|
Ngày 16 tháng 12 năm 2016
BẢO VỆ RỪNG
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
NHÌN RA THẾ GIỚI
BẢO VỆ RỪNG
Mùa khô năm 2016-2017, tình hình thời tiết diễn biến phức tạp do khô hanh, lượng mưa ít dẫn đến thảm thực bì khô nỏ làm tăng nguy cơ cháy rừng trên địa bàn thành phố.
Trước thực trạng này, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa có văn bản đề nghị các huyện, thị xã có rừng và cơ quan, đơn vị liên quan tăng cường các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng mùa khô.
Để chủ động triển khai các biện pháp bảo vệ rừng, PCCC rừng, ứng phó kịp thời với những tình huống có thể xảy ra, UBND các huyện, thị xã đôn đốc, kiểm tra thực hiện phương án PCCC rừng tại địa phương; tăng cường tuyên truyền về công tác PCCC rừng cho các chủ rừng và các tổ chức ở ven rừng; tổ chức rà soát kiểm tra đánh giá phương tiện trang thiết bị PCCC rừng, sẵn sàng huy động ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra theo phương “châm bốn tại chỗ”.
Chỉ đạo các ngành chức năng bố trí lực lượng canh phòng ở những khu vực trọng điểm; kiểm soát không để phát sinh nguồn lửa, phát hiện sớm điểm cháy. Thông báo kịp thời khi phát hiện cháy rừng và chỉ đạo quyết liệt, huy động các lượng tại chỗ để dập tắt đám cháy.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tư lệnh Thủ đô sẽ phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng dân quân tự vệ với lực lượng Kiểm lâm trong công tác bảo vệ rừng. Chỉ đạo các đơn vị đóng quân trong rừng, gần rừng phối hợp chặt chẽ với lực lượng Kiểm lâm, chính quyền địa phương tham gia công tác PCCC rừng và xây dựng phương án bảo vệ rừng PCCC rừng tại chỗ, đối với các đơn vị quận đội có kho tàng như: Xăng, đạn dược…, đóng quân trong rừng hoặc gần rừng có phương án bảo vệ đặc biệt và thường xuyên kiểm tra canh gác nghiêm ngặt.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao Chi cục Kiểm lâm Hà Nội tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn chủ rừng thực hiện phương án PCCC rừng, chú ý các xã thuộc vùng trọng điểm cháy. Triển khai tốt các nội dung về công tác PCCC theo quy định. Thông tin kịp thời về nguy cơ cháy rừng để chủ động tổ chức PCCC đạt hiệu quả. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm đối với các hành vi phá rừng, vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng…
Trung tâm Phát triển lâm nghiệp Hà Nội, Ban Quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về PCCC rừng trên địa bàn thành phố. Phân công cán bộ tuần tra canh gác bảo vệ rừng 24/24 giờ trong suốt những tháng mùa khô hanh, đặc biệt là các xã thuộc vùng trọng điểm cháy; chủ động xây dựng phương án PCCC rừng; phối hợp với chính quyền địa phương, đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn và các xã giáp ranh với tỉnh bạn thực hiện tốt các biện pháp PCCC rừng; tổ chức lực lượng ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra theo phương châm “bốn tại chỗ”. (Cổng Thông Tin Điện Tử TP.Hà Nội 15/12) đầu trang(
Đó là ý kiến chỉ đạo của ông Lữ Văn Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại Hội nghị tổng kết công tác phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017, do Ban chỉ đạo về kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh, giai đoạn 2011-2020 (Ban chỉ đạo) tổ chức vào chiều ngày 15-12 tại Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng.
Nhận định mức độ nghiêm trọng của hạn hán, xâm nhập mặn năm 2016 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác PCCCR, chính vì vậy, ngay từ đầu mùa khô, Ban chỉ đạo đã có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, sâu sát. Các địa phương và chủ rừng đã vào cuộc quyết liệt với quyết tâm cao, từ đó công tác PCCCR được triển khai đều khắp, nhất là các khu vực trọng điểm.
Cụ thể, Chi cục Kiểm lâm tỉnh phối hợp với ngành chức năng, chủ rừng thường xuyên đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ rừng với nhiều hình thức; tổ chức 74 cuộc kiểm tra để kịp thời nhắc nhở việc thực hiện quy ước bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư, cũng như nhắc nhở người dân vào rừng trái phép.
Củng cố 17 tổ chữa cháy rừng chuyên trách (với 120 người) và thành lập 55 tổ quần chúng (gần 1.000 người) sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng. Vào những tháng cao điểm, lực lượng trực tháp canh đảm bảo duy trì ca trực từ 9 giờ sáng đến 19 giờ tối (kể cả ngày thứ bảy, chủ nhật và các ngày lễ).
Trong năm qua, mặc dù toàn tỉnh ghi nhận xảy ra 8 vụ cháy ở các khu vực có rừng, trong đó có 2 vụ cháy thực bì rừng và 6 vụ cháy cỏ, vườn tạp. Tuy nhiên, do thực hiện tốt công tác PCCCR nên tất cả các vụ cháy trên được khống chế kịp thời, thiệt hại xảy ra không đáng kể và không ảnh hưởng đến rừng. Đây là năm thứ sáu liên tiếp diện tích rừng trên địa bàn tỉnh được bảo vệ tốt.
Phát biểu tại hội nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND tỉnh Lữ Văn Hùng biểu dương những kết quả đạt được trong công tác PCCCR năm qua, đồng thời đề nghị các ngành có liên quan tiếp tục phát huy các phương án PCCCR hiệu quả trong mùa khô 2017, cũng như các năm tiếp theo. Trong đó, tăng cường công tác tuyên truyền cho người dân về công tác PCCCR, nhất là ở những khu vực trọng điểm. Sở NN&PTNT tỉnh sớm phối hợp với các chủ rừng trong việc xây dựng kế hoạch PCCCR năm 2017, trong đó lưu ý cần xây dựng nhiều phương án phòng cháy.
Các ngành chức năng có liên quan thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở các chủ rừng đề cao cảnh giác PCCCR, nhất là vào những tháng cao điểm, những đơn vị chủ rừng nào thiếu trách nhiệm để xảy ra cháy rừng thì có văn bản gửi về UBND tỉnh để xử lý…
Dịp này, có 4 tập thể và 7 cá nhân được UBND tỉnh tặng bằng khen vì có thành tích trong công tác PCCCR 5 năm liền (2011-2015); đồng thời có 2 tập thể và 3 cá nhân được Sở NN&PTNT tỉnh tặng giấy khen vì có thành tích trong PCCCR năm 2016. (Báo Hậu Giang 15/12) đầu trang(
Ngày 14-12, ông Nguyễn Khắc Sương-Hạt phó Hạt Kiểm lâm huyện Tu Mơ Rông (Kon Tum) cho biết, ngành chức năng huyện đã phối hợp với UBND xã Đak Sao vận chuyển hơn 4,9 m3 gỗ xẻ vô chủ được phát hiện dưới lòng suối về tạm giữ tại trụ sở UBND xã Đak Sao để phục vụ cho việc điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.
Trước đó, đêm 12-12, khi đang tuần tra tại khu vực bờ suối thuộc địa bàn thôn Năng Nhỏ 1 (xã Đak Sao), lực lượng Dân quân của xã do ông Đỗ Văn Toản-cán bộ Kiểm lâm huyện phụ trách địa bàn xã Đak Sao dẫn đầu đã phát hiện 22 hộp gỗ Giổi (thuộc nhóm III) đã được xẻ vuông vắn (khối lượng 4,922 m3) đang cất giấu kín đáo dưới lòng suối. Toàn bộ số gỗ này không có dấu búa Kiểm lâm.
Vụ việc đang được Hạt Kiểm lâm huyện Tu Mơ Rông phối hợp với xã Đak Sao tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật. (Báo Gia Lai 14/12, Thanh Niên 15/12) đầu trang(
Thành phố Hòa Bình có 14/15 xã, phường có đất lâm nghiệp và rừng. Diện tích đất lâm nghiệp trên 8.840 ha, trong đó, đất có rừng 5.554 ha.
Mùa khô nguy cơ cháy rừng ở thành phố rất cao, nhất là các khu vực đất lâm nghiệp không có rừng ở các vùng núi đá, khu vực giáp ranh nhiều cỏ lau, bụi cây bị chết vào mùa khô và những khu vực rừng trồng có lớp thực bì dày do nhiều lá khô rụng tạo thành nguồn vật liệu dễ bắt lửa gây nên cháy rừng.
Thành phố đang khẩn trương triển khai những biện pháp cấp bách phòng cháy - chữa cháy rừng (PCCCR) mùa khô năm 2016-2017, kiện toàn BCH PCCCR các cấp, thực hiện các biện pháp PCCCR theo phương châm “4 tại chỗ”. Đồng chí Phạm Ngọc Luân, Hạt phó Hạt Kiểm lâm thành phố cho biết: Thành phố đã hoàn thành rà soát các khu vực trọng điểm nguy cơ cháy rừng cao với diện tích trên 5.600 ha, chủ yếu ở khu vực các xã: Trung Minh, Thái Thịnh, Yên Mông, Dân Chủ, Hòa Bình... để triển khai các biện pháp PCCCR cho phù hợp.
Hạt kiểm lâm đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng 1 phương án PCCCR cấp thành phố và 14 phương án PCCCR cấp xã, phường. Tăng cường kiểm tra rà soát, đôn đốc cơ sở thực hiện nghiêm túc các quy định về PCCCR, bảo vệ rừng.
Hạt kiểm lâm đã chỉ đạo lực lượng kiểm lâm địa bàn bám sát cơ sở, tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai các biện pháp PCCCR. Lực lượng Kiểm lâm tăng cường bám cơ sở, đề nghị các xã, phường thường xuyên duy trì ứng trực phòng cháy, tuần tra, kiểm soát các khu vực trọng điểm nguy cơ cháy rừng cao, sẵn sàng xử lý tình huống khi cháy rừng xảy ra.
Cùng với công tác tuyên truyền, thành phố đã duy trì hoạt động trên 100 tổ đội quần chúng bảo vệ rừng với 960 người tham gia, hướng dẫn các chủ rừng thực hiện nghiêm các quy định về PCCCR, nhất là trong phát dọn thực bì để canh tác, sản xuất nông nghiệp, quản lý chặt chẽ sử dụng lửa trong mùa khô hanh. Các xã, phường đã quán triệt các quy định PCCCR đến các chủ rừng.
Trong đó, đối với các khu rừng trồng cần xây dựng đường băng cản lửa chống cháy lan. Các chủ rừng, hộ gia đình khi xử lý thực bì phải báo cáo với chính quyền hoặc cán bộ kiểm lâm địa bàn. Khi đốt lửa cần túc trực canh gác chờ tàn lửa mới được về. Các khu vực rừng có đường dây điện tại các xã: Yên Mông, Hòa Bình, phường Thái Bình phải thường xuyên kiểm tra loại bỏ những cây có nguy cơ chập, cháy nếu bị gãy đổ vào hành lang an toàn lưới điện, giảm bớt các vật liệu dễ cháy.
Các xã, phường đang tích cực triển khai các phương án PCCCR. Chủ tịch UBND xã Sủ Ngòi Nguyễn Huy Luyến cho biết: Xã có tổng diện tích tự nhiên 900 ha, trong đó có 600 ha đất lâm nghiệp, gồm 100 ha rừng tái sinh còn lại là rừng trồng, chủ yếu là keo, tiềm ẩn nguy cơ cháy rừng cao, nhất là các khu vực thuộc các xóm: Sủ Đồi, Ngòi, khu vực giáp ranh suối Cang, phường Đồng Tiến. Xã đã duy trì tốt thời gian trực PCCCR, tổ chức tuần tra, kiểm soát các khu vực trọng điểm, các cửa ra vào rừng, đặc biệt đã huy động hàng trăm người dân kịp thời dập tắt cháy rừng tại xóm 5, không để lây lan ra diện rộng. Năm 2016, trên địa bàn chưa để xảy ra cháy rừng. (Báo Hòa Bình 15/12) đầu trang(
Gần 2 tháng nay, khi nước trong hồ Dầu Tiếng tích đạt và vượt mức thiết kế 24.4 mét đã làm cho hàng trăm ha rừng phòng hộ ở khu vực đều ngập trong nước.
Tại Tiểu khu 63 thuộc địa bàn ấp Phước Bình 1 và Phước Bình 2 (xã Suối Đá, huyện Dương Minh Châu) có 160 ha rừng phòng hộ bị nước nhấn chìm, trong đó có 60 ha cây dầu được trồng từ năm 1990 bị nước ngập sâu từ 0,2-0,5 mét. Đây là lần đầu tiên khu rừng này bị nước ngập, kể từ khi cây dầu được trồng.
Cạnh đó, gần 20 ha cây tràm và cây dầu trồng năm 2012 cũng bị nước ngập sâu, có nguy cơ chết toàn bộ.
Theo ông Nguyễn Khương Thượng- Trưởng Tiểu khu 63, ở một vài tiểu khu khác trong lòng hồ Dầu Tiếng cũng có nhiều diện tích rừng mới trồng bị ngập nước; đơn vị chủ quản đã tiến hành kiểm tra, khảo sát thực tế, báo cáo và kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét đưa ra khỏi quy hoạch đối với diện tích bị ngập sâu, khó trồng rừng phòng hộ.
Đối với 60 ha diện tích cây dầu trồng từ năm 1990, do nước ngập lâu ngày, đất mềm, nhão, thân cây dầu cao hơn 20 mét rất dễ ngã đổ nếu có gió bão, đơn vị chủ quản khuyến cáo người dân không nên hành nghề đánh bắt thủy sản dưới tán rừng cây này. (Báo Tây Ninh 15/12) đầu trang(
Theo nghi nhận của phóng viên thì những cây xanh được trồng tại dải phân cách (đoạn từ cầu Cà Lồ đến KCN Yên Phong) của Quốc lộ 18 nhiều đoạn dài hàng km bị thiêu trụi và không có biểu hiện của sự sống.Thảm có dưới mặt đất đều bị cháy trụi chỉ còn là tro tàn, những khóm cây xanh bị lửa đốt khiến lá và thân khô héo.
Trao đổi với Phóng viên Ông Ngô Lương Pha - Phó giám độc Sở GTVT tỉnh Bắc Ninh cho biết: "Sở GTVT Bắc Ninh chưa nắm được thông tin, cây xanh ở dải phân cách Quốc lộ 18 bị đốt trụi, và Sở cũng không chỉ đạo việc đốt cỏ và cây xanh ở đó. Chúng tôi sẽ cử cán bộ phụ trách đi kiểm tra thông tin và có biện pháp xử lý."
Được biết thời gian qua dải phân cách của Quốc lộ 18 xuất hiện tình trạng cỏ mọc um tùm, cản trở tầm nhìn của người tham gia giao thông. Trước hiện tượng đó Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã có văn bản gửi Bộ GTVT về tình trạng cỏ mọc um tùm trên dải phân cách thuộc quốc lộ 18, gây cản trở việc lưu thông đề nghị cắt tỉa để tránh tại nạn giao thông đáng tiếc. (Pháp Luật + 14/12) đầu trang(
Chiều 13-12, Bộ Chỉ huy BĐBP và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình tổ chức lễ ký kết kế hoạch phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới, đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới trên địa bàn tỉnh. Thượng tá Phạm Xuân Diệu, Chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh và đồng chí Phạm Xuân Thái, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lẩm tỉnh chủ trì lễ ký kết.
Năm 2016, Bộ Chỉ huy BĐBP và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình đã phát huy tích cực nhiệm vụ của mỗi bên, xác định đúng trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy và đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng.
Hai đơn vị đã xây dựng cơ chế chính sách, phối hợp tham mưu, đề xuất với UBND tỉnh về những chủ trương, chính sách, biện pháp tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng qua đó cùng đấu tranh ngăn chặn hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới; trao đổi thông tin quan trọng về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng; hoạt động của người, phương tiện trong khu vực biên giới, nắm rõ phương thức hoạt động của các đối tượng vi phạm liên quan đến lính vực quản lý, bảo vệ rừng; tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện, đấu tranh ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại rừng...
Tuy nhiên, việc phối hợp thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế dẫn đến công tác đấu tranh với các đối tượng vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh chưa mang lại hiệu quả cao, các đơn vị thực hiện còn chủ quan trong thực hiện nhiệm vụ của mình... Do vậy, việc ký kết kế hoạch phối hợp giữa hai lực lượng để phù hợp với thực tiễn công tác là điều hết sức cần thiết, làm cơ sở pháp lý để mỗi bên xác định trách nhiệm của mình trong công tác bảo vệ rừng.
Theo đó, hai bên thống nhất về trách nhiệm, nội dung và biện pháp phối hợp trong quản lý, bảo vệ rừng khu vực biên giới, đấu tranh phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép lâm sản qua biên giới trên địa bàn tỉnh. Quá trình phối hợp phải bảo đảm chặt chẽ, thống nhất, an toàn nội bộ và hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ, không gây cản trở hoặc làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung, công việc chuyên môn giữa các bên phối hợp, cần tuyệt đối giữ bí mật về kế hoạch, phương án, biện pháp nghiệp vụ, mệnh lệnh của người chỉ huy trước, trong và sau khi phối hợp. (Biên Phòng 16/12) đầu trang(
Ngày 13/12, Ban Quản lý Chương trình UN-REDD tỉnh Bình Thuận đã tổ chức Hội thảo đánh giá Quy chế phối hợp quản lý – bảo vệ rừng vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Thuận – Lâm Đồng. Tham dự có lãnh đạo Sở NN&PTNT, Chi cục Kiểm lâm 2 tỉnh Bình Thuận và Lâm Đồng, lãnh đạo và cán bộ Chi cục Kiểm lâm Vùng 4, các Ban Quản lý Rừng phòng hộ và Cty TNHH – MTV Tam Hiệp cùng gần 100 đại biểu tham dự.
Ban Quản lý Chương trình UN-REDD đã đánh giá kết quả triển khai thực hiện Quy chế phối hợp bảo vệ rừng, công tác chỉ đạo điều hành, triển khai hoạt động của Trạm bảo vệ rừng liên huyện, công tác xây dựng kế hoạch quản lý bảo vệ rừng, phương án phối hợp kiểm tra truy quét chống phá rừng tại khu vực vùng giáp ranh. Chi cục Kiểm lâm 2 tỉnh Bình Thuận – Lâm Đồng đã đề ra các phương án phối hợp, thường xuyên trao đổi thông tin về tình hình quản lý rừng và bảo vệ đạt hiệu quả, đồng thời tham mưu cho Sở NN&PTNT nhiều giải pháp, biện pháp quyết liệt nhằm hạn chế và ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
Tính từ tháng 7/2015 đến tháng 6/2016, Trạm bảo vệ rừng Liên ngành đã thu giữ 28,614m3 gỗ tròn, xẻ các loại, 1 xe ô tô, 1 xe máy, 1 cưa máy, xe máy độ, chế vào rừng 29 lượt. Riêng tại vùng giáp ranh phía Bình Thuận cũng đã tổ chức 533 đợt truy quét với hơn 3.331 lượt người tham gia.
Ngoài ra, Chi Cục Kiểm lâm Bình Thuận – Lâm Đồng phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Vùng 4 và các huyện giáp ranh đã tổ chức tuần tra, kiểm tra, truy quét và đã phát hiện 67 vụ vi phạm phá rừng, khai thác, vận chuyển, giấu lâm sản, trong đó xử lý hình sự 02 vụ về khai thác lâm sản trái phép và 01 vụ gây cháy rừng gây thiệt hại hàng ngàn ha rừng thuộc lâm phận Ban quản lý rừng phòng hộ Đức Linh. Qua đó cũng đã xử lý hành chính 65 vụ, tịch thu 92,057m3 gỗ các loại...
Thời gian tới, Chi cục Kiểm lâm 2 tỉnh Bình Thuận – Lâm Đồng đã đề ra các giải pháp trọng tâm, thường xuyên phối hợp chặt chẽ trong việc thông tin hai chiều giữa các huyện vùng giáp ranh về diễn biến tình hình hoạt động của đối tượng phá rừng để kiểm tra, truy quét, xử lý kịp thời. Các Hạt Kiểm lâm tiếp tục tham mưu cho UBND huyện chỉ đạo UBND các xã giáp ranh có biện pháp quản lý hộ tịch, hộ khẩu tại địa phương, thống kê các đối tượng chuyên hoạt động nghề rừng trái phép nhằm tổ chức giáo dục, tuyên truyền cá biệt, động viên đối tượng này chuyển đổi ngành, nghề làm việc, không phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép. (Pháp Luật Việt Nam 15/12) đầu trang(
Trong năm 2016, mặc dù còn nhiều tồn tại và khó khăn, nhưng với tinh thần trách nhiệm, cán bộ, công chức, người lao động Hạt kiểm lâm Xín Mần đã vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) trên địa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến đáng ghi nhận, các chỉ tiêu đặt ra trong năm đều đã hoàn thành.
Cụ thể, trong năm 2016, diện tích trong quy hoạch đất lâm nghiệp mà Hạt phải theo dõi trên 36,8/36,6 ha; cập nhật diện tích thay đổi về theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp được trên 651,5/650 ha; điều tra sâu bệnh hại rừng 15/15 ô tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, Hạt đã tuyên truyền luật bảo vệ và phát triển rừng được trên 10 nghìn người, đạt trên 251 % kế hoạch; tập huấn theo dõi nghiệp vụ Bảo vệ, PCCCR cho 50 người. Hạt còn in ấn bản đồ hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2016: 56/56 mảnh, mua sắm được 02 máy định vị GPS.
Cũng năm 2016, Hạt đã trồng được 35 cây đào cảnh, cây lát hoa tại xã Bản Ngò vào dịp đầu xuân. Tham gia nghiệm thu cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn năm 2016 tại vườn ươm HTX Tiến Mây, HTX Tân Tiến; tham gia thẩm định diện tích đất trồng rừng phòng hộ năm 2016 tại xã Xín Mần, Nàn Sỉn, Thu Tà, Chế Là, Quảng Nguyên.
Hạt cũng củng cố Ban chỉ đạo phòng chống thiên tai từ huyện đến các xã, thị trấn; phát 440 dụng cụ PCCCR cho các cơ quan, đơn vị, các xã, thị trấn; củng cố tổ bảo vệ, làm đường băng trắng cản lửa được 16,9 km,… Qua đó, nhiều xã đã làm tốt công tác PCCCR như: Pà Vầy Sủ, Thèn Phàng, Nàn Ma, Cốc Pài, Bản Ngò, Nấm Dẩn, Trung Thịnh, Cốc Rế, Tà Nhìu, Nà Chì, Quảng Nguyên, Khuôn Lùng.
Trong việc xử lý vi phạm, Hạt kiểm lâm Xín Mần đã xử lý 06 vụ vi phạm các quy định về quản lý lâm sản (trong đó khởi tố 02 vụ án hình sự, xử phạt hành chính 04 vụ. Hạt Kiểm lâm huyện Xín Mần còn thực hiện tốt quy chế phối hợp với các lực lượng như công an, quân đội, quản lý thị trường, các hạt kiểm lâm giáp ranh trong công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, nộp Ngân sách Nhà nước 18,5 triệu đồng, tịch thu trên 62 m3 gỗ tròn các nhóm.
Mặc dù vậy, Hạt kiểm lâm Xín Mầnvẫn gặp phải một số khó khăn, tồn tại như: Trong mùa khô hanh năm 2016, đã xảy ra 07 vụ cháy rừng, trảng cỏ; một số cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của một số xã chưa thực hiện nghiêm túc luật phòng cháy chữa cháy; một số cá nhân, hộ gia đình, chủ rừng, cộng đồng dân cư thôn, bản chưa thực sự quan tâm đến công tác PCCCR; công tác tuyên truyền về PCCCR đến cá nhân, hộ gia đình, chủ rừng, cộng đồng dân cư, thôn, bản chưa kịp thời, hiệu quả chưa cao… trong khi đó, Xín Mần là huyện miền núi, có địa hình phức tạp, diện tích rừng tương đối lớn nên việc tuần tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn trong khi lực lượng kiểm lâm lại mỏng, nhiều đồng chí phải kiêm nhiệm.
