|
Ngày 16 tháng 11 năm 2015
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Theo tìm hiểu của phóng viên, để mang than ra ngoài địa bàn huyện Hoành Bồ, các đối tượng khai thác than trái phép phải ít nhất vượt qua 4 “ải” kiểm tra chuyên ngành. Đó là chưa kể đến lực lượng kiểm lâm, công an xã, công an huyện…
Chưa dứt vụ việc xây dựng trái phép, phá cảnh quan non thiêng Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh một lần nữa dấy lên nạn than tặc. Nghiêm trọng hơn, lần này than tặc đã tàn phá nghiêm trọng rừng phòng hộ thuộc khoảnh 2, tiểu khu 62 xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ.
Theo Công an tỉnh Quảng Ninh, lực lượng CSĐT Công an tỉnh mới đây đã phát hiện và bắt giữ vụ khai thác than trái phép tại xã Tân Dân (huyện Hoành Bồ, Quảng Ninh). Khu vực các đối tượng khai thác than “lậu” nằm trong diện tích rừng phòng hộ Yên Lập. Theo một nguồn tin cho biết, việc khai thác đã làm ảnh hưởng khoảng 5ha rừng thuộc địa bàn này.
Trước sự việc trên, đoàn kiểm tra do ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ninh đã đi thực tế và đã có buổi làm việc UBND huyện Hoành Bồ về việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh than...
Ngay sau đó, ngày 30/10, UBND tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản số 6577/UBND-CN về việc xử lý tình trạng khai thác than trái phép tại xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ.
Trong đó, UBND tỉnh giao Giám đốc Sở Tài nguyên & Môi trường rà soát toàn bộ diện tích khai thác mỏ, lập phương án hoàn nguyên môi trường tại khu vực. Giao Giám đốc Công an tỉnh xác định vụ việc, làm rõ diện tích, đối tượng khai thác than trái phép, đề xuất xử lý đối với phương tiện, thiết bị thu giữ và trách nhiệm tập thể, cá nhân liên quan…
Đối với UBND huyện Hoành Bồ, tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và có hình thức xử lý đối với tập thể, cá nhân người đứng đầu UBND huyện, UBND xã Tân Dân và các cá nhân liên quan đến vụ việc trên.
Về xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, một số người dân cho biết, việc khai thác than trong rừng phòng hộ diễn ra đã nhiều năm. Sau này, UBND tỉnh và các lực lượng ngăn chặn, tình trạng đã giảm đi. Mới đây, do mưa lũ trên địa bàn gây sạt lở nên các vỉa than đã lộ ra, các đối tượng lợi dụng tiếp tục khai thác than trái phép.
Ông Tô Quốc Hưng, Phó Chủ tịch UBND huyện Hoành Bồ cho biết, ngày 27/10, cơ quan chức năng của tỉnh nhận được tin báo từ địa phương về hiện tượng khai thác than trái phép trong rừng phòng hộ Yên Lập đã tiến hành xâm nhập và bắt giữ. Thực tế trước đó, 2-3 ngày, chính quyền địa phương lại đi kiểm tra và đã phát hiện các hành vi khai thác than trái phép. Tuy nhiên, do thuộc địa bàn huyện, nên chính quyền chưa báo cáo tỉnh.
Trả lời câu hỏi của phóng viên, tình trạng khai thác than trái phép trong rừng phòng hộ diễn ra đã lâu, vì sao chính quyền huyện Hoành Bồ không thực thi pháp luật ngay? Phó Chủ tịch Tô Quốc Hưng nhấn mạnh: Mới được giao trọng trách quản lý việc khai thác tài nguyên từ ngày 20/10, mới 7 ngày sau đó diễn ra vụ việc. Do vậy, hiện tại, ông chỉ kiểm tra, khoanh vùng, có những biện pháp ngăn chặn không cho tiếp diễn tình trạng khai thác than, báo cáo Thường vụ huyện ủy để có hướng xử lý.
Theo tìm hiểu của phóng viên, để mang than ra ngoài địa bàn huyện Hoành Bồ, các đối tượng khai thác than trái phép phải ít nhất vượt qua 4 “ải” kiểm tra chuyên ngành. Đó là chưa kể đến lực lượng kiểm lâm, công an xã, công an huyện… Một số người dân Tân Dân bức xúc cho biết, nếu không có sự “làm ngơ” than sẽ không thể dễ dàng khai thác và vận chuyển qua các “ải”.
Liên quan đến vụ việc, bước đầu UBND huyện Hoành Bồ đã tạm đình chỉ công tác điều hành của Chủ tịch UBND xã Tân Dân để kiểm điểm, xác định rõ trách nhiệm. (Đại Đoàn Kết 14/11) đầu trang(
Chiều 13/11, Đại tá Nguyễn Thành Luân, Trưởng Phòng Cảnh sát Môi trường Công an tỉnh Thừa Thiên- Huế cho biết, trong lúc tuần tra trên tuyến QL49B đi qua địa bàn xã Bình Điền (thị xã Hương Trà) vào 4h ngày cùng ngày, tổ công tác đơn vị đã phát hiện xe tải BKS 75C-033.24 do tài xế tên Phương (trú xã Hồng Tiến, thị xã Hương Trà) điều khiển có nhiều dấu hiệu nghi vấn nên ra hiệu lệnh dừng xe.
Qua kiểm tra, phát hiện trên xe tải này chở 18 phách gỗ chò, tổng khối lượng 2,55m3 nhưng không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, nên đã lập biên bản vi phạm và bàn giao số gỗ cho Hạt Kiểm lâm TP Huế xử lý.
Tài xế Phương khai nhận, được một người thuê chở số gỗ trên cho từ xã Hồng Hạ (huyện A Lưới) về TP Huế tiêu thụ. (Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Trong khi Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) liên tục cập nhật công bố số lượng, tình trạng cá thể động vật quý hiếm suy giảm, đang trên bờ tuyệt chủng, cần sự chung tay bảo vệ của cộng đồng, thì ở Tây nguyên, tình trạng buôn bán thịt rừng, đặc biệt là các bộ phận nanh, móng, vuốt của các loài thú rừng hiếm quý diễn ra gần như công khai thoải mái.
Để tiện cho việc mua bán, các ông chủ, bà chủ, nậu tung hàng trên mạng chào bán mua rôm rả, cam kết “ship” hàng toàn quốc, bất chấp các quy định ngăn cấm. Sáng sớm, tôi gõ cụm từ khóa “Cần mua nanh heo rừng” trên công cụ tìm kiếm của trang Google, trong vòng 0,42 giây màn hình đã hiển thị 564.000 kết quả, gồm địa chỉ các trang web, diễn đàn liên quan chào bán món hàng này. “Thượng đế” chỉ cần click vào trang chọn hàng, cho địa chỉ và… ngồi rung đùi chờ, là thứ mình cần sẽ đến tận tay. “Tiền trao, cháo múc”!
Tận dụng ưu điểm kết nối siêu tốc của mạng internet cùng với dịch vụ thu hộ do bưu điện cung cấp (là dịch vụ được triển khai trên mạng lưới bưu cục, cho phép khách hàng nộp tiền phí bảo hiểm, phí trả góp, tiền điện, nước, cước điện thoại, tiền đặt chỗ, mua hàng qua mạng,…) hoạt động mua bán diễn ra công khai, dễ dàng khiến “hàng rừng” chảy máu khó kiểm soát.
Lướt một vòng các trang web, diễn đàn như: 5giay.vn, vatgia.vn, raovat.com, rongbay.com, facebook… không khó để thấy các chủ hàng niêm yết hình ảnh đủ loại “đặc sản rừng”, giá cả và số điện thoại liên hệ hẳn hoi. Gọi số điện thoại nào, chủ hàng cũng cam kết chắc như đinh đóng cột “hàng thật, giá rẻ, bao nhiêu cũng có, chỗ nào cũng giao”.
Hỏi xuất xứ mặt hàng, chủ nào cũng khẳng định nội - ngoại có tuốt, nhưng chủ yếu vẫn là các tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk, Gia Lai… Họ cũng tiết lộ, do nhiều loại thú nội địa không còn, nên họ vẫn nhập thêm hàng Lào, Campuchia, châu Phi về cho đa dạng phong phú, phục vụ gu sính ngoại của khách.
Vào Google, gõ cụm từ “Hàng rừng Tây Nguyên”, lập tức hàng loạt hình ảnh răng, nanh heo, móng vuốt đủ loại. Dù là chợ ảo nhưng hoạt động rao - mua - thách - bớt cũng sinh động không kém chợ thực. Chủ trang mạng liên tục đăng hình ảnh bắt mắt chào hàng kèm theo lời rao mĩ miều “đẹp - đỉnh -chuẩn, giá mềm không đâu sánh bằng”, “hàng thật 100 %, giả đền 100 củ” (triệu) và họ không quên để số điện thoại liên hệ.
Giá các mặt hàng cũng đa dạng từ vài trăm đến tiền triệu theo tùy vào độ quý hiếm, độc lạ của từng món. Sừng sơn dương được rao bán với giá 400 nghìn đồng/cặp. Móng gấu dài khoảng 5-6 cm có giá từ 600- 700 nghìn đồng/móng. Giá nanh hổ tính tiền triệu trở lên tùy cỡ to - nhỏ. Riêng món hàng độc quý hiếm như tê giác, ngà voi,… giá tính bằng tiền trăm triệu trở lên.
Ngoài ra những món hàng được dát vàng, dát bạc và yểm bùa được giá bán đội lên gấp 4-5 lần. Mỗi hình ảnh đăng lên có hàng trăm lượt like, bình luận ngã giá, trao đổi. Điều đó chứng tỏ ma lực hấp dẫn của món hàng cấm này chưa bao giờ nguội, mặc cho thú hoang từng ngày bị săn đuổi tàn bạo, cận bờ tuyệt chủng.
Tôi bấm số 0908xxx.xxx liên hệ, nam thanh niên đầu kia bắt máy chào hàng rất chuyên nghiệp: Bên em món nào, cỡ nào cũng có. Chị vào trang chọn hàng, thích cái nào cứ inbox, em báo giá ngay. Tôi nói muốn mua một 1 chiếc móng gấu để “trừ tà” cho em bé.
Chủ thuê bao cho biết loại nhỏ nhất dài 3-4 cm còn nguyên lông có giá 380k (nghìn đồng), và 450k dành cho loại bọc bạc sẵn. Chủ buôn trấn an: “Chị yên tâm hàng thật 100%, nếu hàng giả em đền chị 100 triệu, bên em ship hàng toàn quốc. Chỉ cần đặt cọc thẻ card điện thoại từ 20 - 50 nghìn, hàng đến tay chị thanh toán đầy đủ cho nhân viện bưu điện giúp em là được. Em bán hàng uy tín lắm, chị cứ yên tâm!”. Tôi thử liên hệ mua hàng ở “Nanh heo rừng”, dù chủ Facebook ở Hà Nội nhưng vẫn cam kết giao hàng đúng hẹn mọi nơi khách yêu cầu.
Rao bán trên trang cá nhân thôi chưa đủ, chủ hàng còn lập hội, nhóm, kết nối thành mạng lưới để “phổ cập” hàng hóa khắp cả nước. Hội mua bán Nanh Móng Thú Rừng (Gấu, Cọp, Heo Rừng, Báo...) có tới 9.116 thành viên tham gia.
Để mê hoặc người mua, ngoài hình ảnh đa dạng ngút ngàn, chủ buôn không quên “nã vào đầu khách” những công dụng như: trừ ma diệt tà, trị bách bệnh, tráng dương bổ thận, ông uống bà khen… khiến khách cả tin rút hầu bao chi đẹp.
Chủ một trang face chuyên cung cấp nanh móng vuốt thú rừng Nguyễn Anh Việt còn tung hô khả năng siêu phàm của các sản phẩm từ hổ như: lông hổ đuổi được tà khí giúp trẻ nhỏ ngon giấc, cải tử hoàn sinh cho người từng bị bại liệt v.v…
Những người kinh doanh mặt hàng này ai cũng quả quyết hàng mình “xịn, 100/1.000” nhưng sự thật thế nào chỉ có trời mới biết. Một tay sành chơi hàng rừng đã từng tiết lộ với tôi rằng: 10 nanh móng vuốt, sừng thú rừng bày bán thì hết 9 cái là rởm! Dứt lời, ông lấy ra một chiếc sừng tê giác để chứng minh thật - giả. Nhìn bề ngoài người ngoại đạo như tôi tưởng hàng rừng thật. Ông cười mỉm lắc đầu rồi bảo: “Giả đấy”.
Ông dùng đèn pin rọi vào, chiếc sừng phát ra ánh sáng hồng. Tiếp đến ông mài sừng lấy bột, đốt lên có mùi khét đúng là sừng thật nhưng không phải sừng tê giác. Ông tiếp tục dùng cưa cắt khoanh tròn rồi phân tích, sừng nào có các vòng tròn đồng tâm giống thân gỗ khi ta cắt ngang thì là sừng sơn dương, trâu bò,… riêng tê giác thì không có.
Còn nữa sừng tê giác mọc từ da trong khi các loại sừng khác mọc từ xương sụn. Công nghệ làm đồ giả bây giờ tinh vi lắm. Từ nhựa tổng hợp, những kẻ lừa đảo phù phép cho ra hàng nào chẳng được. Mình muốn phân biệt thực hư phải áp dụng nhiều cách chứ chỉ tin mấy lời rao chào trên mạng mà vớ đồ rỏm về, vừa mất tiền vừa mang bệnh vào người thì khổ.
Ngược về Buôn Đôn - nơi các tín đồ sùng bái hàng rừng hay tới lui săn tìm. Ghé các quầy trưng bày hàng lưu niệm, đâu đâu cũng chào bán các sản phẩm động vật rừng từ lông đuôi voi, ngà voi, nanh heo, móng vuốt hổ,…
Bày bán rất nhiều nhưng hàng thật chỉ như “mò ngọc dưới đại dương”. Anh Bun Koong Lào, Trưởng công an xã Krông Na huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) cho hay: Lông, ngà voi, nanh heo ở đây hiếm lắm, nếu có cũng ít thôi. Đặc biệt sừng tê giác, sừng bò ở đây tuyệt đối không có! Toàn hàng giả!
Ông Nguyễn Đào Chí, Phó Chi cục quản lý thị trường Đắk Lắk cho biết: Để phát hiện, xử lý việc mua bán, cất giữ sản phẩm từ động vật rừng thật rất khó. Trước tiên phải xác định rõ đâu là sản phẩm từ động vật hoang dã với sản phẩm có nguồn gốc từ động vật rừng nuôi như heo rừng, nhím, nai,…
Khâu này rất phức tạp nhất là khi chúng đã qua khâu chế biến chạm khắc. Muốn biết chính xác phải lấy mẫu gửi đi giám định, có kết quả mới xử lý. Tuy nhiên, công việc này rất tốn thời gian và kinh phí, không thể tiến hành nhỏ lẻ mà cần có sự phối hợp của các ban ngành liên quan.
Dẫu đến nay chưa có công trình khoa học nghiên cứu, chứng nhận công dụng chữa bệnh nào từ sản phẩm động vật rừng, cho dù là loại đắt tiền hàng tỷ như sừng tê giác, nhưng dân buôn vẫn tung hô, truyền bá chiêu dụ người mua.
Chính vì công chúng thiếu ý thức bảo vệ sự cân bằng sinh thái, không biết quý trọng thiên nhiên hoang dã, lại dại dột cả tin nên mới săn lùng mua hàng rừng, tạo ra những khoản lời béo bở cho các chủ buôn, đầu nậu, góp phần tích cực vào việc tàn sát động vật quý hiếm - Một cán bộ kiểm lâm nói.
Một lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk khẳng định: Hành vi dùng mạng xã hội công khai đăng tải rao bán răng nanh, móng vuốt mãnh thú là vi phạm pháp luật. Việc quản lý thông tin thuộc về Sở thông tin truyền thông, còn việc chống hàng giả, hàng nhái do Sở Công thương phụ trách, Chị cục Kiểm lâm sẽ phối hợp thực hiện khi có đề nghị.
Để ngăn chặn các hành vi mua bán, vận chuyển, chế biến động vật hoang dã trái phép, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo Hạt Kiểm lâm, Đội Kiểm lâm cơ động thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, xử lý các trường hợp vi phạm. Từ đầu năm 2015 đến hết tháng 8/2015 cơ quan chức năng đã xử lý hàng chục vụ vận chuyển, mua bán động vật rừng trái phép. (Tiền Phong 13/11) đầu trang(
Những năm trước bà con ở các tỉnh Tây Nguyên đổ xô về các trung tâm cây giống tại xã Hòa Thắng,TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk, gần Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm Tây Nguyên) để mua sưa giống về trồng với giấc mơ “hốt bạc”.
Năm nay thì loại giống cây này ế ẩm, bán chẳng ai mua, giá rớt thê thảm. Từ chỗ 15.000-16.000 đồng/cây, giờ đây chỉ còn 500-1.000 đồng/cây.
“Những năm trước thấy nông dân đổ xô tìm mua giống sưa về trồng, bán đắt như tôm tươi, giá cao mà không đủ cung cấp. Năm này tình hình ảm đạm quá, giá thấp chỉ bằng chưa tới 1/10 so với trước mà vẫn không có ai mua cả” - anh Bảy, chủ cơ sở giống cây trồng ở đường Nguyễn Lương Bằng, TP Buôn Ma Thuột chia sẻ.
Cũng giống như anh Bảy, anh Đức - chủ cơ sở cây giống ở xã Hòa Thắng, TP Buôn Ma Thuột năm nay cũng ươm hàng chục ngàn cây sưa giống với ước mơ bán “đắt như tôm tươi”. Có điều từ đầu mùa mưa tới giờ, anh mới bán được vài chục cây, mà giá lại rẻ như bèo.
Anh Đức than thở: “Đúng là không có cái dại nào như cái dại nào! Những năm trước cầu vượt cung, năm nay cung lại vượt cầu rất xa. Những tưởng với hàng chục ngàn cây sưa giống này sẽ kiếm được chút lợi nhuận, ai dè tình trạng ế như thế này chúng tôi không bù được chi phí bỏ ra để ươm cây”.
Cây sưa còn có tên gọi khác là trắc thối, huỳnh đàn… (tên khoa học là Dalbergia bouruana gagu). Những năm trước, có tin đồn giới nhà giàu Trung Quốc đổ xô săn lùng gỗ sưa để đóng quan tài hoặc ướp xác như các vị hoàng đế Trung Quốc trước đây. Nhiều người cho rằng quan tài đóng bằng gỗ sưa có khả năng giữ được xác lâu, không bị phân hủy…
Chính vì tin đồn này mà không ít người Việt đổ xô đi săn lùng gỗ sưa bán cho thương lái Trung Quốc với giá cao (thậm chí 9-10 tỉ đồng/tấn) hoặc đổ xô vào trồng cây sưa, đẩy sưa giống lên cao chót vót. Thế nhưng gần đây thương lái Trung Quốc “lặn biệt tăm”.
Ông Huỳnh Ngọc Tư, kỹ sư trong ngành nông nghiệp ở Đắk Lắk cho biết hiện nay vẫn chưa có một đơn vị nhà nước nào đánh giá được giá trị thực của loại cây này.
Hơn nữa đây là loại cây phải trồng rất lâu năm mới cho thu hoạch và khi thu hoạch rồi bán cho ai, ở đâu cũng chưa rõ. Và khi “ngộ” ra thực tế này, nông dân ngoảnh mặt với cây sưa một thời được gọi là “cây mắc hơn vàng”. (Pháp Luật TP.HCM 13/11) đầu trang(
Thời gian gần đây, tình trạng rắn lục đuôi đỏ cắn người khi thu hoạch cà phê, tiêu tăng lên khiến nông dân lo ngại.
Tiếp xúc với PV Thanh Niên Online khi đang nằm điều trại tại Khoa Hồi sức tích cực - chống độc Bệnh viện đa khoa (BVĐK) tỉnh Đắk Lắk, bà Nguyễn Thị Mai (ngụ xã Hòa Hiệp, H.Cư Kuin, Đắk Lắk), cho biết sáng 11.11, khi đang hái cà phê thì bà bất ngờ thấy đau nhói ở mu bàn tay như bị ong châm.
Khi phát hiện một con rắn màu xanh, đuôi đỏ đang đu đưa trên cành cà phê, bà Mai mới biết mình bị rắn cắn, sau đó bà được đưa vào BVĐK tỉnh trong tình trạng bàn tay bị sưng tấy, bầm tím. Theo các bác sĩ, bà Mai phải chữa trị tại bệnh viện khoảng 3 - 4 ngày.
Cũng trong vườn cà phê, bà Vũ Thị Mỵ, ở thị trấn Đức An, H.Đắk Song (Đắk Nông), khi đang cúi người nhặt trái cà phê dưới đất thì bị một con rắn lục đuôi đỏ mổ vào đầu, may là có mái tóc dày che chắn nên vết rắn cắn không sâu, không gây sưng tấy lớn. Người nhà đưa bà Mỵ đến BVĐK huyện nhưng ở đây không có huyết thanh điều trị nên bà phải chuyển viện đến BVĐK tỉnh Đắk Lắk.
Theo bác sĩ Trịnh Hồng Nhựt, Trưởng khoa Hồi sức tích cực - chống độc BVĐK tỉnh Đắk Lắk, những năm qua, cứ đến mùa vụ thu hoạch cà phê, tiêu trên địa bàn tỉnh là số lượng bệnh nhân do rắn cắn phải vào điều trị ở Khoa Hồi sức tích cực - chống độc tăng đột biến. Hơn một tháng qua (trùng với thời gian vào vụ thu hái cà phê), bình quân mỗi ngày có 2 - 3 bệnh nhân nhập viện, cao điểm có ngày tới 5 - 6 ca .
Trong một công trình nghiên cứu về phòng ngừa và chữa trị rắn cắn của mình, bác sĩ Nhựt cho rằng Đắk Lắk có diện tích cà phê hơn 200.000 ha, tiêu 16.000 ha là môi trường sinh sống ưa thích và rộng lớn cho loại rắn chuyên leo cây như rắn lục đuôi đỏ.
Bác sĩ Nhựt nhận định để tránh hoàn toàn không bị rắn cắn là rất khó, nhưng người dân có thể áp dụng các biện pháp để giảm nguy cơ bị rắn cắn. Đó là phải có hiểu biết về loại rắn trong vùng, biết khu vực rắn thích sống hoặc ẩn nấp để cảnh giác; đặc biệt thời điểm rắn dễ xuất hiện như sau các cơn mưa, khi có lũ lụt, thu hoạch mùa màng, hoặc thời gian ban đêm…
Người dân cần cố gắng đi ủng, giày cao cổ, mặc quần dài khi đi trong đêm tối, đội thêm mũ rộng vành nếu đi trong rừng hoặc rẫy, khu vực nhiều cây cỏ; dùng đèn nếu ở trong bóng tối hoặc vào ban đêm. Không nên để trẻ em chơi ở khu vực có rắn; đặc biệt không cho trẻ em chơi các đồ chơi bằng rắn giả vì dễ dẫn đến nguy cơ các em ngộ nhận, không phân biệt được rắn thật và rắn giả…
“Theo kinh nghiệm của nhà nông chúng tôi thu thập được, để an toàn sản xuất, tránh rắn cắn, trước khi thu hoạch cà phê vài ngày, người dân nên phun thuốc khử côn trùng vườn cây bằng chế phẩm sinh học để tiêu diệt, xua đuổi côn trùng và cũng khiến rắn bỏ đi”, bác sĩ Nhựt chia sẻ.
Theo bác sĩ Nhựt, sau khi bị rắn độc cắn, bệnh nhân cần được sơ cứu ngay trước khi chuyển đến bệnh viện. Người khác cần động viên bệnh nhân yên tâm, tránh lo lắng; không để bệnh nhân tự đi lại, chạy nhảy. Phải cố định chân, tay bị rắn cắn bằng nẹp (vì vận động làm cho nọc độc xâm nhập vào cơ thể nhanh hơn). Cởi bỏ đồ trang sức ở chân, tay bị rắn cắn vì có thể gây chèn ép khi vùng đó bị sưng nề.
Áp dụng biện pháp băng ép bất động để làm chậm xuất hiện triệu chứng liệt khi bị một số loài rắn hổ cắn. Không băng ép khi rắn lục cắn vì có thể làm vết thương nặng thêm. Nếu bệnh nhân khó thở thì hô hấp nhân tạo bằng cách hà hơi thổi ngạt hoặc bằng phương tiện y tế có tại chỗ…
Ông Đỗ Ngọc Dũng, Trưởng phòng Bảo tồn thiên nhiên Chi cục Kiểm lâm Đắk Lắk, cho biết hiện trên địa bàn tỉnh chưa có cơ quan, tổ chức khoa học nào chuyên nghiên cứu đánh giá về đời sống, tập tính sinh sản của các loài bò sát, kể cả rắn lục đuôi đỏ, nên chưa thể lý giải chính xác nguyên nhân loài rắn này xuất hiện nhiều ở các vườn rẫy.
Theo ông Dũng, vì chưa có nghiên cứu nên cũng chưa thể khẳng định đúng về thông tin cho rằng rừng tự nhiên bị thu hẹp, khiến các loài động vật hoang dã khác là “thiên địch” của rắn như chồn không còn đất sống khiến rắn phát triển mạnh.
“Tuy nhiên, trong tự nhiên luôn có sự cân bằng sinh thái, nếu vì tránh bị cắn mà chúng ta tận diệt loài rắn lục đuôi đỏ thì biết đâu có các loài động vật khác như chuột lại sinh sôi nhiều hơn, gây hại lớn hơn cho đời sống, sản xuất của con người”, ông Dũng nói. (Thanh Niên 13/11; Công Lý 13/11) đầu trang(
Tại Vườn Quốc gia (VQG) Yók Đôn, bình quân mỗi tháng có gần 100 cây gỗ bị chặt hạ, nhưng có tới 90% số vụ không bắt được lâm tặc.
Theo thống kê của vườn, hơn một nửa số dân tại các thôn/buôn quanh vườn chuyên sống bằng gỗ lậu, đứng sau là các băng nhóm tội phạm đầu tư phương tiện, nhu yếu phẩm cho dân đi rừng, thậm chí đưa tiền cho dân… nộp phạt. Nếu không có biện pháp quyết liệt hơn, VQG Yók Đôn sẽ “rỗng ruột” trong một ngày không xa.
Làm việc với PV Báo Lao Động ngày 28.10, ông Đỗ Quang Tùng - Giám đốc VQG Yók Đôn - thừa nhận, tình trạng phá rừng đang “rất nóng”, trong lâm phần liên tiếp xảy ra nạn khai thác, vận chuyển gỗ quý. Điển hình là ngày 19.8, Trạm Kiểm lâm số 8 phát hiện 2 cây gỗ giáng hương cổ thụ (nhóm 2A) bị cắt hạ tại tiểu khu 417, với khối lượng gỗ thiệt hại 6,5m3; tổ tuần tra bắt giữ 1 đối tượng, người này khai thêm 4 lâm tặc trú ở thôn 14 (xã Ea R’Vê, huyện Ea Súp).
Ngày 5 và 6.9, kiểm tra tại khu vực trục vớt gỗ dọc suối Đắk Đam, kiểm lâm vườn phát hiện một số bãi gỗ nằm ở mép suối, ước tính hơn 100m3 nhưng chưa xác định được đưa từ đâu tới. Đêm 16.9, kiểm lâm vườn bắt tiếp 1 xe ôtô 16 chỗ chở gỗ đỗ trong sân nhà dân, chuẩn bị vận chuyển đi tiêu thụ…
Theo thống kê, bình quân cứ mỗi ngày VQG Yók Đôn có 3 cây gỗ bị chặt hạ, tính ra mỗi tháng mất gần 100 cây. Lũy kế từ đầu năm đến nay, vườn đã phát hiện 470 vụ vi phạm (chủ yếu là khai thác gỗ trái phép), tịch thu gần 200m3 gỗ, 560 phương tiện phá rừng các loại.
Cũng theo ông Tùng, lâm tặc tại huyện Buôn Đôn ngày càng manh động, sẵn sàng chống trả kiểm lâm khi bị phát hiện. Ngày 27.7, tổ tuần tra thuộc Trạm Kiểm lâm số 6 phát hiện vụ vận chuyển gỗ trong tiểu khu 471, 3 đối tượng đã dùng dao đe doạ, chống đối quyết liệt, không cho kiểm lâm thu giữ tang vật. Chỉ đến khi có lực lượng chức năng tăng cường, tổ tuần tra mới đưa được tang vật, phương tiện và các đối tượng này về xử lý.
Tiếp đó, ngày 20.8, Trạm Kiểm lâm số 6 phát hiện 2 xe máy vận chuyển gỗ hương, các đối tượng đã dùng dao, gậy, gạch đá tấn công kiểm lâm rồi tẩu thoát. Nghiêm trọng hơn là ngày 22.8, một chiếc xe của Đội Kiểm lâm cơ động số 1 đi tuần tra đã bị 4 lâm tặc chặn đường hành hung, khiến kiểm lâm viên Phan Văn Khương bị thương ở mắt phải khâu 4 mũi. “Chúng còn bắn tin là sẽ “phang” cả tôi, các anh công an bảo tôi phải cẩn thận khi đi vào các khu dân cư giáp ranh với vườn” - ông Tùng nói.
Theo ông Tùng, khai thác gỗ trái phép là một trong những nguồn thu nhập chính của rất nhiều hộ dân ở các thôn/buôn quanh VQG Yók Đôn. Hiện 1m3 gỗ nhóm 1 bán tại rừng tương đương với 4 tấn thóc, mỗi khúc gỗ nhỏ bỏ trong gùi cũng từ 200.000 - 300.000 đồng, do vậy người dân không còn mặn mà với đồng áng mà tập trung làm gỗ lậu.
Theo ước tính của vườn, có tới 50% số hộ thường xuyên khai thác gỗ, đứng đằng sau là nhiều băng nhóm tội phạm chuyên xúi giục, đầu tư phương tiện, kinh phí, kích động người dân chống đối kiểm lâm.
Thời gian gần đây, khi vườn tăng cường chốt chặn các ngả đường, lâm tặc lại chọn những cây nhỏ đường kính 20-30cm, cắt thành nhiều khúc nhỏ để gùi, vác luồn lách trong rừng. Do vậy số vụ chặt cây nhỏ đang có chiều hướng gia tăng. Điều đáng nói là phần lớn các vụ khai thác gỗ trái phép đều không bắt được quả tang, số vụ có chủ chỉ chiếm khoảng 10%.
Lý giải điều này, ông Tùng cho rằng do địa bàn quá rộng, vi phạm thường có tổ chức, đối tượng manh động, khi gọi được lực lượng tăng cường thì chúng đã tẩu tán tang vật và chạy mất. Còn việc vào rừng đặc dụng, mang phương tiện, công cụ chỉ bị xử lý hành chính - thực tế hầu như không xử lý được, trong khi nó mang lại hậu quả rất lớn như bẫy giết động vật nhóm IB, cưa gỗ nhóm IA...
Lâm tặc đông như thế, nhưng lực lượng kiểm lâm vườn thì quá mỏng. Là một trong những VQG lớn nhất nước, với diện tích lên đến 115.545ha nhưng Yók Đôn chỉ có 217 người, thiếu 13 người theo chuẩn bình quân chung. Nhưng ông Tùng cho rằng, với tình hình thực tế của VQG Yók Đôn, đặc biệt là địa hình bằng phẳng, có thể xâm nhập từ mọi hướng thì cần có ít nhất 1 kiểm lâm/250ha, chứ 1 người/500ha theo chuẩn chung thì không quản nổi.
Để chặn đứng nạn phá rừng tại VQG Yók Đôn, ông Tùng cho biết đang tiến hành rà soát những kiểm lâm có biểu hiện thoái hóa, biến chất, bắt tay lâm tặc để xử lý. Vườn cũng kiến nghị Cục Kiểm lâm tăng cường biên chế, thành lập thêm các cơ động, thí điểm tuần tra bằng ngựa, chó nghiệp vụ; đề nghị UBND tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo lực lượng chức năng triệt phá những băng nhóm, đầu nậu thu mua gỗ, xúi giục người dân đi rừng.
Đặc biệt, cần xác minh và bắt ngay 7-8 chiếc xe không biển số, thay biển số giả liên tục để vận chuyển gỗ lậu từ các thôn/buôn giáp vườn đi tiêu thụ. “Trước mắt chưa có ngựa, tôi chỉ đạo khi tuần tra rừng, kiểm lâm phải đi bộ hoặc xe đạp nhằm đảm bảo bí mật, bản thân tôi cũng thế”. Nói rồi ông giám đốc dắt xe đạp ra, đạp một mạch gần 4 cây số từ Hạt Kiểm lâm về trụ sở chính của VQG Yók Đôn lúc giữa trưa - trong khi mấy chiếc ôtô biển xanh đang nghỉ mát trong trụ sở Hạt Kiểm lâm Yók Đôn.
Giám đốc VQG Yók Đôn Đỗ Quang Tùng cho biết, vi phạm tại VQG Yók Đôn (thuộc Bộ NNPTNT) chiếm 60% số vụ xảy ra hằng năm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong khi lực lượng kiểm lâm của vườn chỉ bằng 10% của tỉnh, đặc biệt là vườn chỉ có 1 người được ký quyết định xử phạt vi phạm hành chính - Giám đốc vườn, kiêm Hạt trưởng Kiểm lâm vườn. (Lao Động 14/11) đầu trang(
Ông Nguyễn Công Cường (trú xã Duy Sơn, H. Duy Xuyên, Quảng Nam), phản ánh: Năm 2014, ông phát dọn khoảng 5.000m2 rừng có cây keo lá tràm và sao đen đã bị trâu bò dẫm nát tại khu vực bàu Bà Năng để trồng hơn 2.000 cây keo lai.
Đến ngày 17-8-2015, các ông : Nguyễn Văn Thọ, Phạm Ân, Ngô Phi Ba, Lưu Chi, Lê Hai, Lê Hội (cùng trú xã Duy Sơn) đã chặt phá số cây keo lai ông Cường đã trồng. Phát hiện sự việc, gia đình ông Cường làm đơn khiếu nại gửi UBND xã Duy Sơn song gần 3 tháng qua sự việc vẫn không được giải quyết dứt điểm. Trong cuộc họp giải quyết gần đây, một số cán bộ có chức năng của xã Duy Sơn còn buộc gia đình ông Cường phải trả lại đất cho những người đốn chặt cây của ông để tiếp tục trồng rừng…
Ngày 10-11-2015, trao đổi với P.V Báo Công an TP Đà Nẵng, ông Trần Ba, Phó Chủ tịch UBND xã Duy Sơn, cho biết: Nguyên nhân việc một số hộ dân chặt phá hơn 2.000 cây keo được ông Cường trồng tại khu vực bàu Bà Năng là do diện tích rừng này được UBND H. Duy Xuyên giao cho nhóm hộ trên quản lý, khai thác. Ngoài ra, lãnh đạo xã Duy Sơn còn cho biết, từ năm 2011 đến nay, ông Cường thường xuyên có hành vi phát, lấn chiếm rừng phòng hộ tại địa phương để trồng keo lai, làm trang trại.
Làm việc với ông Phạm Đức Hùng, cán bộ phụ trách quản lý, bảo vệ rừng xã Duy Sơn, chúng tôi được biết: Rừng tại khu vực bàu Bà Năng là rừng phòng hộ đầu nguồn được Nhà nước trồng hỗn giao cây keo lá tràm và cây sao đen theo dự án JIBIC do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản tài trợ.
Để bảo vệ, phát triển rừng theo hướng bền vững, ngày 15-12-2011, BQL rừng phòng hộ H. Duy Xuyên ký hợp đồng giao khu vực rừng tại bàu Bà Năng (12,4ha) cho nhóm hộ do ông Nguyễn Văn Thọ làm nhóm trưởng tổ chức quản lý. Nhưng do sự quản lý lỏng lẻo nên ông Cường đã phá một số diện tích để trồng mới cây keo lai.
Sự việc được phát hiện, UBND xã Duy Sơn có mời đến làm việc nhưng ông Cường không hợp tác. Vì vậy, dù có hành vi sai phạm nhưng đến nay các cơ quan chức năng vẫn chưa có hình thức xử lý nào đối với ông Cường. Do rừng được giao quản lý bị xâm phạm, ngày 17-8-2015, nhóm hộ của ông Thọ đã chặt phá gần 2.000 cây keo lai của ông Cường để trồng lại cây mới.
Khi tiếp nhận đơn khiếu nại, cuối tháng 10-2015, UBND xã đã mời các bên giải quyết nhưng tại cuộc họp, ông Cường không thừa nhận có hành vi chặt phá, khai thác trái phép rừng phòng hộ đầu nguồn và không đồng ý trả lại đất nên xã chưa có biện pháp xử lý dứt điểm vụ việc.
Qua vụ việc trên, chúng tôi nhận thấy cá nhân ông Nguyễn Công Cường và nhóm hộ do ông Nguyễn Văn Thọ làm nhóm trưởng đều có hành vi sai trái. Bản thân ông Cường có hành vi tự ý phát rừng keo lá tràm, sao đen do Nhà nước đầu tư trồng và được giao cho nhóm hộ quản lý để trồng cây keo lai. Hành vi đó vi phạm quy định của Nhà nước về công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đối với nhóm hộ của ông Nguyễn Văn Thọ cũng có những sai phạm khi ngang nhiên chặt phá cây trồng của người khác. Song, theo chúng tôi nguyên nhân dẫn đến những sai phạm trên là do chính quyền xã Duy Sơn thiếu kiên quyết trong quá trình xử lý vụ việc nên những sai phạm của các cá nhân trên mới bùng phát, tạo ra những dư luận xấu trong nhân dân. Mong rằng, UBND xã Duy Sơn sớm xử lý nghiêm vụ việc trên theo đúng quy định để tránh trường hợp người dân xem thường pháp luật và cùng nhau sai phạm. (Công An TP.Đà Nẵng 14/11) đầu trang(
Hàng chục kilômet rừng phòng hộ ngoài đê biển Gò Công (tỉnh Tiền Giang) đang bị sóng biển “ngoạm” mất từng ngày.
Đoạn đê này làm chưa xong thì đoạn đê khác phải được “cấp cứu” khẩn cấp vì rừng phòng hộ bị xói lở. Khoảng 55.000ha đất nông nghiệp của dự án ngọt hóa Gò Công và đời sống 300.000 người dân đang bị đe dọa nghiêm trọng.
Rừng phòng hộ đê biển Gò Công có tổng chiều dài khoảng 21km (từ cửa sông Soài Rạp - thị trấn Vàm Láng tới Đèn Đỏ - xã Tân Thành, Gò Công Đông, Tiền Giang). Trước năm 1997, trung bình độ dày của đai rừng (khu vực rừng phòng hộ chắn sóng) khoảng 300 - 400m.
Tuy nhiên, mấy năm gần đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đai rừng đã bị sóng biển tàn phá, xâm thực rất nhanh. Người dân cho biết cách nay 10 năm, đai rừng ở cách khoảng 200m, nay đã bị sóng biển đánh sập.
Theo Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn Tiền Giang, những năm qua rừng phòng hộ nơi đây bị xói lở bình quân 8 - 10m/năm, có đoạn xói lở 20m làm diện tích rừng bị xói lở 5 - 7ha. Các giải pháp như kè mái đê phía biển đã được áp dụng tại đoạn đê xung yếu không rừng phòng hộ.
Tuy nhiên, giải pháp này chỉ là tạm thời bởi rừng phòng hộ tiếp tục bị mất dần qua từng năm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn của đê biển. Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn đã đề xuất với UBND tỉnh nghiên cứu giải pháp kè “mềm” để chống xói lở đê biển và UBND tỉnh chấp thuận về mặt chủ trương cho lập dự án công trình giảm sóng, chống xói lở, gây bồi bảo vệ đai rừng phòng hộ ven biển thuộc huyện Gò Công Đông.
Theo đó, dự án thực hiện bốn đoạn bị xâm thực nghiêm trọng từ Tân Điền đến Tân Thành với tổng chiều dài 3.800m. Trước mắt, Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn đang thực hiện thí điểm 1,4km kè mềm ở Tân Điền với kinh phí khoảng 56 tỉ đồng. (Tuổi Trẻ 14/11) đầu trang(
Chiều 13/11, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên cho biết, cơ quan này đã có văn bản yêu cầu Ban Cán sự Đảng Viện KSND tỉnh Phú Yên chỉ đạo phục hồi điều tra vụ án tham ô tài sản xảy ra năm 2011-2012 tại Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện Sông Hinh, để xử lý theo đúng quy định pháp luật.
Theo hồ sơ vụ việc, khi thực hiện chính sách Chính phủ về giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp thời hạn 50 năm, Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh không giao cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện hộ gia đình nghèo và người dân địa phương theo quy định, mà đã chia giao cho một số cán bộ nhân viên của ban này sử dụng gần 230 ha đất rừng, trong đó cá nhân Phó trưởng ban Võ Trọng Bình được chia 18ha.
Sau khi được chia, ông Bình cùng một số cán bộ nhân viên Ban Quản lý rừng phòng hộ Sông Hinh không trồng rừng mà trồng cao su và cây ngắn ngày, thậm chí tự ý chuyển nhượng hàng chục héc ta đất rừng. Mặt khác, ông Bình còn tự ký hợp đồng giao khoán cho một số cán bộ nhân viên thuê nhân công trồng, chăm sóc và làm chủ 226ha. Sau khi kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên đã thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ đảng đối với ông Võ Trọng Bình.
Theo kiến nghị của Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên, đầu tháng 6-2014, Công an huyện Sông Hinh đã khởi tố vụ án hình sự cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để điều tra, xử lý vi phạm của các cá nhân liên quan theo quy định pháp luật.
Nhưng đầu năm 2015 cơ quan này đã đình chỉ điều tra vụ án vì cho rằng hành vi của ông Võ Trọng Bình không cấu thành tội phạm. Trong cuộc giám sát mới đây, Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Phú Yên khẳng định việc đình chỉ điều tra vụ án nêu trên là không đúng quy định pháp luật, nên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo phục hồi điều tra. (Công An Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Cơ quan chức năng bắt giữ tang vật gồm hơn 40 m3 gỗ được tập kết tại khu vực thuộc lâm phần quản lý của Công ty Cổ phần Nông lâm nghiệp Khải Vi.
Ngày 10/11, cơ quan chức năng huyện Đắc G’long, tỉnh Đắc Nông tổ chức giám định hiện trường để làm rõ vụ khai thác trái phép hơn 40 m3gỗ tại lâm phần Công ty Cổ phần Nông lâm nghiệp Khải Vi (Công ty Khải Vi) – trú trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk G’long.
Vụ việc được phát hiện ngày 6/11, khi lực lượng bảo vệ rừng của Công ty Khải Vi và Ban Lâm nghiệp xã Quảng Sơn tiến hành công tác tuần tra kiểm soát bảo vệ rừng trên địa bàn.
Cơ quan chức năng sau đó đã bắt giữ tang vật gồm hơn 40 m3 gỗ, chủ yếu là gỗ sao và dầu đỏ đã được cắt xẻ, tập kết tại lô 2, khoảnh 8, tiểu khu 1695, thuộc lâm phần quản lý của Công ty Khải Vi.
Ngành chức năng đồng thời bắt giữ một xe công nông độ chế cỡ lớn đang vận chuyển gỗ ra khỏi rừng.
Bước đầu, cơ quan chức năng xác định chủ phương tiện vận chuyển gỗ trái phép là Nguyễn Văn Bưng (trú tại xã Đắk R’Măng, huyện Đắk G’long).
Ông Trần Trọng Tâm – Phó Giám đốc Công ty Khải Vi cho biết, từ năm 2006, công ty được giao quản lý bảo vệ 2.700 ha đất rừng, trong đó có 1.500 ha rừng tự nhiên.
Việc khai thác lấn chiếm đất rừng ở khu vực này luôn diễn biến rất phức tạp, tuy nhiên đây là vụ khai thác trái phép có số lượng lớn nhất được phát hiện. (Môi Trường Và Đời Sống 13/11) đầu trang(
Ngành NN&PTNT có 3 đơn vị trực thuộc với chức năng bảo vệ và phát triển rừng (BVPTR) bền vững đó là Chi cục Lâm nghiệp (CCLN), Chi cục Kiểm lâm (CCKL) và Quỹ Bảo vệ phát triển rừng (QBVPTR). Là tỉnh có tổng diện tích rừng lớn, những năm qua, thông qua chỉ đạo của tỉnh và Sở, 3 đơn vị này đã thực hiện đạt được nhiều thành tựu đồng thời 2 mặt: BVPTR và góp phần về an sinh xã hội.
Trước hết, phải kể đến Dự án “Phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng Tây Nguyên tỉnh Lâm Đồng” (FLITCH) do CCLN trực tiếp quản lý đã thực hiện từ năm 2007 đến nay với trên 60 thôn, 14 xã thuộc 3 huyện Lạc Dương, Di Linh và Đam Rông. Dự án triển khai trên tổng diện tích 181.515ha, với 7.048 hộ dân (36.053 khẩu), trong đó hơn 95% là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) sống gần rừng và dựa chủ yếu vào rừng.
Dự án có 4 hợp phần, gồm nhiều hạng mục cho các hộ dân tham gia như: trồng rừng, nông lâm kết hợp, cải tạo vườn hộ, giao khoán bảo vệ rừng, cho vay từ nguồn quỹ phát triển xã (CDF), xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ dân sinh... Kết quả, đã có khoảng 7.000 hộ dân tham gia, trong đó khoảng 1.960 phụ nữ (chiếm 28%). Dự án đã trồng 2.992ha rừng; trong đó 1.286 hộ dân trồng 1.520ha và các đơn vị công ty lâm nghiệp, Ban quản lý rừng phòng hộ, doanh nghiệp trồng 1.472ha.
Dự án cũng đã triển khai thực hiện 1.960ha nông lâm kết hợp cho 1.983 hộ tham gia; 1.997 hộ tham gia cải tạo vườn hộ với 245ha. Thông qua giao khoán bảo vệ rừng, có 1.257 hộ dân thực hiện với 22.678ha rừng tự nhiên. Với hạng mục “Xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nông thôn” tại các xã vùng dự án như trường học, trạm xá, nhà sinh hoạt cộng đồng, kênh mương thủy lợi, cầu, đường nông thôn..., Dự án đã đầu tư hỗ trợ với mức 5 - 6 tỷ đồng/xã, góp phần cải thiện bộ mặt nông thôn, giúp các xã đạt thêm một số tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
Đối với ngành Kiểm lâm, với chức năng của mình, từ năm 1992 đến nay, lực lượng kiểm lâm đã tổ chức tuyên truyền pháp luật về BVPTR cho trên 235.100 lượt người tham gia, vận động 93.884 hộ dân tham gia ký cam kết bảo vệ rừng. Trên toàn tỉnh đã có 1.628 thôn, buôn có rừng triển khai xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ rừng.
Về công tác phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), ngoài việc ngành và đơn vị liên quan từng bước được huấn luyện, trang bị ngày càng tốt hơn... đặc biệt còn tuyên truyền, vận động toàn dân tham gia. Trong đó, đáng ghi nhận là tổ chức mô hình hợp đồng khoán tổ đội PCCCR ngày càng đạt hiệu quả cao. Từ đó, vừa giảm thiểu đến mức thấp nhất về số vụ, diện tích và thiệt hại do cháy rừng gây ra; vừa nâng cao nhận thức và nguồn thu nhập trong nhân dân.
Đối với QBVPTR, là đơn vị mới thành lập (hoạt động từ 3/2009), với chức năng và nhiệm vụ của mình cũng đã thực hiện được một số thành tích đáng ghi nhận. Từ đó đến nay, tổng số tiền thu được là 857.810 triệu đồng; tổng số tiền đã chi trả là 655.952 triệu đồng với 27.000 hộ hưởng lợi.
Diện tích rừng được khoán BVR hàng năm 563.050 ha. Với chủ trương và chính sách này, tỉnh Lâm Đồng đã đi đầu trong việc góp phần quan trọng trong chủ trương xã hội hóa nghề rừng và ổn định, cải thiện đời sống kinh tế cho các hộ dân. Với những lĩnh vực nêu trên, qua những năm thực hiện Dự án cho thấy hàng ngàn hộ dân vừa nâng cao nhận thức BVPTR vừa được tăng thu nhập cho hộ gia đình mình đáng kể. (Báo Lâm Đồng 13/11) đầu trang(
Thực trạng rừng ở tỉnh Điện Biên bị xâm hại nghiêm trọng các cơ quan chức năng đều biết. Tuy nhiên, dường như họ đã bất lực.
Một trong những huyện có diện tích rừng lớn nhất với trên 72.000 ha, huyện Mường Nhé cũng là “điểm nóng” nhất về thực trạng phá rừng hiện nay của tỉnh Điện Biên.
Những cây gỗ lớn trên 20 năm tuổi ở bản Nà Pán, xã Mường Nhé đã không còn, rừng đã biến thành nương trọc. Ở các xã Chung Chải, Len Su Sìn và Mường Nhé… việc bảo vệ rừng cũng trở nên khó khăn, hoạt động của lực lượng chức năng gần như tê liệt.
Người dân ở bản Nà Pán cho biết, nhiều lần họ cũng đã vào rừng để giữ cây, nhưng không được.
Ở đây, người dân di cư khá đông. Những người này khá manh động. Người dân và những người di cư nhiều lần đã xảy ra xô xát. Bà con Nà Pán trước đó đã dựng lán, thay phiên nhau đi kiểm tra, bảo vệ rừng cả ngày lẫn đêm nhưng vẫn không thể giữ rừng.
Khi bị phát hiện, những kẻ phá rừng sẵn sàng chống trả người thi hành công vụ và gây thương tích cho lực lượng tuần tra.
Theo ông Lò Văn Thành, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé cho hay: “Hiện nay lực lượng kiểm lâm địa bàn quá mỏng so với diện tích rừng. Tổng số công chức kiểm lâm địa bàn, kiểm lâm trạm quản lý bảo vệ rừng đặc dụng hiện chỉ có 23 công chức/72.080 ha rừng”.
“Như vậy, trung bình, mỗi kiểm lâm viên đang quản lý trên 5.000 ha rừng. Trong khi đó, tại Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ thì với địa bàn nhiều rừng như huyện Mường Nhé, mỗi kiểm lâm viên chỉ quản lý từ 500 - 1.000 ha rừng.
Một khó khăn nữa là, các đối tượng di cư tự do khi bị bắt rất khó xử lý, do họ không khai báo tên tuổi, địa chỉ và hành vi phá rừng của họ cũng chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự”, ông Thành thông tin thêm.
Còn ông Bùi Thanh Quang, Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Mường Nhé thẳng thắn chia sẻ: “Dù đã có nhiều biện pháp tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng được triển khai đến nhân dân nhưng chưa thực hiệu quả, nỗ lực cứu rừng từ ngành kiểm lâm thôi là chưa đủ”.
Việc những đối tượng chống đối còn cố tình đưa gia súc, gia cầm vào khu vực rừng chăn thả để giữ chỗ cũng không hiếm.
Trung tá Nguyễn Đình Quân, Phó Trưởng Công an huyện Mường Nhé khẳng định có tình trạng phá rừng tại 4 xã Mường Toong, Mường Nhé, Chung Chải, Leng Su Sìn. Nhất là các điểm bản Phứ Ma, Cà Là Pá thuộc xã Leng Su Sìn.
Tuy nhiên, theo ý kiến của ông Nguyễn Đình Quân việc phát hiện, xử lý đối tượng phá rừng không hề đơn giản.
Bởi theo quy định, trước nhất lực lượng kiểm lâm là đơn vị phải hoàn thiệnhồ sơ chuyên môn liên quan đến diện tích rừng bị xâm hại sau đó chuyển công an xem xét, nếu đủ mức độ vi phạm thì cơ quan công an mới thụ lý, điều tra.
Ông Mùa A Sơn – Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên cho biết: “Ở các nơi khác, nghĩ đến phá rừng là người ta nghĩ ngay đến lâm tặc. Nhưng ở Điện Biên thì không chỉ có lâm tặc mà có cả việc người dân di cư đông đúc. Họ chủ yếu chỉ biết làm nông nghiệp, nhu cầu cần đất tăng khá lớn. Họ thường chọn những chỗ đất màu mỡ để canh tác, sinh sống”.
“Điều đặc biệt, những người di dân thường là người dân tộc thiểu số. Họ có thói quen di dân, tìm vùng đất mới từ trong tiềm thức. Họ thích ở những nơi ít chịu ảnh hưởng về mặt quản lý nhất để ở, nên họ phá rừng làm nương”, ông Mùa A Sơn chia sẻ.
Cũng theo vị chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên “làn sóng” di dân tự do về Điện Biên là rất lớn. Có nhiều người ở các địa phương khác như Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Yên Bái… Họ đi khắp nơi, trong đó có Điện Biên.
“Anh em ở miền xuôi thường nói rằng tại việc rừng bị phá khiến xảy ra việc biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt… Nhưng cũng phải thông cảm cho chúng tôi ở trên này. Quả thực, hiện tại việc quản lý là rất khó. Trách nhiệm thuộc về chúng tôi, nhưng quả thật là quá sức…”, ông Mùa A Sơn chia sẻ. (Người Lao Động 14/11) đầu trang(
Truyện tranh song ngữ Anh - Việt "Chuyện của Gab" nhằm giáo dục trẻ về tình trạng săn bắt, buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã.
"Chuyện của Gab" dày 40 trang, khổ 18x18cm, được minh hoạ bởi gần 40 tranh vẽ nghệ thuật đang phát miễn phí rộng rãi đến đông đảo học sinh THCS tại TP HCM.
"Chuyện của Gab" được xây dựng từ những câu chuyện thực tế về hiện trạng săn bắt, buôn bán, tiêu thụ trái phép động vật hoang dã tại Việt Nam. Đây là câu chuyện về hành trình đầy đau khổ, bất trắc nhưng may mắn của một cá thể vượn đen má vàng có tên là Gab.
Chuyện bắt đầu từ lúc Gab ở trong rừng đến khi bị săn bắt, buôn bán và được giải cứu rồi trở về thiên nhiên. Câu chuyện đan xen nhiều chi tiết thực tế về nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm khác nhau đang bên bờ tuyệt chủng.
Chia sẻ về cuốn truyện, tác giả Đỗ Thị Thanh Huyền - Quản lý Giáo dục Bảo tồn tổ chức WAR - cho biết, truyện dành tặng các em thiếu niên với lời nhắn: "Hãy nói không với sản phẩm động vật hoang dã trái phép". (VnExpress 13/11) đầu trang(
Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật mô hình bán hoang dã đầu tiên tại Việt Nam và đạt tầm cỡ khu vực - Vinpearl Safari vừa đón gần 200 động vật quý hiếm, đại diện cho nhiều vùng địa sinh học trên thế giới về Việt Nam như: linh dương sừng xoắn, vượn cáo trắng đen, vượn cáo đuôi khoang, hươu cao cổ…
Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari thuộc quần thể siêu dự án nghỉ dưỡng Vinpearl tại Bãi Dài, Phú Quốc. Đây là vườn thú bán hoang dã có khu vực mở, theo hình thức safari đầu tiên và duy nhất tại Việt Nam. Dự án có quy mô lớn, chia làm nhiều giai đoạn phát triển. Trong đó giai đoạn I có diện tích lên tới 380ha, bao gồm 140 loài động vật với hơn 2.000 cá thể và khoảng 400 loài thực vật bản địa và nhập ngoại.
Để chuẩn bị cho sự kiện khai trương và đi vào hoạt động từ ngày 24-12-2015, vừa qua, Vinpearl Safari đã đón 3 chuyến chuyên cơ chuyển thú từ Mỹ, châu Âu và Nam Phi về Phú Quốc, trong đó có cả chuyên cơ cỡ lớn Boeing 747.
Trong số gần 20 loài động vật hoãng dã, gồm khoảng 200 cá thể được chuyển về có nhiều loài động vật quý hiếm, đại diện cho nhiều vùng địa sinh học trên thế giới như linh dương sừng xoắn, vượn cáo trắng đen, vượn cáo đuôi khoang… Đặc biệt, trong đợt vận chuyển lần này có 12 cá thể đầu tiên của bộ hươu cao cổ lớn nhất Việt Nam. Theo đó, khi về hết theo hợp đồng, quy mô đàn hươu sẽ đạt gần 60 con.
Các cá thể động vật sẽ được đưa về nuôi dưỡng và chăm sóc tại hệ thống chuồng cách ly đạt tiêu chuẩn với sự giám sát của các chuyên gia quốc tế giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo tồn động vật.
Đây là đợt chuyển thú đầu tiên cho tổng số 140 loài động vật quý hiếm của Giai đoạn 1, dự án Vinpearl Safari Phú Quốc. Từ nay đến ngày khai trương dự kiến sẽ có thêm 5 chuyến chuyên cơ vận chuyển động vật quý hiếm về Phú Quốc.
Hiện Giai đoạn I được quy hoạch theo 2 phân khu chính. Khu Vườn thú mở (Open zoo) bao gồm khoảng gần 100 loài động vật, với hệ thống chuồng nuôi thông thoáng, hài hòa với thiên nhiên, dành cho khách đi bộ tham quan.
Khu Công viên động vật hoang dã (Safari Park) nuôi dưỡng và chăm sóc khoảng 40 loài động vật, là khu động vật mở hoàn toàn trong rừng tự nhiên, duy nhất tại Việt Nam. Phân khu này hoàn toàn không có hệ thống chuồng trại ngăn cách, động vật hoang dã được sinh sống tự do trên một khu vực rộng lớn. Du khách khám phá, trải nghiệm đời sống tự nhiên của muôn loài một cách sống động và chân thực nhất bằng xe bus bảo vệ an toàn.
Công viên chăm sóc và bảo tồn động vật Vinpearl Safari là dự án mới và quy mô của tập đoàn Vingroup, mang ý nghĩa quan trọng trên cả 3 lĩnh vực: Bảo tồn, Giáo dục và Du lịch. Về du lịch, dự án này sẽ mang đến cho Việt Nam nói chung và đảo Ngọc Phú Quốc nói riêng một điểm đến độc đáo, khác biệt. Đồng thời, Vinpearl Safari cũng lựa chọn sứ mệnh “thúc đẩy bảo tồn các loài động vật hoang dã và môi trường thông qua nghiên cứu khoa học, giáo dục và truyền cảm hứng cho cộng đồng về bảo tồn thiên nhiên”.
Nỗ lực đưa mô hình Safari về Việt Nam và đầu tư với quy mô tầm cỡ khu vực đã cho thấy tinh thần tiên phong và tâm huyết của Tập đoàn Vingroup. Cùng với các hoạt động kinh doanh khác, Vinpearl Safari đã cho thấy tầm vóc và tiềm lực hàng đầu của Tập đoàn Vingroup trên bình diện quốc gia. (Công An TP.HCM 15/11; Tiền Phong 15/11) đầu trang(
Sau khi xảy ra vụ khai thác rừng ở vùng giáp ranh và tại Khu bảo tồn Kim Hỷ trên địa bàn xã Cao Sơn, huyện Bạch Thông, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn có thêm nhiều biện pháp bảo vệ rừng tại đây nhằm tránh tái diễn những vụ việc tương tự.
Cuối tháng tám, đầu tháng 9-2015, kiểm lâm và Công an huyện Bạch Thông phát hiện Khu bảo tồn Kim Hỷ và vùng giáp ranh trên địa bàn xã Cao Sơn có 24 cây gỗ nghiến hàng trăm năm tuổi trên núi đá bị chặt hạ trái phép. Công an huyện Bạch Thông tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo đạc 14 cây có khối lượng hơn 163 khối gỗ.
Rà soát , điều tra các đối tượng nghi vấn, bước đầu Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an huyện Bạch Thông) có đủ căn cứ và đã tạm giữ hình sự 12 đối tượng là người xã Cao Sơn. Kiểm lâm huyện Bạch Thông và kiểm lâm Khu bảo tồn Kim Hỷ đang tích cực phối hợp, cung cấp thông tin cho cơ quan công an để sớm điều tra triệt để, đưa vụ án khai thác rừng có quy mô lớn này ra xét xử để răn đe, giáo dục chung.
Không để các vụ việc tương tự xảy ra, Chi cục Kiểm lâm Bắc Cạn vừa điều động thêm năm kiểm lâm viên cho hai Trạm Kiểm lâm Vũ Muộn và Bản Cào nhằm tăng cường lực lượng chốt chặn vận chuyển gỗ từ Khu bảo tồn Kim Hỷ trên địa phận xã Cao Sơn ra huyện Bạch Thông và huyện Na Rì.
Đề nghị và được UBND tỉnh Bắc Cạn đồng ý dựng hai trạm barie tại hai Trạm kiểm lâm Nà Mỏ và Bản Cào để kiểm soát, kịp thời ngăn chặn các phương tiện chở gỗ từ Khu bảo tồn Kim Hỷ ra bên ngoài tiêu thụ.
Đề nghị UBND tỉnh điều chỉnh lại quy hoạch, địa giới đưa khu rừng nghiến trên núi đá giáp ranh vào Khu bảo tồn Kim Hỷ để có điều kiện quản lý, bảo vệ tốt hơn. Tuyên tuyền, nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước đối với rừng của chính quyền các xã; kiểm lâm thường xuyên tuần rừng, họp với nhân dân xã Cao Sơn nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn khai thác rừng trái phép, không để các vụ việc tương tự xảy ra gây bức xúc trong xã hội. (Nhân Dân 15/11) đầu trang(
UBND tỉnh vừa có văn bản yêu cầu các sở, ngành liên quan, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh và các địa phương tăng cường thực hiện các biện pháp cấp bách công tác quản lý bảo vệ rừng.
Cụ thể, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố tăng cường kiểm tra, truy quét để phát hiện, ngăn chặn kịp thời hành vi lấn chiếm đất rừng, chặt phá, đốt rừng, kiên quyết xóa bỏ các điểm nóng về phá rừng, khai thác tài nguyên rừng trái phép; xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm, các chủ rừng, cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm để phá rừng, cháy rừng.
Đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, đề xuất thu hồi diện tích đất rừng bị chặt phá, lấn chiếm, sử dụng sai mục đích, hoặc chuyển mục đích sử dụng trái quy định của pháp luật để phục hồi rừng. Tăng cường trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng; đẩy mạnh triển khai thực hiện các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương theo nội dung chỉ đạo tại Công văn trên đúng quy định; phối hợp với Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Đồng Tháp tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. (Báo Đồng Tháp 13/11) đầu trang(
Hiện tại, phần rừng bị khoét nằm giáp ranh với đất bán ngập, có diện tích khoảng 87 ha- từ tổ 1 đến tổ 4. Cụ thể: diện tích rừng bị khoét để trồng mì ở tổ 1 khoảng 23,61 ha/69 hộ, tổ 2 khoảng 10,5 ha/27 hộ, tổ 3 khoảng 43,5 ha/62 hộ, tổ 4 khoảng 9,55 ha/15 hộ.
Tình trạng khoét rừng trên đảo Nhím để trồng mì đã được Báo Tây Ninh phản ánh trên số báo ra ngày 26.9.2015. Sau đó chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra theo nội dung bài báo đã nêu. Mới đây, UBND huyện Dương Minh Châu có công văn cho biết, kết quả kiểm tra cho thấy tình trạng phá rừng trên đảo Nhím để trồng mì là có thật.
Hiện tại, phần rừng bị khoét nằm giáp ranh với đất bán ngập, có diện tích khoảng 87 ha- từ tổ 1 đến tổ 4. Cụ thể: diện tích rừng bị khoét để trồng mì ở tổ 1 khoảng 23,61 ha/69 hộ, tổ 2 khoảng 10,5 ha/27 hộ, tổ 3 khoảng 43,5 ha/62 hộ, tổ 4 khoảng 9,55 ha/15 hộ.
Theo UBND huyện Dương Minh Châu, tình trạng lấn chiếm đất, chặt phá, đốt cây rừng trên đảo Nhím đã diễn ra từ nhiều năm, đến nay vẫn tồn tại do có nhiều nguyên nhân.
Thứ nhất, việc tổ chức lực lượng quản lý, bảo vệ đất và cây rừng trên đảo Nhím chưa bảo đảm. Mặt khác, đảo Nhím nằm cách xa đất liền, phương tiện đi lại chủ yếu bằng ghe, đò, diện tích đất gò nằm trải dài liền với đất bán ngập. Trong khi đó lực lượng quản lý lại rất ít nên gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ đất và cây rừng.
Thứ hai, các hộ dân lấn chiếm khoét rừng để trồng mì tại đảo Nhím đa số là từ nơi khác đến tạm trú để sản xuất, canh tác trồng mì trên diện tích đất bán ngập; diện tích tiểu khu 64 đảo Nhím đã được đưa ra khỏi quy hoạch đất lâm nghiệp nên công tác xử lý hành chính gặp nhiều khó khăn.
Thứ ba, các hộ dân được bố trí tái định cư ở ấp Đồng Kèn 2, xã Tân Thành, huyện Tân Châu quay trở lại tái lấn chiếm đất trồng mì, cất chòi, lều trại, chặt phá, đốt rừng nhưng công tác ngăn chặn, xử lý vi phạm chậm, không triệt để.
Để giải quyết tình trạng trên, UBND huyện Dương Minh Châu giao nhiệm vụ cho UBND xã Suối Đá tăng cường công tác quản lý, bảo vệ toàn bộ diện tích đất, cây rừng tại đảo Nhím; mời các đối tượng vi phạm lấn chiếm đất, đốt, chặt phá cây rừng lập biên bản xử lý theo quy định của pháp luật, không để xảy ra tình trạng các hộ dân hồi cư lấn chiếm đất công, chặt phá cây rừng, cất chòi trái phép.
Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện tham mưu UBND huyện phương án cắm mốc diện tích đất bán ngập và đất quy hoạch trồng rừng của UBND tỉnh giao cho UBND huyện quản lý và chăm sóc.
Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện tham mưu UBND huyện kiện toàn tổ quản lý đảo Nhím của huyện thành lập đoàn xử lý cưỡng chế diện tích các hộ dân khoét rừng trên đảo Nhím để trồng mì. UBND xã Suối Đá tổ chức thành lập tổ bảo vệ quản lý tiểu khu 64 đúng theo quy định.
Ngoài ra, UBND huyện còn đề nghị Công an huyện chủ trì phối hợp với UBND xã Suối Đá, các đơn vị có liên quan tăng cường công tác kiểm soát số máy cày trên đảo Nhím. (Báo Tây Ninh 15/11) đầu trang(
Nhiều bao tải cùng thùng xốp chứa hàng tạ gỗ quý bên trong chiếc xe khách từ Đà Nẵng ra phía Bắc tiêu thụ đã bị cảnh sát bắt giữ.
Chiều 14/11, thiếu tá Nguyễn Hoàng Vũ (Đội trưởng Đội tuần tra phía Bắc, thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Thừa Thiên - Huế), cho biết vừa bàn giao gần 5,5 tạ gỗ trắc cho Hạt Kiểm lâm tỉnh xử lý theo thẩm quyền.
Trước đó khuya 13/11, cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên tuyến đường tránh Huế, đoạn qua phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, phát hiện xe khách biển số Đà Nẵng chạy hướng Nam - Bắc có biểu hiện nghi vấn nên ra hiệu lệnh dừng xe.
Trong thùng đựng hàng có nhiều bao tải và thùng xốp chứa 543 kg gỗ trắc (nhóm 1, thuộc nhóm gỗ quý hiếm). Nam tài xế 35 tuổi (trú Quảng Nam) không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc số gỗ quý nói trên và khai chở thuê cho một lái buôn ở Đà Nẵng ra các tỉnh phía Bắc tiêu thụ.
Cảnh sát giao thông đã lập biên bản, tạm giữ lô hàng này để bàn giao cho kiểm lâm. (VnExpress 14/11) đầu trang(
Liên quan đến việc kiểm lâm Trần Văn Quý (SN 1987, quê xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, Quảng Nam) tử vong khi đang làm nhiệm vụ nhưng không được công nhận liệt sĩ, PV Dân trí đã có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Duy Kiên - Phó Cục trưởng Cục Người có công (Bộ LĐ-TB&XH) để làm rõ hơn vấn đề này.
Theo hồ sơ vụ việc, kiểm lâm viên Trần Văn Quý thuộc Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam, bị chết đuối ngày 15/5/2011 khi Tổ công tác đội Kiểm lâm cơ động phát hiện gỗ trái phép giấu dưới lòng sông Mò O và tiến hành trục vớt.
Theo Kết quả điều tra số 28/CV-CSĐT ngày 01/6/2011 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Đại Lộc, nội dung sự việc cụ thể như sau: "Trước khi trục vớt gỗ, anh Đinh Anh Tuấn (Tổ trưởng Tổ công tác đội Kiểm lâm cơ động) yêu cầu các kiểm lâm viên mặc áo phao, nhưng các kiểm lâm viên cho rằng nước cạn nên không cần mặc áo phao... Khi Quý xuống sông lội (bơi) được khoảng từ 4-5 m thì bị sụp vào hố nước sâu và có vòng xoáy nên bị nước cuốn trôi. Quý bị chìm dưới lòng sông, chết đuối".
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 54/2006/NĐ-CP ngày 26 tháng 5 năm 2006 của Chính phủ: “Trường hợp bị chết do tự bản thân gây nên hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị... thì không thuộc diện xem xét xác nhận là liệt sĩ.
Theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, một trong những căn cứ để cấp Giấy báo tử xác nhận liệt sĩ là Kết luận của cơ quan điều tra, hoặc biên bản xảy ra sự việc do cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý người hy sinh, hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự việc lập. Đây là các văn bản có tính pháp lý, khách quan.
Trường hợp kiểm lâm Trần Văn Quý, theo Kết quả điều tra số 28/CV-CSĐT nêu trên, đã không chấp hành yêu cầu của Tổ trưởng về việc mặc áo phao trước khi tiến hành trục vớt do cho rằng nước cạn nên không cần mặc áo phao...
Việc chủ quan, không chấp hành yêu cầu của Tổ trưởng đã dẫn đến tai nạn đáng tiếc mà lẽ ra đã có thể tránh được.
Kết quả điều tra số 28/CV-CSĐT ngày 01/6/2011 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện Đại Lộc đã ghi rõ: Tổ công tác có 7 người. “Khi đi tổ công tác mang theo 01 khẩu súng K59, 01 khẩu tiểu liên AK, 01 bình xịt hơi cay, 07 chiếc áo phao và giấy tờ tài liệu". Có 3 người trực tiếp lội xuống sông để trục vớt gỗ, sau đó kiểm lâm Quý cùng kiểm lâm Thắng xuống sông cùng tham gia nhưng Quý xuống sông bơi được khoảng 4-5mét thì bị sụp vào hố nước sâu và có vòng xoáy nên bị nước cuốn trôi”.
Như vậy, kết luận của cơ quan có thẩm quyền kết luận khác với ý kiến đã nêu.
Theo hồ sơ vụ việc của các cơ quan chức năng thì việc trục vớt gỗ nhằm phục vụ công tác điều tra xử lý theo chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm lâm (Tờ trình số 199/Ttr-SNN&PTNT ngày 12/6/2012 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam, Công văn số 3862/UBND-VX ngày 04/10/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam) không đề cập đến nội dung như câu hỏi đã nêu.
Một lần nữa, chúng tôi xin chia sẻ với nỗi đau thương mất mát này cùng gia đình ông Trần Văn Quý. Trong các văn bản trả lời cho Sở LĐ-TB&XH và UBND tỉnh Quảng Nam, Cục Người có công và Bộ LĐ-TB&XH đã có giải thích lý do vì sao trường hợp ông Trần Văn Quý không đủ điều kiện xác nhận liệt sĩ.
Tuy nhiên, gần đây có ý kiến nêu lại vấn đề này. Do vậy, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ có cuộc làm việc trực tiếp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam để kết luận cụ thể trong thời gian sớm nhất.
Kiểm lâm Trần Văn Quý dù không được công nhận là liệt sĩ nhưng do mất trong quá trình công tác nên vẫn được hưởng các chế độ theo qui định của Luật Bảo hiểm Xã hội. (Dân Sinh 15/11) đầu trang(
Ngày 13/11, Thị xã Đông Triều đã tổ chức tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng năm 2014 – 2015; phương hướng nhiệm vụ năm 2015 – 2016.
Thị xã Đông Triều là một trong những địa phương của tỉnh Quảng Ninh có địa hình tương đối phức tạp và chỉ số hạn cao dễ xảy ra nguy cơ cháy rừng. Thời gian qua, Thị xã đã chủ động chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và các địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, thông tin cảnh báo về cháy rừng; Thực hiện tốt công tác quản lý rừng, lâm sản, động vật rừng, mua bán gỗ, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp; Tăng cường kiểm tra, rà soát và chuẩn bị tốt về lực lượng, phương tiện ....sẵn sàng trong mọi tình huống để xử lý kịp thời khi xảy ra tình trạng cháy rừng.
Thị xã Đông Triều hiện có gần 20000 ha tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp, được quy hoạch theo 3 loại gồm: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Trong đó, diện tích có rừng là gần 19000 ha. Hiện nay, diện tích rừng và đất rừng trên địa bàn Thị xã Đông Triều đã được giao khoán cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân quản lý sử dụng theo quy định của Nhà nước.
Cùng với việc làm tốt công phòng cháy và chữa cháy rừng, Thị xã Đông Triều đã chủ động triển khai có hiệu quả công tác bảo vệ rừng thông qua việc tổ chức Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ; Thực hiện phương án điều tra, kiểm kê rừng; Vận động nhân dân bổ sung trồng rừng đối với những diện tích trống mới thu hoạch; Lập ngân sách quốc phòng an ninh đảm bảo cho công tác phòng cháy, chữa cháy .....
Để thực hiện có hiệu quả trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng và bảo vệ rừng, Thị xã Đông Triều trong thời gian tới sẽ tiếp tục xác định việc phòng cháy rừng là chủ đạo, chữa cháy rừng phải kịp thời, khẩn trương; tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi người dân trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Đồng thời, đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực của xã hội, các thành phần kinh tế cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; Tiếp tục thực hiện tốt phương châm bốn tại chỗ gồm: Chỉ huy, lực lượng, phương tiện, hậu cần tại chỗ....vv.
Tại hội nghị, UBND Thị xã Đông Triều đã biểu dương, khen thưởng 12 tập thể và 26 cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng giai đoạn ( 2010 – 2015). (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Quảng Ninh 14/11) đầu trang(
Những lóng gỗ lớn đã bị tẩu tán hết; cành nhánh được gom lại chất quanh gốc Pơmu để đốt cháy phi tang.
Chi cục Kiểm lâm Lâm Đồng vừa kiến nghị UBND tỉnh chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia (VQG) Bidoup - Núi Bà khẩn trương hoàn tất hồ sơ vụ khai thác trái phép gỗ Pơmu để khởi tố hình sự; đồng thời chuyển hồ sơ cho Công an huyện Lạc Dương điều tra, xử lý. Trong đó, cần làm rõ trách nhiệm của một số cán bộ bảo vệ rừng vì đã thiếu trách nhiệm, thậm chí có dấu hiệu tiếp tay.
Theo kết quả khám nghiệm hiện trường của Đoàn kiểm tra liên ngành Lâm Đồng, tại lô a4, khoảnh 1, tiểu khu 130 thuộc lâm phần VQG Bidoup - Núi Bà (Khu Dự trữ sinh quyển thế giới) có 9 cây Pơmu đường kính mặt cắt gốc từ 55cm - 105cm bị cưa hạ, khối lượng gỗ bị thiệt hại hơn 19m3.
Những lóng gỗ lớn đã bị tẩu tán hết; cành nhánh được gom lại chất quanh gốc Pơmu để đốt cháy phi tang; Khói vẫn còn bốc lên. Ngoài vụ phá rừng nghiêm trọng này, tại lô a, khoảnh 8, tiểu khu 89, Kiểm lâm địa phương còn phát hiện thêm 3 cây Pơmu bị cưa hạ.
Thời gian gần đây, Hạt Kiểm lâm Lạc Dương và Ban quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Đa Nhim đã tuần tra, mai phục dọc tuyến đường 723 phát hiện 1 ô tô và 4 xe máy vận chuyển gỗ Pơmu.
Các đối tượng điều khiển phương tiện đều tẩu thoát, bỏ lại phương tiện và tang vật. Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR số 1 phát hiện, xử lý hai đối tượng ở thôn Liêng Bông (xã Đạ Nhim) cất giữ gỗ Pơmu trái phép.
Là loài thực vật quý hiếm thuộc nhóm II, có tên trong sách đỏ Việt Nam, gỗ đẹp và chắc, có giá trị kinh tế cao nên Pơmu bị lâm tặc săn lùng ráo riết (Tiền Phong 16/11) đầu trang(
Được giải cứu khỏi hoạt động buôn bán bất hợp pháp, những động vật hoang đã được xem là tang vật của vụ án và chỉ khi vụ án kết thúc những động vật này mới được trả về tự nhiên.
Không ít vụ án kéo dài đến hàng năm trời, vậy là nhiều động vật hoang dã đang chết dần chết mòn trong các trung tâm cứu hộ vì chờ quyết định thả về tự nhiên của nhà chức trách. (Lao Động 15/11) đầu trang(
UBND tỉnh đã có công văn về việc tăng cường thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016, đối phó với ảnh hưởng của hiện tượng El Nino.
Trong đó, UBND tỉnh yêu cầu ngành nông nghiệp Hậu Giang rà soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao để có phương án phòng, chữa cháy rừng cụ thể cho từng địa phương; tăng cường thực hiện kiểm tra, giám sát và đôn đốc công tác chuẩn bị tại cơ sở.
Cũng như tăng cường kiểm tra, kịp thời phát hiện các điểm cháy rừng và triển khai các biện pháp chữa cháy rừng quyết liệt, có hiệu quả theo phương châm “4 tại chỗ”, kiên quyết không để xảy ra cháy lớn; trường hợp cháy lớn vượt quá tầm kiểm soát và khả năng giải quyết của địa phương thì thực hiện đúng theo phương án chữa cháy rừng khi xảy ra cháy lớn năm 2015-2016 của Ban chỉ đạo nhà nước về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020.
Ngoài ra, rà soát kế hoạch chuẩn bị cây giống, xử lý thực bì và trồng rừng kịp thời vụ, phù hợp với diễn biến hạn hán, đảm bảo hoàn thành kế hoạch trồng rừng năm 2016; đồng thời không để cháy rừng do xử lý thực bì. (Báo Hậu Giang 16/11) đầu trang(
UBND tỉnh Bình Dương vừa ra Chỉ thị số 17/CT-UBND về việc tăng cường các biện pháp phòng chống hạn, nhiễm mặn và cháy rừng trong mùa khô năm 2016 trên địa bàn tỉnh.
Theo nhận định của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bình Dương, mùa mưa năm nay có khả năng kết thúc sớm hơn so với trung bình nhiều năm (trong khoảng gần cuối tháng 10, đầu tháng 11). Trong các mùa khô 2015 - 2016, khu vực tỉnh Bình Dương có tổng lượng mưa khả năng ở mức thấp so với trung bình nhiều năm từ 20% - 40%. Nền nhiệt độ trong các tháng còn lại của năm 2015 và 3-4 tháng đầu năm 2016 có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5 độ C. Hiện tượng El Nino tiếp tục ảnh hưởng đến nước ta, có khả năng đạt cường độ của El Nino mạnh kỷ lục 1997 – 1998 và kéo dài đến đầu năm 2016.
Từ đầu năm 2015 đến nay, lượng mưa, lưu lượng dòng chảy ở hầu hết các sông suối trên địa bàn tỉnh Bình Dương đều thiết hụt so với trung bình nhiều năm, dẫn đến hạn hán, xâm nhập mặn có thể xảy ra gay gắt, dung tích trữ nước của các hồ chứa thủy lợi đều thấp hơn cùng kỳ.
Để chủ động phòng chống hạn, mặn và hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại do tác động của El Nino gây ra, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương yêu cầu Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố Thủ Dầu Một thực hiện tốt các biện pháp cấp bách phòng chống hạn, nhiễm mặn và cháy rừng trong mùa khô năm 2016 như sau:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn triển khai hướng dẫn cho các địa phương, đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi lập kế hoạch thực hiện công tác phòng chống hạn, nhiễm mặn và cháy rừng trong mùa khô 2016. Chỉ đạo Chi cục Thủy lợi phối hợp với Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bình Dương thường xuyên theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, nguồn nước, kịp thời điều chỉnh phương án phòng chống hạn hán, xâm nhập mặn khi nguồn nước thiếu hụt, phải đảm bảo cung cấp theo thứ tự ưu tiên: nước cho sinh hoạt, chăn nuôi, nông nghiệp.
Cùng với công ty khai thác thủy lợi Dầu Tiếng – Phước Hòa có kế hoạch xả nước qua tràn với lưu lượng và thời điểm phù hợp để đẩy mặn cho hạ du sông Sài Gòn, đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dan ven sông… (Tuổi Trẻ 16/11) đầu trang(
Vụ án vợ chồng ông Trần Kiều Hưng bị TAND Phú Quốc buộc tội “hủy hoại rừng” trên đất được cấp sổ đỏ… được cấp phúc thẩm hủy án. Sau thời gian điều tra, phiên tòa sơ thẩm đã diễn ra và đỉnh chỉ. Đến 17/11 phiên tòa sơ thẩm lần 2 sẽ diễn ra.
Từ mảnh đất cha mẹ cho năm 1987, đến năm 2010 vợ chồng ông Trần Kiều Hưng và vợ là bà Huỳnh Thị Bích Phượng (ấp 3, xã Cửa Cạn, huyện Phú Quốc) làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Khi có GCNQSDĐ, khoảng tháng 9/2011, vợ chồng ông Hưng thuê một số người phát dọn đất, thì 02/11/2011, Trạm Kiểm lâm xã Cửa Cạn đến lập biên bản đình chỉ, vì cho rằng, phần đất mà vợ chồng ông Hưng phát dọn nằm ngoài diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Tiếp đó, cơ quan chức năng đến kiểm tra thực địa, tọa độ, vị trí ranh giới… và kết luận diện tích đất mà vợ chồng ông Hưng khai phá nằm trong ranh giới rừng Quốc gia Phú Quốc.
Dựa trên kết luận đó, ngày 08/3/2013, VKSND huyện Phú Quốc ra cáo trạng số 24/KSDT-TA truy tố vợ chồng ông Trần Kiều Hưng và Huỳnh Thị Bích Phượng về tội “huỷ hoại rừng”. Ngày 16/5/2013TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử và tuyên phạt bị cáo Trần Kiều Hưng 03 năm tù giam, Huỳnh Thị Bích Phượng 03 năm tù, cho hưởng án treo về tội “huỷ hoại rừng”.
Không đồng ý với bản án cấp sơ thẩm, vợ chồng ông Hưng kháng cáo lên tòa phúc thẩm. Ngày 31/3/2014 TAND tỉnh Kiên Giang mở phiên toà hình sự cấp phúc thẩm đưa ra xét xử vụ án “huỷ hoai rừng” đối với vợ chồng ông Trần Kiều Hưng. HĐXX cấp phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm (TAND huyện Phú Quốc) đã vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng và nguyên đơn không bổ sung thêm chứng cứ mới để buộc tội vợ chồng ông Kiều Hưng phạm tội “huỷ hoại rừng” nên TAND tỉnh Kiên Giang đã tuyên huỷ toàn bộ bản án sở thẩm, trả hồ sơ cho cơ quan điều tra lại.
Sau gần 1 năm điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc có cáo trạng “mới”, tiếp tục truy tố vợ chồng ông Hưng tội “hủy hoại rừng” và ngày 17/3/2015, TAND huyện Phú Quốc đưa vụ án ra xét xử. Tuy nhiên tại phiên tòa này, HĐXX xét thấy không đủ chứng cử để buộc tội vợ chồng ông Hưng tội “hủy hoại rừng” nên HĐXX trả hồ sơ lại cho cơ quan điều tra.
Sau gần 9 tháng điều tra bổ sung, ngày 17/11 TAND huyện Phú Quốc tiếp tục đưa vụ án ông Trần Kiều Hưng ra xét xử cấp sơ thẩm lần 2.
Trao đổi với PV Dân trí, luật sư Thái Hoàng Long - Luật sư bào chữa cho vợ chồng ông Hưng cho biết, với quan điểm cá nhân của tôi, tôi thấy bản cáo trạng không thay đổi gì so với bản cáo trạng trước. Tại phiên tòa cấp sơ thẩm lần 2 vào ngày 17/11 tới đây, tôi vẫn đưa ra quan điểm: Nếu muốn buộc tội vợ chồng ông Trần Kiều Hưng tội “hủy hoại rừng” thì căn cứ vào điều gì?
Chắc chắn là ranh rừng, nếu phần đất ông Hưng phát hoang nằm trong ranh rừng thì có tội, nằm ngoài ranh rừng thì không có tội… Nhưng hiện nay các cột mốc ranh rừng thì không có; còn có như các cột mốc 109, 111 thể hiện trong hồ sơ vụ án thì cách mảnh đất ông Hưng vài kilomet. (Dân Trí 16/11) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Báo Lao Động đã có các bài viết phản ánh về việc ông Phan Văn Phúc (SN 1970, nguyên cán bộ lâm trường huyện Mang Yang) và ông Nguyễn Duyên Nam (trú TT. Kon Dơng, huyện Mang Yang) làm giả giấy sang nhượng đất chiếm đoạt 231,7 ha đất của 70 hộ dân thôn 3, xã Đắk Jơ Ta (huyện Mang Yang).
Từ đây, UBND huyện Mang Yang sửa sai bằng cách phát thông báo thu hồi 14 sổ đỏ cho 231,7 ha đất ( trong tổng số 17). Tuy vậy, quyết định này lại làm lòi ra một cái sai khác mà CA huyện đề nghị 70 hộ dân nên khởi kiện ra tòa.
Sau các bài báo của Lao Động phát hiện ông Nam, Phúc cùng 15 người (ông Nam, Phúc nhờ đứng tên) lừa dối giấy tờ, khai không đúng nguồn gốc, để chiếm đất của dân, UBND huyện Mang Yang đã ra văn bản số 127/TB-UBND thu hồi 17 sổ đỏ. Tuy nhiên, chỉ có 14 sổ đỏ bị thu hồi, còn 3 sổ với diện tích 71 ha không thể thu hồi, bởi chính huyện Mang Yang "lỡ tay" kí xác nhận để ông Phan Văn Phúc bán cho ông Lê Ngọc Liên (Bình Định) cùng 3 cộng sự 71ha đất với số tiền trên dưới 4,2 tỉ đồng.
Quyết định này căn cứ theo Quyết định 53/QĐ-UBND năm 2008 của UBND tỉnh Gia Lai, nhưng oái ăm thay, QĐ số 53 này lại xác định quy hoạch số diện tích đất này là đất rừng.
Cần hiểu rõ là, đất rừng là loại đất có rừng, đất để trồng rừng và không thể mua bán. Trong khi đó, đất nông nghiệp là sử dụng vào mục đích sản xuất, trồng cây hàng năm và cây lâu năm.
Vậy là lại nảy sinh một rắc rối mới, vì Ban Quản lí rừng phòng hộ Mang Yang lại khẳng định: 231,7 ha đất - thuộc tiểu khu 443 - là đất nông nghiệp, bởi người dân đã canh tác từ năm 1979 và 231,7 ha đã được huyện cấp sổ đỏ vào năm 2004 xác nhận đất "hợp pháp" để nguyên cán bộ lâm trường Phan Văn Phúc bán cho người khác. Do đó, nếu dựa vào Quyết định 53, thì UBND huyện Mang Yang đã bán, cấp sổ đỏ đất rừng? và nếu thu hồi thì cũng không thể trả cho 70 hộ dân?.
Như vậy câu chuyện xem chừng đang lâm vào ngõ cụt mà chỉ có khả năng duy nhất là UBND tỉnh phải ra quyết định thay đổi quy hoạch. Điều này càng khó vì liên quan đến thẩm quyền cao hơn và còn dẫn đến nhiều hệ luỵ khác. (Lao Động 15/11) đầu trang(
Không còn là những khu dân cư heo hút ngày nào, giờ đây đời sống người dân trên đất rừng U Minh Hạ (Cà Mau) đã thay đổi. Sự đổi thay ấy bắt nguồn từ các chính sách của Đảng, Nhà nước và sự nỗ lực vươn lên của bà con nơi đây.
Gần 20 năm gắn bó với đất rừng, ông Trần Hữu Ðạo, ở ấp 13, xã Nguyễn Phích, huyện U Minh trải qua biết bao khó khăn, thử thách. Thuở ông cũng như hàng ngàn người khác vừa bước chân đến đất rừng U Minh Hạ này, xuất phát điểm chỉ là con số không. Nhưng chính từ sự quyết tâm và yêu mến đất rừng, ông đã tạo dựng được cuộc sống ổn định như ngày hôm nay.
Ông Trần Hữu Ðạo nhớ lại, năm 1990 ông đến nhận đất, nhận rừng theo Quyết định 181 của Thủ tướng Chính phủ. Chính sự cần cù, chịu khó, ông đã biến khu đất rừng toàn tràm và năng sậy, lại bị nhiễm phèn nặng trở thành vùng đất màu mỡ chỉ sau vài năm canh tác. Qua gần 10 năm chăm sóc, năm 2014, ông tiến hành khai thác 4 ha tràm. Sau khi ăn chia với đơn vị chủ quản và chi phí, ông còn thu nhập hơn 100 triệu đồng.
Ði dọc theo những tuyến dân cư trên lâm phần thuộc các xã: Nguyễn Phích, Khánh Lâm, Khánh Thuận, huyện U Minh giờ đây không khó để bắt gặp những ngôi nhà được xây dựng kiên cố, khang trang trị giá hàng trăm triệu đồng nằm xen dưới những tán rừng tràm.
Ðây là thành quả của những tháng ngày lao động cật lực của người dân đã được bù đắp sau nhiều đợt khai thác tràm. Ông Chiêm Văn Lâm, ở ấp 14, xã Nguyễn Phích, chia sẻ, ông đến đất rừng U Minh lập nghiệp từ năm 1992, để có thể trụ vững trên vùng đất vốn được xem là vô cùng khó khăn này, gia đình ông khá vất vả để cải tạo, khai thác và thử nghiệm nhiều loại cây trồng để tạo ra nguồn thu nhập.
Thay vì chờ đợi cây tràm đến chu kỳ khai thác hơn 10 năm, ông thực hiện phương châm lấy ngắn nuôi dài, trồng trọt, chăn nuôi để có thu nhập hằng năm lo cho cuộc sống. Năm 2014, gia đình ông khai thác 4 ha tràm, từ khoản thu nhập có được sau khi trừ chi phí, cùng với nguồn thu nhập từ con cá đồng, mật ong và một số loại cây trồng khác, ông xây dựng được căn nhà khang trang trị giá hàng trăm triệu đồng.
Ấp 14, xã Nguyễn Phích có diện tích tự nhiên 2.074 ha, với 126 hộ dân cư sinh sống. Ấp hiện có con lộ xuyên qua khu dân cư, điện lưới quốc gia được kéo về, tạo thêm động lực cho bà con hăng say lao động sản xuất, tạo ra nguồn thu nhập ổn định. Trong số 126 hộ dân thì có 110 hộ có mức sống trung bình và khá giàu.
Ông Trần Việt Hồng, Bí thư Chi bộ ấp 14, xã Nguyễn Phích, cho hay, nhờ thay đổi phương thức sản xuất, bố trí lại khu dân cư nên đời sống của người dân có sự chuyển biến rõ rệt. Trong đó, mô hình trồng rừng thâm canh đã mở ra hướng đi mới cho người dân, với mô hình này không chỉ rút ngắn thời gian khai thác tràm mà còn cho sản lượng gỗ khá cao. Nếu như trước đây chu kỳ khai thác từ 10 – 12 năm thì giờ đây rút ngắn còn khoảng 7 – 8 năm, doanh thu từ 80 – 100 triệu đồng/ha.
Cây keo lai dù còn khá mới mẻ đối với vùng đất U Minh, tuy nhiên qua một thời gian trồng thử nghiệm đã cho thấy đây là loại cây khá thích nghi bởi tốc độ sinh trưởng nhanh, chu kỳ khai thác ngắn mà doanh thu cũng khá cao so với cây tràm bản địa, chỉ sau 5 năm trồng thử nghiệm, có hộ thu nhập từ 180 – 200 triệu đồng/ha.
Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ là đơn vị đi tiên phong trong việc thí điểm áp dụng các mô hình mới, trong đó trồng cây keo lai đã mang lại hiệu quả cao cho công ty. Ông Trần Văn Hiếu, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ, cho biết, 1 ha cây keo lai chi phí bỏ ra để cải tạo, lên liếp, cây giống khoảng 40 triệu đồng, sau 5 năm chăm sóc, doanh thu cao gấp 2 lần so với cây tràm.
Từ đặc tính dễ trồng và đem lại hiệu quả kinh tế lớn, giai đoạn từ nay đến năm 2020 công ty sẽ quy hoạch trồng cây keo lai trên diện tích khoảng 5.000 ha, chủ yếu trồng tập trung ở những khu đất gò cao và theo hệ thống bờ bao trên lâm phần.
Ðể chủ động trong công tác trồng rừng, hiện nay Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp U Minh Hạ đang sản xuất tại chỗ giống tràm và keo lai. Ngoài đáp ứng đủ nhu cầu trồng rừng của đơn vị, công ty còn cung cấp ra thị trường hàng chục ngàn cây giống/năm.
Theo ước tính, tỷ lệ tăng trưởng của cây keo lai từ 30 – 40 m3/ha/năm, cây tràm từ 15 – 20 m3/ha/năm, nếu được quy hoạch hợp lý, trên cơ sở khoa học thì 2 loại cây trồng này sẽ hỗ trợ cho nhau nâng cao giá trị kinh tế cho đất rừng U Minh Hạ. (Môi Trường Và Đời Sống 16/11) đầu trang(
Theo lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, hiện nay, toàn tỉnh Khánh Hòa có 199 cơ sở chế biến gỗ, lâm sản với 82 doanh nghiệp và 117 hộ kinh doanh. Trong đó, Khánh Vĩnh 43 cơ sở, TP. Nha Trang 33, Khánh Sơn 28, Cam Lâm 25, Ninh Hòa 23, TP. Cam Ranh 15 và Vạn Ninh 13 cơ sở.
Thời gian qua, Chi cục Kiểm lâm tỉnh đã chỉ đạo các hạt kiểm lâm tăng cường kiểm tra, giám sát nguồn gốc lâm sản nguyên liệu nhập vào và sản phẩm lâm sản xuất ra của các cơ sở chế biến gỗ, lâm sản theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Qua kiểm tra, các cơ sở trên địa bàn đều chấp hành tốt quy định về trình kiểm gỗ khi nhập, xuất xưởng chế biến; lập và ghi chép vào sổ theo dõi nhập, xuất lâm sản rõ ràng, đúng quy định. (Báo Khánh Hòa 15/11) đầu trang(
Ngày 14-11, Trưởng Chi cục kiểm lâm tỉnh Cà Mau Lê Văn Hải cho biết, rừng tràm hộ dân xã Nguyễn Phích (huyện U Minh, Cà Mau) trồng lại sau khai thác nhưng tràm bị chết hàng loạt là thông tin thất thiệt.
Vài tuần trước, sau khi nhận được phản ảnh của báo chí về hiện tượng tràm trồng mới sau khác thác của hộ dân trên địa bàn xã Nguyễn Phích chết hàng loạt, bất thường, nghi giống kém chất lượng…, lãnh đạo ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Cà Mau cử ngay đoàn công tác xác minh thực tế, đã có kết quả báo cáo với UBND tỉnh.
Kết quả xác minh khẳng định: Vụ mùa 2015, hộ dân trên địa bàn xã Nguyễn Phích phải thực hiện trồng rừng 150 ha. Đến giữa tháng 10 vừa qua, đã trồng được 63% diện tích. Trong đó, tỷ lệ cây còn sống (tỷ lệ hình thành rừng) đạt từ 85% trở lên; tỷ lệ cây chết từ 10-15%. Nguyên nhân chủ yếu nắng nóng bất thường.
Đoàn công tác tìm đến tận hai hộ dân mà một số báo phản ảnh nhận tràm về trồng nhưng tràm bị chết. Với hộ ông Huỳnh Văn Huối (ấp 20, xã Nguyễn Phích), rừng tràm gia đình ông đã trồng được năm năm. Và trong năm 2015 này, ông Huối không có khai thác rừng nên không có diện tích đất trống để trồng lại rừng.
Còn hộ ông Trần Văn Tý (cùng ấp với ông Huối), có khai thác rừng hai héc ta tràm trong năm 2015, và diện tích phải trồng lại rừng sau khai thác (sau khi trừ diện tích kênh, mương) là 1,75 ha. Ông Tý có hai lần nhận cây giống, tổng cộng 400 bó tràm (tương đương 40.000 cây).
Thời điểm đoàn công tác của Sở NN&PTNT xuống xác minh, ông Tý đã trồng được 1,12 ha (tương dương 270 bó tràm giống), tỷ lệ cây sống đạt khoảng 85%. 130 bó tràm còn lại chưa trồng, ông Tý bỏ cặp bờ kênh lâu ngày, không biết cách bảo quản nên cây giống giảm chất lượng, không bảo đảm cho việc trồng rừng.
Một số báo dẫn lời ông Huối và ông Tý nhận tràm về trồng và sau khi trồng thì cây chết hàng loạt là không đúng. Riêng việc UBND xã sợ dân dùng hết tiền, giữ lại tiền cây giống của một số hộ dân sau khi khai thác rừng là có – ông Lê Văn Hải khẳng định.
Ông này cũng cho biết thêm: Trong báo cáo về Sở NN&PTNT và UBND tỉnh, có đề nghị UBND xã Nguyễn Phích ngưng ngay việc giữ lại tiền cây giống của hộ dân trồng rừng, để người dân tự chủ trong việc lựa chọn cây giống, loại hình trồng rừng; chủ động phối hợp các ngành chức năng có kế hoạch hỗ trợ về mặt kỹ thuật, nghiệp vụ để người dân trồng rừng đạt tỷ như mong muốn. (Nhân Dân 14/11) đầu trang(
Những năm gần đây, nhờ tập trung phát triển kinh tế rừng mà đời sống của người dân thôn Pác Toong, xã Yên Nhuận (Chợ Đồn) đã không ngừng được cải thiện. Từ những diện tích rừng keo, mỡ... nhiều hộ đã thoát nghèo và vươn lên làm giàu.
Đến với thôn Pác Toong của xã Yên Nhuận, đi trên con đường bê tông mới, nhìn những ngôi nhà được xây dựng khang trang, những tiếng nói cười của trẻ nhỏ đã phần nào nói lên sự no ấm trong đời sống của bà con trong thôn.
Trước đây, người dân Pác Toong chỉ biết đến cấy lúa, trồng ngô. Không mấy ai dám nghĩ cuộc sống của họ sẽ thay đổi như ngày hôm nay nhờ những cánh rừng xanh bạt ngàn. Đến giờ, với người dân địa phương, nói đến Pác Toong là nói đến thôn có phong trào trồng rừng sản xuất mạnh nhất của xã. Diện tích rừng trồng của thôn hiện là 78,6ha, lớn nhất xã. Thôn Pác Toong có 38 hộ với 154 nhân khẩu, với đa số là dân tộc Tày, vốn chỉ gắn bó với nghề nông là chính. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bà con trong thôn còn đẩy mạnh phát triển rừng sản xuất với các cây trồng chính keo, mỡ; hiện nay cơ bản nhà nào cũng có diện tích rừng trồng, hộ nhiều thì có đến vài héc ta.
Một trong những hộ đi đầu trong phong trào trồng rừng của thôn là gia đình trưởng thôn Ma Doãn Tuyết khi dành toàn bộ diện tích đất đồi của gia đình để trồng rừng kinh tế. Năm 2003, theo chương trình trồng rừng của Công ty nguyên liệu giấy Sông Cầu, gia đình ông Ma Doãn Tuyết đã mạnh dạn phá bỏ diện tích cây trồng giá trị kinh tế thấp để trồng 4,5ha keo.
Ông Ma Doãn Tuyết chia sẻ: "Lúc bấy giờ trồng rừng không phải là điều đơn giản. Bởi bà con không mấy người tin vào giá trị kinh tế của rừng, cùng với đó thì sau khi trồng phải đợi nhiều năm, có khi hơn chục năm mới cho khai thác nên người dân không mặn mà lắm với việc trồng rừng. Mà trồng được rồi, bảo vệ nó là cả một quá trình, vì người dân trong thôn lúc đấy vẫn chăn nuôi trâu, bò theo hình thức thả rông, nên ngoài những lúc có công việc ở nhà thì hầu như toàn bộ thời gian tôi đều ở trên rừng để chăm sóc và bảo vệ rừng keo”.
Không phụ công sức của gia đình ông, diện tích rừng trồng phát triển tốt. Đến đầu năm 2015, gia đình Ma Doãn Tuyết đã khai thác keo, thu về được 500 triệu đồng.
Từ trồng rừng mà mấy năm trở lại đây, diện mạo thôn Pác Toong đang "thay da đổi thịt" từng ngày. Những ngôi nhà xây, nhà sàn khang trang, sạch sẽ ngày càng xuất hiện nhiều hơn; người dân đã có điều kiện mua sắm những vật dụng đắt tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt như ti vi, tủ lạnh, xe máy… Cũng từ trồng rừng, ở thôn đã có nhiều hộ thoát nghèo và vươn lên làm giàu. Điển hình như hộ anh Trần Văn Quân, Triệu Ứng Lai, Ma Doãn Nhược… Pác Toong từ một thôn khó khăn của xã, đã vươn lên trở thành thôn có kinh tế phát triển khá. Đến năm 2015, trong tổng số 38 hộ thì chỉ còn 01 hộ nghèo.
Được trưởng thôn dẫn đến thăm cơ sở chế biến gỗ bóc của gia đình anh Ma Doãn Song, chúng tôi không khỏi cảm phục ý chí thoát nghèo vươn lên làm giàu của anh. Trước đây cuộc sống gia đình anh Ma Doãn Song thuộc diện khó khăn của thôn, làm quanh năm nhưng vẫn không đủ ăn. Không cam chịu cảnh nghèo khó, anh đã tích cực học tập các mô hình phát triển kinh tế trong xã, huyện và tham gia các lớp tập huấn do ngành chức năng của huyện tổ chức kết hợp với tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng để nắm bắt kiến thức, kinh nghiệm trồng cây lâm nghiệp.
Năm 2006 gia đình anh chỉ trồng 1ha mỡ, do không có vốn, song với ý trí quyết tâm thoát nghèo vươn lên làm giàu, anh đã mạnh dạn vay vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội để mở rộng diện tích rừng trồng. Đến nay gia đình anh đã có 7ha rừng trồng keo, mỡ. Năm 2012, anh Ma Doãn Song mở xưởng gỗ bóc, xưởng hoạt động tốt và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Không chỉ vượt khó, làm kinh tế giỏi, anh Ma Doãn Song còn tích cực giúp đỡ bà con trong thôn. Giờ đây xưởng gỗ bóc của anh còn tạo việc làm, thu nhập cho 16 lao động thời vụ ở trong thôn, với thu nhập bình quân từ 2,5 đến 3 triệu đồng/người/tháng.
Anh Ma Doãn Song chia sẻ: "Trước kia cứ nghĩ đơn giản là trồng rừng phải hơn chục năm mới được khai thác thì lấy gì mà ăn. Nhưng khi được cán bộ trong thôn, chính quyền xã tuyên truyền về lợi ích, phương pháp trồng xen cây ngắn ngày tôi mới mạnh dạn trồng rừng. Nếu trước đây không trồng rừng thì không biết liệu cuộc sống gia đình của tôi bây giờ sẽ ra sao. Giờ đây, sau khi trừ tất cả chi phí, gia đình có thu nhập từ 100 – 150 triệu đồng mỗi năm”.
Anh Ma Doãn Song dự định thời gian tới sẽ mở rộng quy mô xưởng sản xuất của gia đình, không chỉ sản xuất gỗ bóc mà sẽ đầu tư thêm máy móc, học hỏi thêm kỹ thuật để có thể làm được cả ván ép, vừa là để tăng thêm thu nhập cho gia đình, đồng thời tạo việc làm cho lao động địa phương.
Đồng chí Lý Văn Mười- Chủ tịch xã Yên Nhuận cho biết: “Để phát triển trồng rừng kinh tế có hiệu quả như thôn Pác Toong đến các thôn còn lại, nhằm cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho người dân, chính quyền xã đã kết hợp với lãnh đạo thôn đẩy mạnh công tác tuyên truyền, để các hộ tự giác tiến hành chăm sóc và bảo vệ diện tích rừng hiện có. Đồng thời, hướng dẫn bà con tích cực trồng thay thế những diện tích rừng sau khi được khai thác để duy trì và phát triển tài nguyên rừng. Vận động nhân dân tận dụng đất đai để trồng rừng kinh tế có hiệu quả, nhằm tăng tỷ lệ che phủ rừng, chống xói mòn, sụt lở đất. Bên cạnh đó, xã sẽ phối hợp mở các lớp tập huấn về kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng để thúc đẩy kinh tế rừng phát triển”.
Trồng rừng đã trở thành hướng phát triển kinh tế bền vững của người dân Pác Toong, không những cải thiện điều kiện kinh tế của các hộ dân trong thôn, mà còn góp phần tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Với những kết quả mà trồng rừng kinh tế mang lại, có thể thấy rằng, bà con thôn Pác Toong đã tìm được hướng làm giàu ngay trên mảnh đất quê hương mình… (Báo Bắc Kạn 13/11) đầu trang(
Tổng cục Hải quan vừa có văn bản yêu cầu Cục Hải quan một số tỉnh: An Giang, Kiên Giang, Bình Phước, Long An, Đồng Tháp, Gia Lai-Kon Tum, Tây Ninh kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu gỗ Trắc khai báo có nguồn gốc từ Lào quá cảnh qua Campuchia vào Việt Nam.
Theo đó, khi làm thủ tục nhập khẩu cho các lô hàng gỗ Trắc khai báo có nguồn gốc từ Lào quá cảnh qua Campuchia nhập khẩu vào Việt Nam, các doanh nghiệp sẽ phải xuất trình bộ hồ sơ hải quan nhập khẩu theo đúng quy định hiện hành tại Luật Hải quan năm 2014 và các văn bản hướng dẫn Luật.
Bao gồm Giấy phép CITES nhập khẩu do cơ quan CITES Việt Nam cấp và Giấy chứng nhận xuất xứ do cơ quan có thẩm quyền của Lào cấp.
Ngoài ra, đối với các lô hàng khai báo là gỗ Trắc quá cảnh qua Campuchia vào Việt Nam, Tổng cục Hải quan đề nghị doanh nghiệp xuất trình thêm bản sao văn bản đề nghị xin quá cảnh của Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam gửi Bộ trưởng Bộ Thương mại Campuchia theo Hiệp định quá cảnh giữa hai Chính phủ Campuchia và Việt Nam.
Một điểm mà doanh nghiệp và cơ quan Hải quan cần lưu ý thêm là hàng quá cảnh phải vận chuyển đúng tuyến đường và cặp cửa khẩu quốc tế đã thỏa thuận.
Đây là biện pháp nhằm tránh tình trạng lợi dụng buôn lậu gỗ Trắc từ Campuchia vào Việt Nam; đồng thời đảm bảo công tác quản lý hải quan đối với hoạt động nhập khẩu gỗ Trắc khai báo có nguồn gốc từ Lào quá cảnh qua Campuchia vào Việt Nam.
Được biết, từ ngày 1/1/2015, Cơ quan quản lý CITES Việt Nam tạm dừng cấp giấy phép CITES nhập khẩu gỗ Trắc đối với các hồ sơ đề nghị nhập khẩu gỗ có có nguồn gốc từ Campuchia và Thái Lan. Chỉ xem xét cấp Giấy phép CITES nhập khẩu gỗ Trắc từ Lào khi có xác nhận về hồ sơ hợp pháp của Cơ quan quản lý CITES Lào. Chính phủ Campuchia cũng đã cấm hoàn toàn việc khai thác, buôn bán, sử dụng, tàng trữ vận chuyển, xuất khẩu mẫu vật gỗ Trắc. (Chính Phủ 13/11) đầu trang(
Với hơn 3.000 chủng loại, được XK tới gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, các mặt hàng lâm sản ngoài gỗ (LSNG) ngày càng có tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, cũng giống như mặt hàng gỗ, XK LSNG tiếp tục rơi vào điểm yếu -phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc.
Ông Cao Chí Công, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT) cho biết: Những thông tin từ Bộ Công Thương, Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam và kết quả điều tra các cửa khẩu ở các tỉnh phía Bắc cho thấy, Việt Nam có không dưới 3.000 chủng loại mặt hàng LSNG XK, trong số đó mặt hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan là phong phú nhất (khoảng 2.000 chủng loại).
Theo ông Trương Tất Đơ, chuyên viên Vụ Khoa học và Hợp tác quốc tế, Tổng cục Lâm nghiệp, trước năm 1986, các sản phẩm LSNG chính đặc biệt có giá trị cao trong XK như quế, hồi, thảo quả, sa nhân,... tổng sản lượng XK hàng năm chỉ đạt 1.000-2.000 tấn với giá trị XK không cao. Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thị trường XK các sản phẩm LSNG được mở rộng đã có tác động lớn đến phát triển các sản phẩm LSNG cả về số lượng và chất lượng.
Việc mở rộng trao đổi, buôn bán lưu thông hàng hóa các sản phẩm LSNG chính trên thị trường quốc tế, nhất là đối với Trung Quốc đã làm phong phú thêm chủng loại các sản phẩm LSNG. Có nhiều sản phẩm LSNG chính trước đây chưa từng được khai thác và buôn bán như lá quế, lá hồi, hoa thảo quả,... cũng được khai thác bán.
Theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu LSNG: Sản lượng các sản phẩm LSNG chính ở nước ta XK tăng dần từ năm 2004 đến nay. Giá trị XK của các sản phẩm LSNG chính của Việt Nam liên tục tăng trong hơn 7 năm qua. Năm 2010, giá trị XK các sản phẩm LSNG chính của Việt Nam đã đạt trên 200 triệu USD. Hiện nay, Việt Nam XK LSNG tới gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (thị trường Nhật Bản, Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, thị trường Mỹ mới có từ năm 2001 và một số thị trường khác…).
Ông Trương Tất Đơ cho biết: Các sản phẩm LSNG chính của Việt Nam được biết đến với thương hiệu như một sản vật quí từ Việt Nam. Tuy nhiên, giá bán các sản phẩm này chưa cao. Phần lớn các sản phẩm LSNG chính XK của Việt Nam có chất lượng trung bình hoặc thấp do khâu chế biến còn nhiều hạn chế, không có nhãn mác chỉ rõ xuất xứ hay thương hiệu.
Trong khi đó, những yêu cầu chất lượng của các nước NK như Nhật, Mỹ hay Tây Âu đối với các sản phẩm LSNG chính khá khắt khe, ví dụ như phải có độ thuần khiết cao (cần làm sạch tốt), không có aflatoxin (làm khô tốt, không mốc), không có vi sinh vật gây bệnh (cần thanh trùng sản phẩm), không có dioxin (không phun thuốc trừ cỏ khi trồng)…
Hiện nay, xu thế nhu cầu sử dụng các sản phẩm LSNG trong ăn uống sinh hoạt, chữa bệnh của mọi người trên thế giới đang gia tăng cao. Số người tiêu dùng quan tâm đến sử dụng các loại tinh dầu tự nhiên, có tính an toàn sinh học cao ngày một mở rộng không chỉ có ở các nước truyền thống mà cả các nước mới sử dụng. Đặc biệt trong tinh dầu một số sản phẩm LSNG chính như hồi, quế, thảo quả, sa nhân,... có một số thành phần là một số thuốc biệt dược, có thể làm thuốc. Điều này càng mở ra cơ hội lớn cho thúc đẩy XK LSNG của Việt Nam.
Thời gian qua, kim ngạch và thị trường XK các sản phẩm LSNG của Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh. Tuy nhiên, điểm yếu nổi bật là XK các sản phẩm LSNG còn phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Thực tế, khoảng trên 80% số lượng các sản phẩm LSNG ở Việt Nam đều XK sang Trung Quốc. Trong khi đó, chính sách NK của Trung Quốc liên tục thay đổi. Chỉ một ách tắc nhỏ thường kéo theo biến động lớn trong thị trường nội địa của sản phẩm.
Ông Trương Tất Đơ phân tích: Hệ thống lưu thông phân phối các sản phẩm LSNG của Việt Nam tổ chức chưa chặt chẽ. Có quá nhiều các tổ chức, cá nhân, thành phần kinh tế tham gia vào chuỗi thị trường. Đặc điểm của các đối tượng này thường mới thành lập theo xu hướng của thị trường, phát triển trong giai đoạn ngắn, vốn kinh doanh ít, kinh nghiệm buôn bán còn hạn chế.
Trong khi đó sản lượng sản phẩm LSNG manh mún, không ổn định, chất lượng xô bồ. Người buôn bán không có đủ thông tin thị trường trong và ngoài nước. Họ thường đổ xô đi mua khi có đơn đặt hàng nên thường xuyên bị ép giá khi lượng hàng cung cấp tăng lên.
“Thực tế trong những năm qua cho thấy các sản phẩm LSNG được vận chuyển lên các cửa khẩu biên giới để chờ khách hàng từ Trung Quốc sang mua, NK về Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch với số lượng quá lớn. Khách hàng Trung Quốc hạ giá mua đến mức thấp nhất, chủ hàng vẫn phải bán, chịu lỗ vì không thể giữ hàng lâu do vốn ít, phải quay vòng và trả lưu kho, trả lãi, nợ”, ông Trương Tất Đơ nhấn mạnh.
Theo một số chuyên gia, điểm yếu không thể không kể đến còn là chính sách khuyến khích và phát triển các sản phẩm LSNG ở nước ta còn thiếu và không đồng bộ. Vì vậy, ở một số vùng, các sản phẩm LSNG có sản lượng manh mún, không ổn định, không đủ hình thành thị trường. Trong khi đó, người sản xuất do thiếu vốn, kiến thức về thị trường nên đã không chủ động mà chỉ chờ có người đến thu gom mới thu hái hoặc gây trồng. Bản thân người buôn bán cũng không chủ động tìm khách hàng mà chờ có khách Trung Quốc sang đặt hàng mới thu gom.
Ông Cao Chí Công đánh giá, đẩy mạnh bảo tồn và phát triển LSNG góp phần đáng kể trong việc phát triển kinh tế lâm nghiệp nói chung, nâng cao đời sống cho người dân miền núi nói riêng. Và để làm tốt hơn công tác này, thời gian tới Tổng cục Lâm nghiệp dự kiến đề nghị Bộ NN&PTNT ưu tiên vốn sự nghiệp kinh tế cho điều tra cơ bản và quy hoạch tài nguyên LSNG để làm cơ sở theo dõi, quản lý và gây trồng, phát triển LSNG.
Đồng thời, Tổng cục Lâm nghiệp cũng đề nghị Bộ NN&PTNT đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép xây dựng và ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển LSNG như đã hỗ trợ trồng rừng sản xuất; quan tâm đầu tư các nguồn lực tương xứng với tiềm năng LSNG để góp phần phát triển và làm tăng giá trị hàng hóa, XK LSNG trong giai đoạn tới...
Mỗi sản phẩm LSNG có bạn hàng chính khác nhau. Bạn hàng chính của quế Việt Nam là Ấn Độ chiếm gần 1/2 khối lượng quế XK, tiếp đó là Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc. Nhật Bản và Mỹ mua Quế Việt Nam ở mức thứ ba.
Bạn hàng chính của hồi, sa nhân và thảo quả Việt Nam là Trung Quốc, chiếm gần 2/3 khối lượng hồi, sa nhân và thảo quả XK. Bạn hàng tiếp theo của Việt Nam là Ấn Độ, hàng năm thường chiếm trên 50% khối lượng hồi, sa nhân và thảo quả XK ngoài Trung Quốc của Việt Nam.
Tiếp đó là một số nước kinh doanh và sử dụng gia vị của Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia. Các nước Mỹ La tinh (Ecuador, Brazil, Venezuela) cũng là bạn hàng đáng kể NK hồi, sa nhân và thảo quả từ Việt Nam và lượng hồi, sa nhân và thảo quả họ nhập có xu hướng tăng (bạn hàng mới). Châu Âu và các nước Đông Á chỉ chiếm 4-8% lượng hồi, sa nhân và thảo quả xuất từ Việt Nam.
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ chủ yếu được XK sang các nước châu Âu. (Hải Quan 15/11) đầu trang(
UBND tỉnh đã chính thức có văn bản đồng ý chủ trương cho phép Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn (xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh) đầu tư trồng và quản lý bảo vệ, khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ và trồng cây dược liệu.
Theo đó, Công ty sẽ quản lý, khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ (mật ong, sa nhân, ươi, trám, xoay, mây, măng, lan đất, hoàng đằng, mật nhân) trên diện tích 10.000 ha do Công ty quản lý.
Đối với mô hình trồng cây dược liệu trên 50 ha có các loại cây: giảo cổ lam, đinh lăng, cứt chuột, hoàng đằng, sa nhân tím; trong đó mô hình điểm do Công ty thực hiện trên 10 ha, phần còn lại Công ty làm đầu mối tiếp nhận các nguồn đầu tư, hỗ trợ các hộ dân triển khai.
Trước đó, trong đề tài nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp phát triển lâm sản ngoài gỗ tại các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng cao tỉnh Bình Định”, do Chi cục Lâm nghiệp (Sở NN&PTNT) triển khai, Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Côn đã thực hiện mô hình trồng thâm canh cây giảo cổ lam tại vườn thực nghiệm của Công ty. Kết quả đánh giá vào cuối năm 2014 cho thấy, cây sinh trưởng tốt, tỉ lệ sống đạt 95-96%. Hiện nay, nhiều hộ dân ở Vĩnh Sơn cũng đã trồng giảo cổ lam. (Báo Bình Định 14/11) đầu trang(
Mặc dù chưa có biểu thuế suất cho nhóm hàng gỗ và sản phẩm gỗ vào thị trường các nước tham gia TPP, nhưng đây là thị trường lớn của các DN gỗ Bình Dương trong nhiều năm qua. Vì vậy, một trong những động thái tích cực mà các DN gỗ Bình Dương đang chuẩn bị là chủ động nguồn nguyên liệu để giữ vững và phát triển thị trường.
Ông Lưu Phước Lộc, Giám đốc Công ty Gỗ Mtrade (TX Thuận An) cho biết, sân chơi TPP đòi hỏi các DN phải nghiên cứu kỹ hàng rào kỹ thuật, nguồn gốc xuất xứ nguồn nguyên liệu, bởi các thị trường lớn như Mỹ và các nước châu Âu rất khắt khe đối với vấn đề này.
Bên cạnh đó, chính sách trợ giá, hỗ trợ chi phí điện, nước, sản xuất không còn được các Chính phủ can thiệp. DN cần tự lực cánh sinh, nỗ lực hòa nhập vào dòng chảy chung của TPP. Trong đó, tính ổn định của nguồn nguyên liệu cực kỳ quan trọng.
Hẳn nhiên, không phải chờ đến khi đứng trước cửa TPP, vấn đề nguyên liệu mới được chú trọng mà thực tế ghi nhận, điều lớn nhất gây trở ngại đối với sự phát triển bền vững ngành gỗ của Bình Dương lâu nay vẫn là nguồn nguyên liệu. Vì vậy, nhiều DN Bình Dương những năm qua đã chủ động đầu tư trồng vùng nguyên liệu ở các tỉnh Tây nguyên và miền Trung để hạn chế nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với một số sản phẩm gỗ yêu cầu nhập khẩu gỗ thông, gỗ teak… các DN vẫn phải nhập khẩu từ các đối tác trong TPP.
Theo Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương, nhiều DN gỗ của Bình Dương cũng đã tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu tại các tỉnh miền Trung bằng hình thức liên kết với các hộ có diện tích trồng rừng nhỏ, hoặc đầu tư trồng nguyên liệu để chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp khi tham gia thị trường xuất khẩu. Sắp tới, ngày 2/12/2015, Thông tư 40 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có hiệu lực, cây cao su tại tỉnh Bình Dương sẽ có thêm cơ hội “góp sức” cho nguồn nguyên liệu phục vụ nhu cầu sản xuất tại chỗ của các DN.
Đại diện Cty CP chế biến gỗ Thuận An cho biết, hiện tại, rào cản đối với xuất khẩu đồ gỗ là những chứng chỉ phát triển rừng bền vững (như chứng chỉ FSC) cũng đã được hóa giải phần nhiều bởi theo thông tin từ Tổ chức chứng chỉ rừng (PEFC), PEFC đang nỗ lực giúp các hộ dân có diện tích trồng rừng nhỏ để họ vẫn có thể tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu. Đây là nguồn cung khá quan trọng nhưng về lâu dài, các DN có tiềm lực nên mạnh dạn để đầu tư hoặc liên kết trồng những cánh rừng lớn, tạo nguồn nguyên liệu cho DN mình cũng như thị trường trong những giai đoạn tiếp theo.
Hiệp hội Chế biến gỗ tỉnh Bình Dương cho biết, mức tăng trưởng của ngành đạt khoảng 10% so với năm 2014 và khả năng kim ngạch xuất khẩu gỗ đạt 7 tỷ USD trong năm nay là thông tin đáng mừng bởi một vài năm nay ngành gỗ gặp nhiều khó khăn khiến tăng trưởng ngày một giảm sút. Trong tầm ngắm 2016 và các năm tiếp theo, con số này được kỳ vọng sẽ tăng hơn nữa bởi các đơn hàng lớn, giá trị xuất khẩu cao đang tập trung tại tỉnh Bình Dương.
Vì vậy, không chỉ cần chủ động về nguyên liệu, các sản phẩm phụ trợ ngành gỗ như sơn, dầu, thuốc chống ẩm mốc, đinh vít… (chiếm từ 20 – 25% chi phí sản xuất) vốn chưa phát triển mạnh để đáp ứng đủ nhu cầu thực tế cũng cần được chú trọng đầu tư để tăng nội lực cho các DN.
Được biết, để tạo tối đa ưu thế cho các DN chế biến gỗ tại VN, Bộ Công thương đã khuyến khích các tỉnh, thành tạo ra sàn giao dịch gỗ giúp các DN chủ động nguồn nguyên liệu cũng như giảm giá thành sản xuất. Riêng tại Bình Dương, UBND tỉnh đã chấp nhận chủ trương thành lập khu công nghiệp chuyên sản xuất, chế biến gỗ tại Cụm công nghiệp Tân Lập (huyện Bắc Tân Uyên) để hỗ trợ cho các DN trong tỉnh trước làn sóng đầu tư ồ ạt vào ngành gỗ tại Bình Dương. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 15/11) đầu trang(
Sáng 13/11, tại xã Nam Cường (Chợ Đồn) có cuộc họp về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cụm các xã thuộc vùng lõi, vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể; Khu Bảo tồn loài & sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc (Chợ Đồn). Đồng chí Nông Văn Chí– Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh chủ trì cuộc họp.
Theo báo cáo của Sở Nông ngiệp và Phát triển nông thôn về thực hiện Dự án bảo vệ, phát triển rừng giai đoạn 2011 - 2015 tại Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn loài & sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc, từ năm 2013 đến nay, Ban Quản lý dự án đã phối hợp với UBND các xã hướng dẫn, chỉ đạo người dân trong vùng tổ chức trồng rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất và phân tán được nghiệm thu là hơn 1.510ha.
Về tình hình thực hiện Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020 tại Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn loài & sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc như sau:
Trong quy hoạch và dự án đầu tư phát triển rừng đặc dụng, ngành chức năng đã thực hiện quy hoạch các phân khu chức năng; quy hoạch vùng đệm; quy hoạch bảo vệ, bảo tồn và phát triển rừng; thực hiện hỗ trợ 40 triệu đồng cho 07 thôn, bản thuộc vùng đệm trong Khu Bảo tồn loài & sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc; Vườn Quốc gia Ba Bể phối hợp với chính quyền các xã đồng phê duyệt kế hoạch và dự toán xây dựng 22 công trình nhà họp thôn, 17 công trình đường, cầu, cống nằm trong khu vực, đến nay đã giải ngân được 70% kinh phí thực hiện, nghiệm thu hoàn thành 10 nhà họp thôn để đưa sử dụng…
Về các hoạt động hỗ trợ bảo vệ rừng, từ năm 2014 đến nay đã thực hiện giao khoán cho các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng bảo vệ rừng và tổ chức các hoạt động tuần tra, truy quét, với tổng nguồn kinh phí được phân bổ là hơn 4,8 tỷ đồng. Tính riêng trong năm 2015, các lực lượng chức năng đã thực hiện hàng nghìn lượt kiểm tra, truy quét, qua đó đã phát hiện, ngăn chặn, xử lý 105 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, tịch thu hơn 43m3 gỗ các loại và 37 xe máy, 15 cưa xăng, 01 súng săn cùng nhiều phương tiện, tang vật vi phạm khác; thu nộp ngân sách Nhà nước hơn 216 triệu đồng.
Về nhiệm vụ trọng tâm 2 tháng cuối năm và trong mùa khô 2015 - 2016, ngành tiếp tục tăng cường chỉ đạo các đơn vị chức năng đẩy mạnh thực hiện công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng theo Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; tăng cường kiểm tra, truy quét các hoạt động khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép trên địa bàn tại các địa bàn hai huyện Chợ Đồn và Ba Bể.
Tích cực phối hợp với các địa phương trong triển khai công tác trồng rừng năm 2016. Đồng thời, đề nghị cấp ủy, chính quyền, các lực lượng Công an, Quân đội của hai huyện cần quyết liệt hơn nữa trong việc phối hợp thực hiện công tác quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng trên địa bàn...
Tại Hội nghị, đại diện chính quyền địa phương nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Ba Bể và Khu Bảo tồn loài & sinh vật cảnh Nam Xuân Lạc, các đơn vị chức năng đã nêu nhiều ý kiến về những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Hầu hết các ý kiến đều đề cập đến khó khăn trong việc quản lý cưa xăng tập trung theo Quyết định 1718/2012/QĐ-UBND ngày 19/10/2012 của UBND tỉnh vì không có quy định nào bắt buộc người dân phải đưa cưa xăng đến cơ quan Kiểm lâm để quản lý tập trung, dẫn đến việc thực hiện quản lý cưa xăng chưa đạt hiệu quả cao.
Kết luận Hội nghị, đồng chí Nông Văn Chí– Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh ghi nhận những kết quả đã đạt được trong công tác quản lý, bảo vệ rừng của hai huyện Chợ Đồn và Ba Bể trong thời gian qua. Đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh đã chỉ đạo một số nhiệm vụ cụ thể, như: Trong công tác phát triển rừng, cần phải đánh giá cụ thể trồng rừng phòng hộ và trồng rừng sản xuất để triển khai thực hiện có hiệu quả, bên cạnh đó, khuyến khích nhân dân trồng rừng phân tán.
Đối với công tác giao khoán rừng, ngành chức năng cùng các địa phương phải có những cam kết cụ thể, để gắn trách nhiệm giữa người bảo vệ với cơ quan quản lý. Về cơ chế thanh toán và lồng ghép, Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh trong việc sử dụng nguồn hỗ trợ phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Công an các huyện cần tích cực tham mưu cho chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân giao nộp súng săn; xử lý nghiêm các trường hợp cố tình chế tạo, sử dụng súng săn trái phép. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 02/7/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; nâng cao trách nhiệm công vụ, xác định rõ trách nhiệm của những người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ được giao… (Báo Bắc Kạn 13/11) đầu trang(
Bên cạnh nhiều công trình thuỷ điện không trồng rừng theo phương án đã được duyệt, phải điều chỉnh phương án mới nên chậm tiến độ còn có tình trạng không thực hiện trồng rừng thay thế (TRTT) như đã cam kết, hoặc trồng ì ạch, trồng qua loa chiếu lệ.
Thế nhưng Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) Quảng Nam chưa có chế tài xử lý.
Theo báo cáo của Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Quảng Nam, năm 2014, tổng diện tích chủ đầu tư thủy điện TRTT chỉ đạt hơn 50% (837 ha rừng, trong đó các công trình thuỷ điện trồng 783 ha). Dự kiến năm 2015, ước luỹ kế các công trình thuỷ điện sẽ trồng 1.460 ha rừng thay thế; trong đó Thủy điện Sông Bung trồng 444 ha, Sông Tranh 259 ha, Sông Côn 70 ha…; và cũng chỉ đạt hơn 88% kế hoạch cả năm.
Sau khi kiểm tra thực tế hiện trạng rừng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Trí Thanh đưa ra một số giải pháp cụ thể, như: Đối với diện tích TRTT rừng chuyển mục đích sử dụng xây dựng công trình thủy điện Sông Bung 4, UBND tỉnh đồng ý bổ sung hoạt động chăm sóc rừng trồng năm 2 và năm 3 của 141,5 ha rừng phòng hộ thuộc dự án TRTT diện tích rừng chuyển mục đích phục vụ dự án từ 2 lần/năm, lên 3 lần/năm.
UBND huyện Nam Giang làm việc với Ban Quản lý Dự án Thủy điện Sông Bung 4 (nay là Cty Thủy điện Sông Bung) để có văn bản thống nhất chuyển 5% kinh phí dự phòng lạm phát theo Quyết định số 517/QĐ-SNN&PTNT ngày 19/7/2012 của Sở NN&PTNT, sang dự phòng khối lượng điều chỉnh để triển khai thực hiện.
Đồng thời, gấp rút từ nay đến cuối năm phải đảm bảo diện tích TRTT, nếu chủ đầu tư còn dây dưa không thực hiện thì tỉnh sẽ trích quỹ ký cược để trồng lại rừng đã bị mất. Còn nếu huyện nào không còn đất TRTT thì chuyển cho địa phương khác trong tỉnh trồng thay…
Theo đề xuất của Ban Quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh (KBTTNST) về tăng số lần chăm sóc 65 ha TRTT rừng đặc dụng, do chuyển mục đích sử dụng sang xây dựng thuỷ điện Sông Bung 4 từ 2 lần/năm, lên 3 lần/năm ở năm thứ nhất và năm thứ hai.
Nhằm giảm khả năng chèn ép của thực bì và tạo điều kiện để cây rừng trồng sinh trưởng và phát triển Cty Thủy điện Sông Bung phải chuyển toàn bộ kinh phí trồng rừng và chăm sóc rừng còn lại về Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh để quản lý và phân bổ cho các đơn vị trồng rừng theo quy định, nhất là tập trung trồng rừng ngay trong những ngày đầu mùa mưa này.
UBND tỉnh Quảng Nam cũng xác định, do diện tích đất KBTTNST rộng hơn 75.000 ha, nằm trải dài trên 12 xã thuộc 2 huyện Nam Giang, Phước Sơn, vì vậy tình trạng lén lút phá rừng lấy gỗ, làm vàng trái phép liên tục diễn ra, nên cho Ban Quản lý Khu Bảo tồn hợp đồng bảo vệ rừng từ nguồn kinh phí tự chủ do tiết kiệm của đơn vị, để tăng thêm lao động bảo vệ rừng, mua sắm phương tiện hoạt động cần thiết… (Thanh Tra 13/11) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Con trăn khổng lồ bị tóm gọn khi đang nghỉ ngơi, tiêu hóa nốt chỗ thịt vịt mà nó săn trộm được.
Mới đây, người dân một ngôi làng ở Đông Hưng, Quảng Tây, Trung Quốc vô cùng hoảng hốt khi phát hiện một con trăn khổng lồ đang thản nhiên nằm nghỉ ngơi cạnh con đường nhiều người qua lại để tiêu hóa bữa ăn của mình.
Vì tiêu hóa dở dang nên người con trăn vẫn đang phình to, thoạt nhìn rất đáng sợ.
Sau khi phát hiện con trăn khổng lồ, ngay lập tức người dân gọi điện cho sở cứu hỏa địa phương để khống chế con trăn, lo ngại nếu chậm trễ, con trăn sẽ trườn đi, rất khó nắm bắt tung tích.
Cũng vì sợ con trăn khổng lồ đe dọa tới tính mạng của gia súc, gia cầm, thậm chí là trẻ nhỏ, sở cứu hỏa địa phương cấp tốc tới hiện trường, nhanh chóng sử dụng những kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ để khống chế "quái" trăn.
Khi bị đội cứu hỏa bắt được, con trăn vẫn chưa tiêu hóa hết con mồi mà mình vừa săn được.
Sau khi bị bắt, người ta đã tiến hành đo đạc, con trăn khổng lồ dài 2,2m, nặng hơn 15kg, là một con trăn mới lớn, có lẽ chưa có nhiều kinh nghiệm săn mồi nên mới thản nhiên nằm ở nơi nhiều người có thể nhìn thấy.
Người dân nghi ngờ con trăn đã giết và săn trộm vịt ở một trại vịt gần đó và chuồn đi nghỉ ngơi tiêu hóa thì bị bắt.
Sau khi bị bắt, con trăn sẽ được sao cho sở lâm nghiệp địa phương và phóng thích trong một khu rừng xa dân cư. (Kiến Thức 13/11) đầu trang(
Khu rừng được gọi tên là Crooked Forest (khu rừng uốn cong), tọa lạc gần thành phố Gryfino ở phía Tây Ba Lan.
Nhiếp ảnh gia người Đức Kilian Schonberger mới đây đã thực hiện một bộ ảnh ấn tượng về một trong những khu rừng kỳ lạ nhất trên thế giới. Nằm gần thành phố Gryfino thuộc phía Tây Ba Lan, khu rừng thu hút sự chú ý với những cây thông bị uốn cong ở phần gốc, do dó, khu rừng còn được đặt tên là Crooked Forest (khu rừng uốn cong).
Theo Kilian Schonberger, những cây thông uốn cong trong rừng được trồng vào khoảng những năm 1930. Nhiều người tin rằng những cây thông này được trồng bởi một dụng cụ hoặc kỹ thuật đặc biệt, tuy nhiên, phương pháp chính xác và mục đích trồng những cây uốn cong đặc biệt như vậy hiện nay vẫn chưa được xác định.
Một số người khác cho rằng những cây thông này được trồng nhằm phục vụ cho việc chế tạo các vật dụng bằng gỗ có độ cong tự nhiên như đồ nội thất hay tàu, thuyền. Một số người khác cho rằng những cây thông sở hữu kiểu dáng cong như vậy là do tác động của các điều kiện tự nhiên đặc biệt như bão lớn hoặc lũ lụt. (Đài Truyền Hình Việt Nam 13/11) đầu trang(./.
Biên tập: Hương Giang
|
|||