|
Ngày 19 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu điều tra làm rõ vụ phá rừng phòng hộ Tiên Lãnh (Quảng Nam)
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, lực lượng kiểm lâm đang theo dõi một đàn voi gồm 4 con voi con và nhiều cặp voi bố, mẹ tại khu rừng thuộc địa bàn xã Thanh Sơn, huyện Định Quán.
Trước đó, tại khu vực rừng thuộc địa bàn xã Thanh Sơn cũng có một số đàn voi rừng thường kéo về ăn cây trái, phá rẫy của người dân.
Tuy nhiên, vài ngày trở lại đây, người dân và lực lượng kiểm lâm đã phát hiện đàn voi hoàn toàn mới này.
Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai hiện đang theo dõi sát đàn voi trên, đồng thời tuyên truyền cho người dân các biện pháp phòng tránh khi gặp voi để bảo đảm an toàn.
Được biết tại khu vực voi xuất hiện đã có hàng rào điện để ngăn không cho voi vào sâu trong khu vực dân cư phá hoa màu nên người dân. (Đại Đoàn Kết 18/9)đầu trang(
Những ngày qua phóng viên báo Đại Đoàn Kết liên tục nhận được thông tin từ người dân phản ánh tình trạng rừng phòng hộ ở Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước (Quảng Nam) đang bị tàn phá dữ dội.
Một người dân địa phương đã đồng ý dẫn chúng tôi vào rừng nhưng thận trọng cho biết: “Tôi vì quá bức xúc nên chấp nhận mạo hiểm đi với mấy chú, mình phải ngụy trang như người đi hái nấm, cùng với đó các thiết bị tác nghiệp đề nghị các chú che giấu cẩn thận”.
Sáng ngày 17/9, trao đổi với phóng viên Báo Đại Đoàn Kết, ông Huỳnh Tấn Đức, giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết, trước phản ánh của người dân về vụ phá rừng ở Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước, ông đã yêu cầu Chi cục Kiểm lâm, kiểm tra và có báo cáo vào thứ 2 tuần tới để xem xét xử lý vấn đề.
Những ngày qua, chúng tôi liên tiếp nhận được thông tin của người dân cấp báo, rừng phòng hộ đầu nguồn huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam bị tàn phá tan hoang.
Qua trò chuyện, tiếp xúc, ai cũng khẳng định tình trạng phá rừng tại địa phương đã và đang diễn ra ngày một nghiêm trọng. Một người dân địa phương chấp nhận dẫn chúng tôi vào rừng, thận trọng cho biết: “Tôi vì cái chung và quá bức xúc chấp nhận đi với mấy chú, nhưng mình phải nguỵ trang như người đi hái nấm, cùng với đó các thiết bị tác nghiệp đề nghị các chú che giấu cẩn trọng”.
Theo khu vực đang xây dựng thủy điện Sông Tranh 3, sau khi đi hàng cây số để đến Nà Cau - địa điểm giáp ranh để vào tiểu khu 557 thuộc rừng phòng hộ Tiên Lãnh chúng tôi tiếp tục những chặng đường lội qua suối Nà Cau lên đến dốc Giằng Mặt, mất hơn 1 giờ cuốc bộ chúng tôi đến khu vực Đuôi Dài. Từ đây bắt đầu chứng kiến cảnh phá rừng kinh khủng.
Khi vào đến khu vực rừng bị tàn phá, trước mắt chúng tôi là khoảng rừng hơn 10 ha đã bị đốn hạ, đốt cháy, trơ ra những gốc cây có đường kính từ 60-80 cm, còn thân cây đã bị cưa lấy gỗ. Nhiều gốc cây có đường kính từ 20-50 cm vẫn còn trơ gốc cùng những nhánh cành bị đốt cháy đen.
Theo ghi nhận, khu vực rừng bị tàn phá nặng nề thuộc rừng phòng hộ đầu nguồn Tiên Lãnh là một trong ba xã thuộc vùng Lãnh Ngọc Hiệp có diện tích rừng tự nhiên khá lớn. Chỉ riêng xã Tiên Lãnh, diện tích rừng phòng hộ nơi đây khoảng 2.000ha. Những năm gần đây, khi cây keo có giá thì người dân đua nhau mở rộng diện tích bằng cách phá rừng.
Người dẫn đường cho biết, rừng phòng hộ Tiên Lãnh giờ chỉ còn 2 tiểu khu 556 và 557. Những tiểu khu khác như 551, 552, 553 cơ bản đã bị xoá sổ thay vào đó là những diện tích keo. Tiếp tục băng rừng để đến với suối Cửa Cá đổ ra Sông Tranh, tại đây có một con đường mòn dành cho trâu trâu kéo gỗ đang bị cày nát, nhiều nơi lún sâu cả mét đã cho thấy số lượng gỗ mà trâu đã kéo qua đây vô cùng khủng khiếp.
Cả khu rừng nguyên sinh rộng lớn hàng chục ha bị đốn sạch. Những loài gỗ quý bị triệt hạ để trâu kéo ra khỏi rừng, thậm chí những cây gỗ lớn chưa chuyển kịp vẫn còn nơi đây. Ở khu vực này là đồi núi cao, giáp với huyện Bắc Trà My, xe ô-tô không thể vào được nên để đưa gỗ ra khỏi rừng chỉ có cách dùng trâu kéo rồi sau đó kết bè thả xuống Sông Tranh rồi tập kết vận chuyển về đồng bằng tiêu thụ.
Sau khi đi cả ngày nhưng không thể đến hết các điểm tàn phá rừng, nhóm phóng viên chúng tôi tiến ra bìa rừng và xin ở lại qua đêm nhà một người dân và ngày hôm sau tiếp tục đến với những khu rừng bị tàn phá. Qua tiếp xúc với nhiều người dân, họ đặt ra câu hỏi, liệu rừng bị tàn phá như thế này thì có ai tiếp tay hay không?
Dừng chân nghỉ cùng vài người hái nấm ở khu vực này, khi được hỏi, tại sao rừng nguyên sinh bị tàn phá tan tành? một người đàn ông tên H. đưa tay chỉ những cánh rừng ở phía dưới và cho biết: “Vùng kế dưới đó cũng là rừng phòng hộ nhưng đã bị phá hết từ nhiều năm nay. Bây giờ bọn họ tiến lên phá đến tiểu khu 556, 557 rồi. Các anh thấy đó, có còn chi nữa rừng trơ trọc hết rồi. Chúng tôi cũng không biết họ dựa vào ai mà tàn phá rừng tan hoang vậy”.
Ông H. còn cho biết: “Từ rừng Cửa Cá đến thác Năm Tầng giáp Bắc Trà My trước đây xanh tốt nhưng cách đây khoảng 1 tháng cảnh phá rừng nhộn nhịp lắm. Xe tải vận chuyển gỗ chạy ầm ầm suốt đêm nhưng không thấy bóng dáng lực lượng chức năng đâu. Giờ thì cơ bản đã xoá sạch rừng rồi”.
Nhiều người dân xã Tiên Lãnh cho biết, trước đây do thiếu đất sản xuất, diện tích rừng tự nhiên gần khu vực dân cư nên có những người dân địa phương đã có hành vi lén lút phá rừng để trồng keo, khi bị phát hiện đã bị phạt nặng.
Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, trước đây, một số hộ có rừng sản xuất giáp với rừng phòng hộ tiểu khu 556 nên đã tự ý cơi nới thì bị chính quyền địa phương xử phạt hành chính từ 3 đến 20 triệu đồng. Cụ thể, như hộ chị Thu tự ý phá thêm 10 sào đất rừng phòng hộ bị phạt 3 triệu đồng; hộ anh Tân phá hơn 10ha bị phạt 23 triệu đồng; anh Võ Xuân Hùng tự ý xâm chiếm 8 sào thì bị phạt 5 triệu,… Chính vì thế người dân địa phương không ai dám tự ý xâm lấn vào rừng nữa.
Một cán bộ thôn 8, xã Tiên Lãnh bức xúc: “Thôn cũng được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng, nên khi đi kiểm tra, hễ phát hiện nơi đâu xảy ra phá rừng, chúng tôi làm báo cáo gửi ngay cho UBND xã Tiên Lãnh để có hướng xử lý. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thấy có giải pháp gì để ngăn chặn, chấn chỉnh. Kết cục là các cánh rừng thuộc lâm phận các thôn trên địa bàn xã vẫn liên tiếp bị tàn phá”.
Chính vì vậy mà người dân đặt ra câu hỏi, phải chăng có kẻ tiếp tay mà rừng phòng hộ bị tàn phá thê thảm. Vậy kẻ đó là ai, ở đâu? Vì mục đích gì mà họ nganh nhiên tấn công rừng? Cần phải làm rõ vấn đề này. Rừng phòng hộ bị tàn phá nặng nề, thế nhưng qua tìm hiểu cho thấy, đến nay chưa có các ngành chức năng nào vào hiện trường thống kê diện tích rừng phòng hộ nơi đây bị triệt phá.
Ông Huỳnh Tấn Đức, Giám đốc Sở NN&PTNT khẳng định với phóng viên Báo Đại Đoàn Kết: “Phải chờ Chi cục Kiểm lâm có báo cáo cụ thể, chúng tôi sẽ xem xử lý vấn đề. Nhưng tôi cam kết, sai đến đâu thì sẽ xử lý đến đó, không có vùng cấm và sớm ngăn chặn triệt để tình trạng phá rừng không chỉ ở Tiên Lãnh mà bất cứ nơi đâu trên địa bàn Quảng Nam”.
Cho dù ông Đức khẳng định như vậy, nhưng thực tế cho thấy, đây không phải là lần đầu rừng phòng hộ bị tàn phá.
Đại Đoàn Kết đã liên tục có nhiều bài viết phản ánh tình trạng phá rừng ở Quảng Nam như các vụ phá rừng ở các rừng phòng hộ như Phú Ninh, Sông Tranh 2, Sông Thanh cùng với đó là những vụ phát hiện, bắt giữ gỗ lậu. Có những vụ việc đã khởi tố vụ án phá rừng, nhưng sau đó chẳng thấy bị can nào bị khởi tố.
Còn đối với vụ phá rừng lần này, người dân địa phương cho rằng, tổng diện tích rừng ở khu vực này đã bị xóa sổ trên 300ha. Trong đó, chỉ riêng ở tiểu khu 556, rừng gần như đã bị xóa sổ, ước tính hơn 100ha bị triệt hạ.
Trước sự việc nghiêm trọng, ông Lê Văn Sơn, Bí thư xã Tiên Lãnh xác nhận, việc người dân phá rừng phòng hộ lấy đất trồng keo diễn ra từ lâu và việc phá rừng ở đây rất nghiêm trọng. Tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên bị phá chính quyền chưa xác định bao nhiêu, con số thống kê chỉ dựa trên những vụ phá rừng đã bị kiểm tra, xử lý.
Ông Sơn cho biết, địa bàn thì quá rộng, lực lượng kiểm lâm mỏng, nguồn kinh phí cho công tác tuần tra kiểm soát hạn chế nên không quản lý hết được… Cũng theo ông Sơn, có nhiều vụ phá rừng phát hiện và bàn giao cho kiểm lâm xử lý, tuy nhiên chế tài xử phạt nhẹ, không đủ răn đe.
Cụ thể như vào tháng 3/2016, chính quyền phát hiện ông Đinh Văn Hiếu, trú xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước thuê 3 người đốn hạ hơn 1 hecta rừng phòng hộ và đang chuẩn bị chặt phá 3,5 hecta tại khoảnh 6, tiểu khu 577. Thế nhưng sau đó, ông Hiếu chỉ bị kiểm lâm xử phạt 750 ngàn đồng. "Chúng tôi đã đã nhiều lần yêu cầu cấp trên tăng cường lực lượng cho địa phương để bảo vệ rừng, tuy nhiên đến nay chưa được như ý”.
Càng đáng nói hơn, khi ông Bùi Văn Tưởng - trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam cho rằng, thông tin hàng trăm hecta rừng phòng hộ Tiên Lãnh bị phá thì ông chưa nắm rõ, sẽ cho kiểm tra và thông tin lại sau. Ông Tưởng cũng cho biết: “Ngày 17/8 vừa qua, lực lượng kiểm lâm tổ chức truy quét bắt được 7 người đồng bào Ca Dong trú huyện Bắc Trà My đang phá rừng tại khoảnh 5, tiểu khu 556. Qua kiểm đếm có 7ha rừng bị phá. Những người phá rừng khai nhận họ đi làm thuê cho một người ở xã Tiên Lãnh. Sắp tới CQĐT sẽ lên khám nghiệm hiện trường để có hướng xử lý”.
Dư luận bức xúc vì nạn phá rừng ở Tiên Lãnh diễn ra công khai, trong thời gian dài, bất chấp pháp luật. Rừng phòng hộ ở Tiên Lãnh sẽ còn bị tàn phá đến bao giờ? xin gửi câu hỏi này đến Chi cục Kiểm lâm và Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Nam. (Đại Đoàn Kết 18/9)đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu điều tra làm rõ vụ phá rừng phòng hộ Tiên Lãnh (Quảng Nam)
Liên quan đến vụ phá hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ Tiên Lãnh, ngày 18-9, Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến yêu cầu tỉnh Quảng Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra làm rõ vụ phá rừng phòng hộ ở xã Tiên Lãnh (H. Tiên Phước) theo thông tin báo chí phản ánh.
Theo đó, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Quảng Nam xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo đúng quy định pháp luật, báo cáo kết quả đến người đứng đầu Chính phủ...Về vụ phá rừng nghiêm trọng trên, ông Lê Trí Thanh - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết đã nắm được thông tin và yêu cầu các ngành chức năng vào cuộc làm rõ.
Ông Huỳnh Tấn Đức - Giám đốc Sở NN&PTNT Quảng Nam cho biết, sau khi nắm được thông tin vụ phá rừng ở xã Tiên Lãnh, ông đã yêu cầu Chi cục Kiểm lâm kiểm tra và có báo cáo để xem xét xử lý vấn đề. “Tôi cam kết sai đến đâu sẽ xử lý đến đó, không có vùng cấm và sớm ngăn chặn triệt để tình trạng phá rừng không chỉ ở Tiên Lãnh mà bất cứ nơi đâu trên địa bàn Quảng Nam”- ông Đức nhấn mạnh. (Công An TP. Đà Nẵng 19/9)đầu trang(
Xin ở lại qua đêm tại nhà một người dân, sáng hôm sau, theo chỉ dẫn, từ trung tâm xã Tiên Lãnh, chúng tôi men theo đường vào rừng. Men theo đường mòn lội qua suối Đá Mài, lên đồi Khu Tưởng Niệm rồi tiến vào Gềnh Giăng. Trên đường đi, chúng tôi bắt gặp nhiều phách gỗ có chiều dài hơn 3m được vận chuyển xuống tập kết tại đây.
Tiếp tục men theo đường mòn trâu kéo gỗ, đi khoảng 40 phút, chúng tôi đến được rừng Xai Mưa. Từ đây nhìn quanh, nhiều khoảnh rừng của Tiểu khu 556 cháy đen loang lổ trông như lớp da báo giữa những cánh rừng vốn dĩ phải được bảo vệ nghiêm ngặt.
Theo người dân địa phương cho biết, trước đây khu vực này có nhiều loại gỗ quý như lim, sến, kiền kiền nhưng đã bị lâm tặc đốn hạ. Những năm gần đây các loại gỗ còn lại như chò, quảnh, sơn nghệ, chuồng... nhưng cũng đã bị xóa sổ. Như Tiểu khu 557, khu vực này đồi núi cao, giáp với H. Bắc Trà My ô-tô không thể vào được, nên để đưa gỗ về xuôi, chúng chỉ có cách dùng trâu kéo gỗ ra khỏi rừng rồi kết bè thả xuống Sông Tranh, sau đó tập kết và vận chuyển về đồng bằng tiêu thụ.
Còn khu vực 556 này, do gần rừng sản xuất nên các loại gỗ được các đối tượng dễ dàng vận chuyển về xuôi trực tiếp bằng ô-tô tải. Theo quan sát, ở đây hầu như các loại gỗ to đều được thu gom sạch. Hiện trường chỉ còn những cây nhỏ được đốt phá lấy đất để trồng keo. Gần bên những vạt keo vừa mới trồng trong mùa mưa năm ngoái nay đã lên xanh ngang đầu gối.
“Phá hết rồi các chú à! Vùng kế dưới cũng là rừng phòng hộ nhưng đã bị phá hết từ nhiều năm nay. Bây giờ bọn nó lên phá đến Tiểu khu 556, 557 rồi. Từ rừng Cửa Cá đến thác Năm Tầng giáp Bắc Trà My cũng vừa bị phá cách đây 1 tháng. Giờ thì hết nhộn nhịp rồi, chứ trước đây xe tải vận chuyển gỗ chạy ầm ầm suốt đêm nhưng không thấy bóng dáng lực lượng chức năng đâu” - ông H. một người đi hái nấm lim chúng tôi tình cờ gặp bên đường cho biết.
Khu vực này đường sá khó đi lại, nếu trồng keo sau này chở đi đâu bán? Tôi hỏi, ông H. cho biết hiện thủy điện Sông Tranh 3 đang xây dựng, khi tích nước khu vực lòng hồ ngập lúc đó gỗ keo không thể vận chuyển về hướng xã Tiên Lãnh tiêu thụ. Do vậy chỉ có cách mở đường qua H. Bắc Trà My tiêu thụ. Bởi từ đây qua đó rất gần, do đó nhiều người “đi tắt đón đầu” phá rừng để trồng keo, chờ cơ hội có đường kiếm lợi nhuận...
Người dân xã Tiên Lãnh cho biết, trước đây do thiếu đất sản xuất, diện tích rừng tự nhiên gần khu vực dân cư nên người dân địa phương cũng có phá để trồng keo. Còn thời gian gần đây, người ở đâu đến thuê người đồng bào thiểu số chặt phá rừng. Hỏi họ làm cho ai thì họ chỉ nói là ông chủ gọi đi làm chớ không dám nói tên. “Trước đây, một số hộ có rừng sản xuất giáp với rừng phòng hộ Tiểu khu 556 nên đã tự ý cơi nới thì bị chính quyền địa phương xử phạt hành chính 3 - 20 triệu đồng.
