Xem ngày trước
ĐIỂM BÁO
Xem ngày kế tiếp

Ngày 18 tháng 10 năm 2012
CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
TIN THẾ GIỚI

CƠ CHẾ - CHÍNH SÁCH
UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, đề án tổ chức thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng lưu vực sông, lòng hồ của các nhà máy thủy điện (đã phát điện) đang được triển khai xây dựng; trong đó bước đầu thí điểm giao khoán rừng cho người dân tại 2 thôn A Bông, A Sờ (xã Mà Cooih, huyện Đông Giang) thuộc lưu vực lòng hồ thủy điện A Vương.
Cụ thể, đã có 2.520 ha rừng giao khoán cho 111 hộ nhận bảo vệ và hưởng lợi theo chính sách của Nhà nước, với mức hỗ trợ nhận khoán 274 nghìn đồng/ha/tháng; bình quân mỗi hộ được hỗ trợ 5,6 triệu đồng/năm.
UBND tỉnh cũng vừa chỉ đạo hoàn chỉnh đề án giao rừng gắn với giao đất cho các Ban quản lý rừng, dự kiến tổ chức thực hiện từ năm 2013. (Tài Nguyên&Môi Trường 17/10)đầu trang(

BẢO VỆ RỪNG
Đến nay, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thành lập 7 khu bảo vệ thủy sản trên đầm phá Tam Giang, với 222,7 ha mặt nước. Việc xây dựng các khu bảo vệ thủy sản trên đầm phá Tam Giang không chỉ giúp ngư dân có thêm thu nhập từ hoạt động khai thác các nguồn lợi thủy sản mà con nâng cao ý thức bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo ông Nguyễn Việt Hùng, Chi Cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường Thừa Thiên - Huế, đây là hướng đi đúng trong chương trình bảo tồn đa dạng sinh học gắn với sinh kế của cộng đồng trong hệ đầm phá Tam Giang rộng chừng 22.000 ha của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Các chi hội nghề cá tại địa phương được giao nhiệm vụ quản lý cho biết, bước đầu đã có những chuyển biến tích cực trong việc làm giàu nguồn lợi thủy sản trong khu vực được khoanh vùng bảo vệ. Tuy nhiên, để tránh tình trạng "đánh trống bỏ dùi", việc xây dựng nguồn tài chính bền vững gắn với các khu bảo vệ thủy sản trên đầm phá Tam Giang hiện nay đang là mối quan tâm hàng đầu. Theo chi hội nghề cá ở các địa phương, nguồn tài chính cho các khu bảo vệ thủy sản cần được huy động từ nhiều nguồn như: Ngân sách Nhà nước, tài trợ của các tổ chức quốc tế và đóng góp của cộng đồng…; trong đó, Nhà nước và các tổ chức quốc tế đóng vai trò hỗ trợ, còn lại nguồn vốn do cộng đồng đóng góp từ những hoạt động sinh lợi tại các khu bảo vệ thủy sản là chủ yếu. Tuy nhiên, ban đầu, sự hỗ trợ của Nhà nước để xây dựng hạ tầng cho các khu bảo vệ thủy sản có vai trò hết sức quan trọng.
Khu bảo vệ thủy sản Vũng Mệ (xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền) có diện tích khoanh vùng bảo vệ là 40 ha. Theo giao ước chung, cấm tuyệt đối mọi người không được khai thác dưới mọi hình thức ở khu vực này. Khu bảo vệ thủy sản hình thành giao cho cộng đồng bảo vệ quản lý trên cơ sở từ sự quan tâm lớn của tỉnh và sự tài trợ kinh phí của các tổ chức, đơn vị trong và ngoài nước thông qua hội nghề cá tỉnh.
Tại đây có 387 hộ ngư dân sống dựa vào đầm phá, với các nghề như khai thác, nuôi trồng, đánh bắt nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên đầm phá, kể cả việc đánh bắt mang tính hủy diệt, làm hạn chế sự phát triển của các loài thủy sản, gây cản trở dòng chảy...
Từ khi xây dựng mô hình quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, nhất là sau khi được sự hỗ trợ Chính phủ Đan Mạch trong dự án phát triển nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, chính quyền và ngư dân xã Quảng Lợi đã ủng hộ và tích cực tham gia các hoạt động quản lý nhằm xây dựng hình thành mô hình quản lý cộng đồng, bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản phù hợp trên địa bàn.
Theo đó, mô hình quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng với nhóm đồng quản lý ở xã Quảng Lợi gồm 5 thành viên: cán bộ ban quản lý của chương trình cấp tỉnh, Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh, Chi cục nuôi trồng thủy sản tỉnh, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện và Chủ tịch UBND xã Quảng Lợi. Nhóm quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng có nhiệm vụ quan hệ chặt chẽ và thường xuyên với cộng đồng...
Trong quá trình hoạt động, mô hình quản lý nói trên đã đạt được mục tiêu đề ra, đó là có sự chia sẻ quyền lực trong việc quản lý nguồn lợi tự nhiên giữa chính quyền và cộng đồng ngư dân thông qua việc thành lập các chi hội nghề cá và các quy chế, quyết định được pháp lý hóa dựa trên lợi ích chung của cộng đồng và lợi ích của cá nhân trong việc sử dụng, khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên vùng đầm phá. Khu bảo vệ thủy sản Vũng Mệ nhờ vậy mới ra đời trong một thời gian ngắn nhưng đã mang lại hiệu quả, tạo sinh kế bền vững cho ngư dân.
Toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế hiện đã có hơn 300 nghìn người dân sống trong các khu bảo vệ thủy sản có nguồn thu nhập ổn định, nhờ nguồn lợi thủy sản đầm phá Tam Giang dần dần được phục hồi tốt, môi trường sinh thái được cải thiện. (Tài Nguyên&Môi Trường 16/10)đầu trang(
Huyện Văn Bàn có tổng diện tích đất tự nhiên hơn 142.608 ha, trong đó trên 88% diện tích đất tự nhiên là đất lâm nghiệp và rừng. Vì vậy, Văn Bàn có tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ, đặc biệt là cây thảo quả.
Tính đến năm 2011, toàn huyện có 2.713 ha thảo quả được trồng chủ yếu trên 12 xã, với 2.304 hộ trực tiếp tham gia. Trong đó, khoảng 60% diện tích đã cho thu hoạch; những xã có diện tích trồng thảo quả lớn, như: Dương Quỳ, Liêm Phú, Nậm Chày, Nậm Xé...
Thảo quả là cây trồng dưới tán rừng, được đưa vào trồng tại huyện Văn Bàn từ năm 1992, do các hộ đồng bào dân tộc Mông, Dao ở các xã phía Tây của huyện đưa giống từ Sa Pa về trồng theo hình thức nhỏ lẻ, tự phát. Đây là cây trồng có hiệu quả kinh tế và đem lại thu nhập cao cho các hộ tham gia trồng, nên diện tích trồng thảo quả ngày càng được mở rộng.
Tuy nhiên, do các hộ trồng theo lối quảng canh, mỗi hộ trồng từ 1 - 3 ha, tự gây giống, sản xuất theo kinh nghiệm là chính, nên năng suất, chất lượng chưa cao, công nghệ sấy chủ yếu được phát triển dựa trên kinh nghiệm truyền thống. Do công nghệ sấy lạc hậu, thủ công, nên tiêu tốn rất nhiều nguyên liệu. Chính vì vậy, việc kết hợp giữa sản xuất thảo quả với phát triển rừng còn hạn chế, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự đa dạng sinh học của rừng tự nhiên, hạn chế phát triển của thế hệ cây thay thế.
Sản phẩm sau thu hoạch được tiêu thụ theo đường tiểu ngạch là chính, chủ yếu xuất sang thị trường Trung Quốc ở dạng sản phẩm thô chưa qua chế biến. Mặc dù vậy, thảo quả đã trở thành sản phẩm lâm nghiệp đặc sản hàng hóa mang lại thu nhập đáng kể cho hơn 2.100 hộ nông dân ở 12 xã vùng cao của huyện Văn Bàn. Thảo quả tại nhiều xã đã chiếm trên 50% thu nhập của hộ nông dân và góp phần không nhỏ vào việc xóa đói, giảm nghèo.
Trong những năm qua, huyện Văn Bàn xác định: Phát triển thảo quả phải gắn với việc phát triển kinh tế rừng, không làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, từng bước đem lại thu nhập ổn định và bền vững cho nông dân sống phụ thuộc vào rừng. Để làm được điều đó, huyện có chủ trương phát triển cây thảo quả, với quan điểm ổn định diện tích thảo quả hiện có, tập trung cải thiện chất lượng giống, kỹ thuật canh tác và công nghệ sấy sau thu hoạch, giải quyết hài hòa lợi ích giữa sản xuất với bảo vệ rừng, từng bước hướng tới một chương trình canh tác thảo quả bền vững dưới tán rừng.
Xuất phát từ mục tiêu đó, từ năm 2010 đến nay, được sự tư vấn và hỗ trợ của Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV), tổ chức Tây Ban Nha (IPADE) và Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ các xã có trồng thảo quả trên địa bàn huyện xây dựng quy ước quản lý sản xuất thảo quả bền vững cho 12 xã với 55 thôn, bản, 2.179 hộ trực tiếp tham gia. Bên cạnh việc hỗ trợ xây dựng quy ước còn tổ chức hàng chục lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT trồng, chăm sóc và chế biến thảo quả; hội nghị về chuỗi giá trị thảo quả bền vững giai đoạn 2011 - 2015; thành lập chi hội thảo quả. Đặc biệt, thời gian qua, huyện đã tổ chức 12 cuộc hội nghị nhằm rà soát việc thực hiện quy ước quản lý sản xuất thảo quả trên địa bàn, đồng thời lựa chọn để hỗ trợ mỗi xã xây dựng một lò sấy cải tiến.
Sau gần 3 năm triển khai kế hoạch hợp tác về "Phát triển chuỗi giá trị thảo quả tại huyện Văn Bàn" bước đầu đã thu được kết quả nhất định. Lần đầu tiên huyện Văn Bàn được tiếp cận một mô hình hiệu quả theo chuỗi giá trị từ tổ chức sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, từ đó tác động vào các mắt xích trong chuỗi để nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng giá trị thu nhập từ thảo quả.
Qua đó, mạng lưới khuyến nông, các ban, ngành liên quan, chính quyền cơ sở và nông dân được nâng cao phương pháp, kỹ năng và cách tiếp cận nhằm phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp theo chuỗi giá trị. Thu nhập từ trồng thảo quả của hơn 1.000 hộ nông dân tăng 15% - 20%; từng bước liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, trong việc tiêu thụ thảo quả... tạo việc làm ổn định, góp phần phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa, gắn với bảo vệ tài nguyên rừng. (Báo Lào Cai 17/10)đầu trang(
Để chủ động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) bền vững, Ban Quản lý (BQL) rừng phòng hộ Lang Chánh đã chủ động triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm xã hội hóa công tác BV&PTR.
Anh Lê Quang Tùng, Trạm trưởng Trạm BVR số 2 (thuộc BQL rừng phòng hộ Lang Chánh), cho biết: Trạm đóng tại làng Húng, xã Giao Thiện, cách trung tâm huyện khoảng 30 km. Trạm có 5 cán bộ, công nhân kỹ thuật được giao nhiệm vụ bảo vệ gần 2.600 ha rừng phòng hộ. Bằng nhiều hình thức, cán bộ, công nhân trạm đã tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về BV&PTR; tổ chức, hướng dẫn kỹ thuật, dịch vụ cung ứng cây giống cho các hộ nhận khoán đất lâm nghiệp trên địa bàn xã quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng và trồng mới rừng. Từ đó, các thôn, bản có rừng đã phối hợp với chủ rừng và một số đối tượng hay chặt phá rừng tiến hành ký cam kết không vi phạm những điều cấm về rừng.
Để bảo vệ rừng tận gốc, trạm đã chủ động phối hợp với chính quyền và các đoàn thể của xã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, từ công tác tuyên truyền đến tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm Luật BV&PTR. Một số đối tượng ở làng Húng trước đây thường tiếp tay cho “lâm tặc” chặt phá rừng trái phép nay không những không vi phạm mà còn nhận đất trồng mới rừng. Nhiều hộ gia đình ở xã Giao Thiện như hộ ông Hoàng Trọng Hào đã xây dựng được trang trại tổng hợp, trồng rừng và chăn nuôi gia súc dưới tán rừng, cho hiệu quả kinh tế cao.
Trạm BVR số 2 là một trong 5 trạm và tổ cơ động trực thuộc BQL rừng phòng hộ Lang Chánh. Các trạm BVR đã hỗ trợ tích cực cho người dân trong phát triển nghề rừng. Bà con tham gia các dự án trồng và BVR phòng hộ, rừng sản xuất đã được tổ chức hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc, BVR tận gốc gắn với sản xuất, kinh doanh nghề rừng có hiệu quả; tổ chức tiêu thụ sản phẩm lâm nghiệp cho đồng bào địa phương; ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật BV&PTR...
Trong 5 năm (2007 đến 2011), BQL rừng phòng hộ Lang Chánh đã hướng dẫn kỹ thuật; cung ứng cây giống; tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn trồng mới hơn 1.000 ha rừng, chủ yếu là keo tai tượng Úc thâm canh.
Nhằm giảm dần và chấm dứt tình trạng phá rừng làm nương rẫy, khai thác lâm sản trái phép, Ban QLR phòng hộ Lang Chánh đã giao khoán cho các hộ dân thiếu đất sản xuất ở các xã như Giao Thiện, Tân Phúc, Quang Hiến, Trí Nang... gần 1.800 ha rừng và đất lâm nghiệp; đồng thời hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức cho các hộ trồng mới rừng sản xuất theo hướng thâm canh, bảo vệ an toàn diện tích rừng được giao, bảo vệ, chăm sóc và khai thác rừng trồng đã cho sản phẩm theo quy định.
Nhờ tích cực tham gia trồng và BVR, người dân trong vùng có việc làm tại chỗ, có thêm thu nhập từ tiền nhân công và sản phẩm của rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống. Nhiều gia đình nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp đã tổ chức sản xuất trang trại nông - lâm tổng hợp cho thu nhập cao như hộ ông Ngô Quý Hạnh (xã Trí Nang), ông Lê Xuân Chinh (xã Tân Phúc)...
Với những cách làm hiệu quả nêu trên, toàn bộ diện tích rừng hiện có được bảo vệ, phát triển xanh tốt. An ninh rừng trên địa bàn được giữ vững, độ che phủ rừng của BQL hiện đạt 98%. Những cánh rừng phòng hộ sông Âm và sông Chu ngút ngàn xanh tốt, tài nguyên rừng được quản lý, bảo vệ. Rừng phòng hộ được bảo vệ và phát triển không những phát huy tốt tính năng phòng hộ, bảo vệ tính đa dạng sinh học, đem lại cảnh quan môi trường đẹp cho nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử trên địa bàn như thác Ma Hao, đỉnh Pù Rinh... mà còn có tác dụng cung cấp nước, giữ nước, điều tiết nước, bảo vệ các công trình thủy lợi trong vùng rừng phòng hộ. (Báo Thanh Hoá 17/10)đầu trang(
Huyện Bắc Yên có hơn 40.000 ha rừng. Những năm qua, lực lượng cán bộ kiểm lâm địa bàn có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng, nhờ vậy tỷ lệ độ che phủ của rừng đạt 42%.
Theo anh Lường Mạnh Tùng, cán bộ kiểm lâm địa bàn xã Hang Chú thì muốn giữ và bảo vệ được rừng phải gần dân. Hang Chú có 100% là đồng bào dân tộc Mông, nên anh em đều phải biết tiếng Mông, để trao đổi nắm bắt tâm tư nguyện vọng của bà con, đồng thời tuyên truyền, vận động bà con bảo vệ rừng.
Cùng với đó, cán bộ kiểm lâm phải nắm chắc địa bàn để xây dựng các phương án bảo vệ rừng đạt hiệu quả cao nhất. Bây giờ, ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng được nâng lên, tình trạng phá rừng làm nương giảm hẳn, ai cũng hiểu giữ rừng vừa được Nhà nước hỗ trợ tiền, gạo lại có nước phục vụ sinh hoạt và làm ruộng bậc thang.
Hang Chú là xã có diện tích rừng lớn nhất của huyện và cũng là điểm sáng làm tốt công tác bảo vệ phát triển rừng. Ông Hờ A Dua, Bí thư Đảng uỷ xã, cho biết: Toàn xã có hơn 8.000 ha rừng. Từ khi có kiểm lâm phụ trách địa bàn, xã đã xây dựng, triển khai thực hiện phương án quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) theo phương châm “4 tại chỗ”. Tổ chức kiện toàn và duy trì hoạt động của 10 tổ PCCCR tại bản. Nhờ đó, xã đã thực hiện tốt công tác quản lý rừng và đất lâm nghiệp; triển khai nhiều giải pháp bảo vệ rừng, PCCCR, quản lý lâm sản.
Ngoài ra, kiểm lâm viên địa bàn đã tham mưu cho UBND xã đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật bảo vệ phát triển rừng để người dân chủ động giữ rừng và phát triển rừng; đồng thời, tổ chức cho các hộ ký cam kết bảo vệ rừng. Trao đổi về vấn đề này, ông Đinh Văn Thuấn, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện nói: Hạt Kiểm lâm huyện căn cứ vào thực tế địa bàn, phân công kiểm lâm phụ trách 14 xã, thị trấn. Hàng năm, kiểm lâm địa bàn có nhiệm vụ tham mưu cho UBND các xã xây dựng phương án PCCCR rừng, quản lý bảo vệ rừng đối với diện tích rừng hiện còn, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Cùng địa phương quy hoạch diện tích làm nương rẫy, phối hợp với các ban, ngành đoàn thể của xã kiểm tra việc thực hiện chấp hành mốc giới nương, rẫy.
Điểm nổi bật khi đưa cán bộ kiểm lâm xuống địa bàn là ý thức trách nhiệm của cộng đồng, của chủ rừng, của người dân trong bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng được nâng lên, tố giác kịp thời các đối tượng có hành vi xâm hại tài nguyên rừng giúp lực lượng kiểm lâm xử lý kịp thời. Từ năm 2007 đến nay, 153 tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng trên địa bàn huyện đã tham gia cùng lực lượng kiểm lâm xử lý 429 vụ vi phạm, khởi tố hình sự 20 vụ, xử phạt hành chính nộp ngân sách nhà nước 1,1 tỷ đồng.
Vai trò của kiểm lâm cơ sở Bắc Yên đã và đang phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, diện tích rừng ở Bắc Yên quản lý hơn 40.000 ha, Hạt Kiểm lâm huyện chỉ có 21 biên chế, trong khi theo quy định hiện nay cứ 1.000 ha rừng được bố trí một biên chế kiểm lâm. Mặt khác, địa bàn rộng, địa hình hiểm trở, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn; diện tích rừng hiện còn tập trung ở vùng giáp ranh với các huyện, xa khu dân cư nên khó khăn cho công tác quản lý lâm sản tận gốc. Để quản lý, bảo vệ rừng tốt hơn huyện Bắc Yên mong sớm được bổ sung thêm biên chế cho lực lượng kiểm lâm. (Báo Sơn La 17/10)đầu trang(
Là một địa phương có diện tích tự nhiên rộng, địa hình đồi núi phức tạp, đi lại khó khăn, nhưng trong những năm qua, Pác Nặm luôn là một địa phương có thành tích tốt trong công tác phòng chống cháy rừng của tỉnh Bắc Kạn.
Ngay từ những ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10, mặc dù thời tiết mới chỉ bắt đầu hết mưa ẩm, nhưng các cán bộ Kiểm Lâm huyện Pác Nặm đã tới từng chân lô, từng ngọn đồi để hướng dẫn, tuyên truyền cho người dân về cách chăm sóc rừng trồng cũng như chỉ cho bà con thấy vai trò của việc phòng chống cháy rừng. Bởi khá nhiều người dân ở đây vẫn cho rằng, rừng keo, mỡ sẽ khó cháy, nhất là với rừng mới trồng. Do vậy, cán bộ kiểm lâm phải đến tận nơi, chỉ cho bà con thấy được nguy cơ cháy từ chính các loại thực bì, cây cỏ mà bà con phát dọn dưới gốc.
Là một huyện có diện tích tự nhiên lớn, địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, trong khi đó, lực lượng Kiểm lâm địa bàn còn mỏng, phương tiện chữa cháy còn thiếu, ý thức của nhiều bà con trong việc bảo vệ rừng còn hạn chế, tình trạng đốt nương làm rẫy vẫn còn diễn ra phổ biến. Để có thể bảo vệ được hàng ngàn ha rừng sản xuất cũng như hàng chục ngàn ha rừng tự nhiên, ngay từ đầu tháng 9, UBND huyện cũng đã có kế hoạch và phương án triển khai thực hiện công tác phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô năm 2012 – 2013.
Theo đó, nhiệm vụ cấp thiết chính là cần củng cố, tổ chức xây dựng lực lượng PCCCR tại chỗ, 1 Ban bảo vệ rừng và Phòng cháy chữa cháy rừng (BVR&PCCCR) của huyện và 10 xã cùng 119 tổ BVR&PCCCR đã được kiện toàn, khi có cháy rừng, đây sẽ là lực lượng nòng cốt, bởi với điều kiện địa hình như Pác Nặm, việc huy động quần chúng nhân dân tại chỗ là vô cùng quan trọng. Ngoài ra, việc chủ động phòng cháy luôn được đặt lên hàng đầu, nên huyện đã yêu cầu phân công lực lượng từ huyện đến xã trực 24/24 giờ trong suốt 6 tháng mùa khô.
Ông Tô Văn Thức – Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Pác Nặm cho biết: Công tác phòng cháy chữa cháy rừng trên địa bàn huyện gặp một số khó khăn do địa hình đồi núi dốc, chủ yếu là cỏ gianh, lại không có chòi canh và hồ đập nước nên khi huy động lực lượng đến dập lửa khó.
Tuy vậy, để làm tốt được công tác phòng chống cháy rừng, huyện Pác Nặm cũng xác định, vai trò của công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức Phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân là yếu tố then chốt. Do đó, các cán bộ Kiểm lâm ngoài đi kiểm tra thường xuyên, thì việc đôn đốc, vận động quần chúng nhân dân luôn được các cán bộ ở đây thực hiện tốt. Qua từng năm, ý thức Bảo vệ rừng của người dân cũng đã được nâng cao hơn rất nhiều.
Mùa khô năm 2011 - 2012, Pác Nặm vẫn còn để xảy ra 1 số vụ cháy đồi cỏ gianh, lau lách, tuy không gây thiệt hại lớn nhưng đây vẫn sẽ là những nguy cơ tiềm ẩn đối với hàng ngàn ha rừng của địa phương, do đó, sự vào cuộc tích cực của các ngành chức năng và việc tuyên truyền nâng cao hơn ý thức cho người dân chính là yếu tố quan trọng trong công tác bảo vệ rừng ở đây, qua đó góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinh tế từ rừng cho người dân huyện vùng cao này. (Theo Đài PT – TH Bắc Kạn 18/10)đầu trang(

QUẢN LÝ - SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Đây là thông tin được đưa ra hôm 16.10, tại lễ tổng kết dự án thí điểm điều tra, kiểm kê rừng tại Bắc Kạn và Hà Tĩnh của Bộ NNPTNT.
Theo đó, dự án thí điểm tại Hà Tĩnh, Bắc Kạn đạt được các yêu cầu cơ bản của dự án như: Lập được bản đồ, cơ sở dữ liệu về rừng bằng tài liệu giấy và số hóa. Các số liệu điều tra, kiểm kê được tiến hành bằng biện pháp sử dụng ảnh vệ tinh, các biện pháp tính toán, kết hợp với khảo sát thực tế nên có độ chính xác cao. (Nông Thôn Ngày Nay 17/10)đầu trang(
Chương trình Rừng và đồng bằng VN (giá trị 29 triệu USD) và chương trình Năng lượng sạch VN (giá trị 12 triệu USD) sẽ được Mỹ tài trợ nhằm hỗ trợ các chính sách và chương trình về biến đổi khí hậu của Chính phủ VN thông qua Cơ quan Phát triển quốc tế Mỹ (USAID).
Ngày 17-10, tân giám đốc USAID tại VN Joakim Parker cho biết đây là hai khoản viện trợ không hoàn lại lớn đầu tiên của USAID trong lĩnh vực này, và đều do Công ty Winrock International của Mỹ thực hiện.
Với sự phối hợp của Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên - môi trường và các cơ quan hữu quan phía VN, chương trình này sẽ hỗ trợ việc sử dụng đất nhằm đối phó với tình trạng mất rừng, suy thoái rừng và các cảnh quan khác, cũng như tăng khả năng thích ứng và quản lý rủi ro thảm họa. (Tuổi Trẻ 18/10)đầu trang(
Đó là Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam và Chương trình Năng lượng Sạch Việt Nam với tổng giá trị tài trợ trên 40 triệu USD, được thực hiện trong 5 năm từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2017. Ông Joakim Parker, Giám đốc Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại Việt Nam (USAID) cho biết ngày 17/10.
Chương trình Rừng và đồng bằng Việt Nam sẽ được tài trợ khoảng 29 triệu USD, có sự phối hợp của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và môi trường. Chương trình sẽ hỗ trợ việc áp dụng các thực hành sử dụng đất nhằm đối phó với mất rừng, suy thoái rừng và các cảnh quan khác; tăng khả năng phục hồi của người dân, các khu vực sinh kế ở các vùng đồng bằng thông qua hỗ trợ để tăng khả năng thích ứng và quản lý rủi ro, thảm họa do biến đổi khí hậu.
Chương trình Năng lượng sạch Việt Nam, USAID sẽ đóng góp khoảng 12 triệu USD nhằm khai thác các cách thức thu nhập, quản lý, phân tích và sử dụng các số liệu ngành năng lượng và thúc đẩy hiệu suất năng lượng trong các lĩnh vực sử dụng nhiều năng lượng với sự phối hợp của Bộ Công thương, Bộ Xây dựng và các cơ quan hữu quan khác. Chương trình cũng sẽ khuyến khích đầu tư nhà nước và tư nhân trong việc thử nghiệm và phát triển các công nghệ năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng có ích cho Việt Nam trong những năm tới.
Được biết, từ năm 2000 đến nay, USAID đã hỗ trợ gần 600 triệu USD cho các hoạt động phát triển và cứu trợ tại Việt Nam như Chương trình hỗ trợ những người dễ bị tổn thương (người khuyết tất, nhóm dân tộc thiểu số, nạn nhân của thiên tai và nạn nhân của buôn bán người); Chương trình làm sạch chất độc da cam ở Đà Nẵng, Biên Hòa và Phù Cát; Chương trình phòng và kiểm soát cúm gia cầm và đại dịch cúm; Chương trình phòng, chống HIV/AIDS…Tuy nhiên, Chương trình Rừng và Đồng bằng Việt Nam và Chương trình Năng lượng Sạch Việt Nam là hai khoản tài trợ lớn đầu tiên của USAID trong lĩnh vực biến đổi khí hậu. (Đất Việt 17/10)đầu trang(
Tại một trong những vùng dân cư ven sông Đồng Nai mạn hạ du địa điểm dự kiến làm hai công trình thủy điện Đồng Nai 6&6A, hầu hết các cư dân được hỏi đều lo ngại văn hóa bản địa của họ lại thêm nguy cơ bị mai một; và bản thân họ chưa hề thấy ai đến hỏi ý kiến về dự án thủy điện Đồng Nai 6&6A.
Trả lời mới đây trên trang chủ của Bộ Tài nguyên&Môi trường, Cục Thẩm định&Đánh giá Tác động Môi trường đề cập sâu đến tộc người Châu Mạ, cho rằng “tác động của dự án đến văn hóa của dân tộc Mạ là không đáng kể”, và rằng “sự lai tạp do đồng bào các dân tộc khác ít nhiều cũng đã làm mai một các hệ tri thức bản địa của dân tộc Mạ”.
Đánh giá này nhắm đến cộng đồng người Châu Mạ 1.500 khẩu ở xã Đồng Nai Thượng (huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng), cách địa điểm dự kiến làm thủy điện Đồng Nai (ĐN) 6 khoảng năm cây số.
Không thấy Cục nhắc đến các cộng đồng dân tộc Châu Mạ khác sống dọc sông Đồng Nai kể từ địa điểm dự kiến làm thủy điện về hạ lưu. “Sẽ là sai lầm nếu đơn giản nhận định văn hóa các cộng đồng bản địa dọc sông Đồng Nai đã bị mai một và thủy điện ĐN 6&6A không ảnh hưởng gì đến bản sắc đã bị phai mờ này ”.
ThS Lâm Thị Thu Sửu – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Xã hội (CSRD), nói. “Càng sai lầm nếu cho rằng đồng bào vùng hạ lưu không bị ảnh hưởng”.
Phóng viên Tiền Phong đã đến một trong những nơi không được Cục và nhóm tư vấn làm báo cáo đánh giá tác động môi trường thủy điện ĐN 6&6A quan tâm. Các phát hiện ban đầu cho thấy khác xa với nhận định ở báo cáo.
Nằm trong vùng đệm, áp sát Vườn Quốc gia Cát Tiên và cũng áp sát sông Đồng Nai, xã Tà Lài là một trong những khu dân cư ven sông Đồng Nai đầu tiên ở vùng hạ du chịu tác động của dự án thủy điện ĐN 6&6A.
Sự di cư đến của đồng bào 10 dân tộc khác (từ các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông sang và từ phía bắc vào) quả thực “ít nhiều làm mai một các hệ tri thức bản địa của dân tộc Mạ”.
Năm 1978, khi rừng cấm Cát Tiên thành lập, người Châu Mạ sống rải rác trong rừng được vận động ra định canh định cư tại Ấp 4, xã Tà Lài. Văn hóa Sa Huỳnh của người Châu Mạ gắn bó hàng nghìn năm với rừng Cát Tiên.
Tách khỏi rừng là tách họ ra khỏi cái nôi hình thành và nuôi dưỡng văn hóa đó. Vậy mà tận mắt chứng kiến mới thấy văn hóa Châu Mạ vẫn chảy cuồn cuộn trong tâm thức họ dù hầu hết không còn khoác trang phục dân tộc truyền thống nữa, và dù tuổi đời của họ đều còn rất trẻ.
Ka Riền sinh năm 1972 khoe với tôi một bộ sưu tập hơn 20 ảnh rất quý. Năm ngoái, một người tên là Nicolas Vidal mang bộ ảnh này đến tặng lại gia đình chị. Đây là bộ ảnh chụp từ đầu thế kỷ 20 về tập tục sinh hoạt của người Châu Mạ.
Ông người Pháp cầu kỳ đến mức, năm 2008, tiền trạm đến vùng Châu Mạ này hỏi kỹ xem tộc Châu Mạ ở Tà Lài là tộc nào để ông về nước chọn tặng bộ ảnh phản ánh đúng tập tục của tộc đó.
Người Mạ phân bố nhiều nhất ở tỉnh Lâm Đồng với 31.869 khẩu, chiếm 77% tổng số người Mạ. Nhiều thứ hai là ở tỉnh Đăk Nông với 6.456 người. Đồng Nai đứng thứ ba với 2.436 người. Và ít nhất là tỉnh Bình Dương với 432 người.
Phần lớn nhóm người Mạ này đều nằm ở vùng bị ảnh hưởng bởi các công trình thủy điện đang vận hành và hai dự án thủy điện ĐN 6&6A do họ chủ yếu định cư ven sông Đông Nai.
“Quá nhiều thủy điện trên sông Đồng Nai dẫn đến phá nhiều rừng hai bên bờ. Dân tộc Mạ mất dần chỗ dựa của mình. Tôi mong các bức ảnh này sẽ khiến các cán bộ thủy điện nghĩ lại”, Ka Riền nói với giọng tha thiết.
Ka Thị Hương sinh năm 1991 cũng là người Châu Mạ chính hiệu. Cách đây 2-3 năm, ngay tại Ấp 4, xã Tà Lài này, một bác sỹ thú y nước ngoài ngỏ lời yêu Ka Hương. Anh tên là Leech ở Trung tâm Cứu hộ Pingtung thuộc Đại học Pingtung, Đài Loan. Ka Hương từ chối vì không muốn xa quê nghèo khổ của mình. “Con chưa lo được cho gia đình. Cũng thấy vẫn còn sớm” Ka Hương nói.
Ka Hương kể vanh vách lịch sử dệt thổ cẩm, ý nghĩa các họa tiết thổ cẩm của người Châu Mạ. Mỗi họa tiết, màu sắc trên tấm thổ cẩm là sự tích và tượng trưng cho các thần linh như thần mặt trời, thần sông thần suối, thần rừng, thần lúa, thần lửa, thần nhà.
“Thần rừng có hình màu xanh dệt hình thoi, xung quanh có các viền nhỏ tượng trưng cho cây cối và các con vật. “Con yêu thiên nhiên, yêu rừng lắm”, Ka Hương thổ lộ. “Thần nhà là một nhà sàn thêu trên thổ cẩm, cám ơn thần ban một nơi ở cho gia đình, cho sự ấm áp và hạnh phúc. Thần mặt trời soi sáng cho mọi người. Trên hình thổ cẩm là hình tròn. Thần lửa thêu màu đỏ, giúp nấu cơm, sưởi ấm. Thần lúa thể hiện bằng màu vàng giúp hạt ngọc. Thần sông màu tối”.
Ka Hương còn kể chuyện thần núi (yang bre) to to ở bên kia Ấp 4. “Ngày xưa là núi lửa. Nay có hang gọi là Hang Dơi. Nếu ai sống hiền, thần ban cho của ăn đầy đủ. Năm nào cũng làm lễ hội cũng tế”, Ka Hương nói tiếp. “Con nghe bà và mẹ kể từng nhìn thấy thần rồi đó. Thủy điện phá rừng, chặt sông làm nhiều khúc, thế nào thần cũng nổi giận”.
Hỏi có muốn thấy thêm thủy điện trên sông Đồng Nai không, Ka Hương bảo “Không. Thêm thủy điện là bớt rừng. Hồi đi học trong thành phố, con thấy nhiệt độ trong thành phố nóng hơn, ít mát hơn, ít trong lành hơn”.
Còn theo Ka Riền, mấy năm trước, thủy điện đã ảnh hưởng cuộc sống ở đây nhiều. Không chỉ gia đình chị mà nhiều gia đình khác nữa.
“Nước ngập chỗ này chỗ kia thì biết đi đâu mà rời. Hồi nào tới giờ sống ở đây quen rồi”, Ka Riền kể. “Ông bà tổ tiên sống mãi ở đây. Di dời đến chỗ khác lạ nước, lạ cái, lạ chỗ. Sát VQG Cát Tiên lắm rồi. Chẳng nhẽ lũ lụt đuổi, người Châu Mạ lại vào Cát Tiên phá rừng thêm nữa? Như thế là giết dân, giết rừng đó. Như thế là không giết bằng súng bằng rìu mà giết bằng thiên tai đó. Lấy đâu ra đất mà đi nữa đây?”.
Ka Niệu sinh năm 1976 than thở: “Lại thêm hai cái thủy điện này nữa, rừng chắc không chịu nổi nữa. Không sống nổi. Ai cũng nghèo hết. Nhà nước xây cái nhà cho ở. Nhưng nhà nước có nuôi nổi bà con qua năm suốt tháng được đâu. Nhà nước nuôi cả Làng chắc?”,
Lặn lội đường nhầy nhụa sang Ấp 7 nằm sát sông Đồng Nai – nơi chủ yếu có đồng bào Tày sinh sống, tôi cũng nghe không ít tiếng than về thủy điện.
Người Tày di cư từ các huyện Trùng Khánh, Hạ Lang (Cao Bằng), Ngân Sơn (Bắc Kạn) vào sinh sống tại Ấp 7 từ năm 1984 đến năm 1994. Người Tày ở đây còn duy trì lễ Lồng Tổng, lễ Tung vào những dịp đầu năm.
Chị Hoàng Thị Thỏa sinh năm 1966, dân tộc Tày, cho hay, chưa bao giờ thấy cán bộ về ấp nói thủy điện ĐN 6&6A. Mọi người chỉ nghe qua báo đài thì thấy sợ lắm nhưng không biết phản ánh với ai.
“Chúng tôi chịu cực khổ vì thủy điện nhiều lắm rồi. Hồi trước, thấy chuẩn bị làm đập Thác Ngang ở đồi Cà Đăn, bà con không đồng ý nên không làm đập ấy được. Nay họ làm ở tận trên kia sông, làm sao biết mà can ngăn”. (Tiền Phong 18/10)đầu trang(
Thời gian gần đây, một số báo, Đài Trung ương phản ánh về việc tỉnh Tây Ninh cắt 365ha đất rừng phòng hộ Dầu Tiếng ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp để làm vùng khai thác khoáng sản phục vụ cho dây chuyền 2 Nhà máy ximăng Fico, sẽ ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và an toàn của hồ Dầu Tiếng.
Giải trình về vấn đề này, Chủ tịch tỉnh Tây Ninh Nguyễn Thị Thu Thủy đã có Văn bản số 208/BC-UBND ngày 15/10 báo cáo Thường trực Tỉnh ủy và Hội đồng Nhân dân tỉnh.
Tóm tắt nội dung Văn bản như sau: Việc quy hoạch 365 ha đất khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp giai đoạn 2011-2020 là thực hiện các Quyết định quy hoạch của Chính phủ. Cụ thể là Quyết định số 1065/QĐ-TTg, ngày 9/7/2010 của Thủ tướng về việc phê duyệt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch, thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản làm ximăng ở Việt Nam đến năm 2020 có chỉ rõ vị trí ba mỏ ở Tây Ninh gồm mỏ Sroc Con Trăng, mỏ Chà Và và mỏ Sroc Tâm (thuộc khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng), được khai thác để cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy ximăng Tây Ninh.
Trên cơ sở đó, tỉnh Tây Ninh có Tờ trình Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa VIII, kỳ họp thứ 4 thông qua Nghị quyết về Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2011-2020; trong đó đưa ra ngoài quy hoạch 365ha rừng phòng hộ Dầu Tiếng để phục vụ việc thăm dò, khai thác khoáng sản cho dự án dây chuyền 2 nhà máy ximăng Fico.
Hiện số diện tích rừng kể trên vẫn còn nguyên hiện trạng, tỉnh chưa giao cho Công ty Cổ phần ximăng Fico Tây Ninh mà vẫn do Ban quản lý khu rừng phòng hộ Dầu tiếng thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý theo trạng thái rừng hiện có.
Theo Chủ tịch tỉnh Tây Ninh, thời gian sắp tới, muốn sử dụng diện tích đất này để khai thác khoáng sản, Công ty Cổ phần ximăng Fico Tây Ninh phải có dự án thiết kế, đánh giá tác động môi trường… được các bộ, ngành Trung ương, các tổ chức khoa học thẩm định. Khi đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh mới trình Hội đồng Nhân dân tỉnh trước khi báo cáo các bộ, ngành Trung ương, Chính phủ và Quốc hội xem xét, quyết định. Lúc này Ủy ban Nhân dân tỉnh mới tiến hành các thủ tục giao đất.
Tỉnh Tây Ninh cho biết thêm, hiện Khu rừng phòng hộ Dầu tiếng có diện tích 29.555ha, nên đưa ra ngoài quy hoạch có 365ha, chỉ chiếm 1%, đồng thời diện tích này ở khá xa thượng nguồn, không ảnh hưởng gì đến hồ Dầu Tiếng. (VietnamPlus.vn 17/10)đầu trang(
Từ đầu năm đến ngày 12-10-2012, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện trồng mới 120 ha rừng, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2012 do UBND tỉnh giao.
Ngoài tập trung trồng mới và chăm sóc gần 500 ha rừng sản xuất và rừng phòng hộ trồng trong các năm vừa qua, Ban Quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, bảo vệ gần 10.000 ha rừng hiện có. Do chủ động phát hiện sớm và triển khai kịp thời các biện pháp phòng, trừ sâu róm hại rừng thông, hiện nay 2.500 ha rừng thông thuần loài của huyện Tĩnh Gia đã được bảo vệ an toàn, cây thông đã xanh tốt trở lại. (Báo Thanh Hoá 17/10)đầu trang(
Là một trong năm xã vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Bà, Phù Long vốn là xã thuần nông với nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản, đời sống người dân nơi đây không những khó khăn, mà còn thường phải đối mặt với nguy cơ thiệt hại về tài sản, tính mạng nơi đầu sóng. Quản lí gần 700ha rừng ngập mặn và bãi triều trong 2.300ha rừng ngập mặn của Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, người dân của vùng rừng này đã tìm được nguồn sinh kế mới từ chính những "lá phổi xanh" trên biển.
Trước đây, trong cơn lốc phá rừng làm đầm nuôi tôm nước mặn, một diện tích rất lớn rừng ngập mặn ở Phù Long bị chặt hạ. Qua một thời gian dài, những hệ lụy của việc ồ ạt chạy theo cái lợi trước mắt đã khiến người dân nơi đây điêu đứng, đồng thời đối mặt với thực trạng nguồn sống từ thiên nhiên dần cạn kiệt. Việc khôi phục lại các khu rừng ngập mặn này trở nên vô cùng cấp thiết nhưng cũng là việc làm hết sức khó khăn, đòi hỏi công sức, tiền bạc và cả thời gian.
Nhiều năm qua, chính sách hỗ trợ người dân tham gia nhận khoán trồng và bảo vệ rừng đã mang lại cho người dân Phù Long nói riêng và Cát Bà, Cát Hải nói chung nhiều lợi ích đáng kể. Bất cứ công dân bình thường nào ở Phù Long cũng có thể kể ra những lợi ích thiết thực từ việc bảo vệ và trồng mới rừng như: Được nhận tiền trông coi hàng năm; bảo vệ được các đê bao của đầm, hồ nuôi thủy sản vững chắc; tạo môi trường cho các loại thủy sinh về trú ngụ, sinh sản; bảo vệ bờ biển và hệ thống đê khỏi bị xói lở do triều cường, đảm bảo an toàn cho đời sống của các hộ dân trong đê.
Chủ tịch UBND xã Phù Long Bùi Thị Tĩnh cho biết, từ khi dự án giao khoán cho hộ dân trong xã tham gia trông coi và trồng mới rừng ngập mặn, người dân đã tích cực tham gia. Mỗi ha rừng, người dân được Nhà nước trả tiền trông coi từ 50.000-100.000đồng/năm, tùy theo từng loại rừng trồng hay rừng tự nhiên. Sau ba năm, nhiều hộ có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm từ việc nhận bảo vệ hàng chục ha rừng kết hợp nuôi tôm, cua quảng canh.
Qua mỗi lần triều cường rồi triều rút, những cây sú, cây bần lại vươn cao hơn trên đất mặn, rễ đan rễ giữ đất ở lại với người. Và khi những dải xanh ngăn ngắt bao quanh những bãi triều ven chân đảo, lá rừng vươn cao đón nắng điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường, rễ cây cắm sâu chắn sóng, ngăn nước mặn xâm nhập thì cũng là lúc tôm cá trở về với biển lành, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học cho hệ động - thực vật ven biển, Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Cát Bà.
Khi những "bức tường xanh" đã vững vàng trước biển, dự án "Nâng cao khả năng thích ứng của các khu dự trữ sinh quyển ven biển Việt Nam thông qua tăng cường quản lý tài nguyên thiên nhiên và hỗ trợ phát triển bền vững sinh kế cho người dân ven biển" do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD) chủ trì đã tạo đà cho một số chiến lược sinh kế thích ứng, trong đó, đặc biệt phải kể đến mô hình du lịch sinh thái cộng đồng.
"Với mô hình này, người dân Phù Long đã xác định đây là một trong những nguồn thu nhập chính với phương châm "Phát triển để bảo tồn, bảo tồn để phát triển" - Anh Vũ Hồng Hưng, Tổ trưởng Tổ du lịch sinh thái cộng đồng Phù Long khẳng định. Nằm trên tuyến đường xuyên đảo nối thị trấn Cát Hải với Cát Bà, Phù Long đã trở thành một điểm dừng chân lí thú đối với du khách.
Nếu nói ở nơi đây, nhà nhà, người người làm du lịch thì cũng không sai, bởi mô hình tổ, nhóm dịch vụ du lịch "cây nhà lá vườn" có sự tham gia đông đảo của mọi thành phần, lứa tuổi. Họ được chia thành các nhóm như văn nghệ, nhà nghỉ, nấu ăn, hướng dẫn viên du lịch, vận chuyển khách du lịch... Nhóm nhà nghỉ là những hộ có trách nhiệm bố trí khách về nghỉ tại nhà mình. Tất nhiên là sẽ không có phòng ngủ hiện đại, cao tầng mà chính là những căn nhà đủ kiểu từ ba gian lợp ngói nam, nhà ống, nhà gỗ. Điều hoà nhiệt độ ở đây thành thừa vì thiên nhiên dễ chịu và tinh khiết đến ngạc nhiên.
Việc chế biến các món ăn dân dã từ sản vật địa phương cho các bữa ăn là vai trò của nhóm nấu ăn. Canh hà nấu chua, bông thùa xào rau cần, cua đá rang lá lốt, phi phi hấp chấm nước mắm Cát Hải, bề bề luộc sả... toàn những món chỉ nghe đã tứa nước miếng ấy sẽ được đặt trên chiếu hoa trải giữa sân rộng. Đã có gió biển chờ hầu quạt, sóng biển ì ầm hát ru, còn chờ gì mà không xếp bằng bên những người bạn mới mà thưởng thức quà của biển.
Còn trong suốt hành trình của tour, bạn sẽ được ngồi xuồng chạy giữa những tán rừng ngập mặn; chiêm ngưỡng đầm Áng Dài tuyệt đẹp và chờ gặp "những người bạn" voọc đầu trắng nằm trong Sách đỏ; thăm các hang động kì thú như hang Mả Treo, động Thiên Long... Tất nhiên, hướng dẫn viên cho bạn chính là những cư dân Phù Long, giọng còn khê nồng sau chuyến biển. Họ sẽ kể cho bạn nghe từ truyền thuyết khai thiên lập địa đến chuyện đảo Cát đang thay đổi từng ngày. Và bạn sẽ dễ dàng nhận ra rằng không ai thích hợp với vai trò này hơn họ.
Những con người trước đây từng quay lưng lại với rừng, giờ trở thành những tuyên truyền viên tích cực nhất. Mới đây, họ đã cùng MCD và Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà, Ban quản lý Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà tổ chức chuỗi sự kiện truyền thông cộng đồng kết hợp với lễ hội đình làng Phù Long như biểu diễn văn nghệ, triển lãm về biến đổi khí hậu và sinh kế thích ứng, đã thu hút được sự quan tâm, tham gia của đông đảo người dân địa phương.
Rừng không chỉ che chắn cho con người trước mỗi đợt cường triều hay bão biển, rừng còn đem lại cho họ một cuộc sống mới dễ chịu hơn. Đến với Phù Long, bạn sẽ gặp những chủ nhân hiếu khách của vùng đất này - những người đã biết dựa vào thiên nhiên để tạo dựng sinh kế bền vững cho mình và các thế hệ sau. (Biên Phòng 17/10)đầu trang(
Các địa phương miền núi đang tất bật triển khai dọn đất, phân bón, cây giống, thuê nhân công cho mùa trồng rừng mới. Đặc biệt, lần đầu tiên các huyện Bắc Trà My, Hiệp Đức có phương án cụ thể phủ xanh đất trống đồi trọc...
Hiện trên địa bàn xã Quế Bình, có hàng chục vườn ươm cây giống, từ cung cấp nhỏ lẻ đến số lượng cây lớn đủ đáp ứng cả hàng chục héc ta. Công ty TNHH một thành viên Đức Tuyên đã đầu tư vườn ươm diện tích rộng hàng nghìn mét vuông tại vườn ươm số 1, xã Quế Bình. Năm nay, doanh nghiệp này đầu tư hàng trăm nghìn cây giống phục vụ cho người trồng rừng của huyện Hiệp Đức và vùng lân cận.
Những năm trước, hầu hết dự án trồng rừng đều đặt hàng cây giống từ các vườn ươm của các nông - lâm trường, nhưng bây giờ người trồng rừng đã tiết kiệm được chi phí đầu tư từ mô hình vườn ươm gia đình. Theo ngành nông nghiệp huyện Hiệp Đức, số tiền hỗ trợ hơn 1 tỷ đồng mua cây giống trồng rừng năm 2012 hiện đã đến tay người dân. Thời gian qua, từ cơ chế khuyến khích người dân trồng cao su tiểu điền của địa phương, nhân dân đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư vườn ươm, trồng rừng.
Tại Bắc Trà My, các cơ sở ươm cây giống đạt chất lượng đáp ứng kế hoạch trồng rừng năm 2012 đã được chuẩn bị rất sớm. Chỉ riêng dự án trồng rừng WB3, chủ dự án đã có sẵn 780 nghìn cây giống đạt tiêu chuẩn sẽ phủ xanh 500ha rừng trồng theo kế hoạch đã giao trong năm nay. Thời điểm này, có 102 hộ trên địa bàn Bắc Trà My trồng hơn 174ha theo dự án WB3. Ngoài ra, Công ty TNHH một thành viên Cao su Nam Giang đã chuẩn bị 214 nghìn cây giống cho kế hoạch trồng 400ha cây cao su. Ngành nông nghiệp huyện cũng hợp đồng với các cơ sở gieo ươm hơn 55 nghìn cây giống đủ sức phủ xanh diện tích 100ha.
Ông Nguyễn Hồng Vương - Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện khẳng định: “Bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, các đơn vị và người dân sẽ gieo ươm, trồng mới 674ha rừng năm 2012, vượt kế hoạch 74ha. Với các cơ sở vườn ươm hiện có, chúng tôi quả quyết thừa sức phục vụ nguồn cây giống tại chỗ”.
Những rừng cao su bạt ngàn ở Sông Trà, Quế Bình, Quế Lưu (Hiệp Đức) bây giờ đã có chủ là nông dân. Vườn cao su của các hộ Võ Đình Trung, Phạm Ngọc Minh, Lê Văn Trung (xã Quế Bình), Trần Hùng, Võ Thị Mai (xã Sông Trà)... đang sinh trưởng, phát triển tốt, sắp tuôn dòng nhựa trắng. Đến nay, 12/12 xã, thị trấn của huyện Hiệp Đức đã, đang triển khai trồng cao su. Theo thống kê của Phòng NN&PTNT huyện, đầu mùa mưa nhưng địa phương đã trồng mới 35ha, nâng tổng diện tích trồng cao su tiểu điền toàn huyện lên đến 1.195ha.
Ông Đào Bội Thuyên - Chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức cho biết, giá trị kinh tế mà cây cao su đem lại là điều không bàn cãi, nhưng địa phương sẽ không phát triển tràn lan hoặc chạy theo số lượng nếu chưa nắm bắt đầy đủ kỹ thuật cần thiết. Chủ trương chung của huyện là quy hoạch khoa học từng vùng, tính toán lợi ích hài hòa giữa các cây trồng. Địa phương đã, đang chuyển đổi 500ha đất rừng nghèo sang đất trồng cao su; sắp đến sẽ tổ chức hội thảo nghiên cứu mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã cao su, tập huấn kỹ thuật trồng nhằm mục đích liên kết người dân.
Đi sau các địa phương khác nên Bắc Trà My có thời gian học hỏi kinh nghiệm để trồng cây cao su, bên cạnh các loại cây trồng khác. Dù chưa có hiện tượng phá rừng tự nhiên để trồng rừng cao su, nhưng không loại trừ tình trạng này sẽ tái diễn trong thời gian đến. Quan điểm của huyện là, nơi nào chưa xác lập, còn “mơ hồ” về ranh giới giữa 3 loại rừng đặc dụng, phòng hộ và sản xuất thì chưa triển khai trồng cao su.
Ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh đã từng cảnh báo về thực tế không ít địa phương miền núi đã vẽ được bản đồ quy hoạch vùng trồng cao su, trồng rừng sản xuất nhưng chưa xác lập cụ thể, rõ ràng trạng thái rừng nghèo, rừng giàu. Đây là hệ lụy làm tái diễn tình trạng phá rừng để trồng rừng.
“Do vậy, việc trồng cây gì, mở rộng diện tích bao nhiêu bắt buộc phải tuân thủ quy hoạch. Phá vỡ quy hoạch là hỏng, sẽ đi ngược với sự phát triển bền vững ở miền núi” - ông Quang khẳng định. (Báo Quảng Nam 18/10)đầu trang(
Năm 2012, thực hiện Dự án trồng rừng 147, huyện Chợ Đồn có kế hoạch trồng 2.000ha rừng. Mặc dù tổng diện tích thiết kế toàn huyện thực hiện được trên 2.000ha, tuy nhiên diện tích trồng trên thực tế chỉ thực hiện được 1.330ha. Trong tổng số 1.330ha rừng trồng mới, diện tích trồng mỡ chiếm trên 97% với khoảng 1.300ha, còn lại là diện tích trồng keo.
Trong số những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến công tác trồng rừng năm 2012 có nguyên nhân chủ quan từ sự thiếu quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của chính quyền một số địa phương. Bên cạnh đó, do một số hộ gia đình không có đủ nhân lực, nên một số diện tích thiết kế từ năm 2011 chuyển sang thực hiện năm 2012 không thể tiến hành xử lý thực bì. Mặt khác, tình hình sâu ong hại mỡ vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn khả năng bùng phát và gây hại cao cũng là nguyên nhân khiến người dân không còn mặn mà với việc trồng rừng.
Năm 2013, theo kế hoạch huyện Chợ Đồn được giao thực hiện trồng mới 2.000 ha rừng. Để có thể thực hiện được chỉ tiêu kế hoạch đề ra, ngay từ tháng 8/2012, Ban Quản lý Dự án 147 của huyện đã chủ động triển khai các hoạt động tuyên truyền về cơ chế, chính sách hỗ trợ cho các gia đình, cá nhân, tổ chức tham gia trồng rừng; phát tờ rơi, mẫu đơn vận động trồng rừng đến tận thôn, bản để nhân dân đăng ký trồng rừng. Bên cạnh đó, Ban Quản lý dự án 47 của huyện cũng đã chủ động liên hệ địa điểm gieo ươm cây con và ký hợp đồng với các chủ vườn ươm trên địa bàn huyện.
Tính đến cuối tháng 9/2012, tổng diện tích đăng ký trồng rừng trên địa bàn huyện là 1.693,89ha, trong đó người dân đăng ký trồng trên 1600ha cây mỡ, 78,25ha cây keo. Hiện nay, Ban Quản lý dự án 147 của địa phương đã chuẩn bị đủ hạt giống và túi bầu để phục vụ cho công tác gieo ươm. Theo kế hoạch, toàn huyện phấn đấu thiết kế ngoại nghiệp xong trước tháng 1/2013. (Báo Bắc Kạn 17/10)đầu trang(
Hiện toàn tỉnh đã trồng gần 1.000ha rừng tập trung trên tổng số 4.785ha. Chi cục Lâm nghiệp tỉnh đang tích cực đôn đốc các chủ vườn ươm bón thúc cây giống, chuẩn bị xuất vườn phục vụ trồng rừng năm 2012 đảm bảo hoàn thành theo kế hoạch.
Theo Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN-PTNT Phú Yên), tổng lượng cây giống tại các vườn ươm trong tỉnh hiện có hơn 5,8 triệu cây, keo và bạch đàn chiếm gần 4,8 triệu cây, còn lại là nhóm giống cây gỗ lớn như sao đen, xà cừ và phi lao. Trong đó, các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng gần 300.000 cây; các cơ sở sản xuất kinh doanh giống hơn 2,1 triệu cây; vườn ươm hộ gia đình gần 3,4 triệu cây, phần lớn cung cấp cho dự án KFW6.
Với lượng cây giống trên, đảm bảo trồng mới 4.785ha rừng tập trung theo kế hoạch, tăng hơn 1.200ha so với năm 2011. Đến thời điểm này các địa phương đã trồng được gần 1.000ha nhưng do thiếu vốn nên năm nay không tổ chức trồng rừng phòng hộ, đặc dụng, mặc dù kế hoạch đưa ra từ đầu năm sẽ trồng 250ha.
Là địa phương có diện tích rừng trồng lớn nhất tỉnh, tuy mới vào mùa trồng rừng nhưng huyện Đồng Xuân đã trồng được hơn 140ha trên tổng diện tích 2.000ha và 2 triệu cây phân tán theo kế hoạch. Địa phương này đang tiếp tục phát dọn thực bì, đào hố chuẩn bị trồng thêm 582ha rừng tại các xã Xuân Lãnh, Xuân Quang 1, Xuân Quang 2, Xuân Quang 3 và Xuân Phước. Các địa phương còn lại đang chờ phê duyệt hồ sơ thiết kế để tiếp tục trồng rừng tập trung, bảo đảm tiến độ đề ra.
Theo kế hoạch, năm 2012 huyện Sơn Hòa phấn đấu trồng khoảng 400ha rừng tập trung. Ông Đào Duy Linh, Trưởng phòng NN-PTNT huyện cho biết, đơn vị đang đôn đốc các tổ chức, cá nhân phát dọn thực bì, chuẩn bị cây giống, chờ thời tiết thuận lợi sẽ đồng loạt trồng rừng; đồng thời phối hợp với các ngành liên quan khảo sát diện tích đất lâm nghiệp để xin bổ sung quy hoạch chi tiết vùng trồng rừng kinh tế của Công ty cổ phần Trường Thành Xanh 553ha tại các tiểu khu 146, 147, V3.1, thuộc địa bàn xã Phước Tân.
Ông Phạm Ngọc Minh, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh cho biết, ngành đang đôn đốc các đơn vị trồng rừng chủ động nguồn lực nhân công, vật tư và vốn để triển khai trồng rừng tập trung; kiểm tra vườn ươm và cấp giấy chứng nhận nguồn gốc giống cây con cho các đơn vị sản xuất giống phục vụ trồng rừng; ưu tiên các hộ gia đình, cá nhân có hoàn cảnh khó khăn trồng rừng sản xuất, cây phân tán trên đất trống, đồi núi trọc theo quy định; đồng thời triển khai thực hiện Dự án quy hoạch hệ thống rừng giống, vườn giống của tỉnh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ngay sau khi được UBND tỉnh phê duyệt.
Theo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh, hiện vẫn chưa có thông tư hướng dẫn Quyết định số 57 ngày 9/1/2012 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 để địa phương làm cơ sở áp dụng thực hiện; nguồn vốn đầu tư cho phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng chưa đảm bảo theo yêu cầu thực tế, vì vốn cân đối của trung ương hiện chỉ có 15 triệu đồng/ha, trong khi đó vốn hỗ trợ của địa phương không có. Trên thực tế, công tác này đòi hỏi phải đầu tư khoảng 30-35 triệu đồng/ha/4 năm mới đảm bảo yêu cầu, do trồng rừng ngày càng xa khu dân cư, chưa có hệ thống giao thông.
Mặt khác, hiện quy hoạch kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, xã chưa được lập; các dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo các quyết định 147/2007 và 66/2012 của Thủ tướng chưa có, gây khó khăn trong xây dựng kế hoạch trung hạn bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh giai đoạn 2013-2015; công tác giao đất, giao rừng cho các tổ chức chưa hoàn thiện; diện tích đất lâm nghiệp và đất có rừng tự nhiên do UBND cấp xã quản lý tương đối nhiều, nhưng gần như chưa có chủ thực sự; quỹ bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, xã chưa được hoàn chỉnh nên chưa huy động được các nguồn thu từ dịch vụ môi trường, khai thác rừng trồng… để hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Từ những vướng mắc, tồn tại trên, theo ông Phạm Ngọc Minh, các bộ, ngành Trung ương cần xem xét, bố trí đủ vốn đầu tư phát triển rừng phòng hộ, đặc dụng, đảm bảo rừng trồng sau kết thúc đầu tư đạt hiệu quả thành rừng và phát huy hết chức năng. Bên cạnh đó, Bộ NN-PTNT sớm ban hành thông tư hướng dẫn Quyết định số 57 ngày 9/1/2012 của Thủ tướng, phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 để các địa phương có cơ sở áp dụng thực hiện.
Cụ thể, hướng dẫn thành lập các Ban quản lý dự án cơ sở và cơ chế điều hành dự án; tổ chức tập huấn, hướng dẫn cơ chế triển khai thực hiện, thanh quyết toán dự án cũng như các hoạt động kiểm tra, giám sát cho các chủ đầu tư; sớm thông qua dự thảo cơ chế hưởng lợi từ rừng phòng hộ, đặc dụng và những cơ chế chính sách liên quan đến việc định giá rừng, cho thuê rừng để các chủ đầu tư có cơ sở triển khai thực hiện…
Phấn đấu năm 2013, Phú Yên trồng mới 581ha rừng đặc dụng, 2.500ha rừng sản xuất và 1.042ha rừng trồng sau khai thác; đầu tư hai dự án rừng đặc dụng Đèo Cả và Krông Trai; xây dựng vườn ươm cây giống có diện tích 10.000m2 và 4km đường lâm nghiệp… (Báo Phú Yên 18/10)đầu trang(
Tình trạng lâm tặc tấn công cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Bình ngày càng nhiều với tính chất ngày càng nghiêm trọng. Tuy nhiên, điều lạ là các cơ quan bảo vệ pháp luật lại vào cuộc điều tra thiếu kịp thời, thậm chí còn nương nhẹ khi xử lý.
Theo đánh giá của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, từ đầu năm 2011 đến nay đã có 24 vụ chống người thi hành công vụ với tính chất ngày càng phức tạp. Lâm tặc thường tổ chức đông người tham gia vận chuyển lâm sản trái phép để khi bị phát hiện sẵn sàng cản trở, chống trả quyết liệt lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng ở các lâm trường, ban quản lý rừng phòng hộ. Nhiều vụ lâm tặc dùng dao, rựa, gậy gộc, đá, thậm chí cả mìn, bộc phá… chống trả quyết liệt để tẩu tán tang vật, phương tiện.
Địa bàn xảy ra nhiều vụ chống người thi hành công vụ là các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch và Lệ Thủy. Riêng tháng 4/2011, đã xảy ra nhiều vụ uy hiếp lực lượng bảo vệ rừng có tổ chức, băng nhóm.
Ngày 20/4/2011, khi lâm tặc vận chuyển gỗ trái phép theo đường khe suối thượng nguồn huyện Bố Trạch thì bị lực lượng bảo vệ rừng của Chi nhánh Lâm trường Bố Trạch tổ chức lực lượng ngăn chặn. Lâm tặc đã dùng dao, rựa, lao xeo bằng gỗ... chống trả quyết liệt khiến Trạm trưởng và 2 nhân viên bảo vệ rừng bị thương nặng phải nhập viện điều trị.
Đặc biệt, lâm tặc còn táo tợn tổ chức băng nhóm đón đường đánh đập, uy hiếp lực lượng bảo vệ rừng hoặc lợi dụng đêm tối xông vào tấn công lực lượng bảo vệ rừng ở các trạm khi mọi người đang ngủ. Điển hình vào ngày 28/4/2011, 2 cán bộ của Trạm Kiểm lâm Xuyên Á thuộc Hạt Kiểm lâm Tuyên Hóa là Trương Khánh Bằng (Trạm phó) và Nguyễn Văn Dương, cán bộ của Trạm vào nộp hồ sơ một số vụ vi phạm lâm luật và báo cáo tình hình công tác bảo vệ rừng với Hạt Kiểm lâm Tuyên Hóa, khi quay về thì bị 4 thanh niên đuổi theo ngăn chặn đánh làm anh Bằng bị thương ở vùng mặt và ngực, phải nhập viện điều trị.
Đặc biệt, thời gian gần đây nổi lên nhiều vụ lâm tặc ngang nhiên tấn công nhân viên bảo vệ rừng ở địa bàn huyện Bố Trạch. Vào lúc 1 giờ sáng ngày 25/8/2012, trong lúc cán bộ, nhân viên của 2 trạm bảo vệ rừng của Lâm trường Bố Trạch đang ngủ thì một tốp người khá đông của thôn Ngọn Rào đã đến phá cửa xông vào dùng dao, rựa và gậy gộc tấn công nhân viên của trạm, gây thương tích cho nhiều người. Trong đó bị nặng nhất là anh Trần Đình Nam, Trưởng phòng Tổ chức hành chính và Quản lý bảo vệ rừng Chi nhánh Lâm trường bị chém vào đầu, ngực gục ngay tại chỗ.
Trước đó, cũng tại địa bàn xã Xuân Trạch, một nhóm đối tượng do thù hằn vì bị xử lý về hành vi phá rừng đã ném mìn vào Trạm Bảo vệ rừng số 78, rất may không có thiệt hại về người.
Nhóm đối tượng này cũng đã nhiều lần vào Trạm Bảo vệ rừng số 78 gây rối, đập phá nhiều tài sản như: Máy bơm nước, xe máy, ti vi, nồi, chén bát... gây thiệt lớn.
Máu của lực lượng bảo vệ rừng đã đổ để bảo vệ rừng, song nhiều đối tượng chống người thi hành công vụ vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.
Qua báo cáo của Giám đốc Cty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình, từ tháng 8/2012 đến nay, tình hình quản lý, bảo vệ rừng ở Cty hết sức phức tạp. Trong lúc Lâm trường Bố Trạch thuộc Cty Lâm công nghiệp Bắc Quảng Bình đang vào vụ trồng rừng sản xuất năm 2012, thì hàng ngày có nhiều tốp thanh niên ở thôn Ngọn Rào, xã Xuân Trạch đến đe dọa, gây gổ cản trở không cho trồng. Nghiêm trọng hơn, các đối tượng này còn dùng gậy gộc tấn công lực lượng bảo vệ rừng. Hậu quả làm 4 nhân viên bảo vệ rừng bị thương phải nhập viện.
Báo cáo của Chi cục Kiểm lâm cũng như phản ánh của các đơn vị chủ rừng tại tỉnh Quảng Bình cho thấy, chỉ có các cơ quan chức năng và chính quyền huyện Tuyên Hoá là khá tích cực trong phối hợp với Chi cục Kiểm lâm điều tra xử lý kịp thời các vụ việc xảy ra. Còn những địa phương khác, việc điều tra của các cơ quan bảo vệ pháp luật đối với các vụ chống người thi hành công vụ trên lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng thiếu kịp thời, xử lý có khi còn chưa nghiêm minh. Điều đó đã làm ảnh hưởng đến ý chí, tinh thần và trách nhiệm của các lực lượng thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng.
Nhiều vụ chống người thi hành công vụ xảy ra, song việc điều tra, xử lý còn ít. Mặc dù Lâm trường Bố Trạch trong báo cáo đã xác định rõ các đối tượng tham gia gây gổ, phá hoại và đánh cán bộ, nhân viên bảo vệ rừng, công nhân của lâm trường tại các vụ việc nói trên, nhưng cho đến nay các đối tượng này vẫn "bình yên vô sự".
Bên cạnh đó, chính quyền địa phương, nhất là cấp xã ở một số nơi chưa phát huy hết tinh thần trách nhiệm, chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo điều hành đối với công tác quản lý và bảo vệ rừng tại địa phương. Thậm chí còn có tình trạng thờ ơ, né tránh, ngại va chạm đối với lâm tặc. Mối quan hệ phối hợp giữa các cấp, ngành, các lực lượng trong việc quản lý bảo vệ rừng có nơi, có lúc chưa được chặt chẽ, thiếu thường xuyên.
Đề nghị các cơ quan chức năng cần có sự phối hợp chặt chẽ để kịp thời điều tra và sớm đưa các đối tượng lâm tặc cố tình chống lại người thi hành công vụ ra xử lý nghiêm minh. (Thanh Tra 18/10) đầu trang(
Công an Điện Biên vừa phối hợp với Công an huyện và Hạt Kiểm lâm huyện Tuần Giáo kiểm tra tại gia đình bà Nguyễn Thị Thuấn (49 tuổi), trú tại bản Cón, xã Quài Cang, huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, phát hiện một số lượng lớn thớt gỗ nghiến (loại gỗ quý hiếm nhóm IIA) dày 5cm, có đường kính từ 30cm đến 50cm, ước tính tổng khối lượng lên đến trên 50m3.
Chủ số gỗ trên là con rể bà Thuấn - Lê Văn Ứng (24 tuổi), có HKTT tại Thụy Sơn, Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (hiện đang tạm trú tại gia đình bà Thuấn) đưa ra những giấy tờ có nhiều điểm không hợp lệ và có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Hiện, các lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản, tạm giữ số thớt gỗ lên đến 8.921 chiếc và củng cố hồ sơ, tiếp tục điều tra làm rõ. (Công An Nhân Dân 17/10)đầu trang(
Ba tháng nay, người dân thị trấn Tân Kỳ (huyện Tân Kỳ, Nghệ An) xôn xao chuyện ông Nguyễn Quốc Tuấn, Phó trưởng BQL Rừng phòng hộ Tân Kỳ bị “vỡ nợ” với số tiền lớn. Tuy nhiên, mới có 2 chủ nợ gửi đơn tố giác, số còn lại đang phải “ngậm bò hòn làm ngọt”.
Người đầu tiên đã phải gửi đơn cáo giác là bà Đinh Thị Hải Lý, trú tại khối 10, thị trấn Quỳ Hợp. Bà Lý trình bày: Là bạn học với nhau tại lớp chính trị nên ngày 24/4/2012 ông Tuấn đã đến nhà tôi vay 100 triệu đồng và hẹn 3 ngày sẽ trả. Thế mà một tháng rưỡi sau vẫn không chịu trả. Tôi phải xuống nhà riêng (ông Tuấn) nhiều lần đòi mãi vẫn không lấy được. Bị tôi thúc nhiều lần nên ông Tuấn đã làm 2 giấy hẹn viết tay xác nhận khoản nợ nói trên. Trong giấy hẹn đề ngày 8/6/2012, ông Tuấn cam đoan nếu không trả được tiền thì ngày 10/6/2012, tôi xuống Tân Kỳ lấy bìa đỏ mà ông Tuấn đang cắm ở Ngân hàng CSXH huyện Tân Kỳ. Nhưng khi tôi đến ngân hàng xem thì thấy bìa đỏ ông Tuấn cắm để vay tiền tại đây lại mang tên của người khác. Vì thế tôi phải đặt vấn đề nhờ lãnh đạo cơ quan giúp đỡ nên cuối cũng đã lấy lại được số tiền cho vay.
Trong đơn của bà Phạm Thị Tuyết, trú tại khối 1 thị trấn Tân Kỳ, trình bày: Ngày 12/6/2012, ông Nguyễn Quốc Tuấn đến vay bà số tiền 580 triệu đồng nói là để thực hiện một “thương vụ” mua bán rừng và đất rừng. Ông Tuấn cam kết là chỉ sau 5 ngày là sẽ mang tiền đến trả cả gốc lẫn lãi. Nhưng đến hẹn không thấy đến trả nên bà Tuyết đến đòi thì ông Tuấn lại khất tiếp thêm 5 ngày nữa bằng 1 tờ giấy hẹn viết tay.
Nhưng đến hẹn, ông Tuấn vẫn không có tiền trả. Lần lữa mãi, đến ngày 13/7/2012, bị đòi nợ ráo riết, ông Tuấn đã đưa bộ hồ sơ chuyển nhượng đất rừng lâm nghiệp đứng tên ông Đào Duy Minh, trú tại xã Kỳ Tân đến “cắm” và coi đó là tài sản thế chấp. Lâm bạ của ông Đào Duy Minh được UBND xã Kỳ Sơn cấp ngày 30/12/1994.
Bà Tuyết bức xúc cho biết: Tôi cầm hồ sơ chuyển nhượng này chỉ là giải pháp tình thế. Tôi đang yêu cầu ông Tuấn phải trả lại cho tôi số tiền mặt đã vay để tôi còn làm ăn.
Nhiều người dân mà chúng tôi tiếp xúc tại huyện Tân Kỳ cho biết, ngoài việc thế chấp bìa đỏ của người thân để vay của Ngân hàng CSXH 60 triệu đồng và dùng bìa đất của mình thế chấp tại Ngân hàng NN-PTNT huyện Tân Kỳ để vay 350 triệu đồng (hiện còn nợ 261 triệu đồng), thời gian qua, ông Nguyễn Quốc Tuấn đã lợi dụng cương vị của mình để mua đi, bán lại hàng trăm ha rừng và vay nóng của hàng chục người, rải rác tại địa bàn nhiều huyện như Tân Kỳ, Quỳ Hợp, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, TP Vinh... với số tiền lớn.
Ông Cao Tiến Hạnh, Trưởng BQL Rừng phòng hộ Tân Kỳ, cho biết: “Chuyện ông Tuấn vay nợ và có một số hành vi trong việc mua bán đất rừng là có thật. BQL Rừng phòng hộ Tân Kỳ đã báo cáo sự việc lên cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Còn theo bản tự kiểm điểm của ông Tuấn gửi lãnh đạo cơ quan thì ông Tuấn có nợ của tập thể BQL Rừng phòng hộ Tân Kỳ trên 140,7 triệu đồng, nợ của các cá nhân bên ngoài là 2,3 tỷ đồng, đã trả được 700 triệu đồng. Hiện còn nợ các cá nhân khác 1,6 tỷ đồng. Còn thực hư như thế nào chúng tôi cũng không nắm được..."
Điều làm dư luận tại Tân Kỳ bất bình là ông Tuấn đã lợi dụng vị trí công tác của mình để mua bán tuỳ tiện đất rừng sản xuất sai quy định với tổng diện tích rừng đã được làm rõ là 190ha, trong đó có 90 ha rừng phòng hộ. Riêng 20 ha đất rừng sản xuất tại tiểu khu 863 được giao khoán cho tổ chức đoàn thanh niên cơ quan sau đó đã biến thành rừng giao khoán cho cá nhân ông Tuấn theo chu kỳ (7 năm) lại được biến hóa thành rừng giao khoán thời hạn 50 năm một cách lạ lùng.
Trong 2 năm 2008 và 2009, ông Tuấn thực hiện nhiều “thương vụ” mua bán đất lâm nghiệp đã giao khoán cho các hộ dân theo Nghị định 163/1993/NĐ-CP và Nghị định 02/1995/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó có gần 59 ha tại tiểu khu 860 thuộc đối tượng rừng 2A và đất trống do BQL Rừng phòng hộ Tân Kỳ quản lý, được cấp lâm bạ cho ông Đào Duy Minh (trú tại xóm 1, xã Tân Sơn) với giá 150 triệu đồng (năm 2008), sau đó vận dụng nguồn vốn 661/TTg (năm 2010 và 2011) để trồng 25 ha keo tai tượng.
Tiếp đó, ông Tuấn mua 21 ha đất rừng sản xuất (tiểu khu 860) của ông Lang Văn Kinh trú tại xóm Dương Lệ, xã Nghĩa Dũng (năm 2008). Năm 2009, ông Tuấn dùng tên em trai để mua 10 ha đất rừng sản xuất tại tiểu khu 867 của ông Nguyễn Văn Bảy (khối 2, thị trấn Tân Kỳ) với số tiền 40 triệu đồng và mua tiếp 79 ha đất rừng sản xuất tại TK 871 của 2 ông Nguyễn Văn Tài và Nguyễn Văn Vượng (đều trú tại xóm Nghĩa Trung, xã Nghĩa Hành) với giá 320 triệu đồng... (Nông Nghiệp Việt Nam 17/10)đầu trang(
Vụ hàng chục con cá sấu bị sổng chuồng tại Cà Mau hôm 12.10 cùng hàng loạt vụ cá sấu sổng chuồng trước đó đã cho thấy việc quản lý, nuôi nhốt loài động vật hoang dã này còn nhiều lỏng lẻo, bất cập.
Đến ngày 16.10, công việc truy lùng cá sấu sổng chuồng ở ấp Cây Trâm A, xã Định Bình, TP.Cà Mau vẫn tiếp tục diễn ra. Đã có 73 con cá sấu bị bắt lại. Ông Lê Văn Hải - Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Cà Mau cho biết, cơ quan này nhận được thông tin trại cá sấu sinh sản của Công ty Quốc Việt bị sập tường rào, cá sấu sổng chuồng với số lượng lớn từ người dân chứ không phải do người của công ty trình báo.
Như đã thông tin, mờ sáng 12.10, công nhân Công ty Quốc Việt phát hiện bức tường rào trang trại nuôi cá sấu của công ty đã sập khoảng 35m và cá sấu thoát ra ngoài. Điều làm mọi người lo ngại là trang trại nuôi cá sấu này nằm giữa khu dân cư, ngay cạnh trường học, với ao hồ, vườn tạp dày đặc, liền với tuyến giao thông thủy, bộ Bạc Liêu - Cà Mau.
Ngày 16.10, bà Trương Thị Hạnh - hộ dân ở ấp Cây Trâm A lo lắng: “Phía sau nhà tôi giáp với trại cá sấu, nên phải đóng cửa mỗi tối và không dám ra ngoài, vì sợ cá sấu cắn”. Cùng tâm trạng với bà Hạnh, nhiều người lo lắng chuyện cá sấu (đang tuổi sinh sản, đã đẻ lứa thứ 3) khi thoát ra ngoài môi trường tự nhiên sẽ sinh sôi nảy nở, tấn công vật nuôi và con người.
Ông Nguyễn Văn Trạng là hộ dân có diện tích vườn, ao bị cá sấu của Công ty Quốc Việt sổng chuồng trú ẩn, đang bắt và còn sót. Ông cho biết: Trong quá trình khắc phục sự cố cá sấu sổng chuồng, Công ty Quốc Việt phớt lờ tài sản của người dân xung quanh. Tôi đã làm đơn yêu cầu Công ty bồi thường ao cá nuôi của tôi. Mấy ngày qua, cá sấu nằm dưới ao ăn cá nuôi, thợ săn dùng điện rà cá sấu gây chết cá, thành quả chăn nuôi của tôi bị thiệt hại.
Chính quyền xã Định Bình nói tôi không có căn cứ chứng minh cá nuôi trong ao chết và nếu không cho bắt cá sấu sổng chuồng thì nếu cá sấu gây hại, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vậy, cá sấu sổng chuồng, gây bất ổn trong dân, học sinh phải nghỉ học thì ai phải chịu trách nhiệm?
Theo số liệu của Chi cục Kiểm lâm Cà Mau, đến cuối tháng 7, tổng đàn sấu ở tỉnh này trên 53.600 con, tập trung nhiều ở TP.Cà Mau, các huyện Thới Bình, Cái Nước, Đầm Dơi. Về chủ nhân, số cá sấu, có trên 400 hộ được cấp phép gây nuôi, còn khoảng 200 hộ chưa đăng ký cấp phép nuôi, dạng hộ nuôi nhỏ lẻ “xóa đói giảm nghèo”, ở rải rác vùng sâu vùng xa.
Ông Lê Văn Hải cho biết: “Dù còn nhiều hộ chưa đăng ký nhưng việc giám sát, kiểm tra, quản lý vẫn được thực hiện thường xuyên. Kiểm lâm địa bàn nhắc nhở những hộ xây chuồng trại chưa chắc chắn để bà con khắc phục và hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn”. Tuy nhiên, ông Hải cũng thừa nhận, quy trình xây dựng chuồng nuôi cá sấu chưa được tính đến.
Ông Đỗ Văn Kiếm ở xã Vị Thắng (huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang) cho biết: “Tôi đã từng nuôi ba ba, cá lóc, cá sặc rằn… được nhốt khá cẩn thận, song cũng có trường hợp bị sổng ra ngoài tự nhiên. Khi phong trào nuôi động vật hoang dã, hung dữ như cá sấu phát triển thì thế nào cũng bị sổng chuồng nên cần quản lý chặt nếu không khi thoát ra ngoài sẽ rất nguy hiểm”.
Về vấn đề này, ông Nguyễn Vĩnh Phúc – Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hậu Giang cho biết: “Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có khoảng 1.000 con cá sấu được nuôi nhỏ lẻ trong hộ gia đình ở các huyện Long Mỹ, thị xã Ngã Bảy, Phụng Hiệp, Châu Thành A. Trước khi nuôi, tất cá các chuồng trại đều được xây dựng kiên cố và xin phép của kiểm lâm”.
Theo ông Lê Minh Đức – Giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Long An, toàn tỉnh hiện có 54 hộ nuôi cá sấu với tổng đàn hơn 11.000 con. Trong số này, có 2 trại quy mô lớn ở huyện Mộc Hóa (1.600 con) và TP.Tân An (1.500 con).
“Cá sấu được nuôi nhiều ở vùng Đồng Tháp Mười. Đặc thù vùng này có mùa nước nổi nên ngành kiểm lâm kiểm tra gắt gao chuồng trại, tuyệt đối không để cá sổng chuồng. Ngay đầu mùa lũ, chúng tôi đã kiểm toàn bộ chuồng trại trên địa bàn tỉnh, đến giờ có thể khẳng định sản xuất an toàn” - ông Đức nói. Tuy vậy, nhiều người dân trong vùng vẫn tỏ ra lo lắng vì khi mùa lũ đến, cá sấu có thể tràn ra ngoài sẽ gây rất nhiều nguy hiểm cho dân cư sống quanh đây.
Đối với việc quản lý cá sấu, ông Lê Văn Sử - Giám đốc Sở NNPTNT Cà Mau cho rằng: “Bộ NNPTNT có quy định nhưng chưa chi tiết, đầy đủ cho từng cá thể, ví dụ như nuôi cá sấu. Sự cố cá sấu sổng chuồng ở Công ty Quốc Việt là doanh nghiệp gây nuôi nhiều, kích cỡ lớn, diện tích rộng. Tôi chưa khẳng định sai sót có thiết kế, có giấy phép xây dựng hay không, cần phải kiểm tra tiếp theo quan sát thực tế”.
Ông Sử cũng khẳng định: “Chúng tôi sẽ cho rà soát lại toàn bộ, từ quản lý thiết kế chuồng trại, chủng loại đến việc phải chấn chỉnh về quản lý... và kiến nghị Bộ NNPTNT bổ sung văn bản quy định cụ thể, đầy đủ, hiệu quả hơn”. (Nông Thôn Ngày Nay 17/10)đầu trang(
Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) Nguyễn Bá Ngãi trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nông Thôn Ngày Nay .
Ông Ngãi cho biết: “Việc quản lý trại nuôi các động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm được quy định tại Nghị định 82/2006 về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. Tuy nhiên, thực tế là các địa phương chưa thực hiện tốt nghị định này. Trước khi xảy ra vụ việc ở Cà Mau, Bộ NNPTNT, Tổng cục Lâm nghiệp… đã chỉ đạo các địa phương rà soát việc thực hiện nghị định này và các quy định liên quan như Nghị định 32 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm và các văn bản pháp luật khác.
Tuy nhiên, các trại nuôi phải đạt các tiêu chuẩn an toàn ra sao, quy trình đảm bảo an toàn thế nào vẫn chưa được quy định cụ thể. Tới đây, Bộ NNPTNT có quy định thế nào về vấn đề này? Tiến tới, chúng tôi sẽ phải ban hành một thông tư hướng dẫn cụ thể hơn đối với việc gây nuôi cá sấu nói riêng và các động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm khác nói chung. Bộ NNPTNT cũng đã bắt đầu triển khai xây dựng thông tư này, trong đó quy định rõ về quy chuẩn chuồng trại, quy trình kiểm tra, thống kê kiểm soát… Có thể, vào cuối năm nay hoặc đầu năm 2013, thông tư được ban hành.
Khi xảy ra những sự cố như ở Cà Mau, cá nhân, tổ chức nào phải chịu trách nhiệm, thưa ông? Trước hết là đơn vị nuôi nhốt, vì không đảm bảo điều kiện an toàn. Theo quy định hiện nay, bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả khi có thiên tai, họ cũng phải đảm bảo an toàn chuồng trại. Ngoài ra, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành ở cơ sở cũng phải chịu trách nhiệm, vì họ có chức năng giám sát các trại nuôi này. Song trong vụ việc vừa rồi, sự vào cuộc của chủ trại và chính quyền địa phương để xử lý là khá tốt. (Nông Thôn Ngày Nay 17/10)đầu trang(
Theo Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai, trên địa bàn toàn tỉnh hiện có hơn 1.000 trại, số loài động vật hoang dã gây nuôi là 32 loài với hơn 130.000 cá thể.
Trong đó, cá sấu có hơn 75.000 cá thể, chủ yếu tại huyện Định Quán với gần 50.000 cá thể. Riêng tại TP.Biên Hòa có hơn 3.335 cá thể cá sấu, chủ yếu tại Khu du lịch sinh thái Vườn Xoài. Tại huyện Định Quán do việc gây nuôi cá sấu tự phát từ trước, nên thiếu sự thống nhất trong các tiêu chuẩn xây dựng chuồng trại giữa các hộ. Việc xây dựng chuồng trại còn tùy thuộc vào điều kiện của mỗi hộ nên vẫn còn hàng chục trại nuôi cá sấu đang nằm xen lẫn trong các khu dân cư. (Nông Thôn Ngày Nay 17/10)đầu trang(
Thời điểm này, tại nhiều địa phương ở Nghệ An đang có phong trào “tận diệt” chim cò. Đây là việc làm mang tính chất mùa vụ, nhưng lại đang gây ra nhiều hậu quả về môi sinh, môi trường, đặc biệt là trong việc bảo vệ đàn chim, cò tự nhiên đang ngày càng hiếm dần.
Tại các tỉnh Bắc miền Trung nói chung và Nghệ An nói riêng, do thời tiết thích hợp nên cứ vào mùa thu đông hàng năm các loại chim cò tự nhiên trở về nhiều. Đến các vùng ven biển trong tỉnh, dễ dàng bắt gặp chim cò đậu tự nhiên trên cây, trên các cánh đồng lúa đang thu hoạch hoặc trong bụi rậm. Lợi dụng điều này, nhiều người dân đã “tranh thủ” đi đánh bắt chim cò.
Đến các xã Nghi Yên, Nghi Thiết (huyện Nghi Lộc), Hưng Hòa (Thành phố Vinh) và nhiều xã khác ở huyện Diễn Châu, Hưng Nguyên rất dễ nhận thấy có những bẫy chim cò được những người đi đánh bắt chim cò đặt sẵn trong bụi cây, trên cánh đồng. Do dụng cụ đánh bắt và cách đánh bắt đơn giản, không phải chi phí tốn kém nên nhiều người đã tham gia đánh bắt chim cò. Trong số những người đánh bắt, có người coi đó là thú vui trong những ngày nghỉ cuối tuần hoặc sau mỗi buổi chiều đi làm về, nhưng cũng có người coi đánh bắt chim cò là nghề để kiếm thu nhập.
“Tiếp tay” cho phong trào “tận diệt” chim cò là các nhà hàng, khách sạn, quán ăn trên địa bàn. Thời điểm này, vào bất cứ quán nhậu nào trên địa bàn Nghệ An cũng dễ dàng gọi thực đơn là những đĩa chim cò. Có những quán nhậu “sành điệu” hơn còn có món tiết chim pha với rượu mà thực khách được tận mắt chứng kiến tại chỗ việc giết chim, lấy tiết bỏ vào rượu. Tại các chợ quê ở nông thôn cũng thấy có rất nhiều chim cò được bày bán. Giá cả bình dân, trong khi đây là món ăn mới, hấp dẫn nên nhiều người đã tìm mua chim cò về chế biến.
Tại Nghệ An, qua điều tra, có thể khẳng định vào mùa này, nguồn cung cấp chim cò cho các nhà hàng, khách sạn và bày bán tại chợ, phần lớn có được là từ nguồn đánh bắt tự nhiên. Lượng tiêu thụ lớn như vậy thì mỗi ngày, lượng chim cò bị “tận diệt” là không nhỏ.
Chim, cò là những loại động vật có nhiều tác dụng đối với môi sinh, môi trường; hình ảnh chim cò cũng đã được đưa vào thơ ca, nhạc họa. Việc “tận diệt” tràn lan chim cò như hiện nay là điều không nên, cần ngăn chặn. Đáng tiếc, các ngành chức năng và chính quyền địa phương vẫn chưa có giải pháp ngăn chặn. Và hàng năm, phong trào “tận diệt” chim cò lại cứ thoải mái, “đến hẹn lại lên”. (Tài Nguyên&Môi Trường 16/10)đầu trang(
Mặc dù đang vào mùa sản xuất nhưng bà con trong xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn vẫn đổ xô đi tìm kỳ nam thay vì đi rẫy.
Sau ít ngày tạm lắng, mấy ngày gần đây hàng trăm người lại vào khu vực rừng Gộp Ngà, xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa đào núi, phá đá để tìm kỳ nam.
Sáng 17/10, khoảng 200 người có mặt tại khu vực rừng Gộp Ngà để đào tìm kỳ nam. Việc đào núi tìm kỳ nam tại khu vực này bùng phát gần 1 tháng qua sau khi có thông tin một số người quê ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam tìm được khối kỳ nam có trị giá nhiều chục tỷ đồng. Khu vực được cho là có kỳ nam rộng gần 1.000 m2 giữa núi rừng đã bị cả ngàn người đào đi, bới lại tan hoang.
Những người tìm kỳ nam đa số là nông dân nghèo ở các tỉnh Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa. Họ rời bỏ ruộng, vườn để vào tìm vận may tại vùng núi rừng Khánh Sơn. Do lượng người kéo về đây ngày càng đông nên đã xảy ra nhiều vụ xô xát, tai nạn.
Ông Cao Văn Bường, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn cho biết “cơn lốc” kỳ nam đã ảnh hưởng đến sản xuất, sinh hoạt của địa phương. Mặc dù đang vào mùa sản xuất nhưng bà con trong xã cũng đổ xô đi tìm kỳ nam thay vì đi rẫy.
Trước tình hình này, Uỷ ban nhân dân huyện Khánh Sơn đã kiện toàn lại Đội liên ngành gồm Bộ đội, Công an, dân quân xã để vận động, thuyết phục những người đi tìm trầm quay về địa phương.
Không biết đến khi nào giấc mộng đổi đời mới thôi ám ảnh những người dân nghèo đang bất chấp mọi hiểm nguy lao theo cơn lốc tìm kiếm kỳ nam tại núi rừng xã Sơn Trung, huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa. Chỉ biết hiện tại núi rừng, nương rẫy nơi đây tan hoang, đời sống yên bình của người dân địa phương bị xáo trộn. (Vov.vn 17/10)đầu trang(
Ông chủ nuôi hổ trái phép ở Nghệ An tiết lộ, ngoài việc nuôi dạy chúng, những người nuôi hổ phải thể hiện được vai trò của một “bảo mẫu” chăm hổ như con, và kiêm luôn vai trò của bác sỹ thú y để chữa khi ốm đau bệnh tật.
Và rủi ro trong nghề nuôi Chúa sơn lâm này rất lớn, có thể mất hàng trăm triệu bất cứ lúc nào.
Tiếp tục trò chuyện sau khi dẫn chúng tôi mục sở thị đàn hổ, ông chủ C. tiếp tục kể về những vất vả trong cái nghề “chẳng giống ai” này.
“Làm cái nghề này lãi lớn nhưng cũng cực và nhiều rủi ro lắm. Vốn lớn, chi phí thức ăn thì cực nhiều và nếu không cẩn thận thì sẽ mất hàng trăm triệu trong phút chốc nếu hổ bị bệnh mà không có kinh nghiệm chăm sóc”, C. nói.
Vừa là người nuôi nhưng C. cũng đã phải học hỏi kinh nghiệm nhiều nơi. Anh vừa là bảo mẫu chăm sóc nhưng cũng vừa là bác sỹ thú y.
C. bảo, nguy hiểm nhất là bệnh đi ngoài ra phân trắng. Khi đó thì coi như hết phương cứu chữa. Những lúc đó chỉ còn cách chuẩn bị đá để ướp xác hổ rồi tìm cách bán.
“Nhiều người nuôi cũng đã phải khóc ròng khi hổ chết, nhiều nhà mới đưa về một cặp hổ, mới được ba bữa thì chết, cũng có nhà chết 6 - 7 con rồi. Mất tiền tỷ đấy. Nuôi con ni khó lắm. Cũng ít nhà dám nuôi vì vốn nhiều mà dễ chết. Đã có nhiều hộ bại sản vì hổ chết liên tục, mà tiền vốn thì lại vay ngân hàng. Không có duyên không nuôi được con này đâu. Giờ to như thế này thì không sợ chết nữa. Mà có chết thì cũng bỏ vào đá rồi bán rẻ”, C. tâm sự.
Theo H., em trai C. thì rủi ro trong nghề này là rất cao. Hổ dưới 3kg chết khá nhiều nên nguồn hàng hổ con đông đá dành cho khách có nhu cầu ngâm rượu ở đây khi nào cũng có.
Mỗi con hổ giống có giá vài trăm triệu, thế nhưng khi chết đi, đông đá thì chỉ bán được từ 20 đến 30 triệu đồng. “Có nhà bắt 2 con chết cả 2, khóc cả nhà, khiếp tới giờ luôn” - C. bảo.
“Con ni cũng bị cảm suốt. Những lúc đó chúng tôi cho uống thuốc như người. Cũng tự chữa bằng kinh nghiệm chứ ai mà dám mời bác sỹ. Và những lần chữa theo cách đó thì chúng đều khỏi bệnh cả”, em trai C. nói thêm.
Theo C. giai đoạn từ 5kg đến dưới 30kg thì hổ dễ chết nhất vì mới nuôi, sức đề kháng còn yếu. Con nào nuôi lên quá 30kg thì gần như ổn.
Khi đi mua hổ giống, C. là người trực tiếp liên hệ với đầu nậu bán hổ con. Giá mỗi con hổ giống từ 3-5kg khoảng 180 triệu. Những con hổ lớn hơn thì lại có giá rẻ hơn vì khó nuôi hơn. “Đưa hổ ra khỏi nhà họ thì là của mình, có chết thì chủ bán cũng không chịu trách nhiệm. Thế nên nhà nào nuôi cũng phải nuôi ít nhất 2 con, đề phòng có con chết còn gỡ được vốn”.
Theo C., hổ là loài vật rất phàm ăn. Mỗi tháng hết khoảng 6 triệu tiền thức ăn. Chủ yếu là thịt bò, lợn, gà. Đến giai đoạn hổ trưởng thành thì chi phí thức ăn sẽ giảm đi vì lúc này chỉ mua các loại đầu, chân, cánh gà từ các siêu thị. Trung bình mỗi tháng một con tăng được 5kg.
“Bốn con hổ này tôi mới nuôi được hơn 1 năm nay. Chúng lớn khá nhanh. Giờ đã đạt trọng lượng trên 1 tạ rồi. Có thể xuất chuồng được rồi” - C. tiếp tục nói.
C. bảo, hổ trưởng thành thường được bán cho nhu cầu nấu lấy cao. Giá hổ sống khoảng 4- 5 triệu/kg, bao gồm cả phí vận chuyển. Khách mua thường là những doanh nghiệp giàu có và giới quan chức. Khi xuất chuồng thì buộc phải bắn thuốc mê rồi vận chuyển vào ban đêm.
C. cho hay. đợt này chắc do khó khăn chung nên khách mua hổ nấu cao cũng giảm hẳn.
Việc nuôi nhốt hổ cả năm trời cũng khiến cho C. gặp nhiều chuyện bi hài.
C. bảo, do anh chăm sóc hổ từ nhỏ nên chẳng rời được chúng lâu. Trong nhà còn có bố và em trai nhưng không ai thay anh chăm chúng được vì sợ hổ vồ. Thế nên, ngày nào cũng phải ở trong nhà để chăm sóc, cho chúng ăn, tắm rửa. Chỉ ra ngoài khi đi mua thức ăn, nhưng cũng chỉ vài ba tiếng rồi về.
Theo anh em nhà C., cũng có nhà có lần hổ bị sổng chuồng ra ngoài do quên cài chốt cửa. Nhưng rất may là khi đó hổ còn nhỏ, và phát hiện ngay nên người nuôi đã bắt chúng quay trở lại.
Điều quan trọng hơn và có tính chất quyết định là việc giữ kín được thông tin về việc nuôi nhốt trái phép này. Chỉ có người nhà và anh em thân thiết mới biết. Còn chuyện làm sao có thể nuôi mà không bị phát hiện và khi vận chuyển không bị bắt thì không phải lo... (Vietnamnet 17/10)đầu trang(
17-10, Công an huyện Cát Tiên (tỉnh Lâm Đồng) cho biết vừa ra quyết định khởi tố vụ án vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, khởi tố bị can và bắt tạm giam 2 đối tượng tham gia vụ sát hại bò tót Vườn quốc gia Cát Tiên là Bùi Thành Tín và Bùi Thành Lượng (cùng trú thôn Phước Sơn, xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên).
Ngoài 2 đối tượng này, Công an cũng đã xác định 15 đối tượng tham gia vụ sát hại bò tót.
Vụ việc xảy ra vào chiều 5-10, phát hiện con bò tót về khu vực rẫy tại thôn Phước Sơn, người dân trong thôn đã vây dồn bò tót về suối, đánh chết rồi xẻ thịt bán và chia nhau.
Bò tót là động vật hoang dã nhóm 1B (động vật hoang dã quý hiếm, nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại). Hiện ở Vườn quốc gia Cát Tiên còn khoảng hơn 100 con bò tót sinh sống. (Sài Gòn Giải Phóng 17/10)đầu trang(
Sau khi hợp thức hóa việc xóa sổ gần 26 ha rừng đước với lý do phòng trừ sâu bệnh lây nhiễm, Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre đã chỉ định DNTN Tuấn An khai thác và thu mua sản phẩm, không thông qua đấu thầu.
Việc làm này đã gây thất thoát hàng tỷ đồng. Sở NN&PTNT chỉ đạo Thanh tra sở báo cáo kết quả thanh tra, nêu rõ sai phạm của các tổ chức, cá nhân và đề xuất hướng xử lý muộn nhất vào ngày 31-10-2012.
Ngày 27-4-2012, Ban Quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh Bến Tre gửi tờ trình xin ý kiến Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh về việc khai thác 25,8 ha rừng đước thuộc Khu dự trữ sinh quyển đất ngập nước Thạnh Phú tại huyện Thạnh Phú. “Đây là diện tích rừng sinh trưởng kém, số cây chết dần và sâu đục thân cây nhiều. Việc tiến hành các biện pháp diệt trừ sâu hại có thể thực hiện nhưng sẽ ảnh hưởng lớn đến các hộ dân nuôi trồng thủy sản xung quanh. Ban quản lý xin lãnh đạo sở đồng ý cho khai thác diện tích nêu trên. Sau khi khai thác xong, Ban quản lý sẽ trồng lại rừng ngay trong năm 2012” - tờ trình nêu rõ.
Ban quản lý cũng kiến nghị được sử dụng số tiền từ việc bán gỗ, củi vào việc trồng mới hơn 100 ha rừng tại ba huyện ven biển Thạnh Phú, Ba Tri, Bình Đại. Ngày 18-5, Sở NN&PTNT Bến Tre gửi tờ trình lên UBND tỉnh Bến Tre và được đồng ý. Công văn của UBND tỉnh nêu rõ, sau khi tiến hành khai thác xong, các đơn vị liên quan phải tiến hành ngay việc trồng mới rừng trong mùa vụ 2012.
Ngày 12-6, Sở NN&PTNT Bến Tre tổ chức việc họp xét duyệt thiết kế và dự toán khai thác diện tích rừng nêu trên. Tại cuộc họp này, các bên liên quan dự kiến số lượng gỗ khoảng 3.100 ster, bao gồm nhiều loại khác nhau. Với mức giá từ 400.000 - 550.000 đồng/ster, tổng số tiền thu được gần 1,6 tỷ đồng. Trong đó, chi phí cho khai thác, thu gom lên đến hơn 800 triệu đồng, số tiền còn lại nộp vào ngân sách chưa tới 775 triệu đồng.
Ngày 13-6-2012, Sở NN&PTNT Bến Tre có công văn đồng ý cho Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng tỉnh được chọn và chỉ định đơn vị thi công và thu mua sản phẩm. Hai ngày sau, Ban quản lý tổ chức họp và quyết định chọn DNTN Tuấn An làm “đối tác” và loại trừ luôn hai đơn vị còn lại mong muốn được tham gia mà không cần tổ chức đấu thầu.
Bà Nguyễn Thị Phượng, chủ DNTN Cường Kha (ấp Cây Dầu, xã Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, Bến Tre) bức xúc: Ban quản lý cố tình dự toán số gỗ khai thác thấp hơn rất nhiều so với thực tế, để chia nhau với đơn vị khai thác. Thêm nữa, Ban quản lý cũng áp một mức giá rất thấp so với giá trị thực tế của số gỗ này, con số chênh lệnh có thể lên đến ba tỷ đồng. Bà Phượng tố cáo Ban quản lý cố tình “dựng” lên chuyện rừng bị sâu bệnh để tiến hành khai thác, bởi trên thực tế diện tích này đang sinh trưởng bình thường, sâu bệnh có xuất hiện rải rác nhưng rất ít.
Thứ hai, Ban quản lý dự toán số gỗ, củi khai thác được là 3.100 ster nhưng thực tế con số này không thể dưới 5.500 ster, “hàng chục năm trời khai thác rừng tui biết” - bà Phượng khẳng định. Thêm nữa, bà Phượng cũng cho rằng giá trị mỗi ster gỗ trên dưới một triệu đồng (tùy chủng loại) nhưng Ban quản lý và DN Tuấn An chỉ hợp đồng mức cao nhất là 550.000 đồng/ster.
Theo ông Võ Văn Ngàn, Ban quản lý cũng không biết việc chọn đối tác khai thác, mua bán gỗ phải thông qua đấu thầu, vì đây là việc “chưa có tiền lệ”. Hơn nữa, việc dự toán 3.100 ster gỗ cho toàn bộ diện tích này là có cơ sở vì con số khai thác thực tế chỉ khoảng 3.700 ster (!?). Trong đó, Ban quản lý đã mua bán “đứt đoạn” với DN Tuấn An khoảng 2.000 ster, phần còn lại bị đình chỉ lại để tiến hành đấu giá. Tuy nhiên theo bà Phượng, số gỗ đưa ra khỏi rừng cao hơn nhiều so với con số 2.000 ster trong sổ sách. Thanh tra Sở NN&PTNT cũng xác định DN Tuấn An vi phạm hợp đồng khi tiến hành khai thác tràn lan, thay vì “chặt trắng theo trình tự từng lô theo thỏa thuận”. Chính hành vi này khiến việc kiểm soát số lượng gỗ, củi hết sức khó khăn.
Ngày 13-10-2012, Hội đồng bán đấu giá tỉnh Bến Tre đưa số gỗ 1.700 ster (dự kiến) ra đấu giá và hai đơn vị là DNTN Tuấn An và DNTN Thanh Bình trúng thầu với mức giá lên đến 1.270.000 đồng/ster (922.000 đồng/ster). Con số này đúng như tố cáo của bà Phượng, vì cao hơn gấp đôi so với giá mà Ban quản lý ký hợp đồng với DN Tuấn An và hai bên đã mua bán đứt đoạn 2.000 ster trước đó.
Trước sự việc trên, ông Trần Văn Hùng, Phó giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Bến Tre chỉ đạo Thanh tra sở báo cáo kết quả thanh tra, nêu rõ sai phạm của các tổ chức, cá nhân và đề xuất hướng xử lý muộn nhất vào ngày 31-10-2012. (Công An TPHCM 18/10)đầu trang(
17/10, tổ công tác cơ động Hạt Kiểm Lâm huyện Phù Mỹ (Bình Định) trên đường tuần tra bảo vệ rừng ở khu vực đường Tây Bình Định thuộc xã Mỹ Hiệp phát hiện sáu xe máy chở gỗ lậu.
Tổ công tác ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra thì ba chiếc bỏ chạy. Trong ba chiếc bị bao vây có hai người vứt gỗ lại chạy trốn.
Một lúc sau, các đối tượng quay lại giải vây cho đồng bọn. Những người này lấy đá ném tới tấp và lấy cọc tre đánh lực lượng kiểm lâm làm anh Nguyễn Thanh Tuyền bị gãy răng, tét môi. Các kiểm lâm viên đã nổ hai phát súng chỉ thiên khiến lâm tặc bỏ chạy. Lực lượng kiểm lâm thu giữ tại hiện trường một chiếc xe máy 77N3-5129 và 0,32 m3 gỗ lau nhóm IIA. Hiện vụ việc đang được điều tra làm rõ. (Pháp Luật TPHCM 18/10)đầu trang(
Sở NN&PTNT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu vừa có kết luận thanh tra vụ “tận thu” làm mất rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu (thuộc địa phận xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc).
Theo đó, Sở đề nghị UBND tỉnh cách chức ông Võ Văn Sung, giám đốc khu bảo tồn. Đồng thời, buộc ông Sung nộp lại số tiền hơn 630 triệu đồng do để xảy ra tình trạng thất thoát gỗ tràm trong quá trình chỉ đạo điều hành, giám sát hiện trường việc thu gom, dọn dẹp vệ sinh phòng, chống cháy rừng. Sở cũng sẽ có hình thức kỷ luật với một số cán bộ của khu bảo tồn, kiểm lâm địa bàn vì thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Theo kết quả thanh tra, tổng số gỗ mà Nhà nước bị thất thu gần 470 m3 (tương đương hơn 630 triệu đồng). Nguyên nhân gây thất thoát là do thời gian trước cơn bão số 1 (ngày 31-3-2012) nhiều lâm tặc vào khai thác trộm. Sau cơn bão, một số người dân địa phương vào cưa trộm. Đoàn thanh tra xác định có khoảng 150 m3 gỗ người dân cưa trộm bằng tay (đơn vị thu gom tràm chỉ sử dụng cưa máy).
Nguyên nhân thất thoát do công tác kiểm tra, giám sát quá trình thu dọn của các lực lượng chức năng khu bảo tồn và Hạt Kiểm lâm huyện Xuyên Mộc, Trạm Kiểm lâm Bình Châu chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Như đã thông tin, sau cơn bão, Ban quản lý khu bảo tồn có báo cáo Sở NN&PTNT tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xin phép dọn dẹp vệ sinh rừng tràm bị gãy đổ do bão. Lợi dụng việc này, nhiều người vào cưa trộm và người được khu bảo tồn hợp đồng dọn dẹp tranh thủ cưa luôn những cây không bị gãy… Sau khi báo phản ánh, Sở NN&PTNT đã thành lập đoàn thanh tra để xác minh vụ việc trên.
Vụ việc đang được UBND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và cơ quan chức năng xem xét xử lý theo thẩm quyền. (Pháp Luật TPHCM 18/10; Thanh Niên 18/10)đầu trang(
Đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Pác Nặm thiếu đất cấy lúa, giá ngô tăng cao, dễ tiêu thụ đã làm cho diện tích trồng ngô tăng đột biến. Điều đó đồng nghĩa với diện tích rừng bị thu hẹp. Thế nhưng, chính quyền địa phương chưa quan tâm đến việc giữ rừng.
Pác Nặm là huyện vùng cao, chủ yếu là đồi núi, nương rẫy, đất cấy lúa chỉ có hơn một nghìn ha, sản lượng thóc hằng năm không đủ nuôi sống hơn 30 nghìn người trên địa bàn. Diện tích đất cấy lúa chủ yếu là ở các thôn vùng thấp, nơi có đồng bào dân tộc Tày sinh sống. Đồng bào dân tộc Mông, Dao chiếm khoảng 80% dân số trên địa bàn, chủ yếu cư trú ở các thôn vùng cao, trên các sườn đồi, không có ruộng cấy lúa, cuộc sống chủ yếu dựa vào trồng ngô, bán ngô mua thóc, gạo ăn hằng ngày.
Trồng ngô từ lâu đời, đồng bào dân tộc Mông, Dao ở Pác Nặm rất có kinh nghiệm trồng ngô đồi, bà con biết rằng thời tiết như thế nào thì tra hạt xuống đất để không bị mối mọt ăn, cây lên đều. Những năm gần đây, bà con chủ yếu trồng các giống ngô lai, trồng trên đồi, đất mới, ít đầu tư chăm sóc nhưng năng suất bình quân vẫn đạt khoảng 35 tạ/ ha.
Năm nay gia đình anh Đặng Văn Pu ở bản Khuổi Luông, xã Nghiên Loan ước thu được hơn tám tấn ngô, anh Pu dùng những tấm ván quây làm “kho” ngô lớn ở góc nhà. Bắp ngô trên cây ngoài nương rẫy đến khi khô thì bẻ về để trong kho. Anh Pu cho biết, hiện nay đang vụ thu hoạch nên bán được 5.800 đồng/ kg, bằng với giá thóc, nhưng để đến cuối năm giá sẽ tăng lên tám, chín nghìn đồng/ kg.
Tuy nhiên, anh Pu băn khoăn, để ngô đến cuối năm sẽ bị hao hụt nhiều bởi mối mọt, chuột ăn. Hỏi năm nay gia đình trồng bao nhiêu ha ngô, anh Pu không biết, chỉ biết rằng toàn bộ sườn núi xa nhà vài ba cây số là nương rẫy trồng ngô. Gần nhà đã trở thành “nương ót” nên không trồng được ngô nữa, làm bãi chăn bò. Anh Pu nói: “Sau ba năm, đất bạc mầu thành “nương ót” lại đi phát rừng mới, chờ đến khi cây cỏ khô thì đốt thành tro cho tốt đất để làm rẫy trồng ngô. Sau hai, ba năm đất bạc màu lại đi phát rừng xa hơn...”. Hiện nay hầu hết trong tổng số 64 hộ đồng bào Dao ở bản Khuổi Luông đều phải đi làm rẫy xa, nhiều nhà làm lán ở trên nương ngô.
Phó Chủ tịch UBND xã Nghiên Loan Lê Văn Tuấn “khoe”: “Năm nay toàn xã trồng được khoảng 600 ha ngô đồi, tăng hai lần so với năm trước, nhiều nhà trồng được hàng chục ha”. Diện tích tăng hai lần, cũng có nghĩa là 300 ha rừng tái sinh trên địa bàn xã bị mất. Ông Tuấn thú thật một thực trạng, diện tích ngô tăng lên sau mỗi năm tăng lên đến đâu đồng nghĩa với diện tích rừng bị thu hẹp đến đấy. “Đồng bào dân tộc Mông, Dao không có đất cấy lúa, để giải quyết đời sống thì bà con chỉ có trồng ngô, nhưng chúng tôi chưa có cách gì để khắc phục tình trạng phát rừng làm nương rẫy trồng ngô”.
Bí thư Huyện uỷ Pác Nặm Hoàng Kim Hồng cho hay: “Năm nay Pác Nặm trồng được hai nghìn ha ngô, chủ yếu là ngô đồi, sản lượng ngô chiếm 50% tổng sản lượng lương thực của cả huyện. Sản lượng ngô này góp phần rất quan trọng ổn định đời sống nhân dân trên địa bàn”.
Dọc tuyến đường 258B từ huyện Ba Bể lên huyện Pác Nặm dài 28 km, hai bên đường là những nương ngô trùng điệp, xa tít tắp vẫn thấy ngô, rừng chỉ còn ẩn hiện trên những mỏn núi, nơi quá cao, đất cằn cỗi không trồng được ngô. Trên tuyến đường này, ngày nào cũng có hàng chục ô tô tải lặc lè chở ngô đưa về xuôi, người buôn dựng lều lán cạnh đường thu mua ngô. Người buôn còn đánh cả ô tô len lỏi vào các làng, bản để thu mua ngô, âu đó cũng là điều kiện thuận lợi để tiêu thụ ngô hàng hoá trên địa bàn huyện vùng cao này.
Trong những năm qua, đặc biệt là những năm gần đây giá ngô tăng cao, có thời điểm một kg ngô mua được 1,5 kg thóc đã làm cho diện tích rừng ở Pác Nặm ngày càng bị thu hẹp để trồng ngô mà chính quyền huyện, xã ở Pác Nặm chưa kiểm soát được.
Đất cấy lúa quá ít, nhân dân trên địa bàn phải trồng ngô để giải quyết vấn đề lương thực. Nhưng có thực tế đáng lo ngại xuất phát từ tập quán quảng canh của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương, đó là khi “nương ót”, đất bạc màu lại đi phát nương mới để lấy đất trồng ngô. Điều đó làm cho diện tích rừng trên địa bàn ngày càng bị thu hẹp.
Để vừa bảo vệ được rừng mà vẫn trồng được ngô nhằm bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống nhân dân thì huyện cần quy hoạch, quản lý chặt quy hoạch nương rẫy cố định làm nơi sản xuất ngô cho nhân dân. Đồng thời, tăng cường tập huấn, chuyển giao kỹ thuật thâm canh ngô nhằm chuyển đổi tập quán từ quảng canh, du canh sang trồng ngô có đầu tư chăm sóc để ngô có năng suất, từ đó sẽ định canh lâu dài trên nương rẫy cố định. (Nhân Dân 18/10)đầu trang(
PV thường trú báo Đại Đoàn Kết tại Quảng Nam vừa nhận đơn kêu cứu của bà Đỗ Thị Tới (sinh năm 1957, tại thôn An Lâu, xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam) về việc 8,2 ha đất rừng của bà có quyết định giao đất trồng rừng đã gần 15 năm nhưng vẫn bị mất rừng.
Theo đơn trình bày, UBND thị xã Tam Kỳ ra Quyết định số 192/QĐ-UB ngày 7-4-1998 giao 8,2 ha đất trồng rừng cho hộ ông Huỳnh Ngọc Côi. Trong đó có 5ha tại khu vực Rừng Dẻo thuộc thôn Bồng Miêu, xã Tam Lãnh. Không may năm 2003 ông Côi bị tai nạn bất ngờ và qua đời. Sau đó, ông Lê Đức Lân (lúc bấy giờ đang là Bí thư Đảng ủy của xã này) đến nhà bà Tới (vợ ông Lân) và nói: diện tích đất rừng nói trên là của ông cùng với ông Côi làm chung và yêu cầu bà bán để chia tiền, chia đất tiếp tục trồng rừng. Nói là làm, ông Lân kêu người bán cây và nhờ cán bộ xã lên chia đất.
Theo bà Tới, cho dù ông Lân không đưa ra được chứng cứ, giấy tờ hay hồ sơ làm rừng chung với chồng bà, nhưng lúc bấy giờ do vị nể ông Lân là cán bộ lãnh đạo xã và chồng mới mất đang bối rối nên bà gật đầu đồng ý. Nhưng sau khi mãn tang chồng, kiểm tra lại các giấy tờ, tài liệu của chồng để lại bà mới phát hiện ra hồ sơ cấp đất trồng rừng chỉ đứng mỗi tên chồng bà. Bà và các con đã đến gặp ông Lân đòi lại đất nhưng không được, bà cũng đã gửi đơn đến UBND xã khiếu nại nhưng bất thành. Thế là bà đưa vụ việc ra TAND huyện Phú Ninh để giải quyết.
Tại tòa, tuy không có quyết định giao đất đứng tên ông Lân nhưng căn cứ vào lời khai của người làm chứng cho rằng đó là đất mà ông Côi và ông Lân xin từ dự án 4304 để trồng rừng, tòa lại cho rằng: Ông Côi tự ý một mình đứng ra làm thủ tục để được giao đất, đến năm 2003 ông Côi mất, vợ và các con ông đều đồng ý với vợ chồng bà Hòe và ông Lân chia lại đất và mỗi bên tự đi kê khai làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ). Như vậy đất đang tranh chấp đã được 2 bên thỏa thuận. Tòa bác đơn khởi kiện của bà Đỗ Thị Tới.
Thế nhưng trong đơn kêu cứu, bà Tới cho rằng: "Nếu nói là đất của dự án 4304 thì đây là dự án trồng rừng phủ xanh đồi trọc, tạo việc làm cho người dân nên sau khi nghiệm thu Nhà nước trả tiền chứ không thể có quyết định giao đất trồng rừng. Bà Tới cũng cho rằng: Trong hồ sơ vụ án không có tài liệu nào thể hiện cơ quan có thẩm quyền giao đất trồng rừng chung cho ông Côi và ông Lân.
Đặc biệt, theo hồ sơ giao đất cho chồng bà, bao gồm Đơn xin nhận đất lâm nghiệp, phương án bảo vệ rừng, kèm theo bản đồ địa chính có xác nhận của UBND xã, Phòng địa chính và UBND thị xã Tam Kỳ cùng biên bản hiện trường có chữ ký của các cơ quan liên quan cấp xã, cấp huyện. Sau khi thẩm tra, đo đạc, xác minh cụ thể hơn một năm mới ra quyết định giao đất rừng. Lúc bấy giờ ông Lân đang là Bí thư Đảng ủy ở đây, lẽ nào ông Lân không biết và nếu là đất chung tại sao ông Lân không ngăn chặn? Hơn nữa tòa án chỉ dựa trên lời khai một phía để cho rằng ông Côi tự ý một mình đi làm hồ sơ xin cấp đất là không có cơ sở.
Các con bà Tới còn cho rằng: "Tòa tuyên mẹ tôi và chúng tôi đồng ý chia đất cho ông Lân, bà Hòe là không đúng. Bởi vì sau khi cha tôi mất, lúc đó mẹ tôi chưa tìm thấy hồ sơ và quyết định giao đất rừng, tin tưởng ông Lân là cán bộ xã nên làm theo. Chứ chúng tôi hoàn toàn không hay biết” - anh Huỳnh Ngọc Công, con trai ông Côi khẳng định.
Còn một điều chúng tôi muốn nói đến là tại sao tòa không xét đến yếu tố vi phạm pháp luật. Đó là việc ông Lân, bà Tới nhờ địa chính xã chia đất, kể cả việc 2 bên tự kê khai để xin cấp sổ đỏ và hộ bà Hòe đã được cấp sổ đỏ trong khi quyết định giao 8,2ha đất rừng nói trên chưa được thu hồi.
Không đồng ý với phán quyết của TAND huyện, hiện gia đình bà Tới kháng cáo lên tòa cấp trên.(Đại Đoàn Kết 18/10)đầu trang(
Trước thông tin dây chuyền 2 Nhà máy Xi măng Fico Tây Ninh phá 365 héc-ta rừng phòng hộ Dầu Tiếng, ông Mai Ngọc Liêm, Chủ tịch HĐQT CTCP Xi măng Fico khẳng định, dự án đang trong giai đoạn thăm dò địa chất, không ảnh hưởng đến môi trường cũng như sinh thái của khu rừng.
Ông Liêm nói: “dây chuyền 2 Nhà máy xi măng Fico đang trong giai đoạn làm thủ tục đầu tư, thăm dò địa chất. Thời gian khảo sát, thăm dò, đánh giá để có quyết định đầu tư ít nhất phải mất 3 năm, chưa kể đến việc xin ý kiến Chính phủ, các bộ ngành và thu xếp nguồn vốn… Việc khoan thăm dò địa chất không ảnh hưởng đến môi trường cũng như sinh thái của khu rừng”.
Được biết, giai đoạn 1 Nhà máy Xi măng Fico được Chính phủ giao cho Tổng công ty Vật liệu xây dựng số 1 thực hiện đầu tư với 2 nhiệm vụ trọng tâm là sản xuất xi măng phục vụ thị trường phía Nam và phát triển kinh tế vùng biên giới. Theo đại diện chủ đầu tư, dự án chỉ sử dụng 105/220 héc-ta đất được quy hoạch, bởi vùng nguyên liệu cho sản xuất xi măng ở địa bàn này nằm sâu dưới lòng đất. Sau khi Nhà máy đi vào hoạt động đã trồng lại diện tích cây xanh và theo dự kiến, phần mỏ khai thác sâu sẽ được dùng làm hồ sinh thái cung cấp nước cho khu vực.
Nhà máy Xi măng Fico có công suất 1,5 triệu tấn/năm với tổng mức đầu tư chính thức là 3.400 tỷ đồng. Mặc dù thị trường tiêu thụ xi măng khó khăn, nhưng Xi măng Fico là một trong số ít các nhà sản xuất đạt mức tiêu thụ tốt và vẫn cân đối được dòng tiền trả nợ.
Theo đại diện Xi măng Fico, tuy lượng xi măng cả nước đang dư thừa công suất thiết kế, nhưng lại luôn ở trong tình trạng “thừa Bắc, thiếu Nam”. Trong khi đó, việc vận chuyển từ Bắc vào Nam sẽ đội giá thành xi măng, không hiệu quả bằng việc xây dựng nhà máy và tiêu thụ tại chỗ, vì vậy Công ty quyết định triển khai xây dựng dây chuyền 2 cho Nhà máy. Tuy nhiên, ông Liêm cho biết, việc có thực hiện đầu tư hay không còn phụ thuộc vào kết quả thăm dò. “Đối với dây chuyền 2, tôi vẫn bảo lưu ý kiến như đã làm ở dây chuyền 1 là, nếu trữ lượng nguyên liệu không đủ, không hiệu quả chúng tôi nhất quyết không làm”.
Theo kế hoạch, Xi măng Fico sẽ phát hành tăng vốn điều lệ thêm 30%, lên 1.300 tỷ đồng vào quý I/2013. Đề cập đến tính khả thi trong kế hoạch tăng vốn, đại diện Xi măng Fico cho biết, đã có một số nhà đầu tư nước ngoài quan tâm, nhưng Công ty sẽ hướng đến và ưu tiên các nhà đầu tư trong nước, vì Xi măng Fico không chỉ phải kinh doanh, mà còn nhiệm vụ quan trọng hơn là thay đổi diện mạo kinh tế vùng biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc.
Ông Lê Văn Tới, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) khẳng định, Quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030 theo Quyết định 1488 của Thủ tướng Chính phủ được Bộ Xây dựng tính toán kỹ lưỡng dựa trên những phân tích khoa học. Các nhà máy phải căn cứ vào quy hoạch cũng như nhu cầu thị trường để lập kế hoạch cho chính mình.
Đối với trường hợp của Xi măng Fico đang trong giai đoạn khảo sát thăm dò là việc hết sức bình thường. Bộ Xây dựng với tư cách quản lý nhà nước sẽ làm đúng chức năng, quyền hạn của mình. Tuy nhiên, Bộ cũng căn cứ trên tình hình thực tế để đưa ra những khuyến cáo đối với từng trường hợp cụ thể. (Đầu Tư Chứng Khoán 17/10)đầu trang(
Đó là điều mà chỉ huy Kho 864 (Cục Quân khí, Tổng cục Kỹ thuật) nói với chúng tôi khi giới thiệu về mô hình trồng rừng kết hợp giữa bảo vệ an toàn kho và phát triển kinh tế.
“Thực mục sở thị” mô hình trên, Thượng tá Nguyễn Xuân Anh, Phó chủ nhiệm Hậu cần Kho 864 dẫn tôi đi một vòng quanh khu vực đơn vị. Dọc tuyến đường đi, trước mắt tôi là một màu xanh ngút tầm mắt, bao bọc toàn bộ khu vực kho. Màu xanh ấy được dệt nên bởi những rừng keo, muồng và đặc biệt là vườn cà phê chuẩn bị vào mùa thu hoạch.
Sở dĩ, có được "hàng rào xanh" như ngày hôm nay, theo Đại tá Cao Quang Khương, Phó chủ nhiệm về kỹ thuật, xuất phát từ tình hình thực tế đơn vị cần tạo một hành lang xanh bao quanh, bảo đảm an toàn kho trước những tình huống cháy, nổ có thể xảy ra; đồng thời góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân viên đơn vị. Từ chủ trương trên, chỉ huy kho phát động toàn đơn vị, hưởng ứng phong trào xóa đất trống bằng việc triển khai thực hiện trồng gần 80ha rừng ở những địa hình cao; đồng thời tiến hành cải tạo, trồng mới mở rộng diện tích cà phê từ 10 lên 15ha.
Để giúp đơn vị phát triển vườn cây, chỉ huy Kho 864 mời cán bộ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắc Lắc trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật trồng, cách chăm sóc và phương pháp phòng ngừa sâu bệnh. Đỡ cành cà phê trĩu quả trên tay, anh Xuân Anh khoe với tôi: “Nhờ vun trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật nên vườn cà phê của đơn vị mỗi năm cho thu hoạch từ 8 đến 10 tấn, tạo nguồn thu từ 250 đến 300 triệu đồng/năm. Từ nguồn thu này, hằng năm cán bộ, công nhân viên có thêm thu nhập hơn một triệu đồng/người và đưa vào bữa ăn thường xuyên 1.600 đồng/người/ngày”.
Tuy nhiên, điều mà chỉ huy Kho 864 lo lắng là tình trạng lượng nước ngầm đang ngày một cạn kiệt, dẫn đến thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô. Hơn nữa, số cây cà phê đang dần "già cỗi", cần số vốn đầu tư lớn cho việc trồng mới, điều này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì hàng rào xanh của đơn vị trong thời gian tới. (Quân Đội Nhân Dân 17/10)đầu trang(
17-10, tin từ Công an huyện Đức Linh (Bình Thuận) cho biết cơ quan này đang hoàn tất hồ sơ để xử lý những người có liên quan trong vụ mua bán, tang trữ trái phép hơn 44 m3 gỗ hộp các loại.
Từ thông tin tại rẫy trồng chôm chôm và cà phê thuộc thôn 10, xã Đa Kai, huyện Đức Linh do ông Lầu Sau Quay (trú huyện Tân Phú, Đồng Nai) làm chủ gần đây xuất hiện một “chợ” gỗ lậu, ngày 12-10, Công an huyện Đức Linh (Bình Thuận) phối hợp với Công an huyện Tân Phú (Đồng Nai) kiểm tra, phát hiện năm người đang giao dịch mua bán lâm sản trái phép.
Qua kiểm tra, cơ quan chức năng đã thu giữ 44 m3 gỗ hộp các loại và 50 triệu đồng tiền mặt, đồng thời tạm giữ ba người có liên quan để điều tra làm rõ. (Pháp Luật TPHCM 18/10)đầu trang(
17-10, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết hôm nay (18-10) sẽ tiến hành đếm số cá sấu còn lại trong chuồng của trang trại nuôi cá sấu Quốc Việt (xã Định Bình, TP Cà Mau) để xác định số lượng cá sấu sổng chuồng còn bên ngoài khu dân cư.
Tổng số cá sấu nuôi của trang trại là 580 con, sau sự cố sập tường rào, đến chiều 17-10 đã có 93 con bị bắt lại.
Rạng sáng 17-10, thêm một con cá sấu tìm đường thoát khỏi khu vực bị bao vây cô lập. Một sư cô ở ngôi chùa gần đó đã phát hiện con cá sấu này khi nó cố trườn vào khuôn viên chùa, bảo vệ đã bắt được và thả lại chuồng nuôi ngay sau đó.
Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau cho biết hiện vẫn còn một số cá sấu ở trong khu vực rào chắn cô lập, thuộc khu vực đầm lầy, ao cá của người dân ấp Cây Trâm A, xã Định Bình. Ngoài ra còn một con cá sấu khoảng 60 kg khác đang ẩn nấp ngoài khu vực rào chắn cô lập, thuộc ao cá nuôi của một hộ dân gần đó. (Pháp Luật TPHCM 18/10)đầu trang(
Trụ trì chùa Bửu Hương nói: “Nửa đêm tôi phát hiện ra con cá sấu lớn quậy phá dưới nhà bếp làm chén, tô, nồi niêu rớt xuống kêu loảng xoảng. Con cá sấu to đùng, hung hãn, nhào về phía tôi...".
17.10, nhiều bà con đã vây bắt thành công con cá sấu nặng khoảng 70kg đang trú ẩn trong khuôn viên chùa Bửu Hương (ấp Cây Trâm A, xã Định Bình, TP. Cà Mau).
Sau khi bị bắt, con cá sấu này đã được đưa về trại cá sấu của Công ty Quốc Việt.
Tiếp xúc với chúng tôi, Sư cô Diệu Thủy – Trụ trì chùa Bửu Hương, nói: “Nửa đêm tôi nghe tiếng động, tưởng ăn trộm vào chùa nhưng sau đó phát hiện ra con cá sấu lớn quậy phá dưới nhà bếp làm chén, tô, nồi niêu rớt xuống kêu loảng xoảng. Con cá sấu to đùng, hung hãn, nhào về phía tôi. Lúc này trong chùa có 3 cháu bé đang ngủ nên tôi đã liều mình lao vào vào ôm các cháu chạy ra ngoài kêu cứu. Ngay sau đó nhiều bà con ở xung quanh đến hỗ trợ ngăn chặn và bắt con cá sấu…”.
Cũng trong sáng 17.10, ở khu vực trên xuất nhiều tin đồn thấy cá sấu nổi trên sông cách trại cá sấu 4-5 km. Trung tá Phan Hoài Nam - Trưởng công an Định Bình(TP Cà Mau) cho biết: “Có xác minh những chưa phát hiện. Có thể tin đồn của bà con”.
Trong ngày hôm qua, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau thống kê, có 92 con cá sấu sổng chuồng bị bắt trở lại. Trong đó có 4 con bắt ngoài khu vực khả nghi và hiện vẫn còn cá sấu bên ngoài chưa bắt được. (Nông Thôn Ngày Nay 18/10)đầu trang(
30 ý kiến bạn đọc bày tỏ lo lắng, bất an... và đòi hỏi phải thu hồi ngay những con cá sấu sổng chuồng ở trang trại của Công ty Quốc Việt (TP Cà Mau) cũng như không để tình trạng này lặp lại.
Mấy ngày nay, người dân ở ngoại ô TP Cà Mau chúng tôi cứ bàn tán, lo lắng trước việc cá sấu sổng chuồng chưa bắt lại được hết. Gặp chị bạn nhà ở gần trang trại nuôi cá, chị nói cạnh nhà chị người ta mới bắt được một chú cá sấu, nghe rất sợ. Bản thân tôi cũng lo lắng vì đi lại trên sông nước nhiều, không hiểu mình có vô phước đụng mấy chú cá hung dữ ấy không?
Chuyện không hề nhỏ khi Trường tiểu học Kim Đồng, láng giềng của Công ty Quốc Việt, đã đóng cửa vì sự an toàn của học sinh. Hàng trăm học sinh gián đoạn học tập là sự thiệt hại khó cân đo đong đếm. Một số lượng lớn cá sấu trưởng thành thoát khỏi chuồng trại trong khu vực dân cư đông đúc, đặc biệt ngay sát con kênh đào Bạc Liêu - Cà Mau khiến không ai không lo ngại. Vừa qua những cơn mưa to liên tiếp, nước sông dâng cao, những con cá sấu khỏe khoắn và đói mồi kia chắc chắn là mối lo cho tụi nhỏ vốn có thói quen nghịch nước và sống cận kề sông nước.
Người dân buồn lòng khi việc lập một cơ sở nuôi động vật hoang dã không hề nhỏ như thế trong khu vực có dân cư đông. Càng buồn hơn khi biết đến bây giờ, sự cố xảy ra gần một tuần rồi mà người ta vẫn không biết chính xác số lượng cá sấu thoát ra ngoài.
Người dân sẽ an lòng nếu chính quyền có biện pháp khẩn cấp và phản ứng chuyên nghiệp hơn để giải quyết hậu quả, thay vì việc “thu hồi” cá sấu được khoán cho các thợ đến từ Bạc Liêu sử dụng thiết bị tạo ra xung điện và... người dân tay không! Không phải yêu cầu cao hay đòi hỏi nhiều, nhưng nếu một vụ tương tự xảy ra tại một nước có quy định nghiêm ngặt về nuôi động vật hoang dã thì như thế nào? Sẽ là một báo động đỏ thật sự về trách nhiệm của chủ trại cá sấu, cơ quan chức năng, và họ phải cuống cuồng giải quyết hậu quả.
Qua đây, người dân có quyền đặt câu hỏi: Còn bao nhiêu chuồng trại cá sấu tương tự sắp sập tường rào? Ngoài cá sấu, còn những động vật hoang dã nào được nuôi nhốt như cách mà Công ty Quốc Việt làm?
Chỉ biết rằng trong khi mưa rả rích, người dân trong khu vực vẫn phải nơm nớp lo sợ những chú cá sấu đói mồi chưa bị bắt, không biết chúng quanh quẩn ở đâu đó, trong bụi rậm hay dưới dòng kênh đào đang vào đợt triều cường. (Tuổi Trẻ 18/10)đầu trang(
Hội Mỹ nghệ và chế biến gỗ TP.HCM (HAWA) vừa có kiến nghị gửi Bộ NN-PTNT về việc gỡ khó cho doanh nghiêp đồ gỗ liên quan đến việc phải xin giấy thông báo miễn kiểm dịch trên từng lô hàng xuất khẩu.
Theo HAWA, thông tư 40/2012 do Bộ NN-PTNT ban hành (có hiệu lực từ ngày 29.9.2012) trong đó quy định gỗ và các sản phẩm từ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ và bao bì đóng gói có nguồn gốc thực vật… buộc phải kiểm dịch thực vật đã tạo ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu gỗ.
Phản ánh của các doanh nghiệp thuộc HAWA cho thấy việc bắt buộc kiểm dịch trước khi xuất khẩu là không cần thiết. Ngược lại động thái này còn gây khó khăn cho doanh nghiệp loay hoay và tốn công sức, tiền bạc để xin giấy thông báo miễn kiểm dịch trên từng lô hàng.
Từ đó, HAWA đề nghị Bộ NN-PTNT không kiểm dịch các sản phẩm gỗ xuất khẩu quy định tại thông tư 40/2012 nếu quốc gia nhập khẩu không yêu cầu. Đồng thời, kiến nghị không kiểm dịch thực vật đối với các lô hàng nhập khẩu đã được nước xuất khẩu kiểm dịch.
Trên thực tế, việc kiểm dịch thực vật trên gỗ và sản phẩm gỗ cũng như hàng thủ công mỹ nghệ thường do nước nhập khẩu quy định. Nếu các doanh nghiệp nhập khẩu đã kiểm tra thì phía nhập khẩu sẽ không kiểm và nếu nước nhập khẩu không yêu cầu thì lô hàng không cần thiết phải kiểm tra. (Thanh Niên 17/10)đầu trang(
Hội chợ quà tặng hàng Thủ công mỹ nghệ Hà Nội 2012 (Hanoi Gift Show 2012) lần thứ nhất sẽ diễn ra tại Trung tâm Hội chợ - Triển lãm Việt Nam, Hà Nội từ ngày 26-30 tháng 10.
Hội chợ có qui mô gần 550 gian hàng thu hút sự tham gia của trên 230 doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu của Hà Nội và 18 tỉnh thành trong cả nước thuộc các ngành: hàng thủ công mỹ nghệ và trang trí gia đình, hàng đồ gỗ trong nhà và ngoài trời, hàng dệt gia dụng và thêu ren, quà tặng và sản phẩm các đồng bào dân tộc, hàng trang sức và phụ kiện các nhân, hàng đồ chơi.
Đặc biệt, Ban tổ chức đã nhận được trên 489 đăng ký của khách nhập khẩu quốc tế đến giao dịch tại hội chợ, trong đó có nhiều nhà nhập khẩu lớn, có doanh thu hàng năm trên 100 triệu USD như: Monogrammed Linen Shop (Anh), StyleSetter International Co. Tty Ltd (Úc), Lesli Living (Hà Lan)… (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 18/10)đầu trang(

TIN THẾ GIỚI
Ngày 17/10, Bộ trưởng Môi trường của hơn 70 quốc gia đã bắt đầu hội nghị Công ước Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học (CBD), kéo dài ba ngày tại Hyderabad (Ấn Độ), để thảo luận cách chấm dứt tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, trong bối cảnh các nước đang chịu sức ép phải huy động các nguồn tài chính để thực hiện các cam kết chính trị đối với vấn đề này.
Hội nghị diễn ra nhân kỷ niệm 20 năm ra đời CBD với 193 nước ký công ước. Trước đó, tại hội nghị năm 2010 ở Nhật Bản, các nước thành viên Liên hợp quốc đã nhất trí một kế hoạch gồm 20 điểm, theo đó đến năm 2020 giảm một nửa tỷ lệ thu hẹp môi trường sống, mở rộng các khu vực đất và nước được bảo vệ, ngăn chặn đà tuyệt chủng của các loài trong danh sách bị đe dọa, và khôi phục ít nhất 15% hệ sinh thái bị xuống cấp.
Kế hoạch này đang có nguy cơ không thực hiện được do thiếu tiền chi cho các chương trình bảo tồn thiên nhiên trong bối cảnh toàn cầu áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng". Các chuyên gia ước tính cần khoảng 150-440 tỷ USD mỗi năm để thực hiện được các mục tiêu này.
Hội nghị cấp bộ trưởng của CBD diễn ra sau khi kết thúc hai tuần thảo luận giữa các quan chức cấp cao của 184 quốc gia thành viên CBD bế tắc trong vấn đề tài chính.
Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh nhấn mạnh "vấn đề quan trọng thực sự là làm sao để huy động được các nguồn tài chính, nhân lực và công nghệ cần thiết" để thực hiện các mục tiêu đã đề ra. Ông cho biết Ấn Độ đã cam kết chi 50 triệu USD để thúc đẩy công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Theo "Danh sách Đỏ" của Liên minh Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) công bố ngày 17/10, gần một nửa các loài động vật lưỡng cư, 1/3 các loại san hô, 1/4 các loạt động vật có vú, 1/5 các loại cây trồng và 13% các loài chim trên thế giới đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Một báo cáo được công bố tại hội nghị trên cho biết 50% diện tích đầm lầy đã bị phá hủy trong vòng 100 năm qua để lấy không gian xây dựng nhà ở, xưởng sản xuất và làm trang trại, hoặc bị hủy hoại do việc sử dụng nước không bền vững và tình trạng ô nhiễm. Báo cáo cũng cho biết diện tích đầm lầy ở duyên hải cũng đang bị thu hẹp, đặc biệt tại châu Á, với tỷ lệ 1,6% mỗi năm.
Đầm lầy là một nguồn cung cấp nước sinh hoạt và bảo vệ con người khỏi bão và lũ lụt. Ngoài ra, đầm lầy còn là nơi "chôn tự nhiên" khí thải cácbon điôxít (CO2) gây hiệu ứng nhà kính làm khí hậu Trái Đất nóng lên. Đây cũng là "vườn ươm" các loài cá. Vì vậy, diện tích đầm lầy thu hẹp đang đe dọa sức khỏe của con người trong bối cảnh ngày càng khan hiếm nước. (VietnamPlus.vn 18/10)đầu trang(
Mới đây, Cảnh sát Trung Quốc đã bắt 11 nghi phạm vì tội bắt trộm động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng tại một khu rừng nguyên sinh của nước này.
Đồng thời, cảnh sát Trung Quốc cũng thu giữ một số lượng lớn tang vật gồm 17 vuốt gấu, túi mật gấu, hơn 300 kg thịt gấu, cùng da hươu xạ và các xác chết của linh dương.
Các nghi phạm đã sử dụng lưới điện để bẫy các động vật có nguy cơ tuyệt chủng trong rừng thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Wufenghouhe nằm trên biên giới hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam, Trung Quốc.
Hiện cảnh sát nước này đang tiếp tục truy nã 5 nghi phạm khác. Được biết, mật và vuốt gấu là những nguyên liệu đắt tiền được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền Trung Quốc. (Đất Việt 17/10) đầu trang(./.
Biên tập viên: Bùi Hoa