|
Ngày 17 tháng 12 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Trao đổi với Đất Việt, ông Đỗ Trọng Kim - Phó Cục trưởng Cục Kiểm lâm (thuộc Bộ NN&PTNT) cho biết đã yêu cầu Kiểm lâm vùng 2 có trụ sở tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa vào cuộc tìm hiểu những sai phạm của tập đoàn FLC và lãnh đạo UBND thị xã Sầm Sơn trong việc lấn rừng phòng hộ tại xã Quảng Cư để xây khu resort.
Trong sáng ngày 16/12, ông Lê Như Tuấn - Giám đốc Sở NN&PTNT Thanh Hóa cũng cho biết, đã tham mưu, đôn đốc các cơ quan ban ngành có liên quan để vào cuộc xử lý sau khi có kết luận của Thanh tra tỉnh Thanh Hóa. Ông Tuấn khẳng định, việc xử lý đúng trách nhiệm và quy trình.
Theo thông tin đăng tải trên báo chí, trong tháng 9/2014 thị xã Sầm Sơn thu hồi 24,1 ha rừng phòng hộ tại xã Quảng Cư bàn giao cho FLC xây dựng khu resort. Tuy nhiên, thực tế những gì diễn ra lại hoàn toàn khác. Theo ghi nhận của PV, tất cả diện tích rừng phòng hộ phía giáp biển đã bị FLC xóa sổ gần hết. Khu vực này chỉ còn rải rác một số cây phi lao ở phía cuối dự án sân golf, thay vào đó là những hàng dừa trụi lá.
Ông Lường Văn Hoàng, Phó Chủ tịch UBND xã Quảng Cư, trước khi FLC tiến hành xây dựng các công trình, khu vực này có khoảng 8- 10 ha rừng phòng hộ do xã quản lý nhưng giờ “họ dẹp hết rồi”. Ông Lê Văn Hồng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Ven biển - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa, cũng cho biết kiểm tra thực tế năm 2014 cho thấy xã Quảng Cư còn 33 ha rừng phòng hộ.
“Khi FLC đến xây dựng, chúng tôi đã bàn giao 24 ha rừng phòng hộ cho UBND tỉnh chuyển mục đích sử dụng. Vừa rồi, tôi đã đi thực tế tại đây và thấy rừng phi lao phía trước dự án FLC không còn” - ông Hồng thừa nhận.
Cũng trong tháng 11/2015, Chánh Thanh tra tỉnh Thanh Hóa đã có báo cáo kết quả xác minh một số nội dung tố cáo những vi phạm của Chủ tịch UBND thị xã Sầm Sơn gửi lãnh đạo tỉnh. Theo đó, đoàn thanh tra đã kiểm tra thực tế việc giữ lại dải cây rừng phòng hộ ven biển có độ dày 20m (theo quy hoạch) nhưng thực tế chỉ còn 5-7m (tại khu vực xây sân golf); còn phía trước khu resort, dải rừng phòng hộ đã bị xóa sạch.
Cũng thông tin trên báo chí, trong việc triển khai dự án khu resort và dự án sân golf, diện tích 127.808,4 mét vuông mà FLC đã thu hồi, sử dụng (trong đó, có gần 56.000 mét vuông đất rừng phòng hộ, gần 69.000 mét vuông đất bãi biển) là diện tích không được UBND thị xã Sầm Sơn bàn giao.
Ngoài sai phạm trong việc lấy đất rừng phòng hộ, đất bãi biển, FLC còn có những sai phạm như: Thi công tuyến đường từ khu Vạn Chài nối đường Hồ Xuân Hương cũ đến đê sông Mã (thị xã Sầm Sơn) khi chưa được phép; Chưa nộp 2,3 tỷ đồng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường (cho đến thời điểm thanh kiểm tra).
Ngày 14/12, báo Đất Việt đã liên hệ với bà Trần Thị My Lan - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn FLC để làm rõ những thông tin sai phạm lấn chiếm rừng phòng hộ nhưng không chỉ nhận được câu trả lời "sẽ cử bộ phận của tập đoàn liên hệ lại". Tuy nhiên, sau 2 ngày tập đoàn FLC vẫn im lặng. (Đất Việt 16/12) đầu trang(
Ngày 16-12, ông Phan Thế Dũng - Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng) cho biết đã tiến hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Nguyễn Thương - cán bộ phụ trách Trạm quản lý bảo vệ rừng Sông Nam do để xảy ra tình trạng phá rừng nghiêm trọng ở khu vực quản lý.
Trước đó, tại tiểu khu 20 của rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, lâm tặc đã đốn hạ nhiều cây gỗ lớn. Mặc dù tại khu vực này, nhiều đơn vị đang thi công tuyến đường chạy ngang qua rừng đặc dụng nhưng lâm tặc vẫn ngang nhiên dựng lán, phá rừng, ngay sát công trường. Tổng khối lượng gỗ thành phẩm được thống kê đến thời điểm hiện tại là hơn 100 m3, bao gồm sơn đào, tram, sơn huyết… Tuy nhiên, lực lượng chức năng chỉ mới thu hồi được khoảng 10 m3.
“Ngoài việc kỷ luật đối với ông Nguyễn Thương, chúng tôi đang phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm, các cơ quan liên quan tiếp tục thống kê số liệu, điều tra, xác minh trách nhiệm các tổ chức, cá nhân có liên quan” - ông Dũng nói. Cũng theo ông Dũng, hiện ban quản lý cùng với kiểm lâm đã huy động trên dưới 10 người “chốt chặn” ở tiểu khu 20 để ngăn lâm tặc. Kết thúc năm 2015, ban sẽ tiến hành luân chuyển cán bộ bảo vệ rừng.
Trước đó, Sở NN&PTNT TP Đà Nẵng đã có văn bản yêu cầu lực lượng chức năng khẩn trương vào cuộc điều tra, truy tìm thủ phạm, nếu đủ điều kiện sẽ khởi tố vụ án phá rừng nghiêm trọng vừa xảy ra tại tiểu khu 20. Ngoài ra, các đơn vị gồm: Chi cục Kiểm lâm, Hạt Kiểm lâm Hòa Vang, Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, các trạm kiểm lâm trong địa bàn, chính quyền địa phương… thực hiện kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân. (Pháp Luật TP.HCM 16/12) đầu trang(
Ở xã Trung Thu, công tác quản lý và bảo vệ rừng được cấp ủy đảng và chính quyền xã quan tâm sát sao, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ quan trọng cần được thực hiện thường xuyên và liên tục.
Ông Giàng A Dơ – cán bộ Văn phòng UBND xã Trung Thu khẳng định: Công tác quản lý và bảo vệ rừng luôn được xã quan tâm chỉ đạo trong nhiều năm qua. Muốn rừng được bảo vệ tốt thì trước hết phải tuyên truyền phổ biến cho dân hiểu rõ về pháp luật bảo vệ rừng của Nhà nước. Đồng thời phải làm cho dân hiểu được lợi ích lâu dài của chính họ gắn với rừng và khi rừng được bảo vệ tốt.
Chính nhờ quan tâm đúng mức, làm tốt công tác tuyên truyền và được người dân đồng tình thực hiện nên rừng ở Trung Thu được quản lý và bảo vệ tốt trong nhiều năm qua. Anh Trần Đức Quyền, Phó Trưởng hạt Hạt Kiểm lâm huyện Tủa Chùa cho biết: Ở xã Trung Thu, khi có cây thông, hoặc gỗ, bất kể của rừng trồng hay rừng tự nhiên bị gãy đổ do thời tiết, hoặc già cỗi, người dân cũng không tự ý khai thác bởi họ biết như thế là trái phép, là vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng.
Nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhất là Luật Quản lý và Bảo vệ rừng, ở Trung Thu được thực hiện tốt. Công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được cấp ủy đảng, chính quyền xã đặc biệt quan tâm. Hàng năm, chính quyền xã đều củng cố, kiện toàn Ban Chỉ đạo xã, các tổ, đội quản lý, bảo vệ và phòng cháy, chữa cháy rừng. Nhờ đó, 100% thôn trên địa bàn đã xây dựng được quy ước quản lý, bảo vệ rừng; hàng năm đều tổ chức cho các hộ gia đình ký cam kết bảo vệ rừng. Rừng ở Trung Thu được giao cho các hộ gia đình, dòng họ, cộng đồng thôn quản lý.
Do đó, già làng, trưởng thôn, trưởng dòng họ có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức hội, đoàn thể xã lồng ghép vào các buổi sinh hoạt cộng đồng để tuyên truyền Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đến từng người; hướng dẫn người dân phương pháp, thời điểm đốt nương; phát dọn đường băng cản lửa để không ảnh hưởng tới rừng, nhất là vào mùa hanh khô.
Do tuyên truyền thường xuyên, liên tục và gắn trách nhiệm bảo vệ rừng tới từng cán bộ, từng người dân trong xã, nên ý thức của người dân có chuyển biến rõ rệt, nhiệm vụ bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao. Từ năm 2005 đến nay, xã không có hiện tượng phá rừng, cháy rừng, hay khai thác lâm sản trái phép làm ảnh hưởng tới rừng.
Nhằm kịp thời phát hiện các vụ việc khai thác lâm sản trái phép, công tác tuần tra, kiểm soát cũng được chính quyền xã Trung Thu đặc biệt chú trọng. Mỗi thôn đều thành lập 1 tổ bảo vệ gồm từ 4 - 6 người, phối hợp với kiểm lâm địa bàn, bảo lâm, lực lượng dân quân xã đi kiểm tra 2 - 3 lần/tuần, đặc biệt là tại các địa bàn như: thôn Trung Vàng Khổ, thôn Pô Ca Dao - nơi giáp ranh với xã Pa Ham, huyện Mường Chà.
Anh Lò Văn Hoa, kiểm lâm địa bàn xã Trung Thu cho biết: Rừng thuộc 2 thôn này chủ yếu là gỗ nghiến, có giá trị cao nên thường bị các đối tượng bên xã Pa Ham sang chặt trộm. Vậy nên, việc tuần tra kiểm soát đều ưu tiên cho khu vực này.
Để ngăn chặn tình trạng khai thác trái phép gỗ nghiến, trưởng thôn Trung Vàng Khổ đã tuyên truyền cho những hộ gia đình có nương gần khu vực rừng phải thường xuyên chú ý, phát hiện và tố giác các đối tượng khai thác gỗ nghiến trái phép. Bên cạnh đó, thôn đã thành lập 1 tổ bảo vệ, tăng cường đi kiểm tra ở khu vực rừng giáp ranh với huyện Mường Chà.
Hơn 10 năm qua, ở Trung Thu không có vụ cháy rừng hay phá rừng nào đáng kể xảy ra. Trung Thu là xã tiêu biểu, nhiều năm liền được huyện Tủa Chùa, UBND tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khen thưởng trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Hiện tại, diện tích đất có rừng của Trung Thu là trên 2.160ha. Trong đó, diện tích rừng phòng hộ 660ha; rừng khoanh nuôi 980ha; rừng tái sinh hơn 640ha. Đặc biệt, xã Trung Thu có gần 50ha, bao gồm những cánh rừng thông đã trồng được trên 40 năm tuổi và gần 9ha rừng trồng mới trong gần 10 năm qua. Cho đến nay, tỷ lệ che phủ rừng ở Trung Thu đạt hơn 40% - đây là tỷ lệ cao nhất trong 12 xã và thị trấn của huyện Tủa Chùa.
Ở Tủa Chùa, ai cũng biết năng suất lúa nương của xã Trung Thu luôn cao nhất huyện; rau cải trồng ở Trung Thu chỉ cần 1 cây cũng đủ bữa cho vài người ăn; năng suất quả sơn tra và sản lượng cánh kiến mỗi năm ở Trung Thu luôn cao hơn các xã khác - đó một phần là nhờ đất đai vẫn màu mỡ do rừng được bảo vệ và phát triển tốt. (Báo Điện Biên Phủ 16/12) đầu trang(
Giới khoa học vừa công bố loài thực vật mới thuộc họ diệp hạ châu tại khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà (Khánh Hòa).
Loài mới gọi là tai nghé hòn bà (Aporosa tetragona Tagane & V.S. Dang), được đặt theo cấu trúc 4 cạnh của nhụy hoa quả và xuất xứ.
Tai nghé hòn bà có đặc điểm là cây gỗ nhỏ, cao 3 m, cành không lông. Lá hình xoan đến bầu dục. Hoa của loài mọc ở đầu cành, quả có 4 cạnh. Loài này mới tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà với một quần thể nhỏ mọc dọc theo khe suối ven bìa rừng cây lá rộng thường xanh ở độ cao từ 200 đến 400 m.
Chi tai nghé (Aporosa Blume) là chi lớn với khoảng 82 loài, phân bố chủ yếu ở phía nam và đông nam châu Á. Riêng ở Việt Nam, chi này có khoảng 11 loài và 2 thứ, thường gặp ở rừng thứ sinh từ thấp lên đến độ cao hơn 2.000 m.
Nghiên cứu trên là kết quả hợp tác giữa Viện Sinh học nhiệt đới (ITB) và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản. (VnExpress 15/12) đầu trang(
“Những năm gần đây, mặc dù đã có rất nhiều bài viết về vẫn đề gỗ lậu, nhưng dường như mới dừng lại một phần của hiện trạng. Bởi, đã nói gỗ lậu thì phải ‘xuyên biên giới’ mới là lậu. Vì thế, theo tôi hiểu thì Việt Nam cũng chưa có những bài báo viết về gỗ lậu “xuyên biên giới,” mà nếu có thì quốc tế họ nhìn vào cũng đang rất mờ nhạt.”
Trên đây là một trong những “góc nhìn” về vấn đề gỗ lậu vừa được ông Trần Lê Huy, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ - Lâm sản Bình Định đưa ra tại buổi Tọa đàm “Gỗ lậu qua góc nhìn báo chí” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) phối hợp với Tổ chức Forest Trends tổ chức ngày 16/12, tại Hà Nội.
Chỉ đơn thuần là vị khách vào “họp lậu,” nhưng ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh lại rất “hứng thú” với chủ đề của buổi Tọa đàm “Gỗ lậu qua góc nhìn báo chí.” Tại buổi Tọa đàm, ông bảo là người kinh doanh gỗ nhưng luôn “dị ứng” với thông tin gỗ lậu mỗi khi báo chí phản ánh.
Dẫn giải câu chuyện về một bài báo quốc tế khi viết về gỗ lậu từ Lào qua địa phận Việt Nam để đưa đi tiêu thụ tại các nước châu Âu với nội dung cho rằng người Việt Nam khai thác gỗ lậu để xuất khẩu, ông Hạnh cho rằng điều này là không đúng. Theo ông, trong việc xuất khẩu gỗ này, Việt Nam chỉ là nơi có biển, được các doanh nghiệp nước ngoài vận chuyển đến để đưa đi tiêu thụ.
Trong khi đó, báo cáo về gỗ lậu tại Việt Nam qua góc nhìn báo chí của nhóm nghiên cứu PanNature và Tổ chức Forest Trends cũng khẳng định, nhiều bài báo viết về gỗ lậu chưa đi sâu vào “ruột” vấn đề, mà chỉ phản ánh qua một phần hiện trạng và số liệu cung cấp từ các cơ quan quản lý nhà nước.
Cụ thể, qua phân tích thông tin từ hơn 1.300 bài báo đăng tải trên 4 tờ báo điện tử và trang điện tử của các báo lớn ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2013, cho thấy, các tác giả không trực tiếp thực hiện nghiên cứu thực địa về chủ đề gỗ lậu mà chỉ nghiên cứu gỗ lậu thông qua các bài báo và tham vấn các bên liên quan trực tiếp.
Báo cáo cũng chỉ rõ, phần lớn các bài viết về gỗ lậu thường xảy ra ở những địa phương nơi còn nhiều diện tích rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, với các loại gỗ khai thác thuộc các loài gỗ quý, có giá trị thị trường cao. Các bài báo về gỗ lậu cũng tập trung chủ yếu vào các khâu như khai thác, vận chuyển mà ít phản ánh các khâu sai phạm ở các khâu khác như chế biến, thương mại.
Với tư cách là thành viên nhóm nghiên cứu báo cáo về gỗ lậu tại Việt Nam, ông Tô Xuân Phúc - đại diện Tổ chức Forest Trends, cho biết, khi được hỏi các nhà báo viết về gỗ lậu thì có tớ 80% lượng thông tin về gỗ lậu được phản ánh từ các sự kiện, hội thảo. Và, nó dường như chưa thoát khỏi không gian của "một căn nhà.”
Ngoài ra, ông Phúc cũng bày tỏ mối lo ngại trước vấn đề gỗ lậu có thể bị “méo mó” khi một phần nhỏ lực lượng kiểm lâm khu vực có thể “bắt tay” với lâm tặc, hoặc thả lỏng cho lâm tặc khai thác gỗ lậu, nhưng người viết lại không đề cập, hoặc có thể bị “đánh lừa” bởi những gì chỉ qua mắt thấy.
Là một trong những doanh nghiệp gỗ hàng đầu của Việt Nam hiện nay, ông Huỳnh Văn Hạnh, Phó chủ tịch thường trực Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, hiện trạng khai thác gỗ lậu không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế, tác động xấu đến môi trường, mà nó còn ảnh hưởng đến uy tín của ngành gỗ của Việt Nam. Vì thế, khi viết về gỗ lậu, báo chí cũng cần phản ánh khách quan.
“Gỗ lậu là vấn đề rất nhạy cảm, vì nếu các anh/chị viết về những vấn đề như gỗ lậu thì cần phải có bằng chứng, và nếu không khách quan thì các anh/chị có thể bị đổ máu đầu đấy,” ông Hạnh góp ý.
Vị khách này cũng lưu ý, khi đọc các bài báo viết về gỗ lậu hay phá rừng, người ta thường cho rằng kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc, hay buông lỏng quản lý, điều này cũng cần phải lưu ý.
“Chúng ta đừng bao giờ ‘vơ đũa cả nắm’ về lực lượng kiểm lâm, bởi suy cho cùng thì có những người kiểm lâm xấu, nhưng cũng có những cán bộ kiểm lâm luôn đau đáu về nạn phá rừng, họ cũng ‘đứt ruột gan’ khi thấy rừng bị đổ máu. Vì thế, khi viết về môi trường hay gỗ lậu cần phải phản ánh thông tin khách quan,” ông Hạnh khuyến nghị.
Có chung quan điểm, ông Trần Lê Huy, Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ -Lâm sản Bình Định cũng cho hay, trong những năm qua, báo chí đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát ánh về gỗ lậu, qua đó kiến nghị các cơ quản lý có những giải pháp ngăn chặn, góp phần tạo ra những hình ảnh đẹp cho thị trường gỗ Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế.
Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ-Lâm sản Bình Định cũng lưu ý, mặc dù đã có rất nhiều bài viết về vẫn đề gỗ lậu, nhưng dường như mới dừng lại một phần của hiện trạng. Bởi, đã nói gỗ lậu thì phải ‘xuyên biên giới’ mới là lậu. Vì thế, ông kiến nghị, nhà báo viết về gỗ lậu cần tìm hiểu sâu sát hơn, với tinh thần phản ánh khách quan hơn.
Tại buổi tọa đàm, nhiều chuyên gia cũng chia sẻ, không chỉ riêng vấn đề gỗ lậu, mà có những sự kiện, vấn đề họ chưa thoát khỏi "không gian nhỏ hẹp," bởi ngẫm cho cùng, có những nhà báo đi rất nhiều, biết nhiều về hiện trang thực tế, nhưng khi nhìn vào báo cáo thì có chăng cũng chỉ là những thay đổi một chút về con số, nhưng vì họ yêu nghề nên mới gắn bó.
Vì thế, để có những bài báo viết về gỗ lậu chất lượng, góp phần thúc giục các cơ quan chức năng liên quan có thẩm quyền lưu ý và sớm đưa ra cách giải quyết, thì các cơ quan báo chí cần phải có sự hợp tác về nguồn tin, và cần có sự quan tâm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức đoàn thể.
Từ góc độ báo chí, đại diện Báo điện tử VietnamPlus cho rằng, bản nghiên cứu có những tổng hợp thú vị và hữu ích cho giới báo chí, nhưng nếu chỉ đánh giá qua những trang báo nhắm vào độc giả toàn quốc thì chưa phản ánh đầy đủ thực tế, bởi các báo này không thể tập trung vào những lĩnh vực cụ thể. "Về nguyên tắc thì các vấn đề này sẽ được đăng tải kỹ hơn trên các báo chuyên ngành hoặc báo tại các địa phương xảy ra tình trạng gỗ lậu," ông nói thêm.
Ông cũng đồng ý với ý kiến của các nhà nghiên cứu rằng có quá nhiều tin tức mà thiếu đi những bài phóng sự, phân tích về vấn đề gỗ lậu, và điều này cần phải cải thiện trong tương lai. "Các nhà báo cần đeo đuổi sự kiện, ngay cả khi không bình luận mà chỉ đăng tin về một vấn đề, sự việc nào đó."
Đại diện VietnamPlus cũng đề xuất về việc lập một mạng lưới chuyên gia tư vấn để có thể hỗ trợ các nhà báo chuyên về lĩnh vực môi trường nói chung và vẫn đề rừng-gỗ lậu nói riêng. (Vietnam + 16/12; Hải Quan 16/12) đầu trang(
Trong 2 năm (2014-2015) đã có 104 cây gỗ hương (Nhóm I) tại huyện Kbang (Gia Lai) bị lâm tặc chặt hạ.
Giữa tháng 11.2015, lâm tặc tiếp tục đốn hạ 3 cây gỗ hương với sự tiếp tay của cán bộ Cty TNHH MTV Krông Pa (huyện Kbang). Rừng bị xâm hại, lâm tặc lộng hành, buộc Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Dương Văn Trang phải trực tiếp xuống cơ sở chỉ đạo điều tra.
Rừng gỗ hương tại huyện Kbang liên tục bị lâm tặc “xâu xé” ngày đêm. Điều đáng nói, tại lâm phần Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Krông Pa (Cty LN Krông Pa) - nơi tập trung chủ yếu gỗ hương - lâm tặc được bảo kê nên mặc sức tung hoành. Hai năm với 300m3 gỗ hương về tay lâm tặc, tuy thế GĐ Cty này chỉ nhận kỷ luật cảnh cáo, lại được điều chuyển lên công tác tại Phòng sử dụng rừng của Chi cục Lâm nghiệp Gia Lai. GĐ mới lên thay thế nhưng hiện giờ rừng hương vẫn... tiếp tục bị tàn phá.
Báo cáo số 237/BC-KL ngày 18.11 của Hạt Kiểm lâm huyện Kbang về việc điều tra, truy tìm các đối tượng khai thác gỗ hương tại lâm phần Cty LN Krông Pa quản lý nêu thực trạng: Tại khoảnh 2, tiểu khu 90 và khoảnh 2 tiểu khu 93, hai cây gỗ hương có chiều dài đến phân cành 7m, đường kính gốc gần 1m bị cưa xăng cắt phạt ngang, đổ gục. Mùn cưa mới tinh, cành lá đang dần héo. Ngoài phần lõi gỗ đã bị lâm tặc tẩu tán, số gỗ sót lại hiện trường chỉ là 2,682m3. Lâm tặc mất dấu trước bất lực khó hiểu của lực lượng bảo vệ rừng.
Vì tiền, lâm tặc hung hãn đến mức tấn công CA huyện nhằm giải cứu đồng bọn. Khoảng 23h ngày 14.11, UBND xã Krong cùng Cty LN Krông Pa kiểm tra tại khoảnh 4, tiểu khu 94 do lâm phần Cty này quản lý, phát hiện nhóm đối tượng đang xẻ gỗ hương với khối lượng gần 5m3. Tổ công tác vây bắt được hai đối tượng là Hà Văn Quy (SN 1974, trú làng Hro, xã Krong) và Trần Đức Tuấn (SN 1991, trú tổ dân phố 14, TT.Kang, cùng huyện Kbang).
Một ngày sau (ngày 15.11), dưới sự áp tải của trung úy CA huyện Bùi Văn Phương - Tổ phó tổ liên ngành huyện Kbang; ông Lê Văn Thuần - Kiểm lâm viên địa bàn - để đưa 2 đối tượng về huyện Kbang. Bất ngờ 7 đối tượng (chưa rõ lai lịch) dùng dao, rựa chặn đầu xe, uy hiếp đòi thả người. Bất chấp trung úy Phương rút súng hơi cay, nhóm đối tượng vẫn thách thức: “Thích cứ bắn”.
Một đối tượng tên Nhũ tay cầm dao, chui lên xe kéo đối tượng Tuấn cùng còng số 8 chạy trốn. Sau khi được chi viện, hai công an huyện Kbang tên Sơn và Minh đã truy đuổi, bắt giữ được hai đối tượng uy hiếp lực lượng lúc nãy. Trong lúc đưa về Trạm gác cửa rừng làng Hro (xã Krong), nhóm đối tượng trên tay dao, tay rựa quay lại khống chế CA huyện, yêu cầu mở còng số 8 rồi giải thoát cho đồng bọn.
Trước việc các đối tượng manh động có tổ chức, liều lĩnh, công khai chống người thi hành công vụ. Chi cục Kiểm lâm Gia Lai buộc phải cấp báo UBND tỉnh Gia Lai, kiến nghị chỉ đạo điều tra, truy bắt các đối tượng.
Điều khó hiểu, 104 cây gỗ hương với gần 300m3 bị đốn hạ liên tục trong lâm phần của Cty LN Krông Pa nhưng chính quyền lại không bắt được một lâm tặc nào. Báo cáo việc phá rừng tại lâm phần mình quản lý, GĐ Cty LN Krông Pa Võ Ngộ cho rằng, do trời tối, địa hình dốc, lâm tặc canh đường lực lượng bảo vệ rừng, nên chúng dễ dàng tẩu thoát. Phó Chủ tịch UBND xã Krong Đinh Ble nói, dù đã cử tổ liên ngành của xã truy tìm, nhưng đến nay không phát hiện được nhóm đối tượng.
“Ở đây đã có hiện tượng cán bộ Cty LN Krông Pa tiếp tay cho lâm tặc. Đội kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 (Chi cục Kiểm lâm Gia Lai) đã phát hiện được. Hiện tôi và cả Chi cục Kiểm lâm đã báo cáo hiện tượng tiếp tay lên UBND tỉnh, Thường trực Tỉnh ủy” - Bí thư Huyện ủy Kbang Trương Văn Đạt cho biết. Ông Đạt cũng thông tin, hiện CA huyện Kbang đã lập chuyên án, khoanh vùng 7 nhóm với 49 đối tượng vừa phá rừng, vừa xúi dân chặt, hạ gỗ trái phép. Trong khi nạn phá rừng đang “nóng” tại cơ sở, thì Chủ tịch UBND huyện Kbang Võ Văn Phán lại thoái thác trách nhiệm khi cho rằng đã chỉ đạo... bằng văn bản.
Theo điều tra của PV Báo Lao Động, 407 cây gỗ hương tại Kbang hiện chỉ còn 303 cây, sau khi 104 cây bị lâm tặc “xẻ thịt”. Để làm rõ nạn phá rừng tại huyện này, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Đào Xuân Liên đã chỉ đạo Sở NNPTNT Gia Lai, Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng UBND huyện Kbang khẩn trương điều tra, xử lý; giao CA tỉnh chỉ đạo CA huyện Kbang điều tra các đối tượng chống người thi hành công vụ.
Sở Công Thương rà soát các xưởng chế biến gỗ tại hai huyện Kbang và TX.An Khê. Đồng thời chỉ đạo Sở Nội vụ đề xuất luân chuyển lãnh đạo chủ rừng để xảy ra nạn phá rừng, khai thác lâm sản trái phép. Với sự vào cuộc quyết liệt của tỉnh Gia Lai, hy vọng rừng gỗ quý tại Kbang sẽ được giữ vững, cán bộ tiếp tay cho lâm tặc sẽ nhanh chóng bị đưa ra ánh sáng để xử lý. (Lao Động 17/12) đầu trang(
Tuyến đường dài hơn 18 km dự kiến sẽ được mở trong phân khu bảo tồn nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Cát Tiên đang gây nhiều tranh cãi giữa các cơ quan chức năng
Ông Trần Thế Liên, Vụ trưởng Vụ Bảo tồn thiên nhiên - Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) - cho biết dự án xây dựng, cải tạo các tuyến đường trong Vườn Quốc gia (VQG) Cát Tiên có 2 giai đoạn: giai đoạn 1 mở đường ở vùng đệm nhằm nối từ đường lớn vào đến ban quản lý vườn, đã hoàn thành và đưa vào sử dụng; giai đoạn 2 mở đường trong vùng lõi, kết nối từ ban quản lý vườn đến các trạm kiểm lâm.
Tuyến đường trong vùng lõi dài 18,2 km, rộng 6 m, chạy dọc ven sông Đồng Nai từ Trạm Kiểm lâm Đà Cộ đến Trạm Kiểm lâm Đắc Lua thuộc địa bàn huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Dự án đã được Bộ NN-PTNT phê duyệt đầu tư năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt đánh giá tác động môi trường và Bộ Quốc phòng phê duyệt phương án kỹ thuật - dự toán thi công rà phá bom mìn.
Với lý do cần có con đường, ông Nguyễn Văn Diện, Giám đốc VQG Cát Tiên, cho rằng khu vực rừng Đà Cộ có nhiều loại gỗ quý nên là một điểm nóng về phá rừng.
“Một kg gỗ hiện nay giá 120.000 đồng, chỉ cần gùi một đêm có thể kiếm được nhiều triệu đồng tiền gỗ nên họ bất chấp tất cả, chủ yếu từ phía bên kia sông Đồng Nai - khu vực Đạ Tẻh (Lâm Đồng) sang. Mình đi đường sông, họ đi đường bộ nhanh hơn nên không bắt quả tang được. Nếu đầu tư con đường thì chúng tôi có thể mật phục để bắt quả tang thì mới có thể xử lý. Có đường giao thông, lực lượng kiểm lâm đi tuần tra cũng dễ dàng, thuận lợi hơn. Đây là tuyến đường vô cùng quan trọng và cần thiết trong việc bảo vệ rừng” - ông Diện khẳng định.
Cũng theo ông Diện, tuyến đường này nối với di chỉ Cát Tiên, sau này sẽ phát triển thành khu du lịch sinh thái, cũng giảm được áp lực sinh kế cho khu vực.
Theo kế hoạch, thời gian thi công tuyến đường dự kiến từ tháng 10-2015 đến năm 2017 nhưng đến thời điểm này vẫn chưa triển khai.
Nguyên nhân, theo ông Liên, là do một số thủ tục vẫn chưa xong, chẳng hạn việc kiểm đếm số cây, hành lang tuyến... Sau khi hoàn tất các thủ tục này, Ban Quản lý VQG Cát Tiên và Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai trình hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất rừng lên Bộ NN-PTNT để trình Thủ tướng Chỉnh phủ phê duyệt. Diện tích rừng phải chuyển đổi gần 11 ha.
Theo ông Trần Thế Liên, khu vực thực hiện dự án nằm trong phân khu hành chính của VQG Cát Tiên. Tuy nhiên, UBND tỉnh Đồng Nai lại cho rằng khu vực triển khai làm dự án thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, chỉ được lập các tuyến đường mòn rộng không quá 1,5 m. Thông tin Đồng Nai đưa ra thông qua việc đối chiếu với kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng tại tỉnh Đồng Nai, kết quả kiểm kê rừng năm 2011 và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2020.
Đối với mục tiêu bảo vệ rừng, tỉnh Đồng Nai cho rằng sông Đồng Nai ở đoạn này có nước quanh năm, rất thuận lợi cho công tác tuần tra. Cho nên, việc mở tuyến đường song song với sông Đồng Nai để phục vụ mục đích quản lý và bảo vệ rừng như Bộ NN-PTNT đưa ra là không cần thiết.
Bên cạnh đó, theo tỉnh Đồng Nai, việc mở đường tuy không liên quan đến công tác ổn định dân cư trong lâm phận VQG Cát Tiên nhưng sẽ làm mất gần 11 ha rừng, làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng, chia cắt rừng tự nhiên với sông Đồng Nai, làm mất đi sinh cảnh của rừng, gây cản trở đến tập tính hoạt động của các loài thú, nhất là trong việc tìm kiếm nguồn thức ăn và nguồn nước uống.
VQG Cát Tiên nằm trong vùng lõi Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai đã được UNESCO công nhận và đang trong thời gian hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị công nhận VQG Cát Tiên là Di sản thiên nhiên thế giới. Nếu mở đường sẽ ảnh hưởng đến sự bền vững của Cát Tiên và không phù hợp với các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Do vậy, tỉnh Đồng Nai kiến nghị Bộ NN-PTNT xem xét lại việc mở tuyến đường nói trên. Trong thời gian này, đề nghị chưa triển khai dự án.
Trước đây, khi bàn về quy hoạch 2 dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, chủ đầu tư cũng cho rằng việc mở những con đường giao thông vào dự án sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng kiểm lâm tuần tra bảo vệ rừng. Thế nhưng, ý kiến này bị chính lực lượng kiểm lâm VQG Cát Tiên và các nhà bảo tồn phản đối vì đường giao thông thuận lợi sẽ giúp lâm tặc dễ dàng tiếp cận rừng và vận chuyển gỗ lậu, động vật hoang dã... điều này càng làm tăng nguy cơ cho VQG Cát Tiên và gánh nặng cho lực lượng kiểm lâm.
Ông Trần Thế Liên cho biết sau khi nhận được ý kiến của tỉnh Đồng Nai, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức đoàn khảo sát khu vực dự kiến thực hiện dự án. Tuyến đường này không phải phóng thẳng mà tính toán để đi qua các khu vực trạng thái rừng ít ảnh hưởng nhất nên ảnh hưởng tính đa dạng sinh học của khu vực dự án không cao. Về kỹ thuật, đường chỉ đổ nhựa, không tôn nền, không che chắn biển báo nên thú rừng vẫn có thể băng qua để ra sông Đồng Nai uống nước.
Ông Liên cũng thông tin thêm: Năm 2010 khi lập quy hoạch cho VQG Cát Tiên, trong đó có lập hướng tuyến con đường này, Sở Giao thông Vận tải Đồng Nai cũng đã có văn bản trả lời rằng tuyến đường này phù hợp với hệ thống giao thông của Đồng Nai.
Riêng vấn đề khu vực dự án nằm ở phân khu dịch vụ hành chính hay phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, ông Liên giải thích theo quy hoạch bảo tồn và phát triển VQG Cát Tiên giai đoạn 2010-2020 thì tuyến đường nằm trong khu vực hành chính nhưng theo quy hoạch 2 loại rừng của tỉnh Đồng Nai thì nằm trong khu vực bảo tồn nghiêm ngặt.
Quy hoạch 3 loại rừng của tỉnh Đồng Nai thực hiện sau, lẽ ra phải tham khảo, cập nhật kết quả quy hoạch tổng thể VQG Cát Tiên đã lập trước đó nhưng đơn vị thực hiện không làm như vậy nên mới có sự không thống nhất. Ông Liên khẳng định dự án sẽ tuân theo quy hoạch tổng thể VQG Cát Tiên vì quy hoạch này làm trước và chi tiết hơn.
Còn về hồ sơ đề cử di sản thiên nhiên thế giới, ông Nguyễn Văn Diện cho biết chỉ lập hồ sơ đề cử 8.000 ha (trong tổng số 72.000 ha toàn vườn) xung quanh khu Bàu Sấu. Khu vực thực hiện dự án cách Bàu Sấu khoảng 10 km đường chim bay nên không nằm trong khu vực đề cử di sản và không ảnh hưởng đến đề cử. (Người Lao Động 16/12) đầu trang(
Voi Việt Nam phân bố rải rác ở 4 khu vực, mỗi khu vực, số lượng cá thể voi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Cả voi hoang dã và voi nhà ở nước ra hiện còn chưa đầy 100 cá thể.
Voi là động vật nguy cấp quý hiếm. Trước đây, voi được phân bố khắp hầu hết các tỉnh, thành tại Việt Nam, nhưng hiện chỉ còn 4 quần thể ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đồng Nai và Yok Don, Đăk Lăk.
Nguyên nhân của tình trạng voi rừng bị suy giảm mạnh về số lượng là do diện tích rừng bị phá, chuyển đổi mục đích làm thu hẹp vùng sống của voi; tập quán của người Tây Nguyên bắt voi rừng về thuần dưỡng thành voi nhà.
Tại vườn quốc gia Yok Don, Đăk Lăk, hiện có 4 cá thể voi hoang dã đang được nuôi dưỡng để phục vụ công tác bảo tồn. Theo các chuyên gia môi trường, việc sinh sản của chúng đang gặp khó khăn, ngay cả khi được chăm sóc tốt nhất. (Đài Truyền Hình Việt Nam 16/12) đầu trang(
Với những diễn biến phức tạp của thời tiết, đặc biệt là sự kéo dài của những đợt nắng nóng gay gắt trong mùa khô đã và đang gây nhiều khó khăn cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) tại Gia Lai hiện nay.
Từ thực tế này, đợt diễn tập chữa cháy rừng cấp tỉnh vừa được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai - cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo phòng cháy, chữa cháy rừng (BCĐ PCCCR) của tỉnh tổ chức giúp nâng cao hiệu quả công tác PCCCR để bảo vệ tài nguyên rừng.
Với hơn 5.064ha rừng, trong đó rừng tự nhiên gần 2.026ha, còn lại là rừng trồng, thuộc địa bàn huyện ChưPah và TP.Pleiku; công tác PCCCR trong năm 2015 này đã được Ban Quản lý Rừng phòng hộ (BQLRPH) Bắc Biển Hồ đặc biệt chú trọng với nhiều phương án như: Bố trí lực lượng trực bảo vệ rừng 24/24h; xây dựng 22km đường băng cản lửa; tổ chức đốt trước có điều khiển tại các khu vực trọng điểm xảy ra cháy rừng…
Bên cạnh đó những đợt diễn tập chữa cháy rừng cấp tỉnh như thế này cũng đã tạo điều kiện để lực lượng thực hiện nhiệm vụ giữ rừng ở cơ sở nâng cao nhận thức, năng lực, chủ động xử lý các tình huống khi xảy ra cháy rừng; hạn chế thấp nhất tình trạng cháy rừng.
Ông Nguyễn Đức-Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Biển Hồ cho biết: “Việc hôm nay diễn tập chữa cháy rừng tôi thấy 1 vấn đề đặt ra là khi xảy ra cháy lớn, việc huy động lực lượng rất là khó, và cả tổ chức phân công nhiệm vụ lẫn điều phối tất cả các hoạt động chữa cháy. Qua hoạt động diễn tập này chúng ta sẽ thấy được hiệu quả của nó, tập trung lực lượng, phân công nhiệm vụ và chỉ huy địa bàn tác nghiệp tôi thấy rất hiệu quả”.
Tình huống giả định là một vụ cháy xảy ra tại lô 3, khoảnh 7, tiểu khu 392 - là khu rừng Thông trồng của Ban quản lý rừng phòng hộ (BQLRPH) Bắc Biển Hồ quản lý thuộc địa bàn xã Chư Hdrông, TP.Pleiku do người dân đốt dọn thực bì trong sản xuất nương rẫy gây cháy rừng.
Sau khi nhận được tin báo, BQLRPH Bắc Biển Hồ đã đưa lực lượng chữa cháy rừng của đơn vị vào hiện trường tổ chức chữa cháy nhưng đám cháy vẫn chưa thể khống chế nên tiếp tục huy động lực lượng chữa cháy của thành phố ứng cứu. Tuy nhiên với thời tiết nắng nóng kèm gió to nên đám cháy tiếp tục lan rộng và lực lượng chữa cháy rừng của tỉnh được huy động. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ, với phương châm 4 tại chỗ, chỉ huy thống nhất, hiệp đồng chặt chẽ, cơ động linh hoạt, ứng cứu kịp thời, đám cháy cơ bản được dập tắt, đợt diễn tập đảm bảo an toàn tuyệt đối về người và tài nguyên rừng.
Ông Nguyễn Duy Lân-Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh, Trưởng BCĐ PCCCR tỉnh chia sẻ: “Với hiện tượng Enino như hiện nay thì có thể mùa khô sẽ kéo dài hơn so với 6 tháng như trước đây, chính vì vậy mà công tác PCCCR của chúng ta phải làm đúng theo quy trình và công tác này phải được chuẩn bị từ đầu mùa khô. Đặc biệt công tác chữa cháy rừng chúng ta phải kịp thời, thường xuyên, và muốn làm tốt công tác này thì chúng ta phải huy động được theo phương châm “4 tại chỗ”: Chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, hậu cần tại chỗ và phương tiện tại chỗ; và muốn làm 1 cách thuần thục cũng như chữa cháy có hiệu quả thì chúng ta phải tổ chức diễn tập làm nhiều lần để sau này khi mà có xảy ra cháy rừng thì chúng ta tập trung được lực lượng, phương tiện, dụng cụ”.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai, toàn tỉnh hiện có trên 225.216ha rừng nằm trong vùng nguy cơ cháy cao (chiếm 36,1% diện tích rừng toàn tỉnh), với 180 trọng điểm xảy ra cháy rừng; trong đó tập trung ở các địa phương có diện tích rừng trồng như: MangYang, ĐăkĐoa, KôngChro, ĐăkPơ, ChưPah và TP.Pleiku. Dự báo thời tiết sẽ tiếp tục hanh khô kéo dài; do đó việc chủ động triển khai các giải pháp phòng chống cháy rừng được xem là một trong những nhiệm vụ cấp thiết hiện nay . (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Gia Lai 16/12) đầu trang(
Để chủ động bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) và ứng phó kịp thời với tình huống cháy rừng xảy ra, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội vừa đề nghị sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan và các địa phương có rừng tăng cường các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô 2015 - 2016.
Theo đó, UBND các huyện, thị xã có rừng tiếp tục triển khai thực hiện quyết định của UBND thành phố về PCCCR. Tổ chức tuyên truyền pháp luật về PCCCR tại địa phương. Rà soát kiểm tra đánh giá phương tiện trang thiết bị PCCCR. Phân công, chỉ đạo các ngành chức năng phối hợp, hiệp đồng bố trí lực lượng trực PCCCR.
Sẵn sàng huy động ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra theo phương châm bốn tại chỗ. Chỉ đạo các ngành chức năng bố trí lực lượng canh phòng ở những khu vực trọng điểm. Kiểm soát không để phát sinh nguồn lửa, phát hiện sớm điểm cháy. Báo cáo kịp thời khi phát hiện cháy rừng và chỉ đạo quyết liệt, huy động các lực lượng tại chỗ để dập tắt sớm đám cháy…
Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội chỉ đạo cán bộ, chiến sỹ thực hiện nghiêm quy chế phối hợp giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng Kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng. Chỉ đạo các đơn vị đóng quân trong rừng, gần rừng phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương tham gia công tác PCCCR và xây dựng phương án bảo vệ rừng và PCCCR tại chỗ.
Còn Chi cục Kiểm lâm Hà Nội thực hiện tốt quy chế về việc phối hợp giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng Kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng. Phối hợp với các ngành chức năng kiểm tra, hướng dẫn thực hiện phương án PCCCR tại các huyện, thị xã có rừng. Thực hiện nghiêm công tác trực PCCCR, đặc biệt là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Thân 2016.
Ngoài ra, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác bảo vệ rừng và PCCCR tại các huyện, thị xã có rừng trên địa bàn thành phố. Đồng thời, phối hợp với các cơ quan thông tấn, báo chí tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia công tác bảo vệ rừng và PCCCR, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng và PCCCR.
Kiểm tra, hướng dẫn các chủ rừng xây dựng phương án PCCCR tại các địa phương. Phân công lực lượng tăng cường tuần tra canh gác bảo vệ rừng tại các vùng trọng điểm về cháy rừng.Thực hiện tốt việc dự báo, cảnh báo cháy rừng và thông tin kịp thời về nguy cơ cháy rừng để chủ động tổ chức PCCCR đạt hiệu quả. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi phá rừng, vi phạm Luật Bảo vệ Phát triển rừng. (Cổng Giao Tiếp Điện Tử Hà Nội 16/12) đầu trang(
Ngày 16-12, UBND huyện Phú Lương đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016.
Năm 2015, dưới sự chỉ đạo của UBND huyện, Hạt Kiểm lâm huyện Phú Lương đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị, các xã thị trấn, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, bảo vệ phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Theo đó, đơn vị đã thực hiện quản lý và bảo vệ tốt hàng nghìn ha rừng; trong năm đã phát hiện và xử lý 30 vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tịch thu trên 40m3 gỗ quy tròn các loại, thu giữ 3 phương tiện, nộp ngân sách nhà nước trên 173 triệu đồng.
Năm 2016, huyện Phú Lương tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở kinh doanh, chế biến lâm sản; kiên quyết xử lý nghiêm các vụ vi phạm bảo vệ rừng theo quy định của Nhà nước; tích cực vận động nhân dân tham gia trồng rừng trên diện tích đất trống, phấn đấu hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016.
Nhân dịp này, UBND huyện cũng tặng giấy khen cho 6 tập thể và 19 cá nhân có thành tích xuất sắc trong quản lý bảo vệ rừng năm 2015. (Báo Thái Nguyên 16/12) đầu trang(
Chiều 15-12, tại phòng họp A của UBND huyện Ia Pa, Sở Nông nghiệp và PTNT đã tổ chức lễ ký kết phương án phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng giữa các huyện, thị xã phía Đông Nam tỉnh.
Tham dự có lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT; Chi cục Kiểm lâm và lãnh đạo các huyện Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa, thị xã Ayun Pa cùng các chủ rừng có diện tích trên địa bàn các huyện, thị xã trên.
Nội dung của buổi ký kết là thông qua phương pháp phối hợp giữa các lực lượng kiểm lâm địa bàn; nhân viên bảo vệ rừng và cán bộ xã trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Cam kết thực hiện trách nhiệm của mỗi bên, thường xuyên tuyên truyền về công tác quản lý bảo vệ rừng, diễn tập chữa cháy rừng. Các lực lượng kiểm lâm địa bàn, nhân viên bảo vệ rừng và cán bộ xã trao đổi thông tin và xây dựng kế hoạch phối hợp hàng tuần để tổ chức truy quét các vùng trọng điểm vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng…Việc triển khai ký kết phương án phối hợp trong công tác quản lý bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần nâng cao trách nhiệm của các lực lượng kiểm lâm địa bàn; nhân viên bảo vệ rừng và cán bộ xã trong công tác phối hợp thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng tốt hơn trong thời gian tới. (Báo Gia Lại 16/12) đầu trang(
Ngày 16/12, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam, cho biết đã đình chỉ công tác 3 cán bộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Tranh, chờ kết luận của công an về sai phạm trong bảo vệ rừng để xử lý. Những người này bị cáo buộc bảo kê cho lâm tặc tàn phá hàng trăm khối gỗ quý trong rừng phòng hộ thuộc xã Trà Bui (Bắc Trà My), nơi nạn phá rừng đang diễn ra công khai.
Năm 2007, thủy điện Sông Tranh 2 tích nước, gần 200 hộ dân xã Trà Bui bị ảnh hưởng. Sau khi nhận tiền đền bù, những hộ dân này được đưa vào vùng lõi rừng phòng hộ Sông Tranh để tái định cư. Nơi ở mới cách chỗ cũ khoảng 3 giờ đi bộ. “Có nhà nhiều nhận được 400 triệu, hộ ít vài chục triệu, nhưng phần lớn được nhận khoảng 100 triệu đồng đền bù. Lúc đó ai cũng vui lắm vì từ xưa đến nay chưa bao giờ được cầm số tiền lớn như vậy”, ông Nguyễn Văn Tiến (65 tuổi, dân tộc Ca Dong), nói.
Như nhiều hộ khác, ông Tiến được đền bù 100 triệu đồng cho tất cả tài sản gồm nhà cửa, ruộng rẫy rồi chuyển vào rừng sinh sống. “Hồi xưa ở dưới lòng hồ có vườn cây, ao cá, có ruộng… không cần phải mua thức ăn. Còn lên đây chẳng có chi cả, ở trong rừng xa nên mua cái gì cũng đắt, chẳng mấy chốc tiêu hết tiền đền bù”, ông Tiến kể và cho hay một số hộ khi nghe được đền bù đã cắm sổ đỏ vay mua 3 chiếc xe máy, tivi, đến khi nhận tiền thì không đủ trả nợ.
Hết tiền đền bù, nơi ở mới không có ruộng rẫy, lại sống ngay trong lõi rừng già nên người dân chỉ còn cách phá rừng kiếm sống qua ngày. Theo Ban quan lý rừng phòng hộ Sông Tranh, từ thôn 1 đến thôn 6 của xã Trà Bui có 130 con trâu kéo, 75 cưa lốc phục vụ cho việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép. Để tiêu thụ gỗ, sát bìa rừng còn mọc lên ít nhất 3 xưởng cưa chuyên gia công, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ đắt tiền như bàn ghế, phản… Gỗ được chế biến thành phẩm là chiêu bài để hợp thức hóa gỗ lậu.
Đến nơi ở mới, trước đây một số hộ chưa kịp tách khẩu khi tái định cư được phép khai thác gỗ rừng về làm nhà, nhưng không được chặt hạ quá 20 khối. Anh Hồ Văn Quang (34 tuổi, trú thôn 2) chặt 25 khối và năm 2009 bị truy cứu hình sự, bị phạt 2 năm tù về tội khai thác trái phép lâm sản. Đứng trước tòa, người đàn ông này yêu cầu được đưa vợ con vào tù vì ở nhà không ai chăm sóc họ. “Cán bộ, lâm tặc cấu kết với nhau phá rừng như vậy nhưng không ai bị xử lý, còn tôi cưa vài khối gỗ về làm nhà lại bị bắt bỏ tù”, anh Quang nói.
Thừa nhận nạn phá rừng đang xảy ra nghiêm trọng, ông Hồ Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Trà Bui, cho rằng thiếu đất sản xuất nên người dân phá rừng cũng là điều dễ hiểu. Trước đây người dân phá rừng để có đất làm rẫy thì nay họ chủ yếu vào rừng đốn gỗ bán cho lâm tặc.
“Hiện nay lâm tặc rất khôn ngoan khi không trực tiếp phá rừng mà thường xúi giục dân địa phương phá rồi thu mua với giá thấp nhằm đẩy rủi ro cho người dân”, ông Tiến nói và cho rằng để xảy ra tình trạng phá rừng ngoài lý do người dân không có đất sản xuất còn vì địa phương không nhận được sự phối hợp với ban quản lý để bảo vệ rừng.
“Việc đưa người dân vào vùng lõi của rừng phòng hộ sinh sống là sai lầm, bất hợp lý. Rừng bị tàn phá một phần cũng vì dân vào đây tái định cư, nhưng ít đất sản xuất”, ông Lê Trí Thanh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam nói sau khi chứng kiến cảnh những cánh rừng già bị tàn phá tan hoang ở xã Trà Bui.
Ông Thanh cho biết, sắp tới tỉnh sẽ chỉ đạo mở rộng đất sản xuất cho người dân, những khu rừng không còn khả năng sử dụng sẽ được phá để lấy đất làm rẫy. "Hiện chỉ có cách này hoặc là phải di dời dân ra khỏi rừng phòng hộ”, ông Thanh nói và cho hay đối với cán bộ bảo kê và trực tiếp phá rừng, tỉnh sẽ xử lý nghiêm. (VnExpress 17/12) đầu trang(
Chỉ vì nhận thức pháp luật hạn chế cùng với lòng tham nên thời gian gần đây, trên địa bàn huyện Hữu Lũng đã xảy ra nhiều vụ người dân ngang nhiên chặt phá rừng của Công ty trách nhiệm một thành viên lâm nghiệp Đông Bắc. Điển hình như vụ hủy hoại tài sản xảy ra ngày 2/3/2015 tại xã Tân Thành.
Ngày 6/1/1996, Lâm trường Hữu Lũng I được UBND tỉnh Lạng Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp số: E0027998. Trong đó có các lô e88, e89, khoảnh 32 thuộc thôn Cốt Cối, xã Tân Thành. Ngày 9/11/2009, Tổng Công ty lâm nghiệp Việt Nam ban hành Quyết định số 397 HĐQT/TCLĐ/QĐ sắp xếp tổ chức lại Lâm trường Hữu Lũng I thành các đội sản xuất lâm nghiệp do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Đông Bắc (sau đây gọi tắt là công ty) trực tiếp quản lý, điều hành.
Năm 2009, hộ ông Hoàng Văn Thân và hộ bà Vũ Thị Nhung ở thôn Cốt Cối, xã Tân Thành được nhận giao khoán trồng, chăm sóc, quản lý rừng bạch đàn với công ty. Trong đó, ông Thân nhận khoán tại lô e88, bà Nhung nhận khoán tại lô e89, thôn Cốt Cối. Đến năm 2014 khai thác gỗ. Tháng 8-9/2014, các hộ ông Thân, bà Nhung tiếp tục nhận khoán, kinh doanh rừng chồi bạch đàn, trả sản phẩm cuối chu kỳ với công ty tại lô e88, e89.
Mặc dù biết ông Thân và bà Nhung đã được công ty giao khoán, chăm sóc, quản lý rừng bạch đàn và hiện nay đang nhận khoán, kinh doanh rừng chồi bạch đàn, nhưng ngày 2/3/2015, 14 người gồm: Hoàng Thị Dần, sinh năm 1964; Hoàng Thị Bé, sinh năm 1980; Lương Văn Cường, sinh năm 1981; Lý Văn Thành, sinh năm 1973; Hoàng Văn Khánh, sinh năm 1977 và vợ là Lương Thị Hương; Hoàng Văn Thơm, sinh năm 1972; Hoàng Văn Như, sinh năm 1990; Lương Văn Hà, sinh năm 1991; Lương Văn Thu, sinh năm 1992; Lý Anh Hùng, sinh năm 1987; Hoàng Thị Phương, sinh năm 1989 đều trú tại xã Hồ Sơn, huyện Hữu Lũng. Hoàng Văn Thành, sinh năm 1970; Vy Thị Chích, sinh năm 1969, trú tại xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng cùng nhau đến thôn Cót Cối, xã Tân Thành rồi dàn hàng ngang dùng dao quắm chặt, phá mầm chồi bạch đàn ở lô e89 của bà Nhung. Sau khi chặt, phá xong lô này, cả nhóm tiếp tục chặt phá sang lô e88 của ông Thân.
Trong khi cả nhóm đang chặt phá rừng, ông Thân, bà Nhung đã phát hiện và cùng chính quyền xã Tân Thành, đại diện công ty đến ngăn cản. Đồng thời giải thích rõ cho nhóm người này biết là khu rừng đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty. Nhưng cả nhóm không những không dừng lại mà cố tình chặt phá đến hết toàn bộ lô e88, viện cớ trước đây các lô đất trên do các gia đình này khai phá.
Hành vi phạm tội của nhóm đối tượng chặt phá mầm chồi bạch đàn nêu trên rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, các đối tượng này thực hiện hành vi hủy hoại tài sản của tổ chức, cá nhân một cách công khai, thể hiện sự coi thường pháp luật, biết mà cố tình vi phạm, gây thiệt hại về tài sản cho chủ sở hữu, gây mất trật tự trị an ở cơ sở và gây bất bình trong dư luận.
Bà Trương Thị Hương Giang, Phó Chánh án Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng cho biết: Đầu tháng 12/2015, Tòa án nhân dân huyện đã phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức xét xử lưu động tại địa bàn xảy ra vụ án. Các bị cáo đã phải nhận bản án nghiêm khắc của pháp luật (73 tháng tù cho 13 bị cáo). Riêng Lương Thị Hương sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn, hiện đang bị truy nã.
Đây chỉ là một trong những vụ về lấn chiếm đất rừng đã và đang xảy ra phức tạp trên địa bàn huyện Hữu Lũng. Năm 2015, toàn huyện đã xảy ra 5 vụ hủy hoại tài sản (chặt phá mầm chồi bạch đàn). Tòa án nhân dân huyện đã đưa ra xét xử 3 vụ. (Báo Lạng Sơn 16/12) đầu trang(
Sau vụ án cán bộ kiểm lâm huyện Bố Trạch (Quảng Bình) bị lâm tặc tấn công, có thể thấy rằng các đối tượng đã bất chấp pháp luật, nhiều đối tượng dùng vũ lực chống lại lực lượng thi hành công vụ.
Ông Phạm Hồng Thái, Phó Chi cục trưởng Chi cục KL Quảng Bình cho biết, trong năm 2009 đã xảy ra 8 vụ chống người thi hành công vụ nghiêm trọng. Trong đó, các cơ quan chức năng đã khởi tố 5 vụ, đưa ra ánh sáng hàng chục đối tượng liên quan. (Tin Mới 16/12) đầu trang(
Bộ Giao thông Vận tải vừa thống nhất ý kiến với UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về sự cần thiết phải xây dựng thêm 2 trạm kiểm lâm ở hai đầu tuyến đường Hồ Chí Minh (đoạn La Sơn - Túy Loan) qua Vườn Quốc gia Bạch Mã để đảm bảo duy trì hoạt động, thực hiện tốt chức năng quản lý, bảo vệ Vườn Quốc gia Bạch Mã phù hợp với nội dung Quyết định số 2222/QĐ-BTNMT ngày 30/11/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án đường Hồ Chí Minh (đoạn La Sơn - Túy Loan).
Theo đó, Bộ đề nghị UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định xây dựng 2 trạm kiểm lâm cho Vườn Quốc gia Bạch Mã thuộc tiểu dự án giải phóng mặt bằng và tái định cư của Dự án đường Hồ Chí Minh (đoạn La Sơn - Túy Loan) với quy mô phù hợp theo quy định của Nhà nước.
UBND tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ chỉ đạo cơ quan chức năng của địa phương phối hợp chặt chẽ với Ban Quản lý Dự án đường Hồ Chí Minh, Vườn Quốc gia Bạch Mã rà soát, xác định quy mô xây dụng các trạm này. Dự án nói trên đi qua địa bàn 2 tỉnh, thành Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng, là dự án BT (xây dụng - chuyển giao) về giao thông lớn nhất hiện nay (tổng đầu tư gần 12 ngàn tỷ đồng), dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2016. (Pháp Luật Việt Nam 16/12) đầu trang(
Trạm Tấu là huyện thuộc tỉnh Yên Bái có trên 39.860 ha rừng, trong dó, rừng tự nhiên 28.917 ha, rừng trồng 10.868 ha.
Vào mùa khô, các hộ dân vùng cao hay đốt nương rẫy, đốt đồng cỏ bãi chân thả gia súc, vào rừng lấy ong mật để lửa cháy lan, vì vậy, nguy cơ xảy ra cháy rừng trên địa bàn vào mùa khô luôn ở mức cao và sẵn sàng diễn ra bất cứ lúc nào.
Trong nhiều năm qua, công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được sự quan tâm của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, trong đó, công tác tuyên truyền phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Để ngăn chặn tình trạng đốt phá rừng, ngay từ đầu vụ khô hanh, UBND huyện Trạm Tấu đã xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo, điều hành về việc triển khai các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô hanh năm 2014 - 2015 phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở.
Tại các xã, thị trấn thành lập 12 tổ cơ động với 257 người tham gia. Các thôn, bản đã thành lập 64 tổ, đội bảo vệ rừng (BVR) và PCCCR với 845 người là dân quân, tự vệ, thanh niên và các chủ rừng để kịp thời ứng phó khi cháy rừng xảy ra. Hạt Kiểm lâm huyện Trạm Tấu đã phối hợp với chính quyền địa phương, các chủ rừng tổ chức tuyên truyền, giáo dục ỷ thức BVR, PCCCR đến các hộ dân, tổ chức học tập ký cam kết tới 3.698 lượt người dân.
Mặc dù, huyện Trạm Tấu đã làm tốt công tác tuyên truyền và chủ động xây dựng các phương án PCCCR phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, thế nhưng mùa khô hanh 2014 - 2015, trên địa bàn huyện vẫn còn xảy ra 4 vụ cháy rừng làm thiệt hại 167,9 ha; trong đó, rừng trồng phòng hộ 142,3 ha, rừng trồng sản xuất 9,3 ha, rừng tái sinh 16,3 ha.
Ông Nguyễn Văn Liễu - Phó chủ tịch UBND huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái cho biết; “Để hạn chế cháy rừng, UBND huyện Trạm Tấu tập trung chỉ đạo một số giải pháp như: Đối với các xã nằm trong vùng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, luôn phân công cán bộ thường trực 24/24 giờ để theo dõi, cập nhật, xử lý kịp thời mọi tình huống xảy ra trên địa bàn. Xử lý các tình huống cháy rừng theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần), thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn các chủ rừng thực hiện nghiêm túc công tác PCCCR. Trong thời gian tới, Huyện sẽ quy hoạch bãi chăn thả gia súc ở 10 xã vùng cao trên địa bàn huyện. Đồng thời, UBND huyện đã đề xuất với tỉnh đầu tư kinh phí cho Quỹ BVR, PCCCR để thay thế trồng thông mã vĩ thay vào đó là trồng cây bản địa, đặc biệt là cây sơn trà vừa có tác dụng phủ xanh đất trống, đồi trọc vừa tạo thu nhập ổn định cho người dân...”. (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhằm góp phần vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, ngoài công tác phát triển rừng, những năm qua Hạt Kiểm lâm huyện Đakrông (Quảng Trị) còn chú trọng công tác giao rừng, khoán bảo vệ rừng.
Trong năm 2015, Hạt Kiểm lâm huyện đã tiến hành giao 307 ha rừng cho người dân của xã Đakrông nhận chăm sóc và bảo vệ, trong đó tại thôn Tà Lêng 150 ha cho 13 hộ; thôn Ba Tầng là 157 ha cho 15 hộ. Được biết, đến nay huyện Đakrông đã giao khoán được hơn 4.444ha rừng tự nhiên cho người dân chăm sóc và bảo vệ.
Việc giao rừng, khoán bảo vệ rừng đã góp phần tích cực vào công tác bảo vệ phát triển rừng, ngăn chặn tình trạng khai thác rừng trái phép và xâm lấn rừng tự nhiên trái phép trên địa bàn. (Báo Quảng Trị 17/12) đầu trang(
Sau dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, 15 năm qua, đối tác hỗ trợ ngành lâm nghiệp (FSSP) đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ ngành lâm nghiệp thực hiện 3 mục tiêu bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Nhiều năm qua ODA cho ngành Lâm nghiệp chiếm gần 20% vốn ngân sách của ngành
15 năm qua, diện tích rừng của Việt Nam không ngừng tăng lên, từ 10,6 triệu ha vào năm 2000 đã tăng lên 13,9 triệu ha. Trung bình 1 năm độ che phủ tăng khoảng 0,5%. Ngành cũng đã có sự chuyển biến mạnh mẽ , tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tăng 12 lần. Công tác bảo vệ rừng được thực hiện hiệu quả thông qua các mô hình quản lý lâm nghiệp dựa vào cộng đồng.
Dưới sự tham vấn của các đối tác chính sách của ngành đã được cải thiện và phát triển đồng bộ. Những thành tựu trên có sự đóng góp của các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các thành viên của Đói tác hỗ trợ ngành lâm nghiệp. Việc chuyển giao các dự án đã và sẽ được Việt Nam tiếp tục duy trì và thực hiện một cách hiệu quả.
Tại Hội nghị đại diện Việt Nam mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của quốc tế sau khi dự án kết thúc và cam kết sẽ hướng tới các hoạt động phát triển rừng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu, thực thi các cam kết quốc tế liên quan đến Lâm nghiệp. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 17/12) đầu trang(
Ngày 15.12, đoàn công tác Tổng cục lâm nghiệp Việt nam đã có buổi kiểm tra, khảo sát và chỉ đạo công tác chuyển đổi từ trồng rừng sản xuất qui mô nhỏ sang trồng rừng gỗ lớn tại huyện Như Thanh. Tham gia đoàn công tác có đại diện lãnh đạo sở nông nghiệp phát triển nông thôn Thanh Hóa và các đơn vị liên quan.
Đoàn đã đến kiểm tra, khảo sát thực tế mô hình chuyển đổi sang trồng rừng gỗ lớn do Ban quản lý rừng phòng hộ Sim trực tiếp triển khai tại xã Xuân Du và xã Mậu Lâm. Thực hiện chủ trương chuyển đổi từtrồng rừng gỗ nhỏ, chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn cho hiệu quả kinh tế cao.
Từ năm 2010 Ban quản lý rừng phòng hộ Sim đã tiến hành hướng dẫn 40 hộ tập trung áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc hơn 30 ha rừng keo theo hướng thâm canh, sau hơn 5 năm các diện tích rừng đã bắt đầu cho thu hoạch. So với trồng rừng gỗ nhỏ, trữ lượng rừng gỗ lớn cao gấp đôi với sản lượng gỗ ước đạt 240m3/ha, trị giá khoảng 360 triệu đồng.
Đoàn công tác Tổng Cục lâm nghiệp đánh giá cao hiệu quả mô hình và đề nghị cần được quan tâm, đầu tư nhân rộng. Thời gian tới Tổng cục sẽ tiếp tục có các hoạt động nhằm đánh giá lại thực trạng, xác định lợi thế, rà soát quy hoạch để có cơ chế hỗ trợ Thanh Hóa phát triển rừng gỗ lớn, đồng thời cũng có chính sách phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia phát triển các mô hình trên địa bàn toàn tỉnh. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Thanh Hóa 16/12) đầu trang(
Hộ gia đình được ngân hàng cho vay không có tài sản đảm bảo để trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 NĐ 75, với mức lãi suất là 1,2%/năm.
Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư 27/2015/TT-NHNN, về hướng dẫn thực hiện cho vay trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo quy định tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP của Chính phủ (gọi tắt là NĐ 75) về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020.
Theo đó, đối tượng áp dụng Ngân hàng Chính sách xã hội; Agribank; các hộ gia đình thuộc đối tượng theo quy định tại khoản 1 Điều 2 NĐ 75 có hoạt động trồng rừng sản xuất bằng cây lấy gỗ, cây lâm sản ngoài gỗ trên đất quy hoạch phát triển rừng được Nhà nước giao đất, phát triển chăn nuôi; các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc vay vốn tại ngân hàng để trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo quy định của NĐ 75.
Hộ gia đình được ngân hàng cho vay không có tài sản đảm bảo để trồng rừng sản xuất, phát triển chăn nuôi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 NĐ 75, với mức lãi suất là 1,2%/năm. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/12) đầu trang(
Keo tai tượng là giống cây nhập nội, được đưa vào trồng ở Yên Bái từ năm 1992-1993. Hơn hai mươi năm qua, cây keo tai tượng đã thể hiện được tính ưu việt của mình.
Đó là: Phù hợp với điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng nên phát triển rất nhanh, chu kỳ trồng được rút ngắn, năng suất cao…, do đó cây đã trở thành “át chủ bài” của rừng trồng Yên Bái…
Chiếc ca nô 15 sức ngựa nổ phành phành chạy băng băng trên hồ Thác Bà, với vận tốc 30km/h lướt qua những hòn đảo cây rừng trồng nối đuôi nhau hút tầm mắt.
Ông Lã Tuấn Hưng, Trưởng phòng NN-PTNT Yên Bình chỉ những đảo xanh ngằn ngặt: Cách nay hơn 20 năm hơn 1.300 hòn đảo nổi trên hồ Thác Bà bị chặt phá trơ trụi để trồng cây lương thực, khiến phần lớn số đảo giống như đầu ông sư.
Còn bây giờ thì không hòn đảo nào bỏ hoang, tất cả đều được trồng cây lâm nghiệp: Keo tai tượng, keo lá tràm, bạch đàn U6, bồ đề… Phần lớn diện tích rừng trồng trên hồ là bạch đàn tai tượng, đây là giống bạch đàn nhập nội đang được người dân ưa chuộng.
Ông Lương Quốc Bình, tổ 8, thị trấn Yên Bình, chả cần giấu diếm: Nhà tôi có 10 ha đất đồi trên hồ Thác Bà, tất cả diện tích đó tôi đều trồng keo tai tượng, đến nay được hai chu kỳ rồi. Ai mua ra đây tôi bán cả đồi. Mấy năm nay không có cây mà bán, rừng trồng được 5 năm mà đã có người tới gạ mua. Ai bán rừng non chứ? Phải 7-8 năm để cây lớn đẫy khi đó mới được giá…
Từ năm 1992-1993 các lâm trường Yên Bình, Việt Hưng, Ngòi Lao mua hạt giống keo tai tượng nhập khẩu từ Úc về trồng.
Điều bất ngờ giống keo tai tượng lại phù hợp với mọi loại đất và thời tiết của Yên Bái nên phát triển mạnh. Đặc điểm nổi trội của cây keo tai tượng: Cây thẳng, không bị gãy đổ, rất phù hợp cho công nghiệp chế biến và làm nguyên liệu giấy.
Năng suất trung bình của keo tai tượng 70-80m3/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 100-120m3/ha, chu kỳ của cây từ 6-7 năm, rút ngắn từ 1-2 năm so với những cây lâm nghiệp khác, nên diện tích không ngừng được mở rộng.
Để giúp người dân trồng rừng tiếp cận nhanh với các tiến bộ KHKT, năm 2012, được sự hỗ trợ của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, Trung tâm Khuyến nông Yên Bái đã triển khai dự án “Trồng rừng cây nguyên liệu thâm canh keo tai tượng giai đoạn 2012-2013” ở 3 điểm thuộc hai xã Việt Cường (Trấn Yên), Phú Thịnh (Yên Bình), diện tích triển khai là 113 ha, 70 hộ tham gia dự án.
Sau một năm triển khai, kết quả cho thấy: Tỷ lệ cây sống đều đạt 90%, chiều cao cây từ 140-170cm, đường kính gốc 1,5-1,8cm.
Ông Nguyễn Ngọc Phương, thôn Phú Yên, xã Việt Cường không ngần ngại cho biết: Gia đình tôi trồng 2,5 ha xen sắn. Điều không ngờ giống keo tai tượng lại lớn nhanh như vậy. Mới một năm cây cao 1,4m, đường kính gốc 1,5cm, những hộ không trồng xen sắn thì cao 1,6-1,7m, có cây đường kính gốc 1,8cm. Đến nay mới 3 năm nhưng cây đã to bằng bắp chân rồi, chắc 6-7 năm là được khai thác.
Các Cty lâm nghiệp: Yên Bình, Việt Hưng, Ngòi Lao đều trồng giống keo keo tai tượng. Cty LN Việt Hưng có 2.200 ha thì gần 100% trồng keo, trong đó keo tai tượng khoảng 1.500ha.
Ông Mai Văn Hoàng - GĐ Cty Lâm nghiệp Việt Hưng cho biết: Để khuyến khích công nhân và người dân nhận khoán với Cty trồng keo tai tượng, chúng tôi hỗ trợ từ 200-300đ/cây giống, người dân không phải mua giống trôi nổi bên ngoài. Do trồng hai giống keo đó nên năng suất rừng của Cty đều đạt từ 70-80m3/ha, nhiều hộ đạt 100-120m3/ha.
Anh Hoàng Huy Hùng, công nhân đội Khe Bát, Cty LN Việt Hưng cho biết: Gia đình tôi nhận khoán 10 ha đất của Cty trồng keo lai và keo tai tượng. Trung bình mỗi ha 70m3, với giá gỗ hiện nay 1,5 triệu/m3, thu khoảng hơn 100 triệu, trừ chi phí (cây giống, công lao động, khai thác), lợi nhuận còn được 65-70 triệu/ha. Tuy nhiên nhiều diện tích rừng đạt 120m3, thì lợi nhuận mang lại không dưới 100 triệu/ha.
Đội Khe Bát chỉ có 21 công nhân hiện đang quản lý 486 ha rừng trồng, trung bình mỗi công nhân nhận khoán 23ha, do trồng giống keo tai tượng, năng suất cao nên chỉ 7-8 năm “bỏ quên”, thì đã có 1,2-1,5 tỷ. Vì thế đội Khe Bát hầu như các hộ đều mua nhà, đất ở TP Yên Bái xây dựng thành khu phố công nhân trồng rừng.
Theo thống kê, tỉnh Yên Bái hiện có 194.034 ha rừng trồng, trong đó diện tích trồng keo tai tượng 70%, bồ đề 10%, bạch đàn 15%, quế, mỡ, thông 15%. Mỗi năm trồng mới từ 15.000 ha, trong đó diện tích khai thác trồng lại 10.000 ha chủ yếu là keo tai tượng.
Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng mỗi năm từ 450-500 ngàn mét khối, trong đó keo tai tượng chiếm trên 40%. Năm 2015, sản lượng khai thác trên 450.000m3 gỗ để làm ván bóc, gỗ xẻ thanh, gỗ băm dăm, nguyên liệu giấy…
Từ thực tế đó khẳng định cây keo tai tượng đã trở thành “át chủ bài” của rừng trồng Yên Bái, thực sự mang lại nguồn thu lớn cho người trồng rừng nếu áp dụng đúng quy các trình kỹ thuật. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/12) đầu trang(
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa tổ chức hội nghị toàn quốc về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh nhằm triển khai Nghị quyết của Quốc hội về tăng cường quản lý đất đai có nguồn gốc từ nông trường, lâm trường quốc doanh do các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng và các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác sử dụng.
Báo cáo tại hội nghị cho biết, tính từ năm 1986, cả nước có 870 nông, lâm trường quản lý 7,5 triệu hécta đất, bằng 23,2% diện tích tự nhiên của cả nước; trong đó có 457 nông trường quốc doanh quản lý khoảng 1,2 triệu hécta, 413 lâm trường quản lý 6,3 triệu hécta; Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) quản lý 92 nông trường, Tổng cục Cao su quản lý 124 nông trường, Bộ Quốc phòng quản lý 12 nông trường; Bộ Lâm nghiệp quản lý 76 lâm trường; các địa phương quản lý 229 nông trường và 337 lâm trường.
Công tác thanh tra toàn diện việc chấp hành chính sách, pháp luật trong quản lý, sử dụng đất từ năm 2012 đến nay cho thấy tình trạng quản lý đất đai còn thiếu chặt chẽ, tranh chấp đất đai, vi phạm pháp luật về đất đai còn khá phổ biến…
Trong năm 2015 và quý I/2016, cả nước sẽ hoàn thành việc xây dựng, phê duyệt các đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty nông, lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP, làm cơ sở để xác định phương án sử dụng đất, triển khai lập thiết kế kỹ thuật - dự toán và thực hiện các dự án xác định, cắm mốc giới, đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông, lâm nghiệp.
Đến hết quý III/2016 phải hoàn thành việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ ranh giới, phê duyệt phương án sử dụng đất của các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP. Đến hết năm 2016 phải hoàn thành các thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển từ giao đất không thu tiền sử dụng đất sang thuê đất; đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp thuộc diện sắp xếp.
Trong giai đoạn 2016 - 2020 phải hoàn thành việc cắm mốc giới, lập hồ sơ ranh giới đối với các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp không thực hiện sắp xếp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP, các ban quản lý rừng, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và các đơn vị sự nghiệp có tên gọi khác được giao quản lý, sử dụng đất nông, lâm nghiệp; đồng thời thực hiện việc chuyển đổi hình thức giao đất, thuê đất, xác định giá đất và nghĩa vụ tài chính theo quy định cho từng đối tượng sử dụng đất; hoàn thành việc xử lý đối với diện tích đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường bàn giao cho các địa phương; thực hiện xong việc lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận cho các đối tượng sử dụng đất.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang đề nghị các bộ, ngành có liên quan như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ… triển khai việc rà soát, xác định ranh giới, cắm mốc giới, đo đạc, lập bản đồ địa chính và hồ sơ ranh giới sử dụng đất; thực hiện thủ tục cho thuê đất, xác định giá đất, thu tiền thuê đất; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật đối với các công ty nông, lâm nghiệp thực hiện sắp xếp theo Nghị định 118/2014/NĐ-CP.
Cân đối ngân sách, bố trí kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ quản lý đất đai, đảm bảo dành tối thiểu 10% các khoản thu từ tiền sử dụng đất để đầu tư cho công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong đó cần ưu tiên thực hiện đối với đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh.
Tiếp nhận và có phương án công khai, minh bạch trong sử dụng quỹ đất được các công ty nông nghiệp, công ty lâm nghiệp và các tổ chức quản lý đất nông, lâm nghiệp chuyển cho địa phương trong quá trình rà soát, sắp xếp; có chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, hộ gia đình và cá nhân nghèo cư trú tại vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, hải đảo… (Pháp Luật Việt Nam 17/12) đầu trang(
Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Yên Bái trong những năm qua đã làm tốt công tác tham mưu cho Sở NN-PTNT trong lĩnh vực quản lý nhà nước về lâm nghiệp và phát triển, bảo vệ rừng.
Chính vì thế mà rừng Yên Bái đã phát triển tốt, hiện có 429.939,9 ha, trong đó có 405.354,4 ha rừng, bao gồm: Rừng tự nhiên 235.905,48 ha, rừng trồng 194.034,42 ha, năm 2015 đã trồng 15.497,3 ha, đạt 103,3% kế hoạch, nâng tỷ lệ che phủ rừng lên 61,7%.
Yên Bái nằm ở trung tâm các tỉnh miền núi phía Bắc, là vùng giao thoa giữa hai vùng sinh thái Đông Bắc và Tây Bắc. Vì thế, Chi cục đã tham mưu cho chính quyền địa phương các cấp tổ chức trồng đa dạng các loại cây lâm nghiệp để đáp ứng nhu cầu của thị trường: Keo tai tượng, keo lai, kéo lá tràm, quế, bạch đàn, bồ đề, xoan, mỡ, tre Bát Độ, mai và một số cây lâm nghiệp khác. Khuyến cáo các Cty lâm nghiệp và các địa phương đưa những cây trồng mới có năng suất và giá trị kinh tế cao, như keo tai tượng, tre Bát Độ…giúp người dân làm giàu từ nghề rừng.
Hàng năm tỉnh Yên Bái tổ chức khai thác 450.000-500.000m3 gỗ rừng trồng các loại; 100.000 tấn tre, nứa, vầu; khai thác chế biến gần 8.000 tấn quế vỏ và khoảng 2.000 tấn tinh dầu quế.
Cùng với việc phát triển rừng, Chi cục làm tốt công tác tham mưu trong việc khoán, bảo vệ rừng đối với các Ban quản lý rừng phòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng tổ chức giao khoán 207.262,9 ha rừng phòng hộ, đặc dụng và rừng tự nhiên sản xuất.
Do làm tốt công tác khoán bảo vệ, nên diện tích rừng bị cháy và xâm hại hàng năm giảm. Mùa khô năm 2014-2015 tỉnh Yên Bái chỉ có 7 vụ cháy, diện tích thiệt hại 186,4 ha, so với mùa khô 2013-2014 giảm 2 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 505,8 ha.
Kế hoạch năm 2016 tỉnh Yên Bái trồng mới 15.000 ha rừng các loại, trong đó: Rừng phòng hộ 350 ha, rừng sản xuất 14.650 ha. (Nông Nghiệp Việt Nam 17/12) đầu trang(
Hai bên đã cập nhật và chia sẻ những thông tin liên quan đến các chính sách, chương trình phát triển lâm nghiệp của hai nước; xây dựng các hoạt động hợp tác giữa hai bên trong thời gian tiếp theo...
Vừa qua, tại TP Đà Nẵng đã diễn ra cuộc họp luân phiên lần thứ 8 giữa Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam và Tổng cục Lâm nghiệp Hàn Quốc nhằm kiểm điểm tình hình thực hiện Bản ghi nhớ trong thời gian qua và xây dựng các hoạt động hợp tác giữa hai bên trong thời gian tiếp theo.
Hai bên đã cập nhật và chia sẻ những thông tin liên quan đến các chính sách, chương trình phát triển lâm nghiệp của hai nước; xây dựng các hoạt động hợp tác giữa hai bên trong thời gian tiếp theo, trong đó tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực phục hồi và xây dựng mô hình làng xanh tại Việt Nam; hợp tác đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Hàn Quốc vào các lĩnh vực trồng và chế biến lâm sản tại Việt Nam; bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn gen trong lâm nghiệp.
Phát biểu tại cuộc họp, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp Nguyễn Bá Ngãi nhấn mạnh, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc được hai Chính phủ ký vào cuối năm 2014 tại Busan, Hàn Quốc mở ra những cơ hội thương mại vô cùng to lớn giữa hai quốc gia trong đó có gỗ và đồ gỗ.
Năm 2014, Hàn Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5 của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu đạt 491 triệu USD tăng 49% so với năm 2014.
Đại diện Tổng cục Lâm nghiệp Hàn Quốc, ông Kim Yongkwan cũng khẳng định, hợp tác về lâm nghiệp giữa hai Tổng cục Lâm nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc ngày càng được tăng cường, nhất là từ khi hai bên cùng tham gia Hiệp định hợp tác lâm nghiệp ASEAN - Hàn Quốc (Hiệp định AFoCo).
Hai bên đã nỗ lực chia sẻ thông tin về chính sách phát triển, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam qua đó đã hỗ trợ, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư Hàn Quốc đầu tư tại Việt Nam trong lĩnh vực trồng rừng và chế biến gỗ.
Hai bên đều đánh giá cao các kết quả thảo luận trong cuộc họp song phương, đồng thời mong muốn tiếp tục phát huy hơn nữa những kết quả hợp tác tốt đẹp về lâm nghiệp mà hai nước đã đạt được.
Phía Hàn Quốc đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam trong việc thực hiện Bản ghi nhớ hợp tác cũng như việc tổ chức thành công cuộc họp này. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/12) đầu trang(
Đoàn ĐBQH tỉnh đã TXCT sau Kỳ họp thứ 10, QH Khóa XIII tại xã Chế Tạo, huyện Mù Cang Chải.
Tại buổi tiếp xúc, cử tri kiến nghị Quốc hội, Chính phủ, các cấp có thẩm quyền quan tâm bố trí nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của huyện, như: Đầu tư xây dựng hệ thống lưới điện, kiên cố hóa đường giao thông nông thôn tới trung tâm xã, xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ nước tưới tiêu cho sản xuất; quan tâm đầu tư kiên cố hóa trường lớp học; giải quyết việc làm và đào tạo nghề và tạo điều kiện cho con em vùng đồng bào dân tộc thiểu số làm việc tại địa phương.
Một số ý kiến đề nghị, cần xem xét nâng mức kinh phí hỗ trợ dịch vụ bảo vệ môi trường rừng cho người dân, nhất là ở các khu rừng bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng cần được bảo vệ nghiêm ngặt; quan tâm nâng mức phụ cấp cho các tổ chức hội, đoàn thể tại cơ sở…
Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Dương Văn Thống đề nghị chính quyền huyện và xã cần nghiên cứu, triển khai thực hiện tốt Nghị định của Chính phủ về các chính sách đầu tư phát triển, bảo vệ rừng đặc dụng; quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ đói, hộ nghèo bền vững; hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lên; thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo; quan tâm đến công tác giải quyết việc làm cho con em tại địa phương… (Đại Biểu Nhân Dân 14/12) đầu trang(
Thời gian qua, cùng với nhiều chính sách giảm nghèo bền vững ở các địa phương miền núi luôn được các cấp, ngành quan tâm. Đặc biệt, khi Nghị định 75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015 về bảo vệ, phát triển rừng gắn với giảm nghèo bền vững được ban hành đã tiếp thêm động lực để gắn kết hơn nữa lợi ích của người dân với rừng trong thời gian tới.
Với tổng diện tích đất lâm nghiệp 1.160.242,4 ha chủ yếu tập trung ở 10 huyện miền Tây của tỉnh, trong đó có 3 huyện nghèo nằm trong Chương trình 30a (Kỳ Sơn, Tương Dương và Quế Phong), thời gian qua, nhiều chương trình lồng ghép, gắn kết người dân với việc trồng, bảo vệ và chăm sóc rừng được khuyến khích triển khai rộng khắp.
Theo thống kê của Chi Cục kiểm lâm tỉnh, tính đến thời điểm hiện nay, tổng diện tích rừng trên địa bàn có 985.137ha, trong đó có trên 200.000ha rừng trồng, độ che phủ đạt gần 60%.
Để đạt được những kết quả đó, ngoài việc triển khai các chính sách trồng rừng đối với các cá nhân, tập thể, đơn vị… thì công tác vận động người dân tham gia bảo vệ, chăm sóc rừng có vai trò rất quan trọng. Cùng với đó, việc nâng cao ý thức của người dân trong việc hạn chế đốt nương làm rẫy, du canh du cư cũng được triển khai tuyên truyền đến từng hộ, nguy cơ phá rừng cũng giảm đáng kể.
Các cơ quan chức năng đã tiến hành bắt giữ, xử lý nhiều vụ việc vi phạm lâm luật trong thời gian qua khiến cho tình hình tội phạm liên quan đến rừng không còn phức tạp, gay gắt như những năm trước. Tuy nhiên, để từng bước giảm thiểu số vụ liên quan đến lâm sản cũng không thể xử lý dứt điểm mà cần phải có nhiều chính sách bảo vệ rừng.
Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 về việc phê duyệt chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn được ban hành hơn 2 năm qua đã phần nào giúp người dân yên tâm sản xuất, nâng cao đời sống.
Theo đánh giá của các ban, ngành và lãnh đạo một số địa phương thì Quyết định 755 đã tạo động lực để người dân bỏ hẳn lối canh tác lạc hậu, đốt nương làm rẫy như trước. Từ chính sách này, nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh đã triển khai kế hoạch cụ thể cho người dân, khuyến khích họ khoanh nuôi, trồng rừng một cách có hiệu quả.
Chỉ tính riêng tại huyện Quế Phong, theo thống kê của phòng dân tộc thì đến nay trên địa bàn đã có 782 hộ tại 8/13 xã, thị trấn trồng, khoanh nuôi được 2244 ha rừng.
Ông Lương Sỹ Cường, Trưởng phòng dân tộc huyện Quế Phong cho biết: Theo Quyết định 755, người dân ở địa phương này sẽ được nhà nước hỗ trợ bình quân 600 nghìn đồng/ha/3 năm đối với rừng khoanh nuôi và 2.270 nghìn đồng/ha/3 năm đối với rừng trồng. Dịp này, huyện đang rà soát, lập danh sách để người dân được nhận nguồn ngân sách hỗ trợ của nhà nước, giúp họ yên tâm sản xuất.
Mới đây, khi Nghị định 75/2015/NĐ-CP được ban hành, chính thức có hiệu lực từ ngày 2/11/2015 vừa qua thì người dân các huyện nghèo của tỉnh như Quế Phong sẽ được tiếp thêm động lực, nguồn kinh phí để gắn chặt lợi ích của mình trong việc trồng, chăm sóc rừng.
Được biết, Nghị định 75 quy định trợ cấp 15 kg gạo/khẩu/tháng trồng rừng thay thế nương rẫy đối với các hộ gia đình nghèo tham gia trồng rừng, trong thời hạn không quá 7 năm; cho vay ngoài số tiền hỗ trợ với hạn mức tối đa 15.000.000 đồng/ha, nếu với mục đích chăn nuôi trâu, bò, gia súc thì hạn mức vay tối đa 50.000.000 đồng và lãi suất chỉ 1,2%/năm.
Theo đánh giá của ngành lâm nghiệp, cùng với Quyết định 755 và Nghị định 75, người dân các địa phương miền núi cao, đặc biệt là hộ đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các xã nghèo, vùng đặc biệt khó khăn sẽ được ràng buộc lợi ích của mình với rừng hơn.
Ông Nguyễn Tiến Lâm, Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh cho biết: Ngay sau khi Nghị định 75 được ban hành, ngày 23/9/2015, Bộ NN&PTNT cũng đã có công văn số 1395 giao cho Sở NN&PTNT các tỉnh nhanh chóng rà soát, lên kế hoạch thực hiện và bổ sung nguồn kinh phí thực hiện.
Hiện nay, trên địa bàn Nghệ An có 12 huyện với tổng số 156 xã được hưởng chính sách theo Nghị định 75, trong đó có 60 xã khu vực II và 96 xã khu vực III. Hiện nay, tổng diện tích đất lâm nghiệp giao cho đối tượng này là hơn 1 triệu ha, diện tích bảo vệ rừng là 716.708 ha, giao cho hộ gia đình quản lý là 188.441 ha, còn lại là các tổ chức, đơn vị khác.
Tuy nhiên, để thực hiện có hiệu quả các nguồn chính sách hỗ trợ này, các cấp, ngành cần tiến hành rà soát, giám sát nguồn vốn khi giải ngân tới tận người dân, tránh tình trạng lãng phí ngân sách của Nhà nước. Mặt khác, để giảm nghèo bền vững trong công tác gắn lợi ích người dân tới việc trồng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng cũng cần nâng cao công tác tập huấn, tuyên truyền bằng các mô hình hay, hiệu quả nhằm nhân rộng trên địa bàn. (Thời Báo Ngân Hàng 16/12) đầu trang(
Chúng tôi về Nho Quan, đi dọc theo tuyến tỉnh lộ đoạn qua địa bàn xã Cúc Phương, không khó để nhận ra sự thay đổi ở nơi đây, những quả đồi, triền núi đã được bà con tận dụng để trồng rừng.
Chủ tịch UBND xã Cúc Phương cho biết: Tập quán canh tác du mục của bà con đã thay đổi, các hộ dân đã biết tận dụng thế mạnh của vùng núi để phát triển kinh tế trang trại VCR đã tạo việc làm, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho đồng bào các dân tộc nơi đây.
Chủ tịch UBND xã Cúc Phương, Đinh Văn Xuân dẫn chúng tôi đến thăm Gia đình anh Đinh Văn Tuấn ở thôn Sấm 3 là một trong những hộ đầu tiên của xã mạnh dạn nhận rừng về trồng. Anh Xuân cho biết, trước đây bà con vùng dân tộc thiểu số ở Cúc Phương có thói quen làm ăn du mục, đốt rừng làm rãy. Phải mất thời gian khá dài cán bộ xã, các đoàn thể vận động, thuyết phục bà con mới từ bỏ thói quen canh tác cũ.
Gia đình anh Tuấn hiện nay đang sở hữu trên 12ha rừng. Tận mắt nhìn màu xanh hàng chục ha rừng của anh đang kỳ phát triển, mới thấy hết sự cần cù, chịu thương, chịu khó của người thanh niên này.
Dẫn chúng tôi đi thăm một số khu rừng trồng, anh Tuấn bộc bạch: Đầu những năm 2000 tôi bắt đầu khai hoang trồng một vài sào đất đồi xung quanh nhà, lúc ấy không nghĩ đến chuyện gắn bó với Nghề trồng rừng. Khi phong trào trồng cây lâm nghiệp ở địa phương phát triển nhờ có nhiều Chương trình,
Dự án đầu tư hỗ trợ, anh đã mạnh dạn tham gia. Đến nay gia đình anh đã thu hoạch được 2 lứa gỗ keo từ diện tích đồi rừng và đang tiếp tục trồng lứa keo thứ 3.
Anh Đinh Văn Tuấn cho biết với 1 ha rừng trồng sau 6-8 năm thu hoạch có thể thu về 160-170 triệu đồng, trừ chi phí cho thu nhập 120 triệu. Bên cạnh đó gia đình anh còn kết hợp trồng rừng với chăn nuôi các con nuôi đặc sản như dê, bò, gà đồi, lợn rừng… mỗi năm thu nhập thêm hàng trăm triệu đồng.
Anh Tuấn tâm sự, công việc trồng rừng đã ngấm vào máu anh lúc nào không biết. Hằng ngày mọi người trong xóm, trong thôn ít thấy anh ở nhà, mỗi khi có việc gì cần tìm đến anh thì phải lên rừng mới gặp.
Hiện nay ở xã Cúc Phương có gần 100 hộ nhận trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, mỗi hộ từ 1 ha cho đến vài chục ha. Các hộ trồng rừng đều có kế hoạch khoanh nuôi, tái tạo vốn rừng và khai thác hợp lý. Vì vậy mà diện tích rừng của xã những năm gần đây luôn được giữ ổn định với 140 ha.
Những vùng đồi, núi trọc ở xã Cúc Phương hôm nay đã trở thành những cánh rừng xanh ngút ngàn, có giá trị kinh tế cao và góp phần cải tạo đất bảo vệ môi trường sinh thái. Thành quả ấy cũng có sự góp phần không nhỏ của anh Đinh Văn Tuấn, một người dân tộc có ý chí phấn đấu chịu khó vươn lên làm giàu từ nghề trồng rừng. (Báo Ninh Bình 16/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Tại Nga, cá thể hổ mồ côi được thả lại vào thiên nhiên vừa đẻ hai hổ con, dấy lên hy vọng về sự tồn tại của phụ loài hổ quý hiếm này.
Các nhà bảo tồn Nga tỏ ra mừng rỡ khi công bố thông tin trên. Đây là lần đầu tiên một cá thể hổ Siberi được tái thả vào tự nhiên đã thể hiện được khả năng sinh sản, đồng nghĩa với một điểm nhấn cho sự tồn tại của phụ loài hổ Siberi. Còn được biết với cái tên hổ Amua, hổ Siberi chỉ còn khoảng 500 cá thể trong tự nhiên sau hàng loạt thập kỷ bị săn bắn bất hợp pháp và bị thu hẹp sinh cảnh.
Với cái tên Zolushka, cá thể hổ cái Siberi được tìm thấy vào tháng 2-2012 khi mới chỉ bốn tháng tuổi. Theo nhiều chuyên gia, mẹ của cá thể hổ này bị các kẻ săn trộm giết hại. Zolushka được chăm sóc và phục hồi tại Trung tâm cứu hộ Alekseyevka.
Cá thể hổ cái được cách ly với con người và được dạy cách săn mồi sống một cách từ từ. Khi được 20 tháng tuổi (độ tuổi các cá thể hổ nhỏ thường tự sống mà không cần hổ mẹ), Zolushka được thả vào khu bảo tồn Bastak ở vùng Pri-Amur, miền Viễn Đông nước Nga. Tại đây, Zolushka được các cán bộ kiểm lâm theo dõi qua vệ tinh, ảnh viễn thám và sóng radio. Cá thể hổ này nhanh chóng thích nghi thông qua hoạt động săn lợn rừng, lửng lợn và hươu đỏ.
Việc đẻ hai cá thể hổ con đã tạo nên một bất ngờ lớn bởi hổ Siberi đã biết mất khỏi khu rừng Bastak khoảng 40 năm trước. Nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy có một cá thể đực đã xuất hiện trong chu vi 124 dặm về phía tây của vùng phân bố hổ Amua ở Liên bang Nga.
Các bức ảnh và video được công bố cho thấy sự hiện diện của hai cá thể hổ con đang chơi đùa với hổ mẹ trong rừng Taigal.
Aleksandr Yuryevich Kalinin, Giám đốc khu bảo tồn Bastak phát biểu: “Đây là ngày trọng đại của khu bảo tồn. Điều này chứng minh vẫn còn sinh cảnh phù hợp cho hổ Amua tại vùng phân bố Pri-Amur. Không đâu thích hợp hơn ở đây”.
Masha Vorontsova, Giám đốc tổ chức bảo vệ động vật (IFAW) tại Nga, khẳng định: “Đây chính là điều chúng tôi hy vọng kể từ khi thả cá thể này vào năm 2013. Điều này cho thấy cá thể này đã hoàn toàn thích ứng với đời sống tự nhiên, có khả năng săn mồi, sinh sản và nuôi lớn một thế hệ mới của hổ Siberi”.
Dale Miquelle, Giám đốc Hiệp hội bảo tồn động vật hoang dã (WCS) tại Nga cũng khẳng định: “Điều kỳ diệu này không chỉ dành riêng cho Zolushka mà còn cho cả quần thể hổ Amua. Hai cá thể hổ mới đẻ đánh dấu sự phục hồi tăng trưởng của quần thể hổ Amua cuối cùng tại sinh cảnh bị phá hủy nhiều năm trước”.
Vào năm 2014, IFAW và các đối tác đã thả năm cá thể hổ Amua vào tự nhiên và các báo cáo cho thấy các cá thể này đã xuất hiện ở đường biên giới giữa Nga và Trung Quốc, bắt nhiều dê và gà.
Hổ Siberi (tên khoa học là Panthera tigris altaica), có phân bố tại vùng Amur-Usssuri ở miền Viễn Đông Siberi. Đây là phụ loài hổ lớn nhất với chiều dài đầu và thân từ 190-230cm (đuôi hổ có thể dài 60-110cm) Trọng lượng trung bình của một cá thể đực đạt 227kg.
Hổ Amur cũng có điểm đặc biệt về bộ da dày, phân biệt bởi sắc vàng và một số vệt sọc. Một cá thể hổ Siberi sáu tháng tuổi cũng có thể tương đương với một con báo trưởng thành. Hổ Siberithường sống đơn lẻ và đây chính là quần thể hổ sống đơn lẻ lớn nhất thế giới. (Nhân Dân 16/12) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||