hiện công tác bảo vệ rừng, tăng cường công tác PCCCR.
Đặc biệt, trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, Cục đã tiếp tục triển khai công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương tăng cường công tác bảo vệ rừng, cháy rừng, phá rừng, chống người thi hành công vụ tại các tỉnh khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ và một số địa phương khu vực Tây Bắc đang thời kỳ nắng cao điểm; Tích cực phối hợp với Vụ Hành chính Nhà nước và công vụ - Văn phòng Chính phủ để hoàn thiện hồ sơ trình Đề án "Đổi mới, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm giai đoạn 2014-2020"; Tiếp thu, giải trình các ý kiến tham gia của các địa phương và các đơn vị có liên quan để hoàn thiện Đề án “Nâng cao năng lực phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2014 - 2020”; Tiếp tục theo dõi, đôn đốc triển khai Dự án tổng điều tra, kiểm kê rừng tại 13 tỉnh (5 tỉnh Tây Nguyên và 8 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long) đảm bảo tiến độ và có chất lượng; Sớm tiếp thu, hoàn thiện theo ý kiến tham gia của Vụ Pháp chế Bộ quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý rừng phòng hộ; Tích cực triển khai Chỉ thị 02/CT-TTg ngày 24/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích khác; Tiếp tục tổng hợp cơ sở dữ liệu diễn biến tài nguyên rừng và tổ chức kiểm tra, xác minh cơ sở dữ liệu năm 2013;
Đối với lực lượng kiểm lâm vùng, theo dõi diễn biến thời tiết, dự báo nguy cơ cháy rừng, sẵn sàng phương án hỗ trợ chữa cháy rừng khi có lệnh điều động cho các tỉnh trong khu vực; Tăng cường máy móc, thiết bị PCCCR hỗ trợ một số vùng trọng điểm có nguy cơ cháy rừng năm 2014 trong khu vực; Phối hợp trinh sát phát hiện và tham gia truy quét các điểm nóng phá rừng, vận chuyển lâm sản trái pháp luật tại các tỉnh trọng điểm phá rừng; Triển khai các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ BVR, PCCCR năm 2014; Phối hợp với các CCKL trong vùng kiểm tra, xác minh các nguồn thông tin phản ánh về tình hình phá rừng, khai thác lâm sản trái phép và các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng; Tiếp tục thực hiện việc bám sát địa bàn nắm thông tin BVR, PCCCR theo chỉ đạo của Cục trưởng; Tiếp tục kiểm tra công tác BVR, PCCCR tại các địa phương theo kế hoạch... (Đảng Cộng Sản VN 18/6) đầu trang(
Diễn tập PCCCR tại Vĩnh Thạnh, Bình Định: Nâng cao năng lực PCCCR
Để hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy rừng xảy ra trên địa bàn huyện, tại huyện Vĩnh Thạnh, lực lượng Kiểm lâm tỉnh Bình Định đã tổ chức diễn tập phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2014 cấp khu vực.
Tham gia đợt diễn tập, ngoài lực lượng Kiểm lâm tỉnh, còn có lực lượng kiểm lâm và các chủ rừng của các huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, Tuy Phước và thị xã An Nhơn.
Vĩnh Thạnh là huyện miền núi, diện tích rừng phân bố hầu khắp địa bàn, tổng diện tích rừng trên 47.851ha (gồm 44.361,59ha rừng tự nhiên và 3.490,27ha rừng trồng). Từ đầu năm đến nay ở Vĩnh Thạnh thời tiết rất ít mưa và hiện đang bước vào mùa khô, nắng nóng kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng rất lớn. Với tình huống giả định là một hộ gia đình trong quá trình xử lý thực bì do sơ ý đã để xảy ra cháy rừng keo tại khu rừng thuộc K11, xã Vĩnh Hảo. Do đám cháy quá lớn nên gia đình và nhân dân trong thôn đã không thể dập tắt và đã báo cáo với chính quyền địa phương huy động các lực lượng và nhân dân trong xã hỗ trợ chữa cháy.
Nhận được tin báo, lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng của xã đã tiến hành chữa cháy bằng một số biện pháp thủ công. Tuy nhiên, đám cháy càng lúc càng bùng phát và lan rộng không thể khống chế, Ban chỉ đạo bảo vệ rừng của địa phương đã báo cáo xin hỗ trợ về lực lượng và phương tiện chữa cháy rừng của cơ quan chức năng cấp trên. Với lực lượng đông đảo, phương tiện, dụng cụ chữa cháy cơ giới hỗ trợ kịp thời, sau 30 phút, đám cháy đã được khống chế và dập tắt hoàn toàn.
Kết thúc buổi diễn tập, Ban Chỉ đạo PCCCR cùng với các thành viên trong ban chỉ đạo, rút kinh nghiệm, đồng thời đánh giá cao công tác phối hợp giữa các cấp chính quyền địa phương với người dân trong công tác PCCCR.
Trực tiếp tham gia diễn tập PCCCR lần này, ông Nguyễn Xuân Thạch, nhân viên Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Vĩnh Thạnh chia sẻ: Đợt diễn tập rất có ích cho lực lượng bảo vệ rừng, với những tình huống giả định như vậy sẽ giúp cho các lực lượng bảo vệ rừng vận dụng các biện pháp xử lý hiệu quả”.
Ông Lê Đình Thanh – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Bình Định cho biết: “Thông qua đợt diễn tập, nhằm góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người dân và kỹ năng sẵn sàng phòng chống cháy rừng của các đơn vị khi có hỏa hoạn xảy ra. Đồng thời nâng cao khả năng lãnh đạo, chỉ huy cũng như khả năng phối kết hợp giữa các lực lượng, theo phương châm 4 tại chỗ khi có tình huống cháy rừng, nhằm hạn chế thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra”.
Cùng với việc diễn tập trên, tỉnh đang chỉ đạo các cấp, các ngành chủ động triển khai các phương án với phương châm phòng cháy là chính, chữa cháy kịp thời và hiệu quả. Theo đó, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã phối hợp với chính quyền các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú, củng cố, kiện toàn tổ đội xung kích phòng cháy, chữa cháy, hợp đồng thêm lực lượng bảo vệ rừng, bổ sung, mua sắm thêm trang thiết bị, dụng cụ chữa cháy, làm đường ranh cản lửa, phát thực bì.
Bên cạnh đó, các cấp chính quyền, các chủ rừng cũng tăng cường công tác quản lý, có các phương án phòng cháy chữa cháy cụ thể. Chi cục Kiểm lâm cũng xác định rõ các vùng trọng điểm cháy rừng và thời gian cao điểm thường xảy ra cháy rừng để tổ chức lực lượng trực 24/24 giờ, đồng thời thông tin, báo cáo tình hình giữa các đơn vị với nhau trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng. (Vinhthanh.binhdinh.gov.vn 19/6) đầu trang(
Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nghệ An thông báo:
Theo dự báo của Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung bộ, từ ngày 18 đến 22/6/2014 trên địa bàn tỉnh Nghệ An thời tiết tiếp tục nắng nóng, kết hợp hiệu ứng phơn Tây Nam, nên khu vực tỉnh Nghệ An xảy ra nắng nóng với nhiệt độ phổ biến 35 - 37độ C cấp dự báo cháy rừng các khu vực tỉnh Nghệ An như sau:
Các huyện vùng đồng bằng trung du núi thấp: Nam Đàn, Nghi Lộc, Đô Lương, Hưng Nguyên, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Thanh Chương và TP Vinh, Cấp dự báo cháy rừng: cấp IV (cấp nguy hiểm); Yêu cầu các Chính quyền địa phương, chủ rừng, Hạt Kiểm lâm thực hiện nghiêm các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng:
1- Thường trực 24/24 giờ hàng ngày tại chòi canh lửa và văn phòng thường trực Ban chỉ huy các cấp, để phản ứng nhanh các tình huống cháy rừng xảy ra.
2- Tuyên truyền nhắc nhở các hộ gia đình quản lý các cháu học sinh trong dịp nghỉ hè không được dùng lửa trong rừng có thể gây cháy rừng, rất nguy hiểm.
3- Tổ chức lực lượng canh phòng lửa rừng, kiểm soát chặt chẽ người ra vào rừng, việc sử dụng lửa trong rừng và ven rừng.
4- Khi phát hiện cháy rừng xẩy ra thì chủ rừng, Chính quyền địa phương, Hạt Kiểm lâm phải nhanh chóng huy động lực lượng, phương tiện tại chỗ dập tắt đám cháy, không để xảy ra cháy lớn. (Báo Nghệ An 19/6) đầu trang(
Ban Chỉ đạo kiểm tra, truy quét, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vừa tổ chức Hội nghị tổng kết 1 năm thực hiện công tác kiểm tra, truy quét, bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh. Ông Võ Văn Chánh – Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã đến dự.
Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền vận động bảo vệ rừng, nhân dân đã giao nộp cho cơ quan chức năng 2 khẩu súng, hơn 700 bẫy thú, 270 m lưới và một số động vật quý hiếm. Bên cạnh đó, lực lượng công an đã đẩy mạnh phối hợp với các ngành có liên quan kiểm tra phát hiện, bắt giữ 115 vụ, 135 đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Võ Văn Chánh biểu dương những kết quả đã đạt được trong công tác bảo vệ rừng, quản lý lâm sản thời gian qua; đồng thời yêu cầu Ban chỉ đạo thời gian tới cần phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng kiểm tra, xử lý nghiêm các vụ vi phạm về bảo vệ rừng; đẩy mạnh tuyên truyền cho người dân nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng. (Đài PTTH Đồng Nai 19/6) đầu trang(
Tỉnh Đắk Lắk đã bước vào mùa mưa - mùa trồng mới cây hồ tiêu nên trên địa bàn đang diễn ra tình trạng người dân ồ ạt vào rừng khai thác, vận chuyển gỗ trái phép về làm trụ tiêu. Các địa phương, đơn vị chức năng vẫn chưa có biện pháp ngăn chặn hữu hiệu.
Việc khai thác, vận chuyển gỗ trái pháp luật về làm trụ tiêu tập trung nhiều nhất trên địa bàn các huyện Ea Súp, Ea H’Leo và Krông Năng. Loại gỗ bị khai thác trái phép nhiều nhất là căm xe, cà chít có đường kính lớn. Sau đó các đối tượng xẻ thành các trụ gỗ có đường kính từ 17 đến 25 cm, với chiều dài từ 3,8 đến 4 mét để về sử dụng hoặc bán lại cho các gia đình khác có nhu cầu. Theo phản ánh của đồng bào các dân tộc ở các thôn, buôn của các xã Ea Ral, Ea Khal, thị trấn Ea Drăng (huyện Ea H’Leo), giá mỗi trụ tiêu mua, chở đến tận rẫy từ 250.000 đến 270.000 đồng và mua bao nhiêu cũng có.
Các đối tượng chuyên sống bằng nghề khai thác rừng ở các xã Cư M’lan, Cư Mốt (huyện Ea Súp), Ea Wy, Ea Tir, Cư Amung, Ea Ral (huyện Ea H’Leo) ngang nhiên đưa xe công nông, xe máy độ chế, cưa máy vào các khu rừng tự nhiên ở 2 huyện trên để khai thác theo yêu cầu của khách hàng.
Tỉnh Đắk Lắk cần chỉ đạo các địa phương, đơn vị chức năng, chủ rừng tăng cường thực hiện tốt hơn nữa công tác quản lý bảo vệ rừng, đồng thời có biện pháp xử lý thích đáng đối với các đối tượng cố tình phá rừng trái pháp luật nhằm góp phần lập lại trật tự trong công tác quản lý bảo vệ rừng. (Tuổi Trẻ 19/6) đầu trang(
Quản Bạ là huyện có diện tích rừng lớn nhất trong 4 huyện thuộc vùng Cao nguyên đá của Hà Giang. Tính đến cuối năm 2013, tổng diện tích các loại rừng của huyện là 29.500 ha, trong đó diện tích rừng phòng hộ là 22.550 ha, được tập trung chủ yếu tại các xã Tùng Vài, Tả Ván, Quyết Tiến, Thái An, Nghĩa Thuận…
Trong các cánh rừng phòng hộ trên địa bàn huyện còn nhiều loài gỗ quý hiếm như thông đá, kháo đá, pơ mu và gỗ nghiến. Do địa hình đồi núi phức tạp, các xã có diện tích rừng lớn thường nằm gần biên giới với Trung Quốc, bình quân mỗi cán bộ kiểm lâm phải phụ trách quản lý từ 5.500 – 6.000 ha rừng… nên công tác quản lý, bảo vệ rừng của Quản Bạ còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng chặt phá rừng diễn ra qua nhiều năm, nhất là ở các xã biên giới.
Nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác bảo vệ rừng, Hạt Kiểm lâm huyện Quản Bạ đã tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo việc tăng cường phối hợp giữa các ngành chức năng của huyện trong công tác quản lý và bảo vệ rừng; tổ chức các buổi tuyên truyền về Luật Bảo vệ rừng cho người dân của các xã có diện tích rừng lớn trên địa bàn huyện.
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm huyện đã tổ chức và củng cố các tổ, đội quần chúng cùng tham gia công tác bảo vệ rừng, trong đó lực lượng nòng cốt là dân quân tự vệ, công an viên và cán bộ phụ trách lâm sinh của các xã.  Trong đó nêu rõ nhiệm vụ của các tổ là thường xuyên tuần tra, kiểm soát đối với các khu rừng trọng điểm, các khu rừng có nguy cơ cháy cao, những khu vực lâm tặc thường khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép.
Theo ông Nguyễn Bá Ngọc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quản Bạ: Do địa bàn rộng, địa hình phức tạp và các xã có diện tích rừng lớn thường nằm ở khu vực biên giới với Trung Quốc nên Hạt Kiểm lâm huyện đã phải giao cho từng cán bộ gắn trách nhiệm với từng địa bàn và phối hợp chặt chẽ với chính quyền của các địa phương để cùng xây dựng phương án bảo vệ rừng.
Ngoài ra, Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với chính quyền các xã có diện tích rừng lớn tăng cường công tác tuyên truyền tới người dân về tầm quan trọng của rừng đối với sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh quốc phòng và đời sống nhân dân trên địa bàn. (Đại Biểu Nhân Dân Tỉnh Hà Giang 18/6) đầu trang(
Theo Sở NNPTNT tỉnh Bạc Liêu: Trong 6 tháng đầu năm, Chi cục Kiểm lâm kết hợp với các lực lượng chức năng tổ chức tuần tra, kiểm soát công tác quản lý bảo vệ rừng.
Qua đó, phát hiện hơn 30 vụ vi phạm làm thiệt hại hơn 1.400m2 rừng trồng, trên 1.700m2 đất rừng; xử phạt hơn 67 triệu đồng và tịch thu gần 1.500kg sâm đất.
Từ đầu năm đến nay, ngành nông nghiệp tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hơn 270 đợt cho gần 2.400 lượt người.
Tuy nhiên, việc chặt phá và khai thác tài nguyên rừng trái phép vẫn còn tồn tại. (Dân Việt 19/6) đầu trang(
Mấy ngày qua, nhiều người dân ở thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang đổ xô vào Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa đốn hạ không thương tiếc loài cây ươi để lấy quả bán cho đầu nậu. Trong khi đó, cơ quan chức năng vẫn không có động thái nào ngăn chặn tình trạng này.
Chiều 18-6, PV có mặt ở địa bàn thôn Phú Túc, xã Hòa Phú chứng kiến hàng chục người dân liên tục chở những bao ươi to trên quốc lộ 14G về nhà cất giấu. Theo chân một nhóm chở quả ươi, PV đến trước cổng làng du lịch Tống Cói thuộc khu du lịch Hòa Phú Thành, ở thôn Phú Túc. Lúc này, một nhóm  4 người khai thác quả ươi mới từ Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa về, ngồi nghỉ chân uống nước trong quán nước ven đường. Thấy những quả ươi khô, quả già màu sẫm, quả xanh non chất đầy trong bao tải, chúng tôi hỏi giá bao nhiêu 1kg. Một phụ nữ nói: Ươi khô thì giá 250.000 đồng/kg, còn loại già, loại xanh giá rẻ hơn một chút.
Ươi ở đâu mà có cả quả xanh lẫn quả chín nhiều vậy? Trả lời câu hỏi này, một người đàn ông khoảng 40 tuổi trong nhóm này chỉ tay về khu rừng đối diện Làng du lịch Trống Cói bảo: Cả buổi sáng chúng tôi đi khai thác trên đó mới được chừng này. Thấy một thanh niên đang cột một bao tải ươi xanh bên vệ đường chuẩn bị đưa lên xe máy, người đàn ông này nói tiếp: “Ông đó dùng cưa lốc hạ cả cây nên mới hái được nhiều như rứa”. Chạy xe lên Dốc Kiền cách đó một đoạn, chúng tôi cũng phát hiện có hàng chục thanh niên người dân tộc Cơtu khệ nệ khiêng những bao ươi mới khai thác từ rừng đi ra để vận chuyển về.
Quay lại quán nước đã trò chuyện với nhóm người trước đó để tìm hiểu khu vực người dân khai thác ươi, người đàn ông chủ quán nước không ngần ngại nói ngay: Các anh chịu khó lội rừng khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ, qua khỏi đồi keo lá tràm là đến ngay rừng đặc dụng và sẽ thấy cảnh đốn hạ cây ươi hàng loạt. Theo lời chỉ dẫn, PV quyết định lên hiện trường để tận mắt chứng kiến cảnh những cây ươi bị đón hạ.
Trong khi dò dẫm tìm đường lên rừng, PV bắt gặp 3 người đàn ông khệ nệ vác những bao ươi còn xanh mướt đi xuống. Khoảng 15 giờ, khi PV leo lên đến khu vực rừng đặc dụng, nghe tiếng máy cưa liên tục rít lên từng hồi. Và dường như phát hiện có người lạ, tiếng máy cưa im bặt. Quan sát trong rừng rậm, um tùm lau lách, chúng tôi phát hiện có hàng chục cây ươi to bị đốn hạ nằm la liệt.
Trong lúc PV quan sát tìm cách ghi hình, thì xuất hiện một thanh niên tay cầm rựa đi lại chào hỏi. Nghe PV hỏi, người ta đốn hạ cây để lấy quả như thế không bị cơ quan chức năng bắt à? Thanh niên này nhoẻn miệng cười, rồi nói: Mấy ngày nay đi phát rừng, tôi chứng kiến cảnh gần cả chục người mang cưa vào rừng hạ cây ươi lấy quả. Hết cánh rừng này, rồi họ đi sang cánh rừng khác, nhưng có ai bắt bớ gì đâu. Mà cũng dễ gì bắt được, bởi đường rừng trăm lối, chỉ cần thấy bóng lực lượng kiểm lâm, họ bỏ chạy ngay.
Được biết khu rừng đối diện cổng Làng du lịch Tống Cói thuộc sự quản lý của Ban quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa. Lúc 16 giờ 30 cùng ngày, PV tìm đến Trạm quản lý bảo vệ rừng Phú Túc (thuộc Ban quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa) đóng ở ngay cầu Ngầm Đôi, thì trạm này đóng cửa không có người.
Liên lạc điện thoại với ông Xuyên, Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Phú Túc, thì được ông Xuyên cho biết đang đi kiểm tra tình hình người dân khai thác quả ươi ở khu vực Dốc Kiền. Khi nghe thắc mắc về sự việc người dân đốn hạ cây ươi trong rừng đặc dụng để lấy quả, sao không ngăn chặn, thì ông Xuyên nói là lực lượng mỏng không thể kiểm tra hết.
Ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Bà Nà-Núi Chúa cho biết, do ở khu vực xã Hòa Ninh, mấy ngày nay người dân cũng đổ xô vào rừng khai thác quả ươi, nên Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa đã huy động hết lực lượng đến chốt chặn. Về tình trạng khai thác, đốn hạ cây ươi khai thác quả ở Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa, sau khi nhận được thông tin, Hạt đã báo cho Ban quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa để có hướng phối hợp, xử lý. “Ngày mai chúng tôi sẽ đưa lực lượng lên Phú Túc để kiểm tra, ngăn chặn tình trạng này”, ông Trung nói thêm.
Ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng cho biết đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Hòa Vang phối hợp với Hạt Kiểm lâm Rừng đặc dụng Bà Nà-Núi Chúa vào cuộc kiểm tra, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm. (Báo Đà Nẵng 19/6) đầu trang(
17.6, Ban chỉ đạo truy quét, bảo vệ rừng tỉnh Đồng Nai cho biết, trong năm 2013, toàn tỉnh đã vận động khoảng 5.800 hộ dân đăng ký cam kết bảo vệ rừng và giao nộp vũ khí.
Từ biện pháp này, các cơ quan chức năng của tỉnh đã thu giữ 2 khẩu súng, 700 bẫy dùng để bắt thú rừng, hơn 270m lưới và nhiều động vật hoang dã…
Ngoài ra, 2 ngành kiểm lâm và công an cũng đã kiểm tra phát hiện, bắt giữ 115 vụ, 135 đối tượng vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thu giữ 39 khẩu súng các loại, 2 quả lựu đạn, 175 viên đạn, gần 870 bẫy dùng để bắt (thú rừng, gần 3.000m3 gỗ các loại và nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm. (Dân Việt 19/6) đầu trang(
Đó là chỉ đạo của cục trưởng Cục Hàng không với các đơn vị trong ngành về việc ngăn chặn các sự cố do chim gây ra đối với hoạt động của tàu bay tại các cảng hàng không, sân bay.
Theo Cục Hàng không, từ tháng 1-2014 đến nay có 11 sự cố chim va đập với tàu bay gây uy hiếp an toàn cho hoạt động bay xảy ra tại các cảng hàng không: Pleiku, Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Vinh, Rạch Giá.
Để hạn chế, ngăn chặn các sự cố do chim gây ra uy hiếp đến an toàn hoạt động của tàu bay, Cục Hàng không yêu cầu Tổng công ty Cảng hàng không VN phân công nhiệm vụ cho bộ phận, cán bộ cụ thể theo dõi công tác kiểm soát chim và động vật hoang dã tại các cảng hàng không, sân bay, tổ chức tập huấn, huấn luyện, đào tạo kiến thức về kiểm soát chim và động vật hoang dã cho cán bộ, nhân viên; nghiên cứu, đầu tư trang thiết bị, phương tiện xua đuổi chim cho các cảng hàng không, sân bay trên cơ sở thực tế của từng cảng hàng không, sân bay (căn cứ vào loại chim, mùa di cư của chim). Xây dựng, triển khai các biện pháp, cách thức xua đuổi chim phù hợp... báo cáo kết quả thực hiện về Cục Hàng không trước ngày 31-8. (Tuổi Trẻ 19/6) đầu trang(
Các bị cáo thừa nhận tỉ lệ ăn chia sau khi bán 2 khúc kỳ nam là 40% cho người đào trầm, 40% cho đội liên ngành, 20% cho nhóm bảo vệ trật tự
Ngày 18-6, TAND huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa mở lại phiên tòa xét xử sơ thẩm đối với các bị cáo nguyên là cán bộ Công an huyện Khánh Sơn lợi dụng quyền hạn trong xử lý tang vật, “ăn chặn” kỳ nam.
Các bị cáo phải hầu tòa gồm: Nguyễn Thành Trung (nguyên Trưởng Công an huyện Khánh Sơn), Nguyễn Hồng Hà (nguyên Đội trưởng Đội CSGT), Vũ Anh Trung (nguyên Đội trưởng Đội Cảnh sát Kinh tế - Môi trường), Trần Lệ Kiên (nguyên Phó Đội trưởng Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự - hỗ trợ tư pháp) và Luân Văn Nam (ngụ thị trấn Tô Hạp - Khánh Sơn).
Theo cáo trạng, khoảng 21 giờ ngày 26-9-2012, nhóm của Trần Văn Khánh, Nguyễn Ngọc Thừa đào được một đoạn kỳ nam thì bị thượng úy Kiên tịch thu, cất giữ. Biết chuyện, Anh Trung và Hà yêu cầu mọi người không được báo cáo cho lãnh đạo biết. Cũng trong đêm, nhóm của Huỳnh Trung Nghĩa đào được đoạn kỳ nam dài khoảng 20 cm, Nam đã yêu cầu anh Nghĩa đưa cho mình, sau đó giao lại cho Hà.
Sự việc đến tai Thành Trung, Thành Trung đã gặp nhóm Anh Trung, Hà yêu cầu giao 2 khúc kỳ nam đem đi bán. Chiều 28-9-2012, sau khi bán xong khúc trầm lớn, Thành Trung trực tiếp chia cho nhóm Nam (bảo vệ trật tự) 800 triệu đồng, Anh Trung 1,4 tỉ đồng, nhóm đào trầm 1,6 tỉ đồng. Ở khúc trầm thứ 2, Thành Trung bán với giá 350 triệu đồng, sau đó giao lại cho nhóm Nam, Hà. Hà chia trước cho nhóm của Nam 20 triệu đồng, còn 330 triệu đồng Hà giữ lại đợi tình hình ổn định sẽ chia sau.
VKSND huyện Khánh Sơn đề nghị truy tố bị cáo Anh Trung, Hà, Kiên, Nam về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”(mức án 10-15 năm tù); Thành Trung về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” (mức án 7-10 năm tù).
Trả lời các câu hỏi của HĐXX, bị cáo Anh Trung thừa nhận hầu hết nội dung cáo trạng truy tố. Tuy nhiên, bị cáo Anh Trung cho rằng vì lãnh đạo Công an huyện Khánh Sơn chỉ đạo đội liên ngành chỉ giữ trật tự, không thu giữ tài sản của dân nên bị cáo đã chỉ đạo đội “giữ giùm khúc rễ cây”.
“Khoảng hơn 20 giờ ngày 27-9-2012, anh Thành Trung gọi tôi đến quán cà phê Góc Núi. Tại đây, đã có anh Hà và Trần Văn Khánh. Chính anh Thành Trung đề xuất tỉ lệ ăn chia. Tôi là người gọi điện cho Trần Lệ Kiên mang khúc rễ cây bỏ vào ô tô đỗ tại quán cà phê theo yêu cầu của anh Thành Trung. Thâm tâm tôi nghĩ khúc rễ cây đó là trầm hương” - bị cáo Anh Trung khai.
Về việc được chia tiền, bị cáo Anh Trung khai chiều hôm sau được Thành Trung đưa một túi màu đen, bên trong có 1,4 tỉ đồng, nói là “của những người đào trầm bồi dưỡng”. Bị cáo đã chia cho rất nhiều người, trong đó Hà 250 triệu đồng, Kiên 300 triệu đồng. Sau khi vụ việc vỡ lở, Thành Trung dặn mọi người không khai việc Thành Trung có tham gia vào tiêu thụ kỳ nam. Về sau, nhận ra việc mình làm là sai, Anh Trung đã thu hồi và nộp lại cho nhà nước 1,4 tỉ đồng.
Bị cáo Hà cũng thừa nhận ngày 27-9-2012, Anh Trung gọi bị cáo Hà đến gặp Thành Trung tại quán cà phê, sau đó Hà gọi thêm nhóm của Trần Văn Khánh (người đào được kỳ nam) đến bàn bạc. Thành Trung đưa ra tỉ lệ 40% cho người đào trầm, 40% cho đội liên ngành, 20% cho nhóm của Nam.
HĐXX hỏi bị cáo Hà: “Bị cáo có công lao gì mà được nhận 250 triệu đồng? Số tiền này bị cáo có hiểu từ đâu mà có?”. Bị cáo Hà nói: “Đây là tiền bán trầm. Bị cáo là thành viên của đội liên ngành, số tiền này là tiền bồi dưỡng, vì vậy bị cáo đã nhận”.
Tương tự, bị cáo Kiên thừa nhận việc nổ một phát súng khi người dân đào được khúc kỳ nam, sau đó giữ một khúc kỳ nam vì người dân… “nhờ giữ hộ”. Kiên cho biết Anh Trung chỉ đạo cất giữ, làm vệ sinh kỳ nam và đưa khúc kỳ nam vào ô tô dù “bị cáo không biết xe đó của ai?”.
Theo kết luận của cáo trạng, các bị cáo Anh Trung, Hà, Kiên đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ trong việc thu giữ 1 đoạn kỳ nam khai thác trái phép, gây thiệt hại lợi ích nhà nước 3,8 tỉ đồng; Nam cùng Hà thu giữ 1 đoạn kỳ nam khai thác trái phép, gây thiệt hại lợi ích nhà nước 350 triệu đồng. Riêng Thành Trung biết rõ 2 đoạn kỳ nam này là tài sản do phạm tội mà có nhưng vẫn đứng ra thực hiện việc mua bán, đưa ra tỉ lệ ăn chia nhằm mục đích hưởng lợi.
Đến nay, cơ quan chức năng chỉ thu hồi được 1,62 tỉ đồng tiền phạm tội của các bị cáo và những người có liên quan. (Người Lao Động + Tiền Phong + Lao Động + Tuổi Trẻ + Sài Gòn Giải Phóng 19/6) đầu trang(
Thông Tin Từ Đường Dây Nóng trên báo Quân Đội Nhân Dân phản ánh: Tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản, phá rừng trái phép tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (Đắc Nông) đang có chiều hướng tăng. (Quân Đội Nhân Dân 19/6) đầu trang(
Trước diễn biến thất thường của thời tiết và theo dự báo trong thời gian tới, tình trạng nắng nóng, khô hạn tiếp tục xảy ra tại nhiều địa phương khu vực miển Trung. Riêng taị huyện An Lão dự báo cháy rừng đang ở cấp IV, cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm.
Để chủ động triển khai các biện pháp PCCC rừng, UBND huyện An Lão lưu ý các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và các chủ rừng chủ động thực hiện các quy định của Nhà nước  về bảo vệ rừng và PCCC rừng; Chỉ đạo rà sóat lại phương án bảo vệ rừng và PCCC rừng tại các địa phương và chủ rừng. Kiểm tra, hòan thiện các quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân đội trong công tác PCCC rừng trên địa bàn.
UBND huyện cũng đề nghị các ngành chức năng, UBND các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo kịp thời diễn biến tình hình cháy rừng ở địa phương về Hạt Kiểm lâm và UBND huyện để chỉ đạo và huy động lực lượng chữa cháy rừng trong trường hợp cần thiết.
Được biết, từ đầu năm đến nay trên địa bàn huyện An Lão đã xảy ra 5 vụ cháy rừng, thiêu rụi gần 1,5ha rừng trồng. Nguyên nhân do người dân bất cẩn trong khi phát dọn, đốt rẫy cũ để trồng lại rừng. (Binhdinh.gov.vn 18/6) đầu trang(
Khoảng 14 giờ ngày 17.6, tại khu rừng trồng trên núi Bà thuộc thôn Vĩnh Trường, xã Cát Hanh, Phù Cát xảy ra vụ cháy.
Khi phát hiện thì lửa đã cháy to, mặc dù UBND xã Cát Hanh, CA huyện Phù Cát huy động lực lượng cùng nhân dân địa phương tích cực cứu chữa nhưng vẫn không ngăn được, ngọn lửa cháy lan và đến 17 giờ mới cơ bản dập tắt đám cháy.
Hậu quả, khoảng 3 ha rừng keo khoảng 2 năm tuổi, trong đó khoảng 2 ha của bà Nguyễn Thị Thể (SN 1968, ở thôn Vĩnh Trường, xã Cát Hanh) bị cháy hoàn toàn không còn khả năng khai thác.
Thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND xã Cát Hanh, các ngành chức năng của xã đang phối hợp kiểm tra, xác định diện tích rừng bị cháy và điều tra làm rõ nguyên nhân hỏa hoạn để có biện pháp xử lý. (Báo Bình Định 18/6) đầu trang(
Nếu Vườn quốc gia (VQG) Cúc Phương được đánh giá là một trong những vườn thực vật tầm cỡ của thế giới, thì Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương đang trở thành một trong những nơi cứu hộ và nuôi dưỡng động vật hoang dã lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á…
Một buổi sáng thứ bảy, đến thăm Trung tâm cứu hộ linh trưởng Cúc Phương, PV gặp Elke Schwierz, một phụ nữ người Đức đang cùng đồng nghiệp bận rộn công việc cho ăn và quét dọn tại các chuồng thú. Vốn là nhân viên của sở thú Berlin-Zollogarten, làm việc ở nơi đây đã nhiều năm, với vốn tiếng Việt khá tốt cùng với sự tận tình, lòng say mê với công việc, cô được đánh giá là người rất giỏi trong cứu hộ và chăm sóc thú.
Elke cho biết, hiện nay cả thế giới có khoảng 300 dòng linh trưởng, 25 dòng đang có nguy cơ tuyệt chủng, tại Việt Nam đã phát hiện chín dòng trong số đó. Đến nay Trung tâm đang cứu hộ và nuôi dưỡng 174 cá thể của 15 loài, trong đó có sáu loài duy nhất trên thế giới đang được chăm giữ trong điều kiện nuôi nhốt, đó là Voọc mông trắng, Voọc Hà Tĩnh, Voọc đen tuyền, Voọc Lào, Voọc Cát Bà và Voọc Chà vá chân xám.
Việt Nam là nước có số loài loài thú linh trưởng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng hàng đầu trên thế giới cần được ưu tiên quan tâm bảo vệ. Đó là lý do Trung tâm cứu hộ linh trưởng ra đời và cô có mặt tại đây từ những ngày mới thành lập. “Không chỉ riêng tôi đâu, Elke nói, cả Trung tâm này, nhiều lúc nhân viên nhiều hơn thú được cứu hộ, tất cả đều tất tưởi, nhiệt tình với công việc. Bởi vì, chỉ chúng tôi mới hiểu những động vật hoang dã muốn gì sau cuộc hoảng loạn và cũng chỉ có chúng mới biết chúng tôi mới có thể đem lại sự an toàn tuyệt đối cho chúng”.
PV đến các chuồng nuôi nhốt và chăm sóc thú, thấy người thì thầm với thú, làm đồ chơi cho chúng như ta làm đồ chơi cho trẻ em, quét dọn chuồng trại, tắm rửa cho chúng… mới hiểu nếu không có tình yêu thiên nhiên thực sự, những con người ở đây không thể đưa những thú linh trưởng bị “hút chết” trở về với cuộc sống tự nhiên vốn có của chúng được…
Theo chân Elke, PV đến thăm các chuồng thú đang được các nhân viên ở đây bảo vệ nghiêm ngặt và chăm sóc chu đáo. Với diện tích khoảng vài chục ha, Trung tâm có gần 50 chuồng trại, gồm khu bán hoang dã và các khu vực dành riêng cho voọc cùng các loài thú linh trưởng tự nhiên khác, được thu nhận từ mọi nơi trên cả nước về đây.
Đánh giá về những nỗ lực của cán bộ, công nhân viên của Trung tâm, Phó Giám đốc VQG Cúc Phương Đỗ Văn Lập cho biết, trong những năm đầu hoạt động Trung tâm luôn bị rơi vào tình trạng quá tải số lượng cá thể của các loài linh trưởng từ các đơn vị kiểm lâm tịch thu, bắt giữ chuyển về, có năm đã tiếp nhận lên tới 20 cá thể. Vài năm gần đây số lượng linh trưởng chuyển về Trung tâm giảm xuống, một mặt do lực lượng kiểm lâm hoạt động tích cực, tính nghiêm minh của pháp luật đã được tăng cường mạnh mẽ, mặt khác do số lượng linh trưởng trong tự nhiên bị giảm sút nghiêm trọng.
Tính đến nay, đã có 12/15 loài thú linh trưởng của Trung tâm đã cho sinh sản thành công, trong đó có ba loài, lần đầu tiên trên thế giới, được sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt, đó là Voọc Mông trắng, Voọc Hà Tĩnh, Voọc Chà vá chân xám. Tỷ lệ sinh sản của các loài này rất cao, với năm cá thể Voọc mông trắng đến từ tự nhiên đã cho sinh sản được 22 cá thể và 11 cá thể Voọc Hà Tĩnh đã cho sinh sản 65 cá thể tại đây.v.v. Trung tâm là cơ sở duy nhất trên thế giới đang cứu hộ và chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt cho ba loài linh trưởng trong nhóm Ngũ sắc là Voọc chà vá chân nâu, Voọc chà vá chân xám và Voọc chà vá chân đen, với tổng số 54 cá thể của ba loài này.
Ôm một chú culi mới hơn hai tháng tuổi, Elke cho biết thêm, để những con thú linh trưởng này không những sống tốt, sống khỏe sau khi tiếp nhận về chăm sóc nuôi dưỡng, việc chúng sinh sản được đã minh chứng cho sự an toàn của những linh trưởng được cứu hộ và sự chăm sóc chúng tại nơi đây đã gần tốt như điều kiện tự nhiên chúng vốn sống…
Sự tồn tại, phát triển và những thành công mà Trung tâm cứu hộ thú linh trưởng Cúc Phương đạt được trong những năm qua là nhờ có sự tài trợ về kinh phí của Hội động vật Frankfurt, Vườn thú Leipzig - Cộng hòa liên bang Đức, và quan trọng hơn nữa chính là tinh thần làm việc tận tụy, gắn bó với các loài linh trưởng của các chuyên gia tình nguyện nước ngoài và cán bộ công nhân viên ở đây. (Nhân Dân 18/6) đầu trang(
Vườn Quốc gia Cát Bà được Chính phủ Việt Nam ký quyết định thành lập cách đây gần 30 năm, hiện tổng diện tích 16.196,8ha. Vườn mang nét đặc trưng của cả 3 hệ sinh thái (HST) điển hình của Việt Nam là: HST trên cạn, HST đất ngập nước và HST biển.
Đây là các HST có tính đại diện cao về đa dạng sinh thái và nguồn gen quý hiếm, nhiều loài có giá trị kinh tế cao, gồm cả các loài đặc hữu có giá trị nổi bật toàn cầu…
Theo ông Hoàng Văn Thập - Giám đốc Vườn quốc gia Cát Bà thì vườn vô cùng phong phú về tài nguyên thiên nhiên, nhiều nơi còn rất nguyên sơ, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá là nơi có tính đa dạng sinh học cao: Khu hệ thực vật rừng bước đầu đã ghi nhận được 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 842 chi, 186 họ và 5 ngành thực vật khác nhau chủ yếu là cây gỗ nhỏ và cây bụi. Nhóm gỗ thiết mộc và gỗ có giá trị kinh tế cao như: trai lý, nghiến, lát hoa, sến mật, giổi... Nhóm cây làm thuốc có 661 loài như bổ cốt toái, bạch nhật, xạ đen..., trong đó hầu hết đã được ghi nhận về giá trị sử dụng theo kinh nghiệm của y học cổ truyền dân tộc.
Những cây thuốc này có thể sử dụng vào các bài thuốc, toa thuốc đông y khác nhau để chữa trị nhiều chứng bệnh thông thường như các bệnh đau xương - khớp, bệnh đường tiêu hoá, đường hô hấp, bệnh gan, thận, cảm sốt và bệnh ngoài da... Nhóm cây ăn được có tới 196 loài, trong đó đáng kể hơn cả là loài màn màn, rau dớn, sấu, sung...
Nhóm cây làm cảnh và cây bóng mát có hơn 200 loài, nhiều loài làm cảnh nhất là họ phong lan (15 loài), tiếp đến là họ cau dừa (17 loài). Đối với động vật rừng, đã ghi nhận được 338 loài động vật có xương sống ở cạn hiện tồn tại ở Cát Bà. Trong đó: lớp thú 53 loài thuộc 7 bộ, 17 họ; lớp chim 205 loài thuộc 17 bộ, 51 họ; lớp bò sát 55 loài thuộc 2 bộ, 14 họ; lớp ếch nhái 25 loài thuộc 1 bộ, 7 họ…
Phong phú như vậy nhưng có tới 36 loài động vật nguy cấp, quý hiếm cần được ưu tiên bảo tồn, gồm 26 loài trong Sách đỏ Việt Nam… Riêng hệ động thực vật biển đã phát hiện được 1.313 loài, trong đó đã xác định được: 196 loài cá biển, 538 loài động vật đáy, 89 loài động vật phù du, 189 loài loài thực vật phù du, trên 75 loài rong biển và 193 loài san hô…
Sự đang dạng về động thực vật cộng với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, trong lành, chính là điều kiện lý tưởng để hàng năm Vườn quốc gia Cát Bà đã đón hàng trăm nghìn lượt khách du lịch, các nhà khoa học trong nước và quốc tế, các đoàn học sinh, sinh viên đến tham quan và học tập, nghiên cứu. Các nhà khoa học trong nước và quốc tế đánh giá Vườn quốc gia Cát Bà chứa đựng giá trị cao về cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học, là nơi có số lượng kiểu thảm thực vật đa dạng vào bậc cao so với các khu rừng đặc dụng của Việt Nam, là nơi có quần thể Voọc Cát Bà là một loài linh trưởng đặc hữu duy nhất trên thế giới chỉ có ở Cát Bà - Việt Nam.
Ngoài những giá trị về đa dạng sinh học, còn nhiều cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ như hệ thống hang động, các di chỉ, di tích lịch sử nổi tiếng, hệ thống núi đá vôi độc đáo với nhiều hình thù riêng biệt tạo cảnh quan độc đáo.
Với những giá trị như vậy, Vườn quốc gia Cát Bà trong những năm qua cũng đã được Chính phủ, UBND TP Hải Phòng, các cơ quan ban ngành, các nhà khoa học trong nước và quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ quan tâm xây dựng và phát triển. Nhất là đã triển khai thực hiện nhiều chương trình nghiên cứu khoa học, đánh giá rủi ro sinh thái, triển khai nhiều biện pháp quản lý bảo vệ nhằm giữ gìn nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trên quần đảo Cát Bà. Hiện Cát Bà cũng đang trên lộ trình đề xuất Ủy ban UNESCO thế giới công nhận quần đảo Cát Bà là Di sản thiên nhiên thế giới. Đây là việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững những giá trị tài nguyên thiên nhiên trên quần đảo Cát Bà.
Trong tương lai gần, việc quần đảo Cát Bà được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới không chỉ góp phần vào mục tiêu chiến lược bảo tồn và phát triển của Vườn quốc gia Cát Bà mà còn đáp ứng mục tiêu bảo vệ môi trường mang tính toàn cầu, góp phần to lớn trong việc bảo tồn nguồn gen động thực vật rừng, biển phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ đời sống con người, chống thiên tai, chống biến đổi khí hậu…
Vườn quốc gia Cát Bà có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý bảo vệ, bảo tồn và phục hồi tài nguyên đa dạng sinh học, phát triển và bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên của rừng đặc dụng, tuyên truyền giáo dục bảo vệ tài nguyên môi trường, triển khai các chương trình giám sát tài nguyên đa dạng sinh học, các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, tổ chức quản lý, bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, bảo tồn các nguồn gen động thực vật rừng, biển và các cảnh quan thiên nhiên trên quần đảo Cát Bà nhằm xây dựng quần đảo Cát Bà xứng đáng là nơi học tập thí nghiệm, giữ gìn và phát huy tài sản vô giá mà thiên nhiên ban tặng. (An Ninh Hải Phòng 18/6) đầu trang(
Bảo vệ, quản lý tài nguyên rừng không phải chuyện một sớm, một chiều và của riêng một đơn vị, tổ chức nào. Việc bảo vệ rừng tất yếu phải gắn với đời sống của người dân bản điạ.
Tại Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà việc giữ được gần như nguyên vẹn hiện trạng rừng trên một diện tích lớn có sự đóng góp không nhỏ của chính người dân sống trong vùng đệm và vùng lõi của Vườn.
Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà có tổng diện tích quản lý gồm 70.038,75ha. Trong đó rừng đặc dụng chiếm 56.436ha và rừng phòng hộ là 13.602,75ha; nằm trên địa bàn huyện Lạc Dương với nhiều nguồn gien động, thực vật quý hiếm, đặc trưng cho hệ sinh thái rừng á nhiệt đới.
Theo các kết quả nghiên cứu của dự án JICA BIDOUP NÚI BÀ, hiện nay, gần 79% người dân của các xã nằm trong vùng lõi và vùng đệm của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà là đồng bào dân tộc thiểu số. Nguồn thu nhập chính của bà con chủ yếu là từ nông nghiệp (chiếm khoảng 87%). Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp dưới 1ha, kỹ thuật canh tác yếu và một số lý do khác như giống cà phê cũ, lượng phân bón hạn chế, không đủ nước tưới... dẫn đến năng suất thấp. Những năm gần đây, các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, Chương trình 30a của Chính phủ đã hỗ trợ cải thiện đời sống cho bà con dân tộc thiểu số sống trong và xung quanh Vườn, tuy nhiên một bộ phận không nhỏ vẫn sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
Ông Tôn Thất Minh - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới cho rằng: Do đời sống người dân càng khó khăn thì sự phụ thuộc vào rừng càng lớn. Tạo công ăn việc làm cho người bản địa, cải thiện sinh kế cho cộng đồng bằng các biện pháp như: chi trả dịch vụ môi trường rừng, đẩy mạnh các hoạt động lâm sinh, du lịch... sẽ giúp bà con gắn bó hơn với rừng. Đó là giải pháp hiệu quả nhằm giảm áp lực lên rừng góp phần cho việc quản lý rừng bền vững tại Vườn quốc gia.
Chương trình khoán bảo vệ rừng và hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng được thực hiện tại Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà trong những năm vừa qua là một giải pháp hữu hiệu góp phần cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương một cách bền vững. Ngoài thu nhập từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống, việc nhận khoán quản lý bảo vệ rừng đã tạo ra nguồn thu đáng kể cho người dân vùng đệm Vườn quốc gia.
Trong năm 2014, Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà sẽ khoán 42.467ha rừng cho 1.245 hộ dân để quản lý bảo vệ. Theo đơn giá bình quân từ 400.000 đến 450.000đ/ha/năm với mức 30ha rừng/hộ thì thu nhập của các hộ dân lên đến hơn 12.000.000 đồng/năm. Với mức hưởng lợi này cộng đồng dân cư đã tích cực cùng với các nhân viên kiểm lâm của Vườn quốc gia để bảo vệ rừng.
Ông Kơ Să Thanh (56 tuổi), người dân sống tại xã Đa Nhim (Lạc Dương), vừa đi bảo vệ lô rừng của mình vừa tâm sự: “Ngày xưa đói khổ chỉ biết vào rừng chặt gỗ, tìm cây thuốc. Bây giờ gia đình mình được khoán bảo vệ 30ha rừng ổn định như là của mình rồi, cứ vào tìm các sản phẩm phụ của rừng như nấm, mây… cũng đủ sống”.
Cháu của ông Thanh là anh Cil Phi Criệu Thani (36 tuổi), cũng nhận khoán bảo vệ rừng tận vùng lõi của Vườn bộc bạch: “Có sống lâu với rừng mới biết mỗi loại cây có từng câu chuyện khác nhau. Nếu không quá đói khổ thì bà con không ai nỡ chặt cây rừng làm gì. Bây giờ nhận khoán rồi, mình có tiền nên phải bảo vệ như của mình chứ, đó là danh dự mà”.
Nhận lô bảo vệ tận trong vùng lõi cách xa nhà ở, mỗi tuần, anh Thani và những chàng trai trong thôn lại mang gùi và cái xà gạc quen thuộc đi vào kiểm tra lô (rừng được nhận khoán). Anh Thani nói: “Mỗi lần đi như vậy mình biết rừng chỗ nào khoẻ, chỗ nào yếu, cây nào có chim đẹp đậu trên mình cũng biết. Vào tranh thủ chặt ít cành cây để đó lần sau vào lấy củi, phát cỏ để trỉa bắp, làm hàng rào chống heo rừng, mỗi lần về lại mang theo trên gùi ít cá suối và rau rừng như thế là thích lắm rồi. Đi quen, hiểu rừng nên tới mùa khô mình biết cách đốt trước ở đâu để không xảy ra cháy rừng”.
Giữa vùng lõi của Vườn có hẳn một ngôi làng của bà con dân tộc Cơ Ho Cil mang tên Đưng Iar Jiêng. Nơi đây chủ yếu là những người trung niên, họ sống luôn ở đây để tiện bảo vệ rừng. Ông Kơ Să U (70 tuổi) - Một người già trong làng nói rằng: “Mình sống với rừng quen rồi, nên ở luôn trong này thích hơn lại tiện để bảo vệ lô, để cho con cháu nó ra ngoài xã tiện học hành, mua bán thế là được rồi”.
Ông Lê Văn Hương - Giám đốc Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà cho biết: Để quản lý, bảo vệ được tài nguyên rừng đòi hỏi có sự tham gia tích cực của tất cả các bên liên quan, trong đó vai trò của cộng đồng dân cư sống trong và ven rừng là yếu tố quyết định. Khi cộng đồng tham gia vào tiến trình quản lý, bảo vệ rừng sẽ hình thành nên mối quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ giữa chủ rừng và cộng đồng. Khi quyền lợi của cộng đồng được đảm bảo và thực thi có hiệu quả theo các chính sách của nhà nước thì quản lý bảo vệ rừng sẽ có kết quả mang tính bền vững.
Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò và lợi ích của việc bảo vệ rừng được ban quản lý Vườn lồng ghép trong các đợt chi trả tiền nhận khoán quản lý bảo vệ rừng cho bà con. Việc này đã góp phần tạo sự đồng thuận, tự nguyện của cộng đồng vào các hoạt động quản lý bảo vệ rừng. Đây là chìa khóa của sự thành công, ông Hương nhấn mạnh.
Hiện tại, Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà đã giao cho nhân viên hướng dẫn các tổ nhận khoán, trong quá trình tuần tra ghi chép vào phiếu thu thập thông tin sau đó sử dụng Track logger và phần mềm Smart để quản lý, kiểm tra hiệu quả của công tác bảo vệ rừng. Với các phương tiện kỹ thuật tiên tiến, sự thực hiện nghiêm túc của các nhân viên kiểm lâm và việc tham gia tích cực của cộng đồng địa phương, tài nguyên rừng của Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà ngày càng được bảo vệ tốt hơn.
Theo thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lâm Đồng, trong thời gian qua, số vụ vi phạm về rừng tại khu vực Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà ít hơn nhiều so với các khu vực khác. Từ đầu năm 2014 tới nay tại Vườn chỉ xảy ra 8 vụ vi phạm gồm: 1 vụ lấn chiếm rừng, 2 vụ khai thác rừng và 5 vụ phá rừng trái phép.
Khi gắn rừng với lợi ích của cộng đồng, mỗi người dân sống trong vùng đệm, vùng lõi của Vườn đều là người bảo vệ đắc lực cho rừng. Những cánh rừng trong tầm quản lý của bà con được gìn giữ nguyên vẹn. Ngược lại, nhờ vào “lộc rừng” và sự hỗ trợ của cơ quan chức năng người dân cũng có cuộc sống ổn định hơn. (Báo Lâm Đồng 18/6) đầu trang(
18/6, CA H.Quảng Ninh đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn Thiển (SN 1972, trú thôn Phúc Mỹ, xã Xuân Ninh) về tội “Hủy hoại tài sản”.
Trước đó, Thiển cùng đồng bọn thường xuyên vào RPH Phong Đại để khai thác gỗ trái phép. 8/5, lực lượng kiểm lâm đã thu giữ 1m3 gỗ lậu do nhóm này khai thác. Nghi ngờ cán bộ của Tổng đội TNXP xây dựng kinh tế Quảng Bình đã thông tin cho kiểm lâm bắt gỗ của mình khai thác nên đêm 9/5, Thiển cầm dao vào vườn cây của Tổng đội này triệt hạ tận gốc 300 cây cao su hơn 1 năm tuổi và 76 cây phật thủ. Tổng tài sản bị hủy hoại là gần 100 triệu đồng. (Pháp Luật VN 19/4) đầu trang(
17 tháng 6 năm 2014, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng phát hành thông báo số 14/2014 dự báo nguy cơ cháy rừng trên địa bàn thành phố.
Bản thông báo nêu rõ: Theo Trung tâm dự báo Khí tượng - Thủy văn Trung ương, nắng nóng diện rộng ảnh hưởng trở lại khu vực miền Trung, nền nhiệt độ cao trên 36 độ C, nguy cơ cháy rừng tại Đà Nẵng ở mức cao (tức mức báo động cấp III), có khả năng xảy ra cháy rừng.
Nhằm chủ động phòng, chống cháy rừng, Chi cục Kiểm lâm thành phố Đà Nẵng đề nghị Ban chỉ đạo thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của các  quận, huyện, xã, phường theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ việc thực hiện các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng; cấm sử dụng lửa để xử lý thực bì. Yêu cầu các Hạt Kiểm lâm tăng cường các hoạt động  thông tin về nguy cơ cháy rừng đến các cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư khu vực có rừng; chuẩn bị nhân lực, phương tiện, dụng cụ chữa cháy rừng, báo cáo kịp thời tình hình cháy rừng về Ban chỉ đạo quận, huyện và Chi cục Kiểm lâm; giám sát, kiểm tra các chủ rừng trong việc chấp hành các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng, xử lý nghiêm các vi phạm về phòng cháy, chữa cháy rừng; phối hợp với Ban quản lý các khu du lịch sinh thái giám sát, nhắc nhở du khách lưu ý việc an toàn trong sử dụng lửa khi tham quan, du lịch tại rừng.
Bản tin này có hiệu lực từ ngày 17/6/2014 đến hết ngày 19/6/2014. (Sontra.danang.gov.vn 18/6) đầu trang(
Cõng trên lưng chiếc máy cưa, một ít thực phẩm chuẩn bị cho bữa trưa trong rừng, Hà R. (thôn Bố Lang, xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) chỉ tay về phía cánh rừng xa tít nói với PV: “Nổi bật trên nền rừng xanh là những sắc đỏ của cây ươi. Khắp các cánh rừng ở huyện Khánh Vĩnh, đâu đâu cũng có cây ươi. Năm nay, giá quả ươi cao nên nhiều người mang máy cưa lên rừng hạ cây để hái quả cho nhanh”.
Rừng Khánh Vĩnh bắt đầu vào mùa mưa. Mặc cho trời mưa, đường trơn, nhiều người vẫn vượt núi Đá Tây, lội suối Sê Oóc (thuộc địa bàn xã Sơn Thái) để vào rừng nhặt quả ươi. Bám theo nhóm của Hà R., PV đến khu vực Km 44 (trên đường đèo Khánh Lê - Lâm Đồng) - nơi có nhiều cây ươi đang vào vụ. Ở ngay cửa rừng, nhìn lên những vách núi mờ sương, cây ươi nổi bật nhờ có màu đỏ thẫm.
Hà R. - người được xem là có kinh nghiệm hái quả ươi nhất trong nhóm cười khà khà, trầm trồ: “ Cách đây gần một tuần, bọn mình lên đây khai thác ươi 3 ngày, mỗi ngày kiếm được đến mấy triệu đồng. Năm nay, ươi được giá, mỗi ký ươi bay khô (trái ươi chín rụng) có lúc người ta mua 400.000 đồng, ươi tươi cũng bán được 30.000 - 40.000 đồng/kg.Vào rừng nhìn thấy ươi mà ham, có cây người ta hái bán được 20 triệu đồng. Giá cao như thế thì bỏ rẫy lúa cũng được, hái quả ươi có tiền hơn...”.
Mùa trước, giá mỗi ký ươi tươi chỉ có mấy ngàn đồng; năm nay bỗng dưng giá ươi lên vùn vụt nên người dân khắp nơi đổ xô lên rừng săn tìm quả ươi. Ngoài dân bản địa, người dân ở thị xã Ninh Hòa, huyện Diên Khánh, thậm chí cả ở tỉnh Lâm Đồng cũng tìm đến những cánh rừng có cây ươi trên địa bàn Khánh Vĩnh để mưu sinh. Mỗi ngày vào rừng, một người cũng có thể hái được cả chục ký quả ươi. Chưa có lúc nào mà kiếm tiền trong rừng lại dễ dàng như vậy. Từ chỗ là loại cây không được quan tâm mấy, nay bỗng nhiên được giá nên người dân ví quả ươi là “vàng xanh” của rừng. Nhiều người đi khai thác ươi cũng không hiểu vì sao năm nay giá ươi lại cao đến thế.
Theo nhóm người hái quả ươi vượt được 2 con dốc cao, PV bắt gặp nhiều tốp người vào rừng khai thác ươi. Nhìn thấy một nhóm đang hái ươi ở gần lối đi, PV định ghé lại nhặt vài trái xem thử. Thấy vậy, Bobo Đ. (người đi trong nhóm) ngăn lại: “Không được đâu. Khu vực đó người ta xí phần rồi. Trước kia, ươi chưa có giá, ai muốn hái sao cũng được; nhưng từ khi giá cao, người ta giành nhau từng gốc. Tất cả đều được đánh dấu bằng ký hiệu riêng, ươi của ai người đó khai thác”.
Chỉ tay về phía mấy chòi được dựng lên tạm bợ bằng cây rừng, Bobo Đ. giải thích: “Tuy được đánh dấu, nhưng thỉnh thoảng vẫn có tình trạng nhóm khác đến hái trộm. Vì vậy, để cho chắc ăn, nhiều nhóm cắt cử người vào rừng dựng lán để canh ươi. Từ đầu mùa đến giờ, đã có mấy vụ đánh nhau vì giành cây ươi...”.
Trong hành trình đi tìm ươi, PV cũng tìm hiểu cách hái loại quả này. Nếu thu hoạch theo lối truyền thống thì người ta thường thu bằng cách lượm quả ươi bay. Mỗi cây ươi có khoảng 30kg quả trở lên. Quả ươi được giá nhất khi chúng đã chín và rụng xuống đất. Đặc biệt, quả này khi ngâm vào nước sẽ trương lên khá to. Ươi khi chín, quả phát tán xuống đất trong chu vi khoảng 100m. Người nhặt chỉ việc tìm cây ươi đã rụng quả, sau đó đi quanh gốc để lượm. Nếu trúng cây có quả nhiều thì chỉ cần nhặt ở một cây cũng đã có mấy chục ký quả ươi.
Đến suối Sê Oóc, cả nhóm ngồi nghỉ mệt và quan sát. Thấy mấy cây ươi nổi bật giữa rừng, Bo Bo Đ. nhanh chân mang chiếc ná chạy đến bắn rụng quả để kiểm tra xem ươi đã già chưa. Chừng 10 phút sau, Bo Bo Đ. quay lại cho biết chỉ có một cây quả đã già, có thể hái bán được, mấy cây còn lại quả non. Nghe vậy, cả nhóm vội bật dậy đi về phía cây ươi già để khai thác. Cây ươi này rất lớn, gốc phải đến 2 người ôm, cây cao hơn 20m. Nhìn số quả trên ngọn cây, Bo Bo Đ. ước lượng: “Cây này sẽ hái được hơn 40kg quả ươi tươi”.
Lắp máy cưa xong, Hà R. nổ máy, bắt đầu hạ cây. Khi gốc ươi bị cưa gần đứt lìa, Hà R. hô lớn để cả nhóm tránh ra xa. PV nghe rõ tiếng cây đổ ầm ầm, nhiều cây lớn nhỏ xung quanh bị cây ươi đè gãy. Trong số những cây này, có cây đường kính đã hơn 20cm. Sau khi cây ươi lớn đã bị hạ, cả nhóm lần theo thân cây đi về phía ngọn để nhặt quả rụng xung quanh và hái những quả còn trên cành.
Bobo Đ. cho biết: “Cây ươi này, khi hạ xuống chỉ lấy được khoảng 60% số quả, 40% còn lại không lấy được vì bị giập và non”. Hơn 1 giờ sau, nhóm của Hà R. mới “thu hoạch” xong, chiến lợi phẩm được khoảng 30kg quả ươi tươi.
PV thắc mắc: “Hạ một cây ươi lớn thế này chỉ để hái khoảng 30kg ươi thì tiếc quá!”. Bobo Đ. nói: “Mình không hạ thì người khác cũng hạ. Ươi đang được giá nên khi phát hiện ra cây có quả già, mình phải hạ cây hái quả ngay, nếu không thì người khác giành mất”. Sau khi nhặt xong, cả nhóm lại tiếp tục đi tìm cây ươi khác. Trên đường đi, PV bắt gặp nhiều cây ươi đã bị hạ, thân vẫn còn ứa nhựa.
Đi đến lưng chừng núi Đá Tây, phát hiện được một cây ươi có quả già, cả nhóm lại mang máy cưa ra để hạ cây, nhưng máy cưa không khởi động được nữa. Hà R. tỏ ra tiếc rẻ: “Máy cưa hư rồi, phải về thôi. Hôm nay chỉ mới hạ được một cây, thu nhập chẳng được bao nhiêu đã phải xuống núi”.
Theo lời của nhóm Hà R., khắp các cánh rừng ở xã Sơn Thái, mỗi ngày có hàng chục tốp người vào rừng hạ cây, hái quả ươi (chủ yếu là người ở huyện Diên Khánh và thị xã Ninh Hòa). Mỗi nhóm như thế có khoảng 4 - 5 người. Mỗi ngày, họ có thể hạ khoảng 3 - 4 cây, không chỉ cây có quả già mà cây còn non cũng bị hạ, không thu được quả thì bỏ.
Sau 1 ngày vào rừng nhặt ươi, PV trở về thôn Giang Biên (xã Sơn Thái) với nhiều nỗi niềm. Ghé vào nhà bà Dung (người mua ươi tại địa phương), PV thấy bà thở dài: “Tôi nhiều lần dặn họ chỉ nhặt quả ươi già, đừng lấy ươi non; nhưng vì giá quá cao, người mua giành nhau, người đi rừng thấy có lợi nên đua nhau cưa hạ luôn cả cây ươi để hái quả, già thì lấy, non thì bỏ. Cứ như vậy, đến đời con, đời cháu của họ làm gì còn quả ươi mà hái”.
Ông Hà Liên - Bí thư Đảng ủy xã Sơn Thái cho hay, trước thực trạng khai thác ươi theo kiểu tận diệt, lãnh đạo xã Sơn Thái đã nhiều lần tuyên truyền, vận động người dân phải bảo vệ rừng thì rừng mới cho “lộc” bền vững được. Lãnh đạo xã kiến nghị lực lượng chức năng cần tăng cường xử lý các đối tượng sử dụng máy cưa để hạ ươi.
Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh cũng đã phối hợp với các đơn vị chủ rừng trên địa bàn tăng cường tuyên truyền, vận động người dân tận thu ươi bằng cách nhặt quả rụng. Tuy nhiên, vì cái lợi trước mắt, nhiều người vẫn lén lút vào rừng đốn cây để khai thác nên gây ảnh hưởng lớn đến môi trường rừng. Vì thế, tuy đã có kế hoạch bảo vệ cây ươi ngay từ đầu mùa, nhưng do giá quả ươi tăng cao đột biến, cây ươi lại phân bố rải rác khắp các cánh rừng nên việc bảo vệ gặp rất nhiều khó khăn. (Báo Khánh Hòa 18/6) đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG - PHÁT TRIỂN RỪNG
Theo chân đoàn cán bộ nghiên cứu của Dự án “Lồng ghép giới trong thực thi Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) và các văn bản pháp luật liên quan”, PV tìm về địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình – được biết đến là địa bàn của khu bảo tồn rừng đặc dụng Phu Canh (tên gọi đúng Pu Canh).
