Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 19 tháng 04 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG

BẢO VỆ RỪNG
Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương xác định, hiện tượng El Nino xuất hiện sớm, nên những tháng đầu năm 2017, nền nhiệt độ có xu hướng cao hơn so với trung bình nhiều năm.
Diễn biến thời tiết phức tạp, nền nhiệt độ tăng cao vào mùa khô, lượng mưa giảm... dẫn đến nguy cơ xảy ra cháy rừng trên diện rộng ở địa bàn tỉnh. Chi cục phó Chi cục Kiểm lâm Nguyễn Đại cho biết, việc tăng cường các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) trong mùa khô này.
Quảng Ngãi hiện có 310.156ha rừng. Trong số này, rừng trồng 200.514ha, chiếm gần 65% tổng diện tích đất có rừng. Đây là đối tượng rừng có nguy cơ cháy cao. Theo ông Đại, mùa khô ở Quảng Ngãi thường tính từ tháng 3 đến tháng 8. Trong đó, 5, 6, 7 là những tháng khô kiệt.
Cùng với thời tiết diễn biến phức tạp, thời gian khô hạn kéo dài; tình hình dân cư sống gần rừng, ven rừng, nhất là ý thức của các hộ dân trong việc đốt thực bì sau khai thác gỗ rừng trồng và bãi thải vỏ, cành nhánh, ngọn tại các điểm tập kết bốc xếp chưa bài bản, nên tiềm ẩn nguy cơ xảy ra cháy rừng cao.
Đối với Chi cục Kiểm lâm, chúng tôi bố trí lực lượng thường trực, đảm bảo duy trì hệ thống thông tin liên lạc thông suốt với các hạt kiểm lâm, Kiểm lâm vùng IV, Cục Kiểm lâm. Đội Kiểm lâm cơ động là lực lượng thường trực, tổ chức trực 50% biên chế của đội khi dự báo cháy rừng ở cấp IV và sửa chữa, tu bổ máy móc, các trang thiết bị, dụng cụ PCCCR, sẵn sàng tham gia ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra...
Chi cục Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với cơ quan Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sư đoàn 307 để trao đổi, chia sẻ thông tin và đề nghị hỗ trợ lực lượng tham gia chữa cháy rừng, khi có yêu cầu.
Đối với Hạt kiểm lâm các huyện, lãnh đạo, công chức, viên chức của Hạt là lực lượng thường trực sẵn sàng tham gia ứng cứu chữa cháy rừng. Khi cần thiết, Hạt trưởng yêu cầu kiểm lâm phụ trách địa bàn với xã giáp ranh các huyện tham gia hỗ trợ chữa cháy rừng; phối hợp chặt chẽ với công an huyện, ban chỉ huy quân sự huyện, cảnh sát phòng cháy, chữa cháy khu vực, các đồn biên phòng để trao đổi, chia sẻ thông tin và đề nghị hỗ trợ lực lượng tham gia chữa cháy rừng, khi có yêu cầu.
Đối với kiểm lâm phụ trách địa bàn xã, khi có cháy rừng xảy ra, tham mưu chủ tịch UBND các xã, thị trấn huy động Ban Chỉ huy tại xã và lực lượng công an xã, dân quân tự vệ có mặt ngay hiện trường chỉ huy, huy động nhân dân địa phương tham gia chữa cháy ngay tại chỗ; đồng thời báo cáo ngay về Hạt kiểm lâm để hỗ trợ lực lượng...123 xã thuộc các huyện Ba Tơ, Minh Long, Sơn Hà, Sơn Tây, Tây Trà, Trà Bồng, Nghĩa Hành, Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn và TP.Quảng Ngãi là vùng trọng điểm cháy rừng.
Trong số này, nhiều huyện có diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên nằm trong vùng trọng điểm như: Ba Tơ (100.271ha), Sơn Hà (55.183ha), Trà Bồng (34.948ha), Sơn Tây (29.088ha), Tây Trà (23.101ha), Minh Long (20.980ha), Bình Sơn (20.747ha), Đức Phổ (18.540ha)...Về trang bị phương tiện, giai đoạn 2016-2020, Quảng Ngãi thực hiện Dự án nâng cao năng lực PCCCR, với tổng vốn đầu tư trên 60 tỷ đồng.
Trong năm 2016, Chi cục Kiểm lâm và các Ban quản lý rừng phòng hộ được bố trí 7 tỷ để trang bị hệ thống máy vi tính, một số máy cắt thực bì, máy cưa nhỏ, máy thổi gió, máy bơm nổi, xe ô tô... Năm 2017, Trung ương tiếp tục bố trí cho Quảng Ngãi 12 tỷ đồng trong Dự án nâng cao năng lực PCCCR, để xây dựng Văn phòng Thường trực Ban chỉ đạo PCCCR của tỉnh và kho bãi của các huyện. Đến thời điểm này, có thể nói các phương tiện, trang bị PCCCR, phòng chống phá rừng của Quảng Ngãi là tương đối.
Vấn đề còn lại là khâu chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát, xử lý sai phạm..., nhằm tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và PCCCR trên địa bàn tỉnh hiệu lực, hiệu quả.: Những năm gần đây, ngành kiểm lâm đã tham mưu thành lập các tổ chữa cháy rừng tự nguyện ở cơ sở. Thành viên của tổ bao gồm các hộ có rừng liền kề. Ưu điểm của tổ này là trách nhiệm cao, am hiểu địa hình, ứng cứu nhanh. Khi xảy ra cháy rừng, tổ trưởng huy động các thành viên tham gia trên tinh thần “cứu rừng bạn là cứu rừng của mình”.
Đối với chủ rừng, chúng tôi yêu cầu trong sử dụng lửa đốt thực bì sau khai thác phải dọn ranh giới phòng cháy; phải báo kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương về thời gian, địa điểm đốt thực bì; cam kết đảm bảo không gây cháy rừng... Trong công tác PCCCR, trách nhiệm của người sử dụng lửa, chủ rừng, kiểm lâm địa bàn và chính quyền địa phương phải được đặt lên hàng đầu. Từ đó mới thực hiện tốt phương châm “phòng là chính, chữa phải kịp thời, hiệu quả”. (Báo Quảng Ngãi 16/4, Thanh Toàn)đầu trang(
Hiện nay, tổng diện tích rừng của thành phố Hà Nội là hơn 27.000 ha phân bố tại 7 huyện, thị xã gồm Ba Vì, Sóc Sơn, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức và Sơn Tây. Với diện tích rộng nằm xen kẽ với những khu dân cư nên việc thực hiện tốt các biện pháp phòng cháy và chữa cháy rừng là một việc rất quan trọng.
Hà Nội đang trong quá trình phát triển với tốc độ nhanh. Đô thị hóa ngày càng cao, diện tích cây xanh chưa đủ để đáp ứng với quá trình đô thị hóa. Vì thế, rừng lại càng đóng vai trò quan trọng như những lá phổi xanh, bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm trong nội đô. Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên rừng còn mang đến nhiều lợi ích về kinh tế. Với những vai trò đặc biệt quan trọng ấy, rừng cần được bảo vệ và đặc biệt tránh để xảy ra cháy rừng. Tuy nhiên, chỉ tính riêng năm 2016, Hà Nội đã ghi nhận 15 vụ cháy rừng, gây thiệt hại khoảng 5 ha rừng.
Thời gian qua công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng luôn được các cấp các ngành của thành phố Hà Nội quan tâm thực hiện. Qua đó, nhiều vụ cháy rừng đã được phát hiện sớm, dập tắt kịp thời, ngăn chặn được những hậu quả đáng tiếc xảy ra như không để lan rộng, gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng. Tuy nhiên, thời tiết đang chuẩn bị bước vào mùa nắng nóng, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng rất cao, đòi hỏi sự chủ động thiết thực từ cơ sở.
Có thể khẳng định diện tích rừng tại Hà Nội không lớn nhưng lại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cải thiện môi trường sinh thái, phục vụ phát triển du lịch nói riêng và kinh tế nói chung. Mùa nắng nóng đang đến gần, hơn lúc nào hết các cấp ngành và chủ rừng cần chủ động thực hiện phương án phòng cháy, chữa cháy để ứng phó kịp thời trước tình huống xấu có thể xảy ra. (Đài PTTH Hà Nội 17/4)đầu trang(
UBND tỉnh vừa ban hành Chỉ thị 05/CT-UBND yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành, chủ tịchUBND các huyện, thành, thị tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh Nghệ An năm 2017.
Theo dự báo của Trung tâm Khí tượng thủy văn Trung ương, năm 2017, tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, mặt nước biển tiếp tục có xu hướng ấm lên và hiện tượng ENINO sẽ ở trạng thái trung tính. Nhiệt độ có xu hướng tăng hơn so với trung bình nhiều năm, tổng lượng mưa sẽ giảm và thiếu hụt từ 10-20% so với trung bình các năm trước. Vì vậy có thể xuất hiện hiện tượng thời tiết cực đoan, khả năng nắng nóng, khô hạn kéo dài sẽ diễn ra trên diện rộng, ảnh hưởng trực tiếp tới công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
Để chủ động phòng chống ngăn chặn có hiệu quả tình trạng cháy rừng, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành phố, thị xã chỉ đạo tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và cộng đồng dân cư; Cập nhật thông tin cảnh báo cháy rừng trên hệ thống thông tin cảnh báo cháy sớm của Cục Kiểm lâm để phát hiện sớm điểm cháy rừng; Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn huyện, trong đó tập trung chuẩn bị tốt phương án 4 tại chỗ; Tổ chức việc ký kết hiệp đồng lực lượng và phương tiện với đơn vị quân đội trên địa bàn để thống nhất cơ chế huy động lực lượng chữa cháy rừng trong các tình huống cấp bách, vượt tầm kiểm soát của địa phương;
Tăng cường quản lý hoạt động canh tác nương rẫy theo đúng quy hoạch, hướng dẫn và quản lý chặt chẽ việc đốt nương làm rẫy, đốt xử lý thực bì trồng rừng đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật; Nghiêm cấm những hành vi phát đốt rừng để lấy đất canh tác nông nghiệp, trồng rừng, trồng cây lâu năm.
Trong thời kỳ nắng nóng, UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thành, thị chỉ đạo tăng cường lực lượng bám sát địa bàn rừng để kiểm tra, nghiêm cấm và đình chỉ tất cả các hoạt động xử lý thực bì và các hoạt động khác phát sinh nguồn lửa, nguồn nhiệt có thể gây cháy rừng khi cấp dự báo cháy rừng từ cấp 3 trở lên.
Đặc biệt, trong thời gian từ 15/4/2017 đến ngày 15/9/2017, tại văn phòng ban chỉ huy PCCCR các cấp, hạt Kiểm lâm, chủ rừng và các chòi canh lửa phải duy trì quân số trực 24/24h hàng ngày; Bố trí lực lượng canh phòng kiểm soát người ra vào tại những khu vực rừng trồng thông trọng điểm cháy của tỉnh. Khi phát hiện lửa rừng thì thông tin nhanh và huy động lực lượng tại chỗ để ứng cứu kịp thời, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn…
UBND tỉnh yêu cầu Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm và các Ban, ngành, đơn vị liên quan chủ động tổ chức thực hiện các quy định của Nhà nước về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; Chỉ đạo các địa phương và chủ rừng xây dựng phương án PCCCR và tổ chức thực hiện; Tổ chức cảnh báo, dự báo nguy cơ cháy rừng để thông tin kịp thời trên các phương tiện thông tin đại chúng; Tăng cường kiểm tra công tác PCCCR; Phối hợp với các ban, ngành, đơn vị liên quan thường xuyên kiểm tra, phát hiện các trường hợp vi phạm, kiên quyết xử lý và làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan tổ chức để xẩy ra các vi phạm và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Chỉ thị này, UBND tỉnh cũng yêu cầu Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, Báo Nghệ An xây dựng các chuyên mục, chuyên đề về PCCCR để tuyên truyền sâu rộng trong các tổ chức Đảng, MTTQ, các đoàn thể, cộng đồng dân cư về trách nhiệm và nghĩa vụ trong công tác phòng chống chữa cháy rừng.
Các lực lượng: Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Cảnh sát phòng cháy chữa cháy phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy rừng, đặc biệt chuẩn bị lực lượng, phương tiện để sẵn sàng tham gia dập lửa khi xẩy ra cháy rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Nghệ An 18/4, HT)đầu trang(
Liên quan đến vụ hàng loạt cây gỗ nghiến ở Vườn Quốc gia Ba Bể bị chặt phá thời gian vừa qua gây bức xúc dư luận, UBND tỉnh Bắc Kạn đã có những biện pháp nhằm xử lý và ngăn chặn tình trạng phá rừng.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Lý Thái Hải đã đi thực tế và làm việc với Vườn Quốc gia Ba Bể về thực trạng phá rừng. Theo đó, khoảng 10 cây gỗ nghiến bị chặt hạ nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể. Sau khi làm việc với Vườn Quốc gia Ba Bể, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn yêu cầu Vườn Quốc gia Ba Bể nghiêm túc kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan để xảy ra tình trạng chặt phá rừng. Nếu phát hiện cán bộ thiếu trách nhiệm, bao che… cần xử lý theo đúng quy định của pháp luật và báo cáo về UBND tỉnh.
Vườn Quốc gia Ba Bể cần tổ chức họp toàn thể cán bộ, công chức viên chức, người lao động để chấn chỉnh, đánh giá, sắp xếp lại công tác cán bộ của đơn vị; rà soát, sắp xếp lại các vị trí đặt các chốt kiểm lâm cho phù hợp, tăng cường kiểm lâm cho các chốt trạm nóng, chốt trực 24/24 giờ; tổ chức chốt chặn đặt rào chắn barie và kiểm soát các phương tiện qua lại khu vực.
