Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 09 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Tại huyện Nông Sơn, UBND tỉnh Quảng Nam phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID) vừa công bố quyết định thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnh voi, có diện tích 19.000 ha. thuộc 2 xã Phước Ninh và Quế Lâm (huyện Nông Sơn), trong đó, phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích 13.000 ha.
Đây là khu vực hiện có một đàn voi rừng gồm 7 cá thể sinh sống. Quần thể voi này (được coi là một trong những quần thể cuối cùng của loài voi Châu Á đang nguy cấp tại Quảng Nam) có cấu trúc đàn khá hoàn chỉnh và đang sinh trưởng tốt. (Nông Thôn Ngày Nay 14/9)đầu trang(
UBND tỉnh Hòa Bình đã chính thức lên tiếng trả lời về việc dân tố doanh nghiệp tư nhân phá rừng trồng cam và khẳng định chỉ lén lút khai thác lâm sản chứ không có phá rừng.
Sau loạt bài viết đăng tải về việc người dân xã Quy Hậu, huyện Tân Lạc kêu cứu rừng đầu nguồn, ngày 11/9, báo điện tử VTC News chính nhận được công văn hồi đáp từ phía UBND tỉnh Hòa Bình. Tuy nhiên, với những vấn đề mà VTC News đã phản ánh, dường như câu trả lời của UBND tỉnh Hòa Bình chưa làm thỏa mãn được những trăn trở, bức xúc của người dân.
Theo UBND tỉnh Hòa Bình, năm 2008, Công ty CP Lâm Quế được UBND tỉnh cho thuê 280,5 ha đất lâm nghiệp để phát triển và trồng rừng. Trong đó, diện tích tại xã Tây Phong, huyện Cao Phong là 173,5 ha, xã Quy Hậu (Tân Lạc) là 2,5 ha, xã Mỹ Hòa (Tân Lạc) là 104,5 ha. Hiện trạng tự nhiên khi giao đất, gồm: Đất trống, cây bụi là 128 ha, diện tích rừng tự nhiên tái sinh trữ lượng thấp là 151,1 ha.
Tại xã Tây Phong (Cao Phong) công ty Lâm Quế được thuê 173 ha đất lâm nghiệp. Hiện trạng khi giao rừng: Rừng tự nhiên 66,5 ha, rừng tái sinh, phục hồi (nứa tép, cây bụi và thân cây gỗ có giá trị kinh tế thấp tái sinh); đất trống khoảng 107 ha. Hiện nay, công ty Lâm Quế đã triển khai trồng cây cam khoảng 40 ha, trồng keo trên diện tích đất trống được giao, còn lại diện tích rừng tự nhiên 66,5 ha vẫn giữ nguyên, không bị tác động gì.
Tại xã Mỹ Hòa và xã Quy Hậu diện tích được giao cho Lâm Quế chưa có tác động gì. Kiểm tra tại Lô 5 công ty Lâm Quế đã làm đường lâm nghiệp, san ủi bề mặt tạo bậc thang, trên đất mới trồng keo vụ xuân 2017 và trồng cam từ năm 2016.
Năm 2015, công ty Lâm Quế đã san ủi 3,6 ha (san ủi không đúng quy trình) đã được cơ quan có thẩm quyền xử phạt 6 triệu đồng), từ đó đến nay không có vi phạm gì trên diện tích rừng được giao.
Tháng 5/2016, Hạt Kiểm lâm huyện Tân Lạc đã lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính 5,3 triệu đồng đối với doanh nghiệp Quang Hà về hành vi phá rừng trái pháp luật (san ủi, mở đường) xảy ra trên khu vực xóm Ngay, xã Mỹ Hòa giáp ranh với các xã Quy Hậu, Tây Phong.
Tại huyện Tân Lạc, trong tháng 7/2017, ông Dương Văn Cường tạm trú tại xóm Môn, xã Bắc Phong, huyện Cao Phong có san ủi làm đường phục vụ việc đắp đập để ngăn nước tưới cây ăn quả xảy ra trên địa phận xã Mỹ Hòa là khu vực đầu nguồn nước xã Quy Hậu. Hạt Kiểm lâm huyện Tân Lạc đã xử phạt hành chính với số tiền là 15 triệu đồng.
Tại huyện Cao Phong, ngày 4/8/2017, theo thông tin phản ánh của công ty Lâm Quế, Hạt Kiểm lâm huyện Cao Phong đã phát hiện tại khu vực xóm Nếp, xã Tây Phong xảy ra việc khai thác rừng trái phép với số lượng gỗ bị chặt là 90 khúc, nhưng chưa phát hiện được đối tượng vi phạm.
Về nội dung VTC News đã phản ánh, UBND tỉnh Hòa Bình cho rằng, diện tích giao cho công ty Lâm Quế sử dụng do Chủ tịch UBND tỉnh Hòa Bình cấp năm 2008 với mục đích sử dụng đất là đất trồng rừng sản xuất. Hiện nay không có tình trạng phá rừng, chỉ có việc khai thác lén lút lâm sản.
Thông tin mới nhất mà PV tìm hiểu từ đại diện Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình, năm 2016, UBND tỉnh Hòa Bình đã cho dừng dự án trồng cam của doanh nghiệp Lâm Quế lại. Không biết vì lý do gì mà phía UBND tỉnh lại cho dừng dự án này nhưng chưa thấy lãnh đạo tỉnh đề cập đến trong văn bản trả lời VTC News.
Được biệt, công ty Lâm Quế được UBND tỉnh Hòa Bình cấp giấy chứng nhận đầu tư vào năm 2008 với mục tiêu chính là trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ phát triển rừng. Từ năm 2008 đến nay, công ty cũng chưa nộp hồ sơ chuyển đổi mục tiêu. Bởi vậy, theo sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hòa Bình, việc công ty tự ý chuyển đổi khi chưa có hồ sơ là chưa đúng quy định.
Trước đó, chính ông Lê Xuân Hà - Trưởng phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Cao Phong cho biết: "Vào thời điểm trước năm 2015, công ty Lâm Quế có cải tạo một phần diện tích sang trồng cây có múi".
Thế nhưng theo tìm hiểu của PV, quy định 35 về cơ cấu cây trồng, trong đó có cây ăn quả được áp dụng cho rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đến tận năm 2016 mới được UBND tỉnh ban hành. Việc công ty Lâm Quế ngang nhiên tự ý trồng cam trước năm 2015, tức là khi đó chưa hề có quyết định cho phép trồng cây ăn quả trên đất lâm nghiệp.
Ông Bùi Đức Lâm, Tổng giám đốc công ty Lâm Quế cũng từng khẳng định với PV, trong quá trình làm đường đi, máy xúc của công ty này có làm hỏng đường ống nước sinh hoạt của người dân, khiến người dân bị mất nước sạch trong một thời gian dài. Vậy mà trong kết luận của lãnh đạo UBND tỉnh Hòa Bình về doanh nghiệp Lâm Quế lại khẳng định: "Từ đó đến nay không có vi phạm gì trên diện tích rừng được giao".
Ngoài ra, trên địa bàn khu vực đầu nguồn nước của người dân Quy Hậu, không chỉ có một doanh nghiệp Lâm Quế thực hiện việc phá rừng trồng cam. Còn một doanh nghiệp nữa cũng đang bị tố cáo phá rừng trồng cam đó là công ty Quang Hà.
Theo thông tin UBND tỉnh cung cấp, doanh nghiệp Quang Hà cũng chỉ bị Hạt Kiểm lâm huyện Tân Lạc lập biên bản và phạt 5,3 triệu đồng về tội phá rừng trái pháp luật. Trong khi theo phản ánh của người dân, công ty Quang Hà này đã trồng hàng trăm ha cam trên khu vực rừng của hai huyện Tân Lạc, Cao Phong.
Trong công văn của UBND tỉnh Hòa Bình vẫn chưa trả lời được câu hỏi: "Doanh nghiệp Quang Hà là ai? Công ty này có được cấp phép trồng cam trên đất rừng hay không? Tại sao họ lại chuyển đổi thành công đất rừng sang trồng cam như vậy? Tổng số diện tích vi phạm là bao nhiêu? Phải chăng UBND tỉnh Hòa Bình đang cố lờ đi sai phạm của doanh nghiệp này?"
Trước đó, chính ông Bùi Đức Lâm - Tổng giám đốc công ty Cổ phần Lâm Quế cũng đã tố doanh nghiệp Quang Hà đã trồng hàng trăm ha cam trên khu vực 2 huyện Tân Lạc và Cao Phong.
Nói về mánh khóe của công ty Quang Hà trong việc phá rừng đầu nguồn để trồng cây ăn quả, ông Lâm cho biết: "Đầu tiên họ bỏ tiền thuê người dân địa phương đi phun thuốc diệt cỏ, khi đất ô nhiễm họ trồng ngô xuống. Sau khi thu hoạch ngô họ bắt đầu mua đất của dân. Họ không làm việc với huyện với xã mà qua mặt chính quyền địa phương chuyển đổi thành công mấy trăm ha cam chỉ với cách thức đơn giản đó.
"Ngoài lấn chiếm đất của người dân Quy Hậu, công ty này còn lấn chiếm cả đất của công ty chúng tôi hơn chục ha", ông Lâm cho hay.
Việc người dân xã Quy Hậu phản ánh việc doanh nghiệp trồng cam phun thuốc sâu, bón phân hóa học làm ảnh hưởng đến nguồn nước; việc phá rừng trồng cam làm lũ quét ảnh hưởng đến việc trồng lúa; việc thi công đào đường phục vụ trồng cam làm vỡ đường ống nước sinh hoạt của người dân chưa được UBND tỉnh đề cập đến.
Được biết, đối với mỗi dự án chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng (trên 50 ha) cần phải có đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, theo nguồn tin của PV, việc UBND tỉnh Hòa Bình cho phép doanh nghiệp trồng cam phía Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Hòa Bình không làm đánh giá tác động môi trường đối với dự án này.
Bởi vậy, những hoang mang, lo lắng và bức xúc mà người dân xã Quy Hậu phản ánh về cơ bản vẫn chưa được UBND tỉnh Hòa Bình và các sở, ngành trả lời một cách thấu đáo và rõ ràng. (VTC News 15/9)đầu trang(
Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã có kết luận 2 container gỗ tại cảng Hải Phòng là gỗ giáng hương Tây Phi.
Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có kết quả giám định số 180/CNR-KHTC và số 181/CNR-KHTC, kết luận hàng hóa là gỗ giáng hương Tây Phi (Tên khoa học là Pterocarpus erinaceus Poir) vào ngày 28/8/2017.
Khối lượng gỗ quy tròn là 35,745 m3. Loại gỗ này có tên thuộc phụ lục II tại thông tư 04/2017/TT-BNNPTNT ngày 26/2/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Trước đó, trong hai ngày 17 và 18-8, Đội 1 Cục Điều tra chống buôn lậu, Tổng cục Hải quan, phối hợp với Đội Kiểm soát Hải quan Hải Phòng, Chi cục Hải quan Cửa khẩu cảng Hải phòng KVIII - Cục Hải quan Hải Phòng thực hiện khám toàn bộ số hàng hóa trong 2 container gỗ tại cảng Nam Hải Đình Vũ, TP Hải Phòng.
Trước những dấu hiệu bất thường trong khai báo, đơn vị chức năng đã trưng cầu Viện Nghiên cứu công nghiệp rừng, thuộc Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giám định, xác định tên khoa học, số lượng, khối lượng, chủng loại gỗ phát hiện Công ty TNHH xuất nhập khẩu N.B.C (theo thông tin ghi trên vận đơn). Tuy nhiên, Doanh nghiệp N.B.C có công văn từ chối nhận lô hàng trên.  Doanh nghiệp khai báo trên vận đơn là roos wood (nghi vấn là gỗ giáng hương Tây Phi) gồm 147 khúc/lóng gỗ tròn, xẻ các loại.
Hiện 2 container nêu trên được giao cho Chi nhánh Công ty TNHH Maersk Việt Nam tại TP Hải Phòng và Công ty CP cảng Nam Hải Đình Vũ bảo quản nguyên trạng dưới sự giám sát của Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực III, chờ quyết định xử lý của cơ quan Hải quan. Hiện vụ việc đang được lực lượng chức năng tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý theo quy định. (An Ninh Thủ Đô 14/9)đầu trang(
Hơn 50 dự án đầu tư liên quan đến đất rừng trên địa bàn huyện Bảo Lâm từ nhiều năm nay, nhưng những dự án được triển khai, chưa nói đến việc có hiệu quả hay không, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Mất đất, mất rừng, tranh chấp đất rừng dẫn đến mất an ninh trật tự địa phương là những hệ lụy mà các dự án kém hiệu quả này gây ra.
Từ khi giao đất cho các doanh nghiệp triển khai các dự án, nhiều diện tích rừng, đất lâm nghiệp đã bị lấn chiếm không thương tiếc. Người dân hoặc một số nhóm người chuyên “ăn theo” dự án thì ra sức hạ cây, lấn chiếm đất; trong khi doanh nghiệp và chính quyền địa phương thì ra sức giải tỏa. Thế nhưng, giải tỏa thì cứ giải tỏa, lấn chiếm và tái lấn chiếm vẫn tiếp diễn dẫn đến một “cuộc chiến” tranh giành qua lại, nhẹ thì xô xát, thậm chí có trường hợp đã đổ máu.
Cách đây khoảng 10 năm, Công ty Trung Nguyên nhận gần 200 ha đất rừng để triển khai dự án trên địa bàn xã Lộc Ngãi, huyện Bảo Lâm. Thế nhưng, chỉ vài năm sau đó, công ty này buộc lòng phải “bỏ của chạy lấy người” sau nhiều lần phải nộp phạt vì để cây rừng bị triệt hạ, đất bị chiếm mà dự án vẫn không có tiến triển. Vào thời điểm đó, lãnh đạo của công ty cho biết khi nhận đất rừng thì chỉ khoanh vùng trên bản đồ mà không hề biết khu đất mình nhận thực tế ra sao.
Đến khi nhận đất để triển khai dự án thì mới biết phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ giao thông đi lại đến phương án quản lý, bảo vệ diện tích rừng “da beo” cũng như việc chống lấn chiếm đất rừng để trồng chè, cà phê của người dân. Đây là một trong những công ty có thiện chí triển khai dự án nhưng cuối cùng “lực bất tòng tâm” nên đành phải ngưng dự án. Khi đó, mỗi tháng công ty đã phải chi hàng chục triệu đồng để thuê người quản lý, bảo vệ rừng và đất  thuộc dự án. Thậm chí, để bảo vệ tính mạng và tài sản của những người làm công tác bảo vệ, một “giao thông hào” được đào xung quanh khu lán trại của công ty.
Bởi lẽ, trước đó khi những người bảo vệ này ngăn cản không cho lấn chiếm đất rừng để trồng cà phê thì một nhóm thanh niên đã phản ứng lại bằng cách đốt xe máy, đập phá đồ đạc  và vứt mọi thứ xuống giếng nước ăn. Sau nhiều nỗ lực triển khai, cuối cùng dự án cũng đang còn dở dang với gần 60 ha đất rừng bị lấn chiếm trồng chè, cà phê đã trên 5 năm tuổi.
Câu chuyện giữ rừng của Trung Nguyên chắc hẳn đã quá cũ nhưng “cuộc chiến” tranh chấp đất rừng dạng này vẫn còn mới nguyên và vẫn đang tiếp diễn. Còn nhớ vào năm 2013, cũng liên quan đến giải tỏa đất lấn chiếm mà người dân và người của Công ty Khang Thịnh (triển khai dự án ở xã Lộc Ngãi) đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến xô xát. Khi Công ty Khang Thịnh và nhóm người được Công ty này thuê dùng xe máy múc làm hàng rào ranh giới và giải tỏa đất mà người dân lấn chiếm trước đó thì xảy ra xô xát. Người dân, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, phản đối bằng cách “ăn vạ” trước máy múc. Phía Công ty Khang Thịnh, chủ yếu là nhóm người được thuê, lại dùng các biện pháp vũ lực, có cả dùng gậy gộc, dao và kim tiêm để đe dọa, trấn áp người dân.
Ngay cả khi dự án của Công ty Khang Thịnh bị thu hồi vào tháng 7 năm nay thì “cuộc chiến” giành đất rừng tại đây vẫn tiếp diễn. Bằng chứng là ngày 13/6/2017, khoảng 120 người mang theo hung khí đã tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Hoàn (Hoàn Xuyến, 43 tuổi, ngụ tại xã Tân Lâm, huyện Di Linh) để giải quyết mâu thuẫn liên quan đến đất rừng tại khu vực Công ty Khang Thịnh. Dù không gặp được Hoàn Xuyến nhưng nhóm này vẫn đập phá đồ đạc và đánh con của ông Hoàn bị thương nặng.
Liên quan đến vụ việc này, theo UBND huyện Di Linh, trong thời gian qua, địa bàn xã Tân Lâm xuất hiện nhiều băng nhóm giang hồ phức tạp. Các băng nhóm có hành vi đe dọa, uy hiếp cán bộ quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh với các xã Lộc Đức, Lộc Phú, Lộc Ngãi, (huyện Bảo Lâm), xã Tân Thanh (huyện Lâm Hà) và cưỡng đoạt, lấn chiếm đất lâm nghiệp đối với hộ nhận khoán.
Theo ghi nhận, nhóm của Hoàn Xuyến đã có hành vi đe dọa lấn chiếm đất của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn xã Lộc Ngãi, xã Lộc Phú (huyện Bảo Lâm) như: Doanh nghiệp tư nhân Anh Hải, Công ty An Phú Nông, Công ty Khang Thịnh.
Có một điều dễ nhận thấy là một khi đất được giao cho các công ty triển khai dự án thì gần như ngay lập tức người dân và một nhóm người “chuyên nghiệp” liền nhảy vào lấn chiếm đất rừng. Sau khi đốn hạ cây rừng, lấn chiếm đất là những hàng cà phê được thay thế vào nơi xâm chiếm và phần đất rừng đã  trồng cà phê được sang bán qua nhiều người, chủ yếu bằng giấy tay. Khi bị giải tỏa thì họ sẵn sàng dùng mọi cách, kể cả bạo lực, để giữ phần đất mình đã chiếm được hoặc đã sang nhượng lại. Cá biệt, có một số trường hợp cả dự án được sang tay bất hợp pháp như trường hợp của Công ty An Nguyễn (tại xã Lộc Ngãi). Từ đó, giữa “chủ mới” của dự án và người đồng sở hữu cũ xảy ra tranh chấp và hệ quả là lán trại của công ty bị phá dỡ, đất rừng bị lấn chiếm nghiêm trọng và “sang tay” phần lớn diện tích. Hiện, dự án của Công ty An Nguyễn đã bị thu hồi nhưng để thu hồi được diện tích đã bị lấn chiếm, sang nhượng là cả một hành trình gian nan phía trước.
Hầu như tháng nào cũng có tranh chấp đất rừng xảy ra trên địa bàn huyện Bảo Lâm mà nguyên nhân  đều phát sinh từ việc giải tỏa đất rừng bị lấn chiếm. Có nhiều trường hợp, người dân bức xúc thuê xe chở những cây cà phê bị đốn hạ để lên huyện, lên tỉnh khiếu nại đông người vì cho rằng bị giải tỏa “sai”. Nhưng, chung quy lại thì tất cả đều là giải tỏa cây trồng trên đất lâm nghiệp bị lấn chiếm. Ông Nguyễn Tài Tú, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Bảo Lâm, cho biết: “Việc giải tỏa đất rừng hiện nay cực kỳ khó khăn vì diện tích bị lấn chiếm lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp lại không triển khai giải tỏa đất bị lấn chiếm, đặc biệt các đối tượng lấn chiếm lại rất manh động, gây khó khăn, cản trở người thi hành công vụ”.
Hiện, chưa có thống kê nào cụ thể có bao nhiêu diện tích đất rừng bị lấn chiếm đã được sang nhượng nhưng một điều chắc chắn đây là thực trạng đáng báo động đã và  đang còn tiếp diễn. Mới đây, UBND huyện Bảo Lâm đã có văn bản trả lời đơn phản ánh của ông Nguyễn Văn Hưởng (Thôn 4, xã Lộc Tân, huyện Bảo Lâm) về việc ông này cho rằng Công ty TNHH Trường Lộc (xã Lộc Tân) đã phân lô đất dự án để bán cho người dân. Văn bản trả lời này kết luận đơn phản ánh của ông Hưởng là không có cơ sở vì phần diện tích mà ông Hưởng phản ánh không nằm trong diện tích đất dự án của Công ty Trường Lộc.
Tuy nhiên, ông Hưởng đã không đồng ý với văn bản này vì cho rằng nếu không phải là đất của Công ty Trường Lộc thì tại sao người của Công ty này lại ngang nhiên phá rừng và bán cho người khác. Huyện Bảo Lâm cũng không làm rõ diện tích đất lâm nghiệp này không thuộc Công ty Trường Lộc thì do ai quản lý. Ông Hưởng khẳng định sau khi khai phá đất rừng, người của Công ty Trường Lộc đã bán cho một người dân để trồng cà phê. Theo bản đồ do cơ quan chức năng cung cấp, phần đất mà ông Hưởng đề cập đến có diện tích 4,96 ha thuộc khoảnh 6, tiểu khu 471, xã Lộc Tân do Ban quản lý rừng phòng hộ Đam Bri quản lý. Trên diện tích đất này đã trồng cà phê trên 2 năm tuổi.
Ngoài nghi vấn bán đất rừng, Công ty Trường Lộc còn liên quan đến nhiều nội dung đơn thư khác mà người dân phản ánh. Ông Hưởng và nhiều hộ dân cho rằng Công ty Trường Lộc đã tự ý san ủi, chặt phá cây cà phê, keo trên đất mà người dân đã khai phá hoặc sang nhượng lại trước đó. Trong khi đó, phía Công ty Trường Lộc lại đưa ra các văn bản cho rằng mình chỉ giải tỏa đất mà người lấn chiếm dự án và phương án giải tỏa đã được UBND huyện Bảo Lâm chấp thuận. Điều này cho thấy tranh chấp đất rừng vẫn chưa có hồi kết, không riêng đối với Công ty Trường Lộc như hiện tại. (Báo Lâm Đồng 15/9) đầu trang(
Ngày 15-9, ông Nguyễn Thanh Quang, Chủ tịch UBND xã Đạ Lây, huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng) cho biết, cơ quan chức năng địa phương đã phát hiện khoảng 2 ha đất rừng trên địa bàn bị người dân xâm lấn trái phép.
Tại hiện trường, cơ quan chức năng phát hiện hàng trăm cây điều mới trồng trên diện tích đất rừng lấn chiếm. Tuy nhiên hiện vẫn chưa xác định được người lấn chiếm diện tích đất rừng này.
Trước đó, vào tháng 2-2017, UBND xã Đạ Lây và đơn vị chủ rừng đã phát hiện tiến hành giải tỏa, nhổ bỏ hơn 450 cây điều trồng trên đất lấn chiếm tại khu vực này.
Được biết, diện tích đất rừng bị xâm lấn thuộc tiểu khu 535a (thôn Vĩnh Thủy, xã Đạ Lây) do Công ty TNHH MTV Lâm Nghiệp Đạ Tẻh chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ.
Ông Bùi Văn Hùng, Chủ tịch UBND huyện Đạ Tẻh cho biết, thời gian qua trên địa bàn xảy ra một số vụ lấn chiếm, phá rừng trái phép mà nguyên nhân chủ yếu do người dân lấn chiếm rừng lấy đất sản xuất.
Liên quan tới tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng ở khu vực khác do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đạ Tẻh quản lý cũng xảy ra vụ phá 7ha rừng tự nhiên tại tiểu khu 543 (thuộc thôn Tôn K’Long, xã Quảng Trị, huyện Đạ Tẻh). Công an tỉnh Lâm Đồng sau đó đã tiến hành điều tra và khởi tố 4 bị can có liên quan. (Sài Gòn Giải Phóng 15/9)đầu trang(
Xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường có trên 1.545 ha rừng, chiếm 33,7% diện tích tự nhiên của xã. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền và người dân trên địa bàn xã đã tích cực chăm sóc và bảo vệ rừng.
"Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của xã Nùng Nàng đã đề ra mục tiêu là quản lý tốt diện tích rừng và đất lâm nghiệp; nâng cao vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương, toàn hệ thống chính trị và Nhân dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy, quản lý, khoanh nuôi tái sinh bảo vệ rừng; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, sử dụng tài nguyên và quỹ đất được quy hoạch cho lâm nghiệp một cách hiệu quả, bền vững; đồng thời tăng năng suất, chất lượng và giá trị của rừng..."- Ông Phan Đức Phú, Phó Chủ tịch UBND xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường cho biết.
Để đạt được mục tiêu đó, xã đã huy động cả hệ thống chính trị và Nhân dân vào cuộc. Cấp ủy, chính quyền từ xã đến bản đã tích cực lãnh, chỉ đạo người dân đẩy mạnh chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có và sử dụng đất quy hoạch cho lâm nghiệp đúng mục đích. Còn người dân trên địa bàn xã rất ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng, chỉ khai thác những sản phẩm từ rừng theo quy định, không chặt phá rừng bừa bãi và đặc biệt nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng như đốt nương theo đúng quy định, tạo đường băng cản lửa trong quá trình đốt nương, không phá rừng…
Một trong những nguyên nhân góp phần làm cho người dân nâng cao ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng là người dân được chi trả dịch vụ môi trường. Ông Phan Đức Phú cho biết: Mỗi năm xã Nùng Nàng được chi trả trên 700 triệu tiền dịch vụ môi trường rừng, bản được chi trả nhiều nhất là bản Xáy Xan I, II, Phan Chu Hoa, Chin Chu Chải. Từ khi được Nhà nước chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân rất phấn khởi. Nùng Nàng là một xã khó khăn của huyện Tam Đường, khi có thêm tiền phụ cấp, người dân được hưởng lợi từ rừng đã đầu tư phát triển sản xuất, chăn nuôi để nâng cao thu nhập, gắn với giữ rừng, bảo vệ rừng.
Ông Ma A Lừ, bản Xáy Xan II, xã Nùng Nàng chia sẻ: “Trước đây kinh tế gia đình tôi còn khó khăn. Từ khi được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, tôi đã đầu tư để mua thức ăn cho gia súc, phát triển chăn nuôi để gia đình có thêm thu nhập, nhờ vậy mà gia đình tôi đã khá hơn”. Không chỉ có gia đình bác Ma A Lừ mà còn rất nhiều hộ gia đình khác ở xã Sùng Phài có tiền từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đầu tư vào phát triển kinh tế gia đình. Nhờ vậy mà thu nhập bình quân đầu người của xã Nùng Nàng được nâng lên, năm 2015 là 15,5 triệu/người/năm, đến thời điểm này là 18 triệu/người/năm.
Để mang lại nguồn thu lâu dài từ rừng, người dân trên địa bàn xã đã phát triển thêm diện tích rừng hiện có. Năm 2016, dù không được giao chỉ tiêu trồng rừng nhưng người dân trên địa bàn xã cũng trồng được 5,6 ha rừng tập trung ở bản Phan Chu Hoa và Xì Miền Than. Năm 2017, người dân trên địa bàn xã trồng được gần 15 ha rừng. Bên cạnh đó, người dân còn tích cực chăm sóc khoảng 300 ha rừng tái sinh. Ông Vàng A Sùng, bản Phan Chu Hoa cho biết: Rừng mang lại rất nhiều lợi ích nên người dân bản tôi rất ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng. Mỗi nhà đều quản lý tốt diện tích rừng được giao, không có hiện tượng chặt cây, khai thác rừng trái phép và cả bản cùng nhau bảo vệ tốt diện tích rừng của bản. Bản thân tôi cũng gương mẫu thực hiện việc bảo vệ rừng và tuyên truyền cho mọi người cùng làm theo.
Hàng năm, xã Nùng Nàng đã kiện toàn và phân công nhiệm vụ cụ thể cho Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng của xã, thành lập Tổ Chuyên trách bảo vệ rừng ở các bản. Các thành viên trong Ban Chỉ đạo của xã và các Tổ Chuyên trách của bản đều nâng cao trách nhiệm, ý thức của mình trong việc tuần tra, canh gác và bảo vệ rừng nhất là vào mùa khô. Các thành viên của tổ chuyên trách bảo vệ rừng hoạt động rất tích cực, mọi người đều ý thức được rằng “Rừng là vàng”, “Bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá”. Nhất là trong mùa khô các thành viên trong tổ đã thường xuyên đi tuần tra, canh gác, bảo vệ những diện tích rừng xung yếu dễ xảy ra cháy rừng.
Nhờ đẩy mạnh các hoạt động nêu trên, các vụ cháy rừng trên địa bàn xã Nùng Nàng giảm, mùa khô năm 2013-2014, trên địa bàn xã đã xảy ra 04 vụ cháy rừng; mùa khô năm 2015-2016 xảy ra 01 vụ cháy thảm thực vật; năm 2016-2017 đến thời điểm này chưa xảy ra vụ cháy nào. Để cho diện tích rừng của Nàng Nàng mãi xanh tươi góp phần tăng diện tích che phủ của rừng trên địa bàn huyện Tam Đường, là lá phổi xanh điều hòa không khí cho thành phố Lai Châu, thời gian tới, xã Nùng Nàng tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh, chỉ đạo người dân trên địa bàn xã chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; tăng cường chăm sóc diện tích rừng tái sinh; tích cực tuyên truyền, vận động người dân đốt nương, khai thác sản vật trong rừng theo đúng quy định; Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng của xã, các Tổ Chuyên trách bảo vệ rừng nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao... (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lai Châu 14/9)đầu trang(
Với người Thái, nơi nào có bản, mường đều phải có những khu rừng thiêng, rừng cấm. Đây là nơi ở của ma thiêng, là nơi ngụ của hồn mường, hồn bản.
Từ xa xưa, người Thái rất tôn trọng và đặt ra những quy định, luật tục về việc bảo vệ rừng. Mỗi khi xuân về, người Thái ở Yên Bái lại rộn ràng tổ chức lễ hội Xên đông (Cúng rừng thiêng). Lễ vật cúng rừng thường phải có một con trâu. Nếu không có trâu phải có đầu trâu, 4 chân, đuôi, tiết, lục phủ ngũ tạng.
Tất cả đồ lễ được mang ra chỗ gốc cây rừng thiêng để tế trời đất. Thầy cúng đại diện cho cộng đồng cầu khẩn các đấng siêu nhiên ban cho mưa thuận, gió hòa, mùa vụ tươi tốt, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Sau khi tế lễ xong, mọi người tham dự cùng nâng ly uống chén rượu đoàn kết, cùng quyết tâm bảo vệ khu rừng thiêng. (Báo Đăk Nông 14/9)đầu trang(
Huyện Con Cuông vừa tiếp nhận 665 tấn gạo (đợt 1) của Nhà nước hỗ trợ cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo tự nguyện nhận trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng thuộc 12/13 xã, thị trấn.
Trong đó các xã được hỗ trợ gạo nhiều gồm: Bình Chuẩn (117 tấn), Môn Sơn (70 tấn),...Nhờ các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, huyện miền núi Con Cuông đã bảo vệ tốt hơn 164.000 ha rừng trên địa bàn, độ che phủ rừng đạt 85%, cao nhất toàn tỉnh Nghệ An..
Ngay sau khi tiếp nhận số lượng gạo, UBND huyện đã điều động các xe vận tải loại nhỏ để đưa gạo vào trung tâm các xã, tổ chức cấp phát cho bà con trong diện thụ hưởng. Huyện Con Cuông phấn đấu trước ngày 30/9 sẽ đưa hết số gạo đến tận tay đồng bào. Huyện chịu trách nhiệm cấp phát đúng đối tượng, không trùng lặp với các chính sách hỗ trợ lương thực khác trên địa bàn. (Báo Nghệ An 16/9)đầu trang(
Theo hồ sơ của Trung tâm Quy hoạch nông-lâm nghiệp thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định, diện tích rừng bị phá tại xã An Hưng, huyện An Lão lên tới 60,9 ha, chứ không phải 43,7 ha như dự báo ban đầu.
Chiều 15/9, Trung tâm Quy hoạch nông-lâm nghiệp, thuộc Sở NN&PTNT tỉnh Bình Định đã hoàn tất hồ sơ đánh giá thiệt hại vụ tàn phá rừng lớn nhất từ trước đến nay tại tỉnh Bình Định.
Theo đó, diện tích rừng bị phá lên tới 60,9 ha, chứ không phải 43,7 ha như dự báo ban đầu. Toàn bộ diện tích rừng trên là rừng tự nhiên, thuộc khoảnh 7, khoảnh 8, tiểu khu 1, địa bàn xã An Hưng, huyện An Lão, tỉnh Bình Định, được quy hoạch rừng sản xuất và rừng phòng hộ.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục trưởng phụ trách Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định cho TTXVN biết: Toàn bộ hồ sơ và kết quả đo đạc, đánh giá rừng bị thiệt hại sẽ được chuyển sang Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định trong chiều 15/9.
Sáng cùng ngày, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định đã quyết định khởi tố vụ án hình sự tội hủy hoại rừng theo Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Sau vụ phá rừng tự nhiên quy mô lớn nhất, liều lĩnh nhất từ trước tới nay trên địa bàn tỉnh Bình Định, lực lượng liên ngành tỉnh này đã phối hợp điều tra. Kết quả: Đã phát hiện một lượng lớn gỗ và củi tại một nhà máy chế biến dăm gỗ ở thôn Tường Sơn, xã Hoài Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Khối lượng gỗ được tìm thấy gồm nhiều chủng loại khác nhau gồm thân cây, súc gỗ và cành nhánh các loại. Nhận định sơ bộ, hầu hết lượng gỗ này có nguồn gốc từ cánh rừng tự nhiên vừa bị tàn phá thuộc xã An Hưng, vùng giáp ranh với xã Hoài Sơn.
Bước đầu, cơ quan điều tra đã khoanh vùng đối tượng phá rừng là tổ chức doanh nghiệp, có khả năng huy động, thuê mướn nhiều nhân công cùng lúc và sử dụng nhiều thiết bị cơ giới để phá rừng.
Trước vụ phá rừng tự nhiên đặc biệt nghiêm trọng này, ngày 9/9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có ý kiến yêu cầu UBND tỉnh Bình Định điều tra, làm rõ vụ án, báo cáo Thủ tướng trước ngày 30/10. (Báo Chính Phủ 15/9)đầu trang(
“Lâm tặc” mở đường vào rừng rồi sử dụng máy cưa cầm tay để đốn hạ cây gỗ trong nhiều ngày trên diện rộng nhưng cơ quan kiểm lâm và chính quyền địa phương không phát hiện? Đối tượng ngang nhiên phá rừng là ai? Bằng cách nào “lâm tặc” vận chuyển những cây gỗ đốn hạ rời khỏi rừng?
Không chỉ đề cập đến diện tích rừng đã bị tàn phá hàng chục héc-ta tự nhiên ở xã An Hưng, huyện An Lão (Bình Định) như Báo CAND đã thông tin ban đầu mà dư luận ở địa phương đặc biệt quan tâm với những câu hỏi: “Lâm tặc” mở đường vào rừng rồi sử dụng máy cưa cầm tay để đốn hạ cây gỗ trong nhiều ngày trên diện rộng nhưng cơ quan kiểm lâm và chính quyền địa phương không phát hiện? Đối tượng ngang nhiên phá rừng là ai? Bằng cách nào “lâm tặc” vận chuyển những cây gỗ đốn hạ rời khỏi rừng?
An Hưng là xã vùng cao ở huyện miền núi An Lão, tiếp giáp với địa bàn các xã Hoài Sơn, Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn và nằm gần địa giới hành chính miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Chặng đường từ trung tâm xã An Hưng đến hiện trường vụ phá rừng ở tiểu khu 1 ước tính hơn chục cây số, trong đó có nhiều cung đoạn đường rừng hiểm trở, gần như không có lối đi nên phải chuyển hướng sang xã Hoài Sơn – huyện Hoài Nhơn mới đến được hiện trường.
Nhìn những gốc cây gỗ lớn, nhỏ đã bị đốn hạ, phát dọn trắng mở rộng trước tầm mắt không ai nghĩ rằng đó là vụ phá rừng nghiêm trọng mà dễ dàng nhầm tưởng một doanh nghiệp nào đó được cơ quan chức năng cho phép dọn rừng để triển khai dự án kinh tế. Nơi này là những cây gỗ vừa đốn hạ ngổn ngang với vết cắt còn rất mới cùng những cành lá chưa kịp khô, nơi kia cây gỗ đã dọn sạch với những vết cháy nham nhở. Sau khi vụ việc phát lộ, diện tích rừng bị tàn phá đã lên đến 43,7 ha ở hai khoảnh 7 và 8.
Kết quả kiểm đếm, đo đạc hiện trạng của cơ quan chức trách cho thấy diện tích đốn hạ tại khoảnh 7 là 13,20 ha rừng trạng thái IIA, quy hoạch chức năng phòng hộ, cây gỗ bị đốn hạ dài 8-11m, đường kính 10-30cm; diện tích đốn hạ tại khoảnh 8 là 30,5 ha rừng trạng thái IIA, quy hoạch chức năng sản xuất. Thời gian phá rừng trước thời điểm kiểm tra khoảng 3-10 ngày.
Nghiêm trọng hơn nữa là “lâm tặc” đã huy động xe cơ giới chuyên dụng khai phá, san ủi con đường khoảng nửa cây số để vận chuyển khối lượng lớn ra khỏi hiện trường rừng đã bị đốn hạ và trồng keo lá tràm khoảng 7 ha trong diện tích rừng đã đốn hạ, phát dọn.
Trong cuộc kiểm tra hiện trạng phá rừng vào ngày 12-9, ông Nguyễn Thanh Tùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định đã đặt câu hỏi với ông Đinh Văn Chê, Chủ tịch UBND xã An Hưng: “Vì sao các đối tượng phá rừng lập lán trại tại chỗ, đốn hạ cây gỗ bằng máy cưa cầm tay có tiếng động ầm ào, rồi mở đường vận chuyển gỗ củi công khai nhưng chính quyền địa phương không phát hiện kịp thời để diện tích rừng bị tàn phá trên diện rộng?”.
Ông Chê cho biết: “Khi cơ quan chức năng tiến hành cắm mốc phân định 3 loại rừng tại tiểu khu 1, xã An Hưng vào đầu tháng 7-2017 thì tình trạng phá rừng chưa xảy ra ở đây nên địa phương tuần tra bảo vệ rừng ở các tiểu khu khác”. Lý giải vậy nhưng chính ông Chê thừa nhận: “Những khoảnh rừng bị tàn phá có địa hình hiểm trở, từ trung tâm xã đến tiểu khu 1 phải đi bộ cả ngày, khi kiểm lâm địa bàn báo cáo thì xã mới biết”.
Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm An Lão – ông Phạm Phương Bắc thừa nhận: “Ngoài những dấu vết để lại trên thân cây cho thấy rừng bị đốn hạ bằng cưa máy cầm tay, san ủi, mở đường bằng xe cơ giới, dựng lán trại dưới chân đồi với nhiều vật dụng sinh hoạt, thậm chí có cả chó canh giữ, báo động khi có người đến, lâm tặc còn lập rào chắn kiên cố, khóa chặt lối vào hiện trường phá rừng, khi phát hiện, chính quyền và kiểm lâm phải dùng búa, rìu phá khóa rào chắn mới vào tiểu khu 1”.
Ông Phan Trọng Hổ, Giám đốc Sở NN&PTN Bình Định cho rằng đây là vụ phá rừng có tính chất nghiêm trọng, diện tích rừng bị tàn phá trên diện rộng, đối tượng phá rừng không đơn lẻ mà có tổ chức. Trung tâm quy hoạch nông nghiệp – nông thôn đang tiến hành giám định thiệt hại vụ phá rừng này để có căn cứ cho các cơ quan chức trách xử lý theo quy định pháp luật.
Kết thúc cuộc kiểm tra hiện trường vụ phá rừng, ông Nguyễn Thanh Tùng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Định chỉ đạo Công an tỉnh Bình Định chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan khẩn trương điều tra làm rõ đối tượng hủy hoại rừng để xử lý nghiêm minh theo quy định pháp luật về hình sự. Ông Tùng yêu cầu Sở NN&PTNT Bình Định, Thường trực Huyện ủy, UBND huyện An Lão tổ chức kiểm điểm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân buông lỏng quản lý và bảo vệ rừng để xảy ra vụ việc phá rừng nghiêm trọng này. (Công An Nhân Dân 15/9)đầu trang(
Theo kết quả giám định, diện tích rừng bị tàn phá gần 61 ha, nhiều hơn con số 43,7 ha theo báo cáo ban đầu.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định vừa Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “hủy hoại rừng” xảy ra tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định. Trước đó, như VOV đã thông tin, hơn 43 ha rừng tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định bị tàn phá. Diện tích rừng bị chặt phá xảy ra tại các khoảnh 7 và 8, tiểu khu 1 do UBND xã An Hưng, huyện An Lão quản lý.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu lãnh đạo tỉnh Bình Định tập trung điều tra, làm rõ vụ việc. Đến nay, đơn vị chức năng đã hoàn thành việc giám định diện tích rừng bị phá. Theo kết quả giám định, diện tích rừng bị tàn phá gần 61 ha, nhiều hơn con số 43,7 ha theo báo cáo ban đầu; trong đó, diện tích rừng phòng hộ bị chặt phá là 22 ha, còn lại là rừng sản xuất.
Ông Nguyễn Thế Dũng, Phó Chi cục Trưởng phụ trách, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định cho biết, ngày 15/9, đơn vị đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự tội “hủy hoại rừng”, hồ sơ vụ việc cũng đã được chuyển sang Viện Kiểm sát và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiếp tục làm rõ vụ việc. (VOV 15/9)đầu trang(
Theo kết quả kiểm tra ban đầu của Hạt Kiểm lâm huyện An Lão (Bình Định), tổng diện tích rừng bị phá là 43,7ha. Tuy nhiên, sau khi đo đạc, con số chính thức lại chênh nhau khá lớn, có đến 60,9ha rừng bị lâm tặc xóa sổ.
Chiều 15.9, Trung tâm quy hoạch Nông nghiệp - nông thôn (Sở NNPTNT tỉnh Bình Định) đã hoàn tất hồ sơ đánh giá thiệt hại vụ phá rừng ở tiểu khu 1 (xã An Hưng, huyện An Lão). Tổng diện tích rừng bị phá lên tới 60,9ha. Trước đó, ở kết quả báo cáo ban đầu, Hạt Kiểm lâm huyện An Lão ước tính đo đạc chỉ 43,7ha.
Theo nhận định của lãnh đạo ngành chức năng tỉnh Bình Định, thủ phạm gây ra vụ việc trên chỉ có thể là doanh nghiệp có khả năng thuê người, mở đường… và mục đích phá rừng là để trồng rừng. Thực tế, có rất nhiều vị trí tại khu vực rừng bị phá đã được trồng cây keo con. Trước sự việc trên, Hạt Kiểm lâm huyện An Lão đã tiến hành nhổ bỏ tất cả 7ha cây keo vừa được trồng mới.
Ông Đoàn Văn Tá - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm An Lão - cho biết: “Chúng tôi phải tổ chức phá bỏ vì nếu để lại thì nay mai cây lớn sẽ rất khó xử lý”.
Trong buổi sáng cùng ngày, cơ quan chức năng đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy hoại rừng và hoàn tất việc kiểm đếm lô gỗ nghi do lâm tặc phá rừng vận chuyển ra ngoài được phát hiện tại xưởng chế biến dăm gỗ của Công ty Cổ phần Ðầu tư – Kinh doanh tổng hợp Thương Thảo (tại xã Hoài Sơn). Tổng khối lượng là 26,6m3 gỗ và 28 ster củi.
Lãnh đạo Hạt Kiểm lâm huyện An Lão - cho hay, ngành chức năng đã nhận được nhiều thông tin phản ánh bổ ích từ phía người dân để phục vụ công tác điều tra. Đa số người dân địa phương rất bức xúc muốn “chỉ mặt” đối tượng phá rừng nhưng không dám nói ra vì sợ bị trả thù?.
Liên quan đến vụ phá rừng trên, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu UBND tỉnh Bình Định chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo đúng quy định, báo cáo Thủ tướng kết quả trước ngày 30.10.
Hiện, ngành chức năng tại tỉnh Bình Định đang khẩn trương truy tìm đối tượng gây ra vụ phá rừng. (Dân Việt 15/9)đầu trang(
Ngày 9-9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã yêu cầu UBND tỉnh Bình Ðịnh kiểm tra, làm rõ thông tin các báo phản ánh về tình trạng chặt phá rừng tự nhiên tại xã An Hưng, huyện An Lão (Bình Ðịnh). Cùng ngày, lãnh đạo UBND tỉnh Bình Ðịnh chỉ đạo Công an tỉnh điều tra để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo đúng quy định, báo cáo Thủ tướng kết quả trước ngày 30-10.
Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Ðịnh, đây là vụ phá rừng có tính chất nghiêm trọng, diện tích rừng bị phá trên quy mô lớn, với 43,7 ha rừng do xã An Hưng quản lý. Cây gỗ bị chặt hạ có đường kính từ 10 đến 35 cm, thân gỗ có chiều dài 8 đến 11 m...
Trên toàn quốc, tình trạng chặt phá rừng, xâm lấn rừng diễn ra rất phức tạp. Theo Tổng cục Thống kê, mỗi năm, nước ta bị mất hàng nghìn héc-ta rừng do nạn chặt phá rừng: Tính chung tám tháng đầu năm 2017, trên cả nước diện tích rừng bị chặt phá là 769,9 ha.
Rừng không chỉ bị tàn phá do một số người dân tự phát phá lấy đất sản xuất trước sức ép mưu sinh và hạn chế về nhận thức. Tình trạng triệt hạ rừng có tổ chức, được tiếp tay, dẫn dắt bởi lợi ích nhóm và câu kết thành đường dây khép kín chặt chẽ mới thật sự đáng nguy hiểm, vì sức phá hoại trên quy mô lớn, nhanh chóng và sự trắng trợn, bất chấp luật pháp.
Hầu hết các vụ phá rừng thường chỉ bị phát hiện khi sự đã rồi, thậm chí có nơi toàn bộ diện tích chính của khu rừng cần bảo vệ đã bị đốn hạ, mà cơ quan chức năng vẫn không biết, hoặc không thông báo, nếu người dân hay báo chí không vào cuộc. Tại tỉnh Ðác Lắc, đặc biệt là ở huyện Ea Súp - nơi có diện tích rừng khộp lớn nhất, với hơn 350.000 ha là một thí dụ điển hình, cho thấy có sự tiếp tay, làm ngơ của một số cá nhân trong lực lượng quản lý, bảo vệ.
Ðể ngăn chặn tình trạng xâm lấn rừng trái phép, ngoài công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức và tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân địa phương trong việc bảo vệ rừng, các cơ quan chức năng cần chủ động, áp dụng công nghệ mới (ảnh viễn thám) và tăng cường phối hợp giám sát, nhanh chóng kiểm tra, ngăn chặn kịp thời các hành vi làm tổn hại rừng.
Cần quyết liệt hơn trong kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực, tăng quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của các đơn vị chức năng và người đứng đầu tỉnh, cơ quan chức năng trong xây dựng và chấp hành các quy định bảo vệ và phát triển rừng. Hàng trăm héc-ta rừng bị tàn phá, thậm chí đốt rụi, với hàng nghìn mét khối gỗ quý đủ loại bị đưa ra khỏi rừng không phải là những thứ dễ che giấu. Sự yếu kém năng lực, vô trách nhiệm, vô cảm, thậm chí cố tình móc nối, tiếp tay, quay mặt và bảo kê của một bộ phận cán bộ có trách nhiệm bảo vệ rừng là nguyên nhân hàng đầu gây ra tệ nạn phá rừng, cần được sớm nhận diện và xử lý nghiêm khắc. (Nhân Dân 16/9)đầu trang(
Hơn 200 ha rừng phòng hộ bị “xẻ thịt” nhiều năm nay và việc này vẫn đang tiếp diễn. Rừng phòng hộ xã Tiên Lãnh (huyện Tiên Phước, Quảng Nam) đang bị tàn phá nghiêm trọng. Những người phá rừng ngang nhiên dựng lán trại, đánh xe trâu vận chuyển gỗ ra khỏi rừng...
Từ trung tâm xã, mất khoảng bốn tiếng đồng hồ chúng tôi mới men trèo qua được con dốc đá lởm chởm, ngay cạnh là vực sâu người dân đặt tên Dốc Dằn Mặt để đến hiện trường.
Dọc những triền dốc lên tiểu khu 556, hàng loạt cây gỗ có đường kính rất lớn bị máy cưa cắt hạ nằm ngổn ngang. Nhiều phách gỗ có đường kính lớn được cưa xẻ nằm dọc theo đường mòn chưa kịp tẩu tán.
Khi đến hiện trường, chúng tôi giật mình vì cả một cánh rừng lớn bạt ngàn đã bị phá tan tành. Thân cây lớn bị lâm tặc cưa và mang đi. Các gốc cây to cả hai người ôm vẫn còn rỉ nhựa tươi. Ít nhất những gốc cây này mới được cưa trong vòng 5-10 ngày. La liệt cây gỗ bị cưa phăng ngã xuống đất và được đốt trụi. Không chỉ ở tiểu khu 556, tại tiểu khu 557 hàng trăm cây lớn nhỏ cũng bị chặt hạ và đốt cháy không thương tiếc.
Người dân dẫn chúng tôi vào rừng cho biết: “Việc phá rừng rầm rộ diễn ra suốt mấy năm nay. Người ta vào phá rừng phòng hộ để trồng cây keo, các thân gỗ lớn thì được cưa xẻ, kéo ra khỏi rừng. Nhiều người dân thấy gỗ lớn bị cưa xẻ, vứt ngổn ngang cũng đưa trâu vào kéo gỗ về vì tiếc”.
Khu vực rừng bị tàn phá này nằm giáp với sông Tranh và huyện Bắc Trà My. Ở hai bên bờ sông có nhiều lán trại được dựng lên. Theo quan sát của chúng tôi, bên trong lán trại có nhiều vật dụng dùng để đun nấu thức ăn còn bỏ lại. Dọc bên bờ sông giáp với rừng phòng hộ có nhiều thân cây đường kính lớn được máy cưa cắt nằm dưới mép nước, chờ chuyển về xuôi. Trên bờ sông nhiều cây gỗ lớn khác đang nằm vùi trong đất…
PV liên hệ với ông Võ Hồng Nhiệm (Chủ tịch UBND xã Tiên Lãnh) thì ông này cho biết đang đi học cao cấp chính trị. Hỏi về việc phá rừng xảy ra tại địa phương nhưng chính quyền xã không có người phát ngôn, ông Nhiệm cho biết có ủy quyền cho cán bộ cấp dưới nhưng cán bộ này bận nên không thể trả lời. Sau đó thì ông Nhiệm tắt máy.
Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Minh Sơn (Bí thư Đảng ủy xã Tiên Lãnh) xác nhận có tình trạng phá rừng phòng hộ. Ông Sơn cho hay diện tích rừng bị phá ước chừng hơn 200 ha. “Nguyên nhân dẫn đến sự việc nói trên là trong thời gian những năm gần đây giá keo lên cao nên nhiều người phá rừng để trồng keo. Có sự việc phá rừng xảy ra trên địa bàn nhưng trong thời gian qua chỉ phát hiện và xử lý một số người. Còn phần nhiều là phát hiện rừng phòng hộ bị phá nhưng không phát hiện được ai là thủ phạm” - ông Sơn nói.
“Việc phá rừng trầm trọng nhưng chưa giải quyết dứt điểm được là vì lực lượng kiểm lâm còn mỏng trong khi diện tích rừng ở địa phương rất lớn. Ngoài ra, biện pháp xử phạt hành chính còn nhẹ…” - ông Sơn nói và cho biết thêm không có sự tiếp tay của chính quyền cho việc phá rừng ở địa phương.
Bà Lê Thị Thảo (Chánh Văn phòng UBND huyện) đề nghị phải có văn bản của cơ quan quản lý thì mới sắp xếp cho làm việc với lãnh đạo huyện.
Liên lạc qua điện thoại, ông Bùi Văn Tưởng (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Nam Quảng Nam) cho biết mới đây hạt có phát hiện vụ phá rừng nhưng chỉ khoảng 3-4 ha thôi. Sau khi PV thông tin diện tích bị chặt phá quá kinh khủng thì ông Tưởng cho biết: “Chúng tôi sẽ cho kiểm tra vụ việc mà các anh đề cập và sẽ thông tin lại”.
Ông Lê Trí Thanh (Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam) tỏ ra bất ngờ trước thông tin mà PV cung cấp. “Tôi sẽ cho kiểm tra và xử lý ngay” - ông Thanh nói. (Pháp Luật TP.HCM 16/9)đầu trang(
Những năm gần đây, rừng phòng hộ đầu nguồn Tiên Lãnh (thuộc xã Tiên Lãnh, H.Tiên Phước, Quảng Nam) bị các đối tượng “cạo trọc” không thương tiếc. Điều đáng nói, mặc dù vụ việc đã được người dân nhiều lần phản ánh nhưng tình trạng phá rừng vẫn tiếp diễn. Hậu quả, đến nay hàng trăm héc-ta rừng phòng hộ nơi đây đã bị xóa sổ để lấy đất trồng cây keo, còn gỗ thì được các đối tượng “tận thu” đưa về xuôi tiêu thụ. Vụ việc đang gây bức xúc dư luận tại địa phương.
Tiên Lãnh là một trong ba xã thuộc vùng Lãnh Ngọc Hiệp có diện tích rừng tự nhiên khá lớn còn sót lại. Chỉ riêng xã Tiên Lãnh, diện tích rừng phòng hộ nơi đây khoảng 2.000ha. Những năm gần đây, khi cây keo có giá thì người dân đua nhau mở rộng diện tích bằng cách… phá rừng.