Hơn nữa, các đối tượng hiện nay rất tinh vi, chủ yếu sử dụng phương tiện ôtô con, xe thùng kín,… để mua, bán, vận chuyển lâm sản, động vật hoang dã, sản phẩm động vật hoang dã,… Do vậy, việc xác định đối tượng, phương tiện có vi phạm hay không để kiểm tra là rất khó. Đối với lực lượng kiểm tra, kiểm soát lâm sản lưu thông trên đường bộ khi có căn cứ là trên phương tiện do có vận chuyển lâm sản trái phép. Do vậy khi chưa có căn cứ sẽ rất khó cho việc kiểm tra.
Nói về phương hướng, nhiệm vụ Quản lý bảo vệ rừng, Phòng cháy chữa cháy rừng và QLLS năm 2017, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Xín Mần Hoàng Văn Hiệp cho hay: Hạt sẽ tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Quy định và chỉ đạo của các cơ quan cấp trên về công tác bảo vệ rừng, ngăn chặn phá rừng và chống người thi hành công vụ; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và của người dân trong việc phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; phối hợp với các cơ quan ban ngành chức năng liên quan; UBND các xã phường tuần tra, kiểm tra, truy quét các điểm nóng về công tác quản lý bảo vệ rừng…
Đặc biệt tiếp tục tham mưu cho Ban chỉ đạo công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng thành phố giai đoạn 2013 – 2015. (Gia Đình Và Pháp Luật 15/12) đầu trang(
Năm 2016, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang được giao 9 nhiệm vụ trọng tâm phải hoàn thành, đến nay các nhiệm vụ được giao đã cơ bản hoàn thành xuất sắc.
Nhận thấy tầm quạn trọng từ việc trồng rừng và bảo vệ rừng, thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2016, đến cuối tháng 10, tỉnh Tuyên Quang thực hiện vượt chỉ tiêu trồng rừng so với kế hoạch đề ra.
Trao đổi với phóng viên tòa soạn về vấn đề này, ông Triệu Đăng Khoa, Phó Chi cục trưởng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang cho biết: Năm 2016, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng ngay từ đầu năm, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các đơn vị bắt tay ngay vào công tác trồng rừng, thay thế diện tích rừng đã thu hoạch, phải “phủ xanh đồi núi trọc “ toàn bộ diện tích rừng trên tỉnh.
Mặc dù công tác trồng rừng trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều kết quả khả quan nhưng trên thực tế vẫn còn không ít khó khăn trong việc triển khai. Trong năm 2016, kế hoạch đặt ra trong toàn tỉnh là trồng được 10.515 ha. Trong đó, trồng rừng tập trung là 10.1650 ha, trồng cây phân tán là 350ha. Tính đến ngày 31/10, trên địa bàn toàn tỉnh đã thực hiện trồng được 10.937,7 ha đạt 104% so với kế hoạch, trồng rừng tập trung 10.537,1 ha đạt 103,7% với kế hoạch.
Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác trồng rừng trong giai đoạn tiếp theo, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang đã đề ra các giải pháp cụ thể như: Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, các tổ chức, đoàn thể tích cực tham gia trồng rừng trên những diện tích đất trống, đất rừng nghèo kiệt; thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ diện tích rừng trồng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên rừng hiện có.
Tiếp tục rà soát diện tích có khả năng trồng rừng, kiểm kê, rà soát diện tích đã thực hiện trồng rừng theo các dự án khác từ những năm trước; quy hoạch trồng rừng sản xuất với những cây có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện lập địa.
Chỉ đạo các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch trồng rừng sớm và giao chỉ tiêu cho các xã, thị trấn tổ chức triển khai thực hiện kịp thời. Các vườn ươm chuẩn bị gieo ươm cây giống đầy đủ số lượng, chất lượng. Khuyến khích, biểu dương kịp thời các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo vệ, phát triển rừng.
Chính vì vậy, Tuyên Quang là một trong những tỉnh có độ che phủ của rừng lớn nhất cả nước (trên 60%). Những tháng cuối năm 2016, Công tác rà soát, xây dựng kế hoạch trồng rừng năm 2017 đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang lập kế hoạch triển khai, đảm bảo đến cuối tháng 9, đầu tháng 10 năm 2017 sẽ hoàn thành việc giao chỉ tiêu kế hoạch trồng rừng trên toàn tỉnh. (Gia Đình Và Xã Hội 15/12) đầu trang(
Nơi đây không những được đánh giá là kho tàng về đa dạng sinh học các nguồn gen hoang dã, quý hiếm mà còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, giữ và cung cấp nước tưới, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường.
Nằm trên sườn đông của dãy Trường Sơn thuộc tỉnh Nghệ An, Vườn quốc gia Pù Mát (VQG Pù Mát) có độ cao tuyệt đối dao động từ 200 - 1.841m, trùm lên ba huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương được lấy tên đỉnh núi Pù Mát cao nhất (1.841m) đặt tên cho VQG.
Nơi đây không những được đánh giá là kho tàng về đa dạng sinh học các nguồn gen hoang dã, quý hiếm mà còn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn, giữ và cung cấp nước tưới, điều hòa khí hậu, bảo vệ môi trường.
Đây là VQG có diện tích và độ che phủ cao nhất cả nước (hơn 98%). Có được thành tích ấy, là nhờ sự lồng ghép của Dự án Lâm nghiệp xã hội và BTTN tỉnh Nghệ An (SFNC) giai đoạn 1997 - 2004. Cư dân vùng đệm và VQG Pù Mát đã nhận được sự tập trung đầu tư sâu rộng từ dự án này.
Trong đó các hoạt động đào tạo, tập huấn nghiệp vụ, tham quan mô hình cho các đối tượng trong vùng đệm; Xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp trang thiết bị VQG, các chương trình điều tra, nghiên cứu khoa học, hoạt động tuyên truyền giáo dục môi trường để nâng cao nhận thức của người dân; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ, nâng cao năng lực tuần tra cho cán bộ quản lý và Kiểm lâm viên; nâng cao năng lực tuyên truyền, vận động nhân dân, tổ chức các hoạt động tham quan học tập kinh nghiệm...
Có thể nói chính nhờ hiệu quả của các chương trình hoạt động của dự án SFNC mà đời sống người dân trong vùng lõi và vùng đệm của VQG Pù Mát đã được cải thiện, nâng cao thu nhập, nhiều hộ đã làm giàu từ các mô hình phát triển kinh tế vườn rừng, VRAC; Sức ép chặt phá rừng đã giảm rõ rệt, người dân đã có nhiều hoạt động hỗ trợ lực lượng Kiểm lâm cùng thực hiện bảo vệ rừng.
VQG Pù Mát hiện không chỉ được biết đến về sự phong phú và đa dạng về các loài động thực vật hoang dã, mà tại đây còn là một địa chỉ du lịch sinh thái hấp dẫn của Nghệ An. Nhờ những dãy núi đá vôi nhiều thác nước, hang động và thắng cảnh mà thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho huyện Con Cuông những cảnh quan tuyệt đẹp như thác Khe Kèm, hang Ốc, bãi đá Mỏ vịt, rừng Săng Lẻ, Suối nước mọc ''Rốn Cô Tiên’' và các di tích lịch sử như Cây Đa Cồn Chùa, Hang ông Trạng, Thành Trà Lân..., đã tạo nên sức hấp dẫn kỳ diệu đối với du khách sau mỗi lần đến nơi đây để nghỉ ngơi, tham quan, du lịch.
Để bảo vệ tốt diện tích rừng được giao tại VQG Pù Mát, biến nó trở thành một trong 5 địa điểm trọng tâm để phát triển du lịch của Nghệ An, công đầu phải kể đến chính là đồng bào các dân tộc thiểu số tại các vùng đệm, cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan đơn vị trên địa bàn, các nhà khoa học, các ngành chức năng đã đồng lòng, chỉ đạo, quan tâm, hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của VQG Pù Mát trong việc quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học tại VQG Pù Mát.
Nhờ có sự quan tâm, chỉ đạo, phối kết hợp đó cũng như sự đồng lòng của đồng bào vùng đệm và sự cố gắng nỗ lực của công chức, viên chức và người lao động VQG Pù Mát, trong 20 năm qua VQG Pù Mát đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các Ban, ngành và UBND tỉnh nên VQG Pù Mát đã có biên chế 118 người (khi mới thành lập chỉ có 7 người), trong đó có 56 biên chế công chức, 58 biên chế viên chức. Hiện tại cán bộ Vườn có 73 người có trình độ đại học trở lên (có 1 tiến sỹ và 6 thạc sỹ).
Công tác quản lý bảo vệ 94.715,4ha rừng và đất rừng suốt thời gian qua đạt kết quả tốt đến nay VQG Pù Mát đã có độ che phủ rừng lên 98%.
Tại đây, việc phân định đường rang giới giữa vùng đệm và vùng lõi rất rõ ràng. Toàn bộ vùng lõi cũng được phân chia thành các tiểu khu và giao cho từng kiểm lâm viên tổ chức quản lý, bảo vệ nhờ đó đã nâng cao hiệu quả công tác của lực lượng kiểm lâm viên địa bàn nên đã cơ bản chấm dứt được tất cả các điểm nóng khai thác lâm sản và săn bắt động vật hoang dã trong lâm phần quản lý của đơn vị.
Trong những năm qua, bên cạnh việc làm tốt công tác PCCCR, xây dựng quy ước ước bảo vệ và phát triển rừng, tổ chức giao khoán 30.330ha rừng cho 854 hộ gia đình và 4 đồn Biên phòng đóng trên địa bàn cũng như công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, VQG Pù Mát đã tiến hành nhiều hoạt động có ý nghĩa như hợp tác bảo tồn liên biên giới với Sở Nông Lâm nghiệp tỉnh Bô-li-khăm-xay và Tổng cục Lâm nghiệp (CHDCND Lào) trong việc bảo tồn đa dạng sinh học; Điều chỉnh quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát triển bền vững VQG Pù Mát giai đoạn 2013 - 2020; Quy hoạch và tổ chức thực hiện các khu vực bảo tồn đặc biệt trong VQG đối với một số loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu như sao la, vượn đen má trắng, hổ, voi…
Quan tâm đề xuất hỗ trợ nhiều chương trình, dự án, trong đó nổi bật là các dự án: Lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC – ALA-VIE/94/24) do Cộng đồng Châu Âu tài trợ; Dự án Quỹ bảo tồn Việt Nam (VCF)…
Trong 20 năm qua, Vườn đã hợp tác với các đơn vị và các tổ chức khác như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Dược liệu, ĐH Vinh, ĐH Lâm nghiệp, ĐH Nông lâm Huế, Trung tâm Tài nguyên và môi trường (ĐH Quốc gia Hà Nội), các trường cao đẳng, các tổ chức, các nhà khoa học trong nước và quốc tế để thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học, thu thập mẫu tiêu bản động thực vật phục vụ nghiên cứu và đào tạo cán bộ.
Hiện nay, Vườn đang xúc tiến để đẩy mạnh các hoạt động đầu tư khai thác du lịch và dịch vụ tại các tuyến điểm quan trọng như Thác Kèm, Sông Giăng, tuyến tham quan cây di sản Việt Nam trong vùng lõi của Vườn... Xúc tiến để ký hợp đồng dịch vụ du lịch với các hãng lữ hành trong tỉnh, tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Khánh Hoà và các tỉnh khác.
Từ năm 2006 đến nay Vườn đã thực hiện hàng trăm tour du lịch cho khách quốc tế, đem lại thu nhập đáng kể cho người dân sinh sống trong vùng đệm của Vườn. Riêng trong năm 2016 tính đến thời điểm hiện tại Vườn đã thu hút được khoảng 25.000 lượt khách tham quan và nghỉ dưỡng tại Vườn. Mặc dù nguồn thu từ du lịch và dịch vụ chưa nhiều những đã góp phần vào việc hỗ trợ công tác quản lý BVR cũng như tái đầu tư nhằm phát triển, đa dạng hóa các loại hình du lịch và dịch vụ phục vụ cho những năm tới.
Song song với hoạt động khai thác du lịch, dịch vụ, VQG Pù Mát cũng đã và đang thực hiện các hoạt động quảng bá về du lịch tới bạn bè, du khách trong nước và quốc tế. Đặc biệt Vườn đã được vinh dự đón nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước đến thăm và làm việc trên địa bàn miền Tây Nghệ An, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng...
Trong suốt 20 năm xây dựng và phát triển của mình, tập thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tại VQG Pù Mát đã vinh dự được đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba, 17 Bằng khen của Thủ tướng và của các Bộ, ngành TW ; 26 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh và LĐLĐ tỉnh; 24 lượt cá nhân được tặng Bằng khen của các Bộ, ngành TW; 39 Bằng khen của UBND tỉnh và của LĐLĐ tỉnh cùng hàng trăm Giấy khen khác.
20 năm qua, lực lượng kiểm lâm của Vườn đã thực hiện được 3.715 đợt tuần tra rừng dài ngày, 284 cuộc truy quét đi sâu vào các tiểu khu, với sự tham gia của 10.207 lượt cán bộ kiểm lâm. Tính đến nay Hạt Kiểm lâm đã xử lý 1.118 vụ vi phạm lâm luật, trong đó khởi tố hình sự 10 vụ; tịch thu 1.180,496m3 gỗ các loại, hàng trăm cá thể động vật có giá trị như báo, gấu, vượn, khỉ, rùa, trăn, ba ba, tê tê, nhím; vận động thu hồi hơn 750 khẩu súng săn; xử phạt và thu nộp ngân sách nhà nước 4.063.552.678 đồng. (Nông Nghiệp Việt Nam 16/12) đầu trang(
Trong 2 ngày (15-16/12), tại thành phố Lào Cai, Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) phối hợp với Sở TN&MT Lào Cai và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tổ chức Hội thảo khởi động dự án “Xây dựng năng lực cho việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam”.
Việt Nam được biết đến là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với sự phong phú về các giống cây trồng, vật nuôi, nguồn gen dược liệu cũng như nhiều tri thức truyền thống gắn với nguồn gen. Nhưng hiện nay, theo đánh giá của Liên hợp quốc thì đa dạng sinh học tại Việt Nam đang bị suy giảm, thất thoát, mai một về nguồn gen mà chưa có giải pháp quản lý và khẳng định chủ quyền của quốc gia đối với nguồn gen. Việt Nam chưa phát huy được hết các lợi thế do đa dạng sinh học và nguồn gen mang lại.
Do đó, để tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) xây dựng dự án “Xây dựng năng lực cho việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam” (ABS). Nghị định thư Nagoya được biết đến năm 2010 về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen thông qua Công ước Đa dạng sinh học tại Nhật Bản và có hiệu lực từ năm 2014. Nghị định thư Nagoya nhằm hướng tới thúc đẩy việc tiếp cận nguồn gen và chia sẻ công bằng, hợp lý lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen.
Dự án “Xây dựng năng lực cho việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam”sẽ được thực hiện trong 4 năm với tổng kinh phí 12,5 triệu đô la Mỹ. Trong đó, Quỹ Môi trường toàn cầu thông qua Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ 2 triệu đô la bằng tiền mặt. Phần còn lại là đóng góp từ vốn đối ứng của Chính phủ Việt Nam và hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế.
Phát biểu tại hội thảo, bà Akiko Fujii, Phó giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam cho biết: Chương trình Phát triển Liên hợp quốc hoan nghênh Việt Nam đã đi tiên phong trong việc thực hiện “Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích”. Dự án ABS sẽ giúp Việt Nam xây dựng và thực hiện khung chính sách, pháp lý và thể chế quốc gia. Ngoài ra, nó còn nâng cao năng lực nhận thức cho người dân sống bên trong và xung quanh các khu vực có tài nguyên thiên nhiên.
Tại hội thảo, ông Nguyễn Văn Tài, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường đã bày tỏ niềm vui khi được chương trình Phát triển Liên hợp quốc triển khai dự án “Xây dựng năng lực cho việc phê chuẩn và thực hiện Nghị định thư Nagoya về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích tại Việt Nam”. Ông Nguyễn Văn Tài khẳng định: Đây là một cơ hội lớn cho Việt Nam tăng cường thực hiện quản lý việc sử dụng nguồn gen một cách bền vững và chia sẻ lợi ích từ việc sử dụng nguồn gen.
Để dự án thành công, Việt Nam sẽ thực hiện 3 mục tiêu cụ thể: Xây dựng và thực hiện khung pháp lý quốc gia về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; tăng cường năng lực quốc gia về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích; hỗ trợ thực hiện thỏa thuận về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích dựa trên hợp tác công - tư. (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/12) đầu trang(
Bảo vệ động thực vật hoang dã luôn là vấn đề cấp bách, nhất là trong bối cảnh việc săn bắt cũng như các tổ chức tội phạm quốc tế ngày càng tinh vi, phức tạp. Để hạn chế vấn nạn này, nhiều tổ chức và doanh nghiệp đang tập trung thay đổi từ chính nhận thức của người tiêu dùng.
Vừa qua, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã phối hợp với tổ chức quốc tế TRAFFIC tổ chức hội thảo “Doanh nghiệp du lịch Việt Nam cam kết đấu tranh chống lại buôn bán và sử dụng động, thực vật hoang dã.”. Hội thảo nhằm mục đích hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp du lịch và khách sạn đồng hành đấu tranh chống lại buôn bán và tiêu thụ trái phép động, thực vật hoang dã, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển các thông điệp bảo vệ môi trường.
Động, thực vật hoang dã có vai trò rất quan trọng đối với hệ sinh thái nói chung và ngành du lịch, dịch vụ nhà hàng nói riêng. Trong những năm qua ở Việt Nam, nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn đang được khai thác, đưa vào hoạt động nhằm đẩy mạnh du lịch sinh thái. Chính vì lẽ đó nên công tác bảo vệ động, thực vật hoang dã càng cần được chú trọng và nâng cao nhiều hơn.
Theo số liệu của Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (EVN) năm 2013, trung bình cứ 10 cơ sở nhà hàng thì có 2 cơ sở buôn bán thịt động vật hoang dã. Song song với đó, sự sinh tồn của các loài động, thực vật quý hiếm trên Thế giới đang thực sự bị đe dọa khi hàng năm, ước tính khoảng 7- 24 tỷ đô la Mỹ là con số lợi nhuận thu được từ việc buôn bán bất hợp pháp các loài hoang dã.
Tại hội thảo, bà Nguyễn Tuyết Trinh, cán bộ của Mạng lưới giám sát buôn bán động thực vật hoang dã TRAFFIC đã đưa ra một loạt các dẫn chứng cho thấy sự đáng báo động của hành vi buôn bán trái phép các loài động, thực vật hoang dã ở Việt Nam và trên toàn Thế giới.
Đáng chú ý nhất là những con số thống kê: trong vòng 10 năm, 1 triệu con tê tê đã bị buôn bán và vận chuyển trái phép. Bên cạnh đó, từ 2010 – 2015, 100.000 con voi châu Phi đã bị giết hại để lấy ngà và ước tính có 170 tấn ngà voi được vận chuyển về Việt Nam. Số lượng tê giác trên Thế giới bị săn trộm trong 9 năm (từ 2007-2015) cũng tăng hơn 9000%, dẫn đến sự suy vong nhanh chóng.
Trong quá trình thảo luận, các đại biểu đã chỉ ra thực trạng phức tạp, tinh vi của hành động buôn bán, vận chuyển trái phép các loài động, thực vật hoang dã. Ngoài hai hình thức chính là gian lận và buôn lậu, ngày nay, việc mua bán còn xuất hiện nhiều trên các trang web trực tuyến và các trang mạng xã hội.
Trước tình hình đáng quan ngại, ông Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch đã dẫn lời của Hoàng tử Anh trong chuyến thăm Việt Nam: “Sừng tê giác hay ngà voi, đó không phải dấu hiệu của sự quý phái hay đẳng cấp mà chính là sự hủy diệt.”
Để đấu tranh với vấn nạn này, các doanh nghiệp du lịch đã đưa ra những giải pháp thiết thực, đồng thời ký cam kết bảo vệ và hành động chống mua bán động, thực vật hoang dã. Trong đó, việc nâng cao nhận thức của người dân, đặc biệt nhận thức của khách du lịch là điều được nhấn mạnh trong suốt quá trình diễn ra hội thảo.
Đại diện của các doanh nghiệp du lịch cũng nhấn mạnh: “Sứ mệnh của chúng tôi là cùng chung tay với các tổ chức có uy tín, cùng phối hợp hành động để đảm bảo việc buôn bán động vật hoang dã không phải mối nguy hiểm đối với Thế giới.”
Giải đáp thắc mắc về vấn đề ứng xử giữa các doanh nghiệp và du khách khi phía khách hàng có nhu cầu sử dụng động, thực vật quý hiếm, Bà Nguyễn Tuyết Trinh khẳng định: “Hầu hết các doanh nghiệp giờ đã ý thức rất rõ về tầm quan trọng của động vật hoang dã đối với các sản phẩm du lịch. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền qua phần mềm, poster hoặc các ấn phẩm, mỗi doanh nghiệp cần khéo léo đưa đến cho khách hàng những kiến thức thiết thực nhất, đồng thời tư vấn và định hướng nếu họ có nhu cầu sử dụng động, thực vật quý hiếm.”
Về phía chính phủ, bộ luật hình sự năm 2017 cũng sẽ đưa ra những quy định xử phạt rõ ràng và nghiêm minh đối với hành vi mua bán, sử dụng trái phép động vật hoang dã. Cụ thể, mức phạt được gia tăng tối đa 15 tỷ VNĐ và phạt tù tới 15 năm. (Dân Trí 15/12) đầu trang(
Trong một số khu rừng ở Việt Nam và Lào, có một loài khỉ nhỏ, nhưng cực kỳ đáng yêu có tên là culi lùn hay culi nhỏ. Dưới đây là những khám phá thú vị về loài linh trưởng này.
Loài khỉ nhỏ Việt Nam quý hiếm này có tên gọi khác là cu li chậm lùn hay cu li nhỏ, tên khoa học là Nycticebus pygmaeus, là một loài linh trưởng độc đáo thuộc phân họ cu li chỉ xuất hiện tại các khu rừng ở Việt Nam, Lào và Campuchia.
Không giống những chi, loài khác trong bộ linh trưởng có đầu óc thông minh và thể chất nhanh nhẹn, những con khỉ nhỏ Việt Nam di chuyển khá chậm chạp và tư duy đơn giản, có chút ngốc nghếch, đúng như tên gọi "chậm, lùn" của chúng.
Ở nước ta, loài khỉ nhỏ quý hiếm hay cu li nhỏ được xếp vào danh mục các loài động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. Ước tính chỉ có khoảng 72.000 con sống trong môi trường hoang dã và 200 được nuôi nhốt.
Chúng còn được coi là loài khỉ nhỏ nhất Việt Nam với chiều dài của một con Nycticebus pygmaeus trưởng thành chỉ từ 19 - 23cm, trọng lượng từ 377 gram đến 450gram.
Đặc điểm nhận dạng loài khỉ nhỏ đáng yêu này là lông mềm mại màu hung nâu xen kẽ ít lông trắng bạc. Dọc sống mũi có vết trắng. Dọc sống lưng có vết hoe đỏ thẫm. Bụng trắng vàng ánh bạc.
Chế độ ăn uống của loài khỉ này bao gồm các loại trái cây, côn trùng, động vật nhỏ, nhựa cây, mật hoa và đôi khi cả trứng chim, chim non trong tổ. Loài khỉ nhỏ đặc biệt này chủ yếu hoạt động kiếm ăn về đêm, ở rừng thưa quang thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm ven rừng, trên nương rẫy.
Chúng sống đơn độc, lặng lẽ, hoặc thành nhóm 3 - 4 con, di chuyển nhẹ nhàng chậm chạp chuyền từ cành này sang cành khác. Ban ngày cuộn tròn mình lại ngủ trong lùm cây. Đặc biệt, những con khỉ nhỏ quý hiếm này không bao giờ nhảy nhót, chuyền cành, mà chỉ từ từ chậm rãi bò dọc theo thân cây.
Loài khỉ này có thể tiết ra một mùi hương cơ thể khá thú vị ở gần khuỷu tay của chúng. Những con đực sử dụng mùi hương này để đánh dấu, bảo vệ lãnh thổ của họ và thu hút bạn tình. Những con cái cũng thích giao phối với con đực có mùi hương quen thuộc.
Hiện Nycticebus pygmaeus là loài nguy cấp do nơi cư trú bị chia cắt và ngày càng bị thu hẹp. Chúng đồng thời cũng là loài khỉ có giá trị khoa học và thẩm mỹ cao nên tình trạng săn bắn vẫn tiếp tục. (Kiến Thức/ Phụ Nữ News 16/12) đầu trang(
Đăk Lăk nổi tiếng là vùng đất của cà phê, voi và núi rừng bạt ngàn. Nhưng khi đến đây, chúng tôi bất ngờ với số voi còn lại của cả huyện Buôn Đôn chỉ có 22 con và “rừng vàng biển bạc” chỉ còn trong quá khứ, để lại nỗi buồn cho biết bao người...
Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk, năm 1980, số lượng voi ở Buôn Đôn là 506 con, nhưng đến nay chỉ còn 22 con. Lãnh đạo khu du lịch Buôn Đôn cho biết, có thể trong thời gian tới, Buôn Đôn nói riêng và Tây Nguyên nói chung sẽ phải nhập voi từ các nước bạn để phục vụ du lịch, còn số voi hiện tại sẽ đưa vào khu bảo tồn.
Trước thực trạng đàn voi mất dần, các nài voi bị đẩy vào thế bấp bênh khi nguồn thu nhập chính bị đe dọa. Chúng tôi tìm gặp anh Ama Nhay (35 tuổi, ngụ xã Krông Na, huyện Buôn Đôn), con rể già làng bản Đôn tại khu du lịch vào buổi trưa gắt nắng. Anh Ama Nhay được biết đến là nài voi trẻ nhất của Buôn Đôn, có kinh nghiệm nuôi dạy voi từ khi còn nhỏ. Anh cho biết: “Voi của tôi tên là Khămsin, người bắt là ông tôi. Tôi chơi với nó từ năm nó 2 tuổi, tới bây giờ đã gần 30 năm. Tới năm Khămsin 18 tuổi, tôi cho nó đi làm. Cũng như trâu bò dưới xuôi, voi trên đây được dùng để kéo cày, bây giờ thì phục vụ du lịch”.
Anh Ama Nhay chạnh lòng nói về con voi nhà mình: “Tôi là chủ voi đực, tới mùa động đực cực khổ lắm. Nhiều khi để chiều nó mình phải thương lượng với nài voi cái cho hai con giao phối với nhau. Mà mỗi lần giao phối voi đực lại đè lên lưng voi cái nên voi cái thường bị thương, nhiều khi mình phải đền tiền cho nó dưỡng bệnh cả 3-4 tháng. Cực lắm, nên tới mùa động dục tôi thường dẫn Khămsin vào rừng cho ăn đồ ăn ngon, xích nó lại vì thời điểm đó, voi đực rất hung tợn”.
Hỏi thăm về tình hình sức khỏe và việc chăm sóc voi, anh Ama Nhay nói thêm: “Bệnh bình thường thì có bài thuốc gia truyền mình nấu lá cây cho nó uống là hết. Còn những vụ nghiêm trọng như voi mắc bẫy, đứt vòi hay bị chém thương nặng thì phải nhờ đến Trung tâm Bảo tồn voi, thậm chí phải cậy chuyên gia bên Thái Lan sang cứu giúp. Tình trạng voi chết vì môi trường sống, bị bẫy nhiều lắm”.
Giọng trầm buồn, ánh mắt nhìn sang “người bạn” gần 30 năm gắn bó, anh Ama Nhay thở dài: “Không biết số phận Khămsin và những chú voi khác ra sao vì bây giờ hầu hết chúng không còn sinh sản nữa. Cả chục năm nay không một voi con nào ra đời. Tới khi đàn voi còn lại này gục thì số phận những nài voi như chúng tôi không biết sẽ ra sao”.
Đến thăm nhà sưu tầm đồ cổ Hoàng Thành tại quán cà phê Chuông Đá (số 599 Lê Duẩn, TP.Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk), chúng tôi lắng nghe câu chuyện thú vị từ ông cũng như nỗi tiếc nuối khi diện tích rừng ở Buôn Ma Thuột ngày càng thu hẹp: “Bây giờ có đi cả trăm kilômét cũng không thấy rừng đâu…”.
Là người đam mê sưu tầm đá cổ, ông Hoàng Thành là người lưu giữ nhiều nhất di sản văn hóa Tây Nguyên cũng như di sản địa chất vùng Tây Nguyên. Suốt 20 năm lặn lội tìm kiếm, ông Thành đã sưu tập được hơn 1.000 mẫu hóa thạch giá trị có niên đại hàng triệu năm.
Năm 1986, ông Hoàng Thành và gia đình vào Buôn Ma Thuột sinh sống. Sau ông học được nghề sửa chữa máy móc, ngành thi công cầu đường rồi kham luôn những công trình trên địa bàn Tây Nguyên. “Cũng nhờ khoảng thời gian dài làm kỹ thuật đó mà tôi có đủ số vốn để trang trải cho đam mê sưu tầm cổ vật và đá hóa thạch. Tôi đến với thú vui này cũng rất tình cờ. Phải gọi là cái duyên vì không phải cứ yêu thích, đam mê là sưu tầm được. Thậm chí có tiền cũng không thể mua được. Cái này thuộc về tố chất, nằm trong tiềm thức, tôi là người gốc Huế nên thích sưu tập những cổ vật” - ông Thành bộc bạch.
Bằng chất giọng Huế xen lẫn niềm hoài cổ, ông Thành chia sẻ: “Vì yêu thiên nhiên nên tôi ấp ủ ước mơ có một khu vườn đẹp. Khu vườn này của tôi có diện tích hơn 1.000m2 với những tảng đá, gốc bằng lăng, lộc vừng to bằng cả người ôm”.
Không chỉ thế, ông Thành còn “sắm” cho khu vườn một ngôi nhà dài của người Ê đê với đầy đủ nội thất như ghế dài, giường chủ nhà, cồng chiêng, ché xưa, thuyền độc mộc, đàn đá và rất nhiều nồi, chén, lư đồng cổ. Để theo đuổi tận cùng đam mê, ông Thành phải “dỗ dành” vợ mình, thuyết phục bà cùng ông sưu tập.
Dù đã chuyển giao cho Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam bộ sưu tập cổ sinh vật lớn nhất Tây Nguyên gồm 82 mẫu nặng 11,5 tấn, ông Thành vẫn đam mê tìm kiếm những mẫu cổ vật đang nằm sâu dưới lòng đất. Nhưng với diện tích rừng còn lại như hiện nay, đó là một điều khó khăn. Ông nhớ lại thời rừng còn bạt ngàn: “Ngày xưa rừng bạt ngàn, giờ phải bắt xe cả mấy chục cây số, có khi cả trăm cây số mới có rừng để du khảo. Khu vườn này ra đời cũng vì tôi nuối tiếc “rừng vàng” của Tây Nguyên nên đem những cây mình thích về trồng”.
Không biết rồi số phận của những chú voi, nghề nuôi sống gia đình của những nài voi như thế nào, chúng tôi chỉ biết rằng hàng trăm con voi đã ngã quỵ và hàng tháng vẫn có voi chết. Trả lời thực trạng này, lãnh đạo khu du lịch Buôn Đôn cho biết: “Sắp tới chúng tôi sẽ phối hợp Trung tâm Bảo tồn voi Đăk Lăk đem số lượng voi còn lại vào trung tâm để bảo tồn. Nhưng dự định xây dựng khu rừng vẫn chưa được phê duyệt, tất cả vẫn còn là dự định trên giấy”.
Giải thích thêm về việc không cho voi sinh sản, chị Mai Thị Thanh Hoa - hướng dẫn viên có hơn 6 năm công tác tại khu du lịch Buôn Đôn cho hay: “Loài voi rất khó tìm bạn đời, nó chỉ giao phối với con nào nó gắn bó. Ngoài ra, quá trình mang thai của voi là 2 năm và thời gian cho con bú 5 năm, nài voi không được sử dụng voi vào bất cứ việc gì nên nài không muốn cho voi đẻ. Hơn nữa, hiện đàn voi đã quá già yếu, không còn khả năng sinh sản”.
Ama Nhay cho biết, anh vẫn cho Khămsin đi làm việc với số tiền chở khách 150.000 đồng/giờ/người nhưng anh chỉ nhận được 60.000 đồng. Số tiền này quá ít so với công sức bỏ ra vì anh phải chịu toàn bộ phí khám chữa bệnh cho voi. “Nếu chở khách đi mà khách có bề gì thì nài voi chúng tôi cũng phải đền bù, chịu trách nhiệm. Nhưng giờ rừng cũng không còn nhiều nên voi không có đất sinh sống, không tận dụng được sức kéo như trước đây nên đành phải chịu” – anh Ama Nhay nói thêm.
Còn ông Hoàng Thành khi tiễn chúng tôi ra xe cũng ngậm ngùi tiếc nuối: “Cơ ngơi sưu tầm cả 20 năm giờ chuyển nhượng lại cho bảo tàng, tôi cũng rất sẵn lòng. Nhưng thú thật tài chính gia đình cũng không còn đủ sức để theo thú chơi này nữa nên tôi rất buồn”.
Đó là một cái kết buồn cho một chuyến đi. Ước mơ sẽ xây dựng thành công một viện bảo tàng để những mẫu vật của mình có nơi nương tựa chỉ là mơ ước, tựa như hình xoắn ốc đứt ngang trên mẫu đá thạch xử sở Buôn Mê buồn rười rượi này… (Dân Việt 16/12) đầu trang(
QUẢN LÝ – SỬ DỤNG – PHÁT TRIỂN RỪNG
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tác động tích cực đến công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của Kon Tum. Tổng diện tích cung ứng dịch vụ môi trường rừng đạt trên 360.000ha, bằng khoảng 60% diện tích rừng của tỉnh. Thực tế cho thấy chính sách này đang tạo lập cơ sở kinh tế bền vững để các chủ rừng và người dân yên tâm bảo vệ và phát triển rừng.
Xã Đắc Tờ Kan, huyện Tu Mơ Rông, có 3.700ha rừng tự nhiên, hầu hết diện tích thuộc diện được chi trả dịch vụ môi trường rừng. Từ năm 2011 đến nay, 3 đơn vị chủ rừng là Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Đắc Tô, Ban quản lý rừng phòng hộ Tu Mơ Rông và UBND xã Đắc Tờ Kan giao rừng cho cộng đồng, hộ dân và lực lượng dân quân, công an xã quản lý bảo vệ.
Nhờ được hưởng nguồn kinh phí chi trả dịch vụ môi trường rừng, gắn được lợi ích và trách nhiệm của người dân, rừng được bảo vệ tốt hơn. Ông A Nhóc, Bí thư Đảng ủy xã Đắc Tờ Kan, cho biết: “Đắc Tờ Kan thời năm 2007 - 2008, ai cũng biết rất là phức tạp trong việc mua bán, khai thác, cất giấu lâm sản. Khi có chủ trương giao thì giảm hẳn việc bà con tự ý đi khai thác hoặc lâm tặc từ ngoài vào”.
Được giao khoán quản lý, bảo vệ trên 202 nghìn ha, với đơn giá chi trả từ 200 - 380 nghìn đồng/ha, mỗi năm, gần 9.000 hộ dân nhận khoán quản lý bảo vệ rừng ở tỉnh Kon Tum có thêm nguồn thu bình quân mỗi hộ từ 4-6,5 triệu đồng. Thấy được lợi ích, cùng với bảo vệ rừng, người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đã tích cực tham gia vào việc trồng và chăm sóc rừng. Chỉ riêng trong năm 2016, người dân địa phương phối hợp với một số đơn vị chủ rừng đã trồng mới trên 1.200ha rừng thay thế.
Anh A Hồng, ở làng Kon Hia 2, xã Đắc Rơ Ông, huyện Tu Mơ Rông, cho biết: "Bà con nhận thức trồng rừng lợi là lợi của dân mình. Có bảo vệ rừng, rồi có trồng rừng thì có hiệu quả cho con cháu sau này. Được lợi thứ nhất là bà con được lợi tiền phát dọn và đào hố. Thứ hai, được tiền trồng rừng. Nếu cây lớn, Công ty lâm nghiệp Đắc Tô giao cho bà con quản lý, được hưởng tiền môi trường rừng nữa".
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đang giúp các chủ rừng là tổ chức nhà nước ở Kon Tum, vốn đang rất khó khăn, hàng năm có thêm nguồn tài chính để thực hiện nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng. Theo các công ty lâm nghiệp tại địa phương, khi chưa có chính sách này, ngân sách hàng năm cấp cho doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý, bảo vệ rừng chỉ có 15 nghìn đồng/ha. Hiện, số tiền này là trên 200 nghìn đồng, có vùng đạt trên 300 nghìn đồng. Ví dụ như vườn quốc gia Chư Mom Ray mỗi năm được cấp thêm kinh phí trên 3 tỷ đồng từ nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng, nên công tác bảo vệ rừng thuận lợi hơn.
5 năm qua, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum đã giải ngân cho các chủ rừng gần 400 tỷ đồng, UBND cấp xã giải ngân hơn 43 tỷ đồng.
Dự án “Tăng cường thực thi chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam” do Ngân hàng Phát triển Châu á ADB tài trợ, phối hợp với Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum, đã tổ chức “Tập huấn thí điểm sử dụng cơ sở dữ liệu WebGis vào công tác nghiệm thu chi trả dịch vụ môi trường rừng”. Nếu được triển khai, Kon Tum sẽ là tỉnh đầu tiên nghiên cứu, sử dụng số liệu kiểm kê rừng gắn với công nghệ viễn thám để phục vụ cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng. (VOV4 14/12) đầu trang(
Trong nội dung Công văn số 11880/VP-KT, ban hành ngày 14/12, UBND TP Hà Nội đã yêu cầu sở, ngành liên quan triển khai Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2017.
UBND thành phố nhận được công văn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai Chương trình mục tiêu phát triển lâm nghiệp bền vững năm 2017. Trong đó cho biết, vốn ngân sách trung ương ưu tiên, bố trí cho các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ theo thứ tự: Bảo vệ rừng tự nhiên hiện có, chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng đã trồng; trồng mới rừng phòng hộ ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn; phục hồi rừng đặc dụng; hỗ trợ khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tại các huyện nghèo và các xã có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn (khu vực II, III).
Đối với diện tích rừng chuyển sang xây dựng các công trình thủy điện, đến hết năm 2016, các địa phương đảm bảo hoàn thành hoặc thu đủ tiền vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng cấp tỉnh. Đối với diện tích rừng chuyển sang xây dựng các công trình phục vụ mục đích kinh doanh, các địa phương quyết liệt chỉ đạo các chủ dự án chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về trồng rừng thay thế, hoàn thành chậm nhất trong vụ trồng rừng năm 2017.
Đối với diện tích rừng chuyển sang xây dựng các công trình phục vụ mục đích phúc lợi xã hội, an ninh quốc phòng, chủ động cân đối vốn ngân sách nhà nước để thực hiện. Đối với dự án nộp tiền trồng rừng thay thế vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng các tỉnh, các địa phương chủ động rà soát, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn không để tồn quỹ.
Căn cứ các chỉ tiêu, nhiệm vụ được dự kiến phân bổ, UBND các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương chủ trì tổ chưc thực hiện Chương trình của bộ, ngành và ở địa phương; rà soát, đề xuất xây dựng và triển khai các dự án để thực hiện chương trình; xây dựng các mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch trung hạn và hằng năm của bộ, ngành và địa phương; quản lý, đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện các dự án thuộc Chương trình do bộ, ngành, địa phương quản lý.
Về việc trên, UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính nghiên cứu, thực hiện chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; thống nhất đề xuất cụ thể, báo cáo UBND thành phố. (Pháp Luật Và Xã Hội 15/12) đầu trang(
Trong những năm qua, công tác giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp đã tạo được bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các đơn vị chức năng, địa phương mới chỉ thực hiện ở bước giao đất lâm nghiệp, còn việc giao rừng, cho thuê rừng chưa được thực hiện; việc theo dõi, đánh giá sau khi giao đất, giao rừng còn hạn chế nên một diện tích không nhỏ rừng, đất lâm nghiệp đã giao nhưng chưa được bảo vệ, đầu tư phát triển có hiệu quả... Cùng với đó, diện tích rừng, đất lâm nghiệp chưa giao hoặc cho thuê do UBND cấp xã quản lý cũng nảy sinh những bất cập, đặc biệt là tình trạng chặt phá, lấn chiếm, khai thác gỗ trái phép.
Để chấn chỉnh, khắc phục những hạn chế nêu trên, sớm đưa toàn bộ diện tích rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh vào quản lý bảo vệ và sử dụng có hiệu quả, phát huy thế mạnh của rừng, UBND tỉnh đã có Chỉ thị 10/CT/UBND, ngày 26-6-2016 về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp.
Theo đó, tỉnh giao các địa phương báo cáo đánh giá việc triển khai thực hiện và hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp, giao rừng trong 5 năm qua trước ngày 15-7-2016; tập trung rà soát những diện tích rừng và đất rừng chưa giao hoặc cho thuê do UBND cấp xã đang quản lý để trên cơ sở đó xây dựng đề án giao đất, giao rừng trên địa bàn.
Đối với diện tích đất lâm nghiệp có rừng đã có hồ sơ cho thuê hoặc giao cho các tổ chức nhưng chưa giao rừng, cho thuê rừng thực tế, UBND tỉnh giao các sở TN&MT, NN&PTNT sớm hoàn thiện thủ tục trình tỉnh quyết định, trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm, quyền lợi của chủ rừng. Bên cạnh đó, Sở TN&MT cũng tập trung thực hiện triệt để việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất lâm nghiệp để được hưởng các chính sách hỗ trợ đầu tư bảo vệ và phát triển rừng.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc triển khai các nội dung theo Chỉ thị của UBND tỉnh của các địa phương, sở, ngành liên quan chưa đạt tiến độ đề ra. Theo báo cáo của Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tính đến giữa tháng 11-2016, toàn tỉnh mới có huyện Đầm Hà hoàn thành việc xây dựng và trình duyệt đề án giao đất, giao rừng; hiện đang tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu tư vấn.
Huyện Hoành Bồ và Ba Chẽ đã có báo cáo về kết quả xây dựng và thực hiện đề án, tuy nhiên đây là đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt từ năm 2013, đến thời điểm này về con số cũng đã có nhiều thay đổi, cần phải bổ sung, chỉnh lý lại.
Còn lại 11 địa phương khác, chưa hoàn thành triển khai xây dựng đề án giao đất, giao rừng. Bên cạnh đó, việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng đối với diện tích đất rừng đã được giao của đơn vị chức năng tỉnh mới đạt 80%, nguyên nhân do thời điểm thực hiện một số diện tích chưa rõ về thủ tục. Đặc biệt, việc lập hồ sơ giao rừng đối với rừng tự nhiên của toàn tỉnh từ trước đến nay chưa được thực hiện.
Theo ông Mạc Văn Xuyên, Phó Chi cục Kiểm lâm tỉnh, tất cả những tồn tại cần phải được sớm khắc phục, bởi nó ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lý, dễ nảy sinh những sai lệch trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, làm giảm hiệu quả phát triển kinh tế lâm nghiệp cũng như giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của người dân sống nhờ vào rừng.
Quan điểm của đơn vị chuyên môn tham mưu cho tỉnh là phấn đấu 100% diện tích đất lâm nghiệp có rừng trên địa bàn đều có chủ, trong trường hợp đất xấu không giao, không cho thuê được thì tiến hành giao khoán hoặc vận động giao cho các đơn vị vũ trang... Chính vì vậy, các địa phương, sở, ngành cần tập trung đánh giá kết quả diện tích rừng đã giao, xây dựng phương án giao đất, giao rừng đối với diện tích chưa giao, đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cũng như thực hiện lập hồ sơ giao rừng tự nhiên. (Báo Quảng Ninh 15/12) đầu trang(
Việc triển khai xây dựng hàng loạt siêu dự án, bước đầu mang lại sự thay đổi to lớn cho tỉnh Quảng Ninh, nhưng mặt trái của nó là nhiều diện tích rừng, đất rừng bị mất, nhường chỗ cho dự án. Theo quy định, đơn vị chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng phải trồng rừng thay thế, tuy vậy, đến nay, nhiều doanh nghiệp “quên” hoặc “phớt lờ” nghĩa vụ trồng rừng thay thế.
Theo kết quả kiểm tra diện tích chuyển đổi rừng sang mục đích của 3 dự án lớn trên địa bàn Quảng Ninh sẽ làm mất đi khoảng 450ha rừng tại Hạ Long, Vân Đồn, Cẩm Phả và Hoành Bồ. Cụ thể, dự án Quần thể du lịch nghỉ dưỡng FLC Hạ Long của Công ty CP Tập đoàn FLC (Tập đoàn FLC) có 111,6ha diện tích rừng trên cạn phải chuyển đổi; dự án Cao tốc Hạ Long - Vân Đồn của Công ty CP BOT Biên Cương có 245,28ha rừng trên cạn và dự án Cảng hàng không Vân Đồn của Công ty CP Đầu tư Phát triển Vân Đồn (Công ty Vân Đồn) 80,9 ha rừng trên cạn và cả rừng ngập mặn.
Căn cứ vào Nghị định 23/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 3/3/2006 về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 24/1/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác, sau khi đối chiếu với các quy định hiện hành, Sở NN&PTNT đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị các doanh nghiệp phải hoàn thiện việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa nước và nộp tiền bổ sung đất chuyển đổi trồng lúa nước theo quy định hiện hành; lập phương án trồng rừng thay thế; hoàn thiện phương án trình các ngành chức năng để thẩm định và phê duyệt theo quy định.
Trong trường hợp các doanh nghiệp không có điều kiện tổ chức lập và triển khai phương án trồng rừng thay thế thì phải nộp kinh phí trồng rừng thay thế về Quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Theo quy định đối với 1ha rừng trên cạn, mức kinh phí gần 56 triệu đồng và rừng ngập mặn là trên 113 triệu đồng. Như vậy, Tập đoàn FLC sẽ phải nộp tương ứng 6,221 tỷ đồng; Công ty CP BOT Biên Cương phải nộp 13 tỷ đồng, Công ty Vân Đồn là 7 tỷ đồng.
Đến hết tháng 11/2016, chỉ duy nhất Tập đoàn FLC đã gương mẫu đóng được hơn 4 tỷ đồng về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Các dự án còn lại doanh nghiệp đã đề nghị không phải nộp kinh phí trồng rừng thay thế.
Cụ thể, ngày 1/11/2016 Công ty CP BOT Biên Cương đã có Công văn số 1171 nêu lý do theo Quyết định số 1143/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn và cải tạo nâng cấp QL 18 đoạn Hạ Long – Mông Dương theo hình thức hợp đồng BOT, tổng mức đầu tư của dự án chưa có kinh phí trồng rừng thay thế. Nguyên nhân là do tại thời điểm lập và phê duyệt, địa phương chưa có chủ trương và chưa đề cập đến phương án trồng rừng thay thế.
Tương tự, với lý do Hợp đồng BOT dự án cảng hàng không Quảng Ninh đã được ký kết giữa UBND tỉnh và Công ty Vân Đồn (doanh nghiệp dự án), UBND tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức GPMB, tái định cư và bàn giao mặt bằng sạch cho nhà đầu tư theo tiến độ triển khai. Dó đó, Công ty Vân Đồn đã đề nghị không phải nộp kinh phí chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và trồng rừng thay thế đối với diện tích rừng nằm trong quy hoạch dự án của mình.
Trao đổi với phóng viên, ông Phạm Văn Phát, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh cho biết: Việc từ chối không nộp kinh phí chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và trồng rừng thay thế của 2 doanh nghiệp trên là trái với quy định của Nhà nước.
Đối chiếu với các quy định trong Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Nghị định 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư… việc trồng rừng thay thế thuộc trách nhiệm của chủ dự án có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng rừng.
Năm 2015, tại Hội nghị Toàn quốc đánh giá kết quả trồng rừng thay thế diện tích rừng chuyển sang mục đích sử dụng khác, nguyên Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải (nay là Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội) đã chỉ đạo: Việc trồng rừng thay thế là một trong những giải pháp quan trọng trong chủ trương bảo vệ, phát triển rừng, bảo vệ môi trường sinh thái hướng tới phát triển bền vững.
Từ nay trở đi, các dự án mới khi phê duyệt đầu tư, báo cáo khả thi thì phải có phương án trồng rừng thay thế, bố trí quỹ đất cụ thể. Nếu không đáp ứng yêu cầu này, dự án coi như không đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững và không khả thi”.
Vì vậy, bên cạnh những hiệu quả về mặt phát triển KT-XH do các dự án mang lại, để đảm bảo tính bền vững trong môi trường sống cho cộng đồng, công bằng giữa các doanh nghiệp, UBND tỉnh cần kiên quyết yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm theo đúng quy định của Nhà nước. (Tài Nguyên Và Môi Trường 15/12) đầu trang(
Dự án “Khôi phục rừng ngập mặn thông qua mô hình nuôi tôm bền vững” vừa khởi động giai đoạn 2 tại các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre. Dự án là sáng kiến khôi phục rừng ngập mặn thông qua xúc tiến chứng nhận tôm hữu cơ mô hình tôm - rừng, để thích ứng với biến đổi khí hậu được sự hỗ trợ của Chính phủ CHLB Đức.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, ông Lê Văn Sử, cho biết: Giai đoạn 1 (2013-2016) triển khai ở rừng ngập mặn Đất Mũi đã thành công nhiều mặt. Đó là hiện thực hóa được khái niệm nuôi tôm có trách nhiệm, thông qua xây dựng chuỗi liên kết giữa ban quản lý rừng với hộ nuôi tôm và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, để vừa có tôm sinh thái vừa bảo vệ được rừng. Qua đó, nâng cao năng lực của các thành phần tham gia, cải thiện sinh kế người dân, quy hoạch phát triển rừng bền vững.
Dự án do Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) và Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) triển khai. Điểm mấu chốt của dự án là người nuôi tôm phải đảm bảo được 50% diện tích trồng rừng. Khi đó, tôm nuôi sẽ được cấp chứng nhận sinh thái (Naturland), doanh nghiệp mua giá ổn định và còn trả thêm phí dịch vụ môi trường rừng cho các hộ nuôi 500.000 đồng/ha.
Tiến sĩ Andrew Wyatt, Quản lý khu vực ĐBSCL của IUCN, nhận định: “Thích ứng với biến đổi khí hậu nước biển dâng, chỉ có hiệu quả khi dựa vào hệ sinh thái. Ở ĐBSCL đó là hệ sinh thái rừng ngập mặn. Kinh nghiệm ở các nước giàu cho thấy, xây dựng đê bê tông không hữu hiệu vì không thể xây cao mãi, không cho phép cả kỹ thuật lẫn điều kiện kinh tế. Nhưng khi bảo tồn được rừng ngập mặn cùng hệ sinh thái thì thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ bền vững, cây rừng có khả năng giữ phù sa để nâng cao đất lên mỗi năm 25cm và sinh kế của người dân ổn định”.
Triển khai giai đoạn 1 ở Cà Mau, gần 800 hộ đạt chứng chỉ Naturland đã được Tập đoàn Thủy sản Minh Phú mua tôm giá cao. Hơn 200 hộ dân được trả dịch vụ môi trường rừng, tổng cộng 300 triệu đồng. Có 80ha rừng ngập mặn nằm trong diện tích nuôi tôm của 402 hộ dân đạt tỷ lệ 50% rừng theo quy định của Naturland. Bên cạnh, 12.600ha rừng được bảo vệ không bị chặt phá và 1.000 hộ dân được hỗ trợ xây dựng nhà vệ sinh hợp tiêu chuẩn chứng nhận và nông thôn mới. Tỷ lệ diện tích phủ rừng tăng từ 39% (năm 2013) lên 44% (năm 2015).
Chủ tịch Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, ông Lê Văn Quang, cho biết đã phát triển thương hiệu “Tôm rừng ngập mặn” (Mangrove shrimp) hướng vào thị trường Nhật Bản và hỗ trợ dự án bằng việc vận chuyển tôm giống từ trại của Minh Phú ở Ninh Thuận về.
Giai đoạn 2 của dự án (2016-2020) triển khai ở tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bến Tre có mục tiêu nâng số hộ thực hiện mô hình tôm - rừng để cung ứng sản phẩm sinh thái cho thị trường lên 5.000 hộ. Kết nối chặt chẽ với các dự án trên địa bàn để hỗ trợ việc xây dựng chính sách phát triển tôm - rừng cho các tỉnh và chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái, kế hoạch quản lý rừng ven biển. Về hợp tác tiêu thụ tôm sinh thái và chi trả dịch vụ môi trường rừng cho các hộ nông dân, bên cạnh Tập đoàn Thủy sản Minh Phú có thêm Công ty cổ phần Thủy sản Cà Mau và Công ty Chế biến XNK thủy sản Phương Anh. (Sài Gòn Giải Phóng 15/12) đầu trang(
Theo Hội Chữ thập đỏ tỉnh Sóc Trăng, từ cuối năm 2011 đến 2016, Hội Chữ thập đỏ tỉnh tiếp nhận và triển khai dự án trồng rừng ngập mặn ven biển do Công ty Premier Oil (Vương quốc Anh) tại Việt Nam tài trợ.
Dự án được tổ chức và duy trì hoạt động theo từng năm, với mục tiêu mỗi năm triển khai trồng mới 20ha rừng bần non trên diện tích bãi bồi ven biển xã Trung Bình (huyện Trần Đề).
Theo đó, năm 2015 - 2016 trồng mới 100.000 cây bần giống trên 20ha đất từ đầu cống Ông Khinh đến cống Ông Phực và kéo dài đến gần giáp sông Mỹ Thanh. Tổng kinh phí chung thực hiện dự án trong giai đoạn này hơn 1,7 tỷ đồng. Cùng với đó, trồng dặm 41.550 cây bần giống trên diện tích 21,2ha rừng đã trồng các năm trước. Như vậy, từ năm 2012 - 2016, dự án đã trồng mới và trồng dặm 402.500 cây bần trên diện tích 85ha, góp phần đáng kể vào việc tăng diện tích rừng phòng hộ cho địa phương. (Sài Gòn Giải Phóng 15/12) đầu trang(
Thực hiện chính sách chi trả DVMTR, tỉnh Kon Tum có 5.798 hộ được giao đấtm rừng với diện tích 67.713,4ha rừng; 23 cộng đồng dân cư thôn được giao 3.703,7ha rừng.
Nhờ đó, công tácquản lý, bảo vệ rừng đã có những chuyển biến tích cực và ý thức bảo vệ rừng người dân được nâng lên. Qua việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR, bước đầu xuất hiện nhiều tâm gương tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến bảo vệ tốt diện tích rừng được giao.
Theo kế hoạch, mục tiêu giai đoạn năm 2016-2020, diện tích rừng cung ứng là 460.103ha rừng, giải ngân 85% tổng tiên thu dịch vụ; nâng độ che phủ rừng lên 63,75%... góp phần quản lý rừng bền vững tài nguyên rừng và cải thiện sinh kế cho người dân gắn bó với rừng. (Dân Tộc Và Phát Triển 14/12) đầu trang(
Trước đòi hỏi của thực tế, từ chủ trương tái cơ cấu ngành và hướng tới một nền lâm nghiệp phát triển bền vững, việc chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn đang được các bộ, ngành địa phương rất quan tâm.
Với số liệu thực tế ngành lâm nghiệp nước ta hiện tại, hầu hết những diện tích rừng có triển vọng để chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang thành rừng gỗ lớn đều nằm ở tốp đầu về diện tích. Trong đó, rừng keo hiện chiếm vị trí đầu tiên với diện tích trên nửa triệu ha, tiếp theo là thông và bạch đàn. Ngoài ra, rất nhiều diện tích rừng gỗ nhỏ có điều kiện phù hợp cũng có thể chuyển đổi sang rừng gỗ lớn.
TS Đặng Văn Thuyết, Bộ môn Lâm sinh, Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) chia sẻ, theo tập quán trồng rừng gỗ nhỏ hiện nay, bà con thường trồng keo từ 3 - 5 năm, bạch đàn 4 - 7 năm, thông 7 - 10 năm rồi tiến hành khai thác toàn bộ, sau đó trồng lại với chu kỳ tương tự. Biện pháp này có ưu điểm là nhanh quay vòng vốn, song chi phí đầu tư nhân công lớn, nguy cơ sâu bệnh hại cao và đặc biệt gây suy thoái đất trầm trọng.
Trong khi đó, việc chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn không chỉ giúp tiết kiệm cây giống, tiết kiệm chi phí trồng và chăm sóc, mà còn giảm sâu bệnh hại và hạn chế suy thoái đất rừng nhưng tốc độ thu hồi vốn chậm... Do đó, khi chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn cần nhìn nhận trên diện rộng, nếu chỉ so sánh về mặt kinh tế đơn thuần chưa chắc rừng gỗ lớn đã cho hiệu quả cao hơn rõ rệt.
Cũng theo TS Đặng Văn Thuyết, hiện mật độ trồng rừng gỗ nhỏ của người dân ở các vùng rất khác nhau. Đơn cử như cây keo lai, miền Bắc trồng bình quân 1.600 - 2.500 cây/ha; miền Trung 2.500 - 5.000 cây/ha và miền Nam từ 3.000 - 10.000 cây/ha. Tuy nhiên, theo khuyến cáo của các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Lâm sinh, mật độ rừng gỗ nhỏ tốt nhất để chuyển đổi sang rừng gỗ lớn nên trồng trong khoảng 1.100 - 1.600 cây/ha.
Một trong những biện pháp kỹ thuật cơ bản trong chuyển đổi rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn các nhà khoa học Viện Nghiên cứu Lâm sinh đang áp dụng chuyển giao cho các địa phương hiện nay là tỉa thưa, bón phân.
Tỉa thưa là kỹ thuật đơn giản, nhưng cũng phức tạp, đòi hỏi phải tuân thủ rất chặt chẽ về thời gian và điều kiện sinh trưởng của rừng cây.
Theo đó, không nên tỉa sớm quá và không được tỉa muộn quá. Nếu tỉa sớm, hiệu quả kinh tế không cao bởi đường kính của cây còn nhỏ còn tỉa muộn khi cây đã khép tán, phát triển chiều cao vượt quá đường kính của cây tỉ lệ bị đổ ngã sẽ rất lớn, khối lượng gỗ sau này cũng sẽ bị ảnh hưởng.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy, thời điểm tỉa thưa tốt nhất cho rừng gỗ nhỏ có mục đích chuyển đổi thành rừng gỗ lớn là trong khoảng 3 - 5 năm với keo lai; 4 - 6 năm keo tai tượng; 5 - 7 năm bạch đàn urô; 7 - 10 năm với thông.
Tùy vào điều kiện thực tế đầu ra tại địa phương và hiệu quả kinh tế, người trồng rừng có thể chọn phướng án tỉa 1 hoặc 2 lần.
Nếu tỉa 1 lần tiến hành tỉa trên 50 - 60% số cây. Còn tỉa 2 lần, lần 1 tỉa 40% và lần 2 tỉa 40% của 60% còn lại.
Với những diện tích chuyển đổi này, người trồng rừng tiếp tục duy trì bón phân, chăm sóc thêm khoảng 10 - 15 năm sẽ cho khai thác rừng gỗ lớn. Không nên để quá lâu bởi hiệu quả không cao và những loại cây lâm nghiệp này hay bị bệnh nấm rỗng lõi.
TS Đặng Văn Thuyết cho biết thêm, để việc chuyển đổi rừng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn phát huy hiệu quả tối đa, sau khi tiến hành tỉa thưa, người dân, doanh nghiệp có thể kết hợp trồng các lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng như: ba kích, sa nhân, mây nếp, thảo quả. Bên cạnh đó, có thể kết hợp các mô hình chăn nuôi các con đặc sản. Nếu kết hợp tốt và đồng bộ, 1ha rừng hoàn toàn có thể cho thu nhập 100 triệu/ha/năm.
TS Đặng Văn Thuyết kết luận: "Để chuyển đổi từ rừng gỗ nhỏ thành rừng gỗ lớn yêu cầu đầu tiên khu vực đó phải có thị trường gỗ lớn. Tiếp đến, khu rừng được lựa chọn chuyển đổi mật độ trồng không quá dày và có độ tuổi phù hợp để tỉa thưa. Ngoài ra, điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu tương đối phù hợp và đặc biệt là những nơi ít bị gió bão. Bởi với việc chuyển đổi nếu gặp những nơi có gió bão mạnh tỉ lệ đổ sau khi tiến hành tỉa thưa có thể lên tới 100%". (Nông Nghiệp Việt Nam 15/12) đầu trang(
Việc phát triển nhanh chóng của ngành gỗ, nhất là trong xuất khẩu, đã kéo theo sự gia tăng về nhu cầu sử dụng nguyên liệu gỗ. Bài toán cung cầu, hạn chế xuất khẩu gỗ nguyên liệu đang là vấn đề nan giải của ngành này nhằm bảo đảm cho doanh nghiệp (DN) nội địa có đủ nguyên liệu sản xuất.
Nhận định mới nhất từ Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho thấy ước tính năm 2016 kim ngạch xuất khẩu (KNXK) gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam có thể đạt khoảng 7,1 - 7,2 tỷ USD.
80% tổng KNXK gỗ của cả nước hiện nay đến từ các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc. Trong đó, lớn nhất là Hoa Kỳ (chiếm tỷ trọng 40%), hồi năm ngoái, KNXK vào thị trường này đã đạt 2,64% (tăng 18,2%), riêng 9 tháng đầu năm 2016 đạt gần 2 tỷ USD.
Còn EU, Nhật Bản và Trung Quốc đều chiếm tỷ trọng trung bình khoảng từ 10 - 15%, tiếp đến là các thị trường như Hàn Quốc, Australia, Canada…
Mức tăng trưởng của ngành chế biến gỗ Việt Nam thời gian qua được cho là vẫn duy trì tốt. Trong 10 năm trở lại đây, ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã có bước tiến vượt bậc, giá XK của ngành vào năm 2010 đã tăng 16 lần so với năm 2000, và trong giai đoạn 5 năm gần đây (2010 - 2015) thì giá trị XK của ngành gỗ cũng tăng gấp 2 lần.
Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về giá trị XK, lượng gỗ sử dụng trong ngành chế biến gỗ ngày càng tăng. Nếu như năm 2013, nguyên liệu gỗ sử dụng trong ngành là 25,7 triệu m3 gỗ quy tròn thì đến năm 2014 đã tăng lên 28,6 triệu m3. Con số này vào năm 2015 là 31,3 triệu m3. Riêng 10 tháng 2016 tổng lượng gỗ mà ngành này sử dụng đã ở mức 26,7 triệu m3.
Với nhu cầu về mặt nguyên liệu trung bình từ 29 - 30 triệu m3 gỗ nguyên liệu hàng năm, thách thức lớn với ngành chế biến gỗ hiện nay là phải vừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng thị trường trong nước và XK.
Kèm theo đó, là việc bảo đảm và tuân thủ những yêu cầu về gỗ hợp pháp từ các quốc gia NK sản phẩm gỗ. Ngoài ra, đó còn là các chính sách thay đổi từ các quốc gia mà Việt Nam đã và đang NK nguyên liệu.
Tại hội thảo “Diễn biến nguồn cung nguyên liệu gỗ năm 2017” diễn ra ở Tp.HCM ngày 14/12, Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vietfores) đã lưu ý chuyện này, nhất là khi gỗ rừng trồng trong nước đang chiếm 30 - 40% tổng lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là gỗ cao su và gỗ keo tràm.
Theo giới chuyên gia, có một thực tế đang diễn ra là tình trạng các DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và thương nhân Trung Quốc đội lốt DN Việt Nam với sự hình thành các hệ thống nhà máy và cơ sở thu mua nguyên liệu gỗ ở khắp các vùng nguyên liệu gỗ cao su và keo tràm từ phía Nam ra đến khu vực miền Trung - Tây Nguyên để XK sang Trung Quốc.
Chính vấn đề cạnh tranh, khống chế thị trường cung cấp gỗ nguyên liệu này đang tạo ra sức ép rất lớn, thậm chí là nguy cơ là khủng hoảng gỗ nguyên liệu của các DN trong nước ở Tp.HCM, Bình Dương, Đồng Nai và Bình Định.
Thực tế cho thấy, năm 2016, Hiệp định VPA/FLEGT đã kết thúc đàm phán và trong các năm tới, yêu cầu truy xuất nguồn gốc gỗ ngày càng chặt chẽ. Cũng trong năm 2016, các quốc gia như: Trung Quốc, Lào, Campuchia đã ban hành chính sách đóng cửa rừng tự nhiên và cấm XK gỗ tròn, gỗ xẻ.
Điều này dẫn tới tình trạng cạnh tranh về thu mua nguyên liệu tại quốc gia mà Việt Nam hiện đang NK gỗ, và ngay chính tại thị trường Việt Nam. Hơn nữa, việc cần hạn chế XK gỗ nguyên liệu để đảm bảo cho DN Việt Nam chế biến gỗ có đủ nguyên liệu sản xuất lại cấp thiết hơn bao giờ hết.
Chưa kể, nguồn gỗ có chứng chỉ FSC, PEFC cũng là một khó khăn lớn khi đến nay, Việt Nam mới chỉ có khoảng 200.000 ha được cấp hai chứng chỉ này (chỉ chiếm 8% diện tích rừng trồng sản xuất của cả nước). Trong khi đó yêu cầu của những năm tới là phải có 100% gỗ có chứng chỉ FSC và gỗ hợp pháp. Đây là bài toán nan giải cho các DN gỗ Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, theo dự kiến đến năm 2020, KNXK gỗ của Việt Nam sẽ đạt 10 tỷ USD, nguồn cung gỗ nguyên liệu sẽ thêm 4 - 5 triệu m3/năm. Đây cũng là thách thức không nhỏ trên con đường thúc đẩy tăng trưởng KNXK sản phẩm gỗ và tiêu dùng trong nước.
Trong bối cảnh như vậy, để bảo vệ ngành chế biến gỗ XK trong nước và bảo đảm nguồn gỗ nguyên liệu rừng trồng được cung cấp đầy đủ và bền vững trong những năm tới, ông Trần Lê Huy (Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Bình Định) đề nghị Bộ NN&PTNT và Vietfores kiến nghị Chính phủ ban hành các giải pháp hạn chế XK gỗ nguyên liệu một cách hiệu quả.
Theo đó, nên tăng mức thuế suất đối với mặt hàng gỗ tròn và gỗ xẻ (không phân biệt quy cách, loại chiều dày từ 30mm trở xuống, chiều rộng từ 95mm trở xuống, chiều dài từ 1,050mm trở xuống) lên cùng mức 20% trong khung quy định Nghị quyết số 830/2009/UBTVQH12 ngày 17/10/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Giới chuyên gia cũng khuyến nghị cần tăng kiểm tra giám sát để hạn chế việc thương nhân nước ngoài thu gom, khống chế thị trường gỗ nguyên liệu rừng trồng trong nước và lẩn tránh thuế XK bằng cách giảm giá bán, kê khai không đúng quy cách gỗ nguyên liệu XK.
Đồng thời, khi tình hình thị trường gỗ nguyên liệu trong nước ổn định trở lại, Chính phủ nên có giải pháp điều chỉnh mức thuế XK các mặt hàng phù hợp định hướng phát triển ngành gỗ trong tương lai. (Thời Báo Kinh Doanh 15/12) đầu trang(
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU chính thức được ký kết, mở ra nhiều cơ hội cho ngành xuất khẩu gỗ Việt Nam. Tuy nhiên để mở rộng và nâng cao được kim ngạch xuất khẩu vào thị trường tiềm năng này, ngành gỗ Việt Nam phải vượt qua nhiều thách thức.
Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, xuất khẩu gỗ Việt Nam sang Châu Âu hiện chiếm từ 10 – 15% tổng lượng xuất khẩu gỗ và sẽ còn được nâng lên khi hiệp định thương mại tự do VN – EU có hiệu lực, khi ngành chế biến gỗ có thể giam gia sâu vào chuỗi cung ứng giá trị ngành gỗ thế giới. Tuy nhiên, do năng lực cạnh tranh chưa cao, phải đối mặt với nhiều khó khăn về thị trường, rào cản tiêu chuẩn kĩ thuật, việc đảm bảo nguồn gốc gỗ hợp pháp… nếu không sớm được khắc phục thì ngành gỗ sẽ khó tận dụng được lợi thế từ hiệp định này.
Do đó, vấn đề đang được đặt ra với ngành gỗ trong nước chính là nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp chế biến với doanh nghiệp trồng rừng, để đảm bảo nguồn nguyên liệu có nguồn gốc, từng bước hoàn thiện chuỗi cung ứng nguyên liệu.
Cùng với đó là việc đẩy mạnh xúc tiến, đa dạng thị trường xuất khẩu, có chiến lược phát triển vùng nguyên liệu, để giảm dần phụ thuộc vào gỗ nhập khẩu. Theo số liệu thống kê, xuất khẩu gỗ 11 tháng của nước ta đạt 6,2 tỉ USD, ước cả năm sẽ đạt 7,2 tỉ USD, giảm so với kỳ vọng đầu năm là 7,6 tỉ USD. (Đài Phát Thanh Và Truyền Hình Sóc Trăng 15/12) đầu trang(
NHÌN RA THẾ GIỚI
Con chim hải âu cao tuổi nhất thế giới trở về khu bảo tồn động vật hoang dã ở Hawaii để bắt đầu ấp một quả trứng mới đẻ.
Chú chim hải âu Wisdom mới đây khiến nhân viên ở khu bảo tồn động vật hoang dã Midway Atoll, Mỹ, hết sức bất ngờ và vui mừng khi đẻ một quả trứng mới dù nó đã sống tới 66 năm, trở thành chim hải âu thọ nhất thế giới, UPI hôm 10/12 đưa tin.
"Tôi thấy thật ấn tượng vì Wisdom vẫn quay trở lại sau hơn 6 thập kỷ, trở thành con chim lớn tuổi nhất còn sinh sản trong tự nhiên. Các nhà sinh vật học ở Midway tiếp tục ghi chép để theo dõi nó suốt nhiều năm", Charlie Pelizza, người đứng đầu dự án của Cơ quan Cá và Động vật Hoang dã Mỹ tại Midway Atoll cho biết.
Các nhân viên khu bảo tồn theo dõi quá trình sinh sản của Wisdom trong 6 thập kỷ qua bằng vòng đeo màu đỏ trên chân phải của nó. Con chim được nhà sinh vật học Chandler Robbins đeo vòng lần đầu năm 1956 khi bắt đầu sinh sản.
Wisdom đã nuôi ít nhất 9 con non đến tuổi trưởng thành từ năm 2006. Nó ở lại khu bảo tồn để ấp quả trứng mới đẻ và chờ chim trống Akeakamai quay trở lại.
"Khi cho nó ăn trưa, tôi biết có thứ gì đó xuất hiện. Các nhân viên đều thích thú với tin Wisdom trở về và ấp trứng", Pelizza chia sẻ. (Khoa Học Phát Triển 16/12) đầu trang(./.
|
|||