Cụ thể, như chị Thu tự ý phá thêm 10 sào đất rừng phòng hộ bị phạt 3 triệu đồng; anh Tân phá hơn 10ha bị phạt 23 triệu đồng; anh Võ Xuân Hùng tự ý xâm chiếm 8 sào thì bị phạt 5 triệu... Từ đó, người dân địa phương không ai dám tự ý xâm lấn rừng nữa. Vậy mà chỉ trong 2 năm trở lại đây, hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ Tiểu khu 556 đã bị xóa sổ. Các đối tượng có người tiếp tay nên mới dám lộng hành như vậy” - ông H. thông tin thêm.
Chúng tôi được biết, ở đây các thôn được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng. Khi các nhóm hộ phát hiện các vụ phá rừng đều có báo cáo gửi lên lãnh đạo UBND xã Tiên Lãnh. “Chúng tôi thường xuyên đi kiểm tra, hễ phát hiện nơi đâu xảy ra phá rừng, chúng tôi làm báo cáo gửi ngay cho UBND xã Tiên Lãnh để có hướng xử lý. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thấy có giải pháp gì để ngăn chặn, chấn chỉnh. Kết cục là các cánh rừng thuộc lâm phần các thôn trên địa bàn xã vẫn liên tiếp bị tàn phá...” - ông B., một cán bộ thôn 8, xã Tiên Lãnh bức xúc.
Qua tìm hiểu cho thấy, đến nay chưa có các ngành chức năng nào vào hiện trường thống kê đầy đủ diện tích rừng phòng hộ nơi đây bị triệt phá. Có chăng ngành Kiểm lâm chỉ thống kê vài vụ phá rừng nhỏ lẻ để có “báo cáo” hằng năm. Nhưng theo thông tin từ người dân địa phương, tổng diện tích rừng ở khu vực này đã bị xóa sổ trên 500ha. Trong đó, chỉ riêng diện tích rừng bị tàn phá ở Tiểu khu 556 gần như đã bị “xóa sổ”, ước tính hơn 300ha rừng ở đây đã bị triệt hạ.
Trước sự việc nghiêm trọng trên, trao đổi với chúng tôi, ông Lê Văn Sơn - Bí thư xã Tiên Lãnh xác nhận việc người dân phá rừng phòng hộ lấy đất trồng keo diễn ra từ lâu. Theo ông Sơn, việc phá rừng ở đây rất nghiêm trọng, tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên bị phá chính quyền chưa xác định bao nhiêu, con số thống kê chỉ dựa trên những vụ phá rừng đã bị kiểm tra, xử lý.
“Do lực lượng kiểm lâm mỏng, địa bàn rộng lớn, nguồn kinh phí cho công tác tuần tra kiểm soát hạn chế nên không quản lý hết được. Ngoài ra, khi tổ chức tuần tra thì bị người dân theo dõi, khi thấy lực lượng chức năng đi kiểm tra thì các đối tượng đã gọi điện thông báo cho người phá rừng chạy thoát. Song mới đây, lực lượng chức năng cũng đã bắt được 7 người phá rừng, hiện vụ việc do kiểm lâm thụ lý” - ông Sơn lý giải.
Bên cạnh đó, ông Sơn cũng cho rằng có nhiều vụ phá rừng phát hiện và bàn giao cho kiểm lâm xử lý, tuy nhiên chế tài xử phạt nhẹ, không đủ răn đe. “Tháng 3-2016, chính quyền phát hiện ông Đinh Văn Hiếu (trú xã Tiên Hiệp, H. Tiên Phước) thuê 3 người đốn hạ hơn 1ha rừng phòng hộ và đang chuẩn bị chặt phá 3,5ha tại khoảnh 6, Tiểu khu 577. Thế nhưng sau đó ông Hiếu chỉ bị kiểm lâm xử phạt 750 ngàn đồng” - ông Sơn dẫn chứng và thông tin thêm, chính quyền đã nhiều lần yêu cầu cấp trên tăng cường lực lượng cho địa phương để bảo vệ rừng, tuy nhiên đến nay chưa được chấp thuận.
Trong khi đó, ông Bùi Văn Tưởng - Trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam cho rằng, thông tin hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ Tiên Lãnh bị phá như P.V phản ánh chưa nắm rõ, sẽ cho kiểm tra và thông tin lại sau. Tuy nhiên, ông Tưởng cũng cho biết, ngày 17-8 vừa qua, lực lượng tổ chức truy quét bắt được 7 người đồng bào Ca Dong trú H. Bắc Trà My đang phá rừng tại khoảnh 5, Tiểu khu 556. Qua kiểm đếm có 7ha rừng bị phá. “Qua làm việc, những người này khai nhận mình đi làm thuê cho ông Phùng Văn Bảy (trú xã Tiên Lãnh). Sắp tới, CQĐT sẽ lên khám nghiệm hiện trường để có hướng xử lý” - ông Tưởng nói.
Có thể thấy, nạn phá rừng ở Tiên Lãnh diễn ra công khai, trong thời gian dài, bất chấp pháp luật. Thế nhưng các ngành chức năng địa phương không mấy “mặn mà” trong cách xử lý. Hậu quả từ năm này qua năm khác những cánh rừng dần dần bị “cạo trọc” không thương tiếc. Qua đó, dư luận đặt câu hỏi phải chăng chính quyền địa phương bất lực hay có sự tiếp tay nào của các ngành chức năng mới để cho “lâm tặc” lộng hành như trên? (Công An TP. Đà Nẵng 16/9)đầu trang(
Ngày 17/9, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, UBND tỉnh vừa có quyết định xử phạt hành chính 60 triệu đồng đối với ông Lê Văn Mân, trú tại thôn Hòa Bình, xã Sa Nghĩa, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum vì mua và vận chuyển gỗ lậu.
Ngoài ra, UBND tỉnh còn tịch thu 12 phách gỗ Kiền Kiền (nhóm II) có khối lượng hơn 4,6 m3, và buộc ông Mân nộp số tiền tương đương với giá trị phương tiện vi phạm hành chính là 80 triệu đồng vào ngân sách nhà nước.
Đồng thời yêu cầu ông Lê Văn Mân phải chấp hành nghiêm quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định xử phạt. (Đại Đoàn Kết 17/9)đầu trang(
Tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất lâm nghiệp lớn, nhưng nhìn chung lợi ích từ vốn rừng mang lại chưa thể giúp người dân miền núi ổn định cuộc sống. Nhiều gia đình rơi vào thế khó, phải “bán rừng”.
Ông Lê Quốc Việt, Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa, chia sẻ: Thực hiện theo Nghị định số 02/1994/NĐ-CP và 163/1999/NĐ-CĐ, đến nay toàn tỉnh Thanh Hóa đã bàn giao được hơn 570.306/647.677ha đất lâm nghiệp, trong đó trên 337.000ha giao cho tổng cộng 78.975 hộ dân, chiếm 52% diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn. Do thiếu hụt kinh phí trầm trọng nên thực chất mới chỉ tiến hành giao đất lâm nghiệp là chính chứ chưa đi kèm với giao rừng, điều này dẫn đến tình trạng “cái sảy nảy cái ung”.
Ông Việt bày tỏ quan điểm: “Giao đất chưa giao rừng đồng nghĩa với việc không xác định được giá trị tài sản trên đất (lâm sản) và lượng tăng trưởng hàng năm để gắn trách nhiệm, quyền lợi chủ rừng”.
Chi tiết hơn, do chưa xác định được trữ lượng, sản lượng, chất lượng, giá trị tài nguyên rừng và tài sản cụ thể trên đất lâm nghiệp nên các chủ rừng dù có muốn cũng không thể tiến hành chuyển nhượng vì không có đầy đủ cơ sở pháp lý. Ngoài ra, đây cũng được xem là rào cản trong quá trình vay vốn và hưởng chính sách đền bù khi nhà nước tiến hành thu hồi…
Theo ông Lê Xuân Cải, Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng (Chi cục Kiểm lâm), để thực hiện song hành thì kinh phí rơi vào khoảng 100 tỷ đồng (tiền thuê đơn vị tư vấn xác định hiện trạng rừng chiếm đến 85%), tính ra mỗi hecta tiêu tốn trên dưới 110.000 đồng, trước mắt tỉnh chưa thể cân đối được nguồn này. Trong bối cảnh phải “liệu cơm gắp mắm”, hiện chỉ mới triển khai thí điểm được 42.000ha tại địa bàn 5 xã của huyện Thường Xuân vào năm 2015.
Quá trình khảo sát thực tế PV nhận thấy, do đặc thù từng vùng nên tỷ lệ giao khoán đất không đồng đều; bà con miền rừng có chung một nhận định, kinh phí hỗ trợ èo uột chưa thể giúp họ ổn định cuộc sống.
Cụ thể, với định mức 300.000 đồng/ha/năm áp dụng cho rừng đặc dụng và phòng hộ (Quyết định 38/2016/QĐ-TTg); 400.000 đồng khoán BVR phòng hộ và sản xuất (Nghị định 75/2015/NĐ-CP) hay mức 200.000 đồng áp dụng với rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất (Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP) tính ra mỗi gia đình chỉ nhận được tối đa… từ 2 - 3 triệu đồng/ha/năm, quá “hẻo” so với công sức bỏ ra.
Bèo bọt là thế nhưng người dân thường phải chờ dài cổ mới cầm được tiền trong tay, chưa kể số tiền thực nhận thường bị hao hụt đi nhiều. Chi tiết hơn, theo kế hoạch năm 2016 thì 7 huyện 30a trên địa bàn được hỗ trợ mức 300.000 đồng/ha nhưng rốt cuộc chỉ được chi trả 124.000 đồng, hay như năm nay nâng lên mức 400.000 đồng/ha nhưng con số thực nhận chỉ là 263.000 đồng. Chưa kể 20 huyện, thị xã, thành phố nằm ngoài vùng 30a đến nay còn chưa được phân bổ nguồn của năm 2017.
Riêng kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng còn thảm hại hơn nhiều (343.304,67ha được chi trả), nơi cao nhất cũng chỉ đạt 65.000 đồng/ha/năm, còn thấp nhất chỉ… 2.000 đồng/ha/năm. Nhận định về chính sách bảo vệ áp dụng đối với 3 loại rừng hiện nay, ngành lâm nghiệp tỉnh kết luận: Mức khoán thấp, chưa tương xứng với công sức của hộ nhận khoán BVR. (Nông nghiệp Việt Nam 18/9)đầu trang(
Hàng trăm hecta rừng cao su của nông dân tiểu khu Quyết Tiến, thị trấn Nông Trường Việt Trung, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình bị cơn bão số 10 tàn phá nặng nề, gây thiệt hại hàng tỷ đồng khiến cuộc sống nhiều nông dân nơi đây trở nên khốn khó.
Có mặt tại tiểu khu Quyết Tiến (TT Nông Trường Việt Trung) PV mới thấy hết sức tàn phá khủng khiếp của cơn bão số 10. Hàng trăm héc
ta rừng cao su bị đốn ngã nghiêng, nhiều gốc cây bị đánh bật rễ, cây thì bị bẻ gãy chỉ còn lại thân cây trơ trọi. Cả trăm héc ta rừng xanh tươi giờ chỉ thấy một vùng hoang tàn.
Chị Trần Thị Ánh Ngọc (35 tuổi, xóm 1, tiểu khu Quyết Tiến, TT Nông Trường Việt Trung) cho biết, gia đình chị có hơn 3 héc ta rừng cao su nhưng bão số 10 đi qua đã tàn phá gần hết, gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng.
“Rừng cao su của gia đình tôi đã trồng và chăm sóc hơn 10 năm nay. Nhưng vừa thu hoạch được một thời gian thì cơn bão ập đến cuốn hết tất cả. Khoảng 70 – 80% diện tích rừng bị đốn ngã, nhiều cây bị quật rể lên trời thiệt hại rất nặng nề. Cuộc sống của gia đình tôi dựa vào từng mảnh rừng cao su nhưng giờ thì mất hết rồi. Bao nhiêu tiền bạc, công sức cũng đổ vào đấy hết. Giờ chẳng biết phải làm sao để sống chú ạ” – chị Ngọc buồn bã.
Không chỉ gia đình chị Ngọc mà hàng chục hộ dân thuộc tiểu khu Quyết Tiến cũng lâm vào tình cảnh tương tự. Có nhiều hộ còn thiệt hại nặng nề hơn gấp bội khiến cuộc sống của họ càng trở nên khó khăn.
Ông Phùng Văn Minh (60 tuổi, tiểu khu 5, thị trấn Nông Trường Việt Trung, có rừng cao su tại tiểu khu Quyết Tiến) cho hay: “Nhà tôi có hơn 5 hécta diện tích rừng cao su đưa vào thu hoạch hơn 2 năm nay nhưng vừa qua cơn bão số 10 đã càn quét gần 1 nửa. Những cây nào còn chống đỡ lên được thì tôi cố gắng chăm sóc lại. Hy vọng sống được bao nhiêu cây thì mừng đến đó. Còn những cây đổ ngã thì mang về phơi khô về làm củi thổi. Ước tính thiệt hại gần 1 tỷ đồng”.
Trao đổi với PV báo Môi Trường & Cuộc Sống, ông Phan Đình Hùng – Tổ trưởng dân phố, Bí thư chi bộ tiểu khu Quyết Tiến cho biết, cơn bão số 10 vừa qua có sức tàn phá rất mạnh, đã làm gãy đổ hàng trăm héc ta rừng cao su tại tiểu khu Quyết Tiến, gây thiệt hại hàng tỷ đồng.
“Trên địa bàn tiểu khu Quyết Tiến có khoảng 35 hộ trồng rừng cao su với hơn 100 hécta. Toàn bộ rừng cao su ở đây đều đã được đưa vào thu hoạch. Nhưng vừa qua cơn bão số 10 đã tàn phá gần 70 héc ta gây thiệt hại nặng nề cho nhiều người dân nơi đây” – Ông Hùng chia sẻ.
Ông Hùng cho biết thêm, không chỉ làm đổ ngã trăm héc ta rừng cao su mà cơn bão số 10 còn càn quét nhà cửa, ao hồ của hàng trăm hộ dân thuộc tiểu khu Quyết Tiến. Cụ thể, toàn tiểu khu có hơn 15 héc ta cây ăn quả mất trắng, trên 1000 gia cầm bị chết, 1 nhà bị sập, hàng chục nhà dân bị tốc mái. Hiện tiểu khu đã báo cáo với chính quyền cấp trên mong muốn nhà nước, các nhà hảo tâm giúp đỡ để người dân tiểu khu Quyết Tiến vượt qua khó khăn, ổn định cuộc sống. (Môi Trường & Cuộc Sống 17/9)đầu trang(
Ngày 15/9, TAND tỉnh Lâm Đồng đã mở phiên tòa xét xử hình sự đối với các bị cáo gồm: Lơ Mu Ha Chăn (34 tuổi), K’Long Ha Hen (23 tuổi), Liêng Hót Ha Mik (20 tuổi), Liêng Hót Ha Jek (22 tuổi), Liêng Hót Ha Long (18 tuổi), Lơ Mu Bi Ly (28 tuổi) và Lơ Mu Ha Then (33 tuổi; tất cả cùng trú tại huyện Lâm Hà) liên quan đến vụ án truy sát cán bộ quản lý rừng tại xã Phi Tô, huyện Lâm Hà .
Hồ sơ vụ án cho thấy, vào ngày 8/8/2016, Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Ban cùng với chính quyền xã Phi Tô đi tuần tra tại tiểu khu 243A, thuộc địa phận xã Phi Tô, huyện Lâm Hà thì phát hiện gần 20 người đồng bào dân tộc thiểu số của xã Mê Linh đang phá rừng chiếm đất làm rẫy.
Thấy sự việc trên, cán bộ quản lý rừng đã dùng mọi biện pháp ngăn chặn và đưa một số người này về UBND xã để làm việc. Nghe tin, Ha Chăn đã rủ Lơ Mu Ha Then, Liêng Hót Ha Mik, Ha Mik, K’Long Ha Hen và Liêng Hót Ha Jek cùng tìm đến đánh cán bộ quản lý rừng.
Trên đường đi, vừa thấy đoàn công tác, Ha Chăn hô to cho đồng bọn biết. Sau đó, Ha Jek và Ha Hen chặn đầu xe của anh Triệu Vũ Hiệp thuộc lực lượng xã đội Phi Tô và tất cả lao vào đánh anh Hiệp. Chưa dừng lại, các bị cáo đuổi theo đoàn kiểm tra và chặn xe của anh Nguyễn Ái Tĩnh đang chở anh Lưu Công Trí (đều là cán bộ của Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Ban). Anh Tĩnh bỏ chạy thì bị các bị cáo là Ha Chăn, Ha Mik và Ha Long đuổi đánh dẫn đến tử vong.
Sau phần nghị án, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo Lơ Mu Ha Chăn 13 năm 6 tháng tù; K’Long Ha Hen 8 năm 9 tháng tù; Liêng Hót Ha Mik 11 năm 6 tháng tù; Liêng Hót Ha Long 6 năm 9 tháng tù; Liêng Hót Ha Jek 8 năm tù giam; Lơ Mu Bi Ly mức án 12 tháng 28 ngày tù giam; Lơ Mu Ha Then 12 tháng tù treo và 24 tháng thử thách.
Đồng thời, các bị cáo buộc phải bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Ái Tĩnh 130 triệu đồng, trợ cấp hàng tháng để nuôi con của anh Tĩnh số tiền 1,5 triệu đồng. (Phapluat+ 16/9)đầu trang(
Trong phiên toà xét xử sơ thẩm, bị cáo Đinh Việt Hồng được HĐXX tuyên miễn hình phạt về tội danh “làm chết người khi đang thi hành nhiệm vụ”.