Trong khuôn khổ chương trình hoạt động của Liên minh đất rừng (FORLAND), Trung tâm Nghiên cứu và phát triển xã hội (CRSD) tại Huế, Quỹ Phát triển Nông thôn và giảm nghèo huyện Quảng Ninh (tỉnh Quảng Bình) đồng phối hợp nghiên cứu Dự án “Lồng ghép giới trong thực thi Luật BV&PTR và các văn bản pháp luật liên quan”.
Dự án nhằm tìm hiểu những yếu tố thúc đẩy, cũng như cản trở bình đẳng giới; thực chất trong tiếp cận và kiểm soát của phụ nữ đối với đất rừng, rừng, lâm sản ngoài gỗ và thị trường lâm sản ngoài gỗ; từ đó, đề xuất, kiến nghị điều chỉnh và sửa đổi Luật BV&PTR, các văn bản dưới Luật liên quan một cách phù hợp.
Mục đích của Dự án gồm 03 vấn đề: (1) Cung cấp thông tin hay bằng chứng cho các quyết định để các chính sách và chương trình liên quan tới giao đất, giao rừng (GĐGR), BV&PTR đạt mục tiêu mong đợi cho cả nam và nữ; (2) Cung cấp các thông tin chi tiết về người chịu tác động, người hưởng lợi hay khách hàng để việc xây dựng và thực hiện các chương trình GĐGR, BV&PTR thực hiện hiệu quả, có hiệu suất cao hơn; (3) Phát hiện các bài học hay về thực thi chính sách, chương trình GĐGR, BV&PTR có tác động tích cực trong việc thúc đẩy vị thế của phụ nữ, hoặc có tác động không mong muốn với phụ nữ để đưa ra các điều chỉnh phù hợp.
Đề cập tới nội dung liên quan tới Dự án, chuyên gia Đặng Ngọc Quang - Trung tâm Nghiên cứu phát triển xã hội cho biết: Việt Nam là một quốc gia có đạo luật tiến bộ về giới so với các nước trên thế giới và khu vực. Việt Nam cũng là một bên tham gia Công ước CEDAW về xóa bỏ các hình thức bất bình đẳng với phụ nữ. Những tiến bộ về quyền của phụ nữ với đất đai, kể cả lâm nghiệp gần đây đã được ghi nhận, cụ thể trong việc người phụ nữ được đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cũng theo chuyên gia Đặng Ngọc Quang, ở nước ta, các loại rừng mà cộng đồng có thể tiếp cận và kiểm soát là các khu vực rừng sản xuất được giao khoán cho các hộ để sản xuất hoặc chăm sóc, bảo vệ… Luật BV&PTR được ban hành năm 2004 đã bộc lộ một số hạn chế sau gần 10 năm thực thi. Một trong những điểm hạn chế là thiếu sự lồng ghép giới trong vấn đề tiếp cận, quản lý, sử dụng và phát triển rừng cho nam giới và nữ giới; vai trò của phụ nữ trong việc ra quyết định sử dụng và quản lý, phát triển rừng. Kết quả đời sống của phụ nữ, đặc biệt là nhóm phụ nữ nghèo, đơn thân gặp nhiều khó khăn do thiếu sự can thiệp, tạo điều kiện của chính sách để họ được tham gia tiếp cận các nguồn tài nguyên rừng và hưởng thụ các lợi ích từ rừng.
Để làm rõ thêm những thắc mắc về vấn đề bình đẳng giới liên quan tới công tác BV&PTR ở địa bàn xã Đoàn Kết, PV đã đến trụ sở UBND xã Đoàn Kết, gặp bà Hà Thị Hằng - Phó Chủ tịch UBND xã.
Bà Hà Thị Hằng cho biết: Thời gian qua, công tác trồng rừng và bảo vệ rừng tự nhiên luôn được xã đặt lên hàng đầu; thường xuyên tuyên truyền cho nhân dân về công tác phát triển và bảo vệ rừng tại xã; duy trì công tác phối hợp giữa UBND xã với Ban Quản lý bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (Pu Canh), kiểm lâm địa bàn và công an, quân sự xã. Do đó, công tác bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn xã khá ổn định, đặc biệt là từ năm 2013 trở lại đây.
Năm 2013, hiện tượng lén lút chặt phá và làm nương rẫy đã giảm đáng kể so với trước đây. Bà con tự trồng 35 ha rừng, trồng theo dự án 44 ha rừng, chủ yếu là: Xoan, keo, lim, mỡ và sưa đỏ... Những tháng đầu 2014 này, toàn xã đang tập trung tận dụng và khai thác triệt để tiềm năng sẵn có, nhất là các diện tích hoang hóa, độ dốc thấp để trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày; làm tốt công tác bảo vệ rừng, quản lý chặt chẽ lâm sản; phấn đấu trồng rừng đạt chỉ tiêu, bảo vệ khoanh nuôi rừng tái sinh và rừng tự nhiên đạt kết quả ...
Tuy nhiên, bà Hà Thị Hằng cũng bày tỏ trăn trở: Hiện nay, phí chi trả dịch vụ môi trường rừng ở mức 137.000đ/ha/năm, là quá thấp so với công sức bỏ ra để chăm sóc, bảo vệ cây rừng của người dân. Điều này không  khuyến khích được người dân tích cực tham gia vào công tác BV&PTR. Hơn nữa, chị em phụ nữ hiện đang là lực lượng lao động (trồng rừng, trồng màu) chủ yếu; cũng chính chị em là người thường xuyên tham gia vào khai thác lâm sản ngoài gỗ trong rừng, nhưng các chương trình hỗ trợ dành cho phụ nữ còn ít. Do đó, việc nâng cao ý thức bảo vệ rừng cũng như lồng ghép vấn đề giới trong các chính sách BV&PTR còn nhiều điều phải bàn.
Gặp anh Nguyễn Văn Tuấn - Trạm trưởng Trạm số 1, Khu bảo tồn rừng thiên nhiên Phu Canh (Pu Canh) đóng tại địa bàn xóm Thầm Luông, xã Đoàn Kết, PV được biết: Nhiệm vụ chủ yếu của Trạm là làm công tác bảo vệ, giữ rừng, giữ vùng sinh thủy. Hiện nay, bà con nhân dân trên địa bàn đã hiểu hơn về ý nghĩa bảo vệ rừng nên cùng phối hợp khá hiệu quả với cán bộ, nhân viên của Trạm cũng như tự ý thức cao về BV&PTR. Hầu như không còn hiện tượng đốt nương làm rẫy; trái lại, giờ đây, bà con nông dân còn chủ động trồng thêm rừng với các loại cây trồng chủ yếu: Trẩu, bồ đề…, cùng tập trung canh tác các giống cây lương thực thực phẩm ngắn ngày như: Ngô, sắn…
Nếu có vào rừng, chủ yếu cũng chỉ khai thác cây thuốc, lấy mật ong và một số sản phẩm từ rừng có thể dùng làm thức ăn, đồ uống, dệt vải… Nam giới bây giờ ít hoặc thậm chí không vào rừng nữa, vào rừng theo mùa chủ yếu là chị em phụ nữ. Thực trạng này cho thấy, đã có thay đổi nhất định trong phân công lao động liên quan tới rừng. Nó cũng cho thấy, cần phải có những cân nhắc, điều chỉnh lại chính sách BV&PTR liên quan tới vấn đề giới và bình đẳng giới.
Chủ tịch Hội Nông dân xã Lý Văn Hòa chia sẻ: Về cơ bản, con trai hay con gái trong gia đình giờ đều được chia của hồi môn như nhau, không có phân biệt nhiều như trước kia nữa. Tuy nhiên, nếu con gái đi lấy chồng xa, khác làng, khác xã thì sẽ không được nhận phần diện tích rừng của bố mẹ đang quản lý, bảo vệ cũng như diện tích rừng trồng của gia đình nữa. Vì đi xa chỗ mình ở rồi, có lấy đất, lấy rừng cũng không quản lý, sản xuất được nữa.
Bí thư chi bộ dân cư xóm Thầm Luông Lý Thị Xuân cho biết: Gia đình chị sinh sống lâu đời tại đây, từ lúc còn du canh du cư ở Đồng Ruộng rồi chuyển sang định canh định cư tại Thầm Luông này. Hiện, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, sự quan tâm của chính quyền, chị em phụ nữ có nhiều điều kiện để phát triển hơn. Họ được tập huấn, nâng cao trình độ và kiến thức. Do đó, tính chủ động của chị em trong cuộc sống được gia tăng. Tiếng nói của chị em cũng có trọng lượng hơn. Giờ, đứng tên tài sản lớn của gia đình là tên của cả vợ và chồng. Con gái hay con trai được phân chia tài sản như nhau.
Bà Lý Thị Xuân kiến nghị, để nâng cao đời sống của người dân nói chung và chị em nói riêng, cần có sự hỗ trợ về vốn, cây giống. Đặc biệt, cần tăng cường hơn nữa vai trò của phụ nữ, để họ thực sự làm chủ cuộc sống của mình.
Tâm sự trên của ông Lý Văn Hòa và chia sẻ của bà Lý Thị Xuân cũng lần nữa cho thấy, dù đã có những tiến bộ vượt bậc trong thực hiện bình đẳng giới, nhưng xem ra, việc coi trọng và đánh giá cao hơn vai trò của nam giới vẫn không phải dễ dàng thay đổi trong "ngày một, ngày hai".
Trong khi đó, theo trưởng xóm Thầm Luông Lý Xuân Dấu, ý thức của người dân trong vài năm trở lại đây đã được nâng cao hơn. Người dân không còn tư tưởng ỷ lại hoàn toàn vào rừng nữa. Họ đã ý thức hơn việc cần thiết bảo vệ rừng, không được phép khai thác tràn lan. Cả đàn ông và phụ nữ hiện nay đều tôn trọng các nội dung BV&PTR, khi cần những quyết định quan trọng đều có sự đồng thuận của cả hai bên. Thay đổi tích cực từ thực tế này cũng chính là tiền đề tốt để các nhà hoạch định chính sách cân nhắc, xem xét, có điều chỉnh phù hợp, vừa thúc đẩy công cuộc bảo vệ, gìn giữ "lá phổi xanh của nhân loại" cũng như phát triển kinh tế - xã hội, thực sự đảm bảo cho phụ nữ được bình đẳng, bình quyền.
Khi gặp những người dân tộc Dao tại bản Thầm Luông, PV nhận thấy ở họ một sự tự tin và chủ động hòa nhập, nắm bắt vấn đề. Những người dân như: Chị Tiến, chị Đức, chị Loan, cô Hà, cô Thảo, cô Lương… đã cho tôi những chia sẻ rất thật về cuộc sống của gia đình mình. Họ cho biết, rừng đã gắn bó với đời sống của họ như máu thịt, rừng là nhà, rừng là nguồn sống. Tuy nhiên, khi rừng được khoanh vùng để bảo vệ, đồng nghĩa với việc không được tự ý xâm phạm, khai thác, bản thân họ đã mất một thời gian để điều chỉnh.
“Giờ đây, nam giới trai tráng hầu như rất ít vào rừng. Những việc nặng nhọc, khai thác gỗ, xẻ gỗ giờ không được phép nữa. Chỉ còn chị em phụ nữ vào rừng thôi. Chị em vào rừng chủ yếu làm những việc tỉ mỉ, cẩn thận, tốn ít sức” – cô Lương cho hay. Diễn biến thực tiễn cuộc sống đã hạn chế hơn vai trò của nam giới trong rừng mà lại nâng cao vai trò của nữ giới. Vấn đề đặt ra hiện nay là cân bằng giới để phát huy hiệu quả công tác BV&PTR.
Đến với bản Thùng Lùng, xã Tân Pheo (huyện Đà Bắc), gặp gỡ những người dân tộc Tày nơi đây, những người dân như: Chú Bằng, chú Toàn, chú Nghị, anh Thành, anh Pháp... - những người đàn ông trụ cột trong gia đình, PV cảm nhận một không khí rất cởi mở và thân thiện. Họ cho hay, nói rừng là nguồn sống của người dân nơi đây là không hề sai chút nào, bởi nhà và rừng ở đây gần như xen kẽ trong nhau.
Ông Đinh Văn Nhất - Phó Chủ tịch UBND xã Tân Pheo trao đổi: Diện tích rừng trên địa bàn lớn, nhưng chủ yếu thuộc khu bảo tồn, cấm khai thác, chặt phá, trong khi nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây là từ rừng và nông nghiệp, do đó, đời sống vẫn còn nhiều khó khăn. Do không được khai thác gỗ nữa, nên giờ đây, vào rừng chủ yếu là chị em. Họ vào rừng lấy măng, lấy nứa, nhưng cũng có quy định theo mùa, chứ không được phép lấy ồ ạt.
Cũng theo Phó Chủ tịch Đinh Văn Nhất, nói đến công tác BV&PTR cũng như các chính sách về giới liên quan tới nội dung công tác này, cần cả một quá trình và cần thiết phải có điều chỉnh trên cơ sở phát sinh từ thực tiễn. Tất nhiên, cũng cần xem xét tới tính khả thi của các quy định nếu có điều chỉnh để việc thực thi trong thực tiễn phát huy hiệu quả.
Có thể thấy, việc vươn tới bình đẳng giới đòi hỏi những nỗ lực để cả người lớn, thanh niên và trẻ em nam cũng như nữ có cơ hội tiếp cận với các điều kiện và các dịch vụ giúp họ có một mức sống tốt nhất. Ở Việt Nam, không riêng gì trong lĩnh vực BV&PTR, mà hầu hết trong các chính sách và chương trình phát triển, văn bản pháp luật đều được xây dựng trên nguyên tắc trung tính về giới với hàm ý đảm bảo nam và nữ được đối xử như nhau, có cơ hội như nhau và được cung cấp dịch vụ như nhau trong những hoàn cảnh như nhau.
Tuy nhiên, nhiều khi, sự khác biệt giới tính làm nguyên tắc trung tính về giới không đảm bảo các ứng xử với nam và nữ là công bằng và hợp thức thỏa đáng. Do đó, cần thiết phải xem xét, nghiên cứu về cuộc sống của nam và nữ trong các gia đình sống phụ thuộc vào rừng có những khác biệt nào và sự tác động của chính sách cũng như chương trình BV&PTR với những khác biệt đó. (Đảng Cộng Sản VN 18/6) đầu trang(
18/6, đoàn giám sát HĐND tỉnh do bà Giàng Thị Hoa, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh làm trưởng đoàn đã có buổi làm việc với lãnh đạo huyện Mường Nhé về tình hình thực hiện “Chương trình bảo vệ và phát triển rừng từ năm 2012 đến năm 2014” trên địa bàn huyện.
Trong thời gian từ năm 2012 - 2014, các chương trình dự án bảo vệ và phát triển rừng bằng nguồn vốn phát triển rừng trên địa bàn huyện Mường Nhé đã đạt được nhiều mục tiêu tích cực. Rừng khoanh nuôi tái sinh sau 5 năm giao khoán đạt tỷ lệ thành rừng cao góp phần làm tăng độ che phủ rừng trên toàn huyện, tăng khả năng phòng hộ đầu nguồn. Tổng diện tích rừng được đầu tư hỗ trợ bảo vệ chưa cao so với tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn nhưng hiệu quả của việc đầu tư hỗ trợ đã nâng cao ý thức, trách nhiệm của cộng đồng đối với công tác bảo vệ, phát triển rừng, chất lượng rừng cũng được cải thiện rõ rệt.
Từ năm 2012 đến nay, trên địa bàn toàn huyện được đầu tư hỗ trợ bảo vệ, phát triển rừng trên 2,5 tỷ đồng, với tổng diện tích gần 13.000ha. Trong đó, hỗ trợ cho khoán khoanh nuôi tái sinh tự nhiên gần 1 tỷ đồng với trên 5.000ha, hỗ trợ bảo vệ rừng trên 1,5 tỷ với gần 8.000ha. Việc trồng rừng trong thời gian qua huyện không thực hiện, tuy nhiên trong năm 2011, huyện đã chỉ đạo phòng chuyên môn thực hiện đầu tư hỗ trồng rừng sản xuất theo Nghị quyết 30a được trên 100ha với tổng kinh phí cần phân bổ trên 500 triệu đồng.
Trong công tác quản lý bảo vệ rừng từ năm 2012 đến nay, huyện Mường Nhé đã phát hiện, xử lý 58 vụ, nộp ngân sách nhà nước trên 800 triệu đồng. Chương trình bảo vệ và phát triển rừng đã góp phần đáng kể làm tăng tỷ lệ che phủ rừng của huyện lên gần 56% vào năm 2014. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho người dân về Luật bảo vệ và phát triển rừng được Đảng bộ, chính quyền huyện đặc biệt quan tâm.
Công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn và tổ chức các phương án phòng cháy chữa cháy rừng; các chính sách hỗ trợ cho người dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng được huyện thực hiện tốt và kịp thời. Tuy nhiên, huyện Mường Nhé chưa hoàn tất thủ tục giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cho cộng đồng thôn bản nên chưa được hưởng chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Tại buổi giám sát, huyện Mường Nhé đã thẳng thắn trao đổi với đoàn giám sát HĐND tỉnh về những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình bảo vệ, phát triển rừng bền vững trên địa bàn huyện. Đồng thời, đưa ra nhiều giải pháp tích cực tạo điều kiện thuận lợi để tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.
Bà Giàng Thị Hoa, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh đã ghi nhận nỗ lực của huyện Mường Nhé trong công tác thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, phát triển rừng bền vững trên địa bàn huyện. Đồng chí yêu cầu, trong thời gian tới, huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho người dân về Luật bảo vệ và phát triển rừng; tăng cường phối hợp với sở, ngành tỉnh hoàn chỉnh các thủ tục giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để người dân được hưởng đầy đủ chế độ chính sách của nhà nước.
Bên cạnh việc bảo vệ, phát triển rừng, huyện Mường Nhé cần tập trung lãnh, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh từng bước nâng cao đời sống cho người dân, góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện. (Đài PTTH Điện Biên 18/6) đầu trang(
Việc tranh chấp đất rừng giữa người dân Lộc Yên với người dân Gia Phố huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh đã diễn ra hơn 10 năm nay. Vào đầu năm 2013, cùng với sự tham gia của tổ công tác tỉnh, huyện Hương Khê đã thống nhất được phương án giải quyết.
Theo đó 2 bên đã đồng ý phương án khai thác rừng trồng, đồng thời tiến hành đối thoại để xử lý diện tích tranh chấp. Vậy nhưng từ đó đến nay, mọi cuộc đối thoại đều rơi vào bế tắc. Trong khi tại hiện trường lại nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp khác.
Cách đây hơn 1 năm, những đồi keo, đồi thông ở đây đã được khai thác theo thỏa thuận giải quyết tranh chấp giữa người dân Gia Phố với người dân Lộc Yên. Trong khi tiếp tục đối thoại để thống nhất phương án phân chia đất rừng thì lẽ ra 2 bên phải giữ nguyên hiện trạng. Thế nhưng đến thời điểm hiện tại hầu hết diện tích đã lại phủ xanh thông keo. Bên cạnh những cây tái sinh tự nhiên thì cũng có rất nhiều cây được chính người dân trồng mới.
Quan điểm của huyện Hương Khê vào đầu năm 2013 là sau khi khai thác cây rừng sẽ tổ chức đối thoại để xử lý phần diện tích tranh chấp. Đáng tiếc là từ đó đến nay, mọi cuộc đối thoại đều rơi vào bế tắc. Sự việc dai dẳng đã gây ra nhiều phiền toái cho các cấp chính quyền trong công tác quản lý trên địa bàn.
Trao đổi với phóng viên ANTV, ông Trần Đình Lâm- Chủ tịch UBND xã Lộc Yên – Huyện Hương Khê,tỉnh Hà Tĩnh ông này cho biết: " Tại thời điểm này thì chưa giải quyết vấn đề quản lý địa phương đặc biệt người dân lợi dụng phát trồng cây đặc biệt là vào mùa nắng nóng thì một số đối tượng lợi dụng đốt rừng ảnh hưởng rất lớn việc quản lý tại địa phương".
Tại tiểu khu 226 gần như năm nào cũng xảy ra cháy rừng. Có những đám cháy do vô ý nhưng cũng có những đám cháy được xác định là do mâu thuẫn từ việc tranh chấp. Mới đây nhất, vào cuối tháng 5, ngọn lửa đã thiêu rụi hơn 15 ha. Đáng chú ý là ngoài lực lượng chức năng tham gia chữa cháy, hầu như người dân đã đứng ngoài cuộc. Đây là điều rất đáng để suy nghĩ.
Theo ông Ngô Xuân Ninh-Phó chủ tịch UBND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh cho biết " Người dân ở đây cho rằng rừng thuộc sở hữu của các chủ rừng, nên ai cũng chây ì gây khó khăn trong việc huy động người thực hiện việc chữa cháy tại các khu rừng. Hiện, chính quyền địa phương đang cố gắng làm rõ vấn đề này".
Việc tranh chấp đất rừng tại tiểu khu 226 giữa một số người dân Gia Phố với một số người dân Lộc Yên đã tồn tại từ hơn một chục năm qua. Có những thời điểm sự việc tưởng chừng như đã tìm thấy lối ra. Thế nhưng với diễn biến hiện nay, rất có thể sẽ lại phát  sinh những mâu thuẫn mới khi mà mâu thuẫn cũ vẫn chưa được giải quyết. (ANTV 18/6) đầu trang(
18/6, Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng đã tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường (DVMT) rừng.
Theo Ban quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng thì trong 3 năm qua, đơn vị đã triển khai nhiều giải pháp quản lý bảo vệ rừng, thực hiện các nguồn thu từ chi trả DVMT như thu từ cung ứng dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, bồi lắng lòng hồ, lòng suối, điều tiết và duy trì nguồn nước cho các nhà máy thủy điện trên sông Đồng Nai, sông Sêrêpốk; thu từ cung ứng dịch vụ nước sạch cho các nhà máy sản xuất nước trên hệ thống sông Đồng nai, sông Krông Nô, Sêrêpốk…
Hiện nay, diện tích rừng thực tế tham gia cung ứng DVMT rừng của khu bảo tồn là trên 14.190 ha; có 389 hộ dân tham gia nhận khoán quản lý bảo vệ rừng. Từ năm 2011 đến cuối năm 2013, Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng đã nhận được số tiền ủy thác DVMT rừng trên 8 tỷ đồng.
Để sử dụng nguồn kinh phí này đạt hiệu quả, hàng năm, đơn vị đã tiến hành giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trong vùng đệm của khu bảo tồn tại các xã Đắk Som của huyện Đắk Glong và Đạ K’nàng, Phi Liêng của huyện Đam Rông (Lâm Đồng).
Từ nguồn kinh phí này, đơn vị đã có điều kiện để triển khai quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng hiệu quả, bền vững diện tích rừng hiện có và quỹ đất quy hoạch cho phát triển và nâng cao năng suất, chất lượng của rừng... (Báo Đắc Nông 18/6) đầu trang(
Nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, đảm bảo kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm về khai thác, vận chuyển và phá rừng trái pháp luật trên địa bàn các huyện, thành phố, đặc biệt là một số khu vực trọng điểm, khu vực biên giới và để nâng cao hiệu quả hoạt động của các Trạm Kiểm soát liên ngành trong thời gian tới; 13/6/2014, UBND tỉnh ban hành văn bản 1442/UBND-KTN V/v tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và hoạt động của các Trạm Kiểm soát liên ngành, UBND tỉnh yêu cầu các Sở, ngành, đơn vị có liên quan triển khai một số nội dung trọng tâm như sau:
Tiếp tục duy trì hoạt động 08 Trạm kiểm soát liên ngành do UBND tỉnh thành lập.
Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chỉ đạo các Đồn biên phòng có liên quan; Bộ chỉ huy quân sự tỉnh chỉ đạo Ban chỉ huy quân sự huyện Ngọc Hồi, Đăk Tô; UBND các huyện Đăk Tô, Đăk Glei chỉ đạo UBND xã Kon Đào - huyện Đăk Tô, UBND xã Đăk Long - huyện Đăk Glei cử cán bộ, chiến sĩ tham gia các Trạm đủ số lượng và đảm bảo thời gian làm việc tại Trạm theo đúng tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh tại các Quyết định thành lập Trạm; quán triệt cán bộ, chiến sỹ nêu cao tinh thần trách nhiệm để thực hiện tốt nhiệm vụ dược giao.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Sa Thầy, Công ty TNHH MTV MTV lâm nghiệp Đăk Hà chỉ đạo các Trạm thuộc thẩm quyền quản lý, xây dựng và ban hành Nội quy, Quy chế làm việc của Trạm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên để đảm bảo tính thống nhất, tính kỹ luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại Trạm. Có giải pháp bố trí công cụ hỗ trợ, kinh phí cho các Trạm để sửa chữa tạm thời và giải quyết những khó khăn trước mắt; quán triệt, vận động cán bộ và chiến sỹ đang công tác tại các Trạm khắc phục khó khăn, yên tâm công tác, triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được giao.