Theo phản ảnh của người dân, ngày 11-9, chúng tôi về xã Tiên Lãnh để tìm hiểu thực hư sự việc. Thấy chúng tôi về địa phương, người dân rất vui mừng, phấn khởi. Trò chuyện với mọi người, ai cũng khẳng định tình trạng phá rừng tại địa phương đã và đang diễn ra ngày một ngang nhiên, ráo riết như thách thức dư luận. Tuy nhiên, khi chúng tôi đề nghị dẫn đường vào những cánh rừng bị cạo trọc trên thì ai nấy đều lắc đầu từ chối vì sợ bị trả thù. Sau một hồi thuyết phục, cuối cùng cũng vì cái chung nên ông P. (một người địa phương) chấp nhận dẫn đường cho chúng tôi và kèm theo lời dặn, cũng là điều kiện đưa ra: “Mấy chú bỏ bớt phương tiện ghi hình ở nhà, phải ngụy trang như người vào rừng hái nấm, hái rau thì mới thâm nhập được”.
Để thâm nhập hiện trường rừng bị tàn phá, xuất phát từ khu vực đang xây dựng thủy điện Sông Tranh 3, men theo lối mòn, chúng tôi chạy xe máy khoảng 30 phút đến khu vực Nà Cau - điểm ranh giới bắt đầu vào Tiểu khu 557 thuộc rừng phòng hộ Tiên Lãnh. Bỏ xe máy bên bìa rừng, lội qua suối Nà Cau lên đến dốc Giằng Mặt, mất hơn 1 giờ cuốc bộ chúng tôi đến khu vực Đuôi Dài. Khi đến nơi, cảnh rừng bị phá dần lộ rõ. Trước mắt chúng tôi là khoảng rừng hơn 10ha đã bị đốn hạ cách đây khoảng 6 tháng. Những cây có đường kính 60-80cm đã bị cưa lấy gỗ. Những cây có đường kính từ 20-50cm vẫn còn trơ gốc, bao phủ bởi lớp cháy đen.
Vừa đi, ông P. vừa cho biết, rừng phòng hộ Tiên Lãnh giờ chỉ còn 2 tiểu khu 556 và 557. Những tiểu khu khác như 551, 552, 553 đã bị “xóa sổ” cách đây vài năm. Hiện tại, những khu vực rừng bị “xóa sổ” cây keo đã lớn và có thể khai thác. Tiếp tục men theo bờ Sông Tranh khi đến suối Cửa Cá đổ ra Sông Tranh, một con đường mòn dành cho trâu kéo gỗ hiện ra. Mức độ mòn của con đường âm sâu xuống đất cả mét. Điều đó cho thấy lượng gỗ mà trâu đã kéo qua đây vô cùng khủng khiếp. “Phía trong rừng bị chặt hạ hết rồi, họ để lại một ít cây phía ngoài làm bình phong. Do đó, đứng từ xa rất khó phát hiện, phải đi vào trong mới chứng kiến rừng bị chặt phá tan hoang” - ông P. cho hay.
Đúng như lời ông P. nói, tiếp tục tiến vào bên trong cả khu rừng nguyên sinh rộng lớn hàng chục héc-ta bị đốn sạch. Bạt ngàn cây gỗ lớn hơn một người ôm nằm ngổn ngang. Tại hiện trường, những loài gỗ quý được cắt khúc theo khuôn khổ, thứ đã cưa xẻ dùng trâu kéo đưa tra khỏi rừng, thứ chưa kịp khai thác hoặc nhỏ hơn đang còn nằm lại. Các đối tượng xẻ gỗ tại chỗ, nhiều khúc gỗ to, tốt được xẻ thành phách, đã vận chuyển ra khỏi khu rừng.
Nhiều thân cây lớn bị triệt hạ ngã đổ tứ phía, chắn ngang lối đi... Ở tiểu khu này là khu vực đồi núi cao, giáp với H. Bắc Trà My, ô-tô không thể vào được, nên để đưa gỗ về xuôi, chỉ có cách dùng trâu kéo gỗ ra khỏi rừng rồi kết bè thả xuống Sông Tranh, sau đó tập kết và vận chuyển về đồng bằng tiêu thụ. Với diện tích rừng đã bị tàn phá, các đối tượng đã đốt sạch để chuẩn bị trồng keo. Đến thời điểm này, cây keo đã lên cao khoảng 0,5m.
Có đi thực tế mới thấy, rừng ở đây bị tàn phá thật khủng khiếp. Thế nhưng khi gặp một người đàn ông đi tìm tổ ong mật, ông này bật mí: “Đây chưa là gì đâu, ở tiểu khu 556 kế bên, diện tích rừng tự nhiên bị phá gấp nhiều lần...”. Theo lời chỉ dẫn của người đàn ông trên, chúng tôi quyết định thâm nhập tiểu khu 556. Tuy nhiên, để đến được đó phải mất 4 giờ đi bộ. Để chuẩn bị cho chuyến đi, chúng tôi trở ra khỏi rừng tìm một nhà dân tá túc qua đêm. Khi vừa ra khỏi rừng, cơn mưa chiều bất chợt đổ xuống báo hiệu chuyến đi núi hôm sau sẽ là chuyến đi đầy khó khăn... (Công An TP. Đà Nẵng 15/9)đầu trang(
Qua nghiên cứu hồ sơ, diễn biến vụ việc và tham dự xét xử tại tòa, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị cho rằng, cần giải quyết dứt điểm vụ án nhằm khôi phục quyền lợi hợp pháp của công dân và pháp nhân thương mại theo quy định pháp luật. Đồng thời làm rõ sai phạm, trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan trong vụ án này.
Kết quả điều tra, cáo trạng và kết luận của Viện Kiểm sát tại tòa đều không chứng minh được hậu quả của vụ án. Bởi khi nhập lô gỗ này từ Lào về Việt Nam, Công ty Ngọc Hưng đã nộp thuế VAT, không gây thất thu thuế cho Nhà nước. Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị, Cục Hải quan Đà Nẵng tại tòa đều xác định 3 công chức Hải quan đã làm tròn trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ, không thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng như cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao đã nêu. Thế nhưng các cơ quan chức năng đã vội vàng bán vật chứng.
Theo Điều 75 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không có nội dung nào cho rằng gỗ trắc, gỗ giáng hương là hàng hóa, vật dụng mau hỏng khó bảo quản để phải bán gấp, đặc biệt, là khi vật chứng vẫn đang trong quá trình điều tra, còn đang tranh chấp giữa doanh nghiệp Trung Quốc, Chính phủ Lào và Công ty Ngọc Hưng. Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: Việc xử lý vật chứng do cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện Kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do tòa án hoặc hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử.
Do vậy, khi lô hàng vẫn đang còn trong quá trình điều tra thì cơ quan cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân không có thẩm quyền bán vật chứng mà phải chờ bản án có hiệu lực pháp lý của tòa án. Trong lúc vụ án chưa kết thúc điều tra, chưa được đưa ra xét xử mà cơ quan điều tra đã bán vật chứng là vi phạm nghiêm trọng Điều 75, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hơn nữa, trước đó (ngày 24.9.2013), cuộc họp lãnh đạo liên ngành tư pháp Trung ương kết luận: Chuyển lô gỗ vật chứng theo hồ sơ vụ án để các cơ quan tố tụng tiếp theo xử lý theo thẩm quyền. Tại Công văn số 900/C41-C44 ngày 27.12.2013 về việc xử lý vật chứng của vụ án, Bộ trưởng Bộ Công an chỉ đạo, đồng ý xử lý theo pháp luật và kết luận của cuộc họp liên ngành. Đồng thời, quá trình xét hỏi tại phiên tòa cho thấy, việc được lập biên bản vào ngày 14.3.2012; việc thu giữ lô hàng không lập biên bản, không giao biên bản vi phạm cho Công ty Ngọc Hưng; việc bán đấu giá lô hàng gỗ cũng không thông báo cho Công ty Ngọc Hưng và một số vấn đề khác cũng chưa rõ ràng. Do đó, căn cứ Điều 179, 199, Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Như vậy, có dấu hiệu cố tình làm sai lệch hồ sơ, làm trái quy định của pháp luật, có nhiều sai phạm về thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị qua xem xét, nghiên cứu diễn biến vụ việc, quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án có thể thấy rằng, việc khởi tố, bắt tạm giam, truy tố đối với các bị cáo không có căn cứ pháp luật; là hình sự hóa các quan hệ kinh doanh thương mại, trái với đường lối và chủ trương của Chính phủ hiện nay là cải cách hành chính về thủ tục hải quan và thuế, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phù hợp với pháp luật hiện hành.
Việc truy tố đối với ông Trương Huy Liệu, bà Trần Thị Dung về tội “buôn lậu”; truy tố ông Lê Xuân Thành, ông Đỗ Lý Nhi, cán bộ Hải quan Cảng Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị và ông Đỗ Danh Thắng, Chi cục trưởng Hải quan Cảng Đà Nẵng về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là không phù hợp với quy định của pháp luật, có dấu hiệu oan, sai.
Do vậy, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Ban Nội chính Trung ương đưa vụ án này vào danh mục những vụ án trọng điểm để điều tra, theo dõi và giám sát. Cần giải quyết dứt điểm đối với vụ án nhằm khôi phục quyền lợi hợp pháp cho công dân và pháp nhân thương mại theo quy định pháp luật, không để vụ án kéo dài, đồng thời làm rõ sai phạm, trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan trong vụ án (Đại Biểu Nhân Dân 16/9)đầu trang(
Những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cùng với việc khai thác rừng quá mức của người dân nhận khoán rừng dẫn đến tình trạng sạt lở bờ biển ngày càng nghiêm trọng tại nhiều khu vực ven biển của tỉnh Kiên Giang.
Khu vực bờ biển tỉnh Kiên Giang trải dài từ Mũi Nai, thị xã Hà Tiên đến rạch Tiểu Dừa, huyện An Minh, khoảng 200km. Theo thống kê mới nhất của ngành nông nghiệp tỉnh Kiên Giang, từ năm 2009 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 69,8 km bờ biển bị sạt lở, trong đó khoảng 35km sạt lở đất nghiêm trọng. Cụ thể, địa bàn huyện An Biên 5km, Kiên Lương 3km, Hòn Đất 7km, nghiêm trọng nhất huyện An Minh có 37km bờ biển thì 20km bị sạt lở.
Theo ông Trần Phi Hải, Giám đốc Ban quản lý rừng An Biên-An Minh, tình trạng sạt lở nhiều bắt đầu từ năm 1996, nhưng thời gian này cũng theo quy luật. Nghĩa là mỗi năm sạt lở vài chục mét tính từ bờ ra, nhưng đất vẫn bồi lại. Thế nhưng, từ năm 2010 đến nay, tình hình sạt lở nghiêm trọng hơn, không còn theo quy luật “bên lở, bên bồi” nữa mà chỉ có lở.
Tính trung bình mỗi năm, sạt lở đã làm mất khoảng 20m. Sạt lở nhiều nhất đoạn từ Xẻo Quao đến rạch Tiểu Dừa thuộc địa bàn xã Vân Khánh, Vân Khánh Tây và Vân Khánh Đông.
Ông Lê Ngọc Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện An Minh, cho biết trên địa bàn huyện có 721 hộ nhận khoán 2.226ha đất rừng ven biển. Mỗi hộ trung bình nhận khoán từ 1-7ha, trong đó người dân nhận khoán được sử dụng diện tích 30% mặt nước để nuôi trồng thủy sản. Thế nhưng, với tình trạng sạt lở ngày càng nghiêm trọng, nhiều hộ bị sạt lở không còn diện tích đất để sản xuất.
Đến nay đã có khoảng 300ha rừng bị mất, trong đó có 38 hộ nhận khoán đã mất trắng diện tích. An Minh không chỉ mất diện tích rừng, mà người dân nhận khoán đất rừng cũng gặp khó khăn. Trước tình hình chung, huyện An Minh cũng chưa có giải pháp nào giúp người dân, mà chỉ tuyên truyền, vận động di dời nhà cửa để tránh rủi ro.
Theo ông Trần Phi Hải, Giám đốc Ban quản lý rừng An Biên-An Minh, bản thân ông làm công việc quản lý, bảo vệ rừng từ năm 1992 trên địa bàn hai huyện An Biên-An Minh nên biết rất rõ nơi nào có rừng nhiều, cây lớn. Ấy vậy mà có nơi ngủ một đêm thức dậy kiểm tra lại không thấy cây rừng đâu nữa do bị sạt lở nhấn chìm theo cơn sóng biển, thấy mà đau xót. Ông Hải cho rằng nguy hiểm nhất là vào mùa mưa bão như hiện nay, gió Tây Nam thổi mạnh gây sóng lớn, phá vỡ cấu trúc rừng phòng hộ, bóc dỡ các gốc cây lâu năm nên các đoạn bờ biển ngày càng xói lở nhiều hơn, thậm chí lấn sâu vào đất liền, đê biển, nhiều đoạn sạt lở đến đê quốc phòng. Trước tình hình sạt lở ngày càng nhiều, huyện An Minh thực hiện kè bằng phương pháp truyền thống, như tre, dừa, cây tràm, nhưng cũng bị sóng đánh vỡ.
Chị Võ Thị Kim Loan, ngụ ấp Kim Quy B, xã Vân Khánh, huyện An Minh, cho biết khoảng 5 năm về trước, căn nhà nằm trong khu rừng toàn cây đước, cây mắm rất chắc chắn, giờ bị sóng đánh sạt lở hết; nhà chị đang nằm cặp sát bờ biển, mỗi năm chi phí cả chục triệu đồng để gia cố bờ đê, nếu không “hà bá” cũng “lôi” căn nhà chị xuống biển.
Cách nhà chị Loan không xa là căn nhà sàn nằm trên mặt nước biển của ông Tư Bửu. Theo lời ông Bửu, căn nhà sàn này trước đây nằm hoàn toàn trên phần đất liền và cách bờ biển khoảng 1km, nhưng giờ bị sóng biển đánh mất hết đất, cây rừng nên phải sống chung với “hà bá.” Các chiến sỹ Trạm Biên phòng Kim Quy, xã Vân Khánh, cho biết trước đây trạm cách biển khoảng 300m, nhưng đã bị sóng biển đánh sạt lở, phải dời vào trong.
Ông Nguyễn Thanh Điền, ấp Kim Quy B, xã Vân Khánh, huyện An Minh, gắn bó với nghề giữ rừng hơn 10 năm chia sẻ, trước đây, khi mới về lập nghiệp, rừng mắm được bao phủ toàn bộ diện tích nuôi trồng thủy sản; tôm, cá, ba khía nhiều vô kể. Tuy nhiên, thiên nhiên đâu lường trước được điều gì, hơn 10 năm, nhưng mỗi năm sạt lở một ít, rừng bị cuốn trôi, từ 3ha đất, giờ còn chưa được 4.000m2, nhìn mà đau lòng. Nhìn cánh rừng ngày càng thu hẹp mà lực bất tòng tâm. Mấy năm nay, ông Điền không nuôi trồng thủy sản được, bởi thả chưa được bao lâu thì bị triều cường, sóng đánh vỡ bờ bao, cuốn trôi hết.
Ông Võ Minh Lễ, Bí thư Huyện ủy An Minh cho rằng tình hình sạt lở nghiêm trọng trên địa bàn huyện như hiện nay đã làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân. Nếu như không có biện pháp nào khắc phục thì trong vòng hai năm nữa toàn bộ diện tích rừng phòng hộ ven biển sẽ biến mất. Theo đó, đồng nghĩa với việc 2.226 hộ nhận khoán đất rừng sẽ lâm vào cảnh khó khăn. Nếu mất diện tích rừng, sóng biển sẽ ập vào tới đê quốc phòng và khả năng nước biển xâm nhập sâu vào đất sản xuất của người dân là rất cao.
Hiện tại, huyện An Minh vận động người dân sinh sống trong vùng sạt lở dùng bao cát và vật dụng tự làm bờ kè chống đỡ nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản. Về lâu dài, huyện sẽ kiến nghị với ngành chức năng tỉnh sớm trình với Trung ương biện pháp chống sạt lở bằng vật liệu cứng, nhằm cứu được rừng, cứu người dân thoát cảnh khó khăn.
Theo ông Nguyễn Văn Tâm, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, với tình hình sạt lở ngày càng nghiêm trọng như hiện nay, ngành Nông nghiệp tỉnh đã làm việc với các địa phương bị sạt lở và xây dựng phương án hỗ trợ người dân. Việc xây dựng kè chỉ mang tính tạm thời, ở những đoạn sạt lở nghiêm trọng, như Tiểu Dừa, Xẻo Nhàu thuộc huyện An Minh, những nơi sạt lở sát đê về lâu dài cần có nguồn vốn đầu tư lớn xây dựng hệ thống kè cứng, gây bồi tạo bãi mới đảm bảo được tình trạng sạt lở.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh phối hợp với Ủy ban Nhân dân huyện An Minh và các đơn vị liên quan tiến hành xác định ranh giới khu vực sạt lở bờ biển; tiến hành lập dự án cấp bách gây bồi, tạo bãi, phục hồi rừng ngập mặn bảo vệ khu vực huyện An Minh và tạo sinh kế cho người dân ven biển, đổ trụ rỗng tiêu giảm sóng, gây bồi tạo bãi với chiều dài gần 4.000m, kinh phí gần 120 tỷ đồng.
Ủy ban Nhân dân tỉnh Kiên Giang đã báo cáo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống thiên tai về tình hình sạt lở và đề nghị hỗ trợ vốn để đầu tư xây dựng dự án cấp bách khắc phục, phòng chống sạt lở ven biển. Tỉnh cũng đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục để thực hiện các mô hình thuộc dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững đồng bằng sông Cửu Long.” Ông Huỳnh Đăng Khoa, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Kiên Giang, cho biết trong dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững đồng bằng sông Cửu Long” có hợp phần sinh kế, nguồn vốn của tỉnh đối ứng nguồn vốn Ngân hàng Thế giới, tổng dự án 736 tỷ đồng, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phòng, chống xói lở bờ biển và hỗ trợ người dân nuôi trồng thủy sản ở hai huyện An Biên, An Minh. Đây cũng là một trong những giải pháp khi triển khai sẽ giúp người dân các huyện bị sạt lở có điều kiện ổn định cuộc sống. Dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững đồng bằng sông Cửu Long” dự kiến sẽ triển khai vào năm 2018. (Vietnam+ 17/9)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thực hiện Kế hoạch số 388/KH-UBND ngày 20/2/2013 của UBND tỉnh về rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp giai đoạn 2013 - 2015 trên địa bàn tỉnh, Ban Chỉ đạo giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) của tỉnh đã tích cực phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố và các tổ chức, đơn vị liên quan tiến hành rà soát, giao đất, giao rừng theo kế hoạch.