Ban Giám đốc, lãnh đạo Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể tổ chức kiểm điểm về trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị, tổ chức theo quy định; chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh và Chủ tịch UBND tỉnh nếu tiếp tục để xảy ra tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn quản lý.
Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể phối hợp với các đơn vị chức năng huy động lực lượng trên địa bàn tổ chức truy quét một cách toàn diện; tổ chức rà soát, thống kê, kiểm tra hiện trạng cụ thể toàn bộ số cây gỗ đã bị hạ từ trước đến nay, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/5.
UBND huyện Ba Bể cần phối hợp với các bên liên quan điều tra, xác minh làm rõ và xử lý nghiêm các đối tượng phá rừng. UBND huyện Chợ Đồn, nơi có rừng giáp ranh cần phối hợp với UBND huyện Ba Bể trong công tác bảo vệ rừng.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn cần nêu cao vai trò, trách nhiệm, tăng cường lực lượng cho Vườn Quốc gia Ba Bể; tiến hành truy quét, lập kế hoạch kiểm tra nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Để tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng; ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái phép trên địa bàn, đồng thời khắc phục những thiếu sót trong công tác quản lý bảo vệ rừng, UBND tỉnh Bắc Kạn yêu cầu các ngành chức năng nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 13- CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng; Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Các ngành, địa phương cần thực hiện nghiêm Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Kạn về ngăn chặn, xử lý hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, lâm sản trái phép gây hủy hoại môi trường trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có kế hoạch cụ thể nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng khai thác lâm sản trái phép; phối hợp tổ chức tuần tra, truy quét, ngăn chặn tình trạng chặt phá, khai thác rừng trái pháp luật…(Bnews 18/4, Thanh Yến)đầu trang(
Ngày 14/4/2017, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 489/QĐ-UBND đặt sào chắn (Barie) để kiểm tra, kiểm soát lâm sản tại các Trạm Kiểm lâm: Hin Lặp (Khâu Bút), Đán Đeng, Nà Mằm, Quảng Khê, Nam Cường, Khâu Qua (Nà Bản) thuộc Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, địa điểm cụ thể như sau:Trạm Kiểm lâm Hin Lặp (Khâu Bút), trên tuyến Quốc lộ 279 tại Km39 + 900 thuộc xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Trạm Kiểm lâm Đán Đeng, trên tuyến Quốc lộ 279 tại Km62 + 330 thuộc xã Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Trạm Kiểm lâm Nà Mằm, trên tuyến tỉnh lộ 258 tại Km48 + 550 thuộc xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Trạm Kiểm lâm Quảng Khê, trên tuyến đường liên xã Nam Mẫu - Quảng Khê, tại Km5 + 580 thuộc xã Quảng Khê, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Trạm Kiểm lâm Nam Cường, trên tuyến tỉnh lộ 254 tại Km34 + 500 thuộc xã Nam Cường, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Trạm Kiểm lâm Khâu Qua (Nà Bản) thuộc tuyến đường liên thôn Khâu Qua - Nà Bản, vị trí đặt sào chắn tại Trạm thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
Thời hạn đặt sào chắn (Barie) từ ngày 14/4/2017 đến 14/4/2018. Vườn Quốc gia Ba Bể, Hạt kiểm lâm Vườn quốc gia Ba Bể có trách nhiệm phối hợp với UBND các huyện: Ba Bể, Chợ Đồn, Chi cục Kiểm lâm hướng dẫn, giám sát cán bộ thực hiện nhiệm vụ tại các khu vực đặt sào chắn trên theo đúng quy định hiện hành. Nghiêm cấm sử dụng sào chắn (Barie) để cản trở trái pháp luật các phương tiện tham gia giao thông. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Bắc Kạn 17/4)đầu trang(
Theo thống kê của Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị, đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được 981 đường ranh cản lửa,  537 km đường lâm nghiệp, 265 biển báo bảo vệ rừng, 66 chòi canh lửa rừng,  26 trạm quản lý bảo vệ rừng, 16 nhà chứa dụng cụ chữa cháy rừng…
Các năm qua, Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Trị đã tập trung đầu tư xây dựng nhiều công trình hệ thống hạ tầng lâm sinh trên địa bàn. Nhiều công trình được triển khai xây dựng từ các nguồn vốn như vốn ngân sách sự nghiệp kinh tế kiểm lâm (thuộc Dự án Nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng cho lực lượng kiểm lâm), vốn vay Chính phủ nước ngoài, vốn vay của các đơn vị Nhà nước, vốn ngân sách…
Đa phần các công trình đã phát huy hiệu quả trong công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng. Song, một số công trình hạ tầng lâm sinh bố trí chưa hợp lý. Nhiều công trình được xây dựng trong thời kỳ trước, chưa đạt quy chuẩn, bị hư hỏng, xuống cấp theo thời gian mà không có kinh phí để nâng cấp, sửa chữa, thay thế, bổ sung kịp thời.
Vì vậy, trong thời gian tới cần chú trọng việc quy hoạch, bố trí lại, điều chỉnh, bổ sung, thay thế hệ thống cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ tốt hơn cho công cuộc bảo vệ và phát triển rừng. (Tài Nguyên & Môi Trường 18/4, Đức Linh)đầu trang(
Ngày 18/4, Bộ Chỉ huy BĐBP Hà Tĩnh phối hợp với Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn tổ chức ký quy chế phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới.
Theo đó, hai bên sẽ thường xuyên trao đổi, thông báo tình hình liên quan đến lĩnh vực lâm nghiệp trong khu vực biên giới thuộc huyện Hương Sơn về công tác quy hoạch, phát triển rừng, các dự án lâm nghiệp liên quan đến quốc phòng - an ninh; quản lý, khai thác và bảo vệ rừng; phòng cháy, chữa cháy rừng; khai thác, mua bán, vận chuyển động vật hoang dã trái phép; kiểm dịch động, thực vật và phòng chống dịch bệnh; phòng chống giảm nhẹ thiên tai; tuần tra, kiểm tra, bảo vệ biên giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới và các lĩnh vực liên quan thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của hai bên.
Hai bên đảm bảo thực hiện công tác phối hợp theo nguyên tắc tập trung, thống nhất sự chỉ huy, chỉ đạo, điều hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi bên; kịp thời, hiệu quả, đoàn kết, thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau hoàn thành nhiệm vụ; thường xuyên trao đổi tài liệu, thông tin khoa học liên quan và hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện hỗ trợ nhau nâng cao nghiệp vụ.
Cụ thể hóa nhiệm vụ, Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn giao cho Phòng Quản lý bảo vệ xây dựng rừng, Bộ Chỉ huy BĐBP Hà Tĩnh giao cho Đồn BP Cầu Treo là các cơ quan thường trực, chủ trì tổng hợp tình hình chung, định kỳ tổ chức giao ban và sơ kết 6 tháng/lần. (Báo Hà Tĩnh 18/4, Thanh Giang)đầu trang(
Theo đánh giá của lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, những năm gần đây, nhờ thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ rừng và thành lập các tổ bảo vệ rừng ở các xã có rừng nên công tác bảo vệ rừng được đảm bảo, rừng phòng hộ ven biển cũng được phát triển thêm về diện tích.
Theo đó, từ năm 2014 đến năm 2016, trên địa bàn toàn tỉnh đã trồng gần 1.320ha rừng phòng hộ, với các loại cây chủ lực, như: đước, bần, mắm… Song song đó, hiện nguồn giống thủy sản dưới tán rừng phòng hộ phát triển nhanh, tạo sinh kế cho người dân địa phương khu vực ven rừng. Cũng theo thông tin từ Chi cục Kiểm lâm, nhiều năm liền không có vụ cháy rừng lớn xảy ra; các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm dần, theo đó, trong năm 2016 có 12 vụ vi phạm, giảm 6 vụ so với năm 2015.
Để phát triển rừng phòng hộ, ngành kiểm lâm đã tham mưu cho UBND tỉnh phê duyệt chương trình giao khoán, bảo vệ rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện Trần Đề, Cù Lao Dung và TX. Vĩnh Châu. Công tác giao khoán, bảo vệ, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh rừng đã nhận được sự đồng thuận, ủng hộ của cộng đồng dân cư sống gần rừng và đây được xem là một giải pháp hữu hiệu trong việc bảo vệ và phát triển rừng.
Việc thực hiện giao khoán, bảo vệ, chăm sóc và khoanh nuôi tái sinh rừng trong thời gian qua không chỉ hạn chế được “vấn nạn” chặt phá rừng trái phép, mà còn góp phần duy trì ổn định diện tích rừng được giao khoán; đồng thời, góp phần nâng cao đời sống của hộ gia đình nhận khoán, tạo động lực khuyến khích hộ tích cực tham gia vào công tác bảo vệ rừng. Nổi bật là mô hình đồng quản lý rừng ở ấp Âu Thọ B, xã Vĩnh Hải (TX. Vĩnh Châu) đã chung tay góp sức cùng lực lượng kiểm lâm giữ và bảo vệ rừng.
Trong thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng theo hướng đa dạng, dễ hiểu và có nhiều hình ảnh sinh động; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Ứng dụng khoa học, công nghệ thông tin trong việc bảo vệ và phát triển rừng. Báo Sóc Trăng 17/4, Thiện Hải)đầu trang(
Nằm trong khu vực có vị trí quân sự đặc biệt quan trọng nhưng nhiều ha rừng ở khu vực Tây bắc bán đảo Sơn Trà vẫn bị Công ty CP biển Tiên Sa “xẻ thịt” làm móng xây dựng khu biệt thự nghỉ dưỡng nhìn thẳng xuống TP Đà Nẵng.
Sau khi báo chí phản ánh, các cơ quan chức năng thành phố Đà Nẵng đã kiểm tra và kết luận, dự án của Công ty CP biển Tiên Sa được UBND thành phố phê duyệt điều chỉnh tổng mặt bằng tại quyết định số 3470, ngày 2/6/2016 và đang tiến hành lập điều chỉnh báo cáo đánh giá tác động môi trường. Cơ quan chức năng đã hoàn thành các thủ tục phê duyệt quy hoạch, thẩm định thiết kế hạ tầng kỹ thuật nhưng chưa lập hồ sơ cấp phép xây dựng hạ tầng kỹ thuật dự án theo hồ sơ điều chỉnh. Trên ảnh là lối vào khu vực dự án bị cấm vào.
Trong khi việc cấp phép chưa được duyệt, chủ đầu tư đã thi công một số hạng mục công trình không có trong giấy phép như xây 40 trụ móng nhà biệt thự; chưa treo biển thông báo thi công trước công trình; chưa có ý kiến chấp thuận của thành phố về chủ trương xin triển khai song song dự án theo hướng vừa làm hạ tầng, vừa xin cấp phép xây dựng.
Trước sự việc nghiêm trọng nêu trên, UBND thành phố Đà Nẵng yêu cầu các cơ quan chức năng tiến hành đình chỉ thi công, rà soát lại trình tự triển khai dự án để xem xét, xử lý trách nhiệm những đơn vị có liên quan.
Đầu tháng 4/2017, Văn phòng Chính phủ ban hành văn bản hỏa tốc, yêu cầu UBND thành phố Đà Nẵng tiến hành làm rõ vụ việc để báo cáo Thủ tướng trước ngày 15/4.
Ngày 14/4, UBND thành phố Đà Nẵng cho biết, ông Huỳnh Đức Thơ, Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng đã có báo cáo gửi Thủ tướng Chính phủ liên quan đến việc đầu tư xây dựng tại dự án Khu du lịch sinh thái biển Tiên Sa (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà).
Báo cáo của TP Đà Nẵng kết luận, về cơ bản chủ đầu tư dự án đã tuân thủ theo quy định về: an ninh quốc phòng; quy hoạch đô thị; đất đai; nghĩa vụ về tài chính; đánh giá tác động môi trường; thu hồi rừng và trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, chủ đầu tư vi phạm quy định về triển khai xây dựng một số hạng mục (40 nền móng và trụ các biệt thự du lịch) khi chưa hoàn thành các thủ tục pháp lý.
Trong văn bản báo cáo Thủ tướng, UBND TP Đà Nẵng đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét giao UBND TP Đà Nẵng hướng dẫn Công ty CP biển Tiên Sa  - Chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ pháp lý có liên quan để triển khai tiếp dự án.
Ghi nhận hiện trường khu vực Tây bắc bán đảo Sơn Trà cho thấy, sau khi bị đình chỉ thi công, Dự án khu du lịch sinh thái Tiên Sa để lộ ra nhiều diện tích rừng đã bị phá bỏ để nhường chỗ cho các khu móng biệt thự được xây dựng nhiều tầng từ khu vực sát mặt biển kéo dài lên đỉnh đồi.
Từ khu vực cảng Tiên Sa, người đi đường dễ dàng nhìn thấy cả một vùng đồi núi bị cày xới. Màu xanh của rừng đã bị thay thế bằng những khoảng màu vàng của các khu móng biệt thự trải dài khu vực Tây bắc bán đảo Sơn Trà khiến người dân trong khu vực bức xúc. (Tiền Phong 18/4, Mạnh Thắng – Hà Thành)đầu trang(
Hiện nay, Câu lạc bộ (CLB) lâm nghiệp Thanh Hóa có 363 hội viên, hơn 80% hội viên có trình độ đại học trở lên, đang công tác tại các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp chiếm 87%, cán bộ nghỉ hưu 13%.
Trong những năm qua, các hội viên tích cực tham gia đóng góp trí tuệ, công sức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.  CLB đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học có quy mô cấp khu vực và cấp tỉnh về đánh giá thực trạng, đề xuất, kiến nghị với các cơ quan hoạch định chính sách phát triển lâm nghiệp.
Phối hợp với CARE+ (Tổ chức phi chính phủ nhân đạo và hỗ trợ phát triển quốc tế tại Việt Nam) tổ chức hội thảo về thực trạng hoang mạc vùng đồi núi phía Bắc và kinh nghiệm, giải pháp thâm canh nông - lâm nghiệp trên các vùng đất trống đồi núi trọc, chống rửa trôi xói mòn đất, chống sa mạc hóa, ứng phó kịp thời với biến đổi khí hậu.
