|
Ngày 18 tháng 04 năm 2017
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Hiện nay, nhiều nơi trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa), người dân bắt đầu phát nương, đốt rẫy để trồng trọt. Phần lớn nương rẫy tiếp giáp rừng keo, nếu không cẩn trọng rất dễ gây cháy rừng.
Trưa 14-4, tại xã Sơn Thái, chúng tôi phát hiện đám khói lớn bốc lên từ khu vực đất rẫy ở ven đường Khánh Lê - Lâm Đồng. Tìm đến nơi, chúng tôi thấy lửa bốc lên ngùn ngụt; cách đó không xa là một rừng keo vừa khép tán. Tuy nhiên, chúng tôi không thấy bóng dáng người dân nào tại đây khi rẫy đang được đốt.
Cách đám rẫy đang cháy không xa, ông Hà Tiêm đang đốt rẫy để trỉa bắp. Hỏi chuyện, ông cho biết: “Rẫy của mình thì mình đốt, chứ có đốt rừng đâu. Giờ đã vào mùa vụ, nếu không đốt thì không kịp làm rẫy…”. Khi chúng tôi hỏi việc đốt nương có báo với chính quyền địa phương, lực lượng chức năng không thì ông Tiêm nói: “Tôi đã cam kết với xã, khi đốt rẫy không để cháy lan vào rừng. Vì thế, trước khi đốt, tôi đã làm đường ranh cản lửa, không lo cháy lan vào rừng”.
Tình trạng đốt rẫy đang khiến cho nhiều hộ trồng keo tỏ ra lo lắng. Toàn huyện Khánh Vĩnh hiện nay có hơn 4.000ha keo, diện tích hầu hết nằm cạnh các nương rẫy, rất dễ bị cháy nếu người đốt rẫy không thận trọng. Lo sợ rừng keo của gia đình bị cháy, những ngày qua, ông Hoàng Văn Trung (xã Sơn Thái) đã dọn thực bì, làm đường ranh cản lửa, cắt cử người trông coi hàng ngày đối với những diện tích rừng keo nằm sát rẫy của người dân.
Tương tự, ông Pi Năng Là Thê (xã Khánh Thượng) cho biết: “Gia đình tôi có 15ha keo, trong đó có nhiều diện tích keo chưa khép tán, nằm sát bên rẫy của các hộ khác. Dù đã cẩn thận phát dọn thực bì, làm đường ranh cản lửa, nhưng cứ thấy các hộ xung quanh đốt rẫy là tôi lại lo lắng, trực tiếp đi xem có ảnh hưởng đến rừng keo của mình hay không”.
Theo bà Cà Tam - Chủ tịch UBND xã Sơn Thái, địa phương là một trong số các xã có diện tích rừng lớn của huyện Khánh Vĩnh. Trong khi đó, hơn 60% diện tích đất sản xuất của người dân là nương rẫy. Mùa này, người dân bắt đầu đốt rẫy, đây cũng là thời điểm nguy cơ cháy rừng rất lớn, nhất là rừng keo.
Chính vì vậy, chính quyền địa phương đã chủ động tuyên truyền, vận động người dân hết sức cẩn trọng, khi đốt rẫy phải báo với chính quyền địa phương, lực lượng chức năng để có sự phối hợp, kiểm soát; vận động người dân cam kết khi đốt rẫy không để cháy lan vào rừng. Nhờ kiểm soát tốt nên trên địa bàn không xảy ra vụ đốt rẫy nào cháy lan vào rừng.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh, trên địa bàn huyện có hơn 86.000ha rừng. Trong đó, gần 13.000ha (chủ yếu là rừng trồng) nằm trong diện dễ cháy, phân bố khắp các địa phương trong huyện.
Ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Khánh Vĩnh cho biết: “Từ nay đến tháng 8 là thời gian cao điểm của nắng nóng, rất dễ dẫn đến cháy rừng. Vì thế, các đơn vị đã tăng cường bổ sung lực lượng, công cụ phòng cháy chữa cháy, thực hiện xong gần 60km đường ranh cản lửa, phát dọn thực bì và vật liệu cháy. Đồng thời, địa phương vận động người dân ký cam kết, chỉ đốt rẫy khi có sự kiểm soát của các lực lượng chức năng”.
Ngoài ra, địa phương chú trọng đến việc hướng dẫn cho người dân đốt rẫy đúng quy trình; vận động người dân sử dụng lửa cẩn trọng; làm cam kết phòng cháy chữa cháy rừng khi đốt nương, làm rẫy… Hiện nay, lực lượng Kiểm lâm địa bàn đang phối hợp với chính quyền cơ sở nắm bắt việc đốt rẫy của người dân để có hướng dẫn, giám sát…(Báo Khánh Hòa 17/4, Bích La – Nam Anh)đầu trang(
Việc cảnh báo người dân, công tác PCCC rừng luôn được tỉnh Quảng Nam sẵn sàng, chuẩn bị chu đáo nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra.
Hiện tỉnh Quảng Nam bắt đầu vào mùa nắng hạn nên tình trạng cháy rừng tại các huyện miền núi luôn tiềm ẩn nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Do vậy, cùng với việc xây dựng các đường băng cản lửa, đầu tư vật dụng phòng chống cháy, chính quyền và ngành kiểm lâm còn thường xuyên tổ chức kiểm tra, truy quét các đối tượng vi phạm lâm luật dễ gây ra cháy.
Tỉnh Quảng Nam hiện có gần 426.000ha diện tích đất rừng, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 388.800ha và rừng trồng là trên 37.100ha. Trước tình hình thời tiết nắng nóng diễn biến phức tạp, bên cạnh việc tuyên truyền, cảnh báo người dân, các ngành và chính quyền các cấp ở tỉnh Quảng Nam sẽ triển khai nhiều giải pháp tích cực nhằm hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng có thể xảy ra.
Từ đầu năm đến nay, tuy tỉnh Quảng Nam chưa có vụ cháy lớn nào xảy ra nhưng một số nơi vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra cháy như các huyện Đông Giang, Phước Sơn, Nam Giang… (Đài Truyền Hình VN 17/4, Công Dũng)đầu trang(
Như Báo Văn Hóa đã đưa tin, ngày 11.4, UBND tỉnh Khánh Hòa có buổi làm việc với đoàn công tác của Quốc hội do Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển dẫn đầu.
Tại cuộc họp này, giải trình về việc rừng phòng hộ đầu nguồn tỉnh Khánh Hòa bị chặt phá, ông Nguyễn Tuấn Kiệt, Phó giám đốc Sở NN&PTNT Khánh Hòa thừa nhận, việc rừng đầu nguồn bị phá là có thật. “Thực tế rừng có bị phá, nhưng không nghiêm trọng đâu. So với các tỉnh Tây Nguyên thì Khánh Hòa còn thua xa, vì tỉnh này chưa chuyển đổi bất cứ một hecta đất rừng nghèo kiệt nào để trồng cây công nghiệp, cao su”, ông Kiệt nói.
Giải trình về việc để mất rừng với đoàn công tác của Quốc hội, và vì sao đến khi báo chí thông tin, Khánh Hòa mới biết có phá rừng, ông Kiệt khẳng định, vụ phá rừng ở tiểu khu 205, rừng phòng hộ đầu nguồn xã Khánh Phú (huyện Khánh Vĩnh) đã được đơn vị quản lý rừng phát hiện từ trước đó (?!).
“Do vì bị bắt gỗ, lâm tặc đã thông tin, chở các nhà báo đi ghi nhận, đưa tin để trả đũa. Điểm phá rừng mà báo chí nêu rất xa, cách trung tâm huyện Khánh Vĩnh từ 12-15 km, điều kiện đi lại rất khó khăn. Vấn đề là, tại sao rừng mênh mông, sâu như thế nhà báo lại phát hiện được”, ông Kiệt đặt câu hỏi.
Rồi vị phó giám đốc tự trả lời: Lý do là gần đây chúng tôi tổ chức truy quét rất quyết liệt nạn phá rừng. Khối lượng gỗ sót lại tại trong rừng phòng hộ Khánh Phú (Khánh Vĩnh) là do chủ rừng phát hiện trước và đang vận chuyển về.
Do khai thác gỗ rừng trái phép và bị tịch thu gỗ nên các lâm tặc bức xúc và gọi các nhà báo đến, có người hướng dẫn và chở vào quay phim đưa lên giúp. Tuy nhiên, khi phóng viên thắc mắc, vậy phía cơ quan chức năng đã điều tra ra ai là người phá rừng chưa và vì sao ông khẳng định lâm tặc chở nhà báo vào rừng quay phim, ghi hình?
Lúc này ông Kiệt mới hạ giọng: Đó chỉ là nhận định của tôi thôi..., và đến nay chưa tìm ra người phá rừng, cung cấp thông tin cho nhà báo. Cũng theo ông Kiệt, Sở NN&PTNT đã yêu cầu hạn chót ngày 14.4, chủ rừng phải báo cáo toàn bộ vụ việc để xử lý.
Như Báo Văn Hóa đã có loạt bài đã phản ánh, đầu tháng 3.2017, tại tiểu khu 205, rừng phòng hộ đầu nguồn xã Khánh Phú (huyện Khánh Vĩnh) bị lâm tặc chặt phá tan hoang. Sau khi thâm nhập vào đây, phóng viên chứng kiến có đến hàng chục bãi tập kết gỗ mới bị chặt hạ nằm rải rác khắp tiểu khu 205.
Trong đó có những cây gỗ có đường kính lên đến cả mét. Vào thời điểm chúng tôi phản ánh vụ phá rừng (ngày 7.3), trả lời báo chí, ông Lê Tấn Bản - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Khánh Hòa, lúc đó cho biết chưa hề biết về vụ phá rừng, cũng chưa nghe cấp dưới báo cáo lên. Chưa hết, trái với ý kiến của ông Nguyễn Tuấn Kiệt báo cáo với đoàn đại biểu Quốc hội về việc đường vào nơi phá rừng rất khó đi. Thực tế, đường vào rừng phòng hộ được lâm tặc dùng máy múc loại lớn san ủi, xe tải loại lớn có thể đi sâu vào trong rừng được.
Trao đổi với Báo Văn Hóa, sáng 13.4, ông Nguyễn Văn Tân, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm sản Khánh Hòa - đơn vị chủ rừng, cho biết đã tiến hành thi hành kỷ luật với hình thức cách chức Trạm trưởng Trạm quản lý bảo vệ rừng Khánh Phú đối với ông Phạm Văn Tâm và ông Lê Xuân Nghĩa, Trạm phó vì để xảy ra phá rừng nghiêm trọng. “Hai người này bị cách chức và điều chuyển công tác khác. Hiện vụ việc vẫn chờ tỉnh có ý kiến chỉ đạo, cũng như xử lý. Chiều qua, tôi vừa ký báo cáo gửi lên Sở NN&PTNT báo cáo toàn bộ vụ việc”, ông Tân thông tin. (Văn Hóa 17/4, Nam Đàn)đầu trang(
Ngày 17.4, ông Phạm Văn Lộc, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh, cho biết đơn vị đang phối hợp với ngành chức năng của huyện Vân Canh xác minh, làm rõ các đối tượng liên quan trong vụ khai thác trái phép hơn 8m3 gỗ xảy ra tại khoảnh 1, tiểu khu 372, xã Canh Liên (Vân Canh).
Trước đó qua tin báo của chủ rừng là Công ty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh, lực lượng Kiểm lâm huyện Vân Canh tổ chức kiểm tra, phát hiện tại khu vực rừng trên có 722 thanh gỗ, loại gỗ dầu rái, xoan đào, huỷnh, chò chỉ, sâng mây, thuộc nhóm III đến nhóm VII, khối lượng 8,205m3.
“Bước đầu qua xác minh bà Đinh Thị Bơi (SN 1968, thường trú tại làng Hà Giao, xã Canh Liên, huyện Vân Canh) đã khai nhận là nhờ con rể và cháu cưa xẻ số gỗ trên về làm nhà. Tuy vậy đến nay, bà Bơi cù cưa, chưa chịu ký vào biên bản vi phạm vì một số lý do khác nhau. Vì vậy, lực lượng Kiểm lâm huyện tiếp tục điều tra, làm rõ vụ việc để có hướng xử lý theo quy định pháp luật”, ông Lộc cho biết thêm.
Về vụ việc ông Đinh Văn Dô và ông Đinh Văn Yên (cùng trú làng Kon Lót, xã Canh Liên, huyện Vân Canh) đứng ra thuê người vào khai thác trái phép 8,276m3 gỗ tại khu vực rừng do Công ty TNHH Lâm nghiệp Hà Thanh quản lý thuộc tiểu khu 361, xã Canh Liên vào đầu tháng 3.2017. Ông Phạm Văn Lộc, xác nhận: Hạt Kiểm lâm huyện Vân Canh đã báo cáo toàn bộ vụ việc, tham mưu cho UBND huyện Vân Canh để ra quyết định xử phạt hành chính. (Báo Bình Định 17/4, Trọng Lợi)đầu trang(
Một trong những lý do được nhà chức trách đưa ra để giải thích việc mất rừng ở Gia Lai, là diện tích lớn mà lực lượng mỏng. Thế nhưng tại làng Grôn, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ (Gia Lai), hai ông nông dân canh giữ khu rừng giáng hương 2.000 cây gần 20 năm qua, lại không mất cây nào.
Đó là ông Nguyễn Hữu Mạnh (SN 1962) và Rơ Mah Kem (1966).Anh Trịnh Xuân Hữu – Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn xã Kriêng bảo: “Tôi đố các anh đi cả tỉnh Gia Lai này mà tìm thấy khu rừng giáng hương nào như ở làng Grôn”.
Trước khi vào khu rừng giáng hương, chúng tôi được ông Mạnh cảnh báo là không được ăn no bởi đường xấu và dốc. Trên đường đi, ông Mạnh kể: “Cách đây 20 năm, lúc còn trẻ, buôn làng đã tin tưởng giao phó trách nhiệm canh giữ, chăm sóc khu rừng quý cho chúng tôi. Không phụ sự tín nhiệm, dù cực khổ, đồi dốc và bụi gai nhiều, cả khi mưa trút nước hay nắng cháy chúng tôi cũng đều đặn đi giữ rừng”.
Vừa đến nơi, ông Kem vội luồn người vào khoảng rừng rậm rồi mất hút. “Kem đi tuần đó, trước nay vẫn thế, chúng tôi chia khu rừng làm hai để kiểm tra, sau đó hẹn gặp nhau ở điểm cuối. Nếu có lâm tặc, ông Kem sẽ hú lên một tiếng thật lớn, người dân trong làng sẽ biết mà ùa ra vây bắt. Như vậy vừa tiết kiệm được thời gian, vừa đi được hết các góc rừng. Rồi lát nữa chúng ta sẽ thấy ông Kem ở cuối góc rừng kia thôi, các anh đừng lo” - Ông Mạnh lý giải hành động “lạ” của ông Kem.
Tháng 4, rừng giáng hương thay lá với những chồi búp non màu đỏ đậm. Cây được lột xác, thay tấm áo mới. Bên ngoài trời nắng như thiêu đốt nhưng bên dưới tán lá mát lạnh như có điều hòa nhiệt độ. “Khu rừng này là nơi cư trú của nhiều loài chim như sáo, chào mào, chích chòe… Đứng giữa rừng ta sẽ cảm nhận được mùi thơm thoang thoảng của lá cây, cũng bởi vậy mà có tên là giáng hương. Hít một hơi thật sâu sẽ có cảm giác sảng khoái như nhai kẹo cao su” – anh Hữu bảo.
Mỗi cây đều được ông Mạnh và Kem đánh số thứ tự, kể cả những cây nhỏ nhất. Theo ông Mạnh, làm như vậy sẽ tiện cho việc kiểm tra và giám sát rừng giáng hương, đề phòng bị mất trộm. Thêm nữa, lâm tặc cũng khó lòng chạy thoát vì ở đây chỉ có con đường duy nhất, đi ngang nhà 50 hộ dân người dân tộc Ja Rai ở làng Grôn.
Bởi vậy, khu rừng giáng hương này như được lá chắn “thép” bảo vệ khỏi lưỡi cưa của lâm tặc. “Lâm tặc chỉ cần đặt chân vào rừng, mình hú lên một tiếng, dân làng sẽ đổ tới” - Ông Mạnh nói và kể rằng cách đây vài tuần có hai lâm tặc mang cưa máy vào rừng định trộm giáng hương nhưng đã bị người dân vây bắt, “dạy” cho một bài học.
Còn theo ông Kem, người Ja Rai ở làng Grôn rất quý khu rừng giáng hương này, xem đó là rừng thiêng. Họ quan niệm rằng, những đồi cỏ, bụi gai sẽ nhanh chóng bị lụi tàn nhưng rừng cây cổ thụ mãi trường tồn, đứng vững qua bao thế hệ.
Dân làng bảo vệ, chăm sóc rừng giáng hương xanh tươi, đổi lại khu rừng làm lá chắn khi bão tố về. Người trong làng đặt ra các điều luật để bảo vệ rừng, không cho ai xâm phạm. Người dân nếu lấy một cành củi về nấu cơm sẽ bị phạt trồng 100 cây khác thế vào.
Khi những người Ja Rai ở làng Grôn đã già yếu, họ căn dặn con cháu, các thế hệ truyền nhau phải giữ rừng, xem đó là linh hồn của buôn làng.
“Ngoài việc người dân làng Grôn tình nguyện hiến tặng 20 cây giáng hương để tỉnh Gia Lai trồng quanh tượng Bác Hồ ở quảng trường Đại Đoàn Kết, chưa ai có thể lấy đi một nhánh gỗ hương” – ông Kem nói bằng giọng tự hào.
Tiếp lời, ông Mạnh khoe với chúng tôi có tới 1.200 cây giáng hương lớn, nhiều cây hai người ôm và 800 cây nhỏ có đường kính 30cm trong khu rừng này. Khu vực này có diện tích 3,8ha.
Gỗ giáng hương có giá trị rất cao, là lựa chọn hàng đầu của dân chơi gỗ, bởi thế mà lâm tặc luôn lùng sục khắp nơi, chặt phá, lấy cả mẩu gỗ bằng cổ tay. 1m3 giáng hương có giá hàng trăm triệu đồng, nhiều người cũng sẵn sàng mua vì mùi thơm dễ chịu, gỗ để hàng chục năm cũng không sao.
Và những cây có đường kính 80cm đến hai người ôm trong khu rừng giáng hương làng Grôn là miếng mồi béo, luôn bị lâm tặc nhòm ngó. Mới đây, ở huyện Kbang (Gia Lai), 21 lâm tặc đã lên kế hoạch vào lâm phần của công ty lâm nghiệp Krông Pa để trộm hai cây giáng hương với giá trị hàng tỷ đồng.
Sau đó 21 đối tượng này bị bắt, lực lượng chức năng đã khởi tố vụ án. Vậy mới biết, để giữ được khu rừng giáng hương suốt 20 năm vẫn nguyên vẹn thì hai ông Mạnh và Kem phải trải qua biết bao nguy hiểm, sự cám dỗ. “Việc nhận tin nhắn dọa giết, lâm tặc đến đòi phá khu rừng, chúng tôi thường xuyên phải đối mặt. Nhưng đến đâu thì đến, quyết bảo vệ rừng” – Ông Mạnh bảo.
Ông tâm sự, nhiều đêm cực khổ, gia đình nghèo nên muốn bỏ cuộc, mưu sinh bằng nghề khác nhưng vì đã “yêu”, lại không thể rời rừng xanh.
“Tôi cùng vợ con từ Quảng Bình vào đây lập nghiệp đã hơn 20 năm, chắt chiu lắm cũng chỉ đủ tiền nuôi con ăn học. Những năm đầu phải ăn cơm độn sắn. Nhiều lúc bạn bè cho là mình điên vì cứ lo chuyện giữ rừng mà không quan tâm đến vợ con, việc nhà” – ông Mạnh nói và cho biết, mỗi tháng được UBND xã hỗ trợ 2 triệu đồng tiền công giữ rừng, không được biên chế nên chỉ có thể làm khi còn sức.
Nhớ về những ngày đầu đi canh khu rừng cùng ông Kem, ông Mạnh cho biết lúc đó hai người tự tay chặt lá cây, tre nứa để dựng tạm một căn chòi nhỏ. Cực khổ hơn khi không điện, nước, thứ ánh sáng duy nhất là từ chiếc đèn dầu lập lòe. Đến ngày mưa, gió bão thổi đèn tắt tối om, sấm chớp ùng oàng nhưng ý chí không vì thế mà lay chuyển.
Trong khi đó, vũ khí bảo vệ rừng cũng chỉ là hai con dao rựa. “Việc giữ rừng rất nguy hiểm vì lâm tặc đi thành băng nhóm, rất liều lĩnh, họ sẵn sàng tấn công nếu có ai ngăn cản. Tôi lo sợ khi thấy chồng cầm rựa vào rừng, làm sao chống trả lại đám lâm tặc hung hãn kia. Lúc nào ông nhà tôi cũng nói hết năm sau sẽ về nhà tìm việc khác. Vậy mà, đã gần 20 năm nói câu đó rồi, giờ chỉ biết ủng hộ thôi” – Vợ ông Mạnh bảo.
Giữa trưa, cái nắng cháy thịt da, trong chòi canh rừng, hai lão nông dân giữ rừng chiêu đãi chúng tôi bằng vài gói mì tôm, được bỏ chung vào nồi nước đang sôi, khoắng đũa vài cái rồi vớt ra ăn. Cầm vạt áo lau mồ hôi, ông Kem kể: “Mình sống ở làng Grôn từ nhỏ. Buổi trưa cùng lũ bạn lên rừng giáng hương bắt chim, tuổi thơ chỉ có nơi đây là vui nhất, tiền đâu mà ra phố thị”.
Việc đi lại quanh khu rừng cả những ngày nắng lẫn mùa mưa khiến da ông Kem đen nhánh, rắn chắc. Đều đặn mỗi ngày, hai nông dân nay vào rừng phát bụi rậm chống cháy. Có đêm, không ngủ được, cả hai cùng thức dậy đi tuần. “Chúng tôi coi nhau như anh em ruột thịt. Vài ngày, chủ tịch xã mang đồ nhậu vào, cả ba cùng tâm sự. Đơn giản, nhưng mình chỉ cần thế thôi” – ông Kem nói.
Và một lý do nữa khiến khu rừng giáng hương không bị mất trộm, là từ khi làm chủ tịch UBND xã Kriêng từ năm 1996 đến 2015, ông Rơ Mah Le đã đề nghị phải giữ khu rừng 2.000 cây giáng hương này và được lãnh đạo huyện đồng tình. Một tuần, ông Le vào thăm rừng 3 lần. Cũng chính sự yêu rừng của vị chủ tịch xã này, cộng thêm người dân làng Grôn nhiệt tình giúp đỡ ông Mạnh và Kem giữ rừng, khu rừng vẫn tỏa hương tới hôm nay. (Tiền Phong 17/4, tr9, Kim Văn)đầu trang(
Thực hiện văn bản 2434 ngày 23/3/2017 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành văn bản 928 ngày 08/4/2017 chỉ đạo thực hiện nghiêm các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Ủy ban nhân dân tỉnh yêu cầu giám đốc các sở, ngành, chủ tịch UBND các huyện, thành phố tiếp tục tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND tỉnh tại văn bản 623 ngày 9/3/2017 về việc tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng; giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương, đơn vị liên quan thực hiện nghiêm Chỉ thị 13 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng; Chỉ thị 1685 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ.
Cùng với đó, UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an, Quân đội, Dân quân tự vệ xã và lực lượng bảo vệ rừng của chủ rừng tăng cường kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, khai thác, vận chuyển, mua bán lâm sản, động vật hoang dã trái pháp luật.
Quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn; kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ nguồn nguyên liệu đầu vào, đầu ra của các cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các cơ sở chế biến kinh doanh lâm sản trái phép. Bố trí công chức kiểm lâm có đủ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức về phụ trách các xã có rừng, quản lý, cập nhật, nắm chắc diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn quản lý.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao UBND các huyện, thành phố tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở về quản lý, bảo vệ rừng theo quy định tại Quyết định 07 ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ đạo UBND các xã có rừng thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp, trách nhiệm bảo vệ rừng của UBND cấp xã theo quy định pháp luật.
Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, thông báo công khai trên các phương tiện thông tin các hành vi vi phạm.
Chỉ đạo lực lượng Kiểm lâm, Công an, Quân đội, Chủ rừng trên địa bàn huyện, thành phố đẩy mạnh các hoạt động kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn, xử lý các hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, chế biến lâm sản, phá rừng, săn bắt động vật rừng trái pháp luật; rà soát, lập danh sách các đối tượng phá rừng, các “đầu nậu” chuyên vận chuyển, kinh doanh lâm sản trái pháp luật để có biện pháp tuyên truyền, giáo dục, quản lý.
Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh được giao nhiệm vụ chủ động, phối hợp với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng theo chức năng, nhiệm vụ được giao; tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ rừng giữa 3 lực lượng Công an, Quân đội, Kiểm lâm; xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng và các đối tượng có hành vi chống người thi hành công vụ.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Tuyên Quang phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông tin kịp thời trên phương tiện thông tin đại chúng hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh cho cán bộ và nhân dân trong tỉnh biết; xây dựng phóng sự tuyên truyền về các mô hình quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả; đưa tin về gương các tập thể, cá nhân điển hình trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; phản ánh những cơ quan, đơn vị, địa phương, chủ rừng thiếu trách nhiệm để xảy ra phá rừng, mất rừng, cháy rừng trái pháp luật.
Ủy ban nhân dân tỉnh cũng chỉ đạo mạnh mẽ để các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng được thực thi nghiêm túc: Địa phương, đơn vị nào để xảy ra tình trạng phá rừng, lấn chiếm sử dụng đất sai mục đích; cháy rừng nghiêm trọng mà không có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, thì lãnh đạo địa phương, đơn vị đó chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh. (Báo Tuyên Quang 17/4, Xuân Tùng)đầu trang(
Sau khi báo chí phản ánh vụ việc các nhóm lâm tặc đi trên xe máy độ chế kéo vào tàn phá rừng ở xã Đắk Xú và Đắk Nông (huyện Ngọc Hồi), UBND tỉnh Kon Tum đã có văn bản yêu cầu kiểm tra, xác minh.
Theo đó, giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với UBND huyện Ngọc Hồi và các đơn vị có liên quan tổ chức kiểm tra, xác minh, làm rõ nội dung báo chí phản ánh. Sau đó báo cáo, tham mưu cho UBND tỉnh xem xét.
Trước đó, như Báo GD&TĐ đã phản ánh, dù Thủ tướng đã có chỉ đạo “đóng cửa rừng”. Vậy nhưng, rừng ở huyện biên giới Ngọc Hồi (Kon Tum) vẫn bị tàn phá không thương tiếc. (Giáo Dục & Thời Đại 17/5, Nguyễn Dũng)đầu trang(
Thời kỳ rầm rộ nhất, dân tứ xứ đổ về Xuân Lẹ (huyện Thường Xuân, Thanh Hóa) như trẩy hội, khắp miền heo hút đại ngàn bỗng chốc trở nên ồn ào, huyên náo lạ thường.
Hành trình đi tìm giấc mơ đổi đời của các phu đá kéo dài suốt từ tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác đã biến những cánh rừng nguyên sinh màu mỡ trở nên xác xơ, tiêu điều.
Cách trụ sở UBND xã Xuân Lẹ chỉ vài km nhưng chúng tôi phải đánh vật trên “con ngựa sắt” ngót một giờ đồng hồ mới đặt chân được đến địa phận suối làng Vèn, đoạn chảy qua thôn Liên Sơn, nơi khởi điểm của tình trạng phá rừng.
Tận mắt chứng kiến những gì đang xảy ra, chúng tôi không khỏi hoang mang trước thực trạng bất ổn an ninh rừng nơi đây, công khai có, lén lút có, tựu chung là muôn hình vạn trạng cách thức.
Tìm kiếm dọc 2 bên mép suối, phát hiện thấy khá nhiều thân gỗ tròn, gỗ xẻ kích thước tương đối lớn được các đối tượng “lâm tặc” mượn sức nước kéo về, một số tấm nằm lộ thiên trên bề mặt, nhiều tấm khác được ngụy trang khéo léo bằng cách phủ cỏ cây lên trên, nhìn thoáng qua rất khó nhận biết.
Sau hàng giờ kiên trì băng rừng, lội suối, dấu vết tàn phá rừng dần hiện rõ trước mắt. Để tiện bề vận chuyển gỗ đến điểm tập kết, các đối tượng đã chủ động đào hàng loạt rãnh sâu chi chít khắp tuyến đường.
Thủ đoạn chúng thường dùng là cột gỗ vào ách trâu, phòng khi bị lực lượng chức năng phát hiện là lập tức tháo ách rồi cả người lẫn trâu chạy tuốt vào rừng, thành thử khi bị tịch thu thì số lâm sản trên nghiễm nhiêm trở thành gỗ vô chủ.
Ghi nhận thực tế cho thấy, bắt đầu từ địa phận thác thiêng Trai Gái đến khu vực thác Xà Pạc, địa điểm giáp ranh với xã Thông Thụ (huyện Quế Phong, Nghệ An) diễn biến tình hình rất phức tạp. Các đối tượng “lâm tặc” hết sức ranh ma, xảo quyệt, thay vì chặt phá ồ ạt và khai thác ở một vị trí như trước đây, giờ chúng chia thành nhiều điểm lẻ nhằm tránh bị phát giác. Đốn hạ xong, chúng lặng lẽ rút ra ngoài nghe ngóng động tĩnh, khi thấy tình hình yên ổn mới quay lại triển khai bước tiếp theo.
Trong phạm vi bán kính khoảng 2km, nhiều thân cây lớn, nhỏ đủ mọi kích cỡ bị đốn phăng không thương tiếc. Hàng loạt cây khai thác từ lâu đã xuất hiện dấu hiệu mục nát, ngược lại có những cây kích thước một vòng tay người ôm không xuể, dài trên dưới hai chục mét hiện vẫn nằm chỏng chơ giữa chốn rừng già.
Giai đoạn từ 2007 - 2014, cơn sốt “đá quý” như một cơn lốc tràn qua Xuân Lẹ, khắp miền heo hút đại ngàn bỗng chốc trở nên ồn ào, huyên náo lạ thường.
Hành trình đi tìm giấc mơ đổi đời của các phu đá kéo dài suốt từ tháng này qua tháng khác, hết năm này qua năm khác đã biến những cánh rừng nguyên sinh màu mỡ, căng tràn nhựa sống trở nên xác xơ, tiêu điều.
Để ngăn chặn tình trạng chảy máu rừng đang diễn ra từng ngày từng giờ, cấp ủy, chính quyền huyện Thường Xuân và xã Xuân Lẹ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, cùng phối hợp với các ngành chức năng tổ chức nhiều đợt kiểm tra, truy quét gắt gao.
Tuy nhiên, dường như mọi cố gắng chỉ như muối bỏ bể, tình hình chỉ tạm lắng xuống một thời gian rồi đâu lại vào đấy, các đối tượng khai thác trái phép vẫn bất chấp, ngày đêm thi nhau “đục khoét” tài nguyên rừng. Dường như những ký ức đau thương đã sớm lùi sâu vào dĩ vãng, với họ đơn giản còn rừng là còn hi vọng, còn níu kéo, còn đánh đổi.
Sắm vai tốp thợ săn phong lan rừng, sau nửa ngày trời miệt mài len lỏi, luồn lách khắp những cánh rừng đại ngàn, rốt cuộc chúng tôi cũng tìm thấy những tàn tích mà các phu đá bỏ lại. Đó là những hố sâu thăm thẳm được đục khoét bằng mọi hình thức, nhiều mỏ đào theo phương thẳng đứng, lại có những mỏ đào kiểu hàm ếch, càng vào sâu diện tích càng hẹp dần như thắt cổ chai.
Tất cả đều được thực hiện bằng phương pháp thủ công thô sơ, đào đến đâu chuyển đất lên đến đấy, tuyệt nhiên không làm xà lan chống đỡ, vì thế việc sập hầm xảy ra như cơm bữa. Ở đây, lằn ranh giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong tích tắc.
Khi chúng tôi thông báo đã trực tiếp vào hiện trường xác minh và có đủ cơ sở khẳng định tình trạng an ninh rừng tại Xuân Lẹ còn nhiều bất ổn, lúc này ông Lưu mới nói: “Tất nhiên vẫn còn xảy ra nhưng tình hình đã có nhiều chuyển biển”.
Cũng tại thời điểm nói trên, trong khuân viên trụ sở ủy ban có rất nhiều tấm gỗ xẻ vuông vắn được đặt chồng lên nhau. Ban đầu, ông Lưu cho rằng tất cả là gỗ tạp, không có nhiều giá trị được dùng để gia cố lại cơ sở hạ tầng làm việc. Thế nhưng, khi chúng tôi đưa ra những lập luận xác đáng, vị Chủ tịch xã lại lập tức chống chế: “Đây là gỗ vô chủ do các đối tượng lâm tặc bỏ lại, gồm tổng cộng 12 tấm, trong đó có 2 tấm gỗ sến, 3 tấm gỗ táu”.
Trao đổi với chúng tôi, ông Phạm Thăng Long, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thường Xuân cũng thừa nhận, diễn biến rừng ở xã Xuân Lẹ chưa ổn định. (Nông nghiệp Việt Nam 17/4, tr5, Việt Khánh)đầu trang(
Ông Cao Sĩ Phượng, Giám đốc Trung tâm y tế huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) cùng Phó giám đốc Phạm Công Thành, lái xe Võ Anh Tý bị kiểm lâm huyện phạt mỗi người 3 triệu đồng vì dùng xe công vận chuyển gỗ hương giáng lậu.
Theo đó, ngày 17.4, ông Hà Đức Trường, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Tuyên Hóa cho biết, ông đã ra 3 quyết định số 001149, 001150, 001148 đối với ông Cao Sĩ Phượng, Phạm Công Thành, Võ Anh Tý xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản vì đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính vận chuyển lâm sản trái pháp luật với vai trò là chủ lâm sản quy định tại điểm đ khoản 1 điều 32 nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11.11.2013 của Chính phủ.
Hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật 4 gốc hương giáng, trọng lượng 60kg. Cả 3 ông trên mỗi người bị phạt 3 triệu đồng. Biên lai nộp phạt của 3 ông này đã được thực hiện nộp phạt vào công quỹ Nhà nước tại huyện Tuyên Hóa.
Trước đó, ngày 27.3, người dân quanh khu vực loài Voọc gáy trắng quý hiếm ở Đồng Hóa, Thạch Hóa (Tuyên Hóa, Quảng Bình) rất bức xúc khi một chiếc xe công của Trung tâm y tế huyện Tuyên Hóa đến bốc gỗ hương giáng lậu với sự có mặt của giám đốc và phó giám đốc trung tâm này.
Lúc 9h 4 phút sáng, tại thôn Đồng Giang, xã Đồng Hóa, 4 khúc hương giáng bị khai thác lậu trong khu vực bảo tồn loài Voọc gáy trắng quý hiếm trong sách đỏ thế giới bị đưa lên xe phục vụ cho phòng chống dịch bệnh 73M-00045, chở theo là giám đốc trung tâm ông Cao Sĩ Phượng cùng phó giám đốc Phạm Công Thành.
Tại đây, ông Phượng chỉ huy bốc gỗ hương giáng lậu, ông Thành phụ họa sắp xếp, sau khi bốc được 4 khúc gỗ vừa ý, ông Phượng vào trả tiền. Được biết, mỗi khúc mua tại cội như thế từ 2-5 triệu đồng, chưa chế tác. Ông Cao Sĩ Phượng khi được hỏi vì sao dùng xe công chở gỗ lậu thì trả lời do anh em trạm y tế gần đó nhờ chở. Gỗ của anh em vì sao tự tay trả tiền, ông Phượng nại ra là trả tiền việc khác.
Từ đó, ông Phượng báo cáo với cấp trên của mình là: “Xe công dùng chở hương giáng lậu ở khu vực xã Đồng Hóa, Thạch Hóa là không có cơ sở, không đúng thực tế vì xe cơ quan được quản lý rất chặt chẽ theo phân cấp, theo quy chế và chỉ sử dụng cho mục đích công việc phục vụ cho chuyên môn”.
Để qua mặt cấp trên, ông Phượng còn ép buộc hai nhân viên cấp dưới là Trần Giang Nam, Nguyễn Tuấn Việt đứng ra nhận gỗ lậu là gỗ của họ và xin giao nộp cơ quan chức năng.
Tuy nhiên lực lượng kiểm lâm đã chứng minh điều đó không đúng sự thật, cuối cùng ông Phượng, ông Thành thừa nhận hành vi dùng xe công chở gỗ lậu do chính họ sở hữu. (Một Thế Giới 17/4, Quốc Nam)đầu trang(
UBND tỉnh vừa có công văn chỉ đạo các sở, ngành, địa phương liên quan thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng.
Theo đó, UBND tỉnh giao Sở NN-PTNT chủ trì, phối hợp với các sở ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố khẩn trương nghiên cứu, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo của Bộ NN-PTNT về việc thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ rừng để ngăn chặn kịp thời và xử lý dứt điểm tình trạng chặt phá rừng.
Các lực lượng liên ngành (kiểm lâm, công an, quân đội) phối hợp chính quyền cơ sở, hỗ trợ chủ rừng kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, khai thác rừng trái pháp luật, mua bán lâm sản, động vật hoang dã, kiên quyết xóa các “điểm nóng” về phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật.
Đồng thời, quản lý chặt chẽ các cơ sở chế biến gỗ, kiên quyết đình chỉ hoạt động cơ sở chế biến gỗ vi phạm các quy định của Nhà nước; thu hồi, không cấp mới giấy phép kinh doanh đối với cơ sở chế biến gỗ không bảo đảm nguồn nguyên liệu hợp pháp hoặc không phù hợp với quy hoạch các cơ sở chế biến gỗ trên địa bàn...(Báo Bà Rịa – Vũng Tàu 17/4, Ngô Thanh)đầu trang(
Ngày 17/4, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau Lê Văn Hải xác nhận, việc người dân phát hiện một cây gỗ "khủng" có đường kính 1,1 m, chiều dài hơn 17m bị chôn vùi dưới độ sâu hơn 1,5m ở gần khu vực cửa biển Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) là có thật.
Tuy nhận định ban đầu đây là loại cây gỗ dầu, nhưng cơ quan chức năng vẫn chưa xác định được chính xác số năm tuổi và giá trị thực của cây gỗ này.
Trước sự việc này, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hiển kết hợp chính quyền địa phương đến hiện trường tiến hành lập biên bản vụ việc, đồng thời bàn giao cây gỗ quý này cho hộ ông Lượng Văn Gọi (cư ngụ khóm 6, thị trấn Rạch Rốc, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau), đại diện cho các hộ dân phát hiện cây gỗ tạm thời bảo quản trong thời gian chờ ý kiến xử lý của cơ quan chức năng.
Cơ quan chức năng tỉnh Cà Mau sẽ tiến hành thẩm định để thu thập đầy đủ thông tin về số năm tuổi, giá trị của cây gỗ cũng như xác định rõ nguồn gốc, thời gian cây gỗ bị chôn vùi dưới bãi biển thuộc huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Nếu đây là loại gỗ quý có giá trị lớn thì phải được tổ chức bán đấu giá công khai.
Số tiền thu được một phần sẽ trả công cho những người dân phát hiện, đào lấy cây gỗ quý, phần còn lại sẽ được sung vào công quỹ Nhà nước, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau Lê Văn Hải cho biết.
Theo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Ngọc Hiển Nguyễn Chí Dũng, cây gỗ "khủng" được người dân đào lấy đưa lên khỏi lòng đất trong tình trạng bong tróc vỏ hoàn toàn.
Trước đó, một số người dân trong lúc hành nghề đặt dụng cụ bắt cá ven bãi bồi đã tình cờ phát hiện một cây gỗ có đường kính 1,1 m, chiều dài hơn 17 m đã bị chôn vùi dưới độ sâu hơn 1,5m. Vị trí phát hiện cây gỗ "khủng" này nằm cách cửa biển Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển, khoảng 2 km.
Sau đó, gần 20 người dân ở cửa biển Rạch Gốc cùng tham gia đào lấy cây gỗ. Đến ngày 16/4, cây gỗ "khủng" đã được người dân đưa đến giao cho hộ ông Gọi (cư ngụ ở khu vực cửa biển Rạch Gốc, huyện Ngọc Hiển) làm người đại diện tạm bảo quản cây gỗ này. (Tin Tức 17/4, Kim Há)đầu trang(
Theo chia sẻ của Chủ tịch UBND xã Tân Ân, cây dầu khi đào dưới biển lên vẫn còn rất tốt, rễ và thân cây còn nguyên.
Xung quanh thông tin người dân Cà Mau phát hiện cây dầu nghi 200 tuổi ở bãi biển, chiều ngày 17/4, chia sẻ với báo Đất Việt, ông Nguyễn Phương Nam – Chủ tịch UBND xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển (Cà Mau) xác nhận sự việc và cho rằng:
“Một người dân làm trên biển phát hiện thấy khúc gỗ nhô lên thì kêu gọi anh em trong dòng họ xuống đào mất khoảng 8-10 ngày mới xong. Sau khi đào được lên thì phía Hạt kiểm lâm huyện có xuống lập biên bản và cho biết đây là cây dầu có tuổi thọ khoảng 200 năm tuổi. Cây dầu này được đào lên từ dưới đất sâu dưới biển khoảng 1-2 mét, không phải đang trôi dạt trên biển”.
Cũng theo ông Nam, người dân cũng như chính quyền địa phương không biết cây dầu này trôi dạt đến đó từ hồi nào. Khi người dân đào lên, cây dầu vẫn còn tốt, nguyên rễ cây, thân và nhánh cây.
“Theo phía ngành chức năng cho biết, giá trị cây dầu này khoảng 100-120 triệu đồng, đến giờ chưa có ai hỏi mua. Nếu chúng ta nhìn bằng mắt thường thì thấy cây dầu này vẫn như cây bình thường, chỉ có vỏ cây hơi bị mòn vì có khi nằm đất lâu năm rồi”, ông Nam nói thêm.
Cho biết về hướng giải quyết cây dầu này, vị Chủ tịch xã Tân Ân nói: “Cây dầu này do người dân lượm được, mặc dù vậy đây cũng là tài sản quốc gia. Bởi vậy, nếu có bán được cây dầu này thì sẽ trả tiền công người đào, còn đâu chia đôi: một nửa cho người phát hiện, còn một nửa trả về ngân sách nhà nước. Hiện cây dầu này đã được người dân đem lên 1 cái bãi để chờ hướng xử lý, và có được che phủ kỹ càng”.
Nói về gỗ cây dầu, cùng ngày, trao đổi với báo Đất Việt, anh Nguyễn Văn Dũng – Chủ xưởng gỗ lớn ở huyện Thanh Oai, Hà Nội cho biết: “Cây dầu này ngoài miền Bắc dường như là không thấy, chủ yếu chỉ có ở trong Nam.
Tuy nhiên, làm trong nghề tôi cũng biết chút về loài cây này. Cây dầu rất có ích, ngoài việc lá cây dầu có thể dùng làm thuốc cho bệnh nhân hít để làm sạch đường hô hấp, thân cây dầu còn để lấy gỗ làm cột nhà, đồng thời cũng là vật liệu quý dùng để đóng tàu thuyền và dùng vào nhiều việc khác. Tóm lại dùng gỗ dầu để trang trí nội thất là 1 nhu cầu lớn trong xây dựng”.
Như báo chí đưa tin, cây dầu dài 17 m, đường kính 1,1 m vừa được người dân phát hiện bị vùi lấp trong bùn đất cửa biển Nhà Diệu, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển.
“Địa phương từ trước đến nay không có loại gỗ quý hiếm này”, một kiểm lâm nói và cho biết có thể cây gỗ từ nơi khác trôi dạt đến cửa biển Nhà Diệu rồi bị vùi lấp.
Tuy ngâm dưới bùn mặn lâu nhưng cây dầu còn nguyên vẹn, phần gốc hướng vào đất liền, ngọn hướng ra biển. (Đất Việt 18/4, Thanh Giang)đầu trang(
Ngày 10/4, UBND tỉnh Điện Biên ra Công văn số 918/UBND-KTN, về việc tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm trên địa bàn tỉnh Điện Biên.
Trong thời gian qua, các ngành chức năng và các địa phương trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã tích cực triển khai thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Tuy nhiên, tình trạng lấn chiếm đất rừng làm nương; phá rừng, khai thác, mua, bán vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái pháp luật vẫn còn xảy ra.
Nguyên nhân chủ yếu là do các chủ rừng chưa thực hiện tốt việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng được giao. Bên cạnh đó, một số địa phuông còn bị động trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, việc chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương chưa quyết liệt, chưa kịp thời xử lý một số vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng nên hiệu quả răn đe không cao.
Để tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, UBND tỉnh Điện yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên chỉ đạo luucj lượng Kiểm lâm tăng cường phối hợp với các lực lượng Công an, Quân đội, Hải quan, chính quyền cơ sở hỗ trợ chủ rừng tổ chức kiểm tra để kịp thời phát hiện và ngawen chặn hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, khai thác rừng trái pháp luật.
Tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hoạt động buôn, bán, vận chuyển, cất giữ, chế tác, quảng cáo, sử dụng trái phép lâm sản, đặc biệt là các mẫu vật động vật hoang dã: Sừng Tê giác, ngà Voi và các sản phẩm của Hổ, Báo...; tập trung kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm tại các của hàng bán đồ lưu niệm, cơ sở buôn bán, bào chế thuốc y học cổ truyền...
Tổ chức kiểm tra, rà soát các cơ sở nuôi động vật hoang dã, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký nuôi và tịch thu động vật hoang dã đối với các cơ sở không đảm bảo yêu cầu về an toàn, tiêu chuẩn chuồng tại theo quy định. Kiên quyết đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở chế biến gỗ vi phạm các quy định cuả pháp luật về quản lý lâm sản. kiểm soát, ngăn chặn và xử lý vi phạm trong hoạt động xuất, nhập khẩu gỗ qua các cửa khẩu và lối mở trên địa bàn.
UBND tỉnh Điện Biên yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nâng cao nhận thức của người dân trong công quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, ngăn chặn các hành vi xâm hại động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.
Tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc phá rừng làm nương, khai thác, chặt phá rừng trái pháp luật. Chỉ đạo các lực lượng chức năng, chính quyền các xã biên giới thường xuyên tuần tra kiểm soát để kịp thời phát hiện và ngăn chặn việc vận chuyển lâm sản, động vật rừng trái phép qua biên giới...(Tài Nguyên & Môi Trường 17/4, Hà Thuận)đầu trang(
Ngày 16-4, Sở GD&ĐT Đà Nẵng phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức Ngày hội truyền thông nâng cao nhận thức bảo vệ loài tê giác.
Tại đây, hơn 1.000 bức tranh do học sinh tiểu học trên toàn thành phố vẽ đã được giới thiệu đến người xem. Tại ngày hội, các em còn được tham gia trò chơi và kiến thức về loài tê giác để cùng vận động, tuyên truyền người thân, bạn bè tham gia bảo vệ loài tê giác.
Hoạt động này nằm trong dự án “Giảm nhu cầu sử dụng các loài động vật hoang dã bị buôn bán trái phép tại Việt Nam”. (Thanh Niên 17/4, tr10, An Dy)đầu trang(
7 khúc sừng tê giác châu Phi được 2 đối tượng cất giấu tinh vi trong thùng loa vi tính và hành lý cá nhân nhập khẩu đã bị Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất và các lực lượng chức năng bắt giữ ngay tại cửa khẩu.
Theo Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đơn vị vừa phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74)- Bộ Công an và Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (PC46)- Công an TP.HCM phát hiện, tạm giữ 2 hành khách, gồm: 1 đối tượng nữ 34 tuổi và 1 đối tượng nam 21 tuổi nhập cảnh từ châu Phi về Việt Nam, vận chuyển trái phép 7 khúc sừng tê giác với tổng trọng lượng gần 5kg.
Đây là sừng của loài tê giác hai sừng châu Phi rất quý hiếm, giá trị tang vật ước tính khoảng hơn 6 tỷ đồng.
Các đối tượng này đã cất giấu rất tinh vi số sừng tê giác trên trong hành lý cá nhân, dụng cụ gia đình và thùng loa vi tính nhằm qua mắt lực lượng chức năng. Tuy nhiên, bằng các biện pháp nghiệp vụ trinh sát và thu thập thông tin, cơ quan Hải quan đã kịp thời phát hiện, ngăn chặn vụ việc trên.
Chiến công này một lần nữa góp phần khẳng định sự quyết tâm của Việt Nam trong cam kết bảo vệ các loài động vật hoang dã, nguy cấp, quý hiếm.
Hải quan sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã tiến hành khởi tố vụ án, tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng để điều tra làm rõ đường dây, ổ nhóm, hành vi vi phạm của các đối tượng. (Tạp Chí Tài Chính 17/4; Nhân Dân 17/4, tr7)đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt “Chương trình quốc gia về giảm phát thải khí nhà kính thông qua hạn chế mất và suy thoái rừng; bảo tồn, nâng cao trữ lượng carbon và quản lý bền vững tài nguyên rừng (Chương trình REDD+) đến năm 2030” nhằm góp phần bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, nâng cao đời sống của người dân và phát triển bền vững đất nước.
Chương trình REDD+ được thực hiện trên phạm vi toàn quốc từ năm 2017 đến 2030; trong đó trọng tâm là các khu vực “điểm nóng” về mất rừng, suy thoái rừng. Theo đó, đến năm 2020, chương trình sẽ góp phần giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hoạt động bảo tồn, nâng cao độ che phủ rừng toàn quốc lên 42% và diện tích các loại rừng đạt 14,4 triệu ha.
Trong giai đoạn 2021-2030, chương trình tiếp tục giúp ổn định diện tích rừng tự nhiên và tăng độ che phủ rừng toàn quốc lên 45%, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia đến năm 2030 giảm 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường theo cam kết tại “Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu”.
Bên cạnh đó, để giảm mất rừng và suy thoái rừng, Chương trình REDD+ tiếp tục rà soát, điều chỉnh quy hoạch sử dụng rừng và đất rừng, đảm bảo mục tiêu 16,24 triệu ha đất sử dụng cho mục đích lâm nghiệp vào năm 2020; hỗ trợ sản xuất nông-ngư nghiệp bền vững, không gây mất rừng, suy thoái rừng; tăng cường thực thi pháp luật lâm nghiệp. (Sài Gòn Giải Phóng 17/4, tr10, Hà Phương)đầu trang(
Gần đây, những bộ hồ sơ lâm sản làm giả con dấu, giả chữ ký của lãnh đạo, nhân viên Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột để vận chuyển lâm sản trái phép liên tục bị lực lượng chức năng trong và ngoài tỉnh phát hiện.
Theo thống kê của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột, từ năm 2014 đến nay lực lượng chức năng trong và ngoài tỉnh đã phát hiện 15 trường hợp giả con dấu của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột, giả chữ ký của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột để làm hồ sơ giả nhằm vận chuyển gỗ trái phép.
Ông Đỗ Ngọc Dũng, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột cho biết, theo quy định thì cá nhân, tổ chức muốn vận chuyển gỗ đi phải cần sự xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại. Nếu xác định gỗ có nguồn gốc hợp pháp, kiểm lâm sẽ đo đếm khối lượng, chủng loại, kích thước sau đó xác nhận vào bảng kê lâm sản cho chủ gỗ (bảng kê do chủ lâm sản lập).
Bảng kê này có chữ ký của chủ gỗ, cán bộ kiểm lâm trực tiếp đi kiểm tra và chữ ký của Hạt trưởng có đóng con dấu của Hạt. Khi vận chuyển gỗ đi trên đường, lực lượng chức năng nếu kiểm tra sẽ đối chiếu xem số lượng, quy cách, chủng loại có đúng với bảng kê không để phát hiện sai phạm. Nếu gỗ không có nguồn gốc hợp pháp (gỗ lậu) đương nhiên không đủ điều kiện để xác nhận vào bảng kê lâm sản nên các đối tượng mới làm giả giấy tờ này để vận chuyển gỗ lậu đi tiêu thụ.
Chỉ khi lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện ra những dấu hiệu nghi vấn, liên hệ xác minh với đơn vị mới biết làm giả giấy tờ. “Hồ sơ giả được làm rất tinh vi. Các hóa đơn, bảng kê lâm sản làm giả xác nhận, chữ ký, con dấu giống như thật, còn quy cách, khối lượng, chủng loại gỗ thì chính xác với thực tế nên khi lực lượng chức năng kiểm tra rất khó phát hiện”, ông Dũng nhận định.
Điển hình như ngày 20-6-2016, Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk phối hợp với các đơn vị chức năng của huyện Ea Kar kiểm tra xưởng chế biến mùn cưa của Công ty Cổ phần xây dựng Quyết Thắng (thôn 14, thị trấn Ea Knốp, huyện Ea Kar) phát hiện 2 xe tải chứa gỗ. Nhận thấy có dấu hiệu vi phạm, tổ kiểm tra đã yêu cầu lái xe xuất trình hồ sơ lâm sản để kiểm tra.
Hồ sơ lái xe xuất trình gồm: Hóa đơn ghi ngày 16-6-2016 do Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) Phát Lộc, địa chỉ 243 Nguyễn Trường Tộ, tổ 9, khối 5, phường Ea Tam, TP. Buôn Ma Thuột xuất bán cho Công ty TNHH TM vận tải Thái Vũ ở TP. Hải Phòng 32 hộp gỗ dổi, khối lượng 23,002 m3; hợp đồng kinh tế mua bán gỗ của 2 công ty này; 2 bảng kê lâm sản có xác nhận của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột do ông Đỗ Ngọc Dũng, Hạt trưởng ký…
Tuy nhiên khi xác minh, Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột khẳng định không xác nhận bảng kê lâm sản nào như vậy, và ở địa chỉ này cũng không có DNTN Phát Lộc như trong hồ sơ.
Mới đây nhất, lực lượng chức năng của tỉnh Bình Định đã liên hệ làm việc với Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột để xác minh một bộ hồ sơ gỗ do DNTN Liên Việt Cao, địa chỉ: liên gia 16 – tổ dân phố 2, phường Ea Tam, TP. Buôn Ma Thuột xuất bán theo hóa đơn số: 0000045 ngày 27-3-2017, trong đó có con dấu của Hạt và chữ ký Hạt trưởng Đỗ Ngọc Dũng. Tuy nhiên, ông Dũng khẳng định không xác nhận bảng kê lâm sản trên, và ở địa chỉ này cũng không có DNTN Liên Việt Cao.
Ngoài ra, cơ quan chức năng còn phát hiện một số hồ sơ giả chữ ký của một lãnh đạo Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột mặc dù cán bộ này đã được điều động về Chi cục Kiểm lâm tỉnh. Cụ thể, ngày 19-4-2016, Công an quận Ngũ Hành Sơn (TP. Đà Nẵng) liên hệ xác minh DNTN Phát Lộc (số 243 đường Nguyễn Trường Tộ, phường Ea Tam, TP. Buôn Ma Thuột) xuất gỗ kèm theo 4 bảng kê lâm sản lập ngày 7-1-2016 có xác nhận của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột và chữ ký của Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột K’Pă Y Ngọc.
Tuy nhiên, thời điểm đó ông K’Pă Y Ngọc đã không còn là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột, mà đã được điều động sang làm việc tại Văn phòng Chi cục Kiểm lâm tỉnh từ ngày 24-12-2015. Ngoài ra, còn thêm một số hồ sơ giả khác cũng làm giả dạng này.
“Những hồ sơ lâm sản phát hiện trong thời gian qua cho thấy đang có những cá nhân, tổ chức có hành vi giả mạo chữ ký, con dấu của Hạt Kiểm lâm TP. Buôn Ma Thuột để tiến hành các hoạt động kinh doanh lâm sản trái phép. Hành vi này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác kiểm tra, giám sát trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cũng như uy tín của lực lượng kiểm lâm và tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn nên rất mong các cơ quan chức năng tiến hành điều tra, sớm xử lý triệt để vấn nạn này”, ông Dũng đề nghị. (Báo Đắc Lắc/ Tin Tây Nguyên 17/4)đầu trang(
Làm sao để người dân không chỉ thoát nghèo mà sống tốt từ rừng luôn là bài toán đau đáu với ngành lâm nghiệp nhiều thập kỷ qua. Báo NNVN xin giới thiệu loạt bài về những vùng đất 'Sống tốt từ rừng'.
Là tỉnh nghèo thuộc đề án 30a của Chính phủ, có trên 86% diện tích đất dốc từ 15 độ trở lên với 19 dân tộc sinh sống, có thể nói rừng đóng vai trò sống còn với kinh tế, xã hội tỉnh Hà Giang.
Trong 2 năm trở lại đây, Hà Giang nổi lên là một trong những địa phương có quy hoạch, chiến lược phát triển lâm nghiệp bài bản cũng như nhiều mô hình nghề rừng sáng tạo, mới mẻ và hiệu quả nhất miền núi phía Bắc.
Chia sẻ với chúng tôi, ông Nguyễn Đức Vinh, Giám đốc Sở NN-PTNT Hà Giang cho biết, có được những kết quả rõ nét trong lĩnh vực lâm nghiệp như ngày hôm nay, Hà Giang ghi nhận công sức đóng góp rất lớn của GS.TS Phạm Văn Điển, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lâm nghiệp hiện đang biệt phái làm Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh này.
Theo ông Vinh, chỉ trong 2 năm công tác tại Hà Giang, chính GS.TS Phạm Văn Điển đã định hình được hướng đi cho ngành lâm nghiệp tỉnh nhà cả trước mắt lẫn trong tương lai, với khối lượng công việc bằng nhiều năm trước cộng lại.
Bởi thực tế, dù chiếm 71,5% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (566.545,2ha), song ngành lâm nghiệp Hà Giang những năm qua chỉ đóng góp trên 3% GDP toàn tỉnh. Còn dưới con mắt GS.TS Phạm Văn Điển, lâm nghiệp Hà Giang chính là một kho báu khổng lồ.
Theo đề án phát triển lâm nghiệp tỉnh Hà Giang đến năm 2020, định hướng 2030 thì mục tiêu của tỉnh đến 2020 trữ lượng bình quân/ha rừng tự nhiên tăng tối thiểu 5 - 7% so với 2015. Hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng tăng tối thiểu 15%. Có ít nhất 30% đất không có rừng tự nhiên được tác động thành rừng bằng các loại cây có giá trị kinh tế cao, cải tạo môi trường tốt. Độ che phủ rừng trong tỉnh đạt 58%, trong đó độ che phủ rừng tự nhiên chiếm tối thiểu 40%.
Về mặt xã hội, phấn đấu 100% diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh sẽ được giao, cho thuê, khoán bảo vệ để rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh cực bắc Tổ quốc này có chủ nhân đích thực. Đặc biệt về kinh tế, Hà Giang đặt mục tiêu tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành bình quân/năm đạt tối thiểu 1.080 tỷ đồng. Tăng giá trị sản xuất bình quân hàng năm 14 - 16%. Năng suất rừng trồng mới tăng ít nhất 1,2 - 1,5 lần vào 2020 và 1,5 - 1,8 lần vào năm 2025.
Nếu như nhiều năm trước, Hà Giang cũng như nhiều tỉnh miền núi có nhiều rừng cứ loay hoay tìm hướng phát triển bền vững từ lâm nghiệp, song luôn bị mâu thuẫn giữa việc bảo tồn, bảo vệ với phát triển kinh tế. Còn với đề án mới, Hà Giang đã có những định hướng, mục tiêu, kế hoạch rõ ràng, sắc nét nhằm giải quyết được cả bài toán phòng hộ lẫn tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân.
Theo đó, với rừng đặc dụng, Hà Giang sẽ phát triển theo hướng bảo tồn kết hợp với kinh doanh dịch vụ hệ sinh thái rừng (dịch vụ bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học; dịch vụ phòng hộ đầu nguồn; dịch vụ tích lũy carbon). Giữ nguyên diện tích rừng hiện có (50.994ha). Đẩy mạnh phát triển rừng và kinh tế, xã hội vùng đệm. Phát triển mô hình quản lý liên kết rừng đặc dụng. Đầu tư xây dựng, kết nối hoạt động du lịch sinh thái ở rừng đặc dụng với du lịch và lễ hội ở Cao nguyên đá Đồng Văn.
Với rừng phòng hộ, giữ nguyên diện tích đất rừng phòng hộ đã có. Ưu tiên giải pháp khoanh nuôi tái sinh đối với rừng phòng hộ. Phát triển rừng phòng hộ là rừng tự nhiên thành rừng phòng hộ cung cấp lâm sản ngoài gỗ. Chuyển một phần diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu là rừng trồng hoặc chưa có rừng (khoảng 20%) thành rừng sản xuất.
Riêng với rừng sản xuất, có thể mở rộng diện tích đất rừng sản xuất từ 260.675,5ha thành xấp xỉ 300.000ha, trong đó diện tích rừng trồng gỗ nhỏ từ 130.000 - 140.000ha, rừng trồng gỗ lớn 30.000 - 40.000ha ở vùng có điều kiện về đất đai, như Hoàng Su Phì, Xín Mần; còn lại là rừng tự nhiên.
Thực hiện thâm canh rừng trồng và rừng tự nhiên nhằm tăng năng suất rừng hiện có lên ít nhất 15 - 20%, tăng năng suất rừng trồng mới lên ít nhất 50% so với hiện tại vào năm 2020. Ưu tiên trồng rừng gỗ lớn ở điều kiện vận xuất, vận chuyển khó khăn, trồng rừng gỗ nhỏ ở điều kiện vận xuất, vận chuyển thuận lợi. Phát triển hạ tầng lâm nghiệp ở vùng rừng sản xuất, đặc biệt là đường vận xuất và hạ tầng phục vụ PCCCR. Thúc đẩy quá trình hưởng lợi từ tăng trưởng của rừng tự nhiên là rừng sản xuất.
Giá trị dịch vụ của loại rừng này gồm: gỗ nhỏ từ rừng có chu kỳ kinh doanh ngắn; gỗ lớn, gỗ quý từ rừng có chu kỳ kinh doanh dài; gỗ quý từ cây trồng phân tán; các lâm sản ngoài gỗ.
Định hướng phát triển rừng theo tiểu vùng, 4 huyện vùng cao núi đá là Mèo Vạc, Đồng Văn, Quản Bạ, Yên Minh tập trung bảo vệ rừng hiện có, khoanh nuôi các diện tích rừng đang tái sinh. Phát triển rừng cung cấp gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ, trong đó có rừng cung cấp dược thảo. Ưu tiên trồng cây phân tán bằng loài cây bản địa, có giá trị kinh tế cao; khuyến khích trồng cây phân tán để cung cấp củi và gỗ gia dụng.
Thực hiện nông lâm kết hợp, canh tác bền vững trên đất dốc, có thể trồng cây gỗ phân tán vào đất cỏ hoặc trồng cỏ vào đất rừng. Kết hợp bảo tồn rừng với phát triển du lịch và dịch vụ môi trường rừng. Chú trọng phát triển rừng ở khu vực hành lang đường Hạnh Phúc.
Hai huyện vùng cao núi đất phía tây là Xí Mần, Hoàng Su Phì điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, địa hình cao và dốc. Phương hướng phát triển rừng ở đây cần ưu tiên giải pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi và phát triển rừng trồng cây gỗ quý, gỗ lớn kết hợp với kinh doanh lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng. Chuyển đổi trồng màu thành mô hình rừng nông lâm kết hợp (rừng + cỏ).
Các huyện vùng thấp Bắc Quang, Quang Bình, Vị Xuyên: Bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn; Tập trung phát triển và nâng cao chất lượng, giá trị rừng sản xuất gắn với xúc tiến thị trường tiêu thụ và chế biến lâm sản. Xây dựng vùng nguyên liệu gỗ tập trung (khoảng trên 80.000ha).
Cải tạo diện tích rừng nghèo kiệt để mở rộng diện tích rừng sản xuất theo quy mô cánh rừng mẫu lớn với sự liên doanh sản xuất theo hình thức HTX, nhóm hộ, doanh nghiệp và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Khai thác bình quân gần 10.000 ha/năm. (Nông nghiệp Việt Nam 17/4, tr18, Nguyễn Huân)đầu trang(
Mới đây, Ban quản lý khu du lịch hồ Tuyền Lâm (Đà Lạt) đã kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện việc trồng, chăm sóc và bảo dưỡng cây mai anh đào.
Số lượng tối thiểu của mỗi tổ chức, cá nhân tham gia trồng, chăm sóc và bảo dưỡng là 20 cây. Kinh phí thực hiện trong 4 năm là 500.000 đồng/cây.
Hiện khu du lịch hồ Tuyền Lâm đã trồng được 18.000 cây mai anh đào thuộc 2 dự án "không gian hoa anh đào" và " trồng rừng cây xanh", với diện tích gần 36 ha. (Đài Truyền Hình VN 17/4)đầu trang(
Mô hình trồng và phát triển rừng bền vững là khi sản phẩm gỗ được xuất khẩu ra nước ngoài cần phải đạt tiêu chuẩn: Nguồn đất trồng rừng phải hợp pháp, khai thác đúng qui trình, chế biến đạt chuẩn về môi trường, không sử dụng lao động vị thành niên, mua bán phải có hợp đồng rõ ràng...
Tất cả mọi công đoạn phải được lập sổ nhật ký, hồ sơ đầy đủ. Nếu sản phẩm đạt "tiêu chuẩn toàn cầu" thì tiêu thụ tại bất kỳ thị trường nào cũng thuận lợi. Còn với kiểu "làm tắt" như bán "lúa non" và xuất khẩu thô thì thu nhập của người trồng rừng chẳng được cải thiện là bao.Hằng ngày, tại các cảng biển miền Trung có rất nhiều tàu chở đầy gỗ dăm ra nước ngoài bán dưới dạng thô. Sau 4 - 5 năm chăm sóc, những cánh rừng keo, bạch đàn người trồng rừng bán từng đồi cây với giá từ 20 - 50 triệu đồng/ha, rồi sau đó trồng lại.
Trừ tiền giống, tiền công trồng, chăm sóc, tiền thuốc trừ cỏ..., người trồng rừng chỉ thu được từ 3 - 6 triệu đồng/ha/năm. Với số tiền này, chỉ bằng giá tiền công của ông thợ hồ trong một tháng. "Nông dân trồng rừng đa phần làm ăn không có kế hoạch, không có đường hướng đi cụ thể. Chỉ khi doanh nghiệp chế biến gỗ "cùng đi" với họ thì may ra người trồng rừng mới có thu nhập cao" - Ông Nguyễn Chiến Thắng, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Sansia Pacific, có trụ sở tại tỉnh Đông Nai, thẳng thẳn đặt vấn đề.
Câu chuyện ông Thắng lặn lội hơn 1.500 cây số, tự tìm đến nông dân miền Trung hợp tác làm ăn cũng lắm gian nan: "Tôi nhớ hôm đầu tiên tiếp xúc với nông dân trồng rừng ở một xã miền núi, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Hôm đó, trước khoảng 20 chủ rừng, tôi bắt đầu trình bày kế hoạch thu mua cây keo trồng đủ 10 năm theo dạng bao tiêu sản phẩm. Vừa mới dứt lời, một người đàn ông đại diện những hộ trồng rừng đứng lên tuyên bố: "Dân chúng tôi không cần hợp tác, đến thời điểm thu hoạch, ai mua giá cao thì bán cho người đó".
Nghe người đàn ông nói vậy, mọi người đều tỏ ra đồng tình". Ông Thắng vẫn giữ bình tĩnh và đứng lên giải thích: "Tôi đã làm trong ngành gỗ từ năm 1976 đến nay. Bà con nghĩ như thế là bán được giá cao, những thực chất lại không có lãi. Mình phải nghĩ đến cách làm ăn có lãi suất cao. Kiểu trồng rừng như bà con đang làm là chưa đúng cách, khai thác cứ vác từng cây... thì rất "nhỏ lẻ"...".
Nói đến đây, họ mới giật mình và chăm chú nghe tôi giải thích về qui trình trồng, qui trình khai thác tỉa, qui trình thu hoạch, cách hợp đồng mua bán... Rồi sau đó, một đại diện của các chủ rừng đứng lên bắt tay tôi và nói: "Chúng tôi sẽ hợp tác làm ăn với ông".
Theo ông Thắng, từ thời điểm đó trở đi, các chủ rừng ở xã miền núi này đã đi tiên phong cùng doanh nghiệp theo quy trình trồng keo, bạch đàn một cách khoa học như: Mật độ cây trồng từ 3.000 - 4.000 cây/ha, 4 năm sau tỉa bán non, chọn để lại 1.000 cây nuôi đến 8 - 10 năm sau, khi cây có đường kính 17 - 25cm bắt đầu thu hoạch bán theo cây gỗ. "Công ty ký hợp đồng mua sản phẩm với nông dân theo giá sàn đưa ra trước cho bà con yên tâm.
Nhưng tại thời điểm bán cây, công ty vẫn mua giá cao theo thị trường. Rồi công ty còn cho nông dân vay vốn với lãi suất thấp để trang trải cuộc sống. Ở miền Trung thường xuyên bị lụt bão, trong hợp đồng cũng ghi rõ, cây đổ do bão, công ty vẫn mua theo giá cây bình thường" - Ông Thắng cho biết thêm, rồi giải thích: Làm theo kiểu này, người trồng rừng có lãi rất cao. Nếu làm theo cách cũ, trồng cây 4 năm đã chặt, rồi lại trồng tiếp, mọi chi phí sẽ tăng gấp 2 - 3 lần. Còn để loại cây keo đến năm thứ 4 trở đi thì không tốn chi phí công chăm sóc.
Hiện nay, công ty của ông Nguyễn Chiến Thắng đã hợp tác làm ăn với hơn 500 hộ nông dân trồng rừng tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế với tổng diện tích rừng gần 3.000ha. Công ty Sansia Pacific đã bỏ chi phí làm thủ tục để Tổ chức quốc tế (FSC) cấp giấy chứng nhận rừng trồng của nông dân đạt "Tiêu chuẩn toàn cầu".
Ông Thắng đưa ra chính sách, vùng cây gỗ nào có giấy chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế sẽ được công ty mua giá cao hơn 15 - 20% so với vùng cây không được cấp giấy chứng nhận. "Kể cả ông Chủ tịch UBND tỉnh cũng mừng, chứ đừng nói đến nông dân. Có được tờ chứng nhận quốc tế là đồng nghĩa số gỗ ở đây có "lý lịch" rõ ràng, sẽ xuất khẩu đi khắp thế giới.
Muốn "chơi" với mấy ông nhà giàu và lấy được nhiều tiền của họ, mình phải làm theo "tiêu chuẩn toàn cầu". Hàng rào kiểm tra của các nước ngày càng khắt khe, nếu mình làm chậm, sẽ thua, mất thị trường".
Hiện nay, Công ty Sansia Pacific đã xây dựng thành chuỗi kinh hoanh: Hợp tác với nông dân tạo thành vùng nguyên liệu lớn, đặt nhà máy sơ chế ngay tại vùng nguyên liệu Thừa Thiên Huế, nhà máy chế biến sâu tại Đồng Nai và trực tiếp xuất khẩu vào thị trường châu Âu, Canada, Mỹ..., doanh thu mỗi năm 30 triệu USD. Theo ông Thắng, những năm tới, Công ty Sansia Pacific tiếp tục mở rộng mô hình hợp tác với nông dân trồng rừng ở các tỉnh khác, để tăng diện tích lên hàng chục ngàn héc ta.
Từ những rừng trồng ở vùng núi xa xôi, nông dân làm ra một cây gỗ, phải trải qua biết bao công đoạn mới sản xuất ra một tấm ván hoặc thành những bột nguyên liệu sản xuất giấy. Nếu mỗi công đoạn làm không tốt, chi phí cao sẽ đội giá thành lên, rồi quay lại "đè" giá đầu vào nguyên liệu.
Để giải quyết "bài toán" này, nhiều doanh nghiệp đã đi tiên phong ứng dụng công nghệ hiện đại và kỹ thuật số vào các công đoạn chế biến gỗ. Kiến trúc sư Nguyễn Chanh Phương, Giám đốc Công ty TNHH Danh Mộc TP Hồ Chí Minh phải bỏ tiền sang Italia, Mỹ... học cách sản xuất gỗ hiện đại, đồng thời nghiên cứu thị trường và mở rộng kinh doanh ra thị trường quốc tế. Ông Phương đã đầu tư nhiều tỉ đồng mua máy móc chuyên dụng kỹ thuật số của Đức để phát triển chế biến gỗ.
"Mọi công đoạn, từ giới thiệu với khách hàng, chốt giá bán đến khâu thiết kế và truyền dữ liệu về nhà máy sản xuất đều được mã hóa. Làm kiểu này, sẽ đạt độ chính xác cao, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận lên" - Ông Phương nói.
Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2,5 triệu héc ta rừng trồng kinh tế, đa phần là rừng cây keo. Năm 2016, các doanh nghiệp chế biến gỗ phải nhập khẩu nguyên liệu từ 24 nước châu Phi, Mỹ và Indonesia... Tổng giá trị nhập khẩu trên 2 tỉ USD. Vấn đề chủ động nguồn nguyên liệu gỗ về lâu dài là bài toán khá nan giải.
Về chuyện này, ông Nguyễn Chanh Phương đưa ra giải pháp: "Hiện nay, một lượng lớn rừng do các lâm trường quản lý. Đây là dạng "của chung không ai khóc" hoạt động không có hiệu quả. Chính phủ nên giao rừng cho các doanh nghiệp có năng lực hoặc đấu thầu rộng rãi để họ tự chủ và chủ động trong việc vạch kế hoạch kinh doanh lâu dài. Nhà nước quản lý tài nguyên phải minh bạch, tiến đến số hóa tài nguyên quốc gia để toàn dân biết. Vùng nào rừng trồng phòng hộ thì tuyệt đối không đụng vào, vùng nào rừng trồng kinh doanh để doanh nghiệp cùng nông dân hợp tác phát triển".
Cũng theo ông Phương, hiện nay, Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP Hồ Chí Minh do ông làm Tổng thư ký đang chuẩn bị đầu tư cho các nhà khoa học hoặc giảng viên đại học đến các doanh nghiệp, vùng rừng trồng để nghiên cứu, đưa ra các dữ liệu.
Qua đó, đề xuất cứ bao nhiêu diện tích rừng trồng sẽ xây dựng một nhà máy chế biến gỗ. Hội cũng khuyến khích các bạn sinh viên ngành lâm nghiệp vào các doanh nghiệp nghiên cứu và thực tập, để khi ra trường có kiến thức thực tiễn trồng rừng và kinh doanh chế biến gỗ trên thị trường quốc tế. Đây cũng là cơ sở tạo nguồn lực lao động có trình độ cao trong ngành chế biến gỗ. (Biên Phòng 18/4, Hải Luận)đầu trang(
Được hưởng lợi từ dự án trồng rừng ngập mặn chống xói lở bờ biển, đồng bào Khmer ở ấp Âu Thọ B, xã ven biển Vĩnh Hải (thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) đã cùng nhau sát cánh lập nên "khu định cư" cho hàng trăm héc ta rừng ngập mặn nhằm tạo ra một "lá chắn xanh" có tác dụng kiềm chế sự biến đổi khí hậu.
Những cố gắng ban đầu này đã có tác dụng vực dậy một vùng đất vốn là điểm nóng của tình trạng sạt lở bờ biển kéo dài năm này qua năm khác.Từ ấp Âu Thọ B, để vào khu rừng phòng hộ nằm ở bãi bồi ven biển do dân trong ấp đảm trách quản lý theo mô hình "Đồng quản lý" (cộng đồng địa phương cùng quản lý), chúng tôi phải "bắt" tắc ráng mấy bận, rồi vượt qua cây cầu tre có lẽ thuộc loại "dài nhất đồng bằng sông Cửu Long", rồi tiếp tục cuốc bộ một đoạn trên con đê biển gập ghềnh.
Tuy nhiên, cái khó khăn nhất ở Âu Thọ B không phải là vị trí ven biển độc đạo mà chính là nỗi lo rừng ngập mặn bị cạn kiệt, gây ra tình trạng xói lở bờ biển khiến người dân không thể canh tác và nuôi thủy sản, vốn là kế sinh nhai chính của người dân ở đây.
Để khôi phục và phát triển rừng ngập mặn bị tàn phá nặng nề, đồng thời tạo điều kiện sản xuất cho người nghèo thiếu đất canh tác, trong một thời gian khá dài, chính quyền địa phương đã có nhiều động thái vận động người dân chăm sóc, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn từ Chương trình 327, song vì nhiều lý do, tất cả các nỗ lực đó đều kém hiệu quả.
Ông Thạch Soal, một nông dân Khmer đến lập nghiệp ở Âu Thọ B đã mấy chục năm nay, hiện là Trưởng nhóm quản lý rừng xã Vĩnh Hải chia sẻ về quá khứ buồn - từ năm 2000 trở về trước, khi đồng đất xã Vĩnh Hải nói chung, thôn Âu Thọ B nói riêng gần như trơ trọi trước biển do không có thảm thực vật che chở: "Khi đó, không chỉ cuộc sống của người dân luôn thắc thỏm mỗi khi triều cường dâng cao mà sinh kế gặp rất nhiều khó khăn. Bởi trên các bãi bồi trống hơ trống hoác, chẳng có loài hải sản nào trú ngụ, muốn kiếm con tôm, con cá phải đi xa, rất vất vả mới có được. Đó là chưa kể phù sa cùng thảm thực vật hữu ích hầu như không có khiến đất đai bị nhiễm mặn, nên việc canh tác gặp nhiều khó khăn" - Ông Thạch Soal nhớ lại.
Rồi sau một hồi trầm ngâm, ông Thạch Soal cho chúng tôi biết thêm, do thiên tai khắc nghiệt, vùng biển lại quá "nghèo" về thảm thực vật ven biển nên người dân nơi đây thiếu đủ thứ phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Đã vậy, do thiếu kiến thức làm ăn, lại không có vốn đầu tư cho sản xuất nên nhiều hộ gia đình vốn đã phải sống trong cảnh chật vật, lại càng nghèo khó thêm.
Theo ông Thạch Soal, tháng 9-2009, trước cảnh người dân Âu Thọ B gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, UBND tỉnh Sóc Trăng đã yêu cầu các ngành chức năng trong tỉnh nhanh chóng "hiến kế" giúp tỉnh có phương án mau chóng đưa người dân ở vùng biển này sớm thoát cảnh đói nghèo. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã "kết nối thông tin" và "rinh" về cho thôn mô hình trồng rừng ngập mặn, chủ yếu là cây đước và mắm, nhằm phục hồi bờ biển bị xói mòn.
Đây là một phần trong dự án của Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) và UBND tỉnh Sóc Trăng, lúc đầu có 250 hộ, phần lớn là đồng bào Khmer tham gia, cho đến nay đã phát triển lên gần 300 hộ, chia làm 6 tổ, cùng quản lý gần 160 héc ta rừng ngập mặn xen biển.
Mục tiêu của dự án là thông qua việc tái sinh, bảo vệ rừng ngập mặn cùng nguồn lợi dưới tán rừng trong một khu vực được xác định, với chủ sở hữu rừng là của Nhà nước để tìm ra giải pháp cho người dân địa phương thích nghi với biến đổi khí hậu. Nói cách khác là cung cấp cho cộng đồng địa phương những lợi ích thông qua việc tiếp cận một cách hợp pháp và an toàn tài nguyên rừng phòng hộ. Người dân tham gia mô hình "đồng quản lý" có quyền khai thác lợi ích từ rừng, nhưng cũng phải có trách nhiệm bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên này.
Những ngày này, các thành viên trong gia đình ông Thạch Bun Thol, ở ấp Âu Thọ B, như mở cờ trong bụng trước thông tin ốc len đang trúng giá, mỗi ký bán được từ 35-40 nghìn đồng. Là hộ mới thoát nghèo nhờ mô hình nuôi ốc len dưới tán rừng ngập mặn, với gia đình ông Thạch Bun Thol, đây một "sự kiện thời sự" bởi 20 triệu đồng - thu nhập dự kiến từ loài vật nuôi này là một khoản tiền khá lớn.
"Mô hình nuôi ốc len được Chương trình Quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICMP) hỗ trợ giống cho các thành viên trong nhóm "Đồng quản lý" để triển khai mô hình sinh kế ven biển dưới tán rừng phòng hộ. Nó giúp nông dân tụi tui vừa ổn định cuộc sống, vừa bảo vệ được rừng. Cái hay của việc nuôi ốc len là hoàn toàn dựa vào thiên nhiên, không tốn tiền mua thức ăn. Không chỉ có gia đình tôi, từ khi triển khai mô hình nuôi ốc len dưới tán rừng phòng hộ, đời sống của những hộ tham gia mô hình đã khá hơn trước rất nhiều" - Ông Thạch Bun Thol tâm sự với chúng tôi.
Niềm vui của ông Thạch Bun Thol cũng là sự hứng khởi của Chủ tịch UBND xã Vĩnh Hải Lê Hoàng Nhịn. Trao đổi với chúng tôi, ông Nhịn cho hay, khôi phục và phát triển rừng ngập mặn là việc làm hết sức cần thiết để giúp bảo vệ mùa màng và dân sinh ven biển. Mô hình "Đồng quản lý" được khởi động, người dân Âu Thọ B đón nhận với tất cả sự hoan hỉ, vui mừng và sự "đón chào" của người dân chính là cơ sở, nền tảng để rừng sinh trưởng và phát triển, lấn từ bờ ra biển hơn 1,5km như hiện nay.
Trên thực tế, những phác thảo ban đầu và quyết tâm của chính quyền địa phương đã vượt ngoài mong muốn của những người vốn nhiều năm chịu đựng cơ cực. Có thể nói, mô hình "Đồng quản lý" ra đời đã đáp ứng được sự cần thiết, cấp bách của việc khôi phục lại vốn rừng gắn với phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của người dân địa phương…
Những thông tin do Chủ tịch Lê Hoàng Nhịn cung cấp được ông Tăng Soi, một thành viên của mô hình "Đồng quản lý" ở Âu Thọ B xác nhận. Ông Tăng Soi cho biết, nhờ người dân tự giác bảo vệ, khai thác tài nguyên rừng phòng hộ theo đúng quy định nên môi trường môi sinh ở vùng ngập mặn ngày càng được cải thiện. "Chính vì vậy, các loài nhuyễn thể bãi triều cũng như những giống đặc sản như tôm, cua, cá kèo… đã phục sinh trở lại, mang lại nguồn lợi kinh tế dồi dào cho người dân nơi đây. Không như khi xưa mọi thứ đều hiếm, bây giờ, một người vào rừng đước, rừng mắm vài giờ là có thể kiếm được vài cân cua, cá, bán ngay cho tư thương thu mua được vài trăm nghìn đồng" - Ông Tăng Soi cho chúng tôi hay.
Theo tìm hiểu của chúng tôi, điều đặc biệt ở mô hình cộng đồng địa phương cùng quản lý rừng phòng hộ ở Âu Thọ B chính là tính địa phương của nó. Từ trước đến nay, các giải pháp chống biến đổi khí hậu "nhập khẩu" đều đắt và có thể không phù hợp với địa hình, địa thế, nền tảng văn hóa đặc trưng của vùng biển phía Nam. Chính vì vậy, những kết quả khả quan của mô hình đang tiếp thêm sức cho người dân địa phương tại một trong những vùng đất nghèo bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tình trạng lở đê, xâm nhập mặn - có hi vọng về khả năng thích nghi và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Và với những gì được "mục sở thị" ở Âu Thọ B, chúng tôi tin rằng, với mục tiêu song hành là phục sinh hàng trăm héc ta rừng ngập mặn một cách lâu bền nhằm tạo ra một "lá chắn xanh" có tác dụng kiềm chế sự biến đổi khí hậu, đồng thời tạo ra sinh kế cho người dân, mô hình "Đồng quản lý" rừng ngập mặn sẽ khơi dậy ước nguyện vươn lên của người dân. Và vùng đất Âu Thọ B đầy bất trắc thuở nào chắc chắn sẽ vượt qua được cái ải nghèo khó, trở thành một khu vực sung túc của vùng ven biển Sóc Trăng trong một ngày không xa…(Biên Phòng 17/4, Nguyễn Long)đầu trang(
Hiệu quả kinh tế rừng đã được khẳng định ở tất cả các địa phương trong tỉnh, ngoài việc phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường, kinh tế rừng đã góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân, tạo việc làm cho người lao động, đồng thời tạo vùng nguyên liệu ổn định cho các cơ sở chế biến lâm sản ngày một phát triển.
Từ hiệu quả mang lại, nâng cao chất lượng rừng trồng ngày càng được chú trọng. Ông Phùng Văn Vinh - Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp cho biết: Triển khai kế hoạch trồng rừng hàng năm nhằm thực hiện hiệu quả quỹ đất phát triển rừng sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ mới vào trồng rừng và chế biến; gắn kết giữa sản xuất, chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; nâng cao giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích, góp phần tạo việc làm, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, bảo vệ môi trường sinh thái. Với các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, giá trị gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng, từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu.
Theo kế hoạch, năm 2017, diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh là 9.675ha, trong đó trồng rừng gỗ nhỏ 7.140ha, trồng rừng cây gỗ lớn 360ha, trồng rừng được hỗ trợ theo cơ chế hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của tỉnh 2.000ha và trồng rừng đặc dụng, phòng hộ 175ha. Diện tích chuyển hóa rừng gỗ lớn 590ha; trồng cây dược liệu dưới tán rừng 30ha; trồng cây phân tán 870 nghìn cây.
Để nâng cao chất lượng rừng trồng, các địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về danh mục các loại giống mới, lợi ích của việc sử dụng giống mới, giống có chất lượng để nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. Khuyến khích nhân dân sử dụng cây giống vô tính, chất lượng cao bằng kỹ thuật giâm hom, nuôi cấy mô và áp dụng biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh trong làm đất, bón phân, chăm sóc.
Những năm gần đây, tỉnh ta đẩy mạnh chuyển đổi thời vụ trồng rừng, do đó nông dân và các thành phần kinh tế trên địa bàn đều tập trung trồng rừng vào vụ xuân. Năm nay trồng rừng vụ xuân dự kiến đạt 80% đến 90% kế hoạch trồng rừng cả năm.
Tính đến hết quý I-2017, toàn tỉnh đã triển khai trồng trên 700 nghìn cây phân tán, trồng rừng tập trung khoảng 2.200ha. Các cơ sở sản xuất kinh doanh giống cây lâm nghiệp phục vụ trồng rừng nhìn chung đều tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về quản lý giống cây trồng lâm nghiệp. Thông qua các hoạt động chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng khoa học kỹ thuật và tăng cường quản lý sản xuất nhiều năm qua trên địa bàn tỉnh đã hình thành mạng lưới sản xuất các loại giống cây lâm nghiệp tiên tiến.
Cây giống có xuất xứ rõ ràng, cơ bản là giống tốt thích nghi việc trồng cây, gây rừng trên địa bàn. Các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt đã được đưa vào sản xuất đại trà. Các cơ sở đảm bảo cây giống cung ứng cho các địa phương đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng tốt, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng được đánh giá nghiệm thu trước khi đưa vào trồng rừng.
Vào vụ trồng rừng, lực lượng kiểm lâm trên địa bàn tỉnh đã tập trung hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân thông qua các lớp tập huấn, phát tờ rơi, tuyên truyền trên loa truyền thanh… Vì vậy người dân đã biết trồng rừng đúng kỹ thuật và đầu tư phân bón, chăm sóc để trồng rừng đạt hiệu quả cao.
Cũng như các năm trước, ngành Nông nghiệp theo dõi, nắm bắt diễn biến tài nguyên rừng, giao kế hoạch trồng rừng sát với thực tế. Ngay sau khi nhận được chỉ tiêu, kế hoạch giao, các địa phương đã làm thủ tục để triển khai thực hiện được sớm nhất; cử cán bộ xuống cơ sở hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra hiện trường trồng rừng. Đối với rừng sản xuất, các địa phương khuyến khích người dân trồng giống cây phát triển nhanh, phù hợp từng vùng, cho sinh khối lớn, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây lâm nghiệp.
Đồng thời cán bộ kiểm lâm các huyện, kiểm lâm địa bàn tích cực hướng dẫn kỹ thuật, để người dân thực hiện tốt quy trình, kỹ thuật thâm canh rừng trồng; từng bước áp dụng cơ giới hóa vào khâu làm đất; thực hiện các quy trình kỹ thuật lâm sinh nhằm rút ngắn chu kỳ kinh doanh của rừng trồng sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gỗ rừng trồng.
Việc chuyển đổi cơ cấu, nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp, chú trọng kỹ thuật trong trồng rừng trên địa bàn tỉnh đang được xem là một trong những hướng đi quan trọng trong tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp. Bởi nó không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng mà còn giúp người dân từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, xóa đói giảm nghèo từ đất rừng. (Báo Phú Thọ 17/4, Nguyễn Huế)đầu trang(
Thời gian qua, công tác bảo vệ và phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu (Khu BTTN BC-PB) đã được các cấp, chính quyền địa phương quan tâm, chỉ đạo quyết liệt.
Lực lượng Khu bảo tồn và Kiểm lâm đã chủ động tham mưu và tổ chức triển khai nhiều giải pháp, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó công tác trồng cây gây rừng cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Tổng diện tích trồng rừng năm 2016 được là 34,15ha/34,15ha, đạt 100% so với kế hoạch (trong đó: trồng rừng mới 9,6ha/9,6ha, trồng rừng nâng cao chất lượng 24,55ha/24,55ha), chăm sóc rừng trồng thay thế được 18ha/18ha, đạt 100% chỉ tiểu đăt ra.
Riêng đối với công tác trồng rừng thay thế trong năm 2016 của Ban chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh được 6,95ha/6,95ha đạt 100% khối lượng theo kế hoạch; Sư đoàn 367được 1,2 ha/2,2ha, có 1 ha đã trồng nhưng không đạt tiêu chí nghiệm thu.
Công tác trồng rừng đạt được kết quả như vậy là do thực hiện tốt công tác chuẩn bị về hiện trường, cây giống ngay từ đầu mùa mưa và thực hiện tốt công tác triển khai, phối hợp tốt với các hộ nhận khoán do vậy công tác trồng rừng đạt được kết quả cao.
Thời tiết mùa mưa năm 2016 tương đối đều, do vậy cây sau khi trồng đạt tỷ lệ sống tương đối cao là từ 90 - 95%, cây sinh trưởng phát triển tốt. Ngoài ra cũng nhờ có hộ nhận khoán tham gia vào thực hiện công tác trồng rừng trước hết là hộ tự bỏ tiền ra thuê nhân công thực hiện công tác trồng rừng theo kế hoạch và sự hướng dẫn của Khu bảo tồn mặc dù chưa được Nhà nước cấp kinh phí tạm ứng.
Mặc dù công tác trồng rừng tại Khu BTTN BC-PB đã đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng trên thực tế vẫn còn không ít khó khăn trong việc triển khai như: việc thực hiện trồng rừng trên những diện tích người dân chiếm đất là khó có thể thực hiện được vì nếu trồng thì sẽ bị người dân nhổ bỏ, ngăn cản không cho trồng rừng.
Bên cạnh đó thì công tác xử lý của các cấp có thẩm quyền đối với các hộ dân tự ý vào chiếm đất canh tác cây nông nghiệp và nhổ cây rừng mới trồng,… còn gặp nhiều khó khăn do người dân lén lút nhổ phá nên khó có hình ảnh, chứng cớ bắt quả tang đối tượng vi phạm. Ngoài ra đơn giá phê duyệt công lao động thực hiện công tác trồng rừng chăm sóc bảo vệ rừng quá thấp so với thực tế, nên cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thực hiện trồng rừng, chăm sóc, chất lượng rừng trồng.
Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng trong giai đoạn tiếp theo, Khu BTTN BC-PB đã đề ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao ý thực trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ của các hộ nhận khoán đất khu bảo tồn; Tiếp tục rà soát những diện tích có khả năng trồng rừng; trồng phục hồi lại rừng ngay sau khi thực hiện việc di dời các hộ dân theo đề án “Ngăn chặn, khắc phục tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu” để tránh tình trạng tái chiếm trở lại; Tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các hộ nhận khoán thực hiện tốt trách nhiệm của hợp đồng khoán, để đảm bảo công tác trồng rừng, chăm sóc bảo vệ rừng, hạn chế các hộ nhận khoán vị phạm hợp đồng khoán; Cương quyết xử lý những hộ nhận khoán vị phạm hợp đồng khoán, không làm hết trách nhiệm của bên nhận khoán; Khuyến khích, biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Đồng thời BQL Khu BTTN BC-PB cũng đề nghị các ngành chức năng hỗ trợ điều tra, xử lý kịp thời các đối tượng nhổ phá rừng trồng để răn đe giáo dục và cũng để tránh thiệt thòi về tiền bạc và công sức cho các hộ nhận khoán đã thực hiện tốt công tác trồng rừng. (Sở Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 16/4, Nguyên Ngọc)đầu trang(
Để tìm kiếm khách hàng và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, thời gian qua, Hiệp hội Chế biến gỗ Bình Dương (BIFA) rất tích cực tham gia các hội chợ chuyên ngành gỗ trong và ngoài nước.
Hội chợ đồ gỗ, lâm sản và thương mại Bình Định 2017 diễn ra từ ngày 12 đến 18-5-2017 tới đây do UBND tỉnh Bình Định, Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại tỉnh Bình Định phối hợp với Công ty Cổ phần Truyền thông Quốc tế Nam Việt Galaxy tổ chức cũng đang thu hút sự quan tâm của BIFA.
Hội chợ có quy mô trên 400 gian hàng của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh Bình Định. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp quảng bá hình ảnh đồ gỗ, lâm sản và các sản phẩm khác trên thị trường trong nước và quốc tế. Lãnh đạo BIFA cho biết, dự kiến sẽ có hàng chục doanh nghiệp gỗ trong tỉnh tham gia hội chợ này. (Báo Bình Dương 17/4, Xuân Vĩ)đầu trang(
Nhiều năm qua, ngành gỗ luôn đạt sự tăng trưởng tốt về giá trị XK. Nhưng năm 2016, giá trị XK gỗ và đồ gỗ chỉ tăng trưởng rất thấp (1,1%)...
Nguyên nhân là do những khó khăn về thị trường và sự cạnh tranh gay gắt từ nhiều nước sản xuất đồ gỗ lớn trong khu vực. Để lấy lại đà tăng trưởng cần thiết, ngành gỗ cần có những thay đổi lớn. Trong đó, liên kết trong ngành gỗ được coi là một yếu tố quan trọng.
Theo thông tin mà Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFORES) công bố tại “Diễn đàn Kết nối vì mục tiêu phát triển bền vững ngành gỗ” tổ chức tại TP.HCM ngày vào cuối tuần qua, hiện nay, có khoảng 4.300 doanh nghiệp hoạt động trong ngành gỗ.
Tuy nhiên, 95% trong số đó là doanh nghiệp nhỏ, sử dụng dưới 50 lao động. Liên kết trong ngành giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp chế biến gỗ với doanh nghiệp, người nông dân trồng rừng nguyên liệu còn khá hạn chế.
Dầu vậy, trong ngành gỗ cũng đã xuất hiện một số mô hình liên kết khá chặt chẽ từ khâu trồng rừng đến chế biến, mang lại sự chuyển biến tích cực cho những đơn vị tham gia. Điển hình là chuỗi liên kết của Tập đoàn IKEA.
IKEA đặt hàng các sản phẩm gỗ với hơn 10 công ty chuyên chế biến đồ gỗ có năng lực, có nguồn nguyên liệu tốt. Một trong những yêu cầu mà IKEA đặt ra với các công ty chế biến gỗ là sản phẩm phải được làm từ gỗ nguyên liệu có chứng chỉ FSC 100%.
Chính vì vậy, để đáp ứng được yêu cầu này, các công ty hợp tác với IKEA như NAFOCO, Woodsland… đã liên kết với các hộ có nguồn đất trồng rừng ở Thanh Hóa, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang, Quảng Trị…, để trồng rừng nguyên liệu theo hướng bền vững, có chứng chỉ FSC. Trồng rừng theo liên kết này, các hộ được các công ty hỗ trợ về tài chính, cây giống, đảm bảo thu mua toàn bộ gỗ có chứng chỉ FSC.
Còn các công ty cung ứng sản phẩm làm từ gỗ có chứng chỉ FSC cho IKEA, cũng yên tâm về đầu ra vì toàn bộ là làm theo đơn đặt hàng của tập đoàn này. Không những thế, các công ty chế biến gỗ liên kết với IKEA còn có cơ hội sản xuất theo các tiêu chuẩn quốc tế, thay đổi công nghệ, tổ chức lại sản xuất để nâng cao năng suất, doanh thu và lợi nhuận mà không cần phải mở rộng nhà máy, tuyển thêm nhân công.
Theo ông Nguyễn Quang Vinh (VIFORES), với ngành chế biến gỗ và xuất khẩu dăm gỗ, phát triển rừng trồng có ý nghĩa rất quan trọng. Nhu cầu sử dụng gỗ rừng trồng để làm đồ gỗ xuất khẩu ngày càng tăng vì đảm bảo được sự ổn định về nguồn cung và tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu. Do đó, xu hướng liên kết giữ các công ty chế biến gỗ với các hộ trồng rừng nguyên liệu đang xuất hiện ngày càng nhiều ở các địa phương có rừng sản xuất.
Liên kết trồng rừng nguyên liệu cũng sẽ giúp cho các doanh nghiệp ngành gỗ có thể vượt qua được những thách thức lớn về gỗ nguyên liệu trong năm 2017 và những năm tiếp theo.
Những thách thức gồm: Cạnh tranh thu mua gỗ rừng trồng đang diễn ra gay gắt; gỗ rừng trồng trong nước đang có nhiều hạn chế về chất lượng (chủ yếu là gỗ có đường kính nhỏ; năng suất trên 1ha chưa cao…); mới chỉ có 8% diện tích rừng trồng được cấp chứng nhận bền vững FSC, trong khi các thị trường Mỹ, EU… đều đã đòi hỏi đồ gỗ phải có chứng chỉ, có nguồn gốc hợp pháp.
Bên cạnh đó, nhu cầu liên kết giữa các doanh nghiệp gỗ với nhau cũng đang được đặt ra nhằm tăng sức cạnh tranh cho ngành hàng gỗ Việt Nam và tối đa hóa nguồn lực của từng doanh nghiệp.
Ông Điền Quang Hiệp, TGĐ Cty TNHH Minh Phát 2, cho rằng, ngành chế biến gỗ cần gấp rút hình thành các cụm công nghiệp chế biến gỗ. Bởi khi có những cụm công nghiệp chế biến gỗ, các công ty chế biến gỗ sẽ thuận lợi hơn trong việc chia sẻ với nhau về thông tin, tận dụng nguồn lực sẵn có và đơn hàng. Còn cứ để mỗi công ty nằm một nơi như hiện nay thì rất khó kết nối làm việc với nhau. (Nông nghiệp Việt Nam 17/4, tr7, Thanh Sơn)đầu trang(
Gỗ Việt Nam hiện đang nằm trong số các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất, với kim ngạch đạt gần 7 tỷ USD trong năm 2016. Mặc dù tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây có giảm song ngành gỗ vẫn còn nhiều dư địa để phát triển nếu như tạo ra được một liên kết chuỗi trong sản xuất.
Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến năng suất của ngành gỗ thấp là chưa có tính liên kết trong ngành, Hiệp hội Gỗ và Lâm Sản Việt Nam (Vietfores) cho biết tại Hội thảo Liên kết trong ngành chế biến gỗ được tổ chức tại Hà Nội chiều hôm ngày 17/4.
Trong đó, việc thiếu liên kết làm lãng phí nguồn lực trong đầu tư, đặc biệt là khâu dự trữ nguyên liệu của các doanh nghiệp chế biến. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ đều phải dự trữ nguyên liệu gỗ đầu vào.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tập trung cho nguồn lực tài chính rất lớn tới 60 – 70% tổng vốn của doanh nghiệp để tập trung cho khâu dự trữ nguyên liệu. Chỉ có khoảng 30 - 40% vốn còn lại là tập trung vào khâu chế biến và sản xuất.
Trong khi cùng là một ngành nhưng với một số nước như Trung Quốc lại có cách làm khác. Cụ thể, một doanh nghiệp Trung Quốc mỗi ngày xuất 60 container đồ gỗ và cần dự trữ khoảng 2.000 m3 gỗ xẻ nguyên liệu. Có nghĩa là họ tập trung nhiều cho khâu chế biến. Ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam mỗi ngày chỉ xuất khẩu 10 container hàng nhưng dự trữ tới 10.000 m3 gỗ.
Vietfores cũng cho biết, không có liên kết dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp đầu tư dàn trải vào nhiều khâu các nhau của chuỗi cung nhằm chủ động trong sản xuất. Tuy nhiên, rủi ro có thể xảy ra làm hạn chế hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
Ngoài ra, thiếu liên kết làm mất cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp có uy tín hiện nhận được những đơn hàng nhưng với khả năng của mình thì không thể đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Kết quả là doanh nghiệp mất cơ hội chia sẻ các đơn hàng, thậm chí có thể chịu tổn thất lớn trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn còn thiếu đơn hàng.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó Chủ tịch, Tổng thư ký Viforest nhấn mạnh: “Việc liên kết giữa doanh nghiệp và chủ trồng rừng là rất quan trọng. Bởi, việc liên kết sẽ giải quyết được ba vấn đề cơ bản là nguồn cung nguyên liệu gỗ được đáp ứng, đảm bảo nguồn gốc gỗ, truy xuất gỗ một cách dễ dàng và lợi nhuận của các bên đều đạt được. Việc liên kết này là xu thế tất yếu trên thế giới và của Việt Nam trong tương lai vì liên quan đến sản xuất theo chuỗi”.
Theo Viforest, không riêng Việt Nam, thị trường thế giới đang yêu cầu khắt khe về việc sử dụng sản phẩm gỗ có nguồn gốc hợp pháp. Cụ thể sản phẩm này sẽ đáp ứng được các yêu cầu tại các thị trường khó tính như Mỹ (với Đạo luật Lacey Act) hoặc các nước EU (trong khuôn khổ của Quy định về Gỗ EUTR).
Ông Quyền cho rằng, trước đây doanh nghiệp có thể mua gỗ của các hộ trồng rừng nhỏ lẻ nhưng nay doanh nghiệp muốn mua gỗ từ các chủ rừng lớn, các hợp tác xã để yên tâm về nguồn gốc. Tuy nhiên, trong mối liên kết cần quan tâm đến việc trồng rừng có chứng nhận về quản lý rừng (FSC) để có gỗ hợp pháp hay chỉ liên kết để trồng rừng truyền thống.
Cùng quan điểm ông Nguyễn Vinh Quang, đại diện Tổ chức Forest Trends cho rằng, nhu cầu sử dụng gỗ rừng trồng để làm đồ gỗ xuất khẩu ngày càng tăng để đảm bảo được sự ổn định về nguồn cung và tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu. Theo đó, để duy trì nguồn nguyên liệu hợp pháp, mô hình liên kết giữa các công ty gỗ và các hộ gia đình trồng rừng đã đuợc hình thành và đang trên đà phát triển. (Pháp luật Xã hội/ Vietnambiz 17/4, An Vũ)đầu trang(
Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ Việt Nam Nguyễn Tôn Quyền cho biết: Phát triển rừng trồng có vai trò hết sức quan trọng đối với ngành chế biến đồ gỗ và dăm xuất khẩu của Việt Nam.
Sản lượng gỗ rừng trồng trong nước khai thác hàng năm đạt khoảng 16 triệu mét khối. Khoảng 80% nguồn gỗ này là gỗ có đường kính nhỏ, được sử dụng làm nguyên liệu dăm và MDF (loại dăm được làm từ composite); 20% còn lại được sử dụng sản xuất các sản phẩm đồ gỗ, chủ yếu phục vụ xuất khẩu.
Các thị trường như Hoa Kỳ, EU có những đòi hỏi chặt chẽ về tính pháp lý của nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào dùng để sản xuất các sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu. Nhu cầu của các thị trường này đang không ngừng gia tăng. Vì vậy, nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng ngày càng được ưa chuộng; là một trong những nguồn cung quan trọng cho ngành gỗ.
Để duy trì nguồn nguyên liệu gỗ hợp pháp, ổn định, mô hình liên kết giữa các công ty chế biến gỗ xuất khẩu và các hộ gia đình trồng rừng đã được hình thành và đang trên đà phát triển. Liên kết này dựa trên niềm tin rằng nguồn lực của các bên tham gia sẽ được tối đa hóa. Cụ thể, công ty chế biến có tiềm lực về vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ, trình độ quản lý và bao tiêu đầu ra cho sản phẩm; các hộ dân có nguồn đất trồng rừng và lao động.
Một số ý kiến đồng nhất với quan điểm, đất lâm nghiệp nên giao cho các công ty lâm nghiệp, bởi đây là nhóm có năng lực sản xuất tốt, vốn và trình độ kỹ thuật. Trong khi đó năng lực sản xuất của các hộ thấp, thiếu nguồn lực đầu vào về vốn, còn nhiều hạn chế về trình độ thâm canh, sản xuất nhỏ lẻ nên chi phí giao dịch cao... nên đất giao cho các hộ gia đình sử dụng không hiệu quả.
Đất lâm nghiệp là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, đặc biệt ở các vùng núi, nơi có tỉ lệ đói nghèo còn cao. Trong hai thập kỷ trở lại đây, Chính phủ đã thực hiện giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, công ty lâm nghiệp nhà nước, một số công ty tư nhân và cộng đồng. Khoảng 1,4 triệu hộ được giao 3.146 triệu ha đất lâm nghiệp và 134 công ty Nhà nước được giao 1,454 triệu ha.
Tại Việt Nam, mô hình liên kết phát triển rừng trồng đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) là một mô hình điển hình giữa công ty chế biến gỗ và các hộ trồng rừng miền núi. Trong liên kết này, các công ty chuyên chế biến sản phẩm gỗ cho Tập đoàn IKEA như Công ty CP XNK Gỗ Nam Định (NAFOCO), Công ty Woodsland đã liên kết với các hộ có nguồn rừng trồng tại các tỉnh như Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Quảng Trị nhằm phát triển rừng trồng gỗ lớn, đạt chứng chỉ FSC; tạo nguồn cung gỗ nguyên liệu cho các công ty để sản xuất sản phẩm cho Tập đoàn IKEA (gọi tắt là liên kết IKEA). (Bnews 17/4)đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Hai con sư tử đã tấn công một chú nghé con, nhưng bị cả đàn trâu kiên quyết đáp trả. Kết quả, hai con sư tử phải bỏ chạy.
Sự việc trên xảy ra tại Umlani Bushcamp, khu bảo tồn thiên nhiên tư nhân Timbavati nằm trong công viên quốc gia Kruger ở Nam Phi, Mirror đưa tin.Chú nghé con này đã trở thành mục tiêu tấn công của hai con sư tử háu ăn sau khi bị lạc khỏi đàn.
Những con sư tử rón rén tiến tới gần chú nghé, tạo thành vòng vây và sử dụng móng vuốt để ghì con mồi xuống đất.Trong lúc chú nghé con đang tuyệt vọng để chống cự bằng chút sức lực yếu ớt của mình, một bầy trâu gồm ít nhất 10 con đã hùng hổ tiến tới.Sức mạnh của bầy trâu khiến con sư tử hoảng sợ, bỏ móng vuốt khỏi con mồi rồi chạy tót vào bụi cây.
Bầy trâu sau đó nhanh chóng "dàn đội hình", hầm hè dọa dẫm con sư tử lớn hơn để nó buông chú nghé con tội nghiệp ra. Chỉ trong chốc lát, tình thế đã được đảo ngược hoàn toàn. Những con sư tử bỗng chốc trở nên rúm ró trước bầy trâu trước khi cong đuôi chạy mất hút.
"Điều bất ngờ nhất là tình đoàn kết và sự quyết đoán của bầy trâu. Thật là khoảnh khắc tuyệt vời!", một cư dân mạng bình luận.
"Thật là một hành động không thể tin nổi giữa hai con sử tử và một bầy trâu. Chúng đã tấn công ngược lại và xua đuổi những con sử tử đi nơi khác". (Vietnamnet 18/4, Sầm Hoa)đầu trang(./.
|
|||