Đến nay, công tác giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cơ bản hoàn thành, tạo bước chuyển biến trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, nâng cao đời sống người dân. Tỉnh ta có gần 330.770ha đất lâm nghiệp có rừng và gần 445.900ha đất lâm nghiệp chưa có rừng; rừng ngoài quy hoạch gần 36.700ha. Do đó, công tác giao đất, giao rừng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ dân, cộng đồng dân cư là cần thiết nhằm xác định rõ ranh giới đất sản xuất và đất rừng, đồng thời được hưởng lợi từ diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ.
Mặc dù quá trình thực hiện Kế hoạch số 388 của UBND tỉnh gặp phải một số khó khăn như: Tranh chấp về địa giới hành chính giữa các xã và tranh chấp về diện tích rừng giữa một số bản; một số xã mới chia tách, thành lập; tình trạng di dân tự do… Song với sự vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự phối hợp của các sở, ban, ngành thuộc Ban Chỉ đạo của tỉnh, đến nay, cơ bản hoàn thành việc rà soát, hoàn chỉnh thủ tục giao đất giao rừng, cho thuê đất, thuê rừng cho các tổ chức, cá nhân và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn tỉnh đã thực hiện giao 324.010,05ha đất lâm nghiệp có rừng.
Trong đó: Giao cho 6 tổ chức với tổng diện tích 61.673,67ha; giao cho 3.372 hộ gia đình, cá nhân với diện tích 8.610,39ha; giao cho 1.135 cộng đồng thôn, bản với 262.249,45ha. Đến nay, 2.939/3.372 hộ, cá nhân và 99% cộng đồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do tranh chấp về địa giới hành chính giữa các xã và tranh chấp về diện tích rừng giữa một số bản, nên hiện nay sau khi giao đất giao rừng, giữa các bản có sự chênh lệch về tiền dịch vụ môi trường rừng dẫn đến thường xảy ra tranh chấp, khiếu nại, kiến nghị chia lại rừng, gây khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng. Nguyên nhân được xác định là có những cộng đồng bảo vệ diện tích rừng từ lâu đời nhưng quá trình chia tách địa giới hành chính thì diện tích rừng lại thuộc về xã khác. Đây là vấn đề tồn tại của Kế hoạch 388 mà hiện nay các huyện, thị xã, thành phố đang tích cực tìm phương án để giải quyết.
Theo ông Hà Công Nghiệp, Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Nậm Pồ, thì hiện nay huyện Nậm Pồ có 8 điểm tranh chấp đất rừng sau khi chia tách địa giới hành chính và tranh chấp sau khi thực hiện giao đất, giao rừng theo Kế hoạch 388. Về bản chất, đây là tồn tại mang tính khách quan. Bởi vì rừng giao cho cộng đồng dân cư thôn, bản phải nằm trong phạm vi của cấp xã (được quy định tại Nghị định 23/2006/NĐ-CP). Do đó, khi thực hiện giao rừng phải giao theo đúng địa giới hành chính. Hiện nay, huyện Nậm Pồ đang tích cực tuyên truyền, vận động để các thôn, bản vùng tranh chấp hiểu đúng các quy định của Nhà nước, từ đó, cộng đồng trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. (Báo Điện Biên Phủ 15/9)đầu trang(
Theo phản ánh của cử tri các thôn Cam Phú 1, Cam Phú 2, Cam Phú 3, Thượng Lâm, xã Cam Thành (huyện Cam Lộ, Quảng Trị), 770ha đất được người dân khai hoang, phục hóa để trồng hoa màu và rừng hàng chục năm qua nay có nguy cơ mất trắng.
Theo lời ông Mai Văn Pháp (thôn Cam Phú 2): Sau ngày hòa bình, không chịu đói nghèo, họ đã đi khai hoang đất đai ở khu vực Bắc sông Hiếu để trồng ngô, đậu, sắn. Nhiều gia đình nhờ đó dần ổn định cuộc sống, vượt qua đói nghèo… Tuy nhiên, đầu tháng 4.2016, khi người dân đang ổn định sản xuất thì Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9 đưa máy vào những diện tích đất người dân đang canh tác san ủi, cắm mốc. Các hộ dân bức xúc bởi không được khai thác sản phẩm do mình trồng và hoang mang trước thông tin sẽ bị thu hồi. “Bao nhiêu năm nay chúng tôi đã đổ mồ hôi, công sức, từ khai hoang phục hóa, chi tiền thuê máy ủi làm đường sản xuất, vốn trồng rừng, mỗi hecta lên đến hàng chục triệu đồng, nếu thu hồi có nghĩa chúng tôi trắng tay, trở lại hoàn cảnh khó khăn như mấy chục năm về trước” - ông Pháp bức xúc.
Trao đổi với chúng tôi, Phó Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ Lê Văn Thanh cho biết, UBND huyện đã yêu cầu chính quyền các xã tổ chức họp dân và thông báo cho người dân đến kê khai diện tích, vị trí, lịch sử khai thác ở khu vực Bắc sông Hiếu. Theo đó, tổng diện tích người dân đang canh tác trên đất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9 là 770ha, trong đó 120 hộ ở xã Cam Thành canh tác 500ha, 100 hộ ở xã Cam Tuyền canh tác 270ha. ‘‘Quan điểm hiện nay của huyện là các sở, ngành cần tích cực tổ chức điều tra, thống kê chi tiết, cụ thể vị trí, số lượng diện tích đất rừng mà người dân đang sử dụng thuộc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đường 9.
Từ đó, huyện sẽ kiến nghị UBND tỉnh thu hồi theo hướng hoán đổi một diện tích tương ứng (vì diện tích xâm lấn nằm rải rác) để giao cho địa phương quản lý; đồng thời, xây dựng mốc giới, cắm mốc rõ ràng. Trên cơ sở đó, huyện sẽ rà soát lại nhu cầu sử dụng đất của người dân để lên phương án giao đất cho người dân nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất’’ - ông Thanh nhấn mạnh.
Liên quan đến vấn đề này, Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh Nguyễn Đức Dũng cho biết: Tháng 4.2017, HĐND tỉnh đã thành lập Đoàn giám sát về công tác quản lý sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân do Nhà nước cho thuê đất hoặc cấp trên tinh thần thực hiện các nghị quyết và kết luận của HĐND tỉnh đã có. Bởi đây là giai đoạn các công ty lâm nghiệp tiến hành cổ phần hóa. Trong cổ phần hóa sẽ liên quan đến nhu cầu đất sản xuất của người dân, đất quy hoạch phát triển của các huyện liên quan đến các công ty lâm nghiệp trên tinh thần sau khi cổ phần hóa xong, đời sống, sản xuất của người dân và sự phát triển của các công ty sau cổ phần hóa ổn định và phát triển… Nội dung này sẽ được HĐND tỉnh đưa ra bàn bạc tại Kỳ họp thứ 6 tới và xây dựng thành chuyên đề và có thể ra nghị quyết về vấn đề này. Hiện, đang hoàn thiện báo cáo và xin chủ trương từ Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
Quan điểm của HĐND tỉnh là phải nắm rõ hiện trạng sử dụng đất, quy chủ đất đai; việc sử dụng, quản lý đất đai phải hiệu quả, phải bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người dân và doanh nghiệp, đặc biệt sau khi cổ phần hóa; chống lạm dụng, trục lợi đất đai vào các mục đích cá nhân, trái pháp luật; giải quyết dứt điểm mâu thuẫn về sử dụng đất đai giữa các công ty lâm nghiệp và người dân trên địa bàn - Phó Chủ tịch Thường trực HĐND tỉnh nhấn mạnh. (Đại Biểu Nhân Dân 14/9)đầu trang(
Tính đến đầu tháng 9 năm nay, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng ở tỉnh Phú Yên đạt hơn 51.250 m3, tăng 31,9% so cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân sản lượng gỗ khai thác tăng là do được giá và diện tích đến kỳ khai thác tăng, chủ yếu là cây keo lai. Hiện nay, giá gỗ keo tại nơi trồng ít nhất 1,1 triệu đồng/m3, tăng 50 nghìn đồng/ m3 so với đầu năm.
Những năm gần đây, giá gỗ rừng trồng tăng đã khuyến khích các doanh nghiệp và người dân mở rộng diện tích trồng rừng kinh tế trên đất gò đồi và đất nông nghiệp bạc màu để nâng cao thu nhập, bảo vệ môi trường sinh thái. Theo tính toán của những người trồng rừng, tùy thuộc vào vùng đất, trung bình mỗi hecta trồng cây keo cần vốn đầu tư từ 20 triệu đến 25 triệu đồng và sau từ 5 đến 7 năm, người trồng rừng thu lãi ít nhất 40 triệu đồng/ha trở lên.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Yên, 7 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm tỉnh Phú Yên trồng hơn 4.000 hecta rừng kinh tế, chủ yếu cây là keo lai và từ năm 2015 đến nay năm mỗi năm khai thác từ 40.000 m3 gỗ trở lên. Để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ gỗ rừng trồng, giảm chi phí vận chuyển, tỉnh Phú Yên đã tạo điều kiện cho hai doanh nghiệp tư nhân đầu tư xây dựng hai nhà máy chế biến gỗ tại Khu công nghiệp Đông Bắc Sông Cầu và huyện miền núi Đồng Xuân có tổng công suất khoảng 250.000 tấn/năm. (Đài Phát Thanh Truyền Hình Sóc Trăng 15/9)đầu trang(
Đoàn ĐBQH tỉnh đã khảo sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về trồng rừng thay thế; về giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và hộ gia đình tại huyện Đăk Glei.
Trong 3 năm (2014-2017), các chủ rừng đã trồng 168,1ha rừng theo chương trình trồng rừng thay thế. Đã giao 2.851,13ha rừng cho 18 cộng đồng dân cư ở huyện; giao 2.976,7ha rừng cho 247 hộ ở các xã theo chủ trương của Chính phủ và tỉnh. Tuy vậy, việc trồng rừng thay thế không đạt kế hoạch do một số diện tích bị người dân lấn chiếm trái phép làm nương rẫy, khó thu hồi; các điều khoản về quyền lợi của các hộ được giao đất, giao rừng chưa phù hợp với thực tế; các loại sản phẩm từ rừng chưa được tính toán cụ thể…
Qua đó, UBND huyện đề nghị UBND tỉnh, các sở, ban, ngành liên quan giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng hằng năm sớm hơn để các chủ rừng có cơ sở và chủ động trong công tác trồng rừng; nâng đơn giá trồng rừng. Đoàn ĐBQH tỉnh ghi nhận việc giao rừng cho cộng đồng, hộ gia đình tại huyện đúng quy định. Đồng thời, đề nghị UBND huyện rà soát rừng và diện tích rừng chồng lấn; tiếp tục giao đất, giao rừng cho dân và trồng rừng thay thế. (Đại Biểu Nhân Dân 14/9)đầu trang(
;
Đó là yêu cầu của đoàn giám sát Ban Dân tộc HĐND tỉnh tại buổi làm việc với Sở NN-PTNT và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh vào sáng 14.9.
Theo báo cáo của Sở NN-PTNT, tổng diện tích trồng rừng thay thế (TRTT) tính đến ngày 20.8.2017 là hơn 1.899ha, đạt (93,31% so với diện tích đã được UBND tỉnh phê duyệt phương án trồng rừng); còn lại diện tích 136ha chưa TRTT (chiếm 6,69% so với tổng diện tích đã được phê duyệt). Tại cuộc họp, nhiều ý kiến cho rằng, thực tế phát sinh những xung đột về quyền lợi khi TRTT, đặc biệt sử dụng nguồn lao động địa phương.
Để TRTT, một số nơi phải dọn thực bì, chặt cây tại chỗ để cây trồng  phát triển, tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học rừng. Tại huyện Bắc Trà My, do chồng lấn với đất nương rẫy của đồng bào, nên gần 60ha không thể TRTT mà chuyển đến huyện khác trồng, trong khi quỹ đất trống của địa phương còn khá lớn với hơn 2.000ha. Làm rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị chi trả số tiền hơn 300 triệu đồng cho phát dọn thực bì ở Bắc Trà My nhưng không thể triển khai TRTT.
Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Nguyễn Hoàng Minh yêu cầu Sở NN-PTNT và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng tỉnh tập trung giải quyết những vướng mắc, bất cập TRTT ở miền núi; thống nhất tăng số lần chăm sóc rừng sau khi trồng để nâng cao chất lượng rừng. Thời gian đến, ngành nông nghiệp cần rà soát, đánh giá toàn diện các trạng thái rừng nào thì xem xét trồng mới hay khoanh nuôi trồng dặm, hạn chế tình trạng chặt cây tại chỗ để trồng mới rừng thay thế.  Ngoài ra, giải quyết dứt điểm công tác nghiệm thu, thanh quyết toán TRTT, nhất là bức xúc của đơn vị nhà thầu thi công trồng rừng. (Báo Quảng Nam 15/9)đầu trang(
Những ngày đầu tháng 9 này, việc bồi hoàn, hỗ trợ công chăm sóc, bảo vệ rừng từ những năm 90 của thế kỷ 20 cho người dân ở miệt rừng xã Khánh Thuận, huyện U Minh đang được UBND tỉnh Cà Mau nỗ lực giải quyết một cách ổn thỏa, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho người dân, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự xã hội tại địa phương.
Thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng theo Quyết định số 64/QÐ-UB ngày 28-3-1991 của UBND tỉnh Minh Hải cũ, nay là tỉnh Cà Mau, năm 1993, Lâm ngư trường (LNT) Sông Trẹm (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ) hợp đồng giao khoán hơn 1.100 ha đất lâm nghiệp cho 130 hộ dân các ấp 19, 20, 21 (xã Khánh Thuận) để trồng rừng, bảo vệ rừng kết hợp với canh tác nông nghiệp. Theo hợp đồng giao khoán, mỗi hộ dân được nhận thửa đất 100 m bề ngang và 1.000 m bề dài (trăm ngang nghìn dọc), tương đương khoảng 10 ha, với thời hạn 20 năm (từ năm 1993 đến 2013).
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý, các hộ dân không đủ sức bảo vệ và phát triển rừng, cho nên rừng bị nghèo kiệt và thỉnh thoảng xảy ra cháy rừng… Năm 1996, LNT Sông Trẹm đã quyết định thu hồi lại 500 m chiều dọc (tương đương 50%) phần đất "trăm ngang nghìn dọc" của người dân với tổng diện tích hơn 529 ha. Trong đó, dành hơn 290 ha để giao khoán lại cho 41 hộ dân khác; phần diện tích còn lại, LNT Sông Trẹm hợp đồng liên doanh liên kết, giao khoán cho một số tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp.
Theo hợp đồng giao khoán, việc thu hồi đất tại LNT Sông Trẹm diễn ra vào năm 2013 như hợp đồng giao khoán năm 1993. Thế nhưng, năm 2012, các hộ dân bị thu hồi đất ở Khánh Thuận gửi đơn yêu cầu LNT Sông Trẹm trả lại hiện trạng giao khoán ban đầu, hoặc cho họ thuê hay hợp tác đầu tư như một số tổ chức, cá nhân khác. Vụ việc khiếu nại kéo dài đến tận năm nay.
Trao đổi với chúng tôi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc kiêm Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy Cà Mau Lê Dũng khẳng định: Vào thời điểm LNT Sông Trẹm thu hồi đất, người dân biết việc thu hồi nhưng không khiếu nại vì giá trị, hoa lợi từ trồng và bảo vệ rừng quá ít. Về sau thấy giá trị tăng lên, người dân khiếu nại tập thể để đòi quyền lợi. Phía LNT Sông Trẹm đã tự ý thu hồi đất giao khoán cho dân, nhưng chưa có chủ trương của UBND tỉnh; tại thời điểm thu hồi, LNT không tính toán phương án bồi hoàn thành quả lao động cho người dân và chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục, giấy tờ thu hồi để cấp lại sổ khác.
Ðể bảo đảm quyền lợi cho người dân, UBND tỉnh Cà Mau sẽ thực hiện bồi hoàn, hỗ trợ công chăm sóc, bảo vệ rừng ba năm đầu; chi phí xử lý thực bì, đào kênh khuôn hộ bằng thủ công... cho các hộ dân ấp 19, 20, 21 (xã Khánh Thuận) bao gồm: Hộ gốc được giao khoán đất rừng vào năm 1993 nhưng bị thu hồi 50% diện tích năm 1996; hộ thừa kế từ hộ gốc, hộ nhận chuyển nhượng thành quả lao động từ hộ gốc vào thời điểm trước năm 1996. Phương án bồi hoàn được UBND tỉnh tính toán và áp theo giá thực tế hiện nay.
Cụ thể, bồi hoàn công chăm sóc rừng được tính dựa trên lợi nhuận bình quân thu được sau khi khai thác rừng và tỷ lệ các hộ dân được hưởng theo hợp đồng với quy định hiện nay, tức người dân được hưởng 80%, Công ty U Minh Hạ chỉ hưởng 20% thay vì người dân hưởng 30%, công ty hưởng 70% như trước. Ðối với việc bồi hoàn công xử lý thực bì và đào kênh khuôn hộ bằng thủ công, tỉnh Cà Mau khảo sát thực tế, tính toán và áp theo đơn giá hiện hành là 26.500 đồng/m3. Tổng kinh phí bồi hoàn trong việc LNT Sông Trẹm thu hồi đất của 130 hộ dân là hơn 4,1 tỷ đồng, tính bình quân mỗi hộ được nhận hơn 30 triệu đồng. Kinh phí bồi hoàn không sử dụng ngân sách mà trích từ lợi nhuận của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ.
Ðược biết, đến nay nhiều hộ dân bị thu hồi đất rừng đã đồng thuận với phương án bồi hoàn của tỉnh Cà Mau. Ông Phan Văn Ðội, hộ dân có đất rừng bị thu hồi ở ấp 21 cho biết: "Tôi thấy phương án mà tỉnh đưa ra hợp lý, có lợi cho người dân".
Theo Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, trong thời gian tới, nếu các hộ dân đồng thuận, tỉnh Cà Mau sẽ chỉ đạo cơ quan chức năng thu hồi đất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ để giao về cho chính quyền địa phương, sau đó tiến hành các thủ tục cần thiết để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên phần đất còn lại cho người dân, giúp người dân yên tâm ổn định và canh tác sản xuất lâu dài... (Nhân Dân 16/9)đầu trang(
Khu vực Suối Sổ (tiểu khu 180, thuộc địa giới hành chính xã Sông Cầu) được UBND tỉnh Khánh Hòa giao cho Công ty TNHH một thành viên Lâm sản Khánh Hòa (Công ty Lâm sản Khánh Hòa) quản lý.
Thời gian qua, người dân thôn Sơn Thành (xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh) tranh chiếm nhiều héc-ta rừng tại đây nên đơn vị không thể triển khai trồng rừng. Huyện Khánh Vĩnh đã nhiều lần vào cuộc nhưng chưa được giải quyết dứt điểm.
Giữa tháng 9, đến khu vực Suối Sổ, chúng tôi thấy một vùng đất rừng rộng lớn đã được phát dọn nhưng chưa thể trồng rừng. Nhiều chỗ cây dại, lau lách đã mọc lên quá đầu người, một số diện tích khác đã được người dân trồng bắp, chuối từ 3 đến 4 tháng nay. Ông Lê Xuân Lý - Trưởng phòng Kỹ thuật Công ty Lâm sản Khánh Hòa cho biết: “Khi công ty tiến hành trồng rừng thì người dân thôn Sơn Thành kéo đến nhổ keo.
Họ mang theo hung khí uy hiếp nhân viên nên việc trồng rừng phải tạm dừng”. Theo biên bản sự việc được lập ngày 5-4-2017, có hơn 40 người dân thôn Sơn Thành kéo đến ngăn cản việc trồng rừng của Công ty Lâm sản Khánh Hòa tại tiểu khu 180, người dân nhổ bỏ 2.950 cây keo lai. Ngoài ra, cứ mỗi lần thấy người của Công ty Lâm sản Khánh Hòa vào khu vực này là người dân Sơn Thành lại kéo đến rất đông.
Ông Cao Diễn - một trong số những hộ ngăn cản việc trồng rừng cho biết: “Toàn bộ diện tích khoảng 1,4ha tại khu vực Suối Sổ lâu nay Công ty Lâm sản Khánh Hòa trồng keo là của gia đình tôi khai phá, nay tôi lấy lại để canh tác. Trên diện tích này, gia đình tôi đã trồng bắp, chuối mấy tháng nay”. Trong khi đó, ông Cao Sông (thôn Sơn Thành) cho rằng: “Diện tích khoảng 1,6ha tại Suối Sổ của tôi là do cha tôi là ông Cao Banh khai phá, canh tác từ trước năm 1975. Cha tôi đã giao lại cho tôi nên sau khi công ty khai thác keo xong thì tôi lấy lại để sản xuất”.
Khi chúng tôi hỏi vì sao Công ty Lâm sản Khánh Hòa trồng, khai thác rừng tại khu vực này từ hơn 10 năm nay nhưng người dân không có ý kiến, đề nghị UBND xã can thiệp thì nhiều người dân cho rằng mình không biết. “Những lần công ty trồng, chúng tôi định nhổ bỏ keo để lấy lại đất nhưng họ bảo sau khi khai thác thì trả lại đất nên thôi không nhổ nữa”, ông Cao Sông nói.
Ông Cao Văn Toàn - Chủ tịch UBND xã Khánh Phú cho biết: “Trước đây, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ở thôn Sơn Thành sinh sống, làm rẫy ở khu vực Suối Sổ. Sau này, khi thực hiện chủ trương định canh, định cư thì họ mới chuyển về sinh sống tại khu vực thôn Sơn Thành, nhiều hộ vẫn còn sản xuất tại khu vực này từ đó đến nay”. Cũng theo ông Toàn, trong số các hộ tranh chấp đất với Công ty Lâm sản Khánh Hòa, có 3 hộ là đồng bào DTTS nghèo được UBND xã đưa vào danh sách những hộ được giao đất từ diện tích bóc tách từ lâm phận của Công ty Lâm sản Khánh Hòa quản lý. Vì thế, UBND xã đang tạm dừng việc cấp đất đối với 3 hộ này.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, diện tích đất rừng sản xuất tại khu vực Suối Sổ thuộc tiểu khu 180 được Công ty Lâm sản Khánh Hòa tiếp nhận lại từ Lâm trường Sông Khế năm 1997. Diện tích đất này thuộc quy hoạch rừng sản xuất, được Nhà nước giao công ty quản lý. “Trước năm 2005, công ty đã tiến hành trồng rừng với tổng diện tích 20ha ở khu vực này, người dân không có phản ứng gì. Sau khi trồng rừng và khai thác được 2 lần thì các hộ lấn chiếm. Cụ thể năm 2011, người dân lấn chiếm 1,5ha, đến năm 2016, sau khi công ty khai thác gỗ rừng trồng thì lại phát hiện người dân lấn chiếm tiếp 6ha.
Đầu năm 2017, công ty tiến hành trồng rừng trên diện tích được giao thì bị người dân xã Khánh Phú ngăn cản, tranh chiếm, việc trồng rừng đã phải ngưng lại cho đến nay. Hiện nay, công ty đã chỉ đạo Trạm Quản lý - Bảo vệ rừng Khánh Phú rà soát, thống kê toàn bộ diện tích đất bị lấn chiếm để báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý”, ông Lê Đình Tấn - Phó Giám đốc Công ty Lâm sản Khánh Hòa cho biết.
Theo lý giải của nhiều người, nguyên nhân của tình trạng này có thể là do trước đây, khu vực này chưa có đường xe đi nên các hộ không quan tâm đến diện tích đất ở khu vực này. Hiện nay, khu vực này đã có đường nối Khánh Phú - Khánh Thành đi lại rất thuận lợi, đất ở đây lại phù hợp để trồng các loại cây ăn quả nên rất có giá trị.
Được biết, từ tháng 2-2017, UBND huyện Khánh Vĩnh đã chỉ đạo các ngành chức năng, chính quyền địa phương có liên quan kiểm tra ngay hiện trạng. Đồng thời, giao cho UBND xã Khánh Phú vận động người dân chấp hành pháp luật, ngăn chặn các hộ có hành vi lấn chiếm trái phép đất rừng sản xuất để làm nương rẫy; nắm bắt cụ thể các hộ lấn chiếm đất rừng trái phép. UBND huyện Khánh Vĩnh còn đề nghị các bên có liên quan ngăn chặn, không để tình trạng lấn chiếm đất rừng sản xuất tiếp diễn nghiêm trọng.
Tiếp đó, ngày 19-7-2017, ông Lê Đức Dũng - Phó Chủ tịch UBND huyện Khánh Vĩnh chủ trì cuộc họp, đề nghị Công ty Lâm sản Khánh Hòa làm việc với các bên liên quan vận động người dân chấp hành pháp luật; điều tra nguồn gốc đất tại khu vực xảy ra tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng thuộc lâm phận của công ty; nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân. Ông Dũng còn giao Công an huyện Khánh Vĩnh làm rõ các đối tượng không có nhu cầu canh tác, sản xuất nhưng vẫn tiến hành lấn chiếm hoặc xúi giục người dân lấn chiếm đất rừng của Công ty Lâm sản Khánh Hòa…
Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Tân - Giám đốc Công ty Lâm sản Khánh Hòa cho biết: “Thực hiện chỉ đạo của UBND huyện Khánh Vĩnh, công ty đã làm việc với UBND xã Sông Cầu và Khánh Phú để giải quyết, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của người dân. Công ty đã nhiều lần báo cáo tình hình cho UBND huyện Khánh Vĩnh; đồng thời đề nghị UBND huyện chỉ đạo các ngành, địa phương liên quan can thiệp, ngăn chặn tình trạng lấn chiếm đất rừng để đơn vị tiến hành trồng rừng. Tuy nhiên, sau nhiều văn bản chỉ đạo của UBND huyện Khánh Vĩnh, tình trạng vẫn không có tiến triển, đến nay công ty vẫn chưa thể trồng rừng tại khu vực này dù mùa trồng rừng đã sắp kết thúc”.
Ông Cao Văn Toàn cho biết: “Hiện nay, có 19 hộ đồng bào DTTS nghèo ở thôn Sơn Thành đang thiếu đất sản xuất, trong đó có những hộ đang tranh chấp đất với Công ty Lâm sản Khánh Hòa. Người dân đề nghị cấp trên xem xét bóc tách, trả lại đất cho người dân tại khu vực Suối Sổ để họ có đất canh tác. Trong thời gian chờ giải quyết tranh chấp đất, UBND xã đã đề nghị người dân không canh tác những cây trồng lâu năm trên diện tích hiện tại. Công ty Lâm sản Khánh Hòa tạo điều kiện để người dân thu hoạch các diện tích cây trồng ngắn ngày trên diện tích đất này; các hộ cam kết không phát chiếm rừng trồng trái phép. Các hộ đang có tranh chấp đất đã cam kết không lấn chiếm thêm và thu hoạch sản phẩm trên diện tích đã lỡ trồng, không canh tác thêm khi chưa giải quyết xong”.
Được biết, Công ty Lâm sản Khánh Hòa đã tiến hành bóc tách đất tại khu vực thôn Giang Mương để giao cho người dân thiếu đất. Tuy nhiên theo ông Toàn, khu vực bóc tách đất khá xa thôn Sơn Thành, trong khi người dân khó khăn, không có phương tiện để đến đó canh tác.
Trước thực trạng đất rừng sản xuất của Công ty Lâm sản Khánh Hòa bị người dân chiếm dụng, kéo dài vẫn chưa được giải quyết dứt điểm, ngày 22-8, Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Khánh Vĩnh đã vào cuộc. Qua làm việc với các bên liên quan, ông Lê Đình Chiến - Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Khánh Vĩnh yêu cầu UBND xã Khánh Phú và Công ty Lâm sản Khánh Hòa xác định số hộ đã canh tác tại khu vực đất đang tranh chấp; nắm tình hình các hộ bị kích động để ngăn chặn kịp thời.
Bên cạnh đó, UBND xã Khánh Phú phải đẩy mạnh tuyên truyền người dân không lấn chiếm diện tích đất còn lại khoảng 10ha của Công ty Lâm sản Khánh Hòa. Ông Chiến cũng yêu cầu UBND xã Khánh Phú phối hợp với UBND xã Sông Cầu, đơn vị chủ rừng xác định cụ thể các hộ lấn chiếm đất của Công ty Lâm sản Khánh Hòa để có hướng giải quyết.
Tuy người dân đã cam kết giữ nguyên hiện trạng diện tích đất tại khu vực Suối Sổ để chờ giải quyết, nhưng vào ngày 13-9, khi Công ty Lâm sản Khánh Hòa và UBND xã Khánh Phú đến khu vực Suối Sổ để phân định ranh giới, khoanh vùng diện tích với 6 hộ lấn chiếm chờ tìm hướng giải quyết; xác định phần diện tích chưa bị lấn chiếm để Công ty Lâm sản Khánh Hòa tiến hành trồng rừng thì tiếp tục phát hiện có thêm nhiều hộ khác vào lấn chiếm tại đây.
Qua đo đạc hiện trường khu vực Suối Sổ, trong 2 ngày 13 và 14-9, Trạm Quản lý - Bảo vệ rừng Khánh Phú đã xác định được cụ thể danh tính 12 hộ lấn chiếm đất rừng sản xuất của công ty với tổng diện tích hơn 13,8ha. Con số vẫn chưa dừng tại đây khi vẫn còn một số hộ khác lấn chiếm nhưng trạm chưa xác định được cụ thể.
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo Công ty Lâm sản Khánh Hòa cho rằng, hiện nay tỉnh có chủ trương bóc tách đất để giao cho các hộ đồng bào DTTS nghèo thiếu đất sản xuất. Thực hiện chủ trương này, công ty đã bóc tách đất trong lâm phận của công ty quản lý để chính quyền địa phương giao cho người dân, qua 3 đợt đã tiến hành bóc tách hơn 4.112ha để bàn giao cho UBND huyện Khánh Vĩnh giao cho các hộ đồng bào DTTS thiếu đất sản xuất.
Chỉ tính riêng xã Khánh Phú, năm 2006 đã có 119,12ha, năm 2013 có 102,47ha, năm 2017 có 43,51ha. Nếu các hộ thực sự thiếu đất sản xuất, công ty sẵn sàng bóc tách để chính quyền địa phương giao cho người dân sản xuất. Việc người dân tự ý lấn chiếm đất đã được UBND tỉnh giao cho công ty quản lý rồi đề nghị bóc tách ngay tại diện tích ấy, nếu đáp ứng sẽ tạo tiền lệ xấu sau này. (Báo Khánh Hòa 16/9)đầu trang(
UBND tỉnh Cà Mau vừa phát đi thông báo về triển khai thực hiện Phương án bồi thường thành quả lao động trên đất lâm nghiệp được giao khoán đã thu hồi năm 1996 của 130 hộ dân ấp 19, 20, 21 ở Khánh Thuận, huyện U Minh. Theo đó, tỉnh đưa ra thời hạn sau ngày 15/10/2017, hộ nào không nhận tiền, không hợp tác trong thực hiện hồ sơ giao đất, tỉnh sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng giao khoán đất đã hết hạn và thu hồi đất theo quy định.
Như Báo ảnh Đất Mũi Online đã thông tin, 130 hộ dân nêu trên được giao khoán đất lâm nghiệp từ năm 1993. Đến năm 1996, Lâm ngư trường Sông Trẹm (nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ) thu hồi một phần diện tích đã được giao khoán.
Tại thời điểm thu hồi, Lâm ngư trường Sông Trẹm không lập phương án bồi hoàn thành quả lao động cho các hộ dân nhận khoán. Đến năm 2012, một số hộ dân ấp 19, 20, 21 xã Khánh Thuận yêu cầu tiếp tục giao khoán, cho thuê hoặc hợp tác sản xuất trên diện tích đã bị thu hồi vào năm 1996 nêu trên.
Dù tỉnh đã đề ra phương án bồi hoàn thành quả lao động: Công chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng 3 năm (từ 1993 - 1996); khối lượng đào đắp trên đất đã thu hồi theo đơn giá hiện tại cũng như cách tính phân chia thành quả lao động có lợi cho dân.
Cùng với đó, tỉnh có chủ trương thu hồi đất của Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ (diện tích hiện tại mà các hộ gốc đang sản xuất) để cấp (giao đất - sổ đỏ) cho các hộ dân đã đồng tình, thực hiện phương án bồi thường được UBND tỉnh phê duyệt. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số hộ dân chưa đến nhận bồi thường và thực hiện thanh lý hợp đồng.
Từ thực tế này, UBND tỉnh yêu cầu chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động người dân đến nhận tiền bồi thường theo phương án; lập danh sách từng đợt các hộ dân đã nhận bồi thường , đã thanh lý hợp đồng, trình UBND tỉnh thu hồi đất và thực hiện việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình thực hiện theo chủ trương của tỉnh. Những nội dung trên phải được thực hiện dứt điểm đến hết ngày ngày 15/10. (Báo Đất Mũi 15/9)đầu trang(
Lâm nghiệp được coi là một thế mạnh của huyện Bạch Thông. Những năm gần đây, để khai thác thế mạnh này, huyện đã tập trung rà soát quy hoạch 3 loại rừng, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế tham gia trồng rừng, khuyến khích trồng rừng gắn với sản xuất, chế biến lâm sản từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế, cải thiện đời sống. (Đài Phát Thanh Truyền Hình Bắc Kan 14/9)đầu trang(
Với rất nhiều nhân chứng quan trong không được triệu tập xác minh, không đưa nhân chứng quan trọng vào tham gia tố tụng, cũng như hoạt động thu thập hồ sơ, chứng cứ còn nhiều thiếu sót, nhất là chưa xác định rõ vị trí, ranh giới thửa đất, cũng như có sự chồng lấn thửa đất… bản án sơ thẩm giải quyết tranh chấp đất rừng giữa nguyên đơn Lê Hữu Quyết và bị đơn Phạm Soa ở Hương Khê (Hà Tĩnh) đã bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm, hủy án để điều tra, xét xử lại.
Phiên tòa phúc thẩm ngày 08/9/2017 cho thấy, TAND huyện Hương Khê xét xử sơ thẩm đã rất “ẩu” và thiếu công minh trong việc thu thập hồ sơ, đánh giá chứng cứ, nhất là không triệu tập nhân chứng quan trọng vào tham gia tố tụng, kể cả khi các nhân chứng này có đơn xác nhận, luật sư bên bị đơn đã đi xác minh, cung cấp chứng cứ cho Tòa sơ thẩm... cũng không được xem xét. Trong lúc đó, nội dung đơn kiện của nguyên đơn có nhiều điểm mâu thuẫn nhân chứng tham gia tại tòa có lời chứng mâu thuẫn... lại được cấp sơ thẩm chấp nhận một cách khó hiểu?!
Theo đơn khởi kiện thì ông nhượng đất cho ông Soa và tôi Quyết cho rằng: Vào năm 2006, ông Soa và ông Lê Hữu Dũng đến mượn 7 sào đất của gia đình ông, năm 2012 ông đòi lại đất nhưng ông Soa không trả nên ông Quyết khởi kiện. Nhưng ông Soa khẳng định, từ năm 1994 đã vào canh tác trên đất. Việc này có nhiều người làm chứng, viết đơn-xác nhận. Tiếc rằng, những nhân chứng này không được Tòa cấp sơ thẩm triệu tập, đưa vào tham gia tố tụng. Điển hình:
Ông Nguyễn Văn Tâm, người chuyển nhượng thửa đất nói trên cho ông Soa xác nhận: “Thửa đất đó do tôi khai hoang. Sau làm không hiệu quả, tôi chuyển nhượng cho ông Phạm Soa vào làm từ năm 1994. Chính bản thân tôi là người nhờ ông Nga viết giấy chuyển nhượng đất cho ông Soa và tôi đã lên xin xác nhận của xã...”.
Ngay trong biên bản xác minh của Tòa án huyện Hương Khê ngày 27/9/2016, do Thẩm phán Lê Trọng Hùng trực tiếp đi xác minh, ông Nguyễn Văn Tâm cũng đã nói rõ điều này, còn nhấn mạnh thêm: “Đen năm 1994 ông Phạm Soa gặp tôi xin đất, tôi đồng ý và chủ yếu là cho không ông Soa và có xác nhận vào giấy nhượng đất”.
Trực tiếp ông Nguyễn Văn Lương, nguyên Chủ tịch xã Gia Phố cũng xác nhận điều này: “Thời kỳ tôi làm chủ tịch có ký xác nhận giấy chuyển nhượng đất giữa ông Nguyễn Văn Tâm và ông Phạm Soa”. Ông Nguyễn Đình Vinh, nguyên Chủ nhiệm HTX Đông Hải, xã Gia Phố, nguyên Phó Bí thư Đảng ủy xã Gia Phố cũng xác nhận sự thật nêu trên.
Đặc biệt, ông Lê Hữu Dũng (em trai nguyên đơn Lê Hữu Quyết) cũng thừa nhận thừa đất đang tranh chấp là của ông Phạm Soa. Ngay cả người canh tác cạnh đất ông Soa cũng xác nhận quá trình canh tác lâu dài của gia đình ông Phạm Soa trên thửa đất đang tranh chấp.
Ngoài ra, ông Quyết trình bày dự án 327 giao cho ông 3,6 ha, trong khi đó hiện nay diện tích thực tế ông đang sử dụng hơn 4 ha, như vậy ông Quyết lấy đất ở đâu ra để cho gia đình ông Soa mượn 7 sào và đòi ông Soa trả lại 1,5 ha (theo như trình bày của ông Quyết)?
Vô lý nhất là lời khai của nhân chứng Nguyền Thế Phúc, người được Tòa cấp sơ thẩm triệu tập làm 'chứng, khi khẳng định ông Quyết cho ông Soa mượn đất vào năm... 1996, và mảnh đất mà ông Quyết và ông Soa đang tranh chấp, trước đây là của ông Ngô Liên và Ngô Thanh, đến năm... 1993 ông Quyết mới vào đây để làm! Trong lúc đó, ông Quyết khẳng định ông vào làm trên đất từ năm 1983, năm 2006 cho ông Soa mượn đất.
Đặc biệt, khi Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị đơn Phạm Soa đối chứng với nhân chứng Phúc, thì nhân chứng này đã không trả lời được những câu hỏi về nguồn gốc lịch sử của thửa đất đang tranh chấp cũng như những vấn đề liên quan khác.Với những mâu thuẫn, thiếu sót nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để trả hồ sơ về cho cấp sơ thẩm điều tra, xét xử lại. (Bảo Vệ Pháp Luật 15/9)đầu trang(
Để có được trên 9.000 ha rừng nguyên liệu giấy hiện nay, công ty nguyên liệu giấy miền Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, dâu bể…23 cán bộ , công nhân của công ty vĩnh viễn nằm xuống mảnh đất này vì bom mìn chiến tranh, sốt rét ác tính…Những ký ức về một thời gian nan, khốc liệt như tiếp thêm động lực cho cán bộ, công nhân của công ty vượt qua thử thách để giữ lấy thành quả ấy.
20 năm từ khi bắt đầu đưa cây thông và keo lai lên trồng hên đất rừng Kon Tum, những gian nan, khốc liệt vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi người. Bạt núi mở đường noi đất dốc đồi cao, vượt qua gian khó đế hồng được trên 17.200 ha rùng nguyên liệu. Thế nhưng những khắc nghiệt về thòi tiết, địa hình đất dốc đồi cao, bom mìn, nước lú mưa nguồn, địa hình chia cắt, núi cao rừng sâu... dã làm cho hàng ngàn ha rùng của công ty bị cháy cộng với sô' diện tích keo lai không phù họp với điều kiện ở Tây Nguyên đá không tồn tại.
Nhưng vói sự quyết tâm và lòng quả cám cùa những con người ở đây, trên 9.000ha rừng thông nguyên liệu của công ty đang phát triển, trái khấp 33 xã cũa 8 huyện trong toàn tinh. Đặc biệt trên nhũng dãy núi cao ở Sa Thầy, Tu Mơ Rông, Đăk Tô và trên dãy núi Sạc Ly, nơi trước đây là vùng đất bom cày, đạn xới, là bạt ngàn cỏ tranh, lau lách VỐI nổi danh “vùng đất chết ” nay đang hồi sinh với nhúng rừng thông xanh ngút mất.
Phải khẳng định rằng hên 9.000 ha rùng thông của công ty nguyên liệu Giấy miền Nam hiện đang phát triển khá tốt Tuy nhiên theo quy hoạch và phương án kinh doanh ban đầu của dự án thì rùng sẽ được khai thác sau 15 năm. Tức là công ty sé phải tố chức khai thác. Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch
HĐTV kiêm Giám đốc Công ty Tống Hữu Chân cho biết “Công ty thí điểm thục hiện tia thưa rừng thông nhưng bị lỗ, vì ở Kon Tum không có nhà máy chế biến, gỗ tia thưa phải đưa xuống Gia Lai hoặc Bình Định để tiêu thụ; giá thu mua của các nhà máy chi 820.000 đồng/ltấn, trong khi đó công vận chuyển đã mất khoảng 450.000 đồng/1 tấn.
Với giá bán và cách tiêu thụ này, công ty sẽ lỗ gần 17 triệu đồng/1 ha. Như vậy, nếu thực hiện theo phương án kinh doanh ban đầu đã được phê duyệt và tiến hành khai thác, với ưên 9.000ha rừng hiện nay, công ty sẽ lỗ khoảng trên 150 tỷ đồng. Và nếu thực hiện phương án sản xuất ván ghép thanh với cây thông 15 năm tuổi thì chất lượng gỗ sẽ kém, chi phí sản xuất cao, giá bán thấp sẽ lỗ khoảng trên 200 tỷ đồng.
Từ thực tế nêu Irên, lãnh đạo oông ty đã báo cáo, xây dựng phương án trình Tổng công ty giấy Việt Nam cho phép kéo dài thời gian khai thác rừng nguyên liệu từ 15 năm sang 25 năm. Giám đốc Tống Hữu Chân cho biết: “Lãnh đạo công ty rất quyết tâm. Suốt mấy năm qua chúng tôi phải ngược xuôi giải trình với các bộ, ngành về phương án “giải cứu thua lỗ” cho công ty. Theo đó, nếu để 25 hoặc 30 năm khai thác, rừng thõng sẽ cho chất lượng gỗ cao hơn, sứ dụng được trong nhiều lĩnh vực chế biến, lượng tiêu hao nguyên liệu gỗ tron trên một đơn vị sản phẩm chế biến thấp. Với phương án đó, dự kiến lợi nhuận thu được gàn 79 triệu đồng/lha. Tổng lợi nhuận sẽ đạt khoảng gần 700 tỷ đồng”.
Theo Phố giám đốc công ty Phạm Văn Hà, nếu kéo dài dự án sang 25 năm ưở lên, ngoài mục tiêu về kinh tế còn giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động của tinh Kon Turn, nhất Iàbà con đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ; góp phần cân bằng sinh thái, cải thiện khí hậu và đất đai, duy trì nguồn nước sinh hoạt, canh tác và phục vụ cho hoạt động của các nhà máy thủy điện bong tính Kon Turn và một số tinh lân cận, phòng chống biến đổi khí hậu...
Với sự tính toán khoa học, cụ thể và thuyết phục, phưomg án đề nghị kéo dài thời gian khai thác gỗ rừng trồng của công ty đá được Chính phủ chấp thuận. Trước mấ và khởi đầu là sự kiện xây dựng nhà máy sản xuất ván Veneer có công suất thiết kế 12.000m3/năm để tiêu thụ sản phẩm tía thưa hàng năm nhằm nâng cao giá trị sản phẩm rừng hồng, tạo điều kiện cho rừng phát triển, giải quyết công việc và thu nhập cho cán bộ công nhân viên ừong công ty.
Sự kiện Tổng công ty giấy Việt Nam quyết định xây dựng nhà máy sản xuất ván Veneer tại công ty nguyên liệu giấy miền Nam đã làm nức lòng cán bộ, đảng viên, ngưòi lao động công ty nguyên liệu giấy miền Nam. Họ đã chở đợi sự kiện này rất lâu rồi và hôm nay đã thành hiện thực.
Có mặt tại lễ khởi công xây dựng nhà máy tại xã Tân Cảnh, huyện Đăk Tô mới thấy được niềm vui đối với những người quan tâm đến sự nghiệp hồng nguyên liệu giấy trên vùng đất Kon Tum. Niềm vui ấy vẫn hiện rõ trên khuôn mặt và cái xiết tay thật chặt của Giám đốc Tống Hữu Chân khi tôi đến thăm nhà máy vào thời điểm công ty kỷ niệm 20 năm ngày thành lập. Niềm vui thực sự đó như được lan tỏa sang tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đáng viên, người lao động trong toàn công ty. Giọng nói của ông như nghẹn lại trong huyết quản...
Tôi biết ông vui vì cuộc sống mới của người lao động của công ty sẽ mở ra, đá lo được những việc lớn vì hách nhiệm ứên vai của mình mà mọi người luôn kỳ vọng. Xin được chung vui cùng với công ty, với ông, một con người luôn tận tâm, hết mình vì nhiệm vụ đã bén duyên và dấn thân trên mảnh đất Tây Nguyên để mang về màu xanh sự sống và niềm vui cho tất cả mọi người, vì sụ nghiệp ổn định và phát triển của công ty nguyên liệu giấy miền Nam.
Với những nỗ lực vượt bậc của cán bộ, đảng viên, người lao động suốt chặng đường 20 năm xây dựng và phát triển trên đất Kon Tum, Công ty TNHH MTV nguyên liệu giấy miền Nam đá được nhận Cờ của Chính phủ và UBND tinh tặng đơn vị dần đầu phong trào thi đua năm 2015; Cờ của Tinh ủy Kon Tum tặng danh hiệu 5 năm liền đạt Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biếu (2011- 2015). (Lao Động và Xã Hội 14/9)đầu trang(
Thiếu ruộng đất, cuộc sống túng quẫn khiến nhiều hộ đồng bào dân tộc sống tại vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên, các cánh rừng tự nhiên phải “làm liều”.Xử phạt hành chính chỉ là biện pháp trước mắt, về lâu về dài vẫn phải giải quyết vấn đề đất sản xuất cho người dân.
Cuối tháng 8, khoảnh rừng nghèo kiệt trước ngôi nhà sàn lợp tranh tre dột nát của ông Lương Văn Đạt, bản Na Chạng, xã Tiền Phong (Quế Phong, Nghệ An) đã phủ một màu xanh lúa rẫy. Ông tính, sau vụ lúa rẫy này sẽ chuyển sang trồng keo dù chính quyền địa phương không cho phép. Nhà ông Đạt có 4 miệng ăn, 2 lao động chính, 2 đứa con đang ăn học nhưng không có lấy một thước đất ruộng, quanh năm thiếu đói.
Ông Đạt than thở: “Nhà được xã tạm giao chưa đến 500 m2 rừng tự nhiên, từ nhiều năm trước đã trồng quế dưới tán rừng, không hiệu quả, chuyển sang trồng sắn cũng không đủ ăn. Nay phải phát để trồng lúa rẫy chứ đi làm thuê, ngày có, ngày không, đứt cơm từng bữa, cơ cực lắm! Nhưng mỗi năm cũng chỉ làm 1 mùa, được 1-2 tạ lúa, không đủ ăn…”.
Cũng tại bản Na Chạng, chúng tôi gặp bà Lương Thị Tiên. Bà Tiên vừa bị UBND xã Tiền Phong lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính số tiền 662.500 đồng vì phát 250m2 rừng trái pháp luật để làm nương rẫy. Hoàn cảnh gia đình bà Tiên éo le, thuộc diện hộ nghèo, chồng mất sớm, mình bà nuôi 2 đứa con ăn học. Dù đã sinh sống ở đây hàng chục năm nhưng gia đình bà không có ruộng nước, không có đất trồng keo. Đi làm thuê ngày được dăm ba chục nghìn, không đủ ăn, bà làm liều phát rừng trồng lúa rẫy. Sau vụ lúa này bà cũng định trồng keo còn cái ăn hàng ngày thì phải chờ đi phát rẫy mới.
“Mình cũng biết rừng này do xã quản lý, không được phát để làm rẫy. Nhưng mình nói với cán bộ, nếu không phát rừng làm rẫy, trồng keo thì không biết lấy gì ăn. Mình đi vay tiền nộp phạt rồi. Không có ăn, biết là vi phạm pháp luật nhưng cũng phải làm liều thôi!”.
Bản Na Chạng có 142 hộ thì 71 hộ nghèo, 41 hộ cận nghèo. Toàn bản có 9,4 ha lúa nước, sản xuất được 1 mùa; 5 ha lúa rẫy; 38 ha đất trồng rừng; 4 ha sắn và rau màu. Cái ăn của dân bản Na Chạng chỉ nhìn vào chừng đó đất đai. Còn 383,33 ha rừng tự nhiên được giao cho 30 hộ dân. Về lý, diện tích này đương nhiên không được “đụng vào”. Nhưng vì miếng cơm manh áo, dân bản cũng đành làm liều, mỗi năm phát sẻ một ít, trước trồng lúa rẫy, sau trồng keo. Nếu năm 2016, bản có 5 hộ phát rừng trồng keo bị phát hiện, xử lý thì nửa năm 2017 đã có 8 hộ vi phạm, hộ phát nhiều nhất là 600 m2.
Ông Nguyễn Đình Kiệm, Phó Chủ tịch UBND xã Tiền Phong cho biết, xã có gần 2.500 hộ dân với 11.900 nhân khẩu, 80% hộ sống dựa hoàn toàn vào đất rừng. Diện tích rừng trồng theo quy hoạch chỉ có 1.300 ha, tính ra, mỗi hộ chỉ được trên dưới 0,5 ha đất rừng trồng. Trong số 6.000 ha rừng tự nhiên, hàng năm, xã phải luân canh cho dân 8 bản vùng trong không có đất rừng trồng phát nương làm rẫy để giải quyết cái ăn trước mắt cho đồng bào; 1.000 ha đã được quy hoạch để giao cho người dân TĐC Thủy điện Hủa Na. Như vậy, xã còn gần 5.000 ha rừng tự nhiên chưa giao cho dân. Số diện tích này hiện đang giao cho ban quản lý thôn bản, cộng đồng quản lý. Đây là rừng nghèo, rừng phục hồi, lâm sản phụ ít nên vào rừng để kiếm cái ăn rất khó khăn.
“8 bản vùng trong của xã thiếu ruộng nước, sống dựa vào rừng tự nhiên nhưng chưa có đất rừng sản xuất. Diện tích rừng tự nhiên giao cho cộng đồng quản lý hiện gặp rất nhiều khó khăn vì phải thường xuyên đối mặt với nguy cơ người dân chặt phát trộm trồng keo. Từ năm 2016 đến nay, tại xã có trên 30 vụ chặt rừng trồng keo bị phát hiện và xử lý. Mới đây nhất, vào tháng 3/2017, cánh rừng tự nhiên 20 ha đã được giao cho hộ dân khoanh nuôi bảo vệ trên địa bàn xã bị chặt phá” – ông Kiệm cho biết.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm huyện Quế Phong, chỉ trong 8 tháng năm 2017 trên địa bàn huyện đã xảy ra 98 vụ phá rừng trái phép với diện tích vi phạm 11,2 ha, trong đó diện tích có rừng 3,51 ha; đất có cây tái sinh trạng thái Ià 7,78 ha. Cơ quan chức năng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 112.882.000 đồng...
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Quế Phong, trên địa bàn huyện hiện mới có 3.661 hộ được giao đất giao rừng với tổng diện tích 19.982,44 ha, 921 ha giao cho cộng đồng 8 bản; 41.269 ha đất rừng sản xuất chưa giao (tạm giao cho cộng đồng và UBND xã quản lý). Trong khi còn diện tích rất lớn chưa được giao cho cá nhân, hộ gia đình quản lý thì có hàng nghìn hộ dân vẫn chưa có đất sản xuất.
Theo cơ quan chức năng huyện Quế Phong, để thực hiện xong quy trình giao đất giao rừng cho người dân theo đúng kế hoạch, toàn huyện cần trên 10 tỷ đồng. Chừng đó tiền hiện đang trông chờ vào ngân sách tỉnh nhưng chưa biết khi nào có!
Còn tại huyện Quỳ Châu, tính đến cuối năm 2016, toàn huyện còn trên 2 nghìn hộ dân chưa có đất rừng sản xuất nhưng trong số gần 62 nghìn héc-ta đất lâm nghiệp thì cũng chỉ mới có gần 39 nghìn héc-ta được giao cho 8.330 hộ dân. UBND huyện Quỳ Châu đã kiến nghị UBND tỉnh Nghệ An thu hồi 2.500 ha đất của 2 lâm trường đóng trên địa bàn để giao cho dân. Tuy nhiên, thiếu kinh phí, lâm trường chưa bàn giao hết đất hoặc bàn giao ở những địa bàn xa xôi cũng đang gây khó khăn cho công tác giao đất, giao rừng cho người dân.
Ông Lê Xuân Đình, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Quỳ Châu cho biết, năm 2014, UBND tỉnh Nghệ An đã phê duyệt quy hoạch thêm 16.000 ha đất rừng giao cho người dân nhưng do thiếu kinh phí đến nay vẫn phó mặc diện tích trên cho cộng đồng quản lý, trong số này có tới 60-70% là rừng nghèo kiệt. “Đã có 3 công ty tư vấn, thiết kế được hợp đồng để tổ chức giao đất giao rừng cho người dân. Nguồn kinh phí này khoảng 17 tỷ đồng thì UBND tỉnh chưa có để phân bổ” – ông Đình cho biết.
Một nguyên nhân nữa khiến việc giao đất giao rừng tại Nghệ An gặp khó được các cơ quan chức năng nhận diện là đất thu hồi từ các nông, lâm trường. Thực tế, các nông, lâm trường khi “trả đất” theo quyết định thu hồi của UBND tỉnh Nghệ An thì chỉ đồng ý trả những diện tích xa xấu, độ dốc cao, khó sản xuất. Trước thực tế này, nhiều hộ dân đã không đồng tình và không chịu nhận rừng...
Ông Hoàng Quốc Việt, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Nghệ An cho biết: “Chúng tôi đang rà soát lại quy hoạch 3 loại rừng. Nhiều địa phương có rừng nghèo kiệt nhưng đất sản xuất nông nghiệp thiếu trầm trọng trong khi nhu cầu trồng rừng đang rất cao. Khi rà soát xong, chúng tôi sẽ xin chủ trương của tỉnh. Về cơ bản, xử lý diện tích rừng nghèo kiệt này thế nào thì vẫn phải theo quy định của pháp luật”. (Nông nghiệp Việt Nam 15/9)đầu trang(
Trước đòi hỏi từ thực tiễn, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi) sắp tới sẽ được Quốc hội xem xét thông qua. Bên cạnh đó, việc điều chỉnh nhiều cơ chế, chính sách đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả hy vọng tạo ra bước đổi mới căn bản trong nội dung, phương thức quản lý rừng căn cơ, bền vững, nhất là phát huy tập quán, tri thức bản địa về quản trị tài nguyên rừng ngay tại cộng đồng ở địa bàn chiến lược trọng yếu.
Đặc điểm chung của cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số (DTTS) ở các huyện Đam Rông, Đức Trọng (Lâm Đồng) và một số bon làng N’Đó, R’Bút, huyện Đác G’long (Đác Nông) là sống tập trung. Trước đây, người dân sản xuất tự cung tự cấp, vẫn nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại chế độ, chính sách của Nhà nước. Thời gian qua, công tác chi trả đã được thực hiện đến từng gia đình, nhưng hiệu quả đạt được chưa cao. Theo số liệu của huyện Đam Rông, mỗi hộ được giao giữ rừng trung bình từ 20 đến 30 ha, công tác tuần tra, bảo vệ như lâu nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Mới đây, huyện có chủ trương mới, giao khoán quản lý, bảo vệ rừng (BVR) cho các nhóm hộ, hằng ngày nhóm hộ cử người đi tuần tra. Theo đó, BVR đạt hiệu quả cao hơn, thu nhập ngày công của người trực tiếp được trả xứng đáng.
Lãnh đạo huyện Đam Rông cho biết, những “điểm nóng” vùng tranh chấp xa dân cư, vùng giáp ranh giữa các tỉnh bạn được giao cho các đơn vị quân đội, công an quản lý, và đồng bào DTTS tại chỗ vẫn giữ vai trò nòng cốt. Vấn đề quan trọng hơn là bảo đảm sinh kế bền vững, tránh để người dân ngày càng bị “mất đất”, bị đẩy sâu vào rừng, xa cộng đồng dân cư tập trung. “Trước tình hình nhiều hộ đồng bào bán đất, tỉnh Lâm Đồng đã quy định hạn điền của các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, nếu vượt quá mới được sang nhượng”, lãnh đạo huyện Đam Rông cho biết.
Cán bộ cơ sở nhiều xã, bon, làng Tây Nguyên chia sẻ: Công tác giao đất, giao rừng vẫn chưa khắc phục được những bất cập kéo dài gây bức xúc nhiều năm qua. Trước năm 2005, phần lớn công tác giao rừng và đất lâm nghiệp được tổ chức thực hiện giao theo phong trào, giao nhanh trên bản đồ và thực địa, cho nên để lại nhiều hệ lụy cho công tác quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp. “Ranh giới không xác định rõ ràng giữa các chủ quản lý, gây ra nhiều tranh chấp giữa các đối tượng sử dụng, bức xúc trong xã hội, nhất là tranh chấp giữa các tổ chức nhà nước quản lý rừng với người dân địa phương...”, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đác Nông Lê Quang Dần nói. Trước những vấn đề “nóng”, các vụ vi phạm nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng liên quan BVR tại địa phương, sắp tới, tỉnh sẽ khẩn trương hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới cơ chế hoạt động của các công ty lâm nghiệp.
Theo đồng chí Lê Quang Dần, thời gian qua, nhiều chính sách về khoán rừng; giao đất, giao rừng; chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp, liên doanh liên kết; cho thuê đất, thuê rừng... tại cơ sở bị thực hiện một cách “méo mó”. Đáng chú ý, nhiều người, trong đó có những người có trách nhiệm BVR, lợi dụng sự buông lỏng quản lý và thiếu nghiêm minh của pháp luật để trục lợi, bảo kê, thậm chí tham gia phá rừng. “Kiên quyết xử lý, giải thể các đơn vị trì trệ, yếu kém. Đồng thời “mạnh tay” kiện toàn, thay thế nhân sự chủ chốt tại các đơn vị chủ rừng nhà nước và lực lượng kiểm lâm, từ đó tạo bước đột phá trong công tác quản lý BVR”.
Sau những cơn mưa rừng xối xả đầu tháng 9, những thảm rừng tái sinh, rẫy nối rẫy cà-phê, hồ tiêu, bắp, mì… dường như càng xanh tươi ngút mắt giữa nền trời Tây Nguyên vời vợi. Cuộc sống đã nhiều đổi thay trên vùng đất Chirông N’Sông của người Cơ Ho thôn Phú Bình (Lâm Đồng) đến bon làng đồng bào dân tộc Mơ Nông ở R’Bút, N’Đó thuộc xã Quảng Sơn, tỉnh Đác Nông. Bon mới của người Mơ Nông giờ ngay trung tâm xã. Câu chuyện của những người thuộc thế hệ trẻ bây giờ như trưởng thôn Y Đoan và bon trưởng Y Krong, hay như già làng Y Chông năm nay đã ở tuổi 85, đều đau đáu chuyện giữ rừng. Nhấp ngụm nước lá rừng, già Y Chông thổ lộ: “Rừng còn, đồng bào mình còn, phải bảo vệ chứ!”.
Đến nay, lễ hội mừng lúa mới của nhiều DTTS như người Cơ Ho, Mơ Nông được gìn giữ và bảo tồn. Ngày Tết của đồng bào Cơ Ho, Mơ Nông là để ăn mừng lúa mới, cầu nguyện và tế lễ thần linh ban cho vụ mùa bội thu. Sau lễ, các chàng trai cô gái cùng nhau vác xà gạc, đeo gùi lên rẫy, vào rừng phát nương chuẩn bị mùa mới... Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, với đồng bào DTTS Tây Nguyên, rừng không chỉ là không gian sinh tồn dưới dạng vật chất, mà còn là nơi để họ gửi gắm thông điệp với các thế lực siêu nhiên. Cuộc sống của các cư dân bản địa luôn gắn với không gian thiêng của rừng, cho nên họ có những “lý lẽ” riêng trong quan niệm và cách “ứng xử” với rừng.
Hầu hết các dân tộc thiểu số Tây Nguyên đều có những quy định khá nghiêm ngặt trong khai thác nguồn lợi từ rừng. Người dân không bao giờ “đụng chạm” đến rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh, vì quan niệm “rừng có thần linh” và rừng gắn với văn hóa thiêng liêng của ông bà truyền lại.
Hiện, khu vực Tây Nguyên có hàng nghìn bản quy ước ở thôn, buôn, trong đó, nhiều nội dung đề cập đến rừng, phát triển và bảo vệ rừng. Hàng nghìn thôn, buôn thực hiện quy ước, hương ước bảo vệ phát triển rừng với sự tham gia bàn bạc, lấy ý kiến của người dân... Nhiều chuyên gia văn hóa và các đại biểu Quốc hội qua nhiều khóa là người DTTS, bày tỏ sự cần thiết kết hợp giữa pháp luật với luật tục, hương ước. Qua đó, kế thừa và phát huy những quy định của luật tục về bảo vệ rừng.
Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Nguyễn Lâm Thành cho rằng, cần tổ chức sưu tập, tổng hợp, đánh giá luật tục của đồng bào các DTTS sống gắn bó với rừng, nghiên cứu để áp dụng những phương thức tác động thích hợp đối với cộng đồng để tăng cường việc tự quản lý rừng bằng luật tục của đồng bào các dân tộc. Tùy theo tình hình thực tế của mỗi cộng đồng dân cư mà lựa chọn hình thức hương ước, hoặc quy ước BVR phù hợp. Những cộng đồng sống trong rừng, gắn bó với rừng cần bổ sung hoặc được hướng dẫn để xây dựng quy ước riêng về BVR. Một số nơi có thể lồng ghép nội dung BVR trong hương ước chung của cộng đồng...
Điều đáng suy nghĩ là, ngay sát kề mô hình cộng đồng giữ rừng bon làng R’Bút, N’Đó, thời gian gần đây, thực trạng phá rừng ở tỉnh Đác Nông vẫn diễn biến phức tạp, tồn tại nhiều điểm nóng. Xã Quảng Sơn, huyện Đác G’long (nơi có hai bon làng đồng bào dân tộc Mơ Nông giữ rừng), được ví như địa bàn “rất nóng” hiện nay. Trong đó, có cả cán bộ công an, kiểm lâm, chính quyền địa phương, nhân viên, chủ rừng bán rừng, bán đất hoặc tiếp tay cho các đối tượng vi phạm pháp luật. Chỉ tính từ đầu năm đến nay, có hơn 50 trường hợp bị khởi tố, bắt tạm giam, cách chức và các hình thức kỷ luật khác.
Hiện nay, xã Quảng Sơn đang đứng đầu trong toàn tỉnh Đác Nông về tình trạng băng nhóm tội phạm bảo kê phá rừng có tổ chức, thậm chí không ngại sử dụng vũ khí “nóng”.
Mắt nhìn xa xa phía cánh rừng tái sinh và rẫy cà-phê trước nhà, già làng Y Chông trầm tư: “Bản làng Mơ Nông phải giữ rừng thôi. Đừng để chuyện buồn, con cháu Mơ Nông sau này không biết rừng là chi...”. (Nhân Dân 15/9)đầu trang(
Xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường có trên 1.545 ha rừng, chiếm 33,7% diện tích tự nhiên của xã. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền và người dân trên địa bàn xã đã tích cực chăm sóc và bảo vệ rừng.
"Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của xã Nùng Nàng đã đề ra mục tiêu là quản lý tốt diện tích rừng và đất lâm nghiệp; nâng cao vai trò và trách nhiệm của chính quyền địa phương, toàn hệ thống chính trị và Nhân dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy, quản lý, khoanh nuôi tái sinh bảo vệ rừng; bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, sử dụng tài nguyên và quỹ đất được quy hoạch cho lâm nghiệp một cách hiệu quả, bền vững; đồng thời tăng năng suất, chất lượng và giá trị của rừng..."- Ông Phan Đức Phú, Phó Chủ tịch UBND xã Nùng Nàng, huyện Tam Đường cho biết.
Để đạt được mục tiêu đó, xã đã huy động cả hệ thống chính trị và Nhân dân vào cuộc. Cấp ủy, chính quyền từ xã đến bản đã tích cực lãnh, chỉ đạo người dân đẩy mạnh chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có và sử dụng đất quy hoạch cho lâm nghiệp đúng mục đích. Còn người dân trên địa bàn xã rất ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng, chỉ khai thác những sản phẩm từ rừng theo quy định, không chặt phá rừng bừa bãi và đặc biệt nâng cao ý thức trong việc bảo vệ rừng như đốt nương theo đúng quy định, tạo đường băng cản lửa trong quá trình đốt nương, không phá rừng…
Một trong những nguyên nhân góp phần làm cho người dân nâng cao ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ rừng là người dân được chi trả dịch vụ môi trường. Ông Phan Đức Phú cho biết: Mỗi năm xã Nùng Nàng được chi trả trên 700 triệu tiền dịch vụ môi trường rừng, bản được chi trả nhiều nhất là bản Xáy Xan I, II, Phan Chu Hoa, Chin Chu Chải. Từ khi được Nhà nước chi trả dịch vụ môi trường rừng, người dân rất phấn khởi. Nùng Nàng là một xã khó khăn của huyện Tam Đường, khi có thêm tiền phụ cấp, người dân được hưởng lợi từ rừng đã đầu tư phát triển sản xuất, chăn nuôi để nâng cao thu nhập, gắn với giữ rừng, bảo vệ rừng.
Ông Ma A Lừ, bản Xáy Xan II, xã Nùng Nàng chia sẻ: “Trước đây kinh tế gia đình tôi còn khó khăn. Từ khi được chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng, tôi đã đầu tư để mua thức ăn cho gia súc, phát triển chăn nuôi để gia đình có thêm thu nhập, nhờ vậy mà gia đình tôi đã khá hơn”. Không chỉ có gia đình bác Ma A Lừ mà còn rất nhiều hộ gia đình khác ở xã Sùng Phài có tiền từ việc chi trả dịch vụ môi trường rừng đã đầu tư vào phát triển kinh tế gia đình. Nhờ vậy mà thu nhập bình quân đầu người của xã Nùng Nàng được nâng lên, năm 2015 là 15,5 triệu/người/năm, đến thời điểm này là 18 triệu/người/năm.
Để mang lại nguồn thu lâu dài từ rừng, người dân trên địa bàn xã đã phát triển thêm diện tích rừng hiện có. Năm 2016, dù không được giao chỉ tiêu trồng rừng nhưng người dân trên địa bàn xã cũng trồng được 5,6 ha rừng tập trung ở bản Phan Chu Hoa và Xì Miền Than. Năm 2017, người dân trên địa bàn xã trồng được gần 15 ha rừng. Bên cạnh đó, người dân còn tích cực chăm sóc khoảng 300 ha rừng tái sinh. Ông Vàng A Sùng, bản Phan Chu Hoa cho biết: Rừng mang lại rất nhiều lợi ích nên người dân bản tôi rất ý thức trong việc chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng. Mỗi nhà đều quản lý tốt diện tích rừng được giao, không có hiện tượng chặt cây, khai thác rừng trái phép và cả bản cùng nhau bảo vệ tốt diện tích rừng của bản. Bản thân tôi cũng gương mẫu thực hiện việc bảo vệ rừng và tuyên truyền cho mọi người cùng làm theo.
Hàng năm, xã Nùng Nàng đã kiện toàn và phân công nhiệm vụ cụ thể cho Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng của xã, thành lập Tổ Chuyên trách bảo vệ rừng ở các bản. Các thành viên trong Ban Chỉ đạo của xã và các Tổ Chuyên trách của bản đều nâng cao trách nhiệm, ý thức của mình trong việc tuần tra, canh gác và bảo vệ rừng nhất là vào mùa khô. Các thành viên của tổ chuyên trách bảo vệ rừng hoạt động rất tích cực, mọi người đều ý thức được rằng “Rừng là vàng”, “Bảo vệ rừng là bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá”. Nhất là trong mùa khô các thành viên trong tổ đã thường xuyên đi tuần tra, canh gác, bảo vệ những diện tích rừng xung yếu dễ xảy ra cháy rừng.
Nhờ đẩy mạnh các hoạt động nêu trên, các vụ cháy rừng trên địa bàn xã Nùng Nàng giảm, mùa khô năm 2013-2014, trên địa bàn xã đã xảy ra 04 vụ cháy rừng; mùa khô năm 2015-2016 xảy ra 01 vụ cháy thảm thực vật; năm 2016-2017 đến thời điểm này chưa xảy ra vụ cháy nào. Để cho diện tích rừng của Nàng Nàng mãi xanh tươi góp phần tăng diện tích che phủ của rừng trên địa bàn huyện Tam Đường, là lá phổi xanh điều hòa không khí cho thành phố Lai Châu, thời gian tới, xã Nùng Nàng tiếp tục đẩy mạnh công tác lãnh, chỉ đạo người dân trên địa bàn xã chăm sóc, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có; tăng cường chăm sóc diện tích rừng tái sinh; tích cực tuyên truyền, vận động người dân đốt nương, khai thác sản vật trong rừng theo đúng quy định; Ban Chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng của xã, các Tổ Chuyên trách bảo vệ rừng nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao... (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lai Châu 14/9)đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Hình ảnh trong đoạn video cho thấy hai mẹ con hươu cao cổ có bộ lông trắng toát đang đi dạo giữa rừng. Sự việc được ghi lại tại khu bảo tồn thiên nhiên Ishaq Mini Hirola Conservancy ở Kenya.
Sự việc được người dân địa phương phát hiện và thông báo cho lực lượng bảo tồn động vật hoang dã. Các nhân viên bảo vệ rừng sau đó đã tìm cách tiếp cận và quay lại đoạn phim về hai mẹ con hươu cao cổ với thân hình trắng toát này.
Theo các chuyên gia bảo vệ động vật hoang dã thì đây là lần thứ 2 ghi nhận sự xuất hiện của hươu cao cổ màu trắng, tuy nhiên đây là lần đầu quay được video về chúng. Trước đó, hươu cao cổ trắng cũng được phát hiện tại Công viên quốc gia Tarangire (Tanzania) vào tháng 1.2016. (Một Thế Giới 15/9)đầu trang(
Ngày 9/9, các ngư dân Nga đã bắt được một con cá khổng lồ nặng 1 tấn tuy nhiên sau đó họ quyết định quẳng nó cho gấu ăn.
Kênh RT (Nga) đưa tin ngư dân tại đảo Sakhalin đã kéo được con cá thái dương nặng 1 tấn mắc trong lưới của họ gần đảo Iturup. Cá thái dương được đánh giá là loài cá xương cứng nặng nhất trên thế giới.
Ngư dân Artur Balkarov, người bắt được con cá, kể lại: “Trong ký ức của tôi, chưa bao giờ có con cá như vậy. Từng có cá nục heo dài tới 1,5m nhưng đây là lần đầu tôi thấy một con cá thái dương nặng hơn 1 tấn”.
Ba ngày sau, con cá thái dương khổng lồ được đưa lên bờ. Tuy nhiên vì vào thời điểm này nó đã bắt đầu phân hủy nên các ngư dân không còn lựa chọn nào khác là ném xác con cá 1 tấn vào nơi người dân địa phương để cá thải loại cho động vật hoang dã như gấu “đánh chén”.
Trong khi việc buôn bán cá thái dương bị cấm tại châu Âu do số lượng loài này đang ngày càng giảm thì Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vẫn ưa chuộng chúng là nguồn thực phẩm ngon và có thể sử dụng làm thuốc đông y.
Cá thái dương thường xuất hiện tại vùng biển nhiệt đới trên khắp thế giới. Cá thái dương rất thích "tắm nắng" trên mặt nước biển do vậy chúng thường bị tưởng nhầm là cá mập khi chiếc vây khổng lồ của chúng nổi trên mặt nước. (Tin Tức 15/9)đầu trang(./.