|
Ngày 17 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Yên Thành (Nghệ An) là vùng rừng núi rộng lớn và hữu tình, thế nhưng bầy cò trắng lại chỉ chọn nhà anh Vũ Văn Ngân ở xóm 10 (xã Lý Thành) làm nơi trú ngụ.
Như một duyên nợ với đàn cò, anh Ngân đã dành nhiều thời gian, công sức và tình cảm để bảo vệ, níu giữ bầy chim trắng. Người dân nơi đây bảo rằng, anh hiểu được tiếng chim và có thể trò chuyện được với chúng…
Về Lý Thành, từ xa chúng tôi đã nhìn thấy những cánh cò trắng lượn bay trên các ngọn cây phía chân đồi. Càng đến gần, tiếng kêu, tiếng vỗ cánh cộng hưởng của hàng ngàn con chim inh ỏi, huyên náo cả một vùng. Đứng trước sân nhà anh Ngân, có thể dễ dàng nhận ra cơ man nào là cò trắng, sếu, vạc, vàng anh, sáo, yểng…, chúng bay lượn rợp cả khoảng trời rộng lớn.
Anh Giang Đống, người dẫn đường cho chúng tôi chỉ người đàn ông đang bơi dưới ao sau nhà: “Ngân đó, anh ta đang cứu hộ cò”. Ngân có dáng người vạm vỡ, da dẻ đỏ như đồng hun, vừa bế 2 chú cò con từ ao lên vừa nói: “Trận gió lớn lúc đêm làm mấy chú cò non này rơi xuống. Tội nghiệp, nếu không phát hiện kịp thì chúng chết mất. Các anh vào nhà chơi, chờ em đưa mấy con cò này về chỗ của chúng”. Nói rồi thoắt cái, Ngân đã lẩn vào đám bụi tre trả những chú cò non về tổ. Như đã quá quen với việc làm của chủ, hàng ngàn con chim vẫn yên vị mà không bay đi.
Vườn của anh Ngân chủ yếu là tre, tràm, keo, bạch đàn và bời bời lâu năm. Hàng trăm tổ chim lúc lỉu trên những cành cây, vỏ trứng, phân chim trắng cả lối đi. Theo Ngân thì vườn chim này có từ thời ông nội anh. ông anh kể rằng: vào tiết Bạch lộ tháng 8/1950, đột nhiên cò ở đâu bay về đậu trắng cây. Cơ man nào là cò, chúng bay lượn lung tung húc cả vào người, sà vào nhà. Lúc đó trẻ con, người lớn xách súng cao su, có người còn lấy đất đá để ném, thế là cò bay hết. Không ngờ chỉ ít phút sau chúng lại quay về và tới chiều hôm sau thì về và ở lại.
Theo những bậc cao niên trong làng thì ông nội và cha anh Ngân là những người hết lòng bảo vệ đàn chim. Những năm giáp hạt đói kém, thà ăn rau, ăn sắn trừ bữa, cũng không bắt cò đem bán để mua gạo. Đến đời anh Ngân cũng vậy, luôn hết lòng yêu thương và bảo vệ chúng. Ngân tâm sự: Từ thuở nhỏ tui đã được ông nội dạy rằng: “Đất lành chim đậu, ở Yên Thành lắm rừng nhiều cây sao chim không ở mà lại về vườn nhà mình.Con hãy ghi nhớ điều này: Phải giữ gìn và bảo vệ. Hãy yêu thương lấy chúng”.
Để níu giữ đàn chim ở lại và phát triển ngày một đông đúc, Ngân dành nhiều thời gian, công sức và tình cảm cho đàn chim. Ngân kể: “Từ khi ông nội mất, nhiều người vào vườn săn bắn chim. Những tay săn chim ở nơi khác cũng kéo về, chim bay loạn xạ, đêm đến họ còn soi đèn bắn và bẫy nhựa. Hồi đó tui còn nhỏ, nhìn họ bắn chim chết, tui khóc dữ lắm. Năm 10 tuổi, tui dẫn theo đứa em, đêm đến nhặt từng rổ đá ra vườn trực không cho họ bắn chim”.
Khi lớn lên, lấy vợ sinh con cũng thế, Ngân kiên quyết bảo vệ bầy chim. Ngân lấy nhiều tấm ván dùng sơn viết lên dòng chữ: “Cấm săn bắn chim” cắm xung quanh vườn. Rồi anh đi từng nhà có trẻ con khuyên các cháu và nói với ông bà, cha mẹ nhắc nhở con em không dùng súng cao su bắn chim.
Ngân đến cả trường học để nhờ nhà trường tuyên truyền về việc bảo vệ đàn chim là bảo vệ môi trường. Đối với những người đi săn nói không được, Ngân tịch thu súng. Anh em họ hàng đến xin anh bắt mấy con để cải thiện bữa ăn anh cũng không cho. Một số cán bộ huyện, xã đến xin vào vườn anh cũng lắc đầu.
Chị Ánh, vợ anh Ngân, tâm sự: “Có những khi gia đình gặp khó khăn, nhiều người đến mua cả đàn bằng cách bẫy lưới với giá 10.000 -15.000 đồng/con, không những không bán, anh còn đuổi họ ra khỏi nhà. Lúc đầu tui cũng tức lắm nhưng dần dần hiểu ra việc anh ấy làm là đúng nên đã cùng con cái ra sức bảo vệ đàn chim”. Ngân nói với tôi, giọng trầm buồn: “Tui bảo vệ chim nên mất lòng hàng xóm, anh em nhiều lắm. Nhưng tui thà mất lòng họ còn hơn mất lòng chim. Người ta chưa hiểu rồi họ hiểu, còn chim đã bỏ đi thì khó có thể quay về”.
Có một năm đến cữ cò về (15-20/3/2010 âm lịch) mà vườn cây vắng lặng chưa thấy gì, Ngân cứ thẫn thờ vào ra như người mất hồn và bật khóc khi chiều đến mà không thấy một cánh cò nào. Nhưng rồi, mấy ngày sau, từng đàn cò trắng lại rủ nhau trở về bên anh. Ngân vui mừng nhảy cẫng lên như đứa trẻ nói với vợ: “Anh với cò có duyên nợ, nó nhớ anh nên nó không bỏ được anh”.
Đêm đó, Ngân mời chúng tôi ở lại nghe tiếng khóc của chim non. Khi cả miền quê đã chìm vào giấc ngủ, chúng tôi bắt đầu nghe nhiều tiếng chim non kêu chiêm chiếp, lúc yếu ớt, lúc dồn dập trong đêm. Ngân trầm buồn: “Ở Nghệ An, huyện, xã nào cũng có người bẫy cò để bán. Tiếng cò mà anh đang nghe là tiếng khóc của những con chim non mất bố mẹ. Nghe chim non khóc vì đói, mất bố mẹ mà nhiều đêm tôi không ngủ được.”
Có lẽ gắn bó và yêu thương đàn chim nên suốt nhiều năm - đến hẹn lại lên, cứ đến cữ 15-20/3 âm lịch, từng đàn cò trắng lại rủ nhau về vườn nhà anh trú ngụ, làm tổ cho đến tháng 9 mới tạm chia tay anh để đi tránh rét.
Hiện, Ngân đang trồng thêm tràm, keo và mở rộng ao giữa vườn để tạo điều kiện thuận lợi cho bầy chim trú ngụ và làm tổ. Tất cả những việc anh làm như một duyên nợ với bầy chim trắng.
Việc anh làm không những bảo vệ môi sinh môi trường mà còn là tấm gương giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng nhân ái và tình yêu thiên nhiên; làm đẹp thêm cảnh quan vùng đất Yên Thành nhiều sông núi, nổi tiếng là địa linh nhân kiệt này.
Nay, vườn anh Ngân không chỉ có cò trắng mà nhiều loại chim khác cũng kéo nhau về làm tổ. Mảnh đất lành và tấm lòng của anh đã trở thành mái ấm thân thiết cho các loài chim; con người anh như giao hoà với thiên nhiên tạo nên vườn chim sinh thái độc đáo bậc nhất miền quê xứ Nghệ. (Kinh Tế Nông Thôn 13/11) đầu trang(
Ngày 16/11, ông Võ Sỹ Lâm – Hạt trưởng hạt kiểm lâm huyện Tương Dương (Nghệ An) cho biết, lực lượng chức năng hôm qua đã bắt giữ 3 lâm tặc, thu gần 50 m3 gỗ lậu tại vùng rừng phòng hộ đầu nguồn thuộc địa bàn bản Piêng Cọoc, xã Mai Sơn, huyện Tương Dương (Nghệ An).
Được biết, sau một thời gian theo dõi và mật phục, Phòng Cảnh sát Phòng chống Tội phạm về Môi trường (PC 49) Công an Nghệ An phối hợp với lực lượng chức năng huyện Tương Dương đã bắt gọn đối tượng La Bốn Tưởng (SN 1984), Lữ Văn Hùng (SN 1974) và Lô Văn Thủy (SN 1989) cả 3 đối tượng đều thường trú tại xã Mai Sơn, huyện Tương Dương khi đang vận chuyển gỗ lậu được xẻ từng tấm từ rừng phòng hộ đầu nguồn ra.
Qua kiểm tra, lực lượng chức năng đã thu được 28 tấm gỗ săng (loài gỗ thuộc nhóm 6-PV). Tiếp tục đi sâu vào trong rừng phòng hộ đầu nguồn Tương Dương, lực lượng chức năng phát hiện thêm nhiều tấm gỗ đã được cắt xẻ ước tính thêm 27 m3 gỗ.
Hiện vụ việc đang được cơ quan chức năng điều tra làm rõ. (Tiền Phong 16/11) đầu trang(
Chiếc xe ủi, tang vật của vụ việc phát hiện gần 37 mét khối gỗ khủng “lọt” qua biên giới về Kon Tum vào ngày 2/11 vừa qua đã được tìm thấy.
Trước đó, sau khi có thông tin xe tang vật bị mất, lãnh đạo tỉnh Kon Tum đã chỉ đạo quyết liệt và yêu cầu phải tìm ra chiếc xe này. Ngay sau đó lực lượng Biên phòng tỉnh “bất ngờ” phát hiện xe tang vật bị mất trên tại vị trí đã mất.
Theo ông Dương Văn Thành, đồn trưởng Đồn Biên phòng Dục Nông cho biết, chiếc xe trên đã "bị mất" vào thời điểm cán bộ, chiến sỹ về ăn cơm trưa. Trong quá trình đi tìm kiếm, thị sát thì đến ngày 14/11, đơn vị đã phát hiện xe tang vật đã về vị trí cũ.
Trước đó, TTXVN đưa tin ngày 2/11 lực lượng chức năng đã phát hiện 2 xe chở gần 37 mét khối gỗ lậu từ Lào “lọt” biên giới về Kon Tum. Ngay sau việc trên các tang vật được đưa về Hạt kiểm lâm Ngọc Hồi.
Riêng chiếc xe ủi (không có chủ, không biển kiểm soát) vì không có chìa khóa, tài xế nên lực lượng chức năng đã giao lại cho chốt quản lý bảo vệ rừng của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên lâm nghiệp Ngọc Hồi phối hợp với chốt của đồn Biên phòng 675 (đồn Biên phòng Dục Nông) để trông coi, bảo quản và có biên bản bàn giao. Tuy nhiên sau đó xe ủi, tang vật của vụ việc trên không cánh mà “bay” khỏi khu vực này.
Hiện công an huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum đã bắt đầu điều tra vụ việc. (Vietnam + 16/11) đầu trang(
Ngày 16.11, ông Võ Danh Tuyên – Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng – cho biết: Hồ sơ vụ việc khai thác gỗ pơmu (nhóm 2, quý hiếm, có tên trong sách đỏ VN) trái phép tại Vườn quốc gia (VQG) Bidoup Núi Bà (đã được công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới) mới đây đã được bàn giao cho Hạt Kiểm lâm của Vườn để tiến hành điều tra.
Theo ông Tuyên, thời gian gần đây, qua kiểm tra (cả mật phục), Đội Kiểm lâm cơ động số 1 của Chi cục đã phát hiện một vụ vận chuyển gỗ pơmu thường diễn ra vào chiều tối trên đường 723 đoạn Lâm Đồng giáp với tỉnh Khánh Hòa.
Khi tiến hành truy bắt, các đối tượng thường “cắt hàng” tẩu thoát. Mới đây, qua kiểm tra hiện trường do Chi cục Kiểm lâm chủ trì, đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh đã phát hiện tại VQG Bidoup Núi Bà ở khoảnh 1, tiểu khu 130 có 9 cây gỗ pơmu bị đốn hạ (đường kính gốc từ 0,5 – 1,05m; khối lượng ước hơn 19m3).
Ngoài ra, kiểm tra thêm tại tiểu khu 89, lực lượng liên ngành còn phát hiện 3 cây pơmu khác vừa bị cưa hạ. Tại hiện trường 9 cây gỗ pơmu, hầu hết các lóng gỗ lớn đã được lâm tặc chuyển ra khỏi rừng.
Liên quan đến vụ việc khai thác gỗ quý hiếm tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbian (VQG Bidoup Núi Bà), cơ quan chức năng cũng vừa phát hiện tại thôn Liêng Bông, xã Đạ Nhim (huyện Lạc Dương) một điểm chuyên tập kết gỗ pơmu. (Lao Động 16/11) đầu trang(
Hòn Giao là khu vực giáp ranh giữa Lâm Đồng và Khánh Hòa (cách Đà Lạt 60km). Nơi đây vẫn được nhiều du khách biết đến như điểm khởi đầu cho cung đường đèo Omega thơ mộng nối biển và hoa, với núi rừng, sương mù giăng mắc. Nhưng ít ai biết rằng, trên đỉnh Hòn Giao (cao gần 1.800m) ấy còn ẩn chứa cả một “rừng rêu” đầy quyến rũ.
Theo thông tin từ trung tâm nghiên cứu quốc tế rừng nhiệt đới, thuộc Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà: Rừng ở Hòn Giao là một dạng rừng lùn đỉnh núi (pygmy forest). Rừng ở đây được hình thành bởi các đặc điểm khác biệt về khí hậu và thổ nhưỡng. Tại đây, những cây gỗ thấp bé (cao chỉ khoảng 10 mét) mọc dày đặc với mật độ gần 4000 cây/ha so với 800-900 cây/ha ở những khu vực kế cận.
Cũng bởi sự đặc biệt về khí hậu, với lượng mưa lớn và độ ẩm cao quanh năm, xuất hiện các loài rêu phong đa dạng trong khu rừng này, theo số liệu khảo sát, ở đây có hơn 100 loài rêu với đầy đủ các nhóm rêu tản, rêu sừng và rêu thực. Có lẽ hiếm có nơi nào mà rêu lại mọc nhiều và đẹp như ở đây. Cũng bởi vì thế mà những kiểm lâm, các anh hướng dẫn viên tại Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà, và người bản địa vẫn gọi tên khu rừng trên đỉnh Hòn Giao với cái tên đầy kiêu hãnh là “rừng rêu”.
Giữa “rừng rêu”, nắng xen qua kẽ lá, chiếu lấp lánh trên những đám rêu còn đọng chút sương đêm khiến những giọt nước như “phát sáng”. Rêu phủ những thân cây một lớp dày xanh mượt từ gốc lên đến ngọn. Trên các cây lớn nằm ngang, những sợi rêu dài rũ xuống như tấm mành cửa của thiên nhiên đầy lãng mạn. Khung cảnh ấy đủ để chúng ta quên hết ồn ào nơi phố thị và hòa mình vào thiên nhiên xanh mướt; những cô gái trẻ thích khám phá mơ ước về bộ ảnh cưới được chụp giữa khung cảnh đẹp đến lặng người này.
Hiện nay ở Nhật Bản, người dân xem việc ngắm rêu như một liệu pháp thư giãn hiệu quả. Đó trở thành một hoạt động ngoài trời được yêu thích tại xứ sở Mặt trời mọc.
Cũng tại khu vực này có rất nhiều lan rừng sinh sống. Lan mọc chi chít quanh những thân cây lớn, bám trên cả những cành cây nhỏ, lan rơi cả trên những lối đi theo những cành cây mục… Vào độ tháng 2, tháng 3 hàng năm, trên nền xanh của cây rừng và của rêu là trăm ngàn những nhành hoa lan khoe sắc.
Cảnh sắc đặc biệt của rừng rêu Hòn Giao không dễ tìm thấy ở nơi khác. Nên nơi đây hoàn toàn có tiềm năng để trở thành điểm du lịch mới. Và Trung tâm Du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà và các công ty du lịch lữ hành đã tiến hành những chuyến đi tiền trạm, khảo sát địa điểm này để đưa vào kế hoạch phát triển các tour du lịch mới. Các đơn vị liên quan cần xây dựng được chiến lược khai thác hiệu quả để việc phát triển du lịch phải đi đôi với việc bảo tồn bền vững. (Hải Quan 16/11) đầu trang(
Sâm Ngọc Linh là loại sâm quý hiếm vì vậy tâm lý chung của nhiều người là muốn mua tận gốc mới hy vọng là sâm thật.
Cũng chính từ tâm lý chung này nên rất nhiều người không ngại đường sá xa xôi tìm về chân núi Ngọc Linh (tỉnh Kon Tum) để tìm mua. Nắm được tâm lý trên thời gian gần đây một số con buôn đã cải trang thành người bản xứ rao bán sâm giả và không ít người đã bị sập bẫy.
Sâm Ngọc Linh được xem là loại dược liệu quý hiếm có tác dụng tốt cho sức khỏe được tìm thấy nhiều ở khu vực núi Ngọc Linh. Là loại sâm quý nên những năm về trước có rất nhiều lái buôn ở khắp nơi tìm đến thu mua và hiện nay dường như nguồn sâm tự nhiên cũng đã cạn kiệt. Điều đáng nói, nhiều lái buôn vì muốn qua mắt người tiêu dùng đã cải trang thành người dân tộc thiểu số trong bộ dạng nghèo khổ, lưng đeo gùi chứa đầy "sâm Ngọc Linh" để đánh lừa người đi đường.
Vậy thực hư sâm Ngọc Linh mà những đối tượng này rao bán là gì? Để tìm hiểu rõ hơn về các chiêu thức mà nhóm người này thực hiện, PV Báo Công lý đã tìm hiểu về vấn đề này.
Qua quan sát, hàng ngày nắm bắt được tâm lý của những người có nhu cầu mua sâm, phần lớn là người dưới xuôi lên và đặc biệt rất tin vào sự…chân thật của người dân tộc “có gì nói nấy”. Chúng cải trang thành người địa phương trong những trang phục bản xứ. Vì vậy khi người tìm mua sâm Ngọc Linh chỉ nhìn vào hình thức bên ngoài đã tin ngay và nghiễm nhiên bỏ hàng chục triệu đồng ra mua hàng. Họ không hay biết mình vừa bỏ ra số tiền không nhỏ chỉ để mua…củ Tam thất Vũ Điệp.
Thực tế cho thấy, từ năm 2010, Công an tỉnh Kon Tum đã phát hiện một đường dây tiêu thụ sâm Ngọc Linh giả. Trong đó phải kể đến vụ Công an Kon Tum đã tạm giữ hành chính đối với ông Nguyễn Đình Ký (ngụ thôn Măng Đen, xã Đắc Long, huyện Kon Plông, Kon Tum), khi ông này đang tiêu thụ khoảng 2kg sâm Ngọc Linh giả với giá 4 triệu đồng/kg.
Sau khi bị phát hiện, qua lời khai của các đối tượng này mới biết đây là một đường dây chứ không phải từng cá nhân đơn lẻ, tự phát. Theo đó, ông Ký khai đã mua số sâm này của ông Hồ Văn Hùng trú tại 230 Hùng Vương, TP.Kon Tum. Ông Hùng nói là mua của bà Hà Thị Tố Nga trú tại khối 7, thị trấn Đắc Tô, Kon Tum. Còn bà Nga thì nói số sâm đó do một phụ nữ tên Bình ở ngoài Bắc cung cấp.
Qua tìm hiểu sự việc, được biết, trên thị trường hiện nay 99,9% đều không phải sâm Ngọc Linh mà là Tam thất Vũ Điệp. Đây là loại cây có rất nhiều ở các tỉnh phía Bắc và Vân Nam Trung Quốc giá của nó chỉ khoảng 800.000 đồng/kg, ai có nhu cầu chỉ cần gọi điện, đặt hàng là họ gửi vào cả tấn.
Tam Thất cùng họ với sâm Ngọc Linh, về củ, hoa, lá và trong thành phần củ này cũng có một số hoạt chất giống sâm Ngọc Linh. Tuy nhiên củ Tam thất Vũ Điệp mỗi năm tăng trưởng từ 7-10 đốt, trong khi sâm Ngọc Linh chỉ tăng 1 đốt.
Hiện nay ở Kon Tum có hai cơ sở trồng sâm là Công ty CP Sâm Ngọc Linh Kon Tum trồng khoảng 150 ha và Cty TNHH MTV Lâm nghiệp Đăk Tô trồng 8 ha. Cả 2 đều đang nhân giống, chưa đến giai đoạn thu hoạch. Vì vậy việc sâm Ngọc Linh được đổ thành đống rao bán như… khoai, sắn chỉ là giả mạo.
Việc bán sâm Ngọc Linh giả ngay chân núi Ngọc Linh không những gây mất uy tín cho các đơn vị, địa phương đang tạo giống loại cây quý hiếm này mà còn đánh lừa người dân khắp nơi trong cả nước, thậm chí nhiều người còn rơi vào cảnh “tiền mất tật mang”.
Để chấm dứt tình trạng con buôn lừa bịp người tiêu dùng, đề nghị các cơ quan chức năng cần vào cuộc quyết liệt ngăn chặn, đồng thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với những cá nhân vì lợi ích riêng mà cố tình lừa đảo. (Công Lý 17/11) đầu trang(
Được sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát Quân khu V, Phòng Điều tra Hình sự Binh đoàn 15 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can bắt tạm giam 4 tháng đối với ông Trần Văn Khanh-nguyên Giám đốc Công ty TNHH một thành viên Cao Su Bình Dương trực thuộc Tổng Công ty 15 ( Bình Đoàn 15) đứng chân trên địa bàn tỉnh Gia Lai về hành vi “Hủy hoại tài nguyên rừng”.
Liên quan đên việc triệt phá rừng ngoài vùng dự án, năm 2014 báo Điện Tử Tầm Nhìn đã có loạt đã có bài phản ánh về những sai phạm xảy ra tại Công ty Cao su 75 & Cty TNHH một thành viên Bình Dương ( đều trực thuộc Tổng Công Ty 15- Binh Đoàn 15). Trong đó chủ yếu đề cập đến nhưng sai phạm kéo dài của Công ty TNHH một thành viên Bình Dương ngang nhiên xâm phạm rừng trong suốt 2 năm 2010 và 2011 khiến hàng nghìn ha rừng bị triệt hạ.
Trong đó đặc biệt là việc khai thác và trồng ngoài thiết kế hơn 700 ha cao su trên diện tích rừng tự nhiên tại huyện Chư Prông. Ngay sau khi báo chí phản ánh, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Thế Dũng đã yêu cầu thành lập đoàn kiểm tra liên ngành xác minh sự việc. Sau khi có kết quả kiểm tra của đoàn liên ngành đầu năm 2014, Chủ tịch UBND tỉnh đã yêu cầu chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Điều tra Bộ Quốc phòng xử lý theo thẩm quyền.
Tại Quyết định 746/QĐ-UBND được UBND tỉnh Gia Lai ban hành năm 2009 quy định trình tự, thủ tục trồng cao su trên đất lâm nghiệp nêu rõ “Không được lấy đất dân đang sản xuất và đất đã được giao khoán bảo vệ rừng theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ, không xâm phạm khu vực mồ mả của dân, trồng cao su cách mép sông suối tối thiểu 50 m, cách đường liên huyện tối thiểu 100m”. Thế nhưng quá trình kiểm tra, đoàn kiểm tra đã phát hiện nhưng sai phạm nghiêm trọng tại Cty TNHH MTV Bình Dương
Ngoài ra, trong quá trình triển khai chủ trương trồng mới 51.000 ha cao su tại Gia Lai, mặc dù UBND các tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt công tác quản lý bảo vệ rừng và triển khai kế hoạch trồng cao su theo chủ trương của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ NN&PTNT, song Công ty TNHH một thành viên Bình Dương, Tổng Công ty 15 (Binh đoàn 15) đã phớt lờ chỉ đạo khi xâm hại hàng nghìn ha đất rừng tại 2 xã Ia Me và Ia Puch huyện Chư Prông để trồng cao su, đồng nghĩa với việc hàng nghìn khối gỗ được ngang nhiên khai thác vô tội vạ.
Sau khi bị bắt, Cơ quan Điều tra đã di lý ông Khanh từ nhà riêng ở Hà Nội vào Gia Lai phục vụ điều tra. Cùng bị khởi tố, bắt giam với ông Khanh còn có một cán bộ tên T - nguyên là trợ phụ trách Xây dựng cơ bản của Công ty TNHH một thành viên Bình Dương. (Tầm Nhìn 16/11) đầu trang(
Nằm trong Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Vườn thực vật là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách khi đến Quảng Bình. Hoang sơ mà gần gũi, hùng vĩ và thân thiện, đây là điểm nhấn tuyệt đẹp trong hành trình khám phá rừng nguyên sinh với hệ động, thực vật đa dạng, quý hiếm, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp...
Từ trung tâm du lịch Phong Nha-Kẻ Bàng đi theo đường 20 Quyết Thắng dưới những tán rừng rợp bóng đến km9 là gặp Vườn thực vật. Trước khi vào rừng, du khách được tham quan nhà trưng bày gồm những mẫu động, thực vật quý hiếm mang đặc trưng của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Đây là nơi lưu trữ các mẫu vật khô phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học và diễn giải môi trường.
Tại đây, du khách được xem bộ sưu tập mẫu vật về các loài thực vật, động vật đặc hữu và quý hiếm của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng và một số mẫu vật về địa chất địa mạo, mẫu vật về loài san hô 4 tia là bằng chứng khoa học về hệ thống địa chất địa mạo cổ hình thành cách đây trên 400 triệu năm về trước mà ít nơi có thể nhìn thấy được.
Tạm biệt nhà trưng bày, mang theo tấm bản đồ của khu vườn rộng lớn có diện tích trên 40ha, trong không gian tĩnh lặng của rừng già, từng đoàn du khách nối nhau đi vào rừng. Con đường nhỏ lát đá vừa đủ lối đi đưa du khách tiến sâu vào khu rừng. Càng đi sâu vào rừng, nhiệt độ càng giảm nên dù giữa trưa hè nắng gắt, không khí vẫn vô cùng dịu mát.
Sau khoảng mười lăm phút đi bộ dưới tán rừng nguyên sinh mát rượi, thác Gió bất ngờ hiện ra. Bắt nguồn từ suối Vàng Anh, thác cao khoảng 30m. Du khách có thể dừng chân trên những bậc cầu thang gỗ đầu tiên từ trên cao để ngắm thác Gió tung bọt trắng xóa, đẹp như bức tranh thủy mặc. Khu rừng im ắng, chỉ còn tiếng thác đổ lẫn trong tiếng muông thú, chim chóc thi thoảng vang lên. Theo những bậc cầu thang gỗ chênh vênh bên vách núi, du khách ngày càng tiến gần hơn đến chân thác Gió để có thể chạm vào làn nước mát rượi đang len lỏi qua những phiến đá lớn dọc lòng khe...
Nếu thác Gió là điểm dừng chân lý tưởng của hầu hết du khách, thì hành trình men lòng khe đi sâu vào Vườn thực vật là sự thử thách lòng can đảm và khát khao khám phá của những người yêu thích sự phiêu lưu. Bắt đầu từ điểm cuối của thác Gió, lòng khe hẹp dần và sâu hơn. Để tiến sâu vào rừng, du khách phải đu mình theo sợi dây thừng to chạy dọc theo lòng khe. Những tảng đá trơn trượt, lòng suối sâu thoắt ẩn thoắt hiện, những vách đá cheo leo... khiến cho hành trình khám phá phiên bản thu nhỏ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng ngày càng hấp dẫn hơn...
Tạm biệt con đường gập ghềnh men theo lòng khe với chiều dài vài trăm mét, du khách rẽ trái, men theo đường mòn nhỏ và ngược lên đỉnh núi. Dọc con đường cheo leo hiểm trở, vừa trải nghiệm cảm giác chinh phục thử thách, du khách vừa được ngắm nhìn hệ thực vật phong phú với gần 500 loài cây của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Trong đó có thể kể đến một số loài cây gỗ quý hiếm có chu vi lên đến 300cm như lim xanh, gụ lau, huỵnh và đặc biệt là sự hiện diện của cây Sao Việt Nam trăm tuổi có chu vi trên 3 người ôm, một loài cây gỗ quý hiếm mới được đặt tên và xác định danh pháp khoa học.
Cùng với vẻ đẹp hùng vĩ của thác Gió, sự bí ẩn, hiểm trở của tuyến tham quan dọc lòng khe, hồ Vàng Anh là một trong những điểm đến thú vị của Vườn thực vật. Nằm yên tĩnh dưới bóng rừng nguyên sinh, hồ Vàng Anh là địa điểm phù hợp để du khách thư giãn bằng cách bơi lội, cắm trại và nghỉ ngơi. Sau hồ Vàng Anh, tiếp tục lộ trình tham quan, du khách có thể được ngắm chim hồng hoàng với nhiều cá thể có kích thước lớn. Đặc biệt là được tận mắt xem những màn múa của chim công, một trong mười loài chim đẹp nhất hành tinh...
Có thể nói, Vườn thực vật là phiên bản thu nhỏ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng với hệ động, thực vật kỳ thú, cảnh quan tươi đẹp, đặc biệt cảm giác chinh phục thử thách và mạo hiểm qua từng điểm tham quan. Với tổng chiều dài các tuyến tham quan dài khoảng 4.000m, nơi đây thực sự là điểm đến hấp dẫn đối với nhiều du khách.
Ông Lê Thúc Định, Giám đốc Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, đơn vị quản lý và khai thác Vườn thực vật cho biết: Trong tổng số gần 3.000 khách đến tham quan vườn từ thời điểm khai trương (tháng 4/2015), có gần 1.800 khách nước ngoài. Đây là con số còn rất khiêm tốn so với tiềm năng của điểm tham quan hấp dẫn này.
Thời gian tới, đơn vị sẽ tiếp tục thực hiện tốt công tác quảng bá, duy trì và phát triển một số dịch vụ như nhà nghỉ, lều ngủ di động để du khách có thể tổ chức cắm trại và có những trải nghiệm tuyệt vời như quan sát động vật ăn đêm, giao lưu đốt lửa trại, ngủ đêm giữa rừng nguyên sinh...
Cùng với hệ thống hang động tuyệt đẹp đã tạo nên thương hiệu “Vương quốc hang động” cho quê hương Quảng Bình, hy vọng sẽ ngày càng có nhiều du khách được trải nghiệm những cảm giác tuyệt vời khi đến với Vườn thực vật, một trong những điểm tham quan kỳ thú góp phần mang lại vẻ đẹp ngày một hoàn mỹ hơn cho vùng đất được mệnh danh là “Vương quốc hang động” phía tây tỉnh Quảng Bình. (Tổng Cục Du Lịch 16/11) đầu trang(
Cử tri Tuấn Anh, phường Tân Thành, TP Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắc): Cần xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm lâm luật
Tại diễn đàn Quốc hội ngày 16-11, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã trả lời câu hỏi của đại biểu Quốc hội xung quanh vấn đề bảo vệ, phát triển rừng, trồng bù rừng. Hiện nay, Tây Nguyên đang bước vào mùa khô, đây cũng là thời điểm những cánh rừng khắp vùng bị đặt trong tình trạng báo động về vi phạm lâm luật.
Việc phá rừng đã diễn ra từ lâu, nhưng để tìm ra những kẻ xâm nhập rừng, buôn bán gỗ lậu không hề đơn giản, bởi diện tích rừng quá lớn trong khi lực lượng kiểm lâm thì mỏng, lại thiếu trang bị công cụ hỗ trợ. Cùng với đó, quanh những khu rừng có hàng trăm con đường đi vào, khiến cho công tác tuần tra, quản lý, bảo vệ rất khó khăn. Chưa kể, hiện nay, nhiều người dân sẵn sàng bỏ vườn, bỏ rẫy đi làm “lâm tặc” vì những món lợi bất chính.
Cụ thể, như tại Vườn Quốc gia Yok Đôn (Đắc Lắc), nhiều người dân sẵn sàng nghe lời xúi giục của những kẻ đầu nậu gỗ, vào rừng hạ cây, xẻ gỗ, bán lại cho chúng với giá cao.
Những năm qua, tình trạng phá rừng để lại nhiều hậu quả như làm giảm mực nước ngầm dẫn đến không ít diện tích cây trồng bị hạn hán, gây khó khăn cho sản xuất. Trước tình trạng đó, là cử tri Tây Nguyên, chúng tôi đề nghị Chính phủ, các ngành, các cấp cần có biện pháp hữu hiệu, xử lý nghiêm minh những kẻ phá hoại rừng để bảo vệ hệ sinh thái, môi trường. (Quân Đội Nhân Dân 17/11) đầu trang(
Chủ tịch UBND tỉnh vừa có công văn yêu cầu các ngành, địa phương tăng cương công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô 2015 – 2016.
Theo đó, để chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do cháy rừng gây ra trong mùa khô năm 2015 – 2016, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu:
Kiện toàn Ban Chỉ đạo thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện, cấp xã; phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể tới từng thành viên Ban Chỉ đạo phụ trách địa bàn và phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc triển khai công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại cơ sở. Coi công tác phòng cháy, chữa cháy rừng là nhiệm vụ trọng tâm của Ban Chỉ đạo các cấp. Tổ chức thực hiện tốt công tác ứng trực phòng cháy, chữa cháy rừng 24/24 giờ trong những ngày cao điểm của các tháng mùa khô.
Chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn; Hạt Kiểm lâm huyện, thành phố, Ban Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ, Công ty lâm nghiệp và các cơ quan chuyên môn trực thuộc thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; khẩn trương rà soát, xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2016 – 2020 và tổ chức thực hiện ngay trong mùa khô 2015 – 2016.
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, gắn trách nhiệm của UBND cấp xã trong kiểm tra, đôn đốc các chủ rừng, nhân dân và các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng, hỗ trợ phát triển rừng và khu vực thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng;
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; các biện pháp kỹ thuật về phòng cháy, chữa cháy rừng; phát dọn, xử lý thực bì trong canh tác nương rẫy của người dân trong những ngày khô hanh, nhất là các khu vực trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao.
Tổ chức, củng cố các tổ, đội quần chúng tham gia bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng ở các cộng đồng dân cư thôn, bản nơi có rừng; đẩy mạnh tuyên truyền Luật Bảo vệ và phát triển rừng, chính sách phát triển rừng, công tác quản lý và xác nhận vận chuyển lâm sản;
Chỉ đạo các lực lượng: Hạt kiểm lâm, Ban chỉ huy Quân sự, Công an huyện/ thành phố thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng; chuẩn bị lực lượng, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng, đảm bảo ứng cứu, xứ lý kịp thời các tình huống cháy rừng xảy ra.
Chỉ đạo, kiểm tra các địa phương thực hiện nghiêm túc trách nhiệm về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn; kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra theo phương châm 4 tại chỗ;
Chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng để kịp thời tham mưu, đề xuất với Ban Chỉ đạo tỉnh chỉ đạo thực hiện các giải pháp về phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh đảm bảo hiệu quả; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh thực hiện tốt Quy chế phối hợp, tổ chức lực lượng, phương tiện, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng đảm bảo kịp thời xử lý các tình huống cháy rừng lớn xảy ra.
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Công an tỉnh phối hợp chặt chẽ với Sở Nông nghiệp và PTNT, lực lượng kiểm lâm thực hiện tốt Quy chế phối hợp trong công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tăng cường phối hợp với lực lượng kiểm lâm, chính quyền địa phương các cấp tổ chức lực lượng xử lý các tình huống cháy rừng xảy ra; sẵn sàng huy động lực lượng, phương tiện để hỗ trợ các địa phương trong việc chữa cháy rừng. (Báo Lào Cai 16/11) đầu trang(
Ngày 11/11/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 15/CT-UBND về việc phòng chống hạn, mặn và cháy rừng năm 2016 trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, các ngành, các cấp chủ động tổ chức thực hiện nhiệm vụ và tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến nhân dân về diễn biến phức tạp của tình hình thời tiết, để chủ động đối phó với tinh thần tích cực, khẩn trương, cảnh giác cao, nhất là diễn biến của tình hình hạn, mặn và cháy rừng trong mùa khô năm 2016.
Đặc biệt đối với các huyện phía Đông phải chủ động lập kế hoạch phòng, chống hạn, xâm nhập mặn, cháy rừng vào mùa khô năm 2016 cụ thể cho từng khu vực dự án, từng địa phương, đơn vị để chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả khi có tình huống xấu xảy ra theo phương châm "4 tại chỗ". (Cổng Thông Tin Điện Tử Tiền Giang 16/11) đầu trang(
Sau khi Báo Điện tử Tài nguyên và Môi trường đăng bài “Hà Tĩnh: Ai cho phép phá rừng phòng hộ để làm đường?”, trao đổi với phóng viên, ông Võ Văn Phúc - Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) cho biết đã làm rõ nội dung Báo phản ánh, kiên quyết xử lý nghiêm đối tượng sử dụng đất, rừng và công trình thủy lợi trái phép.
Trước phản ánh của dư luận về việc hộ dân Đào Quang Thạch, xã Sơn Kim 2, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh) sẽ phát, san ủi mở đường trên đất rừng phòng hộ đầu nguồn Khe Đá trái phép, UBND huyện Hương Sơn đã ban hành Quyết định 4450/QĐ-UBND thành lập Tổ công tác(gồm có đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Hạt Kiểm lâm phối hợp với UBND xã Sơn Kim 2) tiến hành kiểm tra.
Theo đó, tại thời điểm kiểm tra của Tổ công tác, các bên có liên quan không xuất trình được các thủ tục pháp lý cho phép cải tạo rừng, xây dựng các công trình trong phạm vi lý hồ chứa nước, ngoài Hợp đồng điều tiết nước phục vụ sản xuất và Hợp đồng liên kết bảo vệ rừng, trồng rừng, bảo vệ hồ chứa nước Khe Đá đã được ký kết giữa UBND xã Sơn Kim 2 với hộ dân Đào Quang Thạch. Tuy nhiên, làm rõ vấn đề này, căn cứ trên các giấy tờ liên quan Tổ công tác của UBND huyện Hương Sơn kết luận việc ký kết hợp đồng của UBND xã Sơn Kim 2 chưa đúng quy định.
Kiểm tra tại hiện trường, diện tích rừng và đất lâm nghiệp bị sẽ phát là 2, 73 ha thuộc khoảnh 2, 3 Tiểu khu 59, trong đó: Diện tích đất có rừng bị sẽ phát là 0, 82 ha; diện tích đất trống chưa có rừng( bao gồm dây leo, bụi rậm…) bị sẽ phát là 1, 91 ha; Dùng máy múc san ủi và mở trái phép tuyến đường trên đất lâm nghiệp bao quanh hồ chứa nước Khe Đá khối lượng đất đào 5.724m3, khối lượng đất đắp ngoài lòng hồ 144m3. Ngoài ra, Tổ công tác tiến hành đo phần khối lượng đất, đá đắp làm đường giao thông nằm trong lòng hồ với khối lượng đo được 1.395m3; khối lượng đá hộc ở phần đuôi bể tiểu năng của tràn xã lũ với khối lượng đo được 7,02 m3.
Báo cáo của Tổ công tác kiểm tra cho thấy, qua các buổi làm việc với xã Sơn Kim 2 và các đối tượng có liên quan, ông Đào Quang Thạch- thôn Thượng Kim, xã Sơn Kim 2 nhận hoàn toàn trách nhiệm về việc sẽ phát rừng và san ủi đường bảo vệ xung quang, xây dựng một số công trình tại hồ chứa nước Khe Đá.
Trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tài nguyên và Môi trường, ông Võ Văn Phúc – Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn đã khẳng định rõ quan điểm, căn cứ trên kết quả kiểm tra của Tổ công tác được thành lập theo quyết định QĐ 4450/QĐ-UBND sẽ xử lý nghiêm đối tượng sử dụng đất, rừng và công trình thủy lợi Khe Đá trái phép, đồng thời làm rõ trách nhiệm và kỷ luật những cán bộ liên quan để xảy ra sai phạm.
Theo đó, Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn đã ký văn bản số 875/UBND-NN, ngày 2/11/2015 về việc thực hiện các nội dung liên quan đến vi phạm trong quản lý sử dụng đất, rừng và công trình hồ chứ nước Khe Đá, đồng thời yêu cầu UBND xã Sơn Kim 2 chỉ đạo dừng ngay việc sẽ phát và việc mở đường trái phép bao quanh hồ chứa nước Khe Đá; Nghiêm khắc phê bình tập thể lãnh đạo UBND xã Sơn Kim 2 trong việc buông lỏng công tác quản lý Nhà nước dẫn đến xẩy ra sai phạm trong quản lý sử dụng đất rừng và việc quản lý công trình hồ chứa nước.
Sau khi làm rõ sai phạm, UBND huyện Hương Sơn đã quyết định xử phạt hành chính 25 triệu đồng, yêu cầu phục hồi lại hiện trạng và chấm dứt hợp đồng bảo vệ rừng với ông Đào Quang Thạch, thôn Thượng Kim, xã Sơn Kim 2, huyện Hương Sơn về hành vi xây dựng trái phép các công trình trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi hồ chứa nước, tự ý sẽ phát rừng đầu nguồn Khe Đá.
Giao trách nhiệm cho UBND xã Sơn Kim 2, Hạt Kiểm lâm, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng NN&PTNT, Phòng Nội vụ nghiêm túc thực hiện các nhiệm vụ chỉ đạo, giám sát đối tượng vi phạm thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả: Trồng lại rừng trên toàn bộ diện tích sẽ phát; tổ chức nạo vét và vận chuyển khoảng 1.395m3 đất làm đường giao thông nằm trong phạm vi lòng hồ chứa nước khe đá ra khỏi lòng hồ; Chấm dứt hợp đồng về việc bảo vệ, điều tiết nước vụ sản xuất giữa UBND xã Sơn Kim 2 với cá nhân ông Đào Quang Thạch .
Liên quan đến cá nhân sai phạm sử dụng trái phép rừng đầu nguồn Khe Đá, người dân phát giác đối tượng phá rừng là người nhà của lãnh đạo nên đã có sự tiếp tay, ngay cả khi cơ quan chức năng vào cuộc lập biên bản đình chỉ đối tượng vẫn tiếp tục vi phạm. Ông Cao Kỷ Vị - Chủ tịch UBND xã Sơn Kim 2 cũng đã lên tiếng xác minh sự việc: “Ông Thạch là người nhà của anh Đào Quốc Quỳnh hiện đang là Phó Chủ tịch HĐND xã. Trước đó, anh Quỳnh là Phó Chủ tịch UBND xã nhiều năm được giao phụ trách lĩnh vực này nên nắm rất rõ”.
Ông Võ Văn Phúc - Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn khẳng định đã chỉ đạo làm rõ nội dung Báo Điện tử Tài nguyên và Môi trường phản ánh, giao trách nhiệm cho UBND xã Sơn Kim, Trưởng Phòng Nội vụ tổ chức kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm của tập thể và từng cá nhân có liên quan, tham mưu UBND huyện hình thức xử lý trước ngày 25/11/2015. (Tài Nguyên Và Môi Trường 16/11) đầu trang(
Chiều ngày 16/11, ông Ngô Thanh Hoàng Sinh- Phó phòng Pháp chế, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai cho biết, Chi cục đã có kết luận về vụ phá rừng rồi khoe trên zalo mà báo Dân trí đã thông tin.
Sau khi báo Dân trí thông tin về việc 1 thanh niên có tên zalo “Boy nha ngheo” đã chụp ảnh mình ngồi trên những khúc gỗ khai thác trái phép rồi khoe lên zalo. Ngay sau đó, UBND tỉnh Gia Lai đã có văn bản chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm cùng 1 số cơ quan vào cuộc điều tra vụ việc.
Ngày 16/11, ông Sinh cho biết, Chi cục đã có kết luận gửi lên UBND tỉnh. Nội dung của kết luận như sau:
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Gia Lai đã phối hợp với 1 số đơn vị thành lập 2 tổ với 13 người kiểm tra trên địa bàn xã H’Ra, khu vực giáp ranh xã H’Ra và xã Lơ Pang; tổ thứ 2 kiểm tra ở địa bàn rừng Đăk Bờ Dầu do Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Kông Chiêng quản lý.
Tại thời điểm thanh tra, tổ công tác không phát hiện dấu vết của việc khai thác, vận chuyển gỗ trái phép trên những địa bàn xã H’Ra và khu giáp danh giữ H’Ra và Lơ Pang. Còn tại địa bàn rừng Đăk Bờ Dầu thì tổ kiểm tra phát hiện một số cây đã cũ và khúc gỗ đã mục do khai thác từ năm 2013, đây là việc khai thác theo kế hoạch và chỉ tiêu.
Còn việc thanh niên có tên trên zalo “Boy nha ngheo” khoe ảnh chụp với gỗ được Công an huyện Mang Yang điều tra, xác minh như sau: Chủ của tên zalo trên là Trần Đình Tiến (SN 1993) là người trong ảnh, người chụp ảnh là Nguyễn Văn Vĩnh (SN 1996), cả 2 cùng trú thôn Phú Yên (xã H’Ra).
2 thanh niên trên khai việc chụp bức ảnh trên xảy ra từ tháng 5/2014. Theo đó, 2 người này không phải là kẻ phá rừng, khai thác gỗ trái phép, mà chỉ đi bẫy chim trong rừng và khi đi đến khu vực rừng giáp ranh giữa xã H’Ra và xã Lơ Pang thì thấy những khúc gỗ khai thác trái phép nên ngồi lên chụp ảnh, sau đó đăng trên zalo. Thời gian sau, Trần Đình Tiếng bị mất máy điện thoại.
Tại thời điểm tổ đi kiểm tra, những khúc gỗ khai thác trái phép trên đã được vận chuyển thành công ra khỏi rừng; không có dấu vết của việc khai thác rừng.
Vì vậy, Chi cục Kiểm lâm đã thống nhất với Ủy ban nhân dân huyện Mang Yang về kết quả kiểm tra là: Tại khu vực kiểm tra từ cuối năm 2014 trở về trước có hiện tượng khai thác rừng trái phép. Nhưng thời gian từ cuối năm 2014 đến nay thì không có diễn ra việc khai thác rừng trái phép phức tạp. Việc bước đầu có thể "chặn đứng" được tình trạng khai thác trái phép là do UBND huyện Mang Yang đã thực hiện một số biện pháp tiến hành truy quét, thành lập chốt chặn ngay ở làng K’Tùng 2 (xã H’Ra) nên từ đó tới nay việc khai thác rừng trái phép không còn phức tạp. (Dân Trí 16/11) đầu trang(
Gần chục ha rừng sản xuất đã bị người dân xã Gia Hòa, huyện Gia Viễn viện lý do “hạ mặt bằng, cải tạo đất” rồi khai thác đất rừng trái phép để bán chuộc lợi. Nhiều diện tích đất rừng sản xuất tại đây bỗng nhiên biến thành những công trường khai thác đất san lấp mặt bằng.
Việc khai thác đất rừng trái phép trên diễn ra nhiều tháng qua tại khu vực Trại Cuốn thôn Đá Hàn, xã Gia Hòa, huyện Gia Viễn (Ninh Bình). Sau khi nhận được phản ánh từ phái người dân, phóng viên Dân trí đã có mặt tại khu vực trên để xác minh sự việc.
Qua tìm hiểu được biết, toàn bộ khu vực rừng Trại Cuốn trước kia là diện tích rừng phòng hộ của huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, sau này số diện tích rừng này đã được chuyển đổi thành rừng sản xuất. Sau khi có chủ trương, xã Gia Hòa đã giao đất rừng tại đây các hộ dân trong xã có nhu cầu nhận quản lý, cải tạo, trồng và phát triển rừng nơi đây.
Tại diện tích rừng, hộ dân nào muốn cải tạo lại đất để trồng rừng thì báo cáo với chính quyền địa phương để làm tờ trình gửi lên UBND huyện Gia Viễn. Nhận được tờ trình, UBND huyện Gia Viễn giao cho phòng NN&PTNT và phòng TNMT cùng UBND xã Gia Hòa về khảo sát kiểm tra sau đó trình UBND huyện đồng ý cho các hộ được hạ mặt bằng, cải tạo đất.
Từ thông báo đồng ý cho hạ mặt bằng để cải tạo đất của UBND huyện, nhiều hộ dân tại khu vực rừng Trại Cuốn, thôn Đá Hàn đã thuê máy xúc về hạ mặt bằng, cải tạo đất. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện công việc trên, nhiều hộ dân tại đây đã lợi dụng việc cải tạo đất này để khai thác đất, bán đất rừng trái phép cho các doanh nghiệp cũng như các hộ dân có nhu cầu.
Từ cuối năm 2014 đến nay, tình trạng khai thác đất rừng tại đây diễn ra ồ ạt bất chất sự vào cuộc của chính quyền địa phương cũng như cơ quan chức năng. Ghi nhận của phóng viên Dân trí, diện tích đất rừng của nhiều hộ dân bị biến đổi một cách nghiêm trọng do việc cải tạo đất, hạ mặt bằng không đúng quy định. Môi trường nước, đất tại đây bị ô nhiễm nghiêm trọng do trong quá trình cải tạo đã không thực hiện đúng quy trình, diện tích cải tạo khai thác lớn… Thay vào một màu xanh bao phủ của rừng thì nơi đây giống như một công trường của nhiều mỏ khai thác đất.
Các công trường khai thác đất lô nhô chỗ cao chỗ thấp, có chỗ lại sâu xuống như những cái ao lớn đọng nhiều nước mỗi khi có mưa xuống. Điều này hoàn toàn trái ngược với việc đồng ý cho cải tạo đất, hạ mặt bằng để trồng rừng của chính quyền địa phương.
Việc khai thác đất rừng sản xuất diễn ra trong thời gian dài nhưng chính quyền địa phương vẫn không đưa ra được biện pháp ngăn chặn, xử lý mạnh để chấm dứt việc làm sai trái của các hộ dân làm cho cho khu vực rừng nơi đây đang dần bị hoang hóa, đất rừng bị khai thác triệt để, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều hộ dân trồng rừng và nguồn nước phục vụ tưới cho diện tích đất lúa cuối nguồn.
Trong số diện tích đất rừng “núp” danh nghĩa cải tạo có hơn 3ha rừng của gia đình ông Trần Thanh Hiển thôn Phú Nhuận, xã Gia Hòa (ông Hiển đã chuyển quyền sử dụng cho ông Đỗ Văn Tiến, xã Gia Thanh) là một trong những hộ dân lợi dụng việc hạ mặt bằng cải tạo đất để khai thác và bán đất rừng trái phép nhiều nhất ở khu vực Trại Cuốn thôn Đá Hàn.
Hơn 3ha rừng sản xuất đã bị gia đình ông Tiến cho máy xúc công xuất lớn vào khai quật biến nơi đây thành một mỏ đất với trữ lượng lớn. Hiện trường mà phóng viên ghi lại được tại diện tích đất rừng của gia đình ông Tiến trái ngược hoàn toàn với những gì mà UBND huyện Gia Viễn đồng ý cho gia đình ông này cải tạo, hạ mặt bằng trước đó.
Trong thông báo nêu rõ về việc hạ mặt bằng, cải tạo đất rừng yêu cầu hộ ông Tiến phải thực hiện cải tạo đúng độ cao cốt đất tương ứng với với cốt đất tự nhiên và đảm bảo môi trường khu vực cải tạo đất xung quanh. Tuy nhiên, hộ ông Tiến đã tự ý đào sâu vào trong núi hàng chục mét, khoét sâu xuống lòng đất cao hơn đầu người tạo thành những chiếc ao nhân tạo. Tại diện tích đất này, gia đình ông Tiến còn dựng hẳn đại bản doanh phục vụ cho việc khai thác đất, một con đường vào “mỏ” được đổ đá cấp phối kiên cố chắc chắn để cho xe tải vào chở đất ra ngoài….
Việc khai thác hàng nghìn mét khối đất rừng sản xuất trái phép của gia đình ông Tiến diễn ra trong thời gian lâu dài nhưng chính quyền xã Gia Hòa không hề hay biết?. Sau khi người dân báo cáo xã mới cho người vào kiểm tra.
Thực tế cho thấy, Ngày 4/2/2014, đoàn kiểm tra của UBND xã Gia Hòa mới lập biên bản hiện trường việc khai thác đất không đúng với quy định của hộ gia đình ông Đỗ Văn Tiến. Khi lập biên bản ông Tiến không có mặt tại hiện trường, sau đó UBND xã Gia Hòa đã nhiều lần gửi giấy mời ông Tiến đến UBND xã làm việc nhưng ông này đều không có mặt. Không làm việc được với ông Tiến, UBND xã Gia Hòa đến nay vẫn chưa tìm được biện pháp xử lý đối với hộ dân này.
Không chỉ gia đình ông Đỗ Văn Tiến đào phá mặt bằng đất rừng sản xuất ở khu vực Trại Cuốn, xã Gia Hòa trái phép mà còn nhiều hộ dẫn cũng ngang nhiên vi phạm khiến tình trạng làm biến đổi đất rừng và môi trường tại đây ngày càng nghiêm trọng. Theo đó, UBND xã Gia Hòa đã ra quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai đối với hộ ông Phạm Văn Mùi với số tiền 2.000.000 đồng. Xử phạt hành chính đối với ông Nguyễn Trọng Quảng trú xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn làm nghề lái máy xúc, ủi vì đã có hành vi hủy hoại đất, biến dạng địa hình số tiền 1.000.000 đồng…
Trao đổi với phóng viên ông Bùi Phú Bắc - Chủ tịch UBND xã Gia Hòa thừa nhận việc các hộ dân lợi dụng việc hạ mặt bằng, cải tạo đất để khai thác đất trái phép là có thật. Ông Bắc cho hay, do khu vực các hộ dân “cải tạo” đất xa trung tâm, lực lượng của xã thì mỏng nên không phát hiện được. Khi có tin báo từ người dân xã đã cho người vào kiểm tra, xử lý và yêu cầu các hộ dân dừng ngay việc khai thác đất trái phép.
Chính quyền xã Gia Hòa mạnh tay là vậy? Tuy nhiên việc xử không triệt để, biện pháp không đủ mạnh nên các hộ dân vẫn bất chấp việc xử phạt để tiếp tục khai thác đất kiếm lợi nhuận. Với số tiền UBND xã xử phạt nhiều nhất chỉ 2.000.000 đồng, nhiều hộ dân sẵn sàng chịu phạt để bán đất rừng thu về lợi nhuận hàng trăm triệu đồng, chưa kể có những hộ được hưởng lợi từ việc “hạ mặt bằng, cải tạo đất” lên đến hàng tỷ đồng (giá bán đất thấp nhất 7.000 đồng/khối đất, cao nhất 20.000 đồng/khối).
Việc phát hiện các hộ dân khai thác đất rừng để bán theo ông Bắc đến nay xã vẫn chưa báo cáo lên huyện vì đã ngăn chặn được tình trạng này. Khi phóng viên đưa ra những hình ảnh cũng như đặt câu hỏi về việc hiện nay một số hộ dân vẫn đang còn khai thác đất để bán?
Ông Bắc bất ngờ và cho biết: “Do lực lượng của xã mỏng không thường xuyên thường trực tại khu vực này được nên khó phát hiện tình trạng khai thác đất của các hộ dân. Chúng tôi cũng không nhân được phản ánh từ phía người dân nên không biết. Có khi phát hiện vào đến nơi máy móc của các hộ dân lại lui vào bên trong không cho khai thác đất nữa nên không xử phạt được…” - Ông Bắc nói. Ông Chủ tịch xã cũng thừa nhận việc yếu kém trong công tác quản lý khi để xảy ra tình trạng trên. (Dân Trí 17/11) đầu trang(
Đoàn kiểm tra liên ngành của tỉnh vừa kết thúc đợt kiểm tra công tác quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) sau hơn 5 tháng thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của UBND tỉnh (tại Quyết định số 1113/QĐ-UBND ngày 18.5.2015).
Đầu tháng 11 mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng Đoàn Văn Việt đã có buổi làm việc với đoàn kiểm tra liên ngành, nghe đoàn báo cáo kết quả kiểm tra và Chủ tịch UBND tỉnh đã có những kết luận quan trọng.
Cùng với việc ghi nhận những cố gắng của đoàn, những nỗ lực của các địa phương và đơn vị trong QLBVR, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã chỉ ra những hạn chế đáng quan tâm: Công tác QLBVR và đất lâm nghiệp ở các địa phương tuy có cố gắng nhưng hiệu quả chưa cao; các đơn vị, địa phương chưa dành nhiều thời gian cho công tác QLBVR và đất lâm nghiệp; lãnh đạo cấp huyện, cấp xã ít đi kiểm tra công tác QLBVR như chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; các biện pháp, giải pháp chưa quyết liệt; số vụ vi phạm chưa xác định được đối tượng còn nhiều, nhiều vụ việc hồ sơ liên quan chưa đầy đủ, đúng quy định; xử lý vi phạm chưa triệt để; việc khắc phục hậu quả vi phạm còn chậm trễ; trách nhiệm của một số ban quản lý rừng, doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng để đầu tư dự án chưa cao; có địa phương, đơn vị xử lý không đúng thẩm quyền; chưa thể hiện sự quyết liệt trong xử lý vi phạm, có vụ việc còn để kéo dài nên tính răn đe, giáo dục trong nhân dân chưa cao.
Để làm tốt hơn công tác QLBVR trong thời gian tới, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu giám đốc và tập thể lãnh đạo các công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp, các ban quản lý rừng trên địa bàn tỉnh và Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà “Tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, xử lý kỷ luật đối với tập thể, người đứng đầu và các cá nhân liên quan có sai phạm trong công tác QLBVR, quản lý đất lâm nghiệp, khoáng sản...”.
Cùng đó, Chủ tịch UBND tỉnh còn yêu cầu chủ tịch UBND các huyện và TP “tổ chức kiểm điểm trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan đến những thiếu sót, sai phạm trong công tác QLBVR, đất lâm nghiệp, khai thác khoáng sản trên địa bàn, xử lý, đề xuất xử lý theo quy định...”.
Cụ thể hơn, Chủ tịch UBND tỉnh còn yêu cầu chủ tịch UBND các huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Di Linh và Bảo Lâm ngoài việc tổ chức kiểm điểm trách nhiệm của tập thể và cá nhân liên quan ở cấp huyện còn phải chỉ đạo UBND các xã Đạ Sar, Đạ Nhim, thị trấn Lạc Dương (huyện Lạc Dương), Phúc Thọ, Tân Thanh (Lâm Hà), Tam Bố, Đinh Trang Thượng (Di Linh), Lộc Ngãi, Lộc Tân, Lộc Bảo (Bảo Lâm) và các ban quản rừng phòng hộ Đa Nhim, Tà Nung, Lán Tranh, Nam Ban, Tân Thượng và Đạm Bri phải kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của tổ chức và cá nhân liên quan đến các vi phạm trong công tác QLBVR; riêng đối với lãnh đạo và chuyên viên của Phòng Tài nguyên và môi trường huyện Lâm Hà, chính quyền và cơ quan chức năng phải tiến hành kiểm điểm và xử lý kỷ luật các cá nhân của phòng này vì đã tham mưu xử lý vi phạm không đúng quy định trong một số vụ việc cụ thể.
Với Sở NN-PTNT, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo: Chủ trì, phối hợp với Sở TN-MT và UBND các huyện và TP kiểm tra, rà soát và đưa toàn bộ diện tích đất có rừng đang quy hoạch ngoài lâm nghiệp vào trong quy hoạch 3 loại rừng để thống nhất quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; kiểm tra, đánh giá hiệu quả của công tác giao khoán đất rừng sản xuất; tổng hợp diện tích đất lâm nghiệp bị lấn chiếm đã được giải tỏa trên địa bàn tỉnh để đưa vào kế hoạch trồng lại rừng trong năm 2016...
Với riêng lực lượng kiểm lâm, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở NN-PTNT (đơn vị chủ quản) chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm tiến hành kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm, trên cơ sở đó có hình thức xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật đối với tập thể, lãnh đạo và công chức kiểm lâm có liên quan của các hạt kiểm lâm Lạc Dương, Di Linh và Bảo Lâm do chưa làm tròn trách nhiệm, chưa thường xuyên tuần tra, kiểm tra, kịp thời ngăn chặn, lập hồ sơ xử lý vi phạm; để xảy ra nhiều sai phạm trong công tác QLBVR trong thời gian dài làm tài nguyên rừng bị thiệt hại nghiêm trọng trên địa bàn...
Với môt số vụ việc cụ thể, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã tỏ ra khá mạnh tay: Giao cho Sở TN-MT chỉ đạo, kiểm tra, lập hồ sơ xử lý theo quy định đối với Công ty TNHH Xây dựng thương mại Bảy Tài và Công ty TNHH An Việt đã có hành vi vi phạm khai thác khoáng sản và đào bới (san ủi) đất ngoài ranh giới cho phép tại huyện Bảo Lâm.
Cùng đó, UBND tỉnh còn giao cho Công an tỉnh Lâm Đồng khẩn trương điều tra, hoàn tất hồ sơ đối với các vụ vi phạm đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối tượng để đưa ra xét xử công khai như các vụ ken cây, hủy hoại rừng, khai thác gỗ trái phép tại các huyện Lạc Dương, Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát Tiên và TP Bảo Lộc.
Như trên vừa nêu có thể thấy, lần này, UBND tỉnh Lâm Đồng đã tỏ rõ sự kiên quyết trong việc xử lý trách nhiệm của tập thể và cá nhân có liên quan trong vi phạm về QLBVR. Tuy nhiên, từ ý kiến chỉ đạo đến thực tế vẫn còn một khoảng cách; bởi vậy, vấn đề đáng quan tâm trong lúc này là việc thực thi của các cơ quan hữu trách và chính quyền các địa phương trong tỉnh. (Báo Lâm Đồng 17/11) đầu trang(
Chủ trương sắp xếp lại các nông lâm trường của Nhà nước nhằm mục đích đưa các nông lâm trường hoạt động hiệu quả hơn.
Tuy nhiên có không ít nông lâm trường lại đang rơi vào tình trạng khó khăn, không có kinh phí trả lương cho cán bộ, công nhân viên trong thời gian chờ sắp xếp lại doanh nghiệp. Điều này đang ảnh hưởng trực tiếp tới công tác bảo vệ, phát triển rừng tại các lâm trường. Chúng ta cùng tìm hiểu thực trạng này qua phóng sự được thực hiện tại Lâm trường Tân Tiến ở tỉnh Ninh Thuận
2 tháng nay chưa nhận được tiền lương… Bữa cơm chiều của cán bộ quản lý bảo vệ rừng chỉ là mấy trái dưa leo, mít non với rau dại hái quanh trạm (trôi hình)…. Gạo, mắm, xăng cũng phải đi ký tạm để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cũng như công tác bảo vệ rừng….Đây là thực trạng đang diễn ra tại Công ty TNHH một thành viên lâm trường Tân Tiến, tỉnh Ninh Thuận…. Không chỉ những cán bộ quản lý bảo vệ rừng, mà ngay cả nhân viên thuộc bộ phận kinh doanh của công ty 6 tháng nay cũng chưa có lương.
Công ty TNHH MTV lâm trường Tân Tiến có tổng số 44 cán bộ công nhân viên, được giao quản lý hơn 28.000 ha rừng. Nguồn thu chủ yếu của công ty những năm qua là tận thu lâm sản. Tuy nhiên vừa qua theo chủ trương của Chính phủ không cấp phép khai thác và kinh doanh rừng tự nhiên, để tổ chức xắp xếp lại doanh nghiệp khiến công ty rơi vào tình trạng khó khăn do không có nguồn thu, không sắp xếp được quỹ lương.
2 tháng cán bộ và người lao động không có lương, tất cả công cụ hỗ trợ cho lực lượng quản lý và bảo vệ rừng thiếu thốn, trong khi đó diện tích rừng phải bảo vệ lớn, tình trạng chặt phá, lấn chiếm rừng, khai thác vận chuyển lâm sản trái phép của lâm tặc ngày một tinh vi, khiến cho công tác bảo vệ, phát triển rừng của đơn vị khó khăn hơn bao giờ hết. (Truyền Hình Quốc Hội 16/11) đầu trang(
Ban quản lý rừng phòng hộ Mường Lát được UBND tỉnh Thanh Hóa giao quản lý, sử dụng 3.900 ha rừng và đất lâm nghiệp; tổ chức cho nhân dân các xã trên địa bàn thực hiện các dự án lâm nghiệp trên diện tích 3.448 ha.
Từ đầu năm 2015 đến nay, ban đã chủ động phối hợp với chính quyền các cấp và các đơn vị liên quan của huyện Mường Lát tập trung tuyên truyền, vận động các hộ dân trong vùng tự giác thực hiện các quy định bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng; kiểm tra các khu rừng trọng điểm, kiểm soát nghiêm nguồn lửa đem vào rừng. Đồng thời, hướng dẫn người dân phát dọn thực bì phục vụ trồng rừng đúng quy định, không để xảy ra cháy rừng. An ninh rừng trên địa bàn được giữ vững, 100% diện tích rừng hiện có được bảo vệ an toàn.
Ngoài ra, trong 10 tháng vừa qua, ban đã cung ứng cây giống lâm nghiệp như lát hoa, xoan, vv… hướng dẫn kỹ thuật và tổ chức cho các hộ nhận khoán đất sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn các xã: Pù Nhi, Tén Tằn, Tam Chung, thị trấn Mường Lát trồng mới được 380 ha rừng sản xuất, hoàn thành kế hoạch trồng mới rừng năm 2015. Hiện nay, cán bộ, công nhân của ban đang tập trung sản xuất khoảng 500.000 cây giống lâm nghiệp tại vườn ươm phục vụ mở rộng diện tích trồng rừng sản xuất trong năm 2016.
Rừng phòng hộ đầu nguồn được bảo vệ và phát triển không những phát huy tốt tính năng phòng hộ khu vực đầu nguồn sông Mã, bảo vệ tính đa dạng sinh học mà còn có tác dụng cung cấp nước, giữ nước cho các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Nhờ tích cực tham gia trồng và bảo vệ rừng, người dân trong vùng còn có thu nhập từ tiền nhân công và sản phẩm của rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống. (Môi Trường Và Đời Sống 17/11) đầu trang(
Trong giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh Nghệ An đã bảo vệ thành công 712,62 ha rừng ngập mặn và rừng phòng hộ phát triển xanh tốt; năng lực về phòng ngừa, ứng phó với thảm họa thiên tai của người dân các xã ven biển ngày càng được nâng cao.
Đây là kết quả của việc thực hiện dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” đượctriển khai tại tỉnh Nghệ An từ năm 1997 đến nay, dự án do Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ với số vốn hơn 2,4 tỷ đồng.
Triển khai dự án, giai đoạn 2011 - 2015, tuyến rừng ngập mặn và rừng phòng hộ của 27 xã thuộc 9 huyện, thị, thành phố trọng điểm thiên tai của tỉnh gồm: Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Anh Sơn, thành phố Vinh, thị xã Thái Hòa, thị xã Hoàng Mai đã được chăm sóc, bảo vệ, từ đó giúp cải thiện môi trường rừng, hạn chế dịch bệnh và hình thành nơi trú ngụ cho các loài sinh vật có giá trị như tôm, cua, cá... mang lại lợi ích cho 708.353 người hưởng lợi.
Là đơn vị trực tiếp chỉ đạo và thực hiện dự án, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nghệ An đã thành lập các đội Tình nguyện viên bảo vệ rừng; tăng cường tập huấn nâng cao kiến thức về luật bảo vệ rừng, thảo luận các giải pháp bảo vệ rừng cho 19 đội bảo vệ rừng tại các huyện, thành, thị trên địa bàn tỉnh; đồng thời trang bị cho các thành viên đội Tình nguyện viên quản lý và bảo vệ rừng tại các xã gồm: Áo mưa, ủng và mũ... nhằm khuyến khích và tạo điều kiện giúp các đội bảo vệ rừng hoạt động hiệu quả.
Bên cạnh đó, việc triển khai dự án “Trồng rừng ngập mặn - Giảm thiểu rủi ro thảm họa” cũng đã hỗ trợ tập huấn cho đông đảo học sinh tiểu học các xã ven biển, ven sông các kiến thức về: Hiểm họa và thảm họa; lũ lụt, áp thấp nhiệt đới, bão, sạt lở đất, hạn hán; thiếu niên Chữ thập đỏ với công tác phòng ngừa thảm họa.
Ngoài ra, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nghệ An phối hợp với các sở, ban, ngành tổ chức 10 cuộc diễn tập về phòng ngừa thảm họa tại 10 xã, đây là những đợt thực hành quan trọng giúp cộng đồng có cơ hội làm quen với các tình huống có thể xảy ra khi có thiên tai như: Sơ tán nhân dân, cứu đuối nước, sơ cấp cứu, đảm bảo an toàn trong khi sơ tán, nơi sơ tán.
Qua các cuộc diễn tập đã tạo điều kiện cho cộng đồng hiểu biết sâu hơn về thiên tai, thảm họa và hậu quả của nó, từ đó chú trọng hơn đến công tác phòng ngừa ứng phó với thiên tai, thảm họa.
Ngoài ra, Hội Chữ thập đỏ tỉnh Nghệ An luôn chú trọng các hoạt động tuyên truyền bằng nhiều hình thức như: Đọc tin, bài trên loa truyền thanh tại cấp xã; gửi tin, bài, ảnh đăng tin bài lên các báo, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh và Cổng thông tin của tỉnh Hội, Trung ương Hội để tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ rừng; phòng ngừa ứng phó thảm họa, thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nghệ An là tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung bộ có đường bờ biển kéo dài, đặc điểm địa hình nhiều đồi núi, sông ngòi nên tỉnh thường chịu ảnh hưởng của hầu hết các loại hình thiên tai hàng năm. Riêng giai đoạn 2011 - 2015, tổng thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính là 7.572 tỷ đồng.
Do đó, việc bảo vệrừng ngập mặn, rừng đầu nguồn cũng như nâng cao năng lực về phòng ngừa thảm họa cho một bộ phận lớn cộng đồng dân cư, đặc biệt là cộng đồng ven biển và các khu vực thường chịu nhiều tác động của thiên tai là rất cần thiết. (Môi Trường Và Sức Khỏe 15/11) đầu trang(
Đa dạng sinh học (ĐDSH) có vai trò quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Nhưng do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trường, sinh vật ngoại lai xâm nhập, khai thác quá mức... được coi là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy giảm ÐDSH ngày một gia tăng. Do vậy, cùng với phát triển kinh tế - xã hội của TP Cần Thơ, cần thực hiện nhiều biện pháp và giải pháp để việc quản lý, bảo tồn ÐDSH hiệu quả và bền vững…
Theo đánh giá của các chuyên gia, TP Cần Thơ có hệ thống cây trồng và vật nuôi đa dạng. Một số có những đặc tính tốt, sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao. Thành phố nằm ở lưu vực hạ lưu sông Mê Kông, so với các tỉnh thành khác mức độ đa dạng loài thủy sản khá cao.
Về hệ sinh thái, gồm hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Trong đó các hệ sinh thái đất ngập nước (sông, cồn, cù lao…) là các hệ sinh thái tự nhiên, đóng vai trò quan trọng của thành phố. Thời gian qua, các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của thành phố hướng đến sự phát triển bền vững quan tâm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Chẳng hạn, định hướng phát triển một "đô thị miệt vườn", những chính sách về nông thôn mới, phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, các chương trình phát triển kinh tế thủy sản… góp phần đảm bảo duy trì, phát huy các giống vật nuôi, giống thủy sản, cây trồng bản địa.
Đặc biệt, đối với hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên, như: cồn, cù lao được quy hoạch phát triển theo hướng du lịch sinh thái. Đây là định hướng bảo tồn ĐDSH nổi bật của thành phố, vừa tạo giá trị kinh tế, vừa có thể bảo tồn đặc trưng sinh cảnh của các hệ sinh thái này. Trong đó, nổi bật là cồn Khương, cồn Ấu, cù lao Tân Lộc.
Trên địa bàn TP Cần Thơ, công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo tồn ĐDSH thủy sinh vật nước ngọt được đặc biệt quan tâm. Ông Phạm Trường Yên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản TP Cần Thơ, cho biết: Hằng năm, Chi cục Thủy sản Cần Thơ tổ chức tập huấn, tuyên truyền về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản, công tác thả cá về nguồn được thực hiện mỗi năm. Các loài thủy sản bản địa được thả về tự nhiên khoảng 200.000 đến 1triệu con/năm.
Bên cạnh đó, thành phố thành lập Ban Chỉ đạo cấp thành phố thực hiện cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản. Đề xuất thành lập khu bảo tồn thủy sinh vật nước ngọt ở huyện Cờ Đỏ, phát triển giống một số loài cá bản địa nước ngọt bằng cách sưu tầm, lưu trữ giống, nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhằm gia tăng quần thể thủy sinh vật có nguy cơ biến mất.
Chi cục Thủy sản thành phố phối hợp với Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng các tỉnh liên quan xây dựng khu bảo tồn vùng nước nội địa sông Hậu. Ngoài ra, xây dựng các mô hình đồng quản lý nghề cá quy mô nhỏ trên địa bàn thành phố, phát huy và nâng cao vai trò trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản và ĐDSH thủy sinh vật…
TP Cần Thơ được đánh giá là ĐDSH, tuy nhiên do nhiều yếu tố tác động nên đa dạng thành phần loài tiếp tục bị suy giảm. Trong đó, một số nguyên nhân chủ yếu, như: dư lượng thuốc trừ sâu do thâm canh hóa trong sản xuất nông nghiệp; nước thải công nghiệp và sinh hoạt không được xử lý trước khi thải ra sông, kênh, rạch; xây dựng đê bao kiểm soát lũ…
Sự gia tăng dân số cũng là nguyên nhân gây sức ép lên nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Việc sử dụng xung điện, xuyệt điện để khai thác thủy sản là một trong những mối đe dọa nguy hiểm làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Mặt khác, sinh vật ngoại lai là nguyên nhân gây biến động thành phần loài thủy sản trong các thủy vực tự nhiên ở TP Cần Thơ…
Trước những nguy cơ và thách thức trên, đòi hỏi thành phố cần có những giải pháp và hành động mạnh mẽ hơn nữa để bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH.
Để bảo vệ nguồn lợi thủy sản, ông Phạm Trường Yên, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản TP Cần Thơ, cho rằng: Vấn đề khai thác thủy sản cần đi đôi với công tác phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản. Song song đó, nghiên cứu, sản xuất giống các loài thủy sản bản địa, các giống loài thủy sản quý hiếm; đồng thời bảo vệ các giống loài có nguy cơ bị biến mất. Xây dựng kế hoạch bảo tồn, xây dựng các chính sách phù hợp cho công tác bảo tồn đa dạng nguồn gen thủy sinh vật nói riêng và ĐDSH nói chung.
Theo bà Nguyễn Thị Lang, Chủ tịch Hội Sinh học và Công nghệ sinh học TP Cần Thơ, trước nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự phát triển dân số khó kiềm chế, con người có xu hướng đầu tư nhiều hơn cho chương trình phân tích genome (tính đa dạng và phức tạp của hệ gen) thực vật, làm nền tảng cho cuộc cách mạng xanh mới, giải quyết bài toán lương thực cho thế giới.
Phân tích genome thực vật hay genome cây trồng, trong đó các cây lương thực được xem xét ưu tiên, sẽ đóng góp những thay đổi quan trọng trong cải tiến giống, làm phong phú thêm kiến thức của loài người về di truyền phân tử.
Ngoài ra, hiện tượng mất mát quá lớn về biến dị di truyền, khẩn trương tìm giải pháp bảo vệ nguồn tài nguyên, hạn chế đến mức thấp nhất sự xói mòn quỹ gen. Các trung tâm giống cây trồng được xem là giải pháp hiệu quả, từ đó, hình thành những vùng hiện diện các loại hình nguyên thủy của nó.
Bà Nguyễn Thị Lang đề xuất 3 hướng nghiên cứu cho thời gian tới của thành phố. Đó là, nghiên cứu bảo tồn và duy trì nguồn gen cây bắp nếp của Cần Thơ nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản xuất bắp nếp tại TP Cần Thơ. Xây dựng bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam tiến tới xây dựng vườn thuốc Nam cho TP Cần Thơ và các tỉnh ĐBSCL. Xây dựng kế hoạch tổng thể cho công việc bảo tồn tài nguyên quý của địa phương về các cây ăn trái đặc sản.
Ông Nguyễn Minh Thế, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường, cho rằng: Bảo tồn ĐDSH là nội dung cơ bản, cần ưu tiên, khuyến khích trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, thành phố nên tiếp tục xây dựng thể chế, chính sách, chương trình, dự án Bảo tồn tài nguyên ĐDSH gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đồng thời, hạn chế các tác động của sự thay đổi khí hậu phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố. Bên cạnh đó, cần có chính sách cụ thể làm cơ sở cho công tác bảo tồn và thu hút nhiều thành phần xã hội cùng tham gia công tác bảo tồn ĐDSH.
Tăng cường sự liên kết, hỗ trợ giúp đỡ giữa các chính phủ, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học, doanh nghiệp, cộng đồng… nhằm làm cho quá trình phát triển không ảnh hưởng tới các hoạt động bảo tồn. Có như vậy, hoạt động bảo tồn sẽ hiệu quả và hỗ trợ ngày càng tốt hơn cho quá trình phát triển… (Cáo Cần Thơ 16/11) đầu trang(
Chiều 16/11, tại thành phố biển Đà Nẵng đã diễn ra Lễ khai mạc trọng thể Đại hội Biển Đông Á lần thứ 5.
Tới dự và phát biểu khai mạc về phía Việt Nam có Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang, đại diện lãnh đạo của các Bộ, ngành Trung ương, TP Đà Nẵng và 28 tỉnh, thành phố có biển.
Về phía quốc tế, có đại diện Tổ chức PEMSEA (đối tác Biển Đông Á) gồm 11 nước thành viên, 2 nước không thành viên dự thính cùng đông đảo cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài nước.
Phát biểu tại Đại hội, Bộ trưởng Bộ TN&MT Nguyễn Minh Quang cho biết, đã 3 năm trôi qua kể từ Đại hội lần thứ 4 tổ chức tại thành phố Chang-Uôn (Hàn Quốc), hôm nay chúng ta gặp lại tại đây để đánh giá những bài học kinh nghiệm và tiến bộ đạt được những năm qua; tiếp tục tăng cường quan hệ đối tác nhằm đạt được các mục tiêu chung của chúng ta về phát triển bền vững các vùng biển Đông Á sau năm 2015.
Đại hội Biển Đông Á năm nay diễn ra trong bối cảnh Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững Liên Hợp quốc đã thông qua Chương trình nghị sự Phát triển bền vững toàn cầu đến năm 2030, trong đó xác định 17 mục tiêu có tính đột phá về phát triển bền vững. Đây là những mục tiêu rất toàn diện mà tất cả các nước trên thế giới cần đạt được để đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội, bảo vệ tài nguyên, môi trường cho thế hệ hôm nay và các thế hệ tương lai.
Mục tiêu quan trọng nhất của Đại hội lần này là thiết lập Chương trình nghị sự cho phát triển bền vững các Biển Đông Á sau năm 2015, hướng tới xây dựng một nền kinh tế xanh, đại dương xanh.
Để làm được việc này, không chỉ tự thân mỗi thành viên mà cần có những nỗ lực chung mang tính toàn cầu, khu vực trong việc: nghiên cứu, áp dụng các phương thức quản lý tổng hợp biển, vùng bờ biển và hải đảo phù hợp vào mỗi quốc gia; phối hợp để ứng phó hiệu quả, giảm thiểu các tác động bất lợi của biến đổi khí hậu, thiên tai và sự cố môi trường; phối hợp giải quyết các vấn đề xuyên quốc gia, hỗ trợ nâng cao năng lực, chuyển giao kiến thức, công nghệ… nhằm tạo dựng nền kinh tế xanh, đại dương xanh.
Với chủ trương “thông qua lợi ích đạt được từ phát triển bền vững của mỗi địa phương để đạt được các mục tiêu toàn cầu”, các phiên thảo luận, hội thảo chuyên đề tại Đại hội lần này sẽ tập trung chủ yếu vào các vấn đề: quản lý, giảm thiểu rủi ro, thảm họa do biến đổi khí hậu, quản trị đại dương, quản lý tổng hợp vùng bờ biển; đánh giá hiện trạng và đề xuất hướng đi xây dựng nền kinh tế xanh. Đặc biệt vấn đề hợp tác công – tư liên quan tới phát triển kinh tế biển xanh sẽ là một chủ đề quan trọng cần được thảo luận.
Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang bày tỏ tin tưởng rằng, thông qua các bài trình bày và thảo luận, chúng ta sẽ tìm ra phương hướng và xây dựng quyết tâm hợp tác giải quyết các thách thức hiện tại và tăng cường năng lực ứng phó với các thách thức nảy sinh trong tương lai.
Phát biểu chào mừng Đại hội, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải bày tỏ niềm vinh dự thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam chào mừng các quan khách trong nước và quốc tế tới dự Đại hội Biển Đông Á lần thứ 5 tại thành phố cảng Đà Nẵng. Phó Thủ tướng trân trọng cảm ơn Tổ chức Đối tác quản lý môi trường các biển Đông Á (PEMSEA), các nước thành viên, không thành viên của PEMSEA và các đối tác đã nhất trí tổ chức Đại hội lần này tại Việt Nam.
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải nhấn mạnh, biển và hải đảo có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng; có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và giao thương của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hiện nay, biển Đông Á chiếm khoảng 50% khối lượng hàng hóa đường biển thế giới lưu thông trên tuyến hàng hải nối với châu Âu. Trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang dần cạn kiệt, không gian kinh tế truyền thống trở nên chật chội, nhiều quốc gia đang hướng ra biển để tìm kiếm, khai thác các nguồn tài nguyên, bảo đảm các nhu cầu về nguyên, nhiên liệu, năng lượng, thực phẩm...
Trong những năm qua, chúng ta đã khai thác, sử dụng quá mức, thậm chí hủy diệt các nguồn tài nguyên, nhất là nguồn tài nguyên sinh vật và các hệ sinh thái; đã xả thải gây ô nhiễm môi trường biển.
Những tác động xấu do hoạt động của con người, nhất là việc xây dựng, cải tạo đảo, đá trên quy mô lớn trái quy luật, trái luật pháp quốc tế đã đe dọa nghiêm trọng tới nguồn tài nguyên, môi trường của đại dương thế giới và của Biển Đông Á; ảnh hưởng tới an ninh hàng hải và chủ quyền của mỗi quốc gia, tới cuộc sống của chúng ta.
Do vậy, phòng chống ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên, môi trường và các hệ sinh thái biển để phục vụ phát triển bền vững không chỉ cần nỗ lực của mỗi quốc gia mà còn cần sự chung tay của nhiều quốc gia, đặc biệt là của các quốc gia ven biển.
Với mong muốn chia sẻ những bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả quản lý biển và hải đảo, chúng tôi đề nghị các bạn cùng chung tay thực hiện 4 vấn đề quan trọng sau:
Thứ nhất, cần nỗ lực xây dựng một môi trường hòa bình, ổn định, tuân thủ luật pháp quốc tế và duy trì an ninh, an toàn hàng hải, hàng không ở các vùng biển Đông Á;
Thứ hai, tăng cường hợp tác toàn diện, sâu rộng về biển, về bảo vệ môi trường và các hệ sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy sản của biển Đông Á trên bình diện song phương, đa phương, thông qua các tổ chức quốc tế, đặc biệt là PEMSEA, vì mục tiêu phát triển bền vững kinh tế biển, vùng ven biển và hải đảo;
Thứ ba, thực hiện thành công Chiến lược phát triển bền vững các biển Đông Á và các cam kết quốc tế liên quan tới phát triển bền vững biển, vùng ven biển và hải đảo, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia giải quyết các vấn đề có tính khu vực;
Thứ tư, xây dựng nền kinh tế xanh theo tiêu chí đại dương xanh, hành tinh xanh, trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển bền vững biển của chúng ta. (Tài Nguyên Và Môi Trường 16/11) đầu trang(
Nghiên cứu xây dựng mô hình rạn nhân tạo tại vịnh Nha Trang có ý nghĩa thực tiễn cao, làm cơ sở khoa học cho việc áp dụng giải pháp kỹ thuật trong công tác bảo vệ, phát triển nguồn lợi thủy sản và giúp cải thiện sinh kế cho cộng đồng ngư dân.
Mô hình rạn nhân tạo được xây dựng tại vịnh Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa với quy mô bao phủ nền đáy 15.600 m2. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong 12 tháng bằng phương pháp lặn khảo sát và đánh giá hiệu quả của mô hình đối với khả năng tập trung, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng loài, mật độ phân bố tăng nhanh và phụ thuộc vào thời gian, không gian quanh khu rạn nhân tạo; trong khu rạn số lượng loài tăng từ 41 lên 68 loài (65,8%), mật độ tăng từ 917 lên 1.566 cá thể/400 m2 (gấp 1,7 lần) ở mặt cắt ngang.
Kết quả khảo sát còn cho thấy san hô mềm và rong bắt đầu phát triển trên các rạn nhân tạo, tạo môi trường tốt cho các loài thủy sản sinh sản và phát triển. (Thủy Sản Việt Nam 17/11) đầu trang(
Gần đây, trên địa bàn huyện Khánh Vĩnh (Khánh Hòa) có mưa nhiều nên xuất hiện nhiều loại lâm sản phụ, nhất là dược liệu, nhưng số lượng suy giảm nhiều so với trước đây.
Cứ đến mùa mưa, ông Cao Thường (thôn Ba Cẳng, xã Khánh Hiệp) lại cùng một vài bạn rừng len lỏi khắp rừng Trảng Thông, Hòn Mắt, Cà Thêu… (xã Khánh Hiệp) để tìm nấm lồ ô, nấm linh chi hồng. Ông Thường chia sẻ: “Lần này tôi kiếm được gần 2kg nấm lồ ô và một ít nấm linh chi. Tôi bán 2 kg nấm lồ ô được 180.000 đồng sau 1 ngày đi rừng, tuy vất vả nhưng cũng giúp gia đình có thêm tiền đong gạo”.
Không chỉ người dân xã Khánh Hiệp mà nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã cánh tây huyện Khánh Vĩnh như: Sơn Thái, Liên Sang, Giang Ly, Khánh Thượng… cũng thường xuyên vào rừng tìm kiếm, khai thác các loại lâm sản phụ để có thêm thu nhập. Ngoài khai thác nấm lồ ô, nấm linh chi, lan nhung, quả ươi, sa nhân… bán cho thương lái xuất sang Trung Quốc, nhiều người còn đi tìm mây, lồ ô, chặt đót… để bán cho thương lái địa phương.
Bà Cà Dơi (thôn Bố Lang, xã Sơn Thái) cho biết: “Từ nhiều năm nay, do khai thác ồ ạt nên rừng lồ ô đã cạn kiệt, hiện nay diện tích chỉ còn chưa đến 1/10 so với trước. Mùa mưa năm nay, những người đi khai thác măng rừng như chúng tôi thu nhập không được bao nhiêu, cả ngày chỉ được 1 gùi măng, bán chưa đến 80.000 đồng. Mùa đót năm nay dự báo cũng không mấy khả quan vì đót còn lại rất thưa thớt”.
Bà Nguyễn Thị Sương, người có gần 20 năm thu mua lâm sản phụ, dược liệu ở Ba Cẳng cho biết: “Trước đây, mỗi mùa mưa, tôi thu mua gần 2 tấn nấm linh chi tươi, 5-7 tấn đót khô, hàng tấn hạt mây, quả say… nhưng năm nay, số lượng mua chỉ được khoảng 30% so với trước”. Số mây rừng thu mua, bà bán lại cho các điểm làm hàng thủ công mỹ nghệ, còn các loại dược liệu thì bán cho điểm thu mua dược liệu ở thị trấn Khánh Vĩnh.
Tại điểm thu mua dược liệu của bà Ánh Tuyết (thị trấn Khánh Vĩnh), chúng tôi gặp một số người dân tộc thiểu số đến bán các loại dược liệu như: nấm linh chi, nấm lồ ô, lan nhung, nấm gỗ, sa nhân…
Bà Tuyết cho hay: “Những loại dược liệu này rất được thị trường Trung Quốc ưa chuộng. Mấy ngày gần đây, bạn hàng gọi điện liên tục, nhưng gom mãi vẫn chưa đủ hàng để chở đi. Ngày trước, mỗi tháng tôi có thể đóng một chuyến xe vài ba tấn, bây giờ 2 tháng cũng chưa đi được 1 chuyến”. Để đủ hàng bán sang Trung Quốc, bà Tuyết phải liên hệ với một số mối hàng ở các cửa rừng tại Khánh Vĩnh nhưng số lượng chẳng được bao nhiêu. Ngoài ra, bà còn thu mua ở các địa phương khác trong tỉnh và đặt mua hàng ở các tỉnh lân cận như: Lâm Đồng, Ninh Thuận, Phú Yên…
Theo bà Tuyết, những năm gần đây, số người đến bán dược liệu cho bà ngày càng thưa thớt, nguyên nhân chính là do dược liệu rất khan hiếm, phải đi vào rừng sâu mới tìm được nên không còn mấy người làm công việc này.
Ông Võ Văn Thế - Phó Chủ tịch UBND xã Khánh Hiệp cho biết: “Hiện nay, địa phương vẫn còn nhiều hộ nghèo. Hầu hết các hộ đều vào rừng khai thác lâm sản phụ, tìm kiếm các loại dược liệu để bán cho thương lái. Tuy nhiên, các loại lâm sản phụ ngày càng khan hiếm nên thu nhập của các hộ không còn cao như trước, chỉ khoảng 150.000 đồng/ngày”.
Theo ông Thế, việc khai thác lộc rừng sẽ không mang lại cuộc sống ổn định cho người dân. Vì vậy, chính quyền địa phương đang tiếp tục triển khai các chính sách hỗ trợ từ các chương trình xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến các hộ nghèo, cận nghèo để họ vươn lên ổn định cuộc sống.
Những sản vật từ núi rừng đã mang lại thu nhập cho người dân tại các địa phương miền núi, đặc biệt là hộ nghèo. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải khai thác một cách hợp lý, tránh tình trạng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Ông Lê Thanh Hóa - Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Khánh Vĩnh cho biết: “Bên cạnh tạo điều kiện cho người dân có thêm thu nhập, Hạt Kiểm lâm huyện đã chỉ đạo các trạm kiểm lâm phối hợp với chính quyền cơ sở tuyên truyền, hướng dẫn người dân khai thác đúng cách để rừng cho lộc bền vững… Chúng tôi kiên quyết xử lý các trường hợp chặt hạ cây rừng để khai thác lâm sản phụ và dược liệu”. (Báo Khánh Hòa 16/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Nhằm góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học; đặc biệt, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho người dân sống ở nông thôn miền núi, từ năm 1995 đến 2010, các dự án trồng rừng định canh định cư và ADB, trồng mới 5 triệu hécta rừng, hay Dự án 661… được triển khai thực hiện rộng khắp cả nước.
Tuy nhiên, ở một số địa phương trong đó có tỉnh Quảng Trị, phần lớn rừng này đã bị các cán bộ từ xã, huyện đến tỉnh chiếm dụng trái phép mà không giao cho đối tượng trồng rừng hưởng lợi theo quy định.
Tình trạng cán bộ chiếm dụng đất rừng và rừng thuộc dự án Nhà nước nói trên xảy ra một cách phổ biến tại các huyện: Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hóa và Gio Linh. Theo thống kê sơ bộ, thời gian qua đã có hàng nghìn hécta bị chiếm dụng, hưởng lợi trái phép. Trong đó, tại xã Linh Thượng, ông Hồ Quốc Hương, Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện Gio Linh, đã cùng với người thân trong gia đình, bà con họ hàng chiếm dụng tới 28,62 hécta, thuộc dự án khu vực lâm nghiệp – ADB.
Cụ thể, năm 1997, Ban Quản lý các dự án thuộc Ban Dân tộc và miền núi tỉnh Quảng Trị đầu tư trồng rừng phòng hộ ở xã Linh Thượng với diện tích 50 héc-ta, giao cho người dân ở các thôn Cù Đinh, Ba De trồng, chăm sóc, bảo vệ và hưởng lợi. Tuy nhiên, năm 2003, một số diện tích rừng trên bị cháy, UBND xã Linh Thượng làm tờ trình xin thanh lý và trồng mới rừng.
Đến ngày 10/9/2005, UBND huyện Gio Linh phê duyệt cho chủ trương các hộ dân ở Ba De, Cù Đinh trồng mới lại rừng. Nhưng ông Hồ Quốc Hương, lúc bấy giờ là Chủ tịch UBND xã Linh Thượng, đã không tuân thủ chủ trương trên của huyện, tự ý khai thác diện tích rừng còn lại không bị cháy, trồng mới rừng trên tổng diện tích 22,2 héc-ta rừng bị cháy và xâm lấn, trồng mới thêm trên diện tích 6,4 héc-ta của Ban Dân tộc và miền núi tỉnh Quảng Trị.
Năm 1998, thực hiện Dự án trồng rừng 661, ông Hương lúc đó vẫn là Chủ tịch UBND xã Linh Thượng, đã lập dự án, mượn tên 26 hộ gia đình, nhận trồng 109,2 hécta tại tiểu khu 604T, khu vực giáp ranh giữa xã Linh Thượng với các địa phương Hướng Hóa, Đakrông và Cam Lộ để hưởng lợi… Hành vi chiếm dụng rừng, đất rừng, nhận hưởng các chế độ, lợi ích từ việc trồng rừng thuộc các dự án của Nhà nước của ông Hương đã bị nhân dân phát giác, tố cáo.
Theo đó, các cấp chính quyền, ngành chức năng địa phương đã vào cuộc xác minh, xử lý những sai phạm của ông Hương. Trong đó, buộc ông Hương sau khai thác hết cây trên đất, phải bàn giao lại đất rừng này cho địa phương quản lý, phân bổ cho các hộ dân trồng rừng theo đúng đối tượng và đúng quy định. Điều đáng nói, các năm 2013, 2014, ông Hương một lần nữa không tuân thủ chỉ đạo của cấp trên, tự ý chuyển nhượng đất rừng này cho các hộ dân là bà con, người thân trong gia đình của ông.
Việc các cấp chính quyền, ngành chức năng liên quan không xử lý nghiêm những sai phạm của ông Hương đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng. Cụ thể, năm 2013 và 2014, sau khi UBND tỉnh Quảng Trị đồng ý để UBND huyện Gio Linh thu hồi 350 hécta đất rừng thuộc xã Linh Thượng trước đó đã cấp cho một doanh nghiệp tư nhân để trồng rừng, nhiều người dân, doanh nghiệp tư ở ngoài địa phương đã lén lút xâm lấn, trồng rừng trên toàn bộ diện tích đất này.
Trước tình trạng đó, Công an huyện Gio Linh đã vào cuộc xác minh, kiến nghị các cấp thẩm quyền, ngành chức năng có trách nhiệm liên quan xử lý. Ngày 3-10-2015, ông Trương Chí Trung, Chủ tịch UBND huyện Gio Linh ký Công văn số 949/UBND-NN gửi các đơn vị chức năng liên quan, yêu cầu tăng cường công tác quản lý quĩ đất trên địa bàn xã Linh Thượng. Tuy nhiên, đến nay mọi chỉ đạo trên hầu như vẫn còn nằm… trên giấy (!).
Tương tự, tại huyện Hải Lăng, nhiều cá nhân, tổ chức không thuộc đối tượng trồng, chăm sóc và hưởng lợi từ Dự án trồng rừng 661 vẫn chiếm dụng hàng trăm hécta đất rừng để trồng và hưởng lợi theo diện này từ năm 1998 đến nay. Năm 2005, UBND huyện Hải Lăng đã thành lập đoàn thanh tra liên ngành, thanh kiểm tra những sai phạm này. Đến ngày 28/2/2006, UBND huyện Hải Lăng đã có Kết luận số 47/KL-UBND về vụ việc.
Theo đó, buộc các cá nhân, tổ chức, đơn vị không thuộc diện hưởng lợi Dự án 661 phải trả lại đất rừng cho các địa phương quản lý, phân bổ cho các hộ dân theo đúng đối tượng và đúng quy định. Nhưng một số cán bộ có sai phạm liên quan đã “phù phép” rừng này thuộc chủ sở hữu của người khác về mặt giấy tờ, còn thực tế họ vẫn ngang nhiên khai thác rừng và hưởng lợi từ rừng.
Trong đó, đơn cử hơn 30 hécta rừng ở xã Hải Lâm trước đây giao cho Công đoàn Kiểm lâm huyện Hải Lăng trồng, chăm sóc và hưởng lợi nhưng không đúng đối tượng nên bị thu hồi. Sau đó, diện tích rừng này trên mặt giấy tờ thì giao lại cho một người dân ở xã Hải Phú tiếp tục bảo vệ và trồng mới rừng. Nhưng thực chất, một cán bộ cũ từng tham gia trồng rừng Dự án 661 ở Hải Lăng đã khai thác và hưởng lợi từ đó đến nay…
Thực hiện Dự án trồng rừng 661 từ năm 1998 đến 2010, các huyện Hải Lăng, Gio Linh, Triệu Phong, Hướng Hóa đã trồng tổng cộng khoảng 10 nghìn hécta rừng. Theo quy định, mỗi hộ dân thuộc diện được trồng rừng dự án này, được phép trồng đến 29,9 hécta. Nhưng thực tế, hầu hết các hộ dân đều nhận được đất rừng rất ít. Chẳng hạn như ở Linh Thượng, bình quân mỗi hộ chỉ nhận được 2-3 hécta, có hộ chỉ 1-2 hécta... (Công An Nhân Dân 16/11) đầu trang(
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, tính đến đầu tháng 10/2015, Tập đoàn này đã thực hiện xong việc rà soát trồng bù rừng thay thế thuộc 18 dự án thủy điện trên cả nước với tổng diện tích phải trồng gần 12.860ha.
Theo đó, đã có 3 dự án Thủy điện ở khu vực miền trung hoàn thành công tác trồng bù rừng và được cấp chứng nhận gồm A Vương, Sông Ba Hạ và Buôn Tua Srah; 14 dự án thủy điện đã phê duyệt phương án trồng bù rừng thay thế và chuyển tiền đợt 1 để địa phương trồng và chăm sóc năm đầu gồm thủy điện Sông Tranh 2, Bản Vẽ, Đồng Nai 3, 4; An Khê - Knak, Sông Bung 4, Trung Sơn, Thượng Kon Tum, Sơn La, Bản Chát, Lai Châu, Tuyên Quang, Sê San 4 và Sông Bung 2.
Riêng dự án Thủy điện Huội Quảng, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu đã đồng ý hình thức chuyển tiền thay cho phương án chủ đầu tư thực hiện. EVN đã chuyển tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng hết quý III/2015 theo quy định cho quỹ hỗ trợ phát triển rừng tỉnh Lai Châu.
Việc trồng bù rừng thay thế là nhằm hoàn trả mặt bằng thi công, góp phần phát triển hệ thống cây xanh và rừng phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn vì an toàn sinh thái và cải thiện cảnh quan môi trường cho khu vực xây dựng thủy điện.
Đây là những nỗ lực của EVN nhằm thực hiện Nghị quyết số 62/2013/QH13 ngày 27/11/2013 của Quốc hội khóa 13 và Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện.
Cũng như thực hiện Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT ngày 06/5/2013 và Thông tư số 26/2015/TT-BNNPTNT ngày 29/7/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về quy định trồng rừng thay thế khi chuyển mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác.
Trong nhiều năm qua, EVN đã chỉ đạo các Ban quản lý dự án, các Công ty thủy điện thực hiện công tác trồng rừng thay thế theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 24/2013/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Đại diện EVN cho biết, sở dĩ trước đây, việc trồng bù rừng thay thế chậm triển khai là do những vướng mắc khách quan như chưa có hướng dẫn, quy định thống nhất đối với các dự án đã triển khai trước thời điểm hiệu lực của Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Ngoài ra, phương án trồng bù chậm được phê duyệt do chưa thống nhất được đơn giá, thời gian, chi phí chăm sóc bảo vệ, loại cây, diện tích trồng bù đối với diện tích rừng sản xuất đã được chủ đầu tư đền bù đất và tài sản trên đất...
Theo EVN, ngoài việc chi hàng nghìn tỷ đồng trồng bù rừng thay thế, Tập đoàn còn góp phần bảo vệ môi trường rừng ở 29 tỉnh nơi có dự án thủy điện của EVN thông qua nộp phí dịch vụ môi trường rừng lên tới trên 1 nghìn tỷ đồng mỗi năm.
Cụ thể, trong năm 2013, EVN đã chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các địa phương có dự án thủy điện của Tập đoàn là 1.148 tỷ đồng; năm 2014, là trên 1.192 tỷ đồng. Từ đầu năm 2015 đến nay, hơn 4.067 tỷ đồng là số tiền EVN đã nộp để chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các địa phương. (Vietnam + 16/11) đầu trang(
Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 theo nghị quyết của Tỉnh ủy và HĐND tỉnh, chỉ tiêu trồng rừng của cả tỉnh năm nay được đặt ra là 12.000 ha.
Trong đó, trồng rừng có nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước là 7.958 ha, trồng rừng bằng nguồn vốn của doanh nghiệp và nhân dân là hơn 4.041 ha...
Triển khai thực hiện các chỉ tiêu nói trên, giống như tình hình các năm trước, năm nay nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước cho nhiệm vụ trồng rừng gặp nhiều khó khăn và giải ngân chậm! Chủ động trước tình trạng nói trên, theo chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hướng dẫn các ban quản lý dự án lâm nghiệp ở các huyện trung du, miền núi trọng điểm phối hợp chặt chẽ với chính quyền các địa phương đẩy nhanh tiến độ khảo sát thực địa, giải phóng đất, chuẩn bị hiện trường và nguồn cây giống có chất lượng... phục vụ nhiệm vụ trồng rừng, không để bị động vì thiếu vốn.
Trong đó, các đơn vị, địa phương tập trung ưu tiên tạo điều kiện về giống, vốn để đẩy nhanh tiến độ trồng rừng sản xuất. Nổi bật là huyện Mường Lát tuy gặp nhiều khó khăn nhưng đến cuối tháng 9 đã trồng được 3.500 ha rừng sản xuất, đạt 100% kế hoạch cả năm. Năm nay yêu cầu đẩy nhanh tiến độ trồng rừng thay thế cũng trở thành vấn đề bức xúc.
Trước nhiệm vụ cấp bách này, do sự điều hành quyết liệt từ tỉnh đến các đơn vị dự án và các địa phương, đến đầu tháng 10, toàn tỉnh trồng được 1.650 ha, đạt 249% kế hoạch (trong khi bình quân cả nước chỉ đạt gần 24% chỉ tiêu này). Đối với diện tích rừng chuyển đổi sang mục đích khác, các địa phương cũng trồng thay thế được 852 ha, đạt 172% kế hoạch... Tính chung, đến hết tháng 9-2015, toàn tỉnh đã trồng hơn 12.561 ha rừng, đạt 104,7% kế hoạch năm, về trước thời hạn 3 tháng.
Nhiệm vụ trồng rừng trong 5 năm tới là khá lớn. Về lĩnh vực này, Nghị quyết số 16 – NQ/TU của Tỉnh ủy khóa XVII về tái cơ cấu ngành nông nghiệp (trong đó có lâm nghiệp) đã đề ra phương hướng, giải pháp phát triển lâm nghiệp trong các năm tới. Những bài học kinh nghiệm trong chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch trồng rừng nói riêng và kinh tế lâm nghiệp nói chung năm 2015 cần được tiếp tục phát huy trong năm 2016 và các năm tới.
Trước mắt, để chuẩn bị triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2016, cần làm tốt việc tạo nguồn cây giống cho Tết Trồng cây truyền thống đầu xuân sắp tới và cảnh giác, sẵn sàng phòng chống cháy rừng vì mùa khô năm nay đến sớm hơn 1 tháng (từ tháng 10) do tác động của biến đổi khí hậu và hiện tượng En-ni-nô, rất dễ gây cháy rừng. (Báo Thanh Hóa 16/11) đầu trang(
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn báo cáo số liệu trồng rừng thay thế cho diện tích rừng bị phá làm thủy điện là 21.000 ha, trong khi đó Bộ Công Thương lại đưa ra con số là 18.000 ha.
Tại phiên trả lời chất vấn tại Quốc hội sáng 16-11, đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) và Trương Văn Vở (Đồng Nai) đặt câu hỏi cho cả hai bộ trưởng Công Thương và Nông nghiệp phát triển nông thôn về việc có hay không một số doanh nghiệp không trồng rừng thay thế khi làm thủy điện? Tiến độ trồng bù diện tích rừng thay thế cho rừng bị phá làm thủy điện đang được tiến hành ra sao? Kế hoạch 2015 có đạt được theo đúng tiến độ?
Và vì sao số liệu trồng rừng thay thế cho diện tích rừng bị phá làm thủy điện giữa hai bộ này lại chênh nhau đến 3.000 ha (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn báo cáo 21.000 ha, Bộ Công Thương báo cáo 18.000 ha)?
Bộ trưởng Cao Đức Phát trả lời: “Đúng là có việc một số doanh nghiệp làm thủy điện nhưng chưa trồng rừng thay thế. Họ báo cáo vì trước đây khi xét duyệt dự án không nhắc nên bây giờ không có tiền để làm. Và đúng là có thực tế như vậy, duyệt dự án thủy điện trước rồi khi Quốc hội nhắc nhở mới rà lại trồng rừng thay thế.
Đúng là có sự vênh nhau trong việc xét duyệt dự án thủy điện và trồng rừng thay thế. Tôi yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng luật. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải cũng chỉ đạo Bộ Công thương là doanh nghiệp nào không thực hiện sẽ bị rút. Hai năm nay Quốc hội quan tâm, Chính phủ chỉ đạo thì đã chuyển biến rất nhiều, bây giờ tất cả đã vào guồng và sẽ thực hiện nghiêm túc hơn”.
“Về độ vênh rừng thay thế tôi nghĩ do thời điểm, còn chúng tôi đã gửi đến Quốc hội danh sách từng tỉnh một chứ không có vấn đề gì ở đây cả” - ông Cao Đức Phát nói.
Về phần mình, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết khả năng việc trồng rừng thay thế khi làm thủy điện của năm 2015 sẽ hoàn thành. Cụ thể về biện pháp thực hiện, bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói: “Chúng tôi có ba phương án. Thứ nhất, với những dự án thủy điện đã phê duyệt, chúng tôi đôn đốc tiến độ trồng bù rừng, nếu không hoàn thành thì chế tài.
Với các dự án đang có phương án trồng bù, trong khi chờ đợi sẽ tạm thời cấp giấy hoạt động điện lực 1 năm. Với các dự án đang phê duyệt nhưng không thực hiện thì tạm ngưng giấy phép hoạt động điện lực.
Câu hỏi của đại biểu Trương Văn Vở về chênh lệch số diện tích rừng phải trồng bù do làm thủy điện, bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói: “Có thể do thống kê hai ngành khác nhau, thực tế một số công trình kết hợp thủy lợi thủy điện nhưng thủy lợi là chính. Cho nên khi tính thì tính như thủy lợi hoặc không tính như thực tế, tôi xin rút kinh nghiệm. Chứ còn ở đây cũng không có ý gì”. (Tuổi Trẻ 16/11) đầu trang(
Việt Nam hiện đang hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xuất khẩu các mặt hàng gỗ và nguyên liệu đòi hỏi đáp ứng quy định của các chứng chỉ, công ước quốc tế. Do đó, cần tái cơ cấu để phát triển ngành lâm nghiệp nhằm phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới.
Đó là ý kiến của ông Hồ Xuân Hùng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, Chủ tịch Tổng hội NN&PTNT trong hội thảo “Phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với tái cơ cấu ngành lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới” vừa diễn ra tại TP Hồ Chí Minh.
Hiện nay tổng diện tích rừng của nước ta hơn 13 triệu ha. Trong đó, rừng tự nhiên còn hơn 10 triệu ha. Theo đề án cơ cấu lại ngành lâm nghiệp của Bộ NN& PTNT đến 2020, nước ta sẽ có từ 16,2 đến 16,5 triệu ha rừng. Trong đó, rừng sản xuất chiếm hơn 8 triệu ha, rừng phòng hộ gần 6 triệu ha và rừng đặc dụng chiếm khoảng 2,3 triệu ha.
Tuy nhiên, trong 10 năm (2004 – 2014) hiệu quả kinh tế từ ngành trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ và các loại lâm sản của nước ta rất thấp. Tổng số tiền nộp ngân sách nhà nước của các nông, lâm trường chỉ được 1.809 tỷ đồng. Trong khi đó, ngành gỗ được xác định là một trong những ngành chủ lực của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu ngành chế biến gỗ dự kiến sẽ đạt 7 tỷ USD vào cuối năm 2015 và 10 tỷ USD vào năm 2020.
Ông Phạm Bá Ngãi, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Nông nghiệp (Bộ NN& PTNT) cho biết: “Hiện nay người dân sản xuất rừng của nước ta còn nghèo. Kinh tế hộ trong lâm nghiệp đang bộc lộ nhiều hạn chế, manh mún và chia lẻ, trong khi liên kết sản xuất thì rất kém. Các công ty lâm nghiệp chưa giữ được vai trò làm nòng cốt. Cơ chế chính sách của chúng ta về phát triển kinh tế rừng còn thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, việc quy hoạch rừng của nhiều địa phương thì luôn bị phá vỡ. Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng cho những mục đích khác đang chịu sức ép rất mạnh. Đây là những hạn chế rất nổi bật”.
Đa số các đại biểu cho rằng, để phát triển bền vững kinh tế rừng gắn với xây dựng nông thôn mới, yêu cầu bức thiết được đặt ra hiện nay là chúng ta phải tái cơ cấu ngành lâm nghiệp. Việc tái cơ cấu cần đáp ứng được yêu cầu nâng cao giá trị, gia tăng sản phẩm và dịch vụ môi trường rừng; từng bước đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo cho người dân ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Nhà nước cần có chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nông dân, hộ gia đình liên kết với doanh nghiệp nhằm tổ chức sản xuất lâm nghiệp quy mô lớn. Đối với các công ty lâm nghiệp được hình thành từ lâm trường quốc doanh, cần nhanh chóng chuyển đổi sang các hình thức khác như cổ phần hóa, chuyển đổi sang Ban quản lý rừng hoặc giải thể các đơn vị hoạt động không hiệu quả.
Qua hội thảo này, các ý kiến của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân và các chuyên gia được đề xuất với Chính phủ nằm đưa ra những giải pháp khả thi, nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của ngành lâm nghiệp Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. (Dân Sinh 17/11) đầu trang(
Thủ tướng Chính phủ vừa có ý kiến chỉ đạo về Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới công ty lâm nghiệp thuộc UBND tỉnh Bình Thuận.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, duy trì, củng cố, phát triển và tái cơ cấu Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sông Dinh, Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thực hiện nhiệm vụ sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.
Thành lập Công ty TNHH hai thành viên trở lên trên cơ sở sắp xếp các Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp: Bình Thuận, Hàm Tân và thu hút thêm đối tác bên ngoài theo quy định tại Nghị định số118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và quy định của pháp luật có liên quan.
Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo giải thể Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Tánh Linh.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bình Thuận làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan (đối với trường hợp chưa bị xử lý) trong việc quản lý đất đai lỏng lẻo (khoán trắng, bị dân lấn chiếm đất) tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Tánh Linh, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Đồng thời thực hiện việc sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu công ty lâm nghiệp Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; giải thể Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Tánh Linh theo quy định của pháp luật hiện hành.
Căn cứ theo các quy định hiện hành, UBND tỉnh Bình Thuận rà soát lựa chọn đối tác tham gia thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, quyết định và chịu trách nhiệm, chỉ đạo thực hiện bảo đảm hiệu quả, đúng quy định của pháp luật hiện hành; yêu cầu các doanh nghiệp đối tác cam kết và doanh nghiệp sau khi sắp xếp phải tiếp tục giữ và phát triển thương hiệu, không được đổi tên doanh nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND tỉnh Bình Thuận rà soát, xác định nhu cầu sử dụng đất phù hợp với nhiệm vụ của từng công ty sau sắp xếp và quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Chỉ đạo các công ty lâm nghiệp phải sử dụng đất đúng mục đích, khi thay đổi mục đích sử dụng đất phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt phù hợp với quy hoạch được duyệt của tỉnh và quy định của pháp luật.
Xây dựng phương án quản lý đất đối với diện tích đất các đơn vị giải thể, diện tích đất các công ty không có nhu cầu sử dụng bàn giao lại; xử lý dứt điểm các trường hợp tranh chấp, lấn chiếm, sử dụng đất không đúng quy định tại Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp và các quy định của pháp luật về đất đai.
UBND tỉnh Bình Thuận phối hợp với các Bộ: Tài Nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thông, Tài chính thực hiện việc hỗ trợ kinh phí đo đạc, cắm mốc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thực hiện bổ sung vốn điều lệ sau sắp xếp cho công ty lâm nghiệp hoạt động công ích theo quy định của pháp luật hiện hành. (Chính Phủ 16/11) đầu trang(
Mở đầu phiên chất vấn sáng 16.11, một số đại biểu Quốc hội quan tâm đến vấn đề trồng rừng thay thế cho diện tích rừng sử dụng để xây dựng công trình thủy điện. Các đại biểu lo ngại việc trồng rừng không đạt được kế hoạch, trong khi Chính phủ đã bố trí cơ bản đầy đủ về nguồn lực.
Đại biểu Tô Văn Tám (Kon Tum) nêu thực tế, mặc dù Chính phủ đã triển khai tích cực, chỉ đạo chủ dự án nộp lệ phí bảo vệ rừng 323 tỉ đồng, NSNN cũng được quan tâm bố trí nhưng kết quá trồng rừng thay thế đạt rất thấp (đến hết tháng 11 chỉ đạt 32% kế hoạch đề ra).
Ông chất vấn Bộ trưởng Bộ NNPTNT: “Tại sao có chủ trương, bố trí cơ bản nguồn lực mà tiến độ trồng rừng thay thế không đạt như mong đợi? Trách nhiệm thuộc về cơ quan nào? Sẽ giải quyết vấn đề vốn cho trồng rừng thay thế như thế nào? Đây là những câu hỏi mà tôi đề nghị bộ NNPTNT phải có câu trả lời rõ ràng!”
Về vấn đề này, Bộ trưởng Cao Đức Phát thừa nhận có thực tế là trồng rừng thay thế dự án thủy điện có chậm tiến độ, trong đó có nguyên nhân một số doanh nghiệp báo cáo do trước đây khi xét duyệt dự án không nhắc đến dự toán kinh phí nên xảy ra tình trạng nhiều doanh nghiệp không có tiền để làm.
“Những giai đoạn trước, chúng ta thực hiện duyệt dự án thủy điện trước rồi sau đó, nhất là khi Quốc hội nhắc mới rà soát lại, xiết chặt việc trồng rừng thay thế. Chúng tôi đã yêu cầu DN phải thực hiện đúng luật, rất nghiêm túc. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo Bộ Công thương khắc phục tồn tại này! Với việc thực hiện quyết liệt các biện pháp khắc phục trong hai năm nay, tôi khẳng định việc trồng rừng thay thế rừng đã lấy làm thủy điện có thể đạt được kế hoạch năm 2015”.
Nói rõ hơn về các biện pháp đối với các doanh nghiệp trây ỳ không thực hiện việc trồng rừng thay thế hoặc chậm thực hiện tiến độ trồng rừng thay thế đề ra, ông Vũ Huy Hoàng – Bộ trưởng Bộ Công thương cho biết, Chính phủ đã có những biện pháp mạnh tay và cụ thể. Theo đó, với những dự án đã được phê duyệt, Bộ Công thương tiếp tục đôn đốc chủ đầu tư hoàn thành tiến độ, nếu không hoàn thành sẽ xử lý theo chế tài đã quy định.
“Với dự án thủy điện đang có kế hoạch trồng bù thay thế, bộ sẽ tạm thời cấp giấy phép hoạt động điện lực trong vòng một năm. Còn với các chủ dự án đã phê duyệt nhưng không thực hiện việc trồng bù, bộ sẽ tạm thời ngưng hoặc rút giấy phép hoạt động điện lực cho đến khi chủ đầu tư thực hiện dự án trồng bù như đã phê duyệt” – Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng nói.
Cùng với Bộ trưởng Cao Đức Phát, người đứng đầu ngành Công thương khẳng định kế hoạch trồng rừng thay thế của các dự án lấy rừng làm thủy điện sẽ được thực hiện đúng chỉ tiêu, tiến độ đề ra của năm 2015. (Lao Động 16/11) đầu trang(
Mặc dù là ngành có kim ngạch xuất khẩu với giá trị cao từ 3,5-4 tỷ USD/nă m, nhưng trong lĩnh vực lâm nghiệp hiện nay, người trồng rừng vẫn còn rất khó khăn, thu nhập thấp, thậm chí nghèo.
Chính vì thế, trong đề án tái cơ cấu, ngành lâm nghiệp đang đặt mục tiêu vừa giúp dân yên tâm giữ rừng, vừa nâng cao đời sống cho người trồng rừng.
Thống kê của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NNPTNT) cho thấy, những năm gần đây giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp tăng trưởng mạnh, bình quân đạt 6,7%/năm so với 5,3%/năm giai đoạn 2010 – 2012. Riêng 9 tháng đầu năm 2015, giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng đến 7,8% - đây là mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay. Bình quân hàng năm cả nước trồng được trên 200.000ha rừng tập trung.
Tuy nhiên, cũng theo đánh giá của Tổng cục Lâm nghiệp, kinh tế rừng chỉ chiếm khoảng 3 – 3,3% giá trị sản xuất ngành nông nghiệp. Diện tích đất rừng dù có tăng nhưng vẫn manh mún, phân tán làm giảm hiệu quả sử dụng nguồn lực. Riêng rừng tự nhiên, 80% là rừng nghèo, tỷ lệ cây có đường kính lớn thấp và 90% trữ lượng gỗ thuộc nhóm gỗ tạp.
Ông Nguyễn Bá Ngãi - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp cho biết, giá trị thu nhập trên 1ha đất rừng chỉ đạt 7 – 8 triệu đồng/ha/năm. Điều này khiến đời sống người trồng rừng còn thấp, đa phần chưa sống được bằng nghề trồng rừng. “Hiện nay tỷ trọng thu nhập từ lâm nghiệp chỉ chiếm 25% trong tổng thu nhập của nông dân, còn thu nhập bình quân ở vùng lâm nghiệp phát triển chỉ chiếm từ 40 - 50% tổng thu nhập”- ông Ngãi nói.
GS-TS Võ Đại Hải - Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam cho biết, hiện chỉ có khoảng 25- 30% giống cây lâm nghiệp mới được áp dụng vào sản xuất, chủ yếu là keo, bạch đàn. Công tác quản lý chất lượng giống chưa tốt, chưa thực hiện tốt quy trình trồng rừng nên sản lượng gỗ chỉ đạt từ 15 - 17 triệu m3/năm (trong đó 3 – 3,4 triệu m3 gỗ lớn).
Theo ông Hải, rừng trồng chủ yếu rừng gỗ nhỏ, chưa đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Còn các rừng tự nhiên hiện chủ yếu là rừng nghèo và nghèo kiệt, các rừng này chỉ có biện pháp bảo vệ, khoanh nuôi chứ không có tác động, phục hồi rừng. Do đó nhiều chủ rừng có ý định trả lại diện tích tự nhiên nghèo.
Ông Nguyễn Bá Ngãi cho rằng, ngành lâm nghiệp nước ta chưa phát triển do nhiều nguyên nhân như: Chưa gắn với giai đoạn chế biến; nhỏ lẻ manh mún, đầu tư của nhà nước chưa cao; chưa áp dụng KHCN, giống chất lượng cao vào sản xuất; thị trường phân khúc.
Là người gắn bó lâu năm trong ngành lâm nghiệp, ông Võ Trường Thành (Chủ tịch HĐQT Tâp đoàn Trường Thành – đơn vị trồng hơn 14.000ha rừng) cho rằng, cái khó lớn nhất đối với người trồng rừng là thiếu vốn. Người trồng rừng có cây rừng, có đất nhưng không thể đem cầm ngân hàng khi cần vốn. Do đó, nhà nước cần cho người trồng rừng được hưởng các gói vay lãi suất ưu đãi, chẳng hạn như cho vay đối với người có rừng trồng từ 4 năm trở lên để họ yên tâm giữ rừng.
Còn ông Nguyễn Chiến Thắng- Giám đốc điều hành Công ty Scansia Pacific (đơn vị đang trồng rừng tại một số tỉnh, thành) cho rằng, rất nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh về rừng. Bởi họ có sự tham gia của các công ty, các tập đoàn. Còn ở nước ta việc trồng rừng chủ yếu nhỏ lẻ, manh mún nên hiệu quả không cao. “Việc thay đổi, có các chính sách đối với người trồng rừng là rất cần thiết. Tương tự, nhiều ý kiến cũng cho rằng để phát triển ngành lâm nghiệp thì cần xem lại việc giao khoán đất rừng; sắp xếp, cơ cấu lại các công ty lâm nghiệp; cần tạo sự liên kết trong sản xuất lâm nghiệp; đồng thời ứng dụng các giống mới, các tiến bộ KHKT vào sản xuất lâm nghiệp…”- ông Thắng nói.
Đề án Tái cơ cấu ngành lâm nghiệp của Bộ NNPTNT đề ra mục tiêu cho ngành lâm nghiệp là: Tăng giá trị sản xuất bình quân 4 – 4,5%/năm; đáp ứng nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện sinh kế và bảo vệ môi trường sinh thái. Đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp của cà nước sẽ đạt khoảng 16,2 – 16,5 triệu ha. (Dân Việt 17/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Vài thập kỷ gần đây, hàng triệu động vật trên thế giới bị con người giết hại hoặc làm mất đi môi trường sống dẫn đến tuyệt chủng. Chính con người đang phải trả giá cho điều này.
Khoa hoc hiện đại đang tìm cách làm cho những loài động vật bị tuyệt chủng sống lại và sinh sôi, dù rất khó khăn, mất nhiều thời gian cũng như tốn kém tiền bạc.
Để đưa mỗi loài động vật bị tuyệt chủng trở lại với hành tinh chúng ta là một công trình nghiên cứu tiêu hao nhiều chất xám của các nhà khoa học và tiêu tốn hàng trăm triệu USD.
Sau đây là 10 loài động vật đã tuyệt chủng mà các nhà khoa học đang theo đuổi chút hy vọng mong manh làm chúng sống lại, trở về với thiên nhiên.
Loài ếch Gastric-brooding là loài động vật bản địa sống trên mặt đất ở bang Queensland, Australia. Chúng bị tuyệt chủng vào giữa thập niên 80 thế kỷ trước.
Các nhà khoa học tại bang New South Wales đang nghiên cứu trong dự án “Lazarus” làm chúng sống lại.
Chin Moho có xuất xứ ở quần đảo Hawaii đã bị tuyệt chủng. Con chim cuối cùng thuộc loài này được nhìn thấy tại Hawaii vào năm 1034. Các nhà khoa học đang cố gắng đưa loài chim sắc màu này trở về với thiên nhiên.
Chim Huia xuất xứ từ New Zealand cũng bị tuyệt chủng do con người săn bắt chúng lấy da và nạn chặt phá rừng. Các nhà nghiên cứu đang mong muốn làm nó hồi sinh.
Hải cẩu thầy tu Caribbe được nhìn thấy lần cuối vào năm 1952. Chúng bị tuyệt chủng do bị săn bắt lấy dầu và nguồn cá làm thức ăn cho chúng cạn kiệt. Song, ngư dân Haiti và Jamaica khẳng định rằng chúng vẫn tồn tại nhưng không đưa ra bằng chứng.
Bò biển Steller là loài động vật biển lai tạo giữa cá nược và lợn biển. Bò biển đã từng sống rất nhiều vùng biển bắc Thái Bình Dương. Trong vòng 27 năm qua, người châu Âu đã săn bắt quá nhiều làm chúng bị tuyệt chủng.
Chim sẻ ven biển màu tối là loài chim không di cư, từng sống ở phía nam bang Florida (Mỹ). Năm 1990, chúng bị chính thức coi rằng bị tuyệt chủng khi công ty sản xuất thuốc trừ sâu DDT phun thuốc quanh môi trường sống của chúng.
Chim Dodo không biết bay, không tiếng kêu nên không bị thú dữ phát hiện ra rồi ăn thịt. Nhưng con người lại làm chúng biến mất khỏi hành tinh.
Bò rừng châu Âu là gia súc nội địa thường sống ở Bắc Phi, châu Á và châu Âu. Chúng là một trong những loài động vật to lớn ăn thực vật sống trong khu vực này nhưng đã bị tuyệt chủng.
Vẹt đuôi dài Cuba là động vật bản địa của Cuba. Con vẹt cuối cùng thuộc loài này đã bị tuyệt chủng từ trước năm 1900 do nạn chặt phá rừng. Cùng là loài chim nhiệt đới rất đẹp mà giới khoa học đang muốn làm sống lại.
Voi răng màu là một trong những loài động vật có vú đã bị tuyệt chủng từ lâu. Chúng từng sống ở Trung va Bắc Mỹ cách đây 12.000 năm. Các nhà khoa học đang nỗ lực làm chúng hồi sinh. (Trí Thức Trẻ/ Soha News 17/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||