Theo tin tức đăng trên báo Người Lao Động, ngày 18/9, TAND tỉnh Gia Lai đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm bị cáo Đinh Việt Hồng có hành vi làm chết người trong khi thi hành công vụ; các bị cáo gồm: Lương Văn Phúc (40 tuổi), Nguyễn Tam (39 tuổi), Nguyễn Thành Nguyên (21 tuổi), cùng trú tại Phú Yên) về tội danh “Chống người thi hành công vụ”.
Xem xét các tình tiết giảm nhẹ, HĐXX đã tuyên miễn hình phạt đối với bị cáo Đinh Việt Hồng về tội danh “làm chết người khi đang thi hành nhiệm vụ”. Các bị cáo Phúc, Tam, Nguyên cũng được miễn hình phạt về tội danh “Chống người thi hành công vụ”.
Hồ sơ vụ việc cho biết, khoảng 13h45 ngày 2/6/2016, nhận tin báo của người dân về việc có thuyền vận chuyển lâm sản trái phép trên sông Krông Năng, xã Krông Năng, huyện Krông Pa (Gia Lai), lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa đã cử tổ công tác tiến hành chặn bắt.
Tổ công tác gồm các ông: Đoàn Xuân Hồng (tổ trưởng); Đinh Việt Hồng, Phạm Văn Duy, Lê Văn Hóa (cùng là tổ viên). Tổ này được trang bị 1 súng AK (có 10 viên đạn, giao ông Đinh Việt Hồng quản lý), 1 khẩu súng bắn đạn cao su (có 6 viên đạn) và 2 bình xịt hơi cay do ông Đoàn Xuân Hồng quản lý.
Đến 16h cùng ngày, phát hiện thuyền máy của ông Nguyễn Văn Đông (47 tuổi) chở theo ông Phúc, Tam, Nguyên (con trai ông Đông - PV) đang vận chuyển gỗ lậu, tổ công tác đã dùng cờ hiệu, truy hô yêu cầu nhóm người này dừng thuyền kiểm tra nhưng họ không chấp hành.
Trước tình thế đó, ông Đinh Việt Hồng đã dùng súng AK bắn 1 phát chỉ thiên nhưng các đối tượng vẫn tăng tốc bỏ trốn. Tổ công tác sau đó đã điều khiển xuồng máy quay ngược lại, áp sát vào thuyền chở gỗ lậu. Lúc này, nhóm ông Đông đã dùng thanh gỗ và dao chống trả lại lực lượng chức năng khiến 2 kiểm lâm viên là Duy và Hóa bị thương.
Nhận thấy các đối tượng manh động, liều lĩnh, ông Việt Hồng tiếp tục dùng súng AK bắn vào can nhựa đựng dầu của thuyển chở gỗ lậu để thuyền hết nhiên liệu và dừng lại. Tuy nhiên, nhóm vận chuyển gỗ lậu vẫn tháo chạy, báo Thanh Niên đưa tin.
Khi xuồng máy của tổ công tác đã tiếp cận mạn thuyền chở gỗ nơi ông Đông đang đứng, ông này liền cầm dao đe dọa. Ông Việt Hồng dùng súng bắn vào mạn thuyền phía dưới chân ông Đông. Do 2 thuyền chạy với tốc độ cao, sóng lớn, thuyền bị nghiêng nên viên đạn đi sai hướng đã ghim trúng chân ông Đông khiến nạn nhân ngã xuống.
Thuyền chở gỗ lậu lúc này vẫn không dừng lại mà vẫn di chuyển đến xã Krông Pa, huyện Sơn Hòa (Phú Yên) rồi mới đưa ông Đông đến bệnh viện. Do mất máu nhiều, nạn nhân đã tử vong tại bệnh viện vào tối cùng ngày.
Nguồn tin cho hay, sau khi xảy ra sự việc không mong muốn, kiểm lâm viên Đinh Việt Hồng đã phải vay mượn, cùng Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa bồi thường thiệt hại cho gia đình ông Đông 400 triệu đồng. (An Ninh Tiền Tệ & Truyền Thông 19/9)đầu trang(
Từ xa xưa, đời sống sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên đã gắn liền với núi rừng. Họ yêu rừng, coi rừng như những vị thần để bảo vệ cho buôn làng. Vì vậy, khi được giao khoán quản lý, bảo vệ rừng, bà con xã Hà Tây (huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai) đã thực hiện tốt công tác giữ rừng.
Người dân làng Kon Sơ Lăl (xã Hà Tây) còn nhớ như in cái ngày được Nhà nước giao khoán quản lý, bảo vệ rừng. Ngay sau khi nhận khoán bảo vệ rừng với UBND xã, già Sôn - già làng Kon Sơ Lăl đã tổ chức họp làng thông báo: "Từ trước đến nay, rừng này là rừng của làng Kon Sơ Lăl chúng ta, tổ tiên chúng ta đã gìn giữ từ bao đời nay. Nay Nhà nước lại cho chúng ta tiền, cho chúng ta gạo để tiếp tục giữ rừng. Vậy nên từ nay, mọi người trong làng không được phá rừng làm rẫy như trước đây nữa. Ai phá rừng là vi phạm pháp luật Nhà nước, là vi phạm vào luật lệ tốt đẹp có từ ngàn đời của làng ta". Bên đống lửa bập bùng dưới chân nhà sàn giữa làng, lời của già Sôn nói ra, như vì kèo dính vào cây cột, như tấm tranh dính vào mái nhà. Vậy nên, cả làng Kon Sơ Lăl, ai ai cũng nghe theo lời của ông.
Từ đây, 78 hộ với hơn 200 khẩu trong làng Kon Sơ Lăl được chia thành nhiều tổ, thay phiên nhau đi tuần tra kiểm soát. Ai cũng có nhiệm vụ tham gia bảo vệ rừng, ai cũng vui vẻ khi được làm nhiệm vụ này.
Tại làng Kon Chang (xã Hà Tây), việc giữ rừng cũng không kém phần nghiêm ngặt. "Diện tích rộng, địa hình nhiều đồi dốc nên việc tuần tra, kiểm soát rừng nhận khoán của người dân ở đây là vô cùng khó khăn. Do vậy, cách duy nhất là đi bộ, len lỏi dưới tán rừng rậm rạp nhiều gai nhọn và những dốc núi dựng đứng để kiểm tra từng tiểu khu, từng khoảnh rừng mà gia đình mình nhận khoán. Mỗi chuyến đi của bà con thường kéo dài từ 2 đến 3 ngày, do vậy phải chuẩn bị sẵn đủ thứ, nào là muối, mì tôm, cá khô… để qua đêm trong rừng"- anh Yaoh (dân tộc BahNar, ở làng Kon Chang) cho chúng tôi biết.
Cũng theo anh Yaoh, nhóm anh luôn có bảng phân công cụ thể cho từng người, ai đi tuần tra rừng thì mới được chấm công. Mỗi tháng, anh tham gia tuần tra bảo vệ rừng từ ba đến bốn lần. Mỗi lần đi như vậy, anh được hỗ trợ 200.000 đồng, lại còn được hỗ trợ thêm một khoản tiền xăng xe. Hết tổ của anh rồi lần lượt đến các tổ khác, hết làng này lại qua làng khác, thay phiên vào rừng kiểm tra xem có ai phá rừng làm nương rẫy hay không, có ai xâm hại đến rừng trong diện tích mà làng đã nhận khoán. “Nhiều khi nghe được thông tin có kẻ xấu rình rập, lén lút xâm hại đến rừng thì tất cả các nhóm tổ đều được huy động tham gia túc trực ngày đêm để làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ’- anh Yaoh nói.
Với anh HVưng- làng Kon Chang thì: "Từ khi làng nhận giao khoán rừng, dân làng được nhận tiền dịch vụ môi trường rừng nên ai cũng vui mừng, phấn khởi mặc dù biết rằng diện tích đất mà lâu nay bà con hay phát rừng làm rẫy sẽ giảm đi vì từ nay không còn ai dám xâm phạm đến rừng".
Với những người Bahnar ở Hà Tây, việc giữ rừng giống như giữ cái nhà của mình, nên người dân ở đây ai cũng tự bảo nhau không được phá rừng làm nương rẫy, không để người lạ vào rừng. Nếu ai xâm phạm vào khu vực rừng nhận khoán, người dân sẽ nhanh chóng thông báo chính quyền xã can thiệp, xử lý kịp thời. Chính vì vậy mà trong thời gian qua, diện tích rừng được các cộng đồng làng, nhóm hộ nhận khoán bảo vệ không bị tàn phá, những cánh rừng bạt ngàn luôn một màu xanh tốt.
Trao đổi với chúng tôi về việc giao khoán rừng cho người dân quản lý và bảo vệ, ông Thaoh - Chủ tịch UBND xã Hà Tây, cho biết: Gần 3.700 ha rừng trên địa bàn được xã hợp đồng giao khoán cho cộng đồng làng Kon Chang, Kon Hơ Nglẽh, Kon Sơ Lăl và 2 nhóm hộ quản lý bảo vệ rừng. Hàng tuần, hàng tháng, xã đều cử lực lượng phối hợp với nhóm tổ của các làng, hỗ trợ tổ chức tuần tra kiểm soát diện tích rừng nói trên. “Được hỗ trợ tiền dịch vụ môi trường rừng, người dân ở đây tự nhắc nhở nhau bảo vệ diện tích rừng đã nhận khoán; đồng thời, tự giác tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm soát và triển khai nhiều biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng; ngăn chặn kịp thời các hành vi chặt phá, đốt rừng làm nương rẫy, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép…” - ông Thaoh khẳng định.
Ông Nguyễn Xuân Thưởng - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai, cho biết: Đợt này, Quỹ phối hợp với UBND xã Hà Tây tổ chức chi trả hơn 145 triệu đồng tiền dịch vụ môi trường rừng tháng 5 và tháng 6/2017 cho 251 hộ, thuộc 2 nhóm hộ và 3 cộng đồng dân cư nhận khoán giữ rừng. Theo đó, tùy vào diện tích và số hộ tham gia nhận khoán, trung bình mỗi hộ nhận được từ 466.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng. Năm 2016, thu nhập bình quân 1 hộ gia đình người dân tộc thiểu số được xã thanh toán tiền dịch vụ môi trường rừng khoảng 4,7 triệu đồng/hộ.
“Chúng tôi mong muốn đồng bào dân tộc thiểu số cùng chính quyền xã tăng cường công tác bảo vệ rừng, không để rừng bị chặt phá. Khoản tiền nhận được từ việc tham gia bảo vệ rừng không nhiều nhưng phần nào cũng giúp họ cải thiện cuộc sống gia đình”- ông Nguyễn Xuân Thưởng khẳng định.
Chính vì mong muốn trên nên ngoài nhiệm vụ chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng kịp thời cho xã để phát tận tay người dân, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Gia Lai còn tổ chức nhiều đợt tuyên truyền về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Nội dung chính là tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của chính sách này đối với người tham gia bảo vệ rừng; công tác triển khai chính sách của xã; trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia hợp đồng bảo vệ rừng; ghi nhận và giải thích một số vướng mắc của người dân, của địa phương trong quá trình thực hiện. “Một khi người dân hiểu được điều này thì rừng sẽ luôn luôn được bảo vệ”- ông Thưởng nhấn mạnh. (Đảng Cộng Sản Việt Nam 16/9)đầu trang(
Ngoài việc giao khoán cho các nhóm hộ, cộng đồng dân cư thôn, Ban Quản lý Rừng phòng hộ Hà Ra còn sử dụng một lực lượng đặc biệt khác tham gia quản lý, bảo vệ rừng. Họ nguyên là những người lính tinh nhuệ ở nhiều đơn vị khác nhau, sau khi giải ngũ trở về họ tiếp tục đem phần sức lực còn lại để cống hiến. Từ năm 2014 đến nay, trên 280 ha rừng tự nhiên mà Chi hội Cựu chiến binh thôn Phú Danh (xã Hà Ra, huyện Mang Yang) nhận khoán đã không mất dù chỉ một cây gỗ.
Năm 2014, chiến sĩ Lương Thành Đô (Trung đoàn 7, Quân đoàn 3) xuất ngũ trở về địa phương. Vẫn còn giữ trong mình ít nhiều “chất lính”, ông đứng ra đề nghị với Quản lý Rừng Phòng hộ Hà Ra cho Chi hội được nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng để lấy kinh phí hoạt động cho Chi hội cựu và gầy dựng lại các phong trào. Cựu chiến binh Thái Văn Cường-Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh thôn Phú Danh, nhớ lại: “Lúc ấy, chính anh Đô (đã mất năm 2016) đã đứng ra vận động anh em bộ đội xuất ngũ tham gia vào tổ nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng.
Không đơn giản như mọi người nghĩ, bởi phần đông đời sống anh em còn khó khăn, họ phải lo toan cho cuộc sống gia đình trong khi thu nhập từ việc nhận khoán rừng không đáng bao nhiêu, chủ yếu là lấy công góp quỹ cho Chi hội. Tuy nhiên, được sự động viên, giải thích cặn kẽ của anh Đô, dần dần rồi anh em hội viên cũng hiểu ra và hăng hái tham gia. Đến nay, đã có 27 hội viên của Chi hội tham gia công tác giữ rừng”-ông Cường cho biết.
Theo ông Cường, cái khó nhất trong công tác giữ rừng nhận khoán hiện nay là vấn đề sức khỏe của các anh em hội viên. Có hơn 80% hội viên có tuổi đời từ 50 trở lên, trong khi đó việc giữ rừng lại cần có sức khỏe, bởi từ thôn Phú Danh đến nơi rừng nhận khoán đi xe máy từ sáng đến trưa mới đến. Từ đây, họ lại tiếp tục trèo đèo, lội suối kiểm tra từng khu vực rừng mà Chi hội đã nhận khoán quản lý, bảo vệ. Do vậy, thông thường mỗi chuyến đi kéo dài từ 3-4 ngày. Mỗi khi “hành quân”, các anh phải cõng theo gạo, thực phẩm, đến bữa thì dừng chân, nấu cơm ăn. Tối thì mắc võng ngủ trên cây, hoặc tìm hang đá trú ẩn... Cứ như vậy, các tổ (3 đến 4 người) thay nhau đi tuần đến khi nào hết khu vực rừng nhận khoán mới trở về, đôi khi kết hợp với cán bộ của Ban Quản lý những khi có nghi vấn rừng bị xâm hại.
Cựu chiến binh Lê Văn Thắng (nguyên chiến sỹ Trung đoàn 7-Quân đoàn 3), vui vẻ: "Nhiều lúc đi tuần tra rừng mà cứ nghĩ như đang đi hành quân giống như thời còn trong quân ngũ. Mà thấy cũng giống vậy thật: Cũng ba lô trên lưng với lương thực thực phẩm, cũng xuyên rừng, dựng bạt nằm võng đu đưa ngắm trăng sao dưới tán rừng”. Cựu chiến binh Nguyễn Thành Duy-nguyên là Chuyên viên kỹ thuật của Ban Quản lý mới nghỉ hưu vừa tròn tháng cũng tranh thủ cướp lời: “Bản lĩnh của người lính được rèn giũa nhiều năm trong môi trường quân đội đã giúp chúng tôi vượt qua được những khó khăn, mặc dù sức đã không còn đủ khỏe nữa. Tình đồng đội, đồng chí càng gắn chặt hơn qua những ngày ăn rừng, ngủ rẫy hoặc nhiều đêm ngồi co ro dưới cơn mưa rừng”.
Xuất ngũ về địa phương (thôn Phú Danh, xã Hà Ra), đời sống kinh tế của gia đình cựu chiến binh Phạm Đình Dũng gặp không ít khó khăn. Không có đất sản xuất, anh đã phá rừng lấy đất làm rẫy, trồng lúa, trồng khoai. Thậm chí, có lần anh còn bị cán bộ Ban quản lý rừng rượt đuổi vì lén khai thác gỗ trái phép. Thế nhưng, từ khi Chi hội nhận khoán, anh được phân công trực tiếp tham gia vào tổ quản lý, bảo vệ rừng. Cũng từ đó, anh thường xuyên đi rừng hơn nhưng giờ là với trò là Phó Chi hội trưởng làm nhiệm vụ bảo vệ rừng.
"Được anh em giải thích, rồi ngày ngày đi tuần tra, gìn giữ từng cây gỗ, mét vuông rừng mới thấy hành động sai trái của mình trước đây, thấy rừng của mình quý biết bao"-anh Dũng trò chuyện. Còn với cựu chiến binh Lê Văn Thắng thì "giữ rừng là niềm vui", bởi ngoài việc giữ không cho kẻ xấu xâm hại đến tài nguyên rừng, anh như tìm lại được những tháng ngày gian khó mà hào hùng trong quân ngũ.
Chi hội trưởng Thái Văn Cường cho biết: Khi nhận nhiệm vụ giữ rừng, Chi hội đã họp bàn, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng hội viên, anh em trong Chi hội ai cũng hứa quyết tâm quản lý tốt diện tích rừng nhận khoán, không để xảy ra mất rừng hoặc cháy rừng. Tuy sức khỏe không còn nhiều, diện tích rừng nhận khoán lại rộng, địa hình nhiều đồi dốc nhưng với bản lĩnh của người lính, quyết tâm giữ rừng đã giúp các anh vượt lên mọi khó khăn. "Không ít lần chúng tôi gặp những đối tượng phá rừng trái phép, mặc dù bị các đối tượng này phản ứng, nhưng anh em vẫn ôn hòa và kiên nhẫn giải thích, động viên họ không được phá rừng..."-ông Cường tâm sự.
Cũng theo ông Cường, với hơn 280 ha rừng nhận khoán, mỗi năm Chi hội nhận được hơn 56 triệu đồng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng. Số tiền này dùng vào việc mua sắm võng bạt, thực phẩm, xăng xe và tiền công cho mỗi chuyến tuần rừng của anh em. Còn thừa bao nhiêu, tất cả anh em đều tự nguyện thống nhất nhập vào quỹ của Chi hội. "Tuy đời sống của anh em còn nhiều khó khăn nhưng mọi người vẫn tự nguyện nhập số tiến thừa vào quỹ hoạt động của Chi hội. Ngoài việc đóng góp Quỹ nghĩa tình đồng đội, hoạt động hội, số tiền trên còn dùng để thăm hỏi động viên những gia đình hội viên lúc hiếu hỷ, gặp khó khăn và trích một phần giúp đỡ các cháu học sinh trong thôn vượt khó học tập...".
Phát huy truyền thống, bản lĩnh của anh bộ đội Cụ Hồ, các hội viên Chi hội Cựu chiến binh thôn Phú Danh đã góp sức giữ cho những cánh rừng mãi xanh. Đặc biệt hơn, các cựu chiến binh đều có tuổi trong gia đình, đây cũng là lực lượng nòng cốt trong việc tuyên truyền, vận động ngay chính gia đình mình, con cháu và họ hàng thân thuộc cùng tham gia bảo vệ rừng một cách hiệu quả. (Báo Gia Lai 17/9)đầu trang(
Mới đây, dư luận xôn xao khi biết Phó GĐ Sở NN&PTNT tỉnh Thanh Hoá ký hợp đồng không thời hạn cho cháu khi mới học hết lớp 7 và Phó GĐ Trung tâm nghiên cứu ứng dụng KHCN lâm nghiệp đưa con trai vào chân bảo vệ rừng.
Theo tìm hiểu của PV, ông Nguyễn Văn Quyết (SN 1964), hiện đang làm cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Thường Xuân, Thanh Hóa. Điều đáng nói ông Quyết chỉ mới học hết lớp 7, không có bằng cấp, trình độ chuyên môn nhưng lại được Chi cục Kiểm lâm ký hợp đồng không xác định thời hạn.
Cụ thể, tại Quyết định 344 QĐ-CCKL ngày 25/6/2013 về việc tuyển dụng LĐHĐ không xác định thời hạn do ông Lê Thế Long ký ghi rõ: Tuyển dụng ông Nguyễn Văn Quyết, sinh ngày 15/6/1964, trình độ chuyên môn: Sơ cấp lâm nghiệp, trú tại xã Quảng Hưng, TP.Thanh Hóa làm lao động hợp đồng không xác định thời hạn, làm công tác phòng cháy chữa cháy rừng tại Hạt kiểm lâm Thường Xuân, kể từ ngày 1/7/2013. Ông Quyết được hưởng mức lương bậc 9, hệ số 3,09, ngạch kiểm lâm viên sơ cấp.
Một điều kỳ lạ khác trong quyết định này đó là: “Thời gian tính nâng lương lần sau kể từ ngày 01/10/2012”, nghĩa là ông Quyết được chấm trả lương trước khi vào nhận việc 24 ngày 8 tháng. Theo tìm hiểu được biết, ông Quyết gọi ông Lê Thế Long- Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Thanh Hoà bằng cậu.
Được biết, trước đây ông Quyết làm công nhân hợp đồng tại Vườn Quốc gia Bến En (từ năm 1990- 1992); công nhân vườn ươm Như Xuân (1993-1994); làm chân “anh nuôi” tại Hạt Kiểm lâm huyện Quan Hóa (1994- 1999); lao động hợp đồng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu (1999- 2011). Đến tháng 11/2011 ông Quyết được chuyển về Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên chủ yếu là lái xuồng phục vụ cho việc tuần tra kiểm soát trên sông. Ngày 14/6/2013 Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thường Xuân) có quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với lý do "lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động".
Ông Đỗ Xuân Lộc, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa cho hay: “Trường hợp ông Quyết là do thế hệ trước ký hợp đồng. Ông Quyết chỉ làm công tác phòng cháy chữa cháy rừng, không được tham gia như cán bộ công chức kiểm lâm. Ông này vẫn biết chữ, nhưng viết và đọc còn hạn chế”.
Trong một diễn biến khác, ngày 30/8/2017, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu úng dụng KHCN lâm nghiệp Phan Văn Quynh ban hành Quyết định 189/QĐ-TTCNLN về việc thành lập lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách. Trong danh sách 9 người thì có ông Phan Trường Lâm (con trai ông Quynh) khiến cán bộ công nhân viên đang công tác tại đây bức xúc.
Theo phản ánh của ông Thiều Quang Thức (sinh năm 1973) người đã có 21 năm công tác tại đây cho biết: “Tháng 7/2016, Trung tâm điều động tôi và đồng chí Lê Huy Bình về trại thực nghiệm tham gia 1 số buổi chuyển giao cộng nghệ nuôi cấy mô và sản xuất tại trại. Theo quyết định điều động thì tôi vẫn được hưởng nguyên lương từ ngân sách nhà nước cấp.
Nhưng khi tôi về trại cấy mô được thời gian thì lãnh đạo trung tâm tự ý chuyển suất lương của tôi sang cho ông Phan Trường Lâm, còn lương của tôi lấy từ nguồn sản xuất kinh doanh của đơn vị. Tới tháng 3/2017, tôi được điều về trở lại làm công tác bảo vệ rừng (hưởng lương từ nguồn sản xuất kinh doanh) còn đồng chí Lê Huy Bình bị yêu cầu chấm dứt hợp đồng, tự ra ngoài kiếm việc làm trong khi có bằng đại học lâm nghiệp.
Việc làm của ông Quynh là để cho con trai Phan Trường Lâm (sinh năm 1988) mới về trung tâm từ năm 2015 chen chân vào lực lượng bảo vệ rừng và được hưởng lương từ ngân sách. Việc tuyển chọn, lập danh sách lực lượng bảo vệ rừng thuộc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng KHCN lâm nghiệp không thực hiện theo hướng dẫn của cấp trên mà lại lấy phiếu tín nhiệm”.
Trao đổi với PV, ông Lê Thế Long, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa (trước đó ông Long kiêm luôn Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm) cho hay: “Nguyễn Văn Quyết đúng là cháu tôi. Sau khi đi xuất ngũ về địa phương thì tham gia bảo vệ rừng. Tới năm 1999 được ký hợp đồng không xác định thời hạn (thời điểm này anh Hoàng Cao Chải ký). Do ông Quyết không thuộc đối tượng Sở quản lý nên không thể điều động được. Khi muốn chuyển sang Hạt kiểm lâm Thường Xuân thì phải chấm dứt hợp đồng bên Xuân Liên và ký lại. Cái này chỉ là nối tiếp khi người ta đã là lao động không xác định thời hạn. Cháu mình nó làm bảo vệ rừng thôi mà, có gì to tát đâu".
“Còn việc anh Quynh đưa con trai mình vào danh sách lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách là có. Tôi có nghe thông tin và kiểm tra việc làm của Trung tâm là có sơ suất. Hưởng lương từ ngân sách hay từ nguồn kinh doanh của đơn vị thì phải đảm bảo quyền lợi người lao động. Sở đã nhận được đơn kiến nghị của anh Thức sẽ cho kiểm tra lại". (Công Lý 16/9)đầu trang(
Ngày 17/9, Ban Quản lý Khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, Võ Nhai tổ chức tuyên truyền Quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học cho đồng bào người Mông nằm trong Khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng, Võ Nhai.
Với diện tích gần 20.000ha, rừng đặc dụng Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc 8 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Võ Nhai.
Hiện nay, có hơn 6.000 hộ dân đang sinh sống tại vùng lõi và vùng đệm của rừng đặc dụng nên những năm trước, việc người dân vào rừng khai thác, vận chuyển diễn ra khá phổ biến. Điều này gây khó khăn rất lớn đến công tác quản lý, bảo vệ cho lực lượng chức năng.
Tuy nhiên, những năm gần đây, ngoài việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, Ban Quản lý Khu Bảo tồn đã chủ động giao rừng cho các Tổ quản lý nên vai trò của người dân đối với việc bảo vệ rừng đã được nâng lên.
Tại buổi tuyên truyền, đồng bào dân tộc Mông và đã được tìm hiểu và giải đáp những thắc mắc liên quan đến đời sống của bà còn và trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng. Thông qua hình thức tiếp xúc trực tiếp với đồng bào dân tộc, việc nắm bắt nguyện vọng của bà con sẽ tạo thuận lợi cho công tác tuyên truyền, đưa ra nhiều giải pháp cùng nhân dân bảo vệ và phát triển kinh tế rừng tại mỗi địa phương. (Đài Phát Thanh – Truyền Hình Thái Nguyên 17/9)đầu trang(
Liên quan đến nhiều vụ việc sai phạm nghiêm trọng trong việc quản lý đất rừng, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang vừa có công văn gửi Sở NN&PTNT cùng UBND các huyện, thành phố chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm người đứng đầu, cán bộ của các cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở để xảy ra vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
UBND tỉnh Bắc Giang vừa có Công văn số 3127/UBND-NN gửi Sở NN&PTNT cùng UBND các huyện, thành phố truyền đạt chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Nguyễn Văn Linh yêu cầu Chủ tịch UBND các huyện, thành phố đến nay chưa thực hiện xong việc ký cam kết bảo vệ rừng cần nghiêm túc rút kinh nghiệm; yêu cầu tập trung chỉ đạo các cơ quan chức năng và chính quyền cấp xã tiếp tục tổ chức rà soát, tuyên truyền, vận động các chủ rừng trên địa bàn ký cam kết bảo vệ rừng xong trước ngày 30/9/2017.
Đến thời hạn trên, địa phương nào chưa thực hiện xong, người đứng đầu địa phương đó sẽ phải kiểm điểm trách nhiệm trước Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.
Chủ tịch các huyện, thành phố phải nghiêm túc thực hiện các nội dung chỉ đạo tại văn bản số 171/TB-UBND ngày 09/6/2017 và Công văn số 2687/UBND-NN ngày 08/8/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh, đặc biệt là việc kiểm điểm trách nhiệm người đứng đầu, cán bộ của các cơ quan chức năng và chính quyền cơ sở để xảy ra vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn. Khẩn trương chỉ đạo cơ quan Công an cùng cấp hoàn thiện hồ sơ khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các vụ vi phạm do cơ quan Kiểm lâm chuyển hồ sơ đề nghị xử lý.
Chủ tịch tỉnh Bắc Giang yêu cầu UBND huyện Sơn Động chỉ đạo lực lượng chức năng điều tra và kiên quyết xử lý các đối tượng mở đường trái phép vào rừng tự nhiên theo quy định của pháp luật; Giao Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn kiểm tra, đôn đốc các địa phương thực hiện, tổng hợp kết quả, báo cáo của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang trước ngày 10/10/2017.
Như thông tin trong loạt bài điều tra trên Báo Dân trí, liên quan đến việc hàng chục nghìn m2 đất rừng đã bị “biến hoá”, cấp sổ đỏ trái luật cho gia đình chủ tịch xã, em ruột bí thư huyện uỷ Yên Thế, UBND tỉnh Bắc Giang đã quyết định lập đoàn thanh tra rà soát toàn bộ việc quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp sai phạm tại địa phương này.
Quyết định số 1289/QĐ-UBND do ông Dương Văn Thái - Phó chủ tịch UBND tỉnh ký ngày 27/7/2017 về việc thành lập tổ công tác liên ngành để kiểm tra, rà soát về hoạt động quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp và đơn thư có liên quan đến Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Trường Lộc và UBND huyện Yên Thế.
Tổ công tác do ông Ngô Văn Xuyên, Phó giám đốc Sở TN&MT tỉnh Bắc Giang làm tổ trưởng; Ông Vũ Trí Hải - Chủ tịch UBND huyện Yên Thế là tổ phó. Các thành viên gồm: ông Dương Văn Quang - Phó chánh thanh tra tỉnh, ông Dương Xuân Bánh - Phó giám đốc Sở NN&PTNT, ông Dương Minh Sâm - Phó chủ tịch UBND huyện Yên Thế… Tổ công tác có nhiệm vụ xem xét, xác minh, kết luận và đề xuất biện pháp giải quyết vụ việc trong 45 ngày từ khi ký quyết định.
Báo Dân trí đã thực hiện loạt bài điều tra về những sai phạm trong việc quản lý đất rừng tại huyện Yên Thế. Điều đáng nói là hàng chục nghìn m2 đất rừng đã bị “biến hoá” vào sổ đỏ nhiều cán bộ, lãnh đạo và người thân lãnh đạo một cách vi phạm pháp luật. Cụ thể, 6 cuốn sổ đỏ trái luật được cấp cho người thân cán bộ, lãnh đạo địa phương gồm:
Hộ ông Nguyễn Thế Anh, bản Trại Nấm là em ruột ông Nguyễn Văn Thương công chức địa chính được cấp diện tích 10.129,2m2 đất tại thửa 104, tờ bản đồ 89. Hộ ông Nguyễn Văn Thương công chức địa chính được cấp diện tích 6.543,5m2 đất tại thửa 22, tờ bản đồ 89. Hộ ông Nguyễn Văn Thơ, bản Trại Nấm là anh ruột của ông Nguyễn Văn Thương công chức địa chính được cấp diện tích 11..990,5m2 đất tại thửa 33, tờ bản đồ 89.
Hộ bà Vũ Thị Hường, bản Trại Nấm (vợ ông Nguyễn Văn Mão - Chủ tịch UBND xã) được cấp 02 thửa: Thửa 23 tờ bản đồ số 6 diện tích 5,723,6m2; thửa số 93 tờ bản đồ 15 diện tích 7.983,5m2. Hộ ông Lưu Văn Sáu, bản Cây Thị, em ruột ông Lưu Xuân Vượng - Bí thư huyện uỷ huyện Yên Thế được cấp thửa số 4 tờ bản đồ số 4 diện tích 12.036,7m2.
Ông Lưu Xuân Vượng - Bí thư huyện uỷ huyện Yên Thế xác nhận có sự việc đất rừng bị cấp sổ đỏ trái luật như trên, trong đó có trường hợp em trai ruột của ông Vượng. Thời điểm xảy ra sự việc, ông Vượng đang là Chủ tịch UBND huyện Yên Thế.
Ông Vượng cho biết trong tất cả các trường hợp sổ đỏ trái luật này, ông không phải là người ký mà đều do ông Nông Văn Tâm, khi đó là Phó chủ tịch UBND huyện Yên Thế ký. Hiện ông Tâm đang giữ cương vị Phó Bí thư thường trực huyện uỷ Yên Thế.
Theo kết luận thanh tra do ông Vũ Trí Hải - Chủ tịch UBND huyện Yên Thế ký ban hành, sai phạm trong quản lý đất rừng tại xã Đồng Tiến không chỉ dừng lại ở việc cấp sổ đỏ trái luật cho người nhà cán bộ, lãnh đạo mà còn hàng chục nghìn m2 rừng khác bị buông lỏng quản lý cho các đơn vị trục lợi liên quan đến Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Yên Thế, Công ty cổ phần đầu tư xây dựng và thương mại Trường Lộc.
Tại huyện Lục Nam, vụ đốt phá rừng xảy ra tại xã Lục Sơn khiến hơn 50 ha rừng bị tàn phá. Công an huyện Lục Nam đã khởi tố vụ án và hiện đang điều tra để làm rõ các đối tượng gây án.
Theo thông báo của UBND tỉnh Bắc Giang về kết luận của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Dương Văn Thái liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Mai Sơn (Công ty lâm nghiệp Mai Sơn), nhiều đơn vị đã bị kiểm điểm liên quan đến vụ phá rừng nghiêm trọng vừa xảy ra tại huyện Lục Nam, ngay trong diện tích rừng do công ty lâm nghiệp quản lý.
Cụ thể, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Dương Văn Thái phê bình công ty lâm nghiệp Mai Sơn đã thiếu trách nhiệm trong công tác quản lý bảo vệ diện tích rừng được nhà nước giao, thường xuyên để người dân lấn chiếm, đốt phá rừng; Yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, UBND huyện Lục Nam rút kinh nghiệm trong việc tiếp nhận thông tin, báo cáo chậm các vụ việc vi phạm. Dân trí sẽ tiếp tục thông tin sự việc đến bạn đọc. (Dân Trí 18/9)đầu trang(
Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh đã đầu tư ngân sách hỗ trợ bảo vệ rừng tự nhiên và hỗ trợ bảo vệ rừng dẻ là rừng tự nhiên trên địa bàn huyện Lục Nam nên diện tích rừng tự nhiên trên địa bàn huyện, đặc biệt là rừng dẻ được người dân tham gia bảo vệ rừng tương đối tốt.
Kết quả từ đầu năm đến nay, từ nguồn ngân sách của tỉnh, huyện Lục Nam đã tiến hành hỗ trợ bảo vệ rừng tự nhiên với tổng diện tích 2.800 ha (84 khoảnh, 908 lô) cho 815 hộ gia đình, 06 cộng đồng trên địa bàn 08 xã: Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương, Huyền Sơn, Cẩm Lý, Bắc Lũng và Bình Sơn.
Bên cạnh đó, từ nguồn ngân sách của huyện, tổng diện tích hỗ trợ bảo vệ rừng dẻ là rừng tự nhiên là 1.084,1 ha (38 khoảnh, 480 lô) cho 451 hộ gia đình, cộng đồng trên địa bàn 05 xã: Trường Sơn, Lục Sơn, Vô Tranh, Nghĩa Phương và Huyền Sơn. (Báo Bắc Giang 17/9)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Tiếp nối dự án “cây tỷ đô” mắc ca ở Tây Nguyên, mới đây Lienviet Postbank đã đến huyện vùng sâu K’Bang của tỉnh Gia Lai cam kết tài trợ 4,3 tỷ đồng cho bà con dân tộc Ba Na trồng cây mắc ca để vươn lên thoát nghèo.
Sáng 15.9, tại xã vùng sâu Sơ Pai (huyện K’Bang, Gia Lai), Hiệp hội Mắc ca Việt Nam đã cùng Ngân hàng Bưu điện Liên Việt (Lienviet Postbank) phối hợp với UBND huyện K’Bang tổ chức “Lễ khởi công tài trợ trồng cây mắc ca tại huyện K’Bang và tập huấn canh tác cây mắc ca”.
Tại đây, đại diện Lienviet Postbank cam kết tài trợ mọi chi phí cho người dân trồng mắc ca trong 2 năm đầu với tổng số tiền 4,3 tỷ đồng, đồng thời hứa hẹn ký bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho người dân và trong tương lai gần sẽ xây dựng nhà máy chế biến mắc ca tại Gia Lai.
Tham dự lễ khởi công, có ông Huỳnh Ngọc Huy – Tổng Thư ký Hiệp hội Mắc ca Việt Nam, chuyên gia Nguyễn Lân Hùng, Giáo sư Hoàng Hòe - Phó Chủ tịch Hiệp hội Mắc ca Việt Nam và các chuyên gia kỹ thuật hướng dẫn cách thiết kế vườn cây, kỹ thuật trồng, chăm sóc quản lý vườn mắc ca đạt hiệu quả cao.
Theo chuyên gia Nguyễn Lân Hùng: Cả nước chỉ có 2 vùng Tây Bắc cùng Tây Nguyên có nhiều tiềm năng phát triển cây mắc ca. Riêng vùng đất Tây Nguyên được thiên nhiên ưu ái với đất đai màu mỡ, khí hậu phù hợp để trồng cây mắc ca cho năng suất cao.
Tuy nhiên, lâu nay nhiều hộ dân, nhất là các hộ người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nghèo, kinh tế vẫn rất khó khăn. Vì sao như vậy? Đó là do bà con chưa chọn được cây trồng phù hợp. Bên cạnh việc trồng các cây trồng truyền thống, bà con lựa chọn trồng cây mắc ca đúng cách sẽ thay đổi cuộc sống, vươn lên làm giàu.
Tiếp xúc với người dân, Huỳnh Ngọc Huy – Tổng Thư ký Hiệp hội Mắc ca Việt Nam cam kết: “Trong 2 năm đầu, người dân được hỗ trợ toàn bộ về giống, phân bón và kỹ thuật. Đến giai đoạn thu hoạch, sản phẩm được Hiệp hội bao tiêu theo giá thị trường và về lâu dài người dân hoàn toàn yên tâm khi nhà máy chế biến sẽ được xây dựng tại Gia Lai. Hiện tại về nguồn giống, Công ty Liên Việt Gia Lai sẽ đưa đến tận tay cho bà con, đảm bảo chất lượng”. (Dân Việt 16/9)đầu trang(
Tỉnh Lâm Đồng vừa công bố kế hoạch cho phép 5 công ty lâm nghiệp trên địa bàn khai thác trắng khoảng gần 750ha rừng thông 3 lá, thuộc đối tượng rừng trồng sản xuất từ 25 tuổi trở lên, trong giai đoạn 2017 - 2020.
Theo tính toán của Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng, nếu khai thác 750ha thông sẽ thu về 103.000m³ gỗ, mang lại khoản lợi nhuận trước thuế là 53,3 tỷ đồng. Ngoài thu các khoản thuế, thu nộp ngân sách tiền bán gỗ do các đơn vị chủ rừng thực hiện, các doanh nghiệp khi đưa gỗ tròn vào tinh chế sẽ nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm, nộp các khoản thuế khi tiêu thụ sản phẩm sau chế biến.
Cùng với hiệu quả kinh tế, việc khai thác rừng thông 3 lá sẽ đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các doanh nghiệp chế biến gỗ khi Chính phủ đã chỉ đạo đóng cửa rừng tự nhiên; đồng thời tạo nhiều việc làm cho người lao động. Ngoài 750ha rừng này, UBND tỉnh Lâm Đồng cũng giao các sở, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng phương án cho phép 9 ban quản lý rừng khai thác 750ha rừng thông 3 lá trên lâm phần đơn vị quản lý. Như vậy, dự kiến trong giai đoạn 2017 - 2020, tỉnh Lâm Đồng sẽ khai thác trắng gần 1.500ha rừng thông 3 lá.
Trồng rừng sản xuất thì việc khai thác là đương nhiên. Đó cũng là nhiệm vụ chính nhằm tạo nguồn thu phục vụ hoạt động của công ty lâm nghiệp, giải quyết công ăn việc làm ổn định cho người lao động, như tinh thần Nghị quyết 30-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định 118/2014/NĐ-CP của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
Tuy vậy, dư luận lo ngại việc khai thác trắng (thay vì hình thức khai thác dần, khai thác chọn) một diện tích rừng lớn trong thời gian ngắn, chỉ hơn 3 năm, sẽ tác động tiêu cực đến môi trường, nhất là trong bối cảnh diện tích rừng của toàn khu vực Tây Nguyên đang trên đà suy giảm. Về vấn đề này, đại diện Sở NN-PTNT tỉnh Lâm Đồng cho rằng, diện tích khai thác chỉ dưới 50ha ở mỗi tiểu khu và bố trí đều trên các huyện, do đó chỉ ảnh hưởng môi trường cục bộ ở khu vực khai thác, chứ không ảnh hưởng đến môi trường toàn khu vực. Độ che phủ rừng đến năm 2020 cũng đảm bảo theo mức mà nghị quyết Tỉnh ủy và HĐND tỉnh Lâm Đồng đề ra là 55%. Sau khi khai thác, toàn bộ diện tích sẽ được trồng lại rừng; không chuyển đổi sang trồng các loại cây khác hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng.
Kế hoạch là vậy, vấn đề là việc triển khai và giám sát hoạt động khai thác rừng, trồng lại rừng cần thực hiện một cách nghiêm túc, chặt chẽ. Bởi thực tế tại các tỉnh Tây Nguyên không ít dự án liên quan đến rừng đã lấy danh nghĩa tận thu lâm sản để khai thác rừng trái phép, hoặc lợi dụng giấy phép để khác thác “nhầm” diện tích.
Cùng với đó, cần quản lý chặt diện tích đất rừng vừa khai thác để trồng lại rừng, không để đất rừng bị xà xẻo, lấn chiếm. Việc trồng lại rừng cần thực hiện kịp thời, khai thác đến đâu trồng lại rừng ngay đến đó, trồng đúng chủng loại, đủ diện tích và được bảo vệ, chăm sóc tốt. Nếu không làm tốt những điều đó, việc khai thác trắng cả ngàn hécta rừng thông sẽ gây ra những hệ lụy khó lường. (Sài Gòn Giải Phóng 16/9)đầu trang(
Cái đói, cái nghèo quanh năm bám riết khiến người dân quên luôn nghĩa vụ bảo vệ vốn rừng từ lúc nào không hay, cứ thế “phong trào bán đất rừng” lan nhanh.
Tại buổi làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa vào ngày 11/9/2017, phía Chi cục Kiểm lâm đề cập cụ thể: “Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâm nghiệp chưa có rừng, rừng trồng nhưng chưa chấp hành theo quy định pháp luật vẫn còn diễn ra, thậm chí một số nơi xảy ra tình trạng chuyển nhượng “ngầm” rừng tự nhiên, điều này gây khó khăn cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng”.
Điều đáng bàn là thực trạng này đã manh nha từ nhiều năm trước đó nhưng đến nay vẫn chưa có phương án khắc phục. Qua ghi nhận thực tế tại các huyện miền núi có trữ lượng rừng giàu như Thường Xuân, Như Xuân đây thực sự là vấn đề vô cùng nhức nhối.
Lấy thôn Giang, xã Xuân Chinh (Thường Xuân) làm ví dụ. Toàn thôn có 91 hộ nhưng chỉ có vỏn vẹn 14,57ha đất nông nghiệp, chưa kể hệ thống tưới tiêu không đảm bảo nên chỉ canh tác được 2/3 diện tích. Đời sống của dân bản còn vô vàn khó khăn, số hộ nghèo, cận nghèo chiếm trên 70%, thu nhập bình quân đầu người chưa nổi 8 triệu đồng/năm.
Cái đói, cái nghèo quanh năm bám riết khiến người dân quên luôn nghĩa vụ bảo vệ vốn rừng từ lúc nào không hay, cứ thế “phong trào bán đất rừng” lan nhanh.
Ông Lò Văn Vinh và bà Ngân Thị Liên có với nhau 6 mặt con, 5 người con gái phụ thuộc nhà chồng, cậu con trai độc nhất thì lăn lộn đủ thứ nghề mưu sinh, chung quy lại không nhờ vả được gì. Nghèo còn mắc cái eo, nhà có 5 sào đất lúa thì 2 sào không thể dẫn nước đành phải bỏ hoang. Bản thân bà Liên nay ốm mai đau, thân hình gầy rộc, rũ rượi như tàu lá chuối. Ngước lên cúi xuống chẳng biết bấu víu vào đâu, cuối năm 2015 ông Vinh, bà Liên quyết định chuyển nhượng sạch bách 11,99ha đất rừng sản xuất (được cấp thời hạn 50 năm) cho một người thường gọi là D “Sâm” với mức giá rẻ mạt 45 triệu đồng, đến nay gia đình mới lấy được… 35 triệu.
Hỏi nguyên nhân, ông Vinh không giấu diếm: “Bất đắc dĩ mới phải làm chứ hay hớm gì đâu. Đấy chú xem, có đất rừng thật đấy nhưng tiền đâu mà cải tạo, trong khi nghề ngỗng không có, mỗi quý được hỗ trợ 130.000 đồng dành cho đối tượng hộ nghèo, lúa làm ra họa may chỉ đủ ăn 8 tháng, tất tần tật chỉ có ngần ấy thử hỏi chúng tôi biết sống ra sao”.
Nhắc đến đây, Trưởng thôn Vi Văn Đảnh buồn rười rượi: “Cả thôn có 192ha đất rừng sản xuất thì 1/3 trong số đó đã không còn thuộc quyền sở hữu của dân bản nữa rồi. Túng quẫn nên hộ Lò Song Toàn đã chuyển nhượng 10ha, Vi Văn Xuân 8ha, Vi Văn Puộc 17ha, Lò Văn Điện 6,3ha và nhiều hộ khác nữa. Với đà này chẳng mấy chốc đất rừng sẽ bị bán hết sạch”.
Trao đổi với PV NNVN, ông Cầm Bá Xuân, Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân cho rằng một bộ phận người dân không hiểu sâu về pháp luật, chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không nghĩ đến lâu dài. Tại các diễn đàn, hội nghị sơ kết, tổng kết huyện đã nhiều lần chỉ đạo nhưng tình trạng trên vẫn xảy ra, tới đây địa phương sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh lại tình hình để có phương án tháo gỡ.
Đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất của bà con miền rừng, nhưng với những bất cập như hiện nay thì việc giữ, bảo vệ và phát triển sinh kế là không khả thi. Thiết nghĩ cần phải có một cuộc cách mạng về đất lâm nghiệp mà ở đó người dân thực sự đóng vai trò chủ thể, bằng không chính họ sẽ đứng ngoài cuộc chơi. (Nông nghiệp Việt Nam 18/9)đầu trang(
Dù đất rừng đã bàn giao cho địa phương hơn 2 năm, người dân đã nộp tiền đo vẽ nhưng đến nay, họ chỉ được cấp đất trên giấy
Năm 2015, Ban Quản lý (BQL) Rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Hương đã bàn giao 88 ha đất lâm nghiệp tại Tiểu khu 127 cho UBND xã Hồng Tiến, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế quản lý sử dụng và cấp cho người dân có đất sản xuất.
Trong đó, UBND xã Hồng Tiến để dành 28 thửa với tổng diện tích trên 21 ha cấp cho các hộ dân khi bị thu hồi đất thực hiện các công trình phúc lợi trên địa bàn xã và 16 hộ dân đổi đất của Trại giam Bình Điền thuộc Bộ Công an. Số diện tích còn lại trên 61 ha (đã trừ đất giao thông, sông suối), xã Hồng Tiến dự kiến xét giao cho những hộ dân khó khăn nhưng có khả năng trồng rừng, tạo điều kiện để họ phát triển kinh tế.
Sau khi xem xét, UBND xã Hồng Tiến thống nhất danh sách 62 hộ dân thuộc diện ưu tiên cấp đất nên đã tính toán kinh phí thiết kế phân lô, đo đạc cắm mốc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, mỗi hộ dân phải đóng mức phí 3,5 triệu đồng để làm các thủ tục trên.
Nhiều hộ dân nằm trong danh sách được cấp đất ngay lập tức nộp tiền sau khi UBND xã Hồng Tiến có thông báo với hy vọng sớm có đất sản xuất. Thế nhưng, đến nay, họ vẫn chưa được chính quyền địa phương cấp đất trồng rừng, phát triển kinh tế.
"Tại buổi tiếp xúc cử tri xã, nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao BQL Rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Hương bàn giao đất cho xã nhưng đất lại không được cấp cho dân. Lúc đó, chủ tịch xã trả lời việc cấp đất đã bàn giao cho Phòng Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) thị xã Hương Trà, xã không có quyền hạn giải quyết" - ông Lê Văn Đanh (trú tại thôn 2, xã Hồng Tiến) cho biết.
Trong khi hơn 60 hộ dân mỏi mòn chờ cấp đất thì UBND xã Hồng Tiến lại "xẻ" 7 ha cấp cho ông Lê Văn Hòa - khi đó là Phó Bí thư Đảng ủy xã, nay là Chủ tịch UBND xã - để trồng rừng. Ông Hòa được "mượn" 7 ha sau khi làm đơn gửi UBND xã Hồng Tiến nêu lý do người dân không có điều kiện trồng rừng (?).
Ông Lê Văn Hòa thừa nhận xã Hồng Tiến đã thu 3,5 triệu đồng của mỗi hộ để thuê Trung tâm Kỹ thuật TN-MT (Sở TN-MT tỉnh Thừa Thiên - Huế) tiến hành đo đạc, phân lô. Đơn vị này đã tạm ứng 30% số tiền do người dân nộp để thực hiện công việc theo hợp đồng.
Theo ông Hòa, việc đo đạc đã xong, UBND xã Hồng Tiến đã xây dựng phương án bàn giao đất cho dân gửi lên UBND thị xã Hương Trà. Thế nhưng, cơ quan này trả lời rằng xã không đủ khả năng và quyền hạn để cấp đất cho dân, phải đợi chủ trương của UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế.
"Khi chúng tôi làm việc với thị xã thì Phòng TN-MT đã giới thiệu Trung tâm Kỹ thuật TN-MT đo đạc. Bảo xây dựng phương án giao đất cho dân nhưng khi xã xây dựng phương án xong thì thị xã lại nói như vậy" - ông Hòa phân trần.
Thế nhưng, ông Trần Hưng Long, Trưởng Phòng TN-MT thị xã Hương Trà, lại khẳng định cơ quan này chưa bao giờ chỉ đạo hay giới thiệu về việc hợp đồng phân lô, đo đạc đất lâm nghiệp ở xã Hồng Tiến. Việc thuê trung tâm đo đạc là do xã tự ý.
"Chúng tôi đã có 2 tờ trình về việc giao đất ở xã Hồng Tiến cho dân, gửi lên UBND tỉnh nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Tỉnh cũng chưa có quyết định thu hồi phần diện tích này. Việc UBND xã Hồng Tiến tự ý thu tiền người dân như vậy là sai quy định pháp luật. Riêng chuyện cán bộ xã mượn 7 ha rừng thì các quy định không cấm" - ông Long nhận xét. (Người Lao Động 17/9)đầu trang(
Để làm tốt công tác chăm sóc và bảo vệ rừng ven biển, trong những năm qua, BĐBP Thái Bình đã chủ động phối hợp với các ngành, chính quyền địa phương và các đơn vị đứng chân trên địa bàn tích cực trồng và bảo vệ rừng, góp phần giảm nhẹ thiên tai, chống xói mòn, bảo vệ đê sông, đê biển, bờ đập nuôi trồng thủy, hải sản, giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản do bão lũ gây ra.
Thái Bình có bờ biển dài 54km, thuộc hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải, với khoảng 5.000ha rừng ngập mặn và hàng trăm loài cây sinh sống, chủ yếu là các cây sú vẹt, trang, bần, phi lao... Với đặc điểm và điều kiện tự nhiên, có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế về nuôi trồng thủy sản, song những năm gần đây, do biến đổi khí hậu, tình trạng chặt phá rừng dẫn đến xâm nhập mặn ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân một số xã, thị trấn ven biển.
Thượng tá Tống Thanh Sơn, Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu (BPCK) cảng Diêm Điền cho biết, BĐBP Thái Bình luôn coi công tác bảo vệ và chăm sóc rừng phòng hộ ven biển là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng, gắn với công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới vùng biển. Đây cũng là cơ sở để cán bộ, chiến sĩ BĐBP tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho nhân dân để bà con chung tay chăm sóc, bảo vệ rừng tốt hơn, đặc biệt là giảm thiểu tình trạng phá rừng, chặt củi....
Từ đầu năm 2017 đến nay, các đơn vị BĐBP trong tỉnh đã cử hơn 500 cán bộ, chiến sĩ cùng với người dân huyện Thái Thụy trồng mới hơn 5.000 cây bần chua, cây trang tại xã Thụy Xuân (huyện Thái Thụy) và trồng hàng nghìn cây chắn sóng ven biển của huyện Tiền Hải để hạn chế xâm nhập mặn, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền để bà con hiểu tác hại của việc phá rừng...
Thượng úy Bùi Kim Chung, Trạm trưởng Trạm KSBP Sông Hóa, Đồn BPCK cảng Diêm Điền cho biết: “Chúng tôi luôn xác định việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ngập mặn là việc làm rất cần thiết đối với mỗi cán bộ, chiến sĩ Biên phòng, bởi rừng không chỉ là "lá phổi xanh" bảo vệ môi trường, mà còn là bức tường thành vững chắc bảo vệ hệ thống đê biển, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân mỗi khi có thiên tai, bão gió. Do vậy, việc được tham gia trồng và bảo vệ rừng giúp cán bộ, chiến sĩ đơn vị thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, góp phần mang lại những mầm sống xanh tươi cho người dân ven biển”.
Cùng với đó, các đơn vị BĐBP tỉnh còn chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ bảo vệ rừng ven biển và các đơn vị liên quan tăng cường tuần tra, kiểm soát định kỳ, cũng như đột xuất ngăn chặn các đối tượng lợi dụng ra, vào chặt phá rừng và các trường hợp cải tạo đầm vi phạm về quản lý rừng. Đồng thời, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới biển nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia bảo vệ rừng phòng hộ ven biển.