UBND các huyện, thành phố lập các chốt liên ngành trên địa bàn khi cần thiết để thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra, truy quét nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có giải pháp để tiếp tục quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất của một số Trạm Kiểm lâm địa bàn tại các huyện Tu Mơ Rông, Ngọc Hồi, tránh tình trạng không sử dụng để cho cơ sở vật chất xuống cấp, hư hỏng.... (VP UBND tỉnh Kon Tum 18/6) đầu trang(
Nhằm hỗ trợ các gia đình trồng rừng trên địa bàn tỉnh tham gia quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ FSC, 6 tháng đầu năm 2014, Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Trị phối hợp tổ chức WWF Việt Nam đã tiến hành đánh giá và cấp chứng chỉ rừng tại các xã: Cam Chính, Cam Nghĩa, Cam Thành và thị trấn Cam Lộ (huyện Cam Lộ).
Đến thời điểm này, toàn tỉnh có 15.570 ha rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó chứng chỉ rừng cho nhóm hộ gia đình 861 ha; chứng chỉ rừng cấp cho các công ty lâm nghiệp 14.709 ha.
Theo ông Hoàng Đức Doanh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp Quảng Trị, thời gian tới Chi cục Lâm nghiệp tiếp tục phối hợp các tổ chức quốc tế đẩy mạnh hoạt động chương trình dự án Quản lý kinh doanh rừng bền vững trên địa bàn tỉnh. Phấn đấu trong năm 2014 sẽ nhân rộng mô hình cấp chứng chỉ rừng thêm cho các nhóm hộ gia đình ở các huyện: Cam Lộ, Hải Lăng và Công ty Lâm nghiệp Đường 9, nâng diện tích rừng trồng được cấp chứng chỉ FSC trên địa bàn toàn tỉnh lên khoảng 20.000 ha. (Báo Quảng Trị 19/6) đầu trang(
Khi những cánh rừng đã “đóng”, cơ hội để gỗ rừng về phố thật hiếm hoi. Không vì vậy mà thú chơi đồ gỗ mỹ nghệ phải chết, dân chơi Đà Nẵng tận dụng những loài cây không mấy giá trị để thỏa mãn thú chơi của mình.
Để tìm được những gốc cây rễ cây thuộc nhóm I, quả thực là một điều khó khăn trong thời buổi hiện nay. Dân chơi phải lùng sục các miền sơn cước, nơi mà rừng rú vẫn còn thì để dịch chuyển được chúng từ rừng về phố, ít nhất dân chơi phải bỏ ra số tiền đến tám con số, có khi cả chín con số là chuyện thường. Vì vậy không phải ai cũng chơi được thú chơi này. Đam mê thôi chưa đủ, cần một tiềm lực kinh tế thực sự .
Anh Hoàng Hùng (43 tuổi) là chủ một cơ sở tiện, chạm, điêu khắc đồ gỗ mỹ nghệ ở Q. Liên Chiểu (Đà Nẵng) cho hay: “Những năm về trước nhóm gỗ loại I còn thấy đưa đến đây để tạo thế, bây giờ thì ít gặp rồi. Lâu lắm mới có người kiếm được, cũng chả biết rừng hết gỗ quý hay cơ quan chức năng làm gắt quá nữa”. Trong lúc gỗ rừng đã thưa dần, dân chơi gỗ mỹ nghệ vẫn lùng sục từng ngày, gieo giá khá đắt những gốc cây có thế thành, ai có được những gốc cây ấy xem như có bảo bối trong tay. 

Chỉ vào gốc xà cừ trước mặt, anh Hùng bảo rằng gốc cây xà cừ này có thế, có thể làm bàn ngồi uống trà, rượu được. Nhưng phải qua 2 tháng với 6 thợ dày công đục đẽo mới ra hồn. Người ngoài nghề nhìn vào thì gốc cây chỉ là gốc cây, chứ dân trong nghề thì thấy bàn ghế, tượng, phù điêu... Chính cái gốc xà cừ to đùng đến mấy chục năm tuổi này là sản phẩm của quá trình mở rộng đường sá, giải phóng mặt bằng. Phần thân đã cắt, còn phần gốc rễ, máy múc đào bới nhổ lên, bán vài ba triệu. Là một loài không nằm trong nhóm các loại gỗ quý hiếm, xà cừ có thể vô tư thành bàn thành ghế mà không phải lo lắng rằng phạm “luật rừng”.
Chính vì vậy, mỗi khi có người gọi bán gốc xà cừ là các chủ mộc mỹ nghệ đến ngay, vì ở phố đây là hàng độc. Một bộ bàn ghế xà cừ hoàn thiện, được chạm trổ mây trời, rồng rắn có giá cả trăm triệu đồng. Riêng cái bàn đã đến 50, 60 triệu đồng. Còn ghế thì mỗi cái chục triệu bạc là chuyện thường tình. Tiền gỗ không bao nhiêu nhưng tiền công thì vô khối, mà thợ thầy để làm cái việc này phải là những người có tay nghề cao và đầu óc tưởng tượng.
Anh Hùng chia sẻ: “Những gốc cây khi mới múc đào lên thì vô hồn lắm, chỉ có dân chơi hay những người làm nghề mới nhận ra cái giá trị của nó. Mất một thời gian khá dài để đẽo gọt, tiện khắc lên trên đó, phải vào nước nhiều lần để gỗ giữ được lâu. Vì gỗ xà cừ thực chất cũng không tốt lắm, chỉ là gỗ nhà thôi”.
Tương tự, gốc mít lâu niên cũng là một loài gỗ vườn được săn rùng ráo riết. Những cây mít lâu năm thường có một màu vàng óng ả, toát lên một vẻ sang trọng, đài cát. Thân mít to thường được các chủ gỗ mua để làm cột chống nhà rường, gỗ thân thì giá khá cao, hầu hết mít lâu niên trên địa bàn Đà Nẵng không còn. Chỉ còn lại gốc, nhưng gốc cũng phải lặn lội lên miệt rừng ở Hòa Vang mới kiếm được. Không có gỗ quý hiếm, mít nhà lâu niên cũng trở thành hàng độc. Nghe chủ gỗ bảo rằng, bây giờ tìm ra một cây mít lâu niên ở đất Đà thành còn nguyên vẹn là rất khó. Thân mít cỡ một người ôm trở lên đã bị các chủ làm nhà rường lùng sục, đưa ra Huế để làm cột chống và xuyên kèo.
Mốt làm bàn ghế bằng gốc cây cổ thụ thịnh hành, mít nhà thuộc vào danh mục truy lùng. Một dân chơi trên địa bàn Đà Nẵng cho hay, mít có hai loại, nếu mít ướt thì vân không óng ả, màu vàng đục. Còn mít ráo thì màu vàng tươi, sau khi đánh dầu bóng, lên nước vàng sánh như mật ong. Có bộ bàn ghế làm bằng gỗ mít trong nhà thì tựa bảo bối. Dân ta thường quan niệm rằng màu vàng là màu của sự vương giả, sang trọng nên chơi bàn ghế bằng gỗ mít là rất hợp mốt. Nhưng có điều gỗ mít phải bảo quản một cách cẩn thận, nếu lâu ngày mà bị ánh nắng chiếu vào sẽ lập tức bị nứt nẻ.
Thông thường, một gốc cây khi đưa về phải được gọt bỏ lớp giác (thân non) cho đến khi nào gặp roòng (vân) mới thôi, tiếp theo sẽ dựa vào thế của mỗi phần rễ để tạc hình tượng, có thể là lân, ly, quy, phụng hoặc mây núi. Sau đó dùng máy để làm nhẵn gỗ, các chi tiết không làm nhẵn được bằng máy thì phải chùi tay bằng giấy nhám. Sau đó lên nước nhiều lần cho gỗ, đến lúc nào nước gỗ sáng bóng và phản chiếu ánh sáng mới thôi. Ngay đến tràm hoa vàng lâu năm cũng được chú ý, những gốc tràm khoảng 30 tuổi trở lên, nếu mọc trên đất đá sỏi cằn cỗi thì vân gỗ rất tốt, có thể chế tác.
Thú chơi đồ gỗ mỹ nghệ bằng gỗ vườn trông cậy chủ yếu vào tay nghề của người thợ. Một người thợ lành nghề sẽ biết phơi gỗ, phạt gỗ (lấy những phần có khả năng bị hư hại), lên nước để giữ được lâu dài.
Qua tiếp xúc với những xưởng đồ gỗ mỹ nghệ, các chủ xưởng cố công thuê bằng được những người thợ từ xứ Huế. Nghe họ bảo rằng thợ mộc mỹ nghệ Huế có tay nghề rất cao, đặc biệt là những vật dụng liên quan đến thờ cúng hay trang trí cung đình.
Trần Văn Lương (46 tuổi) là một thợ mộc mỹ nghệ có tay nghề cao được chủ xưởng Đà thành thuê mướn làm việc. Quê ở Bao Vinh - Huế, nơi có nhà cổ Bao Vinh nên anh Lương rất giỏi về kỹ nghệ điêu khắc và giữ gỗ tránh mối mọt, mưa gió. Hơn 30 năm trong nghề, được mời dạy cho những trẻ em cơ nhỡ và tật nguyền ở TP Tam Kỳ (Quảng Nam), từng xách búa đục đi khắp Tây Nguyên để chế tác đồ gỗ mỹ nghệ cho những người lắm tiền nhiều của nên chủ xưởng nào cũng mong muốn có một người thợ như anh trong tay.
Anh Lương cho biết, ở Đà thành hiện nay có trên 20 nhóm thợ mộc người Huế vào làm việc. Được các chủ xưởng trả công khá cao để xử lý những sản phẩm đắt giá. Anh bảo: “ Gỗ lạt bữa nay hiếm lắm, nhất là những loài có tên có tuổi. Không dễ gì có được một bộ bàn ghế làm bằng gỗ trắc, hương, lim…vì vậy dân chơi phải quay sang nhóm gỗ vườn như xà cừ, mít, tràm. Nhìn chung gỗ này không được tốt lắm nhưng qua quá trình chế tác của những người lành nghề thì độ bền cao hơn nhiều”.
Vì vậy dân chơi đồ gỗ mỹ nghệ bằng gỗ nhà thường chọn những xưởng có thợ Huế để gửi gắm “đứa con” của mình. Cũng một nhóm gỗ nhưng cách xử lý khác nhau sẽ cho ra những sản phẩm khác nhau, quan trọng nhất của gỗ nhà chính là độ bền, không bị mối mọt và nứt nẻ.
Thú chơi đồ gỗ đã có từ lâu đời. Trong thời kim khí và “đóng cửa rừng” hiện nay thì chuyển sang gỗ vườn để chế tác có thể là một biện pháp để giữ gìn những cánh rừng mãi xanh. Khi đó sẽ không còn những người “cùn” lắm mới phải vào rừng nữa. (Công An Đà Nẵng 19/6) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo phóng viên TTXVN tại Sydney, ngày 18/6, Chính phủ Australia cho biết Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận nỗ lực to lớn của Australia trong việc bảo tồn rạn san hô lớn nhất thế giới "Great Barrier Reef."
Tuyên bố trên được đưa ra ngay sau khi cuộc họp thường kỳ ngày 18/6 của Ủy ban Di sản Thế giới tại Doha quyết định chưa đưa rạn san hô "Great Barrier Reef" vào danh sách Di sản thế giới đang lâm nguy.
Thay vào đó, Ủy ban Di sản Thế giới gia hạn cho Australia tới ngày 1/2/2015 chứng minh được rằng nước này đang tiếp tục nỗ lực bảo vệ rạn san hô "Great Barrier Reef."
Bộ trưởng Môi trường Australia Greg Hunt cho biết ông hài lòng với quyết định này, đồng thời khẳng định Australia tự hào về những công việc đã làm được để bảo vệ hệ sinh thái "Great Barrier Reef" kéo dài tới 2.300km. Bộ trưởng Greg Hunt cho biết UNESCO thừa nhận các nỗ lực của Australia đang đạt kết quả.
Tuy nhiên, ông Richard Leck, người phát ngôn Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên tại Australia, kêu gọi Australia phải lập tức cấm tất cả các dự án cho phép đổ đất bùn nạo vét trong Marine Park thuộc "Great Barrier Reef."
Trước đó, trong tháng Tư vừa rồi, UNESCO đã cảnh báo có thể đưa "Great Barrier Reef" vào danh sách Di sản thế giới đang lâm nguy do rạn san hô này xuống cấp nghiêm trọng.
Cùng với việc đầu tư khoảng 180 triệu AUD (169,8 triệu USD) mỗi năm cho các dự án bảo vệ "Great Barrier Reef," chính quyền Australia và tiểu bang Queensland gần đây còn đưa ra một loạt biện pháp mới bảo tồn rạn san hô lớn nhất thế giới như áp dụng khung quản lý mới, nghiên cứu tổng thể ảnh hưởng từ các hoạt động của con người và tự nhiên. (Vietnam+ 19/6) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang