Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 12 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI

BẢO VỆ RỪNG
Là một huyện nằm ở thượng nguồn sông Đà, Mường Tè có vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước, của tỉnh, là nơi sinh thuỷ cung cấp nước cho 3 công trình thuỷ điện lớn là thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Sơn La và Lai Châu.
Với ý nghĩa tầm quan trọng đó, trong những năm qua huyện đã triển khai thực hiện công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Thông qua việc thực hiện khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội, củng cố an ninh chính trị và trật tự ở nông thôn. Việc bảo vệ và phát triển rừng ở các xã biên giới góp phần cùng các lực lượng vũ trang bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới Quốc gia.
Nằm ở cực Tây Bắc của Tổ quốc, huyện Mường Tè có tổng diện tích đất tự nhiên là 267.934,16ha, chiếm 30% diện tích tự nhiên của tỉnh, diện tích đất lâm nghiệp là 258.102,8ha, chiếm 96,3% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất có rừng 164.386,5 ha, chiếm 61,3%, đất trống không có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp là 93.716,3 ha, chiếm 38,7%.
Trong những năm qua Đảng và Chính phủ đã có nhiều chủ trương, chính sách và quan tâm đầu tư cho đồng bào các dân tộc trong tỉnh nói chung và huyện Mường Tè nói riêng, như  Chương trình 661, Chương trình thí điểm khoanh nuôi, bảo vệ rừng phòng hộ rất xung yếu 21 xã biên giới tỉnh Lai Châu; chương trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững. Đặc biệt, năm 2010 Chính phủ đã có Nghị định số 99/NĐ-CP về việc thực hiện chính sách chi trả Dịch vụ môi trường rừng.
Ông Mai Văn Thạch, Chủ tịch UBND huyện Mường Tè cho biết: Năm 2010 tỷ lệ che phủ rừng của huyện mới đạt 50%, đến năm 2015 đã đạt 61,35%, tăng 6,3%, đạt 111,4% mục tiêu Nghị quyết Đại hội. Việc triển khai thực hiện công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã thu hút được trên 17.992 lao động tham gia, tạo công ăn việc làm, từng bước có thu nhập, cải thiện đời sống thông qua việc nhận khoán khoanh nuôi, bảo vệ rừng. Tỷ trọng ngành lâm nghiệp đến năm 2015 chiếm 44% ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân 8,5%/năm, vượt 2,5% mục tiêu Nghị quyết Đại hội.
Thông qua việc thực hiện khoanh nuôi, bảo vệ rừng đã góp phần bảo đảm an sinh xã hội, củng cố an ninh chính trị và trật tự ở nông thôn. Việc bảo vệ và phát triển rừng ở các xã biên giới góp phần cùng các lực lượng vũ trang bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới Quốc gia. Đã triển khai khoán bảo vệ rừng 164.386,5 ha; khoán khoanh nuôi rừng 21.373,1ha. Diện tích khoanh nuôi rừng sau đầu tư, đã và đang chuyển trạng thái đạt kết quả khá cao.
Đạt được kết quả đó, theo lãnh đạo huyện Mường Tè, trong những năm qua Đảng bộ, Nhân dân các dân tộc trong huyện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, tổng kết, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ công tác khoanh nuôi tái sinh rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, thực hiện có hiệu quả Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, Nghị quyết 30a của Chính phủ về hỗ trợ giao cho đồng bào các dân tộc bảo vệ rừng, góp phần nâng cao độ che phủ của rừng hằng năm đạt 2% trở lên.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay diện tích rừng của huyện Mường Tè tuy tăng lên nhưng chất lượng, năng suất trữ lượng rừng không cao, chủ yếu là rừng nghèo và tái sinh phục hồi. Tình trạng đốt, phát rừng, lấn chiếm rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép ở một số nơi vẫn xảy ra, đặc biệt là dân di cư tự phát giáp ranh với huyện Mường Nhé; diện tích khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng đạt chỉ tiêu, kế hoạch, nhưng hiệu quả chưa cao.
Bởi vậy để thực hiện có hiệu quả công tác khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng đầu nguồn Sông Đà, đạt được mục tiêu nâng tỷ lệ độ che phủ rừng đạt trên 64% vào năm 2020, Đảng bộ huyện Mường Tè đã xác định tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp như: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp Luật về bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai và các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng của toàn dân.
Nêu cao trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp của cấp uỷ đảng, các cơ quan, ban ngành bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao nhận thức và hành động của toàn dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng, về quyền lợi, trách nhiệm của người dân; làm cho Nhân dân hiểu rõ rừng phải có chủ và người chủ thật sự của rừng chính là người dân. Chủ rừng phải chịu trách nhiệm về diện tích rừng đã được giao quản lý, được hưởng lợi từ rừng.
Thực hiện hiệu quả công tác kiểm kê rừng trên địa bàn huyện trong năm 2015. Từ đó, xác định cụ thể hiện trạng từng loại rừng và có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung chi tiết các dự án đang triển khai, định hướng khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển rừng cho các năm tiếp theo.
Tiến hành giao rừng theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, đảm bảo đất và rừng có chủ thật sự, hạt nhân là các hộ gia đình, gắn và nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng đối với việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững; ban hành chương trình hành động, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2015 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Thực hiện có hiệu quả Nghị định số 99/2010/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và quy định của các Bộ, Ngành Trung ương đối với các đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng. Giữ được diện tích rừng tự nhiên hiện có, để tăng độ che phủ của rừng và thực hiện trồng rừng phòng hộ, trồng rừng thay thế cho diện tích rừng bị mất do làm thủy điện Lai Châu và tập trung khoanh nuôi tái sinh bảo vệ rừng. Hàng năm, có kế hoạch, phương án bảo vệ rừng và phát triển rừng, phòng cháy chữa cháy rừng từ cơ sở, có kế hoạch tái đầu tư để phát triển nông, lâm nghiệp từ nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Ông Mai Văn Thạch cũng đề nghị tỉnh nên có chính sách đào tạo, tập huấn cho cán bộ tại chỗ làm công tác quản lý Nhà nước về phát triển lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó tỉnh sớm ban hành hướng dẫn, thi hành Nghị định số 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020, và cần xem xét cụ thể theo tính đặc thù của huyện Mường Tè cho định mức trồng rừng phòng hộ hiện nay.
Có như vậy thực hiện công tác khoanh nuôi, bảo vệ rừng nơi thượng nguồn sông Đà mới đạt kết quả bền vững. (Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Lai Châu 16/12) đầu trang(
Nhằm tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân trong công tác bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng, huyện Bảo Yên đã triển khai quy chế phối hợp và ký cam kết phòng, chống cháy rừng tại 26 thôn, bản thuộc các xã Việt Tiến, Vĩnh Yên, Xuân Hòa, Xuân Thượng, Tân Tiến giáp ranh với các huyện Quang Bình (Hà Giang) và Lục Yên (Yên Bái).
Bên cạnh đó, Hạt Kiểm lâm với vai trò là lực lượng thường trực bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đã chỉ đạo cán bộ Kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở, tham mưu cho UBND xã, thị trấn xây dựng kế hoạch bổ sung phương án phòng cháy chữa cháy rừng, hướng dẫn nhân dân các xã và các chủ rừng duy trì hoạt động của tổ xung kích phòng cháy chữa cháy rừng, bố trí lực lượng trực 24/24 giờ đối với mức độ cảnh báo nguy cơ cháy rừng từ cấp III trở lên… (Văn Hóa 16/12) đầu trang(
UBND tỉnh Đồng Nai vừa kiến nghị Bộ NN&PTNT xem xét lại việc đầu tư, thực hiện dự án cải tạo, xây dựng đường giao thông trong vùng lõi Vườn quốc gia Cát Tiên qua xã Đắc Lua, huyện Tân Phú (Đồng Nai).
Cụ thể, UBND tỉnh này kiến nghị Bộ NN&PTNTphối hợp với tỉnh để giải quyết việc không đồng bộ giữa quy hoạch các phân khu rừng đặc dụng của tỉnh và quy hoạch của vườn Cát Tiên, tính khả thi của việc làm đường. Trong khi chờ ý kiến của Bộ NN&PTNT, tỉnh Đồng Nai cũng đề nghị vườn Cát Tiên chưa triển khai dự án làm đường trên.
Theo dự án, tuyến đường trong vùng lõi vườn Cát Tiên sẽ dài hơn 18 km, rộng 6 m, chạy dọc theo sông Đồng Nai từ Trạm Kiểm lâm Đà Cộ đến Trạm Kiểm lâm Đắc Lua. Theo UBND tỉnh Đồng Nai, tuyến đường dự kiến làm nằm trong khu vực vùng lõi vườn Cát Tiên, được bảo vệ nghiêm ngặt. Ở khu vực này chỉ được làm đường mòn rộng không quá 1,5 m.
Ngoài ra, tỉnh Đồng Nai còn cho rằng dự án làm đường trong vùng lõi vườn Cát Tiên nêu trên là chưa cần thiết, chưa mang tính cấp bách. Bởi vì tuyến đường thiết kế cặp theo đoạn sông vốn đã thuận lợi cho việc tuần tra, bảo vệ rừng bằng đường thủy.
Theo tính toán, để làm đường phải vạt hơn 10 ha rừng và đất lâm nghiệp. Điều này sẽ gây ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, chia cắt rừng tự nhiên với sông Đồng Nai làm mất sinh cảnh tự nhiên của rừng, gây cản trở đến hoạt động của các loài thú, nhất là trong việc tìm kiếm thức ăn, nước uống.
Tỉnh Đồng Nai còn cho rằng vườn Cát Tiên nằm trong vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, đang trong thời gian hoàn chỉnh hồ sơ trình UNESCO đề nghị công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. “Nếu mở đường sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại bền vững của Vườn quốc gia Cát Tiên và không phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia” - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Võ Văn Chánh nêu.
Đồng thời với việc phản đối trên, UBND tỉnh Đồng Nai cũng vừa chấp thuận cho Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Cường Thuận IDCO nghiên cứu, lập báo cáo đầu tư dự án xây tuyến đường ven hồ Trị An thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai.
Theo dự án, tuyến đường này dài khoảng 30 km, có mục tiêu cơ bản là tạo đường dân sinh, ổn định đời sống dân cư và biến tuyến đường ĐT 761 (được xây dựng trước đó chưa lâu với giá trị hàng trăm tỉ đồng) thành đường nội bộ của khu bảo tồn… Công ty Cường Thuận còn cho rằng dự án đảm bảo công tác quản lý, bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và gắn liền với việc tôn tạo di tích lịch sử, phát triển hoạt động du lịch sinh thái hồ Trị An. “Qua khảo sát ban đầu cho thấy dự án này không ảnh hưởng nhiều đến rừng” - ông Trần Như Hoàng, Chủ tịch HĐQT Công ty Cường Thuận, trả lời Pháp Luật TP.HCM vào chiều 17-12.
Ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu bảo tồn thiên nhiên - văn hóa Đồng Nai, cho biết dự án xây đường ven hồ Trị An do khu bảo tồn đề xuất. “Diện tích rừng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều do khu vực đường đi qua chủ yếu là cây thưa thớt, đã có sẵn đường mòn” - ông Mùi nói. (Pháp Luật TP.HCM 18/12) đầu trang(
Những người từng gắn bó với Vườn Quốc gia Cát Tiên cho rằng việc mở đường để tuần tra bảo vệ rừng là rất nguy hiểm
Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Trần Thế Liên - Vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên, Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) - cho biết tuyến đường 18,2 km dự kiến đi qua 7 km trảng cây bụi - thứ sinh, 3 km rừng tre nứa có cây gỗ rải rác, 1 km rừng trung bình… và chỉ 0,9 km đi qua khu vực rừng giàu.
Theo ông Liên, nhìn chung, giá trị đa dạng sinh học khu vực dự án đi qua không cao, cũng không mang giá trị đặc trưng của Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên. Nói đến VQG Cát Tiên phải nói đến rừng thường xanh núi thấp mới là rừng tự nhiên, đa dạng sinh học cao. Còn rừng hỗn giao tre nứa lồ ô là rừng thứ sinh, không có gỗ, đã bị khai thác và phục hồi phát triển nhanh nên cần phải phát đốt, cải tạo mới có thức ăn cho động vật.
Động vật đặc trưng của VQG Cát Tiên là thú móng vuốt và chúng kiếm ăn ở khu vực khác, còn khu vực thực hiện dự án tuy cũng là nơi trú ngụ của động vật nhưng không nhiều. “Vì vậy, nếu làm đường qua khu vực như thế này để bảo vệ những cánh rừng nhiều gỗ quý, giàu đa dạng sinh học ở VQG Cát Tiên là đánh đổi cần thiết” - ông Liên khẳng định.
Tuy nhiên, ông Trần Văn Mùi, Giám đốc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai, không đồng tình với nhận định này. “Ông Liên làm bảo tồn mà nói thế là trật rồi! Đã gọi là rừng đặc dụng thì rừng nào cũng có giá trị riêng của nó, tầm quan trọng như nhau. Nói không có gỗ thì giá trị không cao hóa ra mấy cây sú vẹt trong các khu rừng ngập mặn không có giá trị gì cả à?”.
Theo ông Mùi, thực tế cho thấy cứ đường làm đến đâu là rừng mất đến đấy; đường là con dao hai lưỡi, bí bách lắm mới phải mở nhưng cũng chỉ nên là đường đất và thật nhỏ. Tuy nhiên, 12 năm làm Giám đốc VQG Cát Tiên, ông Mùi chưa bao giờ nghĩ phải làm đường giao thông trong rừng.
“Đường càng khó đi thì mới giữ rừng tốt được. Nhưng giờ thì sướng rồi, đường rộng đến 6 m! Không có đường thì lâm tặc vận chuyển gỗ khó khăn hơn nên trộm được ít hơn. Còn có đường thì dễ dàng đưa các phương tiện vận chuyển, móc nối với nhau để vận chuyển gỗ, thú rừng , số lượng ăn cắp lớn hơn!” - ông Mùi chỉ ra nguy cơ.
Một người khác cũng từng gắn bó khá lâu và hiểu địa hình của VQG Cát Tiên là ông Nguyễn Hoàng Hảo, Phó Giám đốc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Văn hóa Đồng Nai. Theo ông Hảo, không cần phân biệt kiểu rừng gì, cứ nói đến rừng trong vùng lõi mà lại ven sông thì biết giá trị đa dạng sinh học cao rồi.
“Làm một dự án trong rừng đặc dụng có rất nhiều tác động không lường hết được, không chỉ trong phạm vi 11 ha đó đâu. Bộ NN-PTNT cứ duyệt nhưng để mất rừng, xảy ra các vụ xâm phạm rừng thì chính quyền địa phương và cơ quan chức năng tại nơi đó phải chịu trách nhiệm đầu tiên, cuối cùng mới đến bộ. Còn nói làm đường để đi tuần, bảo vệ rừng tốt hơn là vô lý vì kiểm lâm phải đi bộ thì mới phát hiện ai ẩn nấp trong đó, chứ ngồi trên ô tô làm sao biết trong rừng có gì?” - ông Hảo đặt vấn đề.
Theo ông Võ Văn Một, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai, cần hết sức thận trọng với dự án này vì nguyên tắc là rừng tự nhiên thì phải giữ chứ không nên phá, rừng đặc dụng thì không xây công trình vì có ai lường hết được tác hại sẽ xảy ra.
“Mới đây, lãnh đạo VQG Cát Tiên có liên lạc với tôi giải thích rằng làm con đường này để tuần tra, giữ rừng. Ý tưởng thì tốt nhưng nếu thực hiện không khéo sẽ từ giữ rừng thành phá rừng. Cả khu vực miền Đông chỉ Mã Đà trải qua Đắc Lua là còn rừng tự nhiên liền mạch, phải giữ nguyên vẹn, không nên đụng vào. Tỉnh Đồng Nai đã rất kiên quyết trong việc đấu tranh loại bỏ 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A làm ảnh hưởng đến VQG Cát Tiên. Do vậy, tôi mong rằng các lãnh đạo đương nhiệm cũng sẽ xem xét thật kỹ, đánh giá được - mất đối với dự án này để đưa ra biện pháp bảo vệ rừng tốt nhất” - ông Một mong mỏi.
Cũng theo ông Một, không nên mang tư tưởng đường dân sinh vào rừng vì hoạt động của cơ giới sẽ rất ảnh hưởng đến rừng, đường rừng để tuần tra bảo vệ khác hoàn toàn với đường dân sinh. “Ở góc độ cá nhân, tôi không ủng hộ dự án này!” - ông Một khẳng định. (Người Lao Động 17/12) đầu trang(
Một ngày tháng 12-2015, ông H., một người dân địa phương dẫn đường đã đưa chúng tôi tiếp cận khu vực đồi đá đen thuộc tiểu khu 22, đội 3 của rừng cấm ở xã Thanh Sơn, huyện Định Quán, Đồng Nai. Rừng này do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà quản lý.
Đồi đá trắng và đồi đá đen của rừng cấm trên được xem là khu vực nóng nhất mà các nhóm khai thác vàng trái phép hoạt động trong thời gian gần đây.
Lội bộ theo những con đường mòn nhỏ hẹp giữa đám cây rừng chằng chịt gần một giờ, cuối cùng chúng tôi leo đến được khu vực cao nhất của đồi đá đen. Đập vào mắt chúng tôi là những hầm khai thác vàng trái phép nằm nhan nhản.
Chỉ một khoảnh rừng nhỏ nhưng chúng tôi đếm được bốn hầm khai thác vàng trái phép nằm gần nhau, trong đó có một hầm đã được lấp miệng. Mỗi hầm rộng 1,5 m, dài 2 m và sâu từ 5 m đến hơn chục mét. Ông H. cho biết hầm đã bị lấp ăn sâu vào lòng núi khoảng 1 km.
Đi vào một hầm chúng tôi phát hiện các thùng nhựa, dụng cụ dùng để đào quặng vàng, còn trên hầm được che đậy bằng một tấm phên gỗ khá chắc chắn. Ông H. chỉ vào các cây nhang cháy dở nói các phu vàng đốt nhang trước khi đào để “cúng thần núi cầu may”.
Ở một miệng hầm, một số quặng vàng (loại đá trắng có ánh vàng, rất nặng) đủ kích thước xếp chồng chất. “Bình thường một viên đá nhỏ quặng cũng không sót lại. Các quặng này để lại là do gần đây chủ rừng làm gắt gao, họ không kịp chuyển đi mới bỏ lại. Thông thường phu vàng sẽ cho các quặng vào bao tải để vác bộ ra rừng rồi chất lên xe máy chở đến nơi xay đá rồi đãi lấy bột vàng” - ông H. giải thích.
Ông H. dẫn chúng tôi đến một căn hầm khác, được che chắn cẩn thận trong lùm chuối và nói hầm này vừa được đào đêm hôm trước. Theo ông H., ở khu vực này ban đêm voi rừng thường về nhiều song các phu vàng vẫn không kiêng dè bởi thời điểm này thích hợp cho việc đào hầm, tránh né việc kiểm tra. “Trong một đêm các phu vàng có thể đào được một hầm sâu cả chục mét” - ông H. nói.
Ông H. tiếp tục dẫn chúng tôi đi sâu vào rừng cấm thêm khoảng 3 km để tiếp cận khu vực đồi đá trắng. Tại đây, các vạt đồi cũng bị đào nham nhở. Theo ông H., ở khu vực này quặng vàng nằm cạn hơn. Vì vậy các phu vàng chỉ đào sâu khoảng 0,5-1 m là có thể thu được quặng. Vì thế quả đồi này bị đào nham nhở khắp nơi. Tại khu vực này, chúng tôi đếm được hơn chục hầm, ngoài một số hầm cũ đã sập thì nhiều hầm còn khá mới.
Trong thời gian tiếp cận khu vực, chúng tôi thấy xuất hiện những bóng người thấp thoáng sau những đám cây rừng. Những người này có lẽ đang đeo bám, theo dõi nhất cử nhất động của chúng tôi. Ông H. cho hay họ là những phu vàng và cai đào vàng. “Các nhóm “vàng tặc” thường đi theo nhóm 15-20 người và không phải là người địa phương. Họ ở tại các chòi rẫy ven gần rừng rồi đêm đến đổ vào khai thác vàng trái phép. Những phu đào đá lấy vàng này rất hung dữ và không thích người lạ đến gần khu vực họ đào vàng” - ông H. nói.
Nhiều người dân xã Thanh Sơn cho biết thêm, từ đầu năm 2015 đến nay tình hình khai thác vàng trái phép tại tiểu khu 22a - đội 3 diễn biến rất phức tạp. Theo đó, nhiều nhóm thường xuyên tụ tập ở các chòi rẫy quanh khu vực khai thác vàng trái phép, chủ yếu vào ban đêm. Chính việc nhiều nhóm cùng xuất hiện đã dẫn đến việc đánh nhau để tranh khu vực đào vàng trái phép.
“Rạng sáng 25-4, các nhóm tranh chấp vị trí các hố đào và chém nhau, làm một số phu vàng bị thương. Tuy nhiên, nơi xảy ra mâu thuẫn ở giữa rừng nên các cơ quan chức năng không biết, còn người dân không dám trình báo vì sợ bị trả thù” - một người dân địa phương nói.
Khi thấy chúng tôi tiến sát một hầm cũ để kiểm tra thì ông H. vội la lên: “Cẩn thận, khéo giẫm vào kim tiêm đấy”. Theo ông H., nhiều người trong số các phu vàng đang hoạt động tại đây nghiện ma túy nên tại những hầm thường có nhiều kim tiêm.
Liên quan đến việc đào vàng lậu nêu trên, UBND huyện Định Quán cho biết đã yêu cầu các cơ quan chức năng tổ chức xác minh, làm rõ và có biện pháp xử lý theo quy định.
Đại diện Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp La Ngà cho biết đơn vị đã phối hợp, phát hiện nhiều nơi trong rừng cấm bị đào trái phép. Đơn cử, Công ty Lâm nghiệp La Ngà đã phối hợp với Công an xã Thanh Sơn và Trạm kiểm lâm địa bàn Thanh Sơn - Ngọc Định lấp một số hầm khai thác vàng trái phép nhưng sau đó kiểm tra lại thì các hố đã bị lấp lại được đào lên. “Việc tuần tra, truy bắt những người đào vàng trái phép gặp nhiều khó khăn” - một bảo vệ rừng giải thích.
Ông Đỗ Mạnh Thắng, Phó Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp La Ngà, thừa nhận hiện tượng đào hầm lấy đất đá trái phép tại rừng tự nhiên do công ty này quản lý đã xảy ra từ lâu nhưng từ đầu năm 2015 thì diễn biến phức tạp hơn. Họ tập trung thành các nhóm, số lượng 10-15 người để vào rừng đào đất đá trái phép và đã xảy ra tình trạng đánh nhau tranh giành “địa bàn”.
“Trước tình hình này, chúng tôi đã tăng cường lực lượng để bảo vệ rừng và ngăn cấm việc đào đất đá trái phép trong rừng cấm. Tuy nhiên, nhiều người thành nhóm đông đã tỏ ra liều lĩnh và manh động nên lực lượng bảo vệ rừng của công ty khó thể trấn áp được” - ông Thắng nói.
Theo ông Thắng, Công ty TNHH Lâm nghiệp La Ngà đã báo cáo sự việc và kiến nghị UBND huyện Định Quán chỉ đạo công an huyện, Hạt Kiểm lâm huyện Định Quán và UBND xã Thanh Sơn hỗ trợ kiểm tra, đưa các đối tượng cư trú bất hợp pháp ra khỏi khu vực nhằm hạn chế việc đào hầm lấy đất đá trái phép. (Pháp Luật TP.HCM 18/12) đầu trang(
Việc “xẻ thịt” rừng xanh để khai thác gỗ rừng trái phép đã diễn ra trong một khoảng thời gian rất dài trên địa bàn huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.
Những khu vực đã bị lâm tặc tàn phá... nhiều cây gỗ bị hạ đổ nhưng bị bỏ lại để cho mục rũa, nhiều cây bị xẻ thịt và vận chuyển gần hết chỉ còn những khúc "đầu thừa, đuôi thẹo" không có giá trị.
Rừng xanh là lá phổi của nhân loại, chúng có nhiều tác dụng không chỉ cung cấp oxi mà còn là tấm lá chăn thép giúp ngăn chặn lũ quét. Vậy nhưng, màu xanh trên những cánh rừng đại ngàn đang dần bị bàn tay con người tàn phá không thương tiếc. Vì lợi ích cá nhân, và lợi ích nhóm mà những tên lâm tặc sẵn sàng đón hạ những cây gỗ trong rừng một cách phi pháp.
Trong khi đó, Nhà nước không ngừng tuyên truyền về việc phải bảo vệ rừng, bảo vệ lá phổi xanh của sự sống thì tại địa phương này công tác quản lý và bảo vệ rừng lại được thực hiện một cách rất lỏng lẻo.
Bằng chứng cho sự lỏng lẻo này là việc lâm tặc ngang nhiên khai thác gỗ rừng trái phép và qua mặt các cơ quan chức năng nhưng đội ngũ cán bộ bảo vệ rừng lại không hề hay biết.
Người dân tại địa phương chia sẻ, lâm tặc vào rừng như chỗ không người và vận chuyển gỗ ra bên ngoài rất nhiều nhưng vì một lý do nào đó mà việc vận chuyển vẫn trót lọt. Hiếm lắm mới thấy cán bộ quản lý đi tuần rừng hoặc có đi nhưng không đi vào sâu bên trong nên có khi lâm tặc khai thác bên trong, cán bộ cũng không biết.
Việc lâm tặc ngang nhiên đốn hạ và tàn phá rừng một cách vô tội vạ đã diễn ra trên địa bàn huyện Lâm Bình trong một thời gian dài. Thế nhưng sự lỏng lẻo trong công tác quản lý, bảo vệ rừng mới là nguyên nhân khiến cho tình trạng phá rừng không ngừng thuyên giảm.
Đem những thắc mắc tìm đến gặp ông Nông Giang Nam – Phó hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Lâm Bình thì ông Nam mới ngã ngửa: “Khu vực mà lâm tặc khai thác ở chỗ nào vậy, để tôi cho người đi kiểm tra. Tuần nào Hạt cũng cử cán bộ đi tuần rừng 2 lần/tuần nhưng sao không thấy chỗ mà em nói là lâm tặc đang khai thác trái phép. Chắc chỗ đó ở xa lắm, nên cán bộ Hạt mới không thấy…”.
Khi phóng viên đặt câu hỏi: “Phải chăng công tác quản lý và bảo vệ rừng của các cơ quan chức năng huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang đang “có vấn đề”? nên lâm tặc mới có cơ hội chặt phá rừng" thì ông Nam phân trần: “Cán bộ làm việc tại Hạt kiểm lâm huyện Lâm Bình có tất cả 26 người/8 xã. Lực lượng mỏng, trong khi diện tích quản lý quá lớn nên không thể lúc nào cũng đi kiểm tra và ngăn chặn việc chặt phá rừng được. Trong khi đó, các đối tượng lâm tặc lại rất manh động và lươn lẹo nên hễ thấy bóng dáng cán bộ là chúng đã tẩu tán gỗ khai thác và bỏ trốn hết rồi”.
Trong khi rừng tại khu vực Lũng Lừa, xã Thượng Lâm, huyện Lâm Bình đã bị các đối tượng lâm tặc chặt hạ từ nhiều tháng nay thì vị cán bộ Hạt kiểm lâm này mới dứt khoát: “Cái này để bọn anh cử người đi kiểm tra và sẽ báocáo lại sau”.
Cũng về vấn đề này ông Đặng Văn Sình – Phó chủ tịch huyện Lâm Bình được biết: “Tài sản lớn nhất ở Lâm Bình chỉ còn những cánh rừng. Riêng về việc bảo vệ rừng thì huyện Lâm Bình làm rất quyết liệt. Hàng tuần, UBND huyện thường giao ban với Hạt kiểm lâm và lắng nghe báo cáo thường xuyên về công tác bảo vệ rừng. Sự việc này, UBND huyện sẽ cho người kiểm tra và trả lời sau”.
Không biết những cây nghiến cổ thụ ngàn năm tuổi trong những cánh rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tại các khu vực bảo tồn của huyện Lâm Bình có đợi được những người làm công tác quản lý và bảo vệ rừng hay không. Chỉ biết rằng, nếu không có biện pháp ngăn chặn và xử lý kịp thời thì một ngày không xa những cây gỗ quý nghìn năm tuổi chỉ còn được ghi trên các tập tài liệu. (Người Đưa Tin 17/12) đầu trang(
Diện tích rừng tự nhiên của Hà Tĩnh ngày càng bị thu hẹp, chất lượng rừng giảm sút đáng kể và nguy cơ những cánh rừng tự nhiên tiếp tục bị xâm hại vẫn luôn hiện hữu. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên “cuộc chiến” bảo vệ những “lá phổi xanh” vẫn còn nhiều thách thức...
Theo ước tính, tỉnh Hà Tĩnh hiện có khoảng 165.000 ha rừng tự nhiên, chủ yếu được phân bố ở vùng núi cao, trong đó, khoảng 100.000 ha được quy hoạch rừng sản xuất, số còn lại là rừng phòng hộ. Lâu nay, công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng này đã được chủ rừng, lực lượng kiểm lâm, chính quyền các cấp và cơ quan hữu quan vào cuộc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên hiệu quả chưa như mong đợi, “máu” của rừng vẫn chảy.
Việc bắt giữ, xử lý các vụ khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến, sử dụng lâm sản và động vật rừng trái phép được thực hiện đều đặn hàng năm nhưng tình trạng phá rừng vẫn tiếp diễn. 5 năm qua, các lực lượng chức năng đã phát hiện và xử lý 2.847 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 4.470 m3 gỗ các loại, 7.893 kg động vật rừng và thu giữ hàng trăm phương tiện, công cụ phạm pháp.
Qua theo dõi cho thấy, thời gian qua, ở nhiều địa phương như: Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh, Vũ Quang đã xẩy ra những vụ vi phạm lâm luật có tính chất nghiêm trọng, mật độ diễn ra khá dày, hành vi khá tinh vi, gây tổn hại lớn về tài nguyên rừng.
Bên cạnh đó, việc chuyển đổi mục đích sử dụng quỹ đất rừng cũng tác động không nhỏ đến diện tích rừng tự nhiên. Theo số liệu thống kê, từ năm 2010 đến nay, tỉnh Hà Tĩnh đã chuyển đổi 1.042 ha rừng tự nhiên sang sản xuất, gần 4.465 ha sang trồng cao su và phá bỏ hơn 447 ha để làm 2 nhà máy thủy điện. Tuy nhiên, đây chưa phải là những con số cuối cùng bởi nhu cầu sử dụng đất phục vụ phát triển KT-XH, đảm bảo QPAN trong những năm tới tiếp tục tăng cao và việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng là điều không thể tránh khỏi.
Ước tính, trong 5 năm tới, toàn tỉnh sẽ tiếp tục chuyển đổi khoảng 22.049 ha rừng tự nhiên sang rừng trồng và đất ở nông thôn, gần 5.000 ha để trồng cao su cùng hàng ngàn ha khác phục vụ các công trình thủy điện, giao thông, khai thác khoáng sản...
Hành vi lấn chiếm, đốt rừng làm nương rẫy của các hộ dân cũng gây tổn hại nghiêm trọng đến rừng tự nhiên. Những năm gần đây, ở nhiều địa phương đã xẩy ra 180 vụ xâm hại rừng với diện tích lên tới hàng trăm ha, tuy nhiên, con số này chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm”. Dù chủ rừng, chính quyền các cấp, lực lượng chức năng đã tập trung vào cuộc nhưng vẫn không thể chấm dứt được tình trạng này.
Ông Nguyễn Ngọc Lâm - Phó trưởng BQL Rừng phòng hộ Nam Hà Tĩnh phản ánh: “Bên cạnh phối hợp với các lực lượng chức năng, đơn vị đã tập trung chỉ đạo các trạm bảo vệ rừng tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy đuổi các đối tượng và hành vi vi phạm lâm luật trên lâm phần được giao quản lý. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên công tác bảo vệ rừng, nhất là rừng phòng hộ còn gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn nhiều vấn đề phức tạp.
Đặc biệt, do thiếu đất canh tác, nhận thức chưa đầy đủ, chế tài xử phạt chưa đủ sức răn đe nên nhiều hộ dân đã vào sẻ phát, lấn chiếm trái phép cả rừng phòng hộ và tình trạng này có dấu hiệu gia tăng”.
Theo nhiều nhà chuyên môn, việc bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên cũng đang gặp nhiều khó khăn do thiếu kinh phí. Mặc dù Nhà nước đã bố trí kinh phí cho công tác khoán bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh rừng nhưng mức khoán quá thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu.
Phản ánh điều này, nhiều chủ rừng cho rằng, diện tích rừng tự nhiên đa phần nằm ở vùng núi cao, địa hình rộng lớn và phức tạp, giao thông cách trở, do đó, với mức khoán chỉ 200.000 đồng/ha/năm đối với rừng phòng hộ và 100.000 đồng/ha/năm đối với rừng tự nhiên được quy hoạch để sản xuất thì rất khó trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là với những vùng rừng nhạy cảm, dễ bị xâm hại.
Do nguồn kinh phí hạn hẹp nên chỉ mới dừng lại ở khâu bảo vệ, chủ yếu tập trung cho rừng phòng hộ, đặc dụng. Ở một góc độ khác, hiệu quả kinh tế từ những cánh rừng này chưa đủ sức hấp dẫn nên các doanh nghiệp không mặn mà đầu tư theo hướng lâu dài và bền vững, nhất là trong việc làm giàu rừng tự nhiên là rừng sản xuất, trồng các loại cây gỗ lớn có giá trị kinh tế và phòng hộ cao gắn với chế biến đồ gỗ cao cấp...
Để khắc phục vấn đề này, cần có nhiều nguồn lực, các cơ chế, chính sách sát đúng, đồng bộ và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành chức năng, chủ rừng và cả người dân... (Báo Hà Tĩnh 17/12) đầu trang(
Trong khi vụ án phá rừng lớn nhất từ trước tới nay xảy ra vào năm 2014 tại rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đang trong quá trình hoàn tất công tác điều tra và chuẩn bị đưa ra xét xử thì lợi dụng sự buông lỏng quản lý của cơ quan Kiểm lâm (KL), lâm tặc đã lén vào các khu vực giáp ranh để tiếp tục xẻ thịt “lá phổi” của Đà Nẵng.
Rừng thì liên tục chảy máu, còn cơ quan KL  địa bàn lý giải là do... mưa gió và lực lượng mỏng.
Như Báo Công an TP Đà Nẵng đã thông tin, từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11 vừa qua, lợi dụng sự buông lỏng quản lý của cơ quan KL, lâm tặc đã kéo vào khu vực nằm giữa đất rừng sản xuất và rừng đặc dụng thuộc tiểu khu 20, rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa để khai thác gỗ với phạm vi và khối lượng rất lớn.
Cho đến ngày 16-12, theo thống kê hiện trường của cơ quan KL, tổng khối lượng gỗ thành phẩm đã bị lâm tặc triệt hạ lên đến hơn 100m3, bao gồm trám đinh, sơn huyết, xoan đào... Do được thảnh thơi trong một thời gian dài, hầu hết gỗ đã được tẩu tán, vận chuyển khỏi hiện trường nên lực lượng chức năng chỉ thu hồi lại được khoảng 10m3.
Khi được hỏi vì sao tình trạng phá rừng kéo dài hàng tháng trời trong khu vực thuộc trách nhiệm quản lý của mình mà cơ quan quản lý không hề hay biết? ông Phan Thế Dũng - Giám đốc Ban Quản lý Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cho hay, do thời gian cuối năm thường xuyên có mưa lớn nên cán bộ Trạm Quản lý, bảo vệ rừng (QL-BVR) Tà Lang - Hòa Bắc phải rút về Trạm QL-BVR Sông Nam. Lợi dụng địa hình hiểm trở, thời tiết không thuận lợi cho việc tuần tra, truy quét bảo vệ nên lâm tặc đã lén lút vào khu vực giáp ranh giữa rừng trồng và rừng đặc dụng để khai thác gỗ.
Trao đổi với chúng tôi, ông Trần Viết Phương - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng cho biết, đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương vào cuộc điều tra, xác minh, thống kê thiệt hại, xử lý theo quy định của pháp luật. Ông Phương cũng yêu cầu Chi cục KL, Hạt KL Hòa Vang, Hạt KL Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, các trạm KL trong địa bàn, chính quyền địa phương kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân đã để xảy ra tình trạng phá rừng kéo dài với số lượng gỗ bị đốn hạ rất lớn trong tháng 11 vừa qua.
Liên quan đến vụ việc, ông Phan Thế Dũng - Giám đốc BQL rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cho biết, đơn vị đã thống nhất hình thức kỷ luật cảnh cáo đối với ông Nguyễn Thương, là cán bộ phụ trách Trạm QL-BVR Sông Nam, do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng.
“Theo xem xét tại hiện trường, rừng đã bị phá trong khoảng thời gian từ giữa tháng 10 đến đầu tháng 11. Ngoài việc kỷ luật đối với ông Nguyễn Thương, chúng tôi đang phối hợp cùng Chi cục KL, các cơ quan liên quan tiếp tục thống kê số liệu, điều tra, xác minh trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan” - ông Dũng cho hay.
Trao đổi với phóng viên, lãnh đạo Chi cục KL TP Đà Nẵng khẳng định, không thể lấy lý do trời mưa gió, thời tiết không thuận lợi để giải thích cho việc buông lỏng rừng, để lâm tặc lộng hành trong một thời gian dài như vậy. Đã là KL địa bàn thì phải bám sát rừng, nhiệm vụ được phân công quản lý, còn chuyện mưa gió, lực lượng mỏng là những lý do không thể chấp nhận được. Chỉ cần lực lượng tại chỗ làm hết trách nhiệm thì có diễn biến sẽ phát hiện ngay, nếu không tự xử lý được thì rất nhiều lực lượng sẽ phối hợp giải quyết kịp thời.
Theo lãnh đạo Sở NN&PTNT, từ nay đến Tết Nguyên đán, ngoài việc thành lập 2 tổ chốt chặn do đích thân lãnh đạo 2 Hạt KL là Hạt KL Hòa Vang và Hạt KL Rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa làm tổ trưởng, các đơn vị liên quan trên địa bàn sẽ tiến hành truy quét trong rừng để hạn chế tình trạng phá rừng. “Trước mắt, các đơn vị liên quan phải có báo cáo, giải trình cụ thể vụ việc trước ngày 20-12. Sở chỉ đạo Chi cục KL và các đơn vị trực thuộc, liên quan làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, đồng thời truy tìm thủ phạm để sớm đưa vụ việc ra xử lý.
Nếu đủ điều kiện, sẽ khởi tố vụ án. Bên cạnh đó, lực lượng KL phải phối hợp cùng chính quyền địa phương chốt chặn 24/24 giờ và tiến hành truy quét trong rừng liên tục, đặc biệt là những ngày Tết” - ông Phương cho hay. Cũng theo lãnh đạo Sở NN&PTNT, trong thời gian tới, sẽ thành lập thêm Trạm KL Tà Nô để quản lý rừng hiệu quả tại các khu vực giáp ranh, kể cả khu vực giáp với TT-Huế. (Công An TP.Đà Nẵng 17/12) đầu trang(
Phóng viên Rupert Wingfield-Hayes của hãng tin Anh BBC vừa có chuyến đi tới đảo Trưởng Sa ở Biển Đông và phát hiện những hành vi tàn phá môi trường vô cùng nghiêm trọng của các ngư dân Trung Quốc.
Những chiếc thuyền của ngư dân Trung Quốc không chỉ xả thải xuống môi trường biển, khiến các rạn san hô quý giá ở đây bị tàn phá mà còn đánh bắt loài rủa biển lớn có đường kính mai lên tới 1m.
Đây là loài rùa biển có trong sách đỏ, và hành vi của các ngư dân Trung Quốc đang tàn phá sự đa dạng sinh học ở vùng biển giàu trữ lượng tài nguyên này. (Vietnam + 17/12) đầu trang(
Theo thống kê chưa đầy đủ, lượng gỗ nhập khẩu về các cửa khẩu đường bộ các tỉnh phía Nam, làm thủ tục hải quan tại các Cục Hải quan Gia Lai- Kon Tum, Tây Ninh, Long An từ đầu năm đến nay tăng khá mạnh.
Từ đó, việc quản lý, làm thủ tục nhập khẩu của các đơn vị Hải quan cũng gặp không ít khó khăn, tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Từ ngày 1-1-2015 đến 30-11-2015, Cục Hải quan Tây Ninh đã làm thủ tục cho trên 170.500 m3, tăng trên 81% so với năm 2014; Cục Hải quan Gia Lai – Kon Tum đã làm thủ tục cho gần 300.000 m3 gỗ nhập khẩu, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm 2014. Nguyên nhân do các DN tranh thủ nhập khẩu gỗ từ Lào về trước quý III-2015, trước khi Chính phủ Lào có quy định cấm xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ có xuất xứ từ Lào; nhu cầu gỗ nhập từ thị trường Ấn Độ gia tăng đột biến.
Mặt khác, UBND các tỉnh cho phép các DN  nhập khẩu gỗ qua một số cửa khẩu phụ, lối mở trên địa bàn cũng góp phần tăng khối lượng gỗ nhập khẩu so với năm 2014.
Căn cứ theo các quy định hiện hành, UBND các tỉnh có biên giới đã ban hành các quyết định cho phép DN làm thủ tục nhập khẩu gỗ qua các cửa khẩu phụ, lối mở đối với từng trường hợp cụ thể. Việc này một mặt đã tạo thuận lợi cho hoạt động XNK của DN, mặt khác việc quyết định này cũng đặt ra yêu cầu cho các lực lượng chức năng trong việc đảm bảo quản lý chặt chẽ, chống các  hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới.
Một vấn đề đặt ra là dọc theo tuyến biên giới có rất nhiều cửa khẩu chính, có đầy đủ điều kiện tập kết hàng hoá, bến bãi để kiểm tra cũng như điều kiện để giám sát hàng hoá, sao DN không làm thủ tục lại đi xin nhập khẩu nơi xa xôi thiếu rất nhiều điều kiện cho DN lẫn cơ quan chức năng làm thủ tục?
Việc UBND các tỉnh mở quá nhiều cửa khẩu phụ trên tuyến biên giới, cho phép các DN nhập khẩu gỗ trong thời gian quá dài  dẫn đến cơ quan Hải quan gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý do không đủ nhân lực và phương tiện để kiểm tra, giám sát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại các cửa khẩu phụ, lối mở.
Hiện nay, tại các cửa khẩu phụ, lối mở vẫn còn một số bãi tập kết hàng rào còn sơ sài, chưa đủ ánh sáng theo quy định; có bãi tập kết nằm cách xa nơi lực lượng chức năng làm việc, gây khó khăn cho công tác giám sát vận chuyển, tập kết gỗ nhập khẩu, tiềm ẩn nhiều rủi ro khi DN cố tình vi phạm, nguy cơ gian lận là hoàn toàn có thể xảy ra.
Mặc dù  Hải quan các địa phương đều liên tục đề nghị DN được cấp phép phải đảm bảo nơi tập kết hàng hoá, điều kiện kiểm tra, giám sát và cả thời gian nhập khẩu, tuy nhiên, có nhiều DN không tuân thủ các quy định trong việc nhập khẩu gỗ qua các cửa khẩu phụ, lỗi mở  như kế hoạch, lộ trình vận chuyển, tập kết gỗ gửi các ngành liên quan còn chung chung, gây khó khăn cho các ngành liên quan trong việc chủ động bố trí lực lượng thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, quản lý việc vận chuyển, nhập khẩu gỗ theo quy định. Vận chuyển, tập kết hàng hóa không đúng lộ trình và địa điểm, không có sự giám sát của cơ quan Hải quan.
Ông Huỳnh Văn Khanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Kà Tum- Cục Hải quan Tây Ninh cho biết: “Tại cửa khẩu phụ Vạc Sa do Chi cục quản lý,  UBND tỉnh Tây Ninh đã cấp phép cho nhiều DN được nhập khẩu gỗ nhưng chưa có địa điểm tập kết, kiểm tra hàng hóa nhập khẩu được Tổng cục Hải quan cho phép thành lập. Do đó, DN phải đăng ký tờ khai nhập khẩu trước khi đưa gỗ vào khu vực cửa khẩu gây nhiều khó khăn cho cơ quan Hải quan trong quản lý. Hiện nay có một số bãi tập kết được cơ quan chức năng cho phép phía trước barie khoảng 150m về phía Campuchia nhưng thời gian làm việc chỉ từ 7 giờ đến 17 giờ theo quy định nên khả năng DN tập kết gỗ vào ban đêm mà cơ quan Hải quan không biết là hoàn toàn có thể xảy ra”.
Chi cục Hải quan cửa khẩu Kà Tum cũng đã phát hiện 1 vụ DN gian lận hàng chục tấm gỗ trắc ngoài số gỗ khai báo. Chi cục Hải quan cửa khẩu Xa Mát phát hiện một vụ đối tượng dùng xe lôi vận chuyển gỗ trắc trái phép qua biên giới với số lượng hàng chục lóng. Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum phát hiện một vụ đối tượng “kiếm thêm ” 3,5 m3 gỗ ngoài số lượng gỗ đã làm thủ tục hải quan.
Để việc quản lý, làm thủ tục gỗ nhập khẩu đảm bảo chặt chẽ, Cục Hải quan Gia Lai-Kon Tum đã kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo cho địa phương có cửa khẩu phụ, lối mở và các ngành chức năng tăng cường thực hiện công tác chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại tệ qua biên giới tại các khu vực có cửa khẩu phụ, lối mở.
Vì lực lượng kiểm tra, giám sát với số lượng cán bộ hạn chế chỉ thực hiện được công tác kiểm tra, giám sát người, phương tiện, hàng hóa trong thời gian làm việc theo quy định, không đủ năng lực, phương tiện thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, ngoại tệ qua biên giới.
Đối với DN vi phạm pháp luật nhiều lần, gây mất an ninh trật tự biên giới và các DN có năng lực yếu, có số lượng nhập khẩu gỗ ít, thời gian vận chuyển, tập kết kéo dài, trên cơ sở báo cáo của các ngành, đề nghị UBND tỉnh thu hồi văn bản cho phép nhập khẩu của DN qua cửa khẩu phụ, lối mở.
Mặt hàng gỗ nhập khẩu thường phải được tập kết tại một địa điểm nằm trong khu vực cửa khẩu đã được Tổng cục Hải quan cho phép thành lập để thuận lợi cho việc làm thủ tục hải quan. Để đáp ứng yêu cầu trên, Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh đã báo cáo đề xuất UBND tỉnh Tây Ninh chỉ đạo các ngành chức năng và UBND các huyện biên giới có cửa khẩu tiến hành đầu tư xây dựng các địa điểm tập kết, kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở biên giới hoặc mời gọi DN kinh doanh kho bãi có khả năng đầu tư xây dựng theo quy định.
Báo cáo đề xuất chỉ đạo Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng phối hợp với Cục Hải quan tỉnh Tây Ninh yêu cầu DN không được tập kết mặt hàng gỗ bên ngoài barie như hiện nay. Gỗ nhập khẩu phải được tập kết vào các địa điểm đã được Tổng cục Hải quan quyết định thành lập hoặc phải đăng ký tờ khai hải quan trước khi tập kết gỗ ở khu vực cửa khẩu để đảm bảo công tác giám sát, quản lý của cơ quan hải quan.
Ngày 24-10-2014, Bộ Công Thương đã có Thông tư số 37/2014/TT-BCT quy định việc tạm ngừng kinh doanh tạm nhập, tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia. Tuy nhiên, trong thực tế DN đã lách luật dưới hình thức nhập kinh doanh sau đó xuất kinh doanh sang nước thứ ba.
Để quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh tạm nhập tái xuất gỗ tròn, gỗ xẻ từ rừng tự nhiên từ Lào và Campuchia, Cục Hải quan Tây Ninh kiến nghị  Bộ Tài chính nên quy định việc xuất kinh doanh gỗ nguyên liệu từ nguồn nhập khẩu phải chịu thuế xuất khẩu. (Hải Quan 18/12) đầu trang(
Mới đây, trang Business Insider đã đưa ra một bài viết chi tiết lý giải vì sao du khách ở châu Á không nên tiếp tục cưỡi voi.
Những tour du lịch khám phá gần gũi thiên nhiên, dùng voi làm phương tiện chuyên chở du khách là hình thức khá phổ biến tại Việt Nam. Cách đây chưa lâu, voi cái Na Lieng, 43 tuổi chuyên phục vụ khách du lịch đã chết do kiệt sức.
Điều đáng nói, đây không phải là con voi duy nhất chết do làm việc quá sức. Hồi tháng 3 một con voi đực 40 tuổi cũng đa chết sau khi phải phục vụ quá nhiều khách du lịch.
Trước đó vào tháng 1, một voi đực 36 năm tuổi khác cũng chết với lý do tương tự, đáng thương hơn là khi chết, chú voi này vẫn còn đang đeo chiếc ghế ngồi cho khách trên lưng. Năm 2013, cũng có hai voi cái khác thiệt mạng với lý do tương tự - đói và mệt.
Dẫn lời bác sĩ thú ý Phạm Văn Thịnh của Trung tâm bảo tồn voi Đak Lak: "Du khách đến Đak Lak để xem và cưỡi voi. Họ sẽ trả rất nhiều tiền cho chủ voi, do đó những chú voi sẽ phải làm việc cả ngày. Những người chủ này sẽ mang voi vào rừng khi đêm xuống và để chúng làm việc vào sáng hôm sau."
Ông còn nói thêm, vào mùa khô, sức khỏe của voi suy giảm do thiếu thức ăn. Lý do chủ yếu dẫn đến cái chết của voi là do căng thẳng và lao động quá sức.
Việt Nam hiện chỉ có một phần trong số hơn 12.000 con voi thuần hóa trên khắp châu Á - đa số chúng đều chịu cùng cảnh ngộ. Tất cả có khoảng 38.000 đến 50.000 con voi châu Á trên khắp thế giới và chúng được liệt vào diện bị đe dọa trong Danh sách Đỏ.
Ngoài Việt Nam, còn nhiều quốc gia khác cho phép khách du lịch cưỡi voi như Ấn Độ, Sri Lanka, Lào, Campuchia, Indonesia và Thái Lan. Đây đều là những điểm đến thu hút khách du lịch.Theo thống kê của Hội Bảo vệ Động vật Thế giới, năm 2010, ở Thái Lan có 1688 con voi bị giam cầm trên 118 điểm du lịch khắp đất nước.
Chúng chủ yếu tham gia hoạt động trình diễn và để du khách ngồi trên lưng. Một nửa trong số chúng đang ở trong tình trạng rất tồi tệ. Những chú voi này không thể giao tiếp với đồng loại và không được tiếp nhận sự chăm sóc thú y.
Báo cáo cũng đề cập đến việc voi con bị tách khỏi mẹ từ rất sớm. Chúng phải chịu đựng những chấn thương về mặt thể chất và tinh thần. Cô lập, bỏ đói và bị đánh đập là một số phương pháp thuần hóa voi.
Theo lời Tiến sĩ Jan Schmidt-Burbach - cố vấn cấp cao của Hội Bảo vệ Động vật thế giới có trụ sở tại Bangkok, du khách thường nghĩ việc cưỡi voi là vô hại nhưng sự thật là quá trình thuần hóa chúng diễn ra vô cùng khắc nghiệt. (Vn Tin Nhanh 17/12) đầu trang(
Ngày 16-12, Công an huyện Bù Gia Mập kiểm tra tại thôn Đắk Côn, xã Bù Gia Mập (Bù Gia Mập) phát hiện và bắt quả tang Trần Thị Phương Dung (1975) trú thôn 7, xã Đắk Ơ (Bù Gia Mập) đang đánh bạc dưới hình thức ghi số đề cho người chơi.
Tang vật thu giữ gồm 5 tờ phơi ghi số đề, 3 cuốn sổ ghi chép số đề và 2,3 triệu đồng. Qua khám xét, lực lượng công an còn thu giữ thêm 42 con cheo, 14 con chồn và 3 con heo rừng. Công an huyện đang tạm giữ hình sự Trần Thị Phương Dung để mở rộng điều tra, xác minh vụ việc. (Báo Bình Phước 18/12) đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk, trên địa bàn hiện có 511 cơ sở, trang trại được cấp giấy chứng nhận đăng ký nuôi động vật hoang dã (ĐVHD).
Trong đó, có 25 cơ sở, trang trại nuôi ĐVHD quý hiếm, 486 cơ sở, trang trại nuôi ĐVHD thông thường. Qua công tác kiểm tra thường xuyên cho thấy, các trang trại, cơ sở nuôi ĐVHD đã chấp hành tốt các quy định về nguồn gốc động vật nuôi, đăng ký gây nuôi, sổ theo dõi vật nuôi, bảo đảm vệ sinh môi trường, không để lây lan dịch bệnh.
Đối với các cơ sở nuôi động vật hung dữ như gấu, cá sấu, rắn độc…, chuồng trại được xây dựng kiên cố, bảo đảm an toàn cho người và tài sản xung quanh khu vực nuôi. (Đắk Lắk 24 Giờ 18/12) đầu trang(
Ngày 16 -12, thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Gia Lai - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai do ông Y Mới làm trưởng đoàn, phối hợp với UBND huyện Krông Pa tiến hành kiểm tra, xác minh việc phá rừng tại lâm phần BQLRPH Ia Rsai quản lí mà báo Đại đoàn kết đã phản ánh.
Trước đó, Báo Đại Đoàn Kết số 344, ra ngày 10-12 đã phản ánh, tại hai tiểu khu 1307, 1325 thuộc lâm phần quản lí của BQLRPH Ia Rsai (thuộc sở NNPTNT Gia Lai), lâm tặc ngang nhiên tàn phá rừng, vận chuyển gỗ trái phép trước sự bất lực của kiểm lâm và chính quyền sở tại.
Theo ông Y Mới, trước mắt chúng tôi phối hợp với cơ quan chức năng của huyện Krông Pa tổ chức đi kiểm tra, xác minh thực địa và làm rõ những vấn đề mà Báo Đại Đoàn Kết đã phản ánh. “Ngay sau báo chí phản ánh (ngày 10-12) đoàn đã cử 20 cán bộ vào kiểm tra toàn bộ khu vực rừng bị phá. Những gốc cây bị chặt hạ, đoàn đã tiến hành kiểm kê, xác định vị trí, tọa độ. Nhiều phách, hộp gỗ đã được Hạt Kiểm lâm huyện Krông Pa vận chuyển về trụ sở, nhằm tránh tình trạng lâm tặc tẩu tán.”  - ông Y Mới nói
Trước đó, ngày 10 - 12, UBND tỉnh Gia Lai đã ra văn bản số: 5665/UBND-NL chỉ đạo Sở NN&PTNT, UBND huyện Krông Pa kiểm tra, xác minh làm rõ việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép tại lâm phần BQLRPH Ia Rsai. Làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan đến việc quản lý bảo vệ rừng; xử lý hoặc đề xuất UBND tỉnh xử lí theo đúng quy định về phân cấp quản lí cán bộ hiện hành. Đồng thời phải đề xuất các biện pháp quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn và báo cáo kết quả kiểm tra trước ngày 24-12 để UBND tỉnh tiếp tục theo dõi, chỉ đạo.
Hiện vụ việc vẫn đang được Chi cục Kiểm lâm Gia Lai tiếp tục kiểm tra, xác minh và có báo cáo cụ thể, đề xuất UBND tỉnh có hướng xử lí.
Bên cạnh làm rõ nạn phá rừng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cũng đang điều tra, xử lí trách nhiệm của ông Nguyễn Đình Sơn liên quan đến việc vận chuyển gỗ trái pháp luật. (Đại Đoàn Kết 18/12; Báo Gia Lai 18/12) đầu trang(
Tối 14.12, Chi cục Kiểm lâm tỉnh và lực lượng kiểm lâm huyện Phước Sơn, Hiệp Đức tổ chức đợt truy quét dọc tuyến quốc lộ 14E đoạn qua 2 địa phương này, phát hiện nhiều vụ vi phạm lâm luật.
Qua nguồn tin báo của nhân dân, Tổ công tác của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Hạt Kiểm lâm huyện Phước Sơn và Hiệp Đức bất ngờ kiểm tra xưởng cưa Hợp tác xã Hiệp Lực đóng chân trên địa bàn thôn 10 (xã Phước Hiệp, Phước Sơn), giáp ranh với huyện Hiệp Đức.
Qua kiểm tra, lực lượng kiểm lâm phát hiện tại xưởng cưa có 9 lóng gỗ tròn (3 lóng gỗ chuồn thuộc nhóm III và 6 lóng gỗ chò thuộc nhóm VI). Theo nhận định của tổ công tác, những lóng gỗ này vừa được khai thác ở rừng tự nhiên, không có dấu búa kiểm lâm. Chủ xưởng cưa và chủ số gỗ nói trên không có mặt tại thời điểm kiểm tra.
Trao đổi với chúng tôi, ông Vũ Ngọc Ánh (Chi cục Kiểm lâm tỉnh) nói: “Việc vận chuyển gỗ trong đêm để xẻ nhanh nhằm qua mắt và gây khó khăn cho lực lượng chức năng. Tổ tuần tra của chúng tôi sẽ tham mưu lãnh đạo xây dựng kế hoạch truy quét các điểm nóng về tình hình khai thác gỗ trái phép trước trong và sau tết”.
Điều đáng nói, để vận chuyển hơn 3m3 gỗ này về điểm tập kết, ngoài việc sử dụng cưa máy, ô tô vận chuyển lén lút, các đối tượng còn sử dụng đến hệ thống máy tời tự chế từ động cơ của xe máy. Loại máy tời này có lực tời rất lớn nên các đối tượng có thể khai thác, vận chuyển nhiều loại cây có đường kính lớn hơn so với trước đây.
Tổ công tác tiếp tục kiểm tra trên tuyến quốc lộ 14E đoạn giáp ranh giữa 2 địa phương Hiệp Đức và Phước Sơn. Cách địa điểm xưởng cưa chứa gỗ trái phép không xa, lực lượng kiểm lâm còn phát hiện nhiều đối tượng dùng xe máy vận chuyển gỗ lậu. Phương thức này không mới nhưng các đối tượng trở nên liều lĩnh hơn, luôn đi thành từng tốp, có cảnh giới và sẵn sàng ngáng đường, lạng lách phía trước xe của lực lượng kiểm lâm khi bị truy đuổi.
Ông Trần Văn Thu - Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh cho biết thêm: “Nhiều đối tượng chở gỗ lậu khi bị chúng tôi phát hiện, các mô tô chở gỗ liều lĩnh đánh võng, đồng thời thủ sẵn dao để cắt dây thả gỗ xuống đường. Lực lượng truy đuổi vì thế gặp nhiều khó khăn trong chặn bắt các đối tượng này”.
Lực lượng kiểm lâm đã lập biên bản các vụ vi phạm, tạm giữ số gỗ, phương tiện mà các đối tượng sử dụng vận chuyển gỗ trái phép. Tình trạng khai thác, vận chuyển gỗ lậu được lực lượng kiểm lâm dự báo ngày càng phức tạp hơn, nhất là vào thời điểm giáp tết năm nay. (Báo Quảng Nam 18/12) đầu trang(
Trong tổng số hơn 1.300 bài báo phản ánh tình trạng khai thác, buôn bán, tàng trữ gỗ lậu và nạn phá rừng được thu thập từ năm 2011 đến nay, chỉ có 1% nêu ra được thực trạng, nguyên nhân và cả giải pháp.
Đó là một trong những điểm nhấn được nêu ra tại Hội thảo “Thực trạng gỗ lậu tại Việt Nam qua góc nhìn báo chí” do Tổ chức Forest Trend và Pan Nature tổ chức ngày 16-12 tại Hà Nội.
Theo các chuyên gia, mặc dù số lượng bài viết khá nhiều nhưng phần lớn nguồn thông tin chỉ thông qua các lực lượng chức năng như kiểm lâm hoặc các báo cáo của địa phương; từ các hội thảo, văn bản chính sách... mang tính cung cấp thông tin cho độc giả mà chưa có nhiều bài điều tra sâu.
Do đó, cuộc chiến phòng chống gỗ lậu mà các cơ quan báo chí nêu ra còn nhiều lỗ hổng, chưa phản ánh được quy mô và bản chất thực sự của gỗ lậu do những nguyên nhân như hiểu biết về chính sách và quy định còn hạn chế, nguồn kinh phí eo hẹp.
Để nâng cao hiệu quả cho các hoạt động ngăn chặn gỗ lậu, cần có cơ chế đặc thù về kinh phí cho báo chí, có thể được huy động từ nguồn kinh phí nhà nước dành cho bảo vệ môi trường hoặc từ tư nhân thông qua tài trợ của các công ty, tổ chức, cá nhân... nhằm giúp nhà báo có các bài viết chuyên sâu, thực tế để lấp lỗ hổng trong cuộc chiến phòng chống gỗ lậu hiện nay. (Sài Gòn Giải Phóng 17/12) đầu trang(
Đó là suy nghĩ của những hộ dân ở quanh Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, sau khi được giao khoán bảo vệ rừng.
Cuộc sống của họ được cải thiện đáng kể, rừng không còn bị teo tóp, nghèo nàn... mà ngày càng phát triển.
Gặp chúng tôi, ông Nguyễn Đại Phú, Giám đốc Vườn Quốc gia (VQG) Bù Gia Mập cho biết, từ đầu năm đến nay Ban quản lý vườn đã chi trả hơn 5,5 tỷ đồng cho các đơn vị nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng.
Số tiền này do các đơn vị sử dụng tài nguyên, dịch vụ môi trường rừng như cơ sở sản xuất thủy điện, nhà máy nước sạch và các tổ chức kinh doanh du lịch chi trả.
Theo ông Phú, thông qua dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng, hiện nay hơn 25.000 ha trên tổng diện tích hơn 25.700 ha rừng ở VQG Bù Gia Mập đã được giao cho 13 đơn vị, trong đó gồm 9 cộng đồng thôn bản và 4 đơn vị bộ đội, biên phòng đóng chân trên địa bàn nhận khoán bảo vệ.
9 cộng đồng thôn bản với hơn 300 hộ chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số S’tiêng bản địa thuộc hai xã Đắk Ơ và Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập) có mức thu nhập bình quân từ 1,7-2,2 triệu đồng/hộ/tháng.
Qua 13 năm hoạt động và phát triển, VQG Bù Gia Mập đã đáp ứng được các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao. Tài nguyên rừng được bảo vệ hữu hiệu, hệ động thực vật phát triển bền vững, vai trò của rừng được phát huy cả ba mặt: Môi trường sinh thái, kinh tế, xã hội, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Mặt khác đóng góp vào sự nghiệp bảo tồn chung cho đất nước và trong khu vực.
Từ khi được giao cho các cộng đồng thôn bản nhận khoán, rừng được bảo vệ rất tốt. Tình trạng phá rừng làm rẫy, cháy rừng đã không còn. Nếu như trước đây, mỗi năm xảy ra trên 2.000 vụ vi phạm lâm luật thì hiện nay đã giảm đến hơn 90%. Nạn săn bắt, bẫy thú chỉ còn xảy ra lẻ tẻ chủ yếu do người dân từ các địa phương khác đến xâm hại.
Nhiều hộ trước khi tham gia vào cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng rất nghèo khó, thậm chí đói ăn nhưng nay trong số hơn 300 hộ tham gia không còn hộ nghèo.
Mỗi quý, các hộ nhận khoán bảo vệ rừng được nhận lương một lần, tiền lương tính theo ngày công, một ngày tuần tra rừng được trả 150.000 đồng, ai đi nhiều thì được cao, có hộ nhận hơn 10 triệu đồng/quý. Nếu gặp khó khăn đột xuất các hộ có thể ứng tiền xài trước, sau đó trừ vào lương.
“Có thể nói, số tiền 1,7-2,2 triệu đồng/hộ/tháng là nguồn thu nhập tăng thêm đáng kể của các hộ tham gia nhận khoán. Từ khi có các cộng đồng người đồng bào S’tiêng tham gia bảo vệ rừng, chúng tôi đã giảm được áp lực rất lớn, mà rừng lại được bảo vệ rất tốt nữa. Tất nhiên, để có được những kết quả đáng mừng như vậy, chúng tôi cũng đã có những kế hoạch làm công tác tuyên truyền dài hơn, sâu rộng, mục đích là để người dân nâng cao nhận thức về pháp luật trong việc bảo vệ rừng. Bên cạnh đó, điều quan trọng là phải làm sao để người dân họ được hưởng lộc từ rừng, làm sao để gia đình họ không đói nữa, chứ tuyên truyền đến đâu, mà đói thì họ cũng sẽ làm liều thôi”, ông Phú nói.
Anh Điểu Long, 44 tuổi, ở thôn 5, xã Bù Gia Mập, thành viên cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng Bù Lư cho biết, những năm thập niên 90, anh là một lâm tặc có tiếng trong vùng.
Ban đầu, anh làm thuê cho một số đầu nậu gỗ ở địa phương Bù Gia Mập. Sau khi rành rẽ đường đi nước bước, anh tách ra làm riêng. Sau nhiều năm tung hoành tàn phá rừng, nhiều lần bị vây bắt nhưng anh may mắn thoát nạn.
Đến năm 2004, sau khi một số đồng bọn bị bắt, xử tù, thấy nghề lâm tặc khó có đường sống nên anh “rửa tay gác kiếm”. Năm 2005, anh tự nguyện xin vào cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng Bù Lư và được nhận vào làm.
“Trước đây rừng bị người ta phá dữ lắm, từ gần chục năm nay, do có bà con người S’tiêng bảo vệ nên rừng không còn bị phá nữa. Tôi thấy mình cũng có lỗi với rừng, vì từng có nhiều năm phá rừng. Hồi đó, thấy những cây gỗ lớn mấy người ôm bị đốn hạ không thương tiếc, tôi xót, tiếc lắm. Rồi bao nhiêu thú rừng bị săn bắt, giết thịt. Nhưng nếu không phá rừng, săn thú thì chết đói. Khi nhà nước cấm triệt để, tôi cũng đã quyết tâm “cải tà quy chính”, không phá rừng nữa, không bẫy không bắn thú nữa. Ngày đó tôi phá rừng, tôi bắn thú cũng vì không được hiểu biết pháp luật, nhà cũng đói ăn nữa, giờ thì biết đôi chút về pháp luật rồi, phá rừng là tội ác. Bây giờ gia đình tôi có hơn 1 ha điều, thu nhập cũng khá, rồi có tiền lương hàng tháng từ công việc giữ rừng nữa nên cũng đủ sống, đủ nuôi các con. Tôi có 6 đứa con, ba đứa đã có vợ có chồng tự sống được. Lúc tôi mới được làm bảo vệ rừng, các anh trong ban quản lý rừng cũng để ý tôi dữ lắm vì sợ tôi tiếp tục làm bậy. Nhưng sau một thời gian, họ thấy tôi làm tốt nên yên tâm và nhận thêm thằng Điểu Hồng, con trai lớn của tôi vào làm bảo vệ rừng tại cộng đồng thôn Bù Rên. Cũng may cho hai cha con. Đi rừng nhiều nay đã thành quen rồi, không đi lại nhớ lắm”, anh Điểu Long nói.
Còn anh Điểu Thớ, 33 tuổi, ở thôn 3, xã Đắk Ơ, nói: “Tôi rất vui vì được Nhà nước nhận vào làm bảo vệ rừng. Hai vợ chồng tôi có 3 đứa con. Trước đây nhà tôi nghèo lắm nhưng từ khi được làm bảo vệ rừng đã tốt hơn, không còn nghèo đói nữa. Không chỉ được trả tiền hàng quý, các cán bộ còn cho anh em lấy của rừng những thứ được cho lấy như lá nhíp, đọt mây, măng, nấm, rau rừng, hoa quả của rừng để cho thêm vào bữa ăn, vì vậy nay đã có cuộc sống no đủ hơn trước. Chỉ được lấy ăn thôi chứ cấm các anh em mang bán, hễ mắc là bị xử lý, tội nặng chắc là bị đuổi việc”.
VQG Bù Gia Mập được đánh giá là khu vực có mức độ đa dạng sinh học rất cao, nhiều loài động, thực vật mang giá trị bảo tồn cho Việt Nam và thế giới.
Vườn có 17 loại thực vật có tên trong sách đỏ Việt Nam, 19 loài trong sách đỏ thế giới như gõ đỏ, cầm lai, trầm hương, giáng hương... 36 loài thú có tên trong sách đỏ Việt Nam, 32 loài trong sách đỏ thế giới như voi, báo hoa mai, bò tót, gấu, sói đỏ, chà vá chân đen, vượn đen má vàng, khỉ mặt đỏ, cu ly… 10 loài chim có tên trong sách đỏ Việt Nam và 5 loài chim trong sách đỏ thế giới. (Nông Nghiệp Việt Nam 18/12) đầu trang(
Vùng Bảy Núi có khá nhiều hang, động, điện… và mỗi nơi đều có gốc tích gắn liền cấu trúc thiên nhiên và những câu chuyện như huyền thoại. Trong đó, động Thủy Liêm thường là điểm ghé đầu tiên trước khi thưởng ngoạn đỉnh núi Cấm.
Đi theo đường mòn cũ, vừa qua khỏi cổng Trường tiểu học B An Hảo (Tịnh Biên) vài trăm mét là sẽ xuống động Thủy Liêm. Đoạn này là con đường quanh co, uốn khúc, xuyên qua những tán rừng mát rượi. “Cảnh quan bấy nhiêu đó thôi cũng đủ nói lên sự kỳ bí của hang, động, mà tiếng đồn gần xa có một không hai trên núi Cấm này” – anh Nguyễn Thanh Tùng (cư dân Dốc 4.000) hào hứng. Động Thủy Liêm thuộc vồ Thiên Tuế, ấp cùng tên Thiên Tuế.
Động có từ bao giờ và ai là người phát hiện, cư dân núi Cấm không rõ lắm. Đại để, khi có người hành hương và du khách lên đây, rồi đồn đãi lan truyền. “Chắc là những người ẩn cư, mấy tay đi lấy thuốc núi” – ông Đinh Văn Tươi (cư dân vồ Thiên Tuế) phỏng đoán. Bởi hơn 40 năm định cư núi Cấm, ông đã biết động Thủy Liêm này rồi và nơi đây đã có nhiều người tới lui. Không giống như những hang và động khác, cấu trúc động Thủy Liêm rất lạ. Với 2 vồ đá dựng, khoảng giữa như cái cửa nhà, vừa đủ người ta chen vô và bên trong có nước đổ quanh năm như thác chảy.
Chiều sâu động Thủy Liêm bao nhiêu, chưa ai khám phá thử, du khách chỉ vào chừng hơn chục mét. Từ ánh sáng tù mù bên ngoài rọi vào và trông những thạch nhũ trên trần, tảng đá nhấp nhô qua ngõ ngách dưới dòng suối, người ta cảm nhận được ngay không gian huyền ảo. “Nước từ trong khe đá chảy ra mát lạnh, khách đi núi thấm mệt ai cũng khoái ghé đây, nghỉ giây lát rồi đi tiếp” – ông Trần Hoàng Anh (cư dân vồ Đầu) nói.
Bên ngoài động Thủy Liêm trông thật hấp dẫn, nước từ trên cao đổ xuống như màn sương, hình thành dòng suối chảy giữa vách núi. Tương truyền, tán cây rừng cổ thụ giao nhau, dây leo giáp hai vách núi, tạo ra vòm che hun hút từ xa, không khí rất âm u. “Nơi đây tập trung nhiều loài động vật hoang dã, nhất là khỉ. Phải nói là bầy bầy, chứ hổng kể con. Vì, chúng ăn trái cây rừng, rồi xuống đây uống nước” – ông Đinh Văn Tươi kể. Chiều cỡ 3 – 4 giờ, ít người xuống động Thủy Liêm, do không khí lạnh và sợ thú dữ.
Nằm ở vị trí hẻo lánh và vực thẳm vài chục mét, động Thủy Liêm không có người định cư xung quanh và thiếu hẳn dịch vụ giải khát. Hồi lúc núi rừng còn hoang sơ, cư dân núi Cấm gọi nơi đây là “vương quốc… của loài khỉ”, bởi qua sinh hoạt của chúng, người ta đoán ra được thời tiết để dọn đất, trồng tỉa hoa màu cũng như trật tự khu vực núi rừng. “Con khỉ coi vậy, mà hay lắm. Chúng phá phách thiệt, nhưng dân trên núi hổng ai bắt khỉ bao giờ” – ông Trần Văn Dũng (cư dân vồ Thiên Tuế) cho hay. Điều này gần như trở thành “quy luật” núi rừng, mọi cư dân đều muốn dung hòa thiên nhiên.
Bây giờ, động Thủy Liêm thay đổi nhiều so với xưa kia, do cảnh vật trống trải, còn bể nước dành cho “vương quốc… của loài khỉ” được tích trữ, truyền dẫn sinh hoạt của cư dân phía Ô Tứk Sa. “Ngày nay, động Thủy Liêm ít khách đến, hổng còn sức hấp dẫn như trước”– ông Nguyễn Văn Ba (cư dân vồ Thiên Tuế) cho hay. Du khách, người hành hương có đến chăng cũng ngắm cảnh, còn loài khỉ thì chẳng thấy bóng dáng, chỉ nghe qua câu chuyện truyền miệng của cư dân xứ núi.
“Bao nhiêu năm sống trên núi Cấm này, tui thấy động Thủy Liêm ngộ hơn mấy hang, điện khác. Nơi đây, có nhiều câu chuyện gắn với núi rừng, người nghe hay thêu dệt cho vui vẻ. Đó chỉ là hang đá thiên nhiên, cấu tạo như lò ảng, nhưng rất độc đáo là có nước chảy quanh năm” – cụ Nguyễn Văn Y (cư dân vồ Đầu) nói. (Người Lao Động 18/12) đầu trang(
Để ngăn chặn tình trạng chảy máu rừng, thời gian qua, các lực lượng chức năng của tỉnh Quảng Nam đã quyết liệt ra quân truy quét, nhất là tập trung thời điểm ban đêm - thời điểm lâm tặc hoạt động mạnh nhất.
Thời điểm giáp Tết, nhu cầu sử dụng gỗ tăng cao, hơn nữa, hoa mắt trước món lợi lớn từ việc khai thác, vận chuyển gỗ về xuôi nên các đối tượng lâm tặc cũng tranh thủ hoạt động.
Những tuyến đường các đối tượng thường hoạt động trên địa bàn Quảng Nam là đường Hồ Chí Minh qua các huyện Phước Sơn, Nam Giang, đường 14E qua các huyện Phước Sơn, Hiệp Đức, đường 14B qua huyện Nam Giang, Đại Lộc.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh và lực lượng Kiểm lâm 2 huyện Phước Sơn, Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam vừa tổ chức đợt truy quét dọc tuyến quốc lộ 14E đoạn qua 2 địa phương này và liên tiếp phát hiện ra nhiều vụ vi phạm lâm luật.
Bất ngờ kiểm tra xưởng cưa Hợp tác xã Hiệp Lực, thôn 10, xã Phước Hiệp, huyện Phước Sơn là địa điểm giáp với huyện Hiệp Đức, lực lượng kiểm lâm phát hiện tại xưởng cưa có 9 lóng gỗ tròn gồm: 3 lóng gỗ chuồn thuộc nhóm III và 6 lóng gỗ chò thuộc nhóm VI.
Quan sát thực tế cho thấy những lóng gỗ này vừa mới được khai thác tại rừng tự nhiên, không có dấu búa kiểm lâm và đặc biệt chủ xưởng cưa và chủ số gỗ nói trên không có mặt tại thời điểm kiểm tra.
Ông Vũ Ngọc Ánh, Cán bộ Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho biết: Đây là hình thức mới, xưởng cưa thường vận chuyển gỗ trong đêm, xẻ nhanh nhằm qua mắt và gây gây khó khăn cho lực lượng chức năng.
Điều đáng nói là để vận chuyển hơn 3 mét khối gỗ này về điểm tập kết, ngoài sử dụng cưa máy, xe ô tô vận chuyển lén lút trong đêm, các đối tượng còn sử dụng đến hệ thống máy tời tự chế từ động cơ của xe máy. Loại máy này có lực tời rất lớn nên các đối tượng có thể khai thác, vận chuyển nhiều loại cây có đường kính lớn hơn so với trước đây.
Qua kiểm tra trên tuyến quốc lộ 14E đoạn giáp ranh giữa 2 địa phương Hiệp Đức và Phước Sơn, cách địa điểm xưởng cưa chứa gỗ trái phép không xa, lực lượng kiểm lâm còn phát hiện các đối tượng dùng xe máy vận chuyển gỗ lậu. Phương thức này không mới nhưng các đối tượng trở nên liều lĩnh hơn, luôn đi thành từng tốp, có cảnh giới và sẵn sàng ngán đường, lạng lách phía trước xe của lực lượng kiểm lâm khi bị truy đuổi.
Mặc dù lực lượng chức năng và chính quyền địa phương đã quyết liệt ra quân, kiểm tra truy quét nhưng tình hình khai thác vận chuyển gỗ trái phép vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Tình hình này còn được dự báo còn phức tạp hơn nhất là vào thời điểm giáp tết, vì thế công tác truy quét trên các địa bàn sẽ được tiếp tục việc tăng cường trong thời gian tới. (ANTV 18/12) đầu trang(
Công tác quản lý rừng, phòng chống cháy rừng và động vật hoang dã thời gian qua đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội triển khai hiệu quả.
Đặc biệt là công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật đến từng đối tượng người dân và có nhiều giải pháp quản lý có chiều sâu, đạt chất lượng. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật trong công tác bảo vệ và phát triển rừng vẫn xảy ra.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời gian qua, công tác tuyên truyền bảo vệ rừng và phòng cháy chữa rừng chuyển biến tích cực. Trong tuần qua trên địa bàn thành phố không xảy ra cháy rừng, chặt phá rừng và vận chuyển trái phép. Tuy nhiên, kết quả thừa hành pháp luật tính từ đầu năm đến nay, cơ quan chức năng đã xử lý 78 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu 228,80 kg  động vật hoang dã. Tổng gỗ quy tròn xử lý là 139,331 m3, trong đó 21,197 m3 gỗ tròn, 73,834 m3 gỗ xẻ, thu phạt hành chính và bán lâm sản tịch thu được hơn 3 tỷ đồng nộp ngân sách.
Trong công tác cứu hộ động vật hoang dã đã thực hiện tốt công tác chăm sóc, bảo tồn số động vật hoang dã đang cứu hộ, đặc biệt là một số loài quý hiếm như: Hổ, gấu, mèo rừng, vượn, khỉ… Duy trì nghiêm túc công tác phòng dịch, không để xảy ra dịch bệnh, đảm bảo tuyệt đối an toàn cho đàn động vật.
Tổ chức tiếp nhận 6 cá thể tê tê java từ đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy số 1 (Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh); tổ chức thả động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên 113 cá thể chim Yểng tại rừng Quốc gia Yên Tử (Quảng Ninh). Số động vật hoang dã hiện đang cứu hộ, bảo tồn trên địa bàn thành phố đến hết ngày 13/12/2015 là 289 cá thể... (Cổng Giao Tiếp Điện Tử Hà Nội 17/12) đầu trang(
Sáng sớm 17/12, Vinpearl Safari Phú Quốc đã đón chuyên cơ chở thêm 200 thú về từ Châu Phi. Đây là chuyên cơ thứ 7 trong số 10 chuyên cơ đưa thú từ khắp các vùng địa sinh học trên thế giới về với Phú Quốc.
Vinpearl Safari Phú Quốc là công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật bán hoang dã đầu tiên và duy nhất  ở Việt Nam sắp khai trương ngày 24/12/2015.
Tiếp nối những chuyên cơ trong đó có những máy bay cỡ lớn như Boeing 747, Boeing 777 - chuyến chuyên cơ thứ 7 cất cánh từ Nam Phi mang theo 200 cá thể gồm ngựa vằn châu Phi, lạc đà một bướu, linh dương sừng cao, linh dương sừng xoắn, khỉ các chủng loại đã về Việt Nam sáng sớm 17/12.
200 động vật lập tức được chuyển về Vinpearl Safari - Công viên bán hoang dã tầm cỡ hàng đầu khu vực  sắp khai trương tại Phú Quốc. Cũng như 6 chuyến trước từ khắp các châu lục, động vật quý khi về Vinpearl Safari đều được các chuyên gia từ Úc, Ấn Độ... chăm sóc trong khu chuồng cách ly hoặc bệnh viện thú y nhằm thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng trước khi gia nhập quần thể động vật hoang dã tại đây.
Vinpearl Safari Phú Quốc là công viên bán hoang dã hoang dã đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam với quy mô hàng đầu khu vực, chỉ riêng diện tích giai đoạn I của Vinpearl Safari đã lên tới 380ha, được quy hoạch bài bản thành các phân khu: khu vườn thú mở (open zoo), khu bán hoang dã (safari), Bệnh viện Thú ý lớn nhất Đông Nam Á...
Với hơn 3.000 cá thể thuộc 150 loài động vật, trong đó, có nhiều động vật quý hiếm như Linh dương sừng xoắn, Linh dương Ả rập, Hổ Bengal, Sư tử châu Phi, Vượn cáo trắng đen, bộ sưu tập gần 60 con hươu cao cổ, hơn 100 con ngựa vằn, gần 100 con tê giác và gần 200 cá thể hồng hạc – Vinpeal Safari sở hữu bộ sưu tập động vật lớn chưa từng có tại Việt Nam cả về số lượng chủng loài và cá thể.
Vinpearl Safari sẽ mở cửa từ ngày 24/12/2015 với nhiều hoạt động độc đáo lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Đặc biệt từ 24/12 -  1/1/2016, đoàn múa truyền thống Beyond Zulu Dancers tới từ Nam Phi  sẽ mang những vũ điệu sôi động và hoang dã đến Vinpearl Safari, như một món quà văn hóa “đặc trưng” của mô hình Safari.
Vinpearl Safari thuộc quần thể siêu dự án nghỉ dưỡng Vinpearl tại Bãi Dài, Phú Quốc - là dự án mới và quy mô của tập đoàn Vingroup, mang sứ mệnh: Bảo tồn, Giáo dục và Du lịch. Dự án có quy mô lớn, chia làm nhiều giai đoạn phát triển và được coi là cú hích của du lịch Phú Quốc, hướng tới mục tiêu đưa Đảo Ngọc thành điểm đến hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới... (Thanh Tra 18/12) đầu trang(

QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Trong năm 2015, thông qua nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, xã Hướng Lập, huyện Hướng Hóa đã hỗ trợ 300 triệu đồng cho 40 hộ nghèo (chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều) để mua máy cắt cỏ phục vụ việc trồng rừng trên diện tích đất trống, đồi núi trọc. (Văn Hóa 18/12) đầu trang(
Khu rừng ngập mặn hàng trăm năm tuổi Tuần Lễ, xã Vạn Thọ, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đang bị “bức tử” do người dân lấn chiếm ồ ạt để làm nhà, trồng dừa và nuôi trồng thủy sản.
Ghi nhận của phóng viên vào khoảng giữa tháng 12/2015, khu rừng này vẫn phủ màu xanh bởi những hàng cây tươi tốt, nhưng đó là màu xanh…của vườn dừa thay vì cây ngập mặn. Người dân địa phương cho biết, vài năm trở lại đây, dừa được trồng trên phần đất đối diện rừng ngập mặnTuần Lễ. Hiệu quả kinh tế từ cây dừa đã tạo “động lực” để người dân lấn đất rừng trồng dừa.
Cùng thời gian này, nuôi tôm trên bạt trở thành phong trào ở Tuần Lễ. Vì vậy, rừng ngập mặn Tuần Lễ ngày càng teo tóp bởi lẽ người dân trồng dừa thì lấn từ mép rừng ra, chủ ao đìa nuôi tôm thì lấn rừng từ phía biển vào. Bên cạnh đó, môi trường nước trong rừng đã bị ô nhiễm trầm trọng bởi nước thải chưa qua xử lý và rác từ ao đìa nuôi trồng thủy sản, nhà dân.
Trong khi đó, những con đường cắt ngang khu rừng được mở ngày càng nhiều để vào ao đìa, nhà dân khiến nguồn nước từ trong rừng ra, từ biển vào rừng rất khó. Nhiều cây bần, đước cũng đang bị chết do việc người dân bồi đất để lấn chiếm rừng khiến rừng ngập mặn… thành rừng trên cạn.
Theo Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, năm 2003 rừng ngập mặn Tuần Lễ còn 455 cây bần cổ thụ trên 200 năm tuổi xanh tốt, nay đã chết rất nhiều.
Tuần Lễ là một trong những khu rừng ngập mặn có đa dạng sinh học và vai trò quan trọng để ứng phó với biến đổi khí hậu không chỉ ở Khánh Hòa mà còn là đặc trưng của cả nước. Để bảo vệ rừng ngập mặn Tuần Lễ, năm 2001, UBND tỉnh Khánh Hòa đã giao cho huyện Vạn Ninh và xã Vạn Thọ tiến hành trồng, bảo vệ rừng.
Theo đó, UBND huyện Vạn Ninh đã lập bản đồ quy hoạch 20 ha và triển khai nhiều biện pháp bảo tồn rừng. Song, việc lấn chiếm ồ ạt rừng ngập mặn Tuần Lễ đã khiến những chính sách trên chưa phát huy hiệu quả. Thiết nghĩ, để bảo vệ rừng ngập mặn Tuần Lễ, trước hết phải bắt đầu từ việc ngăn chặn tình trạng lấn chiếm rừng ồ ạt như hiện nay. (Tin Môi Trường 17/12) đầu trang(
Cứ tháng 10-11 dương lịch hàng năm, hàng trăm người dân các xã Quảng Lưu, Quảng Tiến, Quảng Trạch,... huyện Quảng Trạch (Quảng Bình) lại đổ vào rừng “ăn” hạt dẻ (nhặt hạt dẻ).
Theo thống kê sơ bộ của UBND xã Quảng Lưu, mỗi năm trung bình sản lượng hạt dẻ mà người dân nhặt được khoảng 100-120 tấn. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng hạt dẻ nhặt được lớn hơn nhiều, bởi không chỉ riêng người dân xã Quảng Lưu mà ở các xã lân cận cũng vào rừng “ăn”.
Gặp mẹ con chị Đặng Thị Như và cháu Nguyễn Thị Lành, ở thôn Vân Tiền, xã Quảng Lưu vừa từ rừng dẻ ra, chị Như cho biết: “Mùa dẻ rụng trúng vào những ngày nông nhàn nên năm nào tôi cũng đi nhặt hạt về bán, trung bình được 7-10 kg/ngày, ra khỏi rừng là có thương lái mua ngay.
Thông thường, theo chị Như, những năm ít hạt dẻ rụng thì bán được giá hơn, khoảng 30.000 đồng/kg. Năm nay dẻ sai hạt, nhiều người đi nhặt nên chỉ bán được 20.000 đồng/kg. Như vậy, bình thường mỗi người mỗi ngày kiếm được 200.000-300.000 đồng, ngày nào con nghỉ học chị còn cho đi cùng.
Đây là công việc cần sự kiên trì, cần mẫn, phù hợp với phụ nữ hơn, nhưng không vì thế mà rừng dẻ vắng tiếng đàn ông. Anh Cao Hoài Nam ở thôn Hải Lưu, xã Quảng Tiến, cho hay, nếu chịu khó, một tháng đi nhặt hạt dẻ cũng kiếm được 5-7 triệu đồng. “Số tiền này rất lớn đối với nông dân như chúng tôi, không chỉ giúp trang trải sinh hoạt mà còn để nuôi mấy đứa em ăn học", anh Nam nói thêm.
Không chỉ vào rừng “ăn” dẻ, gia đình chị Lê Thị Tuyết, thôn Vân Tiền, còn được nhận khoán bảo vệ gần 5 ha. Mỗi mùa dẻ rụng, gia đình nhặt được hơn nửa tấn hạt, thu về cả chục triệu đồng.
Từ tiền bán hạt dẻ, gia đình chị Tuyết có thêm vốn để chăn nuôi, trồng trọt, lập trang trại giữa đồi dẻ bạt ngàn. Dần dà cũng có "của ăn của để", gia đình chị thoát nghèo và trở thành hộ khá giả trong xã.
Hơn 20 năm trước, vì thiếu đất sản xuất, người dân xã Quảng Lưu chặt phá rừng lấy gỗ không thương tiếc. Cũng từ đó, thiên tại hạn hán bám riết lấy người dân nơi đây. Cuộc sống vốn khó khăn lại càng khó khăn bội phần.
Ông Biền Ngân, Chủ tịch kiêm Bí thư xã Quảng Lưu nhớ lại, vì quyết tâm tái sinh rừng dẻ nên thời điểm đó xã ra quyết sách cấm cửa rừng, không cho người dân chặt phá, rừng làm nương rẫy. Bên cạnh việc tuyên truyền, vận động, chính quyền xã cũng phạt những ai vi phạm.
Ông Ngân cho hay, nhiều người phản ứng rất quyết liệt, kéo đến nhà lãnh đạo xã chửi bới, nói xấu vì đã "cướp" mất miếng cơm của họ. Xã phải lập một tổ bảo vệ rừng thường xuyên túc trực, tuyên truyền cho người dân hiểu được những lợi ích lâu dài mà rừng mang lại. Nhờ đó, rừng dẻ cũng dần hồi sinh.
Hiện nay, gần 2.000 ha rừng dẻ ở xã Quảng Lưu cây mọc ken dày, xanh ngút tầm mắt. Người dân chẳng những tự hào vì đã tái sinh được rừng dẻ mà còn thu về bạc tỷ mỗi năm từ việc nhặt hạt dẻ. Với giá bán bình quân 20.000 đồng/kg mỗi mùa, hạt dẻ đã mang về cho người dân xã Quảng Lưu nguồn thu hơn 2 tỷ đồng. (Tiền Phong 17/12) đầu trang(
Những năm trước đây, sản xuất lâm nghiệp ở xã Quang Sơn, huyện Lập Thạch không được bà con chú trọng, bởi thị trường giá gỗ rừng trồng thấp, không ổn định, thu nhập từ việc trồng rừng của người dân vì thế cũng không được cao.
Là hộ gia đình có diện tích đất rừng tương đối nhiều, ông Nguyễn Văn Chỉn thôn Đồng Ái, xã Quang Sơn luôn nghĩ làm sao có thể làm giàu từ  trồng rừng. Sau nhiều đêm trăn trở và rút kinh nghiệm qua sản xuất thực tế, ông đã nhận thấy yếu tố quyết định sự thành công trong sản xuất lâm nghiệp, đó là phải đặc biệt quan tâm đến khâu chọn giống và phải tích cực chăm sóc sau khi trồng.
Sử dụng giống cây có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, trồng rừng đúng quy trình kỹ thuật, mới có thể đưa năng suất rừng tăng lên, góp phần phát triển kinh tế gia đình. Năm 2005, gia đình ông đầu tư vào trồng các loại cây có giá trị cao như bạch đàn, keo. Đến nay, gia đình ông có hơn 2ha rừng bạch đàn. Nhờ kiên trì học hỏi, áp dụng kỹ thuật, năng suất rừng trồng của gia đình ông tăng lên nhiều.
Đến nay, cứ sau 4 đến 5 năm gia đình ông thu hoạch cây rừng một lần, trừ chi phí cho thu lãi khoảng 400 triệu đồng. Không chỉ phát triển kinh tế gia đình, ông Chỉn còn thường xuyên giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm trồng rừng với bà con nhân dân trong xã, qua đó cùng nhau phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Vĩnh Phúc 17/12) đầu trang(
Trên địa bàn huyện Thanh Ba đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. Điển hình là cơ sở chế biến lâm sản của gia đình chị Dương Thị Kim Lý ở khu 7, xã Năng Yên, huyện Thanh Ba, mỗi năm cho thu nhập trên 200 triệu đồng và giải quyết việc làm thường xuyên cho 10 lao động tại địa phương.
Trước đây, để phát triển kinh tế của gia đình chị Lý đã xoay xỏa canh tác hai vụ trên 6 sào đất nông nghiệp, rồi mở quán bán hàng tạp hóa nhưng thu nhập không cao. Nhận thấy địa phương sẵn có nguồn nguyên liệu dồi dào, năm 2009, được bạn bè động viên, giúp đỡ, chị đã mạnh dạn đầu tư vốn mở xưởng chế biến gỗ trên diện tích đất của gia đình, hợp đồng vận chuyển nguyên liệu bán cho Công ty giấy Bãi Bằng, công việc này đã giúp chị tích lũy được một ít vốn.
Với số vốn gom góp được và vay thêm ngân hàng, năm 2014, anh chị quyết định đầu tư trên 1 tỷ đồng mua 1 máy bóc vỏ, 1 máy cặp gỗ, 1 máy băm răm, xe  tải để chuyển sang băm răm tại nhà, vừa tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, vừa tạo thêm việc làm cho người dân địa phương.
Chị Lý kể: “Nếu như trước kia buôn bán gỗ, ngoài việc phải chọn được gỗ to, gỗ tốt, lại phải xẻ thành khí, lao động làm việc thủ công là chính nên năng suất không cao. Nhưng giờ chuyển sang băm răm có sự hỗ trợ của nhiều loại máy móc nên nhân công làm việc hiệu quả hơn, lại tận dụng được cả gỗ to, gỗ nhỏ, làm ăn có lãi hơn hẳn"!
Do biết giữ uy tín và chất lượng hàng hóa đảm bảo nên khách tìm đến đặt hàng tại cơ sở của gia đình chị ngày càng nhiều. Quá trình sản xuất đã giúp chị có thêm nhiều kinh nghiệm, sản xuất- kinh doanh ngày càng hiệu quả. Từ chế biến gỗ, gia đình chị đã xây dựng được nhà cửa khang trang, với đầy đủ tiện nghi. Không chỉ lo kinh tế cho gia đình mình, chị Lý còn tích cực tham gia các hoạt động của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, luôn sẵn lòng chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, giúp nhau làm giàu.
Ông Lê Tiến Đạt - Chủ tịch UBND xã Năng Yên nhận xét: “Đây là một mô hình chế biến gỗ tiêu biểu của xã, bước đầu đã cho hiệu quả cao. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tạo điều kiện cho các hộ kinh doanh trên địa bàn thăm quan học hỏi và nhân rộng nhiều mô hình hơn nữa, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương ngày càng phát triển”. Nói về kế hoạch sản xuất kinh doanh trong thời gian tới, chị Lý cho biết, gia đình chị có dự định mở thêm nhà xưởng, mua thêm máy băm răm, xe tải để chở nguyên vật liệu, đầu tư trạm biến thế để có nguồn điện ổn định cho sản xuất. (Báo Phú Thọ 17/12) đầu trang(
Với lợi thế tiềm năng về đất đai, rừng, nhân lực, phát triển kinh tế lâm nghiệp thực sự là điểm nhấn quan trọng, có đóng góp đáng kể trong cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp; đồng thời tỉnh cũng đã đề ra nhiệm vụ tái cơ cấu lâm nghiệp là một phần của tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng nông thôn mới.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, với diện tích đất lâm nghiệp là 446.630 ha, chiếm 76,1 % tổng diện tích đất tự nhiên (các Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế quản lý: 32.533,9 ha; hộ gia đình: 73.974,4 ha…), trong đó diện tích đất có rừng trên 415.000 ha (rừng tự nhiên: 268.000 ha; rừng trồng: 148.000 ha).
Giai đoạn 2005 – 2015, hàng năm tỉnh Tuyên Quang trồng trên 14.000 ha rừng các loại, khai thác trên 400.000 m3 gỗ, độ che phủ của rừng luôn duy trì trên 64%, là một trong những tỉnh có độ che phủ lớn nhất cả nước. Vốn rừng hiện có là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực: công nghiệp chế biến gỗ, phát triển du lịch sinh thái, ngành nghề thủ công mỹ nghệ…, đó là yếu tố nền tảng để Tuyên Quang phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới.
Tuy có những thuận lợi nhất định, nhưng hiện tại sản xuất lâm nghiệp của Tuyên Quang cũng còn nhiều hạn chế, sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ, năng suất rừng trồng bình quân của Tuyên Quang đạt thấp (khoảng 75 m3/ha), thu nhập từ nghề rừng chưa tương xứng với tiềm năng; còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với tiêu thụ, chế biến dẫn đến thu nhập của người dân còn thấp, cuộc sống của người làm nghề rừng còn nhiều khó khăn, đây là nút thắt lớn nhất dẫn đến người dân chưa thực sự mặn mà trong việc phát triển kinh tế từ nghề rừng.
Để sớm khắc phục các hạn chế nêu trên, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã lựa chọn: Phát triển kinh tế nông lâm nghiệp hàng hóa là một trong 3 lĩnh vực đột phá của tỉnh.
Thực hiện tái cơ cấu ngành lâm nghiệp phải theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, chuyển mạnh sản xuất từ manh mún sang sản xuất hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh trên thị trường, từ phát triển theo chiều rộng lấy số lượng làm mục tiêu sang phát triển theo chiều sâu là nâng cao chất lượng, hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm; tuân thủ nguyên tắc và yêu cầu của thị trường; đảm bảo hài hòa hai mục đích là tăng giá trị gia tăng và phát triển bền vững… tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và thay đổi diện mạo nông thôn của tỉnh nhằm thực hiện có hiệu quả“Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” theo Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tỉnh Tuyên Quang đặt ra mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp đến năm 2020:  Quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp; duy trì độ che phủ rừng đạt trên 60%; thâm canh có hiệu quả vùng sản xuất gỗ nguyên liệu giấy khoảng 163.000 ha với loài cây trồng chính là cây Keo (keo lai, keo tai tượng); vùng sản xuất gỗ lớn phục vụ xây dựng, gia dụng: khoảng 69.000 ha (tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình) và vùng sản xuất gỗ nhỏ phục vụ chế biến khác khoảng 38.000 ha với loài cây trồng chính là keo, mỡ, lát, sấu, giổi, xoan ta.
Giai đoạn 2015 – 2020, mỗi năm khai thác và trồng lại trên 9.000 ha rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác trên 800.000 m3/năm (tăng trên 400.000 m3 so năm 2014), trong đó 28% là gỗ chế biến (tăng trên 80.000 m3 so năm 2014), 72% gỗ nguyên liệu giấy (tăng trên 300.000 m3 so với năm 2014) để phục vụ nhu cầu chế biến và sử dụng: Gỗ lớn: 10.000 m3; gỗ nhỏ và vừa (ván thanh, MDF, gia dụng khác…) 150.000 m3; gỗ giấy 540.000 m3; gỗ cho nhu cầu xã hội khác là 100.000 m3; tre nứa (ván ghép thanh, giấy và bột giấy đế, đũa…) 22.500 tấn.
Lồng ghép nguồn vốn Trung ương, vốn của tỉnh và vốn của Doanh nghiệp để hỗ trợ trồng rừng gỗ nguyên liệu, gỗ lớn, hỗ trợ thực hiện cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC cho khoảng 9.000 ha rừng trồng. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất giống cây lâm nghiệp và trồng rừng, phấn đấu đến năm 2020 có trên 80% diện tích rừng trồng được trồng bằng giống vô tính (mô, hom), giống hạt chất lượng cao.
Đồng thời, tỉnh Tuyên Quang cũng đã xác định rõ, phát triển kinh tế rừng phải gắn với tái cơ cấu lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới, đó là:
Bảo vệ nghiêm rừng tự nhiên; tập trung nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, chuyển hóa một số diện tích rừng trồng sang kinh doanh gỗ lớn và kết hợp gỗ lớn với cung cấp nguyên liệu giấy, giảm dần sản lượng dăm gỗ, nâng cao hiệu quả trong chế biến gỗ rừng trồng; xây dựng Chứng chỉ quản lý rừng bền vững để xuất khẩu sản phẩm từ gỗ rừng trồng.
Cơ bản ổn định cơ cấu 3 loại rừng hiện có; nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật xây dựng hệ thống nguồn giống năng suất, chất lượng cao và sản xuất giống cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh cơ bản cung cấp đủ giống cho nhu cầu trồng rừng của tỉnh; tổ chức quản lý, bảo vệ có hiệu quả tài nguyên rừng hiện có; thực hiện các biện pháp phục hồi, làm giàu trên 6.500 ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên (phấn đấu đến năm 2020, nâng cao trữ lượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất lên 25% so với hiện nay, đạt tốc độ tăng bình quân từ 4 – 5 m3/ha/năm).
Bảo tồn các hệ sinh thái, cảnh quan, tài nguyên đa dạng sinh học, nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường. Tạo nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng, dịch vụ hệ sinh thái và chuyển nhượng tín chỉ Cacbon. Thực hiện xã hội hóa nghề rừng, thu hút các thành phần kinh tế tham gia phát triển rừng, đầu tư phát triển cây lâm sản ngoài gỗ gắn với phát triển các ngành nghề thủ công mỹ nghệ, ngành nghề truyền thống.
Trồng rừng tập trung, bình quân 10.000 ha/năm, đến năm 2020 diện tích rừng trồng sản xuất đạt khoảng 140.000 ha, có trên 80% diện tích rừng được trồng bằng giống vô tính, giống hạt chất lượng cao; năng suất rừng trồng đạt bình quân trên 100m3/ha/chu kỳ 7 – 8 năm; chuyển đổi từ kinh doanh gỗ nhỏ sang kinh doanh gỗ lớn 11.000 ha, đưa năng suất rừng đạt 120 m3/ha; có 9.000 ha rừng được cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC; giá trị sản xuất lĩnh vực lâm nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) đạt trên 1 nghìn tỷ đồng, trong đó, khai thác gỗ rừng trồng tập trung chiếm 91% và khai thác cây trồng phân tán 9% (trong đó gỗ lớn chiếm trên 20%).
Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tỉnh Tuyên Quang đã đề ra một số nhóm giải pháp chủ yếu:
Thứ nhất: Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất cây giống lâm nghiệp và trồng rừng, như: Ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất giống bằng phương pháp nuôi cấy mô và kỹ thuật trồng thâm canh rừng keo lai bằng cây giống nuôi cấy mô, mục tiêu cốt lõi là nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, rút ngắn chu kỳ kinh doanh của rừng trồng sản xuất…tăng giá trị kinh tế, môi trường của rừng, đảm bảo phát triển kinh tế rừng bền vững.
Thứ 2: Hoàn thiện và tổ chức triển khai thực hiện các quy hoạch, kế hoạch thuộc lĩnh vực lâm nghiệp; tăng cường quản lý giám sát, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch để điều chỉnh, bổ sung phù hợp với xu thế phát triển từng giai đoạn; huy động mọi nguồn lực để phát triển các vùng nguyên liệu theo quy hoạch được duyệt, ở tuyên quang các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong đầu tư, nhà nước hỗ trợ.
Thực hiện giải pháp này, Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt quy hoạch vùng cung cấp nguyên liệu cho 5/6 cơ sở chế biến lớn trong tỉnh với diện tích 201.420,7 ha, trong đó: Quy hoạch cho Nhà máy bột giấy và giấy An Hoà (công suất 130.000 tấn sản phẩm/năm, nhu cầu gỗ nguyên liệu 695.000 m3/năm): 163.358,8 ha; quy hoạch cho Nhà máy chế biến gỗ Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang (nhu cầu gỗ nguyên liệu chế biến đồ gỗ xuất khẩu 615.000 m3/năm): 4.630 ha; quy hoạch cho Nhà máy sản xuất đũa Phúc Lâm, huyện Chiêm Hóa (công suất 300.000.000 đôi/năm): 2.627 ha; quy hoạch cho Nhà máy sản xuất đũa tre, giấy đế và bột giấy Na Hang (nhu cầu nguyên liệu 16.000 tấn): 22.791,0 ha; quy hoạch cho Nhà máy chế biến gỗ Công ty cổ phần gỗ Đông Dương: 8.013,9 ha.
Thứ 3: Củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý: Thực hiện kiện toàn hệ thống tổ chức theo Quyết định số 1920/QĐ-TTg ngày 24/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm lâm giai đoạn 2014 – 2020; củng cố, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty lâm nghiệp theo thực hiện Nghị quyết 30-NQ/TW, ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, Nghị định 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp; phát triển kinh tế hợp tác, chú trọng phát triển các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động sản xuất gắn với cung ứng dịch vụ theo chuỗi giá trị; hình thành các mô hình tổ hợp tác, HTX chuyên ngành lâm nghiệp….
Thứ 4: Tăng cường cải cách thể chế, đổi mới và nâng cao hiệu quả các cơ chế, chính sách: Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cơ chế chính sách hiện hành liên quan đến đầu tư phát triển lâm nghiệp; triển khai thực hiện Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 09/9/2015 của Chính phủ về cơ chế chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 -2020; ban hành các chính sách hỗ trợ như, chính sách hỗ trợ phát triển rừng trồng nguyên liệu gỗ lớn, hỗ trợ xây dựng nhà sản xuất và nuôi cấy mô, hỗ trợ trồng rừng sản xuất….
Thứ 5: Tăng cường thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đầu tư công: Ưu tiên đầu tư, hỗ trợ phát triển rừng sản xuất; khoán bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ nơi chưa có nguồn thu; phát triển hệ thống nguồn giống cây trồng lâm nghiệp chất lượng cao trên địa bàn tỉnh; xây dựng và triển khai thực hiện các mô hình khai thác hợp lý kết hợp gây trồng các cây dược liệu, các sản phẩm ngoài gỗ có giá trị khác; đổi mới dây chuyền, công nghệ chế biến sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu.
Nghiên cứu nâng cao hiệu quả kinh tế của rừng trồng, theo hướng đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu sản phẩm từ khai thác gỗ nhỏ, sang khai thác gỗ lớn nhằm tạo vùng nguyên liệu tập trung, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến đồ gỗ gia dụng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Đầu tư nâng cao năng lực cho lực lượng kiểm lâm, năng lực dự báo và phòng cháy chữa cháy rừng; đầu tư phát triển mô hình quản lý lâm nghiệp cộng đồng và phát triển dịch vụ môi trường rừng.
Thứ 6: Thực hiện tốt công tác quản lý, quy hoạch sử dụng đất đai để phát triển các vung sản xuất hàng hóa tập trung, chuyên canh ứng dụng công nghệ cao: Tăng cường công tác quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định; khuyến khích các doanh nghiệp và người dân thực hiện việc góp vốn cổ phần, liên kết sản xuất bằng đất đai; đẩy nhanh tiến độ giao rừng, giao đất sản xuất cho các doanh nghiêp và hộ gia đình, trong đó ưu tiên bố trí đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, hộ dân tái định cư các công trình thủy điện trên địa bàn và các hộ còn thiếu đất sản xuất…
Thứ 7: Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng nhãn hiệu hàng hóa; phấn đấu cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn FSC cho khoảng 6% diện tích rừng trồng toàn tỉnh để xuất khẩu sản phẩm từ gỗ rừng trồng.
Thứ 8: Huy động mọi nguồn lực để thực hiện Phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới: Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn được cấp phát từ trung ương như nguồn vốn đầu tư phát triển cho các chương trình mục tiêu quốc gia, nguồn tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, vốn sự nghiệp khoa học, vốn bố trí từ ngân sách địa phương, vốn doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đầu tư để phát triển sản xuất và các nguồn vốn hợp pháp khác.
Tóm lại: Với lợi thế về đất đai, tài nguyên rừng, sự quan tâm, quyết tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp của các cấp, các ngành liên quan; đặc biệt là sự nỗ lực cố gắng của toàn ngành lâm nghiệp và sự tích cực của người dân. Kinh tế rừng của Tuyên Quang thực sự đã và đang có những bước tiến dài, năng suất của rừng được nâng lên, hiệu quả về xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, hiệu quả về kinh tế từ rừng đã rõ rệt, Tuyên Quang không phải hứng chịu thiệt hại do bão lũ, thiên tai, hạn hán…
Tuyên Quang có nhiều hộ gia đình thoát đói, nghèo và trở nên khá giả nhờ phát triển có hiệu quả kinh tế rừng, hơn thế Tuyên Quang còn có những tỷ phú, triệu phú rừng; đó thực sự là kết quả, niềm vui, niềm tự hào của kinh tế rừng tại Tuyên Quang, những kết quả bước đầu này đã góp phần hiện thực hóa các chỉ tiêu, mục tiêu tái cơ cấu ngành lâm nghiệp, góp phần thực hiện thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới ở Tuyên Quang. (Môi Trường Và Đời Sống 17/12) đầu trang(
Trong khi nhiều hộ dân bản Xốp Hốc, xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu còn thiếu đất sản xuất, lãnh đạo xã Diên Lãm lại tự ý bán đất lâm nghiệp cho một doanh nghiệp…
Theo phản ánh của người dân bản Xốp Hốc, lãnh đạo UBND xã cho thuê hàng chục ha đất thuộc quản lý của bản Xốp Hốc cho Công ty Trường Linh vào kinh doanh. Họ cho biết, từ khi Công ty Trường Linh được lãnh đạo UBND xã cho thuê đã tiến hành phá hàng chục ha đất rừng của người dân để trồng keo. Người dân đã nhiều lần trực tiếp lên hỏi lãnh đạo UBND xã, đồng thời gửi đơn khiếu nại lên cấp trên, tuy nhiên, nhiều tháng trôi qua vẫn không nhận được bất kỳ câu trả lời nào.
Ông Vi Văn Khánh, Trưởng bản Xốp Hốc (xã Diên Lãm, huyện Quỳ Châu) nói: “Tôi không đồng tình với việc xã lấy đất của bản Xốp Hốc cho Công ty Trường Linh trồng keo để kinh doanh. Vì, ngay trong bản vẫn còn nhiều hộ chưa có đất lâm nghiệp, nhiều cặp vợ chồng mới cưới, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhu cầu sử dụng đất lâm nghiệp nhưng lại không được cấp”.
Theo ông Khánh, lãnh đạo UBND xã tự giao 17ha đất cho Công ty Trường Linh, ông và người dân cũng như Ban cán sự bản Xốp Hốc hoàn toàn không biết.
Ông Khánh dẫn chúng tôi đến Huôi Lụng, khu đất lâm nghiệp mà lãnh đạo UBND xã đã tự ý giao cho Công ty Trường Linh. Tại đây, hàng chục ha rừng bị chặt hạ tan hoang, thay vào đó là những cây keo nhỏ đang mọc…
Ông Võ Minh Ngọc, Chủ tịch UBND xã Diên Lãm khẳng định: “Sự việc liên quan đến đơn thư của người dân bản Xốp Hốc tôi không hề nắm được. Tôi cũng khẳng định cấp đất không sai đối tượng, đơn thư khiếu nại của người dân hoàn toàn nói sai sự thật, vì diện tích đất thực chất chỉ có 9,6ha chứ không phải 17ha”.
Cũng theo ông Ngọc: “Đây là đất của ông Đoàn, người bản Xốp Hốc. Ông Đoàn cho Công ty Trường Linh thuê đất trồng cây keo”. Tuy nhiên, khi hỏi Công ty Trường Linh thuê đất ông Đoàn với diện tích lên đến 9,6ha, xã có giấy tờ quản lý không? Vị Chủ tịch xã chỉ cười rồi nói: “Vấn đề này tôi không nắm rõ lắm, tôi sẽ gọi địa chính xã xuống trao đổi”.
Ông Nguyễn Công An, cán bộ địa chính xã Diên Lãm khẳng định: “Đây là đất của ông Đoàn. Hôm giao đất, chính tôi cùng 2 đồng chí bên kiểm lâm đi đo đất cho người dân nên không sai được. Còn về vấn đề ông Đoàn cho Công ty Trường Linh thuê đất thì chúng tôi đang hoàn thiện hồ sơ, đến ngày 3/12 là hoàn thiện xong”. Nhưng khi chúng tôi ngỏ ý chụp ảnh làm tư liệu, thì ngay lập tức 2 vị lãnh đạo xã này không đồng ý. Lý do, “có thông tin gì chúng tôi đã cung cấp hết rồi”.
Để làm rõ sự việc, chúng tôi đến gặp ông Đoàn (bản Xốp Hốc). Ông Đoàn cho biết: “Trước đây gia đình tôi có cái ao ngay trước UBND xã, mới đây UBND xã có mở rộng diện tích và lấp ao cá của gia đình tôi. Số đất ao mà nhà tôi được bồi thường 50 triệu đồng. Tuy nhiên, Chủ tịch xã đã đến nói với gia đình tôi do UBND xã không có tiền mặt, nên sẽ trao đổi bằng miếng đất lâm nghiệp với giá trị tương đương. Nhưng khi xem đất, thấy miếng đất lâm nghiệp đó xấu không thích hợp phát triển trồng rừng nên gia đình tôi yêu cầu lấy tiền mặt và thực tế gia đình tôi đã được bồi thường 50 triệu đồng, có giấy tờ hợp pháp rồi”.
Nói về 9,6ha đất tại Huôi Lụng mà Chủ tịch và cán bộ địa chính xã Diên Lãm khẳng định rằng đó là đất của hộ gia đình ông Đoàn thì chính ông Đoàn lại cho rằng, đất đó không liên quan đến gia đình ông. “9,6ha đất đó không phải là đất của gia đình tôi, gia đình tôi hoàn toàn không liên quan”, ông Đoàn nói.
Hiện, ở bản Xốp Hốc còn 3 hộ gia đình chưa có đất lâm nghiệp. Đó là hộ chị Quang Thị Thanh, Bùi Văn Nghị và Nguyễn Thanh Tuấn. Trong khi các hộ dân chưa có đất sản xuất, việc UBND xã tự ý bán đất cho doanh nghiệp là không thể chấp nhận được. Đó là chưa nói đến việc UBND xã Diên Lãm không có thẩm quyền để bán đất, nếu xã tự ý bán là trái với quy định của pháp luật.
Trước sự việc trên, đề nghị UBND huyện Quỳ Châu nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, làm rõ, tránh những bức xúc và đơn thư kéo dài. (Thanh Tra 18/12) đầu trang(
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại Hội nghị sơ kết 5 năm thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân hàng năm tăng xấp xỉ 2,0 lần so với giai đoạn 2006 - 2010, bình quân đạt 5,95%/năm, so với 3,1%/năm giai đoạn 2006 - 2010; giá trị xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ và lâm sản ngoài gỗ tăng xấp xỉ 1,5 lần trong vòng 4 năm, từ 4,2 tỷ USD năm 2011 lên 6,54 tỷ USD năm 2014, ước đạt khoảng 6,8-7,0 tỷ USD vào năm 2015; công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng có nhiều tiến bộ, tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng giảm dần so với giai đoạn 2006-2010.
Công tác phát triển rừng tiếp tục được quan tâm, đẩy mạnh. Cả nước đã trồng được 1.088.700 ha rừng tập trung, bình quân 217.740 ha/năm, đạt 87% kế hoạch; khoanh nuôi tái sinh bình quân 361.000 ha/năm, đạt 328% kế hoạch.
Mặc dù, đã đạt được những thành tựu to lớn nhưng ngành lâm nghiệp cũng đang còn nhiều tồn tại và đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức: độ che phủ rừng toàn quốc không đạt so với mục tiêu đề ra đến năm 2015; kết quả phát triển rừng không đồng đều giữa các vùng; chất lượng rừng và tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên vẫn còn suy giảm ở một số địa phương...
Phó Thủ tướng yêu cầu mục tiêu trong giai đoạn 2016-2020, nâng cao năng suất, chất lượng và phát huy giá trị của từng loại rừng, phát triển lâm nghiệp nhanh, bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường; chuyển mạnh mô hình tăng trưởng lâm nghiệp theo hướng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh; từng bước đáp ứng nhu cầu cơ bản gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản cho tiêu dùng trong nước; tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 7%/năm; kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và lâm sản đạt khoảng 9,5-10 tỷ USD vào năm 2020; nâng độ che phủ rừng lên trên 42% vào năm 2020, thích ứng yêu cầu giảm nhẹ thiên tai, bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biển đổi khí hậu; tạo khoảng 4,5 - 5,0 triệu việc làm thường xuyên, góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế, gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới và đảm bảo an ninh, quốc phòng.
Bảo vệ, sử dụng hợp lý và bền vững 100% diện tích rừng hiện có và diện tích rừng được tạo mới; đến năm 2020, diện tích rừng đạt khoảng 14,87 triệu ha; giảm căn bản tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản.
Trồng rừng 1.025.000 ha (bình quân 205.000 ha/năm); chuyển hóa rừng để kinh doanh gỗ lớn: 89.000 ha (bình quân 17.800 ha/năm); khoanh nuôi tái sinh 360.000 ha/năm; cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt 25.000 ha (bình quân 5.000 ha/năm); trồng cây phân tán 250 triệu cây (bình quân 50 triệu cây/năm).
Nâng trữ lượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất lên 20% so với năm 2015, đạt tăng trưởng bình quân từ 4-5 m3/ha; tỷ lệ gỗ sản phẩm đạt 75% trữ lượng gỗ cây đứng; nuôi dưỡng 0,7 triệu ha rừng phục hồi; làm giàu 1,1 triệu ha rừng.
Phó Thủ tướng yêu cầu điều chỉnh cơ cấu sản phẩm gỗ và lâm sản, nhất là các sản phẩm xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng giá trị lâm sản sử dụng nguồn nguyên liệu được gây trồng trong nước, phát triển hài hòa cả sản xuất đồ gỗ ngoại thất, nội thất, hạn chế hợp lý tỷ trọng dăm gỗ trong cơ cấu giá trị lâm sản xuất khẩu.
Đồng thời tiếp tục đẩy mạnh giao, cho thuê rừng cho tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, cá nhân, đảm bảo tất cả diện tích rừng có chủ quản lý cụ thể và thực hiện phương thức đồng quản lý trong quản lý rừng. tạo điều kiện tích tụ đất lâm nghiệp tạo vùng nguyên liệu chủ yếu bằng phương thức liên kết, liên doanh trồng rừng và doanh nghiệp chế biến.
Bên cạnh đó tổ chức sản xuất theo chuỗi sản phẩm từ trồng rừng, thu mua nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn; lấy các doanh nghiệp làm trung tâm liên kết chuỗi sản xuất đối với mỗi sản phẩm chủ lực, nhất là sản phẩm xuất khẩu.
Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tập trung chỉ đạo hoàn thành công tác tổng điều tra kiểm kê rừng toàn quốc, thực hiện số hóa bản đồ kiểm kê, báo cáo Thủ tướng Chính phủ vào Quý IV năm 2016; chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, tiếp tục bổ sung, điều chỉnh các mục tiêu, nhiệm vụ và mức đầu tư phù hợp với quy định hiện hành để hoàn thiện Chương trình mục tiêu bảo vệ và phát triển rừng bền vững, trình phê duyệt theo quy định.
Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam rà soát tình hình thực hiện trồng rừng thay thế, thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng của các đơn vị trực thuộc; kiên quyết thu hồi giấy phép, dừng hoạt động đối với những dự án không chấp hành trồng rừng thay thế, không thực hiện nghiêm túc chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.
Phó Thủ tướng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đưa các chỉ tiêu, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng vào các Nghị quyết của địa phương và bố trí đủ vốn để thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ được giao; rà soát các dự án bảo vệ và phát triển rừng theo hướng gắn kết thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. (Chính Phủ 17/12; Biên Phòng 17/12) đầu trang(
Tính đến tháng 12/2015, Đắc Lắc có tổng diện tích rừng là 513.327 ha, tỷ lệ che phủ đạt 39,2%, tăng 5.800ha so với năm 2014. Đây là số liệu được Chi cục Kiểm lâm Đắc Lắc đưa ra tại Hội nghị Báo cáo và chuyển giao kết quả ứng dụng phần mềm theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp diễn ra chiều 17/12 tại Đắc Lắc do Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Đắc Lắc và Đại sứ quán Phần Lan phối hợp tổ chức.
Diện tích rừng và đất lâm nghiệp của tỉnh Đắc Lắc cũng được cập nhật, số hóa đến từng lô rừng, từng loại rừng và trữ lượng rừng chính xác đến từng cây, từng m3. Đắc Lắc là tỉnh đầu tiên ứng dụng phần mềm theo dõi diễn biến diên tích rừng và đất lâm nghiệp của Dự án Phát triển hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp (Formis) giai đoạn II (từ năm 2013-2018) do Chính phủ Phần Lan hỗ trợ.
Ứng dụng hệ thống phần mềm hiện đại này, các cơ sở dữ liệu đầy đủ về rừng sẽ được số hóa, cập nhập thường xuyên lên hệ thống để các chủ rừng và cán bộ ngành lâm nghiệp có thể truy cập để biết được chính xác thông tin về tài nguyên rừng, hiện trạng rừng và thực hiện báo cáo nhanh ngành kiểm lâm.
Theo TS Nguyễn Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ NN&PTNT, hiện nay, 25 tỉnh đã thực hiện xong kiểm kê rừng trong cuộc tổng kiểm kê rừng toàn quốc, đây là nền dữ liệu để cập nhật và đưa lên phần mềm hệ thống theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trong thời gian tới.
Tuy nhiên, để phần mềm theo dõi  diễn biến rừng và đất lâm nghiệp được ứng dụng rộng rãi, lâu dài, số liệu được cập nhật liên tục, mới mẻ, các  tỉnh kiến nghị Bộ NN&PTNT sớm ban hành quy trình, trách nhiệm cho các đối tượng ứng dụng phần mềm này để có cơ sở pháp lý ứng dụng. (Đài Tiếng Nói Việt Nam 17/12) đầu trang(

NHÌN RA THẾ GIỚI
Ngày 17/12, nhà chức trách Singapore thông báo đã thu giữ số ngà voi nặng 505kg cùng 324kg vảy tê tê đang trên đường vận chuyển đến Lào vào ngày 12/12.
Đây là một trong những vụ tịch thu ngà voi lớn nhất tại nước này trong hơn một thập kỷ qua.
Theo thông báo của Hải quan Singapore và cơ quan nông nghiệp và thú y, các thùng đựng hàng trên được dán nhãn là tóc giả và đến từ Nigeria. Ước tính, số hàng trên trị giá khoảng 1,3 triệu SGD (920.000 USD).
Nếu tính từ năm 2002, đây là vụ thu giữ ngà voi lớn thứ 5 tại Singapore. Đầu năm nay, các nhà chức trách đã tịch thu 3,7 tấn ngà voi được đựng trong những container dán nhãn lá trà từ Kenya.
Việc buôn bán ngà voi và tê tê bị cấm theo Công ước quốc tế về buôn bán các loại động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng các loạt động vật này làm thuốc chữa bệnh tại châu Á vẫn rất cao.
Tại Singapore, việc buôn bán động vật hoang dã trong danh sách cấm của CITES sẽ bị phạt 2 năm tù giam hoặc phải nộp 500.000 SGD. (Vietnam + 17/12) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang