|
Ngày 17 tháng 10 năm 2014
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Hàng trăm phách gỗ quý (gỗ kiền kiền) được cất giấu tại nhiều địa điểm khác nhau trong rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa (giáp ranh giữa Quảng Nam và Đà Nẵng), chờ cơ hội theo con nước về xuôi khi mùa lũ đã cận kề.
Chiều 16/10, Hạt kiểm lâm Đông Giang (Quảng Nam) và Hạt kiểm lâm Bà Nà – Núi Chúa (Đà Nẵng) vẫn đang tiếp tục di chuyển hàng trăm phách gỗ từ 9 địa điểm trong rừng đặc dụng ra các điểm tập kết bên ngoài.
Tại xã Tư (huyện Đông Giang), sau khi được vận chuyển bằng xe tải ra khỏi rừng, gần 10 m3 gỗ quý được đưa về cổng UBND xã để cơ quan chức năng đo đạc, kiểm đếm số lượng gỗ cụ thể. Do số liệu đo đạc từ trong rừng chưa chính xác nên khối lượng gỗ đưa về đây có thể lên đến gần 11m3. Toàn bộ được cưa xẻ vuông vức.
Ngoài lực lượng kiểm lâm, cơ quan công an huyện Đông Giang cũng có mặt để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm phục vụ công tác điều tra, sau khi lực lượng kiểm lâm khởi tố vụ án.
Ông Đặng Phương Trung, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Bà Nà – Núi Chúa cho biết: “Chúng tôi cũng đang di chuyển hơn 10 m3 gỗ kiền kiền từ bốn địa điểm thuộc lâm phận Đà Nẵng về trụ sở của hạt để điều tra, tìm hiểu nguồn gốc gỗ. Đến trưa ngày 17/10, công việc sẽ hoàn tất”.
Theo tìm hiểu, toàn bộ số gỗ nói trên được tập kết tại những địa điểm gần khu vực khe, suối. Một cán bộ Trạm kiểm lâm Dốc Kiền (Hạt kiểm lâm Đông Giang) nhận định, chủ số gỗ này đang chờ mùa nước lũ về để kết bè, vận chuyển “hàng” về xuôi.
“Đây là thủ đoạn mà các đối tượng lâm tặc thường sử dụng để vận chuyển gỗ qua những địa hình phức tạp, nhiều đồi núi. Để đưa được số gỗ này ra các điểm tập kết nói trên, họ phải mất hàng tháng trời. Việc vận chuyển gỗ bằng đường bộ về xuôi hầu như là không thể nên phải nhờ đến nước lũ”.
Anh Nguyễn Xuân T. (một người dân thôn Láy, xã Tư), từng hơn mười năm “hành nghề” khai thác gỗ ở vùng rừng giáp ranh Quảng Nam – Đà Nẵng cho biết, sau khi đốn hạ, gỗ được cắt xẻ thành từng phiến để dễ dàng di chuyển.
“Khi vận chuyển qua những đoạn đồi, núi cao, chúng tôi phải dùng tời để tời từng phiến gỗ. Sau đó, tập kết chúng tại nhiều địa điểm ở đầu nguồn con suối, chờ nước lũ lên. Vào mùa lũ, gỗ được kết thành từng bè lớn. Xung quanh bè được bố trí nhiều xăm (ruột) ô tô bơm căng để có thể lướt êm trên mặt nước”.
Anh T. giải thích thêm, dân làm gỗ có thể bơi theo bè hoặc đứng trên bè dùng sào để đưa gỗ về xuôi. Gỗ từ rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa có thể di chuyển theo hướng sông Nam – sông Bắc để về tập kết tại một số địa điểm ở xã Hòa Bắc (huyện Hòa Vang, Đà Nẵng).
“Gác kiếm” gần bốn năm nay nhưng ông Huỳnh Xuân L. (thôn Láy) vẫn thuộc nằm lòng các chiêu bài để đưa gỗ lậu “né trạm” hoặc xuôi theo nước lũ về đồng bằng. “Ngoài việc vận chuyển gỗ ra các đường cái để về xuôi thì cách an toàn nhất là chờ nước lũ lên rồi kết bè đưa gỗ đi. Dân đi rừng có quy luật riêng là mùa nắng đi đốn gỗ, mùa lũ đi chở gỗ. Đi bè gỗ mùa lũ cũng rất nguy hiểm nhưng không bị bắt, dễ qua mặt các trạm” ông nói.
Cũng theo ông L., mấy năm về trước, gỗ kiền kiền chỉ thuộc hạng “bình thường”. Nhưng từ ngày rừng “khan hiếm”, nó trở thành gỗ quý trong mắt mấy đầu nậu, chuyên thu mua gỗ. “Ở rừng Đông Giang không còn các loại gỗ kiền kiền to như vậy đâu, bị chặt hạ hết rồi. Gỗ này là từ rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa ra” ông L. nhận định. (Khám Phá 16/10) đầu trang(
Việc Tổ liên ngành của huyện Đông Giang và Kiểm lâm Đà Nẵng phát hiện vụ cất giấu hàng trăm phách gỗ kiền kiền với số lượng lên đến 35m³ tại vùng giáp ranh rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa với xã Tư (huyện Đông Giang) đã làm lộ rõ lỗ hổng trách nhiệm trong quản lý rừng đặc dụng tại đây. Vậy ai, đơn vị nào chịu trách nhiệm trong vụ này?
Trả lời PV Báo SGGP, ông Đinh Văn Hươm, Phó Chủ tịch UBND huyện Đông Giang kiêm Tổ trưởng Tổ công tác liên ngành đóng tại huyện Đông Giang khẳng định, hiện nay khu vực xã Tư (huyện Đông Giang) hoàn toàn không còn gỗ kiền kiền nên chắc chắn số gỗ mà lực lượng phát hiện trong hai đợt ngày 6 và 11-10 là gỗ có nguồn gốc từ khu vực sông Nam, thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa (Đà Nẵng), còn nơi phát hiện gỗ là nơi tập kết chờ đưa đi tiêu thụ. Vì vậy, theo ông Hươm, trách nhiệm trước hết thuộc về Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa.
Nói về vai trò và trách nhiệm của Trạm Quản lý và bảo vệ rừng Cà Nhông (Trạm Cà Nhông), ông Hươm cho rằng, theo phản ánh của người dân thì các cán bộ quản lý rừng tại đây chưa được chặt chẽ, không thường xuyên trong việc kiểm tra nên vụ việc xảy ra không phát hiện được.
Ông Phạm Ngọc Sự, Trưởng ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa, cho biết: Lâu nay Trạm Cà Nhông đóng trên địa bàn của xã Tư, nên công tác phối hợp bảo vệ rừng giữa Đông Giang và Đà Nẵng rất tốt nhưng bây giờ xã Tư không muốn để trạm tại đây và không phối hợp nữa.
Trong khi đó, vùng giáp ranh giữa rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa với xã Tư dài đến 27km nên công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế, thiếu sót. Vì vậy, vụ việc xảy ra nếu nằm trên lâm phận thuộc Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa thì trách nhiệm thuộc về các cán bộ quản lý, bảo vệ rừng tại Trạm Cà Nhông.
Cụ thể, trách nhiệm chính ở đây là 5 cán bộ quản lý bảo vệ rừng do ông Hồ Tấn Hai, Trạm phó phụ trách và 2 cán bộ kiểm lâm địa bàn đóng tại Trạm Cà Nhông.
Về trách nhiệm của Trạm Quản lý bảo vệ rừng Cà Nhông, Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa đề nghị 5 cán bộ quản lý bảo vệ rừng của Trạm Cà Nhông giải trình, kiểm điểm trách nhiệm và đề xuất hình thức kỷ luật trong thời gian tới.
Tại Trạm Cà Nhông còn có 2 kiểm lâm địa bàn nên Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa cũng đề nghị Sở NN-PTNT chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng yêu cầu giải trình, kiểm điểm trách nhiệm. Còn mức độ kỷ luật phụ thuộc vào kết quả điều tra của các cơ quan chức năng. Nếu những cán bộ này tiếp tay cho lâm tặc thì sẽ xử lý nghiêm, nhẹ thì đuổi việc, nặng thì khởi tố.
Chiều 16-10, trao đổi với PV Báo SGGP, ông Trần Văn Lương, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng, cho biết, hiện Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng đang tổ chức điều tra. Do đây là rừng đặc dụng nên khi phát hiện vụ việc, ngoài việc xử lý vụ việc, Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng còn tổ chức kiểm tra toàn diện rừng xem có điểm cất giấu, phá rừng nào nữa không. Vì vậy, sẽ khởi tố vụ án để điều tra làm rõ nguồn gốc gỗ.
Theo ông Lương, đây là vụ phá rừng lớn nhất từ trước đến nay ở TP Đà Nẵng nên ngày 17-10, Chi cục Kiểm lâm TP Đà Nẵng tổ chức 50 cán bộ kiểm lâm đến hiện trường để điều tra làm rõ nguồn gốc gỗ là của Quảng Nam hay Đà Nẵng.
Nói về trách nhiệm của vụ việc, ông Trần Văn Lương khẳng định trách nhiệm chính thuộc về chủ rừng mà ở đây là Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa và Trạm Cà Nhông vì chỗ tập kết gỗ chỉ cách trạm hơn 1km. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa xác định được nguồn gốc gỗ nên chưa chính thức quy trách nhiệm cho ai mà trước mắt tập trung xử lý vụ việc và điều tra làm rõ.
Ông Trần Viết Phương, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT TP Đà Nẵng, cho biết, sở chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm và các đơn vị liên quan tổ chức truy quét toàn diện rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa. Về trách nhiệm, trước mắt thuộc về Ban Quản lý rừng đặc dụng Bà Nà - Núi Chúa. Hiện nay Sở NN-PTNT đã có văn bản chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm điều tra xử lý nghiêm khắc vụ việc. (Sài Gòn Giải Phóng 17/10, tr7) đầu trang(
Quảng Nam có thời kỳ là điểm nóng phá rừng của cả nước. Lâm tặc sau khi hạ cây trái phép đã lấy gỗ kết thành bè đưa đi công khai từng đoàn trên sông... Tình trạng đó bây giờ không còn nữa. Rừng Quảng Nam đã được bảo vệ tốt hơn.
Trong 10 năm (2000-2010), chính quyền Quảng Nam vất vả với nạn lâm tặc tự do tung hoành, thách đố lực lượng chức năng, thậm chí đối đầu với cơ quan chức năng. Cây rừng ở Quảng Nam liên tục đổ xuống.
Chỉ tính trong 3 năm (2008 -2010), số gỗ lâm tặc khai thác trái phép mà cơ quan chức năng bắt giữ được bằng với chỉ tiêu khai thác rừng hàng năm của tỉnh – hàng chục ngàn khối gỗ. Đây chỉ là số bắt được, thực tế số gỗ “trôi” thoát phải gấp nhiều lần. Đỉnh điểm của tình trạng này là vào năm 2009, nguyên giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Quảng Nam bị ra toà vì “bắt tay” với lâm tặc phá rừng.
Lên làm giám đốc Sở NNPTNT tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh như vậy, ông Nguyễn Thanh Quang tự thấy như mình đang ngồi trên “ghế nóng”. Đây là một sở đa ngành, gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, kiểm lâm, thủy sản…, với rất nhiều lĩnh vực cần phải nhập cuộc, nhưng ông Quang chọn mảng nóng nhất, được dư luận chú ý nhất là phá rừng để “băng” vào.
“Tình thế lúc đó buộc phải hành động, không nói nhiều, không có thời gian để vạch ra lộ trình, nhưng tôi cũng hình dung mình sẽ thực hiện 2 nhóm giải pháp. Thứ nhất là hạ nhiệt điểm nóng, gồm có đối mặt với lâm tặc, cảnh cáo, răn đe chúng, làm cho chúng chùn tay; thức tỉnh lực lượng kiểm lâm, huy động các cơ quan chức năng vào cuộc chống lâm tặc. Thứ hai là tìm cách ổn định cuộc sống người dân sống gần các khu rừng, giúp họ sống được với rừng và chung tay bảo vệ rừng” – ông Quang nhớ lại.
Ông Quang không quản ngày đêm, lên rừng xuống sông, bất kể chỗ nào có thông tin về phá rừng, có lâm tặc là ông đến. Ông đã rất đơn độc khi khởi đầu cuộc chiến này. Có những đêm, ông phải vào tận trạm gác barie của kiểm lâm để đánh thức cán bộ dậy, ra bắt xe lâm tặc cùng ông.
Ông đã “bắt gặp” những cuộc điện thoại của cán bộ trong ngành đánh động cho lâm tặc hòng chạy thoát. Mỗi chuyến đi truy quét, ông phải tìm cách “ngụy trang” ngay với người trong ngành để giữ bí mật đến phút cuối cùng. Ông bị đe doạ, bị chửi bới nhiều như cơm bữa. Cũng may là ông không nản, không chùn tay. Ngành ông tham mưu cho tỉnh ra hàng loạt văn bản ngăn chặn lâm tặc như tịch thu thuyền bè trên hồ Phú Ninh; tiêu huỷ các phương tiện khai thác rừng vô chủ trong các cuộc truy quét…
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Thanh Quang chỉ đạo quyết liệt rà soát lại hiện trạng để quy hoạch điều chỉnh lại rừng. Nhờ đó, Quảng Nam nhanh chóng hoàn thành việc phân ba loại rừng. Từ cơ sở này, ngành nông nghiệp tiếp tục tham mưu cấp đất rừng sản xuất cho người dân miền núi, nhất là dân tái định cư các dự án thuỷ điện.
Trước đó, cả nghìn hộ dân tái định cư thuỷ điện không được cấp đất sản xuất đã không còn cách nào mưu sinh ngoài việc phá rừng phòng hộ để làm nương rẫy. Việc cấp đủ đất sản xuất cho dân tái định cư đã làm giảm thiểu rất nhiều tình trạng xâm lấn rừng, tiếp tay lâm tặc phá rừng.
Cũng trên cơ sở quy hoạch lại rừng, ngành nông nghiệp đã tham mưu cho tỉnh đưa cây cao su vào đất Quảng Nam. Việc trồng, chăm sóc và thu hoạch mủ cho cả ngàn ha cao su đã giải quyết việc làm cho bộ phận lớn người dân miền núi Quảng Nam từ 2011 đến nay.
“Ngoài cây cao su, cái phao lớn cho dân miền núi Quảng Nam là Nghị định 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. Đây là chủ trương xã hội hoá nghề rừng, từng bước xóa đói giảm nghèo cho các hộ dân tại khu vực miền núi. Sở NNPTNT tỉnh Quảng Nam đã thấy ngay hướng đi từ nghị định này và triển khai ráo riết, triệt để” – ông Quang cho biết.
Quảng Nam đã tiến hành thu dịch vụ môi trường rừng từ các nhà máy thủy điện, nhà máy nước sạch tại 7 lưu vực rừng với mỗi năm khoảng 50 tỷ đồng. 85% khoản thu này được chi trả lại cho người dân miền núi, miền rừng để họ tham gia giữ rừng. Đồng bào miền núi Quảng Nam tại 7 lưu vực nói trên hàng năm có một nguồn thu nhập từ giữ rừng đáng kể, tính ra tương đương với 4.000 tấn gạo/năm.
Không cần phải bắt tay với lâm tặc, người dân miền núi, miền rừng Quảng Nam bằng việc tham gia giữ rừng cũng đã có cuộc sống ổn định. Người dân “quay lưng” với lâm tặc thì rừng Quảng Nam được gìn giữ, môi trường tự nhiên được bảo đảm.
Được biết, trong 400.000ha rừng tự nhiên của Quảng Nam, đến nay đã có 270.000ha rừng được quản lý, bảo vệ từ những ông chủ tổng (Ban quản lý bảo vệ rừng) đến những ông chủ con (hộ dân). Cuộc sống ổn định đã từng bước về với đồng bào miền núi, miền rừng Quảng Nam. “Đồng bào ổn định thì rừng cũng ổn định”- ông Quang chốt lại. (Nông Thôn Ngày Nay 17/10) đầu trang(
Từ nhiều năm qua, tình trạng phá rừng trái phép tại địa bàn giáp ranh giữa tỉnh Lâm Đồng và Bình Thuận diễn biến khá phức tạp. Qua nhiều đợt kiểm tra, truy quét, nhưng đến nay, tình trạng trên chưa chấm dứt, nhiều cây gỗ quý vẫn ngày đêm bị chặt hạ.
Tình trạng phá rừng ở khu vực giáp ranh hai tỉnh được khoanh vùng với địa bàn các huyện Đức Trọng, Di Linh (Lâm Đồng) và Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình (Bình Thuận), “nóng” nhất về khai thác lâm sản trái phép hiện nay là khu vực giáp ranh giữa xã Tam Bố (Di Linh) và xã Phan Sơn (Bắc Bình), chủ yếu thuộc lâm phần do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Lâm nghiệp Tam Hiệp (Di Linh) quản lý.
Để khai thác gỗ trái phép, các đối tượng phá rừng thường tổ chức thành từng nhóm, theo đường mòn từ huyện Đức Trọng xâm nhập vào các tiểu khu có gỗ quý. Ngoài hoạt động có tổ chức, các nhóm này còn trang bị nhiều phương tiện chuyên dụng, có cả dao mã tấu và loại xe được cải tiến gọi là xe “độ” rất đặc biệt để chở gỗ ra khỏi rừng.
Đây là loại xe giống với công nông đầu ngang nhưng có thêm dây tời, bánh xích để có thể vận chuyển gỗ trong rừng sâu, vượt đường dốc mà ngay cả xe của cán bộ kiểm lâm cũng chịu thua.
Các nhóm "lâm tặc" cũng ngày càng liều lĩnh, công khai và sẵn sàng chống trả lực lượng chức năng. Ông Nguyễn Văn Tập, kiểm lâm viên Hạt Kiểm lâm huyện Di Linh, cho biết, đã có lần lực lượng kiểm lâm phát hiện và thu giữ một xe cải tiến chở gỗ của "lâm tặc" tại tiểu khu 702 thuộc xã Tam Bố. Khi đoàn cơ quan chức năng đưa xe tang vật ra gần đến bìa rừng thì có khoảng 100 người; trong đó, có cả đối tượng “xã hội đen” đến ngăn chặn, giật súng của kiểm lâm và liều lĩnh cướp xe chở gỗ bỏ chạy.
Trong các chuyến kiểm tra của Công ty Lâm nghiệp Tam Hiệp cũng nhiều lần gặp phải sự chống trả của "lâm tặc". Thậm chí chúng còn đe dọa, trả thù nhân viên công ty sau vài ngày thực hiện các đợt truy quét, tịch thu gỗ khai thác trái phép.
Theo thống kê, trong những tháng đầu năm 2014, lực lượng chức năng tỉnh Lâm Đồng đã thực hiện hàng chục đợt truy quét, tịch thu nhiều phương tiện, dụng cụ của "lâm tặc" và hàng chục khối gỗ lậu. Tuy nhiên, một thực tế là tình trạng phá rừng giáp ranh vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.
Trước tình hình phức tạp tại khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh, chính quyền Lâm Đồng và Bình Thuận đã xây dựng một trạm bảo vệ rừng tại xã Tà Năng (huyện Đức Trọng). Tới đây, Lâm Đồng cũng xây dựng thêm một trạm tại khu vực K’Tường (huyện Di Linh), hiện là điểm “nóng” phá rừng, nhằm mục tiêu ngăn chặn triệt để tình trạng phá rừng tại vùng giáp ranh. (Tin Tức 17/10) đầu trang(
Báo Tài nguyên & Môi trường ngày 14/10/2014 đăng bài “Quy hoạch sân golf Quảng Ninh: Cũ chưa thực hiện, mới tiếp tục “khoanh” đã gây nhiều bức xúc trong dư luận.
Tuy nhiên, Quảng Ninh không dừng lại ở đó mà tiếp tục nghiên cứu, lấy ý kiến để quy hoạch thêm nhiều dự án sân golf mới “đè” lên đất rừng và đất nông nghiệp, vi phạm Điều 29 thuộc Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.
Hiện Quảng Ninh đang đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận đề nghị bổ sung thêm 2 sân golf (Sân golf Hùng Thắng – thành phố Hạ Long và Sân golf An Biên – huyện Hoành Bồ) vào danh mục các sân golf dự kiến phát triển đến năm 2020.
Trong đó dự án sân golf Hùng Thắng ở TP Hạ Long được UBND tỉnh cho phép Công ty CP Tập đoàn BRG tự bỏ kinh phí để nghiên cứu, lập quy hoạch để biến nơi đây thành tổ hợp dịch vụ khu vui chơi giải trí, vui chơi có thưởng, sân golf, khách sạn cao cấp… với diện tích 242ha.
Điều đáng nói ở đây là toàn bộ diện tích trên đều nằm trong quy hoạch là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Trong đó 64ha rừng đặc dụng do Kiểm lâm vùng I quản lí, còn lại là rừng phòng hộ cảnh quan môi trường do Ban quản lí rừng đặc dụng và cảnh quan môi trường Hạ Long quản lí. Ngoài ra, khu vực này có độ dốc lớn, đỉnh cao nhất 170m, đất thuộc nhóm Feralit phát triển trên đá mẹ sa thạch, đang phong hóa mạnh dễ gây sạt trượt khi bị tác động.
Rừng Hùng Thắng được xem như “lá phổi xanh” thứ hai của TP Hạ Long, một khi dự án được phê duyệt và triển khai xây dựng thì nguy cơ lá phổi xanh bị tổn thương là rất lớn. Bởi, để xây dựng được sân golf, hệ thống khu vui chơi, giải trí có thưởng, khách sạn cao cấp… đòi hỏi phải san gạt đồi núi để lấy mặt bằng xây dựng, ngoài ra việc sạt lở, sụt lún trong quá trình san gạt, xây dựng là rất lớn, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân. Điều quan trọng, màu xanh của rừng sẽ không còn như xưa.
Dự án sân golf An Biên, huyện Hoành Bồ có diện tích nghiên cứu lên tới 275ha, thuộc đối tượng quy hoạch là rừng sản xuất, chủ yếu là thông nhựa, rừng keo, cây ăn quả… có chức năng điều hòa không khí và hồ An Biên đang cung cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp lên tới 400ha và nước sinh hoạt của người dân xã Lê Lợi và vùng phụ cận.
Trước đó, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt khu vực hồ An Biên là khu du lịch sinh thái tại Quyết định số 3637/QĐ-UBND ngày 17/11/2009. Trong các dự án nghiên cứu quy hoạch phát triển sân golf của Quảng Ninh chỉ duy nhất sân golf An Biên bắt buộc phải thu hồi đất nông nghiệp và đất rừng, điều này ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của hàng trăm hộ dân tại đây, bởi một khi sân golf được phê duyệt, đi vào đầu tư xây dựng thì sẽ “chặn” nguồn nước tại hồ An Biên mà trước đây là nguồn cung cấp nước cho hàng trăm ha đất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho người dân. Đấy là chưa kể tới vấn đề ô nhiễm môi trường do dự án này có khả năng gây nên.
Ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết: Đặc thù chiếm đất rừng của sân golf ở Quảng Ninh không nhiều, thậm chí có thể tận dụng tối đa diện tích để trồng cây. Ở An Biên có thể vừa làm sân golf vừa có thể khai thác nhựa được, diện tích rừng này không ảnh hưởng đến đời sống của người dân, đây là điều quan trọng các sân golf phải tránh trường hợp này.
Ngoài ra, dự án sân golf và Khu lâm viên cảnh quan rừng, khu dịch vụ nghỉ dưỡng biệt thự cao cấp tại cột 3 đến cột 8, TP Hạ Long được UBND tỉnh Quảng Ninh giao cho Công ty CP Sân golf Ngôi sao Hạ Long đầu tư. Hiện tại diện tích từ cột 3 đến cột 8 được quy hoạch là rừng phòng hộ cảnh quan môi trường TP Hạ Long và rừng sản xuất (thuộc 4 phường: Hồng Hà, Hồng Hải, Hà Lầm và Hà Trung), tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp hiện còn 299,6ha, toàn bộ diện tích rừng và đất rừng này đã được UBND tỉnh giao quyền sử dụng đất và rừng cho Ban quản lí rừng đặc dụng và cảnh quan môi trường Hạ Long quản lí.
Được biết đây là “lá phổi xanh” số một của TP. Hạ Long, bởi nó nằm bên bờ Di sản thế giới Vịnh Hạ Long và ôm lấy TP. Hạ Long. Lại nằm ở vị trí “trên đầu” khu dân cư, một khi rừng bị “cạo trọc” để nhường chỗ cho dự án sân golf, khu vui chơi giải trí, biệt thự cao cấp, hệ thống khách sạn thì nguy cơ mất cảnh quan môi trường là điều chắc chắn sẽ xảy ra, lá phổi xanh bị tổn thương nghiêm trọng là điều rất gần.
Trao đổi về vấn đề này, ông Hậu cho biết thêm: Nếu trồng thêm cây và tu bổ tốt thì cảnh quan ở đây rất đẹp. Cột 3 đến cột 8 chuyển đổi thành sân golf chắc chắn sẽ tổn thương tới môi trường, nhưng xung quanh Hạ Long đều có cảnh quan núi đá, biển… có tổn thương, nhưng thấp. Hiện tại quy hoạch chi tiết tại cột 3 đến cột 8 của Công ty CP Sân golf Ngôi sao Hạ Long chưa được UBND tỉnh phê duyệt. Tỉnh Quảng Ninh cũng yêu cầu hạn chế thấp nhất xây hạ tầng trên đó.
Dự luận cho rằng cơ quan chức năng tỉnh Quảng Ninh chưa lường trước được hậu quả của việc “khai tử” hàng trăm ha rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng sản xuất ở huyện Hoành Bồ và TP. Hạ Long để nhường chỗ cho nhiều dự án sân golf trong tương lại nếu được phê duyệt.
Được biết, trong hầu hết các công văn của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh gửi đến các cơ quan quản lí Nhà nước về quan điểm quy hoạch các sân golf nói trên đều không đồng tình. Bởi theo Sở này, nếu quy hoạch sân golf sẽ “phạm” vào khoản 2, 4, Điều 1 thuộc Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 26/11/2009 của Thủ tướng thì các dự án sân golf không được sử dụng đất rừng, đặc biệt là không được sử dụng đất rừng phòng hộ và đất rừng đặc dụng để xây dựng sân golf. Ngoài ra, còn vi phạm Điều 29 thuộc Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Trong khi đó, nhiều người dân ở TP. Hạ Long khi được hỏi về dự án sân golf ở cột 3 đến cột 8, cũng như nhiều sân golf tỉnh Quảng Ninh đang nghiên cứu, lấy ý kiến để đưa vào quy hoạch đều ngỡ ngàng. Nhiều ý kiến thì cho rằng, việc phát triển sân golf với lượng dày đặc như vậy ở một thành phố liệu có cần thiết (?) và sẽ tác động xấu tới môi trường, cuộc sống của người dân.
Theo Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, một sân golf được làm ở rừng đầu nguồn sẽ là mối đe dọa khủng khiếp cho sức khỏe của hàng vạn người dân sống ở bên dưới bởi lưu lượng thuốc kích thích cỏ, thuốc trừ sâu, diệt nấm mốc sẽ thấm vào đất, nước ngầm và chảy về khu dân cư.
Ngoài ra, cũng có nhiều ý kiến lo ngại, một khi dự án sân golf bị chủ đầu tư “phù phép” và biến tướng so với quy hoạch được phê duyệt để chiếm đất thì hậu quả của nó để lại là rất lớn. Một thực tế đã chứng minh, nhiều tỉnh thành ban đầu cũng lấy lí do quy hoạch sân golf nhưng sau một thời gian làm ăn thu lỗ họ đã dùng rất nhiều chiêu bài để chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chỉ sau một thời gian đã được biến thành các khu đô thị, biệt thự cao cấp để bán. (Tài nguyên & Môi trường 16/10, tr4) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tỉnh Thanh Hóa vừa có báo cáo kết quả công tác kiểm điểm trách nhiệm một số tập thể, cá nhân để xảy ra việc khai thác rừng trái phép tại thôn Cụt Ạc, xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc giao kiểm điểm trách nhiệm để xảy ra khai thác rừng trái phép tại xã Xuân Chinh, huyện Thường Xuân, Giám đốc Sở NN&PTNT đã chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm phối hợp với UBND huyện Thường Xuân, Công an huyện Thường Xuân và chính quyền xã Xuân Chinh tổ chức kiểm tra, xác minh.
Kết quả kiểm tra cho thấy, từ ngày 23/7 - 22/8/2014, UBND xã Xuân Chinh phối hợp với Hạt Kiểm lâm, Công an huyện Thường Xuân, Trạm Kiểm lâm Bù Đồn, Kiểm lâm địa bàn tiến hành kiểm tra trên diện tích 116,85 ha, thuộc 15 lô, 7 khoảnh, 2 tiểu khu được giao cho 8 hộ gia đình thôn Cụt Ạc quản lý, bảo vệ.
Qua kiểm tra, phát hiện có 43 cây gỗ nhóm 6 bị khai thác trái phép (khối lượng 27,221m3), trong đó có 23 cây bị khai thác từ cuối năm 2013 trở về trước (khối lượng 13,286m3) đã được Kiểm lâm địa bàn và UBND xã kiểm tra, xử lý theo đúng quy định của pháp luật; 20 cây khai thác vào tháng 7/2014 (khối lượng 13,937m3), đã tổ chức thu hồi quy trữ về UBND xã Xuân Chinh 10,921m3 (1,212m3 gỗ xẻ và 9,709m3 gỗ tròn).
Hạt Kiểm lâm đã phối hợp với Công an huyện Thường Xuân, UBND xã Xuân Chinh truy tìm đối tượng khai thác thông qua tổ chức họp dân phát động tố giác, phát giác đối tượng bằng hình thức bỏ phiếu kín, hoặc nhắn tin qua điện thoại. Kết quả xác định là có một số hộ dân ở thôn Cụt Ạc, xã Xuân Chinh lợi dụng trời mưa to, nước suối lên cao đã vào rừng khai thác gỗ trái phép về sửa chữa nhà ở và cũng không phát hiện có đối tượng “đầu nậu” thu mua gỗ.
Sau khi kiểm tra, làm rõ nội dung sự việc, lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm đã có báo cáo giải trình về trách nhiệm để xảy ra khai thác rừng trái phép tại thôn Cụt Ạc, xã Xuân Chinh, đồng thời xin được rút kinh nghiệm nghiêm túc trước Giám đốc Sở NN&PTNT.
Về phía Hạt Kiểm lâm Thường Xuân cũng đã kiểm điểm trách nhiệm của cán bộ, kiểm lâm viên để xảy ra khai thác gỗ trái phép nêu trên. Theo đó, kiểm điểm trách nhiệm của Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng phụ trách địa bàn, Trạm trưởng Kiểm lâm Bù Đồn, Kiểm lâm địa bàn trong công tác chỉ đạo, điều hành còn chậm, không dứt điểm; chưa sâu sát cơ sở, chưa thường xuyên nắm tình hình an ninh rừng; chưa tích cực tham mưu, phối hợp lực lượng kiểm tra an ninh rừng, để rừng bị khai thác trái phép, chậm tham mưu biện pháp xử lý dứt điểm.
Đối với xã Xuân Chinh, kiểm điểm trách nhiệm Ban Chỉ đạo bảo vệ, phát triển rừng xã Xuân Chinh và Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Chinh, cán bộ địa chính xã phụ trách lâm nghiệp và Trưởng thôn Cụt Ạc thiếu trách nhiệm, chậm trễ trong công tác quản lý Nhà nước, công tác tham mưu để xảy ra việc khai thác gỗ trái phép.
Đối với 8 hộ có rừng được Nhà nước giao để xảy ra tình trạng khai thác trái phép, đã kiểm điểm trách nhiệm của từng hộ nhưng do trưởng thôn “cất giữ” giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên các hộ không nắm được diện tích, ranh giới ngoài thực địa.
Bên cạnh việc kiểm điểm trách nhiệm của các tập thể, cá nhân có sai phạm, Sở NN&PTNT Thanh Hóa đã yêu cầu Chi cục Kiểm lâm chỉ đạo Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Thường Xuân tham mưu cho Chủ tịch UBND huyện Thường Xuân chỉ đạo các tổ chức, cá nhân có liên quan xây dựng kế hoạch khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tổ chức lực lượng tiến hành tổng kiểm tra an ninh rừng trên địa bàn xã Xuân Chinh, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, không để xảy ra các vụ việc tương tự… (Thanh Tra 16/10) đầu trang(
Hơn 1.000 ha rừng do Công ty Cổ phần thương mại và du lịch Bản Đôn ( xã Krông Na, huyện Buôn Đôn) quản lý, bảo vệ và khai thác làm du lịch đang bị lâm tặc ngày đêm kéo vào tàn phá không thương tiếc...!
Ngày 10-10, theo chân anh Y Bóng, công an viên xã Krông Na, PV thâm nhập vào rừng để tận mắt chứng kiến cảnh lâm tặc… “khai hội” trong khu rừng này. Tại cổng chính của khu du lịch lúc này chỉ có một bảo vệ gác cổng, sau vài câu chào hỏi xã giao, bảo vệ mở cổng cho PV vào. Đi theo con đường nhựa khoảng 500m chạy vòng vèo qua những khu vui chơi, ăn uống, nghỉ dưỡng… không khó để nhận ra những lối mòn lâm tặc mở ra để vào rừng khai thác gỗ.
Dừng xe trên con đường được xây dựng để phục vụ du khách tham quan khám phá hệ sinh thái rừng khộp, PV theo những lối mòn đầy vết bánh xe vào rừng. Chỉ cách con đường này khoảng chục mét đã có thể thấy những cây gỗ bị lâm tặc đốn hạ lấy đi phần “nạc”, bỏ lại cành ngọn không có giá trị nằm chỏng chơ. Những cây gỗ bị lâm tặc đốn hạ thuộc loại đang có giá bán cao trên thị trường như giáng hương, căm xe, gáo vàng…
Không chỉ hạ cây sống, lâm tặc còn đào bới để lấy cả những gốc hương cổ thụ. Chỉ trong khoảng 30 phút lội rừng, PV đã bắt gặp vài chục cây gỗ bị chặt hạ, trong đó có cây bị đốn từ lâu, gốc đã khô, số khác chỉ mới bị đốn hạ và gốc cây vẫn còn ứa nhựa, lá chỉ vừa héo rũ.
Anh Y Bóng cho hay: Ở đây lâm tặc có thể dùng xe cày để chở những cây gỗ lớn, những cây nhỏ hơn sẽ được vận chuyển bằng xe máy. Chúng sẽ lấy gỗ từ đây và đi ra bằng những con đường khác để tránh lực lượng bảo vệ của công ty. Do trở thành điểm nóng phá rừng nên đoàn liên ngành của huyện Buôn Đôn đã từng phải đưa lực lượng xuống đây chốt chặn mấy tháng, lâm tặc vào rừng giảm hẳn, nhưng khi lực lượng này rút đi thì tình trạng phá rừng lại tiếp diễn.
Khi PV quay xe trở ra thì bắt gặp một nhóm người đi trên 3 xe máy độ chế, không biển kiểm soát vào rừng, vừa thấy bóng dáng của công an xã, nhóm người này quay ngược xe bỏ chạy. PV tăng tốc đuổi theo được một đoạn ngắn thì bọn họ đã chui vào lối mòn trong rừng mất hút. “Chúng vào rừng để chở gỗ ra đó, thấy mình nên mới bỏ chạy, chốc nữa ta về là chúng quay vào lấy gỗ ngay”- người dẫn đường khẳng định chắc nịch.
Theo anh Nguyễn Văn Khải, cán bộ thống kê của xã Krông Na thì rừng do Công ty Cổ phần thương mại và du lịch Bản Đôn quản lý thời gian gần đây liên tục xảy ra tình trạng khai thác gỗ trái phép. Tính từ năm 2013 đến nay, Công an xã Krông Na đã phát hiện và bắt giữ 13 vụ vi phạm lâm luật, trong đó có một vụ phá rừng quy mô lớn đang bị các cơ quan chức năng khởi tố hình sự.
Bà H’Lan Buôn Đáp, Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn cho biết: Năm 2005, UBND tỉnh giao cho Công ty TNHH MTV Cao su Dak Lak 1.336,7 ha rừng để đầu tư xây dựng Khu du lịch sinh thái - văn hóa Bản Đôn. Đến năm 2013, diện tích rừng này được bàn giao lại cho Công ty Cổ phần thương mại - du lịch Bản Đôn quản lý.
Do hoạt động kinh doanh du lịch không hiệu quả, nên việc tổ chức quản lý bảo vệ rừng cũng trở nên lỏng lẻo, tạo điều kiện cho lâm tặc vào khai thác lâm sản trái phép. Mới đây, huyện cũng đã thành lập đoàn kiểm tra, phát hiện tại thời điểm đó công ty chỉ cắt cử 4-5 bảo vệ làm nhiệm vụ bảo vệ tài sản mà không hề có lực lượng tuần tra bảo vệ rừng. Kiểm tra hiện trạng rừng thì phát hiện nhiều cây gỗ bị lâm tặc khai thác. Đoàn đã có báo cáo tình hình này lên UBND huyện để xin ý kiến chỉ đạo xử lý. (Báo Đắc Lắc 16/10) đầu trang(
16-10 tại TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phối hợp với Viện Rosa Luxemburg Đông Nam Á đã tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế trong thực thi chính sách về ứng phó với biến đổi khí hậu và thực tiễn ở Việt Nam”.
Theo số liệu thống kê, năm 1943, Việt Nam có 408.500 ha rừng ngập mặn. Đến năm 2000, diện tích rừng thu hẹp còn 189.200 ha và đến năm 2013 chỉ còn 168.688 ha. Ông Hoàng Văn Thắng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cho rằng nguyên nhân dẫn đến suy thoái rừng ngập mặn có nhiều yếu tố liên quan đến biến đổi khí hậu và cả sự tác động của con người, như: nước biển dâng, bão mạnh, xây thủy điện trên sông Mê Kông, chặt phá rừng để nuôi tôm, xây khu nghỉ mát…
Để hạn chế mất rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị hoàn thiện các chính sách về trồng rừng, bảo vệ rừng đã ban hành; tăng cường công tác tuyên truyền bảo vệ rừng; tích cực đưa các giải pháp kỹ thuật trồng rừng ngập mặn như làm tường mềm, rào chắn sóng, cải tạo bãi cát, tạo nguồn nước ngầm… (Người Lao Động 17/10) đầu trang(
Có dịp ngược lên các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam vào những ngày này, dễ nhận ra cảnh lâm tặc tranh thủ "thời gian" khai thác, tập kết gỗ ra các khe suối, triền sông để mùa lũ đến là kết bè thả xuống sông cho trôi về xuôi...
Đầu tháng 10, lực lượng kiểm lâm huyện Hiệp Đức phát hiện một bãi gỗ lớn nằm giữa Tiểu khu 529 (địa bàn thôn 1, xã Phước Trà) vùng giáp với thôn 5 xã Trà Đốc, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam). Hạt Kiểm lâm huyện đã huy động lực lượng, phương tiện khẩn trương đưa toàn bộ 55 hộp gỗ chò (hơn 17 m3) thu gom được ra khỏi rừng. Tuy nhiên, cho đến nay, các cơ quan chức năng vẫn chưa tìm ra manh mối của chủ bãi gỗ này.
Và cách đây khoảng một tháng, tại các tiểu khu 640, 642, 644 và 645 thuộc địa bàn xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn (giáp ranh xã Phước Hòa, huyện Phước Sơn), lực lượng kiểm lâm của tỉnh và huyện Nông Sơn phát hiện có nhiều đống gỗ lâm tặc khai thác chất dọc theo khe Nấm.
Tại đây, lực lượng chức năng đã lập 7 biên bản thu giữ 257 phách gỗ, với tổng khối lượng hơn 50m3 gỗ xẻ. Theo ông Phan Tuấn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam: Vụ phá rừng này đã bị khởi tố và hòan thành thủ tục chuyển cho các cơ quan chức năng điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Theo người dân địa phương thời gian gần đây, tại khu vực Bãi Pháo; (thuộc địa bàn thôn 8, xã Phước Hiệp huyện Phước Sơn), gỗ lậu được các đối tượng chất lên xe máy chở giữa ban ngày. Các đầu nậu ở đây thường thuê người dân địa phương dùng xe máy chở gỗ lậu ra khu vực ven quốc lộ 14E; rồi tìm cách vận chuyển về xuôi. Một thanh niên chở gỗ thuê tiết lộ, bình quân mỗi ngày vận chuyển được hai chuyến, mỗi chuyến được trả tiền công từ 200.000 đến 250.000 đồng.
Lý giải về tình trạng khai thác gỗ trái phép tại khu vực Bãi Pháo, ông Lê Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Phước Hiệp, cho biết: Thời gian qua, chính quyền địa phương đã huy động lực lượng tổ chức nhiều đợt truy quét, đẩy đuổi lâm tặc. Tuy nhiên, những đợt cơ quan chức năng ra quân thì bọn chúng ngừng vận chuyển, kết thúc truy quét thì tình trạng lại tái diễn...
Gần đây, do vận chuyển bằng ô-tô dễ bị kiểm lâm phát hiện bắt giữ, chúng chuyển qua vận chuyển gỗ bằng xe máy để dễ né tránh các trạm kiểm soát. Nhiều vụ khi thấy lực lượng chức năng chặn đường, lâm tặc vứt gỗ, bỏ chạy. Do vậy, địa phương gặp nhiều khó khăn trong việc ngăn chặn, xử lý.
Còn ông Lê Viết Mai, Đội trưởng Kiểm lâm cơ động số 2 - Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Nam cho rằng, tình trạng chở gỗ bằng xe máy rất khó xử lý dứt điểm. Các đối tượng chở gỗ bằng xe máy thường đi theo đoàn, khi thấy lực lượng chức năng tuần tra, chúng dùng dao cắt dây, thả gỗ xuống và bỏ chạy. Nhiều vụ kiểm lâm đuổi theo bị các đối tượng này chống trả quyết liệt.
Thực tế cho thấy, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản chi đạo cụ thể về công tác quản lý, bảo vệ lâm sản, nhưng tình trạng khai thác rừng trái phép vẫn chưa được xử lý dứt điểm, cứ sau những đợt truy quét lại tái diễn. Gần đây, tình trạng khai thác gỗ trái phép lại rộ lên ở nhiều nơi, nhưng sự vào cuộc của các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương chưa được thường xuyên, đồng bộ. Nhiều khu rừng ở vùng giáp ranh đang bị tàn phá nghiêm trọng.
Các cơ quan chức năng của tỉnh cần phải điều tra, xử lý nghiêm những đối tượng khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ trái phép, đặc biệt, phải có biện pháp xử lý thích đáng đối với những cán bộ tiếp tay cho "đội quân" phá rừng. (Thời Nay 16/10, tr6) đầu trang(
UBND huyện Buôn Đôn vừa tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quản lý bảo vệ rừng 9 tháng năm 2014 và triển khai nhiệm vụ 3 tháng còn lại của năm.
Trong 9 tháng năm 2014, Hạt Kiểm lâm huyện Buôn Đôn và Vườn Quốc gia Yok Đôn đã phối hợp tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức được 40 cuộc họp dân ở 40 thôn, buôn ở 7 xã để phổ biến các nội dung về Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Bộ luật Hình sự và các văn bản liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng, với gần 3.000 lượt người dân tham gia.
Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được tuyên truyền, triển khai đến từng hộ gia đình. Hạt Kiểm lâm và các trạm kiểm lâm địa bàn thường xuyên đôn đốc các xã vùng lõi phân công lịch trực 24/24 giờ vào các ngày trọng điểm khô hanh, duy tu bảo dưỡng và quản lý các phương tiện, dụng cụ phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng hiện có luôn vận hành tốt.
Công tác quản lý, kiểm tra, giám sát các hoạt động về khai thác và sử dụng lâm sản luôn được quan tâm thực hiện thường xuyên. UBND huyện đã chỉ đạo Hạt Kiểm lâm huyện, Ban Quản lý rừng phòng hộ Buôn Đôn kịp thời hướng dẫn các cá nhân, tổ chức thực hiện việc khai thác và sử dụng lâm sản theo đúng quy định, đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
Tuy nhiên tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn không giảm, trong 9 tháng qua các đơn vị chuyên môn của huyện đã phát hiện 756 vụ (tăng 92 vụ so với cùng kỳ năm 2013); đã xử lý 676 vụ, tịch thu 351 m3 gỗ các loại, giảm hơn 323 m3 so với cùng kỳ năm trước, tịch thu gần 1.500 phương tiện và dụng cụ các loại. Tổng số tiền xử phạt các vụ vi phạm hơn 3,5 tỷ đồng.
Hội nghị cũng đã nêu lên những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng và đề ra nhiệm vụ trong thời gian tới: Tăng cường các biện pháp tuần tra, phát hiện, ngăn chặn và xử lý tình trạng chặt phá rừng.
Đẩy mạnh công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng sâu rộng cho các tầng lớp nhân dân, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức trách nhiệm của người dân để tham gia cùng với chính quyền địa phương, các ngành chức năng thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng, sử dụng rừng gắn với phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững…. (Báo Đắc Lắc 16/10) đầu trang(
Tập tục sản xuất lạc hậu, du canh du cư của người dân vùng cao một số địa phương là phá rừng bừa bãi để trồng lúa, trồng ngô. Hậu quả chính họ phải gánh chịu là đất đai bạc màu, nguồn lợi lâm sản và nguồn nước ngày càng khan hiếm.
Nhận thức được tác hại của việc phá rừng để làm nương, người dân bản Na Son I, thị trấn Điện Biên Đông đã đồng tâm, đoàn kết để khoanh nuôi, bảo vệ và tái sinh tốt 50 ha rừng. Sau 10 năm, rừng tái sinh đã bắt đầu mang lại những nguồn lợi cho người bảo vệ.
Biết PV đến tìm hiểu chuyện những cánh rừng đã khép tán bao quanh hơn 40 mái nhà sàn của đồng bào Thái tươi màu ngói mới, các cụ cao niên bản Na Son kể rằng, chỉ mới cách đây chục năm thôi, mấy chục hộ dân trong bản đã chặt hết cây rừng, cạo trọc những quả đồi quanh nhà để trồng ngô, trồng lúa.
Mấy vụ đầu, nhờ tàn tích tro bụi của cây rừng nên ngô lúa được hạt, dân bản chỉ biết chặt cây, đốt rừng mà chẳng mảy may nghĩ đến hậu quả tai hại sau này do phá rừng. Thế rồi những năm sau đó, đất càng ngày càng bạc màu; nguồn nước để nấu cơm, luộc ngô, rồi tắm giặt hàng ngày, để trồng lúa, để nuôi cá... chẳng ai múc đi mà cũng cạn kiệt.
Mỗi khi nhà ai đó cần cây gỗ để làm lại cái bậc cầu thang, sửa cái sàn nhà hay cần bó củi đun hàng ngày lại phải đi vào rừng xa nhà hàng km mà lấy; cây măng, cây nấm và thậm chí là cả mật con ong rừng cũng không còn có được một cách dễ dàng và thuận lợi như trước khi rừng chưa bị phá hoại để làm nương nữa.
Đến lúc này, nhà nhà trong bản, mọi người ai cũng thấy được tác hại của việc phá rừng. Khi chặt cây rừng để làm nương, mấy ai nghĩ và thấu hiểu được lời cán bộ kiểm lâm đã từng nói rằng, bảo vệ rừng là bảo vệ lấy tài sản và nguồn sống của chính bà con, chứ không phải bảo vệ cho cán bộ kiểm lâm hay cho Nhà nước hoặc của ai khác.
Khi hậu quả tai hại của việc phá rừng tác động trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày, người dân trong bản mới thấy thấm thía. Tiếc rừng, nhưng không phải đã hết cơ hội, cuối năm 2003, đầu năm 2004 dân bản Na Son I được chính quyền và cơ quan chức năng vận động khoanh nuôi, bảo vệ và phục hồi lại diện tích hơn 50 ha rừng đã bị phá.
Hơn 40 hộ dân đã hợp sức, đồng lòng và quyết tâm tái sinh rừng bằng những quy ước cụ thể; nhiều cuộc họp dân được tổ chức để bàn cách bảo vệ, chăm sóc như: cấm thả gia súc vào rừng; đầu mỗi mùa khô phải phát băng cản lửa, dọn cỏ, cấm mang lửa vào rừng; cấm chặt cây để làm nương, làm củi; mùa mưa đến, mỗi hộ đều phải cử nhân công để trồng dặm thêm cây gỗ như: keo, tre, giổi...
Được sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn, dân bản đã có nhiều biện pháp hữu hiệu để tái sinh rừng. Cùng với đó, bản đề ra các chế tài trong quy ước của dân bản nhằm xử phạt nghiêm minh nếu người nào, hộ nào xâm phạm đến rừng theo quy ước đã được thống nhất cam kết như: thả trâu bò vào rừng, chặt cây khi chưa được sự cho phép của tập thể, không góp công góp sức để trồng và bảo vệ rừng...
Cây rừng vốn có sức sống và hồi sinh mãnh liệt, đặc biệt là giống Thồ lộ – một loại lớn rất nhanh, thích nghi với mọi chất đất, gỗ làm nhà lại không mối mọt, cong vênh, chỉ trong vòng hơn 10 năm qua, những quả đồi trọc đã khép tán và bắt đầu mang lại nguồn lợi cho dân bản. Hai năm nay, người dân đã có thể thu hoạch nấm, măng, gỗ, nhiều cây Thồ lộ đã được khai thác để làm cột nhà sàn.
Nhà ông Lò Văn Tiêng mấy năm nay thu hoạch mỗi năm vài tạ cá. Ao cá của nhà ông 2 năm nay không những góp phần cải thiện bữa ăn hàng ngày cho gia đình, mà còn có thu hoạch mỗi năm gần 1 tấn cá tôm để bán, tăng thêm thu nhập.
Ông cho biết, tập tục người Thái vốn sinh cơ, lập bản ở những nơi có sẵn nguồn nước để đánh bắt con cá, con tôm – đó là ngày trước. Bây giờ con cháu cũng muốn ở những nơi có sẵn nguồn nước tự nhiên để đào ao nuôi cá. Khi rừng ở đây bị phá trụi thì ao cá cạn nước, kiệt về mùa khô hanh. Mấy năm nay, rừng được khôi phục, tự nhiên ao cá nhà ông và của các hộ khác cũng dồi dào nguồn nước.
Không những thế, từ chỗ chỉ có 2 ha ruộng nước, đến nay nhờ nguồn nước dồi dào mà 40 hộ dân trong bản đã có hơn 3 ha ruộng, năng suất trên dưới 55 tạ/ha ở cả vụ chiêm và vụ mùa. Bà con đầu tư phân bón, áp dụng kỹ thuật và giống mới nên năng suất lúa tăng dần hàng năm.
Không phá rừng làm nương mà lương thực vẫn dồi dào hơn ngày trước. Có được điều đó là nhờ vào việc khoanh nuôi, tái sinh rừng của dân bản. Người dân Na Son I không nói được như sách vở về tác dụng của việc giữ rừng. Nhưng quan trọng hơn cả là họ đã biết chắc chắn một điều rằng: Phá rừng chính là lấy đi nước uống, nước cho nuôi cá, trồng lúa; phá đi mãi mãi củi đốt, gỗ làm nhà và những nguồn lợi khác của chính mình.
"Dân bản Na Son I ngày càng ý thức được việc bảo vệ rừng. Không chỉ có bảo vệ rừng, dân bản còn trồng thêm nhiều ha rừng. Nay rừng khoanh nuôi đã cho người dân hưởng lợi như: Nước, gỗ làm nhà, củi đun, măng, tre, mộc nhĩ… Các hộ nghèo đã có gỗ làm nhà từ rừng tái sinh" - ông Lò Văn Tiêng, chia sẻ.
Bản Na Son I nay đã được che chở, bao bọc bởi 50 ha rừng xanh. Không khí, môi trường, môi sinh đang dần được trả lại như vốn có. Đây cũng là một điểm sáng trong công tác khoanh nuôi, bảo vệ và tái sinh rừng của Điện Biên Đông.
Ông Lò Văn Minh, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Điện Biên Đông, cho biết: "Được sự hướng dẫn của cán bộ kiểm lâm, dân bản Na Son I đã có ý thức khoanh nuôi tái sinh rừng hiệu quả. Chúng tôi đánh giá cao mô hình quản lý và bảo vệ rừng của dân bản Na Son I, đây là một điểm sáng về bảo vệ rừng cần được nhân rộng trên địa bàn huyện Điện Biên Đông và toàn tỉnh".
Trước hết phải khẳng định rằng, quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của tỉnh Điện Biên nói chung và huyện Điện Biên Đông cũng không nằm ngoài nhiệm vụ này. Đây cũng là vấn đề luôn mang tính thời sự trong tỉnh và toàn quốc.
Chưa bao giờ vấn đề bảo vệ môi trường sống nói chung, trong đó đặc biệt là việc giữ rừng, phát triển rừng lại được cộng đồng quốc tế và dư luận trong nước quan tâm như hiện nay. Cũng chưa bao giờ vấn đề biến đổi khí hậu gây hậu quả nghiêm trọng như hiện nay – đó là hệ quả tất yếu mang tính quy luật, mà nguyên nhân chủ yếu là bởi rừng bị xâm hại nghiêm trọng!.
Điện Biên Đông là huyện miền núi, diện tích rừng và đất lâm nghiệp chiếm phần lớn tổng diện tích tự nhiên. Rừng trên địa bàn tỉnh không những có vai trò và tác dụng trực tiếp để giữ đất, giữ nước, tạo nguồn lâm sản và môi trường sinh thái đối với địa phương, mà rừng Điện Biên Đông còn có tác dụng phòng hộ, tạo nguồn sinh thủy to lớn cho vùng đồng bằng Bắc bộ và đối với các công trình thủy điện lớn đã hoạt động và đang xây dựng trên sông Đà, sông Mã..
Bởi vậy, quản lý và bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu, thường xuyên, liên tục của các cấp ủy, chính quyền các cấp huyện Điện Biên Đông.
Con người luôn khát khao và chinh phục tự nhiên để phục vụ lợi ích cho mình. Tuy nhiên, con người và vạn vật đều có quan hệ mật thiết với nhau, có mối quan hệ cộng sinh dựa vào nhau để sống và phát triển. Con người và rừng xanh cũng vậy, có sự liên quan, quan hệ hữu cơ khăng khít với nhau.
Có rừng mới có môi trường sống tốt lành như: nguồn nước, không khi ta hít thở hàng ngày; đồng thời, rừng còn điều hòa khí hậu suốt bốn mùa. Mất rừng là mất tất cả và con người phải gánh chịu hậu quả của việt mất cân bằng sinh thái tự nhiên do phá rừng gây nên như: lũ ống, thời tiết khắc nghiệt đột biết, không khí ô nhiễm, nguồn nước cạn kiệt..
Vì thế hãy bảo vệ và giữ lấy màu xanh quanh ta, rừng sẽ không phụ công người bảo vệ và bản Na Son 1 thị trấn huyện Điện Biên Đông là một ví dụ điển hình. (Đài PTTH Điện Biên 15/10) đầu trang(
Theo số liệu thống kê của Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì tính từ năm 2004 đến hết tháng 8 năm 2014, diện tích rừng bị phá đã được thống kê trên địa bàn toàn tỉnh lên đến gần 8.900 ha.
Tuy nhiên, trong số đó, cơ quan chức năng và các đơn vị chủ rừng chỉ phát hiện được 4.073 vụ phá rừng trái phép với diện tích rừng thiệt hại hơn 3.274 ha; 554 vụ khai thác rừng trái phép và 32 vụ vi phạm quy định về phòng chống, cháy rừng, diện tích rừng thiệt hại hơn 95 ha.
Đến nay, cơ quan chức năng đã xử lý 9.678 vụ; trong đó xử lý hành chính 8.950 vụ, khởi tố 436 vụ và chuyển hồ sơ điều tra hình sự 292 vụ, tịch thu 12.769 m3 gỗ các loại và 2.972 máy móc, phương tiện xe, công cụ các loại, thu nộp ngân sách Nhà nước gần 60 tỷ đồng.
Từ đây cho thấy, số vụ phá rừng trái phép và diện tích rừng bị thiệt hại được phát hiện, thống kê, xử lý còn chiếm tỷ lệ rất ít, khoảng hơn 40%. Toàn tỉnh còn khoảng 5.600 ha rừng bị phá nhưng không được phát hiện kịp thời hoặc phát hiện nhưng không trình báo, xử lý...
Địa phương có diện tích rừng bị phá nhiều nhất là huyện Tuy Đức với hơn 4.342 ha, chiếm gần 50% tổng diện tích rừng bị phá toàn tỉnh nhưng hiện cũng mới chỉ phát hiện, xử lý được hơn 681 ha, chỉ bằng 15% tổng diện tích rừng thiệt hại.
Các địa phương khác như Đắk Glong cũng chỉ phát hiện, xử lý được 37%, Đắk Song xử lý được gần 54%... trên tổng diện tích rừng bị phá. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên trước hết phải kể đến năng lực, trách nhiệm của chính các chủ rừng, đối tượng được giao quản lý, bảo vệ rừng còn thấp.
Bởi vì, trong số diện tích rừng bị phá chưa được xử lý thì có tới hơn 4.084 ha rừng bị phá thuộc các dự án đầu tư sản xuất nông, lâm nghiệp được giao quản lý, bảo vệ từ năm 2008 đến nay và 1.500 ha rừng bị phá thuộc cộng đồng, hộ gia đình.
Phần lớn các đơn vị được giao quản lý, bảo vệ rừng chưa quan tâm đến phương án quản lý, bảo vệ nên bố trí nhân lực thực hiện nhiệm vụ này còn mỏng, thiếu chuyên môn, nghiệp vụ. Các đơn vị, nhất là các chủ dự án đầu tư trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp mới chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế trước mắt mà sao nhãng nhiệm vụ quản lý, bảo vệ rừng, để người dân chặt phá, lấn chiếm rừng, đất rừng.
Bên cạnh đó, vai trò phối hợp giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương, lực lượng kiểm lâm còn lỏng lẻo nên các vụ phá rừng không được phát hiện, xử lý kịp thời dẫn đến rất nhiều vụ phá rừng đã “lọt” pháp luật. Ngoài ra, do các quy định ràng buộc giữa người được giao nhận khoán bảo vệ rừng với Nhà nước có phần thiếu chặt chẽ, chưa có chế tài xử lý hiệu quả khi để mất rừng nên các chủ rừng chưa nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ.
Ngoài ra, nhiều trường hợp tuy phát hiện diện tích rừng bị phá nhưng không bắt được quả tang đối tượng vi phạm nên cố tình không khai báo, thống kê số liệu với cơ quan chức năng. Đến khi rà soát, kiểm kê, cơ quan chức năng mới phát hiện diện tích rừng thực tế bị phá chênh lệch rất lớn so với diện tích lũy kế báo cáo hàng năm. Điều này đã và đang dẫn đến một hệ lụy là việc xử lý số diện tích rừng bị phá này rất khó khăn, phát sinh tranh chấp, khiếu kiện giữa chủ rừng và đối tượng lấn chiếm đất rừng.
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh thì trên cơ sở kết quả rà soát, thống kê diện tích rừng bị mất, đơn vị sẽ tham mưu cho tỉnh về hình thức xử lý đối với các đơn vị, cá nhân để mất rừng. Cụ thể, theo quy định hiện nay thì các đơn vị, cá nhân để mất rừng buộc phải trồng lại rừng thay thế.
Việc xác định cụ thể từng diện tích rừng bị phá thời gian qua tại mỗi dự án là không khó bởi căn cứ vào diện tích rừng dự án được giao ban đầu và diện tích rừng thực tế qua kết quả rà soát, kiểm kê.
Thế nhưng, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là phần lớn các diện tích rừng bị phá này đang bị người dân lấn chiếm, canh tác, nếu muốn triển khai phương án trồng rừng thay thế thì không có cách nào khác là phải quyết liệt giải tỏa những hộ dân này.
Đây được xem như việc rất tốn công sức để giải quyết hậu quả của việc buông lỏng quản lý, không kịp thời phát hiện, xử lý được các vụ phá rừng trái phép thời gian qua của các chủ rừng. (Báo Đắc Nông 15/10) đầu trang(
Tuy có nhiều giải pháp quản lý bảo vệ, nhưng tình trạng người dân lấn chiếm đất rừng, và dùng các thủ đoạn triệt hạ rừng thông ở một số địa bàn vẫn diễn ra. Thực trạng này có thể thấy rõ, tại Tiểu khu 91, lâm phần thuộc xã Đạ Chais - huyện Lạc Dương.
Đục lỗ…., bỏ thuốc sâu……, đây là những thủ đoạn ken cây rừng để lấy đất sản xuất. Sau một thời gian ngắn, từ những vạt thông xanh tốt sẽ chuyển màu như thế này…
Theo thống kê của Vườn Quốc gia Bi Doup – Núi Bà, tại Tiểu khu 91, nằm trên địa bàn xã Đạ Chais, trên diện tích hơn 2.000m2, có gần 100 cây thông từ 25 – 30 năm tuổi đang chết dần do bị ken cây.
Ngoài dùng thủ đoạn ken cây, thời gian qua tại khu vực này tình trạng lấn chiếm đất rừng diễn biến phức tạp. Lãnh đạo Vườn Quốc gia Bi Doup – Núi Bà, cho biết năm 2013, đơn vị đã tổ chức nhiều đợt truy quét, tiến hành giải tỏa gần 30ha đất lâm nghiệp bị lấn chiếm. Trong đó, có điểm phải thực hiện 5 đến 7 lần giải tỏa, thế nhưng việc tái chiếm lại tiếp tục xẩy ra.
Vì sao, địa bàn Tiểu khu 91, tình trạng lấn chiếm đất rừng và phá hoại rừng thông lại phức tạp như vậy ? Được biết, ngày 26.12.2013, Ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng có Quyết định số 2691, phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch tại khu vực Tiểu khu 91, huyện Lạc Dương thành 3 loại rừng, gồm: rừng phòng hộ, rừng sản xuất, và rừng đặc dụng.
Theo đó, trên 110ha đất lâm nghiệp tại khu vực này sẽ được thu hồi để thực hiện Dự án tái định canh cho người dân xã Đạ Chais. Tuy nhiên, khi chưa có Quyết định thu hồi đất của UBND tỉnh, thì đơn vị chủ rừng là Vườn Quốc gia Bi Doup – Núi Bà và chính quyền huyện Lạc Dương phải có trách nhiệm quản lý, bảo vệ.
PV đã đặt vấn đề này với chính quyền địa phương. Ông Phạm Triều – Phó chủ tịch UBND huyện Lạc Dương, cho biết toàn xã Đạ Chais hiện có trên 130 hộ đang thiết đất sản xuất dưới 5 sào, và ngẫu nhiên các hộ thiếu đất và cần tái định canh, định cư lại nằm trong vùng Tiểu khu 91. Do vậy, việc người dân lấn chiếm và tái lấn chiếm, hay ken cây tại khu vực này không nằm ngoài mục đích lấy đất để sản xuất.
Việc người dân lấn chiếm đất rừng lấy đất sản xuất tại Tiểu khu 91 là quá rõ. Vì vậy, ngoài đảm bảo các chính sách an sinh xã hội, thực hiện tốt định canh, định cư; đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về quản lý bảo vệ rừng, thì cơ quan chức năng liên quan cần vào cuộc, điều tra, phát hiện, và có hình thức xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm là cần thiết, nhằm ngăn chặn tình trạng này tái diễn
Những cánh rừng ở Tiểu khu 91, tại lâm phần thuộc xã Đạ Chais, huyện Lạc Dương cứ mất dần. Mặc dù chính quyền địa phương và các ngành chức năng đã vào cuộc quyết liệt, nhưng thực trạng người dân lấn chiếm đất rừng, phá hoại rừng vẫn chưa được ngăn chặn. Câu hỏi này đến nay như một bài toán khó, chưa có lời giải? (Đài PTTH Lâm Đồng 16/10) đầu trang(
Nhận được nguồn tin báo của quần chúng nhân dân về việc về xe tải biển số 51C- 19396, màu trắng, nhãn hiệu Huyndai có dấu hiệu vận chuyển lâm sản trái pháp luật đang lưu thông theo hướng từ Đăk Nông về thị xã Đồng Xoài.
Đội Kiểm lâm cơ động và Phòng cháy chữa cháy rừng số 1 thuộc Chi cục Kiểm lâm đã triển khai Tổ công tác tuần tra kiểm soát lâm sản trên tuyến đường ĐT741, sáng ngày ngày 3/10/2014 phát hiện xe ô tô có đặc điểm như tin báo đang lưu thông vào địa bàn thị xã Đồng Xoài và dừng đỗ trên đường Nguyễn Thái Học, phường Tân Phú.
Tổ công tác đã ra hiệu lệnh để kiểm tra và phát hiện trên xe 51C-193.96 vận chuyển khoảng gần 900 thanh gỗ xẻ Dầu và một số loại gỗ tạp khác, có khối lượng hơn 6m3, chủ lâm sản không xuất trình được hồ sơ hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.
Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính và đưa phương tiện, tang vật nêu trên về cơ quan Chi cục Kiểm lâm để xác minh, xử lý theo quy định pháp luật. (Sở NNPTNT Bình Phước 15/10) đầu trang(
Đó là thông tin tại cuộc họp báo công bố kết quả thực hiện chiến dịch truyền thông giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác Cơ quan quản lý Cites Việt Nam (Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ NN&PTNT) tổ chức chiều 16/10, tại Hà Nội.
Kết quả cuộc khảo sát về mức độ thay đổi nhận thức về sừng tê giác của người dân Việt Nam do Công ty Nielsen - một công ty quốc tế có uy tín thực hiện về lĩnh vực khảo sát thị trường thực hiện.
Đây là kết quả nỗ lực sau một năm thực hiện chiến dịch tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân do Cơ quan Quản lý Cites Việt Nam thực hiện từ tháng 8/2013.
Cụ thể, nhu cầu về mua và sử dụng sừng tê giác ở Việt Nam đã giảm 38%. Hà Nội là điểm có thay đổi lớn nhất với số người có nhu cầu mua và sử dụng sừng tê giác giảm 77%. Cùng với đó, số người tin vào công dụng chữa bệnh của sừng tê giác cũng giảm 53%.
Phát biểu tại buổi họp báo, ông John E.Scanlon - Tổng thư ký Công ước Cites đánh giá cao các nỗ lực hiệu quả và thực tế của Việt Nam nhằm giảm nhu cầu sử dụng sừng tê giác.
Kết quả khảo sát cho thấy các nỗ lực đó của Việt Nam mà cụ thể là chương trình tuyên truyền đã đem lại những tác động tích cực đối với nhu cầu sử dụng sừng tê giác tại đây. Điều này sẽ góp phần tích cực cùng với các nỗ lực trên toàn cầu bảo vệ loài tê giác. (Kinh Tế & Đô Thị 17/10) đầu trang(
Bệnh viện hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới (Quảng Bình) ngày 16.10 cho biết đang điều trị 2 bệnh nhân bị lợn rừng tấn công.
Người thứ nhất là bà Nguyễn Thị Hoài (54 tuổi, ở Lý Trạch, huyện Bố Trạch). Đây là con lợn rừng lai được nuôi tại nhà, khi bà Hoài cho lợn ăn thì bị nó húc thẳng vào người khiến bà bị thương nặng ở đùi phải và mông trái.
Vết thương sâu nên bà bị mất máu nặng, choáng trụy mạch. Các bác sĩ bệnh viện đã phẫu thuật xử lý, truyền 3 đơn vị máu cứu sống bệnh nhân.
Trường hợp thứ 2 là ông Hồ Văn Thấy (52 tuổi, ở xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy) bị lợn rừng tấn công khi đi làm rẫy. Ông Thấy bị thương ở cả bốn chi. (Thanh Niên 16/10) đầu trang(
15/10, tại Hòa Bình đã diễn ra hội thảo nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và động vật hoang dã, ứng phó với biến đổi khí hậu cho các Đoàn viên thanh niên.
Đây là hội thảo được Đoàn Thanh niên của Tổng cục Môi trường, Sở TN&MT tỉnh Hòa Bình và Huyện Đoàn Lương Sơn phối hợp tổ chức.
Tham dự hội thảo có Lãnh đạo và đông đảo các Đoàn viên thanh niên của Tổng cục Môi trường, Sở TN&MT tỉnh Hòa Bình và Huyện Lương Sơn.
Tại hội thảo, các đại biểu đã được cập nhật thông tin về tình hình biến đổi khí hậu, bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam. Theo đó, dưới ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, nhiệt độ thay đổi, mực nước biển dâng, … gây ra nhiều tổn thất lớn về người, tài sản, kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.
Các đoàn viên đã sôi nổi thảo luận và đưa ra một số giải pháp nhằm giảm nhẹ, thích ứng với biến đổi khí hậu như cần ngăn chặn khai thác rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng tự nhiên, phòng chống cháy rừng có hiệu quả, …
Về công tác bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, Việt Nam được thế giới công nhận có đa dạng sinh học độc đáo, với nhiều loại hệ sinh thái tự nhiên và các loài động, thực vật nguy cấp, quý hiếm.
Tuy nhiên, động vật hoang dã đang phải đối mặt với nhiều mối đe dọa và nhiều loài đang trong tình trạng cực kỳ nguy cấp, đứng trước nguy cơ tuyệt chủng như hổ, voi, sao la, …
Các loài động vật hoang dã bị suy giảm mạnh do mất nơi sinh sống, sự khai thác quá mức, thậm chí tận diệt để sử dụng cho nhiều mục đích, … Bên cạnh đó, tình trạng buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã trái phép đang trở nên ngày càng tinh vi, phức tạp làm nhiều loài động vật hoang dã đã và đang bị đẩy tới nguy cơ tuyệt chủng.
Khẳng định quyết tâm bảo vệ các loài động vật hoang dã, các đại biểu đã cùng nhau ký cam kết bảo vệ, không buôn bán và tiêu thụ động vật hoang dã, quý hiếm tại Việt Nam.
Cũng tại hội thảo, Đoàn Thanh niên Tổng cục Môi trường đã trao các tấm pano tuyên truyền về bảo vệ động vật hoang dã cho Đoàn Thanh niên của Sở TN&MT tỉnh Hòa Bình và Huyện Đoàn Lương Sơn.
Hy vọng thông tin tại hội thảo sẽ được các Đoàn viên thanh niên của Sở TN&MT Hòa Bình và huyện Lương Sơn tiếp tục truyền tải tới các đoàn viên thanh niên khác của tỉnh Hòa Bình, mỗi đoàn viên thanh niên sẽ là một tuyên truyền viên giỏi, giúp công tác bảo vệ môi trường, động vật hoang dã và ứng phó biến đổi khí hậu có nhiều tiến triển mạnh mẽ. (Bộ Tài Nguyên & Môi Trường 15/10) đầu trang(
Chiều 15/10 Cục cảnh sát PCCC&CNCH Bộ Công an do đại tá Trần Văn Thành - Phó cục trưởng làm trưởng đoàn phối hợp với phòng Cảnh sát PCCC&CNCH Công an Hà Tĩnh đã đến thăm hỏi, động viên gia đình đồng chí Hồ Sỹ Tường - Hạt phó hạt kiểm lâm huyện Đức Thọ, hy sinh sau khi chữa cháy rừng.
Trước đó, vào khoảng 13 giờ ngày 11/9 tại địa bàn xóm 10, xã Đức Dũng, huyện Đức Thọ xẩy ra vụ cháy rừng thông. Do thời tiết nắng nóng, ngọn lửa bùng phát dữ dội và lan sang cả khu rừng thuộc xã Tân Hương.
Nhận được tin báo cháy rừng, UBND huyện đã huy động hơn 200 người gồm kiểm lâm, công an, quân đội phối hợp cùng người dân địa phương tham gia dập lửa. Sau 8 giờ, đám cháy được khống chế, nhưng thiệt hại do cháy gây ra rất lớn.
Tuy nhiên, do làm việc trong môi trường nhiều khí độc nên sau khi chữa cháy rừng, đồng chí Hồ Sỹ Tường - Hạt phó hạt kiểm lâm huyện Đức Thọ cùng một cán bộ kiểm lâm nữa đã bị kiệt sức, phải cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đức Thọ. Dù đã được các bác sĩ quan tâm chăm sóc tận tình, chu đáo nhưng do tình hình sức khỏe của đồng chí Hồ Sỹ Tường quá yếu, đồng chí đã tử vong tại bệnh viện vào sáng ngày 17/9.
Được biết, đồng chí Tường là cán bộ kiểm lâm luôn tận tụy với công việc, được đồng nghiệp và nhân dân yêu mến. Trước sự hy sinh của đồng chí Hồ Sỹ Tường, Đoàn đã đến thăm hỏi, động viên và trao 4 triệu đồng chia buồn cùng gia đình, mong gia đình cố gắng vượt qua nổi mất mát đau thương. (Công An Hà Tĩnh 15/10) đầu trang(
16-10, thông tin từ ông Lương Văn Phan, Chủ tịch UBND xã Xá Lượng, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An cho biết, vào tối ngày 15-10 trên địa bàn xã đã xảy ra một trường hợp bị rắn độc cắn tử vong. Nạn nhân là anh Lô Văn Toản (37 tuổi) trú tại bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng.
Sự việc xảy ra vào khoảng 19h15 ngày 15-10, trong lúc đang xem ti vi thì anh Toản nghe đứa con đầu gọi phát hiện con rắn cạp nong đang nằm cuộn tròn ở bờ rào vườn nhà. Nghe con gọi, anh Toản chạy ra cùng con bắt rắn.
Sau khi nói con dùng khúc gỗ đè lên thân con rắn, anh Toản dùng miếng vải trùm lên tay để bắt rắn. Tuy nhiên, do không nắm trúng đầu nên anh bị con rắn cắn vào bàn tay trái. Sau đó, hai cha con đập chết con rắn đưa vào nhà.
Nghĩ vết cắn chỉ gây xước tay nên anh Toản chủ quan không đến bệnh viện mà tự mình nặn máu độc ra rồi rửa tay và tiếp tục vào nhà tiếp tục xem ti vi. Khoảng hơn 1 giờ sau, nạn nhân bất ngờ có dấu hiệu buồn nôn, khó thở, tức ngực, chân tay sưng dần lên.
Ngay lập tức, anh Toản và con rắn được chuyển xuống bệnh viện đa khoa huyện Tương Dương cấp cứu, tuy nhiên nọc độc đã di chuyển đến các bộ phận trên cơ thể nên anh Toản đã tử vong sau gần 1 giờ nhập viện.
Được biết, anh Lô Văn Toản hiện đang là Phó công an xã Xá Lượng, có vợ và 2 con. Đến chiều ngày 16-10, chính quyền và gia đình sẽ tổ chức mai táng cho nạn nhân. (An Ninh Thủ Đô 17/10, tr7) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Sau hơn 20 năm gắn bó với rừng, 5 năm gần đây Giám đốc Công ty TNHH Trúc Vinh Nguyễn Bá Trung đã bị kéo theo quá trình tố tụng chưa biết lúc nào mới kết thúc dù công ty của ông đã dừng hoạt động.
Từ tâm sự của ông Trung, câu chuyện của công ty, những việc của Ban quản lý rừng phòng hộ Tĩnh Gia (BQL) Thanh Hóa… soi chiếu đến những quy định hiện hành về bảo vệ, phát triển rừng cho thấy còn rất nhiều điều trăn trở.
Có lẽ khi bỏ tiền của, tâm sức khai hoang, trồng rừng cho đến khi bắt đầu được khai thác quả ngọt từ những giọt mồ hôi của mình, ông Trung cũng khó có thể hình dung được một ngày, cá nhân ông, công ty của ông rơi vào vòng lao lý với 2 phiên sơ thẩm, 2 phiên phúc thẩm và rất có thể còn tiếp tục kéo dài nếu như chưa có sự thấu tình đạt lý trong các phán quyết của cơ quan tố tụng.
Theo đó, năm 1993, ông Trung mua của ông Trần Văn Hinh, thôn Trung Yến, xã Hải Yến một khu rẫy rộng 19,65ha, việc mua bán (sau này) đã được đoàn thanh tra xác nhận là có thật và không tranh chấp. Năm 1997, ông ký hợp đồng số 20 HĐ – BV nhận giao khoán bảo vệ rừng và làm kinh tế hội với Lâm trường Tĩnh Gia (nay là BQLRPH Tĩnh Gia) với diện tích 67ha, liền kề với diện tích vườn của gia đình, với thời gian giao đất là 20 năm.
Trên phần diện tích chủ yếu là đồi núi trọc (35,1ha), ông bỏ vốn trồng chăm sóc, khai thác nhựa thông và nộp khoán cho lâm trường theo các hợp đồng khoán việc đã ký hàng năm.
Sự việc phát sinh khi lâm trường (lúc này đã là BQLRPH Tĩnh Gia) tiến hành thu hồi 38,7ha đất vườn rừng để phục vụ dự án san lấp nền Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và không thừa nhận phần diện tích đất đã sang nhượng giữa ông và ông Nguyễn Văn Hình; đồng thời không tiến hành đền bù thỏa đáng công sức trong suốt quá trình ông và sau này là Công ty TNHH Trúc Vinh đã phát triển, chăm sóc trồng rừng.
Đọc các bản án, trong đó có không ít sự thừa nhận những thiếu sót của Tóa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới về thủ tục tố tụng cũng như về nội dung, người liên quan sẽ đặt câu hỏi: đâu là nguyên nhân sâu xa của những sự vi phạm đó? Bởi, sự vi phạm này đã dẫn dắt đến việc quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trung, những người trực tiếp trồng rừng bị ảnh hưởng.
Đơn cử, Tòa sơ thẩm ngày 25.10.2013 đã bác yêu cầu giám định chữ ký và con dấu của của Lâm trường Tĩnh Gia tại Hợp đồng 116/HĐ – LT ngày 28.10.2006 ký giữ Công ty TNHH Trúc Vinh và Lâm trường Tĩnh Gia (đây là hợp đồng Công ty được cấp đất làm 2 lán, mỗi lán 200m2, khi hết hợp đồng Công ty phải trả lại đất giao khoán trừ diện tích đã làm lán)…
Điều đáng bàn, mặc dù, đây là hợp đồng chứng minh việc công ty đã được giao đất (trồng trên đó 57.926 cây thông và xây dựng lán trại), nhưng phiên tòa phúc thẩm chỉ thừa nhận: “Tòa sơ thẩm có vi phạm tố tụng” nhưng lại xác định “… đây là hợp đồng có thật nhưng không có giá trị chứng minh”.
Câu hỏi đặt ra, vậy đương sự sẽ dựa vào hợp đồng (những chứng cứ) không có thật để chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình, hay? Ngoài ra, tại các bản án đều xác nhận, BQL không có thẩm quyền cấp đất chỉ có quyền giao đất, nhưng khi BQL cấp sai thì người dân phải chịu? Cách lập luận này có thuyết phục không, đó là chưa kể đến việc thu hồi đất được cấp, được giao không chỉ là đất mà là tài sản, công sức đã gắn liền với đất cũng như những giá trị về môi trường từ diện tích trồng rừng mang lại nhưng chưa hề được tính toán khi đền bù.
BQL được hình thành từ việc chuyển Lâm trường Tĩnh Gia theo Quyết định 3222/QĐ –UBND ngày 07.11.2006. Theo đó, BQL được giao quản lý 6.300,4ha, trong đó có 5.144,3ha rừng phòng hộ; 1.151,3ha rừng sản xuất và đất khác 4,8ha. Rõ ràng, diện tích rừng phòng hộ chiếm gần 5 lần trong tổng số rừng do BQL Tĩnh Gia quản lý.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây cùng với việc thu hồi đất phục vụ dự án Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn là việc BQL đã tiến hành chặt cây, khai thác rừng dưới hình thức thực hiện dự án chồng lên dự án (Dự án 4304; 327; 661; JICA – đây đều là các dự án trồng mới rừng do các tổ chức quốc tế tài trợ như Chương trình lương thực thế giới; Cơ quan hợp tác và phát triển Nhật Bản).
Điều đáng nói, việc chặt phá, khai thác được tiến hành ở cao điểm 561m, độ dốc 30 – 60 độ - đây là cao điểm, độ dốc của khu vực rừng phòng hộ - rừng đa dạng loài cây, trong đó rừng dẻ đang phát triển tốt và việc chặt phá này chỉ nhằm mục đích trồng keo tai tượng và thông.
Điều đáng lưu tâm là, khi Lâm trường Tĩnh Gia chuyển đổi thành BQL thì việc thu hồi lại là những diện tích đã được giao khoán cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ được thực hiện một cách quyết liệt. Riêng Công ty TNHH Trúc Vinh nhận trồng và khoanh nuôi, bảo vệ hơn 200ha cũng bị thu hồi, lấy lại mà không có sự đền bù thỏa đáng.
Không chỉ dừng lại ở việc khai thác ở độ cao thuộc về diện tích rừng phòng hộ; BQL còn được người dân trồng rừng tại Tĩnh Gia ví như là ông chủ mới với hình thức khoán rẻ - ép giá. Cụ thể tại các hợp đồng khoán công việc trích dưỡng nhựa thông, thì 1kg nhựa thông người trồng rừng sẽ được hưởng 10.000 đồng/kg; trong khi đó giá thị trường dao động từ 32.000 – 35.000 đồng/kg.
Điều này, đã đi ngược với các quy định hiện hành liên quan đến việc khuyến khích người trồng, bảo vệ rừng. Theo đó, khi tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, nhận khoán, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng, mức lợi ích cao nhất mà người dân được hưởng là 95% giá trị sản phẩm khai thác sau khi nộp thuế. Từ sự phân tích trên, thì câu hỏi là BQL đã làm lợi gì cho người trồng rừng? hay lợi ích đã rơi vào đâu?
Một câu hỏi xuyên suốt quá trình giải quyết các mẫu thuẫn giữa công ty lâm nghiệp, BQL và cá nhân, tổ chức được khoán nhận rừng là: Tại sao Nhà nước không giao đất, giao rừng trực tiếp cho các hộ mà lại giao cho công ty lâm nghiệp, BQL rồi cho phép các Công ty, BQL giao khoán lại cho các hộ gia đình và cá nhân?. Câu hỏi này đã phản ánh sự chưa hợp lý trong việc tiếp cận đất sản xuất giữa một bên là các hộ dân và bên kia là các công ty lâm nghiệp và các BQL.
Vậy nó là gì: công ty lâm nghiệp, BQL được Nhà nước giao nắm giữ một phần diện tích đất và rừng rất lớn, nhưng với nguồn lực sẵn có rất khiêm tốn (chỉ từ 7 – 9 biên chế) thì họ không có khả năng tự sử dụng đất, bảo vệ rừng hiệu quả. Và, việc khoán một phần diện tích cho các hộ, cá nhân, pháp nhân khác được coi như một phương thức tồn tại tất yếu công ty lâm nghiệp, BQL.
Tất nhiên, BQL rừng phòng hộ Tĩnh Gia không nằm ngoại lệ, theo Quyết định 3222/QĐ thì Ban quản lý có 8 biên chế. Tuy ít người, nhưng lợi ích của họ - ở khía cạnh nào đó là “khâu trung gian” lại được nhiều hơn so với số đông những người trồng rừng – lợi ích này thể hiện qua các hợp đồng khoán việc, hoặc nhận khoán; cũng như các nguồn tài chính từ các dự án.
Thực tế này, dẫn đến các hộ mất cơ hội trong việc tiếp cận với nguồn đất sản xuất, tạo điều kiện cho các công ty lâm nghiệp thực hiện phát canh thu tô và duy trì tình trạng sống bám vào Nhà nước thông qua việc kiểm soát đất đai. Hơn nữa, theo cơ chế giao khoán, chắc chắn các hộ bị thiệt thòi vì phải chia một phần lợi ích từ sử dụng đất cho các công ty lâm nghiệp và BQL.
Đằng sau việc phát canh thu tô chính là câu chuyện về chia sẻ lợi ích từ rừng. Quyết định 178/2001/QĐ-TTg quy định, các phương thức chia sẻ lợi ích cụ thể được xây dựng căn cứ vào loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hay rừng sản xuất); căn cứ vào hình thức nhận rừng (hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, cho thuê đất lâm nghiệp hay hộ gia đình…).
Người trồng rừng được quyền tự quyết định mục đích và phương thức gây trồng rừng, được quyền tự quyết định việc khai thác và sử dụng lâm sản. Tuy nhiên, sau 5 năm thực hiện QĐ này, thì mới chỉ có các quy định về cung cấp, hỗ trợ kinh phí, thanh toán tiền công, khai thác lâm sản ngoài gỗ, tiến hành một số dịch vụ trong rừng và thu lợi ích từ các dịch vụ này, kết hợp phát triển sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp trong rừng…
Và, ở những nơi mà phương thức ăn chia được xây dựng trên cơ sở áp đặt ý chí của cơ quan quản lý Nhà nước mà không tính đến lợi ích của người có công bảo vệ, phát triển rừng thì xung đột nảy sinh là điều tất yếu. Chính vì thế, quan niệm rừng của Nhà nước, chứ không phải rừng của dân vẫn tồn tại như một thách thức đối với công việc bảo vệ, phát triển rừng.
Mấu chốt ở đây chính là: Cần thay đổi mối quan hệ giữa BQL và người dân sống lệ thuộc vào rừng. Sự thay đổi này sẽ thúc đẩy việc cải thiện sinh kế của các hộ, góp phần bảo vệ phần diện tích rừng tự nhiên còn lại.
Một trong những điểm cốt lõi nhất trong quan hệ giữa 2 bên là quan hệ bình đẳng và tạo lợi ích lâu dài từ tài nguyên rừng cho hộ gia đình, tổ chức. Đó cũng chính là mục tiêu cuối cùng trong hành trình tìm công lý của cá nhân ông Trung, Công ty TNHH Trúc Vinh. (Đại Biểu Nhân Dân 17/10, tr7) đầu trang(
Công tác quản lý, sử dụng đất đai có biểu hiện buông lỏng trong thời gian dài, nhiều sai phạm khuyết điểm. Bên cạnh đó, việc quản lý, bảo vệ rừng còn nhiều yếu kém, nhiều héc ta rừng bị phá...
Đó là một phần nội dung kết luận của Thanh tra Chính phủ (TTCP) về việc quản lý, sử dụng đất đai; tập trung vào giao đất, giao rừng và một số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2004 - 2011.
Theo TTCP, do công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2006 - 2010) tại địa phương này thiếu đồng bộ, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý, phát sinh sai phạm.
Trong đó có nhiều dự án, công trình sử dụng đất không đúng quy hoạch; một số công trình được giao quy hoạch, giao đất nhưng không triển khai. Việc tổ chức thực hiện quản lý, sử dụng đất đai không đúng quy hoạch, kế hoạch ở nhiều chỉ tiêu; tổ chức thực hiện quy hoạch 3 loại rừng không đạt yêu cầu, mang tính đối phó.
Qua thanh tra cho thấy, việc quản lý, sử dụng đất đai và quản lý, bảo vệ rừng ở các Cty một thành viên lâm nghiệp bị buông lỏng. Các đơn vị chủ yếu giao khoán cho người dân quản lý, bảo vệ, thậm chí sản xuất kinh doanh trong rừng dẫn tới nguy cơ phá rừng, lấn chiếm đất rừng, sử dụng sai mục đích, thất thu ngân sách và thực tế có nhiều diện tích rừng bị phá. TTCP xác định trách nhiệm thuộc về Thường trực UBND tỉnh và các giám đốc Sở liên quan.
Bên cạnh đó, UBND tỉnh cho thuê đất, giao đất, giao rừng cho 39 doanh nghiệp tư nhân để thực hiện 40 dự án trồng cao su, trồng rừng, song hầu hết những doanh nghiệp này đều yếu kinh tế lẫn kỹ thuật.
Đáng chú ý, địa phương này còn ưu đãi tiền thuê đất (hàng chục năm sau mới phải nộp tiền thuê), ưu đãi không phải thuê rừng đối với các doanh nghiệp…
TTCP cho rằng, trong một thời gian dài, việc quản lý đất, đất rừng của nông, lâm trường đã bộc lộ sự bất cập về cơ chế, về tổ chức, dẫn đến hậu quả mất đất, mất rừng với tình trạng trầm trọng.
Đáng chú ý, đoàn thanh tra còn phát hiện nhiều dự án thu hồi đất trong đó đang có người dân sinh sống, làm ăn ổn định nhưng không có phương án đảm bảo tái định cư, tái định canh cho người dân, dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
Điển hình là việc khiếu kiện về thu hồi đất ở, đất sản xuất của bà con vùng kinh tế mới từ miền Bắc chuyển vào tại huyện Đắk Mil. Đặc biệt, có 76 hộ dân khiếu nại trên 25 năm nhưng chậm được giải quyết, gây bức xúc, mất uy tín trong nhân dân…
Theo đó, TTCP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông chấn chỉnh những sai phạm, tồn tại. (Tiền Phong 17/10; Thanh Niên 17/10) đầu trang(
Hơn 10 năm nay, tại thôn Láy, xã Tư, huyện Đông Giang (Quảng Nam), một cá nhân đã ngang nhiên chiếm một diện tích lớn đất rừng phòng hộ, lập ấp, trồng cây, phá rừng và đào vàng.
Ông Bùi Văn Thảo - Phó Phòng Tài nguyên – môi trường huyện Đông Giang, cho biết, từ năm 1990, ông Vũ Văn Tam (quê xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định) vào khu vực rừng phòng hộ suối nước Trong (thôn Láy, xã Tư) để làm vàng sa khoáng, làm gỗ, buôn bán hàng hóa.
Vào tháng 5 và tháng 9.2004, ông Tam 2 lần làm đơn xin san lấp mặt bằng trồng rừng với tổng diện tích lên đến 30ha, thời gian xin mượn đất là 15 năm. “Ông Tam làm đơn gửi lên UBND xã để xin san ủi đất rừng, xã chỉ phê là: Theo đơn trình bày của ông Tam là đúng, kính chuyển các ngành tạo điều kiện giúp đỡ, giải quyết. Nhưng thay vì chuyển đơn lên huyện, thì ông Tam mang trở vào rừng, xem như được cấp phép và cứ thế sử dụng phương tiện san ủi và trồng cây keo lá tràm, đến nay diện tích lấn chiếm lên đến hơn 56,4 ha” – ông Thảo nói.
Ông Thảo cho biết thêm, trong quá trình lấn chiếm đất rừng, ông Tam còn thường xuyên phân chia ra hàng chục lô đất để bán cho các đối tượng làm vàng. Khu vực này trở thành trung tâm khai thác vàng, gỗ trái phép, an ninh trật tự phức tạp, là “điểm nóng” trong nhiều năm qua. Nhiều lần cơ quan chức năng huyện đến kiểm tra, hoặc gửi giấy mời làm việc, thì ông Tam đều cố tình lánh mặt.
Ông Đỗ Tài – Chủ tịch UBND huyện Đông Giang thừa nhận, có sự buông lỏng quản lý của chính quyền xã và các đơn vị liên quan trong vụ việc này. Năm 2013, qua công tác kiểm tra của đoàn công tác liên ngành tỉnh và huyện, đã kỷ luật cảnh cáo tập thể Ban thường vụ đảng ủy xã Tư, cảnh cáo chủ tịch xã Tư, và sau đó thay đổi cán bộ chủ chốt của xã này.
Huyện đã 2 lần (năm 2011 và 2013) tổ chức xử lý, yêu cầu ông Tam trả lại đất, ra khỏi khu vực rừng phòng hộ, nhưng vẫn chưa chưa đạt kết quả.
Tháng 6.2014, huyện đã thành lập tổ công tác liên ngành xử lý vụ việc này, dùng máy định vị và đo được số diện tích ông Tam hiện đang chiếm là 56,4 ha rừng phòng hộ, kể cả khu đất 1.880m2 có nhà ở. Tổ công tác đã lập biên bản vi phạm hành chính trên lĩnh vực đất đai đối với ông Tam, và ông Tam đã ký vào biên bản này.
Hiện hồ sơ xử lý đang được huyện phối hợp với Sở TN-MT hoàn thiện trình UBND tỉnh quyết định. Theo ông Tài, quan điểm của UBND huyện Đông Giang là xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Tam về hành vi chiếm đất. Trường hợp việc sử dụng đất làm nhà và một số diện tích trồng keo phải bồi thường cho ông Tam, thì UBND huyện sẽ bồi thường theo qui định. (Lao Động 17/10) đầu trang(
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tây Ninh đã thống nhất với Ban quản lý dự án rừng phòng hộ Dầu Tiếng và Ủy ban Nhân dân huyện Tân Châu sẽ không tiếp tục áp dụng mô hình trồng rừng xen cây cao su tại khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng.
Quyết định này được đưa ra sau khi xem xét, đánh giá lại mô hình trồng rừng có xen cây cao su là cây phụ trợ (mô hình DCS1) trong thời gian qua là không đạt hiệu quả, rừng trồng đã nhiều năm nhưng không thành rừng.
Đánh giá về công tác giao khoán trồng rừng theo mô hình có xen cây cao su, ông Lê Minh Thuần, Giám đốc Ban quản lý dự án khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng, cho biết qua theo dõi nhiều năm, những diện tích trồng rừng theo mô hình có xen cây cao su là cây phụ trợ, đa số cây trồng chính (sao, dầu) đều chậm phát triển, một số bị chết do các hộ nhận khoán không quan tâm chăm sóc và dùng nhiều biện pháp để hạn chế sự tăng trưởng bình thường của cây rừng để cho cây cao su phát triển nhanh.
Còn ông Tạ Châu Lâm, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Tân Châu, cho rằng chính các hộ hợp đồng nhận khoán trồng rừng đã trực tiếp tác động bằng cách khoanh vỏ, chặt cành nhánh, cày phá bộ rễ, chặt cụt ngọn làm cho cây rừng bị chết hoặc chậm phát triển để chừa khoảng trống cho cây cao su hoặc kéo dài thời gian trồng xen cây nông nghiệp (sắn) cho lợi ích riêng của mình mà không quan tâm đến cây rừng.
Từ đó cho thấy nhiều năm nhà nước tốn công sức, tiền của cho công tác trồng, chăm sóc rừng phòng hộ Dầu Tiếng, nhưng phần lớn diện tích rừng do người dân nhận khoán trồng rừng theo mô hình xen cây cao su đã hơn 10 năm nay vẫn chưa thành rừng; trong khi các hộ nhận khoán vi phạm hợp đồng, đều không bị xử lý kiên quyết, nên không ngăn chặn được tình trạng vi phạm.
Theo quy hoạch, khu rừng phòng hộ Dầu Tiếng (huyện Tân Châu, Tây Ninh) có tổng diện tích 33.050ha, có gần 6.000ha rừng trồng với hình thức khoán cho trên 1.000 hộ cá nhân trồng với nhiều mô hình, trong đó đa số theo mô hình sao-dầu-cao su không đạt hiệu quả. (VietnamPlus 17/10) đầu trang(
Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Lào Cai vừa thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số và các tổ chức ở huyện vùng cao Bát Xát, với số tiền 744 triệu đồng theo Nghị định số 99 của Chính phủ.
Việc chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng được thực hiện nhanh, gọn, bảo đảm đúng đối tượng được hưởng lợi và an toàn. Điều này tạo nên sự gắn bó, trách nhiệm giữa các nhà máy thủy điện và người dân trồng và bảo vệ rừng, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng bào DTTS địa phương. (Nông Thôn Ngày Nay 16/10) đầu trang(
Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên-Huế, mỗi năm tỉnh này trồng mới từ 4.500-5.00ha rừng, nâng độ che phủ rừng đạt gần 56,7% so với diện tích đất tự nhiên và được đánh giá là địa phương có tỷ lệ độ che phủ rừng cao hơn so với nhiều nơi trong cả nước.
Ông Hồ Sỹ Nguyên, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên-Huế, cho biết giống là vấn đề then chốt quyết định đến chất lượng và năng suất rừng trồng. Nơi nào công tác quản lý giống tốt thì nơi đó có năng suất và chất lượng rừng trồng tăng cao.
Để phục vụ cho việc trồng rừng, tỉnh Thừa Thiên-Huế đã có 56 nguồn giống lâm nghiệp với tổng diện tích gần 45ha; trong đó chủ yếu bằng các hình thức nhân giống truyền thống như gieo hạt, vườn cung cấp hom và nhân giống hữu tính...
Các nguồn giống đã và đang được sử dụng hiệu quả, đảm bảo nguồn cung cấp chất lượng tốt để sản xuất cây con trồng rừng, đáp ứng nhu cầu trồng rừng ngày càng cao của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh.
Theo ông Nguyễn Trọng, Chi cục trưởng Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thừa Thiên-Huế, gần đây, Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước một thành viên Lâm nghiệp Tiền Phong đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực giống cây trồng lâm nghiệp, sản xuất cây con bằng phương pháp nuôi cấy mô thay thế lai hom trên cây keo lai.
Đối với cây keo lai, rừng trồng từ keo lai hom thường có tuổi thọ 6-7 năm, sau thời gian này cây có hiện tượng rỗng ruột, ra hoa, cây bị nấm bệnh. Điều này đã được khắc phục bằng biện pháp nhân giống vô tính bằng nuôi cấy mô cây keo lai.
Ưu điểm của nuôi cấy mô keo lai là tái tạo được sự non trẻ (hay làm trẻ hóa những cây thân gỗ). Giống keo lai được sản xuất từ phương pháp nuôi cấy mô đỉnh sinh trưởng có sức sống cao, có ưu thế hơn trong sản xuất gỗ lớn, tuổi thọ keo lai mô kéo dài đến hơn 10 năm.
Đến nay, cây giống được sản xuất bằng phương pháp này được các đơn vị trồng rừng, người dân ưa chuộng vì chất lượng cây trồng đảm bảo, ít bị gãy đổ do gió bão. Mặt khác, nếu những năm trước đây, năng suất gỗ rừng trồng chỉ đạt khoảng 50-60m3/ha, thì hiện nay do nguồn giống được cải thiện, chất lượng tốt nên năng suất đạt từ 100-120 m3/ha, tăng gấp hai lần.
Trồng rừng ở Thừa Thiên-Huế trong những năm gần đây phát triển mạnh nhờ tìm ra được bộ giống cây trồng thích hợp như keo lai, tràm hoa vàng, các loại phi lao, thông nhựa, sao, quế, dó bầu và một số cây bản địa khác.
Thị xã Hương Thủy hiện có hơn 26.000ha rừng, trong đó hơn 12.000ha rừng trồng, đa số bà con tập trung trồng cây keo lai vì đây là loại cây sinh trưởng nhanh, dễ chăm sóc và cho thu nhập cao. Cây keo lai trồng sau bốn năm có thể thu hoạch, đạt khoảng 50 tấn/ha, doanh thu từ 60-65 triệu đồng, trừ chi phí còn lãi khoảng 30 triệu đồng.
Cây keo lai không chỉ cải thiện kinh tế cho những hộ gia đình có diện tích trồng rừng mà còn giải quyết công việc làm cho lao động tại chỗ như thu hoạch cây và bóc vỏ cây với thu nhập 150.000-180.000 đồng/ngày công lao động.
Theo quy hoạch, tỉnh Thừa Thiên-Huế đặt mục tiêu đến năm 2015 đạt tỷ lệ độ che phủ rừng đến hơn 58% và đến năm 2020 đạt gần 61%. Cơ cấu ba loại rừng đến năm 2020 sẽ là rừng đặc dụng chiếm tỷ lệ trên 26%; rừng phòng hộ chiếm hơn 30% và rừng sản xuất (dạng trồng rừng kinh tế) chiếm tỷ lệ gần 44%.
Vì vậy, việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để nhân rộng mô hình sản xuất cây con phục vụ cho việc trồng rừng bằng phương pháp nuôi cấy mô ở Thừa Thiên-Huế hiện nay là hết sức cần thiết... (VietnamPlus 17/10) đầu trang(
Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đã TXCT trước Kỳ họp thứ Tám, QH Khóa XIII trên địa bàn.
Cử tri phản ánh thủ tục giải quyết chế độ chính sách đối với người có công với cách mạng còn rườm rà; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, nhất là ở địa bàn nông thôn, miền núi; việc đền bù một số dự án còn chậm, ảnh hưởng đến đời sống người dân; chất lượng khám và chữa bệnh đối với người dân tham gia BHYT còn hạn chế…
Cử tri kiến nghị cơ quan chức năng đẩy mạnh công tác quản lý, bảo vệ rừng, giao đất, giao rừng cho các hộ dân khoanh nuôi, bảo vệ; giải quyết dứt điểm các đơn thư KNTC của công dân liên quan đến lĩnh vực đất đai; quan tâm việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội… (Đại Biểu Nhân Dân 16/10) đầu trang(
Sau 2 năm thực hiện, với mức kinh phí gần 700 triệu đồng, sáng 15/10, Hội đồng khoa học công nghệ cấp tỉnh tổ chức nghiệm thu đề tài nghiên cứu “Triển khai các mô hình phục hồi và quản lý rừng ngập mặn, thảm cỏ biển ở khu vực đầm thủy triều” do TS Nguyễn Thị Thanh Thủy - Phó viện trưởng Viện Hải dương học làm chủ nhiệm đề tài.
Do chịu nhiều áp lực trước các hoạt động kinh tế của con người, diện tích rừng ngập mặn ở đầm Thủy Triều huyện Cam Lâm chỉ còn 14,3 ha. Đề tài đã tiến hành điều tra, khảo sát hiện trạng quản lý và sử dụng hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm cỏ ở đầm Thủy Triều; đồng thời kết hợp với chính quyền, người dân địa phương và doanh nghiệp để triển khai 2 mô hình: phục hồi rừng ngập mặn trong vùng nuôi tôm bị thoái hóa (2,2 ha) và phục hồi rừng ngập mặn tại bãi triều (1,5 ha), tỷ lệ sống đạt trên 80%.
Kết quả này là cơ sở để xây dựng dự thảo Quy chế quản lý rừng ngập mặn, thảm cỏ biển ở đầm Thủy Triều và đề xuất các giải pháp mở rộng phục hồi và quản lý rừng ngập mặn, thảm cỏ biển.
Để chuyển giao và nhân rộng mô hình, nhóm thực hiện cần bổ sung phương pháp kỹ thuật trồng phục hồi đối với các loại cây; có phân tích về hiệu quả kinh tế, xã hội trực tiếp để có cơ sở để thuyết phục cộng đồng tự nguyện tham gia. (Đài PTTH Khánh Hòa 15/10) đầu trang(
Năm 2003, khi di dời hơn 850 hộ dân ở xã Dương Hòa, thị xã Hương Thủy để lấy đất cho dự án hồ Tả Trạch, tỉnh TT-Huế quy định: những hộ dân phải di dời sau khi đến nơi ở mới sẽ được cấp tối thiểu 1ha đất trồng hoa màu, riêng đất rừng thì thực hiện “đất đổi đất”, nên người dân không được đền bù đất rừng.
Tuy nhiên, đến nay, sau 10 năm về các khu tái định cư (TĐC), dân vẫn chưa được cấp đất theo đúng chủ trương “đất đổi đất” của tỉnh với số đất nợ 1.012 ha.
Dự án hồ Tả Trạch được xây dựng trên sông Tả Trạch (một nhánh chính của sông Hương phía thượng nguồn) với diện tích lưu vực 717 km2, với tổng kinh phí qua nhiều lần điều chỉnh là gần 4.000 tỷ đồng (từ nguồn vốn trái phiếu Chính phủ) do Bộ NN & PTNT làm chủ đầu tư.
Công trình này với các chức năng chính là chống lũ tiểu mãn, lũ sớm, giảm lũ chính vụ cho hệ thống sông Hương; cấp nước sinh hoạt và công nghiệp, cung ứng một lượng nước ngọt lớn cho hạ lưu sông Hương... Hiện công trình đang khẩn trương hoàn thành và dự kiến cắt giảm lũ trong mùa bão lụt năm 2014. Nghĩa là công trình sắp khánh thành nhưng có hơn 850 hộ dân với khoảng 4.000 nhân khẩu vẫn chưa được đền bù thỏa đáng.
Xã Bình Thành, TX Hương Trà tiếp nhận hơn 220 hộ dân bị di dời từ dự án hồ Tả Trạch. Số hộ dân này được bố trí tại 3 khu TĐC là Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành. Theo các hộ dân, khi di dời, họ được nhà nước bồi thường tiền cây cối, nhà cửa, tài sản gắn với nhà cửa, đất vườn. Còn đối với đất lâm nghiệp, tỉnh hứa sẽ thực hiện chủ trương “đất đổi đất” để bà con yên tâm sản xuất làm kinh tế tại nơi ở mới.
Ông Hồ Văn Đen (66 tuổi, trú thôn Bình Dương) bàn giao 3,6 ha đất lâm nghiệp cho dự án hồ Tả Trạch, buồn bã nhớ lại: “Ngày tỉnh và huyện về vận động người dân sớm dọn đến nơi ở mới để xây hồ Tả Trạch, người dân trong thôn buồn lắm nhưng rồi theo chủ trương chung ai cũng đồng tình. Khi đó, nghe tỉnh thông báo, đối với đất lâm nghiệp, người dân không được đền bù mà thực hiện chủ trương “đất đổi đất”. Người dân ai cũng vui mừng, nhanh chóng dọn đến nơi định cư”.
Theo ông Đen, đối với người dân bị ảnh hưởng dự án hồ Tả Trạch, thì diện tích đất lâm nghiệp là nguồn nuôi sống của mỗi gia đình. Thế nhưng, bà Nguyễn Thị Bụi (64 tuổi)- vợ ông Đen cho biết, khi qua nơi ở mới 1 tháng, 2 tháng vẫn không thấy tỉnh cấp đất lâm nghiệp như lời hứa ban đầu... người dân chạy khắp nơi “gõ cửa” với mong muốn được sớm cấp đất để trồng cây, có thu nhập... nhưng đều thất vọng.
Chung cảnh ngộ với ông Đen là ông Nguyễn Đình Phòng (80 tuổi, trú thôn Hòa Bình, xã Bình Thành). Trước khi bị di dời TĐC đến xã Bình Thành, hộ ông Phòng phải nhường 6,26 ha đất lâm nghiệp đang trồng keo tràm cho dự án Tả Trạch. Trước khi ra đi từ nơi ở cũ, ông Phòng được tỉnh hứa sẽ cấp đủ lại số đất lâm nghiệp khi đến nơi ở mới. Nhưng, từ khi đến định cư ở thôn Hòa Bình chục năm nay mà ông vẫn chưa được cấp lại diện tích đất nói trên.
Bức xúc trước lời hứa “đất đổi đất” của UBND tỉnh TT-Huế, ông Phòng đã nhiều lần gửi đơn kiến nghị đến Thủ tướng Chính phủ, Bộ NN & PTNT để đòi lấy sự công bằng của ông cũng như các hộ dân bị ảnh hưởng. Không có đất, không có thu nhập, vợ chồng ông Phòng mở quán tạp hóa nhỏ bán buôn tại nhà để kiếm cơm qua ngày.
Bi kịch của người dân TĐC xã Bình Thành cũng là thực trạng chung tại các khu TĐC khác của dự án hồ Tả Trạch, như các khu TĐC Bến Ván, Phúc Lộc (H. Phú Lộc), Khe Sòng (xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy)...
“Tại nơi ở cũ, gia đình tui có 5 ha đất rừng, chưa kể lượng lớn đất trồng hoa màu, nhưng về đây chỉ được cấp vỏn vẹn 4 sào đất cằn cỗi, trồng cây gì cũng không sống nổi. Từ cuộc sống khá giả, năm nào cũng thu nhập trên 100 triệu đồng nhưng nay thì thất nghiệp”- bà Hồ Thị Lư (thôn TĐC Phúc Lộc, xã Xuân Lộc) bức xúc.
Theo thống kê của Ban Kinh tế và ngân sách HĐND tỉnh TT-Huế, đến thời điểm hiện tại, tỉnh vẫn nợ người dân mất đất bởi công trình hồ Tả Trạch tổng cộng 1.012ha đất sản xuất vì chủ trương “đất đổi đất” không được thực hiện.
Theo số liệu từ UBND xã Bình Thành-nơi có hơn 200 hộ dân TĐC liên quan dự án di dời hồ Tả Trạch có tổng diện tích đất lâm nghiệp là hơn 4.600 ha, trong khi đó diện tích hộ gia đình sử dụng chỉ có hơn 600 ha.
Diện tích còn lại chủ yếu giao cho các tổ chức sử dụng và quản lý như: Cty TNHH Một thành viên Tiền Phong, Cty Giống cây trồng vật nuôi TT-Huế, Ban quản lý rừng đầu nguồn sông Hương...
Ông Nguyễn Văn Trung-Chủ tịch HĐND xã Bình Thành nói: “Trước thực trạng người dân không có đất lâm nghiệp sản xuất dẫn đến đời sống khó khăn, nhiều năm liền xã có đơn kiến nghị gửi cấp trên xem xét quỹ đất của xã cấp cho các hộ dân. Mặc dù xã đã nhiều lần kiến nghị xin được cấp đất nhưng không được tỉnh chấp thuận. Thế nhưng, năm 2013, tỉnh lại ký thẻ đỏ cấp 500 ha đất của xã này cho một lâm trường”. (Công An TP Đà Nẵng 16/10) đầu trang(
Do tỉnh nợ đất kéo dài đến 10 năm nên hàng trăm hộ dân gặp rất nhiều khó khăn về đời sống kinh tế. Trước khi đến tái định cư ở vùng đất mới, nhiều người dân từng là chủ rừng, mỗi ngày thuê 5-7 công nhân chăm sóc cây. Vậy mà, từ khi đến nơi ở mới, từ chủ rừng, nhiều người trở thành “ô-sin” kiếm cơm qua ngày.
Đi dọc các khu TĐC Hòa Bình, Bình Dương và Hòa Thành vào buổi trưa, khó khăn lắm, bắt gặp được một người trung niên trạc 45 tuổi, đó là anh Nguyễn Chiến. Hỏi về thanh niên nam, nữ trong làng “vắng bóng”.
Anh Chiến cho biết, từ khi dân di dời để nhường đất cho dự án Tả Trạch đến xã Bình Thành, do không có rừng nên hơn 90% người dân dạt đi nhiều nơi làm thuê, làm mướn để kiếm cái ăn, cái mặc hàng ngày. Theo anh, trước đây khi ở chỗ cũ gia đình anh có 2 ha diện tích lâm nghiệp trồng keo tràm và xen kẽ hoa màu. Mỗi năm, gia đình anh cũng thu nhập được khoảng 40 triệu đồng trên 2 ha đó.
“Trong khi chờ đền bù đất trồng rừng, hàng ngày, tui và vợ dạt đi các huyện lân cận để trồng rừng thuê cho người ta. Một ngày, đi làm thuê từ sáng cho đến tối, 2 vợ chồng cũng kiếm được hơn 200 ngàn đồng nhưng không phải ngày nào cũng có việc”, anh Chiến than.
Hơn 10 năm về trước, người dân ở xã Dương Hòa, khi nghe nhắc đến ông Trần Dàng (70 tuổi, trú khu TĐC Bình Dương, xã Bình Thành), mọi người đều nể phục bởi ông là chủ trang trại làm ăn khá giả. Lúc nào, ông Dàng cũng sở hữu đàn bò hơn 50 con và mấy héc-ta rừng keo. Hàng ngày, ông thuê khoảng 3 lao động làm công với tiền lương 4,5 triệu đồng/người.
Trước khi chuyển đến nơi ở mới, ông Dàng đành phải bán hơn nửa số bò. Số còn lại, ông đưa qua chỗ mới nuôi, do không có đất nên chúng cũng chết dần dần. Còn diện tích đất lâm nghiệp ông gần 1ha vẫn đang bị nợ nên cuộc sống gia đình ông lâm vào cảnh khó khăn.
Không còn đất sản xuất, nuôi trồng, để có tiền đắp đổi qua ngày, dù lớn tuổi nhưng ông Dàng vẫn đi đốn cây thuê cho các chủ rừng. Mỗi ngày tiền công của ông được 130 ngàn đồng. “Có hôm, gặp chủ rừng xem mặt họ chê tui già, làm không nổi thì tui phải vào rừng mót cây họ bỏ đi, đem về chẻ, bó thành củi bán cho người ta”, giọng ông Dàng nghèn nghẹn.
Đến với người dân TĐC di dời bởi dự án hồ Tả Trạch, được nghe những câu chuyện những người từng là chủ rừng bỗng dưng đi làm “ô-sin” mới thấm thía được nỗi đau người dân bị nợ đất. Vốn là chủ của một rừng tràm 5ha, hộ ông Lê Đức Thảo (52 tuổi), ở khu TĐC Khe Sòng (xã Dương Hòa) từ ngày bàn giao đất cho dự án nhưng đến nay vẫn không được cấp lại đất mới.
Năm 2004, sau khi nhận quyết định di dời do nằm trong phần đất của dự án hồ Tả Trạch, vợ chồng ông Thảo “nhắm mắt làm liều” và quyết định bán rừng tràm 4 năm tuổi với giá 40 triệu đồng rồi chuyển về khu TĐC Khe Sòng ở. “Chúng tôi nhận đền bù đất ở và tài sản trên đất nông nghiệp. Riêng đất lâm nghiệp theo chủ trương “đất đổi đất” nhưng đợi cả gần chục năm nay chẳng thấy nên vợ chồng tui phải đi phát hoang, trồng rừng thuê…”, ông Thảo bức xúc.
Cũng như ông Thảo, trường hợp của ông Phan Từ Phong, ở thôn Hộ (xã Dương Hòa) cuộc sống rất lao đao. Trong căn nhà cấp 4 nằm heo hút giữa ngọn đồi, ông Phong ngày càng tiều tụy, mỏi mòn vì chờ được cấp đất.
Ông Phong tâm sự: “Phải mất hơn 3 năm trời, vợ chồng tui đổ bao công sức, mồ hôi mới khai phá được gần 4.000m2 đất để trồng rừng và hoa màu. Năm 2010, gia đình tui bàn giao hết số đất này cho dự án hồ Tả Trạch nhưng đến nay vẫn chưa nhận được đất để sản xuất. Nông dân tụi tui, sống mà không có đất thì biết lấy chi mà ăn”.
Ông Trương Văn Huy, Trưởng thôn tái định cư Khe Sòng (xã Dương Hòa) cho biết, từ ngày di dời về khu TĐC này đến nay, đời sống của 68 hộ dân trong thôn tụt dốc như xe không phanh. “100% hộ dân ở đây đều phải trông chờ vào việc làm thuê làm mướn để có cái ăn vì thiếu đất sản xuất trầm trọng.Trẻ em ở đây phần lớn đều phải bỏ học từ rất sớm, ngày càng có nhiều gia đình mâu thuẫn vì đói khổ”, ông Huy nói.
Theo Phó Chủ tịch HĐND xã Bình Thành Nguyễn Ngọc Nguyên, trước tình trạng người dân của xã thiếu đất trồng cây lâm nghiệp trầm trọng, xã đã có kiến nghị với lãnh đạo tỉnh TT-Huế xem xét và thu hồi đất lâm trường để giao cho dân sản xuất.
Cũng theo ông Nguyên, trước đây, tỉnh có cấp cho Cty Giống cây trồng vật nuôi (thuộc Sở NN & PTNT tỉnh TT-Huế) 72 ha đất lâm nghiệp để chăn nuôi trang trại bò sữa. Tuy nhiên, hiện nay, Cty này chỉ nuôi lác đác vài ba con bò mà chủ yếu là trồng keo tràm kinh tế. Xã mong rằng, nếu Cty không sử dụng đất đúng mục đích thì tỉnh nên thu hồi để cấp cho người dân trong xã, giải quyết công ăn việc làm cho người dân...
Đem những bức xúc của người dân về việc tỉnh nợ đất kéo dài, Chánh văn phòng UBND tỉnh TT-Huế Hoàng Ngọc Khanh cho biết, tỉnh sẽ thu hồi một số diện tích đất của lâm trường để đền bù cho một phần hộ dân, phần còn lại sẽ được bồi thường bằng tiền, bởi hiện quỹ đất của tỉnh không còn. Nói về phương án bồi thường bằng tiền, ông Khanh cho hay đã trình Bộ NN & PTNT (chủ đầu tư dự án hồ chứa nước Tả Trạch) và Chính phủ.
Ông Khanh lý giải việc chậm đền bù cho người dân là vì dự án hồ Tả Trạch liên tục điều chỉnh, tăng vốn đầu tư, trong khi trị giá bồi thường vượt ngoài khả năng chi trả của tỉnh.
Phương án bồi thường bằng tiền vừa được Chính phủ chấp thuận, bằng việc tách ra một dự án riêng, nằm trong dự án hồ Tả Trạch, hiện Bộ KH & ĐT đang thẩm định nguồn vốn. Sau khi có nguồn vốn, UBND tỉnh sẽ tiến hành bồi thường, giá đền bù tính theo thời điểm hiện nay, vận dụng những chính sách có lợi nhất cho người dân. Tuy nhiên, khi P.V hỏi cụ thể vào thời gian nào thì người dân sẽ được bồi thường đất hoặc tiền thì ông Khanh nói đang triển khai.
Nói về giải pháp bồi thường tiền thay vì đất lâm nghiệp như tỉnh đã hứa trước đây, nhiều nông dân cho rằng, họ muốn sống phải có đất. Nếu Nhà nước bồi thường tiền họ sẽ ăn tiêu hết, nghèo lại hoàn nghèo. Một lãnh đạo xã cho rằng, phương án tốt nhất là tỉnh nên thu hồi một phần đất của lâm trường để cấp cho nông dân.
10 năm chờ đợi bồi thường đất là quãng thời gian khá dài mà người dân TĐC hồ Tả Trạch đang “mỏi mòn” trông chờ từng giờ, từng ngày. Hy vọng rằng, lãnh đạo tỉnh TT-Huế, Ban quản lý dự án hồ Tả Trạch sớm xém xét, triển khai bồi thường cho người dân để họ sớm được ổn định cuộc sống. (Công An TP Đà Nẵng 17/10) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Theo trang tin BussinessDesk, giá XK gỗ của New Zealand sang Trung Quốc tăng trở lại sau hai năm đứng ở mức thấp.
Giá trung bình tại cảng của New Zealand đối với gỗ nhóm A giảm 76 USD/tấn (tháng 7/2014), mức thấp nhất kể từ tháng 4/2012 nhưng sang tháng 8/2014 đã phục hồi lên 80 USD/tấn, và sang tháng 9 tăng tiếp lên 88 USD/tấn.
Trung Quốc là bạn hàng NK gỗ lớn nhất của New Zealand, còn New Zealand đuợc xếp thứ 3 quốc gia XK gỗ hàng hóa lớn nhất thế giới hiện nay.
Phần lớn gỗ XK của New Zealand được dùng cho mục đích xây dựng, trong khi đó lĩnh vực xây đựng của Trung Quốc thời gian trước suy giảm nên việc NK gỗ của Trung Quốc giảm theo. Ngoài ra còn phải kể đến tỷ giá đồng đôla New Zealand giảm mạnh nên tính ra chi phí vận chuyển tăng. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/10, tr7) đầu trang(
Theo tờ Bussinesline số ra ngày 6/10, sau khi Myanmar cấm XK gỗ, ngành công nghiệp gỗ dán của Ấn Độ đã phải tìm nguồn thay thế từ châu Phi và Đông Nam Á.
Từ cuối tháng 3, Myanmar cấm XK gỗ nên từ 1/4/2014, Ấn Độ đã phải NK gỗ thay thế từ một số quốc gia như Papua New Guinea, Solomon Island, Malaysia, Việt Nam, Campuchia, Liberia và Cameroon. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/10, tr7) đầu trang(
Một phóng viên của tờ báo Niseth Khmer của Campuchia đã bị bắn chết tại tỉnh Kratie khi phóng viên này đang điều tra việc khai thác gỗ bất hợp pháp.
Theo giới chức địa phương, anh Sa Piseth trong khi đang tiến hành điều tra việc khai thác gỗ bất hợp pháp cùng với đồng nghiệp của mình thì bị hỏng xe, sau đó, trong lúc đi tìm kiếm sự giúp đỡ thì anh bị 3 người đàn ông đi ô tô bắn chết.
Ngay sau khi sát hại nhà báo trên, những thủ phạm gây ra vụ án đã nhanh chóng chạy trốn, tuy nhiên, lực lượng chức năng đã tiến hành điều tra và bắt giữ 1 số nghi phạm, nhưng không tiết lộ danh tính của những nghi phạm trên.
Các công tác điều tra đang được tiếp tục điều tra làm rõ. Theo tổ chức Tổ chức quan sát nhân quyền tại Châu Á, những nhà báo làm công tác điều tra khai thác gỗ bất hợp pháp và các hành vi sai trái về đất đai và rừng của campuchia là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm và luôn có sự đe dọa rình rập.
Vì vậy, việc bảo vệ tính mạng cho các nhà báo điều tra tại Campuchia cần phải được triển khai mạnh hơn nữa. Trước đó, vào năm 2012, 1 nữ nhà báo cũng đã thiệt mạng khi đang điều tra buôn lậu gỗ tại tỉnh Rattanakiri của Campuchia. (Truyền Hình Công An Nhân Dân 15/10) đầu trang(./.
Biên tập: Lê Vòng
|
|||