CLB còn tích cực tham gia góp ý kiến báo cáo kế hoạch hành động thực hiện Dự án REDD+ (Dự án giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng) tỉnh Thanh Hóa giai đoạn (2016-2020); tham gia phản biện Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng ven biển tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 đến 2025, tầm nhìn đến năm 2030; đóng góp ý kiến vào dự thảo về Luật Lâm nghiệp. Tham gia phản biện các đề tài: Đánh giá nguồn tài nguyên thực vật có tinh dầu và đề xuất giải pháp phát triển bền vững, có hiệu quả cho vùng đệm Vườn Quốc gia Bến En; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật xây dựng mô hình các loài dược liệu và đặc sản trên vùng miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Nghiên cứu sản xuất giống bằng phương pháp ghép cành và trồng thử nghiệm cây mắc ca tại một số huyện trung du, miền núi của tỉnh.
CLB cũng đã tổ chức thực hiện 7 đề tài, 15 dự án (trong đó, có 2 đề tài cấp bộ, 20 đề tài dự án cấp tỉnh); 3 tiểu dự án, nhân rộng 4 mô hình sản xuất năm 2015. Ngoài ra, trong năm 2016, CLB lâm nghiệp đã thành lập trung tâm tư vấn pháp luật và đã phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho vùng đồng bào dân tộc miền núi và vùng bãi ngang ven biển.
Ông Khương Bá Tuân, Chủ tịch CLB lâm nghiệp Thanh Hóa, cho biết: Trong những năm qua, CLB hoạt động trên tinh thần tự nguyện, tự lo kinh phí cho các hoạt động tư vấn phản biện, tư vấn pháp luật, xây dựng các chương trình, dự án về bảo vệ và phát triển rừng.
Nhiều chi hội đã thực hiện tốt các hoạt động phục vụ thiết thực cho phát triển nông - lâm nghiệp và góp phần xây dựng nông thôn mới. Giúp đồng bào các dân tộc miền núi về sinh kế giảm nghèo và gắn bó với nghề rừng; chăm lo bảo vệ, phát triển rừng, phòng chống cháy rừng, không đốt phá rừng làm nương rẫy, không khai thác lâm sản trái phép. (Báo Thanh Hóa 18/4, Lê Lợi)đầu trang(
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) từ đầu năm đến nay, cả nước trồng được gần 11 triệu cây lâm nghiệp phân tán, tăng 10% so cùng kỳ năm trước.
Tuy nhiên, tình trạng phá rừng, chiếm đất, khai thác, mua bán, vận chuyển lâm sản, vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng vẫn diễn biến phức tạp, nhất là các tỉnh Tây Nguyên, một số tỉnh miền trung và khu vực Tây Bắc, với hàng chục héc-ta rừng bị phá. Riêng khu vực Tây Nguyên, thời gian qua đã mất hơn 40% diện tích rừng tự nhiên.
Nguyên nhân mất rừng chủ yếu do một số địa phương còn bị động trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, thể hiện qua việc chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp chưa quyết liệt. Một số vụ khai thác, phá rừng diễn ra công khai với vỏ bọc triển khai các dự án thủy điện, chăn nuôi, trồng trọt… nhưng chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời, hoặc để dây dưa kéo dài, gây bức xúc trong dư luận.
Để ngăn chặn tận gốc nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép, đồng thời khắc phục những thiếu sót, yếu kém trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, các cấp, các ngành, các địa phương cần nghiêm túc thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12-1-2017 của Ban Bí thư T.Ư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27-9-2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ. Đồng thời tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở về quản lý, bảo vệ rừng theo quy định tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 8-2-2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng.
Cùng với biện pháp kiên quyết đóng cửa rừng tự nhiên và không cho chuyển đổi đất rừng nghèo sang đất nông nghiệp theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, cần xóa các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật.
Theo đó, các địa phương cần tập trung chỉ đạo kiểm tra, xác minh và xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng tại địa phương trong thời gian qua; làm rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân có liên quan để xảy ra tình trạng vi phạm, nhất là những cán bộ thiếu trách nhiệm, tiêu cực, bao che, tiếp tay các vi phạm. Từ đó, tùy theo mức độ vi phạm có các hình thức kỷ luật, xử lý người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thiếu trách nhiệm, kể cả truy tố trước pháp luật.
Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn để kịp thời phát hiện, thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với các cơ sở không bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp; kiên quyết xóa bỏ các cơ sở chế biến gỗ không phù hợp quy hoạch, tiêu thụ gỗ bất hợp pháp.
Phối hợp các cơ quan chức năng trong kiểm tra, kiểm soát các hoạt động xuất, nhập khẩu gỗ qua các cửa khẩu tại khu vực biên giới, để ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm về khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ và động vật hoang dã trái pháp luật.
Các địa phương thực hiện phân công, phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước cho chính quyền cơ sở, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng; phòng chống cháy rừng; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. (Nhân Dân 19/4, Lam Ngọc)đầu trang(
Với hành vi vận chuyển lâm sản trái phép, Giám đốc, Phó Giám đốc cùng lái xe của Trung tâm Y tế huyện Tuyên Hoá, Quảng Bình đã bị Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa xử phạt hành chính mỗi người 3 triệu đồng.
Theo đó, Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hóa đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với các ông Cao Sĩ Phượng (Giám đốc), ông Phạm Công Thành (Phó Giám đốc) và ông Võ Anh Tý (lái xe) của Trung tâm Y tế huyện Tuyên Hoá, mỗi người 3 triệu đồng, vì đã thực hiện hành vi vận chuyển lâm sản trái pháp luật.
Hạt Kiểm lâm huyện Tuyên Hoá cũng đã tiến hành tịch thu tang vật 4 gốc giáng hương với trọng lượng 60kg.
Như Dân trí đã phản ánh, vào sáng ngày 27/3, đội tự nguyện bảo vệ đàn voọc gáy trắng tại xã Thạch Hoá và Đồng Hoá thuộc huyện Tuyên Hoá (Quảng Bình) đã phát hiện và chụp lại hình ảnh chiếc xe biển xanh của Trung tâm Y tế dự phòng huyện Tuyên Hoá mang BKS 73M-000.45 chở gỗ giáng hương.
Thời điểm này, trên xe có 4 khúc gỗ giáng hương, đoàn công tác của Trung tâm Y tế huyện Tuyên Hóa có 4 người, trong đó có ông Cao Sỹ Phượng, Giám đốc và ông Phạm Công Thành, Phó Giám đốc trung tâm.
Sau khi nắm được thông tin sự việc, ông Hoàng Đăng Quang, Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh Quảng Bình đã ra văn bản yêu cầu Sở Y tế, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với Thường trực Huyện uỷ Tuyên Hoá tiến hành kiểm tra, làm rõ.
Theo kết quả kiểm tra, xác minh của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, sự việc xe Trung tâm Y tế huyện Tuyên Hóa chở gỗ giáng hương trái phép mà báo chí phản ánh là đúng thực tế. Bốn gốc gỗ giáng hương trên xe biển xanh của Trung tâm Y tế huyện Tuyên Hóa là của ông Cao Sỹ Phượng, Giám đốc và ông Phạm Công Thành, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế huyện này. (Dân Trí 18/4, PV; Giáo Dục & Thời Đại 18/4, Vĩnh Quý)đầu trang(
Trong quý I/ 2017, lực lượng kiểm lâm huyện Trạm Tấu đã phát hiện xử lý 13 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện.Trong tổng số 13 vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng thì có 7 vụ vận chuyển lâm sản trái pháp luật, 6 cất giữ lâm sản trái phép.
Lực lượng kiểm lâm huyện Trạm Tấu đã tiến hành xử lý số vụ vi phạm này, thu giữ gần gần 4m3 gỗ các loại trong đó có trên 2m3 xẻ Pơ Mu nhóm IIa, gần 1,7 m3 gỗ xẻ nhóm II đến VIII, tạm giữ xử phạt hành chính 7 xe máy, tịch thu 1 xe máy. Bán đấu giá lâm sản tịch thu, xử phạt hành chính nộp ngân sách nhà nước 32,5 triệu đồng.
Để tiếp tục làm tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong những tháng còn của năm 2017, Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu tiếp tục tăng cường lực lượng kiểm lâm bám sát địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền người dân về Luật bảo vệ và phát triển rừng; tham mưu kiện toàn các ban chỉ đạo bảo vệ và phát triển rừng, các tổ đội phòng cháy chữa cháy rừng tại các bản.
Đặc biệt, tại các xã trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao như Bản Mù, Xà Hồ, Túc Đán, Làng Nhì, lực lượng kiểm lâm cũng đã tăng cường bố trí từ 4 đến 5 cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn, tổ chức thống kê nương rẫy có nguy cơ cháy cao. Tại khu vực trọng điểm, bố trí lực lượng trực và canh phòng 24/24 giờ, cùng với đó phát hiện và xử lý kịp thời những vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Yên Bái 18/4, Thu Nga)đầu trang(
Từ vụ “Lâm tặc xuyên đường “chân trời” phá nát rừng Ngọc Hồi” mà Tiền Phong phản ánh, ngày 17/4, UBND tỉnh Kon Tum đã có văn bản giao Sở NN&PTNT chủ trì, phối hợp với UBND huyện Ngọc Hồi cùng đơn vị chức năng xác minh, báo cáo kết quả kiểm tra lên UBND tỉnh Kon Tum.
Trước đó, ngày 8/4, báo Tiền Phong có bài phản ánh: Cứ khoảng 8h hàng ngày, từ con đường NT18 (thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi) lâm tặc đi xe máy độ chế thành từng nhóm vượt đường núi khoảng 7km, kéo vào tàn phá rừng ở xã Đắk Xú giáp ranh với xã Đắk Nông (huyện Ngọc Hồi, Kon Tum). Chỉ riêng vạt rừng ở xã Đắk Xú trong hơn 1 tháng qua đã có hơn 300 cây cóc đá, loại đường kính 80cm trở lên bị đốn hạ.
Theo người dân, cách đó khoảng 4km là xã Đắk Nông, nơi lâm tặc đang khai thác gỗ bằng lăng, cứ khoảng 2 tháng lại có một lâm tặc bỏ mạng, nên đoạn đường này được gọi là đường“chân trời”. Sau khi khai thác, lâm tặc sẽ tập kết gỗ tại nhiều khoảnh đất trống cạnh bãi khai thác đá của công ty TNHH Đổi Mới (thôn Nông Nhầy 2, xã Đắk Nông), rồi các đầu nậu đến bốc gỗ chở đi. (Tiền Phong 18/4, Kim Văn)đầu trang(
Sáng 18/4, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Kon Tum tổ chức họp báo thông tin về kết quả kiểm tra, xác minh nội dung báo GD&TĐ đưa tin về tình trạng phá nát rừng tự nhiên ở huyện Ngọc Hồi.
Ông Nguyễn Trung Hải – Giám Đốc Sở NN&PTNT, chủ trì buổi họp báo – khẳng định: Nội dung báo GD&TĐ phản ánh phá rừng ở huyện Ngọc Hồi là đúng. Cảm ơn Báo đã cung cấp thông tin kịp thời để Sở NN&PTNT xử lý.
Đối với số gỗ cũ bị chặt xảy ra cuối năm 2016 tại lâm phần Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi đã tiến hành kỷ luật 5 cá nhân và khiển trách 2 tập thể.
Cụ thể kỷ luật cảnh cáo 3 cá nhân, 2 cá nhân khác bị khiển trách, trong đó có Giám đốc Lâm trường Sa Loong và Giám đốc Lâm trường Dục Nông.
Trước câu hỏi của PV, “liệu có sự tiếp tay của kiểm lâm ở các điểm nóng phá rừng Kon Tum hay không”?, ông Liêm trả lời: “Rừng Kon Tum quá rộng, địa hình phức tạp.
Hiện giá gỗ trên thị trường cao nên các đối tượng bất chấp tất cả để vào rừng cắt hạ. Không chỉ người Kon Tum phá rừng, còn nhiều người ở các tỉnh khác cũng đến đây khai thác.
Trong 165 vụ vi phạm lâm luật trên địa bàn tỉnh trong quý I-2017 có 6 vụ do báo chí cung cấp, kiểm lâm phát hiện 55 vụ, đoàn liên ngành 88 vụ, công an 5 vụ… Như vậy không thể nói lực lượng kiểm lâm làm ngơ trước các vụ phá rừng”.
Về vụ việc phá rừng ở huyện Ngọc Hồi, ông Nguyễn Trung Hải cho biết thê: Sở đã làm việc với UBND huyện để mở rộng địa bàn kiểm tra.
Còn về con đường mòn dẫn lên các địa điểm phá rừng. ông Hải cũng đề nghị UBND huyện Ngọc Hồi và Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Ngọc Hồi có các biện pháp kiểm soát để không cho các đối tượng lợi dụng vận chuyển, khai thác gỗ.
Trước đó như đã đưa, rừng tại huyện biên giới Ngọc Hồi đang bị các đối tượng “xẻ thịt”. Qua ghi nhận tại hiện trường đã phát hiện nhiều cây gỗ có đường kính cả người ôm không xuể bị đốn hạ. Ngoài một số gỗ đã bị mang đi, hiện còn nhiều cây mới chỉ bị cưa hạ còn nằm nguyên. Giáo Dục & Thời Đại 18/4, Nguyễn Dũng)đầu trang(
Tôi khẳng định trong ngành nông nghiệp, lực lượng kiểm lâm hoặc chủ rừng cũng có những đồng chí bán đứng ngành để lấy tiền chứ không phải không có”, ông Nguyễn Trung Hải - Giám đốc Sở NN&PTNT Kon Tum thẳng thắn nói trong cuộc họp báo.
Sáng 18.4, Sở NN&PTNT tỉnh Kon Tum đã tổ chức họp báo để cung cấp thông tin và trả lời một số vấn đề mà báo chí phản ánh tình trạng mất rừng xảy ra nhiều trong thời gian qua. Cuộc họp báo do ông Nguyễn Trung Hải - Giám đốc Sở NN&PTNT Kon Tum và ông Nguyễn Tấn Liêm chủ trì. Huyện Ngọc Hồi - địa phương xảy ra nhiều vụ mất rừng nhất có ông Phạm Hữu Đức – GĐ Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi cũng được “triệu hồi” để xác minh thông tin báo nêu.
Theo ông Nguyễn Tấn Liêm – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Kon Tum: Trong quý 1, tình trạng vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng có chiều hướng gia tăng. Toàn tỉnh xảy ra 165 vụ vi phạm khai thác, mua bán gỗ trái phép với số lượng gỗ hơn 1.346m3, diện tích rừng bị thiệt hại hơn 6ha.
Riêng huyện Ngọc Hồi xảy ra 20 vụ, tổng khối lượng gỗ vi phạm thu giữ hơn 800m3. Mới nhất là vụ việc phá rừng trái phép tại 2 xã Đắk Xú - Đắk Nông (thuộc địa phận Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi), đoàn kiểm tra xác nhận 102 gốc gỗ bị lâm tặc khai thác trái phép và chỉ có 13 gốc mới bị hạ với khối lượng hơn 10m3 (89 gốc còn lại đã phát hiện xử lý năm 2016). Theo đó, có 5 cán bộ quản lý bảo vệ rừng bị kỷ luật, 3 cá nhân bị hình thức cảnh cáo và 2 người bị khiển trách.
Ông Liêm cho biết thêm, đầu tháng 3 Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74 – Bộ Công an) phối hợp với Hạt kiểm lâm Ngọc Hồi kiểm tra, phát hiện tại kho của Công ty TNHH MTV Tuấn Sỹ (thôn Nông Nhầy 2, xã Đắk Nông) trên 100m3 gỗ nhóm III-VII không rõ nguồn gốc. Vụ việc vẫn đang được điều tra xác minh nên chưa thể khẳng định có khởi tố vụ án hình sự hay không.
Liên quan đến vụ việc lâm phần Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi để mất rừng, ông Hải – GĐ Sở NN&PTNT chất vấn chủ rừng: Trong rừng, lâm tặc vận chuyển gỗ lậu tạo thành con đường mòn sâu gần 1m, quá trình diễn ra lâu như báo chí đã nêu sao không không ngăn chặn mà để kéo dài như vậy?
Ông Phạm Hữu Đức – GĐ Công ty Lâm nghiệp Ngọc Hồi thừa nhận: "Vụ việc phá rừng tại lâm phần mình quản lý là có thật. Tôi nhận lỗi và xin lỗi vì đã để xảy ra sai sót. Việc con đường lâm tặc hay đi vào rừng khai thác gỗ không thể phá hủy, cấm triệt để được vì người dân còn theo con đường này vào làm rẫy (tuy nhiên, thực tế sâu trong lâm phần không có rẫy của dân – PV). Trong rừng, có nhiều tuyến đường xương cá nên việc ngăn chặn lâm tặc vào rừng rất khó khăn".
Tại cuộc họp, PV Dân Việt hỏi lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Kon Tum: “Vì sao thời gian qua, báo chí phát hiện nhiều vụ khai thác, vận chuyển gỗ lớn rồi trình báo hoặc đăng báo rồi thì cơ quan chức năng mới vào cuộc mà ngành không hay biết?”, ông Liêm - Chi cục trưởng cho rằng: "Báo chí chỉ phát hiện có 6 vụ và đăng khoảng 30 tin bài, còn lại là lực lượng kiểm lâm và ngành chức năng chứ đâu phải ngành không làm. Nguyên nhân chính khiến mất rừng là do lực lượng kiểm lâm mỏng mà địa bàn lại lớn, thường 1 xã chỉ có 1 kiểm lâm địa bàn".
Về vấn đề lực lượng quản lý bảo vệ rừng có tiếp tay cho lâm tặc hay không, ông Nguyễn Trung Hải – GĐ Sở NN&PTNT Kon Tum cho biết: "Trong lực lượng kiểm lâm mà thấy đồng chí nào đi nhậu với lâm tặc, đầu nậu thì chỉ cần báo với tôi là xong, tôi phát hiện là cho đi chỗ khác ngay. Tôi khẳng định trong ngành nông nghiệp, lực lượng kiểm lâm hoặc chủ rừng cũng có những đồng chí bán đứng ngành này để lấy tiền chứ không phải không có. Tôi khẳng định những đồng chí đó chỉ có công an mới làm được, nó (người bán rừng – PV) lấy phong bì rồi đi nên không tài nào phát hiện được, chỉ khi nào công an bắt được thì mới lộ". (Dân Việt 18/4, Lê Kiến)đầu trang(
Trước yêu cầu đặt ra trong công tác quản lý bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương chủ động bám rừng, từng bước đưa công tác quản lý bảo vệ rừng đi vào nề nếp…
Ngay sau khi UBND tỉnh ban hành Phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020, Ban Thường vụ Huyện ủy Ngọc Hồi kiện toàn Ban chỉ đạo công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng các cấp; đồng thời ban hành Phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cấp huyện.
Theo đó, ở cấp huyện, Bí thư Huyện ủy làm Trưởng ban; Chủ tịch UBND huyện làm Phó ban trực và duy trì Tổ công tác quản lý bảo vệ rừng do Phó Chủ tịch UBND huyện làm Tổ trưởng; đồng thời ban hành Quy chế hoạt động một cách cụ thể. Ở cơ sở, các Đảng ủy, UBND xã, thị trấn cũng kiện toàn các ban chỉ đạo và tổ công tác bảo vệ và phát triển rừng theo cơ cấu tổ chức giống cấp huyện.
Trao đổi về việc thực hiện Phương án và hạ nhiệt cho rừng, ông Võ Thanh Thành-Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện khẳng định, xác định tuyên truyền là nhiệm vụ quan trọng, kể từ khi thực hiện Phương án tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn huyện giai đoạn 2016-2020, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các cơ quan và UBND các xã, thị trấn tổ chức hơn 40 cuộc tuyên truyền nhằm góp phần làm cho người dân sống gần rừng nâng cao nhận thức trong việc bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng.
Nhờ vậy, nhiều vụ khai thác, cất giấu, vận chuyển… lâm sản trái phép trên địa bàn được người dân báo lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương xử lý.
Trong quá trình thực hiện Phương án, UBND huyện tập trung chỉ đạo lực lượng kiểm lâm, các đồn biên phòng, UBND các xã và các chủ rừng mở nhiều cuộc tuần tra, truy quét các hành vi khai thác, cất giấu, vận chuyển lâm sản trái phép tại các điểm nóng và các khu vực trọng điểm như: xã Sa Long, Bờ Y, Đăk Xú, Đăk Nông và Đăk Dục. Đồng thời, để ngăn chặn việc khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép, huyện cũng chú trọng chỉ đạo việc thành lập chốt quản lý bảo vệ rừng. Ngoài các chốt quản lý bảo vệ rừng do các chủ rừng lập, UBND huyện còn thành lập 2 chốt liên ngành quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện.
Đánh giá lại công tác bảo vệ rừng, ông Thành khẳng định, bằng các biện pháp quyết liệt trong công tác quản lý bảo vệ rừng, năm 2016, lực lượng kiểm lâm phối hợp với các cơ quan chức năng, các chủ rừng, UBND các xã, thị trấn phát hiện và xử lý 89 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu trên 500 m3 gỗ tròn các loại, 4 xe ô tô, 1 xe máy cày, 24 xe gắn máy, 17 cá thể động vật rừng… Tổng số tiền phạt các đối tượng vi phạm và tiền bán lâm sản nộp vào ngân sách Nhà nước 2,35 tỷ đồng (tiền các đối tượng nộp phạt 1,19 tỷ đồng và bán lâm sản tịch thu 1,16 tỷ đồng).
Công tác quản lý nương rẫy cũng được huyện chú trọng. Theo sự chỉ đạo của huyện và trên cơ sở thực hiện nhiệm vụ được giao, Hạt Kiểm lâm huyện phối hợp với các cơ quan có liên quan và UBND các xã hướng dẫn người dân phát đốt, sản xuất nương rẫy theo quy định; khoanh vùng các khu vực trọng điểm, huy động các lực lượng phối hợp kiểm tra, giám sát, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm. Vì vậy, từ đầu năm đến nay, trên địa bàn huyện không để xảy ra tình trạng phá rừng làm nương rẫy và cháy rừng.
Chủ động bám rừng và thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo vệ rừng, lực lượng kiểm lâm huyện phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan và chính quyền địa phương đang từng bước đưa công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản đi vào nề nếp.   (Báo Kon Tum 18/4, Đào Nguyên)đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Hiện nay, trên những diện tích xử lý thực bì sớm, người dân huyện Chợ Mới đã bắt đầu trồng rừng.
Những ngày qua, thời tiết khá thuận lợi, các địa phương như Thanh Mai, Thanh Vận, Như Cố, đã bắt đầu trồng rừng, những diện tích đã và đang trồng được bà con xử lý thực bì sớm nên vào tháng 3, đầu tháng 4 khi có nắng bà con đã chủ động đốt, dọn sạch và cuốc hố, đợi thời tiết thuận lợi bắt đầu trồng. Những diện tích đã trồng chủ yếu là do bà con tự đầu tư trồng sau khai thác, trên những diện tích này đa số đều được người dân lựa chọn trồng keo.
Vụ trồng rừng năm 2017, huyện Chợ Mới có kế hoạch trồng 1.500ha rừng, hiện nay cây giống cũng đã được các vườn ươm chuẩn bị đầy đủ, trong đó giống keo đã chuẩn bị được gần 3triệu cây, quế 250.000cây, mỡ trên 140.000cây, lát trên 80.000cây và cây hồi trên 56.000cây, riêng cây hồi được nhập từ tỉnh khác do hiện nay các vườn ươm trên địa bàn huyện chưa sản xuất được giống cây này. (Đài PTTH Bắc Cạn 18/4, Thu Giang)đầu trang(
Chúng tôi về xã Hóa Phúc, huyện Minh Hóa trong những ngày đầu tháng 4. Trên con đường bê tông dẫn vào thôn Kiên Trinh, những cánh rừng trồng của người dân bạt ngàn, xanh ngát trải dài, nối tiếp từ quả đồi này sang quả đồi khác. Nhiều diện tích rừng trồng đã có trên 5 năm tuổi và đến kỳ thu hoạch, người dân tiến hành tỉa thưa giữ lại những cây to, khỏe mạnh để chuyển qua thành rừng gỗ lớn.
Hóa Phúc có tổng diện tích tự nhiên là 3.028,8ha, diện tích đất lâm nghiệp là 2.729,22 ha, trong đó rừng tự nhiên 2.055,94 ha, rừng trồng sản xuất 673,28 ha, rừng giao cho 86 hộ gia đình có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2571,71 ha. Những năm qua, tiếp thu chủ trương trồng rừng kinh tế của huyện, Đảng ủy, UBND xã Hóa Phúc đã tập trung chỉ đạo, vận động nhân dân phát triển trồng rừng trên diện tích đất rừng được giao.
Cùng với đó, việc quản lý, bảo vệ rừng được xã hội hóa, nên diện tích rừng trồng ngày càng tăng nhanh. Năm 2010, rừng trồng bắt đầu cho thu hoạch với sản lượng gỗ lớn, mang lại thu nhập cao cho các hộ dân, nhiều hộ thu từ gỗ rừng trồng trên 100 triệu đồng. Hiệu quả kinh tế từ rừng tăng rõ rệt, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo. Rừng sau khi khai thác được nhân dân trồng lại với nhiều đổi mới về kỹ thuật trồng cũng như giống cây.
Tuy nhiên, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ở Hóa Phúc vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; chất lượng rừng trồng hiệu quả chưa cao; một số hộ dân chưa có ý thức trong công tác bảo vệ rừng, còn vi phạm phá rừng trái pháp luật; việc sắp xếp tổ chức sản xuất, phát triển rừng kinh tế chưa hợp lý, còn nhỏ lẻ.
Để tiếp tục phát huy tiềm năng về đất trồng rừng cũng như giá trị của rừng trồng, đặc biệt thực hiện Chương trình hành động của Huyện ủy Minh Hóa, về phát triển trông mới giai đoạn 2016-2020 xã Hóa Phúc đã mạnh dạn xây dựng mô hình trồng rừng gỗ lớn, mô hình này bước đầu chuyển hoá rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn.
Đồng chí Đinh Thanh Liêm, Bí thư Đảng ủy xã Hóa Phúc cho biết, mục tiêu của xã khi thực hiện mô hình là nhằm phát triển mạnh chương trình trồng rừng kinh tế, đưa trồng rừng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và thực sự là điểm nhấn quan trọng, đóng góp đáng kể trong cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp và trở thành chủ lực của xã. Mô hình sẽ tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân, thúc đẩy sự phát triển của ngành kinh tế nhất là lâm nghiệp.
Mô hình góp phần quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả, bền vững quỹ đất quy hoạch sản xuất hiện có, nâng cao chất lượng và khai thác có hiệu quả tiềm năng, giá trị của rừng nhằm bảo đảm vai trò phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng nông thôn mới của xã.
Xã Hóa Phúc cũng đề ra mục tiêu cụ thể để phấn đấu, đó là giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp tăng trưởng bình quân thời kỳ 2016-2020 đạt từ 14% đến 15%. Đến năm 2020, tổng diện tích rừng trồng của xã đạt 1.500ha, chuyển đổi 150ha rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn, khuyến khích nhân dân sản xuất rừng gỗ lớn bằng các loại giống cây trồng có năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế. Trong năm 2017 này, xã Hóa Phúc đang tập trung xây dựng thí điểm một số mô hình trồng rừng kinh tế gỗ lớn sau đó sẽ nhân rộng.
Theo đó, các đồng chí cán bộ xã Hóa Phúc đã đăng ký đi đầu chủ trương này, đã có 10 đồng chí gồm bí thư, chủ tịch, cán bộ cốt cán của xã tham gia mô hình rừng gỗ lớn với diện tích trên 15 ha, riêng đồng chí Đinh Thanh Liêm – Bí thư Đảng ủy xã đã thực hiện tỉa thưa 2 ha rừng trồng thành rừng gỗ lớn. Ngoài ra, xã Hóa Phúc còn tập trung giải thích cho người dân hiểu được hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng gỗ lớn, đó là việc chuyển hóa rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn sẽ cho trữ lượng rừng, lượng tăng trưởng bình quân của rừng sau chuyển hóa cao gấp 6-7 lần so với trồng rừng gỗ nhỏ.
Nếu so sánh với một chu kỳ trồng rừng gỗ nhỏ từ 5-7 năm thì việc tỉa thưa, mở rộng không gian dinh dưỡng cho rừng tại thời điểm rừng gỗ nhỏ chuẩn bị đến kỳ thu hoạch và tiếp tục trồng thêm đến chu kỳ khai thác 13- 15 năm sẽ giúp nâng trữ lượng rừng lên khoảng 350m3/ ha.
Theo đó, hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn rất nhiều so với rừng gỗ nhỏ. Bên cạnh hiệu quả kinh tế, trồng rừng kinh doanh gỗ lớn giúp giảm bớt số lần khai thác, trồng lại rừng nên giảm xói mòn, rửa trôi đất do quá trình khai thác, trồng lại rừng gây ra. Do đó, hiện nay đã có rất nhiều hộ dân trong xã đăng ký thực hiện mô hình rừng trồng gỗ lớn với diện tích lên đến hàng chục héc ta.
Gia đình anh Đinh Thanh Hiên ở thôn Sy có 5 ha rừng kinh tế, anh cho biết: “Gia đình đăng ký chuyển 3ha rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn, hiện tôi đang tỉa thưa số diện tích rừng trồng đã gần 3 năm tuổi để chuyển đổi. Tuy nhiên, do trước đây đất này là đất khoanh nuôi bảo vệ, gia đình tự chuyển qua trồng rừng kinh tế nên bây giờ chuyển tiếp thành rừng gỗ lớn thì cũng gặp một số khó khăn, như: không có tiền hỗ trợ cải tạo theo quy định là 1ha 2 triệu đồng, những cây chặt tỉa không được vận chuyển ra khỏi rừng để bán”. Đây cũng là khó khăn chung của nhiều hộ dân trên địa bàn xã Hóa Phúc khi muốn chuyển qua rừng trồng gỗ lớn.
Đồng chí Cao Bá Đồng, Chủ tịch UBND xã Hóa Phúc cho biết, việc xây dựng các mô hình trồng rừng gỗ lớn sẽ hướng tới các nội dung chính gồm: giao đất, giao rừng cho hộ, nhóm hộ để phát triển trồng rừng kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Trên cơ sở quy định của pháp luật, xã sẽ hướng dẫn cho hộ gia đình, nhóm hộ cùng nhau bàn bạc xây dựng quy chế, lập kế hoạch quản lý rừng, giám sát chương trình trồng rừng kinh tế bảo đảm thực hiện đúng theo quy định, tổ chức đánh giá hiệu quả đem lại trong quá trình thực hiện (thay đổi về thu nhập các hộ gia đình, thay đổi về độ che phủ so với trước, sản lượng trên đơn vị diện tích, cháy rừng, sâu bệnh hại...) từ đó rút ra bài học kinh nghiệm kịp thời điều chỉnh những thiếu sót và hạn chế trong quá trình xây dựng mô hình để nhân ra diện rộng. Trước mắt, năm 2017 Hóa Phúc tập trung xây dựng hoàn chỉnh các mô hình điểm với diện tích 60 ha. (Báo Quảng Bình 18/4, Thùy Linh)đầu trang(
Khi đã định hình được mục tiêu, chiến lược, bộ khung cho ngành lâm nghiệp, tỉnh Hà Giang dành những ưu đãi, hỗ trợ mạnh mẽ cho việc xây dựng các mô hình và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nên tỉ lệ người dân sống tốt nhờ rừng ngày một gia tăng.
Dành cả ngày cùng chúng tôi đi thăm các mô hình, dự án lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Giang, GS.TS Phạm Văn Điển, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh này chia sẻ, việc lựa chọn giữa độ che phủ hay giá trị kinh tế tưởng dễ nhưng lại vô cùng khó khăn khi áp dụng vào thực tiễn, nếu không có quy hoạch, xác định chi tiết, rõ ràng rất dễ bị rối bởi độ che phủ và giá trị kinh tế rừng thường mâu thuẫn nhau.
Do đó, trong khoảng 10 năm nữa Hà Giang vẫn phải xác định nâng tỉ lệ che phủ rừng lên 62%, bởi hiện tính cả đất ngoài lâm nghiệp mới đang ở mức 56,2%. Nhưng song song với việc duy trì độ che phủ rừng ở tốc độ phù hợp, Hà Giang sẽ tái cơ cấu mạnh mẽ nhằm nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập bền vững cho người dân từ kinh tế rừng.
GS.TS Phạm Văn Điển chia sẻ, độ che phủ tăng, tức là có nhiều rừng hơn, nhưng cái mà chúng ta cần là "màu vàng" ẩn chứa trong "màu xanh" của rừng. "Màu vàng" tức giá trị kinh tế, "màu xanh" ý nói đến mức độ nhiều hay ít của rừng.
Có nhiều rừng cũng có nhiều cơ hội làm ra giá trị kinh tế từ rừng. Giá trị kinh tế càng cao chất lượng của độ che phủ càng lớn. Lúc này, rừng đáp ứng cả hai mục tiêu: bảo vệ môi trường và cung cấp lâm sản, tạo ra giá trị cao cho nền kinh tế sử dụng đất dốc. Thu nhập từ rừng chính là biểu hiện của "thu nhập xanh". Kinh tế rừng chính là biểu hiện của nền "kinh tế xanh", nền tảng cho nhiều đột phá, thương hiệu đặc sắc của Hà Giang trong tương lai.
"Từ năm 2025 trở đi, khi độ che phủ của rừng Hà Giang đạt tối đa và duy trì ổn định ở mức 62%, mỗi khu rừng là một nguồn sống bền vững và có ý nghĩa cho người làm rừng. Độ che phủ được duy trì dựa trên rừng tự nhiên làm chính (chiếm 2/3). Kinh tế rừng dựa vào lâm sản gỗ ở rừng trồng và lâm sản ngoài gỗ ở rừng tự nhiên làm chính.
Vùng cao Hà Giang sẽ dựa vào rừng tự nhiên, vùng thấp (vùng động lực) đi lên từ kinh doanh rừng trồng. Đối với rừng tự nhiên, xây dựng rừng cung cấp lâm sản ngoài gỗ hoặc rừng cung cấp dược liệu, rừng cung cấp lương thực, thực phẩm để có thêm giá trị kinh tế trú ẩn trong lòng độ che phủ. Đối với rừng trồng, xây dựng rừng cung cấp gỗ cao sản và bền vững qua nhiều chu kỳ", GS.TS Phạm Văn Điển.
Cũng theo GS.TS Phạm Văn Điển, do có nhiều tiểu vùng sinh thái khác biệt nên Hà Giang phải cơ cấu tới 11 loại cây lâm nghiệp chính mới đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn và nhu cầu phát triển. Qua đó, 4 huyện vùng cao núi đá phía Bắc, khô và lạnh về mùa đông, tầng đất mỏng, thường sử dụng các loài cây bản địa, gỗ lớn để trồng rừng tập trung, như sa mộc, thông, lát, mỡ và các loài cây trồng phân tán quí gồm hoàng đàn, nghiến, ngọc am. Các loài cây lâm sản ngoài gỗ có thảo quả, hồ đào, tam thất rừng, đỗ trọng...
2 huyện vùng cao núi đất phía Tây có khí hậu lạnh, khô vào mùa đông; nóng vào mùa hè, tầng đất mỏng, có nguy cơ sạt lở cao, lũ ống lũ quét, thường trồng các loài cây bản địa: thông ba lá, sa mộc, tống quá sủ, quế. Các loài cây lâm sản ngoài gỗ là thảo quả và hà thủ ô...
5 huyện vùng thấp có khí hậu nóng ẩm, lượng mưa lớn, điều kiện lập địa tương đối thuận lợi, thường sử dụng các loài cây sinh trưởng nhanh, có lợi thế phát triển rừng kinh tế nên tập trung ưu tiên các loài keo, bồ đề, mỡ, xoan, quế...
Khác với một số tỉnh ở miền núi phía Bắc người dân đã cạo sạch rừng và trồng ngô lên tận đỉnh núi, Hà Giang cơ bản vẫn giữ lại được diện tích rừng khá lớn phần nửa trên của các ngọn núi, quả đồi, qua đó tránh được việc sản xuất nông nghiệp phụ thuộc 100% vào nước trời.
Một mô hình vô cùng mới mẻ đang được tỉnh Hà Giang bắt đầu triển khai là ghép tầm gửi lên cây gạo nhằm tạo sinh kế cho người dân. Hiện một số huyện của Hà Giang có diện tích cây gạo khá lớn, trong khi đó gạo là cây dễ trồng, chịu hạn tốt, nhiều vùng như huyện Hoàng Su Phì mọc tập trung thành từng quần thể lớn.
Bước đầu, Hà Giang sẽ quy hoạch 5ha để thí điểm trồng tầm gửi lên cây gạo bằng giống cấy mô hiện đại. Với giá trị đang mua bán trên thị trường trên 1 triệu đồng/kg hiện nay, khi mô hình trồng tầm gửi trên cây gạo thành công, sẽ tạo thêm nguồn thu nhập đáng kể với người dân vùng đặc biệt khó khăn này.
Nhưng có lẽ nguồn thu lớn và ổn định nhất từ rừng với người dân Hà Giang hiện nay chính là khai thác các lâm sản ngoài gỗ thông qua trồng, khai thác dược liệu. Hà Giang hiện có khoảng 6.000 ha thảo quả và quy hoạch được 10.000 ha dược liệu cho thu nhập cả trăm triệu đồng/ha/năm. Vừa qua, tỉnh Hà Giang đã phối hợp với Viện Dược liệu và Bộ Y tế công bố được dược chất 9 loại cây trên tổng số 29 loại cây dược liệu mà tỉnh xác định có tiềm năng, là tiền đề quan trọng hình thành nên các HTX dược liệu cũng như thu hút doanh nghiệp tới đầu tư.
Tuy nhiên, việc phát triển cây thảo quả mang tính tự phát thời gian vừa qua cũng bộc lộ một số bất cập khi người dân ở một số nơi vì thiếu hiểu biết nên không có ý thức bảo vệ rừng. Do đó, thời gian tới Hà Giang sẽ không khuyến khích phát triển thêm diện tích thảo quả dưới tán rừng tự nhiên, thay vào đó sẽ xây dựng quy trình trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến thảo quả bền vững để tập huấn, chuyển giao cho người dân để hạn chế ảnh hưởng tối đa đến rừng.
Bên cạnh đó, với sự giúp đỡ của GS.TS Phạm Văn Điển, Hà Giang đã xây dựng thành công mô hình trồng cây thảo quả dưới tán rừng trồng cây tống quá sủ, mở ra hướng liên kết trồng rừng hiệu quả, bền vững.
Một mặt kiên quyết giữ bằng được diện tích rừng tự nhiên hiện có để triển khai các mô hình du lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển lâm sản ngoài gỗ, tỉnh Hà Giang đẩy mạnh áp dụng KHKT, giống mới ở khu vực rừng trồng, rừng kinh tế. Tỉnh Hà Giang đang triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển nghề thủ công từ rừng, xây dựng hệ thống đường giao thông kết hợp đường băng vận chuyển nhằm thuận lợi cho việc khai thác gỗ hàng hóa sau này. (Nông nghiệp Việt Nam 18/4, Nguyễn Huân)đầu trang(
Tỉnh Phú Thọ hiện có trên 55% diện tích tự nhiên là rừng và đất lâm nghiệp, tương đương trên 200.000 ha.
Tuy có diện tích lớn nhưng trải qua quá trình khai thác, quản lý thiếu chặt chẽ có thời điểm diện tích đất có rừng đã xuống rất thấp. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây diện tích rừng ở Phú Thọ đã và đang được đầu tư phát triển nên độ che phủ rừng hàng năm tăng nhanh, góp phần xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu bền vững cho nhiều hộ dân.
Yên Lập là huyện miền núi khó khăn của tỉnh Phú Thọ với trên 33.000 ha diện tích đất lâm nghiệp. Xác định việc trồng rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là thế mạnh để phát triển kinh tế - xã hội nên huyện chú trọng tuyên truyền sâu rộng đến cán bộ và người dân về công dụng và hiệu quả của việc trồng, bảo vệ và phát triển rừng hàng năm; khuyến khích, động viên mọi người dân đẩy mạnh phong trào trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng…
Năm 2016, huyện Yên Lập trồng được 1.300ha diện tích rừng tập trung, vượt 13,1% so với kế hoạch. Nhờ đó, độ che phủ rừng của huyện Yên Lập đạt 60,4%. Bên cạnh việc trồng rừng, bảo vệ rừng cũng được đặc biệt quan tâm, cụ thể như dự án bảo vệ phát triển rừng là 544 ha, trong đó bảo vệ phát triển rừng sản xuất là 500 ha, rừng phòng hộ 44 ha; bảo vệ rừng tự nhiên phòng hộ là 6.500 ha.
Ông Hoàng Văn Cường, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Yên Lập chia sẻ, hầu hết người dân trong huyện đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc trồng cây, trồng rừng không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học mà còn tạo việc làm, tăng thêm thu nhập giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế gia đình cho người dân nên đều tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng.
Chị Đàm Thị Thu Hạnh, xã Lương Sơn, huyện Yên Lập bộc bạch, gia đình chị trồng 10ha rừng chủ yếu là cây keo, trồng khoảng 5 năm thì cho thu hoạch. Tuy nhiên, do có một số diện tích trồng, khai thác không đồng đều nên khó thu hoạch được hàng loạt. Gia đình chị thường thu hoạch chọn lọc qua từng năm, sau thu hoạch chỗ nào trống thì trồng bổ sung cây con, tránh tình trạng để đất trống, đất hoang lãng phí. Mỗi năm trừ chi phí, gia đình chị cũng thu được gần 100 triệu đồng từ việc trồng rừng…
Còn huyện Đoan Hùng là một trong những địa phương thực hiện có hiệu quả cao Chương trình hỗ trợ phát triển rừng sản xuất. Đến nay, huyện Đoan Hùng có hơn 12.700 ha rừng chủ yếu là rừng trồng. Mỗi năm bình quân trên địa bàn huyện trồng mới hơn 1.000 ha rừng.
Riêng năm nay, huyện đã trồng mới 1.400 ha rừng tập trung, trong đó diện tích trồng keo thay thế bạch đàn là 420 ha, đạt 100% kế hoạch. Trên địa bàn huyện chỉ còn khoảng hơn 1.000ha bạch đàn. 5 năm gần đây, ngoài hỗ trợ cây giống từ Dự án bảo vệ và phát triển rừng, Đoan Hùng còn là huyện đầu tiên có cơ chế chính sách riêng hỗ trợ phân bón cho các hộ trồng rừng.
Gia đình ông Bùi Vĩnh Long, thôn 9 xã Vân Đồn, huyện Đoan Hùng cho biết, năm 2010 khi nhận được chủ trương chuyển đổi sang trồng keo lai, ông mạnh dạn thuê máy múc nhổ bỏ toàn bộ gốc bạch đàn tái sinh trên diện tích 1,5 ha để chuyển sang trồng keo lai. Nhờ tuân thủ theo đúng quy trình kỹ thuật, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 1,5m, trồng khoảng 2.000 đến 2.500 cây/ha.
Sau thời gian theo dõi, tỷ lệ cây sống đạt trên 90% sau khi trồng, cây phát triển nhanh, tán lá cân đối, rễ phát triển sâu và có các nốt sần cố định đạm giúp giữ được ẩm và cải tạo đất rất tốt. Chỉ hơn một năm nữa, rừng keo của gia đình ông sẽ cho thu nhập cả trăm triệu đồng.
Nhằm triển khai hiệu quả tái cơ cấu lĩnh vực lâm nghiệp, góp phần phát triển lâm nghiệp bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, bền vững, tăng tính đa dạng sinh học và năng lực cạnh tranh, giai đoạn 2015-2020 tỉnh Phú Thọ tiếp tục đẩy mạnh phát triển và bảo vệ rừng, trong đó tập trung nâng cao năng suất chất lượng rừng, giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 3,5 - 4%.
Từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu độ che phủ rừng đạt trên 53%.
Theo ông Đỗ Ngọc Đoàn, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Phú Thọ, để đạt mục tiêu đã đề ra tỉnh Phú Thọ cần xem xét tăng mức hỗ trợ đầu tư cho trồng rừng phòng hộ, sản xuất. Có chính sách cụ thể cho trồng rừng sản xuất cây gỗ lớn, cây gỗ nhỏ. Áp dụng đầy đủ chính sách trợ cước, trợ giá của Nhà nước về hàng hóa sản phẩm đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Cùng với đó, tỉnh cần tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật lâm sinh, cán bộ khuyến lâm cho huyện, xã để chỉ đạo trồng rừng, chọn tạo và sản xuất cây giống; đồng thời quản lý, giám sát kế hoạch và chất lượng trồng rừng. Áp dụng và nhân rộng các mô hình tiên tiến điển hình, đẩy mạnh tuyên truyền đưa những giống mới có năng suất cao, khả năng kháng bệnh vào trồng rừng.
Khuyến khích mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, phát triển mạng lưới chế biến lâm sản gắn với vùng nguyên liệu theo hướng hiện đại hóa công nghệ tạo sự ổn định cho đầu ra sản phẩm, đặc biệt ưu tiên cho các huyện miền núi như có diện tích lớn như Yên Lập, Tân Sơn, Thanh Sơn, Đoan Hùng…(Đại Đoàn Kết 18/4, Văn Toàn)đầu trang(
Năm 2017, huyện Tràng Định có kế hoạch trồng mới 1.200 ha rừng. Để đảm bảo kế hoạch, hiện cấp ủy, chính quyền và người dân chủ động các giải pháp, tích cực chuẩn bị các điều kiện cho trồng rừng đạt hiệu quả.
Ngay từ khi bước vào vụ trồng rừng năm 2017, gia đình anh Lý Văn Quân, thôn Nà Sliềng, xã Kim Đồng đã tích cực chuẩn bị các điều kiện cho trồng rừng như: cuốc hố, phát dọn thực bì, đặt mua giống cây ở vườn ươm… Anh Quân cho biết: Trồng rừng cần chuẩn bị sớm các điều kiện và tốt nhất khi trồng vào mùa xuân thời tiết mát mẻ, không bị khô hạn, tỉ lệ cây sống sẽ đạt cao. Vì vậy gia đình tôi sớm chuẩn bị các điều kiện và bắt tay ngay vào trồng khi thời vụ đến. Tính đến hết tháng 3/2017, gia đình đã trồng mới được 3 ha rừng keo và đang tập trung vào chăm sóc.
Qua tìm hiểu được biết, không chỉ gia đình anh Quân mà nhiều hộ dân trong xã Kim Đồng đã chủ động sớm các điều kiện cho vụ trồng rừng năm 2017. Qua đó, tính đến ngày 10/4/2017, toàn xã đã trồng mới được 72,1 ha rừng (gồm 55,15 ha quế, 16,95 ha keo), vượt gần 50% kế hoạch. Có được kết quả trên, theo ông Lý Văn Giàng, Chủ tịch UBND xã Kim Đồng là do ngay từ đầu vụ, xã đã chỉ đạo cho từng cán bộ phụ trách các thôn, đôn đốc người dân phát dọn thực bì, cuốc hố. Cùng với đó, nhận thức rõ được giá trị kinh tế từ rừng đem lại nên người dân chủ động các điều kiện trồng rừng.
Đến nay, không chỉ xã Kim Đồng, một số xã khác chủ động các điều kiện và trồng rừng sớm như: xã Đoàn Kết trồng được 90 ha, Tân Tiến trồng 55 ha,…
Cùng với sự chủ động của người dân, các chủ vườn ươm cây giống trên địa bàn huyện cũng tích cực ươm cây đảm bảo nguồn cung cho người dân. Công ty TNHH MTV Hoàng Lộc, thị trấn Thất Khê với hoạt động dịch vụ lâm nghiệp, trồng rừng và chăm sóc rừng đã sẵn sàng cây giống cung cấp nhu cầu người dân.
Bà Trương Thị Ven, Giám đốc công ty cho biết: Là cơ sở sản xuất giống cây lâm nghiệp phục vụ người dân trên địa bàn huyện, nên việc cung ứng cây giống tốt cho bà con rất quan trọng. Bởi cây giống khỏe thì trồng rừng mới hiệu quả. Vì vậy, công ty luôn chú trọng nguồn gốc xuất xứ của hạt giống cũng như các kỹ thuật chăm sóc cây giống, đảm bảo cung cấp cây giống khỏe mạnh cho người dân.
Đến thời điểm đầu tháng 4, công ty đã ươm được trên 1 triệu cây gồm: quế, keo, mỡ, thông, lát và đang tiếp tục ươm thêm cây giống. Theo nhận định của bà Ven, với số lượng cây giống của công ty cùng với một số vườn ươm khác trên địa bàn đảm bảo cung cấp nhu cầu về cây giống cho người dân.
Để công tác trồng rừng 2017 đạt hiệu quả, phòng chuyên môn huyện phối hợp với các xã, thị trấn tổ chức tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về công tác trồng rừng, tổ chức rà soát diện tích đủ điều kiện đưa vào trồng rừng. Đồng thời tổ chức hướng dẫn nhân dân cách trồng, kỹ thuật chăm sóc, đảm bảo trồng đúng thời vụ với từng loại cây trồng. Trước đó, UBND huyện chỉ đạo các xã đẩy nhanh tiến độ trồng rừng, bảo vệ chăm sóc tốt diện tích rừng đã trồng, chủ động cây giống, cuốc hố, phân bón, đảm bảo hoàn thành việc trồng rừng trong khung thời vụ tốt nhất.
Ông Triệu Minh Quân, Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện cho biết: Cán bộ nông nghiệp hướng dẫn kỹ thuật, đôn đốc phát dọn thực bì, cuốc hố, nghiệm thu sơ bộ hiện trường trồng rừng.
Đồng thời, chú trọng tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách trồng rừng đến mọi người dân trên địa bàn. Đến nay, việc trồng rừng diễn ra đúng tiến độ, toàn huyện trồng mới được 335 ha rừng các loại, đạt 27,9% kế hoạch. Thời gian tới, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ tiếp tục phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn người dân thực hiện trồng rừng đúng tiến độ, hiệu quả. (Báo Lạng Sơn 18/4, Đỗ Hoạt)đầu trang(
Người sử dụng dịch vụ môi trường rừng không ký hợp đồng chi trả tiền sử dụng dịch vụ môi trường rừng sau 3 tháng, kể từ khi sử dụng dịch vụ môi trường rừng, bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng nếu không ký hợp đồng đối với chủ rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng trong trường hợp chi trả trực tiếp; phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng khi không ký hợp đồng với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng tỉnh trong trường hợp chi trả gián tiếp; phạt tiền từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng khi không ký hợp đồng với Quỹ bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam trong trường hợp chi trả gián tiếp.
Người sử dụng dịch vụ môi trường rừng không kê khai tiền phải chi trả dịch vụ môi trường rừng trong trường hợp chi trả gián tiếp, bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả đến 50 triệu đồng; phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả từ trên 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng; phạt tiền từ 3 triệu đến 5 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả từ trên 200 triệu đồng đến 300 triệu đồng; phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả từ trên 300 triệu đồng đến 500 triệu đồng; phạt tiền từ 7 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả trên 500 triệu đồng.
Người sử dụng dịch vụ môi trường rừng không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ, bị xử phạt như sau: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 03 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền đến 20 triệu đồng; phạt tiền từ 2 triệu đến 3 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 03 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền từ trên 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng; phạt tiền từ 3 triệu đến 5 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 3 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền từ trên 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng; phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 3 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền từ trên 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng; phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 03 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền từ trên 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng; phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 03 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền từ trên 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng; phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng nếu không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ tiền sử dụng dịch vụ quá 3 tháng theo thời hạn ký kết trong hợp đồng với số tiền trên 500 triệu đồng.
Xử phạt chủ rừng là tổ chức được Nhà nước giao rừng không chi trả hoặc chi trả không đầy đủ, đúng hạn tiền thu từ dịch vụ môi trường rừng cho người nhận khoán bảo vệ rừng theo hợp đồng ký kết giữa chủ rừng và người nhận khoán bảo vệ rừng, như sau: Phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả đến 5 triệu đồng; phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả từ trên 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng; phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả từ trên 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng; phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu số tiền phải chi trả trên 50 triệu đồng.
Ngoài mức phạt trên các cá nhân, tập thể vi phạm còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với các hành vi vi phạm nói trên. Nội dung này được quy định tại Nghị định số 41/2017/NĐ-CP vừa được Chính phủ ban hành và có hiệu lực từ ngày 20-5-2017. (Báo Bình Phước 17/4, NN)đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN & PTNT) đang lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 21/2016/TT-BNNPTNT ngày 28/6/2016 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản.
Trong đó đề xuất bổ sung quy định về khai thác chính, tận dụng, tận thu gỗ rừng trồng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Theo Bộ NN & PTNT, rừng nghiên cứu thực nghiệm là rừng đặc dụng theo Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng (Nghị định số 117), rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học được phép khai thác lâm sản theo chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học được phê duyệt.
Thông tư số 78/2011/TT-BN-NPTNT ngày 11/11/2011 của Bộ NN & PTNT quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117, trong đó quy định các ban quản lý rừng đặc dụng lập đề án sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại Điều 21 Nghị định số 117 trình cấp có thẩm quyến thẩm định, phê duyệt. Tuy nhiên, việc xây dựng đề án sử dụng bền vững tài nguyên rừng chỉ phù hợp đối với trường hợp khai thác chọn để điều tiết mật độ và điều chỉnh loài.
Đối với trường họp khai thác trắng, tận dụng, tận thu lâm sản đối với rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học sau khi đã hoàn thành các mục tiêu theo chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định, nên gặp vướng mắc khi khai thác rừng để hoàn vốn đầu tư.
Do vậy, tại dự thảo này, Bộ NN & PTNT đã đề xuất bổ sung quy định về khai thác chính và tận dụng, tận thu lâm sản, để tháọ gỡ vướng mắc trên.
Theo đó, khai thác và tận dụng, tận thu gồ rừng trồng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 21 Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học sau khi đã hoàn thành chương trình, mục tiêu dự án và được nghiệm thu, đánh giá kết quả, chủ rừng tự quyết định việc khai thác, tận dụng, tận thu gỗ.
Trước khi khai thác, tận dụng, tận thu, chủ rừng báo cáo bằng văn bản về mục đích khai thác, địa danh và khối lượng khai thác gửi Tổng cục Lâm nghiệp (đối với đơn vị Trung ương) hoặc Sở NN & PTNT (đối với đơn vị thuộc tinh) để tổng hợp báo cáo, theo dõi và giám sát trong quá trình thực hiện. Chủ rừng tổ chức khai thác, tận dụng, tận thu theo quy định; đo đếm tính toán khối lượng và lập bảng kê lâm sản sau khi khai thác, tận dụng, tận thu. (Bảo Vệ Pháp Luật 18/4, tr11, T.Trà)đầu trang(
Lâu nay, doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và sản phẩm từ gỗ tập trung vào việc hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh, nhưng thời kỳ ấy đã qua. Trong thời gian tới, doanh nghiệp phải đầu tư vào khâu thiết kế, phải có sự kết hợp với vật liệu khác để tăng tính cạnh tranh, nếu không thị phần xuất khẩu sẽ bị thu hẹp. Tuy nhiên, đây vẫn là khâu yếu nhất của ngành chế biến gỗ Việt Nam.
Đây là thông tin được đưa ra tại Diễn đàn doanh nghiệp kết nối vì mục tiêu phát triển bền vững ngành chế biến gỗ do Forest Trends và các hiệp hội đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ tổ chức cuối tuần qua tạiTPHCM.
Mục đích của diễn đàn là làm sao để phát triển bền vững ngành chế biến gỗ trong bối cảnh Việt Nam đang đóng cửa rừng tự nhiên và nguồn gỗ cung cấp nguyên liệu đầu vào chủ yếu là từ rừng trồng và nhập khẩu.
Tại diễn đàn lần này, một số chuyên gia trong ngành đã chỉ ra những "hiểu nhầm" của doanh nghiệp trong việc tính toán giá thành, tìm mọi cách để có giá thành thấp nhằm cạnh tranh về giá và chính điều này đã ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của ngành chế biến và xuất khẩu gỗ Việt Nam trong thời gian qua. Các chuyên gia cho rằng, chi phí sản xuất thấp, đặc biệt là chi phí về giá nhân công và nguyên liệu đầu vào không nhất thiết là những yếu tố cơ bản hình thành lợi thế cạnh tranh.
Cụ thể là ngành chế biến gỗ của Đài Loan, Trung Quốc. Tại đây, giá nhân công đắt đỏ và nguyên liệu đầu vào khan hiếm nhưng ngành chế biến gỗ của họ luôn đứng đầu châu Á về lợi thế cạnh tranh; còn Việt Nam, các doanh nghiệp tận dụng nhân công giá rẻ để bán sản phẩm với giá thấp nhất có nhưng lại không có lợi thế cạnh tranh. Và theo các chuyên gia, sản xuất sản phẩm với giá thành thấp để tăng tính cạnh tranh là một quan niệm sai lầm.
Điều làm cho ngành chế biến gỗ của Đài Loan, Trung Quốc dẫn đầu châu Á nằm ở khâu thiết kế mẫu mã, kết hợp với các loại vật liệu khác theo nhu cầu của người mua hàng mới, đó mới là nhân tố hình thành nên giá trị sản phẩm.
Lâu nay, các doanh nghiệp chế biến gỗ Việt Nam thiếu đầu tư nguồn nhân lực cho khâu nghiên cứu và thiết kế sản phẩm. Do đó, mẫu mã sản phẩm gỗ thường đơn điệu nên giá trị không cao, chưa kể phần nhiều trong đó là sản phẩm gia công cho các tập đoàn nước ngoài. Những vấn đề này, doanh nghiệp phải sớm khắc phục nếu muốn giữ được thị trường xuất khẩu trong tương lai.
Theo Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam (VIFORES), hiện tại gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đã xuất sang 120 quốc gia, vùng lãnh thổ với giá trị xuất khẩu hàng năm vào khoảng 6-7 tỉ đô la Mỹ, trong đó, lớn nhất là Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc. Đa phần sản phẩm gỗ xuất khẩu là bàn ghế, giường, tủ…(TBKTSG-Online 18/4, Ngọc Hùng)đầu trang(
Giá nguyên liệu nhập khẩu luôn ổn định trong nhiều năm nay, nhưng giá nguyên liệu gỗ nội địa lại biến động tăng bất thườngTheo các doanh nghiệp chế biến gỗ, có một nghịch lý rất lớn đang tồn tại trong ngành này hiện nay, đó là giá nguyên liệu nhập khẩu luôn ổn định trong nhiều năm nay, nhưng giá nguyên liệu gỗ nội địa lại biến động tăng bất thường, nhất là nguyên liệu gỗ cao su.
Điều này đã ảnh hưởng đến vấn đề sống còn của nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh thị trường ngày càng gay gắt.
Ông Điền Quang Hiệp, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Minh Phát 2 cho biết, doanh nghiệp này hiện đang sử dụng từ 60-70% nguyên liệu là gỗ cao su để chế biến. Dù đây là sản phẩm có nguồn gốc 100% trong nước, nhưng tình hình giá cả lại hoàn toàn không ổn định.
Chỉ trong vòng 3-4 tháng đầu năm nay, giá gỗ cao su đã biến động tăng lên đến 40% so với thời điểm cuối năm 2016 và hiện vẫn đang tiếp tục tăng.
Dự báo, giá gỗ cao su có thể tăng đến 60%, thậm chí có nguy cơ không có nguyên liệu gỗ cao su. Mặc dù đã có sự chuẩn bị và tích trữ trước đó, nhưng sự biến động quá lớn này cũng khiến cho Minh Phát 2 đang thiếu hụt khoảng 50% nguyên liệu gỗ cao su để phục vụ cho các đơn hàng chế biến xuất khẩu.
Còn theo ông Trần Liêm, Giám đốc Công ty cổ phần Lâm Việt, gỗ cao su là loại nguyên liệu mà các doanh nghiệp chế biến gỗ đang thiếu hụt nghiêm trọng nhất hiện nay.
Về lâu dài, tình hình này sẽ càng khó khăn hơn cho doanh nghiệp khi phải mua nguyên liệu đầu vào với giá cao, từ đó phải tăng giá sản phẩm, sức cạnh tranh trên thị trường sẽ giảm đi.
Ông Liêm nhận định, nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do giá mủ cao su hiện đang phục hồi tăng trở lại trong vài tháng gần đây, chu kỳ cắt gỗ của các nông trường cao su, người dân có xu hướng ngày càng giảm, trong khi nhu cầu thị trường lại gia tăng.
Điều này đã khiến nguồn cung gỗ cao su ngày càng khan hiếm, giá gỗ cao su biến động tăng bất thường như hiện nay.
Đáng chú ý, theo các doanh nghiệp chế biến gỗ, nguyên nhân chủ yếu khiến nguồn cung gỗ cao su khan hiến là do Trung Quốc tăng cường thu mua, nâng giá bán. Kèm theo đó là tình trạng các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và thương nhân Trung Quốc đội lốt doanh nghiệp Việt hình thành hệ thống nhà máy, cơ sở thu mua nguyên liệu gỗ ở khắp các vùng nguyên liệu gỗ cao su cũng như gỗ keo tràm để xuất sang Trung Quốc.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES) Nguyễn Tôn Quyền cho biết, trong năm 2017, Trung Quốc chính thức đóng cửa rừng tự nhiên và cấm khai thác, xuất khẩu gỗ nguyên liệu.
Để bù đắp cho sự thiếu hụt nguyên liệu, các thương nhân Trung Quốc đã sang các nước để thu mua nguyên liệu; trong đó có Việt Nam . Vấn đề này đã tác động mạnh đến thị trường gỗ cao su trong thời gian gần đây.
Theo nhiều doanh nghiệp, việc Trung Quốc sang thu mua gỗ cao su của Việt Nam , làm lũng đoạn thị trường nguyên liệu gỗ trong nước có nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sự liên kết giữa các đơn vị liên quan, nhất là người trồng cao su và doanh nghiệp chế biến gỗ.
Ngay như Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam hiện chiếm tới 40-50% nguồn nguyên liệu gỗ cao su, thế nhưng sự liên kết giữa đơn vị này với các doanh nghiệp chế biến gỗ còn khá lỏng lẻo, thậm chí phần lớn không có sự liên kết nào.
Bà Trần Thị Thúy Hoa, Trưởng ban Tư vấn phát triển ngành cao su thuộc Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho hay, gỗ cao su là tài sản thanh lý, các doanh nghiệp phải thực hiện thu mua theo cơ chế đấu giá của Nhà nước.
Dù muốn liên kết với các doanh nghiệp chế biến gỗ, nhưng điều này đã khiến các doanh nghiệp trong ngành cao su cũng gặp khó khăn trong việc chủ động nguồn gỗ nguyên liệu.
“VRA đang kiến nghị Bộ Tài chính xem sản phẩm gỗ cao su là sản phẩm chính như cao su thiên nhiên thì các doanh nghiệp mới hưởng được chính sách hiện hành, nhất là thuế thu nhập. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp trong ngành chủ động quyền điều hành, kế hoạch rải vụ, thời gian thanh lý...
Khi đó, nguồn gỗ cao su cung cấp ra thị trường sẽ ổn định hơn và sự liên kết giữa các doanh nghiệp cao su với doanh nghiệp chế biến gỗ mới chủ động và bền chặt”, bà Hoa thông tin.
Trong bối cảnh thị trường thế giới ngày càng yêu cầu khắt khe về việc sử dụng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp thì việc liên kết giữa người trồng, các nông trường trồng cao su với doanh nghiệp chế biến gỗ là hết sức cần thiết.
Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch VIFORES cho rằng, việc liên kết này sẽ giải quyết được các vấn đề cơ bản của ngành hiện nay. Đó là nguồn cung nguyên liệu gỗ được đáp ứng, đảm bảo nguồn gốc gỗ có thể truy xuất một cách dễ dàng và lợi nhuận của các bên đều đạt được. Đây cũng là xu thế tất yếu trên thế giới và của Việt Nam hiện nay.
Ngoài việc tăng cường sự liên kết giữa người trồng và doanh nghiệp chế biến gỗ thì các chính sách bảo vệ ngành chế biến gỗ xuất khẩu trong nước và đảm bảo nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng được cung cấp bền vững trong thời gian tới cũng là điều hết sức cần thiết hiện nay.
Ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định cho rằng, Chính phủ cần có các giải pháp hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu một cách hiệu quả. Đồng thời, tăng cường các giải pháp về thủ tục hành chính, kiểm tra giám sát của Kiểm lâm, Hải quan sở tại và chính quyền địa phương để hạn chế việc thương nhân nước ngoài thu gom, khống chế thị trường gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước và tránh thuế xuất khẩu bằng cách giảm giá bán, kê khai không đúng quy cách gỗ nguyên liệu xuất khẩu. (Bnews 18/4, Hứa Chung)đầu trang(
Ngành gỗ Việt Nam hiện đang nằm trong số các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, đạt tới gần 7 tỷ USD trong năm 2016.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây có giảm, song ngành gỗ vẫn còn nhiều dư địa để phát triển nếu như tạo ra được một liên kết chuỗi trong sản xuất.Ngày 17/4/2017, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores) và Tổ chức Forest Trends tổ chức Tọa đàm "Chính sách liên kết công ty – Hộ trồng rừng: Tăng cơ hội, giảm rủi ro cho phát triển bền vững", tại Hà Nội.
Tọa đàm tập trung vào chủ đề liên kết giữa công ty chế biến gỗ xuất khẩu và các hộ gia đình trồng rừng chứng chỉ (Liên kết 1) và giữa công ty cao su và các hộ góp đất trồng cao su (Liên kết 2).
Tại cuộc tọa đàm, các chuyên gia cho rằng, hiện nay trong ngành gỗ, các liên kết giữa công ty – hộ trồng rừng vẫn còn rời rạc, chủ yếu được hình thành theo hướng tự phát. Đây được cho là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự giảm tốc về kim ngạch xuất khẩu (XK) của ngành chế biến gỗ.
"Một trong những lý do cơ bản dẫn tới liên kết trong ngành chế chế biến gỗ vẫn còn hạn chế là do hiện ngành gỗ còn thiếu vắng giá trị cốt lõi hình thành liên kết, đó là hệ thống yếu tố lòng tin và chia sẻ lợi ích công bằng giữa các bên tham gia", ông Nguyễn Tôn Quyền, Tổng thư ký Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam nói.
Dẫn chứng về các hạn chế cơ bản của ngành gỗ do thiếu liên kết, ông Nguyễn Tôn Quyền  nhấn mạnh, mặc dù kim ngạch XK gỗ rất lớn và vẫn tiếp tục gia tăng, song ngành vẫn tồn tại một số vấn đề mang tính hệ thống thể hiện qua các mặt như: sử dụng lao động giá rẻ, sử dụng nguyên liệu đầu vào chiếm tỉ lệ còn cao trong cơ cấu giá thành (40-50%) với giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp. Điều này làm cho năng suất lao động của ngành thấp hơn nhiều so với năng suất lao động của ngành chế biến của các quốc gia như Thái Lan, Malaysia.
Còn theo đánh giá của ông Tô Xuân Phúc, đại diện Tổ chức Forest Trends, thiếu liên kết làm lãng phí nguồn lực trong đầu tư, đặc biệt trong khâu dự trữ nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến. Hầu hết các doanh nghiệp trong ngành chế biến hiện nay đều phải dự trữ nguyên liệu gỗ đầu vào. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tập trung nguồn lực tài chính rất lớn.
Thông tin từ một số doanh nghiệp cho thấy, khoảng 60-70% vốn liếng của doanh nghiệp chế biến được dành cho khâu dự trữ nguyên liệu. Khoảng 30-40% vốn liếng còn lại tập trung vào khâu từ khi đưa cây gỗ vào chế biến đến khi ra sản phẩm.
Lí do các doanh nghiệp Việt Nam phải dự trữ nguyên liệu là hiện trong ngành gỗ chưa hình các doanh nghiệp chuyên phụ trách khâu dự trữ nguyên liệu và càng chưa có liên kết giữa các doanh nghiệp kiểu này và các doanh nghiệp trong ngành chế biến.
Các chuyên gia cho rằng, để đẩy mạnh liên kết trong ngành gỗ, thể chế là một trong những điều kiện tiên quyết tạo ra sự thay đổi xã hội, bao gồm những thay đổi trong ngành chế biến gỗ.
Bên cạnh đó, ba mô hình liên kết trong ngành chế biến gỗ có tiềm năng đem lại sự thay đổi theo hướng tích cực cho ngành chế biến gỗ, bao gồm: Liên kết giữa công ty cung cấp gỗ nguyên liệu (bao gồm cả công ty nhập khẩu gỗ nguyên liệu) và công ty chế biến gỗ; Liên kết giữa công ty chế biến gỗ và làng nghề; Liên kết giữa công ty chế biến gỗ và hộ trồng rừng.(Thời báo Tài chính VN 17/4, Phúc Nguyên)đầu trang(
Chiều 17/4, tại Hà Nội, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores)  phối hợp với Tổ chức Forest Trends tổ chức Tọa đàm chính sách Liên kết Công ty – Hộ trồng rừng: Tăng cơ hội, giảm rủi ro cho phát triển bền vững.
Theo đánh giá của các chuyên gia, mặc dù kim ngạch xuất khẩu của ngành gỗ rất lớn và tiếp tục tăng, tuy nhiên, ngành gỗ vẫn tồn tại một số vấn đề mang tính hệ thống, thể hiện qua các mặt như sử dụng lao động giá rẻ, sử dụng nguyên liệu đầu vào chiếm tỉ lệ còn cao trong cơ cấu giá thành (40-50%) với giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp. Điều này làm cho năng suất lao động của ngành thấp hơn nhiều so với năng suất lao động của ngành chế biến của các quốc gia như Thái Lan, Malaysia. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến năng suất lao động của ngành thấp là chưa có tính liên kết trong ngành.
Ông Tô Xuân Phúc – Tổ chức Forest Trends – cho biết: Thiếu liên kết làm lãng phí nguồn lực trong đầu tư, đặc biệt trong khâu dự trữ nguyên liệu của các DN chế biến. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp (DN) trong ngành chế biến  đều phải dự trữ nguyên liệu gỗ đầu vào. Điều này đòi hỏi DN cần phải tập trung nguồn lực tài chính rất lớn. Thông tin từ một số DN cho thấy khoảng 60-70% vốn liếng của DN chế biến được dành cho khâu dự trữ nguyên liệu. Khoảng 30-40% vốn liếng còn lại tập trung vào khâu từ khi đưa cây gỗ vào chế biến đến khi ra sản phẩm.
Điều này khác hẳn với ngành gỗ của một số quốc gia như Trung Quốc. Thông tin chia sẻ từ các DN này cho thấy 1 DN của Trung Quốc mỗi ngày xuất 60 container đồ gỗ cần dự trữ khoảng 2.000 m3 gỗ xẻ nguyên liệu. Điều này trái ngược hoàn toàn với 1 DN của Việt Nam, mỗi ngày xuất khẩu 10 container hàng trong khi lượng nguyên liệu dự trữ khoảng 10.000 m3.
Lí do các DN Việt Nam phải dự trữ nguyên liệu là hiện trong ngành gỗ chưa hình các DN chuyên phụ trách khâu dự trữ nguyên liệu và càng chưa có liên kết giữa các DN kiểu này và các DN trong ngành chế biến. Hệ quả là các DN chế biến luôn cần nguồn lực rất lớn để dự trữ nguyên liệu. Nguồn lực không chỉ đơn thuần là tài chính mà còn đòi hỏi một diện tích nhà xưởng rộng để dự trữ nguyên liệu.
Cũng theo ông Tô Xuân Phúc, thiếu liên kết khiến DN đầu tư dàn trải, hạn chế khả năng chuyên môn hóa trong các khâu khác nhau của chuỗi cung, làm mất cơ hội thị trường cho các DN.
Theo đánh giá của các chuyên gia, liên kết những khâu trong chuỗi cung ứng là nhu cầu tất yếu của bất cứ một ngành sản xuất kinh doanh nào, bao gồm cả ngành chế biến gỗ. Liên kết đem lại nhiều lợi ích, từ việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tăng tính chuyên môn hóa, giảm rủi ro, mở rộng tiếp cận thị trường và nâng cao lợi ích. Đến nay, liên kết trong ngành chế biến gỗ vẫn còn hạn chế bởi lý do cơ bản là ngành gỗ còn thiếu vắng giá trị cốt lõi hình thành liên kết – hệ thống yếu tố lòng tin và chia sẻ lợi ích công bằng giữa các bên tham gia.
Ông Nguyễn Tôn Quyền – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Vifores – nhấn mạnh: Việc liên kết giữa DN và chủ trồng rừng là rất quan trọng. Bởi, việc liên kết sẽ giải quyết được ba vấn đề cơ bản là nguồn cung nguyên liệu gỗ được đáp ứng, đảm bảo nguồn gốc gỗ, truy xuất gỗ một cách dễ dàng và lợi nhuận của các bên đều đạt được. Việc liên kết này là xu thế tất yếu trên thế giới và của Việt Nam trong tương lai vì liên quan đến sản xuất theo chuỗi.
Cũng theo ông Quyền, không riêng Việt Nam, thị trường thế giới đang yêu cầu khắt khe về việc sử dụng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp. Cụ thể sản phẩm này sẽ đáp ứng được các yêu cầu tại các thị trường khó tính như Mỹ (với Đạo luật Lacey Act) hoặc các nước EU (trong khuôn khổ của Quy định về Gỗ EUTR).
Để đẩy mạnh liên kết trong ngành gỗ, ông Tô Xuân Phúc cho rằng, thể chế là một trong những điều kiện tiên quyết tạo ra sự thay đổi xã hội, bao gồm những thay đổi trong ngành chế biến gỗ.
Thể chế/thay đổi thể chế có thể kìm hãm hoặc khuyến khích sự hình thành và phát triển của liên kết. Ba mô hình liên kết trong ngành chế biến gỗ có tiềm năng đem lại sự thay đổi theo hướng tích cực cho ngành chế biến gỗ, bao gồm: Liên kết giữa công ty cung cấp gỗ nguyên liệu (bao gồm cả công ty khẩu gỗ nguyên liệu) và công ty chế biến gỗ; Liên kết giữa công ty chế biến gỗ và làng nghề; Liên kết giữa công ty chế biến gỗ và hộ trồng rừng.
Thay đổi môi trường thể chế có thể tạo động lực cho các mô hình này phát triển. “Thay đổi thể chế góp phần thúc đẩy các mô hình phát triển. Điều này sẽ tạo được những hiệu ứng lan tỏa trong ngành, góp phần nâng cao hiệu quả của ngành chế biến gỗ, đi theo hướng tăng trưởng về chất lượng và bền vững trong tương lai”, ông Tô Xuân Phúc nói. (Công Thương 18/4)đầu trang(
Nhiều diện tích rừng phòng hộ ven biển xã Vinh Mỹ (huyện Phú Lộc, TT - Huế) bị chặt phá để lấn chiếm đất trái phép. Các cơ quan chức năng vào cuộc kiểm tra, yêu cầu đình chỉ mọi hoạt động phá rừng phòng hộ, lấn chiếm đất, hoàn trả mặt bằng, trồng cây thay thế và xử lý nghiêm những cán bộ liên quan.
Nhưng đã nhiều tháng trôi qua vẫn không được xử lý, có nguy cơ "chìm xuồng" khiến người dân bức xúc "kêu cứu" UBND tỉnh.Ông Lương Quang Thạnh (86 tuổi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc) bức xúc, người dân liên tục làm đơn kêu cứu gửi đến các cơ quan chức năng, UBND huyện Phú Lộc và yêu cầu được gặp trực tiếp Chủ tịch UBND tỉnh để phản ánh tình trạng tái diễn phá rừng phòng hộ ven biển để nuôi tôm trên cát, nguy hại đến cuộc sống nhiều hộ dân.
Khu vực rừng phòng hộ ven biển xã Vinh Mỹ được người dân trồng nhằm chống sạt lở, ngăn gió bão, cát nhảy, bảo vệ người dân vùng ven biển đã bị đốn hạ, cải tạo đất thành ao hồ nuôi tôm, chỉ cách bờ biển chừng vài trăm mét, rất nguy hại đến cuộc sống an sinh nhiều hộ dân ven biển, đặc biệt thôn 1 và 2.
Những sai phạm về phá rừng, lấn chiếm đất để nuôi tôm trái phép tại Vinh Mỹ đã được các cơ quan chức năng làm rõ, yêu cầu xử lý nghiêm. Nhưng đến nay đã nhiều tháng trôi qua, việc xử lý cán bộ để xảy ra sai phạm vẫn chưa được triển khai, chưa hoàn trả mặt bằng và trồng rừng thay thế... vụ việc có nguy cơ “chìm xuồng” khiến người dân trong xã rất bức xúc.
“Khu nuôi tôm chân trắng trên địa bàn xã Vinh Mỹ, tỉnh chỉ cho phép nuôi trên diện tích 19,5ha nhưng diện tích thực của các ao hồ tại Vinh Mỹ hiện “phình” lên hơn 40ha. Nhiều hồ tôm trái phép lấn sát mồ mả của dân. Trong nhiều cuộc họp dân, ông Tô Thanh Liêm - Chủ tịch xã khẳng định, hồ tôm phải cách xa mồ mả dân ít nhất khoảng 50m, nhưng thực tế chỉ cách mồ mả chỉ trên dưới chục mét", ông Đặng Phết, ở thôn 1, Vinh Mỹ lo lắng.
Có mặt ở khu vực rừng phòng hộ ven biển xã Vinh Mỹ, hàng chục hồ tôm trái phép chưa được hoàn trả mặt bằng, trồng cây thay thế, trở thành khu đất chết không một bóng cây. Ở dưới các lòng hồ, người dân chỉ trong thưa thớt một vài cây dương nhỏ yếu ớt, khó sống nổi qua khỏi mùa hè.
Khi nạn chặt phá rừng phòng hộ ven biển, lấn chiếm đất trái phép diễn ra, làm việc với ông Hồ Trọng Cầu - Phó chủ tịch UBND huyện Phú Lộc cho biết, đã yêu cầu UBND xã Vinh Mỹ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc về việc để xảy ra tình trạng phá rừng phòng hộ, sử dụng đất sai mục đích, lấn chiếm đất để làm hồ nuôi tôm trái phép. Phòng TN&MT, Hạt Kiểm lâm huyện rút kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về đất và rừng phòng hộ. UBND huyện cũng đã ban hành quyết định xử phạt hành chính 26 đối tượng, mỗi trường hợp từ 5 - 6 triệu đồng về lĩnh vực đất đai.
Yêu cầu UBND xã Vinh Mỹ tiến hành đình chỉ mọi hoạt động phá rừng phòng hộ, lấn chiếm đất, xây dựng hồ nuôi tôm trái phép. Nguyên nhân dẫn đến để người dân phá rừng phòng hộ là do UBND xã Vinh Mỹ quản lý chưa chặt chẽ, không kiểm tra xử lý. Huyện Phú Lộc đã yêu cầu các hộ dân trồng lại rừng khi có mưa xuống, và chỉ được phép đào ao nuôi tôm sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý và có quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Tìm hiểu của phóng viên, cuối năm 2012 huyện Phú Lộc đã lập thủ tục đề nghị tỉnh cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ ven biển xã Vinh Mỹ để quy hoạch nuôi tôm thẻ chân trắng trên cát. Cuối năm 2014, HĐND tỉnh TT - Huế thông qua Nghị quyết cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng phòng hộ để thực hiện dự án trong năm 2015. Ở xã Vinh Mỹ được cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đất 19,5ha đất rừng phòng hộ sang nuôi tôm cao triều. Khi có thông tin trên, một số người dân xã Vinh Mỹ ồ ạt nhảy vào tự ý chặt phá rừng phòng hộ để lấn chiếm đất đào hồ nuôi tôm.
Trước bức xúc của người dân, ông Nguyễn Văn Cao - Chủ tịch UBND tỉnh TT - Huế yêu cầu Sở NN&PTNT, Sở TN&MT, UBND huyện Phú Lộc kiểm tra, có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, lấn chiếm đất trái phép trên địa bàn, kiểm kê diện tích đất rừng phòng hộ bị lấn chiếm trái phép.
Xử lý các hành vi phá rừng, gây ô nhiễm môi trường trên vùng cát ven biển xã Vinh Mỹ, báo cáo UBND tỉnh trước ngày 15/4/2017. Nạn lấn chiếm đất rừng phòng hộ ven biển để xây dựng hồ nuôi tôm trên cát tại xã Vinh Mỹ đã được UBND tỉnh xử lý dứt điểm. Nhưng gần đây, người dân liên tục có đơn, trực tiếp gặp Chủ tịch UBND tỉnh để phản ánh vấn đề bức xúc này.
Trao đổi với ông Phan Như Ý - Phó chủ tịch UBND xã Vinh Mỹ cho biết, khi chờ quy hoạch có 26 hộ dân tham gia lấn chiếm đất rừng phòng hộ, với diện tích 23,7ha. UBND huyện đã ra quyết định xử lý, yêu cầu trồng lại rừng thay thế.
Công tác trồng rừng cũng được người dân triển khai trước Tết Nguyên đán 2017, nhưng do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, phần lớn cây trồng đã bị chết. Còn việc hoàn thổ trả lại mặt bằng nguyên trạng hay không, xã sẽ xin ý kiến lãnh đạo huyện, rồi mới triển khai được. (Xây Dựng 18/4, Trí Đức)đầu trang(./.