Ông Bùi Ngọc Hiện, Chủ tịch UBND xã Thụy Xuân, huyện Thái Thụy cho biết: “Xã được giao quản lý bảo vệ 2,5km đê biển với trên 228ha rừng ngập mặn. Để làm tốt công tác bảo vệ rừng ven biển, Đảng ủy, UBND xã đã thành lập Tổ bảo vệ chuyên trách phối hợp cùng các lực lượng như Đồn BPCK cảng Diêm Điền, Công an xã hằng ngày đi tuần tra kiểm soát, khi có vụ việc xảy ra đều phối hợp xử lý kịp thời, đồng thời, tiếp tục triển khai việc trồng rừng ngập mặn, rừng chắn sóng ven biển. Trong thời gian tới, chúng tôi tiếp tục thực hiện dự án phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, chương trình bảo tồn và phát triển khu vực đất ngập nước cũng đang gấp rút được thực hiện”.
Nhận thức được giá trị của đất ngập nước, Thái Bình đã và đang tập trung lãnh đạo, chỉ đạo huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển vùng ven biển như: Cứng hóa toàn bộ hệ thống đê biển, xây dựng khu vực ven biển thành trọng điểm phát triển kinh tế, xã hội; luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác trồng và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển, khai thác và sử dụng khôn khéo tài nguyên đất ngập nước để từng bước chống biến đổi khí hậu, giảm nhẹ thiên tai, tạo điều kiện cho nhân dân các xã ven biển ổn định đời sống, sản xuất và góp phần bảo đảm an ninh, quốc phòng ở các địa phương ven biển của tỉnh. (Biên Phòng 18/9)đầu trang(
.
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế vừa có công văn yêu cầu các Sở, ban ngành cấp tỉnh và UBND các huyện, thị xã, TP. Huế căn cứ chức năng, nhiệm vụ của đơn vị để tổ chức thực hiện Chương trình hành động số 27-CTr/TU ngày 23/8/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với Sở TN&MT, Thanh tra tỉnh và các đơn vị có liên quan tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; báo cáo kết quả về UBND tỉnh trước ngày 20/9/2017.
Giao Sở TN&MT nghiên cứu, đề xuất phương án cho thuê đất lâm nghiệp có thời hạn không thu tiền đối với hộ gia đình, cá nhân tại xã nơi có đất và thực sự thiếu đất sản xuất; phương án đấu giá thuê quyền sử dụng đất lâm nghiệp đối với các doanh nghiệp, chủ trang trại.
Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thị xã nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 65/2015/CT–UBND của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tăng cường quản lý diện tích đất lâm nghiệp dự kiến thu hồi từ các Ban Quản lý từng phòng hộ, Công ty TNHH Nhà nước MTV Lâm nghiệp để giao cho địa phương quản lý nhưng chưa có quyết định thu hồi đất hoặc đã có quyết định nhưng chưa bàn giao thực địa và diện tích xử lý sau kiểm tra, thanh tra.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở TN&MT; Sở NN&PNT; Ban Quản lý Khu kinh tế, công nghiệp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, TP. Huế và các đơn vị có liên quan nghiêm túc thực hiện nội dung chỉ đạo của Ban Bí thư tại Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 17/01/2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; quy định của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 01/11/2016 về chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác không phải là lâm nghiệp. (Tài Nguyên & Môi Trường 13/9)đầu trang(
UBND tỉnh Cà Mau sẽ thực hiện theo quy trình, tiến hành cấp sổ đỏ cho những hộ dân ở miệt rừng Khánh Thuận (huyện U Minh, Cà Mau) bị Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm cũ, nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ (Công ty U Minh Hạ) thu hồi đất vào năm 1996.
Đó là một trong những nội dung quan trọng trong Thông báo số 43 mà UBND tỉnh Cà Mau vừa ban hành. Theo Thông báo nêu trên, ngoài nhắc lại việc tiếp tục tuyên truyền, vận động từng hộ gia đình, cá nhân ở ấp 19, 20, 21 (xã Khánh Thuận) khẩn trương nhận tiền bồi hoàn theo phương án đã được được UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau còn chỉ đạo chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng liên quan lập danh sách từng đợt (hạn chót là ngày 15-10) các hộ dân đã nhận tiền bồi hoàn để trình UBND tỉnh thu hồi đất và thực hiện việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho các hộ gia đình theo chủ trương của UBND tỉnh.
Đến hết thời gian nêu trên, những hộ dân không nhận tiền bồi hoàn, không hợp tác trong thực hiện lập hồ sơ giao đất sẽ bị Công ty U Minh Hạ tiến hành thanh lý hợp đồng giao khoán đất đã hết hạn và thu hồi đất theo quy định. Số tiền các hộ không nhận bồi hoàn được nộp vào Kho bạc Nhà nước huyện U Minh theo quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cũng yêu cầu các cơ quan bảo vệ pháp luật kiểm tra, nếu phát hiện thì xử lý nghiêm các đối tượng lợi dụng tình hình yêu cầu, khiếu nại để kích động, lôi kéo người khác thực hiện các hành vi trái với quy định của pháp luật; UBND huyện U Minh chỉ đạo các ngành chức năng và UBND xã Khánh Thuận treo Thông báo số 43 đến từng hộ gia đình có liên quan, yêu cầu 130 hộ dân ấp 19, 20, 21 của xã Khánh Thuận thực hiện tốt tinh thần thông báo của tỉnh.
Trước đó, Báo Nhân dân có bài viết “Bảo đảm lợi tích của người dân khi thu hồi đất”,nói rõ việc Công ty U Minh Hạ thu hồi 500 m chiều dài (tương đương 50% diện tích đất giao khoán) của 130 hộ dân các ấp 19, 20, 21. Sau các bước xác minh và lấy ý kiến từ người dân, UBND tỉnh Cà Mau thống nhất triển khai phương án bồi hoàn thành quả lao động cho những hộ dân bị thu hồi đất (hộ gốc, hộ thừa kế từ hộ gốc và hộ nhận chuyển nhượng thành quả từ hộ gốc trước thời điểm năm 1996) trên tinh thần bảo đảm quyền lợi và lợi ích kinh tế tốt nhất cho người dân.
Đến chiều ngày 18-9, lãnh đạo Công ty U Minh Hạ cho biết đã có 31 hộ đồng thuận theo phương án bồi hoàn của tỉnh và đang được xem xét cấp sổ đỏ trên phần đất còn lại theo chủ trương của UBND tỉnh. (Nhân Dân 18/9)đầu trang(
Làm việc với Đoàn ĐBQH tỉnh, Ban quản ký Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt kiến nghị Trung ương cần xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho ngành lâm nghiệp.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt là đơn vị sự nghiệp về lâm nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đơn vị được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích trên 85.231 ha rừng và đất lâm nghiệp được phân bố trên 9 xã của huyện Quế Phong.
Tại hội nghị cán bộ Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt đề xuất Trung ương cần xây dựng cơ chế chính sách đặc thù cho ngành lâm nghiệp, đặc biệt là cơ chế về đầu tư và sử dụng nguồn vốn đầu tư trong hạng mục công trình lâm sinh, nghiên cứu khoa học.
Đồng thời Trung ương cần xây dựng và ban hành các cơ chế chính sách chia sẻ lợi ích từ rừng cho cộng đồng dân cư, nhất là những cộng đồng dân cư sống trong vùng lõi các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.
Đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành liên quan xem xét phụ cấp ưu đãi ngành Kiểm lâm cho lực lượng viên chức của đơn vị đang công tác tại các Trạm Quản lý bảo vệ rừng và đội Kiểm lâm cơ động.
Kiến nghị với Đại biểu Quốc hội, ông Nguyễn Văn Sinh - Giám đốc Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho biết: Hiện nay, toàn bộ diện tích rừng được giao cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
“Toàn bộ diện tích này mới được xác định trên bản đồ mà chưa được cắm mốc thực địa, đặc biệt là mốc ranh giới với các vùng đệm và khu dân cư. Vấn đề này gây khó khăn trong công tác quản lý và thực thi pháp luật bảo vệ rừng. Mặt khác, đơn vị có 8 trạm quản lý bảo vệ rừng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”- ông Sinh nhấn mạnh.
Trao đổi với Đại biểu Quốc hội, ông Nguyễn Văn Sinh cho hay, theo quy định hiện hành về đề án vị trí việc làm đã được phê duyệt, số lượng công chức, viên chức của đơn vị chỉ mới bố trí được hơn 1/3 quân số theo quy định. Vì vậy, việc thực thi nhiệm vụ gặp nhiều khó khăn. Do thiếu nhân lực, mỗi cán bộ phải quản lý diện tích gấp 7-8 lần so với quy định nên đơn vị đang chủ yếu tập trung nhân lực cho nhiệm vụ bảo vệ rừng, còn vấn đề nghiên cứu khoa học còn hạn chế.
Ngoài ra, lực lượng Kiểm lâm thường xuyên phải tuần tra trong rừng ở vùng sâu, vùng xa, các khu vực nhạy cảm biên giới và phải luôn đối mặt với với lâm tặc manh động và liều lĩnh. Tuy nhiên, hiện nay nhà nước vẫn chưa có văn bản nào quy định việc quản lý, sử dụng các phương tiện vũ khí.
Góp ý vào Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng, Ban quản lý rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt cho rằng tên gọi hiện nay là “Luật Bảo vệ và phát rừng” chưa bao hàm hết nội dung của Luật bởi trong Luật hầu hết là những quy định về Lâm nghiệp, mặt khác nội dung luật này đề cập đến nhiều vấn đề khác ngoài quản lý và bảo vệ rừng nên tên “Luật Bảo vệ và phát rừng” không còn phù hợp.
Tại khoản 3, Điều 19 về Nguyên tắc giao rừng, cho thuê rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng và thu hồi rừng quy định: “Chủ rừng được Nhà nước giao, cho thuê rừng tự nhiên, rừng trồng do Nhà nước đầu tư không được tổ chức, cá nhân khác thuê lại những diện tích rừng đó”.
Theo Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt thì quy định này xét về mặt quản lý nhà nước tổng thể là đúng và phù hợp. Tuy nhiên, trong thực tế các khu vực có tiềm năng về khai thác du lịch, dịch vụ ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên thường gắn với cảnh quan thiên nhiên với rừng.
Việc đầu tư khai thác du lịch, dịch vụ của các nhà đầu tư thường phải gắn với rừng và đất rừng. Như vậy với quy định này sẽ khó khăn nhất định cho các chủ rừng để khai thác các dịch vụ, du lịch. Vì vậy, Luật cần có quy định mở đối với những đối tượng này.
Ý kiến của đơn vị cho rằng, Luật cần có quy định cụ thể và thống nhất về hệ thống tổ chức quản lý của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Thực tế hiện nay, hệ thống tổ chức quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên chưa thực sự thống nhất.
Hiện nay các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đang tồn tại một lực lượng viên chức rất lớn được bố trí vào Hạt Kiểm lâm và làm nhiệm vụ Kiểm lâm viên. Các đại biểu băn khoăn vậy lực lượng này sẽ xử lý như thế nào khi Luật được ban hành và có hiệu lực?
Thay mặt Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, ông Nguyễn Thanh Hiền ghi nhận, đánh giá cao các ý kiến góp ý tâm huyết, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt., đồng thời trả lời, giải trình làm rõ những ý kiến cử tri Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt quan tâm.
Liên quan đến các ý kiến góp ý, kiến nghị của đơn vị, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh sẽ có kiến nghị gửi đến các cơ quan, ban, ngành liên quan về tại các diễn đàn của Quốc hội, góp phần làm tốt công tác bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Nghệ An 18/9)đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, đã yêu cầu lãnh đạo kiểm lâm làm văn bản giải trình việc xây dựng biệt phủ bằng gỗ quý.
Vừa qua, dư luận xôn xao về biệt phủ rộng thênh thang của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị, được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ quý với tiền công xây dựng đã hơn 2 tỷ đồng.
Trước sự việc trên, sáng 18/9, trao đổi với PV, ông Nguyễn Đức Chính (Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị) cho biết, UBND tỉnh đã nắm bắt được sự việc ngôi nhà của ông Khổng Trung, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm xây dựng bằng gỗ quý, việc này ông đã yêu cầu ông Khổng Trung báo cáo sự việc.
“Tôi cũng đã nắm được sự việc và đang yêu cầu chi Cục trưởng chi cục kiểm lâm giải trình bằng văn bản. Sau khi giải trình xong UBND tỉnh sẽ trực tiếp đi kiểm tra và có hướng giải quyết cụ thể sau”, ông Chính thông tin.
Cũng theo ông Chính, UBND tỉnh sẽ kiểm tra việc nhập gỗ của ông Trung có đúng thủ tục và có giấy tờ hay không? Sau đó, sẽ làm việc với ông Trung để nắm bắt tình hình cụ thể. Quan điểm của UBND tỉnh sẽ làm rõ vụ việc, tránh gây xôn xao dư luận, gây đàm tiếu không hay.
Được biết, Khu nhà bằng gỗ quý của vợ chồng ông Khổng Trung được xây dựng tại phận xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, Quảng Trị - một vùng quê thuần nông, đời sống người dân còn nhiều khó khăn.
Diện tích xây dựng khu nhà của ông Trung khoảng 2000m2 đất, nhà được làm và hoàn thành trong vòng 12 tháng. Căn nhà bằng gỗ này được xây đầu năm 2015 đến đầu năm 2016 thì xong.
Ngôi nhà tiêu tốn khoảng 80 khối gỗ, 32 cây cột gỗ thuộc nhiều loại gỗ quý như lim, gõ, chua, trường... Theo chia sẻ của ông Trung, số tiền ông bỏ ra để xây dựng ngôi nhà này vào thời điểm đó hơn 2 tỷ đồng.
Trả lời báo chí, ông Trung cho biết, nhà ông xây dựng có đầy đủ giấy tờ và gỗ được ông tích lũy từ nhiều năm qua. 80 khối gỗ ông có được là từ việc mua đấu giá gỗ tịch thu của kiểm lâm, bạn bè cho cũng có, còn lại mua ở các cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Còn kinh phí xây dựng, ông Trung cho biết, hiện tại ông sở hữu hơn 30 ha rừng, 1 cây xăng và 1 phòng khám tại xã Hải Ba, kinh doanh nhiều năm mới có số tiền trên để làm nhà. (Đời Sống Việt Nam 18/9)đầu trang(
Vùng giáp ranh TX An Khê (Gia Lai) – Vĩnh Thạnh (Bình Định): Tổng diện tích đất lâm nghiệp bị lấn, chiếm lên đến 884 ha
Theo điều tra của cơ quan chức năng, hiện nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp bị lấn, chiếm tại vùng giáp ranh của 3 xã Tú An, Xuân An, Cửu An (TX An Khê, tỉnh Gia Lai) và 2 xã Vĩnh Hảo, Vĩnh Thuận (Vĩnh Thạnh, Bình Định) là 883,8 ha.
Trong đó, tại tiểu khu 210A (xã Vĩnh Hảo), diện tích đất bị lấn chiếm thuộc chức năng đất rừng phòng hộ là 162 ha, do Ban Quản lý rừng phòng hộ Vĩnh Thạnh quản lý. Tại tiểu khu 226, 217, 210B (xã Vĩnh Thuận) diện tích bị lấn chiếm là 721,8 ha, thuộc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn quản lý; trong đó, có 403 ha đất do hộ dân sản xuất xâm canh lâu năm và 318,8 ha đất đã trồng rừng sau khi khai thác bị các hộ dân chiếm dụng trái phép.
UBND huyện Vĩnh Thạnh đã phối hợp UBND TX An Khê tập trung chỉ đạo các ngành liên quan, các xã giáp ranh củng cố hồ sơ vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi lấn chiếm 318,8 ha đất lâm nghiệp của Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn. Đối với phần diện tích 162 ha đất quy hoạch chức năng phòng hộ do Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện quản lý, tiến hành rà soát cụ thể hiện trạng sử dụng đất, tổ chức tuyên truyền, vận động người dân tự giác trả lại đất để Ban Quản lý rừng phòng hộ trồng rừng phòng hộ và ưu tiên giao khoán cho hộ dân nhận trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ để hưởng lợi theo quy định của Nhà nước. (Báo Bình Định 17/9)đầu trang(
Thực hiện chủ trương của UBND tỉnh và UBND thành phố Kon Tum, các xưởng chế biến gỗ và lâm sản của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố nằm ngoài mạng lưới quy hoạch buộc dừng hoạt động và có phương án di dời vào vị trí quy hoạch. Trước yêu cầu đặt ra, chúng tôi đã gặp gỡ các cơ quan chức năng để làm rõ vấn đề đang được các doanh nghiệp trên quan tâm.
Tìm hiểu việc thực hiện Quyết định 639/QĐ-UBND ngày 14/7/2011 của UBND tỉnh về phê duyệt Phương án quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2025, chúng tôi gặp gỡ một số doanh nghiệp nằm ngoài mạng lưới quy hoạch ở địa bàn thành phố Kon Tum.
Ông Trương Văn Sơn - Giám đốc Công ty TNHH MTV Việt Nhân cho biết, doanh nghiệp có cơ sở tại phường Duy Tân với ngành nghề là khai thác, chế biến, mua bán lâm sản; xây dựng công trình cơ bản… Thực hiện chủ trương của tỉnh, tháng 11/2016, Công ty có đơn xin thuê đất gửi UBND thành phố Kon Tum, Trung tâm Phát triển cụm công nghiệp thành phố Kon Tum để có đất hoạt động phù hợp với mạng lưới quy hoạch chế biến lâm sản. Tuy nhiên, từ ngày gửi đơn đến nay, Công ty vẫn chưa có hồi âm. Cũng tại phường Duy Tân, chúng tôi gặp bà Thái Thị Mai - Giám đốc Công ty TNHH MTV Mai Hùng Cường chuyên chế biến và kinh doanh lâm sản.
Bà Mai bộc bạch: Do nằm ngoài mạng lưới quy hoạch chế biến lâm sản của tỉnh, để có đất sản xuất phù hợp với quy hoạch, hiện Công ty thuê lại khoảng 1 sào đất của một doanh nghiệp nằm trong Khu Công nghiệp Hòa Bình (giai đoạn 1). Do phải thuê lại đất và diện tích đất được thuê không đáp ứng nhu cầu, đầu năm 2017, Công ty làm đơn xin thuê đất gửi UBND thành phố, Trung tâm Phát triển cụm công nghiệp thành phố Kon Tum. Tuy nhiên, kể từ ngày gửi đơn đến nay, Công ty chưa có hồi âm.
Tương tự, ông Vũ Văn Tuấn - Giám đốc Công ty TNHH MTV Trường Tín Phát giãi bày: Năm 2010, Công ty được thành lập và đi vào sản xuất đồ gỗ xây dựng, giường, tủ, bàn, ghế… tại thôn Kon Klo II, xã Đăk Rơ Wa. Do nằm ngoài mạng lưới chế biến gỗ và lâm sản, tháng 11/2016, Công ty bị UBND thành phố Kon Tum đình chỉ hoạt động chế biến lâm sản tại xã Đăk Rơ Wa. Ngày 21/6/2017, Công ty làm đơn xin thuê đất gửi UBND thành phố, Trung tâm Phát triển cụm công nghiệp thành phố với nguyện vọng được di dời vào làng nghề H’nor…
Thừa lệnh Chủ tịch UBND thành phố Kon Tum, ngày 9/8/2017, ông Nguyễn Quốc Vương - Chánh Văn phòng UBND thành phố trả lời đơn xin thuê đất của ông Vũ Văn Tuấn như sau: UBND thành phố đang thực hiện Phương án sắp xếp hoạt động tại làng nghề H’nor. Trong đó, UBND thành phố ưu tiên bố trí đất cho các đối tượng thuê đất là các hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp đang hoạt động tại địa bàn các phường đông dân cư (Quyết Thắng, Quang Trung, Duy Tân, Thống Nhất, Trường Chinh, Thắng Lợi) vào hoạt động tại làng nghề H’nor. Vì vậy, ông Vũ Văn Tuấn (đại diện Công ty TNHH MTV Trường Tín Phát) không thuộc đối tượng được thuê đất tại làng nghề H’nor.
Ngoài ra, trong văn bản trả lời này, ông Vương còn nói rõ thêm: Làng nghề H’nor không nằm trong vị trí các điểm quy hoạch cơ sở chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh nên UBND thành phố không thể cho thuê đất và đề nghị Công ty này liên hệ với Ban quản lý Khu Kinh tế tỉnh để được hướng dẫn cho thuê đất phù hợp với quy hoạch.
Trên thực tế, trong Phương án quy hoạch mạng lưới chế biến gỗ và lâm sản trên địa bàn tỉnh, vị trí quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ và lâm sản tại thành phố Kon Tum là Khu Công nghiệp Hòa Bình và Khu Công nghiệp Sao Mai. Trong quá trình làm việc, chúng tôi được biết Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh được tỉnh giao quản lý quỹ đất Khu Công nghiệp Sao Mai.
Bà Đặng Thị Trang - Giám đốc Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh cho biết, đơn vị được tỉnh giao quản lý 88ha đất tại Khu Công nghiệp Sao Mai. Việc các doanh nghiệp muốn thực hiện các dự án chế biến gỗ và lâm sản thì liên hệ với UBND tỉnh và các sở, ban, ngành có liên quan để được xem xét, bố trí quỹ đất phù hợp với quy hoạch.
Làm rõ vấn đề được các doanh nghiệp chế biến gỗ nằm ngoài mạng lưới quy hoạch quan tâm, ông Vũ Mạnh Hải - Phó trưởng Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh cho biết: Khu Công nghiệp Hòa Bình (giai đoạn 1) hiện đang kín đất (các doanh nghiệp thuê hết quỹ đất); Khu Công nghiệp Hòa Bình (giai đoạn 2) và Khu Công nghiệp Sao Mai tỉnh đang làm các thủ tục xin chuyển qua vị trí khác.
Vì vậy, hai khu công nghiệp này chưa thành lập nên chưa tiếp nhận dự án đầu tư của các doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có nhu cầu thì liên hệ với Ban Quản lý Khu Kinh tế tỉnh để có thể tìm hiểu đầu tư vào Cụm Công nghiệp Đăk La hoặc Khu Kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y... (Báo Kon Tum 17/9)đầu trang(
Ngày 13-9, UBND tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết vùng trồng rừng, khoanh nuôi, quản lý bảo vệ rừng tại huyện Phú Hòa, do Doanh nghiệp tư nhân Bảo Châu làm chủ đầu tư.
Theo đó, Dự án Quy hoạch chi tiết này có tổng diện tích 1.336,2ha thuộc 03 xã: Hòa Quang Nam, Hòa Quang Bắc và Hòa Hội. Trong đó, quy hoạch trồng rừng 761,21 ha (Hòa Quang Nam: 407,8ha; Hòa Quang Bắc: 143,39ha; Hòa Hội: 210,03ha), gồm: trồng rừng phòng hộ: 476,31 ha; trồng rừng sản xuất: 284,9 ha.
Quy hoạch khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (rừng phòng hộ): 15,27 ha (Hòa Quang Bắc 1,97ha; Hòa Hội 13,3ha). Quy hoạch bảo vệ rừng tự nhiên: 164,58 ha (Hòa Quang Nam 31,43ha; Hòa Quang Bắc 109,63ha; Hòa Hội 23,52ha), gồm: rừng phòng hộ 146,98 ha; rừng sản xuất 17,6 ha. Quy hoạch Bảo vệ rừng đã trồng: 369,48 ha (Hòa Quang Nam 3,16ha; Hòa Quang Bắc 206,09ha; Hòa Hội 160,23ha), gồm: rừng phòng hộ 265,51 ha; rừng sản xuất 103,97 ha. Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng 23,96 ha. Sông suối, ao hồ và núi đá 1,7ha.
Loài cây trồng chủ yếu là các giống keo lai. Cây có chất lượng tốt, không sâu bệnh, sinh trưởng và phát triển tốt, sinh khối tăng mạnh, nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, mang lại lợi nhuận đầu tư cao; tiến độ trồng rừng, chăm sóc rừng: sau khi hoàn thành các thủ tục đầu tư giai đoạn 1, dự kiến từ năm 2017 - 2024, bằng nguồn vốn của Doanh nghiệp, phấn đấu đạt năng suất rừng trồng 150 m3/ha (chu kỳ 7 năm).
UBND tỉnh yêu cầu Chủ đầu tư có trách nhiệm phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT, UBND huyện Phú Hòa và các đơn vị liên quan công bố công khai dự án Quy hoạch được duyệt theo quy định hiện hành và tổ chức thực hiện Quy hoạch này. Đồng thời, lập các dự án đầu tư cụ thể cho từng hạng mục lâm sinh như: Dự án trồng rừng (phòng hộ, sản xuất); dự án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên; dự án quản lý bảo vệ rừng trồng và rừng tự nhiên; lập phương án liên doanh liên kết với hộ gia đình trồng rừng để trình cơ quan chức năng tham gia ý kiến thẩm định theo quy định, Chủ đầu tư tự phê duyệt để triển khai các bước tiếp theo đạt kết quả và tiến độ.
Riêng đối với đất trồng rừng trong vùng Dự án, nếu sau 24 tháng kể từ ngày được giao, được thuê để phát triển rừng mà không tiến hành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng thì phải được gia hạn hoặc sử dụng không đúng mục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước hoặc vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp luật về đất đai, về bảo vệ và phát triển rừng thì diện tích trong vùng dự án đương nhiên hết hiệu lực. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Phú Yên 15/9)đầu trang(
Một trong những mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa lần thứ XII, nhiệm kỳ 2015 - 2020 là phấn đấu độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt từ 47,5% trở lên. Để thực hiện mục tiêu này, ngành chức năng và chính quyền địa phương đã tăng cường các biện pháp nhằm gia tăng độ che phủ rừng.
Theo kết quả kiểm kê rừng đã được UBND tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt cuối năm 2016, tỷ lệ độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 46%; nếu không tính địa bàn huyện Trường Sa thì độ che phủ rừng toàn tỉnh đạt 51%, cao hơn so với trung bình cả nước. Các địa phương có tỷ lệ độ che phủ rừng cao như: Khánh Vĩnh 77,9%, Khánh Sơn 62,3%, Vạn Ninh 51,6%, Cam Lâm 47,3%.
Ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho hay: “Qua kiểm kê rừng trong năm 2016, tỷ lệ che phủ rừng của huyện Khánh Vĩnh đạt 77,9%, tăng 2,9% so với năm 2015, cao nhất trong số các địa phương trên địa bàn tỉnh. Có được kết quả này là nhờ công tác quản lý, bảo vệ rừng trên địa bàn ngày càng tốt hơn”. Theo ông Hóa, Khánh Vĩnh có diện tích rừng tự nhiên lớn, với nhiều loại gỗ quý; rừng lại nằm sát các tuyến đường giao thông, vì vậy lâm tặc luôn tìm cách khai thác trái phép.
Một thời gian dài, Khánh Vĩnh là điểm nóng về nạn phá rừng trên địa bàn tỉnh, nhưng nhờ Chi cục Kiểm lâm tỉnh tăng cường lực lượng kiểm lâm cơ động tỉnh chốt chặn ở dốc A Meo; lực lượng của Hạt Kiểm lâm, chủ rừng thường xuyên tuần tra, truy quét sâu vào rừng, các chốt bảo vệ rừng được xây dựng, đặt cố định tại các điểm nóng về phá rừng nên rừng ở thượng nguồn Khánh Thượng, Sơn Thái, Khánh Phú… ngày càng được bảo vệ tốt hơn. Thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho thấy, tính đến hết tháng 8, trên địa bàn tỉnh chỉ phát hiện 238 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, giảm 97 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Ông Bùi Đức Luyến - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Sơn cũng cho biết: “Thời gian qua, Khánh Sơn đã đẩy mạnh và thực hiện khá tốt công tác bảo vệ rừng, nhất là phòng, chống cháy rừng. Bên cạnh đó, công tác phát triển rừng, nhất là trồng rừng sản xuất được người dân chú trọng nên đã giúp tăng độ che phủ rừng trên địa bàn huyện lên 62,3%”. Được biết, để chủ động phòng cháy chữa cháy rừng, lực lượng chức năng huyện Khánh Sơn đã rà soát, cập nhật hàng chục khu vực có nguy cơ cháy cao để chủ động phương án ứng phó trong mùa khô; cập nhật liên tục cấp dự báo cháy rừng.
Trên cơ sở đó, phối hợp với các ngành chức năng, địa phương, đơn vị chủ rừng để chủ động phòng, chống cháy rừng; tổ chức ứng trực 24/24 giờ; các đơn vị chủ rừng tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác nghiêm ngặt; quản lý chặt việc dùng lửa ở trong rừng, ven rừng, sử dụng lửa để đốt nương rẫy của nhân dân… Nhờ đó, nhiều năm liền trên địa bàn huyện không mất rừng do cháy.
Ông Nguyễn Khương - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm nhận định: Có nhiều nguyên nhân giúp độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh tăng trong thời gian gần đây. Trong đó phải kể đến chủ trương đóng cửa rừng tự nhiên của Thủ tướng Chính phủ, nhờ không khai thác rừng nên nhiều cánh rừng được giữ nguyên. Bên cạnh đó, công tác bảo vệ rừng, chống nạn khai thác rừng trái phép được đẩy mạnh nên nhiều điểm nóng về khai thác rừng trái phép đã hạ nhiệt, rừng được bảo vệ từ gốc.
Một nguyên nhân quan trọng khác là hiệu quả từ rừng sản xuất mang lại cho người dân ngày một cao nên ở nhiều địa phương, diện tích rừng sản xuất ngày một tăng, nhiều khu vực có độ dốc cao đã được người dân trồng keo, nhờ vậy độ che phủ rừng tăng lên; cùng với đó, việc trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên của các chủ rừng cũng được chú trọng. Chẳng hạn như ở huyện Khánh Vĩnh, nếu như năm 2010, toàn huyện chỉ có 2.000ha, đến năm 2015 có 3.000ha, thì hiện nay, diện tích cây keo của người dân đã lên đến hơn 4.000ha.
Trong khi đó, theo thống kê của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Khánh Sơn, diện tích keo trên địa bàn huyện cũng tăng nhanh trong những năm gần đây, đến nay toàn huyện đã có hơn 4.700ha. Tính chung toàn tỉnh có hơn 83.800ha rừng sản xuất của các chủ rừng nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình.
Để giữ vững và tăng độ che phủ rừng trên địa bàn tỉnh, Chi cục Kiểm lâm đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tập trung thực hiện tốt nhiều biện pháp; trong đó, quyết liệt chống nạn lấn chiếm đất rừng, phát đốt rừng làm nương rẫy, nhất là ở các huyện miền núi; ngăn chặn nạn phá rừng, đồng thời đẩy mạnh công tác chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh rừng. (Báo Khánh Hòa 18/9)đầu trang(
;
Nhìn từ con số, thì Quảng Nam đã gần cán đích chỉ tiêu diện tích trồng rừng thay thế (TRTT) bắt buộc đối với các dự án, công trình xây dựng chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng, đặc biệt các nhà máy thủy điện.
Vậy nhưng, thực tiễn kiểu TRTT chạy theo chỉ tiêu, kế hoạch hàng năm đã bộc lộ không ít bất cập, thiếu đồng bộ. Trách nhiệm của TRTT không chỉ trồng bù lại diện tích đã mất mà cần có thời gian dài “nuôi rừng” đáp ứng đa dạng sinh học. Các đợt giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh vừa qua đã chỉ ra nhiều “khoảng trống” trong TRTT các dự án thủy điện. Quanh các lòng hồ thủy điện Sông Tranh 2, Đắc Mi, Sông Bung... nhiều chủng loại cây trồng hơn 4 năm tuổi với chức năng phòng hộ phát triển rất nhanh. Hàng trăm diện tích TRTT này nếu được chăm sóc, bảo vệ tốt sẽ đóng góp rất lớn vào đa dạng sinh học.
Chúng tôi trở lại xã Trà Bui (Bắc Trà My) lần này, không theo đường bộ vòng quanh mà đi bằng thuyền máy. Dưới chân núi, rừng sao đen do Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh trồng 4 năm tuổi cao hơn đầu người. Ban quản lý Dự án thủy điện 3 là chủ đầu tư nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 có trách nhiệm TRTT quy mô 400ha (bao gồm trồng mới, khoanh nuôi trồng bổ sung), song đến thời điểm này mới triển khai thực hiện 340ha.
Theo Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh, trồng rừng phòng hộ một loại cây sao đen, trên trạng thái rừng 1b, với mật độ 1.333 cây/ha, tỷ lệ cây sống đạt gần 94%, với mức đầu tư hơn 78,2 triệu đồng/ha. Còn với hình thức khoanh nuôi có trồng bổ sung phát tuyến dọn bì thực vật ở nơi không có cây tái sinh, loại rừng phòng hộ trạng thái 1c, mật độ trồng cây thưa thớt hơn (500 cây/ha) với mức đầu tư gần 45 triệu đồng/ha.
Phó Giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh - ông Nguyễn Vĩnh Hiền cho biết, cây TRTT phát triển, sinh trưởng tốt, sau 10 năm sẽ bù đắp được diện tích rừng bị mất do chuyển mục đích sử dụng đất rừng của công trình thủy điện, góp phần liên kết các khu rừng đặc dụng, phòng hộ hiện có, phát huy hiệu quả bảo vệ nguồn nước, làm giàu đa dang sinh học. Kiểm tra thực địa TRTT ở xã Trà Bui, đoàn giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh có chung nhận định, ở khu vực gần với mặt nước lòng hồ, cây trồng với mật độ dày đặc, rất bài bản nhưng càng lên cao thì thưa thớt dần.
Ngược lên vùng cao các xã Cà Dy, La Dêê, thị trấn Thạnh Mỹ (Nam Giang), nơi Nhà máy thủy điện Sông Bung 2 có trách nhiệm trồng rừng sản xuất thay thế với diện tích hơn 104ha. Hai loại cây trồng chủ yếu là lát hoa và bời lời đỏ. Rừng nơi đây hơn 3 năm tuổi, với mức đầu tư hơn 100 triệu đồng/ha/10 năm (theo quy trình 1 năm trồng, 4 năm chăm sóc và 5 năm bảo vệ). Còn Nhà máy thủy điện Sông Bung 4 trồng hơn 120ha rừng đặc dụng thay thế ở xã Ta Bhing, La Dêê, chủng loại cây đa dạng hơn ở huyện Bắc Trà My gồm lim xanh, lát hoa, chò và sao đen. Địa điểm trồng nằm sâu trong rừng. Để tránh tình trạng trâu bò chăn thả rông giẫm đạp hư hỏng, nhiều khu vực đơn vị thi công “cấm cửa rừng”.
Bên cạnh đó, Nhà máy thủy điện Sông Bung 4 trồng thêm 141,5ha rừng phòng hộ thay thế diện tích đất rừng đã chuyển đổi mục đích sử dụng. Tại gói thầu gần 60ha, hiện Công ty TNHH Nguyên Phú đã tiếp tục thay thế Công ty CP Đầu tư thủy điện Sông Tiên nhận chăm sóc cây 3 năm tuổi với tỷ lệ cây sống đạt 85%. Riêng gói thầu hơn 82ha, chủ đầu tư đã thực hiện trồng và chăm sóc, đang lập các thủ tục bàn giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Sông Bung quản lý, bảo vệ.
Báo cáo của UBND huyện Nam Giang cho biết, hai nhà máy thủy điện Sông Bung 2 và Sông Bung 4 trồng rừng phòng hộ thay thế với tổng diện tích 434,6ha. Theo đánh giá của địa phương, TRTT với 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất đạt tỷ lệ cây sống khá cao từ 85% trở lên. Cây lim xanh phát triển tốt, ngược lại cây lát hoa, chò thường bị động vật ăn lá, ngọn.
Những khoảnh rừng tại xã Trà Bui (Bắc Trà My), Cà Dy (Nam Giang) hay trồng quanh khu vực rừng phòng hộ Đắc Mi (Phước Sơn) mà đoàn giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh đến khảo sát hiện ở chu kỳ chăm sóc, đang chuẩn bị bàn giao quyền quản lý, bảo vệ về cho các chủ rừng. Nhiều nơi đã thành rừng với độ che phủ cao và xác lập tính pháp lý, hạn chế đáng kể trồng rừng chồng lấn, hoặc tranh chấp đất trồng với người dân. Bà Phạm Thị Như - Phó Chủ tịch UBND huyện Nam Giang thông tin, địa phương đã hoàn thành 100% diện tích TRTT từ các dự án thủy điện tỉnh giao. Các đơn vị thi công tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chăm sóc rừng theo hồ sơ thiết kế dưới sự giám sát của các đơn vị chủ rừng, ban quản lý trồng rừng thay thế huyện, các đơn vị tư vấn giám sát.
Theo Phó Giám đốc phụ trách Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh Nguyễn Vĩnh Hiền, lưu vực lòng hồ thủy điện Sông Tranh thuộc địa bàn 2 xã Trà Bui, Trà Giác (Bắc Trà My) thống kê có 2.377ha quỹ đất chưa có rừng, đất trống. “Đơn vị kiến nghị UBND huyện chỉ đạo hai xã nêu trên vận động nhân dân đăng ký, tham gia TRTT để nâng cao diện tích rừng phòng hộ trên địa bàn; tạo thu nhập ổn định, lâu dài từ chi phí nhân công trồng, chăm sóc bảo vệ rừng theo dự án và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng” - ông Hiền đề xuất.
Thời gian qua, để tìm quỹ đất TRTT, chủ đầu tư các nhà máy thủy điện cùng với địa phương có cuộc rà soát, kiểm kê rừng và đất lâm nghiệp với quy mô lớn. Vì vậy mà diện tích đã trồng rừng không bị chồng lấn với các loại rừng đã quy hoạch. Từ năm 2012 đến nay, Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng trung ương và cấp tỉnh đã ký kết 29 hợp đồng ủy thác với các đơn vị có sử dụng dịch vụ môi trường rừng để sản xuất kinh doanh thủy điện, nước sạch, dịch vụ du lịch. Trong đó, có 22 đơn vị sản xuất thủy điện ký hợp đồng ủy thác để có nguồn TRTT. Tính đến cuối tháng 7.2017, tổng chi ủy thác tiền dịch vụ môi trường rừng đạt 298 tỷ đồng.
Để đảm bảo cho hàng nghìn héc ta rừng thay thế trở thành vành đai xanh đầu nguồn, ngay từ bây giờ chính quyền địa phương các cấp, chủ rừng cần xác lập một cơ chế giám sát chặt chẽ, trói buộc trách nhiệm đi đôi với giải quyết thỏa đáng quyền lợi.
Theo ông Đặng Tấn Giản - Phó Trưởng ban Dân tộc UBND tỉnh, trồng rừng thay thế (TRTT) phải giải quyết hài hòa lợi ích, tránh xung đột với phát triển sinh kế. Theo chính quyền huyện Bắc Trà My, phải để người dân nhận chăm sóc, bảo vệ rừng sau khi trồng. Khi họ được hưởng lợi thì sẽ bảo vệ rừng có trách nhiệm hơn. Quy hoạch TRTT cần phối hợp nhịp nhàng với địa phương, hạn chế thấp nhất tình trạng quy hoạch chồng lấn. Sai lầm đã trả giá đắt là quy hoạch trước đây đã đẩy người dân tái định cư ở xã Trà Bui là vào rừng phòng hộ sinh sống. Còn bà Phạm Thị Như - Phó Chủ tịch UBND huyện Nam Giang đề nghị, đối với rừng sản xuất thay thế rừng chuyển đổi mục đích sử dụng phục vụ dự án thủy điện Sông Bung 2 nên tăng thêm 1 lần chăm sóc thành 3 lần/năm thay vì 2 lần/năm như hiện nay.
Kinh nghiệm TRTT thành công ở các tỉnh phía Bắc cho thấy, khái niệm TRTT được hiểu thông thoáng hơn. Nghĩa là không chỉ tập trung hoặc quy định bắt buộc phải trồng rừng mới, kinh phí TRTT được sử dụng để thuê khoán cộng đồng, hộ gia đình quản lý, bảo vệ các khu vực rừng tái sinh, trồng dặm, tăng cường phục hồi diện tích rừng tự nhiên.
Nói cách khác, TRTT cần được xác định như một trong các hoạt động lâm nghiệp quan trọng, được lồng ghép vào các kế hoạch bảo vệ phát triển rừng, hỗ trợ tích cực cho việc thực hiện các mục tiêu bảo vệ diện tích rừng hiện có, nâng cao độ che phủ rừng, cải thiện chất lượng rừng. Cần quy định rõ hơn về vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của Quỹ Bảo vệ phát triển rừng với TRTT và chế tài xử lý đối với chủ dự án cố tình chây ỳ hoặc không TRTT.
Ông Phạm Phú - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh cho rằng, đối với các dự án đầu tư có chuyển đổi rừng, nếu chưa xây dựng được phương án TRTT thì chưa được khởi công nhằm tránh tình trạng như hiện nay nhiều chủ dự án viện cớ khó khăn trong kinh doanh xin nợ tiền TRTT, hoặc một số dự án đã bán lại cho các chủ đầu tư khác gây khó khăn cho việc thu tiền TRTT.
Từ việc nợ hơn 6 tỷ đồng tiền TRTT của nhà máy thủy điện Sông Tranh 2, nhiều ý kiến đề nghị cần có chế tài xử lý đối với chủ dự án cố tình chây ỳ việc nộp tiền TRTT; có hướng dẫn về trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng, sử dụng rừng trồng và cơ chế hưởng lợi cũng như chia sẻ lợi ích với diện tích TRTT khi đến độ tuổi khai thác. Đoàn giám sát Ban Dân tộc HĐND tỉnh lưu ý, việc TRTT phải theo hồ sơ thiết kế, yêu cầu chủ đầu tư tính toán bổ sung thay thế cây trồng chết để đảm bảo mật độ. Các đơn vị chủ rừng, ban quản lý TRTT huyện, các đơn vị tư vấn giám sát chặt chẽ việc TRTT.
Nhiều năm gần đây, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh và UBND tỉnh cho ra đời hàng loạt chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, trong đó tập trung vào giải pháp giúp người dân cải thiện sinh kế, lấy rừng nuôi rừng. Ông Nguyễn Nhuần - Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My cho rằng, với đồng bào dân tộc thiểu số tái định cư ở vùng xã Trà Giác, Trà Bui, ngành nông nghiệp gấp rút bóc tách diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu chuyển đổi thành đất sản xuất, cấp cho dân.
Điều cốt lõi phải rà soát, phân loại chi tiết 3 loại rừng (đặc dụng, phòng hộ và sản xuất), hạn chế tối đa nạn xâm lấn đất rừng dai dẳng. Mặt khác, cần chia sẻ thông tin TRTT cho địa phương để tăng cường sự tham gia, giám sát TRTT, quy định trách nhiệm cụ thể của chủ đầu tư. Theo ông Nguyễn Hoàng Minh - Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, người dân không trực tiếp thi công TRTT thời gian qua do chi phối bởi Luật Đấu thầu. Tuy nhiên, sau thời gian trồng, người dân địa phương sẽ là đối tượng được hỗ trợ chăm sóc, bảo vệ rừng, cùng với hưởng lợi từ dịch vụ chi trả môi trường rừng.
Nhiều chủ đầu tư chậm “trả nợ rừng”, đồng bào dân tộc thiểu số chưa hưởng lợi, thiếu cơ chế giám sát trong và sau khi trồng rừng thay thế (TRTT), chủng loại cây trồng còn nghèo nàn... là những rào cản lớn khi triển TRTT tại các địa phương miền núi.
Tại xã Tam Lãnh (Phú Ninh), Công ty TNHH Khai thác vàng Bồng Miêu trồng cây sao đen để hoàn rừng rất thưa thớt, nếu không muốn nói trồng chiếu lệ. Nhiều diện tích đã lấy quặng xong rồi bỏ hoang nhiều năm trời chưa hoàn thổ, TRTT do doanh nghiệp chưa bàn giao về cho địa phương quản lý. Hiện còn hơn 22ha doanh nghiệp này chưa phục hồi môi trường, trồng lại cây. Chủng loại cây trồng với chức năng phòng hộ ở các nơi cũng rất “tùy hứng” dù tương đồng về thổ nhưỡng, khí hậu.
Tại huyện Bắc Trà My, chỉ trồng duy nhất loại cây sao đen, trong khi tại huyện Nam Giang thì lát hoa, sao đen, lim xanh, chò. Ông Đỗ Tài - Bí thư Huyện ủy Đông Giang băn khoăn, địa phương rất đắn đo so sánh lợi - hại khi trồng mới hay khoanh nuôi có trồng bổ sung (trồng dặm). Thực tế trạng thái rừng 1c trồng mới cây phát triển nhanh, trong khi nhiều nơi thực bì lên nhanh phủ ngang cây trồng dặm. Ông Nguyễn Đình Tiên - Phó Trưởng ban Dân tộc HĐND tỉnh lo ngại việc Bắc Trà My trồng duy nhất cây sao đen mà không trồng thêm các cây lim, huỷnh, chò... Trồng mỗi cây sao đen dự báo 10 năm sau sẽ gây áp lực lớn cho công tác bảo vệ rừng. “Muốn đa dạng hệ sinh thái rừng, phải trồng hỗn loài” - ông Tiên nêu ý kiến.
Ông Phạm Phú - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh thừa nhận, một số khu vực thiết kế trồng rừng có thực bì phát triển nhanh, thiết kế chăm sóc rừng trồng chỉ thực hiện 2 lần/năm đối với 2 năm đầu chưa khắc phục tình trạng xâm lấn của thực bì, dẫn đến cây còi cọc, chậm phát triển. Từ năm 2015 theo quy định trồng rừng phải qua hình thức đấu thầu ảnh hưởng đến tiến độ TRTT (trước năm 2015 hầu hết công trình lâm sinh được chỉ định thầu).
Còn theo ông Nguyễn Đức - Trưởng ban Kinh tế ngân sách HĐND tỉnh, quan sát hiện trạng rừng không bền vững bởi đất rừng phòng hộ nhưng dân trồng keo, canh tác lúa. Thiếu sinh kế lâu dài sẽ đe dọa đến mục tiêu, chỉ tiêu nâng cao độ che phủ rừng. Tại xã Trà Bui, chúng tôi ghi nhận, thảm thực bì được phát dọn rất sạch để TRTT. Có một số loài cây rừng góp phần vào đa dạng sinh học cũng bị chặt ngang.
Ông Đặng Tấn Giản - Phó Trưởng ban Dân tộc UBND tỉnh cho rằng, TRTT hiện nay chưa đánh giá toàn diện kinh tế - xã hội, tác động môi trường, người dân hưởng lợi như thế nào. “Tại sao cây rừng đang sống phải chặt la liệt để TRTT. Các cây trồng mới chắc gì đa dạng sinh học bằng cây tự nhiên. Đồng bào bị hạn chế không gian sinh kế, số phận của rừng trồng rồi sẽ về đâu?” - ông Giản băn khoăn.
Khảo sát thực địa TRTT ở các địa phương cho thấy, đơn vị tư vấn thiết kế điều tra, khảo sát các yếu tố tự nhiên ngoài hiện trường trồng rừng chưa chính xác, có nhiều lô thiết kế trồng rừng trên đất nương rẫy của người dân. Một số loài cây bố trí không phù hợp với thổ nhưỡng nên tỷ lệ sống rất thấp như các cây bời lời đỏ, chò chỉ, lim xanh. Khâu ghi chép nhật ký giám sát quá trình TRTT không đầy đủ.
Việc tập hợp hồ sơ, chứng từ để thanh quyết toán đối với công trình trồng rừng, chăm sóc rừng hoàn thành chậm trễ. Chính quyền một số huyện miền núi chia sẻ bất cập, khó khăn trong xây dựng kế hoạch, hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí, thể chế và tổ chức thực hiện, cho đến nghiệm thu, giám sát. “Nhập nhằng” giữa nguồn chi ngân sách và ủy thác cho TRTT.
Ông Nguyễn Nhuần - Phó Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My phân trần, sở dĩ còn 60ha trên địa bàn chưa triển khai TRTT do chồng lấn với đất nương rẫy cũ của đồng bào thôn 6 xã Trà Bui. Kế hoạch trồng rừng của huyện là 400ha, hiện mới thực hiện 340ha. Năm 2013, trong quá trình thi công xử lý thực bì nhân dân thôn 6 đã đồng loạt ngăn cản không cho TRTT. Với diện tích này, năm 2016 UBND tỉnh đã có quyết định điều chỉnh sang trồng ở khu vực khác.
Nhiều chủ đầu tư dự án thủy điện chưa chủ động trong xây dựng phương án TRTT cũng như thực hiện nộp ngân sách TRTT. Một số dự án đã nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ phát triển rừng cấp tỉnh nhưng đơn vị này còn để vốn tồn đọng, chưa chủ động tham mưu cho UBND tỉnh trong việc quản lý, điều phối tiền để triển khai kế hoạch TRTT đúng tiến độ.
Hiện nay, còn 4 đơn vị chậm nộp tiền TRTT, trong số đó, Ban quản lý dự án thủy điện 3 - chủ đầu tư của nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 còn nợ hơn 6 tỷ đồng. Đến thời điểm này, số tiền TRTT chưa giải ngân được lên đến hơn 57,4 tỷ đồng. Theo Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh, chưa giải ngân là do UBND tỉnh vừa có văn bản phân bổ kế hoạch TRTT năm 2017 cho các đơn vị được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện trồng rừng.
Hiện các chủ đầu tư khẩn trương phối hợp tư vấn lập hồ sơ thiết kế, dự toán, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, tổ chức đấu thầu, ký kết hợp đồng. Mặt khác chưa giải ngân thuộc các hạng mục trồng rừng 1 năm, chăm sóc khoanh nuôi do một số diện tích qua kiểm tra, nghiệm thu tỷ lệ cây sống đạt thấp. Ông Phạm Phú - Phó Giám đốc Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh cho rằng, vướng mắc do các văn bản hướng dẫn chưa có chế tài cụ thể đối với đơn vị chây ỳ trong nghĩa vụ “trả nợ rừng”.
Theo đoàn giám sát của Ban Dân tộc HĐND tỉnh, triển khai TRTT gặp vướng mắc do khả năng đảm bảo quỹ đất lâm nghiệp tại các địa phương khá thấp, đặc biệt là sau khi Bộ NN-PTNT ban hành Thông tư 26/2015/TT-BNN-PTNT yêu cầu ưu tiên TRTT trên diện tích đất trống quy hoạch rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng. Trong khi đó, diện tích đất được quy hoạch là đất trống thì phần lớn đã bị người dân lấn chiếm, sử dụng canh tác lâu năm.
Rắc rối ở chỗ: nếu thu hồi sẽ có khả năng xảy ra tranh chấp, ảnh hưởng tiến độ TRTT. Bên cạnh đó, các văn bản hiện hành chưa quy định cụ thể về trách nhiệm quản lý rừng sau đầu tư, cơ chế hưởng lợi từ diện tích rừng trồng. “Chủ đầu tư thuê đơn vị tư vấn, thi công ở đâu vào trồng, chăm sóc, trong khi người dân sở tại thì đứng ngoài cuộc. Đơn vị thi công trồng xong rồi bỏ về làm sao hiệu quả được” - ông Nhuần phân tích. (Báo Quảng Nam 16/9)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Chi phí để dập tắt các đám cháy rừng ở Mỹ trong năm nay đã lên tới mức cao nhất 2,3 tỷ USD, phá vỡ mọi kỷ lục trước đây.
Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ Sonny Perdu ngày 14/9 cho biết chi phí để dập tắt các đám cháy rừng ở nước này trong năm nay đã lên tới mức cao nhất 2,3 tỷ USD, phá vỡ mọi kỷ lục trước đây về khoản chi phí trên và thực trạng này cho thấy sự cần thiết phải tăng thêm ngân sách chữa cháy rừng cho Cục Kiểm lâm Mỹ.
Theo ông Perdu, trong những năm gần đây, chi phí cho việc chữa cháy rừng ở Mỹ đã tăng từ 15 lên 55% và thậm chí còn cao hơn trong bối cảnh Cục Kiểm lâm Mỹ không còn đủ ngân sách chữa cháy rừng trong lúc mùa cháy rừng ở nước này kéo dài.
Điều này khiến Bộ Nông nghiệp Mỹ tiếp tục phải trích tiền từ ngân sách mà Bộ này dự định sử dụng cho quản lý rừng để chi phí cho việc thực hiện các biện pháp nhằm hạn chế cháy rừng như chặt, đốt bớt cây rừng hoặc diệt sâu bọ.
Cũng theo người đứng đầu Bộ Nông nghiệp Mỹ, Quốc hội cần coi việc giải quyết những vụ cháy rừng lớn như những thảm họa khác ở nước này.
Tuyên bố trên của Bộ trưởng Nông nghiệp Mỹ được đưa ra trong lúc tại nước này đang xảy ra các đám cháy rừng lớn trong mùa cháy rừng 2017, chủ yếu tại dãy núi đá Rocky Mountains và vùng Pacific Northwest (Tây Bắc Thái Bình Dương). Trước đó, hồi năm 2014, cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng đã từng phê chuẩn đạo luật xử lý những vụ cháy rừng nghiêm trọng nhất như các vụ thiên tai.
Những số liệu thống kê được công bố tại Mỹ cho thấy thời tiết khô và nóng ở miền Tây nước này đã gây ra một trong những mùa cháy rừng trầm trọng nhất ở nước này trong vòng 1 thập kỷ qua, thiêu trụi hơn 34.000 km2 diện tích rừng. Theo một số nhà khoa học Mỹ, tình trạng như vậy một phần là do khí hậu Trái Đất nóng lên. (Bnews 15/9)đầu trang(./.
|
|||